
Cho lợn nạc hậu bị ăn để có
thành tích cao
Chọn lọc di truyền trong nhiều năm qua đã cho kiểu gen có tỷ lệ nạc
cao và đã sản xuất được thịt xẻ có chất lượng cao và đã nâng cao được hiệu
quả thức ăn. Tuy nhiên, hệ thống ghi chép đàn trên toàn thế giới cho thấy
giảm lượng mỡ trong cơ thể gia súc đã làm giảm thời gian khai thác của lợn
cái và làm tăng đáng kể tỷ lệ lợn cái bị loại thải.
Giảm số lượng lợn hậu bị do sinh sản kém và các bệnh ở chân là
những vấn đề đặc biệt được quan tâm. Những chiến lược về dinh dưỡng làm
tăng năng xuất và tăng thời gian khai thác của lợn hậu bị là một lĩnh vực có
nhiều tranh luân trái ngược nhau. Nhiều cố vấn cho rằng lợn hậu bị có tính
di truyền cần phải khuyến khích phát triển đủ lượng mỡ dữ trữ trước khi
phối giống bằng khẩu phần có tỷ lệ protein thấp. Việc này sau đó sẽ cung
cấp một nguồn năng lượng dự trữ, mà nguồn năng lượng đó một phần được

sử dụng trong thời gian cho con bú lần đầu, trong khi mức độ chất béo còn
lại đủ để cho phép phối giống lặp lại thành công.
Độ dày mỡ lưng lúc phối giống lần đầu là 18-20mm, mặc dù trong
thực tế điều này rất khó, nếu có thể, có thể đạt được với kiểu gen hiện nay.
Nghiên cứu gần đây ở Đơn vị Phát triển lợn ở Stotfold, thực hiện bởi
Hội Đồng Gia súc và Thịt ở Anh đã nghiên cứu hai chiến lược dinh dưỡng:
Thứ nhất là giảm lượng mỡ bằng việc sử dụng khẩu phần protein thấp và
thứ hai là cho lợn hậu bị ăn để chúng thể hiện hết tiềm năng di truyền của
chúng cho việc tăng thịt nạc. Tổng số 455 lợn hậu từ bị 5 công ty giống đã
đựơc sử dụng cho thí nghiệm, những lợn hậu bị này được nuôi đến lứa đẻ
thứ 6 để đánh giá ảnh hưởng của dinh dưỡng đến thời gian khai thác của lợn
hậu bị và lợn nái trẻ.
Lợn hậu bị được nuôi từ 30kg với khẩu phần Lysine thấp hoặc cao,
và từ 50 kg tới lúc phối giống lần đầu với khẩu phần gồm 3227 Kcals DE và
1% hay 0.5% lysine. Từ khi phối giống đến lứa đẻ đầu tiên, mức lysine được
điều chỉnh xuống 0.75 và 0.55%.

Kết quả cho thấy việc cố gắng tăng lượng mỡ dự trữ ở lần phối giống
lần đầu bằng cách làm giảm lượng protein trong khẩu phần đã làm chậm
thành thục giới tính và giảm số con trên lứa đẻ.
Bảng 1 chỉ ra rằng sự khác nhau giữa lợn cái hậu cho ăn khẩu phần có
hàm luượng lysine cao và thấp đến lúc phối giống ở lần động dục lần thứ 3.
Tám lợn hậu bị mỗi nhóm được giết thịt- những con lợn được ăn khẩu phần
Lysine cao đã có độ dày mỡ lưng 11.9mm được so với những lợn có khẩu
phần Lysine thấp và độ dày mỡ lưng là 15.6mm.
Bảng 1 dưới đây đã chỉ ra rằng nuôi dưỡng lợn hậu bị với khẩu phần
protein thấp có tuổi thành thục về tính sẽ kéo dài hơn 12 ngày so với những
lợn cho ăn khẩu phần protien cao. Chúng cũng kéo dài thời gian phối giống
lần đầu thêm 13 ngày và những con lợn này có trọng lượng nhẹ hơn 11kg so
với những con được ăn khẩu phần có 1% lysine.
Bảng 1: ảnh hưởng của hàm lư
ợng lysine cao so với Lysine thấp
trong quá trình nuôi dưỡng

Lysine: T
ỷ lệ năng
lượng trong khẩu phần
Cao (1%)
Thấp (0.5%)
Từ những lợn được giết thịt
Trọng lư
ợng lúc phối
giống
133 113
Độ dày mỡ l
ưng lúc
phối
11,9 15,6
Lợn hậu bị duy tr
ì trong
đàn
Tuổi thành th
ục giới
tính (ngày)
164 176
Tuổi phối giống (ngày) 220
233

Trọng lượng lúc phối giống (ngày)
136 125
ở lứa đẻ đầu tiên lợn hậu bị cho ăn khẩu phần protein thấp đẻ ít lợn
con sống hơn và tổng số lợn con sinh ra ít hơn (Bảng 2). Những lợn hậu bị
được nuôi với khẩu phần có tỷ lệ Lysine cao và sau đó thay đổi bằng khẩu
phần có tỷ lệ lysine thấp trong quá trình mang thai có số con đẻ ra trên lứa ít
hơn so với những con cho ăn khẩu phần có tỷ lệ lysine thấp suốt trong quá
trình mang.
Bảng 2: ảnh hưởng của khẩu phần thức ăn có hàm lư
ợng lysine cao so
với khẩu phần có hàm lượng lysine thấp trong quá trình nuôi dưỡng v
à có
chửa
Khẩu phần lysine so với tỷ lệ năng lư
ợng (cao
so với thấp)

