
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
LỒNG GHÉP TRI THỨC BẢN ĐỊA VÀO TRONG GIẢNG DẠY
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG CÁC LỚP
TIẾNG DÂN TỘC THÁI CHO CBCCVC ĐANG CÔNG TÁC
TẠI VÙNG DÂN TỘC MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN
Lĩnh vực: Giáo dục thường xuyên

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRUNG TÂM GDTX-HN
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
LỒNG GHÉP TRI THỨC BẢN ĐỊA VÀO TRONG GIẢNG DẠY
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG CÁC LỚP
TIẾNG DÂN TỘC THÁI CHO CBCCVC ĐANG CÔNG TÁC
TẠI VÙNG DÂN TỘC MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN
Lĩnh vực: Giáo dục thường xuyên
Tác giả: Hoàng Thị Hoài An
Bộ môn: Tiếng dân tộc Thái
Năm thực hiện: năm học 2020 – 2021
Số điện thoại: 0904727020

1
PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn sáng kiến
Tri thức bản địa là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài,
qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được lưu
truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
xã hội. Tri thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội
như sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến thức ăn; thu
hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua các thế hệ
trong giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên; tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền thống trong
làng bản…
Sự quan tâm đến tri thức bản địa được thực hiện rõ trong những báo cáo
cuả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ của nhiều quốc gia. Các tổ chức này
cũng như các tổ chức quốc tế Liên hợp quốc (UNESCO), tổ chức Sở hữu trí tuệ
Liên hợp quốc (WIPO) và Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đều thừa nhận về
vai trò và những đóng góp của tri thức bản địa trong phát triển bền vững. Do
vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị của tri thức bản địa là một yêu cầu được đặt
ra cấp bách không chỉ ở phạm vi của một vùng mà phạm vi cả nước và ở nhiều
nước đang phát triển trên thế giới.
Hiện nay tri thức bản địa của các tộc người được coi là một trong những
lợi thế so sánh của một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bởi vậy,
việc bảo vệ các tri thức bản địa, được coi là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, do
bản chất của tri thức bản địa là tồn tại dưới dạng thông tin được lưu truyền qua
các thế hệ, hoặc được trao đổi giữa các cộng đồng, nên nhiều tri thức quý giá có
nguy cơ bị thất truyền. Vì vậy, điều quan trọng đầu tiên là phải có nhận thức
đúng về vai trò của tri thức bản địa, bên cạnh những tri thức khoa học hiện đại,
nhằm bổ sung cho nguồn tri thức này để góp phần tích cực cho công cuộc xóa
đói giảm nghèo, phát triển bền vững kinh tế và văn hóa xã hội ở cộng đồng các
dân tộc thiểu số.Tiếp theo là các phương hướng và biên pháp cụ thể để nghiên
cứu, sưu tầm, thu thập, ghi lại bằng nhiều hình thức như dạng tồn tại trên văn
bản ngôn từ, trong băng hình tư liệu hóa những tri thức bản địa cung cấp cho cán
bộ và nhân dân địa phương.
Để bảo tồn các tri thức của đồng bào qua nhiều thế hệ, các ngành có liên
quan như Văn hóa, Khoa học công nghệ, Giáo dục đào tạo và Ban dân tộc, Hội
văn học nghệ thuật cùng các trường học tổ chức tuyên truyền ý nghĩa, vai trò
của tri thức bản địa cũng như góp phần lưu giữ các tài liệu quý giá đó. Đây là tri
thức truyền thống của ông cha để lại, là niềm tự hào của các tộc người về di sản
sản trí tuệ của chính bản thân họ đồng thời cũng là tài sản của quốc gia. Khẳng

2
định rằng muốn phát triển bền vững thì phải kết hợp hài hòa giữa tri thức bản địa
và khoa học hiện đại.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách,
chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ CBCC
đến công tác ở các vùng dân tộc và miền núi nói riêng. Những CBCC được điều
động, biệt phái đến công tác ở vùng dân tộc, miền núi đã đoàn kết sát cánh cùng
với đội ngũ CBCC là người dân tộc thiểu số góp phần đẩy nhanh phát triển kinh
tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương.
Tuy nhiên, đa số CBCC đến công tác ở vùng dân tộc, miền núi còn gặp
không ít khó khăn trong công tác cũng như trong sinh hoạt, mà một trong những
nguyên nhân là không biết tiếng dân tộc thiểu số và chưa am hiểu phong tục tập
quán, truyền thống văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số. Hạn chế này đã
ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục đồng
bào dân tộc thiểu số trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm
qua, UBND tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các Sở, Ban ngành tích cực tổ chức các lớp
bồi dưỡng tiếng nói, chữ viết cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số cũng
như đội ngũ cán bộ, công chức đang công tác tại vùng có đồng bào sinh sống
trong đó bao gồm: Tiếng và chữ viết dân tộc Thái và dân tộc Mông.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị văn hóa cũng như
tiếng nói và chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số cũng như đón đầu nhu cầu
của cán bộ công chức viên chức đang công tác ở vùng dân tộc miền núi học
tiếng nói và chữ viết của đồng bào để có thể giao tiếp và phổ biến các chủ
trương của Đảng và Nhà nước đến tận đồng bào, với chức năng nhiệm vụ của
mình, năm 2011 Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An đã xây dựng Đề án “Bồi
dưỡng và cấp chứng chỉ tiếng dân tộc Thái cho cán bộ, công chức, viên chức,
giáo viên lực lượng vũ trang đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ
An”và được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Công văn số 3477/UBND.VX
ngày 22 tháng 6 năm 2011 về việc giao cho Trung tâm GDTX tỉnh mở lớp bồi
dưỡng, cấp chứng chỉ tiếng nói chữ viết dân tộc Thái.
Trong quá trình thực hiện đề án, Trung tâm được Bộ Nội vụ chỉ định là
đơn vị biên soạn, chỉnh sửa tài liệu tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công
tác ở vùng dân tộc, miền núi tỉnh Nghệ An tại Quyết đinh số 485/QĐ-BNV và
UBND tỉnh Nghệ An ra Quyết đình ban hành tại số 6548/QĐ-UBND. Đây là bộ
tài liệu được biên soạn công phu có tính khoa học và giao tiếp cao. Tuy nhiên
với thời lượng của khóa học với 300 tiết lý thuyết và 150 tiết thực hành thì
chương trình chỉ mới giúp cho học viên biết tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân
tộc Thái, có khả năng nghe, nói tương đối tốt trong giao tiếp thông thường; đọc,
viết được và có những hiểu biết cần thiết về văn hóa, phong tục tập quán của

3
đồng bào. Bên cạnh đó nguồn tài liệu tham khảo cho môn học này không nhiều
chỉ có một số văn bản cổ do các nhà trí thức người dân tộc sưu tầm, một số bài
viết của các tác giả nghiên cứu về tri thức bản địa của người Thái Nghệ An để
phục vụ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, nông nghiệp, thủy lợi, y tế. Hiện tại
chưa có tác giả nào nghiên cứu, tập hợp các tri thức bản địa của người Thái
Nghệ An để vận dụng vào trong công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái nói
chung và công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công tác tại
vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An nói riêng.
Xuất phát từ lý do đó, để nâng cao chất lượng của các khóa bồi dưỡng
tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC, giúp cho CBCCVC không chỉ biết chữ viết,
biết tiếng nói của đồng bào mà còn am hiểu sâu sắc về văn hóa, phong tục tập
quán, luật tục của đồng bào để có thể dễ dàng hơn trong công tác tuyên truyền
phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Trong
quá trình giảng dạy, cá nhân đã sưu tầm, tập hợp các nhóm tri thức bản địa của
đồng bào Thái Nghệ An từ các bài viết của các tác giả cũng như trao đổi lấy
thông tin trực tiếp từ các tri thức là người dân tộc Thái và lồng ghép vào trong
chương trình học của học viên. Nhờ có những tài liệu bổ trợ này mà chất lượng
của khóa bồi dưỡng được nâng cao, vì thế tôi muốn chia sẻ sáng kiến mà cá
nhân đã áp dụng với các đồng nghiệp với mong muốn công tác bồi dưỡng tiếng
dân tộc thiểu số cho CBCCVC tại Nghệ An ngày càng phát triển.
1.2. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm
- Sưu tầm, tập hợp, lưu giữ các tri thức bản địa của người Thái tại địa bàn tỉnh
Nghệ An từ các nguồn tài liệu khác nhau.
- Chia sẻ kinh nghiệm về việc lồng ghép đưa các kiến thức này vào trong các bài
giảng trong chương tình Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công
tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An.
1.3. Đối tượng và phạm vi thực hiện:
- Thời gian: từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2021
- Phạm vi: chương tình bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công
tác tại vùng dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ An
- Đối tượng: Học viên là cán bộ công chức viên chức, lực lượng vũ trang đang
công tại 10 huyện miền núi của tỉnh Nghệ An.
PHẦN II: NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1 Cơ sở pháp lý
- Nghị quyết Hội nghị TW 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong đó nhấn mạnh đến việc bảo
tồn tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số;

