BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM MẠNH HÙNG

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG

VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA

NGÔ TẤT TỐ, VŨ TRỌNG PHỤNG, NAM CAO

CHUYÊN NGÀNH :LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC

MÃ SỐ : 5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐÌNH SỬ

HÀ NỘI 2001

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TÀO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM MẠNH HÙNG

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG

VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA

NGÔ TẤT TỐ,VŨ TRỌNG PHUNG, NAM CAO

CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC

MÃ SỐ :5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐÌNH SỬ

HÀ NỘI 2001

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu

trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

PHẠM MẠNH HÙNG

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1

NỘI DUNG .............................................................................................................................. 14

CHƢƠNG 1: XÁC ĐỊNH NỘI DUNG NGHỆ THUẬT CỦA KHÁI NIỆM HOÀN CẢNH VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC .............................................................................................................. 14

1.1.Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh và sự cần thiết của việc xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học hiện thực ........................................................... 14

1.2. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh ......................................................................... 26

1.3.Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học . ................................................... 40

CHƢƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỆ HOÀN CẢNH TRONG TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ ...................................................................................................................... 54

2.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn ....................................................... 55

2.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn ................................................... 61

2.3. Cơ chế trấn áp bạo lực .............................................................................................. 71

2.4. Không khí náo loạn, căng thẳng ............................................................................... 75

CHƢƠNG 3: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG GIỐNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG ................................................................................................. 92

3.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh .............................................................................. 93

3.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Giống tố ............................................... 110

3.3. Cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền ............................................... 118

3.4. Không khí điên loạn, bão giông .............................................................................. 126

CHƢƠNG 4: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG SỐNG MÒN VÀ MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA NAM CAO ...................................... 139

4.1.Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao .................................... 140

4.2. Những mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh ............................................................ 157

4.3.Cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn và cơ chế Sống mòn ...................................................... 164

4.4. Không khí ngột ngạt, bế tắc .................................................................................... 175

KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 195

DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ ................................................... 200

THƢ MỤC THAM KHẢO .................................................................................................... 201

1

MỞ ĐẦU

1. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI.

Trào lƣu văn học hiện thực là một trong ba trào lƣu văn học hình thành và phát triển

trên văn đàn Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Nghiên cứu trào lƣu văn học này, một trong

những vấn đề không thể bỏ qua là mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh. Bàn về chủ

nghĩa hiện thực, trong thƣ gửi Mácgarít Háccơnetxơ năm 1888, Angglien cũng đã khẳng định

vấn đề này. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, khái niệm hoàn cảnh, có khi vẫn đƣợc

hiểu thiên về góc độ hoàn cảnh xã hội, mà chƣa đƣợc nhìn nhận nhƣ một cấu trúc nghệ thuật.

Cho nên, vấn đề cần đặt ra là phải nghiên cứu hoàn cảnh từ phƣơng diện thẩm mỹ, nghĩa là

cần phải nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh. Trên cơ sở lý thuyết thi pháp hoàn cảnh, luận án sẽ

mở rộng phạm vi nghiên cứu trên một bình diện mới với cấp độ mới. Tìm hiểu quan niệm

nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực thời kỳ này là một cách tiếp cận hoàn cảnh

từ phƣơng diện đó. Giải quyết đƣợc vấn đề này, qua ba tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, luận án sẽ bổ sung cụ thể hóa thêm lý thuyết nghiên cứu thi pháp

hoàn cảnh, từ đó góp phần nâng cao việc nghiên cứu văn học hiện thực. Những kết quả của

luận án sẽ góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học hiện thực ở

các cấp học từ phổ thông đến đại học.

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.

Về lịch sử vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn học chúng tôi sẽ đề

cập tới ở chƣơng 1 - chƣơng cơ sở lý thuyết của luận án bởi vậy ở đây chúng tôi chỉ điểm lại

lịch sử vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố,

Giống tố của Vũ Trọng Phụng Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao.

2

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nào lƣu văn học hiện thực 1930-1945 trên cả

hai phƣơng diện nội dung tƣ tƣởng và hình thức nghệ thuật. Chỉ riêng những bài nghiên cứu

về ba tác giả: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao cũng đã có hàng trăm. Trong những

công trình nghiên cứu ấy, cũng đã có những ý kiến bàn tới vấn đề hoàn cảnh, nhƣng ý thức về

vấn đề này ở mỗi bài viết khác nhau về từng nhà văn khác nhau, cũng có sự khác nhau.

2.1. Về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố.

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô Tất Tố, chúng tôi chỉ tập trung

khảo sát một tác phẩm nổi tiếng thành công nhất của ông: tiểu thuyết Tắt đèn. Vì vậy ở đây,

chúng tôi chỉ nói tới lịch sử vấn đề nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các

nhà nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết này.

Trên tờ báo Mới số 4, ngày 15/6/1939 Trần Minh Tƣớc đã đánh giá cao giá trị nội

dung của tiểu thuyết Tắt đèn: "trong văn phẩm ấy, Ngô Tất Tố đã dùng đƣợc đắc sách cái

phƣơng pháp khách quan để tỏ ra cho chúng ta biết rõ ràng những cảnh tƣợng nơi hƣơng ẩm,

là một chỗ mà ngƣời ta nhờ ông, nhận thấy rất nhiều mâu thuẫn và hƣ nát", Về phƣơng diện

nghệ thuật, Trần Minh Tƣớc khẳng định những gì đặt ra trong Tắt đèn "không còn là những

điều biện giải khô khan của lý luận, mà nó đã gắn liền vào đƣợc cái nghệ thuật uyển chuyển

của tiểu thuyết gia". Từ đó, ông khẳng định, với Tắt đèn "nhà nho ấy đã vƣợt khỏi cả thế hệ

của mình"...

Trên báo Đông Phƣơng số 10, ngày 1/9/1939, Phú Hƣơng cũng nhấn mạnh, trong khi

"sau lũy tre xanh, những sự tàn bạo ghê gớm, những chuyện hà lạm hèn mạt, những cảnh đói

nghèo tai hại là những trò cơm bữa ... các tiểu thuyết gia nào có mấy ai chú ý" thì "vừa rồi

ông Ngô Tất Tố đã làm một điều phần đông văn sĩ xứ ta không ai để mắt tới. Ông đã làm

trong cuốn Tắt đèn của ông và ông đã thành công vẻ vang hết sức".

Nhƣ vậy nƣớc 1945, bàn về Tắt đèn của Ngô Tất Tố ngƣời ta mới chỉ chú ý tới khẳng

định đề tài mà chƣa chú ý tới vấn đề hoàn cảnh. Vấn đề hoàn

3

anh chỉ đƣợc đề cập tới từ những năm hòa bình lập lại. Dƣới chế độ xã hội mới, tiểu thuyết

Tắt đèn vẫn tiếp tục đƣợc đề cao. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đã thống nhất

khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của kiệt tác văn xuôi này.

Trong lời giới thiệu cuốn Tắt đèn do NXB Văn hóa ấn hành năm 1962, nhà văn

Nguyễn Tuân đã khẳng định: " Theo tôi tiên tri, thì cuốn Tắt đèn vẫn còn phải sống lâu, thọ

hơn cả một số văn gia đƣơng kim hôm nay".

Đã gần bốn mƣơi năm trôi qua kể từ ngày Nguyễn Tuân "tiên tri" và ta thấy lời tiên tri

đó là đúng. Tắt đèn của Ngô Tất Tố sẽ còn trƣờng tồn cùng năm tháng. Thật khó có thể hình

dung rằng nói tới văn học hiện thực Việt Nam 1930-1945 mà không nhắc tới tác phẩm Tắt

đèn của Ngô tất Tố (cũng nhƣ không nhắc tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo của

Nam Cao ...).

Kể từ khi ra đời đến nay Tắt đèn không chí hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả mà nó còn

đƣợc sự chú ý của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học. Những giá trị nội dung và nghệ

thuật của cuốn tiểu thuyết này đã đƣợc các nhà nghiên cứu nhiều thế hệ khai thác trên nhiều

phƣơng diện. Tiêu biểu là các công trình, bài viết của: Nguyền Tuân (Lời giới thiệu truyện

Tắt đèn. NXB Văn hóa - Viện văn học, II., 1962); Nguyên Đức Đàn - Phan Cự-Đệ (Ngô Tất

Tố - NXB Văn hóa, H., 1962 ; NXB Hội nhà văn tái bản 1999 với nhan đề Bƣớc đƣờng phát

triển tƣ tƣởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố)- Phan Cự Đệ (Ngô Tất Tố - Văn học Việt Nam

(1900 - 1945) NXB Giáo dục tái bản lần thứ 1 năm 1997); Phong Lê (Những đóng góp của

Ngô Tất Tố trong Tắt đèn. Tạp chí Văn Học số 3.1963 ; Ngô Tất Tố một chân dung lớn một

sự nghiệp lớn. Tạp chí văn học số 1.1994), Nguyễn Đăng Mạnh (Ngô Tất Tố Lịch sử văn học

Việt Nam tập 5, 1930 - 1945. NXB Giáo dục. H., 1973) Nguyễn Hoành Khung (Ngô Tất Tố.

Từ điển văn học. tập 2. NXB KHXI H., 1964), Trƣơng Chính (Lời giới thiệu tuyển tập Ngô

Tất Tố, tập 1, NXB Văn học. H., 1994), Hà Minh Đức (Nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn của

Ngô Tất Tố - Ngô Tất Tố về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục Hà Nội 1999)

4

Trong những công trình nghiên cứu về Tắt đèn, các tác giả đã khẳng định sự thành

công về cả phƣơng diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Cũng đã có những ý kiến đề cập

đến vấn đề hoàn cảnh của tác phẩm. Trong đó, có khi hoàn cảnh đƣợc nhìn nhận ở góc độ xã

hội. Chẳng hạn: "Tắt đèn không mở rộng hoàn cảnh môi trƣờng, không nói chuyện nông dân

bị cƣớp đoạt ruộng đất, bị bóc lột địa tô, bị vỡ đê lụt lội, mất mùa đói kém rồi bỏ làng ra mỏ,

đi đồn điền cao su. Tắt đèn tập trung tố cáo cái thứ thuế bất nhân của bọn thực dân đánh vào

đầu ngƣời hàng năm ..." (Phan Cự Đệ) [199.303]. Hoặc: "Tắt đèn đƣa ta thẳng vào một hoàn

cảnh náo động, căng thẳng nhất ở làng Đông Xá trong vụ thuế (...) thực ra, quanh năm không

lúc nào ở nông thôn Việt Nam không diễn ra cuộc xung đột gay gắt giữa bọn quan lại, bọn

cƣờng hào địa chủ-với nông dân lao động. Nhƣng cuộc xung đột đó trở nên tập trƣng nhất và

bộc lộ một cách tàn bạo nhất trong vụ thuế" (Nguyễn Đăng Mạnh) [199.262] ... Bên cạnh đó,

cũng đã có ý kiến nhìn nhận hoàn cảnh Tắt đèn ở phƣơng diện thẩm mỹ - nghệ thuật. Tiêu

biểu nhất là ý kiến của Nguyễn Tuân (mà chúng tôi sẽ dẫn ở phần phân tích cấu trúc nghệ

thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn). Hoặc ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh khi ông đánh giá

tài năng của Ngô Tất Tố trong việc miêu tả "những bức tranh sinh hoạt, những con ngƣời

trong hoạt động": "Tất cả đều diễn ra trƣớc mắt ngƣời đọc chân thật, cụ thể, sinh động, có sức

truyền cảm mãnh liệt. Ngòi bút Ngô Tất Tố nhiều khi còn đạt tới chỗ truyền đƣợc cả "không

khí" của đời sống nông thôn vào trong tác phẩm của mình "[199.273].

Phan Cự Đệ khi bàn về vấn đề hoàn cảnh điển hình trong Tắt đèn cũng đã đề cặp tới

một yếu tố trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh: "Ngô Tất Tố đã đặt các nhân ,vật của

mình vào một hoàn cảnh rất điển hình, một không khí ngột ngạt, oi bức, giông bão, người

nông dân trong làng cứ như kiến bò trong chảo nóng" [192.402] và "không khí đó tạo nên

một ấn tƣợng hết sức căng thẳng về một vùng nông thôn trong thời kỳ báo động "

[48.T2.365]. Tuy nhiên ở đây, tác giả chƣa minh chứng bằng những hệ thống tín hiệu nghệ

thuật cụ thể.

5

Trên tạp chí Văn học số 3.1990 Đỗ Kim Hồi cũng khẳng định: " Ngô Tất Tố vẫn là

nhà văn chƣa ai có thể vƣợt hơn trong việc làm sống lại cái không khí kinh hoàng, loạn lạc

của nạn "cƣớp ngày" hàng năm vẫn ập xuống thôn quê mỗi dịp đổ sƣu. Chƣa ai có thể vƣợt

hơn Ngô Tất Tố trong việc làm lòng ngƣời nghẹn uất trƣớc cái luật lệ dã man... "

Nhà văn Vũ Tú Nam trên báo Văn nghệ số l, ngày 1/1/1994 cũng nhận xét: " Ngô Tất

Tố đã sử dụng bút pháp " dồn nén", ông tập hợp lại một số cảnh mắt thấy tai nghe về hiện

trạng đời sống nông thôn vào trong một khung thời gian và không gian nhất định để làm nổi

bật những mặt tƣơng phản trong tâm lý và hành động nhân vật, tạo nên một không khí căng

thẳng, ngột ngạt, thôi thúc ở ngƣời đọc cái ý thức, ý nguyện phải làm một cái gì" ...

Khi các nhà nghiên cứu khẳng định hiệu quả "tạo không khí của đời sống", "không

khí kinh hoàng loạn lạc", "không khí căng thẳng ngột ngạt" trong tác phẩm Tắt đèn cũng có

nghĩa là họ đã nhìn nhận hoàn cảnh Tắt đèn ở phƣơng diện nghệ thuật, đã chú ý tới nghệ

thuật xây dựng hoàn cảnh của nhà văn. Nhƣng những ý kiến về hoàn cảnh Tắt đèn ở cả góc

độ hoàn cảnh xã hội và phƣơng diện hoàn cảnh nghệ thuật chủ yếu vẫn là những nhận xét đơn

lẻ, những cảm nhận chủ quan mà ít có sự minh chứng. Hoàn cảnh trong Tắt đèn chƣa thật sự

đƣợc nhìn nhận ở cấu trúc nghệ thuật. Từ đó quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô

Tất Tố chƣa đƣợc chú ý làm sáng rõ.

2.2. Về tác phẩm Giống tố của Vũ Trọng Phụng

Mặc dù ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ và chỉ trên dƣới 10 năm cầm bút nhƣng Vũ Trọng

Phụng đã để lại một di sản văn học có thể coi là không nhỏ 11 tiểu thuyết, 4 phóng sự dài, 2

vở kịch dài, vài chục truyện ngắn phóng sự ngắn, bút chiến, tiểu luận ... Với di sản văn

chƣơng ấy "kể ra cũng ít hoặc chƣa có một "ca" văn học nào lại gây những tranh cãi gay go

và kéo dài nhƣ "ca" Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn học thế kỷ này" (Phong Lê) [194 54]

Kể từ khi tác phẩm đầu uy của Vũ Trọng Phụng ra mắt công chúng vở kịch Không

một tiếng vang (1931), cho đến nay đã tròn 70 năm. Trong

6

khoảng thời gian hai phần ba thế kỷ ấy, đã có nhiều cuộc tranh luận, nhiều công trình nghiên

cứu về sự nghiệp văn chƣơng của ông. Theo thống kê của chúng tôi, số lƣợng những bài

nghiên cứu, tiểu luận đã công bố về ông có tới trên hai trăm, chƣa kể những luận án tiến sĩ,

những luận văn thạc sĩ đã và đang tiến hành. Trên cơ sở tƣ liệu các công trình nghiên cứu về

Vũ Trọng Phụng có đƣợc, chúng tôi-nhận thấy lịch sử nghiên cứu vấn đề hoàn cảnh trong tác

phẩm của Giống tố nhà văn nhƣ sau:

2.2.1. Đã có những ý kiến bàn về vấn đề hoàn cảnh trong các sáng tác của Vũ Trọng

Phụng, khẳng định ý thức của nhà văn về quan niệm tính cách là sản phẩm của hoàn cảnh.

Chẳng hạn, ý kiến của Nguyễn Hoành Khung về hoàn cảnh trong Giống tố: "Sự biến chất của

Long và Mịch đã đƣợc Vũ Trọng Phụng cắt nghĩa bằng quan niệm riêng.Theo Ông, chính

hoàn cảnh cụ thể là cái bả vật chất đã có sự cám dỗ ghê gớm làm biến chất con ngƣời, không

ai đủ sức cƣỡng lại" [195.447] ; hay ý kiến của Vũ Ngọc Phan về tác phẩm trên: "Quyển tiểu

thuyết Giống tố của Vũ Trọng Phụng làm cho ta thấy ảnh hƣởng của hoàn cảnh là dƣờng nào

! vì hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, hai kẻ vốn tính hiền lành và ngay thẳng nhƣ Mịch

và Long rút cuộc đã trở thành một ngƣời đàn bà hƣ hỏng và một thiếu niên hƣ hỏng"

[195.173]; hoặc ý kiến của Dƣơng Nghiễm Mậu cũng về cuốn tiểu thuyết đó: "ông đồ Uẩn

chính là cái hạng thuộc về thái cực thứ hai, bị hoàn cảnh lôi cuốn đến không còn đƣợc nhân

cách" [195.309].

2.2.2. Cũng đã có những ý kiến đề cập tới những khía cạnh thuộc về phƣơng diện

nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Chẳng hạn ý kiến bàn về nhịp

diệu trong tác phẩm Giống tố: "Nhịp độ vận động trong Giống tố rất khẩn trƣơng, gấp gấp,

sự việc diễn biến bất ngờ, đầy kịch tích, gợi ấn tƣợng sâu về cuộc đời điên đảo, thế sự thăng

trầm. Đó chính là dặc điểm trong cảm quan hiện thực, trở thành ý thức nghệ thuật của Vũ

Trọng Phụng"(Nguyễn Hoành Khung) [196.253] ; "Chƣa thể nói nhà văn đã có đƣợc cảm

quan chính xác về sự vận động biến chứng của hiện thực, nhƣng

7

quả là ông nhạy cảm với cái nhịp điệu hối hả, dữ đội của đời sống Nguyễn Hoành Khung)

[190.131]. Hoặc ý kiến bàn về vấn đề không khí rong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng:

"Đọc Giống tố phải cảm nhận cái không khí chung, cái âm hƣởng chung, cái linh hồn chung

của thế giới hình tƣợng của cuốn tiểu thuyết. Ấy là một xã hội quay cuồng, đảo điên đến

chóng mặt, biết bao tình huống trớ trêu, biết bao cuộc đời lên voi xuống chó, xuống chó rồi

lại lên voi, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông..." (Nguyễn Đăng Mạnh) [196.262] hay ý kiến

bàn về những xung đột giấu kịch tính (một yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh)

trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng: "Tiểu thuyết của ông đầy những xung đột căng thẳng,

giàu kịch tính" Trƣơng Chính) [190.154] ; "tác phẩm Vũ Trọng Phụng bố cục thƣờng chặt

chẽ chứa nhiều ƣu điểm của kịch tính" (Văn Tâm)[195.218] ; cũng có ý kiến bàn về vấn đề hệ

thống nhân vật - một hệ thống yếu tố tạo hoàn cảnh: "Thế giới nhân vật Vũ Trọng Phụng khá

đông và thuộc nhiều giới khác nhau. Một khi đƣợc nâng lên đến mức điển hình, một số ngƣời

trong họ là tài liệu quý giúp đỡ đắc lực cho những ai muốn nghiên cứu về xã hội hoặc tìm

hiểu tài nghệ ngòi bút Vũ Trọng Phụng. Nhƣng còn nhƣ để hiểu tâm sự ngƣời viết, cái phức

tạp đa đoan của chính tác giả, thì có những nhân vật chỉ đóng vai phụ hoặc có vẻ không tiêu

biểu gì thật ra lại là một thứ chìa khoa khá tốt mà ngƣời nghiên cứu không có quyền xao

nhãng" (Vƣơng Trí Nhàn) [195.407],

2.2.3. Nhƣ vậy, nghiên cứu tác phẩm Giống tố của Vũ Trọng Phụng, vấn đề hoàn

cảnh không phải là vấn đề chƣa từng đƣợc quan tâm. Về vấn đề này, đáng chú ý là các công

trình nghiên cứu của Văn Tâm, Trƣơng Chính, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh,

Nguyễn Hoành Khung, Hoàng Thiếu Sơn, ... nhƣng việc nhìn nhận hoàn cảnh ấy nhƣ một

hoàn cảnh nghệ thuật chƣa đƣợc đặt ra và giải quyết một cách hệ thống. Mặc dù đã có ít

nhiều ý kiến bàn về hoàn cảnh trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng từ cái nhìn cấu trúc nghệ

thuật, nhƣng cũng vẫn chỉ là những nhận định chung ở một khía cạnh nào đó và cũng chƣa có

sự minh chứng cụ thể. Vấn đề thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng chƣa

thật sự đƣợc đặt ra và giải quyết.

8

2.3. Về tác phẩm Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao.

Có thể nói, trong nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao từ trƣớc tới nay, nhiều nhà

nghiên cứu đã quan tâm tới vấn đề hoàn cảnh.

Nhìn lại ý kiến của các nhà nghiên cứu về vấn đề hoàn cảnh trong tác phẩm Sống

mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau

đây:

2.3.1. Nhiều ý kiến đã khẳng định sự thành công của Nam Cao trong việc xây dựng

hoàn cảnh, coi đây là một nét đặc sắc góp phần xác định vị trí xứng đáng của Nam Cao trong

đội ngũ các nhà văn hiện thực, mà bài viết về Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm

Nam Cao của Hà Minh Đức là một ví dụ tiêu biểu. Và cũng phải nói thêm rằng, trong các

công trình nghiên cứu về Nam Cao, nếu có một bài viết nào tập trung vào phân tích lý giải

khá sâu sắc vấn đề hoàn cảnh thì đó chính là bài viết này của Hà Minh Đức [63.311] .

2.3.2. Có những nhà nghiên cứu đã chỉ ra mốt số đặc điểm của hoàn cảnh trong tác

phẩm Nam Cao. Chẳng hạn: "Đọc truyện Nam Cao không thấy những hoàn cảnh điển hình

với những xung đột điển hình kiểu nhƣ nông dân và địa chủ, tƣ bản và dân nghèo" (Phạm

Xuân Nguyên) [193.150]; " Trái tim nhân đạo và cái nhìn sắc sảo của ông đã thấu hiểu những

hoàn cảnh thiếu nhân tính làm cho con ngƣời bị tha hóa" (Trần Đăng Xuyên) [193.159]; " để

những dạng nhân vật đặc biệt của mình xuất hiện, Nam Cao ráo riết chuẩn bị một môi trƣờng

đậm đặc tính chất trái chiều" (Nguyễn Quang Trung)[193.211]; "đọc văn Nam Cao ở truyện

nào ta cũng có thể gặp những hoàn cảnh, những tình huống trái ngƣợc, những sự tƣơng phản

giữa thực tại và ƣớc mơ" (Phan Trọng Thƣởng) [193.474 ]... Nhƣng những nhận định trên

chủ yếu vẫn dừng ở những nhận xét đơn lẻ và ít có sự minh chứng cụ thể, bởi những ý kiến

bàn về hoàn cảnh trên đây đƣợc đề cập tới trong những bài viết không lấy vấn đề hoàn cảnh

làm đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu.

9

2.3.3. Đề cập tới vấn đề hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao, nhiều nhà nghiên cứu

đã chỉ ra đƣợc tác động của hoàn cảnh tới nhân cách, sự tha hóa của con ngƣời. Chẳng hạn: "

Nam Cao đã diễn tả với một sức mạnh lạ thƣờng quá trình lƣu manh hóa của một số quần

chúng cơ bản trong hoàn cảnh bị đè nén áp bức bóc lột của xã hội cũ" (Lê Đình Kỵ)[l93.59];

" Trong tác phẩm Nam Cao, con ngƣời sống trong một xã hội dữ dằn cay nghiệt, hoàn cảnh

nhƣ muốn nghiền nát con ngƣời" (Nguyễn Văn Hạnh)[193.131]; "Sự kiện của hiện thực đƣợc

chú trọng không đủ trên bình diện phản ánh mà còn là, và chủ yếu là, trên lĩnh vực tác động

của nó tới nhân cách con ngƣời" (Phạm Xuân Nguyên)[193.147]; Hoàn cảnh không chỉ tác

động tới nhân cách con ngƣời mà nó còn tác động tới tâm lý, tới quá trình tự ý thức của nhân

vật: "Hiện lên trong tiểu thuyết Sống mòn những biến thái của tâm trạng các nhân vật này

sinh trong những hoàn cảnh với những va đập, khắc khoải, những bộc bạch kiểu tƣ vấn"

(Nguyễn Ngọc Thiện) [193.330].

2.3.4. Một số nhà nghiên cứu khẳng định sức ám ảnh, sự truyền cảm mạnh mẽ từ

những hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao. Chẳng hạn, bàn về tác phẩm Sống mòn, Phong

Lê nhận xét: "Bối cảnh truyện chỉ là sinh hoạt của mấy thầy giáo dạy tƣ nhƣng sao lại có sức

gắn đến thế với cả cuộc đời rộng lớn, cái tiếng thì thầm của tác phẩm lại có sức ám ảnh đến

thế với nhiều lớp ngƣời trong hành trình cuộc đời, giữa bao thăng trầm của lịch sử"

[193.111]. Đọc truyện ngắn của Nam Cao, nhà văn Nguyên Hồng có cảm giác: " ta thấy tâm

trí ta nghẹn lại, ngực ta tức tối, ý thức ta có một cái gì nhấp nháy nhƣ ánh sáng chỉ chờ bắt

cháy đƣợc thêm một sức mạnh gì đấy có thể nổ bùng lên" [193.82]. Và khi phân tích chất

nghịch dị trong tác phẩm Nam Cao Vƣơng" Trí Nhàn cũng khẳng định Nam Cao đã "tạo nên

một hiệu quả ngột ngạt tức thở gợi ra cảm tƣởng một thứ lƣới vô hình bao quanh ngƣời ta.

Lƣới chỉ mỏng manh nhẹ nhàng nhƣng ngày một thít chặt hơn," không ai thoát ra nổi"

[193.456]...

10

2.3.5. Không khí trong tác phẩm Nam Cao cũng là vấn đề đã đƣợc một số công trình

nghiên cứu đề cập tới. Đó là không khí "có cái gì kinh dị lạ thƣờng" (Nguyễn Đức Đàn)

[193.67], " rùng rợn đến ngỡ nhƣ ma quái" (Quỳnh Nga) [193.443] trong Nửa đêm, "không

khí ma sống lẫn với ngƣời " (Hà Minh Đức) [193.257] trong Ma đưa ... và bao trùm lên phần

lớn các tác phẩm là không khí "tù đọng ngột ngạt đến mức không chịu nổi" (Trần Đăng

Xuyền) [193.403]. Nhận xét về nghệ thuật tạo không khí của Nam Cao, Hà Minh Đức khẳng

định Nam Cao đã "nắm bắt đƣợc nhiều chi tiết chân thực và sinh động, tạo không khí giỏi"

[63.204].

Nhƣ vậy, nhìn lại những công trình nghiên cứu về Nam Cao, chúng tôi nhận thấy vấn

đề hoàn cảnh đã từng đƣợc quan tâm. Nhƣng những kiến giải về nó vẫn chủ yếu dừng ở

những nhận xét, cảm nhận, ít có những minh chứng cụ thể. Nó vẫn chủ yếu đƣợc nhìn nhận ở

góc độ hoàn cảnh xã hội. Cách nhìn ấy là đúng và cần thiết, nhƣng có lẽ chƣa đủ. Bởi vì hoàn

cảnh chƣa thực sự đƣợc nhìn nhận nhƣ một yếu tố nghệ thuật trong cấu trúc tác phẩm Nam

Cao. Bàn về vấn đề này, có lẽ bài viết về "Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của

Nam Cao" [63.311 ] của Hà Minh Đức là đáng chú ý hơn cả. Trong bài viết này, tác giả tập

trung phân tích hoàn cảnh, chỉ ra một số đặc điểm của hoàn cảnh ấy, vị trí vai trò quan trọng

của nó và khẳng định "tài năng tạo dựng hoàn cảnh" là "thành công lớn của Nam Cao và ấn

tƣợng sâu sắc nhất có thể nhận thấy" ở Nam Cao so với các nhà văn hiện thực khác [63.320].

Khi nói rằng, đọc tác phẩm Nam Cao, ngƣời ta cảm nhận rất rõ một không khí ngột

ngạt, tù túng, trì trệ, bế tắc, mỏi mòn... thậm chí, một không khí ma quái, là ngƣời ta đã nhìn

nhận hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao ở phƣơng diện nghệ thuật ; đã thừa nhận hoàn cảnh

trong tác phẩm Nam Cao đƣợc xây dựng một cách nghệ thuật. Bởi vì hoàn cảnh nghệ thuật là

hoàn cảnh tạo đƣợc không khí, nó phải toát lên một không khí và tạo nên sức truyền cảm, ám

ảnh mạnh mẽ tới ngƣời đọc.

Tuy nhiên, sự nhìn nhận hoàn cảnh nghệ thuật trong tác phẩm Nam Cao cũng vẫn chỉ

dùng ở những ý kiến nhận xét, cảm nhận, chƣa hệ thống, các yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật

của hoàn cảnh chƣa đƣợc đề cập tới trong một hệ thống.

11

3. NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU.

3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Nhiệm vụ của luận án là đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh đƣợc

thể hiện trong một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và

Nam Cao, để từ đó làm sáng rõ cơ sở lý thuyết thi pháp hoàn cảnh. Trên cơ sở đó tiếp tục

nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm văn học hiện thực ở một phƣơng diện mới.

- Để có thể thực hiện đƣợc mục đích nghiên cứu, luận án phải xác định nội dung nghệ

thuật khái niệm hoàn cảnh trong văn học (tức là cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh) tạo tiền

đề lý luận cho việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn.

- Từ quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của ba nhà văn tiêu biểu, đề tài phải chỉ ra

đƣợc sự phong phú của những quan niệm nghệ thuật ấy và chứng minh những quan niệm ấy

không phải là những khái niệm trừu tƣợng mà nó đƣợc thể hiện qua hệ thống những yếu tố

nghệ thuật.

3.2. Đối tƣợng nghiên cứu.

- Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực nhƣng đề tài

chỉ nghiên cứu ba tác giả tiêu biểu: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao.

- Tác phẩm của các nhà văn trên có một số lƣợng rất lớn bởi vậy đề tài cũng chỉ tập

trung khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn đó

4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Căn cứ vào mục tiêu đối tƣợng đã đƣợc xác định, để hoàn thành những nhiệm vụ đã

đặt ra, đề tài này sẽ phải sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:

12

4.1. Phƣơng pháp hệ thống: Quan niệm nghệ thuật bộc lộ qua hệ thống các tín hiệu

nghệ thuật, qua sự lặp lại, tần số xuất hiện của các chi tiết nghệ thuật. Bởi vậy phƣơng pháp

hệ thống là phƣơng pháp không thể không sử dụng để đạt đƣợc những mục đích, yêu cầu đã

đặt ra trong luận án: nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh văn xuôi hiện thực .

4.2. Phƣơng pháp so sánh, lịch sử: Một trong những nhiệm vụ đặt ra đối với đề tài là

chỉ ra đƣợc sự khác biệt, đa dạng, phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong

văn xuôi hiện thực. Không thể thấy đƣợc sự khác biệt, đa dạng, phong phú đó nếu không sử

dụng phƣơng pháp này. Đây là phƣơng pháp đƣợc chúng tôi đặc biệt chú ý.

4.3. Phƣơng pháp thống kê: Sử dụng phƣơng pháp này là cần thiết bởi từ những kết

quả của nó, các luận điểm, kết luận sẽ có những luận cứ cụ thể, thuyết phục.

4.4. Phƣơng pháp phân tích tác phẩm văn học: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm

minh chứng cho những kết luận lý thuyết, sáng tỏ những vấn đề lý luận.

5. NHỮNG KẾT LUẬN MỚI VÀ CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN.

5.1. Những kết luận mới.

- Đề tài khẳng định có một quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong trào lƣu văn học

hiện thực thời kỳ 1930 - 1945. Quan niệm đó bộc lộ qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh

trong một số tác phẩm xuất sắc của các tác giả tiêu biểu. Lần đầu tiên, vấn đề thi pháp hoàn

cảnh đƣợc đặt ra và thi pháp hoàn cảnh của văn học hiện thực đƣợc nghiên cứu một cách cụ

thể, hệ thống, có ý thức hơn. Đề tài góp thêm một hƣớng tiếp cận mới về vấn đề hoàn cảnh.

- Đồng thời luận án còn chỉ ra sự phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh

trong trào lƣu văn học này, khẳng định đóng góp của các nhà văn hiện thực về phƣơng diện

xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật - đổi mới một phƣơng diện hình thức trong tác phẩm văn

chƣơng Việt Nam.

13

5.2. Cấu trúc của luận án:

Mở đầu.

Nội dung: Gồm 4 chƣơng

Chƣơng 1: Xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh và qua niệm nghệ

thuật về hoàn cảnh trong văn học.

Chƣơng 2: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố.

Chƣơng 3: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Giống tố của Vũ Trọng Phụng.

Chƣơng 4: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Sống mòn và một số truyện

ngắn tiêu biểu của Nam Cao.

Kết luận.

Một số công trình, bài báo liên quan đến đề tài luận án của tác giả đã công bố

Thƣ mục.

14

NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: XÁC ĐỊNH NỘI DUNG NGHỆ THUẬT CỦA KHÁI NIỆM

HOÀN CẢNH VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG

TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC

1.1.Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh và sự cần thiết của việc xác định nội

dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học hiện thực

1.1.1. Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh.

Chủ nghĩa hiện thực là một khuynh hƣớng, một trào lƣu văn học có nội dung cụ thể,

xác định trên cơ sở một số nguyên tắc mỹ học: Lấy hiện thực trực tiếp là đối tƣợng của nghệ

thuật, coi trọng các chi tiết chân thực, cụ thể, chính xác trong quá trình miêu tả con ngƣời và

cuộc sống ; tái hiện khách quan các mối quan hệ của con ngƣời với hoàn cảnh, chú trọng mối

quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình trên cơ sở thừa nhận sự

tác động qua lại giữa con ngƣời và mồi trƣờng sống, giữa tính cách và hoàn cảnh; phản ánh

cuộc sống bằng điển hình hóa các sự kiện của thực tế đời sống, đảm bảo tính khuynh hƣớng

xã hội nhƣng không biến nhân vật thành ngƣời phát ngôn lộ liễu.

Vấn đề chủ nghĩa hiện thực là một trong những vấn đề lớn của lý luận văn học bởi sự

phong phú, phức tạp và ý nghĩa của nó. Còn có nhiều vấn đề phải bàn cãi xung quanh chủ

nghĩa hiện thực. Chỉ riêng việc xác định thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực, cho đến

nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau: "Một số ngƣời cho rằng, những nguyên tắc phản ánh

hiện thực chủ nghĩa hình thành từ cổ đại và trải qua các giai đoạn lịch sử nhƣ Cổ đại, Phục

hƣng, Ánh sáng, thế kỷ XIX ... một số khác thì cho là từ thời Phục hƣng ; một số khác nữa thì

cho là từ thế kỷ XVIII khi tiểu thuyết sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội ra đời. Nhiều

ngƣời thì lại cho rằng, chủ nghĩa hiện thực nhƣ

15

một phƣơng pháp, một khuynh hƣớng nghệ thuật hình thành vào những năm 30 của thế kỷ

XIX, khi trong văn học châu Âu nguyên tắc mô tả chân thực cuộc sống đƣợc khẳng định một

cách đầy đủ nhất, trong những hình thức phân tích xã hội phát triển nhất" [185.55].

Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở trào lƣu văn học hiện thực

phƣơng Tây thế kỷ XIX, bởi vì: "Dù các ý kiến còn khác nhau đến đâu thì mọi ngƣời đều

phải thừa nhận là từ những năm 40 thế kỷ XIX trở di, chủ nghĩa hiện thực trong văn học đã

bƣớc sang một giai đoạn mới phát triển hoàn chỉnh và rực rỡ nhất cả về mặt lý luận lẫn thực

tế sáng tác" [185.55]. Và trong thực tế, trào lƣu văn học hiện thực thế kỷ XIX đã trở thành

nền tảng cho sự phát triển lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực.

Tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực, các nhà nghiên cứu thƣờng nhắc đến định nghĩa nổi

tiếng của Ăngghen trong bức thƣ gửi M. Háccơnecxơ về đặc trƣng của việc phản ánh đời

sống theo lối hiện thực chủ nghĩa: "Theo ý tôi, ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực

còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình"

[152.384]. Ở đây, Ăngghen đã đặc biệt nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa tính cách điển hình

và hoàn cảnh điển hình. Đây là mối quan hệ không ai có thể phủ nhận. Nhƣng cũng cần phải

thấy rằng, tƣ tƣởng về mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh là tƣ tƣởng chung của nhiều

thời đại. Giữa thế kỷ XIX, giới phê bình dân chủ cách mạng Nga từ những quan niệm có tính

duy vật về bản chất của con ngƣời đã đề cập tới tƣ tƣởng về sự phụ thuộc của tính cách vào

các hoàn cảnh xã hội - lịch sử khách quan. Đó là cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn nguyên

tắc phản ánh cuộc sống của chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa hiện thực có nhu cầu giải thích

tính cách số phận bằng hoàn cảnh. Các nhà văn hiện thực nhận thấy môi trƣờng hoàn cảnh

quyết định số phận, tính cách con ngƣời. Trong truyện ngắn Sao lại thế này ? nhà văn hiện

thực xuất sắc Nam Cao đã từng khẳng định: "Chỉ có những hoàn cảnh là khác. Hoàn cảnh

đổi, thế là ngƣời đổi tâm tính đổi ". Trong chủ nghĩa hiện thực, con ngƣời luôn luôn là đại

diện của một môi trƣờng lịch sử xã hội nhất định. Nó phụ thuộc vào chính môi trƣờng ấy.

Môi trƣờng ấy là bao trùm rộng lớn chứ không chỉ là một vài cá nhân xoay

16

quanh nhân vật. Có thể nói, nguyên lý mối quan hệ tính cách và hoàn cảnh là một nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa hiện thực. Bởi vậy, phải thừa nhận nguyên lý về mối quan hệ giữa tính

cách và hoàn cảnh đƣợc coi là nền tảng của chủ nghĩa hiện thực lâu nay là đúng.

Vấn đề hoàn cảnh đã đƣợc đặt ra từ Hêghen (1770-1831) - nhà biện chứng, đồng thời

là nhà triết học duy tâm khách quan thế kỷ XVIII. Mặc dù triết học của ông đầy mâu thuẫn,

nhƣng một đóng góp to lớn của Hêghen vào lý luận mỹ học là đã xây dựng đƣợc những phạm

trù mỹ học tình huống, xung" đột,- hành động và tính cách, đồng thời cấp cho chúng một

cách lý giải thực sự sâu sắc.

Thực ra, trƣớc Hêghen, Arixtốt, Létxinh đã dùng khái niệm này để nói về kịch.

Hêghen nâng chúng lên thành những phạm trù của mỹ học và đƣa ra đƣợc cách lý giải gắn

với bản chất của cái đẹp. Phạm trù tình huống (die Situation) của Hêghen, rất gần với phạm

trù " hoàn cảnh điển hình" và phạm trù tính cách của ông cũng rất gần với phạm trù " tính

cách điển hình" của mỹ học hiện thực. Hêghen cũng đã đƣa ra khái niệm "tình trạng chung

thế giới" và cho rằng "So với từng cá nhân, thì tình trạng chung của thế giới chỉ làm thành

miếng đất trên đó các cá nhân tồn tại và tự biểu lộ với những đặc điểm riêng biệt của từng

hoàn cảnh" [68.T1-336]. Nhƣ vậy khái niệm "tình trạng chung thế giới" ở đây có thể hiểu là

hoàn cảnh lịch sử khách quan. Hoàn cảnh lịch sử khách quan ấy đƣợc cụ thể hóa ở cá nhân

thành tình huống: "Tình huống làm thành một tiền đề riêng biệt hơn khiến cho mọi cái gì

trong tình trạng chung của thế giới vẫn còn nằm ở trong hình thức chƣa phát triển thì nay bộc

lộc ra ngoài và hoạt động tích cực" [68.T1-338]. Hêghen cho rằng: "Nói chung tình huống là

một trạng thái có tính chất nông biệt và trở thành đƣợc qui định. Ở trong thuộc tính này của

nó, tình huống góp phần biểu lộ nội dung là cái phần có đƣợc một sự tồn lại bên ngoài bằng

sự biểu hiện nghệ thuật " [68.T1-338]. Và Hêghen cũng đã khẳng định tầm quan trọng của

tình huống: " Tình huống cấp cho ta một thao trƣờng rộng lớn để tìm hiểu bởi vì từ lâu nhiệm

vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị, tức là những tình

huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và

17

sâu sắc cũng nhƣ cái nội dung chân thực của tâm hồn" [68.TI-338]. Nhƣ vậy, có thể nói,

trong quan niệm của Hêghen, tình trạng chung của thế giới (hoàn cảnh lịch sử khách quan) là

đối tƣợng của khoa học, muốn trở thành đối tƣợng của nghệ thuật nó phải đƣợc bộc lộ dƣới

hình hình thức tình huống (hoàn cảnh điển hình), ở đây ta thấy có sự gần gũi giữa quan niệm

của Hêghen và mĩ học hiện thực. Nhƣng cũng chƣa thể sử dụng khái niệm "hoàn cảnh" ấy để

khám phá nội dung nghệ thuật khái niệm hoàn cảnh trong văn học nói chung và trong văn học

hiện thực nói riêng.

Mối quan hệ biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh cũng là một trong những nguyên

lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là một mặt của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và

kiến trúc thƣợng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Trong Luận cƣơng về Phơ Bách,

Mác đã khẳng định: " Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con ngƣời là tổng hòa của tất

cả những mối quan hệ xã hội" [152.148]. Triết học Mác cũng đã khẳng định vai trò quyết

định của hoàn cảnh. Quan niệm đó thể hiện ở nguyên lý: " Ý thức không bao giờ lại có thể là

cái gì khác hơn là bản thể có ý thức cả (das bewusste Sein), mà bản thể của con ngƣời lại là

quá trình sinh hoạt thực tế của họ. Và nếu trong toàn bộ hệ tƣ tƣởng, chúng ta thấy con ngƣời

và những mối quan hệ của họ lộn ngƣợc đầu xuống dƣới, nhƣ trong một buồng tối, thì hiện

tƣợng đó là do quá lành sinh "hoạt lịch" sử của họ ma ra, hoàn toàn giống nhƣ hình ảnh lộn

ngƣợc của các vật trên võng mạc của con mắt là do quá trình sinh hoạt rõ ràng về mặt thể

chất mà ra " [152.43-44].

Xuất phát từ những quan niệm triết học ấy, bàn về văn học Mác -Ăngghen cũng rất

chú ý tới vấn đề hoàn cảnh. Trong " Thƣ gửi Látxan ngày 18/5/1895", Ăngghen có viết: "

Theo quan niệm về kịch của tôi, là quan điểm đòi hỏi ngƣời ta không đƣợc vì chạy theo

những cái có tính chất lý tƣởng mà quên mất hiện thực, không vì chạy theo Sinle mà quên

mất Sechxpia, thì việc sử dụng thành phần bình dân hết sức đa dạng trong xã hội lúc bấy giờ

có lẽ sẽ đem lại những chất liệu hoàn toàn mới về cho vở kịch sinh động tạo ra được một cái

nền vô cùng có giá trị (chúng tôi nhấn mạnh - PMH) cho phong

18

trào dân tộc của giai cấp quí tộc đang diễn ra trên sâu khấu, và có lẽ sẽ lần đầu tiên làm cho

ngƣời ta nhìn thấy rõ bộ mặt thật của chính phong trào này" [152.376]. Ở đây, có thể nói

Ăngghen cũng đã đề cập tới một phƣơng diện nghệ thuật của hoàn cảnh đó là hệ thống nhân

vật trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Cũng trong bức thƣ này, bàn về vở kịch

Xíchkinghen, Ăngghen nhận xét: " Cách đặt vấn đề đƣợc nêu lên đúng đắn: Các nhân vật

chính thì thực sự là dại biểu cho những giai cấp và những trào lƣu nhất định, do dó tiêu biểu

cho các tƣ tƣởng nhất định của thời đại họ, và động cơ hành động của họ không phải là

những ham thích vụn vặt cá nhân, mà là cái trào lƣu lịch sử lôi cuốn họ" [152.373J. Vấn đề

hoàn cảnh cũng lại đƣợc Ăngghen đề cập đến trong " Thƣ gửi M. Háccơnecxơ đầu tháng

4.1888". Trong bức thƣ này, bàn về tác phẩm Cô gái thành thị, Ăngghen đã đƣa ra một

nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa hiện thực là "Sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình

trong hoàn cảnh điển hình". Đồng thời ông nhận xét: " Các tính cách của cô khá điển hình

trong những giới hạn, trong đó những tính cách ấy hành động, nhƣng về các hoàn cảnh bao

quanh họ và bắt họ hành động, thì ngƣời ta có thể nói là không đƣợc điển hình đầy đủ". Để

làm rõ hơn nhận xét đó ông viết tiếp: "Trong Cô gái thành thị, giai cấp công nhân xuất hiện

với tính cách một quần chúng thụ động không thể tự giúp mình đƣợc, thậm chí không có một

sự cố gắng và một mƣu toan nào về mặt đó. Mọi mƣu toan kéo nó ra khỏi cái cảnh nghèo khổ

làm ngƣời ta đần độn đều xuất phát từ bên ngoài, từ bên trên. Nhƣng nếu nhƣ điều này là

đúng đối với năm 1800 hay 1810 tức là vào thời của Xanhximông và của Rôbe Ôoen, thì vào

năm 1897 vấn đề không phải nhƣ vậy nữa đối với một ngƣời gần 50 năm nay đã vinh dự

tham dự vào phần lớn các trận chiến dấu của giai cấp vô sản" [152.384].

Qua những ý kiến trên, có thể thấy rằng, quan tâm tới vấn đề hoàn cảnh, nhƣng

Ăngghen chú ý tới tính chân thực của hoàn cảnh nhiều hơn là tính nghệ thuật của hoàn cảnh.

Vì vậy, những ý kiến của Ăngghen về chủ nghĩa hiện thực khiến ngƣời ta hƣớng tới phƣơng

diện xã hội nhiều hơn là phƣơng diện nghệ thuật khi nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm

văn học.

19

Các nhà lý luận, nhà nghiên cứu, nhà văn trong và ngoài nƣớc cũng đã có nhiều ý kiến

bàn về vấn đề hoàn cảnh, nhất là khi nói tới những vấn đề xung quanh chủ nghĩa hiện thực.

Cùng với việc khẳng định: "Bất cứ tính cách nào cũng là một đại diện trong chừng

mực này hay chừng mực khác của một hoàn cảnh nhất định", L. I. Timôfêep đã thể hiện quan

niệm về hoàn cảnh: "Hoàn cảnh mà ta hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ môi trƣờng xã hội xung

quanh con ngƣời đó. Cái vốn có của hoàn cảnh ấy là những mối quan hệ nhất định giữa ngƣời

và ngƣời, thể hiện trong những biến cố xung đột này hay những biến cố xung đột khác... điển

hình đối với nó, tức là những biến cố xung đột trong đó bộc lộ rõ thái độ của con ngƣời tiểu

biểu đối với hoàn cảnh ấy". [235.297]. Khái niệm hoàn cảnh ở đây đã đƣợc nhà lý luận hiểu

là "toàn bộ môi trƣờng xã hội xung quanh con ngƣời đó". Và theo ông đó là "hoàn cảnh mà ta

hiểu theo nghĩa rộng". Nhƣng nếu hiểu hoàn cảnh theo nghĩa rộng nhƣ vậy vẫn chƣa đủ.

Hoàn cảnh không chỉ là " toàn bộ môi trƣờng xã hội" mà còn là toàn bộ môi trƣờng tự nhiên.

Tất nhiên, cốt lõi của hoàn cảnh vẫn là "những mối quan hệ nhất định giữa ngƣời và ngƣời".

Trong cách định nghĩa của L. I. Timôpêep, ta vẫn chưa thấy hoàn cảnh được nhìn nhận ở

phương diện thẩm mỹ - nghệ thuật.

Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học, G.N. Pospelov đã đặt ra vấn đề phải xác

định khái niệm hoàn cảnh khi nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực: " Trƣớc khi đi đến một công

thức khoa học về chủ nghĩa hiện thực tƣ duy lý luận cần phải đặt ra và giải quyết vấn đề thế

nào là "những hoàn cảnh" mà chúng có ảnh hƣởng đến các tính cách đƣợc miêu tả và vì sao

sự phát triển các tính cách phụ thuộc vào các hoàn cảnh là đặc điểm tƣ bản của chủ nghĩa

hiện thực" [201 - 247] và theo G.N. Pospelov "Ngay tƣ tƣởng lý luận văn học dân chủ đã

khám phá bản chất xã hội của các hoàn cảnh tạo nên tính cách và đó là chìa khóa có tính

chất phƣơng pháp luận quan trọng để hiểu văn học hiện thực. Các hoàn cảnh đã đƣợc hiểu

nhƣ các đặc điểm bên ngoài của môi trƣờng, hoàn cảnh tƣơng tự mà nhƣ những quan hệ .xã

hội và cuộc đấu tranh xã-hội

20

qui định sự vận động lịch sử của xã hội và do đấy quy định cả từng cá nhân riêng lẻ"

[201.248].Về những ý kiến khẳng định mối quan hệ giữa các tính cách nghệ thuật và hoàn

cảnh xã hội, G. N. Pospeelov nhận xét: "nếu nhƣ các nhà phê bình đã nhận xét rằng, nhà văn

nhận thức đƣợc mối quan hệ của các nhân vật nghệ thuật do mình tạo ra với những hoàn cảnh

của đất nƣớc và thời đại sâu sắc hơn so với những ngƣời đi trƣớc và đã khám phá sâu sắc hơn

những tác động qua lại giữa chúng thì trong đó họ đã thấy sự phát triển của chủ nghĩa hiện

thực, sự hoàn thiện của nguyên tắc phản ánh đời sống hiện thực chủ nghĩa" [201.248]. Đặt ra

vấn đề phải xác định khái niệm hoàn cảnh và cũng đã bàn về vấn dề hoàn cảnh trong văn học,

G. N. Pospelov chủ yếu vẫn nhấn mạnh bản chất xã hội của hoàn cảnh.

M. B. Khraplrenko khi nghiên cứu Các hình thức khái quát hóa hiện thực chủ nghĩa

đã nhấn mạnh: Một trong những thành tựu lớn nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán là sự

phản ánh những mối quan hệ chặt chẽ giữa con ngƣời với môi trƣờng xã hội, sự tái hiện tác

động của những điều kiện, hoàn cảnh sống đối với việc hình thành tính cách con ngƣời.

Những mối liên hệ của con ngƣời với thế giới xung quanh cũng là đối tƣợng chú ý đặc biệt

của văn học hiện thực trong giai đoạn phát triển trƣớc của nó - trong thời kỳ Phục Hƣng, và

sau đó trong thời đại Khai sáng. Tuy nhiên, trong chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đã nay sinh

những đặc điểm căn bản mới mẻ về mặt này" . [110.61]. Giải thích nguyên lý về mối quan hệ

giữa tính cách và hoàn cảnh, M.B Khraptrenko viết:" Các nhà hiện thực thế kỷ XIX đã thực

hiện việc khám phá lĩnh vực hình thành và phát triển những tính cách con ngƣời, các mối liên

hệ của những tính cách đó đối với môi trƣờng xã hội, những khám phá đó sở dĩ có đƣợc là do

trong chính thực tại đã nổi rõ lên sự tác động của hoàn cảnh sống đối với thế giới nội tâm con

ngƣời và cũng là do tƣ duy sáng tạo của các nghệ sĩ ngôn từ lớn đã nhằm vào việc nghiên cứu

các khái quát bằng nghệ thuật các quan hệ của con ngƣời với môi trƣờng xã hội, của cá nhân

với xã hội" [110.88]. Nhận xét một số tác phẩm tiêu biểu của Bandắc về phƣơng diện hoàn

cảnh, M. B Khraptrenko cho rằng " việc miêu tả cảnh sinh hoạt, nhà cửa,

21

địa điểm, xảy ra hành động cũng chiếm vị trí quan trọng trong Ơgiêni Grăngđê, Nông dân, Đi

tìm cái tuyệt đối, Bêalơrix. Hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không chỉ

là sự dẫn chuyện, mà còn nhƣ một nhân vật văn học độc đáo, bình đẳng về nhiều mặt với các

nhân vật chính của tác phẩm" [110.91]. Khi cho rằng hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm

Bandắc "nhƣ một nhân vật văn học độc đáo", có nghĩa là M.B. Khraplrenko đã coi hoàn cảnh

như một hình tượng nghệ thuật, nó không chỉ còn đƣợc coi là cái nền, cái bối cảnh cho nhân

vật hoạt động. Từ quan niệm " hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không

chỉ là sự dẫn chuyện", M. B. Khraptrenko nhận thấy "Khi xác định hoàn cảnh sinh hoạt vật

chất của các nhân vật, ảnh hƣởng của hoàn cảnh đó đối với con ngƣời, Ban dắc không tách

rời cái môi trƣờng theo nghĩa hẹp của từ này, với cái môi trƣờng đƣợc hiểu một cách rộng rãi

nhƣ là một tập hợp mâu thuẫn của những nguyên tắc thống trị đời sống. Cái này đan quyện

với cái kia" [110.92]. Ở đây, hoàn cảnh đã đƣợc nhìn nhận ở phƣơng diện cấu trúc nghệ thuật

của nó.

Ở Việt Nam, các nhà lý luận khi bàn về chủ nghĩa hiện thực cũng đã nói tới vấn đề

hoàn cảnh. Nhƣng các tác giả chủ yếu chỉ nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa tính cách điển hình

và hoàn cảnh điển hình. Và cũng có tác giả đƣa ra nội dung khái niệm hoàn cảnh điển hình.

Còn nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh thì chƣa đƣợc đề cập tới.

Trong công trình nghiên cứu về Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (NXB Đại học và

Trung học chuyên nghiệp, xuất bản năm 1974) Phan Cự Đệ cũng đã bàn về vấn đề hoàn cảnh

điển hình khi nói tới "Vấn đề điển hình hóa trong các tiểu thuyết hiện thực phê phán". Tác giả

đã nhấn mạnh tới sự phân biệt giữa hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh trong tác phẩm: "Hoàn

cảnh điển hình trong tiểu thuyết không phải là sự sao chép một cách tầm thường hoàn cảnh

trong cuộc sống. Hoàn cảnh điển hình phản ánh bối cảnh lịch sử nhưng khái niệm hoàn cành

điển hình không đồng nhất với khái niệm hoàn cảnh lịch sử. Hoàn cảnh điển hình là một

phạm trù thẩm mỹ (chúng tôi nhấn mạnh - PMH).

22

Hoàn cảnh điển hình khái quát và nêu lên ý nghĩa bản chất của cuộc đấu tranh xã hội bằng

hình thức thẩm mỹ cá biệt hóa. Hoàn cảnh điển hình do nhà văn Xây dựng trên cơ sở tƣởng

tƣợng hƣ cấu và nhờ vậy họ làm cho sự xung đột giữa các mâu thuẫn xã hội cơ bản trở nên

gay gắt hơn, sự phát triển của hành động trở nên dồn dập căng thẳng hơn" [40.305]. Ở đây có

thể nói Phan Cự Đệ đã chú ý tới hoàn cảnh với tư cách là một hình tượng nghệ thuật chứ

không chỉ là hoàn cành xã hội. Nhà nghiên cứu đã khẳng định giá trị thẩm mỹ của hoàn

cảnh và hoàn cảnh là kết quả sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Xuất phát từ quan niệm

hoàn cảnh là một phạm trù thẩm mĩ, Phan Cự Đệ cũng đã đề cập tới một yếu tố cốt lõi trong

cấn trúc nghệ thuật của hoàn cảnh: "Hoàn cảnh điển hình chỉ có tính cách hiện thực và sinh

động nếu nó đƣợc biểu hiện thông qua các tính cách, được coi là sự tác động lẫn nhau giữa

các "tính cách [84. T2. 368].

Trong công trình nghiên cứu "Văn xuôi Việt Nam trên con đƣờng hiện thực xã hội

chủ nghĩa " (Nxb Khoa học xã hội, ấn hành năm 1980), khi bàn về "Nhân vật trung tâm của

văn xuôi: con ngƣời mới", Phong Lê đã đề cập tới vấn đề "con ngƣời và hoàn cảnh " và nhấn

mạnh: "phải đến chủ nghĩa hiện thực và đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực xã hôi chủ nghĩa,

dƣới ánh sáng của chủ nghĩa Mác, hoàn cảnh mới đƣợc quan niệm một cách đúng đắn"

[1.29.155]. Nhƣng nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa tính cách và

hoàn cảnh, sự cách tân của hoàn cảnh trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa so với văn

học hiện thực ... mà chƣa bàn tới cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học. Cũng phải

nói thêm rằng, ở đây Phong Lê đã có những nhận xét khái quát rất đúng, chẳng hạn: "Bất cứ

sự miêu tả nghệ thuật nào về cuộc sống con ngƣời cũng đều phải gắn bó con ngƣời với hoàn

cảnh. Nhƣng theo sự phát triển của lịch sử, và trong đấu tranh giữa các trƣờng phái văn học,

quan niệm của nhà văn về hoàn cảnh có khác nhau" [ 129. 155].

23

Trong cuốn Lý luận văn học của bộ môn lý luận văn học, khoa Ngữ văn, trƣờng Đại

học tổng hợp Hà Nội (xuất bản lần 1 năm 1993, tái bản lần thứ 4 năm 1997) các tác giả đã chỉ

ra một trong bốn nguyên tắc sáng tác của phƣơng pháp hiện thực phê phán là: "Chú trọng mối

quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình" [58.280]. Nhƣng, nhƣ

lời nói đầu của Hà Minh Đức" các tác giả có ý thức trình bày các vấn đề lý luận một cách tập

trung ngắn gọn, không mở rộng và quá đi sâu vào các khía cạnh phức tạp" nên nội dung nghệ

thuật khái niệm hoàn cảnh cũng chưa được xác định. Tuy nhiên, tác giả cũng đã lưu ý phân

biệt hoàn cảnh ngoài đời và hoàn cảnh trong tác phẩm: "Trong đời sống thực tế, khái niệm

"hoàn cảnh" bao gồm: địa điểm hoạt động cụ thể của con ngƣời ; những điều kiện kinh tế,

chính trị, văn hóa ... của gia đình, địa phƣơng, xã hội, thời đại ; những mối quan hệ cụ thể của

cá nhân với mọi ngƣời, với cuộc sống xung quanh ... Tuy nhiên, hoàn cảnh trong tác phẩm

văn học không phải là sự phản ánh một cách máy móc hoàn cảnh trong thực tế, mà nó cũng

chịu tác động của qui luật sáng tạo văn học (chúng tôi nhấn mạnh - PMH), nghĩa là nó cũng

đƣợc nhà văn tiến hành khái quát hóa và cá biệt hóa khi đƣa vào tác phẩm"[58.131]. Về tính

khái quát và tính cá biệt của hoàn cảnh, tác giả giải thích: "Tính khái quát là ý nghĩa tiêu biểu

của hoàn cảnh trong tác phẩm cho nhiều hoàn cảnh khác cùng một xã hội, cùng một thời đại

với nó (...) cùng với tính khái quát, hoàn cảnh trong tác phẩm phải có tính cá biệt. Đó chính là

những đặc điểm riêng biệt độc đáo những chi tiết cụ thể, sinh động về địa điểm hoạt động và

mối quan hệ của con ngƣời sống liên địa điểm ấy" [58.131-132]. Ở đấy, tác giả cũng đã đề

cập tới phương diện nghệ thuật của hoàn cảnh. Mặc dù vậy, cấu trúc nghệ thuật của hoàn

cảnh vẫn chưa được xác định.

Trong giáo trình Lý luận văn học (tập 3) do nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1988,

bàn về chủ nghĩa hiện thực, tác giả có viết:" Với nguyên tắc lịch sử - cụ thể, với quan niệm

"con ngƣời xã hội" ,chủ nghĩa hiện thực phê

24

phán xây dựng đƣợc những hoàn cảnh điển hình. Đó là những hoàn cảnh của nhân vật được

tái hiện vào trong tác phẩm, phản ánh đƣợc bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất trong

những tình thế xã hội với một quan hệ giai cấp nhất định" [149.98-99]. Khi dùng chữ "tái

hiện" nghĩa là tác giả đã không đồng nhất hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh trong tác phẩm, đã

chú ý tới phƣơng diện nghệ thuật của hoàn cảnh. Nêu lên vấn đề hoàn cảnh điển hình, tác giả

cũng đã có những ý kiến khá thoả đáng về phƣơng diện nghệ thuật của khái niệm này: "Tất

nhiên cũng nhƣ tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu khái quát của hoàn cảnh điển hình phải

thông qua tính chất cụ thể, riêng biệt của nó. Cái hiện lên trƣớc mắt ngƣời đọc chính là những

hoàn cảnh cụ thể riêng biệt này. Có điều, qua những nét cụ thể riêng biệt đó, ngƣời đọc cảm

thấy đƣợc những vấn đề xã hội rộng lớn. Thảng hoặc, trong tác phẩm, nhà văn có trực tiếp

giới thiệu những vấn đề xã hội bao trùm, nhƣng đó chỉ là đƣờng viền, là bối cảnh có tác dụng

khơi gợi, chứ không phải là thành phần chủ yếu của hoàn cảnh điển hình có mối quan hệ biện

chứng hữu cơ với tính cách điển hình. Hoàn cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện,

những quan hệ do chính những tính cách tạo nên ( chúng tôi nhấn mạnh - PMH)" [149.98-

99]. Chỉ ra tính chung và tính riềng, "ý nghĩa tiêu biểu khái quái" và "tính chất cụ thể riêng

biệt" của hoàn cảnh điển hình, tác giả đã nhìn nhận hoàn cảnh điển hình nhƣ một phạm trù

nghệ thuật. Và khi khẳng định "Hoàn cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện, những

quan hệ do chính những tính cách tạo nên", tác giả đã đề cập tới một yếu tố thuộc cấu trúc

nghệ thuật của hoàn cảnh (mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần sau: 1.2), đó là hệ thống nhân

vật tạo hoàn cảnh.

Hoàng ngọc Hiến, khi bàn về "Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện Chí

Phèo" cũng đã đề cập tới khái niệm hoàn cảnh điển hình: "Nói đến hoàn cảnh điển hình, cần

phân biệt hoàn cảnh nhỏ và hoàn cảnh lớn. Hoàn cảnh nhỏ là hoàn cảnh sống trực tiếp của

nhân vật, những quan hệ gia đình,

25

bạn bè, xóm giềng ... Hoàn cảnh lớn là tình hình và xu thế chung của cả xã hội". Từ đó, phân

tích tác phẩm Chí Phèo, nhà nghiên cứu nhận thấy "trong Chí Phèo qua cuộc sống của làng

Vũ Đại, tác giả đã làm nổi bật đƣợc một số nét cơ bản trong hoàn cảnh lớn của nông thôn

Việt Nam thời bấy giờ. Bọn thống trị cũng nhƣ những ngƣời lao động đều bị tha hóa, "những

chất độc ở ngay trong sự sống" thấm vào máu từng ngƣời, vùi dập những gì tốt đẹp và kích

thích những gì nhỏ nhen, xấu xa trong con ngƣời. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lớn của truyện

Chí Phèo thiếu hẳn âm vang của bão táp cách mạng, tác giả không thấy đƣợc khả năng đổi

đời và vƣơn lên của ngƣời nông dân" [77-196]. Nhận định trên của Hoàng Ngọc Hiến về tác

phẩm Chí Phèo gợi nhớ tới nhận định của Ăngghen về tác phẩm Cô gái thành thị của

Háccơnétxơ: "Các tính cách của cô khá điển hình trong những giới hạn, trong đó những tính

cách ấy hành động, nhƣng về các hoàn cảnh bao quanh họ và bắt họ hành động, thì ngƣời ta

có thể nói là không đƣợc điển hình đầy đủ" [152-384]. Thực ra, khi phân hiệt hoàn cảnh lớn

và hoàn cảnh nhỏ, Hoàng Ngọc Hiến đã tiếp thu tƣ tƣởng của các nhà lý luận văn học Nga.

"Nhƣng sự phân biệt ấy vẫn chưa chỉ ra bản chất nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học.

Nhận định của Hoàng Ngọc Hiến là hoàn toàn chính xác về nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm

Chí Phèo, nhƣng ngƣời ta vẫn có thể tìm thấy ở một số nguồn tài liệu khác viết trong thời kỳ

này " một số nét cơ bản" đó nghĩa là nếu nói nhƣ vậy, tác giả vẫn chƣa thực sự nhìn nhận

hoàn cảnh ở phƣơng diện thẩm mỹ. Vấn đề đặt ra là Nam Cao có đóng góp gì về phƣơng diện

nghệ thuật khi tái hiện hoàn cảnh ấy.

Điểm lại một số ý kiến về vấn đề hoàn cảnh trong văn học của các nhà lý luận trong

và ngoài nƣớc, chúng tôi nhận thấy, lâu nay vấn đề hoàn cảnh nghệ thuật ít nhiều cũng đã

đƣợc bàn đến những chủ yếu dừng ở những nhận định đơn lẻ, không hệ thống. Vấn đề cấu

trúc nghệ thuật của hoàn cảnh thực chất vẫn chƣa đƣợc đặt ra và giải quyết.

26

1.1.2. Sự cần thiết của việc xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh

trong văn học.

Trƣớc hết cần phải thấy rằng, nhìn nhận vấn đề hoàn cảnh ở phƣơng diện xã hội nhƣ

lâu nay là cách nhìn đúng. Bởi vì trong thực tiễn nghiên cứu văn học, tiếp nhận văn học ở góc

độ xã hội học vẫn là một phƣơng hƣớng tiếp cận có giá trị khoa học. Từ cách tiếp cận ấy, các

nhà nghiên cứu đã có đƣợc những thành tựu trong quá trình nghiên cứu, khám phá các tác

phẩm văn học. Có thể nói, việc vận dụng nguyên lý mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh

để nghiên cứu tác phẩm văn học hiện thực là rất đúng đắn. Nhƣng muốn hiểu tác phẩm văn

học với tƣ cách là một tác phẩm nghệ thuật, ta cần phải đi sâu thêm một bƣớc nữa. Đó là tìm

hiểu cấu trúc nghệ thuật của tính cách, cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh và ảnh hƣởng của

nó tới tính cách. Có một hiện lƣợng rất dễ nhận thấy: trong các tác phẩm cùng viết về một

thời kỳ lịch sử, trong một hoàn cảnh xã hội nhƣ nhau, nhƣng hình ảnh về hoàn cảnh xã hội ấy

lại khác nhau, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn lại không giống nhau. Bởi

vì hoàn cảnh trong văn học đƣợc cấu tạo nhƣ một phƣơng diện của thế giới nghệ thuật có

những yêu cầu cấu trúc nhất định, chứ không không phải là sự sao chép đơn giản hoàn cảnh

xã hội bên ngoài.

Tìm hiểu hoàn cảnh với cấu trúc nghệ thuật của nó là dựa trên một cơ sở lý thuyết để

khám phá giá trị thẩm mỹ của tác phẩm văn học ở phƣơng diện hoàn cảnh, từ đó chúng ta sẽ

thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn.

1.2. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh

1.2.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật.

Trong bài Vấn đề "Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời" trong nghiên cứu văn học Xô

Viết (Tạp chí văn học số 1, 1991), in lại trong cuốn Lý luận phê bình văn học [226], Trần

Đình Sử cho rằng:" Có thể xem quan niệm nghệ thuật là khái niệm lý luận quan trọng bậc

nhất trong mấy thập niên

27

qua, có ý trả về cho văn học bản chất nhân học"[226.93] Mặc dù vậy, theo ông "Cho đến nay

khái niệm này vẫn chƣa có cách hiểu thống nhất" và cho biết: "viện sĩ Khraplrenko trong một

bài báo về phân tích hệ thống (1976) nhận xét rằng: "Khái niệm quan niệm nghệ thuật là một

khái niệm hợp qui luật về thực chất, song lại lắm lúc mang một tính cách hết sức mơ hồ.

Đƣờng nét của các mối quan hệ, tƣơng quan của quan niệm nghệ thuật với cấu trúc của tác

phẩm riêng biệt với các yếu tố cấu thành, với các tác phẩm khác của nhà văn chƣa vạch đủ

rõ"" [226.97]. Tuy nhiên, Trần Đình Sử cũng đƣa ra cách hiểu của mình về ý nghĩa cách tân

của khái niệm quan niệm nghệ thuật, mà trƣớc hết là khái niệm quan niệm: "quan niệm

không phải là khái niệm về đối tƣợng, về hiện thực mà là khái niệm về sự cắt nghĩa đối với

đối tƣợng và hiện thực (...) "quan niệm" xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái

niệm về hệ qui chiếu, thể hiện tầm lý giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn,

tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để

trên đó diễn ra một sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình lƣợng nghệ thuật ..."

[226.98]. Về quan niệm nghệ thuật, tác giả viết: "Trong nghệ thuật, thế giới đƣợc quan niệm

hóa trên cơ sở sự cảm thụ cá nhân về một thế giới, thoả mãn nhu cầu tồn tại của nó. Nghệ

thuật nâng sự cảm thụ thế giới lên tầm quan niệm về thế giới, ứng với một quan niệm nghệ

thuật là một thế giới nghệ thuật. Với ý nghĩa này quan niệm nghệ thuật là phạm trù về các

chính thể nghệ thuật, là công cụ để tƣ duy về các hiện lƣợng nghệ thuật nhƣ những chỉnh thể"

[226.99-100]. Có thể nói quan niệm nghệ thuật là giới hạn của tƣ duy nghệ thuật, bởi vậy nó

là "cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của các sáng tác nghệ thuật cũng nhƣ sự

tiến bộ nghệ thuật" |226-100|. Vậy quan niệm nghệ thuật sẽ đƣợc nghiên cứu từ những cơ sở

nào? Nó đƣợc nghiên cứu khám phá qua hệ thống thí pháp. Nói cách khác, hệ thống thi pháp

là biểu hiện của quan niệm nghệ thuật.

28

Cần phải thấy rằng, quan niệm nghệ thuật khác với quan niệm triết học, xã hội học,

thế giới quan. Đây là một phạm trù nghệ thuật học, có quan hệ gắn bó với những quan niệm

trên " nhƣng tự bản thân nó đã là một "ý thức hệ" đặc biệt gắn liền với nhiêm vụ miêu tả nghệ

thuật. Đó là ý thức hệ nhân bản mà mục đích là khám phá ngày càng sâu sắc con ngƣời nhƣ

nó tự cảm thấy trong tự nhiên, xã hội và lịch sử với tất cả sự phong phú tinh tế" [226.103-

104].

1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn

Hoàn cảnh trong văn học là hoàn cảnh nghệ thuật. Nó có cấu trúc, có ý nghĩa riêng và

chịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác giả. Hoàn cảnh trong văn học không chỉ là

sự phản ánh hoàn cảnh ngoài đời mà còn là quan niệm thẩm mỹ và nghệ thuật về hoàn cảnh

ấy. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh là nguyên tắc cắt nghĩa lý giải gắn liền với sự cảm

nhận hoàn cảnh của nhà văn. Quan niệm ấy sẽ chi phối tới việc sử dụng các hệ thống phƣơng

tiện nghệ thuật trong tác phẩm. Nó thể hiện trong việc xác lập cấu trúc nghệ thuật của hoàn

cảnh trong tác phẩm của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật cũng; là một trong những yếu tố

phản ánh khả, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của tác giả. Quan niệm nghệ thuật về

hoàn cảnh ở mỗi nhà văn có sự khác nhau, từ đó họ có khả năng tạo nên những thế giới nghệ

thuật riêng.

Hoàn cảnh trong tác phẩm văn học đƣợc đan dệt nên bơi những mối quan hệ giữa các

nhân vật, nhƣng hoàn cảnh không đơn thuần chỉ là những mối quan hệ. Nó là toàn bộ thế giới

xung quanh con ngƣời, từ những gì gần gũi bình thƣờng cụ thể (đồ vật, vật dụng) đến những

gì xa xôi trừu tƣợng (thời gian, không gian ...); từ môi trƣờng xã hội đến môi trƣờng thiên

nhiên, thời tiết, khí hậu, màu sắc, âm thanh ... Tất cả những yếu tố đó đều có khả năng tác

động vào tâm lý, sinh lý, ý nghĩ, tình cảm, tƣ tƣởng, hành động ... của con ngƣời, tác động tới

sự hình thành tính cách và ảnh hƣởng tới số phận con ngƣời. Bởi vậy, chúng đều là những

yếu tố thuộc về hoàn cảnh. Chẳng hạn, hoàn cảnh trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

không chỉ là những mối quan hệ đối kháng giữa chị Dậu với lý trƣởng, Nghị Quế, tri phủ Tƣ

Ân

29

không chỉ là mối quan hệ giữa chị Dậu với anh Dậu, cái Tý, thằng Dần,....mà nó còn đƣợc tạo

dệt nên bởi những hệ thống tín hiệu nghệ thuật khác, thế giới đồ đạc (nghèo nan, tàn tạ, cũ

nát của gia đình chị Dậu và giàu có, lừng lững oai phong của gia đình Nghị Quế); thiên nhiên

thời tiết (ánh nắng tháng năm gay gắt, không ngừng thiêu đốt); thế giới âm thanh (tiếng trống,

mõ, tù và, hiệu ốc, hiệu sừng, tiếng chửi bới, quát, thét, la hét củ bọn cƣờng hào chức dịch,

tiếng chó sủa ừng đàn khắp ngõ ngách gần xa)... Tất cả những hệ thống tín hiệu nghệ thuật ấy

đều góp phần đan dệt nên hoàn cảnh nghệ thuật vật và tác động tới hình tƣợng nhân vật

chính - nhân vật chị Dậu. Nó làm bật tình cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của chị Dậu trƣớc sự

truy bức, dồn đuổi của bọn đầu trâu mặt ngựa. Và cũng trong hoàn cảnh ngột ngạt, căng

thẳng đó, nhiều phẩm chất tốt đẹp của chị Dậu đƣợc bộc lộ. Hình tƣợng nhân vật chị Dậu

không tách rời ngoại cảnh, trái lại nó luôn chịu sự tác động của hoàn cảnh, môi trƣờng xung

quanh. Những yếu tố ngoại cảnh cũng đƣợc Ngô Tất Tố chú ý khắc họa, bởi vì trong hình

thức tự sự: "Môi tƣờng, hoàn cảnh là một đối tƣợng đƣợc miêu tả cụ thể, chi tiết hơn bất cứ

loại văn học nào" [22]. Trong quá trình sáng tạo, xây dựng các hình tƣợng nhân vật, nhà văn

không thể không hình dung ra hoàn cảnh tạo nên nhân vạt và môi trƣờng hoạt động của nhân

vật đó với những mối quan hệ cùng những yếu tố ngoại cảnh khác. Ở đây, có vai trò của vốn

sống, kinh nghiệm sống và đặc biệt là của cá tính sáng tạo. Cùng đứng trƣớc một hoàn cảnh

xã hội, nhƣng mỗi nhà văn lại có những cảm nhật, khám phá riêng, nghe đƣợc những tiếng

nói riêng từ âm vang cuộc sống; thấy những màu sắc, vấn đề riêng nổi lên từ hoàn cảnh hiện

thực, từ đó lựa chọn những phƣơng diện, góc độ riêng để khám phá và thể hiện. Không phải

vô cớ mà cùng đứng trƣớc hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945, các nhà văn hiện

thực lạ phản ánh những mảng đời sống khác nhau, tái tạo những hoàn cảnh xã hội không

giống nhau. chỉ cần điểm lại một vài gƣơng mặt tiêu biểu của trào lƣu văn học hiện thực thời

kỳ này là cũng thấy rất rõ điều đó.

30

Ngô Tất Tố là một nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về những phong, tục

tập quán ở nông thôn Việt Nam, bởi vậy: "Dƣờng nhƣ chẳng ai có thể vẽ cho chúng ta một

bức tranh sinh động về phong tục tập quán bằng tác giả này" [199-154]. "Bức tranh sinh

động" mà G.Buđaren nói tới ở đây là xã hội nông thôn Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng

Tám. Có đƣợc điều đó bởi vì Ngô Tất Tố đã gắn bó với làng quê từ nhỏ, lớn lên ông đã từng

đi dạy chữ nho, chữ quốc ngữ ở Đông Trù, Gia Thƣợng. Sau này, tuy làm báo, viết văn ở Hà

Nội ông vẫn thƣờng xuyên về thăm làng (Lộc Hà, Phủ Từ Sơn, tính Bắc Ninh). Tác phẩm

Tắt đèn đƣợc viết ngay trong cái không gian làng quê này và nhiều nguyên mẫu nhân vật

của tác phẩm đƣợc lấy từ chính những con ngƣời trong cái làng quê bé nhỏ ấy.

Khác với Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng lại là một nhà văn ít có điều kiện gần gũi, gắn

bó với cuộc sống của những ngƣời dân lao động, đặc biệt là những ngƣời nông dân. Ông chủ

yếu sống ở Hà Nội và lại ở đúng nơi trung tâm của những tệ nạn xã hội: tiệm ăn, tiệm hút,

nhà thổ, nhà săm. Không gian thƣờng nhật của ông là không gian quanh mấy phố Hàng Bạc,

Hàng Buồm, Mã Mây, Sầm Công. Bởi vậy hàng ngày ông phải tai nghe, mắt thấy biết bao

chuyện xấu xa, bẩn thỉu của cái xã hội tƣ sản thành thị và hiện lên trong tác phẩm của nhà

văn chủ yếu là những mảng đời đen tối đó. Các nhân vật trong tác phẩm của ông cũng đƣợc

lấy từ những nguyên mẫu đang tồn tại ngoài đời. Đọc Số đỏ, nhà văn Nguyên Hồng nhận xét:

"đối chiếu với cuộc sống thành thị lúc bấy giờ, tôi tìm thấy rất nhiều nhân vậy ấy trong thực

tế: những Xuân Tóc Đỏ, những bà Phó Đoan, những thầy Min Đơ, Min Toa nhan nhản trên

hè phố trong tiệm nhảy và trong những chỗ sâu kín, tối tắm nhất của xã hội thuộc địa phong

kiến" [195.83].

Nếu nhƣ Ngô Tất Tố có vốn hiểu biết sâu, rộng về nông thôn Việt Nam và Vũ Trọng

Phụng rất "thuộc" cái xã hội tƣ sản thành thị "chó đểu" đƣơng thời, thì Nam Cao, do hoàn

cảnh sống riêng của mình, lại có những hiểu biết, vốn sống dồi dào về cả xã hội nông thôn và

xã hội thành thị Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng Tám. Tất nhiên, ở phạm vi xã hội thành

thị, Nam Cao, do môi trƣờng hoạt động, nghề nghiệp của mình, chủ yếu chỉ thông thạo mảng

31

đời sống của những ngƣời trí thức nghèo. Bởi vậy, trong tác phẩm Nam Cao ta lại thấy hiện

lên hai mảng hiện thực xã hội đƣợc phản ánh khá sâu sắc: mảng đời sống của những ngƣời

nông dân và mảng đời sống của những ngƣời trí thức nghèo trong xã hội. Cả hai mảng đời

sống ấy đều đƣợc tái tạo qua những hoàn cảnh nghệ thuật với những tính cách nghệ thuật.

Quá trình sáng tạo hoàn cảnh không chỉ phụ thuộc vào vốn sống, kinh nghiệm hiểu

biết của nhà văn mà còn phụ thuộc vào cá tính sáng tạo của từng tác giả, tức là phụ thuộc vào

cái nhìn nghệ thuật độc đáo, vào cách cảm, cách nghĩ của nhà văn, thể hiện ở những nguyên

tắc biện pháp nghệ thuật nhằm biểu hiện những hoàn cảnh nghệ thuật.

Rõ ràng là cùng trƣớc một hiện thực xã hội nông thôn Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945,

nhƣng Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao... lại có những cảm nhận, cách

nhìn khác nhau về hoàn cảnh, từ đó xây dựng những cấu trúc nghệ thuật hoàn cảnh với những

hệ thống tín hiệu nghệ thuật không giống nhau, những kiểu loại cơ chế, mâu thuẫn xung đột,

nhân vật không giống nhau. Ngô Tất Tố cảm nhạn ở mảng đời sống hiện thực ấy một cơ chế

bạo lực, trấn áp, dồn đuổi (Tắt đèn); Nguyễn Công Hoan cảm nhận ở đó một cơ chế xui

nguyên giục bị (Bƣớc đƣờng cùng) ; Nam Cao lại thấy ở đó cơ chế lạnh lùng, tàn nhẫn (Sống

mòn). Xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật, Ngô Tất Tố chú ý tới những yếu tố bên ngoài nhân-

vật, Nam Cao lại thƣờng chú ý tới yếu tố tinh thần bên trong; Ngô Tất Tố nhấn mạnh yếu tố

xã hội của . hoàn cảnh,Nam Cao cũng không coi nhẹ yếu tố đó. Nhƣng nhà văn hiện thực

xuất sắc này còn chú ý tới yếu tố tâm lý, sinh lý, bản năng. Tái tạo hệ thống nhân vật đan dệt

hoàn cảnh, tác phẩm của Ngô Tất Tố có những nhân vật có tên, không tên, nhân vật trực tiếp

hoặc gián tiếp tạo không khí cho hoàn cảnh. Trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng còn có loại

''nhân vật đám đông", "nhân vật dƣ luận "... Vũ Trọng Phụng cảm nhận cái-nhịp độ hối hả,

dồn dập quay cuồng, đảo điên với những bất ngờ liên tiếp của một mảng đời sống xã hội

thành thị tƣ sản, Nam Cao lại cảm nhận cái nhịp điệu trì trệ, mỏi mòn đơn điệu, tẻ nhạt của

một mảng đời sống khác, cũng trong cái xã hội đó . Tất cả sự những sự khác nhau đó từ cá

tính sáng tạo của nhà văn và cội nguồn là quan niệm nghệ thuật của tác giả.

32

1.2.3. Vài nét về hoàn cảnh nghệ thuật trong lịch sử văn học

Hoàn cảnh trong văn học không chỉ chịu sự chi phối bởi quan niệm nghệ thuật của

nhà văn mà còn chịu sự quy định bởi ý thức nghệ thuật của thời đại; chịu sự chi phối của loại

hình văn học, giai đoạn văn học, trào lƣu, trƣờng phái sáng tác. Việc điểm lại vài nét về hoàn

cảnh nghệ thuật trong lịch sử văn học sẽ giúp chúng ta thấy đƣợc điều đó.

Trong một số thể loại của văn học thời gian, chẳng hạn trong truyện cổ tích, ta cũng

bắt đầu thấy yếu tố hoàn cảnh. Nhƣng hoàn cảnh ở đây vẫn chỉ , mang tính chất rất sơ lƣợc,

có khi nó chỉ là cái bối cảnh để nhân vật hoạt động. Những biểu hiện cụ thể của hoàn cảnh,

nhƣ không gian, thời gian, địa điểm ... nhiều khi chỉ mang tính chất ƣớc lệ rất mơ hồ: "ngày

xửa ngày xƣa...", "ở một làng nọ". Một trong những chức năng của hoàn cảnh là giải thích

hành động, nhƣng hoan canh trong truyện cổ tích chƣa hoàn toàn thực hiện đƣợc chức năng

đó. Nó chỉ góp phần giải thích phần nào tính cách và hành động của nhân vật. Bởi trong

nhiều truyện cổ lích, có những lính cách, hành động có thổ lý giải bằng yếu lố hoàn canh

nhƣng phán lớn, dƣờng nhƣ nhân vật nằm ngoài hoàn cảnh. Chẳng hạn truyện Tấm Cám có

hoàn cảnh cụ thể là hoàn cảnh một gia đình có dì ghẻ con chồng với những mối quan hệ

không lấy gì làm tốt đẹp nhƣ dân gian đã từng tổng kết. Trong những mối quan hệ ấy, có thể

coi nhân vật này là hoàn cảnh của nhân vật kia kia. Tấm là hoàn cảnh của Cám, dì ghẻ là

hoàn cảnh của Tấm ... Trong truyện cổ tích này, có những hành động của nhân vật có thể giải

thích bằng hoàn cảnh: Tấm trả thù, giết Cám bởi mẹ con Cám đã nhiều lần hãm hại Tấm.

Nhƣng tại sao Cám ác ? Tại sao Tấm hiền lành, nhân hậu, mặc dù cả Tấm và Cám cùng sống

chung trong một gia đình ? Đó là điều tác giả dân gian không quan tâm giải thích bằng hoàn

cảnh. Trong Tấm Cám nói riêng và truyện cổ tích nói chung, nhân vật thiện hay ác là do tự

nó. Không có vai trò của hoàn cảnh trong việc lý giải những tính cách đó. Mặt khác, hoàn

cảnh trong truyện cổ tích nhiều khi bị lấn át bởi những yếu tố siêu nhân thần bí. Bởi vậy, có

thể nói, các tác giả văn học dân gian chƣa ý thức về hoàn cảnh, chƣa có quan niệm nghệ thuật

về hoàn cảnh.

33

Trong văn học trung đại, yếu tố môi trƣờng hoàn cảnh đã bắt đầu đƣợc chú ý khai

thác biểu hiện. Số phận, tính cách, hành-động của các nhân vật đã đƣợc giải thích bằng hoàn

cảnh. Nói cách khác, hoàn cảnh đã trở thành yếu tố tác động mạnh mẽ tới tính cách và hành

động của các nhân vật. Chẳng hạn, trong bộ tiểu thuyết Thủy Hử, một bộ tiểu thuyết vĩ đại,

sừng sững trong tịch sử văn học Trung Quốc, tính cách các nhân vật anh hùng: Tống Giang,

Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm, Lý Quỳ ... đã đƣợc miêu tả trong mối quan hệ với hoàn cảnh. Sự

phát triển, thay đổi tính cách của các nhân vật này đã đƣợc lý giải bằng hoàn cảnh. Xin lấy ví

dụ hình tƣợng nhân vật Lâm Xung. Tác giả đã khắc họa tỉ mỉ quá trình phát triển tính cách

của nhân vật này, từ chỗ cam chịu nhẫn nhục trƣớc những hành động bỉ ổi, độc ác của cha

con Cao Cầu đến chỗ phản kháng quyết liệt. Quá trình ấy đƣợc thể hiện, tuân theo lô gíc cuộc

sống, do tác động của hoàn cảnh. Quá trình lên Lƣơng Sơn Bạc tụ nghĩa chống lại triều đình

của Lâm Xung, Lý Quỳ, Lỗ Trí Thâm ... và những ngƣời anh hùng khác, phản ánh một qui

luật tất yếu "quan bức dân phản", nghĩa là do tác động tất yếu của hoàn cảnh. Tất nhiên, mỗi

ngƣời anh hùng ấy lên Lƣơng Sơn Bạc bằng những con đƣờng khác nhau, ở những cảnh ngộ

khác nhau. Miêu tả một số chi tiết để biểu hiện tính cách phát triển do sự thay đổi của hoàn

cảnh là một đặc điểm của việc miêu tả nhân vật trong Thuỷ hử. Hoàn cảnh trong Thủy Hử

không chỉ tác động đến số phận mà còn hình thành cá tính nhân vật. Các nhân vật có thể cùng

xuất thân trong một tầng lớp nhƣng do hoàn cảnh sống khác nhau nên tính cách cũng khác

nhau. Ở đây hoàn cảnh đã góp phần giải thích cá tính. Điều đó chứng tỏ tác giả đã ý thức khá

rõ về vai trò của hoàn cảnh. Trong Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, các nhận vật Giả Bảo

Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Phƣợng Thƣ, Giả Chính, Táp Nhân cũng đều đƣợc xây

dựng trong mối quan hệ với hoàn cảnh. Tiêu biểu là nhân vật Giả Bảo Ngọc. Tác giả đã thể

hiện tính cách phản nghịch của nhân vật này trong mối liên hệ mật thiết và phức tạp với các

nhân vật và các ý thức xã hội

34

bao quanh. Tƣ tƣởng, hành động phản nghịch của nhân vật này phát triển đến đỉnh điểm đƣợc

lý giải trong một quá trình, mà tác động mạnh mẽ nhất là khi tình yêu của Giả Bảo Ngọc và

Lâm Đại Ngọc bị thế lực phong kiến phá hoại. Trong Hồng lâu mộng, hoàn cảnh nhiều khi

đƣợc miêu tả khá cụ thể, chi tiết. Cuộc sống xa hoa phú quý của giai cấp thống trị phong kiến

đƣợc hiện lên rất chân thực cụ thể qua nhiều chi tiết, nhƣ đoạn kể chuyện già Lƣu đi xem

vƣờn Đại Quan, đoạn tả tỉ mỉ từng đồ ăn thức uống trong phủ Vinh quốc ... hoàn cảnh ở đây

không chỉ mang ý nghĩa khái quát mà còn mang ý nghĩa cá biệt.

Trong văn học trung đại Việt Nam, môi trƣờng hoàn cảnh cũng đã có vai trò trong

việc tái hiện bức tranh hiện thực và lý giải tính cách, số phận nhân vật. Chẳng hạn, trong

Hoàng Lê nhất thống chí, khi xâv dựng hình tƣợng nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh, một nhân

vật đƣợc xây dựng thành công nhất trong tác phẩm, các tác giả đã đặt nó trong tƣơng quan

với hoàn cảnh, và "với cách miêu tả bối cảnh thiên về mặt thối nát của giai cấp thống trị nhƣ

Hoàng Lê nhất thống chí thì sự ra đời của một con ngƣời nhƣ những Nguyễn Hữu Chỉnh là

một tất yếu" [148.256"]. Trong tác phẩm này, hoàn cảnh đã hiện khá sinh động, củ thể, truyền

cảm, bởi " tác giả không phải chỉ kể lại những gì đã xảy ra, mà kết hợp việc kể với việc miêu

tả cái không khí xảy ra sự việc ấy " [148.252].

Trong thể loại truyện Nôm, tiêu biểu là kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, yếu tố

hoàn cảnh cũng đã có vai trò nhất định trong quá trình Hình thành tính cách nhân vật. Trong

tác phẩm này, có những nhân vật đƣợc xây dựng theo lối lý tƣởng hóa và có nhân vật đƣợc

xây dựng theo lối điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực. Ở loại nhân vật thứ nhất, không có

sự tác động qua lại giữa tính cách và hoàn cảnh, không thể lý giải tính cách bằng hoàn cảnh.

Tính cách nhân vật mang tính chất bẩm sinh, tự nó. Tiêu biểu nhƣ nhân vật Kim Trọng, Từ

Hải. Loại nhân vật thứ hai đƣợc xây dựng trong mối

35

tƣơng quan với hoàn cảnh, tiêu biểu là nhân vật Tú Bà Mã Giám Sinh, Sở Khanh ... Hình

tƣợng nhân vật trung tâm Thúy Kiều đã đƣợc xây dựng trên "cơ sở "chịu sự tác động của

cuộc sống, tính chất lý tƣởng hóa của nhân vật bị phá vỡ để dần dần chuyển sang quỹ đạo của

lối điển hình hóa hiện thực chủ nghĩa" [148.414]. Hình tƣợng nhân vật này đã chịu sự tác

động của hoàn cảnh và phát triển theo lô gích khách quan: "chí riêng việc nàng thai hứa với

Kim Trọng, thực sự bán mình cũng là điều xa lạ với mỹ học truyền truyền thống, và đấy

chính là dấu hiệu đầu tiên biểu hiện sự quyết định của hoàn cảnh đối với tính cách nhân vật"

[148.414]. Tất nhiên, cũng phải thấy rằng, hoàn cảnh trong Truyện Kiều nói riêng và truyện

Nôm nói chung còn chƣa đƣợc thể hiện một cách cụ thể, chi tiết nhƣ trong các tác phẩm hiện

thực sau này. "hoàn cảnh nào cũng chỉ đƣợc phác họa trong vài nét, và không vƣợt qua phạm

trù tình tiết, có giá trị nhƣ những khâu, những giai đoạn khác nhau của cốt truyện. Môi trƣờng

chƣa có giá trị thẩm mỹ độc lập trong Truyện Kiều" : [106.424] Hoàn cảnh trong Truyện

Kiều còn sơ lƣợc (tất nhiên điều này còn do đặc trƣng thể loại truyện thơ). Chẳng hạn, miêu

tả gia cảnh Thúy Kiều, nhà thơ không mô tả chi tiết thế giới đồ vật, nhà cửa, bài trí nội thất,

nhà cửa, bài trí nội thất -những hình ảnh dễ thấy trong các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa; nhƣ

hình ảnh đồ vật trong quán trọ của bà Vô ke (Lão Gôriô - Bandắc), ngôi nhà ở Xômuya của

lão Grăngđê (ơzêni Grăngđê - Bandắc), đồ đạc nhà nghị Quế (Tắt đèn của Ngô Tất Tố), căn

buồng của nghị Hách (Giống tố của Vũ Trọng Phụng), những chiếc ấm, chén, bộ bàn ghế của

gia đình ông Học (Sống mòn của Nam Cao)...Mặt khác trong Truyện Kiều còn có yếu tố

định mệnh, bởi vậy mức, chân thực của hoàn cảnh trong tác phẩm còn hạn chế. Hoàn cảnh

vừa là yếu tố xã hội, vừa là định mệnh. Nhân vật và hành động và số phận của nó có khi đo

những nguyên nhân bí ẩn chi phối, khái niệm vận mệnh lấn át khái niệm hoàn cảnh, "tính

cách trong" ý thức văn học này đƣợc xem là sản phẩm tiên nhiên lịch sử "vốn sẵn tính" trời",

một phẩm chất tự nhiên trời phú" [231.432].

36

Trong văn học lãng mạn cũng có yếu tố của hoàn cảnh nhƣng nhìn chung còn mờ

nhạt. Tất nhiên trong một số tác phẩm cụ thể, ở một vài cảnh ngộ cụ thể, yếu tố hoàn cảnh

cũng góp phần giải thích đƣợc tính cách, hành động của nhân vật. Chẳng hạn hành động ăn

cắp bánh mì của Giăng Van Giăng (Những người khốn khổ - V. Huygô) xuất phát từ hoàn

cảnh đói khát của đàn cháu. Nhƣng tính cách của các nhân vật này càng về sau càng trở nên

thiếu thuyết phục bởi nó đƣợc đặt trong những hoàn cảnh chân thực. Điều này xuất phát từ

nguyên nhân là tác giả của nó đã vì lý tƣởng mù quên mất hiện thực: "Tâm hồn. của con

ngƣời hiện nay đặt nhiều ở hy vọng ở lý tƣởng hơn thực tại" (Tựa kịch Crômoen - V. Huygô).

Bởi vậy tính cách của các nhân vật trong văn học lãng mạn thƣờng mang nặng dấu ấn chủ

quan của tác giả.

Một số nhà văn thuộc trào lƣu văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945) cũng có ý

thức về vai trò của hoàn cảnh tới việc hình thành tính cách, số phận con ngƣời. Tiêu biểu là

Thạch Lam với ý kiến sau trong tiểu luận : "ngƣời ta bao giờ cũng chịu rất sâu xa ảnh hƣởng

của hoàn cảnh và ngƣời ta trƣớc hết là đƣợc tạo nên để sống với hoàn cảnh". Bởi vậy, có một

số tác phẩm của trào lƣu văn học lãng mạn đã có sự thể hiện vai trò của hoàn cảnh (Thừa tự,

Nửa chừng xuân...). Những tác phẩm này ở một phƣơng diện nào đó rất gần với chủ nghĩa

hiện thực. Tuy nhiên, hoàn cảnh trong một số tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn in đậm dấu ấn

chủ quan của nhà văn (Hồn bƣớm mơ tiên, Trống mái, Con đƣờng sáng ...). Tất nhiên, hoàn

cảnh trong văn học hiện thực cũng gắn với chủ quan của nhà văn. Nhƣng đây là cái chủ quan

trên cơ sở nhận thức khái quát. Còn trong văn học lãng mạn là cái chủ quan trên cơ sở lý

tƣởng hóa hiện thực. Bởi vậy, trong văn học lãng mạn không thể có những tính cách điển

hình trong hoàn cảnh điển hình. Tất nhiên, ở đây chúng tôi chỉ nhận xét về đặc điểm của hoàn

cảnh trong văn học lãng mạn, chứ nhƣ vậy không có nghĩa là đánh giá thấp giá trị của trào

lƣu văn học này. Bởi vì trong thực tế, nhiều tác phẩm văn học lãng mạn vẫn trƣờng tồn cùng

năm tháng, những nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn nhƣ Giăng Van Giăng, Côdét, Phăngtin,

Exmêranđa, Cadimôđô ... vẫn để lại những dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí

37

của nhiều thế hệ. Cũng nhƣ sau này, chủ nghĩa hiện đại (tiêu biểu là Franf Kaifca) hoặc

phong trào Tiểu thuyết mới (tiêu biểu là Alain Kobbc Grillét) đã xây dựng những hoàn cảnh

rất xa với chủ nghĩa hiện thực nhƣng vẫn không thể phủ nhận những giá trị đích thực của nó.

Chủ nghĩa hiện thực hiểu theo nghĩa phƣơng pháp sáng tác, có nhiều dạng: chủ nghĩa

hiện thực thời Phục hƣng, chủ nghĩa hiện thực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực thời phong

kiến mạt kỳ ở phƣơng Đông ... và đỉnh cao là chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX ở Tây Âu. Các

nhà văn hiện thực thế kỷ XIX nhờ tiếp thu những thành tựu của các ngành khoa học xã hội:

xã hội học, sử học, triết học ... và khoa học lự nhiên ( mà tiêu biểu là thuyết tiến hóa của Đác

Uyn) đã nhận thức sâu sắc về nguyên tắc lịch sử cụ thể trong quá trình nhận thức và phản ánh

thế giới. Từ đó các nhà văn hiện thực, bằng tƣ duy sáng tạo của mình đã có ý thức tái tạo

nghệ thuật những mối quan hệ của con ngƣời trong môi trƣờng xã hội, nghĩa là sáng tạo

những hoàn cảnh nghệ thuật.

Cũng chính vì thế, bàn về hoàn cảnh trong văn học hiện thực. M.B. Khraptrenko đã

viết: "Các nhà hiện thực thế kỷ XIX đã thực hiện việc khám phá lĩnh vực hình thành và phát

triển những tính cách con ngƣời, các mối liên hệ của những tính cách đó đối với môi trƣờng

xã hội, những khám phá đó sở dĩ có đƣợc là do trong chính thực tại đã nổi rõ lên sự tác động

của hoàn cảnh đối với thế giới nội tâm con ngƣời, và cũng là do tư duy sáng tạo của các nghệ

sĩ ngôn từ lớn đã nhằm vào việc nghiên cứu và khái quát bằng nghệ thuật các quan hệ của

con người với môi trƣờng xã hội, của cá nhân với xã hội" [109.88].

Các nhà văn thuộc trào lƣu văn học hiện thực ý thức rất sâu sắc về vai trò tác động

của hoàn cảnh tới tính cách, số phận con ngƣời. Hoàn cảnh trong các tác phẩm của họ đƣợc

xây dựng trên cơ sở hiện thực và không thoát li hiện thực. Theo X.M Pêtơrốp, các nhà văn

hiện thực "không thể hiện những và chạm ƣớc lệ giữa tội lỗi và từ thiện, giữa cái thực và cái

ác, giữa nghị lực mạnh mẽ hay niềm say mê và những hoàn cảnh giả tạo đặc biệt điều

thƣờng

38

đƣợc các nhà văn lãng mạn mô tả, mà thể hiện những va chạm, xung đột thực tế, nảy sinh bởi

chính cuộc sống thực, là hình thức phát triển của nó " [200.235]. Có thể thấy điều đó qua các

tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn hiện thực bậc thầy của thế giới nhƣ Đốtxtôiépxki, L.

Tônxtôi, X.Tuốcghênhép, Bandắc, Phlôbe, Đíckenx, Thaccơrây ...

Có thể nói, phải đến chủ nghĩa hiện thực, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh mới

đƣợc phát triển sâu sắc, khách quan và triệt để. Hoàn cảnh đƣợc các nhà văn hiện thực ý thức

là toàn bộ thế giới xung quanh con ngƣời, từ thế giới ,vi mô đến thế giới vĩ mô, từ tự nhiên

đến xã hội, từ hữu hình đến vô hình, từ trừu tƣợng đến cụ thể ... Tất cả các yếu tố tâm lý, sinh

lý, cảnh vật, đồ vật, mầu sắc, âm thanh.. đều là những yếu tố thuộc về hoàn cảnh trong quan

niệm của các nhà văn hiện thực.

Các nhà văn hiện thực Việt Nam cũng không chỉ ý thức về vai trò hoàn cảnh mà còn ý

thức về sự sáng tạo hoàn cảnh. ở phƣơng diện này, nhiều nhà văn hiện thực đã có những

thành công xuất sắc, nhƣ Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Vũ Trọng Phụng với Giống tố, Nam Cao

với Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu (mà chúng tôi sẽ khảo sát chứng minh ở các

chƣơng tiếp theo).

Trong sáng tác của các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa, vấn đề hoàn cảnh đã đƣợc

chú ý và nâng lên một tầm cạo mới. Có thể nói văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã: "khắc

hoa những "điển hình hùng hồn" đƣợc hình thành trong quá trình phát triển cách mạng, nó tác

dụng năng động trở lại đối với hoàn cảnh, có khả năng mang những tính cách phong phú đa

dạng, thấm đƣợm sâu sắc tâm hồn, tính cách dân tộc và có lúc biểu hiện một xu thế mang

những dự cảm tƣơng lai rõ nét"[151.28]. Cũng cần phải nói thêm rằng, hoàn cảnh trong văn

học hiện thực xã hội chủ nghĩa có vai trò rất lớn của yếu tố lịch sử.

Sự khác nhau trong quan niệm về hoàn cảnh ở những trào lƣu văn học khác nhau nhƣ

đã nói ở trên, xuất phát từ những lý do khác nhau. Nếu nhƣ

39

nhìn chung, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn lãng mạn gắn với những

nhận thức chủ quan và sự thoát ly hoàn cảnh, để rồi từ đó. xây dựng hoàn cảnh xa ròi hiện

thực ... thì quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn hiện thực lại gắn liền với

mảnh đất hiện thực. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn hiện thực là quan

niệm về một hoàn cảnh luôn tác động nghiệt ngã đến tính cách, số phận, con ngƣời cả về

phƣơng diện vật chất và phƣơng diện tinh thần. Trong quan niệm của các nhà văn thuộc chủ

nghĩa tự nhiên, hoàn cảnh lại đƣợc nhấn mạnh ở yếu tố huyết thống, bệnh tật, sinh lý ... hoàn

cảnh có khi đƣợc miêu tả khá tỉ mỉ, chi tiết nhƣng nó lại không phản ánh sự kết tinh những

quan hệ xã hội. Các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa lại chú ý lới khía cạnh tích cực của

hoàn cảnh. Trong quan niệm của họ, hoàn cảnh xã hội là một hoàn cảnh nhân đạo làm nẩy

mầm và nuôi dƣỡng những phẩm chất tốt đẹp cho con ngƣời.

Tìm hiểu vấn đề hoàn cảnh và quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong lịch sử văn

học từ xƣa đến nay là một việc làm đòi hỏi phải tốn nhiều công sức, thời gian, trí tuệ. Còn có

những ý kiến chƣa thống nhất, những nhận định khác nhau xung quanh vấn đề này, mà muốn

giải quyết đƣợc và đi đến những kết luận thoả đáng đòi hỏi phải có thời gian , công sức, trí

tuệ của nhiều nhà nghiên cứu. Bản thân ngƣời viết luận án này chƣa có đủ điều kiện và khả

năng nên cũng chỉ nêu lên một vài nét phác thảo rất sơ lƣợc, dựa tròn những kết quả tìm hiểu

ban đầu và nhận định của các nhà nghiên cứu đi trƣớc. Nhƣng chúng tồi cũng nhấn mạnh

rằng, việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn thực

chất một trào lƣu văn học một phƣơng pháp sáng tác, một phong cách nghệ thuật. Không chỉ

riêng việc nghiên cứu tính cách, việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật hoàn cảnh của các tác

giả thuộc các trào lƣu khác nhau sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự khác nhau của các phƣơng

pháp sáng tác. Phải thấy đƣợc điều đó, chúng ta mới hiểu hết đƣợc thực chất những sáng tác)

của các nhà văn.

40

1.3.Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học .

Quan niệm nghệ thuật là khái niệm nội dung của thi pháp, nó khác với quan niệm triết

học, xã hội học, thế giới quan, ý thức hệ. Quan niệm nghệ thuật đƣợc khám phá qua nghiên

cứu hệ thống thi pháp. Để tìm hiểu quan niệm nghệ thuật phải khám phá các yếu tố trong hệ

thống cấu trúc của nó. Bởi vậy để tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh, phải khám

phá các yếu tố nằm trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Theo quan niệm của chúng tôi

cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh đƣợc tạo nên bởi những yếu tố sau:

1.3.1. Hệ thống nhân vật của hoàn cảnh.

Trong lời tựa bộ tiểu thuyết Tấn trò đời, Bandắc, nhà văn bậc thầy của chủ nghĩa hiện

thực đã từng nói: "Phải chăng xã hội đã từ những con ngƣời, tùy theo những hoàn cảnh trong

đó nó hoạt động, tạo nên được bao nhiêu con người khác nhau". Bêlinxki cũng nhấn mạnh

tới mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, sự ảnh hƣởng của hoàn cảnh tới tính cách:

"Nghệ thuật của nhà thơ trong thực tế phải nhằm thực hiện tối nhiệm vụ nêu rõ một tính cách

với bản chất tự nhiên của nó, được hình thành như thế nào trong hoàn cảnh mà nó kinh qua

do số phận của chính nó" (Dẫn theo P.L ) [149.92]. Trong "Thƣ gửi Látxan ngày 18.5.1859",

khi giải thích động cơ hành động của các nhân vật chính trong vở Xích kinghen "không phải

là những, ham thích vụn vặt của cá nhân, mà là cái trào lƣu lịch sử lôi cuốn họ [152.373]",

Ăngghen cũng đã khẳng định tác động của hoàn cảnh tới tính cách, số phận nhân vật. Nhƣng

nhƣ vậy, không có nghĩa mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh là mối quan hệ phụ thuộc,

một chiều, mà đây là mối quan hệ tác động qua lại. Chức năng của hoàn cảnh là tạo tính cách,

hoàn cảnh chỉ có ý nghĩa khi nó tạo dựng đƣợc tính cách, nhƣng hoàn cảnh không thể bao

trùm tính cách. Bởi vậy, khi nói tới tính cách, không thể không nói tới hoàn cảnh và khi nói

tới hoàn cảnh cũng không thể không để cập tới tính cách. Cũng trong bức thƣ nói trên, phê

bình

41

vở kịch Xíchkinghen, Ăngghen nhận xét, điều tác giả vở kịch "chƣa làm đƣợc đầy đủ, chính

là những thành phần không chính thức, những thành phần bình dân và nông dân" và cho rằng

"việc sử dụng thành phần bình dân hết sức đa dạng trong xã hội lúc bấy giờ, có lẽ sẽ đem lại

những chất liệu hoàn toàn mới để cho vở kịch sinh động, tạo ra được cái nền vô cùng giá trị

..." [152.375-376]. Có thể nói, ở đây Ăngghen cũng đã nhấn mạnh tới vai trò tạo tác hoàn

cảnh của các nhân vật, các tính cách. Tính cách là con đẻ của hoàn cảnh, nhƣng hoàn cảnh

cũng lại đƣợc đan dệt nên bởi các tính cách. Bởi vậy, theo quan niệm của chúng tôi, trong cấu

trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, yếu tố đầu tiên là hệ thống nhân vật.

Khái niệm nhân vật đƣợc dùng để chỉ tất cả những con ngƣời đƣợc nhà văn miêu tả,

thể hiện trong tác phẩm. Nhân vật có thể có tên hoặc không tên, có thể hiện hình rõ nét chân

thực sống động từ lai lịch, nghề nghiệp, ngoại hình đến bản chất, tính cách nhƣng nó cũng có

thể chỉ hiện lên thấp thoáng, mờ nhạt trong tác phẩm.

Có thể nói, nhân vật là cốt lõi của tác phẩm văn học bởi vì đó là hình thức cơ bản để

nhờ đó, nhà văn phản ánh khái quát thế giới một cách hình tƣợng " Thông qua việc sáng tạo

nhân vật, nhà văn thể hiện nhận thức, quan niệm của mình về một kiểu ngƣời, một loại ngƣời,

một vấn đề nào đó trong xã hội " Chức năng cửa nhân vật là khái quát những qui luật về cuộc

sống con ngƣời thể hiện những hiểu biết, những ƣớc ao và kỳ vọng về con ngƣời. Nhà văn

sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân

đó. Nói cách khác, nhân vật là phƣơng tiện khái quát các tính cách số phận con ngƣời và các

quan niệm về chúng" [221.64].

"Nhân vật văn học là hiện tƣợng hết sức đa dạng" 1221.691. Trong quá trình chiếm

lĩnh thế giới nhân vật hết sức đa dạng, phong phú ấy, dựa vào những tiêu chí khác nhau,

ngƣời ta đã phân loại nhân vật thành những kiểu loại nhân vật khác nhau. Dựa vào phân kỳ

văn học và hình thức sáng tạo

42

ngƣời ta phân loại nhân vật văn học dân gian khác với nhân vật văn học cũ Ngay trong văn

học dân gian, ngƣời ta lại có thể chia thành các loại nhân vật thần thoại, nhân vật truyền

thuyết và nhân vật cổ tích. ở góc độ phƣơng pháp sáng tác, nhân vật chủ nghĩa lãng mạn khác

nhân vật chủ nghĩa hiện thực nhân vật chủ nghĩa cổ điển khác nhân vật chủ nghĩa lãng mạn.

Dựa vào tiêu chí thể loại, có thể phân loại thành nhân vật trữ tình, nhân vật kịch. Mỗi loại

nhân vật thuộc mỗi thể loại ấy đều có những đặc trƣng khác nhau. Nhìn ở góc độ kết cấu, ta

có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. Nhân vật chính diện và nhân vật phản

diện lại là kết quả của sự phân loại trên cơ sở thức hệ. Và nếu dựa vào cấu trúc nhân vật, ta sẽ

có nhân vật chức năng, nhân vật "loại hình", nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng ...

Một số cách phân loại trên đây có thể chƣa bao hàm hết mọi kiểu loại nhân vật đã

từng có trong lịch sử văn học. Ranh giới giữa các kiểu loại đó cũng chỉ là tƣơng đối, ƣớc lệ.

Bởi vậy có những nhân vật khó xác định thuộc kiểu loại nào, một khi nó đứng ở ranh giới

giữa các loại hình nhân vật. Mặt khác cũng phải thấy rằng, mỗi cách phân chia loại hình

nhân vật như vậy chỉ có ý nghĩa trong một phạm vi nhất định.

Nhìn ở góc độ cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, chúng tôi thấy có thể chia làm hai

loại: nhân vật động và nhân vật tĩnh.

Nhân vật động: Là loại nhân vật có sự biến đổi về số phận. Thông thƣờng, nhân vậy

này mang tƣ tƣởng của nhà văn. Chẳng hạn trong tác phẩm Số đỏ, Xuân tóc đỏ là nhân vật

động, chị Dậu là nhân vật động trong Tắt đèn; Chí Phèo là nhân vật động trong tác phẩm

cùng tên ; Nghị Hách, Thị Mịch ... là những nhân vật động trong Giống tố. Loại nhân vật này

cũng có vai trò, tác dụng thể hiện hoàn cảnh. Bản thân sự va chạm, cọ xát giữa các nhân vật

động cũng làm nổi bật và tạo không khí cho hoàn cảnh.

Nhân vật tĩnh: Là loại nhân vật có số phận dƣờng nhƣ không biến đổi. Chính hệ thống

nhân vật này góp phần quan trọng tạo dệt nên hoàn cảnh. Loại

43

nhân vật này gắn liền với quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Thông thƣờng,

trong một tác phẩm cụ thể, loại nhân vật nay chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với loại nhân vật động,

nhƣng chúng đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhân vật động. Sự xuất hiện của loại

nhân vật này trong tác phẩm nhiều khi tƣởng nhƣ ngẫu nhiên nhƣng thực chất không nằm

ngoài ý định của tác giả. Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhà văn Thạch Lam đã có những ý kiến

rất sâu sắc về vai trò của hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Anh, Nga ở phƣơng diện tạo

dựng hoàn cảnh: " Trong những tiểu thuyết Anh hay Nga, chúng ta không thấy một hay hai

nhân vật chính mà thôi, hoặc thấy nhân vật chính đứng át tất cả nhân vật khác. Chúng ta thấy

có rất nhiều nhân vật, mà có nhân vật nào tác giả nào tác giả cũng coi trọng cả, mỗi nhân vật

hiện ra sống cái đời riêng của mình, thoạt xem tưởng như không có liên lạc gì mà không có

liên lạc trực tiếp thật với các vai chính trong truyện - Nhƣng suy xét kỹ, ngƣời đọc mới thấy

rằng tất cả các nhân vật ấy, bài sự hoạt động của họ, khiến cho ta thấy rõ cái hoàn cánh xã

hội, cái không khí sống của các vai chính. Thật nhƣ có một vùng ánh sáng soi tỏ tất cả những

trạng thái tâm lý của các ngƣời ấy, và đƣa đƣờng cho chúng ta tìm hiểu đƣợc họ. Vì thế,

những tiểu thuyết Anh, Nga ta thấy linh động nhƣ cuộc đời, cả về bề rộng lẫn bề sâu. Đáng lẽ

là một sự xếp đặt không thật, hay là những mánh khóe lề lối khô khan, chúng ta tƣởng nhìn

thấy nhƣ là mặt nƣớc hồ mung lung phản chiếu tất cả màu sắc của cuộc sống, lóng lánh giãn

ra và lắng xuống, khiến chúng ta hiểu thấy đƣợc rộng rãi và sâu sắc hơn" [258.(T4) 445-446].

Nhƣ vậy, nhân vật trong văn học không chỉ là phƣơng tiện khái quát hiện thực, không chỉ thể

hiện tính cách, không chỉ đƣa ngƣời đọc tới một thế giới đời sống mà đồng thời còn có vai trò

quan trọng trong việc tạo dựng hoàn cảnh

Trong hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh, có thể phân làm hai loại Thứ nhất, loại nhân

vật chỉ có tác dụng tạo không khí cho hoàn cảnh. Loại nhân vật này thƣờng không có quan hệ

trực tiếp với nhân vật động nó chỉ đƣợc nhà văn nhắc đến nên thƣờng mờ nhạt (chẳng hạn

nhân vật Năm Thọ, Binh Chức trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao. Hai nhân vật này chỉ

hiện lên qua ít dòng trần thuật nhƣng nó vẫn có tác dụng tạo hoàn cảnh trần thuật nhƣng nó

vẫn có tác dụng tạo hoàn cảnh, làm nổi bật hoàn cảnh

44

một hoàn cảnh luôn xô đẩy con ngƣời vào con đƣờng tha hóa. Cả hai nhân vật này đều không

có quan hệ trực tiếp với nhân vật động - Chí Phèo). Tất nhiên trong những tác phẩm cụ thể,

có khi loại nhân vật này mặc dù xuất hiện không nhiều nhƣng nó vẫn có thể rất gây ấn tƣợng

và cũng rất tạo không khí cho hoàn cảnh (chẳng hạn nhân vật Hòang Hôn, Em Chã trong Số

đỏ của Vũ Trọng Phụng).

Thứ hai, bên cạnh loại nhân vật chỉ có tác dụng tạo không khí cho hoàn cảnh, có loại

nhân vật còn có chức năng tác động tới các nhân vật xung quanh với những mối quan hệ trực

tiếp. Những tác động trực tiếp đó ảnh hƣởng tới số phận, tính cách các nhân vật xung quanh

và dẫn tới những thay đổi về số phận và tính cách của những nhân vật này. Cấu trúc nghệ

thuật của hoàn cảnh đƣợc đan dệt nên bởi sự tác động qua lại giữa các nhân vật. Và suy cho

cùng, trong tất cả các mối quan hệ qua lại ấy, không có những mối quan hệ một chiều mà là

những quan hệ song phƣơng và đa phƣơng, nghĩa là nếu nói ở góc độ cấu trúc nghệ thuật của

hoàn cảnh, nhân vật này là hoàn cảnh của nhân vật kia và "tạo điều kiện" để nhân vật kia bộc

lộ tính cách (chẳng hạn trong quan hệ với tri phủ Tƣ Ân, chị Dậu đƣợc đặt vào một tình

huống để bộc lộ một phẩm chất thủy chung trong sáng, không bị lóa mắt bởi đồng tiền . Và

cũng trong mối quan hệ này, tri phủ Tƣ Ân bộc lộ bản chất dâm ô, đểu cáng, đê tiện. Trong

quan hệ với Thị Nở, Chí Phèo bộc lộ khát vọng hạnh phúc, khát vọng trở lại sống cuộc sống

lƣơng thiện, nghĩa là bộc lộ chất ngƣời vẫn còn tiềm ẩn trong tâm hồn một kẻ bị coi là "con

quỉ dữ của làng Vũ Đại ". Và Thị Nở, cũng trong mối quan hệ này, lại bộc lộ vẻ đẹp của

ngƣời phụ nữ hình hài xấu xí mà có một tình yêu mộc mạc, chân thành, cảm động).

Từ cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, ta nhận thấy vai trò tạo dựng hoàn cảnh của thế

giới hệ thống nhân vật trong tác phẩm.

Tất nhiên, nhƣ ở trên chúng tôi đã nói, mỗi cách phân chia nhân vật chỉ có ý nghĩa

trong một phạm vi nhất định. Khái niệm nhân vật động, nhân vật tĩnh chỉ có ý nghĩa khi

nghiền cứu cấu trúc hoàn cảnh.

45

1.3.2. Mâu thuẫn, xung đột của hoàn cảnh.

Không phải mâu thuẫn xung đột nào trong xã hội cũng đƣợc tái hiện phản ánh trong

tác phẩm mà phải là những mâu thuẫn có tính chất kịch tính tức là những mâu thuẫn, xung

đột tạo ra những tình huống căng thẳng, buộc các nhân vật phải bộc lộ bản chất tính cách.

Mâu thuẫn xung đột trong cấu trúc hoàn cảnh phản ánh một cách tập trung nhất những mâu

thuẫn, xung đột đang vận động của đời sống. Nó không đơn thuần là những mâu thuẫn giàu,

nghèo, mâu thuẫn giữa những lực lƣợng phe phái ... trong xa hội. Nó tác động trực tiếp đến

nhân cách và ý thức con ngƣời.

Phản ánh hiện thực là qui luật của văn học, nhƣng nhà văn không chỉ phản ánh hiện

thực mà còn khám phá bản chất của hiện thực ẩn tàng phía sau nhƣng mâu thuẫn xung đột có

kịch tính. Có nghĩa là những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống đƣợc nhà văn chú ý phản

ánh trên cơ sở lựa chọn theo quy luật sáng tạo. Những mâu thuẫn xung đột đƣợc nhà văn

phản ánh thƣờng là những mâu thuẫn xung đột đã phát triển đến mức độ gay gắt.

Theo V.E. Khalizev "chức năng quan trọng nhất của các cốt truyện là bộc lộ các mâu

thuẫn, đời sống, tức là xung đột (trong thuật ngữ của Hê-ghen là xung khắc). Các xung dột

tạo thành mãi quan trọng của các tác phẩm tự sự và kịch. Các tính chất của xung đột trong

truyện lại do chủ đề của sáng tác các nhà văn quyết định. Trong các tác phẩm có "cảm hứng

xã hội" (Bêlinxki) thì các xung đột được ý thức và miêu tả như từ sản phẩm của các tình

huống lịch sử cụ thể (chúng tôi nhấn mạnh - PMH)" [201(T2).42]. Ở đây, V.E. Khalixev

nhấn mạnh vai trò quan trọng của xung đột Mong các tác phẩm của các tình huống lịch sử cụ

thể". Xung đột là sản phẩm của tình huống và ngƣợc trở lại nó làm nổi bật tình huống, tạo

không khí cho tình huống (mà ở đây có thể hiểu là hoàn cảnh).

Hêghen cho rằng "cơ sở của xung đột là sự phá hoại, nhƣng một sự phá hoại không

thể duy trì với tính cách sự phá hoại mà phải bị gạt bỏ Xung đột là một sự thay đổi tình trạng

hài hòa và cái này đến lƣợt nó cũng phải bị biến

46

đổi. Song xung đột cũng vẫn chƣa phải là một hành động mà chỉ chứa đựng những mầm

mống và những tiền đề của hành động" [68(T1).345]. Từ đó Hêghen phân loại ba hình thức

xung đột: Xung đột xuất phát từ những nguyên nhân ở ngoài con ngƣời nhƣ bệnh tật, bão táp,

tai họa tự nhiên ; loại xung đột nảy sinh do những quyền lợi tự nhiên của con ngƣời nhƣ tâm

lý, đạo đức, tập quán xã hội ; loại xung đột xuất phát từ những mâu thuẫn đối lập ngay trong

đời sống nội tâm cua nhân-vật [68(Tl).345-363]. Trên cƣ sở ý kiến của Hêghen, theo chúng

tôi, xung đột mâu thuẫn trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh có thể đƣợc nảy sinh, tái tạo

từ những kiểu loại xung đột mâu thuẫn sau:

Thứ nhất, mâu thuẫn xung đột giữa nhân vật với môi trƣờng tự nhiên (khí hậu, thời

tiết, thiên tai, bệnh tật ...).

Thứ hai mâu thuẫn xung đột giữa nhân vật với môi trƣờng xã hội (quyền lợi giai cấp,

đạo đức, phong tục tập quán, văn hóa ...).

Thứ ba, mâu thuẫn ngay từ trong bản thân nhân vật, trong nội tại tính cách nhân vật,

trong thế giới tâm hồn nhân vật...

Loại xung đột thứ nhất và thứ hai có thể khái quát là mâu thuẫn xung đột giữa tính

cách và hoàn cảnh ; mâu thuẫn giữa tính cách và tính cách

Tất cả những mâu thuẫn xung đột ấy đƣợc đƣa đẩy dồn nén đến mức độ căng thẳng

giàu kích tính và trở thành một yếu tố nghệ thuật trong cấu trúc của hoàn cảnh. Từ sự phân

chia ấy, ta thấy trong các tác phẩm của các nhà văn hiện thực, không phải sự khai thác thể

hiện những mâu thuẫn, xung đột bao giờ cũng giống nhau. Theo Hoàng Ngọc Hiến, khi

nghiên cứu các loại hình xung đột trong văn học Nga, M.B Khraptrenko đã nhận thấy: "Xung

đột trong những tác phẩm của các nhà văn thuộc dòng Puskin là xung đột giữa cá nhân và xã

hội, cụ thể là ảnh hƣởng xấu của môi trƣờng tù đọng đã làm hƣ hỏng những nhân cách có tài

năng. Những nhà văn thuộc dòng Gôgol chú ý đến mâu thuẫn giữa những nhu cầu chân chính

của quốc gia, của nhân dân và thể chế xã hội tồi tệ. Trong các tác phẩm của Tônxtôi không

chỉ có sự triển khai

47

xung đột của cá nhân với xã hội còn có những sự tìm tòi của cá nhân nhằm thống nhất với

nhân dân trên cơ sở xét lại mọi quy chế xã hội". Đôtxtôiepxki khi miêu tả "những kẻ bị xỉ

nhục và lăng mạ" trong sự xung đột vô vọng với cái ác của xã hội. Tsêkhốp quan tâm đến

mâu thuẫn bên trong của chất tƣ sản phàm tục, chất ti tiện trong cuộc sống với những nguyên

tắc và chuẩn mực của hoạt động sáng tạo tích cực ... " [77.70-71]. Trong tác phẩm của các

nhà văn hiện thực Việt Nam cũng có hiện tƣợng khác nhau về các kiểu loại mâu thuẫn xung

đột nhƣ thế. Chẳng hạn, Vũ Trọng Phụng thƣờng chú ý tới những mâu thuẫn, xung đột giữa

tính cách với hoàn cảnh, giữa tính cách với tính cách ; còn Nam Cao lại thƣờng chú ý tới

những mâu thuẫn xung đột ngay trong thế giới tinh thần của các nhân vật. Hoàn cảnh trong

tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đƣợc đan dệt chủ yếu trên cơ sở sự va chạm, cọ xát giữa các

tính cách ; còn hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao chủ yếu đƣợc hiện lên qua những giằng

xé, trăn trở, khắc khoải trong tâm hồn nhân vật. Nói nhƣ vậy không có nghĩa là trong tác

phẩm Vũ Trọng Phụng không có những mâu thuẫn xung đột trong thế giới tâm hồn nhân vật.

Nhƣng ngay cả khi biểu hiện cái mâu thuẫn xung đột cùng loại này, Vũ Trọng Phụng và Nam

Cao cũng có sự khác nhau. Trong thế giới tâm hồn nhân vật của Vũ Trọng Phụng (chẳng hạn

trong Giống tố), có những xung đột quyết liệt giữa cái xấu và cái tốt, giữa nhân cách cao đẹp

và bản năng thấp hèn (ở nhân vật Long và Thị Mịch). Còn trong những tâm hồn nhân vật của

Nam Cao (chẳng hạn Thứ - Sống mòn), lại nổi lên sự xung đột giữa những khát vọng cao đẹp

với những toan tính nhỏ nhen tầm thƣờng. Sự khác biệt (không phải lúc nào cũng rạch ròi )

trong việc khai thác thể hiện các kiểu loại mâu thuẫn xung đột của các nhà văn cũng là một

yếu tố góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng của nghệ thuật xây dựng hoàn cảnh trong văn

xuôi hiện thực thời kỳ 1930 - 1945.

Trong một tác phẩm cụ thể, có thể từ một mâu thuẫn, xung đột lại nảy sinh hàng loạt

mâu thuẫn xung đột khác nhau. Nó làm cho hoàn cảnh càng trở nên sinh động, hấp dẫn đối

với ngƣời đọc. Chẳng hạn trong Giống tố mâu thuẫn có có kịch tính đầu tiên nảy sinh từ việc

Nghị Hách cƣỡng hiếp Thị

48

Mịch. Đây không chỉ là mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân mà là giữa một tên bạo chúa

khét tiếng với tập thể dân làng Quỳnh Thôn. Từ mâu thuẫn này hàng loại mâu thuẫn khác nảy

sinh: mâu thuẫn trong gia đình ông đồ Uẩn, mâu thuẫn nội bộ chức dịch làng Quỳnh Thôn,

mâu thuẫn giữa cha con Nghị Hách ... Những mâu thuẫn xung đột giằng chéo đan xen ấy dệt

nên hoàn cảnh. tạo nên không khí căng thẳng, sôi sục, các nhân vật đƣợc cọ xát trong một

môi trƣờng đầy kịch tính và buộc phải bộc lộ bản chất.

1.3.3. Cơ chế của hoàn cảnh.

Nằm trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh có yếu tố cơ chế. Nói cách khác, hoàn

cảnh phải có một cơ chế, tức là theo đó, một quá trình đƣợc thực hiện. Nó là nguyên tắc chỉ

đạo hoạt động, sự vận động của nhiều nhân vật. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ

Trọng Phụng, ta thấy hiện lên cơ chế dối trá, lừa bịp. Cơ chế này chi phối lớn cả những mối

quan hệ tình cảm: tình cha con, tình vợ chồng, tình yêu đôi lứa, tình bạn ... Bởi vậy sự dối trá

không chỉ thể hiện ở một vài nhân vật mà cả xã hội Số đỏ ngập ngụa trong không khí của sự

dối trá. Sự dối trá đến trâng tráo và nâng lên thành nghệ thuật. Cái cơ chế dối trá ấy cộng với

sự bịp bợm và đểu cáng đã cuốn các nhân vật vào cơn lốc của sự đểu giả trong một xã hội

"chó đểu" (chữ dùng của Vũ Trọng Phụng). Cả một xã hội dối trá, bịp bợm. Tất cả những

danh từ vốn mang những ý nghĩa tốt đẹp nhƣ: nghệ thuật, Âu hoa, cải cách, tình yêu, hiếu

hạnh, tiết nghĩa, luật pháp ... đều gắn với sự bịp bợm giả trá. Vận hành cơ chế đó là một loạt

những quái thai nửa ngƣời nửa ngợm mà đứng đầu là Xuân tóc đỏ và những nhân vật khác

châu tuần quanh nó.

Theo quan niệm của chúng tôi có thể phân loại cơ chế của hoàn cảnh thành một số

kiểu loại sau:

Cơ chế hành động: Những nguyên tắc tổ chức, chỉ đạo hành động của hệ thống các

nhân vật.

Cơ chế tâm lý xã hội: Những nguyên tắc chỉ đạo, chi phối quá trình tâm lý của các

nhân vật.

49

Cơ chế đạo đức, phong tục: Những nguyên tắc đạo đức phong tục tập quán, thói

quen... chi phối tới tâm lý và hành động của các nhân vật.

Cũng phong phú, đa dạng, phức tạp nhƣ chính cuộc đời, trong một hoàn cảnh nghệ

thuật có thể có nhiều cơ chế, trong đó nổi lên một cơ chế mang tính chất chủ đạo. Và mỗi nhà

văn, có thể thƣờng chú ý tới một loại cơ chế khác nhau, kết quả của sự cảm nhận, khám phá

riêng.

Cùng viết về hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945 nhƣng mỗi tác phẩm của

trào lƣu văn học hiện thực lại phản ánh những cơ chế hoàn cảnh không phải bao giờ cũng

giống nhau. Điều này xuất phát lừ nhiều lý do: năng lực, sở trƣờng, vốn hiểu biết, tầm khái

quát, nhận thức, khám phá, cắt nghĩa hiện thực, những quan hệ xã hội của nhà văn ... Và việc

phản ánh những cơ chế hoàn cảnh không giống nhau ấy cũng là một yếu tố góp phần làm nên

bức tranh phong phú, đa dạng, nhiều chiều của văn học hiện thực thời kỳ này. Chẳng hạn, nếu

nhƣ Tắt đèn của Ngô Tất Tố chủ yếu tập trung làm nổi bật cơ chế hành động (cơ chế trấn áp

bạo lực) thì Sống mòn của Nam Cao lại tập trung hƣớng tới cơ chế tâm lý xã hội (cơ chế

Sống mòn, cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn). Nếu nhƣ nổi lên trong nhiều tác phẩm của Vũ Trọng

Phụng là cơ chế, dâm loạn, cơ chế vạn năng của đồng tiền, thì trong nhiều tác phẩm của Nam

Cao lại là cơ chế tính toán ti tiện. Cơ chế này chi phối một cách lạnh lùng nghiệt ngã tới đời

sống tâm lý của nhiều nhân vật và những mối quan hệ xã hội của chúng. Nhiều nhân vật của

Nam Cao chỉ suốt đời quanh quẩn với những tính toán nhỏ nhen tầm thƣờng. Nó làm thấp bé

con ngƣời, đẩy con ngƣời vào tình trạng phi nhân tính, thậm chí hạ con ngƣời ngƣời xuống

hàng con vật Trong guồng quay của cơ chế ấy, con ngƣời trở nên nhỏ nhen, thấp bé ti tiện.

Nó không chỉ chi phối tới những kẻ vốn ích kỷ, bẩn thỉu, bần tiện mà còn ảnh hƣởng tới

những con ngƣời vốn có bản chất cao thƣợng có nhân cách, có những khát vọng, hoài bão lớn

lao. Điển hình là các nhân vật trong cái xã hội thu nhỏ của tiểu thuyết Sống mòn.

50

Trong hệ thống cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, cơ chế là yếu tố có ảnh hƣởng

mạnh mẽ, rõ rệt tới số phận tính cách nhân vật. Chẳng hạn, trong cấu trúc nghệ thuật của

hoàn cánh ở nhiều tác phẩm của Nam Cao, ta thấy nổi lên một cơ chế - cơ chế lạnh lùng tàn

nhẫn. Rõ ràng, cơ chế này đã ảnh hƣởng tới số phận và tính cách cùa nhiều nhân vật. Nhân

vật Thứ (Sống mòn), Hộ (Đời thừa), Điền (Trăng sáng) là những ví dụ tiêu biểu. Những

ngƣời trí thức tiểu tƣ sản này bản chất là con ngƣời có tình thƣơng nhƣng trong guồng quay

của cơ chế ấy nhiều khi họ cũng trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn. Thậm chí họ lạnh lùng, tàn nhẫn

với cả vợ con, với những ngƣời thân yêu nhất của mình. Tất nhiên, họ cũng có những phút

giây hối hận chân thành nhƣng rồi cũng không vƣợt ra khỏi cái cơ chế của hoàn cánh phi

nhân tính ấy.

1.3.4. Không khí cùa hoàn cảnh.

1.3.4.1. Không khí của hoàn cảnh là trạng thái tinh thần chung của đời sống, là không

khí xã hội toát ra từ một hoàn cảnh nghệ thuật, một môi trƣờng hoạt động của các nhân vật,

nghĩa là nó đã trở thành không khí nghệ thuật đƣợc tạo nên trong tác phẩm. Là một yếu tố

trong cấu trúc của hoàn cảnh, không khí là một khái niệm mang thuộc tính thẩm mỹ rõ rệt.

Trong quá trình tạo dựng hoàn cảnh, nhà văn phải tạo đƣợc không khí. Nói cách khác, hoặc

cảnh phải toát lên đƣợc không khí mới trở thành hoàn cảnh nghệ thuật. Đọc tác phẩm, ngƣời

đọc không chỉ nhìn thấy hoàn cảnh mà còn phải cảm thấy không khí toát ra từ hoàn cảnh ấy.

Để có thể giúp ngƣời đọc tiếp nhận đƣợc hoàn cảnh nhƣ thế, đòi hỏi nhà văn phải biết sáng

tạo hoàn cảnh. Tất nhiên, sáng tạo hoàn cảnh là một công việc đòi hỏi tài năng của ngƣời

nghệ sĩ ngôn từ và công việc này không dễ dàng gì. Bởi vì nhƣ Hêghen đã khẳng định: "nói

chung, sự sáng tạo tình huống (ở đây có thể hiểu là hoàn cảnh - PMH) là một nhân tố quan

trọng thƣờng đã làm cho các nghệ sĩ rất vất vả" [67(T1).361]. Sự sáng tạo của nhà văn ở

phƣơng diện xây dựng hoàn cảnh thể hiện ở nhiều yếu tố. Và tất cả những yếu tố ấy đều phải

tập trung làm nổi bật không khí của hoàn cảnh. Lớp không khí ấy sẽ chuẩn bị tâm thế cho độc

gia cảm nhận và bình luận ý nghĩa sâu xa của số phận và những bƣớc thăng trầm của chúng.

Lớp không khí đó đƣợc tạo nên bởi hộ thống những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm.

51

Trong bài Vài ý kiến về tiểu thuyết (1933), nhà văn Thạch Lam có viết: "Người ta

không sống một mình, mà có liên lạc mật thiết với những người khác, với xã hội, phải làm

sống lại trong tiểu thuyết cái không khí bao bọc lấy vai chính. Phải bày tỏ bằng những hành

động cái tâm lý của các nhân vật. Sự quan sát bởi thế rất cần: quan sát đúng, tìm những

hành vi chính, đó là cái tài của nghệ sĩ. Những điều nho nhỏ, một nét mặt, một cử chỉ, một

giọng nói cho chúng ta biết rõ tâm lý của một người hơn những công việc và quyết định hệ

trọng, trong lúc ấy người ta tìm xét mình lại. Những cái mà ta thường coi là nhỏ nhặt, vụn

vặt hãy tỉ mỉ chính lại là những cốt yếu của tiểu thuyết hay. Các xác giả người Anh hay Nga

rất khéo làm linh động cái không khí bằng những việc nho nhỏ như thế [189.82].

Nhƣ vậy, không khí tác phẩm đƣợc toát lên từ "những điều nho nhỏ", từ những cái

"nhỏ nhặt, vụn vặt, hay tỉ mỉ nghĩa là từ nhiều chi tiết của tác phẩm. Nhƣng trƣớc hết và chủ

yếu nó đƣợc toát lên từ những chi tiết nằm trong một hệ thống, một chỉnh thể. Còn những chi

tiết chỉ mang tính chất cá biệt, đơn lẻ thì khó có khả năng tạo không khí.

Trong hệ thống cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, có thể nói lớp không khí ở cấp độ

bao trùm lên tất cả. Bởi vì không khí của hoàn cảnh nghệ thuật toát lên từ hệ thống nhân vật,

từ hệ thống những mâu thuẫn xung đột từ cơ chế của hoàn cảnh ... và từ tất cả những chi tiết

cấu thành tác phẩm, kể cả các chi tiết về hình ảnh thiên nhiên, khí hậu, thời tiết, âm thanh,

màu sắc thế giới đồ vật ... Mỗi tác phẩm văn học có thể toát ra một không khí riêng. Có

những tác phẩm toát ra không khí kinh dị, ghê rợn, ma quái ; có tác phẩm toát ra không khí

thƣ mộng, êm đềm ; có tác phẩm toát ra không khí ngột ngạt, bế tắc, có tác phẩm lại toát ra

không khí lạnh lẽo, buồn thƣơng ... Chính trong bầu không khí đƣợc tái hiện nghệ thuật ấy, số

phận của các nhân vật càng đƣợc làm nổi bật, tính cách của các nhân vật càng đƣợc bộc lộ rõ

nét sức truyền cảm mãnh liệt của tác phẩm tới ngƣời đọc càng trở lên thấm thía

52

Có thể nói, nhiều nhà văn rất có ý thức trong việc tạo không khí cho hoàn cảnh. Nhận

định về tác phẩm Ban dắc, M.B. Khraptrenko viết: "Tác giả Tấn trò đời đã coi hoàn cảnh sinh

hoạt vật chất của con ngƣời và sau đó là không khí xã hội chung mà trong đó con ngƣời sống

và hoạt dộng, có tầm quan trọng lớn lao trƣớc hết. Theo quan điểm của Ban dắc, hoàn cảnh

sinh hoạt vật chất để lại dấu ấn không phai mờ trên con ngƣời, nhƣng đến lƣợt mình, bản thân

con ngƣời lại muốn đóng dấu ấn phong tục của nó, tƣ tƣởng của nó, cuộc sống của nó lên tất

cả những gì nó dùng cho nhu cầu của nó. Trong những điều kiện nhất định điều đó tạo ra sự

thống nhất nào đó giữa con ngƣời và môi trƣờng sinh hoạt xã hội. Do đó bút pháp tiêu biểu

đối với Ban dắc là ông bắt đầu câu chuyện của mình bằng cách mô tả "hoàn cảnh" của

chúng: phố xá, nhà cửa, nơi chúng sinh sống, cách bài trí trong nhà, nếp sống hàng ngày ...

[1.10.90]. Coi trọng "không khí xã hội chung " và "hoàn cảnh vật chất của con người",

Bandắc đã có ý thức tái tạo không khí đó thành không khí nghệ thuật trong tác phẩm ngay từ

lúc "bắt đầu" câu chuyện, từ những trang đầu của tác phẩm, bằng việc miêu tả những hoàn

cảnh vật chất bao quanh chúng.

Tất nhiên việc tạo không khí cho hoàn cảnh cũng không phải là điều dễ dàng đối với

mỗi nhà văn. Tài năng của nhà văn cũng bộc lộ ở phƣơng diện này. Bởi vì "hoàn cảnh là cái

cảnh xung quanh mình, không những là cái cảnh vật hữu hình ở quanh mình, mà là cái khí vị

đặc biệt trong cảnh vật ấy nữa. Nhƣ định tả một kẻ vũ phu, cục súc thì hoàn cảnh lại phải có

khí vị thô lỗ, cục cằn. Gây cho ra cái khi trong, khi đục, khi nhạt, khi nồng ấy thật khó khăn,

nhân đó có thể thấy đƣợc cái tài của nhà làm tiểu thuyết"(Phạm Quỳnh) [189.127]. Các nhà

văn hiện thực bậc thầy của thế giới nhƣ: Ban dắc, Tsêkhốp, Đôtxtôiépxki ... rất có tài trong

nghệ thuật tạo không khí cho hoàn cảnh nhƣ thế. Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu bƣớc

đầu của chúng tôi, Ngô Tất Tố (với Tắt đèn), Vũ Trọng Phụng (với Giống tố), Nam Cao (với

Sống mòn) cũng đã rất thành công trong nghệ thuật tạo không khí cho hoàn cảnh (về vấn đề

này chúng tôi sẽ làm rõ hơn ở các chƣơng sau).

53

1.3.4.2. Nhịp điệu cũng là yếu tố tạo nên không khí trong chỉnh thể cấu trúc hoàn

cảnh. Nói cách khác, trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh cũng có sự tham gia của nhịp

điệu. Để cấu tạo hình thức nghệ thuật trong văn học, nhịp điệu là một phƣơng tiện quan

trọng. Thông qua nhịp điệu, nhà văn cũng thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra

cảm giác vận động của sự sống. Tất nhiên, ở đây cần phân biệt nhịp điệu của tổ chức lời văn

và nhịp điệu với tƣ cách là yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh. Chẳng hạn nhịp điệu

đƣợc tạo nên từ ngôn ngữ ngƣời kể chuyện không phải là nhịp điệu thuộc về cấu trúc hoàn

cảnh.

Nhịp điệu thuộc cấu trúc của hoàn cảnh là hình thức bên trong. Nói nhƣ vậy để phân

biệt với nhịp điệu với tƣ cách là hình thức bên ngoài " Nhịp điệu để sắp xếp trật tự các âm

thanh cho ngƣời la nghe đƣợc là hình thức bề ngoài, còn những nhịp điệu ấy hƣớng lới mội

cảm xúc, tạo ra một căng thẳng, một sự hoàn tất có ý nghĩa thì là hình thức bên trong" (Trần

Đình Sử ).

Nhịp diệu trong cấu trúc cùa hoàn cảnh đƣợc tạo nên bởi nhiều yếu tố:

Khoảng cách thời gian giữa các sự kiện, diễn biến đƣợc nhà văn tái hiện trong tác

phẩm.

Sự lập lại của những chi tiết, những hình ảnh, những sự kiện cùng loại.

Sự dồn nén hoặc dàn trải cùng thời gian trong đó xảy ra diễn biến của cốt truyện.

*

* *

Nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh, những yếu tố trên dây có quan hệ bổ sung, tác

động qua lại, xuyên thấm lẫn nhau. Nhiều khi yếu tố này là hệ quả của những yếu tố khác. Sự

phân định trên đây chỉ mang tính chất tƣơng đối. Và mỗi yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn

cảnh cũng là một hệ thống bao gồm những yếu tố khác với những mối quan hệ bổ sung,

tƣơng tác lẫn nhau. Bởi vì bất cứ yếu tố nào trong hệ thống, tự nó cũng trở thành hệ thống,

nghĩa là nó sẽ bao hàm một cấu trúc của những yếu tố nhỏ hơn, mà cũng tác động qua lại chặt

chẽ với nhau" (Phƣơng Lựu). Cho nên, tìm hiểu cấu trúc của hoàn cảnh cần phải thấy đƣợc

"cấu trúc của những yếu tố nhỏ hơn" ấy - Đó là hệ thống các chi tiết nghệ thuật có tác dụng

xây dựng, tái tạo hoàn cảnh

54

CHƢƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỆ HOÀN CẢNH TRONG TẮT

ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ

Tiểu thuyết Tắt đèn có tiền thân là truyện ngắn Một ổ chó và một đứa con đăng trên

báo Tƣơng Lai lừ 1936. Cuốn.tiểu thuyết này đƣợc đăng tải non vẹn irên tờ Việt Nữ năm

1937 và đƣợc NXB Mai Lĩnh ấn hành năm 1939.

Ngay từ khi mới ra đời, tiểu thuyết Tắt đèn đã đƣợc khẳng định là một tác phẩm

thành công xuất sắc. Vũ Trọng Phụng, một trong những nhà văn hiện thực nổi tiếng nhất

đƣơng thời đã nhiệt tình khung định ngợi cu: "Tắt đèn là một thiên liêu thuyết có luận de xã

hội hoàn loàn phụng sự dân què, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chƣa lừng thấy"

[208], "là áng văn mới mẻ nhất về loại văn chƣơng xã hội ngày nay" [208].

Cho đến ngày hôm nay, các nhà nghiên cứu vẫn nhất trí khẳng định Tắt đèn là mội

trong những lúc phẩm xuất sắc nhất của trào lƣu văn học hiện thực Việt Nam thời kỳ 1930 -

1945. Nói tới Ngô Tất Tố, ngƣời ta nhớ Tắt đèn và ngƣợc lại nhan đề Tắt đèn với nhân vật

chính chị Dậu đã gắn liền với tên tuổi Ngô Tất Tố. Bởi vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật vồ

hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực, chúng tôi tìm đến tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố nhƣ

một việc làm tất yếu.

Tắt đèn tập trung phản ánh mội mảng đời sống hiện thực: nông thôn Việt Nam trong

những ngày sƣu thuế, từ đó làm nổi bật những mâu thuẫn có tính chất đối kháng gay gắt. Đây

là thời điểm căng thẳng nhất, giai cấp thống trị bộc lộ bản chất dã man, tàn bạo nhất. Nông

thôn Việt Nam trong những ngày đó mang một không khí căng thẳng ngột ngạt, ngƣời nông

dân bị săn đuổi truy bức và rơi vào những tình cảnh tuyệt vọng, bi thảm vì "món nợ nhà

nƣớc". Tắt đèn đã tái hiện một cách nghệ thuật những thảm cảnh và không khí ấy. Cái náo

loạn, ngột ngạt, oi nồng của không khí xã hội, những mâu thuẫn gay gắt ở nông thôn, cơ chế

xã hội tàn bạo ... đã đƣợc tái hiện thông qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn.

Cũng qua đó ta thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của tác giả.

55

2.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn

Trong Tắt đèn, hệ thống nhân vật tĩnh có một vai trò rất lớn trong việc tạo dựng hoàn

cảnh nghệ thuật. Hệ thống nhân vật này đƣợc phân làm hai tuyến khá rõ rệt.

2.1.1. Hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện:

Trong Tắt đèn xung quanh nhân vật động - chính diện - chị Dậu, còn có một hệ thống

các nhân vật tĩnh chính diện. Số nhân vật này không nhiều nhƣng nó cũng có vai trò tái tạo

hoàn cảnh. Đó có thể là những nhân vật có tên nhƣ: anh Dậu, cái Tý, thằng Dần, cái Tỉu...

hoặc không tên nhƣ bà lão hàng xóm, một số ngƣời láng giềng của chị Dậu... Nếu chỉ nhìn

hoàn cảnh ở góc độ xã hội thì đôi khi, ngƣời ta ít chú ý thỏa đáng tới hệ thống những nhân

vật này mà chỉ chú ý tới những nhân vật tĩnh - phản diện. Trong khi đó, thực ra những nhân

vật này có quan hệ bổ sung làm nổi bật hoàn cảnh bi thảm tăm tối của xã hội Tắt đèn và tình

cảnh đáng thƣơng của gia đình chị Dậu.

Đặc điểm chung của những nhân vật tĩnh - chính diện trong Tắt đèn, những nhân vật

cùng tuyến với nhân vật chị Dậu, là những con ngƣời yếu đuối, nhỏ bé.

Trƣớc hết nói về hình tƣợng nhân vật anh Dậu. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Ngô

Tất Tố đã xây dựng hình tƣợng nhân vật anh Dậu là một nhàn vật nhƣ thế. Ở đây, không phải

nhà văn cố ý tạo một hình ảnh tƣơng phản để từ đó làm nổi bật vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng

của hình tƣợng nhân vật chị Dậu. Anh Dậu đã hiện lên trong tác phẩm nhƣ một ngƣời chồng

yếu ớt cả về thể xác và tinh thần. Cuộc sống vất vả đói khổ lam lũ cùng với bệnh tật và nỗi lo

vì "món nợ nhà nước" đã khiến cho ngƣời đàn ông lẽ ra phải là trụ cột trong gia đình này

không còn sức sống. Xuất hiện trong tác phẩm không nhiều nhƣng nhân vật này hầu nhƣ tán

nào cũng ở trong một trạng thái ốm yếu, kiệt

56

quệ với "vẻ mặt xanh ngắt", "cái mặt xanh xao", thậm chí "đổi ra sắc tái mặt ; dáng điệu lúc

nào cũng mỏi mệt nhƣ không còn sinh khí: "uể oài", "lướt thướt " lờ dờ, " lẩy bẩy", "lảo

đảo", "hổn hển", "run rẩy"... Ngay trong tình huống gay cấn nhất là chị Dậu phai một mình

chống trả với hai tên đàn ông đại diện cho guồng máy thống trị thì anh chồng ốm yếu ấy lại

"sợ quá muốn dậy can vợ, nhưng mệt lắm, ngồi lên lại nằm xuống" và chỉ biết "vừa run, vừa

kêu" Trong cái gia đình nông dân đƣợc xếp vào hạng cùng đinh ấy, anh Dậu không thể là chỗ

dựa, càng không thể là ngƣời che chở cho chị Dậu trƣớc đòn roi của bọn cƣờng hào chức

dịch; trái lại, anh còn đƣợc chị chở che, và trong thực tế ngƣời chồng ốm yến đó đã nhiêu lần

đƣợc ngƣời đàn bà con mọn ấy che chở. Ở đây, ngƣời ta không trách anh Dậu, không trách

ngƣời đàn ông không đủ sức làm tròn bổn phận là trụ cột trong gia đình, mà ngƣời ta chỉ càng

thấy rõ hơn tình cảnh đáng thƣơng của chị Dậu, tình cảnh " trăm dâu đổ đầu tằm".

Bên cạnh nhân vật anh Dậu, nhân vật cái Tý, thằng Dần, cái Tỉu cùng nằm trong hệ

thống các nhân vật tĩnh - chính diện. Ở đây chúng tôi không nói đến những phẩm chất đáng

quí và những hành động, cử chỉ, lời nói làm xúc động lòng ngƣời của những đứa trẻ đáng

thƣơng này mà muốn nói tới vai trò của chúng trong việc tạo dựng hoàn cảnh.

Cũng nhƣ nhân vật anh Dậu, những nhân vật này đã hiện lên trong tác phẩm để tô

đậm thêm hoàn cảnh khốn cùng, bi thảm của nhân vật chính - chị Dậu. Chúng là những đứa

trẻ còn quá nhỏ tuổi (cái Tý bẩy tuổi, thằng Dần năm tuổi và cái Tỉu mới hai tuổi), ở cái tuổi

cần đƣợc chăm sóc, chở che, đƣợc sống hồn nhiên no đủ, vui đùa.. Thế nhƣng chúng lại phải

sống trong hoàn cảnh đói khát, rách rƣới, đến rễ khoai cũng chẳng đủ mà ăn. Hơn nữa chúng

còn phải trở thành món hàng để đổi bán. Thật là không phải, nếu ai đó trách chị Dậu trong

việc bán con. Chị Dậu đã phải bán cái Tý trong hoàn cảnh bƣớc đƣờng cùng: anh Dậu bị trói

ngoài sân đình đang có nguy cơ không sống nổi,

57

chỉ chậm chút nữa có thể anh sẽ chết. Chị Dậu phải bán con để lấy tiền cứu mạng sống cho

chồng. Chị không thể có con đƣờng nào khác. Chị chỉ có thế cứu chồng bằng việc bán con.

Và bán con, chị vẫn còn có hy vọng có ngày lại chuộc đƣợc con về. Bởi vậy thật là bất nhẫn

nếu nghĩ rằng chị Dậu coi chồng hơn con. Cả trƣớc và sau khi bán con, chị Dậu đã phải sống

trong những giờ phút giằng xé đau đớn, nƣớc mắt của ngƣời mẹ đáng thƣơng ấy đã bao lần

chứa chan trƣớc cái quyết định đau lòng đó. Lòng cảm thông sâu sắc của Ngô Tất Tố đã giúp

ngƣời đọc hiểu đƣợc những nỗi đau trong lòng ngƣời mẹ nông dân nghèo khổ, bất hạnh ấy.

Đọc Tắt đèn, ngƣời đọc nhận thấy gia đình chị Dậu là một gia đình nông dân nghèo

khổ nhƣng không vì thế mà không hòa thuận thƣơng yêu nhau ( điều này khác với tình cảnh

của nhiều gia đình trí thức nghèo trong tác phẩm của Nam Cao). Nhiều chi tiết, hình ảnh cảm

động về tình vợ chồng, tình mâu tử, tình chị em... đƣợc Ngô Tất Tố tái hiện đã làm xúc động

biết bao trái tim ngƣời đọc và nhiều ngƣời đã không thể cầm đƣợc nƣớc mắt. Sự gắn bó yêu

thƣơng giữa những con ngƣời trong cái gia đình " nghèo nhất nhì trong hạng cùng đinh" ấy

càng sâu nặng cảm động bao nhiêu thì nó sẽ càng trở nên xót xa bấy nhiêu khi xảy ra cảnh

"xẻ đàn tan nghé" và càng làm nổi bật tính chất nghiệt ngã của hoàn cảnh. Những đứa con

của chị Dậu dẫu có thƣơng yêu nhau và thƣơng yêu cha mẹ cũng không thể làm gì giúp chị.

Bởi lẽ chúng vẫn còn là những đứa trẻ. Sự hiếu thảo ngoan ngoãn của cái Tý, sự hồn nhiên,

vô tƣ của cái Tỉu, Thằng Dần... chỉ càng làm tăng thêm cái trớ trêu của hoàn cảnh. Bên cạnh

ngƣời chồng ốm yếu và những đứa con còn thơ dại ấy chị Dậu chẳng còn biết trông cậy vào

ai.

Tất nhiên, trong lũy tre của làng Đông Xá, còn thấp thoáng những nhân vật tĩnh -

chính diện khác. Đó là bà lão láng giềng tốt bụng vẫn chạy đi chạy lại hỏi han thăm nom ; là

những ngƣời " láng giềng tấp nập đổ đến" khi anh

58

Dậu tƣởng nhƣ đã chết. Họ chỉ là những nhân vật không tên, chỉ là những "bà này",

"ông kia", "bác nọ", "bà kia", "cô nọ", "chị kia"... Sự xuất hiện của họ cũng chỉ là thoáng qua

bởi vì sau đó họ lại ai về nhà nấy và trong nhà chị Dậu "lại thấy cảnh buồn tẻ của sự thiếu

vắng ''. Chị Dậu lại trở về với tình cảnh đơn côi chẳng nơi bấu víu.

Nói tới hệ thống nhân vật tĩnh trong tác phẩm Tắt đèn, có lẽ không thể không nói tới

một nhân vật phụ - "nhân vật chết"- "nhân vật đó chết nhưng lại rất cần cho không khí tối

đèn" - đó là nhân vật Hợi, ngƣời em của anh Dậu, một nhân vật đã thuộc về âm thế nhƣng lại

có vai trò rất lớn trong việc thể hiện bản chất, tính cách, số phận, thiện ác... của những ngƣời

và cả những con thú đƣợc coi là ngƣời nơi dƣơng- thế. Nhà văn Nguyễn Tuân đã có những

lời bình luận rất sâu sắc về hình lƣợng nhân vật này [242.460]. Nhƣng ở đây, chúng tôi muốn

nói thêm rằng, ở góc độ cấu trúc của hoàn cảnh, hình tƣợng nghệ thuật này cũng là một mắt

xích quan trọng trong hệ thống nhân vật tĩnh -chính diện. Nó không chỉ có giá trị lên án tố

cáo cái xã hội với "thứ thuế bất nhân đánh trực diện vào thân con ngƣời "đánh cả vào người

đang sống, đánh cả vào người đã chết" [242.464] mà nó còn có giá trị tạo không khí cho

hoàn cảnh, đẩy cảnh ngộ chị Dậu vào sự tận cùng bi thảm không biết "đâm đầu vào đâu" cho

có đƣợc hai đồng bẩy bạc để đóng nốt "xuất sƣu quái gở" (chữ dùng của Phƣơng Lựu) này,

sau khi đã phải bán đi tất cả những gì có thể bán và cả những gì lẽ ra không thể bán.

Nhƣ vậy, hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện trong Tắt đèn đã góp phần đan dệt nên

một mảng hoàn cảnh. Mảng sống này không sôi động, ồn ào nhƣ mảng hoàn cảnh đƣợc tạo

nên từ hệ thống những nhân vật tĩnh - phản diện nhƣng nó cũng có vai trò nhất định trong

việc thể hiện hoàn cảnh, tạo không khí cho hoàn cảnh. Nếu tìm hiểu vấn đề hoàn cảnh trong

Tắt đèn mà không chú ý tới hệ thống nhân vật này, là vô tình bỏ qua một hệ thống nghệ thuật

59

góp phần đem lại sức truyền cảm mạnh mẽ cho tác phẩm ở phƣơng diện nghệ thuật thuật ấy.

2.1.2. Hệ thống nhân vật tĩnh - phản diện.

Trong hệ thống những nhân vật tĩnh - phản diện của Tắt đèn có những nhân vật tĩnh

đƣợc đặt tên (Tri phủ Tƣ Ân, Nghị Quế), nhƣng hầu hết là những nhân vật không tên, chủ

yếu chúng đƣợc gọi bằng những chức danh trong bộ máy thống trị: chánh tổng, lý trƣởng,

chánh hội, phó lý, lý cựu, lý đƣơng, cai lệ, biện lệ, lính cơ..: (Phải chăng việc không đặt tên

cụ thể cho những nhân vật này cũng có ngụ ý của nhà văn: Ông muốn khái quát một hệ thống

bộ máy thống trị bạo lực ở nông thôn Việt Nam đƣơng thời mà làng Đông Xá chỉ là một điển

hình thu nhỏ?).

Chính hệ thống những nhân vật tĩnh - phản diện này hầu hết là những kẻ vận hành,

thực thi cái cơ chế trấn áp, bạo lực. Không khí bạo lực, trấn áp tràn ngập mọi ngõ ngách làng

Đông Xá toát lên từ chính những việc làm, hành động, lời nói của bọn đầu trâu mặt ngựa này.

Những ngày sƣu thuế là "mùa làm ăn", là một dịp để bọn chúng có nhiều cơ hội bóc lột, đè

nén, áp bức những ngƣời dân nghèo khổ hiền lành vô tội. Lý trƣởng làng Đồng Xá đã từng "

rung đùi đắc ý" tuyên bố giữa đình làng: "chúng tôi làm vua làm việc, quanh năm đầu chày

đít thớt, chỉ có những lúc "hồng thuỷ trướng giật" và những khi "sưu thuế giới kỳ" như thế

này mới có quyền. Tha hồ đánh, tha hồ trói, trai làng thằng nào bướng bỉnh... đánh chết vô

tội vạ". Lời "tuyên ngôn" mang đấy màu sắc bạo lực ấy đã đƣợc hắn và lũ đàn em cùng

những kẻ trong guồng máy thống trị thực thi triệt để. Nội bộ chúng có thể có những mâu

thuẫn nhƣng một khi đứng trƣớc những "miếng mồi" ngon là những ngƣời nông dân cùng khổ

đang bị dồn tới bƣớc đƣờng cùng, chúng lại cấu kết với nhau để cắn xé. Trong cái guồng

quay của cơ chế trấn áp, các nhân vật tĩnh - phản diện này cứ mở miệng là quát, gắt, thét, la,

hét, chửi, mắng với thái độ dáng vẻ hằm hè, hầm

60

hầm, sừng sộ, hách dịch, hống hách, đùng đùng, trừng mắt, gân cổ, trừng trợn... Nhà văn

Nguyễn Tuân đã nhận xét rất đúng:" Trong Tắt đèn lũ người ác đại biểu cho các kiểu bất

nghĩa bất lương cũng khá đông đấy. Những cái mồm, cái giọng phản diện cũng khá ồn ào"

[242.422]. Nhƣng cũng phải nói thêm rằng, trong những giọng nói phát ra từ cửa miệng của

những kẻ nhân hình thú tính ấy, hiếm có một giọng nói nhẹ nhàng càng không có một lời nói

tử tế. Không gian làng quê tràn ngập tiếng chửi, rủa, quát, thét, của bọn quan lại, cƣờng hào,

chức dịch, Điển hình là lý tƣởng Đông Xá với "tiếng chửi om sòm"," chửi rủa thét mắng khắp

làng", "quát một cách ra phết", "mắng như lát nước", "xa xả chửi mắng. Bên cạnh đó là tên

cai lộ với những tiếng "quát lác" và bộ mặt đằng đằng sát khí luôn "hằm hè" nhƣ muốn nhảy

vào ăn sống nuốt tƣơi những ngƣời dân cùng khổ thiếu sƣu. Trong guồng máy bạo lực trấn áp

ấy, ngay cả tên lính cơ, một kẻ không có vai vế, chức sắc gì cũng mở miệng là "quát", là

"thét" và cũng với "bộ mặt đỏ gay" vẻ mặt "hầm hầm", "mắm môi mắm lợi". Có thể nói,

ngoài nhân vật, anh Dậu, bà lão láng giềng, chị em cái Tý... nghĩa là ngoài các nhân vật tĩnh -

chính diện, ta không thấy các nhân vật trong Tắt đèn "nói" mà chỉ thấy các nhan vật "quát",

"thét". Thậm chí một lời hỏi cũng không đƣợc nói với cái giọng bình thƣờng mà phải là "hỏi

dữ dội" (đó là tiếng hỏi của tên ngƣời nhà lí trƣởng khi tên này "nghênh ngang múa chiếc tay

thƣớc với sợi dẫy thừng" vào nhà chị Dậu thúc sƣu). Hơn nữa, lời hỏi có khi còn thành tiếng

"thét" ("cái mặt mồ hôi nƣớc mắt vừa ló vào thềm, chị Dâu liền đƣợc mấy ông chức dịch

nhao nhao thét hỏi"). Khi chị Dậu đã bƣớc đƣợc vào cái dinh cơ kín cổng cao tƣờng của nghị

Quế, ta đã tƣởng rằng ngƣời đàn bà khốn khổ ấy sẽ thoát khỏi những tiếng quát mắng nạt nộ.

Nhƣng không khí trấn áp vẫn tràn ngập nơi đây. Chị Dậu vẫn phải nghe những lời quát mắng

"the thè" của Nghị bà và cáu bẳn của Nghị ông. Hơn nữa, để nạt nộ, bà Nghị còn "quát" cả

lúc lẽ ra không cần nói bằng cái giọng trấn áp ấy ("Bà Nghị chỉ tay quát thằng nhỏ lấy

nước").

61

Cùng với những tiếng la, hét, chửi, mắng nạt nộ, những cử chỉ hành động của các

nhân vật tĩnh - phản diện luôn ở trong cái thế muốn nhảy xổ vào mà nghiền nát những ngƣời

dân thấp cổ bé họng: "hùng hổ đứng lên", "đùng đùng đứng dậy", "sấn sổ bước đến", "sầm

sập tiến vào", "đùng đùng chạy lại", "xăm xăm tiến đến"... Bị bủa vây giữa những bọn "người

nhà nước", ấy, những ngƣời dân thiếu thuế nhƣ "con kiến bò trong chảo nóng" không còn

đƣờng nào trốn chạy chỉ còn biết bất lực kêu trời. Quả thực "quanh chị Dậu, quanh cái thẻ

sƣu thuế ngƣời, cả một hệ thống thiên la địa võng, bóc lột sự sống, ăn hiếp sự sống, bức tử sự

sống" [242.446]. Cái hệ thống "thiên la địa võng" mà Nguyễn Tuân đã nói tới ấy đƣợc đan

dệt giăng mắc bởi hệ thống những nhân vật tĩnh -phản diện. Những hành động lời nói của loại

nhân vật này đã tạo không khí cho hoàn cảnh - không khí hấn áp bạo lực đầy giông bão.

Trong không khí ấy "ngƣời nồng dân giãy lên trên những dòng chữ của Ngô Tất Tố".

2.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn

Bàn về tác phẩm Tắt đèn, cùng với sự khẳng định thành công của tác giả trong việc

xây dựng đƣợc tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra

những mâu thuẫn xã hội đƣợc phản ánh và coi đây cũng là một yếu tố tạo nên giá trị hiện

thực cho tác phẩm. Chẳng hạn "Ông Ngô Tất Tố đã dùng đƣợc đắc sách cái phƣơng pháp

khách quan để tả cho chúng ta biết rõ ràng những cảnh tƣợng nơi hƣơng ẩm, là một chỗ mà

ngƣời ta nhờ ông, nhận thấy rất nhiều mâu thuẫn và hƣ nát" [199.195-196]; "Trong Tắt đèn,

Ngô Tất Tố không chỉ nói đến cái mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ mà còn nói đến cả cái

mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc thực dân" [199.234]; "Ngô Tất Tố đã dũng cảm bóc

nần những mâu thuẫn xã hội ; cái không khí oi bức giông bão trong Tắt đèn cho ta thấy mâu

thuẫn giai cấp ở nông thôn đã đến độ đối kháng gay gắt đòi hỏi phải đƣợc giải quyết"

62

[199.304]. "Thực ra quanh năm, không lúc nào ở nông thôn Việt Nam không diễn ra cuộc

xung đột gay gắt giữa bọn quan lại, bọn cƣờng hào địa chủ với nông dân lao động. Nhƣng

cuộc xung đột đó trở nên tập trung nhất và bộc lộ ra một cách tàn bạo nhất trong vụ thuế"

[199.262]... Tất cả những nhận định đó đều phản ánh rất đứng một phƣơng diện thành công

của tác phẩm Tắt đèn, đó là giá trị hiện thực qua việc phản ánh những mâu thuẫn xã hội ở

nông thôn Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng Tám. Nhƣng khi nói tới mâu thuẫn nằm trong

cấu trúc hoàn cảnh của tác phẩm Tắt đèn mà chỉ nói tới những mâu thuẫn đối kháng giữa

nông dân và địa chủ, giữa giai cấp thống trị và những ngƣời dân bị trị thì lại chƣa đủ. Mâu

thuẫn nằm trong cấu trúc hoàn cảnh của tác phẩm Tắt đèn là tổng thể của nhiều mâu thuẫn

mang kịch tính. Từ những mâu thuẫn chồng chéo "đan cài ấy, số phận, tính cách của các nhân

vật dần bộc lộ.

2.2.1. Đó là mẫu thuần giữa tình cảnh khốn cùng của chị Dậu và gánh nặng mà ngƣời

đàn bà đáng thƣơng đó phải gánh chịu: Làm gì để có tiền nộp sƣu ? Có thể gọi đây là mâu

thuẫn giữa cái "chỉ có" và cái "lẽ ra phải có" trong gia cảnh của ngƣời phụ nữ nông dân cùng

khổ ấy.

Hãy trở lại xem gia cảnh chị Dậu mà nhà văn đã tái hiện ở phần đầu tác phẩm. Chỉ

bằng một vài nét phác họa theo lối phóng sự ghi nhanh, Ngô Tất Tố đã dựng lại trƣớc mắt

chúng ta một bức tranh điển hình về sự nghèo khổ đến cùng cực: "Nếp nhà tranh lủn củn"

của gia đình chị Dậu tiều tụy thảm hại đến nỗi "đứng xa ngó lại ngƣời ta có thể lầm tưởng

đây là nơi nhốt lợn hay chứa tro". Tất cả những gì xung quanh và trong ngôi nhà mà ngƣời ta

có thể nhầm là chuồng lợn ấy, đều là hình ảnh của sự điêu tàn, hoang phế. Đó là khoảng sân

hẹp "chỉ bâng đường hứa" với "lớp rêu xanh điểm những lá tre vàng úa và những cỏ gấu

phất phơ". Đồ đạc và những thứ bài trí trong nhà đều là hình ảnh của sự rách nát, chắp vá nhƣ

những đồ phế thải: Bức mành rủ ngoài cửa -"rách mép lướt thướt" ; chiếc giƣờng tre -"gãy

giát" : chum - "mẻ" vại - "hàn"

63

củi - "ẩm ướt"; vung nồi - "sứt miệng"; chiếu - "rách thủng xộc xệch ; tấm phản - " long

dinh" ... không có một thứ đồ vật nào lành lặn, tử tế. Sau này khi theo bƣớc chân chị Dậu

sang nhà Nghị Quế, trƣớc dinh cơ của "ông đợi biểu của dân" này, ngƣời ta không thể không

liên tƣởng tới gia cảnh của chị Dậu. Ở đây có một sự tƣơng phản, một nghịch cảnh giữa hai

thế giới giàu sang và nghèo hèn, giữa dƣ thừa, no đủ và thiếu thốn, đói khát. Gia cảnh chị

Dậu là hiện thân của sự đói nghèo, thê thảm, cơ ngơi của Nghị Quế là bức tranh của sự giàu

sang, phú quý. Nếu nhƣ cái sân nhà chị Dậu chỉ "bằng đường bừa" mà lầy lội, bẩn thỉu thì cái

sân nhà Nghị Quế lại là cái "sân gạch Bát Tràng mông mênh như bãi đà bóng" mà sạch sẽ

phong quang. Nếu nhƣ cảnh vật, đồ đạc trong nhà chị Dậu là hình ảnh của sự nhỏ nhoi, rách

nát, chắp vá đến thảm hại thì cảnh vật, đồ đạc trong nhà Nghị Quế lại là hình ảnh của sự lừng

lững, oai phong. Đó là "đám bung xung nhọn như ngọn tháp hùng dũng?" ; là "lũ đống rơm,

đống rạ lớn bằng trái núi " ; là "Những cây cột phục phịch" trong "nếp nhà hai tầng" ... bƣớc

vào cái thế giới giàu sang mà cái gì cũng đồ sộ nhƣ luôn ở cái thế sắp đè bẹp, nuốt chửng

những ngƣời dân thấp cổ bé họng ấy, chị Dậu càng trở nên nhỏ bé đơn côi trong thân phận

của con sâu, cái kiến.

Ngoài gánh khoai và đàn chó con mới mờ mắt, quả thực tất cả gia tài ấy "không còn

thứ gì đáng giá hai hào" nhƣ lời chị Dậu nói với mụ Nghị thôn Đoài. Không có thứ gì "đáng

giá hai hào" vậy mà chị Dậu lại cần phải có hai đồng bẩy bạc tiền nộp sƣu. Tình huống ấy

đặt ra cho ngƣời phụ nữ nông dân bất hạnh đó một câu hỏi không dễ gì có lời giải: Làm thế

nào để có hai đồng bẩy bạc nộp tiền sƣu ? làm thế nào trả xong "món nợ nhà nước" để cứu

ngƣời chồng ốm yếu đang bị hành hạ đến gần chết ? Sự mâu thuẫn giữa tình cảnh khốn cùng

và đòi hỏi thúc bách của lũ đầu trâu mặt ngựa đã buộc ngƣời mẹ giàu tình thƣơng ấy phải đi

tới một quyết định đau lòng: Bán đứa con gái ngoan ngoãn, hiếu thảo mới bẩy tuổi đầu.

64

2.2.2. Đến đây, chị Dậu lại rơi vào một mâu thuẫn mang đầy tính bi kịch. Ai có thể

nói rằng chị Dậu là ngƣời không có tình mẫu tử ? Ai có thể nói rằng ngƣời mẹ ấy khi cần có

thể bán con đi ? Ngô Tất Tố đã dành những trang văn cảm động nhất để thể hiện tình mẫu tử

của ngƣời mẹ đáng thƣơng ấy. Vấn đề là phải thấy đƣợc những giằng xé, đau đớn trong tâm

hồn của chị trƣớc cái quyết định đau đớn ấy và nỗi đau rớm máu của chị khi phải đƣa con đi

bán cho nhà Nghị Quế. Ở phần trƣớc chúng tôi đã nói việc chị Dậu phải bán con là do ở vào

một tình thế không thể có cách nào khác. Việc bán con của chị là giải pháp bắt buộc và cũng

là giải pháp thông minh nhất để bảo vệ sự an toàn cho cả gia đình, ít nhất cũng để bảo toàn

tính mạng cho anh Dậu đang nằm trong vòng tay của tử thần (theo cả-nghĩa đen và nghĩa

bóng).

Mâu thuẫn giữa tình thƣơng của một ngƣời mẹ và việc tự mình phải quyết định rồi

cũng lại tự chính mình phải mang con đi bán đã khiến chị Dậu phải gánh chịu một nỗi đau

hơn ngàn lần những nỗi đau về thể xác mà bọn cƣờng hào ác bá đã giáng vào thân xác chị.

Nếu nói Tắt đèn là bản tố khổ chan hòa nƣớc mắt thì chủ yếu đó là những dòng nƣớc mắt

của Chị Dậu, và trong đó chủ yếu là những dòng nƣớc mắt xung quanh sự kiện bán con. Theo

thống kê của chúng tôi, trong cuốn tiểu thuyết hơn 100 trang sách này, tác giả đã tái hiện

khoảng hơn 50 lần hình ảnh những giọt nƣớc mắt và tiếng khóc của chị Dậu. Trong đó có tới

25 lần chị phải khóc và rơi nƣớc mắt xung quanh việc bán cái Tý. Con số thống kê ấy hẳn

không phải không có ý nghĩa. Nó phản ánh nỗi đau, tấm lòng của ngƣời mẹ trƣớc một tình

cảnh mà tất cả những ai biết cảm thông chia sẻ sẽ không thể cầm đƣợc nƣớc mắt. Trong

những ngày sƣu thuế khủng khiếp ấy, ít khi thấy trên gò má của ngƣời mẹ nông dân đó khô đi

những dòng nƣớc mắt xót thƣơng, tủi nhục, đau đớn. Kể từ khi có ý định bán đi đứa con bé

bỏng của mình, ngƣời mẹ khốn khổ ấy đã bao tân phải rơi nƣớc mắt. Chỉ vừa mới nghe anh

Dậu bàn tới việc bán con, trên gƣơng mặt chị đã thấy " nước mắt chảy qua gò má ròng ròng"

nhƣng cũng chỉ dám "se sẽ

65

gạt thầm nước mắt". Khi sang nhà Nghị Quế để dạm bán con, để chuẩn bị dứt tình mẫu tử,

chị Dậu lại "rơm rớm", "sụt sùi" và "chan chứa hai hàng nước mắt". Trở về nhà, trƣớc sự

ngoan ngoãn, ngây thơ, hiếu thảo của cái Tý, chị Dậu nhƣ bị "những lưỡi dao găm cắt từng

khúc ruột " và "càng nước mắt ngắn dài", "những giọt nước mắt rơi xuống càng mau". Đến

khi phải nói thật với con cái quyết định đau lòng kia chị "sẽ gạt nước mắt" , "vừa nói vừa

mếu" và "điểm thêm một giây nức nở" rồi "chỉ thổn thổn thức thức, không nói thêm được câu

gì". Thế rồi, cũng đến lúc, cái quyết định đau lòng ấy phải đƣợc thực hiện - ngƣời mẹ bất

hạnh ấy phải đƣa con mình đến nơi hang hùm miệng rắn để có đƣợc mấy đồng sƣu mà trả

"món nợ nhà nước". Trong giờ phút đó, ngƣời phụ nữ cùng khổ lại "lã chã hai hàng nước

mắt" và "khóc nức nở" dắt con ra đi. Và chị đã đƣa đứa con gái ngoan ngoãn, hiếu thảo của

mình sang nhà Nghị Quế "với những tiếng thổn thức trong đáy tim và những giọt nước mắt

luôn đọng ở gò má".

Tại nhà Nghị Quế, giọt nƣớc mắt của chị Dậu vẫn không ngừng tuôn rơi. Sự tàn nhẫn,

bất nhân của vợ chồng tên địa chủ này càng khoét sâu thêm nỗi đau của ngƣời mẹ. Có lúc chị

chỉ dám "nức nở khóc thầm", "những giọt nước mắt đọng ở trong đám lông mi lóng lánh". Có

lúc nỗi đau xót, tủi cực khiến chị không thể cầm lòng đƣợc và "nước mắt nhỏ xuống thêm

thánh thót". Thật cảm động, đáng thƣơng trƣớc hình ảnh: "Mẹ con chị Dậu ro ró ngồi nép

bên cột, người nọ nhìn cái mặt chan hòa nước mắt của người kia". Có thể nói mỗi trang văn

Tắt đèn đều thấm đẫm nƣớc mắt của Chị Dậu. Nƣớc mắt của Chị Dậu tuôn trào trên từng

trang sách. Và những dòng nƣớc mắt chảy ra từ trái tim rớm máu của chị chính là những

dòng nƣớc mắt trƣớc sự kiện phải bán con. Đó là những dòng nƣớc mắt của tình mẫu tử.

Chính sự xuất hiện nhiều lần của những dòng nƣớc mắt ấy không chỉ thể hiện tình mẹ con

sâu nặng, trái tim giầu tình thƣơng yêu của chị Dậu mà nó còn góp phần thể hiện cái thảm

cảnh khốn cùng của ngƣời nông dân trƣớc nạn sƣu thuế. Ngƣời ta nói nhiều về

66

tình cảnh phải bán vợ đợ con trong xã hội cũ, nhƣng đã mấy ai nói đƣợc cái thảm cảnh ấy

một cách xúc động và gợi lòng thƣơng cảm sâu xa trong lòng ngƣời đọc nhƣ Ngô Tất Tố '?

Khi giáo sƣ Phong Lê nhận xét rằng: "Không phải là trong cuộc đời thật của nhân dân không

còn những nỗi khổ nào nặng nề hơn. Nhưng cái khéo léo trong nghệ thuật dẫn dắt truyện,

trong sự miêu tả những cảnh ngộ bi kịch của Ngô Tất Tố đã có sức nâng những nỗi đau

thương vốn thường xảy ra trong cuộc đời lên một mức độ cao gần như vượt quá sức chịu

dựng của con người, ấn tượng về một xã hội tối tăm, về những nỗi đau thương của người

nghèo, vì thế trở nên có sức đè rất nặng", [199. 253] phải chăng cũng một phần xuất phát từ

hình ảnh những giọt nƣớc mắt ấy của nhân vật chị Dậu ?

2.2.3. Trong những mâu thuẫn nằm trong cấu trúc hoàn cảnh của tác phẩm Tắt đèn

còn có mâu thuẫn giữa tình thế đơn côi của chị Dậu và cả một bộ máy thống trị tàn bạo cấu

kết chặt chẽ, trấn áp và bóc lột. Khi Nguyễn Tuân nói rằng "Chị Dậu là cái đốm sáng đặc

biệt của tác phẩm Tắt đèn" thì cũng có nghĩa là xung quanh chị là một màn đêm dày đặc, cái

màn đêm ấy "tối thật, tối quá, tối lắm, sự sống đến như đời sống như chị Dậu thì tối sầm cả

mặt người đọc truyện hai mươi năm sau này "[242.467]. Cái màn đêm đặc quánh đó đƣợc tạo

nên bởi bộ máy thống trị từ quan lại đến cƣờng hào địa chủ. Có thể nói chị Dậu đơn thƣơng

độc mã vói một gánh nặng trên vai, phải đƣơng đầu với cả một đội quân hùng hậu luôn đằng

đằng sát khí đó. Thử điểm lại các tình huống mà chị Dâu phải trải qua trong tác phẩm, ta sẽ

thấy tình huống nào chị cũng ở thế đơn độc, nhỏ bé, lúc nào cũng "rón rén", "khép nép",

"khúm núm", "rụt rè" "mon men", "ngập ngừng", " thèn lẹn", lúc nào cũng chỉ dám "thưa",

"lạy", "bẩm", "van xin" ... chị Dậu quả là quá nhỏ nhoi trong cái vực thẳm của sự tàn bạo đó.

Xung quanh chị, ở ngoài đình là một lũ: chánh tổng, phó tổng, lý trƣởng, chánh hội... luôn

sẵn sàng "đổ xô ra" nạt nộ chửi rủa. Khi chị ở nhà, bất cứ lúc nào, bọn cai lệ, lý trƣởng, tuần

phu ... cũng có

67

thể "sầm sập tiến vào" bắt, trói, đánh đập. Tại nhà Nghị Quế, ngƣời đàn bà cùng khổ ấy lại bị

quây giữa đàn chó dữ nhƣ "một đàn hùm ở đâu nhất tề xồ ra" và vợ chồng tên địa chủ bạc ác

bất nhân này. Chị đã phải tay không đánh nhau với bầy chó và một mình hứng chịu những lời

đay nghiến, mỉa mai, khinh bỉ của những kẻ làm giàu trên nỗi khốn cùng của ngƣời dân. Khi

"vào cửa quan", mong rằng ở chốn công đƣờng chị sẽ có đƣợc sự bình an, nhƣng từ quan Tri

phủ đến cai lệ, biện lệ ... lại cấu kết với nhau trấn lột chị tiền bạc và định trấn lột chị cả về

nhân phẩm. Cho đến tình huống cuối cùng của tác phẩm, lại nhà "quan cụ" chị Dậu một lần

nữa, trong đêm lại một mình chống trả với "con dê già" để bảo toàn phẩm tiết và để rồi lại lao

vào màn đêm đen dày dặc. Cũng biết rằng trong tất cả những tình huống đơn côi ấy, có một

lần, ngƣời phụ nữ nông dân tiềm tàng tinh thần phản kháng đó đã vùng lên kháng cự, chống

trả quyết liệt; đã tuyên chiến với kẻ thù: "Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem" . Và

trong trận quyết đấu không cân sức ấy, chị đã là ngƣời chiến thắng. Nhƣng trận thắng ấy chỉ

nhƣ một ánh chớp lóe lên giữa bầu trời đêm rồi vụt tắt. Nó không thể xóa đi ấn tƣợng về cuộc

sống thê thảm và tình cảnh bi thƣơng của gia đình chị Dậu. Ngƣời đọc sau một vài phút giây

đƣợc hả hê sảng khoái lại trở về với tâm trạng thƣơng xót, lo âu cho số phận cuộc đời, tình

cảnh không nơi bấu víu của ngƣời đàn bà nông dân cùng khổ ấy. Đọc Tắt đèn nhà văn

Nguyễn Tuân đã phát biểu cảm tƣởng: "Tôi không trực tiếp sống cái thống khổ của những

người nông dân tiền khởi nghĩa đó . nhưng đọc Tắt đèn, tôi xúc động với nhân vật ngạt thở

của nó" (Tạp chí văn nghệ số 6. tháng 6/1960). Cảm tƣởng đó của Nguyễn Tuân là do tác

động của nhiều yếu tố, nhiều chi tiết. Nhƣng phải chăng trong đó có những tình huống thể

hiện sự đơn côi của chị Dậu trƣớc thế lực bạo tàn ? Sự tƣơng phản mâu thuẫn đó cũng là một

yếu tố góp phần thể hiện hoàn cảnh nghệ thuật của Tắt đèn.

68

2.2.4. Nói tới những mâu thuẫn nằm trong tổng thể những mâu thuẫn thuộc cấu trúc

nghệ thuật của hoàn cảnh Tắt đèn không thể không nói tới một mâu thuẫn xã hội đã đƣợc thể

hiện một cách nghệ thuật: mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị. Cái không khí căng

thẳng sục sôi toát lên từ hoàn cảnh tác phẩm, một phần cũng từ những mâu thuẫn này. Tất

nhiên, đây không phải là mâu thuẫn chủ yếu đƣợc nhà văn khai thác, thể hiện. Nhƣng cũng

chỉ qua một vài cảnh huống, vài nét phác hoa, nhà văn cũng giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc

rất rõ mâu thuẫn đó.

Ở phần cơ chế của hoàn cảnh Tắt đèn, chúng tôi sẽ nói tới cơ chế trấn áp và chỉ ra sự

thể hiện nghệ thuật của cơ chế ấy. Ở đây chúng tôi muốn nói rằng, cơ chế ấy không chỉ thể

hiện trong mối quan hệ giữa bọn thống trị với những ngƣời dân thấp cổ bé họng, mà nó còn

thể hiện ngay trong quan hệ nội bộ bọn ngƣời này. Chúng không chỉ hò hét, nạt nộ, dọa dẫm

những ngƣời nông dân đang bị dồn đuổi trong mùa sƣu thuế mà còn nạt nộ, dọa dẫm, trấn áp

lẫn nhau: Lý trƣởng Đồng Xá "quát một cách ra phết" : "ngày mai không đủ thuế thì ông

khai hết ra cho, thử xem thằng nào ngồi tù"; chánh hội "vểnh bộ mặt hách dịch": "quan sức

cho tôi" hiệp dữ lý trƣởng" thôi đốc vụ thuế năm nay* ngƣời nào gai ngạnh tức là " hãn trở

thuế sự " tôi gông cổ cho mà xem"; Chánh Tổng "lên giọng hống hách": "Tuần đâu ? Mày

điệu cổ thằng Lý cựu xuống sân đình kia cho ông ! nó định ăn cƣớp tiền thuế của Lý trƣởng

à? Rồi ông trình quan cho nó" ; Quan phủ " ra bộ giận dữ đập tay xuống bàn " : " Vụ thuế

này mày kiếm đƣợc của những đứa ngoại canh mấy trăm đồng ! ông thì cách cổ !".

Ngô Tất Tố đã mở đầu chƣơng VII - Cảnh chè chén của bọn cƣờng hào hách dịch tại

đinh làng bằng những hình ảnh đầy ý nghĩa. Đó là hình ảnh "đàn chó chui trong gậm đình,

chực cướp xương rơi, con nọ cắn con kia ý ẳng" và bên cạnh đó là hình ảnh "lý cựu, phó lý,

thủ quĩ chân đầu trên lớp bát đĩa đầy nhặng xanh..." Phải chăng nhà văn muốn nói rằng, cái

lũ ngƣời đang

69

cắm đầu vào đống mâm bát kia cũng chỉ là một bầy nhặng xanh, chỉ là một bầy chó đói đang

tranh cƣớp miếng ăn, miếng uống giữa chốn đình trung ? Nếu nhƣ bầy chó đói kia hậm họe

cắn nhau vì những mẩu xƣơng thừa, bát canh cặn thì bọn cƣờng hào chức dịch cũng gầm ghè

cãi lộn nhau vì mấy đồng tiền thu "lạm", "vẫn giắt ở cạp váy " của "mấy đứa phụ canh".

Trong những mâu thuẫn thuộc nội bộ hệ thống nhân vật tĩnh phản diện, có lẽ cũng cần

phải nói tới mâu thuẫn giữa vợ chồng Tri phủ Tƣ Ân. Tất nhiên đây chỉ là một mâu thuẫn rất

thứ yếu, mâu thuẫn về hình thức nhƣng bản chất lại là thống nhất. Đã có một cuộc đôi co nho

nhỏ giữa hai vợ chồng tên Tri phủ này khi hắn bắt vợ lên hầu quan trên để đƣợc thăng quan

tiến chức với cái triết lý bẩn thỉu:" ... đâu vẫn vào đấy, nào mình có mất một chút gì đâu ".

Trong mấy tình huống xuất hiện trong tác phẩm, lần nào ta cũng thấy kẻ đê tiện này

mang dáng vẻ đằng đằng sát khí với "cái mặt phèn phẹt luôn hằm hằm như sắp rơi suống sàn

đánh "huỵch" và "đôi mắt trắng dã" nhƣng đến đây ta lại thấy hắn "nhanh nhảu", "ngọt

ngào", "sung sướng", "vui vẻ" và nở nụ cƣời mãn nguyện khi vợ bằng lòng đi hiến thân cho

quan trên. Còn mụ vợ thì "làm bộ giằn dổi" và "ra giọng gắt gưởi" - nghĩa là thâm tâm cũng

đồng lòng sẵn sàng bán rẻ nhân phẩm của mình để có đƣợc quyền cao chức trọng. Cuộc đôi

co giả tạo của vợ chồng tên tri phủ đốn mạt đó chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm

nhƣng nó góp phần làm cho bức tranh xã hội Tắt đèn đã đen tối lại càn đen tối thêm. Bởi lẽ,

nó giúp ngƣời ta hiểu rằng, ngay những kẻ đƣợc coi là "cha mẹ" của dân mà còn bẩn thỉu đê

tiện đến thế thì còn gì là đạo lý, còn gì là sự coi trọng nhân phẩm trong cái xã hội ấy.

Góp phần tô đậm cái nền đen tối của hoàn cảnh Tắt đèn còn có vợ chồng địa chủ

Nghị Quế, đặc biệt là nghị viên Trần Đức Quế. Ở đây lại thấy sự mâu thuẫn giữa cƣơng vị xã

hội của "ông đại biểu của dân" kẻ "thay mặt dân" này với những hành động, cử chỉ, lời nói

tàn nhẫn của hắn. Là nghị viên nghĩa là

70

ngƣời đại diện cho dân, ngƣời bảo vệ quyền lợi cho dân, thế nhƣng hắn lại là kẻ lợi dụng tình

cảnh khốn cùng của ngƣời dân để làm giàu. Để có thế mua rẻ đàn chó và đứa con của chị

Dậu, hai vợ chồng hắn đã đóng kịch rất ăn ý, kẻ đấm ngƣời xoa, dồn ngƣời phụ nữ nông dân

cùng khổ vào tình thế buộc phải bán đƣa con và đàn chó cho hắn với cái giá bèo bọt - hai

đồng bạc, chƣa đủ một xuất sƣu. Tất cả những lời nói của hắn với chị Dậu đều bộc lộ một bản

chất tàn nhẫn, dửng dƣng vô cảm trƣớc tình cảnh bi thảm của ngƣời dân quê: "Thiếu bao

nhiêu mặc kệ mày, kể lể gì ? mày định bổ vào nhà tao đấy à ?", "rẻ thì đem ngay ra chợ bán.

Ra ngay !", "không bán thì về, về thẳng !", những cử chỉ hành động của vợ chồng hắn cũng

mang đầy sắc thái tàn bạo trấn áp của những con ngƣời không có trái tim: "Đập tay xuống

sập", "hầm hầm nét mặt" ," nổi cơn tam bành", " nghiến răng kèn kẹt" , "đùng đùng đứng

dậy"... Bản chất chó má bất nhân của "ông đại biểu của dân" này bộc lộ rõ nét nhất khi hắn

"ra giọng nhân từ" bắt cái Tý phải ăn chỗ cơm thừa của chó kẻo "phí của trời". Và khi con bé

tội nghiệp ấy "ôm chầm lấy mẹ khóc nhƣ mƣa nhƣ gió" trong phút cuối cùng của sự chia ly,

thì kẻ "thay mặt dân" ấy "đùng đùng đứng dậy giơ cái bàn tay hộ pháp tát cho con bé một cái

đánh đốp, và hắn hét lên như một ông đại tướng trong rạp tuồng:

- Thằng nhỏ, lôi cổ nó xuống nhà bếp kia...". Thật là táng tận lƣơng tâm! Bất cứ ai

còn có chút lòng nhân, chắc rằng sẽ không có hành động phũ phàng nhƣ thế trƣớc tình mẫu

tử. Nếu Nghị Quế chỉ là một tên địa chủ thì thái độ, hành động vô nhân đạo đó của hắn là

thống nhất với bản chất giai cấp của hắn, nhƣng hắn lại là nghị viên - là ngƣời mang danh đại

diện và bảo vệ quyền lợi của dân thì ở đây lại có sự mâu thuẫn. Tất nhiên mâu thuẫn này

cũng là sự phản ánh mâu thuẫn trong xã hội đƣơng thời. Biết bao kẻ tai to mặt lớn, là " phụ

mẫu", là cha mẹ dân, nhƣng lại là những kẻ tàn bạo nhất trong việc cai trị, bóc lột ngƣời dân.

Và mâu thuẫn ấy cũng góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh Tắt đèn.

71

2.3. Cơ chế trấn áp bạo lực

2.3.1. Trong cấu trúc của hoàn cảnh, có yếu tố cơ chế. Hoàn cảnh nào cũng có cơ chế

của nó. Cơ chế của hoàn cảnh là kết qua cái nhìn hiện thực của nhà văn. Cùng đứng trƣớc

một hiện thực xã hội, các nhà văn có thể có những cái nhìn khác nhau về cơ chế của hoàn

cảnh. Với Ngô Tất Tố trong Tắt đèn, đó là cơ chế trấn áp, cơ chế bạo lực. Chính cơ chế này

chỉ đạo toàn bộ hoạt động của tuyến nhân vật phản diện và biểu hiện ở một số hệ thống tín

hiệu nghệ thuật. Mỗi hành động, mỗi việc làm, mỗi câu nói của các nhân vật phản diện đều

tập trung biểu hiện cơ chế ấy. Guồng quay của cơ chế trấn áp, bạo lực dƣờng nhƣ càng trở

nên cấp tập, náo động hơn trong những ngày sƣu thuế ở làng Đông Xá. Trong guồng quay ấy,

những ngƣời nông dân, nghèo khổ, lam lũ, bị thúc bách dồn đuổi chạy ngả nào cũng bị bủa

vây bởi một không khí đầy bạo lực và những lời chửi rủa nạt nộ thồ bạo làn nhẫn của bọn

cƣờng hào lí dịch. Trong cơ chế trấn áp bạo lực đó, làng Đông Xá trở nên sôi sục náo loạn

"Trong làng lúc nào cũng như có đám đánh cướp". Gia đình chị Dậu trở thành nạn nhân bi

thảm của cái cơ chế ấy. Bị dồn đuổi đến bƣớc đƣờng cùng, ngƣời phụ nữ bất hạnh ấy chỉ còn

biết cầu khẩn, van xin, nhƣng chỉ đƣợc đáp lại bằng-những lời đe doa thô bạo không mảy

may thƣơng xót. Trong hoàn cảnh không đào đâu ra tiền nộp sƣu, anh Dậu phải đến vay nhà

Hội ích, nhƣng "mới cất miệng hỏi " đã bị "mắng sơi sơi". Trƣớc tình cảnh ngƣời chồng ốm

yếu bị trói đến gần chết ở trong đình, chị Dậu vừa cất tiếng "se sẽ gọi" thì lập tức bị phó Lý

trấn áp: "... mày câm đi, không thì ông vả vỡ mồm bây giờ...". Để có đƣợc hai đồng bẩy sƣu,

chị Dậu đã phải bán đi lất cả những gì có thể bán (đó là gánh khoai, đàn chó con mới mở mắt

) và đau xót hơn, chị còn phải bán đi cả những gì lẽ ra không thể bán (đó là đứa con gái mới

bảy tuổi đầu và dòng sữa ngƣời mẹ). Vậy mà vẫn chƣa đủ, chị còn phải đóng; thêm suất sƣu

cho ngƣời em chồng đã chết. Uất ức, cay cực, chị đã phải cất lên tiếng kêu xé lòng: "Trời ơi!

Em tôi chết rồi mà còn phải đóng sƣu hở trời? Tôi biết đâm đầu

72

vào đâu đào cho đƣợc hai đồng bảy bạc bày giờ?". Đáp lại tiếng kêu xé lòng ấy của chị là

tiếng thét của tên cai lệ: "... con mẹ kia, muốn sống thì câm cái mồm". Trƣớc khi bị giải lên

phủ, chị Dậu vừa cất lời xin đƣợc cho con bú, một lời khẩn cầu mà bất cứ ai có chút lòng

nhân đều không thể chối từ, thế nhƣng, ngƣời mẹ khốn khổ ấy lập tức bị Lý trƣởng hùng hổ

chìa bàn tay vào mặt và quát: "ông thì vả vỡ mồm bây giờ!". Những lời trấn áp, doa nạt: "im

cái mồm", "câm đi", "vả vỡ mồm", "chẻ xác ra cho"... là những câu nói cửa miệng của bọn

cƣờng hào chức dịch mỗi khi những ngƣời dân cùng khổ cất lời cầu xin. Một không khí bạo

lực trấn áp bao trùm lên toàn bộ tác phẩm. Bị ném vào hoàn cảnh với cơ chế ấy, chị Dậu một

mình "trần trụi giữa bầy sói" tìm mọi phƣơng cách chống lại áp lực của hoàn cảnh mà chẳng

còn biết trông cậy vào ai. Đáp lại những lời khẩn cầu thiết tha, chan hòa nƣớc mắt của ngƣời

đàn bà đáng thƣơng và cũng đáng trân trọng cảm phục ấy, nếu không là những lời quát, thét

nạt nộ thì cũng chỉ là những câu nói lạnh lùng, tàn nhẫn, vô nhân đạo: "cho chết", "chẳng cứu

vớt gì cả", " mặc kệ mày", "mặc! đây không biết", "mặc kệ! không biết".

2.3.2. Cơ chế trấn áp bạo lực trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Tắt đèn đã góp

phần tạo không khí náo loạn, căng thẳng cho hoàn cảnh (chúng tôi sẽ phân tích và làm nổi bật

ở phần sau: 2.4) và đồng thời nó cũng đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện số phận, tính

cách của các nhân vật. Chính trong cơ chế xã hội tàn bạo ấy, bản chất vô nhấn đạo của bọn

cƣờng hào chức dịch đƣợc bộc lộ. Điển hình là câu nói nhƣ một lời "tuyên ngôn" cho cơ chế

trấn áp bạo lực phát ra từ cửa miệng của lý trƣởng Đông Xá: "không cần gì hết, đứa nào trái ý

đánh luôn... chúng tôi làm vua làm việc, quanh năm đầu chày, đít thớt, chỉ có những lúc

"hồng thủy trƣớng giật" và những khi "sƣu thuế giới kỳ"nhƣ thế này thì mới có quyền. Tha

hồ đánh, tha hồ trói, trai làng thằng nào bướng bỉnh ... đánh chết vô tội vạ ". Giữa guồng

quay của cơ chế ấy chị Dậu bị dồn đuổi truy bức và đàn áp thẳng tay. Trong những cuộc tiếp

xúc với bọn "ngƣời nhà nƣớc", ngƣời đàn bà khốn khổ ấy không bao giờ đƣợc

73

nhận một lời tử tế, một thái độ cảm thông, trái lại chị chỉ nhận đƣợc. những cái tát, những cú

đấm không hề thƣơng xót của bọn đàn ông đầu trâu mặt ngựa. Chính tên cai lệ, sau khi đã

đánh ngƣời đàn bà đáng thƣơng đó bằng "cái thụi chuyên môn của ngƣời cửa công, khác hẳn

thứ thụi phổ thông của thƣờng dân" vẫn còn tiếc rẻ: "nếu không vội đi bắt đứa khác thì tôi đã

biếu thêm cho chị ấy vài chục quả phật thủ nữa", Vậy mà lên Phó lý vẫn còn thắc mắc: " ...

Sao ông không giã thêm cho nó một mẻ ? "... Trƣớc sự dồn đuổi truy bức của những kẻ thực

thi cơ chế trấn áp bạo lực, chị Dậu chỉ còn biết van xin với thái độ nhẫn nhục, cam chịu bằng

những lời nói nhẹ nhàng, tình cảm, hy vọng sự thông cảm, xót thƣơng. Với bọn ngƣời ấy chị

Dậu luôn: "khép nép", "khúm núm", "ngập ngừng" và lễ độ " thưa", "bẩm", "lạy"... nhƣng

không bao giờ chị có thể làm dịu đƣợc cái "đằng dằnq sát khí" của bọn ngƣời đã mất hết lòng

nhân.

Có thể nói cơ chế trấn áp bạo lực của hoàn cảnh đã tạo nên một áp lực vừa vô hình lại

vừa hữu hình, truy bức, dồn đuổi những con người khốn khổ vào đƣờng cùng không lối

thoát. Không một nhân vật đáng thƣơng nào đƣợc thƣơng xót, không một nhân vật nào cần

đƣợc nƣơng nhẹ, đƣợc nhẹ tay. Ở đây, chúng tôi chƣa nói tới nhân vật chị Dậu - "người đàn

bà bị săn đuổi", mà nói tới những nhân vật khác quanh nhân vật này.

Trong Tắt đèn, nhân vật cái Tý, thằng Dần, cái Tỉu là những đứa trẻ đáng thƣơng,

vậy mà trong guồng quay của cơ chế trấn áp bạo lực, chúng cũng không đƣợc hƣởng một

chút lòng thƣơng (ngoại trừ của những ngƣời thân yêu nhất). Trái lại, chúng cũng phải chịu

ngọn đòn roi của loài lang sói, Trƣớc lời van xin lội nghiệp của cái Tý cho ngƣời cha ốm yếu

của nó, tên Cai lệ đã "sẵn roi song trong tay quất luôn cho nó mấy cái" khiến "con bé đau

quá. Nó lăn đành đạch xuống đất và nó giẫy giụa nhƣ gà phải nƣớc nóng". Khi sang nhà Nghị

Quế, đứa trẻ mới tám tuổi, cái tuổi lẽ ra phải đƣợc nâng niu chiều chuộng này, lại bị Nghị

Quế tát cho một cái bằng "cái bàn tay hộ pháp" ... Nhƣ vậy, cơ chế trấn áp bạo lực đã thể hiện

sự khắc nghiệt của nó tới cả thế giới trẻ thơ.

74

Nhân vật anh Dậu cũng là một nạn nhân của cở chế trấn áp bạo lực. Ngƣời đàn ông

ốm yếu, tiều tụy này rất cần đƣợc nƣơng nhẹ bởi anh đang ốm rất nặng. Con ngƣời đáng

thƣơng ấy dang bị sốt rét mà vẫn bị trói ở sân đình cho đến khi ngất xỉu mới đƣợc trả về nhà

trong tình cảnh nhƣ "một cái xác" không hồn. Thế rồi, vừa qua cơn thập tử nhất sinh, mới hồi

tỉnh, anh lại lập tức bị tróc nã, đe dọa và đánh đập không thƣơng xót.

Cơ chế của hoàn cảnh Tắt đèn đã không chỉ tác động đến số phận cuộc đời các nhân

vật, mà còn có tác động đến tính cách của các nhân vật (trong đó có những nhân vật vận hành

cơ chế và có những nhân vật là nạn nhân của cơ chế). Trong guồng quay của cơ chế ấy, tính

cách các nhân vật bộc lộ rõ nét: kẻ thực thi, vận hành cơ chế, bộc lộ bản chất tàn bạo dã man,

phi nhân tính ; những nạn nhân của cơ chế, bộc lộ những bản chất tốt đẹp mà trong hoàn cảnh

bình thƣờng có thể không có điều kiện bộc lộ. Ở đây, cơ chế với tƣ cách là một yếu tố thuộc

cấu trúc của hoàn cảnh đã trở thành động lực, đồng thời cũng trở thành cơ sở giải thích tính

cách, hành động nhân vật. Chẳng hạn ở nhân vật chị Dậu: sự truy bức, dồn đuổi trấn áp đã

đẩy chị vào ngõ cụt không có lối thoát và "con giun xéo lắm cũng quằn", ngƣời đàn bà táo

bạo ấy đã buộc phải chống trả quyết liệt. Sự phản kháng của chị thể hiện trong hành động

đánh lại ngƣời nhà lý trƣởng và tên cai lệ là một sự phản kháng tất yếu, dù rằng đó chỉ là

hành động tự phát. Nhƣng hành động tự phát đó là kết cục tất yếu trƣớc áp lực của hoàn cảnh

và tinh thần phản kháng tiềm tàng ở ngƣời phụ nữ nông dân ấy. Trong quá trình vùng vẫy

giữa "cái thiên la địa võng" (Nguyễn Tuân) mà bọn cƣờng hào quan lại giăng mắc, chị Dậu ít

nhất đã ba lần phản kháng và cả ba lần chị đều là ngƣời chiến thắng, ở đây, cái cơ chế trấn áp

bạo lực tạo nên hoàn cảnh khắc nghiệt đen tối đã trở thành một "cơ hội" để nhân vật chị Dậu

bộc lộ những phẩm chất cao đẹp.

75

2.4. Không khí náo loạn, căng thẳng

Đọc Tắt đèn một số nhà nghiên cứu đã khẳng định thành công của Ngô Tất Tố trong

việc tạo không khí cho hoàn cảnh. Đó là cái không khí ngột ngạt, giông bão, oi nồng, không

khí kinh hoàng loạn lạc của nông thôn Việt Nam trƣớc cách mạng trong những ngày sƣu

thuế. Nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện sự cảm nhận của mình về cái không khí đƣợc thể

hiện một cách nghệ thuật ấy: "Tôi thấy cả người mình ngột ngạt, thấy đêm quanh mình như là

một đêm có báo bão. Mạnh hơn cả chất nổ của chai rượu bên đèn đã cạn dần, văn truyện của

Ngô Tất Tố dựng tôi dậy".

Nhƣ vậy, vấn đề không khí của hoàn cảnh trong tác phẩm Tắt đèn đã đƣợc khẳng

định. Nhƣng vấn đề đặt ra là những gì đã tạo nên không khí ấy? Nếu không thấy đƣợc căn

nguyên ấy thì nhận xét vẫn chỉ là nhận xét, hay nhƣ ở Nguyễn Tuân, vẫn chỉ là sự cảm nhận,

là nhận thức cảm tính.

Ở đây, chúng tôi muốn tìm hiểu những gì tạo nên không khí ngột ngạt giông bão, oi

nồng, kinh hoàng, loạn lạc đó của tác phẩm, nghĩa là tìm hiểu không khí của hoàn cảnh Tắt

đèn nhƣ một yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh.

Cần phải khẳng định rằng, không khí là trạng" thái tinh thần, là không khí xã hội đƣợc

toát ra từ toàn bộ tác phẩm, đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật từ chỉnh thể tác phẩm, bởi vậy

tất cả những yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh Tắt đèn đã đƣợc nghiên cứu, khảo sát

trên đây nhƣ: hệ thống nhân vật cơ chế, mâu thuẫn, đều có tác dụng tạo không khí cho hoàn

cảnh, nghĩa là mang lại cho hoàn cảnh Tắt đèn tính nghệ thuật. Những yếu tố ấy đan dệt nên

hình tƣợng hoàn cảnh trong tác phẩm, một hình tƣợng có sức truyền cảm ám ảnh mạnh mẽ

tới ngƣời dọc, dù rằng đấy là một hình tƣợng vô hình, không có dung mạo, ngoại hình, ngôn

ngữ, cử chỉ nhƣ những hình tƣợng nhân vật.

Nhƣng bên cạnh những yếu tố nằm trong hệ thống cấu trúc của hoàn cành ấy, còn có

một số hệ thống yếu tố tín hiêu nghệ thuật khác phần vào việc tạo không khí cho hoàn cảnh

mà chúng tôi đã khảo sát và minh chứng

76

2.4.1. Những âm thanh tạo không khí.

Hiện lên trong nhiều tác phẩm của Nam Cao là một không gian làng quê vắng lặng,

hoang vu, tiêu điều, xơ xác trong cái nghèo đói, một không gian "u tịch" đôi khi chết lặng vì

cái nắng trưa gay gắt của mùa hè, xao xác vào những ngày cuối thu, tả tơi khi những ngày

mưa bão, quạnh vắng vào những đêm trăng ; một không gian nhiều khi nhƣ chết lặng đến nỗi

ngƣời ta có thể nghe thấy tiếng "thở ra u ám" của những "giậu tre rậm như rừng" và "những

khu vườn hẻo lánh tựa tha ma" (Nửa đêm). Còn không gian làng quê trong Tắt đèn của Ngô

Tất Tố lại luôn ồn ào, náo động bởi những âm thanh mang màu sắc bạo lực khủng khiếp

trong những ngày sƣu thuế.

Trong thế giới âm thanh ấy, nổi bật là những âm thanh báo hiệu mùa sƣu thuế, âm

thanh của sự dồn đuổi, thúc ép, đe dọa, đó là âm thanh của tiếng trống, mõ, hiệu ốc, hiệu

sừng, tù và: "suốt năm ngày nay, ngày nào cũng vậy, mõ cá, trống thúc liên hồi, hiệu ốc, hiệu

sừng inh ỏi. Suốt từ sáng sớm cho đến tối mịt, trong làng lúc nào cũng như có đám đánh

cướp". Những âm thanh náo loạn ấy không chỉ xuất hiện một lần mà nó cứ trở đi trở lại nhiều

lần trong tác phẩm. Cứ sau một đoạn trần thuật, sau một vài sự việc, sự kiện, âm thanh ấy lại

đƣợc nhà văn tái hiện và trở thành một sự ám ảnh khôn nguôi. Chỉ trong khoảng diễn biến

câu chuyện hai ngày, đã hơn mƣời lần tác giả tái hiện những âm thanh ấy. Nó trở thành một

điệp khúc, không cho cái làng Đông Xá vốn tĩnh lặng vào những ngày bình thƣờng ấy đƣợc

yên tĩnh mà luôn tràn ngập một không khí bạo loạn khủng khiếp, không khí của cái loạn

"cƣớp ngày là quan". Những âm thanh "như có dám đánh cướp ấy" có khi dội lại từ xa: "xa

xa trong nẻo đình, một hồi mõ cá thật dài tiếp luôn đến trống ngũ liên nên đủ ba hồi chín

tiếng" , "một hồi hiệu ốc rúc từ ngoài đình rúc vào". Có lúc nó lại nhƣ chát chúa bên tai: "Mõ

cá trên cột đình lại há miệng nhận những dùi giận dữ. Trống cái dưới xà đình lại lì mặt chịu

những cái nện phũ phàng". Những âm thanh nhƣ có loạn ấy trải ra khắp không gian ("Tiếng

chó sủa, tiếng ngƣời hét, tiếng hiệu rúc thổi báo động suốt cả mấy xóm") và kéo dài theo thời

gian ("ngoài đình, trống lại thúc, mõ lại khua, tù và rúc liên thanh bất tử", "suốt từ sáng sớm

đến tối mịt").

77

Nói tới những âm thanh tạo không khí cho hoàn cảnh Tắt đèn, còn phải nói tới một

hệ thống âm thành chắc rằng có nằm trong dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Đó là tiếng chó

sủa. Những âm thanh rất bình thƣờng ấy của mọi làng quê, ở đây lại trở nên bất thƣờng, bởi

nó đƣợc tái hiện nhiều lần và cứ trở đi trở lại trong tác phẩm. Nó trở thành một điệp khúc dữ

dội trong bản nhạc kinh hoàng của làng Đông Xá ngày sƣu thuế. Điều đáng chú ý là những

âm thanh báo hiệu sự bất thƣờng ấy bao giờ cũng là những âm thanh của một đàn, một bầy.

Hình nhƣ lũ thú dữ bốn chân này cũng cấu kết với bọn thú dữ hai chân đe dọa trấn áp và sẵn

sàng nhảy bổ vào cắn xé những ngƣời dân hiền lành vô tội. Đó là "đàn chó dữ như đàn hùm

vây kín xung quanh chị Dậu nhƣ quân đèn cù" trong dinh cƣ của vợ chồng Nghị Quế "con

nào con nấy nhe răng lè lưỡi" lăm le lao vào cắn xé ngƣời đàn bà đáng thƣơng trong tay chỉ

có một thứ vũ khí tự vệ là cái nón rách. Đó là "đàn chó chui trong gậm đình, chực cƣớp

xƣơng rơi, con nọ cắn con kia ý ẳng". Âm thanh của những tiếng "chỗ sủa vang khắp xóm" ,

"tiếng chó sủa xô xát", "đàn chó bên đường sủa vang", "đàn chó hàng xóm thi nhau sủa từ

ngõ sủa vào" ... làm cho cái không gian làng Đông Xá bé nhỏ ấy vốn đã náo động bởi tiếng

trống, tiếng mõ, tiếng tù và, lại càng trở nên náo động hơn. Nó trở thành âm thanh dây

chuyền dăng đầy các xóm ngõ gần xa. Những ngƣời nông dân hiền lành cùng khổ nhƣ bị bủa

vây trong cái lƣới âm thanh đầy đe dọa khủng khiếp ấy. Nó theo bƣớc chân của bọn đầu trâu

mặt ngựa đang lùng sục, tróc nã những kẻ thiếu sƣu: "văng vẳng trên nẻo xa có tiếng chó sủa.

Rồi nhƣ theo một vệt đƣờng những giọng ăng ẳng kế tiếp nhau, ganh thi nhau, dần dần lại

dần dân lớn thêm. Nó xô xát dữ dội ở mấy nhà giữa xóm và nó kéo dài vào ngõ láng giềng

nhà chị Dậu". Có lẽ, ngƣời đọc dù vô tâm đến mấy cũng không thể không liên tƣởng giữa

bầy chó dữ đang sủa vang nơi hang cùng ngõ hẻm ấy với bọn cƣờng hào chức dịch cũng đang

tỏa đi khắp mọi ngả để gầm ghè, hậm họe, xâu xé ngƣời dân và xâu xé lẫn nhau.

78

Trong thế giới âm thanh của xã hội Tắt đèn, còn có một hệ thống âm thanh rất tạo

không khí cho hoàn cảnh. Nó cùng với hệ thống âm thanh tiếng trông, mõ, tù và, hiệu sừng,

hiệu ốc và âm thanh tiếng chó sủa trên mọi nẻo đƣờng ngõ xóm góp phần tạo nên cái không

khí căng thẳng, ngột ngạt đầy giông bão của hoàn cảnh. Đó là âm thanh dữ dội, náo động,

kinh hoàng của những tiếng: la, hét, quát, thét, mắng, gắt, chửi bới.....của bọn cƣờng hào

chức dịch trong khi tróc nã, thúc giục, trấn áp những ngƣời dân cùng khổ thiếu sƣu. Trong

không gian tràn ngập những âm thanh đầy đe dọa khủng bố ấy, mộtt tiếng "dạ" phát ra từ cửa

miệng bọn chức dịch trƣớc quan trên cũng không hề nhỏ nhẹ nhƣ lẽ thƣờng phải thế ( Quan

phủ vênh cái mặt nặng chình chịch và đập tay xuống mặt bàn: - Không đóng sƣu ! lại đánh cả

lính ! Nó định làm giặc à ? Bắt cổ nó ra đây!". Một tiếng dạ vang năm gian đình..."). Ở phần

cơ chế của hoàn cảnh và hệ thống nhân vật tĩnh - phản diện, chúng tôi đã khảo sát hệ thống

những âm thanh rất tạo không khí cho hoàn cảnh này, bởi vậy ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói

thêm rằng hệ thống những âm thành tiếng ngƣời đó cùng với hệ thống âm thanh tiếng vạt( tù

và, trống mõ, hiệu ốc, hiệu sừng) và âm thanh tiếng chó ... đã đan dệt nên một mớ tạp âm

loạn xạ, gay gắt, chất chứa, kinh hoàng. Không khí náo loạn căng thẳng của hoàn cảnh Tắt

đèn đã toát lên từ đó.

2.4.2. Những hình ảnh tạo không khí cho hoàn cảnh Tắt đèn.

Trong tác phẩm Tắt đèn có một số hình ảnh đã trở thành hệ thống yếu tố nghệ thuật

trong việc tạo không khí cho hoàn cảnh.

Trƣớc hết là bức tranh thiên nhiên. Cũng nhƣ nhiều nhà văn hiện thực khác, Ngô Tất

Tố ít miêu tả thiên nhiên. Chúng tôi nghĩ điều này không phải do năng lực, sở trƣờng. Phải

chăng, các nhà văn hiện thực chỉ tập trung bút lực vào việc phản ánh hiện thực xã hội, cái mà

họ chú ý hƣớng tới để quan sát, suy ngẫm và phản ánh là hiện thực cuộc sống con ngƣời ?

Thiên nhiên không phải là đối tƣợng cảm hứng chủ đạo của các ngòi bút hiện thực. Nhƣng

khi cần, các nhà văn hiện thực cũng miêu tả thiên nhiên. Và với Ngô Tất Tố, có thể nói rằng

nhà văn đã rất thành công trong việc miêu tả thiên nhiên.

79

Ngay từ khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố ra đời, Phú Hƣơng trên báo Đông Dƣơng số 10,

ngày l/9/1939 đã khẳng định sự thành công của tác giả Tắt đèn về tài năng tả cảnh: "Nghệ

thuật tả cảnh của ông đã đạt tới một trình độ khá cao, có thể cho phép ta đặt ông ngang bằng

với các nhà văn sĩ trong Tự lực văn đoàn về mặt ấy. Những câu tủ cảnh thần tình rất nhiều..."

Tuy nhiên hình ảnh thiên nhiên trong Tắt đèn chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Nó chỉ là

những hình ảnh điểm xuyết trên cái nền hiện thực, làm nổi bật cái nền hiện thực và tâm trạng,

số phận con ngƣời. Có lẽ bởi vậy mà trong các công trình nghiên cứu về Tắt đèn sau này

phƣơng diện này ít đƣợc chú ý. Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Tắt đèn, và ở

cấp độ bên trong cấu trúc đó là lớp không khí của hoàn cảnh, chúng tôi thấy, không thể bỏ

qua hệ thống tín hiệu nghệ thuật này.

Không khí ngột ngạt, oi nồng, đầy giông bão toát ra từ tác phẩm Tắt đèn là cảm nhận

chung của nhiều độc giả sau khi đến với kiệt tác bằng văn xuôi này. Một trong những yếu tố

đem lại hiệu quả tác động đó là bức tranh thiên nhiên, cảnh vật mà ở đây nổi bật là hình ảnh

ánh nắng mặt trời. Đây cũng là một tín hiệu nghệ thuật đƣợc xuất hiện trở đi trở lại nhiều lần

trọng tác phẩm. Hình ảnh ấy hiện lên không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà nó còn

góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh. Tất nhiên, đôi khi hình ảnh ánh nắng mặt trời ấy cũng

chỉ xuất hiện nhƣ một yếu tố biểu thị thời gian. Đó là ánh nắng "xuống thềm gần một hàng

gạch. Xe lửa "một giờ" toe loe hét còi" khi chị Dậu đang làm văn tự bán con ở nhà Nghị Quế

; ánh nắng "chênh chếch nhòm vào gốc đa gốc gạo" lúc xế chiều khi chị Dậu vào định xin

chữ ký của lý trƣởng ; ánh nắng "luồn qua chấn song sắt soi chỗ anh Dậu" đang bị trói trong

đình ... Nếu chú ý, ta thấy ánh nắng trong Tắt đèn chủ yếu là ánh nắng chiều, thứ ánh nắng

vừa gay gắt vừa sắp tàn lụi hắt hiu. Ánh nắng ấy nhƣ cùng với âm thanh quát thét, chửi bới,

tiếng trống, mõ, tù và, hiệu sừng, hiệu ốc ; tiếng chó sủa ran khắp ngóc ngách xóm thôn... làm

cho không gian nhỏ bé

80

của cái làng quê ấy vốn đã ngột ngạt càng trở nên oi nồng. Nó nhƣ "hun" thêm cho cái không

khí vốn đã ngột ngạt bức bối của những quan hệ xã hội đang ở thời kỳ cao điểm trong mùa

sƣu thuế. Trong không gian ngột ngạt oi nồng ấy, quả thực - nhƣ tạc giá đã dùng một hình

tƣợng rất phù hợp, chính xác - những ngƣời nông dân, cùng khổ thiếu sƣu cứ "như con kiến

bò trong chảo nóng" không biết chạy đƣờng nào để thoát khỏi cái "vùng khí hậu" nóng bức

đến nghẹt thở đó.

Cái không khí ngột ngạt oi nóng giông bão của Tắt đèn dƣờng nhƣ cứ tăng dần lên

theo thời gian, theo diễn biến của các sự kiện. Trong cái ngày đầu tiên xảy ra câu chuyện

(theo dòng trần thuật), ánh nắng mặt trời mỗi lúc một thêm gay gắt. Thậm chí có lúc, dƣờng

nhƣ tự nó cũng bứt rứt vì cái oi ả của chính mình ("ánh nắng bứt rứt chiếu đến nửa sân

đình"). Cái ngột ngạt, oi nồng của không gian làng quê ngày sƣu thuế cùng với ánh nắng ấy

tác động tới cả những con vật vốn quen với sự khắc nghiệt của thời tiết ("mấy con trâu bò

vẫn nằm gò lưng dưới những gốc xạo, gốc đa, hơi thư trong cổ họng kéo ra hồng hộc").

Chị Dậu đã sang nhà Nghị Quế dạm bán con trong cái "ánh nắng tháng năm rát như

lửa chàm vào mặt. Hơi nước dưới đồng bốc lên, nóng như bơi trong chõ xôi", ánh nắng ấy

gay gắt đến nỗi: "Những con cua chửa và những con rắn nước chịu không nổi sức nóng của

nước ruộng, rủ nhau bò lên mặt đường và núp vào các khóm cỏ". Dƣới ánh nắng ấy, đoạn

đƣờng ba cây số từ Đồng Xá tới Đoài Thôn " người ta coi như con đường thiên lý trong bãi

cát già". Cũng trong ngày hè xảy ra bao sự kiện, bao cảnh ngộ thƣơng tâm ấy, chị Dậu đã

phải mang đứa con gái mới bẩy tuổi và đàn chó con mới mở mắt đi bán khi "nắng tây gay gắt

đến nửa thềm". Và chị đã "cố sống cố chết, nhũng nhẵng dẫn con và chó lẽo đẽo dưới ánh

nắng mùa hè". Cho đến mấy ngày sau, "ngƣời đàn bà táo bạo" ấy bị giải lên hầu quan phủ vì

tội "đánh lại ngƣời nhà nƣớc" (và có lẽ cũng bởi nhan sắc của chị). Chuyến đi lên huyện

đƣờng ấy của

81

chị diễn ra trong một không gian đầy Giống tố "trời đang nắng gắt, tự nhiên thấy tối sầm lại .

Một đám mây đen lù lù tiến từ phía từ phía nam lên phía bắc. Chân trời nhấp nhoáng hiện lên

mấy luồng chớp. Tiếng sấm, tiếng sét theo cơn giông đồng thời kéo đến. Nƣớc mƣa đổ xuống

ầm ầm". Tƣởng rằng, cơn mƣa nhƣ thác đổ ấy sẽ làm dịu đi cái oi ả ngột ngạt của không gian

đất trời. Nhƣng sau trận Giống tố ấy, chị Dậu lại bị giải đi khi "ánh nắng lại ở trên đầu dội

xuống như thiêu như đốt". Nhƣ vậy, hình ảnh ánh nắng mặt trời trong Tắt đèn với tần số xuất

hiện của nó đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật và cũng không nằm ngoài dụng ý nghệ thuật của

nhà văn.

Nếu nhƣ nói rằng, không phải là ngẫu nhiên mà Ngô Tất Tố đã chọn thời điểm nông

thôn Việt Nam trong những ngày sƣu thuế làm bối cảnh cho Tắt đèn, thì cũng có thể nói

rằng, có lẽ không phải ngẫu nhiên, nhà văn lại đặt những ngày sƣu thuế ấy vào những ngày

hè oi ả với ánh mặt trời luôn gay gắt, chói chang nhƣ thiêu đốt. Nếu thời điểm câu chuyện

diễn ra vào mùa xuân hay mùa thu, thì không thể có hình ảnh ánh mặt trời nhƣ thế, không khí

ngột ngạt bão giông của hoàn cảnh Tắt đèn chắc sẽ giảm đi đáng kể và hiệu quả truyền cảm

của tác phẩm cũng vì thế mà giảm đi không ít.

Trong thế giới thiên nhiên của Tắt đèn bên cạnh hình ảnh nắng mặt trời hình ảnh

trăng cũng là một hình ảnh có ý nghĩa. Trong đêm đầu tiên cái Tý phải xa bố mẹ và các em,

hình ảnh này xuất hiện trong tác phẩm tám lần. Điểm đặc biệt là trăng đêm ấy là trăng sáng,

là "vầng trăng" chứ không phải "mảnh trăng". Dƣới ánh trăng ấy " mặt nước các ao đã lóng

lánh như nồi vàng đang chảy", nó làm cho không gian tràn ngập ánh trăng: "Trước thềm sáng

như ban ngày". Và khi về khuya " vầng trăng thăm thẳm từ trên đỉnh đầu chiếu xuống" lúc

này không gian trở nên cao rộng hơn, đỡ ngột ngạt oi nồng : " Bầu trời trong vắt như một

khối thủy tinh. Gió nồm từ các ngọn cây đưa lại hiu hiu. Bóng là tre in dưới sân rêu luôn

luôn lay động như những đám bèo nổi trên mặt sóng ". Thế rồi "vầng trăng lui xuống phía

sau lũy tre.

82

khuất dưới bóng tà khoảng khuếch chỗ vàng chỗ đen giống như bức tranh thủy mặc ". mặc".

Không gian làng Đông Xá trở nên tĩnh lặng, nó đối lập với cái không gian náo động ầm ĩ ban

ngày. Nhƣng toát ra từ những bức tranh thiên nhiên ấy, ta vẫn cảm thấy một không khí lạnh

lẽo, đìu hiu. Bởi vẻ đẹp của đêm trăng nhƣ tƣơng phản với cảnh ngộ của chị Dậu - thiên

nhiên dƣờng nhƣ cũng vô tình trƣớc những khổ đau, dằn vặt trong trái tim của ngƣời mẹ vừa

phải dứt tình mẫu tử. Vẻ đẹp của đêm trăng "nhắc cho chị cái đời ngây thơ của chị ngày

xưa", đó là cái thời, vào "những đêm trời khô trăng sáng như đêm nay, chị vẫn luôn nô đùa

với trẻ con hàng xóm. Chúng nó đã giở ra với chị chị biết bao trò trò mua vui. Nào nhảy nô,

nào hú tim, nào đánh rồng rắn... ". Cho đến thi trời gần sáng "dưới mái lụp xụp của túp lều

tranh, chị Dậu và vầng trăng án thơ thẩn nhìn nhau, dường như đôi bên đều có riêng một

niềm tâm sự ". Một không khí lạnh lẽo, lụi tàn, ảm đạm, buồn thƣơng toát ra từ hình ảnh vầng

răng tàn ùa ấy. Nó góp phần làm nổi bật tình cảnh bi thƣơng của gia đình chị Dậu và cũng tạo

không khí cho hoàn cảnh.

Không khí náo động, ngột ngạt bão giông của làng Đông Xá dƣờng nhƣ lƣợc dịu đi

mỏi khi hoàng hôn buông xuống. Cái ồn ào, ầm ĩ của tiếng trống, nõ, hiệu ốc, hiệu sừng và

tiếng quát thét chửi mắng tạm qua đi. Không gian làng quê lại rơi vào sự tĩnh lặng đầy tử khí.

Nó toát ra từ hình ảnh "đàn quạ khoang dập dìu là xuống các bãi tha ma", từ âm thanh "tiếng

cuốc kêu khi thưa khi nhặt khắc khoải hòa với tiếng rền rĩ run khóc của giun dế vườn hoang",

từ " tiếng ghê sự buồn rầu có thể tưởng như là ma quái" của con cú kiếm mồi trong đêm ...

và bao trùm lên tất cả là sự im lặng đến rờn ngợp, sự im lặng của một bãi tha ma không còn

chút sinh khí, sự sống hình nhƣ không còn tồn tại nơi đây: "Tuy mới chập tối, các nhà đã

không còn chút đèn lửa", các xóm đều im phăng phắc như cánh đồng không". Sự tĩnh lặng

đầy ma quái ấy sẽ qua đi khi một ngày mới lại bắt đầu. Nhƣng nó không bắt đầu bằng ánh

bình minh với tiếng chim líu lo và những giọt sƣơng long lanh đậu trên cành lá

83

nhƣ hình ảnh đầy thi vị trong một số tác phẩm văn học lãng mạn đƣơng thời, mà nó sẽ lại bắt

đầu bằng những tiếng chửi bới, hò, hét, quát, thét, tiếng trống mõ chó sủa dồn đuổi những

ngƣời dân chƣa trả xong "món nợ nhà nƣớc".

Ở phần mâu thuẫn (mục 2.3) nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh, chúng tôi đã nói tới

hình ảnh những giọt nƣớc mắt của chị Dậu trong cảnh ngộ phải bán con, để chứng minh cho

nỗi đau giằng xé trong trái tim ngƣời mẹ bất hạnh và làm nổi bật mâu thuẫn giữa quyết định

phải bán con của chị với tình mẫu tử. Đến đây chúng tôi lại nói tới những dòng nƣớc mắt khổ

đau ấy của chị và của một số nhân vật khác trong hệ thống những hình ảnh tạo không khí cho

hoàn cảnh và tác động truyền cảm mạnh mẽ tới ngƣời đọc.

Theo thống kê của chúng tôi, trong khoảng hơn một trăm trang của tiểu thuyết Tắt

đèn thì cũng có tới hơn chín mƣơi lần, Ngô Tất Tố miêu tả nhân vật khóc hoặc tái hiện hình

ảnh những giọt nƣớc mắt. Có thể nói đây là một tần số khá cao so với dung lƣợng tác phẩm.

Thử so sánh với hai cuốn tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực cùng thời ta thấy đƣợc điều

đó: Tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng dài 233 trang, tác giả miêu tả tiếng khóc, dòng nƣớc

mắt của các nhân vật 21 lần; tiểu thuyết Bƣớc đƣờng cùng của Nguyễn Công Hoan dài 270

trang, tác giả cũng chỉ miêu tả liếng khóc, dòng nƣớc mắt của nhân vật 7 lần.

Nhƣ vậy nếu nói Tắt đèn là một bản tố khổ chan hòa nƣớc mắt là rất xác thực. Nhƣng

chúng tôi muốn nói thêm rằng, hình ảnh những dòng nƣớc mắt chan hòa chảy dài, thấm đẫm

trên từng trang sách ấy không chỉ góp phần thể hiện tính cách nhân vật, làm nổi bật vẻ đẹp

lung linh trong tình cảm đối với chồng con của chị Dậu" mà còn có tác dụng nghệ thuật tạo

không khí cho hoàn cảnh.

Chỉ riêng những dòng nƣớc mắt của chị Dậu và tiếng khóc của chị cũng đã hiện lên

trong tác phẩm tới 58 lần với rất nhiều cung bậc cảm xức trong những; cảnh ngộ khác nhau.

Có khi nƣớc mắt của ngƣời phụ nữ giàu tình yêu

84

thƣơng và dễ xúc động ấy chỉ là "rơm rớm", "sụt sùi", "rưng rưng", thậm chí chỉ là "những

tiếng thổn thức" nhƣng chủ yếu là những dòng nƣớc mắt chứa chan không thể kìm nén, dòng

nƣớc mắt tuôn trào từ những nỗi khổ đau, cay đắng, tủi nhục chất chứa: "nước mắt chảy qua

gò má ròng ròng", "chan chứa hai hàng nước mắt", "vừa nói vừa nước mắt giàn giụa", "nước

mắt ngắn nước mắt dài", "những giọt nước mắt rơi xuống càng mau", "lã chã hai hàng nước

mắt..." , "khóc nức nở", "cái mặt chan hoa nước mắt", "nước mắt rơi lã chã", "nước mắt theo

sự nghĩ ngợi chẳng ra như mưa", "những giọt nước mắt chứa chan", "thánh thót hai hàng

nước mắt", "nước mắt cứ kế tiếp nhau tưới mãi xuống gò má rồi nó trào ra như suối", "nước

mắt lại cứ chan chứa chảy ra ..." ... Trong những dòng nƣớc mắt chứa chan ấy, có dòng nƣớc

mắt của tình mẫu tử; có dòng nƣớc mắt của nỗi xót xa trƣớc cảnh tƣợng ngƣời chồng bị đầy

ải; có dòng nƣớc mắt của nỗi uất ức chua cay vì phải chịu những bất công, ngang trái; có

dòng nƣớc mắt của sự tủi hờn, đau khổ vì bị khinh rẻ, đay nghiến ; có dòng nƣớc mắt tiếc

thƣơng một thời quá khứ hạnh phúc đã một đi không trở lại ... Tất cả những dòng nƣớc mắt

chảy ra từ trái tim của ngƣời phụ nữ nông dân giàu tình thƣơng yêu ấy đều đáng cảm thƣơng,

trân trọng. Nó càng làm nổi bật hơn cảnh ngộ thƣơng tâm, bi thảm của ngƣời đàn bàn khốn

khổ ấy.

Nhƣng trong Tắt đèn đâu chỉ hiện lên những dòng nƣớc mắt của chị Dậu? bản tố khổ

chan hoa nƣớc mắt ấy còn thấm đẫm nƣớc mắt của chồng, con ngƣời vợ, ngƣời mẹ dáng

thƣơng ấy, nhất là dòng nƣớc mắt của hai đứa trẻ. Đã nhiều lần ta thấy cái Tý, thằng Dần phải

khóc. Nhƣng chúng không phải khóc vì tranh giành, tị nạnh nhƣ những đứa trẻ đƣợc nuông

chiều. Chúng không khóc vì đòn roi của cha mẹ (thậm chí ta không thấy cha mẹ chúng nặng

lời với chúng một câu). Cái gia đình nông dân ấy nghèo lắm, nhƣng cũng hoà thuận thƣơng

yêu nhau lắm. Sự khổ đau cùng cực có thể khiến họ phải khóc, khóc rất nhiều nhƣng họ

không vì thế mà trách móc, cãi cọ, đay nghiên nhau (nhƣ một số gia đình khác trong tác

phẩm Nam Cao).

85

Xem lại các cảnh huống dẫn tới những dòng nƣớc mắt của hai nhân vật bé con này,

thật cảm động, ta thấy đó là những dòng nƣớc mắt của tình thƣơng, đặc biệt là tình cảm chị

em giữa cái Tý và thằng Dần. Nghe thấy chị Dậu nói chuyện bán cái Tý, thằng Dần "oà

khóc"," khóc dữ,"khóc tru tréo", "khóc rầm rĩ" ... trƣớc cái tin dữ dội ấy, cái Tý cũng "oà lên

khóc", "khóc rưng rức", "khóc hu hu". Thật xót xa trƣớc hình ảnh "cái Tý với hai hàng nước

mắt ròng ròng, hôn hít các em" trƣớc giờ phút phải từ biệt gia đình sang nhà Nghị Quế. Tại

nhà tên địa chủ bạc ác bất nhân này, bên rá cơm thừa của chó, cái Tý lại phải khóc, "nước

mắt chảy ra như mưa". Và đến phút giãy cuối cùng đƣợc bên mẹ, dƣờng nhƣ hiểu rằng khó

có dịp đƣợc gặp lại ngƣời mẹ hiền nghèo khó của mình "cái Tý ôm chấm lấy mẹ khóc như

mưa như gió".

Trong cái đêm đầu tiên phải xa cái Tý, chị Dậu đã phải khóc rất nhiều vì nhớ thƣơng

con và thằng Dần "thấy chị khóc nó càng khóc dữ". Trƣớc đó, lúc mẹ nó ở nhà Nghị Quế

chƣa về, thằng bé mới năm tuổi đầu này đã phải khóc đến khàn cả tiếng. Thậm chí "nó đã kêu

gào nhiều quá, cổ rát, hơi hết, nó chỉ có thể đưa ra những tiếng khô khan như người khóc

thầm". Rồi đến lúc "nó khóc nhưng không ra tiếng, chỉ có cái miệng hông hốc há ra nhƣ

miệng cá mè". Và nó thiếp đi trông rất tội nghiệp, nhƣng trong giấc mơ nó lại chợt nhớ tới

chị rồi lại " oà lên khóc". Tỉnh dậy, nhớ chị nó lại "khóc nức nở ", "khóc rầm rĩ, " khóc hu

hu" và giục mẹ đi tìm chị nó ...

Tìm hiểu Giọng điệu nghệ thuật và chủ nghĩa cảm thƣơng trong Truyện Kiều, Trần

Đình Sử nhận xét: " Truyện Kiều đúng là một tiếng kêu đau đớn, da diết. Đọc Truyện Kiều

không ai quên đƣợc những kêu than thống thiết, nhan nhản khắp nơi dƣới nhiều hình thức

trong tác phẩm (...). Tƣơng ứng với tiếng kêu thƣơng, Truyện Kiều tác phẩm đẫm nƣớc mắt.

Có thể nói Truyện Kiều là tác phẩm nhiều nƣớc mắt bạc nhất nong các truyện Nôm" [230.9-

10]. Ta cũng có thể nói nhƣ vậy về Tắt đèn của Ngô Tất

86

Tố Tắt đèn cũng là một Đoạn trƣờng tân thanh cất lên từ xã hội Việt Nam 1930-1945.

Những lời kêu than xé lòng của chị Dậu ("Ối trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và hai gánh

khoai mới đƣợc hai đồng bẩy bạc. Tƣởng rằng đủ tiền nộp sƣu cho chồng thì chồng tôi khỏi

bị hành hạ đêm nay ? Ai ngờ lại còn xuất sƣu của ngƣời chết nữa! Khốn nạn thân tôi ! Trời ơi

! Em tôi chết rồi còn phải đóng sƣu, hởi trời ? Tôi biết đâm đầu vào đâu cho đƣợc hai đồng

bẩy bạc bây giờ ?") ; của cái Tý ("U bán con thật đấy ƣ ? Con van u, con lạy u, con còn bé

bỏng, u dừng đem bán con đi, tội nghiệp ! u để cho con ở nhà chơi với em con. ") ; của thằng

Dần("Em không ! Nào ! Em không cho bán chị Tý ! Nào ! Nào ...")... đã và sẽ còn làm xúc

động nhiều thế hệ. Cũng có thể nói rằng, Tắt đèn là tác phẩm nhiều nƣớc mắt bộc nhất trong

các tác phẩm của trào lƣu văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Và cũng

nhƣ Truyện Kiều "Nó tiếp nối mạch văn chƣơng thƣơng thân, xót đời từ Chinh phụ ngâm

khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai tƣ vãn (...) tiếp tục cho đến Cảm thu, Tiễn thu, Thảm mả cũ

bên đƣờng ... của Tản Đà, Giọt lệ thu của Tƣơng Phố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách

..."[230.12]. Nghĩa là Tắt đèn cũng nằm trong nguồn mạch của chủ nghĩa cảm thƣơng trong

văn học Việt Nam và là sự tiếp nối của nguồn mạch đó. Bởi vậy: "Tắt đèn không chỉ là loại

tiểu thuyết mà ngƣời ta cần dọc mỗi khi muốn hình dung ra đời sống cùng cực ở nông thôn

Việt Nam trƣớc 1945. Tắt đèn còn là loại tiểu thuyết mà ngƣời đọc giàu tình cảm dễ ứa nƣớc

mắt "[177.49].

Hình ảnh những dòng nƣớc mắt và tiếng khóc nức nở của chị em cái Tý và ngƣời mẹ

đáng thƣơng của chúng cứ ám ảnh mãi trong tâm trí ngƣời đọc về cuộc sống bi thảm đầy khổ

đau và nƣớc mắt của những ngƣời nông dân cùng khổ. Nếu coi Tắt đèn là một bản nhạc bi

thƣơng về tình cảnh khốn cùng của ngƣời nông dân trƣớc nạn sƣu thuế thì những tiếng khóc

đó là những nốt nhân thê thảm nhất xoáy sâu vào tâm can ngƣời nghe, giúp ngƣời ta cảm

nhạn thấm thìa sự khắc nghiệt, bạo tàn của hoàn cảnh.

87

2.4.3. Nhịp điệu hối hả, dồn dập.

Nhịp điệu với tƣ cách là một yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh Tắt đèn đã góp

phần " tạo ra cảm giác vận động của sự sống". Nhịp điệu ấy cũng góp phần phản ánh một

hoàn cảnh ngột ngạt, giông bão, một hoàn cảnh sôi động náo loạn, đầy bạo lực.

Trƣớc hết, nhịp điệu ấy đƣợc tạo nên bởi sự đan xen của những hệ thống chi tiết nghệ

thuật, sự đan xen của những đoạn đối thoại và miêu tả. Nhiều đoạn đối thoại trong Tắt đèn

rất có không khí, rất giàu kịch tính, nghĩa là nó luôn có những xung đột gay gắt. Bởi thế Tắt

đèn dễ chuyển thể thành kịch, thành phim. Và khi chuyển thể, không khí, kịch tính ấy vẫn

không bị mất đi: Cảm tƣởng về bộ phim Chị Dậu, nhà văn Nguyễn Tuân nói: "Văn Ngô Tất

Tố cứ đọc thôi cũng đã thấy nó khỏe rồi. Nay chuyển thứ văn học hiện thực phê phán đó sang

điện ảnh càng thấy nó ghê, nó dữ dội (...) phải nhận rằng văn Tắt đèn khi chuyển sang được

hình và ảnh thì nó kích động người, xem" [242.699]. Có thể thấy rất nhiều đoạn đối thoại

trong Tắt đèn thể hiện cái "dữ dội", cái " kích động" đó, nhƣ đoạn chị Dậu mang con sang

bán cho nhà Nghị Quế; cảnh bọn chức dịch chè chén, gây gổ nhau ở ngoài đình ; cảnh Chị

Dậu tay không đánh lại bọn ngƣời nhà lý trƣởng và cai lệ; cảnh xét xử của tri phủ Tƣ Ân tại

làng Đông Xá ... đan xen với những đoạn đối thoại giàu kịch tính ấy là sự "điểm nhịp" của

các âm thanh tiếng tiếng chó sủa, tiếng quát thét chửi bới, tiếng tù và, trống mõ ... và hình

ảnh những bức tranh thiên nhiên khi thì chói chang gay gắt, lúc thì lạnh lẽo thê lƣơng (mà

chúng tôi đã nói tới ở những phần trƣớc). Theo dòng nhịp điệu ấy, ngƣời đọc dƣờng nhƣ

cũng luôn ở trạng thái căng thẳng. Giáo sƣ Phong Lê đã nói rất đúng về cảm giác này:

"Người đọc truyện nào không cảm thấy tâm lý của mình mỗi lúc một nặng nề hơn một sự ấm

ức, lo ngại. Cứ tỏa rộng dần ra, tưởng chừng bao nhiêu nỗi khổ trên đời đang lẩn lượt được

tập hợp lợi và nâng lên tới tột đỉnh"[ 199-253]. Có lẽ trong suốt chiều dài tác phẩm, chỉ có

một lần ngƣời đọc có đƣợc giây phút hả hê sảng khoái, đó là khi chị Dậu " tức nƣớc vỡ bờ"

nổi dậy đánh lại và đánh thắng hai tên đầu trâu mặt ngựa.

88

Nhịp điệu của hoàn cảnh trong Tắt đèn còn đƣợc tạo nên bởi một nguyên nhân rất

quan trọng. Đó là sự dồn nén thời gian trong đó chồng chất các sự kiện diễn ra.

Nếu so sánh thời gian cốt truyện của tiểu thuyết Tắt đèn với thời gian cốt truyện của

một số tiểu thuyết hiện thực cùng thời nhƣ: Giống tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Bƣớc

đƣờng cùng của Nguyễn Công Hoan, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng ta thấy rằng thời gian cốt

truyện của Tắt đèn là ngắn nhất. Kể từ cái buổi sáng tinh mơ bắt đầu của cốt truyện Tắt đèn

đến cái đêm cuối cùng của chị Dậu "mở cửa chạy té ra sân" chỉ khoảng bảy ngày. Trong đó

những sự kiện chính lại chỉ diễn ra trong vòng ba ngày đầu. Và dồn dập nhất là trong ngày

đầu tiên.

Tiểu thuyết Tắt đèn có 26 chƣơng thì chỉ riêng ngày đầu tiên của cốt truyện đã chiếm

tới 16 chƣơng. Và trong 16 chƣơng bao gồm thời gian vẻn vẹn chỉ có một ngày ấy biết bao sự

kiện đã diễn ra. Sự kiện này vừa qua đi, sự kiện khác đã tiếp nối, sự kiện nào cũng ám ảnh,

gây xúc động: cổng làng đóng chặt từ tinh mơ để tróc nã những kẻ thiếu sƣu ; vì chƣa có tiền

nộp sƣu, chị Dậu bị đánh đập, anh Dậu bị trói điệu ra đình ; chị Dậu sang nhà Nghị Quế dạm

bán con bán chó ; bọn chức dịch chè chén gây gổ với nhau ở ngoài đình ; chị Dậu mang con

đi bán ; tại nhà Nghị Quế, cái Tý phải ăn cơm thừa của chó ; chị Dậu phải đóng thêm một

suất sƣu cho ngƣời em chồng đã chết; chị Dậu với hai đứa con nhỏ đi lang thang trong đêm

anh Dậu gần chết đƣợc trả về...

Sự dồn nén không gian (cái không gian chập hẹp của làng Đông Xá có lũy tre xanh

vây bọc - một không gian tù túng, nhỏ hẹp, bí bó đến nỗi ngay cả "hồi vang của tiếng mõ,

tiếng trống cũng bị những lũy tre ngăn phải lật trở lại") và dồn nén thời gian, với các sự kiện

diễn ra liên tiếp, chồng chéo nhƣ vậy đã góp phần tạo nên nhịp điệu cho hoàn cảnh. Đó là

một nhịp điệu hối hả dồn dập nhƣ chính cái dồn dập, hối hả thúc bách của cuộc sống đang

diễn ra trong những ngày sƣu thuế. Nhịp điệu ấy tạo nên không không khí căng thẳng

89

sục sôi với những tai họa, bất hạnh, khổ dâu liên liếp giáng xuống đầu những ngƣời dân

nghèo khổ. Rõ ràng đấy cũng là một yếu tố tạo không khí và nằm trong cấu trúc của hoàn

cảnh. Và quả thực, đúng nhƣ Phan Cự Đệ nhận xét: "Tắt đèn học đƣợc ở tục ngữ dân gian

cái nghệ thuật tập trung cô đúc, càng nén lại thì càng gây nên những vụ nổ lớn, càng có sức

vang xa rộng trong không gian" [48.(T3).78].

*

* *

Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn, chúng ta đã tiếp cận hoàn

cảnh từ phƣơng diện giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ. Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong

Tắt đèn là một chỉnh thể bao gồm nhiều hệ thống yếu tố. Các hệ thống yếu tố này không tồn

tại tách rời mà có những mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo nên mối quan hệ gắn bó

hữu cơ. Và chính những mối quan hệ này đã sản sinh ra cấu trúc của hoàn cảnh. Nghĩa là nhờ

nó các hệ thống yếu tố đƣợc tổ chức sắp xếp lại tạo nên những hiệu quả nghệ thuật cho hoàn

cảnh của tác phẩm. Hiệu quả ấy là hoàn cảnh đã đƣợc xây dựng một cách nghệ thuật, hoàn

cảnh ấy đã tạo đƣợc không khí. Và không khí của hoàn cảnh đã có tác động truyền cảm mạnh

mẽ tới ngƣời đọc gây những ấn tƣợng sâu sắc. Ý kiến sau đây của Nguyên Tuân đã thể hiện

điều dó: "Tôi thấy cả người mình ngột ngạt, thấy đêm quanh mình như là một đêm có báo

bão, mạnh hơn cả chất nổ của chai rượu bên đèn đã cạn dầu, văn truyện Ngô Tất Tố dựng tôi

dậy..." Nguyễn Tuân cũng đã lý giải nguyên nhân của sự truyền cảm đó: "Trong Tắt đèn cái

gì làm cho tôi xúc động ? cái cốt truyện ư? câu chuyện ư? người trong truyện lí ? cách kể lại,

dựng lại câu chuyện ư? tôi cho là cái cách kể, cách dựng truyện thật quan trọng. Cũng nội

dung Tắt đèn đó người khác kể hoặc dựng thì người tới tôi có thể là rung động kém đi hoặc

không rung động gì cả mà Ngô Tất Tố kể thì tôi đã xúc động thế đó" [xem 241]. Một "cách

kể", "cách dựng truyện" của Ngô Tất Tố mà Nguyễn Tuân nói tới ở đây là nghệ thuật xây

dựng hoàn cảnh của nhà văn.

90

Cấu trúc nghệ thuật hoàn cảnh trong Tắt đèn thể hiện quan niệm nghệ thuật-về hoàn

cảnh của Ngô Tất Tố. Đó là một hoàn cảnh bạo lực mà ở đó có hững thế lực đang nhe nanh,

giơ vuốt sẵn sàng nhảy bổ vào cắn xé nghiền nát những ngƣời dân cùng khổ ; đó còn là một

hoàn cảnh đầy tăm tối, ngột ngạt, bế tắc, trong đó những ngƣời dân khốn khổ chỉ còn biết bất

lực kêu trời.

Nếu so sánh với một số tác phẩm cùng thời của một số các nhà văn Tự lực văn đoàn

viết về đề tài nông dân ta mới thấy hối ý nghĩa, cái nhìn sâu sắc của Ngô Tất Tố về xã hội thể

hiện qua quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh.Xuất phát tƣ những quan niệm nghệ thuật khác

nhau về hoàn cảnh, mà toát ra từ Tắt đèn của Ngô Tất Tố là không khí ngột ngạt giông bão;

còn toát ra từ một số tác phẩm viết về ngƣời nông dân của các nhà văn Tự lực văn đoàn lại là

không khí yên ả, thanh bình thơ mộng và ở đó quan hệ giữa kẻ giàu với ngƣời nghèo là

những mối quan hệ hữu hảo, đầm ấm, tƣơi vui (Gia đình, Con đƣờng sáng...)

Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô Tất Tố đã chi phối với việc xác lập cấu

trúc hoàn cảnh trong Tắt đèn ; chi phối tới việc lựa chọn hệ thống các chi tiết nghệ thuật.

Toàn bộ những hệ thống chi tiết nghệ thuật với những mối liên hệ của nó đã tạo nên tổng thể

cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Bởi vậy nếu phân tích, cảm nhận hoàn cảnh Tắt đèn mà

chỉ chú ý tới mâu thuẫn xung đột giai cấp đƣợc thể hiện là đúng nhƣng chƣa đủ. Hoàn cảnh

phải đƣợc phân tích và cảm nhận từ tổng thể nhiều yếu tố cấu thành nên nó. Phải với cái nhìn

đó mới thấy hết giá trị nghệ thuật - thẩm mỹ của hoàn cảnh, thấy đƣợc cái nhìn sâu sắc và tài

năng nghệ thuật của nhà văn.

Trong văn học hiện thực, hoàn cảnh luôn gắn liền với việc thể hiện tính cách nó chỉ có

ý nghĩa thực sự khi thể hiện đƣợc tính cách, số phận của nhân vật. Tìm hiểu cấu trúc nghệ

thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn chúng ta càng thấy rõ điều đó. Các hệ thống yếu tố trong

cấu trúc của hoàn cảnh Tắt đèn đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện số phận, tính cách

nhân vật: từ cơ chế tác

91

phẩm ; những mâu thuẫn xung đột, kịch tính; hệ thống các nhân vật chính diện, phản diện đến

không khí tác phẩm. Cũng từ đây chúng ta thấy nảy sinh một vấn đề cần lƣu ý: khi nói phân

tích tính cách nhân vật của chủ nghĩa hiện thực không chỉ luôn đặt nó trong mối liên hệ với

hoàn cảnh mà còn phải ý thức rằng hoàn cảnh đó không phải là hoàn cảnh xã hội mà phải là

hoàn cảnh xã hội đã đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật, nghĩa là phải đặt nó trong mối liên hệ

với toàn bộ cấu trúc của hoàn cảnh. Có nhƣ vậy sự phân tích lý giải nhân vật mới có ý nghĩa

nghệ thuật - thẩm mỹ.

92

CHƢƠNG 3: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG

GIỐNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Tiểu thuyết Giống tố bắt đầu đƣợc đăng trên Hà Nội báo, số 1, ngày 2.1.1936. Đây

cũng là năm Vũ Trọng Phụng đạt đƣợc những thành tựu rực rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tác.

Bốn tiểu thuyết xuất sắc ra đời chỉ trong vòng năm ấy: Giống tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ...

Chọn Giống tố là đối tƣợng khảo sát, nghiên cứu để từ đó thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về

hoàn cảnh của nhà văn Vũ Trọng Phụng, chúng tôi xuất phát từ hai lý do cơ bản. Thứ nhất,

Giống tố là một trong hai tiểu thuyết đƣợc đánh giá là thành công nhất của Vũ Trọng Phụng.

Có nhà nghiên cứu đã khảng định: "nhìn tổng thể, Giống tố xứng đáng đƣợc coi là kiệt tác

cùng với Số đỏ" [196.252]. Hơn nữa "Giống tố cũng là một tác phẩm lớn, một kiệt tác hiếm

hoi trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại" [196.261]. Thứ hai, đặt trong tổng thể luận án,

bên cạnh Tắt đèn của Ngô Tất Tố, một tác phẩm viết về hiện thực nông thôn Việt Nam trƣớc

Cách mạng tháng Tám, chúng tôi muốn khảo sát, nghiên cứu một tác phẩm viết về xã hội tƣ

sản thành thị (tất nhiên trong Giống tố cũng có hình ảnh xã hội nông thôn Việt Nam, nhƣng

chỉ là thứ yếu), một tác phẩm có tầm bao quát hiện thực ở diện rộng lớn với nhiều cảnh ngộ,

số phận, nhân vật, tính cách (chứ không nhỏ hẹp nhƣ trong Tắt đèn). Âm vang của hoàn cảnh

xã hội trong Giống tố khác với Tắt đèn bởi mảnh đất hiện thực thu hút sự cảm nhận, khám

phá của hai tác giả không giống nhau.

Giống tố là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam khoảng

cuối 1935 đầu 1936, "những tiếng dội mạnh mẽ của cuộc đấu tranh chính trị trong nƣớc,

ngoài nƣớc, của phong trào quần chúng từ Nam tới Bắc đã khiến ông phải rời mắt khỏi cái

môi trƣờng chật hẹp để nhìn rộng ra ...." [157.29]. Cái ngột ngạt, bão giông, sôi động ngầm

chứa những "vụ nổ" lớn của xã hội đã đƣợc chuyển hóa thành không khí nghệ thuật của hoàn

cảnh trong Giống tố và đƣợc thể hiện qua cấu trúc nghệ thuật của nó.

93

3.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh

So với nhiều nhà văn hiện thực đƣơng thời, thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng

thƣờng rất phong phú, đông đảo, đa dạng. Nó không chỉ là những ngƣời nông dân quanh năm

chỉ biết bán mặt cho đất, bán lƣng cho giời nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hay một xóm

nhỏ ngoại ô với những ngƣời dân nghèo thành thị đang kéo dài sự đơn điệu, tẻ nhạt của

những kiếp "Sống mòn" nhƣ trong Sống mòn của Nam Cao. Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét:

"Đọc Vũ Trọng Phụng, thấy ông có một khả năng chiếm chiếm lĩnh cuộc sống ở một tầm

khái quát tổng hợp ít có ở những nhà tiểu thuyết cùng thời" [209. T1 -44]. Khả năng chiếm

lĩnh cuộc sống ấy của Vũ Trọng Phụng không chỉ thể hiện ở sự bao quát một không gian, một

phạm vi phản ánh rộng lớn từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi tới trung du, miền núi, từ

thủ đô tới biên giới, hải đảo mà còn biểu hiện ở thế giới nhân vật cũng nhiều kiểu loại, muôn

hình muôn vẻ, nhiều thành phần, giai cấp. Tác phẩm Giống tố thể hiện rất rõ điều đó. Trong

cuốn tiểu thuyết gần 500 trang này Vũ Trọng Phụng đã xây dựng một đội ngũ nhân vật đông

đảo, thuộc nhiều tầng lớp giai cấp khác nhau, hoạt động ở những phạm vi xã hội khác nhau.

Tất cả hơn ba chục nhân vật có tên và không tên ấy với những mối quan hệ trực tiếp hoặc

gián tiếp đã đan cài dệt nên hoàn cảnh tác phẩm.

3.1.1. Trƣớc hết phải thấy rằng, nếu nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, nhân vật

không ý thức về hoàn cảnh, thì trong Giống tố một số nhân vật lại rất ý thức về sự tác động

nghiệt ngã của hoàn cảnh tới sự tha hóa con ngƣời và của chính mình. Tiêu biểu là ý thức về

hoàn cảnh của Long và Mịch. Hai nhân vật này đều rất ý thức về sự tìm hóa của chính bản

thân mình và hiểu rằng lý do của sự tha hóa đó chính là hoàn cảnh. Sau những giấy giây

"ngoại tình hãng tinh thần" với hàng trăm ngƣời qua đƣờng, "Mịch phải ngạc nhiên rằng

mình thay đổi chóng quá, rằng mình không còn một tí gì là cô thôn nữ thƣở trƣớc nữa, vì

mảnh hồn thơ ngây trong xạch đã bị cành ngộ giết chết mất rồi"

94

Trƣớc sự thay đổi biến chất của ông bà đồ Uẩn, Mịch cũng hiểu rằng : "Người ta thay đổi vì

hoàn cảnh. Nếu ông đồ và bà đồ có đâm ra đê tiện (...) thì âu cùng là sự thƣờng ". Quá trình

tha hóa của Mịch từ một cô thôn nữ ngây thơ, hiền lành, chất phác, đến một thiếu phụ gian

dâm, xảo quyệt, đáng sợ, chí diễn ra trong vòng nửa năm. Điều đó khiến Long không thể hiểu

nổi "Những nguyên nhân nào đã thay đổi lòng ngƣời đến thế ?" và "sau cùng, Long đã tìm ra

cái bả vật chất". Nhìn lại con ngƣời mình, chính Long cũng nhận thấy mình "cũng thay đổi

một cách đáng , cũng chỉ trong vòng nửa năm nay mà thôi". Long nhận (hay rằng mình đã từ

một chàng trai nghèo giàu lòng nhân ái, căm thù những cái xa hoa vật chất trở thành một kẻ

hƣ hỏng, trác táng, một kẻ ích kỷ, xấu xa, đã "thay đổi một cách đáng sợ"... và hiểu rằng "Đời

đã làm cho chàng đến nỗi thế, "Long đã bị hoàn cảnh xui khiển" và "mấy ai là chống chọi nổi

với hoàn cảnh".

Hoàn cảnh khắc nghiệt của xã hội Giống tố đã cuốn các nhân vật vào một vòng xoáy

dữ dội đảo điên để rồi không ai thoát ra khỏi nanh vuốt của nó. Nó xô đẩy các số phận, đảo

lộn mọi trật tự, tạo nên những tấn bi hài kịch mà nhiều nhân vật không thể lý giải nổi và coi

đó là định mệnh, là bàn tay của Hoàng thiên. Trƣớc sự việc Nghị Hách cƣỡng dâm Thị Mịch

rồi bỏ chạy và cuối cùng lại lấy Thị Mịch làm vợ lẽ, ông đồ Uẩn cho rằng "mọi việc trên đời

này đều có tiền định cả ". Và đối với Thị Mịch "từ đấy mà đi, tự trong thâm tâm của" Mịch,

Mịch tin rằng người ta có số mệnh và cái số kiếp của Mịch đã như thế thì Mịch không thể

cƣỡng lại với trời đƣợc nữa". Ngay cả đối với những ngƣời có học thức nhƣ Tú Anh trƣớc

những sự kiện đầy bất ngờ, trớ trêu của cuộc đời thì cũng chỉ biết giải thích bằng số mệnh:"

Ta gian thân làm gì mà oán đời làm gì ? Sự đời là nhƣ thế, bao giờ cũng có cái sự gì nó xảy ra

để chúng ta đƣơng sƣớng hóa khổ, hoặc khổ rồi phải khổ hơn thế nữa... Ai cũng chịu đựng số

phận như thế, chứ chẳng cứ gì một ta đâu, nên tôi muốn khuyên ông can đảm mà chống chọi

với đời". Nhân vật Long, sau những bất

95

hạnh liên tiếp của cuộc đời và trong tình yêu đã tự giải thích căn nguyên là "Tôi sinh ra ở đời

dưới một ngôi sao xấu". Từ đó dẫn đến quan niệm sống buông xuôi: "Đã thế thì âu là chàng

sẽ liều nhắm mắt đƣa chân ... chàng sẽ can đảm chịu những tai họa, vui vẻ hƣởng những cuộc

hảo biến, không nghĩ ngợi gì nữa, mặc cho con tạo xoay vần ". Nhân vật ông già Hải Vân

cũng đã hơn một lần khẳng định sự chi phối của số mệnh tới mọi biến thiên của cuộc đời, của

mọi số phận. Giải thích những việc làm tội lỗi cùa Nghị Hách trong quá khứ, Hải Vân cho là

do một số mệnh, bởi vậy "không ai là đáng ghét, không ai là đáng yêu, không ai là đáng

khinh. Số mệnh xui khiến cả ". Những sự kiện bất ngờ vừa ngẫu nhiên lại vừa tất yếu xảy ra

trong gia đình Nghị Hách, khiến cho ngay những kẻ trong cuộc cũng sửng sốt, choáng váng

và không thể tƣởng tƣợng nổi, khống thể hiểu nổi, đƣợc Hải Vân lý giải: " Trong việc này ,

không có Hoàng Thiên thì không có sự tình cờ này được" và "Trong việc này, dễ thường có

luật quả báo" ... Quả thực, "hầu hết các nhân vật của Vũ Trọng Phụng đều bị ám ảnh bởi tƣ

tƣởng số mệnh" [209. T1 . 19]. Nhƣng thực tế khách quan của tác phẩm lại khiến ngƣời ta

hiểu rằng, tất cả những sự kiện, biến cố nhiều khi tƣỏng nhƣ tình cờ, ngẫu nhiên ấy lại nằm

trong một cơ chế tất yếu của hoàn cảnh xã hội. Sự ám ảnh tƣ tƣởng định mệnh ấy ở các nhân

vật, suy cho cùng cũng là biểu hiện của hoàn cảnh. Ý thức ấy là sản phẩm của hoàn cảnh,

hoàn cảnh đã tác động vào ý thức nhân vật và đƣợc phản ánh qua ý thức nhân vật. Chính

hoàn cảnh với những biến cố đầy những bất ngờ, đảo điên, những số phận thăng trầm trong

guồng quay của xã hội Giống tố đã khiến con ngƣời hoang mang, bất lực đi đến cách lý giải

mọi hiện tƣợng một cách duy tâm siêu hình nhƣ thế.

3.1.2. Nếu so sánh với Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ta thấy trong Giống tố của Vũ Trọng

Phụng cũng có những nhân vật có tên và những nhân vật không tên. Những nhân vật có tên

tiêu biểu là: Nghị Hách, Tú Anh, Long, Thị Mịch ông đồ Uẩn, Vạn tóc mai, ông già Hải vân,

cô Kiểm... Những nhân vật không

96

tên đƣợc gọi bằng chức danh: tri huyện Cúc lâm, trƣơng tuần, chánh hội, lý trƣởng, phó hội,

phó lí, quan công sứ, ông tổng đốc ... Nếu nhìn ở thành phần giai cấp, nghề nghiệp, ta thấy

thế giới nhân vật trong Giống tố rất đa dạng, nhiều vẻ, từ thƣợng lƣu đến hạ lƣu, từ lƣu manh

tới trí thức ; từ nông dân tới thợ thuyền, dân nghèo thành thị ; từ bồi bếp đến thầy bói, cung

văn ; tƣ đồ Nho đến đồ Tây; từ gái quê đến tân thời; từ cƣờng hào địa chủ đến quan lại tƣ sản

; từ lính tráng đến mật thám; từ Tây buôn đến Tây cai trị ... Tóm lại là cả một xã hội thu nhỏ

với những mối quan hệ giằng chéo, đan cài vừa ngẫu nhiêu vừa tất nhiên, trực tiếp hoặc gián

tiếp. Từ tất cả những mối quan hệ ấy, hoàn cảnh đƣợc bộc lộ nổi bật.

Nếu nhìn ở góc độ nhân vật động và nhân vật tĩnh thì so với Tắt đèn, Giống tố nhiều

nhân vật động hơn, nghĩa là loại nhân vật có sự vận động thay đổi về số phận, tính cách trong

Giống tố chiếm tỉ lệ nhiều hơn. Có lẽ bởi vì trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố xây dựng hoàn cảnh

chủ yếu để làm nổi bật sự tác động nghiệt ngã của nó tới số phận con ngƣời - cụ thể là số

phận của ngƣời nông dân trƣớc nạn sƣu thuế (tất nhiên hoàn cảnh Tắt đèn cũng góp phần đắc

lực trong việc thể hiện tính cách ). Còn trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng nhấn mạnh nhiều về

tác động của hoàn cảnh tới sự biến đổi tính cách con ngƣời khả năng hủy diệt chất ngƣời

trong mỗi con ngƣời của hoàn cảnh - Nói cách khác là sự tha hóa của con ngƣời trƣớc hoàn

cảnh. Ý thức về sự tác động tiêu cực của hoàn cảnh tới tính cách con ngƣời của tác giả đã

đƣợc gửi gắm qua lời nói hoặc suy nghĩ của các nhân vật (mà ở phần trên chúng tôi đã đề cập

tới). Để nói về sự thay dổi, tha hóa của con ngƣời trƣớc hoàn cảnh, những cụm từ "đã đi vào"

"đã thay dổi...", "đã hóa ra"... "đã trở nên ..." xuất hiện nhiều lần khi nói về tính cách nhân

vật.

Tự cái tên của tác phẩm Giống tố cũng đã nói lên hoàn cảnh của tác phẩm. Đó là một

hoàn cảnh đầy bão giông, một hoàn cảnh đang chất chứa một sự bùng nổ ghê gớm, bởi nó đã

tích tụ những nhân tố gây nên những vụ nổ lớn. Xu hƣớng ấy của hoàn cảnh cũng đƣợc bộc

lộ qua hệ thống các nhân vật, đặc biệt là qua những tâm trạng hờn căm, những ý định báo thù

của các nhân vật. Giống tố đầy rẫy những tâm trạng, những ý định ấy. Trong cái vòng xoáy

97

dữ dội của những cơn lốc cuộc đời điên đảo, các nhân vật khinh ghét, căm hờn nhau và đầy

những dự định báo thù, rửa hờn. Ngay cả giữa những con ngƣời đã từng gắn bó với nhau bởi

một tình cảm mãnh liệt, thiêng liêng nhất - tình yêu, cuối cùng cũng quay lại oán trách, thù

hằn nhau bởi những biến cố, sự kiện, hiểu lầm. Trƣớc nỗi đau ngƣời yêu bị làm nhục, và sự

bất lực của chính mình, Long đã nói với Tú Anh: "Tôi khổ lắm, tôi giận thân, giận đời lắm,

tôi muốn liều lĩnh làm một điều gì, một điều gì càn rỡ, chỉ cốt được hả giận mà thôi. Tôi

muốn đập vỡ một cái gì, đánh đập một kẻ nào, giết một. người nào, nếu không thì không thể

chịu đƣợc nữa". Khi trở về làng Quỳnh Thôn, trƣớc những biểu hiện bất thƣờng của Thị

Mịch: "Trong óc Long một nghìn mối nghi ngờ căm hờn và ghen giận nổi lên... Long thấy

lộn ruột, lộn ruột lắm". Nỗi căm hờn đã khiến chàng trai vốn có nhân cách này có những suy

nghĩ cực đoan "tƣ tƣởng đê hèn của Long chỉ là muốn làm hại Loan hoặc Tuyết" nghĩa là

muốn báo thù bằng nhục dục", là bắt Loan và Tuyết phải "trả nợ đời cho bố"... Tâm trạng

phẫn uất hờn căm và ý muốn báo thù cũng có ở Thị Mịch - ngƣời gái quê chất phác nhẹ dạ,

sau khi đã phải gánh chịu những nỗi nhục ở đời. Từ chỗ chỉ căm thù Nghị Hách - "thằng hiếp

dâm", "lão già đểu giả, dâm đãng", "thằng chồng khốn nạn" (lời Thị Mịch về Nghị Hách) -

Mịch oán hờn ngay cả những ngƣời thân yêu nhất của mình: "Mịch oán giận mẹ, căm tức bố,

khinh bỉ anh". Ngay cả đối với Long, ngƣời mà Mịch đã một thời yêu thƣơng tha thiết, có lúc

Mịch cũng thấy "chỉ còn có căm hờn","Mịch đã tìm thấy đủ mọi nghĩa lý mà căm Long" và

cuối cùng "thì Mịch chỉ trông thấy sự căm hờn mà thôi mà sự căm hờn chỉ nuôi chứ không

giết".

Nhân vật Tú Anh "là một đống vàng đống bạc mà không hề bị ánh sáng hoàng kim

chiếu loa mắt, đƣơng tuổi thanh xuân mà thản nhiên nƣớc ái tình, một ngƣời học thức cao,

nhân phẩm cao, một ngƣời hữu ích rất hiếm có". Vậy mà con ngƣời ấy, trƣớc hoàn cảnh xã

hội đầy xót xa bẩn thỉu (đầy lọc lừa, xảo trái cũng đã có những tƣ tƣởng hờn căm : "Những

cái dây liên lạc thiêng liêng nhất đời, đại khái nhƣ tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ

chẳng hạn cũng lắm khi đáng để xuống đất mà đi dưới gót chân" và "ở đời này không còn có

cái gì là đán quý nữa, mà sự đời là không có ý nghĩa gì cả "

98

Ngay cả bà đồ Uẩn, ngƣời đàn bà nhà quê, chỉ vì con gái bị làm nhục mà mang tiếng

nhục với dân làng, nhƣng khi tình thế đảo ngƣợc - con gái bà đƣợc lấy "con ngƣời quyền thế

và giàu có nhất tỉnh" - đã có những ý nghĩ đầy hả hê sung sƣớng: "Rồi thì cả làng sẽ ngậm

miếng hến. Rồi thì sẽ vô phúc cho những đứa đã bảo bà là vô phúc... Rồi thì khổ cho những

đứa chê bai, khinh bỉ, chơ những đứa đã làm nhục bà". Và trong đầu ngƣời đàn bà nông dân

ấy đầy những ý định báo thù: "những đứa ấy rồi thì nhục nhã với bà, rồi thì điêu đứng với bà.

Nếu chúng có khốn khổ khốn nạn, mà đến vay thì bà cho vay ngay, để mà khinh bỉ lại chúng,

bắt chúng phải luồn lụy, lạy lục, cho bõ ".

Trong thế giới nhân vật Giống tố, nỗi hờn căm, uất ức của nhiều nhân vật không chỉ

biểu hiện ở suy nghĩ, lời nói mà có khi ở cả giọng nói (Vạn tóc mai, kẻ tƣởng nhƣ có trái tim

không biết xúc động, khi nhắc tới Nghị Hách cũng "nghẹn ngào nói bằng giọng đầy những

căm hờn ;" thiếu niên đứng tƣng hửng ra một lúc rồi căm hờn đáp"; "ông đồ uất ức thưa

lên"....). Những tâm trạng bức bối, hờn căm ấy thường bị đẩy tới rực điểm và nó bộc lộ qua

những hành vi bên ngoài. Đã giận thì phải giận đến "điên người", đã phẫn uất thì phải "phẫn

uất cực điểm", đã tức thì phải "tức lộn ruột", tức đến "con mắt trợn ngược nghiến răng", đến

"muốn bổ vào mặt" thậm chí muốn "xông vào bóp cổ...

Tất cả những biểu hiện của nỗi hờn căm trong ý nghĩ và trong cử chỉ, hành vi, giọng

nói của các nhân vật cũng là những, tín hiệu nghệ thuật góp phần tạo hoàn cảnh.

Nhìn nhận thế giới nhân vật trong Giống tố với ý nghĩa là một yếu tố trong cấu trúc

nghệ thuật của hoàn cảnh, chúng tôi nhận thấy, nếu nhƣ trong tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố

chú ý tới những nhân vật đầy bạo lực trấn áp, thì trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng lại chú ý

những nhân vật đầy mƣu mô, thủ đoạn, bởi vậy bức tranh xã hội Giống tố đầy rẫy những thủ

đoạn, mƣu mô. Tác phẩm mở đầu bằng một sự kiện xuất phát từ thù đoạn của Nghị Hách, đó

là việc Nghị Hách lừa thị Mịch lên xe để thực hiện hành vi bẩn thỉu. Chỉ vì mấy lời nói ngọt

ngào, giả nhân giả nghĩa, ngƣời gái quê ngây thơ, khờ khạo, thị Mịch đã bị "con dê già" Nghị

Hách giăng bẫy và đƣa vào tròng. Trƣớc việc

99

dân làng Quỳnh Thôn và gia đình ông đồ Uẩn kiện hắn về tội cƣỡng dâm thị Mịch, Nghị

Hách lại tiếp tục dùng một loạt mƣu mô, thủ đoạn khác để trốn tội, từ kẻ cỗ tội trở thành

ngƣời vô tội và biến nạn nhân, nguyên đơn thành bị cáo. Để chuẩn bị bào chữa cho hành vi

bẩn thỉu của mình, nghị Hách đã chủ động đến gặp viên công Sứ và phao tin phong trào cộng

sản " đã lan đến tỉnh ta"... ,"toàn dân tỉnh này đã bất đầu nói xấu và vu oan cho con... chắc là

họ chỉ nhắm mắt nghe theo bọn phiến loạn... Họ vu cho con là giết người, hiếp tróc đàn bà...

Họ hết sức gieo cái mầm thù ghét ngƣời giàu có...". Đồng thời với thủ đoạn đó, nghị Hách

còn gây và khoét sâu mâu thuẫn giữa quan tổng đốc với tri huyện Cúc Lâm, giữa một viên

quan Tây học và một viên tổng đốc ít học " làm quan tắt", từ đó cho rằng việc hắn bị tri

huyện Cúc gọi ra công đƣờng là do "có hiềm khích gì" nên đã "kiếm chuyện" và "xui dân đi

kiện tôi". Thủ đoạn ấy của Nghị Hách đã đạt đƣợc mục đích: tri huyện Cúc Lâm có nguy cơ

mất chức, Nghị Hách tránh đƣợc một viên quan thanh liêm để có thể chạy tội. Và trong

những thủ đoạn nhằm mục đích rũ bỏ tội trạng, Nghị Hách cũng không quên sử dụng một thủ

đoạn quen thuộc trong giới quan trƣờng: hối lộ. Hắn gạ gẫm bán rẻ chiếc xe hơi cho tri huyện

Cúc Lâm và "chỉ xin lấy ngài hai trăm thôi. Lúc mới mua giá nó là ba nghìn tám đấy".

Nếu lấy sự kiện về vụ kiện của gia đình ông đồ Uẩn và dân làng Quỳnh Thôn làm cái

mốc, thì ngƣợc dòng thời gian, ta còn thấy thủ đoạn của Nghị Hách từ khi hắn còn là cai

Hách. Với cái dã tâm muốn cƣớp vợ bạn Nghị Hách đã ngấm ngầm "gắp lửa" bỏ tay ngƣời",

để rồi Hải Vân bị ra tòa lĩnh án một năm tù về tội ăn cắp của chủ, mạc dù Hải Vân hoàn toàn

vô tội. Cuối cùng" thằng phản bạn", " thằng cƣớp vợ bạn" ấy cũng đã đạt đƣợc mục đích bẩn

thỉu: trong những ngày Hải Vân ở tù, bà vợ nhẹ dạ của ông đã ăn ở với Nghị Hách bằng cái

tình non vợ chồng mà già nhẫn ngãi, bởi cảm động vì cái " lòng tử tế nham hiểm" của hắn.

Cũng cái kiểu thủ đoạn "gắp lửa bỏ tay ngƣời" đó, sau này Nghị Hách còn khiến cho dân

làng Quỳnh Thôn điêu đứng bằng việc hắn xui tay chân rải truyền đơn vào phòng Hội đồng

làng Quỳnh Thôn, để chức dịch làng này mắc vào hình luật là đã để mất trị an trong làng từ

đó không còn dám nghĩ tới việc kiện cáo nữa.

100

Có thể nói, hoàn cảnh Giống tố đƣợc đan dệt nên bởi rất nhiều hệ thống yếu tố, mà

một trong những hệ thống đó là những thủ đoạn mƣu mô của các nhân vật. Những thủ đoạn

mƣu mô đó không chỉ có ở Nghị Hách mà còn có ở nhiều nhân vật khác nữa. Trong cái

guồng quay của xã hội Giống tố ấy, các nhân vật luôn dùng thủ đoạn dể đạt được những mục

đích của mình: Tú Anh dùng thủ đoạn làm Long và thị Mịch hiểu lầm nhau, ngƣời nọ cứ

tƣởng ngƣời kia là kẻ phụ bạc, để rồi căm thù và từ bỏ nhau, nhờ thế thị Mịch mới nhận lời

làm vợ lẽ Nghị Hách ; ông già Hải Vân dùng thù đoạn để Nghị Hách phải kinh sợ và tống

tiền Nghị Hách đƣợc một vạn đồng "cho quĩ Đảng" ; Long dùng thủ đoạn để yêu cả Loan và

Tuyết với mục đích bắt hai cô con gái Nghị Hách "trả nợ đời cho bố"; Vạn tóc mai dùng thủ

đoạn để moi tiền Nghị Hách, mặc dù Vạn tóc mai biết rằng "cái thằng cha ấy đẻ ra moa... vì

một phút điên rồ của xác thịt". Trong thế giới của những thủ đoạn ấy, có thủ đoạn của giới

quan trƣờng, đó là thủ đoạn viên tri huyện mới của huyện Cúc Lâm. Viên quan này "mới đến

nhậm huyện Lô có sáu tháng mà trong huyện có đến tám chín nhà giàu bị cƣớp vu cho là tòng

đảng, rồi thì quan tậu ngay xe ô tô" Trong cuộc hỏi cung vụ kiện Nghị Hách, hắn đã dùng thủ

đoạn trấn áp, đe dọa, khi thì " cười một hồi dài" lúc thì "hầm hầm nét mặt"; khi thì "đập bàn

giận dữ" lúc thì quát "to và gọn như một tiếng sét"; khi thì "hỏi dồn" lúc thì "gắt gỏng"; khi

thì "cười nức nở', lúc thì "xung thiên chi nộ"... để rồi cuối cùng bên nguyên đơn - những nạn

nhân của nghị Hách buộc phải rút đơn kiện vì nỗi lo "vô phúc thì đáo tụng đình".

Còn đây là một thủ đoạn chính trị trong việc giúp Nghị Hách tranh ghế nghị trƣởng

của một "ngƣời Tây" ( Lời nhân vật này với Nghị Hách: "Những cơ quan của tôi mua đƣợc

vào dịp tranh cử sẽ không ca tụng ông, mà lại còn công kích ông kịch liệt! Tôi sẽ thảo cho

ông một chƣơng trình cải cách vĩ đại về xã hội. Ông sẽ đòi quyền cho hạng lao động, cho

nông dân... những tờ báo kia sẽ chửi ông là cách mệnh, là cộng sản... rồi thì mấy tờ nhật báo

đăng tin chó chết, sẽ trích đăng những bài mà mấy tờ báo Tây chửi ông ! với cái lối hành

động nhƣ thế thì chức nghị trƣờng ông lấy dễ nhƣ bỡn vậy").

101

Cũng nằm trong hệ thống những thủ đoạn chính trị ấy là thủ đoạn của Nghị Hách

trong việc tổ chức phát chẩn bần. Đạt phát chẩn cho bần dân lần thứ nhất đã đƣợc báo chí

Bắc Kỳ đƣa tin và đánh giá đây là "một nghĩa cử hiếm có". Bởi vì "nhà triệu phú Tạ Đình

Hách đã bỏ ra 250 tạ gạo và một nghìn đồng bạc phát chẩn cho dân tỉnh ông, vì tỉnh ông mất

mùa, bao nhiêu ruộng nƣơng đều bị hạn hán hoặc bị sâu cắn lúa. Nạn khủng hoảng kinh tế

càng thêm trầm trọng, dân gian đói khổ, đâm ra hành khất hoặc trộm cƣớp tứ "nhân đây cũng

phải nói thêm rằng, trong tác phẩm Giống tố, việc sử dụng hình thức báo chí dƣa tin, cũng là

một cách góp phần tạo dựng hoàn cảnh của nhà văn). Cuộc phát chẩn lần thứ hai đƣợc tổ

chức ở Tiểu Vạn trƣờng thành. Đây là một cuộc phát chẩn với qui mô lớn, có tới bốn nghìn

ngƣời dân từ mọi nơi trong tỉnh kéo đến. Cuộc phát chẩn ấy đƣợc tổ chức rầm rộ, có phƣờng

nhạc binh, có một dãy lính bồng súng, có cờ quạt, đèn kết hoa, có mấy chục chiếc xe hơi và

"đủ mặt các quan chức hàng tỉnh và các vị thân hào". Đây là thủ đoạn chính trị của Nghị

Hách cùng quan thầy của hắn để đƣa hắn lên ghế nghị trƣởng. Cũng với mục đích chính trị

ấy, thủ đoạn bẩn thỉu, đê tiện nhất của Nghị Hách là khi hắn tuyên bố gả Tuyết cho Long để

đƣợc tiếng là coi trọng bình dân, mặc dù hắn biết cả hai đều là con đẻ của mình. Hành động

đó chứng tỏ để đạt đƣợc tham vọng, Nghị Hách có thể bất chấp tất cả không từ thủ đoạn nào,

kể cả việc đẩy con cái mình vào vòng loạn luân.

3.1.3. Nhìn nhận thế giới nhân vật trong Giống tố với ý nghĩa là một yếu tố trong cấu

trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, chúng tôi thấy có một kiểu hình tƣợng nhân vật có thể gọi

bằng một cái tên ƣớc lệ là "nhân vật đám đông".Có thể nói Vũ Trọng Phụng rất có tài trong

việc tạo dựng loại nhân vật này. "Nhân vật đám đông" trong Giống tố cũng rất nhiều dạng

vẻ. Đó có thể là cái đám đông chức dịch và dân làng Quỳnh Thôn tụ tập ở nhà ông đồ Uẩn để

bàn việc kiện tụng vụ Nghị Mách cƣỡng dâm Thị Mịch. Đó là cái đám đông đệ tử của nàng

tiên nâu trong tiệm hút - hiện than của "cả một cái xã hội thất vọng,

102

truy lạc, muốn làm cho những điều thất vọng phải tan ra khói". Đó là cái đám đông "trên tầng

gác thứ ba của cao lâu Thiền Chân", nơi Long và Tuyết gặp gỡ yêu đƣơng. Rất ấn tƣợng là

cái đám đông ngót hai chục những kẻ "sống lên trên những cuộc lai họa hoặc những sự may

mắn của ngƣời đời" trong phòng khách nhà Nghị Hách ở Tiểu Vạn trƣờng thành. Đối lập với

cái đám đông sang trọng ấy là đám đông bốn nghìn ngƣời dân quê "Ai cũng là bất thành nhân

dạng" từ các nơi kéo về Tiểu Vạn trƣờng thành lĩnh chẩn.

- Tất cả những đám đông ấy có thể có mặt ở những không gian, địa điểm khác nhau,

thành phần khác nhau với những mục đích khác nhau. Nhƣng đều có chung một đặc điểm là

lúc nào, ở đâu cũng nhốn nháo, hổ lốn, ầm ĩ, quân hồi vồ phèng như chính cuộc đời đầy biến

động, đảo điên. Chức dịch và dân làng Quỳnh Thôn tụ tập ở nhà ồng đồ Uẩn là để bàn việc

kiện Nghị Hách. Vậy mà ở đây "đông nghịt những khách khứa" và "y như nhà có giỗ tổ vậy".

Nhƣng tất cả đều nhốn nháo "ồn ào đến nổi không còn ai nghe hiểu ai muốn nói gì nữa",

"mỗi ngƣời một lời, thành thử nhà như có cuộc loạn đả". Cuối cùng "sau nửa giờ vỡ chợ, kẻ

khuyên can lại to tiếng hơn kẻ gây sự, hàng chục cái mồm đàn ông và đàn bà, già và trẻ.

Phân bè kéo đảng nhau mà nói khay nhau, chọc tức nhau". Nhƣ vậy sự yên tĩnh cố hữu của

làng quê đã bị phá vỡ, sự nhốn nháo, ầm ĩ của cuộc đời cũng đã thể hiện từ chính nơi đây.

Từ làng Quỳnh Thôn, theo chân của nhân vật Long, chúng ta bƣớc vào xã hội thành

thị, vào một tiệm hút, nơi khách đến hút thuộc đủ hạng ngƣời. Đến đây, thế giới nhân vật

Giống tố tiếp tục đƣợc mở rộng: ông chủ sòng bạc đang oán giận sở liêm phóng, cậu học trò

bất mãn với xã hội không trọng dụng nhân tài, cụ phán già hận đời vì không đƣợc cƣới thêm

vợ lẽ, ông nhà văn có sách mới bị cấm, cô gái nhảy thất tình ... và cái đám đông ấy cũng ổn

áo, náo nhiệt nhƣ mọi đám đông khác trong Giống tố: "những chuyện tâm sự, những điều

đau khổ nhất, những chuyện đê nhục tƣởng phải giấu kín của họ, họ cũng đem ra nói rất lo".

Trong "bầu không khí ồn ào" luôn vang lên những "tiếng

103

cười rộ, những cái ho khạc, những tiếng nói bô bô, những điều văng tục ghê gớm". Và "giữa

đống huyên náo, lang chạ" ấy, ai cũng chỉ nghĩ tới chuyện làm rầm rĩ lên, ai cũng tranh lấy

nói mà không ai để tai nghe. Nghĩa là cái đám đông ấy cũng lộn xộn, nhốn nháo nhƣ chính

cái nhốn nháo, lộn xộn của cuộc đời.

Đến Tiểu Vạn trƣờng thành, ngƣời đọc lại đƣợc chứng kiến một thế giới nhân vật

khác. Ở đây không có những kẻ dang bất mãn, chán đời nhƣ trong tiệm hút mà "bọn ngƣời

này là những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thƣơng giới". Đây là những nhân vại mà tự

nó đã chứa đầy những mâu thuẫn, nghịch lý, tƣơng phản giữa bản chất và hành động, giữa

con ngƣời thực chất và con ngƣời xã hội, giữa lời nói và việc làm ... Đó là những kẻ "đọc đủ

các báo chí mà không biết gì về văn chƣơng mỹ thuật, tủ sách đầy những tập kỷ yếu các hội

ái hữu nhƣng kỳ chung thật không có ai là bạn trên đời ... đã từng chủ toạ những cuộc ban

giải văn chƣơng mà chƣa hề đọc hết một cuốn tiểu thuyết". Lại có những kẻ "cổ động kịch

liệt cho phật giáo" nhƣng lại "xây hàng dãy nhà săm", "coi đời là một sự vô nghĩa lý, nhƣng

đầy tớ đánh vỡ một cái bát cũng bắt đền năm xu, giữa đám đông ngƣời thì cả mồm chửi

những ngƣời tàn ác buôn đồng loại, nhƣng ngồi một mình thì lại ca tụng mình đã làm đƣợc

một việc tàn ác mội cách có mỹ thuật". Còn có những kẻ "ban đêm đi tiêm thuốc phiện cho

ngƣời quí quốc, ban ngày đi đòi tiền hộ các sở nặc nô, làm chủ đã ba bốn tiệm khiên vũ mà

đánh con gái đến hộc máu về tội ăn mặc tân thời ". Và có cả những kẻ "vừa là chủ hiệu xe

đám ma, vừa là chủ dƣợc phòng, bán tem cho hội bài trừ bệnh lao, lại bán cả thuốc lào mốc,

chiếm kỷ lục về sự vô học, nhƣng lại gọi ông Quỳnh, ông Vĩnh là thằng... "... Tất cả bọn

ngƣời này đều là "bạn hàng", là "vây cánh", là "tay sai" của Nghị Hách. Những nhân vật này

hiện lên không bằng tên tuổi, ngoại hình, hành động... mà chỉ qua vài nét tóm lƣợc bản chất,

đã bổ sung cho đội ngũ nhân vật vốn đã rất đông đảo của xã hội Giống tố và góp phần tạo dệt

hoàn cảnh, làm nổi bật tính cách nhân vật chính.

104

Trong cuộc phát chẩn của Nghị Hách, chúng ta lại đƣợc chứng kiến một cảnh tƣợng

ồn ào, hỗn độn của một tầng lớp khác trong xã hội - tầng lớp những ngƣời dân cùng khổ.

Cíính tƣợng ấy "đủ tiêu biểu cho hết thảy mọi sự thống khổ của loài ngƣời". Bức tranh thế

giới nhân vật Giống tố lại đƣợc tô thêm một mảng đời sống đen tối bởi hình ảnh đám ngƣời

"vô nghĩa lý" ấy. Cũng chỉ bằng vài nét phác họa ghi nhanh theo lối phóng sự, Vũ Trọng

Phụng đã tao dựng trƣớc mắt ngƣời đọc những chân dung liêu biểu của sự khốn cùng. ,Đó là

hình ảnh "Những ông bà già đầu đã trắng xoa nhƣ tuyết lự khụ vừa còng lƣng chống gậy vừa

lần từng bƣớc để mà ho khạc, quần áo thì bƣơm nhƣ xơ nhộng, nón thì nở hoa nhƣ nón bù

nhìn là hình ảnh "những ngƣời đàn bàn gầy còm, bẩn thỉu, vì khoai, củ chuối, mƣa, nắng,

những cảnh bùn lầy nƣớc đọng, vì đẻ nhƣ lợn xề ..." ; là hình ảnh "những đứa trẻ xanh xao,

toét mắt, bụng ỏng vì giun sán ", "những ông chồng ngực lép đét lại vì trùng ho lao, mặt mũi

hốc hác vì sƣu thuế. Và cũng nhƣ hình ảnh những đám đông nhân vật khác trong Giống tố,

thế giới những nhân vật "vô nghĩa lý", "bất thành nhân dạng" ấy cũng nhốn nháo, náo động.

Họ "nằm ngồi hỗn độn, cãi nhau, chửi nhau, đánh nhau", "tranh giành cướp bóc của nhau",

"chửi bới nhau", "xô đẩy nhau"....

Nhƣ vậy, bức tranh Giống tố mở về phía nào cũng không tìm được sự bình lặng, yên

tĩnh. Sự nhốn nháo, náo loạn, vô trật tự ùa tràn vào mọi không gian, từ làng quê tới thành thị.

Nếu nhƣ "nhân vật đám đông" trong nhà ông đồ Uẩn (đã nói ở trên) là đám đông

những ngƣời dân quê, đám đông trong phòng khách Nghị Hách là đám đông của những kẻ

thuộc "công giới và thƣơng giới", đám đông trong Cao Lâu Thiền Châu và trong tiệm hút là

đám đông hổ lốn đủ hạng ngƣời ... thì cái đám đông xuất hiện ở đoạn kết tác phẩm lại "toàn là

những thiếu niên trí thức, cử nhân, tú tài, giáo sƣ Đại Việt học hiệu..."... tóm lại, chủ yếu là

giới trí thức. Nhƣng sự tập hợp của cái đám đông trí thức ấy cũng không "sạch sẽ", không

yên tĩnh gì hơn những cái đám đông đã từng hiện lên trong Giống tố.

105

Hơn nữa đây còn là "một cuộc cuồng dâm dữ dội, một bữa dạ yến long trời lở đất",

mà ở đó tất cả đều ầm ĩ, náo loạn, thậm chí nó còn ầm ĩ, náo loạn hơn mọi nơi, mọi lúc khác.

Tất cả các nhân vật ở đây đều "gào thét như bọn hóa dại", "gào thét inh ỏi xôn xao". Cả

không gian tràn ngập "tiếng cười, tiếng nói, lời tán thành, giọng công phẫn", "người nào

cũng nhao nhao lên", "ngƣời ta vỗ tay hoặc cười lăn cười lộn", "ngƣời ta nói một cách huyên

thuyên hỗn loạn", "sự huyên náo là ở những lời nói, những câu hát lảm nhảm, những sự gào

thét đầu ngô mình sở "... Có thể coi đây là một "góc trời" của cơn "Giống tố'. Trận Giống tố

cuối cùng này ở ngoài đời góp phần thổi bùng lên trận Giống tố cuối cùng trong tâm hồn

Long để rồi dẫn tới cái kết cục bi thảm của nhân vật này. Tiểu thuyết Giống tố đã khép lại

bằng một trận Giống tố dữ dội với sự góp mặt của một mảng nhân vật đƣợc coi là trí thức.

Mảng nhân vật này góp phần hoàn chỉnh bức tranh xã hội Giống tố và cũng đã góp phần tạo

dệt hoàn cảnh cho tác phẩm.

3.1.4. Trong thế giới nhân vật góp phần tạo hoàn cảnh của Giống tố còn có một kiểu

loại nhân vật, loại nhân vật "vô hình", "nhân vật dƣ luận" (trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố,

không có loại nhân vật này). "Nhân vật dƣ luận" với những lời đồn đại của nó, quả thực cũng

đã góp phần vào việc tạo dựng hoàn ánh Giống tố. Vì là "dƣ luận" nên nó không phải là một

ngƣời hay vài cái tên cụ thể. Nhƣng nó lại có tác dụng tạo không khí, thể hiện tính cách các

nhân vật chính. Vũ Trọng Phụng rất hay "mượn lời" dư luận để nói về nhân vật giúp ngƣời

đọc cảm nhận đƣợc không khí xã hội và bản chất tính cách các nhân vật, mặc dù, có khi

những "nhân vật dƣ luận" này không có liên quan trực tiếp gì đến nhân vật đang đƣợc nói tới.

Chẳng hạn, đây là một đoạn dƣ luận về Nghị Hách:

"- Thằng cha có hai chục con vợ lẽ trong đồn điền ấy à?

- Phải.

- Cái Ihằng cha bỏ bã rƣợu vào ruộng lƣơng dân rồi báo nhà đoan và chỉ với một thủ

đoạn ấy đã tậu đƣợc ba trăm mẫu ruộng rất rẻ tiền ấy à ?

106

- Chính thế.

- Cái thằng cha độc ác đánh chết ngƣời làm rồi vứt xác ngƣời ta xuống giếng, mà khai

ngƣời ta tự tử ấy à ?

- Nó đấy !".

Chỉ qua một vài lời đối thoại của các nhân vật vô danh, bản chất dâm ô, xảo quyệt, tàn

bạo của Nghị Hách đƣợc bộc lộ.

Đây là một đoạn đối thoại - dƣ luận về Thị Mịch:

"Một ngƣời nói:

- Con bé bây giờ hƣ lắm, không còn giữ gìn gì nữa. Chắc là từ hôm bị hiếp thì nó lăng

nhăng bừa bãi với bọn con giai làng bên.

Một ngƣời khác nói:

- Chỉ có thế thôi à ? Ngƣời kia lại nói:

- Úi chao ! Con gái voi giày đến thế là cùng chứ bà còn muốn thế nào nữa? Lại thấy

nói:

- Thế thì bà chƣa biết chuyện gì cả. Bà chỉ mới thấy ngƣời ta đồn con Mịch bờm xơm

với tụi con giai làng Thƣợng thôi, chứ mà tôi thì tôi lại thấy con bé ấy trƣơng ruột ra rồi.

- Ủa! cô ả ễnh ruột ra rồi ?

- Bẩm phải ạ ! Bà cứ để ý đến cái bụng nó mà xem ! nhờ ơn vua mẫu, bụng nó đã gần

bằng cái thùng rồi đấy.

- Thật thế à ?

- Phải ! mấy tháng nay con bé đã ốm nghén đấy ! lúc nào cũng ăn đƣợc rổ tƣớng khế,

một rá ụ những chanh ! Lúc nào cũng lử đử lừ đừ chả buồn mó đến công việc gì cả. Lúc nào

cũng chỉ chúi dƣới bếp ngủ thôi. Nó ăn dở của chua nên mới thế.....

107

- Chẹp ! ... chẹp !!! ... Rõ chém cha cái đời ! Cho thế mới mát ruột con mẹ đồ Uẩn.

Không thế thì không đƣợc hợm mình những là giấy rách giữ lề, những là dòng giõi thế gia !

Thế rồi im".

Không biết những lời đối thoại đó là của một nhân vật cụ thể nào, nhƣng ngƣời đọc

vẫn có thể mƣờng tƣợng rất rõ vẻ mặt, cử chỉ của "tác giả" những lời phát ngôn vừa tọc

mạch, tò mò, vừa độc ác, tàn nhẫn ấy. Cái dƣ luận ở đây thật đáng sợ biết chừng nào. Nó theo

dõi ráo riết với một đôi mắt tò mò, vừa phỏng đoán ("chắc là từ hôm ..."), vừa khẳng định

("tôi thì tôi lại thấy ..."). Trong những lời đối thoại ấy, ta thấy mội dƣ luận rất tàn nhẫn, cay

độc, một môi trƣờng thiếu cảm thông mà luôn xoi mói, mỉa mai.

Và đây là mội đoạn đối thoại - dƣ luận về nhân vật Long, dƣ luận của chính những

"ngƣời bạn thân" của nhân vật này:

"- Rõ thực vô phúc cho Nghị Hách !

- Ấy là một vị anh hùng trong nghiệp phá sản ! ...

- Chỉ thƣơng thay cho ông đốc nhà tôi thôi ! giữ gìn để cho thằng con rể nó phá.

- Thằng Long nó có vẻ giám đốc hơn Tú Anh nhiều.

- Vợ nó đẹp thế mà nó vẫn chơi bời thế !

- Đầy tớ nó kêu không bao giờ nó nhìn nhận đến vợ nó cả ! Thế có quái lạ không anh

em?

- Con Tuyết đẻ non, ốm yếu nhƣ thế, mà thằng chồng đêm nào cũng đi nhƣ thế, con

Tuyết chết mất! Tiền oan nghiệp chƣớng gì đây !

- Sự thƣờng ! một đứa sinh trƣởng ở nơi bần hàn, không cha, không mẹ mà lại đào

đƣợc mỏ thì chí có cách chơi bời lêu lổng. Các anh có rõ ràng thằng Long là con nuôi của hội

trẻ con vô thừa nhận hay không ?

- Thế à ! thế à ! bây giờ tao mới biết đấy ! sao nó lại lấy đƣợc con Nghị Hách ?

108

- Thế mới kỳ ! Nghị Hách có thế mới leo lên đƣợc ghế nghị trƣởng chứ ? các báo ba

kỳ độ ấy, chẳng khen ngậu sị lên là Nghị Hách có óc bình dân, tƣ tƣởng xã hội đó sao ?

Họ còn nói nhiêu.... "

M. Bakhtin trong quá trình phân tích những thủ pháp nghệ thuật khơi gợi, kích thích

sâu sắc và tinh tế của Đốtxtôiepxki đã so sánh nhà văn bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực này

với những nhà văn của chủ nghĩa biểu hiện Đức: Komfeld, Werfel: "Trong đa số trƣờng hợp,

họ không biết đi xa hơn sự kích động những cơn istêri và cuồng loại istêri bởi vì họ không

biết tạo ra cái bầu không khí xã hội vô cùng phức tạp và tinh tế xung quanh nhân vật (chúng

tôi nhấn mạnh - PMH), chính bầu không khí ấy bắt buộc các nhân vật phải bộc lộ mình và

bày tỏ mình qua đối thoại, phải nắm bắt những khía cạnh của con ngƣời mình trong ý thức

của những ngƣời khác" [11.250-251].

Chỉ qua một đoạn đối thoại - dƣ luận, tƣởng nhƣ là những lời bình phẩm rất bâng quơ,

khách quan đó, Vũ Trọng Phụng đã "biết tạo ra cái bầu không khí xã hội vô cùng phức tạp và

tinh tế" xung quanh nhân vật Long. Từ đó giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc rất rõ cái môi

trƣờng xã hội xung quanh nhân vật này, khi những lời bình phẩm ác nghiệt hàm chứa cả sự

hả hê, khoái chá ấy phát ra từ cửa miệng của chính những kẻ đƣợc coi là "bạn thân", là "cánh

hẩu" của Long, những kẻ đang đƣợc dự một cuộc "dạ yến long trời lở đất" mà Long chính là

Mạnh Thƣờng Quân - khổ chủ. Cũng qua dƣ luận ấy, số phận cuộc đời nhân vật Long, nỗi bất

hạnh đớn đau của kẻ mà "dƣ luận"tƣởng là may mắn này đƣợc làm nổi bật và bản chất đê tiện

với những thủ đoạn chính trị của Nghị Hách bị vạch trần. Ở đây, dƣ luận vừa có tác dụng tạo

hoàn cảnh vừa có tác dụng làm nổi bật tính cách và tác động mạnh mẽ tới tính cách, số phận

của nhân vật. Hành động tự sát ngay sau đó của nhân vật Long chắc rằng có căn nguyên

không nhỏ từ cái "bầu không khí xã hội" đƣợc toát ra qua lời lẽ của những "nhân vật dƣ luận"

đó.

109

Nhƣ vậy, hoàn cảnh Giống tố đƣợc đan dệt nên bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố

những lời đồn đại, những dƣ luận (thƣờng là dƣ luận xấu). Sự kiện nào cũng có thể dẫn tới

những lời đồn đại, dẫn tới dƣ luận, mà ba trích đoạn trên đây chỉ là những ví dụ tiêu biểu.

Chúng ta còn có thể tìm thấy trong Giống tố nhiều biểu hiện của dƣ luận và những lời đồn

đại nhƣ thế. Chẳng hạn, việc Nghị Hách đến huyện Cúc Lâm theo giấy gọi của tri huyện đã

làm cho "ngƣời dân ở đây nhốn nháo đồn đại cho rằng có vị quan to nào đã về bản huyện.

Người nói đó là quan công sứ về hiểu dụ. Kẻ kêu đó là quan thống sứ về kinh lý. Lại có kẻ

cam đoan đó chỉ là quan nghị ngƣời Nam. Người ta chỉ thoáng thấy chiếc xe hơi hòm ...

Người ta chỉ trông thấy cái hình thức ... Cho nên có những lời đồn đại huyên thuyên kể trên".

Cái dƣ luận ấy nhiều khi rất khắc nghiệt, tàn nhẫn: trong khi thị Mịch khổ đau đến ốm liệt

giƣờng vì nỗi nhục thì "bọn con giai trong làng cứ há mồm ra mà cƣời sau khi đồn đại nhau

rằng ấy là cô bé làm ra thế cho đỡ ngƣợng đó mà thôi". Trƣớc " những cái dư luận khốn nạn

của hạng người nông nổi" ấy, thị Mịch đã khổ đau, ê chề lại càng nhục nhã, đau đớn hơn.

Hành động tự tử sau đó của thị Mịch một phần xuất phát từ áp lực tâm lý đó của hoàn cảnh.

Những lời đồn dại, dƣ luận có khi chỉ xảy ra trong phạm vi làng Quỳnh Thôn hoặc

rộng hơn là phạm vi huyện Cúc Lâm. Nhƣng cũng lại có những sự kiện dẫn tới dƣ luận ở một

phạm vi rộng hơn. Chẳng hạn dƣ luận về hành động của Nghị Hách đối với Thị Mịch không

chỉ bó hẹp trong phạm vi huyện Cúc Lâm mà nó còn "làm cho dư luận Bắc Kỳ rất xôn xao".

Những dƣ luận gần gũi, nhạy cảm và dai dẳng nhất vẫn là dƣ luận làng xã. Xoay quanh câu

chuyện về quan hệ của Thị Mịch và Nghị Hách, đã có biết bao nhiêu lời đồn đại. Có khi nó

thể hiện qua "những câu chế nhạo của bọn giai làng vô giáo dục”; có khi nó là những dƣ luận

không rõ xuất xứ từ đâu ("người ta đồn nhau thế thì phải", "người ta đồn rằng "những lời

đồn đại ở ngoài.. ") Những dƣ luận ấy rất nhiều chiều và cũng rất sôi động. Chỉ với "vài chiếc

xe hơi mấy

110

nghìn cau, mấy trăm bánh và ba trăm bạc" của Nghị Hách trong lễ ăn hỏi cũng đủ làm cho ở

Quỳnh Thôn "cả làng đã nhao lên rồi”. Sự kiện bất ngờ ấy đã khiến cho "dư luận của làng

bỗng xoay đổi hẳn". Và việc cái đám cƣới to tát nhƣng không có chú rể lại khiến cho "cả

làng bàn tán về chỗ ấy dữ dội lắm"...

Nhƣ vậy tạo dựng hoàn cảnh trong Giống tố không chỉ là sự đan cài, giăng mắc, va

đập của các nhân vật có tên, có ngoại hình rõ nét, mà còn là những nhân vật không xuất đầu

lộ diện thông qua dƣ luận với những lời đồn đại. Những yếu tố này không chỉ góp phần tạo

không khí cho hoàn cảnh mà nó còn tạo môi trƣờng để nhân vật bộc lộ tính cách. Và ngƣời

đọc vẫn có thể tiếp nhận ở những dƣ luận, lời đồn đại nhiều khi tƣởng nhƣ nhiễu nhƣơng, vô

tâm của những nhân vật vô danh ấy ("người ta nói...", " kẻ kêu đó là "lại có kẻ cam đoan

"một người nói "một người khác nói " người kia lại nói..."...) những thông tin để hiểu về hoàn

cảnh và số phận tính, cách nhân vật. Bởi vì "ngoài những câu phê bình độc ác thì câu chuyện

ngồi lê bắt chấy ấy chẳng phải là không có chút ít sự thực". Tạo dựng hoàn cảnh bằng những

chi tiết về dƣ luận, lời đồn đại, chắc rằng không nằm ngoài ý thức nghệ thuật của tác giả

Giống tố.

3.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Giống tố

Một trong những yếu tố quan trọng làm nên hoàn cảnh nghệ thuật của tác phẩm

Giống tố là hệ thống những xung đột mâu thuẫn chồng chéo, đan cài trong tác phẩm. Những

xung đột, mâu thuẫn trong thế giới nghệ thuật Giống tố cũng muôn hình muôn vẻ, phức tạp,

rối rắm, căng thẳng nhƣ chính những xung đột của xã hội bên ngoài. Nói cách khác, những

mâu thuẫn, xung đột bên ngoài xã hội đã đƣợc thể hiện tập trung cao độ ở những mâu thuẫn

xung đột giàu kịch tính trong tác phẩm.

111

3.2.1. Những mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ xã hội

Mâu thuẫn đầu tiên trong Giống tố nảy sinh từ vụ Nghị Hách cƣỡng dâm Thị Mịch.

Sự kiện này không chỉ dẫn tới mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân mà còn là mâu thuẫn giữa

một tên bạo chúa khét tiếng dâm ác với dân làng Quỳnh Thôn và bộ máy hành chính của nó,

bởi nỗi nhục của Thị Mịch cũng đƣợc xem nhƣ nỗi nhục của cả làng (lời Chánh Hội với dân

làng: "... nhục lắm ! xấu hổ lắm ! mà nhục cho cả làng ; nhục cho cả cái làng này, các cụ đã

biết chƣa?").

Thế rồi, từ cái mâu thuẫn ban đầu ấy, hàng loạt những mâu thuẫn khác nảy sinh trƣớc

hết, nó nảy sinh trong nội bộ dân làng Quỳnh Thôn. Xung quanh sự kiện ấy, ngƣời ta "chế

diễu nhau", "khích bác nhau", "chửi bới nhau", "người nọ vặc người kia", "cả một làng

không còn một ai giữ được trí khí với một ai nữa". Và rồi những xung đột đã biến thành

những vụ xô xát: "Ngƣời ta đếm ra thì trung bình mỗi ngày có hai đám cãi nhau, hoặc chửi

bới nhau". Thậm chí dẫn tới những vụ đánh nhau, Chỉ trong vòng nửa tháng kể từ khi mâu

thuẫn ban đầu nảy sinh "ngƣời ta đếm đƣợc trong làng có ba mươi nhăm vụ xung đột, trong

số đó có một đám ăn vạ, hai đám có kẻ bươu trán vỡ đầu"... Những xung đột ấy khiến cho

"bầu không khí hầu như không thở được nữa" và trong làng Quỳnh Thôn "từ trẻ đến già, từ

nhớn đến bé, đã sống qua những ngày giờ nặng trình trịch, rất hỗn loạn".

Không chỉ trong nội bộ dân làng, mà nội bộ chức dịch làng Quỳnh Thôn cũng nảy

sinh những mâu thuẫn xung đột xung quanh vụ kiện Nghị Hách." Xung đột này nẩy sinh do

sự mâu thuẫn giữa hai phái: kiện và không kiện. Phái chủ trƣơng kiện, đại diện là chánh hội

và phải chủ trƣơng không kiện đại diện là lý trƣởng. Thực chất đây là mâu thuẫn giữa những

con ngƣời muốn thực hiện công lý, muốn bảo vệ danh dự làng xã với những con ngƣời hiểu

đƣợc bản chất của quan trƣờng, bản chất của pháp luật nằm trong tay kẻ mạnh Và cuối cùng,

những kẻ còn ảo tƣởng mơ hồ ở công lý, ở những kẻ đại diện pháp luật, đã phải chấp nhận

cúi đầu khuất phục.

112

Xét trong phạm vi xung đột của những quan hệ xã hội, ta còn có thể thấy mâu thuẫn

giữa Nghị Hách với viên tri huyện trẻ Cúc Lâm và giữa tri huyện trẻ Cúc Lâm với quan tổng

đốc. Mâu thuẫn giữa Nghị Hách và tri huyện Cúc Lâm là mâu thuẫn giữa kẻ tội phạm nhâng

nháo, ý thức đƣợc sức mạnh của đồng tiền với một kẻ trong giới quan trƣờng mà còn giữ

đƣợc lƣơng tri, đạo đức. Mâu thuẫn giữa tri huyện Cúc Lâm với tổng đốc là mâu thuẫn giữa

một viên quan có chí khí chƣa bị lóa măt bởi kim tiền và không khiếp sợ quyền uy với một kẻ

giữ trọng trách trong bộ máy hành chính mà chỉ quen nghề ăn hối lộ và sự phỉnh nịnh. Nhƣng

tất cả những xung đột xảy ra đƣợc giải quyết nhanh chóng bằng việc tri huyện Cúc Lâm từ

chức. Điều đó phản ánh một qui luật của xã hội đƣơng thời. Đó là một xã hội không dung thứ

cái tích cực, cái thiện. Kẻ nào đi ngƣợc qui luật ấy sẽ bị đào thải ra khỏi guồng máy xã hội

vận hành bởi sức mạnh của đồng tiền.

Mâu thuẫn xung đột giữa Long và Mịch cũng có thể coi là mâu thuẫn xung đột nằm

trong mối quan hộ xã hội. Tình yêu của Long - chàng trai có một quá khứ đầy bất hạnh với

Mịch - ngƣời gái quê hiền lành chăm chỉ đã sớm bị tổn thƣơng bởi hành động bỉ ổi của Nghị

Hách. Sau sự kiện đau lòng đó, do những nghi ngờ, hiểu lầm, Mịch không tìm đƣợc ở Long

sự thông cảm, và Long cũng không thấy ở Mịch sự đáng cảm thông. Cho nên đã có lúc họ coi

nhau nhƣ kẻ thù. Mịch đã có ý nghĩ căm thù Long và ngƣợc lại Long cũng đã có ý nghĩ khinh

bỉ, căm thù Mịch. Thậm chí có lúc, Long đã "muốn bổ vào mặt Mịch" và đã "bóp cổ Mịch"

trong một cơn giận điên cuồng. Xung đột giữa Mịch và Long cũng phản ánh sự nghiệt ngã

của hoàn cảnh xã hội. Đó là cái hoàn cảnh có thể giết chết những mối tình trong sáng, bình

dị, thậm chí nó còn có thể biến tình yêu thành thù địch, biến ngọn lửa tình yêu thành ngọn lửa

của lòng căm hờn.

113

3.2.2. Những mâu thuẫn trong các quan hệ gia đình

Hoàn cảnh trong Giống tố là hoàn cảnh ở đó chồng chéo đan cài các tầng bậc mâu

thuẫn. Có những xung đột mâu thuẫn nảy sinh từ các mối quan hệ xã hội và có cả những mâu

thuẫn xung đột này sinh trong quan hệ gia đình. Đó là những mâu thuẫn trong gia đình ông

đồ Uẩn và đặc biệt là trong nội bộ gia đình nghị Hách.

Trong gia đình ông đồ Uẩn, sau sự việc Thị Mịch bị Nghị Hách làm nhục, một loạt

các mâu thuẫn lại nảy sinh: mâu thuẫn giữa ông đồ và bà đồ xung quanh việc kiện và không

kiện, mâu thuẫn giữa ông đồ và Thị Mịch, mâu thuẫn giữa ông đồ và Cả Phái - "thằng còn

giai vô hạnh"... những mâu thuẫn giữa những cá nhân trong gia đình ông đồ Uẩn cũng tích tụ

làm tăng thêm cái không khí đầy xung đột của hoàn cảnh Giống tố.

Tâm điểm của những mâu thuẫn xung đội tạo hoàn cảnh trong Giống tố là mâu thuẫn

trong nội bộ gia đình Nghị Hách. Thực ra trong gia đình tên bạo chúa giàu khét tiếng miền

trung thổ này đã ngầm chứa những mâu thuẫn, xung đột. Vụ án về "dâm sự" của Nghị Hách

tin làng Quỳnh Thôn có thể coi nhƣ cái "hích" đầu tiên gây nên những mâu thuẫn xung đột

dây chuyền làm lung lay tận gốc rễ nền tảng tƣởng nhƣ là vững chãi, bền chắc của gia đình

tên bạo chúa này. Cơn Giống tố của cuộc đời đã làm tanh bành tất cả những gì mà hắn vẫn

đậy che.

Mâu thuẫn đầu tiên trong nội bộ gia đình Nghị Hách nảy sinh từ vụ cƣỡng dâm Thị

Mịch là mâu thuẫn giữa Nghị Hách và Tú Anh. Không phải đến vụ này, Tú Anh mới mới

hiểu bản chất dâm ô đểu cáng của Nghị Hách. Chính Tú Anh đã nói với Nghị Hách là "ông

đã làm nhiều điều bỉ ổi lắm" và "Tôi đã đến lúc không nín đƣợc rồi". Nghĩa là, đến lúc này

xung đột chính thức đƣợc bộc lộ. Xung đột này cũng rất căng thẳng chứ không hề giản đơn.

Là một ngƣời có ý thức về nhân phẩm, trƣớc việc làm bỉ ổi của Nghị Hách Tú Anh đã muốn

đƣợc chết để tránh nỗi nhục là con của một kẻ đểu giả: "Thƣa ông xin ông cho tôi chết - Ông

giết tôi đi".

114

Cũng trong nội bộ gia đình Nghị Hách, còn có mâu thuẫn giữa Nghị Hách và Vạn tóc

mai. Là một đứa con của Nghị Hách bị bỏ rơi, Vạn tóc mai căm thù Nghị Hách và chỉ rình có

cơ hội là trả thù, dù chỉ là bằng cách vạch mặt bản chất dâm ô đểu cáng của kẻ mà lẽ ra hắn

phải gọi là bố: " Cải thằng cha ấy nó đẻ ra moa, chính là vì một phút điên rồ của xác thịt

đấy", "Lúy bỏ ma mẹ nghèo chết, rồi bây giờ Lúy lại chực từ nốt cả moa ! các đằng ấy bảo vì

lẽ gì mà tớ lại không rửa thù ?". Nói về Nghị Hách, Vạn tóc mai "nghẹn ngào nói bằng giọng

đầy những căm hờn". Trong những lời tâm sự với ông già Hải Vân về Nghị Hách, Vạn tóc

mai luôn: "Bực lắm bố ạ !", "tức lắm bố ạ", "phải vào địa vị con thì mới có những nối uất ức

như con". Bởi vậy "bất cứ ai, hễ làm tiền đƣợc ông via nhà con thì con cũng sƣớng". Có thể

nói trong con mắt của Vạn tóc mai, Nghị Hách bị nhìn nhƣ kẻ thù.

Mâu thuẫn giữa Nghị Hách và vợ thực ra cũng đã có mầm mông từ mấy chục nằm về

trƣớc, khi Nghị Hách còn là Cai Hách. Chính cai Hách đã "gắp lửa bỏ tay ngƣời" để đẩy Hải

vân vào tù và chiếm đoạt vợ bạn. Bà Nghị Hách đã trả thù bằng cách ăn nằm với Hải Vân

(nhiều nhân vật trong Giống tố hay trả thù bằng ngoại tình, bằng cái dâm). Hai mƣơi năm

sau, việc bà Nghị Hách ngủ với cung văn, thực ra cũng là một cách trả thù "thằng chồng đã

rắc con đầy thiên hạ". Đỉnh điểm của xung đột giữa hai nhân vật này diễn ra khi Nghị Hách

nhờ Hải Vân giúp, đã bắt quả tang bà Nghị thông dâm với cung văn. Sự kiện này là một tấn

hài kịch nhƣng lại mang "không khí bi kịch". Đây là con lốc cuối cùng làm lật đổ tanh bành

tất cả những gì mà bấy nay Nghị Hách vẫn che đậy, bƣng bít. Bà Nghị trong tình huống là

một "tội dâm" đã đứng ở vị trí quan toa lớn tiếng vạch mặt chỉ trán lên án, kết tội Nghị Hách

và cũng ngang nhiên thừa nhận: "Không bao giờ bà yêu thƣơng gì mày ! bà ăn ở với mày ba

chục năm nay là vì bần cùng ! xƣa kia bà cũng vẫn lừa mày bây giờ mày, mới biết thì mày cứ

việc mà biết !".

115

Trong những mối quan hệ giằng chéo, đan cài của gia đình Nghị Hách, những mâu

thuẫn xung đội chồng chất, và những cuộc loạn luân (có ý thức và không có ý thức: bố hiếp

vợ của con, con thông dâm vợ bố, anh em ruột thông dâm ...) đã cùng với những mối quan

hệ, mâu thuẫn xung đột khác tạo nên một hoàn cảnh đầy căng thẳng, những mầm mông tất

yếu của một cơn Giống tố.

Có thể nói, những xung đột đầy kịch tính trong hoàn cảnh Giống tố không chỉ là

những mâu thuẫn, xung đội giữa những lực lƣợng giai cấp, phe phái, giữa những nhân vật

phản diện và chính diện, giữa kẻ giàu và ngƣời nghèo mà là những xung đội mâu thuẫn ở mọi

cấp độ, mọi mối quan hệ xã hội và quan hệ gia đình. Những mâu thuẫn xung đột ấy khi âm ỉ,

tích tụ, lúc bùng nổ dữ đội. Nó có khi dồn nén ở những tƣ tƣởng hờn căm, những ý định báo

thù (mà chúng tôi đã đề cập tới ở phần trƣớc). Có khi nó bộc lộ qua những lời phẫn uất, rủa

xả. Trong Giống tố đầy rẫy những lời chửi rủa cay độc, ác nghiệt của nhân vật: có khi đó là

lời chửi rủa của vợ với chồng - đó là lời chửi của bà Nghị Hách: "Đồ lường đảo! Quân giết

người ! Đồ lừa thầy phản bạn ! Quân hiếp dâm !"; có khi là lời chửi của chồng với vợ - Nghị

Hách chửi bà Nghị: "Bà vác cái mặt ra đây để cho ngƣời ta nhổ vào mặt đi ! Đồ chó cái ! " ;

ông đồ chửi bà đồ: "Tôi xin con gái già ! Con gái già đừng có thêm điều ..." ; có khi là lời

chửi rủa của cha với con - Ông đồ Uẩn chửi Mịch: "Đồ đĩ dại! Đồ nhà thổ! Đồ chó ! ; có khi

là lời chửi rủa giữa một ngƣời bạn cũ với một ngƣời bạn cũ - Nghị Hách chửi ông già Hải

Vân: "A ! Đồ khấn nạn! Quân chó má" ... thậm chí là những lời chửi rủa cay độc của một

ngƣời yêu với một ngƣời yêu. Đó là những lời chửi của Long vói Mịch: "Đồ khốn nạn! bố

khốn nạn, con khốn nạn ! " ; "Đồ khốn nạn! Một lũ khốn nạn !" ; "Con khốn nan ! mày có lên

đây ngay không ?" ; "Thằng này phụ cô ? Ai phụ ai ? Hở ! con khốn nạn ! Đồ đĩ rạc! Tao làm

gì .... ", "Tại sao lúc nó hỏi thì cô vui mừng nhƣ bắt đƣợc của rồi nhận lời ngay tức khắc ? sao

thế ? sao thế hả đồ chó ?".. và ngƣợc lại, lời chửi của Mịch với Long: "Quân giả dối ! Quân

khốn nạn!

116

đừng mong đeo mặt nạ mà lừa đƣợc tôi đâu ! ")... Những lời chửi rủa tàn nhẫn đó giữa các

nhân vật cùng với những suy nghĩ hờn căm, những khao khát đƣợc trả thù thể hiện cả trong

suy nghĩ, lời nói và việc làm của nhiều nhân vật đã làm cho hoàn canh Giống tố trở nên đầy

kịch tính.

3.2.3. Những mâu thuẫn xung đột trong thế giới nội tâm nhân vật

Trong Giống tố, những xung đột kịch tính không chỉ thể hiện trong mối quan hệ tác

động va chạm giữa cá nhân với hoàn cảnh, giữa cá nhân với cá nhân, giữa lực lƣợng này với

phe phái khác ... mà nhiều khi nó còn thể hiện ngay trong thế giới nội tâm nhân vật. Có thể

nói, trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng đã có nhiều trang viết rất thành công, sâu sắc, biện

chứng về những trăn trở, giằng xé trong thế giới tâm hồn nhân vật. Tiêu biểu là việc thể hiện

những mâu thuẫn xung đột trong thế giới tâm hồn nhân vật Mịch và Long, hai nhân vật chính

- hai hiện thân nạn nhân của hoàn cảnh.

Trƣớc hết, xin dừng ở nhân vật thị Mịch. Ngƣời gái quê nghèo khó, xinh dẹp này

"mƣời tám tuổi đầu cũng vẫn ngây thơ khờ dại nhƣ gái mƣời lăm". Nhƣng hành động bỉ ổi

của Nghị Hách đã tạo nên một bƣớc ngoặt lớn trong cuộc đời của cô thôn nữ ấy. Trƣớc sự

việc đau lòng đó, Mịch đã khóc rất nhiều: "Hai hàng lệ ràn rụa, Mịch sụt sùi, Mịch khóc nức

nở ","Mịch thổn thức hàng giờ". Nỗi đau đớn khiến "Mịch tủi thân, giận đời, chỉ muốn chết

". Từ cái nhìn hồn nhiên, trong sáng về cuộc đời, Mịch "thấy đời là độc ác vô cùng, thấy chị

em bạn gái trong làng là tồi tệ, thấy bố mẹ không đủ sức chống chọi, thấy trời phật là những

đồ thong manh Và Mịch đã tự tử nhƣng mà may đã đƣợc cứu sống. Chính những lời nói và

việc làm cao thƣợng của Long đã níu giữ đƣợc Thị Mịch sống ở đời. Nhƣng cũng lại chính

những hiểu lầm, nghi kỵ của Long cùng với sự sắp đặt của Tú Anh đã đẩy Mịch vào một thế

giới đen tối, để rồi cái cô Mịch ngây thơ khờ dại ngày xƣa đã bị cảnh ngộ mới biến thành một

con ngƣời khác hẳn. Chấp nhận làm vợ Nghị Hách, Mịch luôn phải sống trong những tâm

trạng đầy mâu thuẫn: vừa nhớ nhung, yêu thƣơng, vừa hờn giận, thậm chí căm thù Long. Vừa

có những suy nghĩ, dằn vặt khi

117

thấy mình làm điều gì không phải, dù chỉ trong ý nghĩ, lại vừa luôn có những tƣ tƣởng thấp

hèn, có những phút giây sa đọa về đạo đức dù cũng chỉ là trong thế giới tinh thần, trong

tƣởng tƣợng. Và "sau những phút ghê tởm đáng kinh hoàng ấy, sau khi ma quỉ đã phải chạy

xa, để cho thiên thần đến thắng trận trong lòng ngƣời nhƣ thế, Mịch "không phải là không hối

hận". Trong thế giới nội tâm của Mịch luồn có sự giằng co giữa thiên thần và ác quỉ. Nó tạo

nên một tấm bi kịch tinh thần đau đớn trong tâm hồn ngƣời phụ nữ bất hạnh ấy.

Ở cuối tác phẩm, khi chia tay với Tú Anh bên bờ biển, trƣớc một cơn Giống tố, ông

già Hải Vân có nói với Tú Anh một câu nói đầy ý nghĩa: "... con sợ cơn Giống tố ngoài bể,

thế con không sợ cơn Giống tố ngay trong lòng con bây giờ đó sao ?". Nhƣ vậy, Giống tố

không chỉ là không khí của hoàn cảnh xã hội, mà nó còn là những cơn bão lòng, cơn cuồng

phong dữ đội đang gào thét trong tâm hồn nhân vật. Nó không chí gầm thét trong tâm hồn Tú

Anh mà còn trong thế giới tinh thần của Mịch, của Long ... và nếu nói rộng hơn, cả trong

Nghị Hách, ổng đồ Uẩn ... và một số nhân vật khác nữa. Tất cả những trận Giống tố trong

tâm hồn mỗi nhân vật ấy cũng cộng hưởng và cùng với nhiều yếu tố khác làm nên cơn Giống

tố của cả xã hội. Ở đây, hoàn cảnh đã tác động sâu sắc tới thế giới tâm hồn nhân vật và thế

giới tâm hồn nhân vật đã phản ánh hoàn cảnh.

Trong số các nhân vật của tác phẩm Giống tố, Long là một nhân vật phải chịu nhiều

giằng xé đau đớn trong thế giới tinh thần hơn cả. Các quan hệ xã hội, quan hệ gia đình và

quan hệ tình yêu của nhân vật này đều chứa rất nhiều những yếu tố, tình huống, tâm trạng đầy

mâu thuẫn: căm thù Nghị Hách kẻ đã cƣỡng đoạt ngƣời vợ chƣa cƣới của mình, nhƣng lại

phải làm tôi tớ cho hắn phải đứng ra giàn xếp hậu quả của nó nhƣ một ngƣời ngoài cuộc; kính

trọng biết ơn Tú Anh, ngƣời đã cƣu mang mình, nhƣng lại phải lừa dối Tú Anh yêu thƣơng,

cảm thông với Thị Mịch nhƣng lại nghi ngờ, hiểu lầm để rồi đối xử tệ bạc với Thị Mịch.

Trong cuộc tình duyên vụng trộm với Thị Mịch không phải là Long không có sự dằn vặt

lƣơng tâm vì biết mình đang làm những điều đáng xấu hổ, Chính Long đã nói với Mịch về

điều này: "Tôi thấy rằng cái

118

cuộc ái ân vụng trộm này đã xếp tôi vào hàng những kẻ thất phu, vô học, những kẻ mất nhân

cách, những kẻ vô lương tâm". ... Những xung đột đầy kịch tính trong tâm hồn chàng trai vốn

có nhiều cách và rất trọng nhân cách ấy càng trở nên gay gắt đau đớn hơn khi Long biết Nghị

Hách chính là cha đẻ của mình. Biết đƣợc điều đó cũng có nghĩa là Long phải đối diện với

một sự thật đau lòng, nhục nhã của những cuộc loạn luân có ý thức và không có ý thức. Bởi

vậy vào cái giây phút biết đƣợc sự thật ấy "Long gào thét như hóa điên Tôi ?.tôi mà lại là con

ông Nghị Hách! ồ ! Thế thì quá lắm ! thế thì ra bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của

bố... rồi thì anh em ruột ... anh em ... ruột ...". Đỉnh điểm của những mâu thuẫn, xung đột dữ

dội trong thế giới tâm hồn Long đã diễn ra vào sự kiện cuối cùng của Giống tố. Nỗi đau đớn

nhục nhã và sự dằn vặt của lƣơng tâm đã khiến Long tìm đến cái chết, một cái chết thê thảm,

nhƣ một sự giải thoát. Trận cuồng phong cuối cùng này của cơn Giống tố cuộc đời càng làm

bổi bật hơn sự tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh tới số phận con ngƣời. Trong vòng xoáy

của nó, không chỉ mọi mối quan hệ, ngôi thứ bị đảo lộn mà có khi còn dẫn tới sự hủy diệt.

3.3. Cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền

3.3.1. Cơ chế dâm loạn

Bàn về tác phẩm Vũ Trọng Phụng, ngƣời ta thƣờng nói tới vấn đề cái dâm một vấn đề

nổi bật, xuyên suốt và nhiều khi bị coi là một hạn chế trong tác phẩm của ông. Nhà văn Lan

Khai nhận thấy: " Khi đọc văn phẩm của Vũ Trọng Phụng, ta thấy lúc nhúc một nhân loại đen

tối, ngu xuẩn ích kỉ, tàn nhẫn và dâm loạn một cách vô cùng lố bịch" [195.159]; Vũ Ngọc

Phan nhận xét:" Trong tất cả các văn phẩm của ông, dù là phóng sự hay tiểu thuyết, bao giờ

cũng bị cái ý tƣởng dâm dục ám ảnh" [195. 183]; Nguyễn Đức Đàn nhấn mạnh bản năng tình

dục ảnh hƣởng tới nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng:" Xã hội do Vũ Trọng

Phụng sáng tạo ra là một xã hội trong đó cái thế lực đen tối của bản năng tình dục (tức là cái

mà Frớt gọi là li bi đô) tác động sâu sắc đến số phận của các nhân vật" [195.316] và khẳng

định : "Những

119

ngƣời bênh vực Vũ Trọng Phụng cũng không thể phủ nhận tính chất khiêu dâm ở các tác

phẩm nhƣ Làm đĩ, Cơm thầy cơm cô, Giống tố, Số đỏ ..."[195.322]... có thể thấy rất nhiều ý

kiến đại loại nhƣ thế về vấn đề cái dâm trong văn chƣơng của nhà văn họ Vũ. Ở đây, chúng

tôi chỉ nhìn nhận vấn đề này từ góc độ xem đó như một cơ chế của hoàn cảnh.

Đúng nhƣ một nhà nghiên cứu đã nhận xét: " Thế giới Giống tố là một thế giới trong

đó dâm thần tác phúc, tác họa ghê gớm, một thế giới mà sức mạnh của libiđô có một thế lực

vạn năng" [195,319]. Nhƣng cũng phải thấy rằng, việc thể hiện cái dâm trong các tác phẩm

của Vũ Trọng Phụng nói chung và trong Giống tố nói riêng, suy cho cùng xuất phát từ quan

niệm, cái nhìn của nhà văn về cuộc đời (mà theo chúng tôi, Vũ Trọng Phụng không có ý định

khiêu dâm nhƣ quan niệm của một số ngƣời).

Viết về cái dâm, Vũ Trọng Phụng phản ánh một thực trạng trong thối nát của xã hội

đƣơng thời, khi mà dâm loạn dƣờng nhƣ đã không chỉ còn phạm vi tính cách mà đã trở thành

một cơ chế xã hội. Thiều Quang, trong bài viết Chút ít tài liệu về Vũ Trọng Phụng cho biết

việc Vũ Trọng Phụng viết nhiều về cái dâm xuất phát từ nhiều lí do, một trong những lí do ấy

là sự " com măng" của nhà xuất bản; và vì thế, ông đã nói: " thiên hạ đã muốn ông viết khiêu

dâm thì rồi ông sẽ viết, ông sẽ "lật tẩy "từ trong ruột chúng ra : nó dâm, mẹ nó dâm, vợ nó

dâm, con nó dâm, chúng nó dâm trong nhà, chúng nó dâm ngoài đời, vợ dâm với bạn, bố dâm

với con, con nhân tình chung với mẹ, thầy tớ dâm với chủ nhà, thằng bé chƣa ráo máu đầu

cũng biết dâm trong lòng ngƣời vú em. Dâm tất. Cả một xã hội dâm (chúng tôi nhấn mạnh -

PMH)" [195.231].

Nhƣ vậy trong cái nhìn của nhà văn họ Vũ, xã hội đƣơng thời là xã hội đầy rẫy những

chuyện dâm loạn, cái dâm đã trở thành cơ chế tâm lí, cơ chế xã hội. Cũng trong bài viết trên,

Thiều Quang đã nhận định rất đúng về vấn đề này: " Theo quan niệm của anh (Vũ Trọng

Phụng), quan niệm đúc nên bởi kinh nghiệm cuộc sống trong phạm vi của mình, cái dâm là

bản chất của con

120

ngƣời " trƣởng giả". Trong xã hội trƣởng giả, theo mắt anh, một qui luật tất yếu của họ là cha

dâm đằng cha, con dâm dằng con, vợ dâm đằng vợ, chồng dâm đằng chồng..." [195.249 ].

Quan niệm đó của Vũ Trọng Phụng đã đƣợc phát ngôn" qua lời nói của nhân vật Tú Anh với

Long trong Giống tố: " Hoặc là ông ngồi trong văn phòng, hoặc là ông ra ngoài phố, mắt

ông, tai ông, lúc nào ông cũng chỉ thấy sự dâm đãng đội lốt văn chương mĩ thuật mà thôi.

Văn chƣơng sách vở khiêu dâm, phim ảnh khiêu dâm, nhà hát khiêu dâm, tranh ảnh khiêu

dâm, phòng khiêu vũ, nhà săm, những quân phu xe báo ông đi lấy sự trinh tiết của mọi hạng

phụ nữ bằng năm đồng cũng khiêu dâm, nói tóm lại thì bao nhiêu cái xô đẩy người ta vào

vòng thương luân bại lí ! Ông có thấy rằng chúng ta đang đắm đuối ngập lụt đến cổ vì vũng

lầy dâm đãng đó không?". Nhƣ vậy, rõ ràng cái dâm đã trở thành một nét quán xuyến chủ

đạo ca cái xã hội Giống tố, nó chi phối tới toàn bộ đời sống xã hội và đến tận đời sống của

từng hạt nhân trong xã hội, đó là gia đình - điển hình là gia đình Nghị Hách. Khi Phan Cƣ Đệ

nhận xét trong Giống tố "Cả một bọn ngƣời mê mệt, chìm đắm trong cơn dâm loạn để tìm

những khoái lạc vật chất và cuối cùng chịu những đau khổ do các hành động thú vật ấy gây ra

" [48T2.370] thì có lẽ trƣớc hết là nói tới gia đình " con dê già" với cái "tiếng dâm... đã lừng

lẫy mấy tỉnh" này.

Cơ chế dâm loạn của hoàn cảnh Giống tố biểu hiện ở nhiều yếu tố. Trƣớc hết là ở

những sự kiện, những tình tiết xoay quanh những chuyện dâm ô truy lạc. Tác phẩm mở đầu

bằng một cuộc cƣỡng dâm bẩn thỉu của Nghị Hách với ngƣời gái quê khờ dại ngây thơ là Thị

Mịch, kết thúc tác phẩm cũng là "một cuộc cuồng dâm dữ dội, một bữa dạ yến long trời lở đất

đáng chép vào cuốn sử của khách làng chơi". Giữa hai sự kiện dâm loạn ấy là một loạt các

cuộc loạn dâm khác của các nhân vật: Long thông dâm với Tuyết; Mịch "cho Long ái tình";

vợ Nghị Hách thông dâm với cung văn... Trƣớc những hành vi bẩn thỉu ấy, chính nhân vật

Long đã phải đau đớn, chua chát "gào thét nhƣ hóa

121

điên": "Thế thì quá lắm ! Thế thì quá lắm ! Thì ra, bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của

bố... rồi thì anh em ruột ... anh em ruột. Nếu ngƣợc thời gian trở về với quá khứ, còn có

những cuộc thông dâm giữa Cai Hách với vợ Khoa Hiền và giữa Khoa Hiền với vợ Cai Hách.

Có thể nói, trong tất cả các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thì Giống tố là một tác phẩm xảy

ra nhiều "dâm sự" nhất. Và nếu nhìn ở cái nhìn tổng thể thì tất cả nhũng "dâm sự" ấy dƣờng

nhƣ đều có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau, nhiều khi sự kiện này ít nhiều là hậu quả

của sự kiện trước (Việc Mịch sau khi lấy Nghị Hách vẫn thông dâm với Long cũng là một

cách trả thù Nghị Hách về cái vụ cƣỡng dâm bỉ ổi; Khoa Hiền thông dâm với vợ Cai Hách

cũng là để trả thù kẻ đã thông dâm với vợ mình; Bà Nghị Hách ngủ với cung văn cũng là hậu

quá của việc sống với mội ngƣời chồng dâm đãng đã từng "rắc con khắp thiên hạ"). Ngƣời ta

đến với cái dâm để thỏa mãn thú tính và có khi dùng ngay cái dâm để trả thù nhau, thông dâm

với ngƣời này có khi là để trả thù kẻ khác. Mà trong guồng quay của cơ chế dâm loạn ấy, kẻ

dâm ô đểu cáng nhất - Nghị Hách cũng là kẻ bị trả thù nhiều nhất (đó là khi Mịch thông dâm

với Long, vợ Nghị Hách ngủ với cung văn, Long thông dâm với Tuyết ...)

Trong guồng quay của cơ chế dâm loạn, các nhân vật trong Giống tố có thể dâm

trong ý nghĩ (trong giờ phút chờ đợi ngƣời tài xế chữa chiếc ô tô hỏng giữa đồng khuya

hoang vắng, Nghị Hách "nghĩ đến những cái má hồng mơn mởn, những cánh tay ngọc ngà

của mấy cô đào tơ Hà Nội"; trong những ngày xuống cảng Hải Phòng gặp bà cả của Nghị

Hách để đàm phán về việc lấy vợ lẽ cho ông chủ, "dù không muốn cũng không đƣợc, những

cảnh ân ái với Loan hoặc Tuyết lại bất thần đến chiếm chỗ trong sự mơ màng của Long"- nhớ

lại cái giây phút bị Nghị Hách cƣỡng bức nên xe hơi, có lúc "con vật đã nổi dậy trong lòng cô

gái quê mập mạp, trẻ trung, đƣơng thì ... Mịch nhớ lại lúc ấy một cách say sƣa nhƣ ngƣời háu

đói vậy"... ). Cũng có khi cái dâm biểu hiện trong hành động, cử chỉ (Trong nhà Nghị Hách

"nếu chủ nhân ở nhà thì dù sao

122

cũng phải có sẵn đàn bà để chủ nhân ông sai bảo việc vặt, hoặc ngứa mồm thì hôn một cái,

ngứa tay thì sờ soạng một cái, cấu véo một cái"; những ngày đầu làm vợ Nghị Hách, khi

Long tìm đến, Thị Mịch đã "mở cổng cho Long bằng sự hấp tấp của một con dâm phụ" và

"sáng chủ nhật hôm ấy... y nhƣ một con dâm phụ, Mịch đã cho Long ái tình" ... và còn nhiều

vụ xì - căng - đan khác xoay quanh những vụ loạn luân của gia đình Nghị Hách). Những sự

kiện - tinh thần và những sự kiện - hành động về cái dâm ấy là biểu hiện cơ chế dâm loạn

của hoàn cảnh. Nó không chỉ biểu hiện ở bản chất mỗi tính cách, ở mối quan hệ giữa các

nhân vật, ở trong phạm vi một gia đình, phạm vi xã hội mà còn biểu hiện ở những yếu tố môi

trƣờng. Trong xã hội Giống tố ngƣời ta không chỉ thấy những sự kiện về cái dâm mà thấy cả

những tình tiết, những hình ảnh biểu hiện không khí của cái dâm. Có thể thay không khí ấy ở

trong các nhà săm, điển hình là "tại nhà một ả danh ca ở xóm Khâm Thiên", mà ở đó là đã

diễn ra"một cuộc cuồng dâm dữ dội" vào buổi tối mùa hạ khép lại tấn bi kịch Giống tố. Tại

đây hiện lên "một thị trƣờng hỗn loạn có đủ các cảnh ngộ, đủ các trạng huống của bọn nô lệ

dục tình, từ cao đẳng đến hạ đẳng tất cả "nhào lộn quay cuồng trong một dịp cuồng khấu" khi

"dâm thần đã điểm giờ khai chiến". Không khí ấy còn thể hiện ở cả những tiệm hút, nơi

ngƣời ta đến với mục đích chính là thoả cơn nghiện với nàng tiên nâu (ở đây "bốn mặt tƣờng

đều có vẽ hình đen những mĩ nữ khỏa thân"). Thậm chí nó còn tràn cả vào buồng ngủ của vợ

chồng (lần đầu tiên bƣớc vào buồng ngủ nhà Nghị Hách trong đêm tân hôn, nhìn lên tƣờng

Thị Mịch thấy "mấy bức vẽ đàn bà trần truồng trông đến lạ". Ngƣời gái quê ấy băn khoăn

"không biết ai lại đi treo nhƣ thế, và treo nhƣ thế để làm gì"). Còn có thể thấy nhiều chi tiết

về cái dâm nhƣ thế trong Giống tố. Đó là "bộ đùi thôn nữ trắng nõn, phốp pháp "của Thị

Mịch trong cái nhìn đa dâm của Nghị Hách; là hình ảnh "hai ngƣời thiếu nữ trẻ tuổi cực đẹp,

quần áo mỏng dính trông nhƣ lõa lồ ... "trong đêm Nghị Hách tiếp ông già Hải Vân; là chi tiết

Thị Mịch "áo ngắn quần trong" ra tiếp chuyện Long tại phòng khách; là hình ảnh vợ Nghị

Mách "hạ thể lõa lồ" nằm ôm cung

123

văn ngủ say mê mệt...". Môi trƣờng Giống tố là môi trƣờng của sự dâm loạn. Đúng nhƣ

Trƣơng Chính nhận xét: "Trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng chú ý tả khía cạnh dâm loạn của

con ngƣời nhiều hơn cả, khi tả ông lại tả trần truồng tỷ mỉ (...) có thế nào tả thế ấy, với định

kiến xã hội tư sản là xã hội loạn dâm" [190.154].

Chúng tôi còn muốn nhấn mạnh thêm một điều mà mặc dù đã bàn nhiều về cái dâm

trong tác phẩm Vũ Trong Phụng, ngƣời ta lại chƣa chú ý tới; cái dâm đƣợc Vũ Trọng Phụng

phản ánh, biểu hiện thƣờng ở mức độ đỉnh điểm, nó phải là "cuồng khấu", "cuồng dâm",

"dâm thần" và đặc biệt vì cái dâm đó nhiều nhân vật có thể làm tất cả, bất chấp đạo lý. Ở đây,

chúng tôi không chỉ nói tới Nghị Hách bởi vì ai cũng rất rõ sự bỉ ổi bất nhân, dâm ác của "con

quỷ dâm dục" này. Chúng tôi muốn nói tới những nhân vật mà gốc rễ có bản chất là những

con ngƣời hiền lành, lƣơng thiện, tử tế. Cơ chế dâm loạn cuốn vào cơn lốc loạn dâm của nó

cả những, con ngƣời ấy, khiến họ bất chấp đạo lý. Vì nó mà Mịch đã sẵn sàng "cho Long ái

tình mà không nghĩ đến cái thai trong bụng" ở đậy tình mẫu tử đã bị giết chết. Vì nó, Long đã

"không ngăn nổi dục tình ... mà đến chỗ loạn luân lần thứ nhì vào tối tân hôn" ... Và còn biết

bao kẻ khác bị cuốn vào vòng xoáy của cơ chế ấy.

Bàn về tác phẩm Vũ Trọng Phụng, nhà văn Nguyễn Tuân có viết: "Nói chung về tác

phẩm Vũ Trọng Phụng và cả con ngƣời tác giả, lúc sinh thời và cả sau lúc nằm xuống để

đƣờng hoàng đi vào cõi bất diệt của văn xuôi Việt Nam, rất nhiều ngƣời đọc hay bận tâm về

cái khía dâm trong bất cứ trƣớc tác nào của Vũ Trọng Phụng. Bận tâm đến cái mức độ ngộ

nhận những văn phẩm có chân giá của hiện thực phê phán kia đó là những dâm thƣ. Những

đoạn gọi là dâm ấy mà có vì sự cần thiết của cơ cấu một chuyện dựng thì đấy cũng là những

hiện tƣợng" [242. 226]. Có thể nói, trong nhận định trên, Nguyễn Tuân đã thấy đƣợc dụng ý

nghệ thuật (và sau đó là ý đồ tƣ tƣởng) của Vũ Trọng Phụng trong việc thể hiện cái dâm. Nó

là một yếu tố thuộc cấu trúc hoàn cảnh và suy cho cùng, nó thể hiện quan niệm nghệ thuật về

hoàn cảnh của tác giả

124

3.3.2. Cơ chế vạn năng của đồng tiền

Nói về uy lực của đồng tiền trong xã hội đƣơng thời, ngay từ năm 1931, trong vở kịch

và cũng là tác phẩm đầu tay Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng dã mƣợn lời của một

nhân vật: "Bây giờ ấy à ? chỉ có đồng tiền là Giời là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì

nó sai khiến đƣợc mọi thứ, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống dƣợc. Lƣơng tâm à? còn

thua đồng tiền. Luật pháp à ? còn kém đồng tiền. Chỉ có đồng tiền là ai cũng phái kính thờ,

chỉ những cách xoay tiền là đáng cho ngƣời ta tụng niệm".

Đến tác phẩm Giống tố, Vũ Trọng Phụng lại tiếp tục khẳng định uy lực tuyệt đối của

đồng tiền. Trong xã hội Giống tố, đồng tiền trở thành đấng tối cao có thể sai khiến chỉ đạo

mọi hoạt động của các nhân vật. Nó có thể làm đổi trắng thay đen, đảo ngƣợc mọi tình thế,

sắp xếp ngôi thứ, quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Nó nhƣ một nhân vật vô hình có bàn

tay mầu nhiệm đƣa đẩy số phận, vị thế của các nhật vật tới những kết cục khôn lƣờng. Giống

tố cho thấy hình ảnh một xã hội bị chi phối, bị cuốn vào guồng quay sức mạnh của đồng tiền.

Nguyễn Hoành Khung nhận định: "Bức tranh xã hội rộng lớn ở Giống tố, cái xã hội không có

chút công lý nào, cái ác và đồng tiền thống trị nhƣ một uy lực tuyệt đối, số phận ngƣời nghèo

bị nghiền nát trong các guồng máy quay cuồng đảo điên chóng mật không gì thoát ra

đƣợc"[194 - 44].

Có một điều dễ nhận thấy là hầu hết các nhân vật trong Giống tố, từ kẻ giàu tới ngƣời

nghèo, từ giới quan trƣờng tới tầng lớp bình dân đều ý thức rất rõ về vai trò sức mạnh của

đồng tiền. Đặc biệt, những kẻ có đồng tiền trong tay nhiều khi ngang nhiên, trắng trợn khẳng

định uy quyền tuyệt đối của nó: đồng tiền có thể mua đƣợc cả cuộc đời ngƣời phụ nữ (lời

Nghị Hách nói với Long: "Mày có biết những nàng hầu của tao ở đây đáng giá bao nhiêu một

thị không? cái đứa đẹp nhất tao cũng chỉ mua của bố mẹ nó có bẩy chục. Còn phần nhiều

không mất xu nào") ; đồng tiền có thể mua đƣợc phẩm tiết của ngƣời con gái (khi Tú Anh

buộc Nghị Hách phải lấy Thị Mịch sau vụ cƣỡng dâm Nghị Hách trả lời ráo hoảnh: "Ô hay !

sao mày dở hơi thế ? Thì tao mua con bé ấy làm hầu là cùng chứ gì?"); đồng tiền có thể mua

đƣợc vị thần công

125

lý, chuyển bại thành thắng, biến gian thành ngay, nạn nhân thành thủ phạm, và thủ phạm

thành quan tòa. Trong vụ kiện của gia đình Thị Mịch và dân làng Quỳnh Thôn với Nghị

Hách, mọi chứng cứ, nhân chứng đều rõ ràng đầy đủ, thế nhƣng ngƣời ta vẫn còn lo sợ bởi

sức mạnh của kim tiền trong tay Nghị Hách (Lời của ông Lý với ông đồ Uẩn: "... bạc nhà nó

cứ gọi là gà ăn không hết, vậy ông có đủ tiền chọi nhau với nó không?"). Viên tri huyện, kẻ

đứng về Nghị Hách trong vụ kiện ấy cũng dọa dẫm: "chúng mày chống án lên Hà Nội thì

càng khó lòng mà được kiện vì người ta giàu có lắm, chúng mày không bán nghiệp mà theo

kiện đƣợc"). Còn Nghị Hách thì trắng trợn khẳng định sức mạnh đảo lộn luật pháp của đồng

tiền: "Bẩm quan lớn nén bạc đâm toạc tờ giấy, ngài nên bảo nguyên đơn giải hòa" và tuyên

bố: "... chúng tôi không thua cái kiện này đâu ....chúng tôi chỉ hơi phiền lòng mà thôi, chứ

thua thì không có thể". Ngay cả Tú Anh, ngƣời hiểu rất rõ hành động bỉ ổi của Nghị Hách,

đứng về phía nạn nhân của cuộc cƣỡng dâm bẩn thỉu, cũng nói với ông đồ Uẩn: "Nếu cụ

muốn viện cớ tôi về đây mà lại kiện tụng nữa thì tôi xin nói trƣớc là không khi nào cụ được

kiện"... Nhƣ vậy, quả thực, đồng tiền đã khuynh đảo cả cán cân công lý. Vụ án ấy không có

lời kết nhƣng ngƣời ta thừa hiểu rằng, nếu nó còn đƣợc tiếp tục, phần thắng sẽ thuộc về bị

cáo - Nghị Hách sẽ trắng án và kẻ chịu hình phạt sẽ chính là gia đình ông đồ Uẩn cùng dân

làng Quỳnh Thôn. Và trong thực tế, với đồng tiền trong tay, Nghị Hách đã đem đến cho gia

đình Thị Mịch và dân làng Quỳnh Thôn những tai họa. Họ bị biến thành những kẻ vi phạm

pháp luật và phải đứng trƣớc vành móng ngựa. Ông đồ Uẩn bị dọa tống giam vì "dám dạy 6

đứa trẻ mà không xin phép mở trƣờng" (!) ; chức dịch làng Quỳnh Thôn thì bị đe dọa tống

giam vì tội có truyền đơn, cờ đỏ trnong làng ...

Trong xã hội Giống tố đồng tiền không chỉ có khả năng màu nhiệm là "rửa tội "mà

nó còn cỏ khả năng "rửa nhục", "rửa hờn". Chính Tú Anh đã nói với Thị Mịch: "Cô muốn

rửa nhục cho cha mẹ, cho mình, rửa nhục với làng nƣớc, thì chỉ có cách lấy lẽ bố tôi thôi".

"Lấy lẽ bố tôi" nghĩa là làm vợ Nghị Hách, là giàu có, là có tiền bạc. Trƣớc sự khinh miệt,

đàm tiếu của dân làng

126

Quỳnh Thôn đối với gia đình ông đồ Uẩn, Tú Anh đã nói với Long: "Tôi căm giận hộ ông đồ

Uẩn ! Cô Mịch phải lấy chồng giầu để rửa hờn. Nhƣ vậy, cũng nhƣ nhiều nhân vật khác

trong Giống tố, Tú Anh cũng ý thức rất sâu sắc về vai trò sức mạnh uy thế của đồng tiền

trong xã hội. Nó không chỉ có thể đổi trắng thay đen, hóa gian thành ngay mà còn có thể biến

nhục thành vinh.

Và trong cái xã hội Giống tố ấy, uy lực vạn năng của đồng tiền còn biểu hiện ở chỗ

nó có thể trở thành cái bàn đạp để ngƣời ta bƣớc lên bậc thang danh vọng (nó giúp Nghị Hách

tranh ghế nghị trƣởng) ; nó có thể bịt mồm dƣ luận (lời ngƣời Tây với Nghị Hách: "Những

đứa nào chê ông là vô học thì ông sẽ lấy giấy bạc dán vào mồm nó cho nó câm đi ! ") ; nó

cũng có thể làm câm họng các cơ quan ngôn luận (vẫn lời ngƣời Tây "Còn báo chí thì sợ gì ?

Ông chỉ việc ký vào các ngân phiếu cho mấy thằng chủ báo!"). Trong xã hội Giống tố đồng

tiền tác động mạnh mẽ tới tâm lý con ngƣời, khiến ngƣời ta kinh sợ nó, phục tùng nó. Nó vừa

là vô hình vừa là hữu hình. Nó có mặt ở nhiều tình tiết quan trọng trong tác phẩm, hoặc trực

tiếp, hoặc gián tiếp. Nhiều hành động, bƣớc ngoặt số phận của các nhân vật ít nhiều đều liên

quan tới nó và không thoát khỏi bàn tay có uy lực tuyệt đối của nó. Nhiều nhân vật dùng nó

để thực hiện mục đích của mình hoặc vì nó mà các nhân vật khác phải khổ sở điêu đứng. Cơ

chế vạn năng của đồng tiền đã trở thành một yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh

trong tác phẩm Giống tố.

3.4. Không khí điên loạn, bão giông

Có nhà nghiên cứu đã phát biểu: "Đọc Giống tố phải cảm nhận cái không khí chung,

cái âm hƣởng chung, cái linh hồn chung của thế giới hình tƣợng của cuốn tiểu thuyết. Ấy là

một xã hội quay cuồng đảo điên đến chóng mặt, biết bao tình huống trớ trêu, biết bao cuộc

đời lên voi xuống chó, ông hóa ra thằng, thằng hoa ra ông, khổ trở nên sƣớng, sƣớng hoa ra

khổ, tất cả diễn ra trong tiếng cƣời, tiếng khóc, tiếng chửi bới, rên la, có khi lại vừa cƣời, vừa

khóc, tạo nên những tấn bi hài kịch về cái sự vô nghĩa lý, về cái "chó đểu" của cuộc

đời"[196.262]. Trong ý kiến này, nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh tới

127

"không khí chung, âm hƣởng chung" của Giống tố, nghĩa là cũng đã chú ý tới một yếu tố

thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh tác phẩm. Vậy những yếu tố nào tạo nên không khí

điên loạn bão giông ấy ?

Cần phải thấy rằng, không khí của Giống tố cũng toát lên từ các yếu tố thuộc cấu trúc

của hoàn cảnh. Nhƣng đồng thời nó cũng còn toát lên từ nhiều hộ thống tín hiệu nghệ thuật

khác.

3.4.1. Trƣớc hết, là hệ thống những tình huống, cảnh ngộ đầy kịch tính. Nói rõ hơn,

trong diễn biến cốt truyện Giống tố xuất hiện rất nhiều những tình huống đầy kịch tính.

Những tình huống ấy đều có thể chuyển thể thành những lớp kịch thú vị, hấp dẫn bởi nó chứa

đầy những yếu tố bất ngờ, những xung đột va chạm nhiều khi nảy lửa giữa các nhân vật

(những tình huống kiểu này rất ít thấy trong tác phẩm Nam Cao). Xin lấy ví dụ một số tình

huống giàu kịch tính nhƣ thế: tình huống xuất hiện đầu tiên, mở màn cho một loạt sự kiện,

một loạt những mâu thuẫn, xung đột trong tác phẩm là tình huống Nghị Hách dụ Thị Mịch

lên xe để thực hiện ý đồ bẩn thỉu. Việc làm xấu xa đê tiện của Nghị Hách diễn ra trong khung

cảnh làng quê giữa đêm trăng yên bình mà chỉ cách đó không xa là những ngƣời nông dân và

ngay cạnh đó là hai tài xế. Sự kiện này đã bắt dầu hé mở về một thực trạng xã hội điên loạn

và nó cũng sẽ dẫn tới một loạt những tình huống đầy kịch tính sau đó: tình huống Mịch tự tử

trong nhà thƣơng rồi đƣợc cứu sống ; tình huống Nghị Hách đến tri huyên Cúc Lâm tìm cách

hối lộ để chạy tội và bị chối từ thẳng cánh ; tình huống Long đến gặp Thị Mịch ở nhà Nghị

Hách, xảy ra xung đột gay gắt rồi sự hiểu lầm đƣợc giải tỏa ; tình huống Mịch đang "áo ngắn

quần trong" tiếp Long tại nhà riêng thì Tú Anh bất chợt xuất hiện ; tình huống Nghị Hách bắt

quả tang vợ đang ngủ với cung văn, một cuộc xung đột, gay gắt, dữ dội nổ ra, mọi bí mật của

quá khứ bị lôi ra ánh sáng ... và còn nhiều tình huống khác. Tất cả những tình huống ấy đều

chứa đầy những mâu thuẫn, xung đột, bất ngờ và luôn không kém phần căng thẳng, gay gắt,

bởi vậy nó có tác dụng rất lớn trong việc tạo dựng không khí cho hoàn cảnh và lôi cuốn hấp

dẫn ngƣời đọc giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc cái không khí xã hội đã đƣợc thể hiện, chuyển

hóa thành không khí nghệ thuật trong tác phẩm.

128

3.4.2. Nhịp điệu của tác phẩm Giống tố cũng là một yếu tố quan trọng góp phần tạo

không khí cho hoàn cảnh. Nếu nhƣ, nhịp điệu trong nhiều tác phẩm của Nam Cao là nhịp

điệu dàn trải, trì trệ, ngƣng đọng thì nhịp điệu trong Giống tố lại là một nhịp điệu dồn dập,

hối hả, điên loạn. Nhịp điệu ấy đƣợc tạo nên bởi sự xuất hiện liên tiếp của những tình huống,

cánh ngộ bất ngờ. Trong diễn biến cốt truyện Giống tố, luôn xuất hiện những đột biến, những

tình thế chuyển xoay mà ngƣời ta không thể lƣờng trƣớc, sự kiện này chƣa xong, sự kiện

khác dã tiếp nối, dồn dập, hối hả. Điều này thể hiện ở việc xuất hiện rất nhiều những cụm từ

biểu thị những hành động sự việc diễn ra liên tiếp hoặc song hành: vừa lúc này,giữa lúc ấy,

giữa cái lúc, ngay lúc đó, ngay lúc ấy ...("vừa lúc này thấy viên cai lệ từ ngoài ..." ; "Giữa lúc

ấy trong phòng vẫn là sự im lặng"; "giữa cái lúc bi thƣơng ..." ; "ngay lúc đó một thằng bé

len lót bƣớc vào" ; " ngay lúc ấy có ba tiếng gõ cửa..."...). Trong những tình huống, những

cảnh ngộ đầy yếu tố bất ngờ ấy, số phận vị thế của các nhân vật bị cuốn vào một nhịp điệu

quay cuồng trong một cơn Giống tố và dẫn tới những kết cục khôn lƣờng. Nó biểu hiện qua

những cảnh huống đầy những bỗng, chợt, thốt nhiên, chợt thấy, hốt nhiên, bất ngờ .... ("xe

đƣơng phăng phăng chạy ... bỗng dần dần rồi chậm hẳn " - Chính cái "bỗng" tình cờ, ngẫu

nhiên xảy ra trên đƣờng này sẽ dẫn tới một tình huống mở đầu cho một loạt tình huống bất

ngờ khác trong suốt chiều dài thiên truyện ; "chợt có ba tiếng gõ khẽ vào cửa" ; "thốt nhiên,

cả gia đình đã mất sinh kể" ; "bất ngờ, một bàn tay để vào vai Long"...) những từ, cụm từ ấy

cũng ít thấy xuất hiện trong các tác phẩm Nam Cao. Nhân vật của Nam Cao ít bị đẩy vào

những tình huống với những bất ngờ để rồi dẫn tới những đột biến khôn lƣờng nhƣ thế.

Nhiều khi trƣớc những sự việc, sự kiện bất ngờ, điên đảo đó của cuộc đời, các nhân

vật trong Giống tố không thể lý giải nổi, không thể hiểu nổi, vì họ không bao giờ có thể

tƣởng tƣợng đƣợc những sự việc, những câu chuyện, những tình huống đảo điên đến chóng

mặt đó lại có thể xảy ra. Bởi vậy trong

129

Giống tố cũng rất nhiều lần các nhân vật, hoặc trong lời nói, hoặc trong suy nghĩ, đã thể hiện

điều đó (ông đồ Uẩn: "Ông không hiểu nổi sự phẫn uất của con gái ông" ; một nhân vật vô

danh: "Mình không thể tưởng tượng được lại có hạng ngƣời dã man đến thế !" ; Thị

Mịch:"Không bao giờ Mịch lại tưởng tượng rằng lại có thể có một người bằng tuổi bố mình

....mà lại lừa mình để làm một việc xấu hổ trong các xe tu bin, lúc đó ngƣời ở đằng trƣớc và ở

đằng sau xe nữa!"; Long: "Trời ơi ! không ngờ cơ sự lại xoay ra như thế ! thật không ngờ " ...

và trƣớc những bất ngờ liên tiếp trong tình huống bi hài kịch -Nghị Hách bắt quả tang vợ ngủ

với cung văn, tất cả những ngƣời có mặt ở đó đều "không ai dám ngờ rằng sự tình đã đến thế

!".

Những thay đổi đột biến, bất ngờ liên tiếp trong cuộc đời, nhiều khi còn khiến cho các

nhân vật có cảm tƣởng nhƣ đang sống trong một giấc mộng, nghĩa là họ không tin đƣợc rằng,

những gì đã và đang xảy ra trƣớc mắt mình là hiện thực. Từ địa vị một cô thôn nữ nghèo khó,

trải qua những đƣa đẩy thăng trầm của số phận, Thị Mịch trở thành vợ lẽ một kẻ giàu có khét

tiếng miền trung thổ, đƣợc sống trong vinh hoa phú quý "Mịch bàng hoàng ngơ ngác ... như

vừa tỉnh một giấc mộng" và tự nhủ "thật là một giấc mộng". Cũng trƣớc những thay đối, biến

thiên, dồn dập, liên tiếp không thể lƣờng trƣớc của cuộc đời, từ chỗ là ngƣời chồng sắp cƣới

của Thị Mịch, vậy mà chỉ sau bốn tháng, Thị Mịch lại đã làm vợ Nghị Hách, Tuyết lại trở

thành vợ sắp cƣới của mình, nhân vật Long cũng cảm thấy "sự đời y như giấc mộng". Và

nhân vật Tú Anh, trƣớc nhịp đời điên loạn, đầy những biến đổi khôn lƣờng cũng " thấy như

mình đương bàng hoàng sống trong một giấc mộng say sưa".

Toàn bộ diễn biến cốt truyện Giống tố chỉ trong vòng chƣa đầy một năm (từ một đêm

rằm tháng 10.1932 đến một đêm mùa hạ 1933 - nghĩa là cùng lắm chỉ khoảng bảy, tám

tháng). Thế nhƣng trong khoảng thời gian chƣa đầy một năm ấy, biết bao sự kiện, cảnh huống

đã diễn ra. Những cảnh huống ấy nhiều khi ngoài sức tƣởng tƣợng của ngƣời trong cuộc, bởi

vậy các nhân vật

130

trong Giống tố đã rất nhiều lần phải ngạc nhiên, kinh ngạc. Sự ngạc nhiên ấy khiến họ nhiều

khi phải "ngẩn người ra" ("đáp xong bà đồ ngẩn người ra nhìn con rể, miệng tròn như một

chữ O"; "Quan tổng đốc ngẩn người ra hồi lâu rồi dịu giọng" ; "Trƣớc luận điệu bất ngờ ấy

Long đứng ngẩn mặt ra" ; "Tú Anh ngẩn người ra nấc lên mấy cái phải tựa lƣng vào tƣờng

cho khỏi ngã" ; "Sau cùng thì Nghị Hách đứng ngẩn người ra"). Có khi, sự ngạc nhiên khiến

họ phải "ngơ ngác " hoặc "ngây người ra" ("bà Nghị ngơ ngác nhìn Hải vân một cách kinh

hãi"', "Ba người ngơ ngác lần lƣợt nhìn nhau" ; "Nghị Hách ngơ ngác nhìn lên" ; "Chị em

ngơ ngác nhìn nhau" ; "Tú Anh thấy quang cảnh nhƣ thế cũng đứng ngây ra" ; "Mịch vẫn

ngây ra, vì không hiểu hai bên nói với nhau những gì "). Những bất ngờ đến phi lý của cuộc

đời nhiều khi khiến các nhân vật phải đến đỉnh cao của sự ngạc nhiên, đến tột cùng của sự

kinh ngạc, ngạc nhiên đến "bùng hoàng" ("Mịch bàng hoàng ngơ ngác nhìn quanh nhƣ vừa

tỉnh một giấc mộng" ; "Long bàng hoàng thấy rằng những sự bất ngờ, những điều không ai

lƣơng lƣợng là sẽ xảy ra đƣợc, thì vẫn cứ xảy ra luôn luôn, trái hẳn với ý nghĩ của thiên hạ" ;

"cử toa kinh hoàng cả lên vì ngạc nhiên vì sợ sệt"), ngạc nhiên đến mức tƣởng mình đang mê

ngủ ("hai ngƣời đàn bà đứng ngẩn ngƣời ra như những người ngủ mê mà chợt tỉnh giấc" ;

"Anh cung văn bỏ cái bình phong ngó đầu nhìn theo tưởng mình mê ngủ" ; "Long không biết

rằng cuộc đời còn có là cuộc đời hay là Long đã ngủ mê"). Sự ngạc nhiên đến tột độ của các

nhân vật trƣớc những biến cố dồn dập, bất thƣờng của cuộc đời biểu hiện ở chỗ đã ngạc nhiên

thì phải là "ngạc nhiên hết sức" ("chàng kinh ngạc hết sức phải đứng hẳn lại" ; "Ông già ....

ngạc nhiên hết sức không nhớ đến cảm ơn nữa" ; "Long ngạc nhiên hết sức không biết ông

già này là ngƣời thế nào " ) "sự thay đổi tâm tính của Mịch khiến Long phải ngạc nhiên một

cách kinh khủng cho đến bây giờ"); hoặc ngạc nhiên đến "trố mắt", "trợn mắt" "trừng mắt"

("Long trố mắt nhìn vì lúc ấy Long lại cũng hồi hộp, tƣởng nhƣ đó là một con yêu tinh nào

hiện lên làm Mịch chăng" ; "Long nhìn

131

Mịch trừng trừng. Sự nghi ngờ trong lòng bỗng nổi dậy lên" ; "Nghị Hách còn đƣơng trố mắt

ngạc nhiên thì bỗng Tú Anh ngã lăn đánh huỵch xuống sàn" ;"Bà đồ trợn ngược mắt lên thất

thanh hô" ; "ông đồ trợn mắt lên kỉnh hãi" ; "Ngƣời Tây trợn tròn hai mắt" ...). Trong Giống

tố, những cụm lừ "ngẩn người ra", "sửng sốt lắm", "trố mắt nhìn" , "rất ngạc nhiên", "ngạc

nhiên hết sức", "bàng hoàng thấy", "đứng ngây ra" , "ngơ ngác nhìn", "trố mắt ngạc nhiên",

"kinh hoàng cả lên", "rất đỗi kinh ngạc" ... xuất hiện khá nhiều. Có thể nói hầu hết các nhân

vật từ chính diện tới phản diện, từ nhân vật tĩnh đến nhân vật động đều có những lúc rơi vào

tâm trạng ấy. Những tâm trạng thái độ ấy là kết quả tác động của tình huống, của hoàn cảnh,

bởi vậy nó cũng là yếu thể hiện hoàn cảnh, một hoàn cảnh luôn có những biến cố dồn dập,

phi thƣờng khiến con ngƣời luôn bị bất ngờ, choáng váng.

Không khí điên loạn đầy bão giông của hoàn cảnh Giống tố đã cuốn các nhân vật vào

cơn lốc cuồng xoay của cuộc đời. Số phận các nhân vật luôn vận động biến đổi với tốc độ

chóng mặt. Và hình nhƣ trong cơn cuồng phong dữ dội đó của cuộc đời, các nhân vật ít tĩnh

tại, đứng yên mà luôn va đập, di chuyển với tốc độ rất nhanh. Các nhân vật ít có những bƣớc

đi thong thả, ít có những trạng thái ung dung, mà nhiều khi đi lại thoăn thoắt nhƣ mắc cửi

trên bàn cờ của số mệnh cuộc đời. Có khi nhân vật đi hoặc chạy rất nhanh nhƣ một bản năng

("Nghị Hách chƣa kịp nói gì thì một bác lính đã chạy tọt vào") ; có khi để rƣợt đuổi ("Long

chạy xộc xuống bếp"- để tìm Mịch) ; có khi để chạy trốn ("Mịch cũng vội đứng lên mới kịp

chạy tại vào gian buồng bên"; "Mịch bƣng mặt chạy tọt xuống bếp"); có khi để kịp giấu một

việc làm ám muội ("lúc Nghị Hách vào đến phòng khách thì vừa thủy cụ lớn bà vội ngồi dậy

tay cầm một cái tráp mà chạy lọt vào nhà trong" ) ; có khi để đƣa một tin sốt dẻo ("giữa lúc

ấy một thằng bé chạy xồng xộc vào giữa nhà ...") ; có khi để thực hiện một nhiệm vụ cần kíp

của ông chủ ("Thằng nhỏ cầm tiền cắm cổ chạy đi"). Ngay cả một ngƣời mực thƣớc, từ tốn

nhƣ Tú Anh cũng đi với những

132

bƣớc đi nhƣ thế ("Đứa ở chƣa kịp chạy ra, Tú Anh đã thoăn thoắt bước vào").Thậm chí,

ngƣời ta còn đi vào nơi tôn nghiêm, công đƣờng cũng bằng những bƣớc đi vội vã ("Nghị

Hách cứ xồng xộc chạy thẳng vào huyện đường"). Ngay cả trong đêm tân hôn, Nghị Hách

cũng bỏ lại ngƣời vợ mới cƣới của mình với những bƣớc đi nhƣ trốn chạy nhƣ thế ("Thế là

Nghị Hách, không ân cần đƣợc nửa lời lại tất cả xuống thang"). Cùng những bƣớc đi trốn

chạy, mà ở đây là trốn chạy sự thật cay đắng, là bƣớc đi của Long từ làng Quỳnh Thôn về

tỉnh ("Tức khắc, Long quay ra cắm đầu cắm cổ" ; "Long cắm cổ khỏi làng"). Thị Mịch cũng

đã đón Long, đón ngƣời tình cũ bằng những bƣớc chân nhƣ bay ("Mịch thoăn thoắt xuống

mở cổng cho Long") ... Trong lời giới thiệu tuyển tập Vũ Trọng Phụng, bàn về Giống tố, Số

đỏ, Vỡ đê, Nguyễn Đăng Mạnh viết: "Trong cái không khí xã hội đầy biến động ấy, số phận

mỗi nhân vật tất nhiên cũng không thể yên tĩnh đƣợc. Nhân loại trong tác phẩm Vũ Trọng

Phụng là một thứ nhân loại ồn ào, nhốn nháo, hoạt động quyết liệt... ". Trạng thái không yên

tĩnh của các số phận nhân vật Vũ Trọng Phụng, phải chăng còn bộc lộ qua cả những bƣớc đi

lúc nào cũng hối hả tất bật ấy ? Điều có thể thấy rất rõ là những bƣớc đi với tốc độ quen

thuộc ấy đã góp phần làm nổi bật cái nhịp điệu hối há, dồn dập, điên đảo của hoàn cảnh - âm

vang không khí nhịp điệu của xã hội đƣơng thời.

Nhịp điệu hối hả dồn dập đó có khi còn toát lên từ những chi tiết tƣởng nhƣ là ngẫu

nhiên trong tác phẩm.. Trong Giống tố có một số lần xuất hiện hình ảnh chiếc ô tô trên

đƣờng trƣờng và lần nào nó cũng đƣợc chạy với tốc độ cao. Mở đầu tác phẩm là cảnh một

đêm khuya tĩnh mịch, trăng to tròn chiếu vằng vặc và trên con đƣờng quan lộ chiếc ô tô của

Nghị Hách "đƣơng phăng phăng chạy hết tốc lực, thân xe chỉ là một cái chấm đen bóng, còn

hai ngọn đèn sáng quắc; chiếu dài hàng nửa cây số thì như hai cái tên bay vun vút dƣới ánh

trăng". Cũng vẫn chiếc xe ấy dƣới cái lệnh "mở hết máy" của Nghị Hách, để chạy trốn, đã

nhằm vào ngƣời trƣơng tuần "mà đâm thẳng, theo cái tốc lực

133

sáu mươi cây số một giờ". Chiếc xe chở Nghị Hách từ Hà Nội xuống Hải Phòng để giải thoát

cho bà Nghị đang bị "bắt cóc" cũng "phóng nước đại ... theo đà một giờ một trăm hai mươi

cây". Ngày Tú Anh tiễn ông già Hải Vân tiếp tục ra nƣớc ngoài hoạt động bí mật cũng "ngồi

bên trong cái xe hơi hòm vun vút nuốt đường và "trong quãng đƣờng dài từ Hà Nội qua Hải

Phong, rồi đi thẳng về mạn Móng Cái, đà xe cứ thay từ 60 đến 100 cây số mỗi giờ".

3.4.3. Nói về không khí của hoàn cảnh trong Giống tố có lẽ không thể không nói tới

bức tranh thiên nhiên đƣợc nhà văn miêu tả trong tác phẩm. Nếu nhƣ trong Số đỏ ta thấy hầu

nhƣ vắng bóng thiên nhiên thì trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng đã giành một số trang cho

việc miêu tả thiên nhiên, cảnh vật -một yếu tố có khả năng tạo không khí cho hoàn cảnh. Và

ở phƣơng diện nghệ thuật tả cảnh, có thể nói Vũ Trọng Phụng cũng rất thành công. Thiên

nhiên trong Giống tố của Vũ Trọng Phụng cũng nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố Sống

mòn của Nam Cao không chỉ đơn thuần là những bức tranh thiên nhiên làm nền hoạt động

cho các nhân vật, làm bối cảnh cho những sự kiện, tình huống. Trong Giống tố những bức

tranh thiên nhiên cũng là một hệ thống tín hiệu nghệ thuật trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn

cảnh.

Thiên nhiên trong Giống tố thƣờng đƣợc hiện lên với hình ảnh những cơn mưa,

những đêm tối mịt mủ, nếu có trăng thì hình ảnh ánh trăng ít gợi một vẻ đẹp trong sáng mà

toát lên một không khí lạnh lẽo.

Mở đầu tác phẩm, thiên nhiên trong cái đêm Nghị Hách giở trò bỉ ổi với Thị Mịch là

một thiên nhiên tối tăm: "Mặt trăng lúc này bị mảng mây to lƣớt qua che đi, thành thử đất

trời tối sầm hẳn lại.... giữa cánh đồng thấy tản mạn những cục lửa xanh, lửa đỏ trên mặt đất

lúc cháy lúc tắt như ma trơi". Và ngay cả khi mặt trăng không còn bị mây che khuất thì "trời

dài lại sáng quang vì cái ánh trăng lạnh lẽo". Bức tranh thiên nhiên tối lăm, lạnh lẽo ấy bắt

đầu tạo không

134

khí cho hoàn canh và hé mở một hoàn cảnh không lấy gì làm tƣơi sáng. Ngƣời đọc dự cảm

một câu chuyện mà kết cục của nó chắc sẽ nhuốm màu bi kịch.

Hình ảnh không gian mù mịt, tăm tối và ánh trăng lạnh lẽo sẽ còn trở đi trở lại nhiều

lần trong nhiều cảnh huống của Giống tố. Những hành động đen tối của Nghị Hách trong

việc chuẩn bị cho tay chân "gắp lửa bỏ tay ngƣời" -gieo tai vạ cho làng Quỳnh Thôn - cũng

diễn ra vào một đêm có ánh trăng lạnh lẽo và tối lăm nhƣ thế: "Đêm đã khuya, những cây đèn

trong ấp đã cạn bấc, lụi dầu, nên hiện ra những cục lửa đỏ ối ở hai bên lối đi. Mặt trăng đã

lên đến lưng chừng trời nha một mình Long xuống thềm ga lạnh lẽo và vắng vẻ". Mảnh trăng

ở đây mới đơn độc và lạnh lẽo làm sao (lờ mờ giữa cái sáng tối, một mảnh trăng treo trên

cành một cây xoan "). Hình ảnh mảnh trăng lạnh lẽo ở cái nơi thâm sơn cùng cốc ấy, khiến

cho Long "càng thấy mình là cô độc, chơ vơ trên con đƣờng đời dài dằng dặc". Có thể nói,

trăng trong cái nhìn của tác giả Giống tố không bao giờ là hình ảnh của một vẻ đẹp thơ mộng

trữ tình (trăng trong cái nhìn của tác giả Sống mòn có lúc đã hiện lên nhƣ thế) mà thƣờng

hiện lên cùng với một không khí vắng lạnh, cô đơn. Cũng có lúc trăng đã hiện lên tròn đầy -

"Mặt trăng rất to và rất tròn, chiếu vằng vặc cánh đồng lúa chín nhƣ một tấm thảm vàng" -

Nhƣng cái ánh trăng "vằng vặc" ấy không báo hiệu điều gì tƣơi sáng mà nó lại nhƣ dự cảm

cho việc chứng kiến một sự kiện xấu xa của ngƣời đời - hành động của Nghị Hách với Thị

Mịch.

Có một điều dễ nhận thấy là thiên nhiên trong Giống tố hầu như không hề có hình

ánh nắng - nắng không xuất hiện trong bức tranh thiên nhiên Giống tố, dù đó là nắng bình

minh hay nắng hoàng hôn. Những tia sáng ấm áp của mặt trời dƣờng nhƣ không bao giờ có

cơ hội đƣợc soi rọi vào cái thế giới mịt mù, hỗn độn, tối tăm của xã hội Giống tố. Phải chăng

đó cũng là một qui luật: trong Giống tố không thể thấy đƣợc ánh sáng mặt trời, không thể có

đƣợc tia sáng lạc quan hay niềm vui ấm áp.

135

Và nếu nhƣ thiên nhiên Giống tố vắng bóng hình ảnh nắng thì lại nhiều lần hiện lên

hình ảnh mưa. Có khi dó là hình ảnh những trận mƣa xuân. Những cơn mƣa xuân ấy không

gắn với những bức tranh tƣơi đẹp của mùa xuân mà nó chỉ càng làm tăng thêm nỗi buồn cho

những cảnh ngộ. "Đã hai ngày rồi trời cứ lún phún mưa xuân. Hạt mƣa lúc mau lúc thƣa như

có bão rớt". Với ông đồ Uẩn "những cơn mƣa lúc lấm tấm, lúc rào rào, vẫn không thôi khiêu

khích sự bực mình, sự chán nản, sự muốn tự lử trong lòng ông. Thật là trời sầu đất thảm".

Với nhân vật Tú Anh, những sự thực cay đắng (tận mắt chứng kiến những tấn bi kịch trong

gia đình Nghị Hách) đã tạo nên những trận Giống tố trong tâm hồn. Và những trận Giống tố

trong tâm hồn Tú Anh càng trở nên dữ dội hơn khi nó đƣợc đặt trên cái nền thiên nhiên cũng

đầy giông bão: "Chàng đƣơng ngồi ôm đầu trong phòng giấy nghe tiếng mưa gào gió thét của

cảnh trời sầu đất thảm mà ôn lại tấn bi kịch ghê gớm dƣới Hải Phòng". Thế rồi, Tú Anh đã

tiễn biệt Hải Văn ra nƣớc ngoài hoạt động bí mật trên một chuyến xe đi trong Giống tố với

"mưa gào gió thét quanh xe". Trận Giống tố trong buổi tiễn biệt ấy thái vô cùng dữ dội:

"Những luồng gió mạnh mẽ nặng nề và những hạt mưa to ào ào hắt vào bốn bề cửa kính.

Lắm lúc qua một chặng đƣờng úng thủy, bánh xe lại tung lên nhƣng cây nƣớc cao ba thƣớc ra

hai bên vệ đƣờng. Cơn Giống tố phũ phàng bỏ những cành cây mục rồi để rơi dƣới mặt

đƣờng ngổn ngang. Cả trời đất ủng sũng, trắng xóa những nƣớc là nƣớc "... Con thuyền đƣa

Hải Vân ra hải ngoại cũng đi trong một không gian đầy Giống tố, bão bùng nhƣ thế: "Mũi

thuyền quay ra khỏi những làn sóng vỗ vào cồn đá ầm ầm, tiếng vang như núi đổ... Mưa như

trút nước ... chiếc hải thuyền nổi lên chìm xuống bập bềnh ... trời và bể trắng xóa nhƣ tấm

vải nắng mà chiếc thuyền là một chấm đen ..."

Âm vang của những trận Giống tố trong thiên nhiên cộng hƣởng với những trận

Giống tố trong cuộc đời và những trận Giống tố trong lòng nhiều nhân vật đã để lại những

dƣ âm ám ảnh, day dứt trong tâm hồn ngƣời đọc.

136

Bức tranh thiên nhiên trong Giống tố, dù chỉ dƣợc tái tạo không nhiều trong tác phẩm, nhƣng

rõ ràng là nó đã đạt dƣợc những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Nó đã góp phần tạo không khí

cho hoàn cảnh và làm sâu sắc thêm ý nghĩa nhan đề tác phẩm, một nhan đề tự nó đã mang

đầy ý nghĩa biểu tƣợng.

Còn một hệ thống chi tiết nghệ thuật, có lẽ không nằm ngoài ý thức nghệ thuật của

nhà văn trong việc tạo không khí cho hoàn cảnh nhƣ thế là hình ảnh những ngọn đèn trong

Giống tố. Đây chỉ là một hệ thống chi tiết rất nhỏ những nếu nhìn ở cái nhìn tổng thể những

chi tiết trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, thì ta lại thấy nó có ý nghĩa tô đậm cái nền

đen của bầu trời Giống tố, bởi nó thƣờng hiện lên không phải với ánh sáng rực rỡ, chói chang

mà thƣờng tù mù yếu ớt... Nó cũng tăm tối nhƣ cuộc đời đang bị bao phủ bởi màn đêm của

một cơn Giống tố. Nó hiện lên với thứ ánh sáng leo lét trong một hiệu phở "vắng vẻ nhƣ bãi

sa mạc" ("một ngọn đèn đất leo lét chiếu vào một con gà, một miếng thịt bò, vài dây ớt đỏ

..."). Nó chỉ là "một thứ ánh sáng héo hắt" trên một căn gác trong tiệm hút. Hoặc nó chỉ là

"một ngọn đèn dầu leo lét" trong một nhà ga bé nhỏ "nhƣ một cái quán gạch" ở giữa đồng

không mông quạnh. Đó là ánh sáng của những ngọn đèn dầu, đèn đất. Còn ánh sáng của

những ngọn đèn điện cũng chẳng sáng sủa hơn, bởi nó luôn bị vây bọc, che phủ ("những đêm

khuya thức giấc nhìn xung quanh, Mịch chỉ thấy sự hiu quạnh và ánh sáng của một bóng điện

trong dua xanh"; "những bóng điện bị giam hãm trong những khung dua dày dặn, không ra

sáng cũng không ra tối" ...). Hình ảnh những ngọn đèn với thứ ánh sáng leo lét, hắt hiu ấy

nếu nhìn ở cái nhìn đơn lẻ tách rời thì không có mấy ý nghĩa, nhƣng nếu nhìn trong cái nhìn

tổng thể thì không phải là không có căn nguyên. Chúng tạo thành một mảng đen - Âm thầm,

bên cạnh cái mảng đen, -dữ dội của cả cái nền hoàn cảnh đen tối trong Giống tố.

*

* *

137

Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong Giống tố, chúng ta thấy rõ hơn tài

năng của nhà văn trong việc xây dựng hoàn cảnh. Hoàn cảnh trong Giống tố đã đƣợc xây

dựng một cách nghệ thuật bởi nó đã tạo đƣợc không khí. Qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn

cảnh ấy, chúng ta cũng thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Đó là một

hoàn cảnh xã hội đầy rẫy những xấu xa, nhơ bẩn, dâm loạn mà ở đó đồng tiền đã ngự trị lên

lƣơng tâm con ngƣời, làm đảo lộn mọi cƣơng thƣờng, đạo lý. Trong hoàn cảnh ấy, con ngƣời

có thể dễ dàng nhanh chóng bị tha hóa. Họ có thể ý thức rất rõ về sự tha hóa nhanh đến chóng

mặt ấy, mà không thể cƣỡng lại bởi đã bị cuốn vào cơn cuồng phong Giống tố, mà cơ chế

của những trận cuồng phong ấy là những mƣu mô, thủ đoạn và sức mạnh vạn năng của đồng

tiền. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn đã chi phối tới việc xây dựng cấu trúc

nghệ thuật của hoàn cảnh trong cuốn tiểu thuyết đƣợc coi là "một tác phẩm lớn, một kiệt tác

hiếm hoi trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại" [196.261].

Trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Giống tố, số phận tính cách của các nhân vật

dần đƣợc bộc lộ, Nói cách khác, cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Giống tố đã góp phần đắc

lực trong việc làm nổi bật số phận tính cách nhân vật, hình thành tính cách nhân vật. Rõ ràng,

Nghị Hách, Vạn tóc mai, Tú Anh, Long, Tuyết, Thị Mịch, ông đồ Uẩn ... là những con đẻ của

hoàn cảnh. Họ là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh. Và nhƣ vậy, cấu trúc nghệ thuật của hoàn

cảnh Giống tố dã không chỉ tạo đƣợc không khí, thể hiện hoàn cảnh nghệ thuật mà còn thực

hiện đƣợc chức năng xây dựng tính cách. Trƣớc những cơn Giống tố dữ dội của cuộc đời,

trong vòng xoáy của cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền, các nhân vật cọ xát,

va đập vào nhau và buộc phải bộc lộ bản chất, tính cách. Tiểu thuyết Giống tố là một bằng

chứng thể hiện rất rõ một nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực, đó là nguyên lý về mối quan hệ

giữa tính cách và hoàn cảnh.

138

Nếu so sánh với Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ta sẽ nhận thấy, trong hoàn cảnh Tắt đèn,

cơ chế trấn áp bạo lực đƣợc thể hiện ở nhiều chi tiết về những hành động, lời nói mang đầy

màu sắc trấn áp, bạo lực của các nhân vật, thì trong Giống tố yếu tố bạo lực của hoàn cảnh

đƣợc các nhân vật thể hiện một cách ít lộ liễu, kín đáo hơn. Hoàn cảnh Tắt đèn và hoàn cảnh

Giống tố đều là những hoàn cảnh áp bức, đè nén con ngƣời. Nhƣng nếu nhƣ sự áp bức của

hoàn cảnh Tắt đèn biểu hiện bằng những hành động, lời nói lộ liễu, công khai của các nhân

vật thì trong Giống tố nó lại đƣợc biểu hiện qua những mƣu mô, thủ đoạn, không ồn ào

nhƣng cũng không kém phần nặng nề, dữ dội.

Và nếu nhƣ trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã phản ánh một cách nghệ thuật, đầy ấn

tƣợng về hoàn cảnh nông thôn Việt Nam đƣơng thời trong mùa sƣu thuế, thì Vũ Trọng Phụng

trong Giống tố lại phản ánh một mảng đời sống hiện thực khác - đời sống xã hội tƣ sản thành

thị, bằng tài năng của một nhà văn hiện thực xuất sắc. Mảng đời sống hiện thực này cũng đã

đƣợc tái tạo một cách nghệ thuật qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm.

139

CHƢƠNG 4: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG

SỐNG MÒN VÀ MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA NAM CAO

Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao đƣợc viết xong ại làng Đại Hoàng -quê hƣơng

nhà văn, ngày 1.10.1944. Nhƣng phải đến sau 1956 tác phẩm mới đƣợc ra mắt công chúng.

Một trong những chuyên gia hàng đầu về Nam Cao đã khẳng định Sống mòn "là một tiểu

thuyết có thể đọc nhiều lần. Đọc lại rồi lại đọc. Đọc để hiểu Nam Cao, hiểu mội thế hệ trí

thức kiểu Nam Cao và hiểu một thời thanh niên Nam Cao đã sống ..." [193.344]. Theo chúng

tôi, Sống mòn là một cuốn tiểu thuyết thể hiện nhiều nét phong cách nghệ thuật Nam Cao,

một tác phẩm càng đọc càng phát hiện đƣợc nhiều điều bất ngờ, kỳ thú cả về những nội dung

triết lý sâu sắc và văn phong hiện đại. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết thể hiện rõ nhất quan

niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Đặt trong tổng thể cấu trúc của luận án, chúng tôi

thấy, lấy Sống mòn của Nam Cao làm đối tƣợng khảo sát là rất phù hợp, bởi đây là một tác

phẩm tiêu biểu của Nam Cao. Mặt khác, nếu so với Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Giống tố của

Vũ Trọng Phụng, thì Sống mòn tập trung phản ánh một mảng đời sống xã hội khác - đời sống

của những ngƣời trí thức tiểu tƣ sản, và bên cạnh đó là hình ảnh cuộc sống của những ngƣời

dân nghèo ở một xóm nhỏ ven đô.

Xã hội thành thị Việt Nam những năm trƣớc Cách mạng tháng Tám là một xã hội trì

trệ, ngƣng đọng, ngột ngạt, bế tắc. Cả xã hội đang quằn quại trƣớc giờ "lột xác". Cuộc sống

của ngƣời dân, nhất là tầng lớp trí thức nghèo trong xã hội đang "mốc lên", "gỉ đi", "mục ra".

Trong xã hội ấy, nhiều ngƣời đang "chết mà chƣa làm gì cả, chết mà chƣa sống". Cái không

khí xã hội ấy đã uà tràn vào không gian Sống mòn, đƣợc tái hiện trong tiểu thuyết Sống mòn

thông qua hệ thống những tín hiệu nghệ thuật nằm trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh.

Để làm rõ hơn quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Nam Cao, ở chƣơng này, chúng tôi

còn khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn, bởi đây là một phần sáng tác thể hiện

rất rõ năng lực, sở trƣờng đặc sắc của tác giả.

140

4.1.Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao

4.1.1. Quan hệ đổng đẳng giữa nhân vật động và hệ thống nhân vật tĩnh.

Nếu nhƣ trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hoàn cảnh đƣợc làm nổi bật chủ

yếu qua quan hệ giữa nhân vật động và nhân vật tĩnh - phản diện, tức là từ những quan hệ

tƣơng phản, đối lập, thì trong tác phẩm Nam Cao lại thƣờng là những quan hệ đồng đẳng, bổ

sung. (Tất nhiên, trong Tắt đèn cũng có những quan hệ đồng đẳng bổ sung giữa các nhân vật.

Đó là quan hệ trong hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện mà chúng tôi đã phân tích ở chƣơng

2. Và những mối quan hệ ấy cũng có tác dụng tạo hoàn cảnh).

Nhân vật trung tâm của Sống mòn là Thứ. Xung quanh nhân vật động -trung tâm này

là một số các nhân vật khác: San, Oanh, Đích, Mô, vợ chồng ông Học, vợ chồng anh kéo xe,

vợ chồng ngƣời thuê căn nhà lá ... tất cả những nhân vật có tên và không tên ấy đều không

nằm ngoài cái guồng quay của cơ chế " Sống mòn". Họ góp phần tô đậm thêm cái nền mù

xám triền miên của xã hội" Sống mòn ". Trong dòng chảy của cuộc đời, số phận của những

nhân vật ấy mỗi ngày một đen tối hơn. Chẳng có cuộc đời nào sáng sủa, khấm khá hơn theo

thời gian . Có thể nói, mỗi nhân vật trong " Sống mòn" là hiện thân của một kiểu " Sống

mòn". Có kiểu " Sống mòn" của Thứ và San, những giáo khổ trƣờng tƣ: "quần áo là, sơ mi

trắng, thắt ca vát, giầy tân thời... thế mà kỳ thực bụng chứa đầy rau muống luộc" và lúc nào

cũng nghi kị, hiềm khích, tính toán, nhỏ nhen, để ý nhau từ cả miếng ăn, miếng uống ; đã

từng có những hoài bão lớn lao nhƣng cuối cùng lại bị" cuộc sống áo cơm ghì sát đất". Có

kiểu "Sống mòn" của Oanh và Đích, cặp tình nhân yêu nhau mà không thể sống gần nhau

thời gian dƣờng nhƣ chỉ để giành cho sự tính toán, nhỏ nhen, cãi vã ... đến khi trở về đƣợc

với nhau thì cũng là lúc một ngƣời chuẩn bị xuống mồ. Có kiểu "Sống mòn" của vợ chồng

Mô, cam chịu cuộc sống nghèo khổ của đứa ở, làm thuê nhƣng tình cảnh vẫn mỗi ngày một

bi đát. Có kiểu "sống" mòn" của vợ chồng ông Học, cả đời chỉ gắn chặt với cái cối xay đậu,

vui thú

141

với việc chăn lợn và thổi kèn tàu, không cần biết đến xã hội bên ngoài, không có khát vọng,

ƣớc mơ ... Có kiểu "Sống mòn" của vợ chồng anh xe, một kiểu sống tạm bợ vất vƣởng, dễ

hợp mà cũng dễ tan, ào vào " cái xã hội con con " ở nhà ông Học rồi cũng lại biến đi nhƣ

chƣa từng tồn lại ở cõi đời. Một kiểu "Sống mòn" khác là cuộc sống của ngƣời đàn bà

(không tên) làm ở hãng rƣợu bia với hai đứa con và ông chồng " chƣa bao giờ có một cử chỉ

hoặc một lời nói nào thân mật với vợ con". Ngƣời đàn bà này đã bán ruộng vƣờn ở nhà quê

ra Hà Nội với ý nghĩ " ra Hà Nội, đi bán cháo còn hơn ở nhà quê bám lấy mấy sào vƣờn",

nhƣng cuối cùng cũng lại phải trở về nơi đã ra đi để mò cua bắt ốc, sống cuộc đời mòn mỏi ở

" xó nhà quê" ... Trong thế giới nhân vật của xã hội " Sống mòn" có một nhân vật chỉ xuất

hiện đôi lần thoáng qua nhƣng lại có sức ám ảnh rất lâu đối với ngƣời đọc. Đó là hình ảnh

nhân vật U em lúc nào cũng âm thầm, lặng lẽ nhƣ một cái bóng, một cái xác vô hồn - " Một

vật lù lù lặng lẽ như một dụn rạ biết đi". Đặc biệt ám ảnh là hình ảnh ngƣời u em đêm đêm

ngồi vá áo âm thầm, lặng lẽ đến nỗi " Thứ có cảm tƣởng nhƣ thị vá chỉ vì đêm dài quá, không

sao ngủ hết, cũng nhƣ bà ngoại y thƣờng bắt rận vào những đêm mùa rét, vì không ngủ

được". Đó cũng là hình ảnh của một kiếp "Sống mòn", Những con ngƣời này dƣờng nhƣ

sống mà không có khát vọng. Bên cạnh thế giới nhân vật mòn mỏi trong Sống mòn còn biết

bao kiếp ngƣời t nhƣ thế trong nhiều tác phẩm khác của Nam Cao. Nhƣ kiếp sống của Lão

Hạc (Lão Hạc), mội kiếp sống lay lắt, tạm bợ, tồn tại chỉ nhờ vào sung luộc, rau má, củ ráy,

bữa trai, bữa ốc để rồi cuối cùng phải tìm đến cái chết bằng bả chó, cho hết kiếp "Sống mòn".

Hoặc nhƣ kiếp sống của bà Quản Thích (Nửa đêm), ngƣời đàn bà nổi tiếng nhân đức một

vùng mà cuộc đời gặp biết bao đắng cay, tủi nhục. Những bất hạnh liên tiếp trong cuộc đời đã

khiến bà muốn đƣợc thoát khỏi dƣơng gian, nhƣng "cái kiếp sống vất vƣởng ấy cứ bập bùng

chực tắt mà không tắt. Nó cứ còn mãi, còn để sợ từng cơn gió, để run rẩy trƣớc từng cơn gió

(...) đã già nua, lại đau yếu, lại đói khát, lại bơ vơ thì khổ hơn là chết. Khốn nỗi bà cứ sống

dai dẳng nhƣ nỗi lầm than trên đời ".

142

Có lẽ nhân đây cũng phải nói thêm rằng, trong thế giới hình tƣợng nhân vật của Nam

Cao, có một loại hình tƣợng hiện lên khá nhiều dƣới ngòi bút của nhà văn. Đó là hệ thống

hình tƣợng nhân vật những bà lão. Tất cả những nhân vật trong hệ thống hình tƣợng đặc biệt

ấy thƣờng đều có chung một đặc điểm: già nua, ốm yếu, đói khổ và trong đó có nhiều ngƣời

cô độc, không nơi nƣơng tựa. Nhiều khi họ chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm nhƣng

vẫn để lại những ám ảnh không nguôi trong ký ức ngƣời đọc. Hình ảnh bà Quản Thích trên

đây chỉ là một trong nhiều nhân vật ấy. Chỉ riêng trong tiểu thuyết "Sống mòn" ta cũng có

thể gặp vài ba nhân vật rất phụ nhƣng vẫn ấn tƣợng nhƣ thế. Đó là hình ảnh bà ngoại Thứ "

già nua,, ốm yểu, bẳn gẳn, buồn rầu" đã ngoài bẩy mƣơi mà vẫn luôn chịu đói khát ; là ngƣời

mẹ của Thứ già nua teo tóp " như một con ve, một mình cố nâng đỡ cả một thế qiới đang sụp

đổ...; là hình ảnh bà Hà, bà mẹ vợ của Mô đã khoảng bảy, tám mƣơi tuổi " tóc hai phần

trắng, còn mỗi một phần đen. Mắt lờ đờ. Miệng móm mém. Mặt và hai bàn tay nhăn nhún"

mà vẫn phải đi xe cát thuê để rồi bị tai nạn ... Sự xuất hiện hình ảnh những bà lão già nua đói

khổ ấy góp phần tô đậm bức tranh hoàn cảnh của những kiếp Sống mòn.

Có một đặc điểm thuộc về sở trƣởng của ngòi bút Nam Cao đã đƣợc những nhà

nghiên cứu thống nhất khẳng định, đó là tài năng miêu tả sâu sắc, tinh tế thế giới nội tâm

nhân vật. Nhƣng cũng cần phải thấy thêm là nhà văn thưởng chỉ tập trung ngồi hút vào việc

thể hiện thế giới tâm trạng, những phản ứng tâm lý của nhân vật chính, nhân vật trung tâm.

Còn các nhân vật phụ, nhân vật tĩnh thì hầu nhƣ không đƣợc chú ý khai tháo ở phƣơng diện

này. Trong Sống mòn ta chỉ thấy các nhân vật tĩnh sống ra sao, chứ ta không thấy họ nghĩ

như thế nào. Vợ chồng Mô, vợ chồng ông Học, anh xe, U em cảm nghĩ gì về cuộc sống của

họ - đó là điều ta ít thấy. Việc nhà văn chỉ tập trung miêu tả (nhiều khi khá tỉ mỉ) cuộc sống,

sinh hoạt thƣờng nhật của các nhân vật tĩnh (nhƣ cuộc- sống thƣờng nhật của gia đình ông

Mọc, gia đình ngƣời đàn

143

bà làm ở hàng rƣợu bia ...) mà không miêu tả thế giới nội tâm của những nhân vật này đã

chứng tỏ dụng ý nghệ thuật của nhà văn: hệ thống nhân vật tĩnh này chỉ là những yếu tố thể

hiện hoàn cảnh, tất cả những mảnh đời ấy góp phần đan dệt nên hoàn cảnh. Hình ảnh cuộc

đời của họ chỉ là những cái cớ, là chất xúc tác mang đến những phản ứng tâm lý cho nhân vật

chính - Thứ, để rồi từ đó nhà văn thể hiện những suy tƣ, chiêm nghiệm về cuộc đời. Nhiều

nhà nghiên cứu đã nói tới vai trò là tấm gƣơng soi, là đối tƣợng để nhân vật Thứ suy nghĩ,

trăn trở về cuộc đời của các nhân vật tĩnh. Chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm tới vai trò tạo tác

hoàn cảnh của hệ thống nhân vật này - những nhân vật có quan hệ đồng đẳng, bổ sung cho

nhân vật động. Họ không có quan hệ đối kháng, thậm chí dƣờng nhƣ họ chẳng có quan hệ gì

với nhân vật động - nhân vật Thứ. Cuộc sống của mỏi ngƣời trong hệ thống nhân vật ấy

dƣờng nhƣ chẳng có liên quan gì tới cuộc sống của Thứ. Thế nhƣng nó lại có sự gắn kết vô

hình trong một xu thế xã hội đang mỏi mòn trì trệ. Trong xu thế xã hội ấy, nhìn ra cuộc sống

của những ngƣời xung quanh - những kiểu Sống mòn trăm hình, vạn trạng, Thứ luôn " giật

mình mình lại thƣơng mình xót xa".

Nói tới mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong thế giới nhân vật của Nam

Cao còn phải thấy ở đó những định kiến, ghen ghét, nghi kị, nhỏ nhen, cái vã, lãng nhục...

những thói xấu làm thấp bé con ngƣời những thói xấu nhiều khi trở thành nếp, thành tập

quán. Trong cái xã hội mà định kiến dã thành nếp nghĩ thì một kẻ nhƣ Chí Phèo sẽ mãi mãi

"không thể thành ngƣời lƣơng thiện đƣợc nữa"; một thằng đã làm Mõ thì ai cũng có quyền

khinh bỉ ít tuổi hơn nói đến hắn cũng gọi bằng thằng"; một kẻ bạch đinh nhƣ Trạch Văn

Đoành thì không thể "nhảy tót lên bao lan làm một ông kỳ mục"; và đứa con của Ông Thiên

Lôi, kẻ đã từng giết vợ thì phải "mang trong huyết quản cái máu ác ngược của quân giết

người " và "nọc độc tiết ra từ mồm nó". Sự phản ứng tiêu cực của Chí Phèo (Chí Phèo), anh

Cu Lộ (Tư cách mõ) Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò), Đức (Nửa đêm)... là kết quả của

những định kiến đó.

144

Chính nhân vật Thứ (Sống mòn) đã có lần phải thừa nhận:" chúng ta vẫn tự phụ không định

kiến những thực ra vẫn còn nhiều định kiến". Chính cái không khí của những định kiến nghi

kị, nhỏ nhen, cãi vã... ấy đã khơi gợi thúc đẩy quá trình tự ý thức của nhân vật và nó góp phần

tạo nên áp lực của hoàn cảnh. Nếu nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, áp lực của hoàn cảnh

đƣợc tạo nên bởi sự hoạt động của bộ máy thống trị, hành chính với cơ chế trấn áp bạo lực,

thì trong tác phẩm Nam Cao, nó lại đƣợc tạo nên bởi nhiều yếu tố, mà áp lực lớn nhất là

những định kiến, thói tục với cơ chế của đạo đức, phong lục, lƣơng tâm. Nhiều khi những

định kiến, hủ tục, "bao giờ cũng sai, dựa trên những hiểu biết rất mù mờ [83] ấy ảnh hƣởng

rất lớn tới số phận cuộc đời nhân vật. Nếu Chí Phèo lấy đƣợc Thị Nở thì chắc rằng rằng cuộc

đời của con quỉ dữ đã hoàn lƣơng ấy sẽ sang một trang mới, khép lại một quá khứ đau

thƣơng, tội lỗi và mở ra một tƣơng lai mà hắn đã một thời mơ ƣớc "chồng cuốc mƣớn, cày

thuê, vợ dệt vai, chúng lại bỏ ra một con lợn nuôi làm vốn, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng

làm". Thế nhƣng, cuộc tình duyên của hai con ngƣời tội nghiệp " dưới đáy " xã hội ấy đã

không thành bởi vì những định kiến của ngƣời dân làng Vũ Đại: " Đàn ông chết hết cả rồi sao

đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy một thằng chỉ có một nghề là đi rạch mặt

ăn vạ". Trong không khí của những định kiến ấy, việc Thị Nở định lấy Chí Phèo làm bà cô

của chị cảm thấy:" nhục nhã ơi là nhục nhã !"và " ngƣời đàn bà đức hạnh ấy thấy cháu bà

sao mà đĩ thế !". Cho đến khi sang nhà Chí Phèo để nói lời cự tuyệt, Thị Nở cũng chỉ biết

nói theo cái định kiến đó bằng cách " trút vào mặt hắn tất cả các lời bà cô", nghĩa là không

phải thị nói những lời của thị. Bởi vì với Thị Nở, Chí Phèo trƣớc hết là ngƣời láng giềng tốt

bụng (đã có lần, thị sang nhà Chí Phèo xin rƣợu về bóp chân, Chí bảo thị" rót bao nhiêu thì

rót"); với thị, Chí không đáng sự nhƣ ngƣời ta vẫn nghĩ ("lắm lúc thị ngạc nhiên sao ngƣời ta

ghê hắn đến thế"), thậm chí thị còn thấy " ôi sao mà hắn hiền" và " thị thấy nhƣ yêu hắn".

Nhƣng cái tình yêu vừa mới đƣợc nhen

145

nhóm giữa hai trái tim tƣởng chừng không biết đập những nhịp đập thƣơng yêu ấy đã bị cái

định kiến khắc nghiệt của hoàn cảnh bóp chết, để rồi Chí Phèo phải đi đến một kết cục bi

thảm - đoạn tuyệt với cõi ngƣời để dƣợc làm ngƣời.

Cũng tƣơng tự nhƣ trƣờng hợp Chí Phèo, nếu nhƣ Đức (Nửa đêm) lấy đƣợc Nhi thì

cuộc đời của đứa con mồ côi khốn khổ ấy hẳn sẽ đi theo một hƣớng khác. Tình yêu đối với

Nhi đã làm cho chàng trai " vẫn lặng lẽ, ngờ nghệch và hay thở dài " ấy, trở nên " nhanh nhẹn

hơn trƣớc, mắt đỡ lờ đờ, hay tủm tỉm cƣời". Đức đã nghĩ đến chuyện dành dụm và nghĩ tới

những cách làm giầu. Và cũng nhƣ mối tình của Chí Phèo với Thị Nở, mối tình của Đức và

thị Nhi lập tức bị lên án bởi những định kiến tàn nhẫn: " người ta bảo: Nếu thế thật thì đến

trời cũng chết". Cái " người ta" vu vơ, " người ta" mù mờ phải ngôn không chính thức ấy đã

tạo nên những dƣ luận gây áp lực đến mức có thể bóp chết một mối tình chất phác, chính

đáng của hai con người khốn khổ . Cái " người ta" ấy, khiến nhiều ngƣời phải nể sợ và theo

nó. Mối tình của Đức, Nhi cứ bình lặng trôi đi nhƣng " đến lúc người, ta ngờ thì thật ầm ĩ".

Ông Cửu Hoa, bố nuôi của thị Nhi trƣớc dƣ luận ấy đã đánh đập Nhi tàn nhẫn cũng chỉ vì: "

Mày làm thế người ta cứ tao người ta chửi. Cái mặt tao còn ra gì ?". Và khi bà Cửu xông vào

tiếp sức cho ông để đánh đập thị Nhi "mồm thì gào lên nhƣ chính bà bị đánh", thì ông Cửu

cũng chỉ sợ cái " người ta" vừa vô hình, lại vừa hữu hình ấy: " thôi hàng xóm người ta chửi

chúng mày ngoài kìa!" , Ngay cả ngƣời trần thuật, khi nói về bà Quản Thích cũng cảm thông,

thƣơng hại vì bà không đƣợc biết cái dƣ luận định kiến đang dần giết chết phần ngƣời ở đứa

cháu của bà, kẻ đang muốn sống cuộc sống bình thƣờng của một con ngƣời: " Tội nghiệp cho

bà già ấy ! bà còn ngây ngô hơn cháu bà? bà không biết một tí gì ƣ ? bà không nghe người ta

bàn tán nhao lên đấy à ? ". Đến khi Nhi bị ông Cửu Hoa gọt đầu bôi vôi đuổi đi thì cái dƣ

luận " người ta " ấy lại nhao lên: " có người thì bảo....", người khác, giàu tƣởng tƣợng hơn thì

lại kể

146

và ngƣời trần thuật kết luận: " thế thì còn biết tin ai đƣợc ? mỗi người nói một cách, rút cục

chẳng ai hiểu Nhi đi dâu ". Thế rồi đến lƣợt Đức bỏ làng ra đi " cả làng lại xôn xao..., có

người quả quyết rằng..., kẻ thì bảo ... họ kết luận... "

Từ lý thuyết đối thoại của Bakhtin, Trần Đình Sử đã tìm hiếu Cấu trúc đối thoại trong

truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và rút ra nhận xét: " Nam Cao không giản đơn kể

chuyện và tâm trạng nhân vật, không giản đơn vạch ra sự qui định của hoàn cảnh đối với số

phận con ngƣời, mà xuyên qua hình thức tồn tại của con ngƣời để hiểu nó. Con ngƣời tồn tại

bằng ý thức và đƣợc bao bọc bởi ý thức, và muốn tiếp cận nó ngƣời ta phải đối thoại với các

ý thức đó. Cả một môi trƣờng ý thức vây quanh nhân vật, sự kiện với biết bao định kiến tâm

thế, khiến cho không ai biết rõ đƣợc nhân vật tự nó vốn có nhƣ thế nào. Một nhân vật mà tách

rời với ý thức của chính nó và ý thức bao bọc nó thì nó không thật ... " . Từ đó, nhà nghiên

cứu khẳng định: " Miêu tả nhân vật trong cái vầng ý thức bao quanh mới là một mặt phát hiện

của Nam Cao ". Chính "cái vầng ý thức" ấy đã quyết định không nhỏ tới vận mệnh của nhiều

nhân vật của Nam Cao mà nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo) và Đức (Nửa đêm) chỉ là những ví

dụ tiêu biểu. Trong " cái vầng ý thức" đó các nhân vật buộc phải bộc lộ mình và tự hiểu mình

qua ý thức ngƣời khác. Ở đây, hoàn cảnh đã đƣợc Nam Cao nhìn nhận một cách sâu sắc và

đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật.

Nhƣ vậy có thế nói, hệ thống nhân vật tĩnh trong tác phẩm Nam Cao thƣờng không đa

dạng, phong phú nhƣ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nhƣng chúng cũng đã góp phẩn

đắc lực vào việc tạo dựng hoàn cảnh nghệ thuật.

4.1.2. Hoàn cảnh qua sự cảm nhận của các nhân vật - một cách thể hiện hoàn cảnh ấn

tƣợng truyền cảm.

Một điểm khác biệt khá rõ giữa hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao và nhiều nhà văn

hiện thực đƣơng thời là sự cảm nhận hoàn cảnh của chính các

147

nhân vật. Nói rõ hơn, nếu nhƣ ở nhiều nhà văn hiện thực khác, hoàn cảnh đƣợc cảm nhận và

tái hiện chủ yếu qua lăng kính của chính bản thân tác giả, thì trong tác phẩm Nam Cao, hoàn

cảnh nhiều khi đƣợc cảm nhận, tái hiện qua chính cái nhìn nội tâm của nhân vật. Vì thế, hoàn

cảnh hiện lên không chỉ là hoàn cảnh khách quan mà còn hoàn cảnh đã đƣợc cảm nhận, toát

lên qua sự cảm nhận của các nhân vật... Chẳng hạn, trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, cái

không khí ngột ngạt, dông bão, oi nồng đến ngạt thở của hoàn cảnh đƣợc toát lên chủ yếu từ

những yếu tố ngoài nhân vật: thiên nhiên, cảnh vật, âm thanh, tiếng chửi bới quát, thét, tiếng

mõ, tiếng trống, tiếng tù và, chó sủa... Có thể nói nhân vật trong "Tắt đèn" không cảm nhận

đƣợc môi trƣờng, hoàn cảnh không đƣợc thể hiện qua sự cảm nhận môi trƣờng của nhân vật.

Nhƣng trong tác phẩm Nam Cao; nhân vật ý thức rất rõ về môi trƣờng, hoàn cảnh. Và không

khí của hoàn cảnh đƣợc toát lên từ chính sự cảm nhận, ý thức đó. Vì thế, sự tác động truyền

cảm tới ngƣời đọc cũng mãnh liệt, sâu sắc hơn.

Cảm giác ngột ngạt, nặng nề, bế tắc đến đau đớn, trăn trở vật vã dƣới tác động của

hoàn cảnh thể hiện tập trung ở nhiều nhân vật trí thức tiều tƣ sản của Nam Cao, những con

ngƣời luôn nhạy cảm với thời cuộc, với nhân tình thế thái, hay chiêm nghiệm suy tƣ về cuộc

đời, tự ý thức về số phận, hoàn cảnh của bản thân. Biết bao nhân vật của Nam Cao đã phải

sống trong tâm trạng cảm giác bức bối và đau đớn về tinh thần do tác động của ngoại cảnh.

Những cảm giác ấy nhiều khi ứ trào trong tâm hồn, nhức nhối trong tâm can, não tủy.

Trƣớc tình cảnh gia đình nhếch nhác đói khổ, con ốm, vợ bóng gió đay nghiến, văn sĩ

Điền (Trăng sáng) đã "cố thản nhiên. Nhƣng da mặt cứ rồm rộm; nó có vẻ dày lớn và tê tê "

thậm chí" Một nỗi chua xót gần nhƣ là thuộc về thể chất ứ lên trong lòng Điền nó dâng lên cổ

xông lên óc ",Cũng tƣơng tự nhƣ vậy, nhân vật ngƣời thầy giáo ốm yếu - "hắn" trong Cƣời

sau những phút cãi vã bằng những lời tàn nhẫn với vợ chỉ còn biết "ngồi cắm mặt ở nhà

ngoài, mím chặt môi để nuốt lấy khí giận trong lòng". Trƣớc cái tin vợ San ngọai

148

tình, Thứ (Sống mòn) liên tƣởng tới hoàn cảnh vợ mình và sự nghi ngờ khiến cho "Y có cảm

giác nhƣ bao nhiêu khí nóng trong người đã rút lên đầu y hết."Đầu y nóng rực"

Sự khắc nghiệt của hoàn cảnh khiến cho nhiều nhân vật của Nam Cao cũng có cảm

giác ngạt thở. Đó là cảm giác của anh Phúc (Điếu văn) lúc lâm chung: "cổ anh tắc lại...ngực

anh như có một phiến đá nặng đè lên"; là cảm giác của cậu bé Hiền (Truyện người hàng

xóm) trong một đêm khuya: "nó ngạt thở mà không dám thử mạnh"; hay sau này khi Hiền

đứng trƣớc một hoàn cảnh đáng buồn tủi (ngƣời mình yêu nằm trong vòng tay kẻ khác chỉ vì

mình quá nghèo): "một nỗi ghen tức cuộn dâng lên trong cổ hắn đã nghẹn tắc lại. Hắn không

thở được" và nhân vật Thứ (Sống mòn) đã cảm thấy: "tắc cổ nhƣ trông thấy bố mình bị

đánh" khi chứng kiến cảnh "Bá Kiến sai trói một lúc 17 ngƣời và đánh một ngƣời lòi con

mắt". Trong những ngày phải xa vợ con chỉ vì kế sinh nhai "ông giáo khổ trƣờng tƣ" ấy khi

nghĩ tới "tất cả nỗi buồn mênh mông của đời mình" đã "thấy nổi lên trong mình một nỗi uất

ức tối tăm, nó nâng một cục gì lên cổ họng y"... Có thể tìm thấy rất nhiều trạng thái tình cảm,

tâm trạng nghẹn ngào, uất ức, tủi cực, cay đắng ở các nhân vật của Nam Cao trƣớc tác động

của ngoại cảnh. Nam Cao đã "vật chất hoá" những tâm trạng, những cảm xúc đó của các nhân

vật bằng những so sánh liên tƣởng ... Bởi vậy, nó tác động truyền cảm rất mạnh mẽ với ngƣời

đọc, giúp họ cảm nhận trực không khí của hoàn cảnh.

Nhƣng nhân vật của Nam Cao không chỉ cảm nhận về hoàn cảnh mà còn nhận định về

nó, ý thức sâu sắc về nó. Nhiều nhân vật ý thức rất rõ rằng hoàn cảnh bế tắc, ngột ngạt, tăm

tối của họ không diễn ra ngày một ngày hai mà nó sẽ kéo dài suốt cả cuộc dời. Vì thế sức

nặng của hoàn cảnh càng trở nên ám ảnh đáng sự hơn. Hoàn cảnh ấy không chỉ ngột ngạt,

căng thẳng, sục sôi trong mấy ngày sƣu thuế nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Nó kéo dài

triền miên và không hứa hẹn sự đổi thay. Nhân vật Thứ (Sống mòn) hiểu rõ rằng :"y cứ

149

phải gò cúi mãi! gò cúi mãi! làm ! chỉ có làm! chịu khổ! mà chẳng bao giờ được hưởng, mà

chẳng bao giờ cất đầu lên nổi" và Thứ có cảm giác rất rõ là "cuộc sống đè nặng lên ngực

người ta quá". Còn ngƣời bạn đồng nghiệp của Thứ - San cũng cay đắng nhận xét: "suốt dời

cứ dở dang mãi thế, chẳng có một cái gì vững chãi. Rồi có ngày chết đói". Bà Quản Thích

(Nửa đêm), ngƣời đàn bà nhân đức nhƣng phải chịu bao nỗi bất hạnh ở đời cũng cảm thấy:

"Cuộc đời chẳng khác gì cuộc đời trong địa ngục". Trong hoàn cảnh đen tối, ngột ngạt bế tắc

ấy, nhiều nhân vật đã nghĩ đến cái chết nhƣ một sự giải thoát. Nhân vật ngƣời vợ (Trẻ con

không ăn được thịt chó) thấy mình ở "cái thế không chết, chứ giá chết được thì thị cũng đã

thắt cổ mà chết cho rồi". Hài, ngƣời thầy giáo thất nghiệp trong Quên điều độ cũng nhận

thấy: "cái đời hắn chỉ là cái đời vất đi. Thà chết ngay cho rồi". Chàng trai Hiển (Truyện

người hàng xóm) trong tiếng khóc hờ cha hờ mẹ của một ngƣời đàn bà, tiếng ngƣời đàn ông

chửi tục qua hàm răng nghiến chặt, vào một đêm khuya nơi ngoại ô với tiếng côn trùng văng

vẳng đều đều thảm đạm... nghĩ tới ngày mai đầy tối tăm với biết bao nhiều điều tủi nhục chờ

đón đã "có cái ý muốn được lăn ra đây chết như một con chó đói"... Và ngay cả Thứ (Sống

mòn), một trí thức từng có những khát vọng hoài bão cao đẹp cũng phải cay đắng nhìn lại

cuộc đời mình với ý nghĩ: "Sống thì sống hẳn mà chết thì chết hẳn. Cứ ngắc ngoải mãi thì

chán lắm". Thậm chí, có lúc con ngƣời rất coi trọng nhân phẩm, giấu tình thƣơng yêu đồng

loại ấy đã có những ý nghĩ cực đoan: "sao tất cả những cái gì ở trên đời này không chết hết

cả đi. Sao trái đất của loài người không vỡ toang ra! Cuộc sống...Cuộc sống thật (kĩ là một

cái gì trói buộc và nặng nề quá sức!"...

Sự tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh đã khiến cho nhiều nhân vật của Nam Cao bị

ám ảnh về cái chết, nỗi ám ảnh này dƣờng nhƣ ít có ở các nhân vật của Ngô Tất Tố, Vũ

Trọng Phụng, ngay cả khi những nhân vật của các nhà văn này ở vào những tình cảnh bi đát

nhất. Trong những ám ảnh về cái chết,

150

nhân vật của Nam Cao lo nhiều về nỗi lo chết đói, cái chết sinh vật. Nỗi lo chết đói trở thành

nỗi lo thƣờng trực trong tâm trí của những ngƣời dân cùng khổ, nhất là trong những ngày

mƣa bão. Sau những trận thiên tai khắc nghiệt ấy "biết bao nhiêu cây chuối đổ, cây gẫy gục,

cây tróc gốc. Biết bao nhiêu mía đổ. Bƣởi, cam rụng lở tở Đối với những ngƣời nông dân mà

cuộc sống chủ yếu bóng vào mấy sào vƣờn bãi thì quả là cái đói đã nhỡn tiền. Bởi vậy "ngƣời

ta thở dài chép miệng rên lên nhƣ sốt rét. Người ta lo chết đói" (Làm tổ). Cũng sau một trận

bão nhƣ thế cả hai vợ chồng Bịch (Mua danh) " Mặt nào cũng nhăn nhƣ mặt khỉ ... Hắn đã

chắc lo chết đói ". Nhân vật Hài (Quên điều độ) ốm đau, bệnh tật, thất nghiệp " đợi chết mà

không chết" phải đi kiếm việc làm, xin mở trƣờng tƣ. Trƣớc lời khuyên của bác sĩ :" ông mà

dạy học thì chết mau lắm đấy", Hài đã tự nhủ:" Hắn không dạy thì chết đói. Thiếu gì kẻ

chẳng lấy gì làm can đảm vẫn phải bán dần sự sống đi để giữ cho mình khỏi chết... ta có thể

liều chế mà kiếm ăn ...thà cứ làm việc cho chết quách". Cũng với sự ám ảnh của cái chết sinh

vật ấy, nhân vật San (Sống mòn) đã khẳng định nỗi lo thƣờng trực của đời mình, của những

giáo khổ tƣơng tƣ về mình:" Lúc nào cũng lo chết đói, lúc nào cũng là làm thế nào cho không

chết đói.." và dự đoán một tƣơng lai bi thảm: " Suốt đời cứ dở dang mãi thế, chẳng có một cái

gì vững chãi. Rồi có ngày chết đói!"." Lúc nào cũng...",Suốt đời cừ' ... Sự ám ảnh của cái chết

tia trở thanh nôi ám ảnh thƣờng trực trong tâm trí của ngƣời trí thức tự biết mình đang " chết

mòn" ấy. Bên cạnh sự ám ảnh về cái chết do đói khát là nỗi lo về cái chết đang đến gần của

những con ngƣời già nua bệnh tạt mà ốm đau, cô độc, không nơi nƣơng tựa, bấu víu. Những

nhân vật ở cái tuổi cần đƣợc nghỉ ngơi chăm sóc, bởi đã qua cái dốc bên kia của cuộc đời bị

cuộc đời vắt kiệt sức lực, chỉ còn chút " hơi thở tàn" ấy đã nghĩ tới cái chết ngay từ khi còn

sống. Sự khắc nghiệt của cuộc đời, sự tối tăm của hoàn cảnh đã khiến họ cảm thấy cái chết đã

có thể đến với họ bất cứ lúc nào (Lão Hạc:" lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào

... lỡ chết

151

không biết lo cho đƣợc..." cuối cùng lão Hạc đã phải ăn bả chó để chết. Lão chết bởi lão hiểu

rằng, mình không thoát khỏi cái chết); và họ cảm thấy họ đã đến ngƣỡng cửa của cái chết, đã

cận kề cõi âm (bà lão trong Một bữa no:" ... cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con

cũng tƣởng đi chơi dối già một bận"). Những con ngƣời già cả đáng thƣơng ấy không chỉ bị

ám ảnh bởi cái chết, mà họ còn chuẩn bị cho cái chết của mình (lão Hạc gửi tiền ông giáo để

lo ma chay cho ông bởi " để phiền hàng xóm thì chết không nhắm mắt". Bà Quản Thích

(Nửa đêm)" thắt lƣng buộc bụng để dành dăm bẩy đồng mua một cái áo quan để đợi ngày

chui vào" ). Và có khi họ còn hình dung ra cái chết thảm thƣơng, lạnh lẽo của mình: " Bà

nghĩ đến cái chết của bà cô quạnh giữa một khu vƣờn hoang, không có lấy một ngƣời lại gần

mà vuốt mắt. Có lẽ cũng chẳng ai biết để mời cha xứ về cho bà đƣợc ăn mày các phép trƣớc

khi từ giã chốn khách đày. Cái chết của bà sẽ là một cái chết cheo leo" (bà Quản Thích - Nửa

đêm).... Thông qua sự ám ảnh về cái chết của các nhân vật, Nam Cao thể hiện sự tác động

của hoàn cảnh. Nói cách khác, sự ám ảnh đó là phản ánh của hoàn cảnh. Hoàn cảnh cuộc

sống tối tăm, khổ đau, tuyệt vọng đã tác động vào tâm lý nhân vật tạo thành những ám ảnh

khôn nguôi ấy. Ở đây, Nam Cao đã nhìn nhận tác động của hoàn cảnh ở chiều sâu tâm lý.

Những cảm nhận, suy nghĩ nỗi ám ảnh ấy của các nhân vật không chỉ phản ánh bí kịch của

một cá nhân mà nó còn phản ánh tình trạng xã hội đang ở thời kỳ bế tắc đến tột độ, đang quằn

quại trƣớc giờ "lột xác". Việc đi sâu vào thế giới tâm hồn nhân vật, làm nổi bật những suy tƣ,

trăn trở, vật vã của thế giới ấy trƣớc cuộc đời đã góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh và

phản ánh hoàn cảnh.

4.1.3. Các nhân vật dị dạng, xấu xí - một hệ thống yếu tố thể hiện quan niệm nghệ

thuật về hoàn cảnh của Nam Cao.

Đã có những công trình nghiên cứu về hiện tƣợng các nhân vật dị dạng xấu xí trong

tác phẩm Nam Cao. Việc các nhà nghiên cứu chú ý tới hiện tƣợng này trong tác phẩm Nam

Cao là điều tất yếu. Bởi lẽ đây là một hiện tƣợng

152

mang tính chất thi pháp Nam Cao. Nó không phải là hiện tƣợng cá biệt mà cứ trở đi trở lại

nhiêu lần trong nhiều tác phẩm, thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Về hiện tƣợng này,

có một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là một hạn chế của Nam Cao. Nhƣng nhiều nhà

nghiên cứu khác lại khẳng định " đó không phải là thiếu sót hoặc đang tiếc mà là một đặc

điểm đáng lƣu ý ", những hiện tƣợng đó chỉ " càng tô đậm thêm bộ mặt cùng quẫn mất nhân

tính của xã hội". Vƣơng Trí Nhàn còn cho rằng đó là một trong " những biến hóa của chất

nghịch dị" trong tác phẩm Nam Cao, là một nét đặc sắc của tác phẩm Chí Phèo [193.454 -

462]. Trong khi có nhà nghiên cứu cho rằng hiện tƣợng những nhân vật dị dạng, xấu xí đó là

hiểu hiện của chủ nghĩa tự nhiên, thì có nhà nghiên cứu lại phủ nhận điều đó, hoặc cho rằng:

"dẫu có những biểu hiện của chủ nghĩa tự nhiên khi miêu tả loại nhân vật xấu xí, Nam Cao

vẫn là ngƣời đứng vững trên đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực" [193.466]).

Trƣớc hết, điều mà ai cũng thừa nhận là trong tác phẩm Nam Cao có rất nhiều hình

tƣợng nhân vật dị dạng mang vẻ ngoại hình xấu xí, nhiều khi khiến ngƣời ta phải ghê sợ.

Điển hình nhất là nhân vật Thị Nở (Chí Phèo) một nhân vật đã trở thành biểu tƣợng cho sự

xấu xí của ngƣời phụ nữ. Cái tên Thị Nở đã trở thành đồng nghĩa với cái xấu đến ma chê quỷ

hờn. Ấn tƣợng về nhân vật này sâu sắc đến nỗi nhắc đến Nam Cao, ngƣời ta nhớ đến Chí

Phèo và nhắc đến Chí Phèo ngƣời ta nhớ đến Thị Nở. Nhƣng trong thế giới các nhân vật vẹo

vọ dị dạng xấu xí của Nam Cao, đâu chỉ có một mình Thị Nở. Còn có biết bao nhiêu nhân vật

" họ hàng gần xa" với ngƣời đàn bà bị ngƣời dân làng Vũ Đại xa lánh "nhƣ lánh một con vật

rất tởm" này. Đó là nhân vật Lang Rận trong truyện ngắn cùng tên với cái " mặt gì mà nặng

chình chịch nhƣ mặt ngƣời phù, da nhƣ da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang.

Cái trán ngắn ngủn ngắn ngùn, lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại nhƣ mắt lợi xể. Môi rất nở cong

lên bịt gần kín hai lỗ mũi con con...". Cái mặt ấy bẩn đến nỗi " dẫu cho mỗi ngày rửa ba lƣợt

xà phòng, bà Cựu trông thấy vẫn còn buồn mửa". Nhân

153

vật Lang Rận cùng với mụ Lợi quả là một "đôi lứa xứng đôi" bởi mụ có một thân hình: "béo

trục, béo tròn, mặt rỗ nhƣ tổ ong bầu, mắt trắng, môi thâm, má đen nhƣ thằng quỉ ". Hình

tƣợng nhân vật Thị Nhi trong Nửa đêm cũng đƣợc miêu tả bằng những nét bút nguệch ngoạc,

dị kỳ ấy. Ngƣời thiếu nữ mới mƣời chín tuổi - cái tuổi đang đẹp của thời con gái đã hiện lên

thật xấu xí đến ghê sợ: "Nó trắng lắm, trắng như con lợn cạo" (Ngƣời thiếu nữ nào mà lại

chẳng mong có một nƣớc da trắng trẻo. Nhƣng "trắng như con lợn cạo" thì không còn mang

lại cho con ngƣời cảm xúc nƣớc cái đẹp mà khiến ngƣời ta có cảm giác ghê sợ). Ngoài cái

nƣớc da để ngƣời ta phải ghê, ngƣời thiếu nữ này còn có ngoại hình khiến ngƣời ta phải sợ:

"Nó phục phịch quá, giá có phải lợn, bán đƣợc đến hơn hai mƣơi đồng. Bàn chân to và đầy

hùm hụp, nhấc đƣợc lên quả đã là khó nhọc. Cái mặt thì chỉ thịt rồi lại thịt, nẫn lên những thịt

- Hai má phị, hai mũi to mà lỗ thì lại nhỏ, gần nhƣ đặc, mắt không còn chỗ để phô ra, cái mi

mắt đủ đầy nhƣ một cái môi và cái môi thì dầy nhƣ ... không có cái gì dầy đến thế". Cũng

trong tác phẩm này, còn có hình tƣợng một nhân vật phụ nữ khác có ngoại hình nhƣ quỉ sứ

hiện hình. Đó là ngƣời vợ mới của Đức: "con này thì ngƣời đét mà cứng nhắc. Cái mặt thì

câng câng chẳng có tý nhân hậu nào. Da xấu quá, cứ tai tái, đen đen nhƣ ngƣời ngã nƣớc; hai

mắt to mà trắng dã... " Hình tƣợng nhân vật Trƣơng Rƣ cũng hiện lên trong tác phẩm với

những đƣờng nét nham nhở, gồ ghề nhƣ một quái nhân nhƣ thế: "Da đen nhƣ cột nhà cháy,

mặt rỗ lổ ong, trán thấp và hóp lại hai bên, tóc cờm cợp dở ngắn, dở dài, mắt ti hí nhƣng sáng

nhƣ mắt vọ, đã thế còn đƣợc đôi lông mày rậm và dựng đứng nhƣ hai con sâu róm nằm trên

trợ lực, tất cả những cái ấy vào hùa với cái mũi ngắn và to hếch lên nhƣ mũi hổ phù, đôi

lƣỡng quyền cao trên bờ những cái má trũng nhƣ hai cái hố, những cái xƣơng hàm nổi bật

lên, và bộ răng cải mả nhai xƣơng rau ráu cùng nhăn nhó, trừng trợn với nhau để tạo cho hắn

một bộ mặt làm những trẻ con trông thấy phải thét lên nhƣ bị mẹ bóp cổ". Gần gũi với bộ mặt

đằng đằng sát khí đó của ông Thiên lôi Trƣơng Văn Rƣ là bộ

154

mặt của Trạch Văn Đoành trong Đôi móng giò: "Cái mặt hắn vênh vênh ngậu xị thế nào ...

Đôi lƣỡng quyền nhô ra nhƣ gây sự với ngƣời ta. Hai má thóp vào đế tiếp sức cho hai cái

lƣỡng quyền. Cái mũi hóp lại ở trên để cho dƣới đƣợc banh ra ... cái hàm răng vổ làm môi trật

hẳn ra. Những cái răng dọa nạt ai: Y nhƣ một con chó khi nó gừ với một con chó khác". Với

một ngòi bút hiện thực tỉnh táo và rất kiệm lời nhƣ Nam Cao, việc khắc họa những chân dung

một cách tỉ mỉ, chi tiết nhƣ vậy hẳn không phải là không có dụng ý nghệ thuật.

Có thế còn dẫn thêm nhiều gƣơng mặt bất thành nhân dạng nhƣ thế nữa trong thế giới

nhân vật của Nam Cao. Nhƣng đến đây chúng tôi xin dừng lại ở một vài gƣơng mặt trong thế

giới nhân vật ấy của tác phẩm Truyện người hàng xóm. Trong cái xóm Bài thơ gần kề ngoại ô

ấy, số nhân vật chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, thế nhƣng cũng đã có tới vài ba gƣơng mặt

vẹo vọ, dị tật. Đó là ngƣời đầy tớ của ông ấm chủ nhân xóm Bài thơ "Một lão chột lực lƣỡng,

cục mịch, xấu xí, vai và lƣng u lên, cổ to và đen ghê nhƣ cổ trâu, chân đi bình bịch, cổ tay to

và vuông, những ngón tay nổi cục, mặt nấc lên thành nhiều cái bƣớu nho nhỏ, cái mắt chột

lúc nào cũng giƣơng cái con ngƣơi trắng đục ra, còn mắt kia thì luôn luôn nhấp nháy...". Cả

chủ và tớ chúng đều là những thằng câm: Thằng câm chuột bò và thằng câm nháy trời ...

trong xóm Dài thơ ấy còn có một thằng câm nữa, để phân biệt với hai thằng câm kia, ngƣời ta

gọi hắn là thằng câm tịt. Trong một cái xóm nhỏ có vài ba gia đình mà có tới ba thằng câm,

một cô thày mù lòa và mấy gƣơng mặt dị dạng. Điều ấy hẳn không phải không có ý nghĩa.

Chúng tôi cho rằng, việc Nam Cao khắc họa nhiều hình ảnh các nhân vật xấu xí, dị

dạng, dị tật không phải là để chiều theo tâm lý, thị hiếu thích cái mới lạ, bất thƣờng của ngƣời

đọc, càng không phải để miệt thị, bôi nhọ những ngƣời dân cùng khổ... mà nó là kết quả của

quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Hệ thống những nhân vật ấy cũng là yếu tố

tạo không khí cho hoàn cảnh, thể hiện hoàn cảnh nghệ thuật. Thông qua hệ thống những

155

nhân vật ấy, nhà văn phản ánh một hoàn cảnh phi nhân tính, hoàn cảnh làm biến dạng con

ngƣời không chỉ tâm tính mà cả hình hài, làm méo mó tha hoá con ngƣời không chí phần hồn

mà cả phần xác. Quan niệm sâu sắc này của. Nam Cao về sự tác động của hoàn cảnh tới con

ngƣời không phải nhà văn hiện thực đƣơng thời nào cũng có đƣợc.

Cũng xuất phái từ quan niệm nghệ thuật ấy, có một đặc điểm khá rõ trong tác phẩm

Nam Cao là khi miêu tả con ngƣời, tác giả hay ví von, so sánh con ngƣời ứng với loài vật, đồ

vật. Nhƣng không có nghĩa là nhà văn vật hóa con ngƣời - vật hóa là một thủ pháp thƣờng

đƣợc dùng để hạ thấp đối tƣợng. Nam Cao chỉ hay liên tƣởng so sánh con ngƣời với con vật,

đồ vật. Có thể dẫn ra ở đây rất nhiều ví dụ: "Nó trắng lắm, trông như con lợn cạo... giá có

phải là lợn bán đƣợc đến hai mƣơi đồng" (Nửa đêm); "Thỉnh thoảng hắn lại đƣa tay che

miệng ngáp thật to, như một con trâu nghé ọ..." (Trẻ con không được ăn thịt chó); "Cái đĩ

ngƣợng quá, duỗi cổ ra trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà nuốt nhái"

(Một bữa no); "Nó nhay cái vú beo như một con chó day bối giẻ" (Ở hiền); "Bao giờ Nhu

chẳng dễ bảo như một con chó xiếc" (Ở hiền); "anh có chân nhảy tót lên giƣờng ngồi chồm

chỗm như một con cóc rình muỗi" (Rình trộm); ."Mặt nó nhăn nhăn: Mặt giơi chẳng ra mặt

giơi, mặt chuột chẳng ra mặt chuột... loắt choắt như con chuột nhắt " (Một truyện xú vơ

nia); "Anh chàng ... da nhƣ con tằm bủng ... mắt híp như mắt lợn xể" (Lang Rận); "Mụ béo

trục béo tròn, mặt rỗ như tổ ong bầu, môi thâm mà đen như thằng quỉ" (Lang Rận); "Chúng

không lăn lộn trên giƣờng như một con đỉa phải vôi" (Điếu văn); "Trông anh những lúc ấy

chẳng khác gì một con cò chết rét" (Điếu văn) "Anh đa nghi như con chuột" (Nhỏ nhen); "Y

vừa nhảy cẫng lên như một con gà chọi " (Những truyện không muốn viết); "Sinh ngồi

xuống ghế ... mắt trợn lên nhìn trừng trừng cái chõng hàng như một con cóc nhìn giun " (Đón

khách); "Nó đầu to đít bé như một con nòng nọc cóc" (Truyện người hàng xóm); "Nó hếch

mặt lên mắt quắc quáo như một con chó thấy miếng thịt và cái tay người chủ đang rử rử"

(Truyện

156

người hàng xóm); "Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình cảm của một con

chó với người nuôi" (Đời thừa); "Vợ Hiệp lại cứng như một cái đanh, bẩn thỉu vá cục mịch"

(Sao lại thế này ?); "Hắn thấy mình khổ quá, khổ như một con chó vậy" (Nước mắt); "Y đi

trông thẳng đuồn đuỗn như một cây cau"; "Còn chúng mình thì khổ như chó cả"; "Nếu ông

chồng là một con gấu thì bà là một con cò ruồi" ; "Ông ngồi xay bột, ngƣời trần như một con

ếch"; "Ông chồng thổi kèn hăng quá ... cái cổ to như cổ trâu nổi cục lên" (Sống mòn) ...

Miêu tả ngoại hình, hành động nhân vật, Nam Cao hay liên tƣởng, so sánh, ví von với những

con vật nhỏ bé, xấu xí, những loài vật "hạ đẳng" trong số các loại vật nhƣ cóc, giun, chó,

ếch... Thậm chí, có không ít các nhân vật của Nam Cao mang dáng dấp, hình bóng của mít

quỷ. Đó là hình ảnh bà Quản Thích (Nửa đêm) già nua, còm cõi với cái giọng nói "Khàn

khàn ra nhƣ là tiếng mèo "và" cái mặt thì dăm dúm nhƣ cái đèn xếp của một cậu học trò vụng

làm thủ công "đang" đi thất thểu tựa như ma trơi "giữa đòng đời cay nghiệt. Đó là hình ảnh

ngƣời vợ của Đức (cũng trong tác phẩm này), Nửa đêm "ngồi chống tay nhìn mặt hắn, tóc nó

xõa xượi, mắt nó lấp lánh trong bóng tối" khiến cho Đức phải thốt lên: "Trời ơi! Nó là người

hay cái quái về đây báo oán ?". Đó là hình ảnh nhân vật Bịch (Mua danh) làm nghề xúc

dậm, đêm nào cũng nhƣ đêm nào, thui thủi "lần mò như một con ma" nơi bờ sông, bến nƣớc

để kiếm ít tôm, ít tép về bán lấy tiền sống qua ngày. Có khi cái nghèo, cái đói đã làm cho con

ngƣời không còn sinh khí và nhƣ đã nhập vào thế giới của hồn ma. Anh đĩ chuột (Nghèo) là

một nhân vật nhƣ thế: "Mái tóc dài xòa xuống tai và cổ, hai con mắt ngơ ngác và lờ đờ,

những chiếc răng dài và thƣa ở cai mõm hé ra để cho dễ thở khiến anh có cái vẻ đáng sợ của

con ma đói". Thậm chí có những ngƣời phụ nữ có nhan sắc nhƣng trong cái không khí ảm

đạm, thê lƣơng của một vùng quê nghèo khó xác xơ, cũng khiến ngƣời ta phải kinh sợ (Quái

dị): "Y còn trẻ lắm, mặt đẹp nhƣng xương xương, lạnh lạnh. Một cái khăn vuông đen trùm

gần hết trán ... Nó không ra mặt người. Nó giống ma quái gì". Nhìn ngƣời thiếu phụ ấy ấy cắt

tiết gà, nhân vật "tôi" liên tƣởng tới "Chuyện yêu tinh làm thịt con". Đọc Sống mòn, có hình

ảnh

157

của một nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua vài lần, nhƣng nó đã để lại ấn tƣợng rất sâu trong

tâm trí ngƣời đọc về cái mỏi mòn, tăm tối của kiếp ngƣời. Đó là hình ngƣời u em, một mình

trong đêm khuya canh vắng "Lặng lẽ như một con ma, ngồi vá bên một ngọn đèn con".

Có thể nói hình ảnh những ngƣời - ma ấy đã góp phần tô đậm thêm bức tranh một xã

hội mà ở đó ngƣời ta phải sống những kiếp sống lay lắt, lụi tàn. Con ngƣời của dƣơng gian

mà lại nhƣ những hồn ma ở âm thế. Cái không khí bế tắc, tù đọng, tối tăm, thiếu sinh khí của

hoàn cảnh cũng toát ra từ đó.

4.2. Những mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh

Trên cơ sở những kiểu loại mâu thuẫn, xung đột đã đề cập ở chƣơng 1, chúng tôi nhận

thấy, nổi lên trong nhiều tác phẩm của Nam Cao (đặc biệt là những tác phẩm viết về đề tài

ngƣời trí thức tiểu tƣ sản) một mâu thuẫn xung đột quen thuộc. Đó là mâu thuẫn xung đột

nằm ngay trong bản thân nội tại tính cách, tâm hồn nhân vật. Bàn về tiểu thuyết của

Đôxtôiépxki, L. X. Vƣgốtxki có nhận xét: "... trong tiểu thuyết, chúng ta vẫn thƣờng bắt gặp

các tính cách nhân vật đƣợc triển khai năng động, đầy những mâu thuẫn và đƣợc phát triển

nhƣ một nhân tố cấu trúc đang làm đổi thay mọi sự kiện, hay ngƣợc lại, nhƣ một nhân tố phải

chịu đựng sự biến dạng từ phía một nhân tố chủ yếu khác. Một sự mâu thuẫn bên trong nhƣ

vậy ta luôn tìm thấy trong các tiểu thuyết của Đôxtôiepxki" [280.291]. Ta cũng có thể nói

nhƣ vậy về tác phẩm của Nam Cao. Trong tác phẩm Nam Cao, mâu thuẫn giữa tính cách và

hoàn cảnh nhiều khi đƣợc phản ánh thông qua mâu thuẫn xung đột trong tâm hồn mỗi nhân

vật. Điều mà nhà văn muốn tập trung phản ánh là mâu thuẫn bên trong, chứ không chỉ là

những mâu thuẫn dễ nhận biết bên ngoài giữa tính cách và hoàn cảnh, giữa tính cách và tính

cách. Mâu thuẫn, xung đột trong Tắt đèn, Giống tố,Vỡ đê, Bước đường cùng, ... là những

mâu thuẫn xung đột mà ngƣời la có thể "nhìn thấy" còn trong tác phẩm Nam Cao), nhiều khi

ngƣời ta chỉ "cảm nhận thấy". Bởi vậy, ngƣời ta có thể dễ dàng chuyển thể các tác phẩm đó

thành kịch, thành phim

158

nhƣng thật khó có thể chuyển thể tác phẩm Nam Cao (chẳng hạn Sống mòn) sang những loại

hình nghệ thuật ấy. (Ở đây, chúng tôi không đặt vấn đề ai hơn ai mà chỉ muốn đối sánh để

thấy dƣợc sự khác nhau giữa Nam Cao và các nhà văn khác ở phƣơng diện khám phá, thể

hiện những xung đột xã hội thông qua những mâu thuẫn, xung đột nghệ thuật).

Tất nhiên, việc khẳng định những mâu thuẫn xung đột trong thế giới nội tâm nhân vật

là đặc điểm trong tác phẩm Nam Cao không phải là điều mới mẻ. Có nhiều nhà nghiên cứu

đã ý thức và khẳng định điều này. Chẳng hạn, Phạm Xuân Nguyên nhận thấy trong truyện

của Nam Cao: "Nhân vật luôn đứng giữa giáp ranh giữa thiện - ác, hiền - dữ ; luôn ở thế

giằng co, chống chọi giữa cái bên trong mình và cái nghịch cảnh bên ngoài ; luôn luôn ở

trạng thái hối hận, nuối tiếc, cô dơn" [193.148]- Trần Đăng Xuyên cho rằng, một trong những

yếu tố để dẫn tới sự khẳng định Nam Cao " Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ

nghĩa lớn", là vì "Nếu nhƣ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố - những nhà

văn hiện thực xuất sắc thời mặt trận Dân chủ (1936 - 1939) đều tập trung phán ánh trực tiếp

những mâu thuẫn, xung đột xã hội thì sáng tác của Nam Cao - đại biểu ƣu tú nhất của trào lƣu

hiện thực chặng đƣờng cuối cùng (1940 - 1945), trừ truyện ngắn Chí Phèo trực tiếp đề cập

tới xung đột giai cấp, còn các tác phẩm khác đều tập trung thể hiện xung đột trong thế giới

nội tâm của nhân vật " [193.156]. Nguyễn Quang Trung khi tìm hiểu Tính chất lưỡng hóa

trong nhân vật Chí Phèo đã có một nhận định gần gũi: " Với đề tài ngƣời trí thức tiểu tƣ

sản, Nam Cao mới thực sự quay về với bút pháp lƣỡng hóa, mỗi truyện của Nam Cao nhƣ

một trận địa tƣ tƣởng diễn ra cuộc vật lộn giữa chính và tà, giữa thiện và ác, giữa cao thƣợng

và thấp hèn giữa vị tha và vị kỷ ... Tất nhiên cuộc vật lộn của các nhân vật tiểu tƣ sản chủ yếu

diễn ra trong tâm tƣởng và thƣờng kết thúc ở hành động" [193.216]. Trong bài viết về " Bút

pháp tự sự đặc sắc trong Sống mòn", Nguyễn Ngọc Thiện cũng khẳng định: " Qua những

trang viết Nam Cao thấy hiện rõ ảnh về con đƣờng, về quá trình tìm tòi, căng thẳng, vật vã

đầy ƣu tƣ

159

ngƣời lƣơng thiện hƣớng về chân lý, công bằng, cái cao cả và điều lành, với một tinh thần

nhân ái, độ lƣợng" [193.333]. Bàn về giá trị của tác phẩm Sống mòn Đỗ Đức Hiểu viết:

"Sống mòn là sân khấu của những xung đột bên trong một con ngƣời, một thế giới ẩn sâu; nó

gây nhức nhối, xao động, gây bão táp, nó gây bất an cho ngƣời đọc, Nam Cao khuấy động

những tình cảm, những suy tƣ, gạt bỏ cái bên ngoài giao đãi, giả dối, cái mờ đục và phơi ra

ánh nắng cái chân thật, cái thật, sự thật. Cái xung đột mờ đục sáng trong làm nên sức sống và

giá trị lâu bền của Sống mòn" [193.337]. Tìm hiểu một chữ "nhƣng" trong văn Nam Cao,

Phan Trọng Thƣởng có một nhận xét rất xác đáng: " Đọc văn Nam Cao, ở truyện nào ta cũng

có thể gặp những hoàn cảnh mâu thuẫn; những tình huống trái ngƣợc; những sự tƣơng phản

giữa thực tại và ƣớc mơ, giữa bên trong và bên ngoài, giữa ý nghĩ và hành động, giữa cao cả

và thấp hèn, giữa lƣơng thiện và độc ác, giữa cái xấu và cái đẹp" [262.474]. Hà Minh Đức

trong Nam Cao đời văn và tác phẩm cũng đã nhiều lần nói tới vấn đề mâu thuẫn, xung đột

trong bản thân mỗi tính cách nhân vật của Nam Cao: "đứng về mặt luân lý nội tại của tính

cách nhân vật mà nói, thì tâm trạng Thứ là một tâm trạng phức tạp, lồng lộn trong bế tắc, một

tâm trạng đầy mâu thuẫn"[63.108] "Nhân vật của Nam Cao không thuyết lý dài dòng mà chỉ

chân thành bộc lộ những khía cạnh tâm lí, nhƣng mâu thuẫn đòi sống nội tâm"[63.171];

"Nhân vật tiểu tƣ sản của Nam Cao cũng chìm nổi vật vã trong cuộc đấu tranh với hoàn cảnh

và trong bản thân họ cũng chứa chất biết bao mâu thuẫn"[63.218]; "ở mỗi con ngƣời trong tác

phẩm Nam Cao luôn có mặt hai con ngƣời, con ngƣời trung thực và con ngƣời của sự che đậy

dối trá, con ngƣời năng động luôn muốn tìm đến mội hƣớng đi, một sự đổi thay và con ngƣời

thụ động bảo thủ, con ngƣời lãng mạn thi vị hoa và con ngƣời lấy đời sống thực tế làm chuẩn

mực, hai con ngƣời đó luôn đối mặt và đối thoại với nhau trong từng cảnh ngộ... " [63.292]...

Chỉ ra những mâu thuẫn xung đột trong tâm hồn, tính cách của các nhân vật, các ý kiến, nhận

định chú ý nhấn mạnh sự mâu thuẫn trong nội tại mỗi tính cách, nhìn nhận những mâu thuẫn

160

xung đột ấy trong quan hệ với tính cách. Từ góc độ hoàn cảnh nghệ thuật, chúng tôi muốn nói

thêm rằng, những mâu thuẫn xung đột trong nội tại mỗi tính cách, số phận ấy còn góp phần

đắc lực trong việc thể hiện hoàn cảnh. Bởi lẽ "Văn xuôi hiện thực nhìn nhận xã hội trong

quan hệ với số phận và ứng xử cá nhân. Hoàn cảnh là đối tƣợng ƣu tiên của chính nó nhƣng

con ngƣời vẫn là điểm lựa để nhìn vào hoàn cảnh. Văn học hiện thực xem con ngƣời là sản

phẩm của hoàn cảnh, là tiêu bản của hoàn cảnh. Mổ xẻ con ngƣời là khám phá tác động của

hoàn cảnh lên con ngƣời " [229.58].

Ở phần cơ chế của hoàn cảnh (chƣơng I) chúng tôi đã nhận xét rằng, nếu nhƣ Ngô Tất

Tố trong Tắt đèn chú ý tới cơ chế hành động của hoàn cảnh (cơ chế trấn áp, bạo lực) thì Nam

Cao lại thƣờng chú ý tới cơ chế tâm lý. Ở phƣơng diện mâu thuẫn xung đột "ta lại thấy nếu

nhƣ Ngô Tất Tố làm nổi bật mâu thuẫn xung đột giai cấp trong xã hội (thông qua những mâu

thuẫn xung đột đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật trong tác phẩm) thì Nam Cao lại tập trung

làm nổi bật những mâu thuẫn xung đột bên trong nội tâm. Một trong những mƣu thuẫn xung

đột nổi bật trong nhiều tác phẩm Nam Cao (ở cả hai mảng đề tài: nông dân và trí thức tiểu tƣ

sản ) là mâu thuẫn giữa các ƣớc muốn, khát vọng, hoài bão của con ngƣời với thực tại khắc

nghiệt không thể thực hiện đƣợc những hoài bão khát vọng, ƣớc muốn đó. Mâu thuẫn đó sẽ

dẫn tới những xung đột gay gắt trong thế giới nội tâm nhân vật. Và nhìn ngƣợc trở lại, những

mẫu thuẫn xung đột trong tâm hồn nhân vật ấy lại là sự phản ánh những xung đột xã hội. Ở

đây Nam Cao đã dùng cái vi mô để nói cái vĩ mô. Xung đột xã hội đã đƣợc phản ánh thông

qua xung đột trong thế giới nghệ thuật. Quả thực, Nam Cao đã "mổ xẻ" tâm hồn con ngƣời,

luồn lách ống kính hiện thực vào những ngõ ngách sâu kín nhất trong tâm hồn con ngƣời để

từ đó " khám phá tác động của hoàn cảnh lên con ngƣời", bi kịch xã hội đƣợc phản ánh trong

bi kịch của mỗi con ngƣời. Bởi vậy mâu thuẫn xung đột trong tác phẩm Nam Cao thƣờng

không mang tính chất căng thẳng, nhƣng nó lại vô cùng nhức nhối đớn đau.

161

Điển hình cho những nhân vật đầy mâu thuẫn xung đột trong nội tại tính cách, tâm

hồn là những Hộ (Đời thừa), Điền (Trăng sáng, Nước mắt) ... và nhất là Thứ (Sống mòn).

Trong thế giới tinh thần của ngƣời trí thức nghèo ấy, chứa đựng biết bao mâu thuẫn, bao đối

cực giữa: vị tha - ích kỉ, cao cả - thấp hèn, thiện - ác, tốt - xấu, cao thƣợng - nhỏ nhen ...

những mâu thuẫn, xung đột ấy không chỉ diễn ra một vài lần mà nó cứ trở đi trở lại trong suốt

cuộc đời của Thứ. Cuộc sống hàng ngày lạo ra biết bao tình huống để thử thách ngƣời trí

thức. Và trong những cuộc thử thách ấy, không phải bao giờ cái thiện, cái tốt, cái cao cả, cái

vị tha... trong con ngƣời trí thức cũng chiến thắng. Và mỗi lần bị thất bại trƣớc "phần con"

trong "con ngƣời" mình, nhân vật Thứ (cũng nhƣ Hộ, Điền...) lại xói xa đau đớn, dằn vặt, tự

xí vả mình. Sau sự kiện " Ăn hết cả chục chiếc bánh chƣng" để "cảnh cáo" Oanh vì cái thói

bủn xỉn, keo kiệt, Thứ nhận ra rằng: " Cái cử chỉ của y vừa rồi vừa tàn nhẫn đã đành. Nhƣng

nó chả thô tục hay sao? thô tục mà lại đê tiện nữa. Nó tỏ ra là một ngƣời quá để ý đến miếng

ăn ", Từ đó Thứ tự dằn vặt : " Y có thể kèn cựa, tèm nhèm, nhỏ nhặt đến thế ƣ? Y lấy làm

nhục cho y lắm" . Qua những giằng xé, đau đớn trong tâm hồn Thứ xung quanh câu chuyện

miếng ăn, vấn đề miếng ăn, vấn đề cái đói đã không chỉ còn là vấn đề vật chất, vấn đề nhu

cầu của sự sinh tồn, mà nó đã trơ thành vấn đề nhân phẩm. Cái đói ở đây đã không chỉ tác

động đến con ngƣời sinh vật mà còn tác động đến nhân cách, tác động đến Con Ngƣời theo

nghĩa viết hoa của nó. Chính Thứ đã chua chát nhận ra qui luật nghiệt ngã này của hoàn cảnh,

của sự đói nghèo: " Nó làm tiêu mọi sức lực, héo hắt tâm hồn.

Nó khiến ngƣời ta thành bủn xỉn, nhỏ nhen, ích kỉ, sát bờ đất. Nó tạo nên thành những

con ngƣời nô lệ". Nó làm ... Nó khiến..., nó tạo... Sự đói nghèo quả là có sức mạnh hủy diệt

ghê gớm cả phần xác và phần hồn của con ngƣời. Ở đây sự xung đột trong tâm hồn mỗi nhân

vật đã phản ánh sự nghiệt ngã của hoàn cảnh. Và ngƣợc trở lại, sự nghiệt ngã của hoàn cảnh

đã đƣợc phản ánh qua xung đột trong nội tâm nhân vật. Những mâu thuẫn xung đột ấy nhiều

khi đã trở thành những tấn bi kịch tinh thần đau đớn và dai dẳng đối với những

162

ngƣời trí thức nghèo trong tác phẩm Nam Cao. Chỉ vì có một hành động ti tiện về một miếng

ăn, Thứ cảm thấy " cả buổi chiều hôm ấy y luẩn quẩn với những ý nghĩ buồn bã về nhân cách

của y"; Cũng chỉ từ một đĩa cá kho " giá trị chỉ độ nửa đồng hào" mà đối với ai nhà là "to tát"

Thứ ân hận "nhớ đến những bữa ăn hàng, y tiêu tốn hang đồng". Nỗi ân hiện ấy khiến" suốt

một bữa cơm y nghĩ vẫn vơ. Y chẳng còn biết gì là ngon". Đối với ngƣời vợ nghèo khổ lam

lũ của mình Thứ cũng có những tình cam đầy mâu thuẫn, trái ngƣợc: yêu thƣơng và hờn giận,

tin tƣởng và nghi ngờ... Sự nghi ngờ vợ về lòng chung thủy có lần khiến Thứ " xao xác suốt

một đêm, khóc suốt đêm. Y đã nghiến răng nguyền rủa rất nhiều ngày. Rồi rất nhiều ngày y

đã tự vò xé lòng mình". Những mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, giữa cái cao cả và thấp

hèn... luôn diễn ra trong bản thân con ngƣời Thứ. Ranh giới giữa những phạm trù đạo đức ấy

thật mỏng manh và nhiều khi Thứ đã có những bƣớc chông chênh trên biên giới mỏng manh

đó để rồi có lúc chao đảo thụt bƣớc sa chân vào mảnh đất của cái ác, cái xấu. Đƣợc tin Đích

ốm nặng, trong đầu Thứ đã lóe lên một ý nghĩ tàn nhẫn: "Giá Đích chết ngay đi !" nhƣng

cũng tiền sau đó là sự hối hận chân thành: "Đội nhiên y thấy buồn rầu. Lòng y đã cằn cõi đến

mức ấy rồi ƣ ? y đã ích kỷ, đã đồi bại, đã tàn nhẫn, đã khốn nạn đến thế ƣ ? ". Sự hối hận

chân thành ấy khiến cho "trên mắt y, một chút nước mắt bỗng ứa ra. Trơ trơ trƣớc cái chết

của một ngƣời thân, y đã khóc cái chết của chính tâm hồn mình ".

Ngƣời ta có thể nói rằng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố là bản tố khổ chan hòa nƣớc mắt (ở

chƣơng II chúng tôi đã nói về vấn đề này). Nhƣng có lẽ khó có thể nói về tác phẩm Nam Cao

nhƣ thế. Bởi lẽ, trong các tác phẩm Nam Cao, tiếng khóc và hình ảnh những giọt nƣớc mắt

của các nhân vật xuất hiện không nhiều nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Nhƣng trong

những cuộc đấu tranh, xung đột giữa cái thiện và cái ác trong tâm hồn, khi sự chiến thắng

thuộc về cái thiện nhiều nhân vật của Nam Cao dã khóc. Điển hình là những giọt nƣớc mắt

hối hận chân thành của Hộ (Đời thừa). Sau những hành vi vũ phu đối với vợ con trong cơn

say, bản chất của một con ngƣời giàu tình thƣơng với triết lý

163

sống "kẻ mạnh không phải là kẻ đứng trên vai ngƣời khác để thỏa mãn lòng ích kỷ. Kẻ mạnh

là kẻ giúp ngƣời khác đứng trên đôi vai mình" đã thức dậy trong con ngƣời Hộ và "nước mắt

hắn bật ra nhưng nước một quả chanh mà người ta bóc mạnh. Và hắn khóc... ôi chao ! Hắn

khóc. Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc ... ". Nhân vật Điền (Trăng sáng),

sau những phút giây căm giận vợ con đến mức "muốn nhảy lại vợ mà bóp cổ", "tức xùi bọt

mép", "mắt hắn lòe ra lửa" và có những lời nguyền rủa độc ác, tàn nhẫn với vợ con, cũng đã

xót xa ân hận và trở về với bản chất của một con ngƣời có lòng nhân ái. Sự ân hận, xót

thƣơng khiến "mắt hắn đầm đìa"...

Bên cạnh hình ảnh những dòng nƣớc mắt chứa chan cảm động ấy là hình ảnh những

giọt nƣớc mắt hiếm hoi và không kém phần đáng quý của các nhân vật sau những trăn trở

giằng xé trong tâm hồn. Đó là hình ảnh giọt nƣớc mắt của Lão Hạc (Lão Hạc), giọt nƣớc mắt

cảm động, hiếm hoi của tuổi già rỉ ra từ trái tim của một con ngƣời có nhân cách cao đẹp khi

tự thấy mình có tội chỉ vì "già bằng này tuổi rồi mà còn đánh lừa một con chó". Nhắc đến cái

hành vi "lội lỗi " đó: "Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho

những mắt chảy ra". Hiếm hoi hơn nữa là hình ảnh giọt nƣớc mắt của Chí Phèo (Chí Phèo).

"Con quỉ dữ của làng Vũ Đại " ấy, dƣờng nhƣ chỉ biết làm ngƣời khác phải khóc, còn đôi mắt

hắn thì luôn ráo hoảnh hoặc đỏ ngầu vì rƣợu. Thế nhƣng, cái ác trong con ngƣời Chí cũng có

lúc phải lùi bƣớc trƣớc cái thiện. "Con quỉ dữ " ấy có lúc dã hoàn lƣơng. Và hình ảnh những

giọt nƣớc mắt trong những phút đầu hoàn lƣơng, phút đầu trở lại cuộc sống làm ngƣời của

Chí Phèo thật cảm động biết bao: "Hắn thấy mắt hình như ươn ướt". Xƣa nay khi khóc, có

mấy ai lại ý thức rằng mình đang khóc đâu. Thế nhƣng, Chí Phèo lại ý thức rất rõ điều đó:

"Hắn thấy...", nghĩa là Chí cũng rất hiểu giá trị của những giọt nƣớc mắt hiếm hoi ấy.

Hình ảnh những giọt nƣớc mắt của Hộ, Hiền, Lão Hạc, Chí Phèo ... là kết quả của

quá trình tự thức, của sự chiến thắng giữa cái thiện và cái ác, giữa phần "Ngƣời" và phần

"Con" trong mỗi " Con Ngƣời". Những xung đột âm

164

thầm và quyết liệt ấy đã gián tiếp phản ánh những mâu thuẫn xung đột xã hội và cũng góp

phần tạo không khí cho hoàn cảnh. Đó là cái không khí ngột ngạt, bế tắc, ảm đạm buồn

thƣơng mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong phần sau (4.4).

4.3.Cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn và cơ chế Sống mòn

4.3.1. Cơ chế lạnh lùng, tàn nhẫn.

Có thể nói, lạnh lùng, tàn nhẫn là một cơ chế tâm lý xã hội thể hiện trong nhiều tác

phẩm Nam Cao.

Nếu ai đó quen nhìn nhận hoàn cảnh ở những mâu thuẫn xã hội, xung đột giai cấp,

quan hệ đối kháng giữa nông dân và địa chủ, giữa kẻ áp bức và ngƣời bị áp bức, giữa giai cấp

thống trị và bị trị... thì sẽ ít thấy những kiểu loại mâu thuẫn, xung đột đó khi đọc tác phẩm

Nam Cao. Bởi vì ở đó, ít có những xung đột giai cấp gay gắt, quyết liệt, nảy lửa nhƣ trong

Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ít có những cuộc đấu tranh, phản kháng giữa những ngƣời dân cùng

khổ với bọn áp bức, bóc lột, dù là tự phát yếu ớt nhƣ trong Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng (có

chăng, chỉ là trong Chí Phèo. Nhƣng hành động giết Bá Kiến của Chí Phèo cũng chỉ là một

ánh chớp lóe lên rồi vụt tắt trên cái nền đen tối, ảm đạm, triền miên).

Nói tới cơ chế của hoàn cảnh, không thể tácg rời nhân vật, đặc biệt không thể không

nói tới mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Nói rõ hơn, phải nói tới nguyên tắc chỉ

đạo, chi phối tới những mối quan hệ ứng xử ấy. Nổi lên trên nhiều tác phẩm của Nam Cao

không phải là những quan hệ đối kháng nhƣ thƣờng thấy trong tác phẩm của nhiều nhà văn

hiện thực đƣơng thời. Trong thế giới nhân vật Nam Cao, ít có sự phân tuyến chính diện, phản

diện rõ ràng. Không khí của hoàn cảnh thƣờng không đƣợc toát lên từ những mối quan hệ đối

kháng giai cấp nhƣ trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Giống tố (Vũ Trọng Phụng), Bước đường

cùng (Nguyễn Công Hoan) mà nó toát lên từ ngay những mối quan hệ giữa các nhân vật

cùng tuyến, bởi hệ thống nhân vật này tuân theo một cơ chế tâm lý xã hội - cơ chế lạnh lùng,

tàn nhẫn.

165

Có nhà nghiên cứu cho rằng, mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong tác

phẩm Nam Cao là những mối quan hệ rã rời, tan tác. Chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn tới một

tính chất khác của những mối quan hệ ấy - đó là tính chất lạnh lùng, tàn nhẫn, một tính chất

đã trở thành cơ chế tâm lý xã hội. Cơ chế này không chỉ chi phối tới mối quan hệ giữa những

kẻ không cùng giai cấp mà nó còn tác động tới mối quan hệ giữa những con ngƣời có cùng

cảnh ngộ, thậm chí cả những con ngƣời có cùng huyết thống, nghĩa là trong mối quan hệ ruột

thịt, cha con, vợ chồng, anh em, bà cháu ... Dƣới áp lực của hoàn cảnh, dƣới tác động tiêu cực

nghiệt ngã của môi trƣờng, quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời ngày càng trở nên tồi tệ.

Trong guồng quay của cơ chế lạnh lùng, tàn nhẫn đó, khó có đƣợc sự tồn tại của tình thƣơng.

Tình cảm nhân văn đó bị hoàn cảnh bóp chết bởi "chất độc ở ngay trong sự sống" (Sống

mòn) . Ngƣời ta có thể dửng dƣng, bàng quan trƣớc những nỗi đau, bất hạnh của ngƣời đời.

Thậm chí ngƣời ta còn thờ ơ, vô cảm đến tàn nhẫn trƣớc cái chết của đồng loại... Việc Chí

Phèo đâm chết Bá Kiến rồi tự chọn đến cái chết thê thảm khiến cho những con ngƣời ở làng

Vũ Đại "có nhiều kẻ mừng thầm. Không thiếu kẻ mừng ra mặt". Ngay cả Thị Nở, ngƣời duy

nhất trong làng Vũ Đại đã từng có tình yêu thƣơng chân thành cảm động với Chí Phèo cũng

chẳng có chút biểu hiện của sự xót thƣơng mà chỉ nghĩ tới cái hậu quả Chí Phèo để lại và

nghĩ tới " cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại..." Trong "Một bữa

no", khi bà phó Thụ nghe tin bà cái Tý chết, cũng chỉ lạnh lùng buông một câu: "Bà chết no".

Trong lời bình luận ngắn gọn ấy, ta nhƣ còn thấy cả cái hằn học, tức tối chƣa nguôi của ngƣời

đàn bà vừa ác tâm vừa ác khẩu này, Tính chất lạnh lùng tàn nhẫn của mối quan hệ giữa con

ngƣời với con ngƣời trong tác phẩm Nam Cao thể hiện ở nhiều chi tiết, mà một trong những

loại chi tiết tiêu biểu là những lời cay nghiệt của các nhân vật. Biết bao lần các nhân vật của

Nam Cao rủa nhau chết. Đây không phải là lời rủa giữa những kẻ hận thù giai cấp. Trái lại là

giữa những con ngƣời vốn có mối quan hệ gần gũi, thân thiết, ruột thịt: mẹ- con, cha - con,

bạn -bè, vợ chồng,

166

anh em, đồng nghiệp... Bản chất của những con ngƣời này là có tình thƣơng, nhƣng cuộc

sống khắc nghiệt tăm tối triền miên khiến họ trở lên cay nghiệt tàn nhẫn. Nhân vật ngƣời vợ

ông giáo trong Lão Hạc khi biết chuyện Lão Hạc phải ăn củ chuối, củ ráy, sung luộc, rau má

để sống qua ngày đã lạnh lùng nói: "cho lão chết"....

Sự cay nghiệt tàn nhẫn nhiều khi diễn ra cả giữa những ngƣời gần gũi thân yêu nhất.

Ngƣời vợ của văn sĩ Điền (Trăng sáng) có lúc đã gào lên với đứa con gái ốm yếu

"như một con mèo con" đáng thƣơng của mình: "kệ cha mày! Cho mày chết đi!" Và cũng

nhân vật Điền trong Nước mắt đã có lúc nguyền rủa đứa con tội nghiệp của mình bằng

"những lời nói bực dọc thành tàn nhẫn: Cho nó chết! cho nó chết! ...sống làm gì nữa! Nay ốm

mai đau thì chết đi cũng phải!.. Mày chết đi! Mày chết đi...".

Cũng chỉ vì mất mấy chiếc vé sợi mà chị cu Thiêm (Thôi đi về) đã rủa chồng: " Mày

chết đi!...Mày chết đi cho rồi...". Còn trƣớc câu hỏi của ngƣời vợ: "mình rủa tôi đấy à? mình

mong tôi chết lắm ?, ngƣời chồng - nhân vật "hắn" trong Cười đã trả lời cay độc: "Tôi mong

lắm, sống mà cứ cau có nhƣ khỉ thì cũng nên chết đi cho rảnh"... Và đây là sự thách thức đầy

nhẫn tâm của Thị Yên (Tình già) khi nghe bố mẹ đẻ mình dọa tự tử vì bị nghi ngờ oan là ăn

trộm mấy quả chuối trong vƣờn nhà: "... Không dễ gì mà chết đƣợc. Nếu chết mà dễ thì ai

cũng chết. Ông có giỏi thì chết đi xem nào ?".

Nhiều nhân vật trí thức tiểu tƣ sản của Nam Cao có bản chất là những con ngƣời giàu

lòng nhân ái, nhƣng hoàn cảnh sống khắc nghiệt với những lo lắng tủn mủn về vật chất đã

khiến họ không còn giữ đƣợc nguyên tắc tình thƣơng. Nhân vật nhà văn trong Mua nhà có

bản chất cao thƣợng và nhân đạo là thế vậy mà đã có ý nghĩ về một con ngƣời bất hạnh: "Hắn

đã muốn chết thì cho hắn chết:' và tự biện hộ cho mình: "Chẳng chết vì tay tôi thì chết vì tay

ngƣời khác". Thầy giáo Thứ (Sống mòn) khi nghe lên Đích - ngƣời anh họ của mình sắp trở

về, có nguy cơ mất chức Hiệu trƣởng, đã có một ý nghĩ

167

vụt đến: " Giá Đích chết ngay đi "để rồi sau đó tự dằn vặt lƣơng tâm: "lòng y đã cằn cỗi đến

mức ấy rối ƣ ? Y đã ích kỷ, đã đồi bại, đã khốn nạn, đã tàn nhẫn đến thế ƣ ?... " văn sĩ Hộ

(Đời thừa) cũng là một con ngƣời sống theo nguyên tắc tình thƣơng, lấy tình thƣơng làm

chuẩn mực. Xuất phát từ nguyên tắc tình thƣơng ấy, Hộ đã lấy Từ khi cô bị bỏ rơi cùng đứa

con. Nhƣng rồi hoàn cảnh của cuộc sống gia đình với "áo cơm ghì sát đất" đã có lúc biến Hộ

thành một kẻ vũ phu tàn bạo. Nhìn những đứa con của mình, Hộ thấy " đáng vật một nhát cho

chết cả". Ngay cả đối với Từ, ngƣời mà Hộ đã từng giang tay cứu vớt, Hộ cũng thấy "đáng

vật một nhát cho chết cả". Nhân vật San (Sống mòn) cũng đã có lúc nhìn những cậu học trò

nhỏ bé của mình với " đôi mắt nảy lửa" " căm thù và ý nghĩ": "...Muốn đem chúng ra mà giết

hết đi".

Cho nó chết, cho mày chết đi, cho hắn chết, chết đi cho rảnh, chết ngay đi, chết đi cho

rồi, giỏi thì chết xem nào ?... Những lời rủa xả tàn nhẫn, cay nghiệt ấy cứ trở đi trở lại nhiều

lần trên cửa miệng nhiều nhân vật của Nam Cao. Và nhiều khi nó phát ra từ những con ngƣời

bản chất có tình thƣơng. Điều đó càng làm nổi bật tính chất nghiệt ngã, phi nhân tính của

hoàn cảnh, hoàn cảnh đang dần giết chết tình ngƣời trong con ngƣời.

Không chỉ một lần, nhân vật của Nam Cao, dƣới sức xô đẩy của hoàn cảnh đã mong

muốn làm điều ác. Bà Quản Thích, "người đàn bà nhân đức" nổi tiếng một vùng, đã từng làm

bao điều thiện, cƣu mang những đứa trẻ không nơi nƣơng lựa, mà cuối cùng đi đến những ý

nghĩ cay độc: "Bà muốn cháu bà cũng hung ác như bố nó". "Cháu bà" là thằng Đức một đứa

trẻ vốn hiền lành, giờ đây là một chàng trai chăm chỉ tối bụng và có phần ngờ nghệch. Còn

"bố nó" là Lê Văn Rợ, biệt hiệu là Ông Thiên Lôi, một kẻ "hung dữ như một con hổ đói", đã

từng giết chết ngƣời vợ của mình nhƣ một tên đao phủ thời trung cổ. Trong "Đời thừa", nhà

văn Hộ, ngƣời đã từng mơ ƣớc viết những tác phẩm "ca tụng lòng thƣơng, tình bác ái, sự

công bình", mà có lúc đã nghĩ tới câu nói của một nhà triết học phát xít: "phải biết ác, biết

tàn nhẫn để mà sống cho mạnh mẽ"... Và ngay cả Thứ, ông " giáo khổ trường tư" luôn ý

168

thức về nhân phẩm, lƣơng tâm, tƣ cách của một con ngƣời, vậy mà đã phải tự thú: "Có lúc tôi

muốn tàn nhẫn quá. Tôi muốn làm một thằng bạt tử, chẳng nghĩ gì đến bố, mẹ, vợ, con để

khởi cái vì bận vướng thân... tôi cầu cho vợ tôi ghét tôi và làm tôi ghét..."

Nhƣ vậy, sự tàn nhẫn, lạnh lùng đã không chỉ dừng ở những hành động, câu nói bột

phát nhất thời mà nó trở thành ý thức. Chính ý thức ấy và sự bộc lộ của nó qua ứng xử, đối

thoại của các nhân vật đã góp phần làm nổi bật tính khắc nghiệt của hoàn cảnh, góp phần tạo

không khí cho hoàn cảnh.

4.3.2. Cơ chế "Sống mòn".

Đúng nhƣ Phong Lê nhận xét: "Có lẽ Nam Cao là ngƣời đầu tiên, và cũng là ngƣời

cuối cùng của văn học hiện thực Việt Nam cho ta cảm nhận đƣợc một cách đầy đủ hơn bất cứ

ai cái dƣ vị nhạt phèo mà thật mặn chát của một sự sống ... mòn; cái "Sống mòn" đã trở

thành một phát hiện kỳ thú, một biến trưng cho sự độc đáo trong sáng tạo của Nam Cao

(193.344). Trong cảm quan của Nam Cao, "Sống mòn" đã không chỉ là một hiện lƣợng ở một

cá nhân nào mà nó đã trở thành một cơ chế xã hội từ thành thị đến nông thôn. Cơ chế ấy thể

hiện trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là cuốn tiểu thuyết mà ngay cái tên của nó đã phản ánh cơ

chế ấy: " Sống mòn". Cơ chế này biểu hiện ở nhiều yếu tố.

Trƣớc hết, nó biểu hiện ở phạm vi hoạt động của các nhân vật trong tác phẩm. Các

nhân vật của Nam Cao thƣờng hoạt động trong một phạm vi rất nhỏ hẹp. Nhiều nhân vật hầu

nhƣ cả đời chỉ quẩn quanh trong bốn bức tƣờng của gia đình mình, quan hệ xã hội của họ

thƣờng rất hạn chế. Bức tranh xã hội các nhân vật thƣờng thƣa, mỏng, "tới hay lui vẫn chừng

ấy mặt người". Tiêu biểu là nhân vật Thứ. "ông giáo khổ trƣờng tƣ"này đã một thời có những

khát vọng đi xa "Đợi một dịp may mắn có thể xin làm bồi tàu để đi sang Pháp... để nhìn rộng

biết xa hơn, để tìm cách học thêm". Thế nhƣng cuối cùng Thứ lại phải trở về với cái không

gian tù túng của đời mình, bị bủa vây trong một thứ

169

lƣới vô hình của kiếp "Sống mòn": "Y hay ngồi trên giường trông ra bên ngoài cái cửa sổ

căng lưới thép, như một con thỏ trong cái chuồng của nó ". Đây quả là một hình ảnh mang

đầy ý nghĩa biểu tƣợng về một kiếp sống tù túng, bế tắc. Nhƣng trong thế giới "Sống mòn"

ấy đâu chỉ có cuộc đời của Thứ đang mỏi mòn, quanh quẩn ; đâu phải chỉ có Thứ là luôn bị

bó hẹp trong không gian tù túng của đời mình. Hãy xem những ngƣời sống xung quanh Thứ,

ta sẽ thấy tiêu biểu là ông Học. Ngƣời đàn ông suốt đời chỉ biết chúi mũi vào cái cối xay bột

này "Suốt ngày chỉ ở nhà. Ông chỉ ra khỏi cổng để đổ rác bẩn ra cái lối đi hay để tiểu tiện vào

những cái vũng ngầu ngầu ở chân tƣờng. Cả tháng ông cũng chẳng đi đâu". Không gian hoạt

động chật hẹp, tù đọng của Thứ cũng là của San, của Oanh, của Mô ... và xa hơn chút nữa là

của Đích. Thời kỳ đi học "Y phải trọ học ở những chỗ rẻ tiền... Y không ra đến ngoài, không

đi chơi". Trong thế giới của những con ngƣời sống quẩn quanh tù hãm ấy, không phải tất cả

đều là những ngƣời nghèo khổ có khi đó còn là những kẻ sống nhàn rỗi, phong lƣu. Đó là

mấy cô con gái nhà Hải Nam: "Họ chẳng làm gì mà cũng ít khi ra đến bên ngoài. Họ có vẻ

cấm cung".

Trong cái thế giới quẩn quanh tù hãm ấy, các nhân vật của Nam Cao thƣờng phải

sống trong môi trƣờng bẩn thỉu, tăm tối, nghèo nàn. Ánh sáng của cuộc sống phồn hoa không

bao giờ soi rọi tới nơi đây. Cái ngõ đi vào nhà ông Học - không gian cƣ trú của hai ông giáo

khổ trƣờng tƣ: San và Thứ là " cái lối đi bẩn thỉu và rác rưởi ! Lẫn rác mục, lá khô phủ trên

mặt, dày đến nỗi ngƣời ta đi thấy lún chân. Ngôi nhà của ông Học, nơi Thứ và San thuê trọ

nằm kề cận " Những vũng nước đen những chỗ đất phủ rêu nhầy nhầy, những đống rác lù lù

bừa bãi" và từ đó " một mùi khai khăn khẳn bốc lên". Trong tác phẩm " Truyện người hàng

xóm", xóm nghèo bài thơ là nơi cƣ trú của hầu hết các nhân vật, nhƣng thật mỉa mai, xóm

nghèo mang cái tên đầy thi vị ấy lại "ở ngang hống một cái ngõ ngang bẩn như một cái vũng

phân", quanh đó là "những đống rác, những đám rêu"," những vũng nước ngầu ngầu ","

Những

170

đống bã cua bốc mùi hăng"...Đây là những môi trƣờng đầy xú khí. Vậy mà bao kiếp ngƣời cứ

phải mỏi mòn hấp hối với những "hơi thở tàn" trong không gian ngột ngạt ấy. Trong không

gian đó, con ngƣời quả chỉ còn là tồn tại chứ không phải là sống, và vì thế, chân dung ngoại

hình của nhiều nhân vật cũng đã hiện lên theo xu thế của sự già nua, mỏi mòn, tàn tạ. Cuộc

sống đã bào mòn con ngƣời về thế xác và tinh thần. Chỉ sau ba năm xa quê hƣơng trở về, Thứ

đã thấy tất cả những ngƣời thân của mình đều trở nên tiều tụy. Đó là hình ảnh " bà ngoại y

già nua, ốm yếu, bẳn gắt, buồn rầu ... , chửi con cháu suốt ngày và khóc suốt ngày", là " ông

thân y uống rượu rất nhiều chỉ vì thất bại rất nhiều ", " lũ em lóc nhóc rất đông ... gầy guộc,

rách rưới, bẩn thỉu, đen thỉu ..." ; là " bà mẹ già và xấu đi nhiều quá ... làm và nhịn tọp người

đi nhƣ một con ve", và " vợ y cũng khác nhiều. Liên già đi đến mười năm. Khuôn mặt trái

xoan xƣa đã có cạnh ra. Dáng ngƣời và chân tay nặng nề thêm. Đôi mắt trong trẻo, long lanh

đã hơi mệt mỏi". Hình ảnh về sự tàn tạ, tiều tụy của ngƣời vợ sẽ còn nhiều lần trở lại trong

tâm trí của Thứ nhƣ một nỗi xót xa, nhức nhối: "Biết bao nhiêu sự đổi thay ! biết bao nhiêu

mộng đẹp tàn ! Liên đã già đi, đã xấu đi, đã mặc những áo rách bạc màu Cuộc sống vất vả

lam lũ và những hiểu lầm, ghen tuông, những xích mích, nghi kỵ nhỏ nhen đã khiến cho

ngƣời phụ nữ ấy héo hon ca về thể chất lẫn tâm hồn: "Những tia sáng của một tâm hồn tin

tƣởng, yêu thƣơng đã tắt trên đôi mắt của y. Đôi mắt bây giờ mệt nhọc hơn, lơ đãng hơn,

Liên có vẻ già đi đến mười năm Và ngay cả Thứ, cũng không thoát khỏi cái xu thế nghiệt ngã

đó: " Trƣớc sau chỉ cách nhau có 6,7 năm nhƣng mà biết bao nhiêu sự thay đổi ! y đã già đi,

đã xấu đi nhiều ... y là một ông giáo khổ tƣơng tƣ. Y mặc những quần áo rẻ tiền xốc xếch và

bạc màu". Chính vì vậy, không chỉ một lần nhân vật Thứ đã phải thốt lên lời cảm thán: " biết

bao nhiêu là sự đổi thay !" nhƣng đây lại là sự đổi thay đáng buồn, sự đổi thay theo chiều

hƣớng đi xuống của cuộc đời, của những kiếp " Sống mòn".

171

Sống trong cái thế giới ngột ngạt, quẩn quanh, tù túng, một thế giới đang bào mòn,

gặm nhấm cả phần xác và phần hồn của con ngƣời ấy, nhiều nhân vật của Nam Cao đặc biệt

là các nhân vật trí thức rất ý thức về hoàn cảnh thực tại của mình, ý thức đƣợc tác động

nghiệt ngã của hoàn cảnh. Tiêu biểu là Thứ (Sống mòn). Trƣớc những biểu hiện của tính

tham lam, ích kỷ, nhỏ nhen của Oanh, Thứ hiểu rằng: " Chất độc ở ngay trong sự sống.

Ngƣời nọ, ngƣời kia không đáng cho ngƣời ta ghét. Đáng ghét, đáng nguyền rủa, ấy là cái lối

sống lầm than nó bắt buộc người ích kỷ, nó tạo ra những con người tàn nhẫn, tham lam...".

Có thể nói, ở đây. Thứ dã hiểu rất rõ sự tha hóa của con ngƣời do hoàn cảnh, do cuộc sống

khắc nghiệt, do ảnh hƣởng của những mối quan hệ xã hội. Với ý thức ấy, Thứ đã tự giải thích

cho những hành động nhỏ nhen, ti tiện của mình đối với Oanh (Thứ nói với San: " Tôi vẫn

bảo rằng: ở với người tồi rồi chúng mình cũng sinh tồi" ). Đó cũng là ý thức của San thể hiện

qua câu nói của San với Thứ: " Chúng mình có muốn đểu giả làm gì ? Nhƣng bởi En đểu giả

nên chúng mình cùng hóa ra đểu giả". Thứ cũng đã lo sợ cho sự ảnh hƣởng tất yếu đó của

hoàn cảnh tới nhân cách của chính mình: " Mình ở chung với nhiều người nhỏ nhen lắm, tất

cũng có ngày nhỏ nhen như họ mất thôi", Nhân vật của Nam Cao không chỉ thấy đƣợc hoàn

cảnh làm tha hóa con ngƣời, mà còn hiểu đƣợc hoàn cảnh còn dập tắt, làm thui chột những

ƣớc vọng, khả năng của con ngƣời: "biết bao nhiêu tài năng không nẩy nở được, chỉ vì không

gặp được một cái hoàn cảnh tốt !... ". Và hiểu rằng hoàn cảnh đã hình thành nên ở con ngƣời

những thói quen mà ngƣời ta không dễ gì từ bỏ: " người ta không mỗi chốc bỏ được những

ngôn ngữ, cử chỉ mà cái hoàn cảnh đã tạo của mình" bởi vì đó không phải là thói quen của

riêng mình, mà " là cái thói quen lưu truyền đã mấy đời, đến nỗi nó đã nhập vào máu chúng

ta. Tƣ tƣởng, tính tình, cảm giác, hành động của chúng ta đều khuôn theo những thói tục.

Những lề lối sẵn trong thời đại của chúng ta. Thời thế đổi, lòng người đổi".

172

Nhân vật Thứ (Sống mòn) đã từng có những quan niệm sâu sắc, cao đẹp về sự sống

và cái chết. Với Thứ, sống không phải là sự tồn tại của thân xác, không chỉ là cuộc sống,

không chỉ là sự tồn tại trong hiện tại mà còn để lại dấu ấn trong tƣơng lai " Thứ vẫn không

thể nào chịu đƣợc rằng, sống chỉ là làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn áo mặc thôi.

Sống là để làm cái gì đẹp hơn nhiều, cao quí hơn nhiều. Mỗi ngƣời sống phải làm thế nào cho

phát triển đến tận độ khả năng của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi ngƣời chết đi phải

để lại một chút gì cho nhân loại. Có thú vị gì là cái lối sống co quắp vào mình, cái lối sống

quá ƣ loài vật, chẳng biết việc gì ngoài các việc kiếm thức ăn đổ vào cái dạ dày ". Ngƣời trí

thức ấy không chấp nhận cái " lối sống vô tri của cây cỏ cây" mà quan niệm " sống tức là cảm

giác và tƣ tƣởng. Sống cũng là hành động nữa, nhƣng hành động chỉ là phần phụ, có cảm giác

có tƣ tƣởng mới sinh ra hành động. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tƣ

tƣởng". Chính vì có những quan niệm sâu sắc và cao đẹp nhƣ vậy về ý nghĩa của cuộc sống

nên nhìn lại cuộc sống của mình và của bao ngƣời xung quanh mình Thứ đã phải ngậm ngùi

xót xa tự vấn: "Làm để có ăn, ăn để sống, sống để đợi chết... cả cuộc đời chỉ thu gọn vào

bằng ấy việc thôi ƣ ?". Và trên con tàu đƣa mình từ Hà Nội trở về cái nơi mà mình đã ra đi

với hy vọng " dự một phần vào việc xây dựng lại cái nhân loại... mênh mông rất bao la, rộng

rãi, cái nhân loại hỗn hợp dang bị khổ cực, đau đớn, điên cuồng vì những lỗi lầm của mọi

ngƣời, một cái nhân loại đang sống một cuộc sống tối ƣ vô lý" . Thứ đã khẳng định một quan

niệm nhân sinh: "Sống tức là thay đổi". Đó cũng chính là quan niệm của Nam Cao. Khi nhà

văn quan niệm " sống tức là thay đổi" cũng có nghĩa là nếu cuộc sống không thay đổi thì

không còn là sống, đó chỉ còn là một cuộc "Sống mòn", là cái chết đang đến từ ngay lúc

sống.

Ý thức rất sâu sắc về tác động tiêu cực của hoàn cảnh đối với nhân cách của con

ngƣời, về sự đen tối, nặng nề của cuộc sống hiện tại, và xuất phát từ những quan niệm sâu sắc

cao đẹp về ý nghĩa của cuộc sống con ngƣời nhiều

173

nhân vật của Nam Cao có khát vọng đổi thay, khát vọng thoát khỏi hoàn cảnh ngột ngạt tăm

tối đó, thậm chí có lúc họ cũng đã có khát vọng cải tạo xã hội. Nhƣng trong cái guồng quay

của cơ chế Sống mòn, cuối cùng họ lại "phải trở về với thực tế với cuộc đời chật hẹp" của

mình để sống với những tháng ngày buồn tủi. Có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm Nam Cao

những kiếp ngƣời có khát vọng thay đổi nhƣng rồi lại phải kéo dài tình trạng một cuộc sống

không đổi thay, mòn mỏi nhƣ thế. Tiêu biểu là nhân vật Hộ (Đời thừa), Điền (Nước mắt,

Trăng sáng), Dì Hảo (Dì Hảo), Bà Quản Thích (Nửa đêm), Hiền (Truyện người hàng xóm)

... thậm chí có những nhân vật đã phải tìm đến cái chết nhƣ một sự giải thoát (Chí Phèo).

Điển hình cho những nhân vật luôn có khát vọng thay đổi là Thứ (Sống mòn). Nhân vật

ngƣời trí thức này đã từng có những khát vọng đổi thay, khát vọng cải tạo xã hội " Y có cái

ảo tưởng đẹp đẽ mình cũng là một vĩ nhân, một anh hùng vượt lên trên sự tẩm thường để chỉ

nghĩ đến một cái gì vĩ đại mà thôi. Y nghĩ đến những phương kế để xoay ngược lại, đồng thời

xếp đặt cho sự giao tiếp giữa người với nqưòi ổn thỏa hơn". Và Thứ cũng hy vọng: " Y vẫn

cho rằng cuộc đời hiện tại của y chỉ là một cách sống tạm bợ mà thôi. Y vẫn đợi chờ một cái

gì, một cuộc đổi thay Nhƣng tất cả những khát vọng, những hy vọng đó sớm bị hoàn cảnh

thực tế bào mòn dập tắt. Thứ và biết bao nhân vật khác của Nam Cao, bên cạnh những khát

vọng thay đổi lại bị sức kéo bởi tâm lý ngại đổi thay. "Ông giáo khổ trƣờng tƣ" ấy đã có lúc

khẳng định: " Tôi không thể để tôi mục ra ở cái trƣờng này". Nhƣng rồi chính Thứ cũng tự

biết: " Y sẽ chẳng bao giờ tự rời nổi cái tƣờng này. Cuộc đời ở đây cố nhiên là chẳng đẹp gì,

nhƣng chắc chắn là y có ăn (...) đi là đến, những cái chƣa thấy đâu, sự bấp bênh, một cuộc đời

chƣa biết thế nào mà chắc chắn ..." ... Khát vọng bị bào mòn, hy vọng bị vùi tắt ... nhiều nhân

vật của Nam Cao luôn lo lắng về một tƣơng lai ảm đạm, bế tắc, lụi tàn. Tƣơng lai trong suy

nghĩ của các nhân vật không bao giờ có đƣợc sắc màu tƣơi sáng. Ngay ở nhân vật Chí Phèo,

kẻ mà ngƣời ta tƣởng rằng hắn không còn biết đến quá khứ (bởi hắn không còn ý thức về thời

gian: " Bây giờ hắn đã thành ngƣời không tuổi rồi. Ba mƣơi tám hay ba mƣơi chín ? bốn

mƣơi hay

174

ngoài bốn mƣơi ? (...) hắn nhớ mang máng rằng có lần hai mƣơi tuổi, rồi hắn đi ở tù, rồi hình

nhƣ hắn hăm nhăm không biết có đúng không?" ) mà chỉ biết có hiện tại (thậm chí không ý

thức cả về hiện tại: " Chƣa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chƣa bao giờ tỉnh táo để nhớ rằng hắn có

ở đời"). Vậy mà con ngƣời đã bị tƣớc đoạt quyền làm ngƣời ấy, khi thoát khỏi những cơn say

triền miên, khi bắt đầu trở về cuộc sống làm ngƣời đã ý thức về mình: " Hắn thấy hắn già mà

vẫn đơn độc", " Hắn đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời " ; và trƣớc mắt Chí là một tƣơng lai

mù xám: " Chí Phèo hình nhƣ đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cỏ

độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau". Sắc màu ảm đạm của tƣơng lai cũng nhuốm

trong suy nghĩ của nhân vật Thứ (Sống mòn): " Càng nhìn xa, y thấy đời y càng ngày càng

thắt chặt vào, càng chật chội thêm. Y chỉ có thể khổ hơn thế, không cố thể sướng ra ... Y

đúng nhƣ một con ngựa còm, vừa mới ỳ ạch qua cái dốc này lại đến ngay dốc khác. Tương

lai sầm tối". Tƣơng lai sầm tối và cuộc sống hiện tại âm u, mù xám đã làm tối sầm cõi lòng

và gƣơng mặt biết bao nhân vật của Nam Cao. Đã bao lần, trƣớc những tình cảnh xót xa của

sự đói khát, của sự nghi kỵ, ghen tuông, hờn giận, nhân vật Thứ đã " thấy lòng sầm tối lại".

Nhân vật San, một con ngƣời chẳng mấy khi gặp đƣợc điều tốt đẹp may mắn trong sự nghiệp

cũng nhƣ cuộc sống gia đình cũng bị bóng tối của hiện tại và tƣơng lai bao phủ " Mặt y tối

sầm những lo âu". Ngay cả nhân vật Mô, một chàng trai khỏe mạnh, xốc vác, sôi nổi rất có cá

tính cũng bị cuộc sống mỏi mòn bế tắc, không có chút ánh sáng ở tƣơng lai làm cho " trở nên

ít nói ít cƣời, mặt suốt ngày tối sầm sầm" . Và rồi, từ cái hiện tại mù xám, âm u ấy " Không

khí nặng nề, Giống tố sắp bùng ra. Trán tối sầm, mắt lo âu, mọi ngƣời lo lắng đợi". Nhƣng

đợi gì ? một tƣơng lai sáng sủa hơn ƣ ? trƣớc mắt họ chỉ là " một tia sáng mong manh", niềm

hy vọng, đợi chờ của họ chỉ là " hy vọng một cách vu vơ". Trong thực tại khắc nghiệt ấy,

nhân vật Thứ đã bao Kin trăn trở với những câu hỏi đầy bi quan, bế tắc về tƣơng lai: " biết

đến bao giờ... " còn có cách gì ...? " "còn có bao giờ... ", "không bao giờ dám cưỡng lại đời

mình". Mặc dù họ biết " đời họ là một đời tù đày" ... Nghĩa là, dù có ý thức về hoàn cảnh, ý

175

thức về cuộc sống tù đọng, ngột ngạt, tăm tối, bế tắc của mình, nhƣng họ vẫn không đủ dũng

khí, khả năng để bứt tung ra khỏi cuộc sống ấy.

" Sống mòn" đã trở thành một cơ chế tâm lý xã hội. Phát hiện, làm nổi bật đƣợc cơ

chế ấy là kết quả của cái nhìn hiện thực sâu sắc, nhân đạo và cũng là đóng góp của Nam Cao

trong việc phản ánh hiện thực xã hội ở phƣơng diện xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật.

4.4. Không khí ngột ngạt, bế tắc

Nhận định về tác phẩm Nam Cao, Hà Minh Đức viết: "Tác phẩm của Nam Cao mang

những đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực ở chặng đƣờng cuối cùng. Không khí ngột ngạt bao

trùm đời sống và tràn vào các tác phẩm. Số phận các nhân vật ở thành thị cũng nhƣ nông thôn

trong cảnh ngộ riêng của mình đều rơi vào bế lắc tột độ" [63.239]. Bàn về tác phẩm Sống

mòn, nhà nghiên cứu tiếp tục khẳng định: " Nam Cao đã phản ánh sâu sắc không khí ngột

ngạt bế tắc chung của cả xã hội đang bị đẩy đến bên bờ vực thẳm. Những nhân vật tiểu tƣ sản

bị giam hãm vào môi trƣờng chật hẹp, tù túng, quẩn quanh do một sức mạnh tƣởng nhƣ vô

hình nhƣng tác động lại rất cụ thể (...) Sống mòn là một hoàn cảnh hầu nhƣ không vận động

hay đúng hơn là cứ chết lặng dần, một hoàn cảnh khá điển hình không chỉ đƣợc tạo nên bằng

những tính cách tiêu biểu, những mối liên hệ cơ bản của nhiều tầng lớp giai cấp, mà còn bằng

không khí hấp hối và hơi thở tàn của toàn bộ xã hội" [63.222]. Nhà nghiên cứu văn học

Vƣơng Trí Nhàn khi bàn về " Những biến hóa của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam

Cao" cũng nhận xét: " Cảm giác về sự kỳ dị nảy sinh do chỗ tác giả tạo nên một hiệu quả

ngột ngạt tức thở, gợi ra cảm tƣởng một thứ lƣới vô hình bao quanh ngƣời ta. Lƣới chỉ mỏng

manh, nhẹ nhàng, nhƣng ngày một thít chặt hơn, khổng ai thoái ra nổi" [193.456]. Cũng với

cảm nhận ấy khi liếp nhận lác phẩm của Nam Cao, Hà Văn Đức viết: " Gấp những trang sách

của Nam Cao lại, ngƣời đọc dƣờng nhƣ vẫn cảm thấy ngột ngại và ám ảnh không nguôi với

số phận của những con người khốn khổ.

176

Cái không khí ngột ngạt đó chủ yếu là do hiện thực xã hội lúc bấy giờ " [193.478]...

Nhƣ vậy, cảm nhận về không khí ngột ngạt, bế tắc đến nghẹt thở là cảm nhận chung

của nhiều nhà nghiên cứu khi đọc tác phẩm Nam Cao. Nói lên sự cảm nhận ấy, cũng có nghĩa

là các nhà nghiên cứu đã khẳng định sự thành công của Nam Cao trong việc tạo không khí

cho hoàn cảnh, tức là trong nghệ thuật xây dựng hoàn cảnh. Vậy những yếu tố nghệ thuật nào

dẫn tới thành công đó?

Phải thấy rằng, không khí của hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao cũng toát lên từ tất

cả các yếu tố thuộc cấu trúc của hoàn cảnh: nhân vật, cơ chế, mâu thuẫn. Đồng thời nó còn

đƣợc toát lên bởi hệ thống một số tín hiệu nghệ thuật khác.

4.4. 1. Những hình ảnh tạo không khí

Trong hệ thống những hình anh tạo không khí, trƣớc hết là những bức tranh thiên

nhiên đƣợc nhà văn tái hiện trong tác phẩm. Nhiều nhà nghiên cứu đã có chung nhận xét là

Nam Cao rất ít miều tả thiên nhiên. Điều đó rất đúng, có lẽ đây cũng là một đặc điểm chung

của văn học hiện thực Việl Nam. Các nhà văn thuộc trào lƣu văn học hiện thực thời kỳ 1930 -

1945 thƣờng ít miêu tả thiên nhiên. Nhƣng tìm hiểu thế giới nghệ thuật Nam Cao, không nên

bỏ qua những chi tiết về phƣơng diện phản ánh này. Nó cũng là một yếu tố bộc lộ quan niệm

nghệ thuật về hoàn cảnh của tác giả.

Thiên nhiên cảnh vật trong tác phẩm Nam Cao không phải chỉ đơn thuần là những

bức tranh phong cảnh. Nhiều khi nó là yếu tố biểu hiện tâm lý. Và đứng ở góc độ hoàn cảnh

nghệ thuật, nó có thể là yếu tố tạo không khí cho hoàn cảnh, nghĩa là nó mang lại cho hoàn

cảnh trong tác phẩm Nam Cao tính nghệ thuật.

Trong tác phẩm Nam Cao, có những bức tranh thiên nhiên tƣơi đẹp, hấp dẫn. Sự tạo

dựng những bức tranh ấy xuất phát từ những dụng ý nghệ thuật

177

của nhà văn. Bởi nó tƣơng phản với cảnh ngộ, tâm lý nhân vật. Từ đó, nó càng làm nổi bật

cái nghiệt ngã đến tàn nhẫn của hoàn cảnh. Đây là bức tranh thiên nhiên tƣơi đẹp để chuẩn bị

cho một tình cảnh thƣơng tâm của sự đói khát và nhục nhã vì miếng ăn: " Nắng bừng lên.

Nắng mùa thu dìu dịu. Trời thì đẹp. Cánh đồng lúa mơn mởn, run gờn gợn nhƣ trong làn da ủ

kín, đột nhiên phơi ra gió lạnh. Phong cảnh quyến rũ nhƣ một nhan sắc hoàn toàn nảy nở"

(Trẻ con không được ăn thịt chó). Trong lúc gia đình văn sĩ Điền (Trăng Sáng) đang lục

đục vì ốm đau, dằn vặt, nhiếc móc lẫn nhau thì " Trên kia, giăng nhởn nhơ nhƣ một có gái

non vừa mới có nhân tình. Gió nhẹ nhàng đặt trên lá những bƣớc chân vũ nữ. Những tàu lá

láng trăng đƣa đẩy". Đây là cảnh vật trƣớc con mắt của một chàng trai sau ba năm chờ đợi

vừa bị ngƣời yêu phụ bạc bỏ đi lấy chồng chỉ vì ngƣời đó giàu có: " cảnh rất tƣơi vui ... bầu

trời rất xanh, không khí trong suốt. Cánh đồng gió lộng phập phồng nhƣ cái ngực xốn xao của

bể. Lại có nắng, có chim, có tiếng xe bò nghiến những hòn đá vụn nghe lắc rắc và tiếng cƣời,

nói" (Nhìn người ta sung sướng). Và đây là hình ảnh thiên nhiên đối lập với tình cảnh của

nhân vật Phúc trong giây phút kề bên cái chết: " Bên ngoài trời rất đẹp. Nắng tƣng bừng. Một

đàn chim sẻ chí chóe cãi nhau nhƣ một lẽ trẻ con tập làm ngƣời lớn ... muôn loài sống mạnh

mẽ và sung sƣớng. Không gian là một đám hội xôn xao và rực rỡ " (Điếu văn) ... Sự tƣơng

phản giữa cảnh ngộ, tâm trạng nhân vật với những bức tranh thiên nhiên tƣơi đẹp đầy sức

sống ấy đã làm nổi bật hơn sự trớ trêu của hoàn cảnh, sự vô tình của cuộc đời đối với những

khổ đau bất hạnh của con ngƣời.

Nhƣng không phải bao giờ thiên nhiên trong tác phẩm Nam Cao cũng; sinh động, tƣơi

đẹp, hấp dẫn, mà nhiều khi nó mang màu sắc của sự hắt hiu, tàn lụi nhƣ chính mộc sống của

con ngƣời. Đó là khung cảnh một bầu trời chiều hắt hiu ảm đạm đang lụi tàn lúc hoàng hôn: "

Không gian xám tro. Và tít ngoài xa, đằng sau nhƣng đám me loáng thoáng nhƣ những mạng

nhện đen, trên một nền trời bằng lạng, mấy vệt màu đỏ chết, cứ nhạt dần đổi màu

178

sang màu tím thầm " (Sống mòn) ; là cái phai tàn của nắng, cái chết lặng của không gian

trong một xóm nhỏ ngoại ô, nơi cƣ trú tạm bợ của nhiều kiếp người khốn khổ đang phải

sống cuộc sống quẩn quanh tù hãm: "nắng nhạt dần. Nắng úa vàng, sức nắng giảm rất mau.

Thứ tƣởng nhƣ trông thấy thời gian trôi và ngày chết dần di. Mấy cái tàu chuối hơi cúp

xuống, gió chỉ khẽ lung lay và ngây ra trong một dáng điệu ngẩn ngơ" (Sống mòn). Đó là

hình ảnh thiên nhiên vào lúc còn có ánh sáng của ban ngày, còn khi bóng đêm bắt đầu buông

xuống, thế giới thiên nhiên ấy càng trở nên u uất, tối tăm hơn: " Con đƣờng vắng, chạy dài

phang lì dƣới ánh sáng úa vàng của những bóng đèn buồng ngủ ... hàng cây cối ở bên đường

ủ rũ bơ phờ nhƣ những ngƣời ốm tƣơng tƣ ... Cây rậm um tùm. Nước đen ngòm. Bóng tối u

uất, âm thầm" (Sống mòn). Hình ảnh những bức Tranh thiên thiên mang màu sắc của sự hắt

hiu, lụi tàn, tăm tối, hẳn không phải là ngẫu nhiên. Nó là kết quả quan niệm nghệ thuật về

hoàn cảnh của nhà văn. Chính quan niệm nghệ thuật về một hoàn cảnh tù đọng, tăm tối, mỏi

mòn đã chi phối tới việc tái tạo những bức tranh thiên nhiên ấy. Và những bức tranh thiên

nhiên đó đã góp phần tô đậm thêm cái nền đen tối, trì trệ, ngƣng đọng của hoàn cảnh Sống

mòn.

Có một điều nhận thấy khá rõ là mặc dù rất ít miêu tả thiên nhiên, nhƣng nếu tả thiên

nhiên, Nam Cao thƣờng chú ý tới những trận bão, những cơn mƣa, những thiên tai ... Có lẽ

bởi vì những hiện tƣợng thiên nhiên ấy có ảnh hƣởng rất rõ rất mạnh tới số phận thế giới

nhân vật quen thuộc của Nam Cao: những con ngƣời cùng khổ, nhất là những ngƣời nông dân

mà miếng cơm manh áo phụ thuộc rất nhiều vào mƣa, nắng, bão, giông. Chính cơn bão quái

ác làm cho " hoa màu bị phá sạch sành sanh" là một trong những nguyên nhân dẫn tới cảnh

ngộ bi đát và cái chết thê thảm của Lão Hạc. Cũng chính cơn bão bất ngờ xảy ra vào " tận lúc

đã sang tháng chín" khiến cho ngôi nhà của nhân vật" tôi " (Mua nhà) bị" úp xuống nhƣ một

ngƣời già khụy gối" và " vƣờn bị tàn phá hết. Bao nhiêu tiền của, bao nhiêu mồ hôi nƣớc mắt

đổ ra chăm chút cho giàn

179

trầu, bụi mía thôi là mất công toi". Và cũng chính cơn bão tháng chín ấy dã làm cho bao

ngƣời dân quê phải xót xa nghĩ tới một tƣơng lai sầm tối: " Trận này nữa là không một giống

cây gì còn sống nổi. Rồi đây vƣờn sẽ chỉ còn đất trắng, củ chuối mà ăn cũng không có

nữa"(Làm tổ). Trong cái nhìn của Nam Cao thiên nhiên nhiều khi thật khắc nghiệl, quái ác.

Nó cũng nhƣ một lực lƣợng vô hình đầy sức mạnh và không kém phần tàn bạo góp phần cùng

cái xã hội bạo tàn đẩy những ngƣời dân khốn khổ vào sự cùng cực của đói nghèo. Nam Cao ít

miêu tả thiên nhiên, nhƣng những đoạn văn miêu tả thiên nhiên, đặc biệt những trận bão,

những cơn gió đã thể hiện một tài năng miêu tả tạo dựng không khí. Hãy xem Nam Cao tả

gió: " Gió suốt đêm ... gió đã hung hăng lắm, lấn át những tiếng kêu rên của lá ... Mặc ! gió

vẫn gào vẫn thét, vẫn hồng hộc nhƣ những con ngựa chiến. Và trên cao cái thứ tiếng u u vẫn

kéo dài ra mãi nhƣ có ngƣời chọc tiết hàng trăm con bò" (Làm tổ). Có khi gió đã trở thành

một lũ âm binh quái đảm dữ tợn từ địa ngục xô về dƣơng thế: " Gió thổi hồng hộc. Gió gào

rít lên, gió nghiến răng, gió reo cƣời. Đó là cả một bọn âm hồn xổng từ địa ngục ra. Chúng

điên cuồng sự tự do. Chúng ùa nhau, xô đẩy nhau à á chạy về cõi trần gian ..." (Hai người ăn

tết lạ).

Trong thế giới thiên nhiên, cảnh vật, Nam Cao thƣờng chú ý miêu tả ngôi nhà, căn

phòng của các nhân vật. Bởi trong thực tế, không gian nhà ở, căn buồng là không gian cƣ trú

thƣờng nhật của con ngƣời. Vậy hình ảnh nhà trong các tác phẩm của Nam Cao có gì đặc biệt

? Nếu chú ý ta sẽ thấy, hầu hết hình ảnh những ngôi nhà trong tác phẩm Nam Cao đều rất

thấp bé, ẩm thấp, tối tăm. Có khi nó không đáng gọi là "nhà" mà chỉ đƣợc gọi là "lều". Đó là

"cái lều ẩm thấp chỉ hơi lờ mờ" mà ở đó " ngƣời ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm thì ban

ngoài trời vẫn sáng ..." của Chí Phèo; là "cái lều hôi hám" của mẹ con Dì Hảo (Dì Hảo); là

"cái nhà lá tối như hũ nút" của ngƣời phụ nữ bất hạnh đang rơi vào một hoàn cảnh bi thảm

trong "Quái dị"; là " gian nhà tối ẩm, đầy mùi bệnh tật, rác rưởi, muỗi ruồi " mà ở đó: " Chỉ

có những

180

con ruồi là có vẻ sống có vẻ hoạt động và khỏe mạnh giữa cái thế giới ốm yếu ấy, đã chìm

một nửa vào cõi chết..." của anh Phúc (Điếu văn) ; là " Căn nhà lá ẩm ướt tối om om" của vợ

chồng Mô (Sống mòn) ... Những ngôi nhà, những " căn lều nát " ấy thƣờng dƣợc đặt trong

những không gian bẩn thỉu, hôi hám. Nhân vật " tôi " (Mua nhà) hiểu rằng đến chơi nhà

mình, những ngƣời bạn sẽ phải " chui vào một cái lều tối om om. Nền nhà bằng đất nên âm

ẩm dƣới chân. Một mùi mốc khăng khẳng làm các anh nhăn mũi ... ". Hai thầy giáo San và

Thứ (Sống mòn) phải ở trọ trong một ngôi nhà " Mùa bức đến ... mùi phân và mồ hôi ngựa

đưa sang rất là khó ngửi". Trong cái không gian tối tăm, hôi hám ấy, nhiều ngôi nhà toát ra

một không khí lạnh lẽo, âm u, bệnh tật, chết chóc. Bƣớc chân vào ngôi nhà của ngƣời phụ nữ

đang cần thuê ngƣời làm, những ngƣời thợ gặt trong Quái dị cảm thấy "Cái khí lạnh ở ngoài

đƣờng lúc này chƣa thấm vào đâu với cái lạnh trong căn nhà hoang vắng này". Cậu bé Hiền

(Truyện người hàng xóm) cũng cảm thấy cái lạnh lẽo ấy trong gian buồng ở thuê của hai mẹ

con "... khí lạnh ùa sang cả nhà Hiền. Nó thấy nhà tẻ ngắt, tẻ ngơ. Buồn vắng làm sao !" ...

Thậm chí, không gian của những ngôi nhà, căn buồng trong tác phẩm Nam Cao còn mang

màu sắc thâm u đầy tử khí. Nó nhƣ không còn là thế giới của dƣơng gian mà đã trở thành âm

thế. Nhân vật Dì Hảo (Dì Hảo) mặc dù rất nuối tiếc tuổi thơ vì hiện tại đầy khổ đau, nƣớc

mắt, nhƣng vẫn " muốn xa lánh hẳn cái lều đầy những ma cùng quỉ ... và mỗi lần về thăm mẹ,

dì thấy hơi rờn rợn khi đến gần cái bàn thờ lúc nào cũng âm u nhƣ che đậy bao nhiêu là bí

mật" đến nỗi có cảm tƣởng " chốn này có vẻ một nơi ma ở quá". Và căn nhà của mẹ con Hiền

(Truyện người hàng xóm) cũng mang màu sắc không khí cõi âm nhƣ thế: " Căn nhà trở nên

đầy những quỉ cùng ma. Ma lủng lẳng ở trên không. Ma ở dưới gầm giường. Ma ở trong xó .

Chúng đứng kia trong bóng tối".

Có một đặc điểm dễ nhận thấy là nhiều ngôi nhà trong tác phẩm Nam Cao thƣờng

đƣợc đặt ở vị trí trong ngõ (một không gian tù túng, bế tắc) và rất

181

hay trong tình trạng đóng cửa (tô đậm sự ngột ngạt, tối tăm). Cái xóm Bài Thơ của những

ngƣời dân nghèo ngoại ô (Truyện người hàng xóm) " ở ngang hông một cái ngõ". Sau này

dời khỏi cái xóm nghèo ấy, nhân vật Tiền cũng lại đến sống trong một căn nhà ở "Lối vào

ngõ gạch" mà muốn đến đó ngƣời ta phải đi qua một "lối đi rất hẹp" và trong nhà thì "Tối

như hang". Ngôi nhà của ngƣời chủ nhân xóm Bài Thơ mặc dù "kiên cố, nghênh ngang và bệ

vệ" nhƣng " những cánh cửa con bao giờ cũng đóng". Mấy nhà hàng xóm của Tiền, nơi ở

mới cũng "đều đóng cửa". Ngôi nhà của ông Học, nơi San và Thứ (Sống mòn) ở trọ cũng " ở

thụt mãi trong làng. Từ ngoài đƣờng nhựa có một cái ngõ sạch đi vào". Hơn nữa đấy lại là

cái ngõ cụt: " Ngõ vào đến nhà ấy vừa cùng". Đặt nhân vật của mình vào những không gian

cƣ trú ấy, hẳn không phải là sự vô tình của tác giả. Nó vừa là hình ảnh của hiện thực, vừa

mang ý nghĩa biểu tƣợng.

Dƣờng nhƣ, để tô đậm cái hoàn cảnh tối tăm (theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen), nhiều

sự kiện, hành động của các nhân vật Nam Cao thƣờng xảy ra vào không gian trời tối, khi

bóng đêm bắt đầu buông xuống. Ngay cả những sự kiện tƣơi sáng nhất của đời ngƣời cũng

thƣờng diễn ra vào thời điểm ấy. Đám cƣới của dì Hảo (Dì Hảo) diễn ra vào "một buổi chiều

có sương bay" và lúc đón dâu là " vào lúc tờ mờ tối". Đám cƣới của Dần (Từ ngày mẹ chết)

cũng lại diễn ra vào cái thời điểm ấy. Nó không đƣợc diễn ra vào ban ngày mà phải "đến tối,

dám cưới mới ra đi ". Bởi vậy hình ảnh của đám đƣa dâu ấy mới ẩm đạm, tăm tối biết chừng

nào ! "Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt

díu nhau đi tìm chốn ngủ ". Không hiểu đây là hình ảnh của cuộc đƣa dâu hay đƣa đám? Hình

ảnh của đám cƣới hay đám tang nghèo ? Hình ảnh của niềm vui đoàn tụ hay nỗi buồn chia

phôi?

Nếu chú ý tới hình ảnh của những ngọn đèn trong tác phẩm Nam Cao, ta cũng thấy

chủ yếu là những ngọn đèn lù mù, yếu ớt. Đơn cử trong tác phẩm

182

Truyện người hàng xóm. Tác phẩm này mở đầu bằng một không gian còn mờ tối " đƣờng

vắng vả câm. Nhà hàng phố còn đóng cửa". Hiện lên trong không gian ấy là " Những bóng

điện mòng mọng đỏ". Nhìn những ngọn đèn ấy, cậu bé Hiền cảm thấy " chúng giống hệt nhƣ

những con mắt đã thức đêm nhiều quá thành mỏi mệt. Chúng gà gà)". Đến khi trời tối, trong

những gian nhà rách nát của xóm Bài Thơ, ngƣời ta lại thắp lên những ngọn đèn Hoa Kỳ

"Những ngọn đèn ngái ngủ chí thức mỏi đêm nửa tiếng đồng hồ vào lúc bắt đầu đêm. Chúng

tù mù...". Hình ảnh những ngọn đèn thiếu sáng ấy "làm ngƣời ta nghĩ đến những kiếp sống

còm rom, những cuộc đời lúc gần tàn, những người già nằm đợi chết...". Và hình ảnh tù mù

lay lắt của những ngọn đèn ấy sẽ lại còn hiện lên ở cuối tác phẩm nhƣ một nốt nhấn thê lƣơng

giữa bản nhạc cuộc đời thê thảm. Đó là khi nhân vật Hiền, một mình tuyệt vọng bơ vơ giữa

dòng đời lạc vào một" khu vƣờn tối om om" mà ở đó "những bóng đèn thưa thớt ở ven đƣờng

bị lá cây um tùm che lấp không tỏa sáng đi xa đƣợc. Ở trên là bóng tối dày và đặc". Có thể

nói, hình ảnh những ngọn đèn mù mờ ấy chí càng làm nổi bật cái bóng tối dày đặc bao quanh

và rộng hơn là càng làm nổi bật không khí tối tăm, ngột ngạt, bế tắc của hoàn cảnh. Trong

tiểu thuyết Sống mòn, hình ảnh ngọn đèn tù mù lay lắt với không gian bóng tối cũng rất đáng

chú ý. Ở phần "Cơ chế Sống mòn" chúng tôi đã hai ý không gian hoạt động của nhân vật

Thứ, San là rất chật hẹp, quẩn quanh tù túng. Đến đây chúng tôi muốn nói thêm rằng, những

nhân vật ngƣời trí thức nghèo ấy thƣờng ra khỏi nhà khi trời tối. Hình ảnh những con đường

đầy bóng tối cũng là một chi tiết xuất hiện nhiều lần trong Sống mòn. Nhân vật Thứ đã đến

nhà Hải Nam với ý định xin ở trọ qua " Con đường nhựa dưới vòm cây tối đen thăm thẳm

nhƣ một dòng sông chảy trong hang ". Khi chuyên chỗ ở từ trƣờng đến nhà ông Học, họ cũng

đợi đèn " Tối mịt mới dọn nhà... Họ muốn làm việc ấy lén lút nhƣ một cô gái chửa hoang đi

đẻ " Cuộc gặp gỡ giữa San và một cô gái án sƣơng cũng xảy ra " Giữa một con đường tối

trong vƣờn bách thảo". Trong

183

những giờ phút cảm thấy cô đơn, lẻ loi muốn tìm một cử chỉ yêu thƣơng, một bàn tay ve

vuốt, Thứ đã đi lang thang vô định và " y rẽ vào những con đường tối và ít ánh đèn ... con

đƣờng vắng, chạy dài phẳng lì dƣới ánh sáng úa vàng của những bóng đèn buồng ngủ, cũng

quạnh hiu nhƣ cõi lòng y ..." và " Nhiều khi Thứ đi sâu cả vào những con đường tối và kín

đáo trong vƣờn bách Ihảo ... cây rậm um tùm. Nƣớc đen ngòm. Dóng tối u uất âm thầm Ở

phần cuối tác phẩm, sau khi ở quê lên trở về trƣờng với một hy vọng mơ hồ, mong manh là

vẫn còn việc làm, Thứ cũng " không muốn đến trƣờng vào lúc chƣa tối hẳn" và ông giáo khổ

trƣờng tƣ sắp thất nghiệp ấy đã " chọn mé đường tối cúi mặt xuống mà đi"...

Có thể nói, không khí ngột ngạt, bế tắc, tăm tối của hoàn cảnh đã toát lên từ nhiều hệ

thống những chi tiết nghệ thuật. Ở phƣơng diện những hình ảnh tạo không khí, ta còn có thể

nhận thấy rằng, thế giới đồ đạc của hầu hết các nhân vật trong tác phẩm Nam Cao thƣờng rất

nghèo nàn, chắp vá, cũ nát, tạm bợ (ngoại trừ gia cảnh của một số ít các nhân vật - nhƣ Hải

Nam (Sống mòn). Nhƣng cả cái cơ ngơi đổ sộ của " tay thầu khoán, kiêm lái gỗ, kiêm chủ

đồn điền giàu cỏ tiếng ở vùng này" trông nhƣ "dinh cƣ của những vị tể tƣớng về hƣu trong

các truyện tàu" đằng sau " cái cổng lù lù, trông hiu quạnh và vắng lặng như một cái cổng

thành cổ", cũng bị bao phủ một không khí thâm u).. Trƣớc hình ảnh thế giới dồ đạc của các

nhân vật trong Sống mòn, ngƣời ta có thể nhớ tới nhận xét của M.B. Khraptrenko về Gôgol:

"nhƣ Bandắc, tác giả Những linh hồn chết đã mô tả rộng rất cảnh sinh hoạt vật chất của các

nhân vật của mình, cái hoàn cảnh mà họ có sinh hoạt chặt chẽ. Gôgol đã đi xa hơn Bandắc

trong việc khám phá quan hệ đó, ông đã chỉ ra sự gắn kết của con ngƣời với thế giới đồ vật,

khi mà "hoàn cảnh " có thể là một loại dấu hiệu của nhân vật, còn nhân vật là dấu hiệu của đồ

vật" [110.103].

Ta hãy thử nhìn lại gia cảnh, đồ đạc của những gia đình trong " cái xã hội con con" ở

nhà ông Học. Trƣớc hết là đồ đạc, vật dụng của gia đình ông

184

chủ nhà. này. Bên trong ngôi nhà mà " ai cũng tưởng là một phần chuồng ngựa" này, tất cả

đều toát lên sự nghèo nắn, mỏi mòn, tàn tạ. Đó là những chiếc " bàn ghế cục mịch và không

được bóng ... ít khi dùng đến, ít khi lau chùi và bụi bụm khá nhiều "; là chiếc ấm với " chiếc

vòi không chịu chảy " và có chảy thì cũng chí "liu rịn chậm chậm" sau khi ông chủ nhà phải

"ghé miệng vào vòi ấm, thổi"; là "những chiếc chén hạng rẻ tiền trông nhƣ cáu bẩn" ... Trong

căn nhà bếp, mà "mặt trƣớc trông hốc hác như quán chợ " cũng "chẳng thấy kê đồ đạc gì,

toàn thúng mủng " ... Gia đình ông chủ nhà đã vậy. còn những ngƣời ở trọ thì sao? Gia cảnh,

vật dụng của những gia đình này cũng chẳng khá hơn gì, thậm chí còn nghèo nàn, tạm bợ

hơn. Trong cái nhà lá sau khi anh xe đến ở trọ " vẫn trước thế nào, sau thể ấy: ban ngày vẫn

bỏ không, đồ đạc chẳng thêm gì, vẫn trơ trọi một cái giường tre xộc xệch". Ngày cả khi anh

ta dẫn về một ngƣời vợ theo thi họ vẫn "chẳng có một tí gì. Đồ đạc không. Hòm xiểnq không.

Đồ ăn thức đựng không. Một cái bát nhỏ để ăn cũng không nốt". Nghĩa là họ sống một cuộc

sống cực kỳ tạm bợ, vất vƣởng. Sau khi anh xe trả cái nhà lá đƣợc mấy hôm, thì một ngƣời

đàn bà với hai đứa con nhỏ lại đến ở trọ. Gia đình ngƣời đàn bà này cũng chẳng sung túc gì,

chỉ có một "cái thúng đựng tất cả gia tài sự nghiệp". Những con ngƣời này nghèo lắm, họ

nghèo đến nỗi dƣờng nhƣ họ không có cả cái tên. Ngƣời kể chuyện chỉ gọi họ là "anh xe",

"vợ người thuê nhà lá", "bà làm ở hãng rượu bia" ... Họ tồn tại ở đời mà cũng chỉ nhƣ cái

bóng, họ hiện lên trong tác phẩm chỉ thoáng qua rồi lại chìm lấp giữa dòng đời. Họ nhƣ

những hòn sỏi nhỏ ném vào cái ao tù ngƣng đọng và tăm tối của "xã hội con con" trong nhà

ông Học. Họ có làm khuấy động đôi chút cái ao tù đó rồi lại chìm nghỉm và trả lại cho nó cái

phẳng lặng, mỏi mòn.

Nhìn lại hệ thống những chi tiết nghệ thuật về hình lính thiên nhiên, hình ảnh ngôi

nhà, con đƣờng, không gian bóng tối, những ngọn đèn, thế giới đồ đạc... trong tác phẩm Nam

Cao ta có thể nghĩ tới một nhận định

185

của Phan Cự Đệ: "Hoàn cảnh điển hình không đồng nhất với hình tƣợng môi trƣờng, địa

điểm của nhân vật. Những cái này đứng bên cạnh các nhân vật và đằng sau các nhân vật, làm

thành một bộ phận của hoàn cảnh điển hình. Các nhà văn hiện thực phê phán đã biết thông

qua việc miêu tả môi trƣờng và hoàn cảnh để làm nổi bật lên những nét đặc trƣng của tính

cách" [48.366- 367].

4.4.2. Những âm thanh " đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than".

Trong tác phẩm Trăng sáng, Nam Cao đã khẳng định: "nghệ thuật chỉ có thể là tiếng

đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than". Xuất phát từ quan điểm nghệ thuật ấy, văn sỹ

Điền đã "cứ đứng trong lao khổ mở hồn ra mà đón lấy tất cả những vang động của đời" đón

nhận biết bao âm thanh của cuộc sống lầm than. Không khí ngột ngạt, bế tắc, mỏi mòn, của

hoàn cảnh cũng toát lên từ hệ thống những âm thanh ấy. Trong tác phẩm Nam Cao, ta thấy

đầy những tiếng chửi bới, khóc than, tiếng thở dài, tiếng chép miệng, tiếng nghiến răng, tiếng

rên rỉ... và cả những tiếng cười mà khi nghe, ngƣời ta có khi phải khóc hoặc rùng mình ghê

sợ... đó là những âm thanh của cuộc sống lầm than, cay đắng, tủi nhục. Ở đây, chúng tôi chỉ

xin dừng ở một vài hệ thống âm thanh trong bản nhạc cuộc đời đau khổ ấy.

Trƣớc hết là những tiếng thở dài. Có thể nói, những tiếng thở dài đã trải dài trên nhiều

trang sách của Nam Cao. Tiếng thở dài là biểu hiện của tâm trạng, là phản ứng tâm lý của con

ngƣời trƣớc ngoại cảnh, số phận, cuộc đời. Theo lẽ thƣờng, tiếng thở dài là biểu hiện của sự

chán chƣờng, thất vọng, bi quan, ngao ngán... Bởi-vậy nó sẽ trở thành yếu tố tạo không khí

cho hoàn cảnh nếu nó đƣợc xuất hiện với tần số cao. Nhân vật của Nam Cao rất hay thở dài.

Đó là tiếng thở dài của Lão Hạc (Lão Hạc) khi biết rằng mình sắp phải dối lừa một con chó;

của bố Dần (Một đám cưới) khi phải gả chồng cho con mà thực ra là lo chạy đói; của ngƣời

mẹ (Trẻ con không được ăn thịt chó) trƣớcc tình cảnh lũ con đói khát mà ngƣời chồng lại là

kẻ phàm phu tục tử; của anh Cu Lộ (Tư cách mõ) khi bị ngƣời đời khinh rẻ vì chỉ là một

thằng Mõ; của

186

ông Đồ (Đón khách) vì tiêu tan hy vọng kiếm đƣợc cho cô con gái tấm chồng; là tiếng thở

dài "suốt đêm" của bà lão nghèo khổ trong Một bữa no; là tiếng "thư dài ngao ngán cho kiếp

mình" của văn sỹ Điền (Trăng sáng)... và của biết bao nhân vật khác nữa. Trong hoàn cảnh

cuộc sống tối tăm bế tắc đó. ngay cả những đứa trẻ ở lứa tuổi hồn nhiên vô tƣ cũng phải thở

dài (Trẻ con không được ăn thịt chó). Một thằng câm (Truyện người hàng xóm) tƣởng

nhƣ chỉ biết sống âm thật lặng lẽ không biết suy tƣ về cuộc đời cũng thở dài. Nhân vật Đức

(Truyện người hàng xóm) đang ở lứa tuổi 18 trƣớc những định kiến khắc nghiệt của hoàn

cảnh đã sống nhƣ một cái bóng và "rất hay thở dài", "thở dài rất to" và đôi lúc "tiếng thở dài

thoát ra như tiếng rên". Bà Quan Thích chỉ mong dƣợc nghe tiếng nói của nó cho cuộc sống

bởi phần cò quạnh nhƣng Đức "chỉ im lặng hay thở dài". Trƣớc những tiếng thở dài triền

miên ấy của Đức, Bà Quản Thích đã phải thốt lên "Trời ơi! Bà muốn bớt sống đi một vài năm

cũng vui lòng nếu có biết hắn thở dài vì đâu ?" ... Tiếng thở dài đã trở thành một yếu tố tô

đậm thêm cuộc sống mỏi mòn ngao ngán của kiếp ngƣời. Nó là sự thể hiện của một nỗi buồn

chất chứa trong cuộc sống, trong tâm hồn nhân vật. Bởi vậy có lúc nó trở thành tiêu chí của

nổi bật ("hai đứa con anh ẻo lả nhƣ một cái lá úa và buồn như một tiếng thở dài" - Điếu văn).

Trong tác phẩm Sống mòn, ngƣời đọc cũng bắt gặp nhiều tiếng thở dài của San, Đích,

Oanh... và đặc biệt là của Thứ. Tiếng thở dài buồn bã ngao ngán theo Thứ vào cả những cuộc

vui. Nó khiến cho ngƣời trí thức luôn ý thức vẻ hoàn cảnh của mình ấy, không thể có đƣợc

một phút vui trọn vẹn: "biết bao nhiều lần giữa một đám tiệc vui do một ngƣời bạn có tiền

mời, hình ảnh một cụ già nuốt nƣớc bọt thầm hay một đứa em lấm lét nhìn trộm nồi cơm hy

vọng nó còn có hy vọng gì thêm một lƣợt sới nữa chăng, đột nhiên hiện ra khiến y đang ăn

uống ngon lành bỗng ngẩn ngơ mân mê cốc rƣợu để trên bàn và thở dài khe khẽ"...

187

Trong những âm thanh của cuộc sống đau khổ " thoát ra từ những kiếp lầm than" còn

có những tiếng rên của những ngƣời cùng khổ. Có tiếng rên rỉ của Chí Phèo (Chí Phèo) sau

những phút rạch mặt ăn vạ. Có tiếng rên của bà cái Tý chuẩn bị bƣớc vào cõi chết sau khi đã

nhẫn nhục kiếm lấy Một bữa no. Có tiếng rên rỉ của những ngƣời dân quê sợ lo chết đói sau

một trận bão làm tan hoang nhà cửa ruộng vƣờn (Thôi đi về); tiếng rên cay cực, tủi hờn của

ngƣời mẹ trong Bài học quét nhà ; tiếng rên xót xa nuối tiếc của vợ anh Cu Thiêm (Thôi đi

về) vì mất mấy cái vé sợi cũng là mất một nguồn kiếm sống... Thậm chí, nhiều khi thiên

nhiên cũng rên lên trƣớc những đắng cay cơ cực của kiếp ngƣời ("gió đã hung hăng lắm, lấn

át những tiếng rên của lá" - Làm tổ, "những bụi tre cố tình rên bằng những tiếng lào xào của

những chiếc lá xoa xƣợi vì mệt lử" - Hai người ăn tết lạ). Bên cạnh những tiếng kêu rên, rền

rĩ từ những cảnh ngộ bi đát, thƣơng cảm, ta còn thấy giọng nói của nhiều nhân vật rất khác

thƣờng, thậm chí nghe rất "quái dị" (nhƣ tên một tác phẩm của Nam Cao). Đó là cái giọng

"khàn khàn như một tiếng nói mê" của bà lão bán bánh mỹ tây và cái giọng "thào thào như

tiếng gió, khạo khạo như một vật gì bị rạn vừa đưa ra vừa hút vào thành tiếng rít" của Ấm

Háo trong Truyện người hàng xóm ; là cái giọng "yếu ớt như từ thế giới bền kia đưa lại"

của anh Đĩ Chuột trong sự cùng cực của đói khổ (Nghèo). Cũng yếu ớt buồn thảm nhƣ từ âm

phủ vọng về nhƣ thế là giọng của bà cụ Hà (Sống mòn) "giọng tuy gắt gỏng mà tiếng vẫn

không vang lên đƣợc: Nó cứ âm âm trong lồng ngực, dường nhƣ cái ngực yếu ớt quá, óp ép

quá, chỉ đẩy được một luồng hơi yếu ớt". Nghe giọng nói não nùng nhƣ của ngƣời hấp hối ấy,

Thứ "đã lặng đi nhƣ thấy cả một nỗi cô đơn rót vào lòng" và cảm nhận thấm thía: "sao mà

buồn thế !". Nhƣng có lẽ, kinh rợn hơn cả là những giọng nói không ra giọng ngƣời mà nhƣ

giọng của những con thú. Giọng nói của nhân vật thằng Câm (Truyện người hàng xóm) là

thế. Mỗi khi muốn nói "cái mồm hắn run run để thoát ra những tiếng cổ họng giống như chó

tru". Giọng nói của bà Trinh trong Ma đưa cũng mang âm hƣởng thê thảm ghê ngƣời ấy:

"tiếng gì mà lọ quá, lúc run run, lúc ú ớ, có lúc tru lên như tiếng thú, nghe mà rợn". Hay cái

giọng của ông

188

Hộ (Tình già) cũng dị kỳ nhƣ từ thế giới bên kia vọng về, đến nỗi Thị Yên. con gái ông

không nhận ra mà cứ "tưởng ma quái gì"... Nhƣ vậy, trong thế giới nhân vật của Nam Cao,

không chỉ có những nhân vật vẹo vọ, xấu xí, dị dạng mà còn có cả những giọng nói méo mó

dị kỳ, quái đản. Phải chăng nó cũng là sản phẩm của một hoàn cánh phi nhân tính. Và nó

cũng là yếu tố góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh.

Đã có nhà nghiên cứu nói tới vấn đề tiếng khóc, nƣớc mắt trong tác phẩm Nam Cao.

Quả thực đây cũng là một hệ thống tín hiệu nghệ thuật đáng chú ý Nam Cao có một truyện

ngắn mang tên chủ đề này (Nước mắt). Nhƣng ở đây chúng tôi xin nói tới một hệ thống tín

hiệu về hình thức có thể coi là đối cực với chủ đề đó: tiếng cười của các nhân vật. Trong tác

phẩm của Nam Cao, không chỉ có rất nhiều nƣớc mắt mà còn có rất nhiều tiếng cƣời. Và âm

điệu của những tiếng cƣời ấy cũng rất phong phú đa dạng, nhiều sắc thái cung bậc. Khảo sát

hai tuyển tập tác phẩm Nam Cao, chúng tôi thấy có tới ngót 100 lần tác giả nói tới tiếng cƣời

của nhân vật. Nó hiện lên với nhiều sắc điệu. Có thể nói, ít có nhà văn hiện thực nào đƣơng

thời miêu tả tiếng cƣời của nhân vật ở nhiều cung bậc, kiểu cách đến thế: Cƣời khanh khách,

cười giòn giã, cười sặc sụa, cười ha ha, cười hừ hừ, cười sằng sặc, cười nức nở, cười rũ rượi,

cười rú, cười the thé, cười khánh khách, cười khi khìn khịt, cười ẳng ặc, cười hơ hớ, cười

khằng khặc, cười khú khí, cười ngặt nghẽo, cười hô hố, cười hi hi, cười hùng hục cười hừng

hực, cười ri rí, cười he hé, cười sòng sọc... có điều thật ít những tiếng cƣời sảng khoái hả hê

sung sƣớng, càng hiếm những tiếng cƣời hồn nhiên vô tƣ của trẻ nhỏ (mặc dù trong tác phẩm

Nam Cao cũng có nhiều nhân vật trẻ thơ), mà chủ yếu cũng là tiếng cƣời méo mó kỳ quái. Có

tiếng "cười như một đôi tri kỷ cuồng" của Chí Phèo và Tự Lãng (Chí Phèo); tiếng "cười như

những thằng điên " của cha con Trạch Văn Doanh thuở hàn vi (Đôi móng giò); "tiếng cười

sằng sặc nức nở như tiếng khóc" của vợ Đức (Nửa đêm); "Tiếng cƣời ằng ặc "....nghe còn

đau đớn hơn cả tiếng khóc của Thứ (Sống mòn); tiếng "cười nức nở" của ông Ngã (Truyện

người hàng xóm). Đặc biệt ám ảnh là những tiếng cười "quái dị" ghê ngƣời. Đó là tiếng cười

"nổ như xe

189

phành phạch" của bọn trai em trong Đôi móng giò; tiếng cười "ìn ịt như con ỉn" của một

nhân vật không tên trong Từ ngày mẹ chết; "tiếng cười nảy lên inh đạch" của mấy chị đẩy

xe bò trong Nhìn ngƣời ta sung sƣớng; hay tiếng cƣời "sền sệt trong cổ họng...hình như dính

chặt trong cổ họng, phải dãy giụa để ngoi ra" , "cười bằng thứ tiếng nặng nặc mỡ" của bà

Hai, "tiếng rời đặc sệt" của bà đỡ trong Truyện người hàng xóm... Trong thế giới âm thanh

tiếng cƣời ấy, chủ yếu là tiếng cƣời tâm lí, ngƣời ta cƣời có khi không phải vì buồn cƣời mà

"họ cười ầm ĩ như thể là để đẩy bớt chua cay ra khỏi lòng" (Nhìn người ta sung sướng), để

khuấy động cái cuộc sống đang chết lặng, mỏi mòn. Nhƣng tất cả những tiếng cƣời ấy cũng

chìm đi trên cái nền đen tối ảm đạm của cuộc đời. Có đôi lần ta nghe thấy tiếng cƣời mang

âm hƣởng của niềm vui nhƣ "tiếng cười trong trẻo giòn giã của Tiền" (Truyện người hàng

xóm) nhƣng tiếng cƣời ấy cũng chỉ "rướn lên như một tia nước lạc, cố rướn lên rồi rũ

xuống", nghĩa là nó lại chìm đi trong cái lặng lẽ tăm tối của xóm nhỏ ngoại ô. Có thể nói, mọi

biểu hiện của tiếng cƣời "thoát ra từ hững kiếp lầm than" đã vang vọng vào tác phẩm Nam

Cao. Nó cũng là một trong những hệ thống chi tiết nghệ thuật góp phần tạo dựng hoàn cảnh.

Cùng tới những âm thanh khác của cuộc đời: tiếng chửi bới, nguyền rủa, tiếng khóc, tếng thở

dài, tiếng rên rỉ, tiếng nghiến răng... hệ thống cung bậc những tiếng ngƣời ấy cũng góp phần

làm toát lên không khí ngột ngạt bế tắc, trì trệ của hoàn cảnh, làm nổi bật tính chất phi nhân

tính của môi trƣờng xã hội, một môi trƣờng làm biến dạng không chỉ hình hài, tâm tính mà cả

giọng nói, tiếng cƣời của con ngƣời.

4.4.3. Nhịp điệu dàn trải, ngƣng đọng

Nếu nhƣ nhịp điệu trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thƣờng nhanh, mạnh, hối hả,

dồn dập, đầy kịch tính, đầy những yếu tố bất ngờ thì nhịp điệu trong tác phẩm Nam Cao

thƣờng dàn trải, chậm rãi. Nó phản ánh nhịp vận động của đời sống. Đó là đời sống xã hội

Việt Nam những năm cuối cùng của

190

chế độ thực dân nửa phong kiến đang trong tình trạng trì trệ, ngƣng đọng, quằn quại trƣớc giờ

"lột xác".

Tất nhiên ở đây, không nói tới nhịp điệu của tổ chức lời văn - nhịp điệu đƣợc tạo nên

từ ngôn ngữ ngƣời kể chuyện mà nói tới nhịp điệu với tƣ cách là yếu tố năm trong câu trúc

hoàn cảnh. Nhịp điệu dàn trải ngƣng đọng trong tác phẩm Nam Cao đƣợc toát lên từ nhiều

yếu tố.

Trong tác phẩm Nam Cao, ít có những sự kiện , ít có những đột biến, khoảng cách sự

kiện. Theo Trần Đình Sử, khi nghiên cứu cốt truyện của A. Sê-khốp, nhà nghiên cứu A.

Suđacốp " nhận thấy trong truyện ngắn của , A.Sê -khốp sự kiện không ít hơn trong truyện

của bất cứ nhà văn nào, song ngƣời ta vẫn cho rằng truyện của ông " không có chuyện". Đó là

vì thông thƣờng, sự kiện lớn phải cho kết quả lớn, thay đổi lớn, nhƣng các sự kiện trong

truyện ngắn Sê-khốp thì tuy có diễn ra nhƣng không làm thay đổi gì cả. Ví dụ sự kiện chủ yếu

trong truyện Hai vợ chồng là ngƣời chồng bắt gặp bức điện của ngƣời tình của vợ. Thế là

nhớ lại bao sự việc xung quanh, xảy ra ý nghĩ của nhân vật: Làm sao mà mình, con trai của vị

cha cố làng, về đào tạo là học sinh nội tru trƣờng đạo, một con ngƣời bình thƣờng, thô thiển,

trực tính lại có thể buông ly chịu lép trƣớc con ngƣời đê tiện, tầm thƣờng, giả dối này, một kẻ

về bản hất là hoàn toàn xa lạ với mình ? ". Ấy thế nhƣng rút cuộc, lúc mƣời một giờ, anh ta

mặc áo để đi đến sở thì ngƣời hầu vào nhắc anh ta đƣa tiền cho vợ. Mọi việc lại nhƣ cũ. Nhƣ

vậy sự kiện ở đây là: Cái đáng lẽ phải xảy ra lại không xảy ra !" [229.143]. Tác phẩm Nam

Cao cũng có loại sự kiện nhƣ thế. Sự kiện cái đáng lẽ phải xảy ra lại không xảy ra trong tác

phẩm Nam Cao, nhiều hơn sự kiện xảy ra La Khắc Hòa (Lã Nguyên) cũng đã nhận xét một

cách hình tƣợng về đặc điểm này : "Lấy có sự làm "sƣờn" cho truyện ngắn, các nhà văn

thƣờng chọn những sự kiện đƣợc tạo thành bởi mối quan hệ nhân quả ở chính thời điểm có

biến cố, tức là lúc mà "nhân" đang chuyển thành "quả" làm cho tình trạng cân bằng của thế

giới nghệ thuật bị phá vỡ, số phận của nhân vật

191

hoàn toàn thay đổi. "Nhân" to, ắt "quả" sẽ lớn. Và "quả" càng lớn thì cảm giác "nhân" to ở

ngƣời đọc càng rõ. Nam Cao ít sử dụng loại sự kiện và biến cố tƣ thế. Cây ra hoa tất hoa sẽ

thành quả. Nhƣng lẽ tự nhiên, bên cạnh những hoa đơm trái bao giờ cũng có hoa điếc. Phần

lớn sự kiện và biến cố trong sáng của Nam Cao chính là cái " hoa điếc" của đời sống" [84].

Quả thực, dọc phẩm Nam Cao, ngƣời đọc chờ đợi "quả" thì lại chỉ có "nhân", chờ đợi " " thì

"hoa điếc", chờ đợi cái lẽ ra sẽ xảy ra, thì nó lại không xảy ra... Bởi vậy ngƣời ta có cảm

tƣởng truyện của Nam Cao thƣờng "không có chuyện" và nhịp điệu tác phẩm Nam Cao

thƣờng dàn trải, ngƣng đọng.

Trƣớc sự tàn bạo, bội bạc, nhẫn tâm của thằng chồng vũ phu, ngƣời đọc chờ đợi một

sự phản ứng, dù chỉ là tiêu cực của Dì Hảo (Dì Hảo) nhƣng điều chờ đợi đó không bao giờ

xảy ra. Khi thấy chồng dẫn về " một ngƣời vợ theo trơ tráo", dì Hảo đã "ngạc nhiên" và " tức

tối". Thế nhƣng "sau cùng thì dì nhẫn nại ; phải nhẫn nại vẫn là hơn ; nếu hắn không về thì

vẫn thế". Và khi con vợ bé" ấy sau một trận loạn đả với kẻ mà thị đã theo, bỏ đi, rồi thằng

hồng cũng bỏ đi, dì Hảo cũng đã "ngạc nhiên" và " tức tối". Nhƣng rồi "sau cùng thì thị nhẫn

nại. Phải, nhẫn nại là hơn, nếu hắn cứ ở nhà thì cũng thế ". nghĩa là mọi sự vẫn không có gì

thay đổi. Một loạt các nhân vật trí thức trong tác phẩm của Nam Cao (Thứ - Sống mòn ; Điền

- Trăng sáng, Nước mắt ; Hộ - Đời thừa ...) đã có biết bao nhiêu dự định, toan tính. Trong

đó có những dự định rất đời thƣờng, cảm động (lĩnh lƣơng ở tòa báo ra, Hộ (Đời thừa) dự

định" Mua mấy hào thịt, vài cái bánh tây, gói đem về ... Hắn tƣởng tƣợng cái ảnh lũ con cháu

ăn và đói khát, rón thịt bằng tay và ăn những miếng bánh thật no , miệng phụng phịu và môi

bóng nhờn những mỡ"). Có cả những dự định rất cao đẹp, nhƣ dự định của Hộ (Đời thừa): "

Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhƣng quyển ấy sẽ ăn giải Nobel và đƣợc dịch

ra đủ mọi thứ tiếng trên toàn cầu !" ; dự định của Thứ (Sống mòn): "... khi nhà trƣờng đã

thuộc hẳn về tay y ... y tin chắc rằng nó sẽ không chỉ thế này thôi. Nó sẽ biến hơn rất nhiều ...

y sẽ đem theo vợ con. Còn bao nhiêu lời lãi sẽ đập cả vào cái quĩ

192

chung của nhà trƣờng. Trong cái quĩ ấy, bao nhiêu phần sẽ dùng vào việc mở mang, bao

nhiêu phần sẽ dùng vào những cuộc phát thƣởng, bao nhiêu phần sẽ giữ lại cho giáo viên vào

mỗi cuối năm, bao nhiêu phần sẽ chia cho họ để làm cho họ một số tiền về hƣu Nhƣng tất cả

những dự định tầm thƣờng hoặc cao đẹp ấy đều chỉ là dự định, nó không bao giờ xảy ra. Nó

luôn dừng ở thì tƣơng lai: Hắn sẽ, y sẽ, y định, hắn định ... là những cụm từ xuất hiện nhiều

trong tác phẩm của Nam Cao. Những cái " sẽ ", cái "định" đó là điều ngƣời đọc chờ đợi, hy

vọng cùng nhân vật, nhƣng nó vẫn không xảy ra. Cuộc sống của các nhân vật luôn chìm chân

lại chỗ, thậm chí ngày một tâm vào tình cảnh bi đát hơn. Nó không thoát khỏi cái vòng luẩn

quẩn của sự đói nghèo, bế tắc, nhạt nhẽo, vô vị. Bởi vậy đọc tác phẩm Nam Cao, ngƣời ta dễ

có cảm tƣởng truyện của ông thƣờng " không có chuyện".

Nhịp điệu dàn trải, ngƣng đọng trong nhiều tác phẩm Nam Cao còn toát lên từ một

thủ pháp quen thuộc. Đó là sự miêu tả quá khứ qua hồi tƣởng, dòng tâm trạng, từ đó khắc hoa

ấn lƣợng thời gian kéo dài trong tâm hồn so với thời gian ngắn ngủi trong thực tế. Nhiêu khi

chỉ từ một sự việc rất bình thƣờng trong cuộc sống, nhân vật của Nam Cao hồi tƣởng rất

nhiều, rất lâu về quá khứ, về cái đã và đang xảy ra. Sự hồi tƣởng, liên tƣởng ấy làm cho nhịp

điệu trần thuật chùng lại (chẳng hạn: từ câu chuyện đi chợ mua thức ăn của Mô, tác giả dành

tám trang tiếp theo cho nhận vật Thứ hồi tƣởng, suy nghĩ về những kỷ niệm buồn xoay quanh

miếng ăn, sau dỏ mới trở lại cuộc đối thoại giữa hai nhân vật này ; từ việc tính toán lỗ, lãi qua

bữa cơm của bà cụ Hà, Thứ cũng lại liên tƣởng rất lâu, rất nhiều về cuộc sống đói khổ của

biết bao ngƣời dân ở quê mình phải " ăn cháo rau má, cháo cám, rau luộc trừ cơm " ; về lão

ăn mày" có những chiếc răng thƣa đến nỗi chẳng chiếc nào dính chiếc nào, cũng dài, cũng

rớt, cũng bẩn thỉu nhƣ cái thân hình còm rom và dài thƣờn thƣợt của lão ta ". Và " Y lại nghĩ

đến bà, đến mẹ, đến vợ, đến em nghĩ đến Liên, đến ngƣời vợ của mình). Có thể tìm thấy

trong tác phẩm Nam Cao rất nhiều những cụm từ: hắn nghĩ đến, y tưởng tượng tới, hắn liên

tưởng tới, y nghĩ, y cố tưởng tượng ra hắn nhớ tới ... Có thể nói Nam Cao có xu hƣớng rút

ngắn khung thời gian

193

kiện bên ngoài, kéo dài thời gian bên trong tâm hồn. Điều đó góp phần tạo nhịp điệu và từ đó

tạo không khí cho hoàn cảnh.

Bên cạnh đó, sự lặp lại của các câu chuyện, luận bàn, tranh cãi, dằn vặt ra các nhân

vật trong nhiều tác phẩm Nam Cao thƣờng chỉ xoay quanh chủ : miếng ăn, cái đói, tiền nong,

chi tiêu ... cũng là yếu tố tạo nhịp điệu dàn trải, chậm rãi, ngƣng đọng. Chẳng hạn, theo thống

kê của chúng tôi, trong Sống mòn có 90 đoạn đối thoại giữa các nhân vật thì có tới 56 lần các

nhân nói tới chủ đề này. Tất nhiên, sự lặp lại của những câu chuyện, luận bàn về vấn đề

miếng ăn, cái đói không chỉ góp phần tạo nhịp điệu, từ đó tạo không khí cho hoàn cảnh mà nó

còn thể hiện quan niệm của Nam Cao về hoàn cảnh. là văn cảm nhận hoàn cảnh ở khía cạnh

tồn tại vật chất, ở phƣơng diện tồn thấp nhất, sơ đẳng nhất.

Cuối cùng, có thể nói rằng nhịp điệu dàn trải, ngƣng đọng trong tác phẩm Nam Cao

đã góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh và nó cũng thể hiện quan điểm của nhà văn về sự

bất biến, trì trệ, không thay đổi của hoàn cảnh.

*

* *

Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao, chúng tôi hiểu

rõ hơn quan niệm nghệ về hoàn cảnh của nhà văn. Đó là quan niệm về một hoàn cảnh phi

nhân tính, hoàn cảnh không cho con ngƣời đƣợc sống cuộc sống bình thƣờng của con ngƣời.

Hoàn cảnh đó không chỉ giết chết con ngƣời về phần xác mà còn gặm nhấm, hủy diệt họ cả

về phần hồn - hoàn cảnh làm tha hóa con ngƣời. Bên cạnh đó còn là quan niệm về một hoàn

cảnh bất biến, trì trệ, không đổi thay - hoàn cảnh tạo nên những kiếp " Sống mòn". Tất cả

những quan niệm ấy về hoàn cảnh không biểu hiện bằng những thuyết lý khô khan trừu

tƣợng, mà nó đƣợc thể hiện một cách chân thực, sâu sắc, truyền cảm thông qua cấu trúc nghệ

thuật của hoàn cảnh với những hệ thống yếu tố nghệ thuật phong phú đầy ấn tƣợng. Hoàn

cảnh trong tác phẩm Nam Cao đã trở thành hình tƣợng hoàn cảnh, bởi lẽ nó đã đƣợc xây

dựng một cách nghệ thuật, nó mang những giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ.

194

Xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật (để phản ánh hoàn cảnh xã hội), so với các nhà văn

hiện thực đƣơng thời, Nam Cao chú ý nhiều hơn tới phƣơng diện đời sống tinh thần của con

ngƣời, phản ánh hoàn cảnh qua việc tái hiện thế giới tinh thần của nhân vật. Nói cách khác,

thế giới tinh thần của nhân vật không chỉ chịu sự tác động của hoàn cảnh mà nó còn phản ánh

hoàn cảnh, góp phần tạo dựng hoàn cảnh. Bởi vậy nếu so sánh với Ngô Tất Tố và Vũ Trọng

Phụng ta có thể thấy rất rõ là cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm của hai nhà văn này (Tắt

đèn, Giống tố ...) là sự tố cáo mạnh mẽ xã hội, là lột trần, xé toang cái mặt nạ đổ phơi bày bộ

mặt thật của xã hội, thì ở Nam Cao lại là sự trăn trở, tìm tòi những quy luật khắc nghiệt của

xã hội đang dần "bóp chết" con ngƣời trong những kiếp sống mỏi mòn tăm tối. Từ đó, nhà

nhân đạo Nam Cao muốn tìm một lối thoái, một cách cứu vớt con ngƣời. Phản ánh hoàn cảnh

qua việc tái hiện thế giới tinh thần nhân vật hoàn toàn không có nghĩa là thoát ly hoàn cảnh

xã hội. Bởi vì "càng đi sâu vào thế giới bên trong thì không phải con ngƣời bị tách khỏi xung

quanh, mà trái lại, nó càng cảm nhận nổi bật tính qui định của các quan hệ xã hội ở bên

ngoài" [227.356]. Và hơn nữa, có lẽ vì thế sự tác động truyền cảm của tác phẩm Nam Cao từ

phƣơng diện hoàn cảnh càng trở nên mãnh liệt và có chiều sâu.

Và cuối cùng, cũng phải thấy rằng hoàn cảnh nghệ thuật trong tác phẩm Nam Cao, có

một vai trò to lớn trong việc xây dựng, thể hiện những tính cách nghệ thuật. Nói tới Nam

Cao, ngƣời ta nhớ tới những Thứ, Điền, Hộ, Lão Hạc, Chí Phèo... Nhƣng để có đƣợc ấn

tƣợng ấy, Nam Cao đã phải có một tài năng xây dựng hoàn cảnh. Bởi vì tất cả những nhân

vật ấy sẽ. trở nên nhợt nhạt, thiếu sức sống nếu chúng không đƣợc đặt trong một cấu trúc

nghệ thuật của) hoàn cảnh, không đƣợc đặt trong một hoàn cảnh nghệ thuật. Tính cách nghệ

thuật đƣợc làm nổi bật trong hoàn cảnh nghệ thuật và hoàn cảnh nghệ thuật đƣợc đan dệt nên

bởi nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là những tính cách nghệ thuật. Đây là mối quan hệ gắn bó

hữu cơ trong tác phẩm Nam Cao.

195

KẾT LUẬN

Từ việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn ảnh trong

văn xuôi hiện thực qua một số tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam

Cao, chúng tôi thấy có thể rút ra một số kết luận sau đây:

1. Vấn đề hoàn cảnh đã đƣợc các nhà nghiên cứu đặt ra và tìm hiểu trong quá trình

khám phá, tiếp nhận các tác phẩm văn học hiện thực. Tiếp theo quá trình đó, luận án này đại

ra vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của trào lƣu văn học hiện thực và giải quyết

bƣớc đầu nhƣ một vấn đề lý thuyết. Nói cách khác, lần đầu tiên, vấn đề thi pháp hoàn cảnh

của văn học hiện thực đƣợc nghiên cứu một cách hệ thống, có ý thức. Quan niệm nghệ thuật

về hoàn cảnh thể hiện qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Bởi vậy, luận án đã đƣa ra một

cơ sở lý thuyết về nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học. Trên cơ sở lý

thuyết ấy, chúng tôi đã khảo sát phân tích cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong một số tác

phẩm tiêu biểu của các tác giả: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao. Từ đó bƣớc đầu thấy

đƣợc quan" niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn hiện thực thể hiện trong mới số

tác phẩm tiêu biểu. Quá trình áp dụng cơ sở lý thuyết về cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh

vào việc nghiên cứu vấn đề hoàn cảnh của trào lƣu văn học hiện thực vừa làm sáng rõ, minh

chứng cho cơ sở lý thuyết, vừa giúp chúng tôi hiểu sâu hơn bản chất nghệ thuật của hoàn

cảnh trong các tác phẩm của văn học hiện thực.

Đặt vấn đề tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn học hiện thực, ý

nghĩa của đề tài không chỉ dừng ở việc nghiên cứu một vấn đề của một khuynh hƣớng sáng

tác mà còn là vấn đề của thể loại văn học. Trên cơ sở đó, chúng tôi đi tới xác lập thêm một

hƣớng tiếp cận phân tích vấn đề hoàn

196

cảnh từ phƣơng diện giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ. Từ đó, khám phá sự phong phú về mặt

nghệ thuật - thẩm mỹ của hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực. Từ những gì rút ra qua nghiên

cứu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong một số tác phẩm trên đây, chúng tôi càng nhận

thức rõ rằng, hoàn cảnh chi có thể hiểu trong cái nhìn tổng thể, trong tính chỉnh thể của nó ;

cảm thụ hoàn cảnh là cảm thụ toàn bộ, cảm thụ từ những chi tiết nhỏ nhất trong tác phẩm ;

quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh đƣợc thể hiện qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật chứ nó

không biểu hiện bằng một khái niệm trừu tƣợng. Và tìm hiểu hoàn cảnh trong các tác phẩm

văn học hiện thực, bên cạnh việc tiếp cận nó ở phƣơng diện xã hội, ngƣời nghiên cứu còn

phải tiếp cận ở phƣơng diện giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ. Đây cũng là mội cách trả cho văn

học trở về với bản chất của văn học, nghĩa là nhìn nhận tác phẩm văn học nhƣ nhìn nhận một

tác phẩm nghệ thuật.

2. Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong một số tác phẩm tiêu biểu của

Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao, chúng tôi thấy có những quan niệm nghệ thuật về

hoàn cảnh trong văn học hiện thực thời kỳ 1930 - 1945. Nó không phải là quan niệm nhất

thành bất biến mà có sự thay đổi. Và qua đó, chúng tôi cũng thấy rằng, nhà văn không chỉ ý

thức về hoàn cảnh, không chỉ thấy đƣợc vai trò, tác động của hoàn cảnh đối với việc hình

thanh tính cách và số phận con ngƣời, mà họ còn có ý thức trong việc sáng tạo hoàn cảnh.

Những sáng tạo ấy biểu hiện ở những cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong những tác

phẩm văn học cụ thể. Từ những cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh với hệ thống những tín

hiệu nghệ thuật ở nhiều cấp độ, tầng bậc của nó hoàn cảnh đã đƣợc thế hiện một cách nghệ

thuật. Và chính hoàn cảnh nghệ thuật ấy đã trở thành một trong những yếu tố góp phần tạo

nên sức truyền cảm, ám ảnh mạnh mẽ của các tác phẩm văn học đối với ngƣời đọc, tạo nên

sức hấp dẫn và sức sống lâu bền cho các tác phẩm của trào lƣu văn học hiện thực. Đọc các tác

phẩm của các nhà văn hiện thực (tiêu biển nhƣ Tắt đèn

197

của Ngô Tất Tố, Giống tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Sống mòn của Nam Cao)... ngƣời

đọc không chỉ có ấn tƣợng đối với số phận, tính cách, ấn tƣợng về những chị Dậu, Nghị

Hách, Xuân Tóc Đỏ, Thứ, San ... mà còn bị ám ảnh bởi cái không khí xã hội đã đƣợc tái tạo

một cách nghệ thuật trong các cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Thậm chí, có khi, cái không

khí ấy còn ám ảm mạnh mẽ, sâu sắc không kém các hình tƣợng tính cách. Bởi vì khi gấp

trang sách lại, cùng với đƣờng nét về các nhân vật lƣu lại trong tâm trí, sự ám ảnh của không

khí chung toát ra từ tác phẩm vẫn còn để lại những dƣ âm mạnh mẽ nhƣ một "vĩ thanh"

không bao giờ dứt trong tâm hồn ngƣời đọc.

3. Từ Ngô Tất Tố tới Nam Cao, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi

hiện thực ngày càng phong phú, bao quát, sâu sắc. Nếu nhƣ ở Ngô Tất Tố hoàn cảnh chủ yếu

đƣợc thể hiện ở những yếu tố khách quan nằm ngoài nhân vật và đƣợc cảm nhận qua lăng

kính của chính nhà văn thì đến Nam Cao, hoàn cảnh còn đƣợc thể hiện qua những yếu tố

trong chính bản thân nhân vật, qua tất cả những âm thanh vang vọng của cuộc sống đời

thƣờng và nó đƣợc cảm nhận qua chính bản thân nhân vật. Sự tác động nghiệt ngã của hoàn

cảnh đã không chỉ ảnh hƣởng tới đời sống vật chất mà còn ảnh hƣởng sâu sắc tới đời sống

tinh thần của con ngƣời. Hoàn cảnh đã hiện lên và soi bóng trong đáy sâu tâm hồn con ngƣời.

Các nhà văn hiện thực đều ý thức về vai trò tác động của hoàn cảnh tới nhân cách con ngƣời

.Đến Nam Cao ý thức đó càng trở nên đầy đủ và đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật.

4. Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về cơ chế hoàn cảnh, mỗi tác giả văn học

hiện thực đã phản ánh những cơ chế hoàn cảnh không giống nhau, mặc dù đối tƣợng phản

ánh đó đều là hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945. Từ đó các nhà văn hiện thực

thời kỳ này đã xây dựng đƣợc một bức tranh phong phú về đời sống xã hội, tái tạo nên diện

mạo của một thời kỳ lịch sử. Mỗi tác phẩm của các nhà văn hiện thực là một mảng đời sống

xã hội đƣợc tái tạo một cách nghệ thuật. Cho nên ở đó không chỉ hiện lên

198

những hình tƣợng tính cách mà còn hiện lên những hình tƣợng hoàn cảnh. Vì cùng đứng

trƣớc một đối tƣợng phản ánh, lại có những quan điểm nghệ thuật gần gũi - quan điểm nghệ

thuật của các nhà văn thuộc trào lƣu văn học hiện thực, cho nên quan niệm nghệ thuật về

hoàn cảnh trong các tác phẩm của các tác giả hiện thực vẫn có những nét chung, có điểm

tƣơng đồng bên cạnh những nét khác biệt. Điểm chung đó là, các nhà văn hiện thực đều ý

thức rất rõ về sự tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh đối với con ngƣời. Nhƣng mỗi nhà văn,

xuất phát từ cái nhìn của riêng mình, từ vốn thực tế và cảm quan nghệ thuật của riêng mình,

lại thể hiện điều đó ở những góc độ khác nhau, với những chiều sâu khác nhau. Rõ ràng là,

vẫn trƣớc hiện thực xã hội chung ấy, nhƣng các nhà văn hiện thực đã phản ánh những cơ chế

hoàn cảnh khác nhau, những kiểu loại mâu thuẫn, xung đột không giống nhau ... và không khí

xã hội đƣợc thể hiện thành không khí nghệ thuật trong tác phẩm của các nhà văn không phải

bao giờ cũng giống nhau. Nghĩa là nó cũng phong phú, phức tạp, đa dạng nhƣ chính cuộc đời.

Sự phức tạp, đa dạng của cuộc đời, những kiểu loại môi trƣờng, hoàn cảnh ở nhiều mảng đời

sống xã hội, từ nông thôn tới thành thị, từ xã hội thƣợng lƣu đến xã hội của những kẻ sống ở

"dƣới đáy" đã đƣợc các nhà văn hiện thực tái tạo một cách nghệ thuật và rất có không khí.

5. Việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực 1930 -

1945 qua một số tác phẩm tiêu biểu cuả Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao giúp

chúng ta hiểu thêm một phƣơng diện thi pháp của trào lƣu văn học này, thấy đƣợc vai trò của

cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn; hiểu đƣợc một trong những yếu tố làm nên sự phong

phú, đa dạng của văn học hiện thực. Từ đó thấy đƣợc đóng góp quan trọng của các nhà văn

hiện thực về hình thức nghệ thuật của văn học thời kỳ 1930 -1945 nói riêng và nền văn học

dân tộc nói chung. Chúng tôi nghĩ rằng, những kết luận trên sẽ đƣợc khẳng định hơn khi đề

tài đƣợc mở rộng sang việc nghiên cứu một số các tác

199

gia tiêu biểu khác trong nào lƣu văn học hiện thực nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng,

Tô Hoài, Kim Lân...

Tìm hiểu hoàn cảnh ở góc độ cấu trúc nghệ thuật để từ đó thấy đƣợc quan niệm nghệ

thuật về hoàn cảnh của nhà văn, chúng tôi muốn góp thêm một cách tiếp cận, một cách nhìn

mới, làm phong phú thêm con đƣờng đi vào thế giới nghệ thuật của các nhà văn. Từ cách tiếp

cận đó, chúng tôi sẽ tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn

cảnh trong tác phẩm của nhiều nhà văn hiện thực khác (và ngay trong số các tác phẩm của ba

nhà văn : Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, chúng tôi thấy cũng còn nhiều tác phẩm

cần tiếp tục nghiên cứu theo phƣơng hƣớng này). Nếu có điều kiện nghiên cứu các tác phẩm

văn học hiện thực một cách hệ thống, toàn diện hơn, thì chúng tôi nghĩ rằng, vấn đề bức tranh

hoàn cảnh trong văn học hiện thực sẽ đƣợc hiện lên đầy đủ, rõ ràng hơn. Từ đó sẽ làm sáng tỏ

hơn phƣơng diện nghệ thuật ở những kết luận về vấn đề hoàn cảnh của văn học hiện thực mà

những ngƣời đi trƣớc đã khám phá. Chúng tôi cũng hy vọng rằng từ góc độ tiếp cận này,

những ngƣời nghiên cứu sẽ làm sáng rõ hơn tài năng nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt là các

nhà văn hiện thực, những con ngƣời rất ý thức về vai trò, tầm quan trọng của hoàn cảnh. Mặt

khác, với vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh, theo chúng lôi, ngƣời nghiên cứu còn

có thể mở rộng tới việc tìm-hiểu một số trào lƣu văn học khác đƣơng thời, kể cả nền văn xuôi

Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay.

200

DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ

(Có liên quan đến đề tài luận án đã công bố)

1. Phạm Mạnh Hùng (1997), "Quan niệm nghệ thuật về môi trƣờng của con ngƣời trong tiểu

thuyết "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Khoa học và CN - Đại học Thái

Nguyên, số 2.

2. Phạm Mạnh Hùng (1998), " Cảm nhận môi trƣờng phi nhân tính trong tác phẩm Nam

Cao", Tạp chí Khoa học và CN - Đại học Thái Nguyền, số 4.

3. Phạm Mạnh Hùng (2000), "Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học", Tạp chí

Khoa học và công nghệ - DHTN số 1.

4. Phạm Mạnh Hùng (2000), "Một hệ thống chi tiết nghệ thuật thể hiện không khí hoàn cảnh

của tác phẩm Tắt đèn", Thông báo Khoa học - ĐHSP Thái Nguyên, số 3.

5. Phạm Mạnh Hùng (2000), "Khảo sát hệ thống yếu tố nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ

thuật về hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao", Tạp chí Văn hoa nghệ thuật, số 10.

6. Phạm Mạnh Mùng (2000), "Hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện và việc thể hiện hoàn cảnh

nghệ thuật trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Đại học

Thái Nguyên, số 4.

7. Phạm Mạnh Hùng: "Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh và việc miêu tả thế giới thiên

nhiên cảnh vật trong tác phẩm Nam Cao", Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số2/2001.

8. Phạm Mạnh Hùng (2001), "Bƣớc đầu tìm hiểu hoàn cảnh nghệ thuật trong tác phẩm Nam

Cao trƣớc cách mạng", Tạp chí Giáo dục, số4.

9. Phạm Mạnh Hùng (2001), "Tìm hiểu hoàn cảnh nghệ thuật trong Tắt đèn của Ngô Tất

Tố", Tạp chí Văn học, số 8.

201

THƯ MỤC THAM KHẢO

A. Tiếng Việt:

1. T.A (2000), "Tắt đèn bị thu hồi", Ngô Tất Tố về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà

Nội.

2. Alain Robbe - Grillet (1998), Vì một tiểu thuyết mới (Lê Phong Tuyết dịch), Nxb Hội nhà

văn, Hà Nội

3.Vũ Tuấn Anh (1992), "Phong cách truyện ngắn Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội.

4. Vũ Tuấn Anh (1994), (chu biên), Thạch Lam văn chương và cái đẹp, Nxb Hội nhà văn, Hà

Nội.

5. Đào Tuấn Ảnh (1993), "Tsê khốp và Nam Cao - Một sáng tác hiện thực kiểu mới", Tạp chí

Văn học, số 1 (253).

6. Lại Nguyên Ân (1990), "Một khía cạnh ở nhà báo Vũ Trọng Phụng - ngƣời lƣợc thuật

thông tin quốc tế", Tạp chí Văn học, số 2.

7. Lại Nguyên An (1992), "Nam Cao và cuộc cách tan văn học đầu thế kỷ XX", Tạp chí Văn

học, số.

8. Lại Nguyên Ân, biên soạn (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

9. Sylvan Bamet, Morton Berman, NVilliam Burto (1992), Nhập môn văn học (Hoàng Ngọc

Hiến dịch và giới thiệu), Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.

10. Bakhtin. M (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,

Vƣơng Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

11. Bakhlin. M(1992), Lý luận vờ thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cƣ tuyển chọn, dịch và

giới thiệu), Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.

12. Bành Bảo (197-1), "Đƣa Tắt đèn lên phim", Báo Văn nghệ số ra 5/4/1974.

202

13. Nguyễn Hoa Bằng (1999), "Thời gian nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao", Tạp chí Văn

học, số 11.

14. Vũ Bằng (2000), "Về một truyện dài nổi tiếng nhất của Ngô Tất Tố: Truyện Tắt đèn ",

Ngô Tất Tố về tác giả tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

15. Trần Văn Ban (1965), "Về bản chất của điển hình", Tạp chí Văn học, số 3/1965.

16. Trần Văn Binh (1970), "Phản ánh luận của Lênin và một số vấn đề văn học", Mấy vấn đề

lý luận văn học, Nxb Khoa học Xã hội.

17. Trần Văn Bính (1980), "Ánh sáng kỳ diệu", Tạp chí Văn học, số 2/1980.

18. Nam Cao ( Cao truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

19. Nam Cao (1997) Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, Hà Nội.

20. Cao Hữu Công, Mai Tổ Lâm (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Trần Đình Su - Lê

Tẩm địch, Nxb Văn học, Hà Nội.

21. Phạm Tú Châu (1992), "Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và A.Q", Tạp chí Văn học, số 1

/1992.

22. Trƣờng Chinh (1985), Về văn hóa và nghệ thuật (2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.

23. Huệ Chi, Phong Lê (1000), "Vài vấn đề về văn học sử giai đoạn 1930-1945", Tạp chị Văn

học, số 5/1990.

24. Hiện Chi (19%), "Đọc Giống tố của Vũ Trọng Phụng", Nhà văn Vũ Trọng Phụng với

chúng ta - NXB TP. Hồ Chí Minh. 1999.

25. Huệ Chi - Phong Lê [1960], "Đọc" Truyện Ngắn Nam Cao" soi lại những bƣớc đƣờng đi

lên của một nhà văn hiện thực", Tạp chí Văn nghệ, số 8-1960.

203

26. Trƣơng Chính (1994), Lời giới thiệu tuyển tập Ngô Tất Tố, tập I - Nxb Văn học, Hà Nội.

27. Nguyễn Đình Chú (1990), "Đôi mắt của Nam Cao", Tạp chí Văn học số 3-1990.

28. Hồng Chƣơng (2000), "Tắt đèn - Cuốn tiểu thuyết hiện thực xuất sắc", Ngô Tất Tố về tác

giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

29. Đỗ Đức Dục (1981), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Phương Tây, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.

30. Trƣơng Đăng Dung và Nguyễn Cƣơng (chủ biên) (1990), Các vấn đề của khoa học văn

học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

31. Trƣơng Đăng Dung (1996), "Tác phẩm văn học nhƣ là quá trình" Tạp chí Văn học, số 12

(298) tháng 12-1996.

32. Đinh Trí Dũng (1992), "Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của

Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, hà Nội.

33. Đinh Trí Dũng (1996), "Sự thể hiện con ngƣời "tha hóa" trong các tiểu thuyết hiện đại của

Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 5 (291) tháng 5-1996.

34. Phan Huy Dũng (1992), "Bàn luận về ý nghĩa thẩm mỹ của cái gọi là yếu tố tự nhiên chủ

nghĩa trong tác phẩm Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

35. Nguyễn Đức Đàn (1968), Mấy vấn đế văn học hiện thực phê phán Việt Nam,NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội.

36. Nguyễn Đức Đàn (1974), "Ngô Tất Tố và thời đại", Báo Văn nghệ 5/4/1974.

37. Nguyền Đức Đàn (1999), "Vũ Trọng Phụng" Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb Thành

phố Hồ Chí Minh.

204

38. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

39. Phan Cự Đệ - Nguyên Đức Đàn (1962), Ngô Tất Tố, Nxb Văn học, Hà Nội.

40. Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hện đại, lập I, Nxh Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội.

41. Phan Cự Đệ (1989), "Đánh giá lại Số dỏ", Báo Giáo viên nhân dân số đặc biệt, Hà Nội.

42. Phan Cự Đệ (1990), Tự lực văn đoàn - con người và văn chương, Nxb Văn học.

43. Phan Cự Đệ - Nguyễn Trác - Hà Minh Đức (1992), Văn học Việt Nam 1930 -1945, Nxb

Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.

44. Phan Cự Đệ (1993), "Ngô Tất Tố và sự nghiệp đổi mới hôm nay", Ngô Tất Tố với chúng

ta, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

45. Phan Cự Đệ (1996), Lời giới thiệu Ngô Tất Tố toàn lập (5 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.

46. Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

47. Phan Cự Đệ, Nguyễn Đức Đàn(1999),Bước đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của

Ngô Tất Tố, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

48. Phan Cự Đệ (2000), Tuyển tập Phan Cự Đệ (4 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.

49. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội.

50. Hà Minh Đức (1961), Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc, Nxb Văn hóa, Viện Văn

học, Hà Nội.

51. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

52. Hà Minh Đức (1978), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, tập I, Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội.

205

53. Hà Minh Đức (1981), "Nam Cao - thời gian và sự khám phá", Tạp chí Văn học, số 6.

54. Hà Minh Đức (1983), Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975) tập II, Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội.

55. Hà Minh Đức (1988), "Đọc lại Nam Cao", Những cánh hoa tàn, Nxb Tác phẩm mới, Hà

Nội.

56. Hà Minh Đức (1992)," Nam Cao phê phán và tự phê phán", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb

Hội nhà văn, Hà Nội.

57. Hà Minh Đức (chủ biên) (1993), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

58. Hà Minh Đức (chủ biên)(1997), Lý luận văn học (tái bản lần thứ 4), Nxb Giáo dục, Hà

Nội.

59. Hà Minh Đức (1997),"Nam Cao qua một cuộc hội thảo ở nƣớc ngoài", Nam Cao đời văn

và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

60. Hà Minh Đức (1997)," Ngô Tất Tố - Nhà văn tin cậy của nông dân", Các nhà văn được

giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

61. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại (Bình giảng và phân tích tác phẩm),

Nxb Thanh niên, Hà Nội.

62. Hà Minh Đức (1998), Đi tìm chân lý nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà Nội.

63. Hà Minh Đức (1998), Nam Cao đời văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

64. Hà Minh Đức (1998),"Tiểu phẩm văn học và báo chí của Ngô Tất Tố", Tạp chí Văn học,

số 1 (321), tháng 11/1998.

65. Hà Minh Đức (1999), "Nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Ngô Tất Tố về

tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

66. Hà Minh Đức (2000), "Phóng sự của Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Văn học. số 1/2000.

67. Gorki. M (1970), Gorki bàn về văn học (2 tập - tái bản lần 2), Nxb Văn học, Hà Nội.

206

68. Heghen (1999) Mỹ học (2 tập - Phan Ngọc dịch), Nxb Văn học, Hà Nội.

69. Lê Thị Đức Hạnh (1983), "Một nghệ thuật viết tiểu phẩm đặc sắc", Tạp chí Vân học, số 6

-1983.

70. Lê Thị Đức Hạnh (1989), "Nhìn lại việc đánh giá Vũ Trọng Phụng, suy nghĩ về vấn đề

đổi mới tƣ duy trong nghiên cứu văn học" Tạp chí Văn học, số 1-1989.

71. Nguyễn Văn Hạnh (1992) "Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lƣơng-thiện xứng

đáng", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn. Hà Nội.

72. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Nhƣ Phƣơng (1998), Lý luận văn học, vấn dề và suy nghĩ,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

73. Nguyễn Văn Hạnh (1993), Nam Cao - Một đời người một đời văn, Nxb Giáo dục, Hà

Nội.

74. Nguyễn Văn Hạnh (1999)," Về nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng", Nhà văn Vũ

Trọng Phụng với chúng ta, Nxb thành phố Hồ Chí Minh .

75. Hoàng Ngọc Hiến (1990), "Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ", Tạp chí Văn

học, số 2.

76. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà

Nội.

77. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và học văn, Nxb Văn học, Hà Nội.

78. Đỗ Đức Hiểu (1990),"Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng", Tạp

chí Ngôn ngữ, số 4.

79. Đỗ Đức Hiểu (1992), "Hai không gian trong Sống mòn", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội.

80. Đỗ Đức Hiểu (1996), "Đọc Bƣớm trắng của Nhất Linh", Tạp chí Văn học, Số 1

81. Đỗ Đức Hiểu (1997), "Đọc Đôi bạn của Nhất Linh", Tạp chí văn học. số 1.

207

82. Đỗ Đức Hiểu (1999), Đổi mới đọc và bình văn, Hội nhà văn, Hà Nội.

83. La Khắc Hòa (1987), "Khả năng phản ánh đời sống trong truyện ngắn Nam Cao", Tạp chí

Văn nghệ quân đội, số 10.

84. La Khắc Hòa (1996), "Lịch sử nghiên cứu thể loại (vấn đề thể loại trong tƣ duy nghiên

cứu văn học)", Bài giảng chuyên đề cho lớp chuẩn hoa Thạc sỹ. Khoa Ngữ Vân,

ĐHSP Hà Nội.

85. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

86. Kiều Thu Hoạch (1993), Truyện Nôm - Nguồn gốc và bản chất thể loại, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội.

87. Tô Hoài (1961), Lời giới thiệu chuyên luận "Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc",

Nxb Văn hóa, Hà Nội.

88. Tô Hoài (1985), Tự truyện (Hồi ký - Tái bản lần 2), Nxb Văn học. Hà Nội.

89. Tô Hoài (1992), "Ngƣời và tác phẩm Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà

văn, Hà Nội.

90. Nguyễn Công Hoan (1971), Đời viết văn của tôi, Nxb Văn học, Hà Nội.

91. Nguyễn Công Hoan (1986), "Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Báo Văn nghệ, số 116 ngày

19-4.

92. Nguyễn Công Hoan (1993)" Cần hiểu đúng Ngô Tất Tố ", Ngô Tất Tố với chúng ta, Nxb

Hội nhà văn, Hà Nội.

93. Nguyễn Công Hoan (1997), Bước đường cùng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

94. Nguyên Hồng (1999), Bỉ vỏ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

95. Nguyên Hồng (1993), "Ngô Tất Tố với chúng ta ", Ngô Tất Tố với chúng, ta Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội.

96. Nguyên Hồng (1999) "Vũ Trọng Phụng và những tác phẩm của anh", Vũ Trọng Phụng

với chúng ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

208

97. Nguyễn Kim Hồng (1992), "Hình tƣợng con ngƣời làng quê tha hóa trong văn xuôi hiện

thực Việt Nam 1930 -1945 (Qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu)" Tạp chí Văn

học, số 2.

98. Đỗ Kim Hồi (1990)," Chí Phèo của Nam Cao", Tạp chí văn học, số 3.

99. Đỗ Kim Hồi (l999),"Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Ngô Tất Tố về tác gia và tác

phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

100. Khái Hƣng (1994) Hồn bướm mơ tiên, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

101. Khái Hƣng (1995), Trống mái, Nxb Văn học, Hà Nội.

102. Khái Hƣng - Nhất Linh (1995), Gánh hàng hoa, Nxb Văn học, Hà Nội.

103. Khái Hƣng (1997), Nửa chừng xuân, Nxb Văn học, Hà Nội.

104. Mai Hƣơng (2000), "Ngô Tất Tố - Tài năng và tấm lòng", Ngô Tất Tố về tác gia và tác

phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

105. Phú Hƣơng (1939), " Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Báo Đông Phương, số 10 ngày 1/9.

106. Lê đình Kỵ (1970), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

107. Lê Dinh Kỵ (1992), "Về vấn đề đánh giá văn học Việt Nam 1932 - 1945 và đánh giá Vũ

Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 6 (258) tháng 11, 12.

108. Lê Tràng Kiều (1999), "Về Vũ Trọng Phụng", Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta,

Nxb Thành phố Hồ Chí Minh .

109. Khraptrenkô M. B (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb

Tác phẩm mới, Hà Nội.

110. Khraplrenko. M.B (1984), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, (Tập I), Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội.

111. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian (tập I), Nxb Đại học và

THCN, Hà Nội.

209

112. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội.

113. Đinh Gia Khánh, chủ biên (1997), Văn học dân gian Việt Nam (tái bản lần 2) - Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

114. Đinh Giả Khánh (1999), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyệnTấm

Cám, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

115. Nguyễn Hoành Khung (1973), "Nam Cao", Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, tập

V, phần TI, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

116. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Ngô Tất Tố", Từ điển văn học, tập II, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội.

117. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Vũ Trọng Phụng", Từ điển văn học, tập I, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

118. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Giống tố", Từ điển văn học, tập I - Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội.

119. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Số đỏ", Từ điển văn học, tập II - Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội.

120. Nguyễn Hoành Khung (1994), Vũ Trọng Phụng con người và tác phẩm, Nxb Hội nhà

văn, Hà Nội.

121. Nguyễn Hoành Khung (1997), Vũ Trọng Phụng - Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxd

Giáo dục, Hà Nội.

122. Nguyễn Hoành Khung (1998), "Đọc Nam Cao - Phác thảo sự nghiệp và chân dung", Tạp

chí Văn học, số 3.

123. Mã Giang Lân (chủ biên) (2000), Quá trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam 1990 -

1945, Nxb Văn hoa thông tin, Hà Nội.

124. Thạch Lam (1996), Truyện ngắn, (Trần Mạnh Thƣờng tuyển chọn), Nxb Hội nhà văn,

Hà Nội.

125. Lênin V.I (1977), Bàn về văn hóa văn học, Nxb Văn học, Hà Nội.

210

126. Đặng Thanh Lê (1979), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội.

127. Đặng Thanh Lô - Hoàng Hữu Yên - Phạm Luận (1990), Văn học Việt Nam nửa cuối thể

kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

128. Phong Lê (1963), "Tắt đèn và tiếng nói của Ngô Tất Tố", Tạp chí Văn học, số 3.

129. Phong Lê (1980), Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.

130. Phong Lê (1984), Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

131. Phong Lê (1986), "Ngƣời trí thức kiểu Nam Cao và chiến thắng của chủ nghĩa hiện

thực", Tạp chí Văn học, số 6:

132. Phong Lê (1987), "Cấu trúc của ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao", Tạp chí Văn nghệ

quân đội, số 10.

133. Phong Lê (1990), "Di sản Vũ Trọng Phụng trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta", Tạp

chí Văn học, số 2.

134. Phong Lê (1992), "Sự sống và sức sống trong văn Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao,

Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

135. Phong Lê (1992), "Nam Cao", năm 1991, Tạp chí Văn học, số 1.

136. Phong Lê (1994), "Một chân dung lớn, một sự nghiệp lớn", Tạp chí Văn học, số 1.

137. Phong Lê (1996), "Tố tâm" với tiểu thuyết mới và với dòng văn xuôi lãng mạn Việt

Nam", Tạp chí Văn học, số 8.

138. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, Hà Nội.

139. Phong Lê (1997),"Đọc lại và lại dọc Sống mòn", Tạp chí Văn học, số 10.

140. Phong Lê (1997), Nam Cao - phác thảo sự nghiệp và chân dung, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội.

211

141. Phong Lê (1998), "Nam Cao - Nhìn từ cuối thế kỷ", Văn học trên hành trình thế kỷ XX,

Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

142. Phong Lê (1999), Vẫn chuyện văn và người, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

143. Nhất Linh (1944), Đoạn tuyệt (tái bản), Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

144. Nhất Linh (1999), Bướm trắng (tái bản), Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

145. Hồ Giang Long (1999), "Giọt nƣớc mắt chị Dâu trong tác phẩm Tắt đèn", Ngô Tất Tố

về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

146. Phạm Quang Long (1998), "Một đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nam Cao", Nam Cao về

tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

147. Nguyễn Lộc (1978), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX (Tập

I, II), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội.

148. Nguyễn Lộc (1997), Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - Hết thế kỷ XIX), (tái bản

lần thứ 2), Nxb Giáo dục.

149. Phƣơng Lựu (chủ biên) (1998), Lý luận văn học, tập 3 - Nxb Giáo dục.

150. Phƣơng Lựu (1994), Trên đà dổi mới văn hoa văn nghệ, Viện văn hóa, Sở thông tin văn

hóa tỉnh Quảng Ngãi xuất bản.

151. Phƣơng Lựu (1999), Nhìn lại nửa thế kỷ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

(1936 - 1983), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

152. Mác.C - PH. Ăng ghen - V.I.Lênin (1977), Về văn học và nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà

Nội.

153. Hoàng Nhƣ Mai (2000), "Nhà văn Vũ Trọng Phụng và cái xã hội thời thuộc Pháp", Nhà

văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb thành phố Hồ Chí Minh.

154. Nguyễn Đăng Mạnh (1973), Lịch sử văn học Việt Nam tập V (1930 -1945) (phần Ngô

Tất Tố), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

212

155.- Nguyễn Đăng Mạnh (1979), "Chủ nghĩa tự nhiên trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng"

Nhà văn tư tưởng phong cách, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

156. Nguyễn Đăng Mạnh (1983), Nhà văn tư tưởng và phong cách (tái bản) -Nxb Văn học,

Hà Nội.

157. Nguyễn Đăng Mạnh (1987), Lời giới thiệu tuyển tập Vũ Trọng Phụng -(3 tập), Nxb Văn

học, Hà Nội.

158. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), "Vũ Trọng Phụng và niềm căm uất không nguôi", Chân

dung văn học, Nxb Thuận Hóa và Trƣờng Đại học Sƣ phạm Huế.

159. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), "Đọc lại Giống tố", Tạp chí Văn học, số 2.

160. Nguyên Đăng Mạnh (1992), Nam Cao - Tác gia văn học Việt Nam - Tập II, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

161. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

162. Nguyên Đăng Mạnh (1997), "Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam nửa dầu thế

kỷ XX", Tạp chí Văn học, số 5.

163. Nguyễn Đăng Mạnh (1999), Những bài giảng về tác gia văn học trong tiến trình văn

học hiện đại Việt Nam, 3 tập, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

164. Nguyền Đăng Mạnh (1999), "Cái đói và miếng ăn trong truyện Nam Cao" Những bài

giảng về rắc gia vãn học trong tiến trình vân học hiện dại Việt Nam, Nxb Đại học

Quốc gia Mà Nội, Hà Nội.

165. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội.

166. Đức Mậu (1992), "Các mối quan hệ trong, làng Vũ Đại", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb

Hội nhà văn, Hà Nội.

167. Dƣơng Nghiễm Mậu (1999), "Viết về Vũ Trọng Phụng", Vũ TrọngPhung với chúng ta.

Nxb thành phố Hồ Chí Minh.

213

168. Nguyên Đăng Na (1997), "Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại -Những bƣớc di lịch

sử", Tạp chí Văn học, số7.

169. Vũ Tú Nam (2000), "Cây bút sắc bén của một nhà nho", Ngô Tất Tố về tác gia và tác

phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

170. Quỳnh Nga (1991), "Có hay không yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong tác phẩm của Nam

Cao", Tạp chí Vãn học, số 3.

171. Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

172. Nguyễn Lƣơng Ngọc (1992), "Thử sống trong văn Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao,

Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

173. Phạm Xuân Nguyên (1992), "Nam Cao và sự lựa chọn một chủ nghĩa hiện thực kiểu

mới", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

174. Vƣơng Trí Nhàn (1992),"Sự biến hóa của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao",

Nghĩ tiếp vổ Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

175. Vƣơng Trí Nhàn (1993), "Nam Cao, ngày Chí Phèo năm mƣơi tuổi", Những kiếp hoa

dại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

176. Vƣơng Trí Nhàn (1994), "Nhà nho thức thời, ngòi bút tình cảm Ngô Tất Tố", Tạp chí

Văn học, số 1.

177. Vƣơng Trí Nhàn (1999), Cánh bướm và đóa hướng dương, Nxb Hải Phòng.

178. Vƣơng Trí Nhàn (2000), "Cảm nhận từ nhà văn Vũ Trọng Phụng", Vũ Trọng Phụng một

tài năng độc đáo, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

179. Vƣơng Trí Nhàn (2000), Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế

kỷ XX đến 1945, Nxb Hội nhà văn.

180. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) (1999), Văn học dân gian những công trình nghiên cứu, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

181. Nhiều tác giả (1976) Tập nghị luận và phê bình văn học chọn lọc (tập I), Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

214

182. Nhiều tác giả (1983), Số phận của tiểu thuyết, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

183. Nhiêu tác giả (1992), Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

184. Nhiều tác giả (1992),Vũ Trọng Phụng hôm qua và hôm nay, Nxb TP. Hồ Chí Minh.

185. Nhiều tác giả (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

186. Nhiều tác giả (1992), Vũ Trọng Phụng tài năng và sự thật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

187. Nhiều tác giả (1993), Ngô Tất Tố với chúng ta, NXB Hội nhà văn. Hà Nội.

188. Nhiều tác giả (1995), Những bậc thầy văn chương thế giới, tư tưởng và quan niệm, Nxb

Văn học, Hà Nội.

189. Nhiều tác giả (1996), Khảo về tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

190. Nhiều tác giả (1997), Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn Nghệ thành phố

Hồ Chí Minh.

191. Nhiều tác giả (1997), Ngô Tất Tố - Nguyễn Huy Tưởng - Tô Hoài, Nxb Văn nghệ thành

phố Hồ Chí Minh .

192. Nhiều tác giả (1997), Văn học Việt Nam 1900 - Ị945 (tái bản lần 4), Nxb Giáo dục, Hà

Nôi.

193. Nhiêu tác giả (1998), Nam Cao về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

194. Nhiều tác giả (1999), VũTrọng Phụng tài năng và sự thật, Nxb Văn học.

195. Nhiều tác giả (1999), Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh.

196. Nhiều tác giả (2000), Vũ Trọng Phụng một tài năng độc đáo, Nxb Văn hoa thông tin, Hà

Nội.

197. Nhiều tác giả (1999), Tuyển tập Tự lực văn đoàn (3 tập), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

215

198. Nhiều tác giả (2000), Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb Văn háo

thông tin, Hà Nội.

199. Nhiều tác giả (2000), Ngô tất tố về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục. Hà Nội.

200. Pêtơrốp. X.M (1986), Chủ nghĩa hiện thực phê phán (ngƣời dịch: Nguyễn Đức Nam,

Phạm Văn Trọng, Anh Đào), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

201. Pospelov. G.N (chủ biên) (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học (2 tập -Ngƣời dịch: Trần

Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Nghĩa Trọng), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

202. Hoàng Ngọc Phách (1988), Tố Tâm (tái bản) - NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp,

Hà Nội.

203. Vũ Ngọc Phan (1987), Những năm tháng ấy (hồi ký), Nxb Văn học, Hà Nội.

204. Vũ Ngọc Phan (1999), "Vũ Trọng Phụng (biệt hiệu Thiên Hƣ", Nhà văn Vũ Trọng

Phụng với chúng ta - Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

205. Nhƣ Phong (1964), "Giá trị nhận thức của Tắt đèn", Bình luận văn học, Nxb Văn học,

Hà Nội.

206. Nhƣ Phong (1977), Bình luận văn học, Nxb văn học, Hà Nội.

207. Bùi Huy Phồn (1988), "Nhớ và nghĩ về Vũ Trọng Phụng", Báo Người Hà Nội số 79,

ngày 1-7.

208. Vũ Trọng Phụng (1939), "Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Báo Thời vụ. số 100; ngày 31-1.

209. Vũ Trọng Phụng (1987), Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (3 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.

210. Vũ Trọng Phụng (1993), Tuyển tập Vũ Trụng Phụng (2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.

211.Vũ Trọng Phụng (1996), Làm đĩ (tái bản), Nxb Văn học, Hà Nội.

216

212. Vũ Trọng Phụng (1997), Truyện ngổn Vũ TrọiiỊi Phụng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

213. Phan Diễm Phirơne (1992), "Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao",

Tạp chí Văn học, số 1 (253) tháng 1 +2.

214. Thiều Quang (1999), " Chút ít tài liệu về Vũ Trọng Phụng", Vũ Trọng Phụng với chúng

ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

215. Lê Chí Quế (chủ biên) (1999), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Nội.

216. Vũ Dƣơng Quỹ (1991), "Những nhân vật, những cuộc đời và nẻo đƣờng đi tìm nhân

cách", Những nhân vật, những cuộc đời, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

217. Vũ Dƣơng Quỹ (1998), Ngô Tất Tố. Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

218. Nguyễn Quang Sáng (1989), "Bút lực của nhà văn Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Kiến thức

ngày nay, .số 25, 12.

219. Hoàng Thiếu Sơn (1990), "Số đỏ - cuốn " Truyện bợm" kỳ tài", Tạp chí Văn học, số 2.

220. Trần Đình Sử (1981), "Mội số vấn đề thi pháp học lý thuyết", Chuyên đề cho lớp sau

Đại học khoa VI (1981 - 1983), Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội.

221. Trần Đình sử - Phƣơng Lựu - Nguyễn Xuân Nam (1987), Lý luận văn học tập II, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

222. Trần Đình sử (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới Hà Nội.

223. Trần Đình sử (1991), "Khái niệm " Quan niệm nghệ thuật" trong nghiên cứu văn học Xô

Viết", Tạp chí văn học, số 1.

224. Trần Đình Sừ (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Tài liệu bồi dƣỡng giáo viên

văn- Vụ giáo viên xuất bản, Hà Nội

217

225. Trần Đình Sử (1996), "Bệnh ngủ của Thị Nở và đàn cá bạc của Huy Cận", Tạp chí Văn

học và tuổi trẻ, số 17.

226. Trần Đình Sử (1996), Lý luận phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

227. Trần Đình Sử (1997), Những thế giới nghệ thuật thơ (tái bản lần thứ nhất) - NXB Giáo

dục, Hà Nội.

228. Trần Đình Sử (1998), "Cấu trúc đối thoại trong truyền ngắn Chí Phèo của Nam Cao",

Tạp chí Văn học, số 12.

229. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

230. Trần Đình Sử (1998), "Giọng điệu nghệ thuật và chủ nghĩa cảm thƣơng trong Truyện

Kiều", Tạp chí Văn học, số2 (324) tháng 2.

231. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam-Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

232. Văn Tâm (1996), Vũ Trọng Phụng - Nhà văn hiện thực, Nxb Văn nghệ, Hà Nội.

233. Văn Tâm (1989), "Vũ Trọng Phụng trong rừng cƣời nhiệt đới", Tạp chí Kiến thức ngày

nay, số 25, 12.

234. Bùi Văn Tiếng (1 99 7), Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Nxb

Văn hóa, Hà Nội.

235. Timofeep. L. I (1962), Nguyên lý lý luận văn học, Nxb Văn hóa, Viện văn học, Hà Nội.

236. Ngô Tất Tố (1939), "Gia thế ông Vũ Trọng Phụng", Tao đàn số đặc biệt 12.

237. Ngô Tất Tố (1993), Tuyển tập Ngô Tất Tố(2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.

238. Ngô Tất Tố (1996), Ngô Tất Tố toàn tập (5 tập, Nxb Văn học, Hà Nội.

239. Cù Đình Tú (1988), "Mấy cảm nghĩ ban đầu về cách phô diễn của nhà văn Vũ Trọng

Phụng", Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 2.

218

240. Nguyễn Tuân (1939), "Một đêm họp đƣa ma Phụng", Tao đàn tạp chí, số 1 (12).

241. Nguyễn Tuân (1993), "Trƣớc đèn, đọc đoản thiên Ngô Tất Tố", Ngô Tất Tố với chúng

ta, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

242. Nguyễn Tuân (1999), Bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

243. Nguyễn Tuân (1999), "Truyện ngắn Tắt đèn của Ngô Tất Tố" Nguyễn Tuân bàn về văn

học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

244. Nguyễn Tuân (1999), "Phim chị Dậu cũng là cảm nghĩ tất niên với bác đầu xứ Tố",

Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn Hà Nội.

245: Nguyễn Tuân (1999), "Đọc lại truyện Giống tố", Nguyên Tuân bàn về văn học nghệ

thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

246.Trần Minh Tƣớc (1939), "Một nhà văn của dân quê - Ngô Tất Tố trong Tắt đèn", Báo

Mới, số 4, ngày 15-6.

247. Trƣơng Tửu (1939), "Địa vị Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam hiện đại", Tao

đàn, số đặc biệt (12).

248. Hoài Thanh (1998),), Bình luận văn chương (1934 - 1943), (nhóm tuyển soạn: Nguyễn

Ngọc Thiện, Từ Sơn ), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

249. Nguyễn Hoài Thanh (1996), "Nghệ thuật tiếp cận hiện thực trong phóng sự của Vũ

Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 2 (288) tháng 2.

250. Nguyễn Thành (1997), "Ảnh hƣởng của phân tâm học Freud tron" sáng tác của Vũ

Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 4.

251. Nguyễn Thành (1999), "Chất hài trong câu văn tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng",

Tạp chí Văn học, số 4.

252. Trần Đăng Thao (1996) "Kết cấu hoành tráng - Một đóng góp lớn của Vũ Trong Phụng

trong lĩnh vực tiểu thuyết", Tạp chí Văn học, số 4 (290).

219

253. Bùi Việt Thắng (biên soạn) (2000), Bàn về tiểu thuyết, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

254. Đỗ Ngọc Thống (1991), "Thêm một lời bào chữa cho Nam Cao qua nhân vật Thị Nở ",

Báo Nhân dân chủ nhật, số 42.

255. Nguyễn Đình Thi (1956), Mấy vấn đề văn học, Nxb Văn nghệ, Hà Nội.

256. Nguyễn Ngọc Thiện (1992), "Bút pháp tự sự đặc sắc trong Sống mòn", Nghĩ tiếp về

Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

257. Nguyễn Ngọc Thiện (1995), "Những cuộc đời đón đẩy trong tiểu thuyết tả chân của

Nguyễn Đình Lạp", Tạp chí Văn học, Số 12 (286).

258. Nguyễn Ngọc Thiện (chủ biên) (1997), Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam (1900 -

1945) (5 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.

259. Nguyễn Ngọc Thiện (2000), "Nghiên cứu sáng tác của Vũ Trọng Phụng trong tiến trình

văn học dân tộc hiện đại thế kỷ XX", Tạp chí Văn học, số 4.

260. Đỗ Thị Minh Thúy (1997), "Cái tôi lãng mạn và nhân vật Tố Tâm của nhà văn Hoàng

Ngọc Phách", Tạp chí Văn học, số 2.

261. Bùi Công Thuấn (1997), "Phong cách truyện ngắn Nam Cao trƣớc cách mạng", Tạp chí

Văn học, số 2.

262. Phan Trọng Thƣởng (1998), " Tìm hiểu một chữ "nhƣng" trong văn Nam Cao", Nam

Cao về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

263. Phan Trọng Thƣởng (2000): "Cuối thế kỷ nhìn lại việc nghiên cứu đánh giá văn chƣơng

Tự lực văn đoàn ", Tạp chí Văn học. số 2 (336) tháng 2

264. Mà Bình Trị (1996), "Chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ độc đáo của Nam Cao - Sự tự ý thức

về cá nhân", Tạp chí văn học, số 9 (295), tháng 9.

265. Hà Bình Trị (1996), "Một thành tựu nghệ thuật độc đáo của Nam Cao", Tạp chí Đại học

và Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội, số 7.

266. Hà Bình Trị (1997), "Truyện ngắn Nửa đêm của Nam Cao, hiện thực chủ nghĩa hay tự

nhiên chủ nghĩa", Tạp chí Văn học, số 4.

220

267. Hà Bình Trị (998), "Một tác phẩm đặc sắc của Nam Cao chƣa đƣợc chú - ý: Truyện

ngƣời hàng xóm", Nam Cao về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

268. Hoàng Trinh 1980), Về khoa học và nghệ thuật trong phê bình văn học, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

269. Nguyễn Quang Trung (1997), "Vũ Trọng Phụng và nhỡn quan Vô nghĩa lý, Tạp chí Văn

học, số 4.

270. Nguyễn Quang Trung (1998), "Tính chất lƣỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo", Nam Cao

về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

271. Trần Thị Việt Trung (1991), "Các nhân vật xấu xí của Nam Cao", Báo Văn nghệ, số 51.

272. Lê Vin Trƣơng (1997), "Tựa Đôi lứa xứng đôi ", Nam Cao đời văn và tác phẩm, Nxb

Văn học, Hà Nội.

273. Trần Đăng Xuyền (1991), "Thời gian và không gian trong thế giới nghệ thuật của Nam

Cao", Tạp chí Văn học, số 5.

274. Trần Đăng Xuyền (1991), "Chủ nghĩa tâm lý trong sáng tác của Nam Cao", Tạp chí

Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 2.

275. Trần Đăng Xuyền (1991), "Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao", Tạp chí Văn nghệ

Quân đội, số 121.

276. Trần ĐăngXuyền (1998), " Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ

nghĩa lớn", Tạp chí Văn học, số 6 - tháng 6.

277. Trần Đăng Xuyền (1998), "Nam Cao qua những công trình của một nhà nghiên cứu

(Mấy ghi nhận nhân đọc Nam Cao đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức. NXB Văn

học 1998), Tạp chí Văn học, số 9.

278. Chế Lan Viên (1998), "Vài ý kiến nhỏ", Tạp chí Kiến thức ngày nay, Số 3-4.

279. Hoài Việt (1953), "Ngô Tất Tố - Nhà văn hóa lỗi lạc", Ngô Tất Tố nhà văn hóa lớn, Nxb

Văn hóa, Hà Nội.

221

280. Vƣgôtxki,(1981), Tâm lí học nghệ thuật (ngƣời dịch: Hoài Lam), Nxb Khoa học xã hội ,

Hà Nội.

281. Box Xuskov, (1982), Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực. Ngƣời dịch : Hoàng

Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hải Hà) Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội .

242. Phạm Hoàng Yến (1996), "Giá trị của cấu trúc trong truyện ngắn Lão Hạc", Tạp chí

Văn học và tuổi trẻ, tập 19.

283. Insun Yu (1994), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII. Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội.

B.Tiếng Nga

284. Абрамович. ГЛ, Гей. И.К, В.В. Ермилов: Теория литературы - Основные проблемы

и истерическом освещении Ролы и Жанры литературы.

(Издательство "Hayka" М. 1964)