BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM MẠNH HÙNG
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG
VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA
NGÔ TẤT TỐ, VŨ TRỌNG PHỤNG, NAM CAO
CHUYÊN NGÀNH :LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC
MÃ SỐ : 5.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐÌNH SỬ
HÀ NỘI 2001
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TÀO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM MẠNH HÙNG
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG
VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA
NGÔ TẤT TỐ,VŨ TRỌNG PHUNG, NAM CAO
CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC
MÃ SỐ :5.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐÌNH SỬ
HÀ NỘI 2001
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
PHẠM MẠNH HÙNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1
NỘI DUNG .............................................................................................................................. 14
CHƢƠNG 1: XÁC ĐỊNH NỘI DUNG NGHỆ THUẬT CỦA KHÁI NIỆM HOÀN CẢNH VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC .............................................................................................................. 14
1.1.Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh và sự cần thiết của việc xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học hiện thực ........................................................... 14
1.2. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh ......................................................................... 26
1.3.Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học . ................................................... 40
CHƢƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỆ HOÀN CẢNH TRONG TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ ...................................................................................................................... 54
2.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn ....................................................... 55
2.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn ................................................... 61
2.3. Cơ chế trấn áp bạo lực .............................................................................................. 71
2.4. Không khí náo loạn, căng thẳng ............................................................................... 75
CHƢƠNG 3: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG GIỐNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG ................................................................................................. 92
3.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh .............................................................................. 93
3.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Giống tố ............................................... 110
3.3. Cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền ............................................... 118
3.4. Không khí điên loạn, bão giông .............................................................................. 126
CHƢƠNG 4: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG SỐNG MÒN VÀ MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA NAM CAO ...................................... 139
4.1.Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao .................................... 140
4.2. Những mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh ............................................................ 157
4.3.Cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn và cơ chế Sống mòn ...................................................... 164
4.4. Không khí ngột ngạt, bế tắc .................................................................................... 175
KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 195
DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ ................................................... 200
THƢ MỤC THAM KHẢO .................................................................................................... 201
1
MỞ ĐẦU
1. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI.
Trào lƣu văn học hiện thực là một trong ba trào lƣu văn học hình thành và phát triển
trên văn đàn Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Nghiên cứu trào lƣu văn học này, một trong
những vấn đề không thể bỏ qua là mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh. Bàn về chủ
nghĩa hiện thực, trong thƣ gửi Mácgarít Háccơnetxơ năm 1888, Angglien cũng đã khẳng định
vấn đề này. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, khái niệm hoàn cảnh, có khi vẫn đƣợc
hiểu thiên về góc độ hoàn cảnh xã hội, mà chƣa đƣợc nhìn nhận nhƣ một cấu trúc nghệ thuật.
Cho nên, vấn đề cần đặt ra là phải nghiên cứu hoàn cảnh từ phƣơng diện thẩm mỹ, nghĩa là
cần phải nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh. Trên cơ sở lý thuyết thi pháp hoàn cảnh, luận án sẽ
mở rộng phạm vi nghiên cứu trên một bình diện mới với cấp độ mới. Tìm hiểu quan niệm
nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực thời kỳ này là một cách tiếp cận hoàn cảnh
từ phƣơng diện đó. Giải quyết đƣợc vấn đề này, qua ba tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố,
Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, luận án sẽ bổ sung cụ thể hóa thêm lý thuyết nghiên cứu thi pháp
hoàn cảnh, từ đó góp phần nâng cao việc nghiên cứu văn học hiện thực. Những kết quả của
luận án sẽ góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học hiện thực ở
các cấp học từ phổ thông đến đại học.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Về lịch sử vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn học chúng tôi sẽ đề
cập tới ở chƣơng 1 - chƣơng cơ sở lý thuyết của luận án bởi vậy ở đây chúng tôi chỉ điểm lại
lịch sử vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố,
Giống tố của Vũ Trọng Phụng Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao.
2
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nào lƣu văn học hiện thực 1930-1945 trên cả
hai phƣơng diện nội dung tƣ tƣởng và hình thức nghệ thuật. Chỉ riêng những bài nghiên cứu
về ba tác giả: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao cũng đã có hàng trăm. Trong những
công trình nghiên cứu ấy, cũng đã có những ý kiến bàn tới vấn đề hoàn cảnh, nhƣng ý thức về
vấn đề này ở mỗi bài viết khác nhau về từng nhà văn khác nhau, cũng có sự khác nhau.
2.1. Về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô Tất Tố, chúng tôi chỉ tập trung
khảo sát một tác phẩm nổi tiếng thành công nhất của ông: tiểu thuyết Tắt đèn. Vì vậy ở đây,
chúng tôi chỉ nói tới lịch sử vấn đề nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các
nhà nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết này.
Trên tờ báo Mới số 4, ngày 15/6/1939 Trần Minh Tƣớc đã đánh giá cao giá trị nội
dung của tiểu thuyết Tắt đèn: "trong văn phẩm ấy, Ngô Tất Tố đã dùng đƣợc đắc sách cái
phƣơng pháp khách quan để tỏ ra cho chúng ta biết rõ ràng những cảnh tƣợng nơi hƣơng ẩm,
là một chỗ mà ngƣời ta nhờ ông, nhận thấy rất nhiều mâu thuẫn và hƣ nát", Về phƣơng diện
nghệ thuật, Trần Minh Tƣớc khẳng định những gì đặt ra trong Tắt đèn "không còn là những
điều biện giải khô khan của lý luận, mà nó đã gắn liền vào đƣợc cái nghệ thuật uyển chuyển
của tiểu thuyết gia". Từ đó, ông khẳng định, với Tắt đèn "nhà nho ấy đã vƣợt khỏi cả thế hệ
của mình"...
Trên báo Đông Phƣơng số 10, ngày 1/9/1939, Phú Hƣơng cũng nhấn mạnh, trong khi
"sau lũy tre xanh, những sự tàn bạo ghê gớm, những chuyện hà lạm hèn mạt, những cảnh đói
nghèo tai hại là những trò cơm bữa ... các tiểu thuyết gia nào có mấy ai chú ý" thì "vừa rồi
ông Ngô Tất Tố đã làm một điều phần đông văn sĩ xứ ta không ai để mắt tới. Ông đã làm
trong cuốn Tắt đèn của ông và ông đã thành công vẻ vang hết sức".
Nhƣ vậy nƣớc 1945, bàn về Tắt đèn của Ngô Tất Tố ngƣời ta mới chỉ chú ý tới khẳng
định đề tài mà chƣa chú ý tới vấn đề hoàn cảnh. Vấn đề hoàn
3
anh chỉ đƣợc đề cập tới từ những năm hòa bình lập lại. Dƣới chế độ xã hội mới, tiểu thuyết
Tắt đèn vẫn tiếp tục đƣợc đề cao. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đã thống nhất
khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của kiệt tác văn xuôi này.
Trong lời giới thiệu cuốn Tắt đèn do NXB Văn hóa ấn hành năm 1962, nhà văn
Nguyễn Tuân đã khẳng định: " Theo tôi tiên tri, thì cuốn Tắt đèn vẫn còn phải sống lâu, thọ
hơn cả một số văn gia đƣơng kim hôm nay".
Đã gần bốn mƣơi năm trôi qua kể từ ngày Nguyễn Tuân "tiên tri" và ta thấy lời tiên tri
đó là đúng. Tắt đèn của Ngô Tất Tố sẽ còn trƣờng tồn cùng năm tháng. Thật khó có thể hình
dung rằng nói tới văn học hiện thực Việt Nam 1930-1945 mà không nhắc tới tác phẩm Tắt
đèn của Ngô tất Tố (cũng nhƣ không nhắc tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo của
Nam Cao ...).
Kể từ khi ra đời đến nay Tắt đèn không chí hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả mà nó còn
đƣợc sự chú ý của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học. Những giá trị nội dung và nghệ
thuật của cuốn tiểu thuyết này đã đƣợc các nhà nghiên cứu nhiều thế hệ khai thác trên nhiều
phƣơng diện. Tiêu biểu là các công trình, bài viết của: Nguyền Tuân (Lời giới thiệu truyện
Tắt đèn. NXB Văn hóa - Viện văn học, II., 1962); Nguyên Đức Đàn - Phan Cự-Đệ (Ngô Tất
Tố - NXB Văn hóa, H., 1962 ; NXB Hội nhà văn tái bản 1999 với nhan đề Bƣớc đƣờng phát
triển tƣ tƣởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố)- Phan Cự Đệ (Ngô Tất Tố - Văn học Việt Nam
(1900 - 1945) NXB Giáo dục tái bản lần thứ 1 năm 1997); Phong Lê (Những đóng góp của
Ngô Tất Tố trong Tắt đèn. Tạp chí Văn Học số 3.1963 ; Ngô Tất Tố một chân dung lớn một
sự nghiệp lớn. Tạp chí văn học số 1.1994), Nguyễn Đăng Mạnh (Ngô Tất Tố Lịch sử văn học
Việt Nam tập 5, 1930 - 1945. NXB Giáo dục. H., 1973) Nguyễn Hoành Khung (Ngô Tất Tố.
Từ điển văn học. tập 2. NXB KHXI H., 1964), Trƣơng Chính (Lời giới thiệu tuyển tập Ngô
Tất Tố, tập 1, NXB Văn học. H., 1994), Hà Minh Đức (Nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn của
Ngô Tất Tố - Ngô Tất Tố về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục Hà Nội 1999)
4
Trong những công trình nghiên cứu về Tắt đèn, các tác giả đã khẳng định sự thành
công về cả phƣơng diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Cũng đã có những ý kiến đề cập
đến vấn đề hoàn cảnh của tác phẩm. Trong đó, có khi hoàn cảnh đƣợc nhìn nhận ở góc độ xã
hội. Chẳng hạn: "Tắt đèn không mở rộng hoàn cảnh môi trƣờng, không nói chuyện nông dân
bị cƣớp đoạt ruộng đất, bị bóc lột địa tô, bị vỡ đê lụt lội, mất mùa đói kém rồi bỏ làng ra mỏ,
đi đồn điền cao su. Tắt đèn tập trung tố cáo cái thứ thuế bất nhân của bọn thực dân đánh vào
đầu ngƣời hàng năm ..." (Phan Cự Đệ) [199.303]. Hoặc: "Tắt đèn đƣa ta thẳng vào một hoàn
cảnh náo động, căng thẳng nhất ở làng Đông Xá trong vụ thuế (...) thực ra, quanh năm không
lúc nào ở nông thôn Việt Nam không diễn ra cuộc xung đột gay gắt giữa bọn quan lại, bọn
cƣờng hào địa chủ-với nông dân lao động. Nhƣng cuộc xung đột đó trở nên tập trƣng nhất và
bộc lộ một cách tàn bạo nhất trong vụ thuế" (Nguyễn Đăng Mạnh) [199.262] ... Bên cạnh đó,
cũng đã có ý kiến nhìn nhận hoàn cảnh Tắt đèn ở phƣơng diện thẩm mỹ - nghệ thuật. Tiêu
biểu nhất là ý kiến của Nguyễn Tuân (mà chúng tôi sẽ dẫn ở phần phân tích cấu trúc nghệ
thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn). Hoặc ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh khi ông đánh giá
tài năng của Ngô Tất Tố trong việc miêu tả "những bức tranh sinh hoạt, những con ngƣời
trong hoạt động": "Tất cả đều diễn ra trƣớc mắt ngƣời đọc chân thật, cụ thể, sinh động, có sức
truyền cảm mãnh liệt. Ngòi bút Ngô Tất Tố nhiều khi còn đạt tới chỗ truyền đƣợc cả "không
khí" của đời sống nông thôn vào trong tác phẩm của mình "[199.273].
Phan Cự Đệ khi bàn về vấn đề hoàn cảnh điển hình trong Tắt đèn cũng đã đề cặp tới
một yếu tố trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh: "Ngô Tất Tố đã đặt các nhân ,vật của
mình vào một hoàn cảnh rất điển hình, một không khí ngột ngạt, oi bức, giông bão, người
nông dân trong làng cứ như kiến bò trong chảo nóng" [192.402] và "không khí đó tạo nên
một ấn tƣợng hết sức căng thẳng về một vùng nông thôn trong thời kỳ báo động "
[48.T2.365]. Tuy nhiên ở đây, tác giả chƣa minh chứng bằng những hệ thống tín hiệu nghệ
thuật cụ thể.
5
Trên tạp chí Văn học số 3.1990 Đỗ Kim Hồi cũng khẳng định: " Ngô Tất Tố vẫn là
nhà văn chƣa ai có thể vƣợt hơn trong việc làm sống lại cái không khí kinh hoàng, loạn lạc
của nạn "cƣớp ngày" hàng năm vẫn ập xuống thôn quê mỗi dịp đổ sƣu. Chƣa ai có thể vƣợt
hơn Ngô Tất Tố trong việc làm lòng ngƣời nghẹn uất trƣớc cái luật lệ dã man... "
Nhà văn Vũ Tú Nam trên báo Văn nghệ số l, ngày 1/1/1994 cũng nhận xét: " Ngô Tất
Tố đã sử dụng bút pháp " dồn nén", ông tập hợp lại một số cảnh mắt thấy tai nghe về hiện
trạng đời sống nông thôn vào trong một khung thời gian và không gian nhất định để làm nổi
bật những mặt tƣơng phản trong tâm lý và hành động nhân vật, tạo nên một không khí căng
thẳng, ngột ngạt, thôi thúc ở ngƣời đọc cái ý thức, ý nguyện phải làm một cái gì" ...
Khi các nhà nghiên cứu khẳng định hiệu quả "tạo không khí của đời sống", "không
khí kinh hoàng loạn lạc", "không khí căng thẳng ngột ngạt" trong tác phẩm Tắt đèn cũng có
nghĩa là họ đã nhìn nhận hoàn cảnh Tắt đèn ở phƣơng diện nghệ thuật, đã chú ý tới nghệ
thuật xây dựng hoàn cảnh của nhà văn. Nhƣng những ý kiến về hoàn cảnh Tắt đèn ở cả góc
độ hoàn cảnh xã hội và phƣơng diện hoàn cảnh nghệ thuật chủ yếu vẫn là những nhận xét đơn
lẻ, những cảm nhận chủ quan mà ít có sự minh chứng. Hoàn cảnh trong Tắt đèn chƣa thật sự
đƣợc nhìn nhận ở cấu trúc nghệ thuật. Từ đó quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô
Tất Tố chƣa đƣợc chú ý làm sáng rõ.
2.2. Về tác phẩm Giống tố của Vũ Trọng Phụng
Mặc dù ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ và chỉ trên dƣới 10 năm cầm bút nhƣng Vũ Trọng
Phụng đã để lại một di sản văn học có thể coi là không nhỏ 11 tiểu thuyết, 4 phóng sự dài, 2
vở kịch dài, vài chục truyện ngắn phóng sự ngắn, bút chiến, tiểu luận ... Với di sản văn
chƣơng ấy "kể ra cũng ít hoặc chƣa có một "ca" văn học nào lại gây những tranh cãi gay go
và kéo dài nhƣ "ca" Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn học thế kỷ này" (Phong Lê) [194 54]
Kể từ khi tác phẩm đầu uy của Vũ Trọng Phụng ra mắt công chúng vở kịch Không
một tiếng vang (1931), cho đến nay đã tròn 70 năm. Trong
6
khoảng thời gian hai phần ba thế kỷ ấy, đã có nhiều cuộc tranh luận, nhiều công trình nghiên
cứu về sự nghiệp văn chƣơng của ông. Theo thống kê của chúng tôi, số lƣợng những bài
nghiên cứu, tiểu luận đã công bố về ông có tới trên hai trăm, chƣa kể những luận án tiến sĩ,
những luận văn thạc sĩ đã và đang tiến hành. Trên cơ sở tƣ liệu các công trình nghiên cứu về
Vũ Trọng Phụng có đƣợc, chúng tôi-nhận thấy lịch sử nghiên cứu vấn đề hoàn cảnh trong tác
phẩm của Giống tố nhà văn nhƣ sau:
2.2.1. Đã có những ý kiến bàn về vấn đề hoàn cảnh trong các sáng tác của Vũ Trọng
Phụng, khẳng định ý thức của nhà văn về quan niệm tính cách là sản phẩm của hoàn cảnh.
Chẳng hạn, ý kiến của Nguyễn Hoành Khung về hoàn cảnh trong Giống tố: "Sự biến chất của
Long và Mịch đã đƣợc Vũ Trọng Phụng cắt nghĩa bằng quan niệm riêng.Theo Ông, chính
hoàn cảnh cụ thể là cái bả vật chất đã có sự cám dỗ ghê gớm làm biến chất con ngƣời, không
ai đủ sức cƣỡng lại" [195.447] ; hay ý kiến của Vũ Ngọc Phan về tác phẩm trên: "Quyển tiểu
thuyết Giống tố của Vũ Trọng Phụng làm cho ta thấy ảnh hƣởng của hoàn cảnh là dƣờng nào
! vì hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, hai kẻ vốn tính hiền lành và ngay thẳng nhƣ Mịch
và Long rút cuộc đã trở thành một ngƣời đàn bà hƣ hỏng và một thiếu niên hƣ hỏng"
[195.173]; hoặc ý kiến của Dƣơng Nghiễm Mậu cũng về cuốn tiểu thuyết đó: "ông đồ Uẩn
chính là cái hạng thuộc về thái cực thứ hai, bị hoàn cảnh lôi cuốn đến không còn đƣợc nhân
cách" [195.309].
2.2.2. Cũng đã có những ý kiến đề cập tới những khía cạnh thuộc về phƣơng diện
nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Chẳng hạn ý kiến bàn về nhịp
diệu trong tác phẩm Giống tố: "Nhịp độ vận động trong Giống tố rất khẩn trƣơng, gấp gấp,
sự việc diễn biến bất ngờ, đầy kịch tích, gợi ấn tƣợng sâu về cuộc đời điên đảo, thế sự thăng
trầm. Đó chính là dặc điểm trong cảm quan hiện thực, trở thành ý thức nghệ thuật của Vũ
Trọng Phụng"(Nguyễn Hoành Khung) [196.253] ; "Chƣa thể nói nhà văn đã có đƣợc cảm
quan chính xác về sự vận động biến chứng của hiện thực, nhƣng
7
quả là ông nhạy cảm với cái nhịp điệu hối hả, dữ đội của đời sống Nguyễn Hoành Khung)
[190.131]. Hoặc ý kiến bàn về vấn đề không khí rong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng:
"Đọc Giống tố phải cảm nhận cái không khí chung, cái âm hƣởng chung, cái linh hồn chung
của thế giới hình tƣợng của cuốn tiểu thuyết. Ấy là một xã hội quay cuồng, đảo điên đến
chóng mặt, biết bao tình huống trớ trêu, biết bao cuộc đời lên voi xuống chó, xuống chó rồi
lại lên voi, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông..." (Nguyễn Đăng Mạnh) [196.262] hay ý kiến
bàn về những xung đột giấu kịch tính (một yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh)
trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng: "Tiểu thuyết của ông đầy những xung đột căng thẳng,
giàu kịch tính" Trƣơng Chính) [190.154] ; "tác phẩm Vũ Trọng Phụng bố cục thƣờng chặt
chẽ chứa nhiều ƣu điểm của kịch tính" (Văn Tâm)[195.218] ; cũng có ý kiến bàn về vấn đề hệ
thống nhân vật - một hệ thống yếu tố tạo hoàn cảnh: "Thế giới nhân vật Vũ Trọng Phụng khá
đông và thuộc nhiều giới khác nhau. Một khi đƣợc nâng lên đến mức điển hình, một số ngƣời
trong họ là tài liệu quý giúp đỡ đắc lực cho những ai muốn nghiên cứu về xã hội hoặc tìm
hiểu tài nghệ ngòi bút Vũ Trọng Phụng. Nhƣng còn nhƣ để hiểu tâm sự ngƣời viết, cái phức
tạp đa đoan của chính tác giả, thì có những nhân vật chỉ đóng vai phụ hoặc có vẻ không tiêu
biểu gì thật ra lại là một thứ chìa khoa khá tốt mà ngƣời nghiên cứu không có quyền xao
nhãng" (Vƣơng Trí Nhàn) [195.407],
2.2.3. Nhƣ vậy, nghiên cứu tác phẩm Giống tố của Vũ Trọng Phụng, vấn đề hoàn
cảnh không phải là vấn đề chƣa từng đƣợc quan tâm. Về vấn đề này, đáng chú ý là các công
trình nghiên cứu của Văn Tâm, Trƣơng Chính, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Hoành Khung, Hoàng Thiếu Sơn, ... nhƣng việc nhìn nhận hoàn cảnh ấy nhƣ một
hoàn cảnh nghệ thuật chƣa đƣợc đặt ra và giải quyết một cách hệ thống. Mặc dù đã có ít
nhiều ý kiến bàn về hoàn cảnh trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng từ cái nhìn cấu trúc nghệ
thuật, nhƣng cũng vẫn chỉ là những nhận định chung ở một khía cạnh nào đó và cũng chƣa có
sự minh chứng cụ thể. Vấn đề thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng chƣa
thật sự đƣợc đặt ra và giải quyết.
8
2.3. Về tác phẩm Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao.
Có thể nói, trong nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao từ trƣớc tới nay, nhiều nhà
nghiên cứu đã quan tâm tới vấn đề hoàn cảnh.
Nhìn lại ý kiến của các nhà nghiên cứu về vấn đề hoàn cảnh trong tác phẩm Sống
mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau
đây:
2.3.1. Nhiều ý kiến đã khẳng định sự thành công của Nam Cao trong việc xây dựng
hoàn cảnh, coi đây là một nét đặc sắc góp phần xác định vị trí xứng đáng của Nam Cao trong
đội ngũ các nhà văn hiện thực, mà bài viết về Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm
Nam Cao của Hà Minh Đức là một ví dụ tiêu biểu. Và cũng phải nói thêm rằng, trong các
công trình nghiên cứu về Nam Cao, nếu có một bài viết nào tập trung vào phân tích lý giải
khá sâu sắc vấn đề hoàn cảnh thì đó chính là bài viết này của Hà Minh Đức [63.311] .
2.3.2. Có những nhà nghiên cứu đã chỉ ra mốt số đặc điểm của hoàn cảnh trong tác
phẩm Nam Cao. Chẳng hạn: "Đọc truyện Nam Cao không thấy những hoàn cảnh điển hình
với những xung đột điển hình kiểu nhƣ nông dân và địa chủ, tƣ bản và dân nghèo" (Phạm
Xuân Nguyên) [193.150]; " Trái tim nhân đạo và cái nhìn sắc sảo của ông đã thấu hiểu những
hoàn cảnh thiếu nhân tính làm cho con ngƣời bị tha hóa" (Trần Đăng Xuyên) [193.159]; " để
những dạng nhân vật đặc biệt của mình xuất hiện, Nam Cao ráo riết chuẩn bị một môi trƣờng
đậm đặc tính chất trái chiều" (Nguyễn Quang Trung)[193.211]; "đọc văn Nam Cao ở truyện
nào ta cũng có thể gặp những hoàn cảnh, những tình huống trái ngƣợc, những sự tƣơng phản
giữa thực tại và ƣớc mơ" (Phan Trọng Thƣởng) [193.474 ]... Nhƣng những nhận định trên
chủ yếu vẫn dừng ở những nhận xét đơn lẻ và ít có sự minh chứng cụ thể, bởi những ý kiến
bàn về hoàn cảnh trên đây đƣợc đề cập tới trong những bài viết không lấy vấn đề hoàn cảnh
làm đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu.
9
2.3.3. Đề cập tới vấn đề hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao, nhiều nhà nghiên cứu
đã chỉ ra đƣợc tác động của hoàn cảnh tới nhân cách, sự tha hóa của con ngƣời. Chẳng hạn: "
Nam Cao đã diễn tả với một sức mạnh lạ thƣờng quá trình lƣu manh hóa của một số quần
chúng cơ bản trong hoàn cảnh bị đè nén áp bức bóc lột của xã hội cũ" (Lê Đình Kỵ)[l93.59];
" Trong tác phẩm Nam Cao, con ngƣời sống trong một xã hội dữ dằn cay nghiệt, hoàn cảnh
nhƣ muốn nghiền nát con ngƣời" (Nguyễn Văn Hạnh)[193.131]; "Sự kiện của hiện thực đƣợc
chú trọng không đủ trên bình diện phản ánh mà còn là, và chủ yếu là, trên lĩnh vực tác động
của nó tới nhân cách con ngƣời" (Phạm Xuân Nguyên)[193.147]; Hoàn cảnh không chỉ tác
động tới nhân cách con ngƣời mà nó còn tác động tới tâm lý, tới quá trình tự ý thức của nhân
vật: "Hiện lên trong tiểu thuyết Sống mòn những biến thái của tâm trạng các nhân vật này
sinh trong những hoàn cảnh với những va đập, khắc khoải, những bộc bạch kiểu tƣ vấn"
(Nguyễn Ngọc Thiện) [193.330].
2.3.4. Một số nhà nghiên cứu khẳng định sức ám ảnh, sự truyền cảm mạnh mẽ từ
những hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao. Chẳng hạn, bàn về tác phẩm Sống mòn, Phong
Lê nhận xét: "Bối cảnh truyện chỉ là sinh hoạt của mấy thầy giáo dạy tƣ nhƣng sao lại có sức
gắn đến thế với cả cuộc đời rộng lớn, cái tiếng thì thầm của tác phẩm lại có sức ám ảnh đến
thế với nhiều lớp ngƣời trong hành trình cuộc đời, giữa bao thăng trầm của lịch sử"
[193.111]. Đọc truyện ngắn của Nam Cao, nhà văn Nguyên Hồng có cảm giác: " ta thấy tâm
trí ta nghẹn lại, ngực ta tức tối, ý thức ta có một cái gì nhấp nháy nhƣ ánh sáng chỉ chờ bắt
cháy đƣợc thêm một sức mạnh gì đấy có thể nổ bùng lên" [193.82]. Và khi phân tích chất
nghịch dị trong tác phẩm Nam Cao Vƣơng" Trí Nhàn cũng khẳng định Nam Cao đã "tạo nên
một hiệu quả ngột ngạt tức thở gợi ra cảm tƣởng một thứ lƣới vô hình bao quanh ngƣời ta.
Lƣới chỉ mỏng manh nhẹ nhàng nhƣng ngày một thít chặt hơn," không ai thoát ra nổi"
[193.456]...
10
2.3.5. Không khí trong tác phẩm Nam Cao cũng là vấn đề đã đƣợc một số công trình
nghiên cứu đề cập tới. Đó là không khí "có cái gì kinh dị lạ thƣờng" (Nguyễn Đức Đàn)
[193.67], " rùng rợn đến ngỡ nhƣ ma quái" (Quỳnh Nga) [193.443] trong Nửa đêm, "không
khí ma sống lẫn với ngƣời " (Hà Minh Đức) [193.257] trong Ma đưa ... và bao trùm lên phần
lớn các tác phẩm là không khí "tù đọng ngột ngạt đến mức không chịu nổi" (Trần Đăng
Xuyền) [193.403]. Nhận xét về nghệ thuật tạo không khí của Nam Cao, Hà Minh Đức khẳng
định Nam Cao đã "nắm bắt đƣợc nhiều chi tiết chân thực và sinh động, tạo không khí giỏi"
[63.204].
Nhƣ vậy, nhìn lại những công trình nghiên cứu về Nam Cao, chúng tôi nhận thấy vấn
đề hoàn cảnh đã từng đƣợc quan tâm. Nhƣng những kiến giải về nó vẫn chủ yếu dừng ở
những nhận xét, cảm nhận, ít có những minh chứng cụ thể. Nó vẫn chủ yếu đƣợc nhìn nhận ở
góc độ hoàn cảnh xã hội. Cách nhìn ấy là đúng và cần thiết, nhƣng có lẽ chƣa đủ. Bởi vì hoàn
cảnh chƣa thực sự đƣợc nhìn nhận nhƣ một yếu tố nghệ thuật trong cấu trúc tác phẩm Nam
Cao. Bàn về vấn đề này, có lẽ bài viết về "Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của
Nam Cao" [63.311 ] của Hà Minh Đức là đáng chú ý hơn cả. Trong bài viết này, tác giả tập
trung phân tích hoàn cảnh, chỉ ra một số đặc điểm của hoàn cảnh ấy, vị trí vai trò quan trọng
của nó và khẳng định "tài năng tạo dựng hoàn cảnh" là "thành công lớn của Nam Cao và ấn
tƣợng sâu sắc nhất có thể nhận thấy" ở Nam Cao so với các nhà văn hiện thực khác [63.320].
Khi nói rằng, đọc tác phẩm Nam Cao, ngƣời ta cảm nhận rất rõ một không khí ngột
ngạt, tù túng, trì trệ, bế tắc, mỏi mòn... thậm chí, một không khí ma quái, là ngƣời ta đã nhìn
nhận hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao ở phƣơng diện nghệ thuật ; đã thừa nhận hoàn cảnh
trong tác phẩm Nam Cao đƣợc xây dựng một cách nghệ thuật. Bởi vì hoàn cảnh nghệ thuật là
hoàn cảnh tạo đƣợc không khí, nó phải toát lên một không khí và tạo nên sức truyền cảm, ám
ảnh mạnh mẽ tới ngƣời đọc.
Tuy nhiên, sự nhìn nhận hoàn cảnh nghệ thuật trong tác phẩm Nam Cao cũng vẫn chỉ
dùng ở những ý kiến nhận xét, cảm nhận, chƣa hệ thống, các yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật
của hoàn cảnh chƣa đƣợc đề cập tới trong một hệ thống.
11
3. NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU.
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nhiệm vụ của luận án là đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh đƣợc
thể hiện trong một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và
Nam Cao, để từ đó làm sáng rõ cơ sở lý thuyết thi pháp hoàn cảnh. Trên cơ sở đó tiếp tục
nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm văn học hiện thực ở một phƣơng diện mới.
- Để có thể thực hiện đƣợc mục đích nghiên cứu, luận án phải xác định nội dung nghệ
thuật khái niệm hoàn cảnh trong văn học (tức là cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh) tạo tiền
đề lý luận cho việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn.
- Từ quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của ba nhà văn tiêu biểu, đề tài phải chỉ ra
đƣợc sự phong phú của những quan niệm nghệ thuật ấy và chứng minh những quan niệm ấy
không phải là những khái niệm trừu tƣợng mà nó đƣợc thể hiện qua hệ thống những yếu tố
nghệ thuật.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu.
- Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực nhƣng đề tài
chỉ nghiên cứu ba tác giả tiêu biểu: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao.
- Tác phẩm của các nhà văn trên có một số lƣợng rất lớn bởi vậy đề tài cũng chỉ tập
trung khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn đó
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Căn cứ vào mục tiêu đối tƣợng đã đƣợc xác định, để hoàn thành những nhiệm vụ đã
đặt ra, đề tài này sẽ phải sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
12
4.1. Phƣơng pháp hệ thống: Quan niệm nghệ thuật bộc lộ qua hệ thống các tín hiệu
nghệ thuật, qua sự lặp lại, tần số xuất hiện của các chi tiết nghệ thuật. Bởi vậy phƣơng pháp
hệ thống là phƣơng pháp không thể không sử dụng để đạt đƣợc những mục đích, yêu cầu đã
đặt ra trong luận án: nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh văn xuôi hiện thực .
4.2. Phƣơng pháp so sánh, lịch sử: Một trong những nhiệm vụ đặt ra đối với đề tài là
chỉ ra đƣợc sự khác biệt, đa dạng, phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong
văn xuôi hiện thực. Không thể thấy đƣợc sự khác biệt, đa dạng, phong phú đó nếu không sử
dụng phƣơng pháp này. Đây là phƣơng pháp đƣợc chúng tôi đặc biệt chú ý.
4.3. Phƣơng pháp thống kê: Sử dụng phƣơng pháp này là cần thiết bởi từ những kết
quả của nó, các luận điểm, kết luận sẽ có những luận cứ cụ thể, thuyết phục.
4.4. Phƣơng pháp phân tích tác phẩm văn học: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm
minh chứng cho những kết luận lý thuyết, sáng tỏ những vấn đề lý luận.
5. NHỮNG KẾT LUẬN MỚI VÀ CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN.
5.1. Những kết luận mới.
- Đề tài khẳng định có một quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong trào lƣu văn học
hiện thực thời kỳ 1930 - 1945. Quan niệm đó bộc lộ qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh
trong một số tác phẩm xuất sắc của các tác giả tiêu biểu. Lần đầu tiên, vấn đề thi pháp hoàn
cảnh đƣợc đặt ra và thi pháp hoàn cảnh của văn học hiện thực đƣợc nghiên cứu một cách cụ
thể, hệ thống, có ý thức hơn. Đề tài góp thêm một hƣớng tiếp cận mới về vấn đề hoàn cảnh.
- Đồng thời luận án còn chỉ ra sự phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh
trong trào lƣu văn học này, khẳng định đóng góp của các nhà văn hiện thực về phƣơng diện
xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật - đổi mới một phƣơng diện hình thức trong tác phẩm văn
chƣơng Việt Nam.
13
5.2. Cấu trúc của luận án:
Mở đầu.
Nội dung: Gồm 4 chƣơng
Chƣơng 1: Xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh và qua niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh trong văn học.
Chƣơng 2: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
Chƣơng 3: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Giống tố của Vũ Trọng Phụng.
Chƣơng 4: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Sống mòn và một số truyện
ngắn tiêu biểu của Nam Cao.
Kết luận.
Một số công trình, bài báo liên quan đến đề tài luận án của tác giả đã công bố
Thƣ mục.
14
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: XÁC ĐỊNH NỘI DUNG NGHỆ THUẬT CỦA KHÁI NIỆM
HOÀN CẢNH VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG
TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC
1.1.Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh và sự cần thiết của việc xác định nội
dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học hiện thực
1.1.1. Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh.
Chủ nghĩa hiện thực là một khuynh hƣớng, một trào lƣu văn học có nội dung cụ thể,
xác định trên cơ sở một số nguyên tắc mỹ học: Lấy hiện thực trực tiếp là đối tƣợng của nghệ
thuật, coi trọng các chi tiết chân thực, cụ thể, chính xác trong quá trình miêu tả con ngƣời và
cuộc sống ; tái hiện khách quan các mối quan hệ của con ngƣời với hoàn cảnh, chú trọng mối
quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình trên cơ sở thừa nhận sự
tác động qua lại giữa con ngƣời và mồi trƣờng sống, giữa tính cách và hoàn cảnh; phản ánh
cuộc sống bằng điển hình hóa các sự kiện của thực tế đời sống, đảm bảo tính khuynh hƣớng
xã hội nhƣng không biến nhân vật thành ngƣời phát ngôn lộ liễu.
Vấn đề chủ nghĩa hiện thực là một trong những vấn đề lớn của lý luận văn học bởi sự
phong phú, phức tạp và ý nghĩa của nó. Còn có nhiều vấn đề phải bàn cãi xung quanh chủ
nghĩa hiện thực. Chỉ riêng việc xác định thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực, cho đến
nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau: "Một số ngƣời cho rằng, những nguyên tắc phản ánh
hiện thực chủ nghĩa hình thành từ cổ đại và trải qua các giai đoạn lịch sử nhƣ Cổ đại, Phục
hƣng, Ánh sáng, thế kỷ XIX ... một số khác thì cho là từ thời Phục hƣng ; một số khác nữa thì
cho là từ thế kỷ XVIII khi tiểu thuyết sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội ra đời. Nhiều
ngƣời thì lại cho rằng, chủ nghĩa hiện thực nhƣ
15
một phƣơng pháp, một khuynh hƣớng nghệ thuật hình thành vào những năm 30 của thế kỷ
XIX, khi trong văn học châu Âu nguyên tắc mô tả chân thực cuộc sống đƣợc khẳng định một
cách đầy đủ nhất, trong những hình thức phân tích xã hội phát triển nhất" [185.55].
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở trào lƣu văn học hiện thực
phƣơng Tây thế kỷ XIX, bởi vì: "Dù các ý kiến còn khác nhau đến đâu thì mọi ngƣời đều
phải thừa nhận là từ những năm 40 thế kỷ XIX trở di, chủ nghĩa hiện thực trong văn học đã
bƣớc sang một giai đoạn mới phát triển hoàn chỉnh và rực rỡ nhất cả về mặt lý luận lẫn thực
tế sáng tác" [185.55]. Và trong thực tế, trào lƣu văn học hiện thực thế kỷ XIX đã trở thành
nền tảng cho sự phát triển lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực.
Tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực, các nhà nghiên cứu thƣờng nhắc đến định nghĩa nổi
tiếng của Ăngghen trong bức thƣ gửi M. Háccơnecxơ về đặc trƣng của việc phản ánh đời
sống theo lối hiện thực chủ nghĩa: "Theo ý tôi, ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực
còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình"
[152.384]. Ở đây, Ăngghen đã đặc biệt nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa tính cách điển hình
và hoàn cảnh điển hình. Đây là mối quan hệ không ai có thể phủ nhận. Nhƣng cũng cần phải
thấy rằng, tƣ tƣởng về mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh là tƣ tƣởng chung của nhiều
thời đại. Giữa thế kỷ XIX, giới phê bình dân chủ cách mạng Nga từ những quan niệm có tính
duy vật về bản chất của con ngƣời đã đề cập tới tƣ tƣởng về sự phụ thuộc của tính cách vào
các hoàn cảnh xã hội - lịch sử khách quan. Đó là cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn nguyên
tắc phản ánh cuộc sống của chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa hiện thực có nhu cầu giải thích
tính cách số phận bằng hoàn cảnh. Các nhà văn hiện thực nhận thấy môi trƣờng hoàn cảnh
quyết định số phận, tính cách con ngƣời. Trong truyện ngắn Sao lại thế này ? nhà văn hiện
thực xuất sắc Nam Cao đã từng khẳng định: "Chỉ có những hoàn cảnh là khác. Hoàn cảnh
đổi, thế là ngƣời đổi tâm tính đổi ". Trong chủ nghĩa hiện thực, con ngƣời luôn luôn là đại
diện của một môi trƣờng lịch sử xã hội nhất định. Nó phụ thuộc vào chính môi trƣờng ấy.
Môi trƣờng ấy là bao trùm rộng lớn chứ không chỉ là một vài cá nhân xoay
16
quanh nhân vật. Có thể nói, nguyên lý mối quan hệ tính cách và hoàn cảnh là một nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa hiện thực. Bởi vậy, phải thừa nhận nguyên lý về mối quan hệ giữa tính
cách và hoàn cảnh đƣợc coi là nền tảng của chủ nghĩa hiện thực lâu nay là đúng.
Vấn đề hoàn cảnh đã đƣợc đặt ra từ Hêghen (1770-1831) - nhà biện chứng, đồng thời
là nhà triết học duy tâm khách quan thế kỷ XVIII. Mặc dù triết học của ông đầy mâu thuẫn,
nhƣng một đóng góp to lớn của Hêghen vào lý luận mỹ học là đã xây dựng đƣợc những phạm
trù mỹ học tình huống, xung" đột,- hành động và tính cách, đồng thời cấp cho chúng một
cách lý giải thực sự sâu sắc.
Thực ra, trƣớc Hêghen, Arixtốt, Létxinh đã dùng khái niệm này để nói về kịch.
Hêghen nâng chúng lên thành những phạm trù của mỹ học và đƣa ra đƣợc cách lý giải gắn
với bản chất của cái đẹp. Phạm trù tình huống (die Situation) của Hêghen, rất gần với phạm
trù " hoàn cảnh điển hình" và phạm trù tính cách của ông cũng rất gần với phạm trù " tính
cách điển hình" của mỹ học hiện thực. Hêghen cũng đã đƣa ra khái niệm "tình trạng chung
thế giới" và cho rằng "So với từng cá nhân, thì tình trạng chung của thế giới chỉ làm thành
miếng đất trên đó các cá nhân tồn tại và tự biểu lộ với những đặc điểm riêng biệt của từng
hoàn cảnh" [68.T1-336]. Nhƣ vậy khái niệm "tình trạng chung thế giới" ở đây có thể hiểu là
hoàn cảnh lịch sử khách quan. Hoàn cảnh lịch sử khách quan ấy đƣợc cụ thể hóa ở cá nhân
thành tình huống: "Tình huống làm thành một tiền đề riêng biệt hơn khiến cho mọi cái gì
trong tình trạng chung của thế giới vẫn còn nằm ở trong hình thức chƣa phát triển thì nay bộc
lộc ra ngoài và hoạt động tích cực" [68.T1-338]. Hêghen cho rằng: "Nói chung tình huống là
một trạng thái có tính chất nông biệt và trở thành đƣợc qui định. Ở trong thuộc tính này của
nó, tình huống góp phần biểu lộ nội dung là cái phần có đƣợc một sự tồn lại bên ngoài bằng
sự biểu hiện nghệ thuật " [68.T1-338]. Và Hêghen cũng đã khẳng định tầm quan trọng của
tình huống: " Tình huống cấp cho ta một thao trƣờng rộng lớn để tìm hiểu bởi vì từ lâu nhiệm
vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị, tức là những tình
huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và
17
sâu sắc cũng nhƣ cái nội dung chân thực của tâm hồn" [68.TI-338]. Nhƣ vậy, có thể nói,
trong quan niệm của Hêghen, tình trạng chung của thế giới (hoàn cảnh lịch sử khách quan) là
đối tƣợng của khoa học, muốn trở thành đối tƣợng của nghệ thuật nó phải đƣợc bộc lộ dƣới
hình hình thức tình huống (hoàn cảnh điển hình), ở đây ta thấy có sự gần gũi giữa quan niệm
của Hêghen và mĩ học hiện thực. Nhƣng cũng chƣa thể sử dụng khái niệm "hoàn cảnh" ấy để
khám phá nội dung nghệ thuật khái niệm hoàn cảnh trong văn học nói chung và trong văn học
hiện thực nói riêng.
Mối quan hệ biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh cũng là một trong những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là một mặt của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thƣợng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Trong Luận cƣơng về Phơ Bách,
Mác đã khẳng định: " Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con ngƣời là tổng hòa của tất
cả những mối quan hệ xã hội" [152.148]. Triết học Mác cũng đã khẳng định vai trò quyết
định của hoàn cảnh. Quan niệm đó thể hiện ở nguyên lý: " Ý thức không bao giờ lại có thể là
cái gì khác hơn là bản thể có ý thức cả (das bewusste Sein), mà bản thể của con ngƣời lại là
quá trình sinh hoạt thực tế của họ. Và nếu trong toàn bộ hệ tƣ tƣởng, chúng ta thấy con ngƣời
và những mối quan hệ của họ lộn ngƣợc đầu xuống dƣới, nhƣ trong một buồng tối, thì hiện
tƣợng đó là do quá lành sinh "hoạt lịch" sử của họ ma ra, hoàn toàn giống nhƣ hình ảnh lộn
ngƣợc của các vật trên võng mạc của con mắt là do quá trình sinh hoạt rõ ràng về mặt thể
chất mà ra " [152.43-44].
Xuất phát từ những quan niệm triết học ấy, bàn về văn học Mác -Ăngghen cũng rất
chú ý tới vấn đề hoàn cảnh. Trong " Thƣ gửi Látxan ngày 18/5/1895", Ăngghen có viết: "
Theo quan niệm về kịch của tôi, là quan điểm đòi hỏi ngƣời ta không đƣợc vì chạy theo
những cái có tính chất lý tƣởng mà quên mất hiện thực, không vì chạy theo Sinle mà quên
mất Sechxpia, thì việc sử dụng thành phần bình dân hết sức đa dạng trong xã hội lúc bấy giờ
có lẽ sẽ đem lại những chất liệu hoàn toàn mới về cho vở kịch sinh động tạo ra được một cái
nền vô cùng có giá trị (chúng tôi nhấn mạnh - PMH) cho phong
18
trào dân tộc của giai cấp quí tộc đang diễn ra trên sâu khấu, và có lẽ sẽ lần đầu tiên làm cho
ngƣời ta nhìn thấy rõ bộ mặt thật của chính phong trào này" [152.376]. Ở đây, có thể nói
Ăngghen cũng đã đề cập tới một phƣơng diện nghệ thuật của hoàn cảnh đó là hệ thống nhân
vật trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Cũng trong bức thƣ này, bàn về vở kịch
Xíchkinghen, Ăngghen nhận xét: " Cách đặt vấn đề đƣợc nêu lên đúng đắn: Các nhân vật
chính thì thực sự là dại biểu cho những giai cấp và những trào lƣu nhất định, do dó tiêu biểu
cho các tƣ tƣởng nhất định của thời đại họ, và động cơ hành động của họ không phải là
những ham thích vụn vặt cá nhân, mà là cái trào lƣu lịch sử lôi cuốn họ" [152.373J. Vấn đề
hoàn cảnh cũng lại đƣợc Ăngghen đề cập đến trong " Thƣ gửi M. Háccơnecxơ đầu tháng
4.1888". Trong bức thƣ này, bàn về tác phẩm Cô gái thành thị, Ăngghen đã đƣa ra một
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa hiện thực là "Sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình
trong hoàn cảnh điển hình". Đồng thời ông nhận xét: " Các tính cách của cô khá điển hình
trong những giới hạn, trong đó những tính cách ấy hành động, nhƣng về các hoàn cảnh bao
quanh họ và bắt họ hành động, thì ngƣời ta có thể nói là không đƣợc điển hình đầy đủ". Để
làm rõ hơn nhận xét đó ông viết tiếp: "Trong Cô gái thành thị, giai cấp công nhân xuất hiện
với tính cách một quần chúng thụ động không thể tự giúp mình đƣợc, thậm chí không có một
sự cố gắng và một mƣu toan nào về mặt đó. Mọi mƣu toan kéo nó ra khỏi cái cảnh nghèo khổ
làm ngƣời ta đần độn đều xuất phát từ bên ngoài, từ bên trên. Nhƣng nếu nhƣ điều này là
đúng đối với năm 1800 hay 1810 tức là vào thời của Xanhximông và của Rôbe Ôoen, thì vào
năm 1897 vấn đề không phải nhƣ vậy nữa đối với một ngƣời gần 50 năm nay đã vinh dự
tham dự vào phần lớn các trận chiến dấu của giai cấp vô sản" [152.384].
Qua những ý kiến trên, có thể thấy rằng, quan tâm tới vấn đề hoàn cảnh, nhƣng
Ăngghen chú ý tới tính chân thực của hoàn cảnh nhiều hơn là tính nghệ thuật của hoàn cảnh.
Vì vậy, những ý kiến của Ăngghen về chủ nghĩa hiện thực khiến ngƣời ta hƣớng tới phƣơng
diện xã hội nhiều hơn là phƣơng diện nghệ thuật khi nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm
văn học.
19
Các nhà lý luận, nhà nghiên cứu, nhà văn trong và ngoài nƣớc cũng đã có nhiều ý kiến
bàn về vấn đề hoàn cảnh, nhất là khi nói tới những vấn đề xung quanh chủ nghĩa hiện thực.
Cùng với việc khẳng định: "Bất cứ tính cách nào cũng là một đại diện trong chừng
mực này hay chừng mực khác của một hoàn cảnh nhất định", L. I. Timôfêep đã thể hiện quan
niệm về hoàn cảnh: "Hoàn cảnh mà ta hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ môi trƣờng xã hội xung
quanh con ngƣời đó. Cái vốn có của hoàn cảnh ấy là những mối quan hệ nhất định giữa ngƣời
và ngƣời, thể hiện trong những biến cố xung đột này hay những biến cố xung đột khác... điển
hình đối với nó, tức là những biến cố xung đột trong đó bộc lộ rõ thái độ của con ngƣời tiểu
biểu đối với hoàn cảnh ấy". [235.297]. Khái niệm hoàn cảnh ở đây đã đƣợc nhà lý luận hiểu
là "toàn bộ môi trƣờng xã hội xung quanh con ngƣời đó". Và theo ông đó là "hoàn cảnh mà ta
hiểu theo nghĩa rộng". Nhƣng nếu hiểu hoàn cảnh theo nghĩa rộng nhƣ vậy vẫn chƣa đủ.
Hoàn cảnh không chỉ là " toàn bộ môi trƣờng xã hội" mà còn là toàn bộ môi trƣờng tự nhiên.
Tất nhiên, cốt lõi của hoàn cảnh vẫn là "những mối quan hệ nhất định giữa ngƣời và ngƣời".
Trong cách định nghĩa của L. I. Timôpêep, ta vẫn chưa thấy hoàn cảnh được nhìn nhận ở
phương diện thẩm mỹ - nghệ thuật.
Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học, G.N. Pospelov đã đặt ra vấn đề phải xác
định khái niệm hoàn cảnh khi nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực: " Trƣớc khi đi đến một công
thức khoa học về chủ nghĩa hiện thực tƣ duy lý luận cần phải đặt ra và giải quyết vấn đề thế
nào là "những hoàn cảnh" mà chúng có ảnh hƣởng đến các tính cách đƣợc miêu tả và vì sao
sự phát triển các tính cách phụ thuộc vào các hoàn cảnh là đặc điểm tƣ bản của chủ nghĩa
hiện thực" [201 - 247] và theo G.N. Pospelov "Ngay tƣ tƣởng lý luận văn học dân chủ đã
khám phá bản chất xã hội của các hoàn cảnh tạo nên tính cách và đó là chìa khóa có tính
chất phƣơng pháp luận quan trọng để hiểu văn học hiện thực. Các hoàn cảnh đã đƣợc hiểu
nhƣ các đặc điểm bên ngoài của môi trƣờng, hoàn cảnh tƣơng tự mà nhƣ những quan hệ .xã
hội và cuộc đấu tranh xã-hội
20
qui định sự vận động lịch sử của xã hội và do đấy quy định cả từng cá nhân riêng lẻ"
[201.248].Về những ý kiến khẳng định mối quan hệ giữa các tính cách nghệ thuật và hoàn
cảnh xã hội, G. N. Pospeelov nhận xét: "nếu nhƣ các nhà phê bình đã nhận xét rằng, nhà văn
nhận thức đƣợc mối quan hệ của các nhân vật nghệ thuật do mình tạo ra với những hoàn cảnh
của đất nƣớc và thời đại sâu sắc hơn so với những ngƣời đi trƣớc và đã khám phá sâu sắc hơn
những tác động qua lại giữa chúng thì trong đó họ đã thấy sự phát triển của chủ nghĩa hiện
thực, sự hoàn thiện của nguyên tắc phản ánh đời sống hiện thực chủ nghĩa" [201.248]. Đặt ra
vấn đề phải xác định khái niệm hoàn cảnh và cũng đã bàn về vấn dề hoàn cảnh trong văn học,
G. N. Pospelov chủ yếu vẫn nhấn mạnh bản chất xã hội của hoàn cảnh.
M. B. Khraplrenko khi nghiên cứu Các hình thức khái quát hóa hiện thực chủ nghĩa
đã nhấn mạnh: Một trong những thành tựu lớn nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán là sự
phản ánh những mối quan hệ chặt chẽ giữa con ngƣời với môi trƣờng xã hội, sự tái hiện tác
động của những điều kiện, hoàn cảnh sống đối với việc hình thành tính cách con ngƣời.
Những mối liên hệ của con ngƣời với thế giới xung quanh cũng là đối tƣợng chú ý đặc biệt
của văn học hiện thực trong giai đoạn phát triển trƣớc của nó - trong thời kỳ Phục Hƣng, và
sau đó trong thời đại Khai sáng. Tuy nhiên, trong chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đã nay sinh
những đặc điểm căn bản mới mẻ về mặt này" . [110.61]. Giải thích nguyên lý về mối quan hệ
giữa tính cách và hoàn cảnh, M.B Khraptrenko viết:" Các nhà hiện thực thế kỷ XIX đã thực
hiện việc khám phá lĩnh vực hình thành và phát triển những tính cách con ngƣời, các mối liên
hệ của những tính cách đó đối với môi trƣờng xã hội, những khám phá đó sở dĩ có đƣợc là do
trong chính thực tại đã nổi rõ lên sự tác động của hoàn cảnh sống đối với thế giới nội tâm con
ngƣời và cũng là do tƣ duy sáng tạo của các nghệ sĩ ngôn từ lớn đã nhằm vào việc nghiên cứu
các khái quát bằng nghệ thuật các quan hệ của con ngƣời với môi trƣờng xã hội, của cá nhân
với xã hội" [110.88]. Nhận xét một số tác phẩm tiêu biểu của Bandắc về phƣơng diện hoàn
cảnh, M. B Khraptrenko cho rằng " việc miêu tả cảnh sinh hoạt, nhà cửa,
21
địa điểm, xảy ra hành động cũng chiếm vị trí quan trọng trong Ơgiêni Grăngđê, Nông dân, Đi
tìm cái tuyệt đối, Bêalơrix. Hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không chỉ
là sự dẫn chuyện, mà còn nhƣ một nhân vật văn học độc đáo, bình đẳng về nhiều mặt với các
nhân vật chính của tác phẩm" [110.91]. Khi cho rằng hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm
Bandắc "nhƣ một nhân vật văn học độc đáo", có nghĩa là M.B. Khraplrenko đã coi hoàn cảnh
như một hình tượng nghệ thuật, nó không chỉ còn đƣợc coi là cái nền, cái bối cảnh cho nhân
vật hoạt động. Từ quan niệm " hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không
chỉ là sự dẫn chuyện", M. B. Khraptrenko nhận thấy "Khi xác định hoàn cảnh sinh hoạt vật
chất của các nhân vật, ảnh hƣởng của hoàn cảnh đó đối với con ngƣời, Ban dắc không tách
rời cái môi trƣờng theo nghĩa hẹp của từ này, với cái môi trƣờng đƣợc hiểu một cách rộng rãi
nhƣ là một tập hợp mâu thuẫn của những nguyên tắc thống trị đời sống. Cái này đan quyện
với cái kia" [110.92]. Ở đây, hoàn cảnh đã đƣợc nhìn nhận ở phƣơng diện cấu trúc nghệ thuật
của nó.
Ở Việt Nam, các nhà lý luận khi bàn về chủ nghĩa hiện thực cũng đã nói tới vấn đề
hoàn cảnh. Nhƣng các tác giả chủ yếu chỉ nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa tính cách điển hình
và hoàn cảnh điển hình. Và cũng có tác giả đƣa ra nội dung khái niệm hoàn cảnh điển hình.
Còn nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh thì chƣa đƣợc đề cập tới.
Trong công trình nghiên cứu về Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (NXB Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, xuất bản năm 1974) Phan Cự Đệ cũng đã bàn về vấn đề hoàn cảnh
điển hình khi nói tới "Vấn đề điển hình hóa trong các tiểu thuyết hiện thực phê phán". Tác giả
đã nhấn mạnh tới sự phân biệt giữa hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh trong tác phẩm: "Hoàn
cảnh điển hình trong tiểu thuyết không phải là sự sao chép một cách tầm thường hoàn cảnh
trong cuộc sống. Hoàn cảnh điển hình phản ánh bối cảnh lịch sử nhưng khái niệm hoàn cành
điển hình không đồng nhất với khái niệm hoàn cảnh lịch sử. Hoàn cảnh điển hình là một
phạm trù thẩm mỹ (chúng tôi nhấn mạnh - PMH).
22
Hoàn cảnh điển hình khái quát và nêu lên ý nghĩa bản chất của cuộc đấu tranh xã hội bằng
hình thức thẩm mỹ cá biệt hóa. Hoàn cảnh điển hình do nhà văn Xây dựng trên cơ sở tƣởng
tƣợng hƣ cấu và nhờ vậy họ làm cho sự xung đột giữa các mâu thuẫn xã hội cơ bản trở nên
gay gắt hơn, sự phát triển của hành động trở nên dồn dập căng thẳng hơn" [40.305]. Ở đây có
thể nói Phan Cự Đệ đã chú ý tới hoàn cảnh với tư cách là một hình tượng nghệ thuật chứ
không chỉ là hoàn cành xã hội. Nhà nghiên cứu đã khẳng định giá trị thẩm mỹ của hoàn
cảnh và hoàn cảnh là kết quả sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Xuất phát từ quan niệm
hoàn cảnh là một phạm trù thẩm mĩ, Phan Cự Đệ cũng đã đề cập tới một yếu tố cốt lõi trong
cấn trúc nghệ thuật của hoàn cảnh: "Hoàn cảnh điển hình chỉ có tính cách hiện thực và sinh
động nếu nó đƣợc biểu hiện thông qua các tính cách, được coi là sự tác động lẫn nhau giữa
các "tính cách [84. T2. 368].
Trong công trình nghiên cứu "Văn xuôi Việt Nam trên con đƣờng hiện thực xã hội
chủ nghĩa " (Nxb Khoa học xã hội, ấn hành năm 1980), khi bàn về "Nhân vật trung tâm của
văn xuôi: con ngƣời mới", Phong Lê đã đề cập tới vấn đề "con ngƣời và hoàn cảnh " và nhấn
mạnh: "phải đến chủ nghĩa hiện thực và đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực xã hôi chủ nghĩa,
dƣới ánh sáng của chủ nghĩa Mác, hoàn cảnh mới đƣợc quan niệm một cách đúng đắn"
[1.29.155]. Nhƣng nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa tính cách và
hoàn cảnh, sự cách tân của hoàn cảnh trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa so với văn
học hiện thực ... mà chƣa bàn tới cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học. Cũng phải
nói thêm rằng, ở đây Phong Lê đã có những nhận xét khái quát rất đúng, chẳng hạn: "Bất cứ
sự miêu tả nghệ thuật nào về cuộc sống con ngƣời cũng đều phải gắn bó con ngƣời với hoàn
cảnh. Nhƣng theo sự phát triển của lịch sử, và trong đấu tranh giữa các trƣờng phái văn học,
quan niệm của nhà văn về hoàn cảnh có khác nhau" [ 129. 155].
23
Trong cuốn Lý luận văn học của bộ môn lý luận văn học, khoa Ngữ văn, trƣờng Đại
học tổng hợp Hà Nội (xuất bản lần 1 năm 1993, tái bản lần thứ 4 năm 1997) các tác giả đã chỉ
ra một trong bốn nguyên tắc sáng tác của phƣơng pháp hiện thực phê phán là: "Chú trọng mối
quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình" [58.280]. Nhƣng, nhƣ
lời nói đầu của Hà Minh Đức" các tác giả có ý thức trình bày các vấn đề lý luận một cách tập
trung ngắn gọn, không mở rộng và quá đi sâu vào các khía cạnh phức tạp" nên nội dung nghệ
thuật khái niệm hoàn cảnh cũng chưa được xác định. Tuy nhiên, tác giả cũng đã lưu ý phân
biệt hoàn cảnh ngoài đời và hoàn cảnh trong tác phẩm: "Trong đời sống thực tế, khái niệm
"hoàn cảnh" bao gồm: địa điểm hoạt động cụ thể của con ngƣời ; những điều kiện kinh tế,
chính trị, văn hóa ... của gia đình, địa phƣơng, xã hội, thời đại ; những mối quan hệ cụ thể của
cá nhân với mọi ngƣời, với cuộc sống xung quanh ... Tuy nhiên, hoàn cảnh trong tác phẩm
văn học không phải là sự phản ánh một cách máy móc hoàn cảnh trong thực tế, mà nó cũng
chịu tác động của qui luật sáng tạo văn học (chúng tôi nhấn mạnh - PMH), nghĩa là nó cũng
đƣợc nhà văn tiến hành khái quát hóa và cá biệt hóa khi đƣa vào tác phẩm"[58.131]. Về tính
khái quát và tính cá biệt của hoàn cảnh, tác giả giải thích: "Tính khái quát là ý nghĩa tiêu biểu
của hoàn cảnh trong tác phẩm cho nhiều hoàn cảnh khác cùng một xã hội, cùng một thời đại
với nó (...) cùng với tính khái quát, hoàn cảnh trong tác phẩm phải có tính cá biệt. Đó chính là
những đặc điểm riêng biệt độc đáo những chi tiết cụ thể, sinh động về địa điểm hoạt động và
mối quan hệ của con ngƣời sống liên địa điểm ấy" [58.131-132]. Ở đấy, tác giả cũng đã đề
cập tới phương diện nghệ thuật của hoàn cảnh. Mặc dù vậy, cấu trúc nghệ thuật của hoàn
cảnh vẫn chưa được xác định.
Trong giáo trình Lý luận văn học (tập 3) do nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1988,
bàn về chủ nghĩa hiện thực, tác giả có viết:" Với nguyên tắc lịch sử - cụ thể, với quan niệm
"con ngƣời xã hội" ,chủ nghĩa hiện thực phê
24
phán xây dựng đƣợc những hoàn cảnh điển hình. Đó là những hoàn cảnh của nhân vật được
tái hiện vào trong tác phẩm, phản ánh đƣợc bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất trong
những tình thế xã hội với một quan hệ giai cấp nhất định" [149.98-99]. Khi dùng chữ "tái
hiện" nghĩa là tác giả đã không đồng nhất hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh trong tác phẩm, đã
chú ý tới phƣơng diện nghệ thuật của hoàn cảnh. Nêu lên vấn đề hoàn cảnh điển hình, tác giả
cũng đã có những ý kiến khá thoả đáng về phƣơng diện nghệ thuật của khái niệm này: "Tất
nhiên cũng nhƣ tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu khái quát của hoàn cảnh điển hình phải
thông qua tính chất cụ thể, riêng biệt của nó. Cái hiện lên trƣớc mắt ngƣời đọc chính là những
hoàn cảnh cụ thể riêng biệt này. Có điều, qua những nét cụ thể riêng biệt đó, ngƣời đọc cảm
thấy đƣợc những vấn đề xã hội rộng lớn. Thảng hoặc, trong tác phẩm, nhà văn có trực tiếp
giới thiệu những vấn đề xã hội bao trùm, nhƣng đó chỉ là đƣờng viền, là bối cảnh có tác dụng
khơi gợi, chứ không phải là thành phần chủ yếu của hoàn cảnh điển hình có mối quan hệ biện
chứng hữu cơ với tính cách điển hình. Hoàn cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện,
những quan hệ do chính những tính cách tạo nên ( chúng tôi nhấn mạnh - PMH)" [149.98-
99]. Chỉ ra tính chung và tính riềng, "ý nghĩa tiêu biểu khái quái" và "tính chất cụ thể riêng
biệt" của hoàn cảnh điển hình, tác giả đã nhìn nhận hoàn cảnh điển hình nhƣ một phạm trù
nghệ thuật. Và khi khẳng định "Hoàn cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện, những
quan hệ do chính những tính cách tạo nên", tác giả đã đề cập tới một yếu tố thuộc cấu trúc
nghệ thuật của hoàn cảnh (mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần sau: 1.2), đó là hệ thống nhân
vật tạo hoàn cảnh.
Hoàng ngọc Hiến, khi bàn về "Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện Chí
Phèo" cũng đã đề cập tới khái niệm hoàn cảnh điển hình: "Nói đến hoàn cảnh điển hình, cần
phân biệt hoàn cảnh nhỏ và hoàn cảnh lớn. Hoàn cảnh nhỏ là hoàn cảnh sống trực tiếp của
nhân vật, những quan hệ gia đình,
25
bạn bè, xóm giềng ... Hoàn cảnh lớn là tình hình và xu thế chung của cả xã hội". Từ đó, phân
tích tác phẩm Chí Phèo, nhà nghiên cứu nhận thấy "trong Chí Phèo qua cuộc sống của làng
Vũ Đại, tác giả đã làm nổi bật đƣợc một số nét cơ bản trong hoàn cảnh lớn của nông thôn
Việt Nam thời bấy giờ. Bọn thống trị cũng nhƣ những ngƣời lao động đều bị tha hóa, "những
chất độc ở ngay trong sự sống" thấm vào máu từng ngƣời, vùi dập những gì tốt đẹp và kích
thích những gì nhỏ nhen, xấu xa trong con ngƣời. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lớn của truyện
Chí Phèo thiếu hẳn âm vang của bão táp cách mạng, tác giả không thấy đƣợc khả năng đổi
đời và vƣơn lên của ngƣời nông dân" [77-196]. Nhận định trên của Hoàng Ngọc Hiến về tác
phẩm Chí Phèo gợi nhớ tới nhận định của Ăngghen về tác phẩm Cô gái thành thị của
Háccơnétxơ: "Các tính cách của cô khá điển hình trong những giới hạn, trong đó những tính
cách ấy hành động, nhƣng về các hoàn cảnh bao quanh họ và bắt họ hành động, thì ngƣời ta
có thể nói là không đƣợc điển hình đầy đủ" [152-384]. Thực ra, khi phân hiệt hoàn cảnh lớn
và hoàn cảnh nhỏ, Hoàng Ngọc Hiến đã tiếp thu tƣ tƣởng của các nhà lý luận văn học Nga.
"Nhƣng sự phân biệt ấy vẫn chưa chỉ ra bản chất nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học.
Nhận định của Hoàng Ngọc Hiến là hoàn toàn chính xác về nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm
Chí Phèo, nhƣng ngƣời ta vẫn có thể tìm thấy ở một số nguồn tài liệu khác viết trong thời kỳ
này " một số nét cơ bản" đó nghĩa là nếu nói nhƣ vậy, tác giả vẫn chƣa thực sự nhìn nhận
hoàn cảnh ở phƣơng diện thẩm mỹ. Vấn đề đặt ra là Nam Cao có đóng góp gì về phƣơng diện
nghệ thuật khi tái hiện hoàn cảnh ấy.
Điểm lại một số ý kiến về vấn đề hoàn cảnh trong văn học của các nhà lý luận trong
và ngoài nƣớc, chúng tôi nhận thấy, lâu nay vấn đề hoàn cảnh nghệ thuật ít nhiều cũng đã
đƣợc bàn đến những chủ yếu dừng ở những nhận định đơn lẻ, không hệ thống. Vấn đề cấu
trúc nghệ thuật của hoàn cảnh thực chất vẫn chƣa đƣợc đặt ra và giải quyết.
26
1.1.2. Sự cần thiết của việc xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh
trong văn học.
Trƣớc hết cần phải thấy rằng, nhìn nhận vấn đề hoàn cảnh ở phƣơng diện xã hội nhƣ
lâu nay là cách nhìn đúng. Bởi vì trong thực tiễn nghiên cứu văn học, tiếp nhận văn học ở góc
độ xã hội học vẫn là một phƣơng hƣớng tiếp cận có giá trị khoa học. Từ cách tiếp cận ấy, các
nhà nghiên cứu đã có đƣợc những thành tựu trong quá trình nghiên cứu, khám phá các tác
phẩm văn học. Có thể nói, việc vận dụng nguyên lý mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh
để nghiên cứu tác phẩm văn học hiện thực là rất đúng đắn. Nhƣng muốn hiểu tác phẩm văn
học với tƣ cách là một tác phẩm nghệ thuật, ta cần phải đi sâu thêm một bƣớc nữa. Đó là tìm
hiểu cấu trúc nghệ thuật của tính cách, cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh và ảnh hƣởng của
nó tới tính cách. Có một hiện lƣợng rất dễ nhận thấy: trong các tác phẩm cùng viết về một
thời kỳ lịch sử, trong một hoàn cảnh xã hội nhƣ nhau, nhƣng hình ảnh về hoàn cảnh xã hội ấy
lại khác nhau, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn lại không giống nhau. Bởi
vì hoàn cảnh trong văn học đƣợc cấu tạo nhƣ một phƣơng diện của thế giới nghệ thuật có
những yêu cầu cấu trúc nhất định, chứ không không phải là sự sao chép đơn giản hoàn cảnh
xã hội bên ngoài.
Tìm hiểu hoàn cảnh với cấu trúc nghệ thuật của nó là dựa trên một cơ sở lý thuyết để
khám phá giá trị thẩm mỹ của tác phẩm văn học ở phƣơng diện hoàn cảnh, từ đó chúng ta sẽ
thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn.
1.2. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh
1.2.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật.
Trong bài Vấn đề "Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời" trong nghiên cứu văn học Xô
Viết (Tạp chí văn học số 1, 1991), in lại trong cuốn Lý luận phê bình văn học [226], Trần
Đình Sử cho rằng:" Có thể xem quan niệm nghệ thuật là khái niệm lý luận quan trọng bậc
nhất trong mấy thập niên
27
qua, có ý trả về cho văn học bản chất nhân học"[226.93] Mặc dù vậy, theo ông "Cho đến nay
khái niệm này vẫn chƣa có cách hiểu thống nhất" và cho biết: "viện sĩ Khraplrenko trong một
bài báo về phân tích hệ thống (1976) nhận xét rằng: "Khái niệm quan niệm nghệ thuật là một
khái niệm hợp qui luật về thực chất, song lại lắm lúc mang một tính cách hết sức mơ hồ.
Đƣờng nét của các mối quan hệ, tƣơng quan của quan niệm nghệ thuật với cấu trúc của tác
phẩm riêng biệt với các yếu tố cấu thành, với các tác phẩm khác của nhà văn chƣa vạch đủ
rõ"" [226.97]. Tuy nhiên, Trần Đình Sử cũng đƣa ra cách hiểu của mình về ý nghĩa cách tân
của khái niệm quan niệm nghệ thuật, mà trƣớc hết là khái niệm quan niệm: "quan niệm
không phải là khái niệm về đối tƣợng, về hiện thực mà là khái niệm về sự cắt nghĩa đối với
đối tƣợng và hiện thực (...) "quan niệm" xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái
niệm về hệ qui chiếu, thể hiện tầm lý giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn,
tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để
trên đó diễn ra một sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình lƣợng nghệ thuật ..."
[226.98]. Về quan niệm nghệ thuật, tác giả viết: "Trong nghệ thuật, thế giới đƣợc quan niệm
hóa trên cơ sở sự cảm thụ cá nhân về một thế giới, thoả mãn nhu cầu tồn tại của nó. Nghệ
thuật nâng sự cảm thụ thế giới lên tầm quan niệm về thế giới, ứng với một quan niệm nghệ
thuật là một thế giới nghệ thuật. Với ý nghĩa này quan niệm nghệ thuật là phạm trù về các
chính thể nghệ thuật, là công cụ để tƣ duy về các hiện lƣợng nghệ thuật nhƣ những chỉnh thể"
[226.99-100]. Có thể nói quan niệm nghệ thuật là giới hạn của tƣ duy nghệ thuật, bởi vậy nó
là "cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của các sáng tác nghệ thuật cũng nhƣ sự
tiến bộ nghệ thuật" |226-100|. Vậy quan niệm nghệ thuật sẽ đƣợc nghiên cứu từ những cơ sở
nào? Nó đƣợc nghiên cứu khám phá qua hệ thống thí pháp. Nói cách khác, hệ thống thi pháp
là biểu hiện của quan niệm nghệ thuật.
28
Cần phải thấy rằng, quan niệm nghệ thuật khác với quan niệm triết học, xã hội học,
thế giới quan. Đây là một phạm trù nghệ thuật học, có quan hệ gắn bó với những quan niệm
trên " nhƣng tự bản thân nó đã là một "ý thức hệ" đặc biệt gắn liền với nhiêm vụ miêu tả nghệ
thuật. Đó là ý thức hệ nhân bản mà mục đích là khám phá ngày càng sâu sắc con ngƣời nhƣ
nó tự cảm thấy trong tự nhiên, xã hội và lịch sử với tất cả sự phong phú tinh tế" [226.103-
104].
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn
Hoàn cảnh trong văn học là hoàn cảnh nghệ thuật. Nó có cấu trúc, có ý nghĩa riêng và
chịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác giả. Hoàn cảnh trong văn học không chỉ là
sự phản ánh hoàn cảnh ngoài đời mà còn là quan niệm thẩm mỹ và nghệ thuật về hoàn cảnh
ấy. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh là nguyên tắc cắt nghĩa lý giải gắn liền với sự cảm
nhận hoàn cảnh của nhà văn. Quan niệm ấy sẽ chi phối tới việc sử dụng các hệ thống phƣơng
tiện nghệ thuật trong tác phẩm. Nó thể hiện trong việc xác lập cấu trúc nghệ thuật của hoàn
cảnh trong tác phẩm của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật cũng; là một trong những yếu tố
phản ánh khả, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của tác giả. Quan niệm nghệ thuật về
hoàn cảnh ở mỗi nhà văn có sự khác nhau, từ đó họ có khả năng tạo nên những thế giới nghệ
thuật riêng.
Hoàn cảnh trong tác phẩm văn học đƣợc đan dệt nên bơi những mối quan hệ giữa các
nhân vật, nhƣng hoàn cảnh không đơn thuần chỉ là những mối quan hệ. Nó là toàn bộ thế giới
xung quanh con ngƣời, từ những gì gần gũi bình thƣờng cụ thể (đồ vật, vật dụng) đến những
gì xa xôi trừu tƣợng (thời gian, không gian ...); từ môi trƣờng xã hội đến môi trƣờng thiên
nhiên, thời tiết, khí hậu, màu sắc, âm thanh ... Tất cả những yếu tố đó đều có khả năng tác
động vào tâm lý, sinh lý, ý nghĩ, tình cảm, tƣ tƣởng, hành động ... của con ngƣời, tác động tới
sự hình thành tính cách và ảnh hƣởng tới số phận con ngƣời. Bởi vậy, chúng đều là những
yếu tố thuộc về hoàn cảnh. Chẳng hạn, hoàn cảnh trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
không chỉ là những mối quan hệ đối kháng giữa chị Dậu với lý trƣởng, Nghị Quế, tri phủ Tƣ
Ân
29
không chỉ là mối quan hệ giữa chị Dậu với anh Dậu, cái Tý, thằng Dần,....mà nó còn đƣợc tạo
dệt nên bởi những hệ thống tín hiệu nghệ thuật khác, thế giới đồ đạc (nghèo nan, tàn tạ, cũ
nát của gia đình chị Dậu và giàu có, lừng lững oai phong của gia đình Nghị Quế); thiên nhiên
thời tiết (ánh nắng tháng năm gay gắt, không ngừng thiêu đốt); thế giới âm thanh (tiếng trống,
mõ, tù và, hiệu ốc, hiệu sừng, tiếng chửi bới, quát, thét, la hét củ bọn cƣờng hào chức dịch,
tiếng chó sủa ừng đàn khắp ngõ ngách gần xa)... Tất cả những hệ thống tín hiệu nghệ thuật ấy
đều góp phần đan dệt nên hoàn cảnh nghệ thuật vật và tác động tới hình tƣợng nhân vật
chính - nhân vật chị Dậu. Nó làm bật tình cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của chị Dậu trƣớc sự
truy bức, dồn đuổi của bọn đầu trâu mặt ngựa. Và cũng trong hoàn cảnh ngột ngạt, căng
thẳng đó, nhiều phẩm chất tốt đẹp của chị Dậu đƣợc bộc lộ. Hình tƣợng nhân vật chị Dậu
không tách rời ngoại cảnh, trái lại nó luôn chịu sự tác động của hoàn cảnh, môi trƣờng xung
quanh. Những yếu tố ngoại cảnh cũng đƣợc Ngô Tất Tố chú ý khắc họa, bởi vì trong hình
thức tự sự: "Môi tƣờng, hoàn cảnh là một đối tƣợng đƣợc miêu tả cụ thể, chi tiết hơn bất cứ
loại văn học nào" [22]. Trong quá trình sáng tạo, xây dựng các hình tƣợng nhân vật, nhà văn
không thể không hình dung ra hoàn cảnh tạo nên nhân vạt và môi trƣờng hoạt động của nhân
vật đó với những mối quan hệ cùng những yếu tố ngoại cảnh khác. Ở đây, có vai trò của vốn
sống, kinh nghiệm sống và đặc biệt là của cá tính sáng tạo. Cùng đứng trƣớc một hoàn cảnh
xã hội, nhƣng mỗi nhà văn lại có những cảm nhật, khám phá riêng, nghe đƣợc những tiếng
nói riêng từ âm vang cuộc sống; thấy những màu sắc, vấn đề riêng nổi lên từ hoàn cảnh hiện
thực, từ đó lựa chọn những phƣơng diện, góc độ riêng để khám phá và thể hiện. Không phải
vô cớ mà cùng đứng trƣớc hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945, các nhà văn hiện
thực lạ phản ánh những mảng đời sống khác nhau, tái tạo những hoàn cảnh xã hội không
giống nhau. chỉ cần điểm lại một vài gƣơng mặt tiêu biểu của trào lƣu văn học hiện thực thời
kỳ này là cũng thấy rất rõ điều đó.
30
Ngô Tất Tố là một nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về những phong, tục
tập quán ở nông thôn Việt Nam, bởi vậy: "Dƣờng nhƣ chẳng ai có thể vẽ cho chúng ta một
bức tranh sinh động về phong tục tập quán bằng tác giả này" [199-154]. "Bức tranh sinh
động" mà G.Buđaren nói tới ở đây là xã hội nông thôn Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng
Tám. Có đƣợc điều đó bởi vì Ngô Tất Tố đã gắn bó với làng quê từ nhỏ, lớn lên ông đã từng
đi dạy chữ nho, chữ quốc ngữ ở Đông Trù, Gia Thƣợng. Sau này, tuy làm báo, viết văn ở Hà
Nội ông vẫn thƣờng xuyên về thăm làng (Lộc Hà, Phủ Từ Sơn, tính Bắc Ninh). Tác phẩm
Tắt đèn đƣợc viết ngay trong cái không gian làng quê này và nhiều nguyên mẫu nhân vật
của tác phẩm đƣợc lấy từ chính những con ngƣời trong cái làng quê bé nhỏ ấy.
Khác với Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng lại là một nhà văn ít có điều kiện gần gũi, gắn
bó với cuộc sống của những ngƣời dân lao động, đặc biệt là những ngƣời nông dân. Ông chủ
yếu sống ở Hà Nội và lại ở đúng nơi trung tâm của những tệ nạn xã hội: tiệm ăn, tiệm hút,
nhà thổ, nhà săm. Không gian thƣờng nhật của ông là không gian quanh mấy phố Hàng Bạc,
Hàng Buồm, Mã Mây, Sầm Công. Bởi vậy hàng ngày ông phải tai nghe, mắt thấy biết bao
chuyện xấu xa, bẩn thỉu của cái xã hội tƣ sản thành thị và hiện lên trong tác phẩm của nhà
văn chủ yếu là những mảng đời đen tối đó. Các nhân vật trong tác phẩm của ông cũng đƣợc
lấy từ những nguyên mẫu đang tồn tại ngoài đời. Đọc Số đỏ, nhà văn Nguyên Hồng nhận xét:
"đối chiếu với cuộc sống thành thị lúc bấy giờ, tôi tìm thấy rất nhiều nhân vậy ấy trong thực
tế: những Xuân Tóc Đỏ, những bà Phó Đoan, những thầy Min Đơ, Min Toa nhan nhản trên
hè phố trong tiệm nhảy và trong những chỗ sâu kín, tối tắm nhất của xã hội thuộc địa phong
kiến" [195.83].
Nếu nhƣ Ngô Tất Tố có vốn hiểu biết sâu, rộng về nông thôn Việt Nam và Vũ Trọng
Phụng rất "thuộc" cái xã hội tƣ sản thành thị "chó đểu" đƣơng thời, thì Nam Cao, do hoàn
cảnh sống riêng của mình, lại có những hiểu biết, vốn sống dồi dào về cả xã hội nông thôn và
xã hội thành thị Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng Tám. Tất nhiên, ở phạm vi xã hội thành
thị, Nam Cao, do môi trƣờng hoạt động, nghề nghiệp của mình, chủ yếu chỉ thông thạo mảng
31
đời sống của những ngƣời trí thức nghèo. Bởi vậy, trong tác phẩm Nam Cao ta lại thấy hiện
lên hai mảng hiện thực xã hội đƣợc phản ánh khá sâu sắc: mảng đời sống của những ngƣời
nông dân và mảng đời sống của những ngƣời trí thức nghèo trong xã hội. Cả hai mảng đời
sống ấy đều đƣợc tái tạo qua những hoàn cảnh nghệ thuật với những tính cách nghệ thuật.
Quá trình sáng tạo hoàn cảnh không chỉ phụ thuộc vào vốn sống, kinh nghiệm hiểu
biết của nhà văn mà còn phụ thuộc vào cá tính sáng tạo của từng tác giả, tức là phụ thuộc vào
cái nhìn nghệ thuật độc đáo, vào cách cảm, cách nghĩ của nhà văn, thể hiện ở những nguyên
tắc biện pháp nghệ thuật nhằm biểu hiện những hoàn cảnh nghệ thuật.
Rõ ràng là cùng trƣớc một hiện thực xã hội nông thôn Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945,
nhƣng Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao... lại có những cảm nhận, cách
nhìn khác nhau về hoàn cảnh, từ đó xây dựng những cấu trúc nghệ thuật hoàn cảnh với những
hệ thống tín hiệu nghệ thuật không giống nhau, những kiểu loại cơ chế, mâu thuẫn xung đột,
nhân vật không giống nhau. Ngô Tất Tố cảm nhạn ở mảng đời sống hiện thực ấy một cơ chế
bạo lực, trấn áp, dồn đuổi (Tắt đèn); Nguyễn Công Hoan cảm nhận ở đó một cơ chế xui
nguyên giục bị (Bƣớc đƣờng cùng) ; Nam Cao lại thấy ở đó cơ chế lạnh lùng, tàn nhẫn (Sống
mòn). Xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật, Ngô Tất Tố chú ý tới những yếu tố bên ngoài nhân-
vật, Nam Cao lại thƣờng chú ý tới yếu tố tinh thần bên trong; Ngô Tất Tố nhấn mạnh yếu tố
xã hội của . hoàn cảnh,Nam Cao cũng không coi nhẹ yếu tố đó. Nhƣng nhà văn hiện thực
xuất sắc này còn chú ý tới yếu tố tâm lý, sinh lý, bản năng. Tái tạo hệ thống nhân vật đan dệt
hoàn cảnh, tác phẩm của Ngô Tất Tố có những nhân vật có tên, không tên, nhân vật trực tiếp
hoặc gián tiếp tạo không khí cho hoàn cảnh. Trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng còn có loại
''nhân vật đám đông", "nhân vật dƣ luận "... Vũ Trọng Phụng cảm nhận cái-nhịp độ hối hả,
dồn dập quay cuồng, đảo điên với những bất ngờ liên tiếp của một mảng đời sống xã hội
thành thị tƣ sản, Nam Cao lại cảm nhận cái nhịp điệu trì trệ, mỏi mòn đơn điệu, tẻ nhạt của
một mảng đời sống khác, cũng trong cái xã hội đó . Tất cả sự những sự khác nhau đó từ cá
tính sáng tạo của nhà văn và cội nguồn là quan niệm nghệ thuật của tác giả.
32
1.2.3. Vài nét về hoàn cảnh nghệ thuật trong lịch sử văn học
Hoàn cảnh trong văn học không chỉ chịu sự chi phối bởi quan niệm nghệ thuật của
nhà văn mà còn chịu sự quy định bởi ý thức nghệ thuật của thời đại; chịu sự chi phối của loại
hình văn học, giai đoạn văn học, trào lƣu, trƣờng phái sáng tác. Việc điểm lại vài nét về hoàn
cảnh nghệ thuật trong lịch sử văn học sẽ giúp chúng ta thấy đƣợc điều đó.
Trong một số thể loại của văn học thời gian, chẳng hạn trong truyện cổ tích, ta cũng
bắt đầu thấy yếu tố hoàn cảnh. Nhƣng hoàn cảnh ở đây vẫn chỉ , mang tính chất rất sơ lƣợc,
có khi nó chỉ là cái bối cảnh để nhân vật hoạt động. Những biểu hiện cụ thể của hoàn cảnh,
nhƣ không gian, thời gian, địa điểm ... nhiều khi chỉ mang tính chất ƣớc lệ rất mơ hồ: "ngày
xửa ngày xƣa...", "ở một làng nọ". Một trong những chức năng của hoàn cảnh là giải thích
hành động, nhƣng hoan canh trong truyện cổ tích chƣa hoàn toàn thực hiện đƣợc chức năng
đó. Nó chỉ góp phần giải thích phần nào tính cách và hành động của nhân vật. Bởi trong
nhiều truyện cổ lích, có những lính cách, hành động có thổ lý giải bằng yếu lố hoàn canh
nhƣng phán lớn, dƣờng nhƣ nhân vật nằm ngoài hoàn cảnh. Chẳng hạn truyện Tấm Cám có
hoàn cảnh cụ thể là hoàn cảnh một gia đình có dì ghẻ con chồng với những mối quan hệ
không lấy gì làm tốt đẹp nhƣ dân gian đã từng tổng kết. Trong những mối quan hệ ấy, có thể
coi nhân vật này là hoàn cảnh của nhân vật kia kia. Tấm là hoàn cảnh của Cám, dì ghẻ là
hoàn cảnh của Tấm ... Trong truyện cổ tích này, có những hành động của nhân vật có thể giải
thích bằng hoàn cảnh: Tấm trả thù, giết Cám bởi mẹ con Cám đã nhiều lần hãm hại Tấm.
Nhƣng tại sao Cám ác ? Tại sao Tấm hiền lành, nhân hậu, mặc dù cả Tấm và Cám cùng sống
chung trong một gia đình ? Đó là điều tác giả dân gian không quan tâm giải thích bằng hoàn
cảnh. Trong Tấm Cám nói riêng và truyện cổ tích nói chung, nhân vật thiện hay ác là do tự
nó. Không có vai trò của hoàn cảnh trong việc lý giải những tính cách đó. Mặt khác, hoàn
cảnh trong truyện cổ tích nhiều khi bị lấn át bởi những yếu tố siêu nhân thần bí. Bởi vậy, có
thể nói, các tác giả văn học dân gian chƣa ý thức về hoàn cảnh, chƣa có quan niệm nghệ thuật
về hoàn cảnh.
33
Trong văn học trung đại, yếu tố môi trƣờng hoàn cảnh đã bắt đầu đƣợc chú ý khai
thác biểu hiện. Số phận, tính cách, hành-động của các nhân vật đã đƣợc giải thích bằng hoàn
cảnh. Nói cách khác, hoàn cảnh đã trở thành yếu tố tác động mạnh mẽ tới tính cách và hành
động của các nhân vật. Chẳng hạn, trong bộ tiểu thuyết Thủy Hử, một bộ tiểu thuyết vĩ đại,
sừng sững trong tịch sử văn học Trung Quốc, tính cách các nhân vật anh hùng: Tống Giang,
Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm, Lý Quỳ ... đã đƣợc miêu tả trong mối quan hệ với hoàn cảnh. Sự
phát triển, thay đổi tính cách của các nhân vật này đã đƣợc lý giải bằng hoàn cảnh. Xin lấy ví
dụ hình tƣợng nhân vật Lâm Xung. Tác giả đã khắc họa tỉ mỉ quá trình phát triển tính cách
của nhân vật này, từ chỗ cam chịu nhẫn nhục trƣớc những hành động bỉ ổi, độc ác của cha
con Cao Cầu đến chỗ phản kháng quyết liệt. Quá trình ấy đƣợc thể hiện, tuân theo lô gíc cuộc
sống, do tác động của hoàn cảnh. Quá trình lên Lƣơng Sơn Bạc tụ nghĩa chống lại triều đình
của Lâm Xung, Lý Quỳ, Lỗ Trí Thâm ... và những ngƣời anh hùng khác, phản ánh một qui
luật tất yếu "quan bức dân phản", nghĩa là do tác động tất yếu của hoàn cảnh. Tất nhiên, mỗi
ngƣời anh hùng ấy lên Lƣơng Sơn Bạc bằng những con đƣờng khác nhau, ở những cảnh ngộ
khác nhau. Miêu tả một số chi tiết để biểu hiện tính cách phát triển do sự thay đổi của hoàn
cảnh là một đặc điểm của việc miêu tả nhân vật trong Thuỷ hử. Hoàn cảnh trong Thủy Hử
không chỉ tác động đến số phận mà còn hình thành cá tính nhân vật. Các nhân vật có thể cùng
xuất thân trong một tầng lớp nhƣng do hoàn cảnh sống khác nhau nên tính cách cũng khác
nhau. Ở đây hoàn cảnh đã góp phần giải thích cá tính. Điều đó chứng tỏ tác giả đã ý thức khá
rõ về vai trò của hoàn cảnh. Trong Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, các nhận vật Giả Bảo
Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Phƣợng Thƣ, Giả Chính, Táp Nhân cũng đều đƣợc xây
dựng trong mối quan hệ với hoàn cảnh. Tiêu biểu là nhân vật Giả Bảo Ngọc. Tác giả đã thể
hiện tính cách phản nghịch của nhân vật này trong mối liên hệ mật thiết và phức tạp với các
nhân vật và các ý thức xã hội
34
bao quanh. Tƣ tƣởng, hành động phản nghịch của nhân vật này phát triển đến đỉnh điểm đƣợc
lý giải trong một quá trình, mà tác động mạnh mẽ nhất là khi tình yêu của Giả Bảo Ngọc và
Lâm Đại Ngọc bị thế lực phong kiến phá hoại. Trong Hồng lâu mộng, hoàn cảnh nhiều khi
đƣợc miêu tả khá cụ thể, chi tiết. Cuộc sống xa hoa phú quý của giai cấp thống trị phong kiến
đƣợc hiện lên rất chân thực cụ thể qua nhiều chi tiết, nhƣ đoạn kể chuyện già Lƣu đi xem
vƣờn Đại Quan, đoạn tả tỉ mỉ từng đồ ăn thức uống trong phủ Vinh quốc ... hoàn cảnh ở đây
không chỉ mang ý nghĩa khái quát mà còn mang ý nghĩa cá biệt.
Trong văn học trung đại Việt Nam, môi trƣờng hoàn cảnh cũng đã có vai trò trong
việc tái hiện bức tranh hiện thực và lý giải tính cách, số phận nhân vật. Chẳng hạn, trong
Hoàng Lê nhất thống chí, khi xâv dựng hình tƣợng nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh, một nhân
vật đƣợc xây dựng thành công nhất trong tác phẩm, các tác giả đã đặt nó trong tƣơng quan
với hoàn cảnh, và "với cách miêu tả bối cảnh thiên về mặt thối nát của giai cấp thống trị nhƣ
Hoàng Lê nhất thống chí thì sự ra đời của một con ngƣời nhƣ những Nguyễn Hữu Chỉnh là
một tất yếu" [148.256"]. Trong tác phẩm này, hoàn cảnh đã hiện khá sinh động, củ thể, truyền
cảm, bởi " tác giả không phải chỉ kể lại những gì đã xảy ra, mà kết hợp việc kể với việc miêu
tả cái không khí xảy ra sự việc ấy " [148.252].
Trong thể loại truyện Nôm, tiêu biểu là kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, yếu tố
hoàn cảnh cũng đã có vai trò nhất định trong quá trình Hình thành tính cách nhân vật. Trong
tác phẩm này, có những nhân vật đƣợc xây dựng theo lối lý tƣởng hóa và có nhân vật đƣợc
xây dựng theo lối điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực. Ở loại nhân vật thứ nhất, không có
sự tác động qua lại giữa tính cách và hoàn cảnh, không thể lý giải tính cách bằng hoàn cảnh.
Tính cách nhân vật mang tính chất bẩm sinh, tự nó. Tiêu biểu nhƣ nhân vật Kim Trọng, Từ
Hải. Loại nhân vật thứ hai đƣợc xây dựng trong mối
35
tƣơng quan với hoàn cảnh, tiêu biểu là nhân vật Tú Bà Mã Giám Sinh, Sở Khanh ... Hình
tƣợng nhân vật trung tâm Thúy Kiều đã đƣợc xây dựng trên "cơ sở "chịu sự tác động của
cuộc sống, tính chất lý tƣởng hóa của nhân vật bị phá vỡ để dần dần chuyển sang quỹ đạo của
lối điển hình hóa hiện thực chủ nghĩa" [148.414]. Hình tƣợng nhân vật này đã chịu sự tác
động của hoàn cảnh và phát triển theo lô gích khách quan: "chí riêng việc nàng thai hứa với
Kim Trọng, thực sự bán mình cũng là điều xa lạ với mỹ học truyền truyền thống, và đấy
chính là dấu hiệu đầu tiên biểu hiện sự quyết định của hoàn cảnh đối với tính cách nhân vật"
[148.414]. Tất nhiên, cũng phải thấy rằng, hoàn cảnh trong Truyện Kiều nói riêng và truyện
Nôm nói chung còn chƣa đƣợc thể hiện một cách cụ thể, chi tiết nhƣ trong các tác phẩm hiện
thực sau này. "hoàn cảnh nào cũng chỉ đƣợc phác họa trong vài nét, và không vƣợt qua phạm
trù tình tiết, có giá trị nhƣ những khâu, những giai đoạn khác nhau của cốt truyện. Môi trƣờng
chƣa có giá trị thẩm mỹ độc lập trong Truyện Kiều" : [106.424] Hoàn cảnh trong Truyện
Kiều còn sơ lƣợc (tất nhiên điều này còn do đặc trƣng thể loại truyện thơ). Chẳng hạn, miêu
tả gia cảnh Thúy Kiều, nhà thơ không mô tả chi tiết thế giới đồ vật, nhà cửa, bài trí nội thất,
nhà cửa, bài trí nội thất -những hình ảnh dễ thấy trong các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa; nhƣ
hình ảnh đồ vật trong quán trọ của bà Vô ke (Lão Gôriô - Bandắc), ngôi nhà ở Xômuya của
lão Grăngđê (ơzêni Grăngđê - Bandắc), đồ đạc nhà nghị Quế (Tắt đèn của Ngô Tất Tố), căn
buồng của nghị Hách (Giống tố của Vũ Trọng Phụng), những chiếc ấm, chén, bộ bàn ghế của
gia đình ông Học (Sống mòn của Nam Cao)...Mặt khác trong Truyện Kiều còn có yếu tố
định mệnh, bởi vậy mức, chân thực của hoàn cảnh trong tác phẩm còn hạn chế. Hoàn cảnh
vừa là yếu tố xã hội, vừa là định mệnh. Nhân vật và hành động và số phận của nó có khi đo
những nguyên nhân bí ẩn chi phối, khái niệm vận mệnh lấn át khái niệm hoàn cảnh, "tính
cách trong" ý thức văn học này đƣợc xem là sản phẩm tiên nhiên lịch sử "vốn sẵn tính" trời",
một phẩm chất tự nhiên trời phú" [231.432].
36
Trong văn học lãng mạn cũng có yếu tố của hoàn cảnh nhƣng nhìn chung còn mờ
nhạt. Tất nhiên trong một số tác phẩm cụ thể, ở một vài cảnh ngộ cụ thể, yếu tố hoàn cảnh
cũng góp phần giải thích đƣợc tính cách, hành động của nhân vật. Chẳng hạn hành động ăn
cắp bánh mì của Giăng Van Giăng (Những người khốn khổ - V. Huygô) xuất phát từ hoàn
cảnh đói khát của đàn cháu. Nhƣng tính cách của các nhân vật này càng về sau càng trở nên
thiếu thuyết phục bởi nó đƣợc đặt trong những hoàn cảnh chân thực. Điều này xuất phát từ
nguyên nhân là tác giả của nó đã vì lý tƣởng mù quên mất hiện thực: "Tâm hồn. của con
ngƣời hiện nay đặt nhiều ở hy vọng ở lý tƣởng hơn thực tại" (Tựa kịch Crômoen - V. Huygô).
Bởi vậy tính cách của các nhân vật trong văn học lãng mạn thƣờng mang nặng dấu ấn chủ
quan của tác giả.
Một số nhà văn thuộc trào lƣu văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945) cũng có ý
thức về vai trò của hoàn cảnh tới việc hình thành tính cách, số phận con ngƣời. Tiêu biểu là
Thạch Lam với ý kiến sau trong tiểu luận : "ngƣời ta bao giờ cũng chịu rất sâu xa ảnh hƣởng
của hoàn cảnh và ngƣời ta trƣớc hết là đƣợc tạo nên để sống với hoàn cảnh". Bởi vậy, có một
số tác phẩm của trào lƣu văn học lãng mạn đã có sự thể hiện vai trò của hoàn cảnh (Thừa tự,
Nửa chừng xuân...). Những tác phẩm này ở một phƣơng diện nào đó rất gần với chủ nghĩa
hiện thực. Tuy nhiên, hoàn cảnh trong một số tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn in đậm dấu ấn
chủ quan của nhà văn (Hồn bƣớm mơ tiên, Trống mái, Con đƣờng sáng ...). Tất nhiên, hoàn
cảnh trong văn học hiện thực cũng gắn với chủ quan của nhà văn. Nhƣng đây là cái chủ quan
trên cơ sở nhận thức khái quát. Còn trong văn học lãng mạn là cái chủ quan trên cơ sở lý
tƣởng hóa hiện thực. Bởi vậy, trong văn học lãng mạn không thể có những tính cách điển
hình trong hoàn cảnh điển hình. Tất nhiên, ở đây chúng tôi chỉ nhận xét về đặc điểm của hoàn
cảnh trong văn học lãng mạn, chứ nhƣ vậy không có nghĩa là đánh giá thấp giá trị của trào
lƣu văn học này. Bởi vì trong thực tế, nhiều tác phẩm văn học lãng mạn vẫn trƣờng tồn cùng
năm tháng, những nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn nhƣ Giăng Van Giăng, Côdét, Phăngtin,
Exmêranđa, Cadimôđô ... vẫn để lại những dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí
37
của nhiều thế hệ. Cũng nhƣ sau này, chủ nghĩa hiện đại (tiêu biểu là Franf Kaifca) hoặc
phong trào Tiểu thuyết mới (tiêu biểu là Alain Kobbc Grillét) đã xây dựng những hoàn cảnh
rất xa với chủ nghĩa hiện thực nhƣng vẫn không thể phủ nhận những giá trị đích thực của nó.
Chủ nghĩa hiện thực hiểu theo nghĩa phƣơng pháp sáng tác, có nhiều dạng: chủ nghĩa
hiện thực thời Phục hƣng, chủ nghĩa hiện thực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực thời phong
kiến mạt kỳ ở phƣơng Đông ... và đỉnh cao là chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX ở Tây Âu. Các
nhà văn hiện thực thế kỷ XIX nhờ tiếp thu những thành tựu của các ngành khoa học xã hội:
xã hội học, sử học, triết học ... và khoa học lự nhiên ( mà tiêu biểu là thuyết tiến hóa của Đác
Uyn) đã nhận thức sâu sắc về nguyên tắc lịch sử cụ thể trong quá trình nhận thức và phản ánh
thế giới. Từ đó các nhà văn hiện thực, bằng tƣ duy sáng tạo của mình đã có ý thức tái tạo
nghệ thuật những mối quan hệ của con ngƣời trong môi trƣờng xã hội, nghĩa là sáng tạo
những hoàn cảnh nghệ thuật.
Cũng chính vì thế, bàn về hoàn cảnh trong văn học hiện thực. M.B. Khraptrenko đã
viết: "Các nhà hiện thực thế kỷ XIX đã thực hiện việc khám phá lĩnh vực hình thành và phát
triển những tính cách con ngƣời, các mối liên hệ của những tính cách đó đối với môi trƣờng
xã hội, những khám phá đó sở dĩ có đƣợc là do trong chính thực tại đã nổi rõ lên sự tác động
của hoàn cảnh đối với thế giới nội tâm con ngƣời, và cũng là do tư duy sáng tạo của các nghệ
sĩ ngôn từ lớn đã nhằm vào việc nghiên cứu và khái quát bằng nghệ thuật các quan hệ của
con người với môi trƣờng xã hội, của cá nhân với xã hội" [109.88].
Các nhà văn thuộc trào lƣu văn học hiện thực ý thức rất sâu sắc về vai trò tác động
của hoàn cảnh tới tính cách, số phận con ngƣời. Hoàn cảnh trong các tác phẩm của họ đƣợc
xây dựng trên cơ sở hiện thực và không thoát li hiện thực. Theo X.M Pêtơrốp, các nhà văn
hiện thực "không thể hiện những và chạm ƣớc lệ giữa tội lỗi và từ thiện, giữa cái thực và cái
ác, giữa nghị lực mạnh mẽ hay niềm say mê và những hoàn cảnh giả tạo đặc biệt điều
thƣờng
38
đƣợc các nhà văn lãng mạn mô tả, mà thể hiện những va chạm, xung đột thực tế, nảy sinh bởi
chính cuộc sống thực, là hình thức phát triển của nó " [200.235]. Có thể thấy điều đó qua các
tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn hiện thực bậc thầy của thế giới nhƣ Đốtxtôiépxki, L.
Tônxtôi, X.Tuốcghênhép, Bandắc, Phlôbe, Đíckenx, Thaccơrây ...
Có thể nói, phải đến chủ nghĩa hiện thực, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh mới
đƣợc phát triển sâu sắc, khách quan và triệt để. Hoàn cảnh đƣợc các nhà văn hiện thực ý thức
là toàn bộ thế giới xung quanh con ngƣời, từ thế giới ,vi mô đến thế giới vĩ mô, từ tự nhiên
đến xã hội, từ hữu hình đến vô hình, từ trừu tƣợng đến cụ thể ... Tất cả các yếu tố tâm lý, sinh
lý, cảnh vật, đồ vật, mầu sắc, âm thanh.. đều là những yếu tố thuộc về hoàn cảnh trong quan
niệm của các nhà văn hiện thực.
Các nhà văn hiện thực Việt Nam cũng không chỉ ý thức về vai trò hoàn cảnh mà còn ý
thức về sự sáng tạo hoàn cảnh. ở phƣơng diện này, nhiều nhà văn hiện thực đã có những
thành công xuất sắc, nhƣ Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Vũ Trọng Phụng với Giống tố, Nam Cao
với Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu (mà chúng tôi sẽ khảo sát chứng minh ở các
chƣơng tiếp theo).
Trong sáng tác của các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa, vấn đề hoàn cảnh đã đƣợc
chú ý và nâng lên một tầm cạo mới. Có thể nói văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã: "khắc
hoa những "điển hình hùng hồn" đƣợc hình thành trong quá trình phát triển cách mạng, nó tác
dụng năng động trở lại đối với hoàn cảnh, có khả năng mang những tính cách phong phú đa
dạng, thấm đƣợm sâu sắc tâm hồn, tính cách dân tộc và có lúc biểu hiện một xu thế mang
những dự cảm tƣơng lai rõ nét"[151.28]. Cũng cần phải nói thêm rằng, hoàn cảnh trong văn
học hiện thực xã hội chủ nghĩa có vai trò rất lớn của yếu tố lịch sử.
Sự khác nhau trong quan niệm về hoàn cảnh ở những trào lƣu văn học khác nhau nhƣ
đã nói ở trên, xuất phát từ những lý do khác nhau. Nếu nhƣ
39
nhìn chung, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn lãng mạn gắn với những
nhận thức chủ quan và sự thoát ly hoàn cảnh, để rồi từ đó. xây dựng hoàn cảnh xa ròi hiện
thực ... thì quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn hiện thực lại gắn liền với
mảnh đất hiện thực. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn hiện thực là quan
niệm về một hoàn cảnh luôn tác động nghiệt ngã đến tính cách, số phận, con ngƣời cả về
phƣơng diện vật chất và phƣơng diện tinh thần. Trong quan niệm của các nhà văn thuộc chủ
nghĩa tự nhiên, hoàn cảnh lại đƣợc nhấn mạnh ở yếu tố huyết thống, bệnh tật, sinh lý ... hoàn
cảnh có khi đƣợc miêu tả khá tỉ mỉ, chi tiết nhƣng nó lại không phản ánh sự kết tinh những
quan hệ xã hội. Các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa lại chú ý lới khía cạnh tích cực của
hoàn cảnh. Trong quan niệm của họ, hoàn cảnh xã hội là một hoàn cảnh nhân đạo làm nẩy
mầm và nuôi dƣỡng những phẩm chất tốt đẹp cho con ngƣời.
Tìm hiểu vấn đề hoàn cảnh và quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong lịch sử văn
học từ xƣa đến nay là một việc làm đòi hỏi phải tốn nhiều công sức, thời gian, trí tuệ. Còn có
những ý kiến chƣa thống nhất, những nhận định khác nhau xung quanh vấn đề này, mà muốn
giải quyết đƣợc và đi đến những kết luận thoả đáng đòi hỏi phải có thời gian , công sức, trí
tuệ của nhiều nhà nghiên cứu. Bản thân ngƣời viết luận án này chƣa có đủ điều kiện và khả
năng nên cũng chỉ nêu lên một vài nét phác thảo rất sơ lƣợc, dựa tròn những kết quả tìm hiểu
ban đầu và nhận định của các nhà nghiên cứu đi trƣớc. Nhƣng chúng tồi cũng nhấn mạnh
rằng, việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn thực
chất một trào lƣu văn học một phƣơng pháp sáng tác, một phong cách nghệ thuật. Không chỉ
riêng việc nghiên cứu tính cách, việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật hoàn cảnh của các tác
giả thuộc các trào lƣu khác nhau sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự khác nhau của các phƣơng
pháp sáng tác. Phải thấy đƣợc điều đó, chúng ta mới hiểu hết đƣợc thực chất những sáng tác)
của các nhà văn.
40
1.3.Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học .
Quan niệm nghệ thuật là khái niệm nội dung của thi pháp, nó khác với quan niệm triết
học, xã hội học, thế giới quan, ý thức hệ. Quan niệm nghệ thuật đƣợc khám phá qua nghiên
cứu hệ thống thi pháp. Để tìm hiểu quan niệm nghệ thuật phải khám phá các yếu tố trong hệ
thống cấu trúc của nó. Bởi vậy để tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh, phải khám
phá các yếu tố nằm trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Theo quan niệm của chúng tôi
cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh đƣợc tạo nên bởi những yếu tố sau:
1.3.1. Hệ thống nhân vật của hoàn cảnh.
Trong lời tựa bộ tiểu thuyết Tấn trò đời, Bandắc, nhà văn bậc thầy của chủ nghĩa hiện
thực đã từng nói: "Phải chăng xã hội đã từ những con ngƣời, tùy theo những hoàn cảnh trong
đó nó hoạt động, tạo nên được bao nhiêu con người khác nhau". Bêlinxki cũng nhấn mạnh
tới mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, sự ảnh hƣởng của hoàn cảnh tới tính cách:
"Nghệ thuật của nhà thơ trong thực tế phải nhằm thực hiện tối nhiệm vụ nêu rõ một tính cách
với bản chất tự nhiên của nó, được hình thành như thế nào trong hoàn cảnh mà nó kinh qua
do số phận của chính nó" (Dẫn theo P.L ) [149.92]. Trong "Thƣ gửi Látxan ngày 18.5.1859",
khi giải thích động cơ hành động của các nhân vật chính trong vở Xích kinghen "không phải
là những, ham thích vụn vặt của cá nhân, mà là cái trào lƣu lịch sử lôi cuốn họ [152.373]",
Ăngghen cũng đã khẳng định tác động của hoàn cảnh tới tính cách, số phận nhân vật. Nhƣng
nhƣ vậy, không có nghĩa mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh là mối quan hệ phụ thuộc,
một chiều, mà đây là mối quan hệ tác động qua lại. Chức năng của hoàn cảnh là tạo tính cách,
hoàn cảnh chỉ có ý nghĩa khi nó tạo dựng đƣợc tính cách, nhƣng hoàn cảnh không thể bao
trùm tính cách. Bởi vậy, khi nói tới tính cách, không thể không nói tới hoàn cảnh và khi nói
tới hoàn cảnh cũng không thể không để cập tới tính cách. Cũng trong bức thƣ nói trên, phê
bình
41
vở kịch Xíchkinghen, Ăngghen nhận xét, điều tác giả vở kịch "chƣa làm đƣợc đầy đủ, chính
là những thành phần không chính thức, những thành phần bình dân và nông dân" và cho rằng
"việc sử dụng thành phần bình dân hết sức đa dạng trong xã hội lúc bấy giờ, có lẽ sẽ đem lại
những chất liệu hoàn toàn mới để cho vở kịch sinh động, tạo ra được cái nền vô cùng giá trị
..." [152.375-376]. Có thể nói, ở đây Ăngghen cũng đã nhấn mạnh tới vai trò tạo tác hoàn
cảnh của các nhân vật, các tính cách. Tính cách là con đẻ của hoàn cảnh, nhƣng hoàn cảnh
cũng lại đƣợc đan dệt nên bởi các tính cách. Bởi vậy, theo quan niệm của chúng tôi, trong cấu
trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, yếu tố đầu tiên là hệ thống nhân vật.
Khái niệm nhân vật đƣợc dùng để chỉ tất cả những con ngƣời đƣợc nhà văn miêu tả,
thể hiện trong tác phẩm. Nhân vật có thể có tên hoặc không tên, có thể hiện hình rõ nét chân
thực sống động từ lai lịch, nghề nghiệp, ngoại hình đến bản chất, tính cách nhƣng nó cũng có
thể chỉ hiện lên thấp thoáng, mờ nhạt trong tác phẩm.
Có thể nói, nhân vật là cốt lõi của tác phẩm văn học bởi vì đó là hình thức cơ bản để
nhờ đó, nhà văn phản ánh khái quát thế giới một cách hình tƣợng " Thông qua việc sáng tạo
nhân vật, nhà văn thể hiện nhận thức, quan niệm của mình về một kiểu ngƣời, một loại ngƣời,
một vấn đề nào đó trong xã hội " Chức năng cửa nhân vật là khái quát những qui luật về cuộc
sống con ngƣời thể hiện những hiểu biết, những ƣớc ao và kỳ vọng về con ngƣời. Nhà văn
sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân
đó. Nói cách khác, nhân vật là phƣơng tiện khái quát các tính cách số phận con ngƣời và các
quan niệm về chúng" [221.64].
"Nhân vật văn học là hiện tƣợng hết sức đa dạng" 1221.691. Trong quá trình chiếm
lĩnh thế giới nhân vật hết sức đa dạng, phong phú ấy, dựa vào những tiêu chí khác nhau,
ngƣời ta đã phân loại nhân vật thành những kiểu loại nhân vật khác nhau. Dựa vào phân kỳ
văn học và hình thức sáng tạo
42
ngƣời ta phân loại nhân vật văn học dân gian khác với nhân vật văn học cũ Ngay trong văn
học dân gian, ngƣời ta lại có thể chia thành các loại nhân vật thần thoại, nhân vật truyền
thuyết và nhân vật cổ tích. ở góc độ phƣơng pháp sáng tác, nhân vật chủ nghĩa lãng mạn khác
nhân vật chủ nghĩa hiện thực nhân vật chủ nghĩa cổ điển khác nhân vật chủ nghĩa lãng mạn.
Dựa vào tiêu chí thể loại, có thể phân loại thành nhân vật trữ tình, nhân vật kịch. Mỗi loại
nhân vật thuộc mỗi thể loại ấy đều có những đặc trƣng khác nhau. Nhìn ở góc độ kết cấu, ta
có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. Nhân vật chính diện và nhân vật phản
diện lại là kết quả của sự phân loại trên cơ sở thức hệ. Và nếu dựa vào cấu trúc nhân vật, ta sẽ
có nhân vật chức năng, nhân vật "loại hình", nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng ...
Một số cách phân loại trên đây có thể chƣa bao hàm hết mọi kiểu loại nhân vật đã
từng có trong lịch sử văn học. Ranh giới giữa các kiểu loại đó cũng chỉ là tƣơng đối, ƣớc lệ.
Bởi vậy có những nhân vật khó xác định thuộc kiểu loại nào, một khi nó đứng ở ranh giới
giữa các loại hình nhân vật. Mặt khác cũng phải thấy rằng, mỗi cách phân chia loại hình
nhân vật như vậy chỉ có ý nghĩa trong một phạm vi nhất định.
Nhìn ở góc độ cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, chúng tôi thấy có thể chia làm hai
loại: nhân vật động và nhân vật tĩnh.
Nhân vật động: Là loại nhân vật có sự biến đổi về số phận. Thông thƣờng, nhân vậy
này mang tƣ tƣởng của nhà văn. Chẳng hạn trong tác phẩm Số đỏ, Xuân tóc đỏ là nhân vật
động, chị Dậu là nhân vật động trong Tắt đèn; Chí Phèo là nhân vật động trong tác phẩm
cùng tên ; Nghị Hách, Thị Mịch ... là những nhân vật động trong Giống tố. Loại nhân vật này
cũng có vai trò, tác dụng thể hiện hoàn cảnh. Bản thân sự va chạm, cọ xát giữa các nhân vật
động cũng làm nổi bật và tạo không khí cho hoàn cảnh.
Nhân vật tĩnh: Là loại nhân vật có số phận dƣờng nhƣ không biến đổi. Chính hệ thống
nhân vật này góp phần quan trọng tạo dệt nên hoàn cảnh. Loại
43
nhân vật này gắn liền với quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Thông thƣờng,
trong một tác phẩm cụ thể, loại nhân vật nay chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với loại nhân vật động,
nhƣng chúng đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhân vật động. Sự xuất hiện của loại
nhân vật này trong tác phẩm nhiều khi tƣởng nhƣ ngẫu nhiên nhƣng thực chất không nằm
ngoài ý định của tác giả. Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhà văn Thạch Lam đã có những ý kiến
rất sâu sắc về vai trò của hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Anh, Nga ở phƣơng diện tạo
dựng hoàn cảnh: " Trong những tiểu thuyết Anh hay Nga, chúng ta không thấy một hay hai
nhân vật chính mà thôi, hoặc thấy nhân vật chính đứng át tất cả nhân vật khác. Chúng ta thấy
có rất nhiều nhân vật, mà có nhân vật nào tác giả nào tác giả cũng coi trọng cả, mỗi nhân vật
hiện ra sống cái đời riêng của mình, thoạt xem tưởng như không có liên lạc gì mà không có
liên lạc trực tiếp thật với các vai chính trong truyện - Nhƣng suy xét kỹ, ngƣời đọc mới thấy
rằng tất cả các nhân vật ấy, bài sự hoạt động của họ, khiến cho ta thấy rõ cái hoàn cánh xã
hội, cái không khí sống của các vai chính. Thật nhƣ có một vùng ánh sáng soi tỏ tất cả những
trạng thái tâm lý của các ngƣời ấy, và đƣa đƣờng cho chúng ta tìm hiểu đƣợc họ. Vì thế,
những tiểu thuyết Anh, Nga ta thấy linh động nhƣ cuộc đời, cả về bề rộng lẫn bề sâu. Đáng lẽ
là một sự xếp đặt không thật, hay là những mánh khóe lề lối khô khan, chúng ta tƣởng nhìn
thấy nhƣ là mặt nƣớc hồ mung lung phản chiếu tất cả màu sắc của cuộc sống, lóng lánh giãn
ra và lắng xuống, khiến chúng ta hiểu thấy đƣợc rộng rãi và sâu sắc hơn" [258.(T4) 445-446].
Nhƣ vậy, nhân vật trong văn học không chỉ là phƣơng tiện khái quát hiện thực, không chỉ thể
hiện tính cách, không chỉ đƣa ngƣời đọc tới một thế giới đời sống mà đồng thời còn có vai trò
quan trọng trong việc tạo dựng hoàn cảnh
Trong hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh, có thể phân làm hai loại Thứ nhất, loại nhân
vật chỉ có tác dụng tạo không khí cho hoàn cảnh. Loại nhân vật này thƣờng không có quan hệ
trực tiếp với nhân vật động nó chỉ đƣợc nhà văn nhắc đến nên thƣờng mờ nhạt (chẳng hạn
nhân vật Năm Thọ, Binh Chức trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao. Hai nhân vật này chỉ
hiện lên qua ít dòng trần thuật nhƣng nó vẫn có tác dụng tạo hoàn cảnh trần thuật nhƣng nó
vẫn có tác dụng tạo hoàn cảnh, làm nổi bật hoàn cảnh
44
một hoàn cảnh luôn xô đẩy con ngƣời vào con đƣờng tha hóa. Cả hai nhân vật này đều không
có quan hệ trực tiếp với nhân vật động - Chí Phèo). Tất nhiên trong những tác phẩm cụ thể,
có khi loại nhân vật này mặc dù xuất hiện không nhiều nhƣng nó vẫn có thể rất gây ấn tƣợng
và cũng rất tạo không khí cho hoàn cảnh (chẳng hạn nhân vật Hòang Hôn, Em Chã trong Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng).
Thứ hai, bên cạnh loại nhân vật chỉ có tác dụng tạo không khí cho hoàn cảnh, có loại
nhân vật còn có chức năng tác động tới các nhân vật xung quanh với những mối quan hệ trực
tiếp. Những tác động trực tiếp đó ảnh hƣởng tới số phận, tính cách các nhân vật xung quanh
và dẫn tới những thay đổi về số phận và tính cách của những nhân vật này. Cấu trúc nghệ
thuật của hoàn cảnh đƣợc đan dệt nên bởi sự tác động qua lại giữa các nhân vật. Và suy cho
cùng, trong tất cả các mối quan hệ qua lại ấy, không có những mối quan hệ một chiều mà là
những quan hệ song phƣơng và đa phƣơng, nghĩa là nếu nói ở góc độ cấu trúc nghệ thuật của
hoàn cảnh, nhân vật này là hoàn cảnh của nhân vật kia và "tạo điều kiện" để nhân vật kia bộc
lộ tính cách (chẳng hạn trong quan hệ với tri phủ Tƣ Ân, chị Dậu đƣợc đặt vào một tình
huống để bộc lộ một phẩm chất thủy chung trong sáng, không bị lóa mắt bởi đồng tiền . Và
cũng trong mối quan hệ này, tri phủ Tƣ Ân bộc lộ bản chất dâm ô, đểu cáng, đê tiện. Trong
quan hệ với Thị Nở, Chí Phèo bộc lộ khát vọng hạnh phúc, khát vọng trở lại sống cuộc sống
lƣơng thiện, nghĩa là bộc lộ chất ngƣời vẫn còn tiềm ẩn trong tâm hồn một kẻ bị coi là "con
quỉ dữ của làng Vũ Đại ". Và Thị Nở, cũng trong mối quan hệ này, lại bộc lộ vẻ đẹp của
ngƣời phụ nữ hình hài xấu xí mà có một tình yêu mộc mạc, chân thành, cảm động).
Từ cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, ta nhận thấy vai trò tạo dựng hoàn cảnh của thế
giới hệ thống nhân vật trong tác phẩm.
Tất nhiên, nhƣ ở trên chúng tôi đã nói, mỗi cách phân chia nhân vật chỉ có ý nghĩa
trong một phạm vi nhất định. Khái niệm nhân vật động, nhân vật tĩnh chỉ có ý nghĩa khi
nghiền cứu cấu trúc hoàn cảnh.
45
1.3.2. Mâu thuẫn, xung đột của hoàn cảnh.
Không phải mâu thuẫn xung đột nào trong xã hội cũng đƣợc tái hiện phản ánh trong
tác phẩm mà phải là những mâu thuẫn có tính chất kịch tính tức là những mâu thuẫn, xung
đột tạo ra những tình huống căng thẳng, buộc các nhân vật phải bộc lộ bản chất tính cách.
Mâu thuẫn xung đột trong cấu trúc hoàn cảnh phản ánh một cách tập trung nhất những mâu
thuẫn, xung đột đang vận động của đời sống. Nó không đơn thuần là những mâu thuẫn giàu,
nghèo, mâu thuẫn giữa những lực lƣợng phe phái ... trong xa hội. Nó tác động trực tiếp đến
nhân cách và ý thức con ngƣời.
Phản ánh hiện thực là qui luật của văn học, nhƣng nhà văn không chỉ phản ánh hiện
thực mà còn khám phá bản chất của hiện thực ẩn tàng phía sau nhƣng mâu thuẫn xung đột có
kịch tính. Có nghĩa là những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống đƣợc nhà văn chú ý phản
ánh trên cơ sở lựa chọn theo quy luật sáng tạo. Những mâu thuẫn xung đột đƣợc nhà văn
phản ánh thƣờng là những mâu thuẫn xung đột đã phát triển đến mức độ gay gắt.
Theo V.E. Khalizev "chức năng quan trọng nhất của các cốt truyện là bộc lộ các mâu
thuẫn, đời sống, tức là xung đột (trong thuật ngữ của Hê-ghen là xung khắc). Các xung dột
tạo thành mãi quan trọng của các tác phẩm tự sự và kịch. Các tính chất của xung đột trong
truyện lại do chủ đề của sáng tác các nhà văn quyết định. Trong các tác phẩm có "cảm hứng
xã hội" (Bêlinxki) thì các xung đột được ý thức và miêu tả như từ sản phẩm của các tình
huống lịch sử cụ thể (chúng tôi nhấn mạnh - PMH)" [201(T2).42]. Ở đây, V.E. Khalixev
nhấn mạnh vai trò quan trọng của xung đột Mong các tác phẩm của các tình huống lịch sử cụ
thể". Xung đột là sản phẩm của tình huống và ngƣợc trở lại nó làm nổi bật tình huống, tạo
không khí cho tình huống (mà ở đây có thể hiểu là hoàn cảnh).
Hêghen cho rằng "cơ sở của xung đột là sự phá hoại, nhƣng một sự phá hoại không
thể duy trì với tính cách sự phá hoại mà phải bị gạt bỏ Xung đột là một sự thay đổi tình trạng
hài hòa và cái này đến lƣợt nó cũng phải bị biến
46
đổi. Song xung đột cũng vẫn chƣa phải là một hành động mà chỉ chứa đựng những mầm
mống và những tiền đề của hành động" [68(T1).345]. Từ đó Hêghen phân loại ba hình thức
xung đột: Xung đột xuất phát từ những nguyên nhân ở ngoài con ngƣời nhƣ bệnh tật, bão táp,
tai họa tự nhiên ; loại xung đột nảy sinh do những quyền lợi tự nhiên của con ngƣời nhƣ tâm
lý, đạo đức, tập quán xã hội ; loại xung đột xuất phát từ những mâu thuẫn đối lập ngay trong
đời sống nội tâm cua nhân-vật [68(Tl).345-363]. Trên cƣ sở ý kiến của Hêghen, theo chúng
tôi, xung đột mâu thuẫn trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh có thể đƣợc nảy sinh, tái tạo
từ những kiểu loại xung đột mâu thuẫn sau:
Thứ nhất, mâu thuẫn xung đột giữa nhân vật với môi trƣờng tự nhiên (khí hậu, thời
tiết, thiên tai, bệnh tật ...).
Thứ hai mâu thuẫn xung đột giữa nhân vật với môi trƣờng xã hội (quyền lợi giai cấp,
đạo đức, phong tục tập quán, văn hóa ...).
Thứ ba, mâu thuẫn ngay từ trong bản thân nhân vật, trong nội tại tính cách nhân vật,
trong thế giới tâm hồn nhân vật...
Loại xung đột thứ nhất và thứ hai có thể khái quát là mâu thuẫn xung đột giữa tính
cách và hoàn cảnh ; mâu thuẫn giữa tính cách và tính cách
Tất cả những mâu thuẫn xung đột ấy đƣợc đƣa đẩy dồn nén đến mức độ căng thẳng
giàu kích tính và trở thành một yếu tố nghệ thuật trong cấu trúc của hoàn cảnh. Từ sự phân
chia ấy, ta thấy trong các tác phẩm của các nhà văn hiện thực, không phải sự khai thác thể
hiện những mâu thuẫn, xung đột bao giờ cũng giống nhau. Theo Hoàng Ngọc Hiến, khi
nghiên cứu các loại hình xung đột trong văn học Nga, M.B Khraptrenko đã nhận thấy: "Xung
đột trong những tác phẩm của các nhà văn thuộc dòng Puskin là xung đột giữa cá nhân và xã
hội, cụ thể là ảnh hƣởng xấu của môi trƣờng tù đọng đã làm hƣ hỏng những nhân cách có tài
năng. Những nhà văn thuộc dòng Gôgol chú ý đến mâu thuẫn giữa những nhu cầu chân chính
của quốc gia, của nhân dân và thể chế xã hội tồi tệ. Trong các tác phẩm của Tônxtôi không
chỉ có sự triển khai
47
xung đột của cá nhân với xã hội còn có những sự tìm tòi của cá nhân nhằm thống nhất với
nhân dân trên cơ sở xét lại mọi quy chế xã hội". Đôtxtôiepxki khi miêu tả "những kẻ bị xỉ
nhục và lăng mạ" trong sự xung đột vô vọng với cái ác của xã hội. Tsêkhốp quan tâm đến
mâu thuẫn bên trong của chất tƣ sản phàm tục, chất ti tiện trong cuộc sống với những nguyên
tắc và chuẩn mực của hoạt động sáng tạo tích cực ... " [77.70-71]. Trong tác phẩm của các
nhà văn hiện thực Việt Nam cũng có hiện tƣợng khác nhau về các kiểu loại mâu thuẫn xung
đột nhƣ thế. Chẳng hạn, Vũ Trọng Phụng thƣờng chú ý tới những mâu thuẫn, xung đột giữa
tính cách với hoàn cảnh, giữa tính cách với tính cách ; còn Nam Cao lại thƣờng chú ý tới
những mâu thuẫn xung đột ngay trong thế giới tinh thần của các nhân vật. Hoàn cảnh trong
tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đƣợc đan dệt chủ yếu trên cơ sở sự va chạm, cọ xát giữa các
tính cách ; còn hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao chủ yếu đƣợc hiện lên qua những giằng
xé, trăn trở, khắc khoải trong tâm hồn nhân vật. Nói nhƣ vậy không có nghĩa là trong tác
phẩm Vũ Trọng Phụng không có những mâu thuẫn xung đột trong thế giới tâm hồn nhân vật.
Nhƣng ngay cả khi biểu hiện cái mâu thuẫn xung đột cùng loại này, Vũ Trọng Phụng và Nam
Cao cũng có sự khác nhau. Trong thế giới tâm hồn nhân vật của Vũ Trọng Phụng (chẳng hạn
trong Giống tố), có những xung đột quyết liệt giữa cái xấu và cái tốt, giữa nhân cách cao đẹp
và bản năng thấp hèn (ở nhân vật Long và Thị Mịch). Còn trong những tâm hồn nhân vật của
Nam Cao (chẳng hạn Thứ - Sống mòn), lại nổi lên sự xung đột giữa những khát vọng cao đẹp
với những toan tính nhỏ nhen tầm thƣờng. Sự khác biệt (không phải lúc nào cũng rạch ròi )
trong việc khai thác thể hiện các kiểu loại mâu thuẫn xung đột của các nhà văn cũng là một
yếu tố góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng của nghệ thuật xây dựng hoàn cảnh trong văn
xuôi hiện thực thời kỳ 1930 - 1945.
Trong một tác phẩm cụ thể, có thể từ một mâu thuẫn, xung đột lại nảy sinh hàng loạt
mâu thuẫn xung đột khác nhau. Nó làm cho hoàn cảnh càng trở nên sinh động, hấp dẫn đối
với ngƣời đọc. Chẳng hạn trong Giống tố mâu thuẫn có có kịch tính đầu tiên nảy sinh từ việc
Nghị Hách cƣỡng hiếp Thị
48
Mịch. Đây không chỉ là mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân mà là giữa một tên bạo chúa
khét tiếng với tập thể dân làng Quỳnh Thôn. Từ mâu thuẫn này hàng loại mâu thuẫn khác nảy
sinh: mâu thuẫn trong gia đình ông đồ Uẩn, mâu thuẫn nội bộ chức dịch làng Quỳnh Thôn,
mâu thuẫn giữa cha con Nghị Hách ... Những mâu thuẫn xung đột giằng chéo đan xen ấy dệt
nên hoàn cảnh. tạo nên không khí căng thẳng, sôi sục, các nhân vật đƣợc cọ xát trong một
môi trƣờng đầy kịch tính và buộc phải bộc lộ bản chất.
1.3.3. Cơ chế của hoàn cảnh.
Nằm trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh có yếu tố cơ chế. Nói cách khác, hoàn
cảnh phải có một cơ chế, tức là theo đó, một quá trình đƣợc thực hiện. Nó là nguyên tắc chỉ
đạo hoạt động, sự vận động của nhiều nhân vật. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng, ta thấy hiện lên cơ chế dối trá, lừa bịp. Cơ chế này chi phối lớn cả những mối
quan hệ tình cảm: tình cha con, tình vợ chồng, tình yêu đôi lứa, tình bạn ... Bởi vậy sự dối trá
không chỉ thể hiện ở một vài nhân vật mà cả xã hội Số đỏ ngập ngụa trong không khí của sự
dối trá. Sự dối trá đến trâng tráo và nâng lên thành nghệ thuật. Cái cơ chế dối trá ấy cộng với
sự bịp bợm và đểu cáng đã cuốn các nhân vật vào cơn lốc của sự đểu giả trong một xã hội
"chó đểu" (chữ dùng của Vũ Trọng Phụng). Cả một xã hội dối trá, bịp bợm. Tất cả những
danh từ vốn mang những ý nghĩa tốt đẹp nhƣ: nghệ thuật, Âu hoa, cải cách, tình yêu, hiếu
hạnh, tiết nghĩa, luật pháp ... đều gắn với sự bịp bợm giả trá. Vận hành cơ chế đó là một loạt
những quái thai nửa ngƣời nửa ngợm mà đứng đầu là Xuân tóc đỏ và những nhân vật khác
châu tuần quanh nó.
Theo quan niệm của chúng tôi có thể phân loại cơ chế của hoàn cảnh thành một số
kiểu loại sau:
Cơ chế hành động: Những nguyên tắc tổ chức, chỉ đạo hành động của hệ thống các
nhân vật.
Cơ chế tâm lý xã hội: Những nguyên tắc chỉ đạo, chi phối quá trình tâm lý của các
nhân vật.
49
Cơ chế đạo đức, phong tục: Những nguyên tắc đạo đức phong tục tập quán, thói
quen... chi phối tới tâm lý và hành động của các nhân vật.
Cũng phong phú, đa dạng, phức tạp nhƣ chính cuộc đời, trong một hoàn cảnh nghệ
thuật có thể có nhiều cơ chế, trong đó nổi lên một cơ chế mang tính chất chủ đạo. Và mỗi nhà
văn, có thể thƣờng chú ý tới một loại cơ chế khác nhau, kết quả của sự cảm nhận, khám phá
riêng.
Cùng viết về hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945 nhƣng mỗi tác phẩm của
trào lƣu văn học hiện thực lại phản ánh những cơ chế hoàn cảnh không phải bao giờ cũng
giống nhau. Điều này xuất phát lừ nhiều lý do: năng lực, sở trƣờng, vốn hiểu biết, tầm khái
quát, nhận thức, khám phá, cắt nghĩa hiện thực, những quan hệ xã hội của nhà văn ... Và việc
phản ánh những cơ chế hoàn cảnh không giống nhau ấy cũng là một yếu tố góp phần làm nên
bức tranh phong phú, đa dạng, nhiều chiều của văn học hiện thực thời kỳ này. Chẳng hạn, nếu
nhƣ Tắt đèn của Ngô Tất Tố chủ yếu tập trung làm nổi bật cơ chế hành động (cơ chế trấn áp
bạo lực) thì Sống mòn của Nam Cao lại tập trung hƣớng tới cơ chế tâm lý xã hội (cơ chế
Sống mòn, cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn). Nếu nhƣ nổi lên trong nhiều tác phẩm của Vũ Trọng
Phụng là cơ chế, dâm loạn, cơ chế vạn năng của đồng tiền, thì trong nhiều tác phẩm của Nam
Cao lại là cơ chế tính toán ti tiện. Cơ chế này chi phối một cách lạnh lùng nghiệt ngã tới đời
sống tâm lý của nhiều nhân vật và những mối quan hệ xã hội của chúng. Nhiều nhân vật của
Nam Cao chỉ suốt đời quanh quẩn với những tính toán nhỏ nhen tầm thƣờng. Nó làm thấp bé
con ngƣời, đẩy con ngƣời vào tình trạng phi nhân tính, thậm chí hạ con ngƣời ngƣời xuống
hàng con vật Trong guồng quay của cơ chế ấy, con ngƣời trở nên nhỏ nhen, thấp bé ti tiện.
Nó không chỉ chi phối tới những kẻ vốn ích kỷ, bẩn thỉu, bần tiện mà còn ảnh hƣởng tới
những con ngƣời vốn có bản chất cao thƣợng có nhân cách, có những khát vọng, hoài bão lớn
lao. Điển hình là các nhân vật trong cái xã hội thu nhỏ của tiểu thuyết Sống mòn.
50
Trong hệ thống cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, cơ chế là yếu tố có ảnh hƣởng
mạnh mẽ, rõ rệt tới số phận tính cách nhân vật. Chẳng hạn, trong cấu trúc nghệ thuật của
hoàn cánh ở nhiều tác phẩm của Nam Cao, ta thấy nổi lên một cơ chế - cơ chế lạnh lùng tàn
nhẫn. Rõ ràng, cơ chế này đã ảnh hƣởng tới số phận và tính cách cùa nhiều nhân vật. Nhân
vật Thứ (Sống mòn), Hộ (Đời thừa), Điền (Trăng sáng) là những ví dụ tiêu biểu. Những
ngƣời trí thức tiểu tƣ sản này bản chất là con ngƣời có tình thƣơng nhƣng trong guồng quay
của cơ chế ấy nhiều khi họ cũng trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn. Thậm chí họ lạnh lùng, tàn nhẫn
với cả vợ con, với những ngƣời thân yêu nhất của mình. Tất nhiên, họ cũng có những phút
giây hối hận chân thành nhƣng rồi cũng không vƣợt ra khỏi cái cơ chế của hoàn cánh phi
nhân tính ấy.
1.3.4. Không khí cùa hoàn cảnh.
1.3.4.1. Không khí của hoàn cảnh là trạng thái tinh thần chung của đời sống, là không
khí xã hội toát ra từ một hoàn cảnh nghệ thuật, một môi trƣờng hoạt động của các nhân vật,
nghĩa là nó đã trở thành không khí nghệ thuật đƣợc tạo nên trong tác phẩm. Là một yếu tố
trong cấu trúc của hoàn cảnh, không khí là một khái niệm mang thuộc tính thẩm mỹ rõ rệt.
Trong quá trình tạo dựng hoàn cảnh, nhà văn phải tạo đƣợc không khí. Nói cách khác, hoặc
cảnh phải toát lên đƣợc không khí mới trở thành hoàn cảnh nghệ thuật. Đọc tác phẩm, ngƣời
đọc không chỉ nhìn thấy hoàn cảnh mà còn phải cảm thấy không khí toát ra từ hoàn cảnh ấy.
Để có thể giúp ngƣời đọc tiếp nhận đƣợc hoàn cảnh nhƣ thế, đòi hỏi nhà văn phải biết sáng
tạo hoàn cảnh. Tất nhiên, sáng tạo hoàn cảnh là một công việc đòi hỏi tài năng của ngƣời
nghệ sĩ ngôn từ và công việc này không dễ dàng gì. Bởi vì nhƣ Hêghen đã khẳng định: "nói
chung, sự sáng tạo tình huống (ở đây có thể hiểu là hoàn cảnh - PMH) là một nhân tố quan
trọng thƣờng đã làm cho các nghệ sĩ rất vất vả" [67(T1).361]. Sự sáng tạo của nhà văn ở
phƣơng diện xây dựng hoàn cảnh thể hiện ở nhiều yếu tố. Và tất cả những yếu tố ấy đều phải
tập trung làm nổi bật không khí của hoàn cảnh. Lớp không khí ấy sẽ chuẩn bị tâm thế cho độc
gia cảm nhận và bình luận ý nghĩa sâu xa của số phận và những bƣớc thăng trầm của chúng.
Lớp không khí đó đƣợc tạo nên bởi hộ thống những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm.
51
Trong bài Vài ý kiến về tiểu thuyết (1933), nhà văn Thạch Lam có viết: "Người ta
không sống một mình, mà có liên lạc mật thiết với những người khác, với xã hội, phải làm
sống lại trong tiểu thuyết cái không khí bao bọc lấy vai chính. Phải bày tỏ bằng những hành
động cái tâm lý của các nhân vật. Sự quan sát bởi thế rất cần: quan sát đúng, tìm những
hành vi chính, đó là cái tài của nghệ sĩ. Những điều nho nhỏ, một nét mặt, một cử chỉ, một
giọng nói cho chúng ta biết rõ tâm lý của một người hơn những công việc và quyết định hệ
trọng, trong lúc ấy người ta tìm xét mình lại. Những cái mà ta thường coi là nhỏ nhặt, vụn
vặt hãy tỉ mỉ chính lại là những cốt yếu của tiểu thuyết hay. Các xác giả người Anh hay Nga
rất khéo làm linh động cái không khí bằng những việc nho nhỏ như thế [189.82].
Nhƣ vậy, không khí tác phẩm đƣợc toát lên từ "những điều nho nhỏ", từ những cái
"nhỏ nhặt, vụn vặt, hay tỉ mỉ nghĩa là từ nhiều chi tiết của tác phẩm. Nhƣng trƣớc hết và chủ
yếu nó đƣợc toát lên từ những chi tiết nằm trong một hệ thống, một chỉnh thể. Còn những chi
tiết chỉ mang tính chất cá biệt, đơn lẻ thì khó có khả năng tạo không khí.
Trong hệ thống cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, có thể nói lớp không khí ở cấp độ
bao trùm lên tất cả. Bởi vì không khí của hoàn cảnh nghệ thuật toát lên từ hệ thống nhân vật,
từ hệ thống những mâu thuẫn xung đột từ cơ chế của hoàn cảnh ... và từ tất cả những chi tiết
cấu thành tác phẩm, kể cả các chi tiết về hình ảnh thiên nhiên, khí hậu, thời tiết, âm thanh,
màu sắc thế giới đồ vật ... Mỗi tác phẩm văn học có thể toát ra một không khí riêng. Có
những tác phẩm toát ra không khí kinh dị, ghê rợn, ma quái ; có tác phẩm toát ra không khí
thƣ mộng, êm đềm ; có tác phẩm toát ra không khí ngột ngạt, bế tắc, có tác phẩm lại toát ra
không khí lạnh lẽo, buồn thƣơng ... Chính trong bầu không khí đƣợc tái hiện nghệ thuật ấy, số
phận của các nhân vật càng đƣợc làm nổi bật, tính cách của các nhân vật càng đƣợc bộc lộ rõ
nét sức truyền cảm mãnh liệt của tác phẩm tới ngƣời đọc càng trở lên thấm thía
52
Có thể nói, nhiều nhà văn rất có ý thức trong việc tạo không khí cho hoàn cảnh. Nhận
định về tác phẩm Ban dắc, M.B. Khraptrenko viết: "Tác giả Tấn trò đời đã coi hoàn cảnh sinh
hoạt vật chất của con ngƣời và sau đó là không khí xã hội chung mà trong đó con ngƣời sống
và hoạt dộng, có tầm quan trọng lớn lao trƣớc hết. Theo quan điểm của Ban dắc, hoàn cảnh
sinh hoạt vật chất để lại dấu ấn không phai mờ trên con ngƣời, nhƣng đến lƣợt mình, bản thân
con ngƣời lại muốn đóng dấu ấn phong tục của nó, tƣ tƣởng của nó, cuộc sống của nó lên tất
cả những gì nó dùng cho nhu cầu của nó. Trong những điều kiện nhất định điều đó tạo ra sự
thống nhất nào đó giữa con ngƣời và môi trƣờng sinh hoạt xã hội. Do đó bút pháp tiêu biểu
đối với Ban dắc là ông bắt đầu câu chuyện của mình bằng cách mô tả "hoàn cảnh" của
chúng: phố xá, nhà cửa, nơi chúng sinh sống, cách bài trí trong nhà, nếp sống hàng ngày ...
[1.10.90]. Coi trọng "không khí xã hội chung " và "hoàn cảnh vật chất của con người",
Bandắc đã có ý thức tái tạo không khí đó thành không khí nghệ thuật trong tác phẩm ngay từ
lúc "bắt đầu" câu chuyện, từ những trang đầu của tác phẩm, bằng việc miêu tả những hoàn
cảnh vật chất bao quanh chúng.
Tất nhiên việc tạo không khí cho hoàn cảnh cũng không phải là điều dễ dàng đối với
mỗi nhà văn. Tài năng của nhà văn cũng bộc lộ ở phƣơng diện này. Bởi vì "hoàn cảnh là cái
cảnh xung quanh mình, không những là cái cảnh vật hữu hình ở quanh mình, mà là cái khí vị
đặc biệt trong cảnh vật ấy nữa. Nhƣ định tả một kẻ vũ phu, cục súc thì hoàn cảnh lại phải có
khí vị thô lỗ, cục cằn. Gây cho ra cái khi trong, khi đục, khi nhạt, khi nồng ấy thật khó khăn,
nhân đó có thể thấy đƣợc cái tài của nhà làm tiểu thuyết"(Phạm Quỳnh) [189.127]. Các nhà
văn hiện thực bậc thầy của thế giới nhƣ: Ban dắc, Tsêkhốp, Đôtxtôiépxki ... rất có tài trong
nghệ thuật tạo không khí cho hoàn cảnh nhƣ thế. Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu bƣớc
đầu của chúng tôi, Ngô Tất Tố (với Tắt đèn), Vũ Trọng Phụng (với Giống tố), Nam Cao (với
Sống mòn) cũng đã rất thành công trong nghệ thuật tạo không khí cho hoàn cảnh (về vấn đề
này chúng tôi sẽ làm rõ hơn ở các chƣơng sau).
53
1.3.4.2. Nhịp điệu cũng là yếu tố tạo nên không khí trong chỉnh thể cấu trúc hoàn
cảnh. Nói cách khác, trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh cũng có sự tham gia của nhịp
điệu. Để cấu tạo hình thức nghệ thuật trong văn học, nhịp điệu là một phƣơng tiện quan
trọng. Thông qua nhịp điệu, nhà văn cũng thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra
cảm giác vận động của sự sống. Tất nhiên, ở đây cần phân biệt nhịp điệu của tổ chức lời văn
và nhịp điệu với tƣ cách là yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh. Chẳng hạn nhịp điệu
đƣợc tạo nên từ ngôn ngữ ngƣời kể chuyện không phải là nhịp điệu thuộc về cấu trúc hoàn
cảnh.
Nhịp điệu thuộc cấu trúc của hoàn cảnh là hình thức bên trong. Nói nhƣ vậy để phân
biệt với nhịp điệu với tƣ cách là hình thức bên ngoài " Nhịp điệu để sắp xếp trật tự các âm
thanh cho ngƣời la nghe đƣợc là hình thức bề ngoài, còn những nhịp điệu ấy hƣớng lới mội
cảm xúc, tạo ra một căng thẳng, một sự hoàn tất có ý nghĩa thì là hình thức bên trong" (Trần
Đình Sử ).
Nhịp diệu trong cấu trúc cùa hoàn cảnh đƣợc tạo nên bởi nhiều yếu tố:
Khoảng cách thời gian giữa các sự kiện, diễn biến đƣợc nhà văn tái hiện trong tác
phẩm.
Sự lập lại của những chi tiết, những hình ảnh, những sự kiện cùng loại.
Sự dồn nén hoặc dàn trải cùng thời gian trong đó xảy ra diễn biến của cốt truyện.
*
* *
Nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh, những yếu tố trên dây có quan hệ bổ sung, tác
động qua lại, xuyên thấm lẫn nhau. Nhiều khi yếu tố này là hệ quả của những yếu tố khác. Sự
phân định trên đây chỉ mang tính chất tƣơng đối. Và mỗi yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn
cảnh cũng là một hệ thống bao gồm những yếu tố khác với những mối quan hệ bổ sung,
tƣơng tác lẫn nhau. Bởi vì bất cứ yếu tố nào trong hệ thống, tự nó cũng trở thành hệ thống,
nghĩa là nó sẽ bao hàm một cấu trúc của những yếu tố nhỏ hơn, mà cũng tác động qua lại chặt
chẽ với nhau" (Phƣơng Lựu). Cho nên, tìm hiểu cấu trúc của hoàn cảnh cần phải thấy đƣợc
"cấu trúc của những yếu tố nhỏ hơn" ấy - Đó là hệ thống các chi tiết nghệ thuật có tác dụng
xây dựng, tái tạo hoàn cảnh
54
CHƢƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỆ HOÀN CẢNH TRONG TẮT
ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ
Tiểu thuyết Tắt đèn có tiền thân là truyện ngắn Một ổ chó và một đứa con đăng trên
báo Tƣơng Lai lừ 1936. Cuốn.tiểu thuyết này đƣợc đăng tải non vẹn irên tờ Việt Nữ năm
1937 và đƣợc NXB Mai Lĩnh ấn hành năm 1939.
Ngay từ khi mới ra đời, tiểu thuyết Tắt đèn đã đƣợc khẳng định là một tác phẩm
thành công xuất sắc. Vũ Trọng Phụng, một trong những nhà văn hiện thực nổi tiếng nhất
đƣơng thời đã nhiệt tình khung định ngợi cu: "Tắt đèn là một thiên liêu thuyết có luận de xã
hội hoàn loàn phụng sự dân què, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chƣa lừng thấy"
[208], "là áng văn mới mẻ nhất về loại văn chƣơng xã hội ngày nay" [208].
Cho đến ngày hôm nay, các nhà nghiên cứu vẫn nhất trí khẳng định Tắt đèn là mội
trong những lúc phẩm xuất sắc nhất của trào lƣu văn học hiện thực Việt Nam thời kỳ 1930 -
1945. Nói tới Ngô Tất Tố, ngƣời ta nhớ Tắt đèn và ngƣợc lại nhan đề Tắt đèn với nhân vật
chính chị Dậu đã gắn liền với tên tuổi Ngô Tất Tố. Bởi vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật vồ
hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực, chúng tôi tìm đến tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố nhƣ
một việc làm tất yếu.
Tắt đèn tập trung phản ánh mội mảng đời sống hiện thực: nông thôn Việt Nam trong
những ngày sƣu thuế, từ đó làm nổi bật những mâu thuẫn có tính chất đối kháng gay gắt. Đây
là thời điểm căng thẳng nhất, giai cấp thống trị bộc lộ bản chất dã man, tàn bạo nhất. Nông
thôn Việt Nam trong những ngày đó mang một không khí căng thẳng ngột ngạt, ngƣời nông
dân bị săn đuổi truy bức và rơi vào những tình cảnh tuyệt vọng, bi thảm vì "món nợ nhà
nƣớc". Tắt đèn đã tái hiện một cách nghệ thuật những thảm cảnh và không khí ấy. Cái náo
loạn, ngột ngạt, oi nồng của không khí xã hội, những mâu thuẫn gay gắt ở nông thôn, cơ chế
xã hội tàn bạo ... đã đƣợc tái hiện thông qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn.
Cũng qua đó ta thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của tác giả.
55
2.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn
Trong Tắt đèn, hệ thống nhân vật tĩnh có một vai trò rất lớn trong việc tạo dựng hoàn
cảnh nghệ thuật. Hệ thống nhân vật này đƣợc phân làm hai tuyến khá rõ rệt.
2.1.1. Hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện:
Trong Tắt đèn xung quanh nhân vật động - chính diện - chị Dậu, còn có một hệ thống
các nhân vật tĩnh chính diện. Số nhân vật này không nhiều nhƣng nó cũng có vai trò tái tạo
hoàn cảnh. Đó có thể là những nhân vật có tên nhƣ: anh Dậu, cái Tý, thằng Dần, cái Tỉu...
hoặc không tên nhƣ bà lão hàng xóm, một số ngƣời láng giềng của chị Dậu... Nếu chỉ nhìn
hoàn cảnh ở góc độ xã hội thì đôi khi, ngƣời ta ít chú ý thỏa đáng tới hệ thống những nhân
vật này mà chỉ chú ý tới những nhân vật tĩnh - phản diện. Trong khi đó, thực ra những nhân
vật này có quan hệ bổ sung làm nổi bật hoàn cảnh bi thảm tăm tối của xã hội Tắt đèn và tình
cảnh đáng thƣơng của gia đình chị Dậu.
Đặc điểm chung của những nhân vật tĩnh - chính diện trong Tắt đèn, những nhân vật
cùng tuyến với nhân vật chị Dậu, là những con ngƣời yếu đuối, nhỏ bé.
Trƣớc hết nói về hình tƣợng nhân vật anh Dậu. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Ngô
Tất Tố đã xây dựng hình tƣợng nhân vật anh Dậu là một nhàn vật nhƣ thế. Ở đây, không phải
nhà văn cố ý tạo một hình ảnh tƣơng phản để từ đó làm nổi bật vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng
của hình tƣợng nhân vật chị Dậu. Anh Dậu đã hiện lên trong tác phẩm nhƣ một ngƣời chồng
yếu ớt cả về thể xác và tinh thần. Cuộc sống vất vả đói khổ lam lũ cùng với bệnh tật và nỗi lo
vì "món nợ nhà nước" đã khiến cho ngƣời đàn ông lẽ ra phải là trụ cột trong gia đình này
không còn sức sống. Xuất hiện trong tác phẩm không nhiều nhƣng nhân vật này hầu nhƣ tán
nào cũng ở trong một trạng thái ốm yếu, kiệt
56
quệ với "vẻ mặt xanh ngắt", "cái mặt xanh xao", thậm chí "đổi ra sắc tái mặt ; dáng điệu lúc
nào cũng mỏi mệt nhƣ không còn sinh khí: "uể oài", "lướt thướt " lờ dờ, " lẩy bẩy", "lảo
đảo", "hổn hển", "run rẩy"... Ngay trong tình huống gay cấn nhất là chị Dậu phai một mình
chống trả với hai tên đàn ông đại diện cho guồng máy thống trị thì anh chồng ốm yếu ấy lại
"sợ quá muốn dậy can vợ, nhưng mệt lắm, ngồi lên lại nằm xuống" và chỉ biết "vừa run, vừa
kêu" Trong cái gia đình nông dân đƣợc xếp vào hạng cùng đinh ấy, anh Dậu không thể là chỗ
dựa, càng không thể là ngƣời che chở cho chị Dậu trƣớc đòn roi của bọn cƣờng hào chức
dịch; trái lại, anh còn đƣợc chị chở che, và trong thực tế ngƣời chồng ốm yến đó đã nhiêu lần
đƣợc ngƣời đàn bà con mọn ấy che chở. Ở đây, ngƣời ta không trách anh Dậu, không trách
ngƣời đàn ông không đủ sức làm tròn bổn phận là trụ cột trong gia đình, mà ngƣời ta chỉ càng
thấy rõ hơn tình cảnh đáng thƣơng của chị Dậu, tình cảnh " trăm dâu đổ đầu tằm".
Bên cạnh nhân vật anh Dậu, nhân vật cái Tý, thằng Dần, cái Tỉu cùng nằm trong hệ
thống các nhân vật tĩnh - chính diện. Ở đây chúng tôi không nói đến những phẩm chất đáng
quí và những hành động, cử chỉ, lời nói làm xúc động lòng ngƣời của những đứa trẻ đáng
thƣơng này mà muốn nói tới vai trò của chúng trong việc tạo dựng hoàn cảnh.
Cũng nhƣ nhân vật anh Dậu, những nhân vật này đã hiện lên trong tác phẩm để tô
đậm thêm hoàn cảnh khốn cùng, bi thảm của nhân vật chính - chị Dậu. Chúng là những đứa
trẻ còn quá nhỏ tuổi (cái Tý bẩy tuổi, thằng Dần năm tuổi và cái Tỉu mới hai tuổi), ở cái tuổi
cần đƣợc chăm sóc, chở che, đƣợc sống hồn nhiên no đủ, vui đùa.. Thế nhƣng chúng lại phải
sống trong hoàn cảnh đói khát, rách rƣới, đến rễ khoai cũng chẳng đủ mà ăn. Hơn nữa chúng
còn phải trở thành món hàng để đổi bán. Thật là không phải, nếu ai đó trách chị Dậu trong
việc bán con. Chị Dậu đã phải bán cái Tý trong hoàn cảnh bƣớc đƣờng cùng: anh Dậu bị trói
ngoài sân đình đang có nguy cơ không sống nổi,
57
chỉ chậm chút nữa có thể anh sẽ chết. Chị Dậu phải bán con để lấy tiền cứu mạng sống cho
chồng. Chị không thể có con đƣờng nào khác. Chị chỉ có thế cứu chồng bằng việc bán con.
Và bán con, chị vẫn còn có hy vọng có ngày lại chuộc đƣợc con về. Bởi vậy thật là bất nhẫn
nếu nghĩ rằng chị Dậu coi chồng hơn con. Cả trƣớc và sau khi bán con, chị Dậu đã phải sống
trong những giờ phút giằng xé đau đớn, nƣớc mắt của ngƣời mẹ đáng thƣơng ấy đã bao lần
chứa chan trƣớc cái quyết định đau lòng đó. Lòng cảm thông sâu sắc của Ngô Tất Tố đã giúp
ngƣời đọc hiểu đƣợc những nỗi đau trong lòng ngƣời mẹ nông dân nghèo khổ, bất hạnh ấy.
Đọc Tắt đèn, ngƣời đọc nhận thấy gia đình chị Dậu là một gia đình nông dân nghèo
khổ nhƣng không vì thế mà không hòa thuận thƣơng yêu nhau ( điều này khác với tình cảnh
của nhiều gia đình trí thức nghèo trong tác phẩm của Nam Cao). Nhiều chi tiết, hình ảnh cảm
động về tình vợ chồng, tình mâu tử, tình chị em... đƣợc Ngô Tất Tố tái hiện đã làm xúc động
biết bao trái tim ngƣời đọc và nhiều ngƣời đã không thể cầm đƣợc nƣớc mắt. Sự gắn bó yêu
thƣơng giữa những con ngƣời trong cái gia đình " nghèo nhất nhì trong hạng cùng đinh" ấy
càng sâu nặng cảm động bao nhiêu thì nó sẽ càng trở nên xót xa bấy nhiêu khi xảy ra cảnh
"xẻ đàn tan nghé" và càng làm nổi bật tính chất nghiệt ngã của hoàn cảnh. Những đứa con
của chị Dậu dẫu có thƣơng yêu nhau và thƣơng yêu cha mẹ cũng không thể làm gì giúp chị.
Bởi lẽ chúng vẫn còn là những đứa trẻ. Sự hiếu thảo ngoan ngoãn của cái Tý, sự hồn nhiên,
vô tƣ của cái Tỉu, Thằng Dần... chỉ càng làm tăng thêm cái trớ trêu của hoàn cảnh. Bên cạnh
ngƣời chồng ốm yếu và những đứa con còn thơ dại ấy chị Dậu chẳng còn biết trông cậy vào
ai.
Tất nhiên, trong lũy tre của làng Đông Xá, còn thấp thoáng những nhân vật tĩnh -
chính diện khác. Đó là bà lão láng giềng tốt bụng vẫn chạy đi chạy lại hỏi han thăm nom ; là
những ngƣời " láng giềng tấp nập đổ đến" khi anh
58
Dậu tƣởng nhƣ đã chết. Họ chỉ là những nhân vật không tên, chỉ là những "bà này",
"ông kia", "bác nọ", "bà kia", "cô nọ", "chị kia"... Sự xuất hiện của họ cũng chỉ là thoáng qua
bởi vì sau đó họ lại ai về nhà nấy và trong nhà chị Dậu "lại thấy cảnh buồn tẻ của sự thiếu
vắng ''. Chị Dậu lại trở về với tình cảnh đơn côi chẳng nơi bấu víu.
Nói tới hệ thống nhân vật tĩnh trong tác phẩm Tắt đèn, có lẽ không thể không nói tới
một nhân vật phụ - "nhân vật chết"- "nhân vật đó chết nhưng lại rất cần cho không khí tối
đèn" - đó là nhân vật Hợi, ngƣời em của anh Dậu, một nhân vật đã thuộc về âm thế nhƣng lại
có vai trò rất lớn trong việc thể hiện bản chất, tính cách, số phận, thiện ác... của những ngƣời
và cả những con thú đƣợc coi là ngƣời nơi dƣơng- thế. Nhà văn Nguyễn Tuân đã có những
lời bình luận rất sâu sắc về hình lƣợng nhân vật này [242.460]. Nhƣng ở đây, chúng tôi muốn
nói thêm rằng, ở góc độ cấu trúc của hoàn cảnh, hình tƣợng nghệ thuật này cũng là một mắt
xích quan trọng trong hệ thống nhân vật tĩnh -chính diện. Nó không chỉ có giá trị lên án tố
cáo cái xã hội với "thứ thuế bất nhân đánh trực diện vào thân con ngƣời "đánh cả vào người
đang sống, đánh cả vào người đã chết" [242.464] mà nó còn có giá trị tạo không khí cho
hoàn cảnh, đẩy cảnh ngộ chị Dậu vào sự tận cùng bi thảm không biết "đâm đầu vào đâu" cho
có đƣợc hai đồng bẩy bạc để đóng nốt "xuất sƣu quái gở" (chữ dùng của Phƣơng Lựu) này,
sau khi đã phải bán đi tất cả những gì có thể bán và cả những gì lẽ ra không thể bán.
Nhƣ vậy, hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện trong Tắt đèn đã góp phần đan dệt nên
một mảng hoàn cảnh. Mảng sống này không sôi động, ồn ào nhƣ mảng hoàn cảnh đƣợc tạo
nên từ hệ thống những nhân vật tĩnh - phản diện nhƣng nó cũng có vai trò nhất định trong
việc thể hiện hoàn cảnh, tạo không khí cho hoàn cảnh. Nếu tìm hiểu vấn đề hoàn cảnh trong
Tắt đèn mà không chú ý tới hệ thống nhân vật này, là vô tình bỏ qua một hệ thống nghệ thuật
59
góp phần đem lại sức truyền cảm mạnh mẽ cho tác phẩm ở phƣơng diện nghệ thuật thuật ấy.
2.1.2. Hệ thống nhân vật tĩnh - phản diện.
Trong hệ thống những nhân vật tĩnh - phản diện của Tắt đèn có những nhân vật tĩnh
đƣợc đặt tên (Tri phủ Tƣ Ân, Nghị Quế), nhƣng hầu hết là những nhân vật không tên, chủ
yếu chúng đƣợc gọi bằng những chức danh trong bộ máy thống trị: chánh tổng, lý trƣởng,
chánh hội, phó lý, lý cựu, lý đƣơng, cai lệ, biện lệ, lính cơ..: (Phải chăng việc không đặt tên
cụ thể cho những nhân vật này cũng có ngụ ý của nhà văn: Ông muốn khái quát một hệ thống
bộ máy thống trị bạo lực ở nông thôn Việt Nam đƣơng thời mà làng Đông Xá chỉ là một điển
hình thu nhỏ?).
Chính hệ thống những nhân vật tĩnh - phản diện này hầu hết là những kẻ vận hành,
thực thi cái cơ chế trấn áp, bạo lực. Không khí bạo lực, trấn áp tràn ngập mọi ngõ ngách làng
Đông Xá toát lên từ chính những việc làm, hành động, lời nói của bọn đầu trâu mặt ngựa này.
Những ngày sƣu thuế là "mùa làm ăn", là một dịp để bọn chúng có nhiều cơ hội bóc lột, đè
nén, áp bức những ngƣời dân nghèo khổ hiền lành vô tội. Lý trƣởng làng Đồng Xá đã từng "
rung đùi đắc ý" tuyên bố giữa đình làng: "chúng tôi làm vua làm việc, quanh năm đầu chày
đít thớt, chỉ có những lúc "hồng thuỷ trướng giật" và những khi "sưu thuế giới kỳ" như thế
này mới có quyền. Tha hồ đánh, tha hồ trói, trai làng thằng nào bướng bỉnh... đánh chết vô
tội vạ". Lời "tuyên ngôn" mang đấy màu sắc bạo lực ấy đã đƣợc hắn và lũ đàn em cùng
những kẻ trong guồng máy thống trị thực thi triệt để. Nội bộ chúng có thể có những mâu
thuẫn nhƣng một khi đứng trƣớc những "miếng mồi" ngon là những ngƣời nông dân cùng khổ
đang bị dồn tới bƣớc đƣờng cùng, chúng lại cấu kết với nhau để cắn xé. Trong cái guồng
quay của cơ chế trấn áp, các nhân vật tĩnh - phản diện này cứ mở miệng là quát, gắt, thét, la,
hét, chửi, mắng với thái độ dáng vẻ hằm hè, hầm
60
hầm, sừng sộ, hách dịch, hống hách, đùng đùng, trừng mắt, gân cổ, trừng trợn... Nhà văn
Nguyễn Tuân đã nhận xét rất đúng:" Trong Tắt đèn lũ người ác đại biểu cho các kiểu bất
nghĩa bất lương cũng khá đông đấy. Những cái mồm, cái giọng phản diện cũng khá ồn ào"
[242.422]. Nhƣng cũng phải nói thêm rằng, trong những giọng nói phát ra từ cửa miệng của
những kẻ nhân hình thú tính ấy, hiếm có một giọng nói nhẹ nhàng càng không có một lời nói
tử tế. Không gian làng quê tràn ngập tiếng chửi, rủa, quát, thét, của bọn quan lại, cƣờng hào,
chức dịch, Điển hình là lý tƣởng Đông Xá với "tiếng chửi om sòm"," chửi rủa thét mắng khắp
làng", "quát một cách ra phết", "mắng như lát nước", "xa xả chửi mắng. Bên cạnh đó là tên
cai lộ với những tiếng "quát lác" và bộ mặt đằng đằng sát khí luôn "hằm hè" nhƣ muốn nhảy
vào ăn sống nuốt tƣơi những ngƣời dân cùng khổ thiếu sƣu. Trong guồng máy bạo lực trấn áp
ấy, ngay cả tên lính cơ, một kẻ không có vai vế, chức sắc gì cũng mở miệng là "quát", là
"thét" và cũng với "bộ mặt đỏ gay" vẻ mặt "hầm hầm", "mắm môi mắm lợi". Có thể nói,
ngoài nhân vật, anh Dậu, bà lão láng giềng, chị em cái Tý... nghĩa là ngoài các nhân vật tĩnh -
chính diện, ta không thấy các nhân vật trong Tắt đèn "nói" mà chỉ thấy các nhan vật "quát",
"thét". Thậm chí một lời hỏi cũng không đƣợc nói với cái giọng bình thƣờng mà phải là "hỏi
dữ dội" (đó là tiếng hỏi của tên ngƣời nhà lí trƣởng khi tên này "nghênh ngang múa chiếc tay
thƣớc với sợi dẫy thừng" vào nhà chị Dậu thúc sƣu). Hơn nữa, lời hỏi có khi còn thành tiếng
"thét" ("cái mặt mồ hôi nƣớc mắt vừa ló vào thềm, chị Dâu liền đƣợc mấy ông chức dịch
nhao nhao thét hỏi"). Khi chị Dậu đã bƣớc đƣợc vào cái dinh cơ kín cổng cao tƣờng của nghị
Quế, ta đã tƣởng rằng ngƣời đàn bà khốn khổ ấy sẽ thoát khỏi những tiếng quát mắng nạt nộ.
Nhƣng không khí trấn áp vẫn tràn ngập nơi đây. Chị Dậu vẫn phải nghe những lời quát mắng
"the thè" của Nghị bà và cáu bẳn của Nghị ông. Hơn nữa, để nạt nộ, bà Nghị còn "quát" cả
lúc lẽ ra không cần nói bằng cái giọng trấn áp ấy ("Bà Nghị chỉ tay quát thằng nhỏ lấy
nước").
61
Cùng với những tiếng la, hét, chửi, mắng nạt nộ, những cử chỉ hành động của các
nhân vật tĩnh - phản diện luôn ở trong cái thế muốn nhảy xổ vào mà nghiền nát những ngƣời
dân thấp cổ bé họng: "hùng hổ đứng lên", "đùng đùng đứng dậy", "sấn sổ bước đến", "sầm
sập tiến vào", "đùng đùng chạy lại", "xăm xăm tiến đến"... Bị bủa vây giữa những bọn "người
nhà nước", ấy, những ngƣời dân thiếu thuế nhƣ "con kiến bò trong chảo nóng" không còn
đƣờng nào trốn chạy chỉ còn biết bất lực kêu trời. Quả thực "quanh chị Dậu, quanh cái thẻ
sƣu thuế ngƣời, cả một hệ thống thiên la địa võng, bóc lột sự sống, ăn hiếp sự sống, bức tử sự
sống" [242.446]. Cái hệ thống "thiên la địa võng" mà Nguyễn Tuân đã nói tới ấy đƣợc đan
dệt giăng mắc bởi hệ thống những nhân vật tĩnh -phản diện. Những hành động lời nói của loại
nhân vật này đã tạo không khí cho hoàn cảnh - không khí hấn áp bạo lực đầy giông bão.
Trong không khí ấy "ngƣời nồng dân giãy lên trên những dòng chữ của Ngô Tất Tố".
2.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn
Bàn về tác phẩm Tắt đèn, cùng với sự khẳng định thành công của tác giả trong việc
xây dựng đƣợc tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra
những mâu thuẫn xã hội đƣợc phản ánh và coi đây cũng là một yếu tố tạo nên giá trị hiện
thực cho tác phẩm. Chẳng hạn "Ông Ngô Tất Tố đã dùng đƣợc đắc sách cái phƣơng pháp
khách quan để tả cho chúng ta biết rõ ràng những cảnh tƣợng nơi hƣơng ẩm, là một chỗ mà
ngƣời ta nhờ ông, nhận thấy rất nhiều mâu thuẫn và hƣ nát" [199.195-196]; "Trong Tắt đèn,
Ngô Tất Tố không chỉ nói đến cái mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ mà còn nói đến cả cái
mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc thực dân" [199.234]; "Ngô Tất Tố đã dũng cảm bóc
nần những mâu thuẫn xã hội ; cái không khí oi bức giông bão trong Tắt đèn cho ta thấy mâu
thuẫn giai cấp ở nông thôn đã đến độ đối kháng gay gắt đòi hỏi phải đƣợc giải quyết"
62
[199.304]. "Thực ra quanh năm, không lúc nào ở nông thôn Việt Nam không diễn ra cuộc
xung đột gay gắt giữa bọn quan lại, bọn cƣờng hào địa chủ với nông dân lao động. Nhƣng
cuộc xung đột đó trở nên tập trung nhất và bộc lộ ra một cách tàn bạo nhất trong vụ thuế"
[199.262]... Tất cả những nhận định đó đều phản ánh rất đứng một phƣơng diện thành công
của tác phẩm Tắt đèn, đó là giá trị hiện thực qua việc phản ánh những mâu thuẫn xã hội ở
nông thôn Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng Tám. Nhƣng khi nói tới mâu thuẫn nằm trong
cấu trúc hoàn cảnh của tác phẩm Tắt đèn mà chỉ nói tới những mâu thuẫn đối kháng giữa
nông dân và địa chủ, giữa giai cấp thống trị và những ngƣời dân bị trị thì lại chƣa đủ. Mâu
thuẫn nằm trong cấu trúc hoàn cảnh của tác phẩm Tắt đèn là tổng thể của nhiều mâu thuẫn
mang kịch tính. Từ những mâu thuẫn chồng chéo "đan cài ấy, số phận, tính cách của các nhân
vật dần bộc lộ.
2.2.1. Đó là mẫu thuần giữa tình cảnh khốn cùng của chị Dậu và gánh nặng mà ngƣời
đàn bà đáng thƣơng đó phải gánh chịu: Làm gì để có tiền nộp sƣu ? Có thể gọi đây là mâu
thuẫn giữa cái "chỉ có" và cái "lẽ ra phải có" trong gia cảnh của ngƣời phụ nữ nông dân cùng
khổ ấy.
Hãy trở lại xem gia cảnh chị Dậu mà nhà văn đã tái hiện ở phần đầu tác phẩm. Chỉ
bằng một vài nét phác họa theo lối phóng sự ghi nhanh, Ngô Tất Tố đã dựng lại trƣớc mắt
chúng ta một bức tranh điển hình về sự nghèo khổ đến cùng cực: "Nếp nhà tranh lủn củn"
của gia đình chị Dậu tiều tụy thảm hại đến nỗi "đứng xa ngó lại ngƣời ta có thể lầm tưởng
đây là nơi nhốt lợn hay chứa tro". Tất cả những gì xung quanh và trong ngôi nhà mà ngƣời ta
có thể nhầm là chuồng lợn ấy, đều là hình ảnh của sự điêu tàn, hoang phế. Đó là khoảng sân
hẹp "chỉ bâng đường hứa" với "lớp rêu xanh điểm những lá tre vàng úa và những cỏ gấu
phất phơ". Đồ đạc và những thứ bài trí trong nhà đều là hình ảnh của sự rách nát, chắp vá nhƣ
những đồ phế thải: Bức mành rủ ngoài cửa -"rách mép lướt thướt" ; chiếc giƣờng tre -"gãy
giát" : chum - "mẻ" vại - "hàn"
63
củi - "ẩm ướt"; vung nồi - "sứt miệng"; chiếu - "rách thủng xộc xệch ; tấm phản - " long
dinh" ... không có một thứ đồ vật nào lành lặn, tử tế. Sau này khi theo bƣớc chân chị Dậu
sang nhà Nghị Quế, trƣớc dinh cơ của "ông đợi biểu của dân" này, ngƣời ta không thể không
liên tƣởng tới gia cảnh của chị Dậu. Ở đây có một sự tƣơng phản, một nghịch cảnh giữa hai
thế giới giàu sang và nghèo hèn, giữa dƣ thừa, no đủ và thiếu thốn, đói khát. Gia cảnh chị
Dậu là hiện thân của sự đói nghèo, thê thảm, cơ ngơi của Nghị Quế là bức tranh của sự giàu
sang, phú quý. Nếu nhƣ cái sân nhà chị Dậu chỉ "bằng đường bừa" mà lầy lội, bẩn thỉu thì cái
sân nhà Nghị Quế lại là cái "sân gạch Bát Tràng mông mênh như bãi đà bóng" mà sạch sẽ
phong quang. Nếu nhƣ cảnh vật, đồ đạc trong nhà chị Dậu là hình ảnh của sự nhỏ nhoi, rách
nát, chắp vá đến thảm hại thì cảnh vật, đồ đạc trong nhà Nghị Quế lại là hình ảnh của sự lừng
lững, oai phong. Đó là "đám bung xung nhọn như ngọn tháp hùng dũng?" ; là "lũ đống rơm,
đống rạ lớn bằng trái núi " ; là "Những cây cột phục phịch" trong "nếp nhà hai tầng" ... bƣớc
vào cái thế giới giàu sang mà cái gì cũng đồ sộ nhƣ luôn ở cái thế sắp đè bẹp, nuốt chửng
những ngƣời dân thấp cổ bé họng ấy, chị Dậu càng trở nên nhỏ bé đơn côi trong thân phận
của con sâu, cái kiến.
Ngoài gánh khoai và đàn chó con mới mờ mắt, quả thực tất cả gia tài ấy "không còn
thứ gì đáng giá hai hào" nhƣ lời chị Dậu nói với mụ Nghị thôn Đoài. Không có thứ gì "đáng
giá hai hào" vậy mà chị Dậu lại cần phải có hai đồng bẩy bạc tiền nộp sƣu. Tình huống ấy
đặt ra cho ngƣời phụ nữ nông dân bất hạnh đó một câu hỏi không dễ gì có lời giải: Làm thế
nào để có hai đồng bẩy bạc nộp tiền sƣu ? làm thế nào trả xong "món nợ nhà nước" để cứu
ngƣời chồng ốm yếu đang bị hành hạ đến gần chết ? Sự mâu thuẫn giữa tình cảnh khốn cùng
và đòi hỏi thúc bách của lũ đầu trâu mặt ngựa đã buộc ngƣời mẹ giàu tình thƣơng ấy phải đi
tới một quyết định đau lòng: Bán đứa con gái ngoan ngoãn, hiếu thảo mới bẩy tuổi đầu.
64
2.2.2. Đến đây, chị Dậu lại rơi vào một mâu thuẫn mang đầy tính bi kịch. Ai có thể
nói rằng chị Dậu là ngƣời không có tình mẫu tử ? Ai có thể nói rằng ngƣời mẹ ấy khi cần có
thể bán con đi ? Ngô Tất Tố đã dành những trang văn cảm động nhất để thể hiện tình mẫu tử
của ngƣời mẹ đáng thƣơng ấy. Vấn đề là phải thấy đƣợc những giằng xé, đau đớn trong tâm
hồn của chị trƣớc cái quyết định đau đớn ấy và nỗi đau rớm máu của chị khi phải đƣa con đi
bán cho nhà Nghị Quế. Ở phần trƣớc chúng tôi đã nói việc chị Dậu phải bán con là do ở vào
một tình thế không thể có cách nào khác. Việc bán con của chị là giải pháp bắt buộc và cũng
là giải pháp thông minh nhất để bảo vệ sự an toàn cho cả gia đình, ít nhất cũng để bảo toàn
tính mạng cho anh Dậu đang nằm trong vòng tay của tử thần (theo cả-nghĩa đen và nghĩa
bóng).
Mâu thuẫn giữa tình thƣơng của một ngƣời mẹ và việc tự mình phải quyết định rồi
cũng lại tự chính mình phải mang con đi bán đã khiến chị Dậu phải gánh chịu một nỗi đau
hơn ngàn lần những nỗi đau về thể xác mà bọn cƣờng hào ác bá đã giáng vào thân xác chị.
Nếu nói Tắt đèn là bản tố khổ chan hòa nƣớc mắt thì chủ yếu đó là những dòng nƣớc mắt
của Chị Dậu, và trong đó chủ yếu là những dòng nƣớc mắt xung quanh sự kiện bán con. Theo
thống kê của chúng tôi, trong cuốn tiểu thuyết hơn 100 trang sách này, tác giả đã tái hiện
khoảng hơn 50 lần hình ảnh những giọt nƣớc mắt và tiếng khóc của chị Dậu. Trong đó có tới
25 lần chị phải khóc và rơi nƣớc mắt xung quanh việc bán cái Tý. Con số thống kê ấy hẳn
không phải không có ý nghĩa. Nó phản ánh nỗi đau, tấm lòng của ngƣời mẹ trƣớc một tình
cảnh mà tất cả những ai biết cảm thông chia sẻ sẽ không thể cầm đƣợc nƣớc mắt. Trong
những ngày sƣu thuế khủng khiếp ấy, ít khi thấy trên gò má của ngƣời mẹ nông dân đó khô đi
những dòng nƣớc mắt xót thƣơng, tủi nhục, đau đớn. Kể từ khi có ý định bán đi đứa con bé
bỏng của mình, ngƣời mẹ khốn khổ ấy đã bao tân phải rơi nƣớc mắt. Chỉ vừa mới nghe anh
Dậu bàn tới việc bán con, trên gƣơng mặt chị đã thấy " nước mắt chảy qua gò má ròng ròng"
nhƣng cũng chỉ dám "se sẽ
65
gạt thầm nước mắt". Khi sang nhà Nghị Quế để dạm bán con, để chuẩn bị dứt tình mẫu tử,
chị Dậu lại "rơm rớm", "sụt sùi" và "chan chứa hai hàng nước mắt". Trở về nhà, trƣớc sự
ngoan ngoãn, ngây thơ, hiếu thảo của cái Tý, chị Dậu nhƣ bị "những lưỡi dao găm cắt từng
khúc ruột " và "càng nước mắt ngắn dài", "những giọt nước mắt rơi xuống càng mau". Đến
khi phải nói thật với con cái quyết định đau lòng kia chị "sẽ gạt nước mắt" , "vừa nói vừa
mếu" và "điểm thêm một giây nức nở" rồi "chỉ thổn thổn thức thức, không nói thêm được câu
gì". Thế rồi, cũng đến lúc, cái quyết định đau lòng ấy phải đƣợc thực hiện - ngƣời mẹ bất
hạnh ấy phải đƣa con mình đến nơi hang hùm miệng rắn để có đƣợc mấy đồng sƣu mà trả
"món nợ nhà nước". Trong giờ phút đó, ngƣời phụ nữ cùng khổ lại "lã chã hai hàng nước
mắt" và "khóc nức nở" dắt con ra đi. Và chị đã đƣa đứa con gái ngoan ngoãn, hiếu thảo của
mình sang nhà Nghị Quế "với những tiếng thổn thức trong đáy tim và những giọt nước mắt
luôn đọng ở gò má".
Tại nhà Nghị Quế, giọt nƣớc mắt của chị Dậu vẫn không ngừng tuôn rơi. Sự tàn nhẫn,
bất nhân của vợ chồng tên địa chủ này càng khoét sâu thêm nỗi đau của ngƣời mẹ. Có lúc chị
chỉ dám "nức nở khóc thầm", "những giọt nước mắt đọng ở trong đám lông mi lóng lánh". Có
lúc nỗi đau xót, tủi cực khiến chị không thể cầm lòng đƣợc và "nước mắt nhỏ xuống thêm
thánh thót". Thật cảm động, đáng thƣơng trƣớc hình ảnh: "Mẹ con chị Dậu ro ró ngồi nép
bên cột, người nọ nhìn cái mặt chan hòa nước mắt của người kia". Có thể nói mỗi trang văn
Tắt đèn đều thấm đẫm nƣớc mắt của Chị Dậu. Nƣớc mắt của Chị Dậu tuôn trào trên từng
trang sách. Và những dòng nƣớc mắt chảy ra từ trái tim rớm máu của chị chính là những
dòng nƣớc mắt trƣớc sự kiện phải bán con. Đó là những dòng nƣớc mắt của tình mẫu tử.
Chính sự xuất hiện nhiều lần của những dòng nƣớc mắt ấy không chỉ thể hiện tình mẹ con
sâu nặng, trái tim giầu tình thƣơng yêu của chị Dậu mà nó còn góp phần thể hiện cái thảm
cảnh khốn cùng của ngƣời nông dân trƣớc nạn sƣu thuế. Ngƣời ta nói nhiều về
66
tình cảnh phải bán vợ đợ con trong xã hội cũ, nhƣng đã mấy ai nói đƣợc cái thảm cảnh ấy
một cách xúc động và gợi lòng thƣơng cảm sâu xa trong lòng ngƣời đọc nhƣ Ngô Tất Tố '?
Khi giáo sƣ Phong Lê nhận xét rằng: "Không phải là trong cuộc đời thật của nhân dân không
còn những nỗi khổ nào nặng nề hơn. Nhưng cái khéo léo trong nghệ thuật dẫn dắt truyện,
trong sự miêu tả những cảnh ngộ bi kịch của Ngô Tất Tố đã có sức nâng những nỗi đau
thương vốn thường xảy ra trong cuộc đời lên một mức độ cao gần như vượt quá sức chịu
dựng của con người, ấn tượng về một xã hội tối tăm, về những nỗi đau thương của người
nghèo, vì thế trở nên có sức đè rất nặng", [199. 253] phải chăng cũng một phần xuất phát từ
hình ảnh những giọt nƣớc mắt ấy của nhân vật chị Dậu ?
2.2.3. Trong những mâu thuẫn nằm trong cấu trúc hoàn cảnh của tác phẩm Tắt đèn
còn có mâu thuẫn giữa tình thế đơn côi của chị Dậu và cả một bộ máy thống trị tàn bạo cấu
kết chặt chẽ, trấn áp và bóc lột. Khi Nguyễn Tuân nói rằng "Chị Dậu là cái đốm sáng đặc
biệt của tác phẩm Tắt đèn" thì cũng có nghĩa là xung quanh chị là một màn đêm dày đặc, cái
màn đêm ấy "tối thật, tối quá, tối lắm, sự sống đến như đời sống như chị Dậu thì tối sầm cả
mặt người đọc truyện hai mươi năm sau này "[242.467]. Cái màn đêm đặc quánh đó đƣợc tạo
nên bởi bộ máy thống trị từ quan lại đến cƣờng hào địa chủ. Có thể nói chị Dậu đơn thƣơng
độc mã vói một gánh nặng trên vai, phải đƣơng đầu với cả một đội quân hùng hậu luôn đằng
đằng sát khí đó. Thử điểm lại các tình huống mà chị Dâu phải trải qua trong tác phẩm, ta sẽ
thấy tình huống nào chị cũng ở thế đơn độc, nhỏ bé, lúc nào cũng "rón rén", "khép nép",
"khúm núm", "rụt rè" "mon men", "ngập ngừng", " thèn lẹn", lúc nào cũng chỉ dám "thưa",
"lạy", "bẩm", "van xin" ... chị Dậu quả là quá nhỏ nhoi trong cái vực thẳm của sự tàn bạo đó.
Xung quanh chị, ở ngoài đình là một lũ: chánh tổng, phó tổng, lý trƣởng, chánh hội... luôn
sẵn sàng "đổ xô ra" nạt nộ chửi rủa. Khi chị ở nhà, bất cứ lúc nào, bọn cai lệ, lý trƣởng, tuần
phu ... cũng có
67
thể "sầm sập tiến vào" bắt, trói, đánh đập. Tại nhà Nghị Quế, ngƣời đàn bà cùng khổ ấy lại bị
quây giữa đàn chó dữ nhƣ "một đàn hùm ở đâu nhất tề xồ ra" và vợ chồng tên địa chủ bạc ác
bất nhân này. Chị đã phải tay không đánh nhau với bầy chó và một mình hứng chịu những lời
đay nghiến, mỉa mai, khinh bỉ của những kẻ làm giàu trên nỗi khốn cùng của ngƣời dân. Khi
"vào cửa quan", mong rằng ở chốn công đƣờng chị sẽ có đƣợc sự bình an, nhƣng từ quan Tri
phủ đến cai lệ, biện lệ ... lại cấu kết với nhau trấn lột chị tiền bạc và định trấn lột chị cả về
nhân phẩm. Cho đến tình huống cuối cùng của tác phẩm, lại nhà "quan cụ" chị Dậu một lần
nữa, trong đêm lại một mình chống trả với "con dê già" để bảo toàn phẩm tiết và để rồi lại lao
vào màn đêm đen dày dặc. Cũng biết rằng trong tất cả những tình huống đơn côi ấy, có một
lần, ngƣời phụ nữ nông dân tiềm tàng tinh thần phản kháng đó đã vùng lên kháng cự, chống
trả quyết liệt; đã tuyên chiến với kẻ thù: "Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem" . Và
trong trận quyết đấu không cân sức ấy, chị đã là ngƣời chiến thắng. Nhƣng trận thắng ấy chỉ
nhƣ một ánh chớp lóe lên giữa bầu trời đêm rồi vụt tắt. Nó không thể xóa đi ấn tƣợng về cuộc
sống thê thảm và tình cảnh bi thƣơng của gia đình chị Dậu. Ngƣời đọc sau một vài phút giây
đƣợc hả hê sảng khoái lại trở về với tâm trạng thƣơng xót, lo âu cho số phận cuộc đời, tình
cảnh không nơi bấu víu của ngƣời đàn bà nông dân cùng khổ ấy. Đọc Tắt đèn nhà văn
Nguyễn Tuân đã phát biểu cảm tƣởng: "Tôi không trực tiếp sống cái thống khổ của những
người nông dân tiền khởi nghĩa đó . nhưng đọc Tắt đèn, tôi xúc động với nhân vật ngạt thở
của nó" (Tạp chí văn nghệ số 6. tháng 6/1960). Cảm tƣởng đó của Nguyễn Tuân là do tác
động của nhiều yếu tố, nhiều chi tiết. Nhƣng phải chăng trong đó có những tình huống thể
hiện sự đơn côi của chị Dậu trƣớc thế lực bạo tàn ? Sự tƣơng phản mâu thuẫn đó cũng là một
yếu tố góp phần thể hiện hoàn cảnh nghệ thuật của Tắt đèn.
68
2.2.4. Nói tới những mâu thuẫn nằm trong tổng thể những mâu thuẫn thuộc cấu trúc
nghệ thuật của hoàn cảnh Tắt đèn không thể không nói tới một mâu thuẫn xã hội đã đƣợc thể
hiện một cách nghệ thuật: mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị. Cái không khí căng
thẳng sục sôi toát lên từ hoàn cảnh tác phẩm, một phần cũng từ những mâu thuẫn này. Tất
nhiên, đây không phải là mâu thuẫn chủ yếu đƣợc nhà văn khai thác, thể hiện. Nhƣng cũng
chỉ qua một vài cảnh huống, vài nét phác hoa, nhà văn cũng giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc
rất rõ mâu thuẫn đó.
Ở phần cơ chế của hoàn cảnh Tắt đèn, chúng tôi sẽ nói tới cơ chế trấn áp và chỉ ra sự
thể hiện nghệ thuật của cơ chế ấy. Ở đây chúng tôi muốn nói rằng, cơ chế ấy không chỉ thể
hiện trong mối quan hệ giữa bọn thống trị với những ngƣời dân thấp cổ bé họng, mà nó còn
thể hiện ngay trong quan hệ nội bộ bọn ngƣời này. Chúng không chỉ hò hét, nạt nộ, dọa dẫm
những ngƣời nông dân đang bị dồn đuổi trong mùa sƣu thuế mà còn nạt nộ, dọa dẫm, trấn áp
lẫn nhau: Lý trƣởng Đồng Xá "quát một cách ra phết" : "ngày mai không đủ thuế thì ông
khai hết ra cho, thử xem thằng nào ngồi tù"; chánh hội "vểnh bộ mặt hách dịch": "quan sức
cho tôi" hiệp dữ lý trƣởng" thôi đốc vụ thuế năm nay* ngƣời nào gai ngạnh tức là " hãn trở
thuế sự " tôi gông cổ cho mà xem"; Chánh Tổng "lên giọng hống hách": "Tuần đâu ? Mày
điệu cổ thằng Lý cựu xuống sân đình kia cho ông ! nó định ăn cƣớp tiền thuế của Lý trƣởng
à? Rồi ông trình quan cho nó" ; Quan phủ " ra bộ giận dữ đập tay xuống bàn " : " Vụ thuế
này mày kiếm đƣợc của những đứa ngoại canh mấy trăm đồng ! ông thì cách cổ !".
Ngô Tất Tố đã mở đầu chƣơng VII - Cảnh chè chén của bọn cƣờng hào hách dịch tại
đinh làng bằng những hình ảnh đầy ý nghĩa. Đó là hình ảnh "đàn chó chui trong gậm đình,
chực cướp xương rơi, con nọ cắn con kia ý ẳng" và bên cạnh đó là hình ảnh "lý cựu, phó lý,
thủ quĩ chân đầu trên lớp bát đĩa đầy nhặng xanh..." Phải chăng nhà văn muốn nói rằng, cái
lũ ngƣời đang
69
cắm đầu vào đống mâm bát kia cũng chỉ là một bầy nhặng xanh, chỉ là một bầy chó đói đang
tranh cƣớp miếng ăn, miếng uống giữa chốn đình trung ? Nếu nhƣ bầy chó đói kia hậm họe
cắn nhau vì những mẩu xƣơng thừa, bát canh cặn thì bọn cƣờng hào chức dịch cũng gầm ghè
cãi lộn nhau vì mấy đồng tiền thu "lạm", "vẫn giắt ở cạp váy " của "mấy đứa phụ canh".
Trong những mâu thuẫn thuộc nội bộ hệ thống nhân vật tĩnh phản diện, có lẽ cũng cần
phải nói tới mâu thuẫn giữa vợ chồng Tri phủ Tƣ Ân. Tất nhiên đây chỉ là một mâu thuẫn rất
thứ yếu, mâu thuẫn về hình thức nhƣng bản chất lại là thống nhất. Đã có một cuộc đôi co nho
nhỏ giữa hai vợ chồng tên Tri phủ này khi hắn bắt vợ lên hầu quan trên để đƣợc thăng quan
tiến chức với cái triết lý bẩn thỉu:" ... đâu vẫn vào đấy, nào mình có mất một chút gì đâu ".
Trong mấy tình huống xuất hiện trong tác phẩm, lần nào ta cũng thấy kẻ đê tiện này
mang dáng vẻ đằng đằng sát khí với "cái mặt phèn phẹt luôn hằm hằm như sắp rơi suống sàn
đánh "huỵch" và "đôi mắt trắng dã" nhƣng đến đây ta lại thấy hắn "nhanh nhảu", "ngọt
ngào", "sung sướng", "vui vẻ" và nở nụ cƣời mãn nguyện khi vợ bằng lòng đi hiến thân cho
quan trên. Còn mụ vợ thì "làm bộ giằn dổi" và "ra giọng gắt gưởi" - nghĩa là thâm tâm cũng
đồng lòng sẵn sàng bán rẻ nhân phẩm của mình để có đƣợc quyền cao chức trọng. Cuộc đôi
co giả tạo của vợ chồng tên tri phủ đốn mạt đó chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm
nhƣng nó góp phần làm cho bức tranh xã hội Tắt đèn đã đen tối lại càn đen tối thêm. Bởi lẽ,
nó giúp ngƣời ta hiểu rằng, ngay những kẻ đƣợc coi là "cha mẹ" của dân mà còn bẩn thỉu đê
tiện đến thế thì còn gì là đạo lý, còn gì là sự coi trọng nhân phẩm trong cái xã hội ấy.
Góp phần tô đậm cái nền đen tối của hoàn cảnh Tắt đèn còn có vợ chồng địa chủ
Nghị Quế, đặc biệt là nghị viên Trần Đức Quế. Ở đây lại thấy sự mâu thuẫn giữa cƣơng vị xã
hội của "ông đại biểu của dân" kẻ "thay mặt dân" này với những hành động, cử chỉ, lời nói
tàn nhẫn của hắn. Là nghị viên nghĩa là
70
ngƣời đại diện cho dân, ngƣời bảo vệ quyền lợi cho dân, thế nhƣng hắn lại là kẻ lợi dụng tình
cảnh khốn cùng của ngƣời dân để làm giàu. Để có thế mua rẻ đàn chó và đứa con của chị
Dậu, hai vợ chồng hắn đã đóng kịch rất ăn ý, kẻ đấm ngƣời xoa, dồn ngƣời phụ nữ nông dân
cùng khổ vào tình thế buộc phải bán đƣa con và đàn chó cho hắn với cái giá bèo bọt - hai
đồng bạc, chƣa đủ một xuất sƣu. Tất cả những lời nói của hắn với chị Dậu đều bộc lộ một bản
chất tàn nhẫn, dửng dƣng vô cảm trƣớc tình cảnh bi thảm của ngƣời dân quê: "Thiếu bao
nhiêu mặc kệ mày, kể lể gì ? mày định bổ vào nhà tao đấy à ?", "rẻ thì đem ngay ra chợ bán.
Ra ngay !", "không bán thì về, về thẳng !", những cử chỉ hành động của vợ chồng hắn cũng
mang đầy sắc thái tàn bạo trấn áp của những con ngƣời không có trái tim: "Đập tay xuống
sập", "hầm hầm nét mặt" ," nổi cơn tam bành", " nghiến răng kèn kẹt" , "đùng đùng đứng
dậy"... Bản chất chó má bất nhân của "ông đại biểu của dân" này bộc lộ rõ nét nhất khi hắn
"ra giọng nhân từ" bắt cái Tý phải ăn chỗ cơm thừa của chó kẻo "phí của trời". Và khi con bé
tội nghiệp ấy "ôm chầm lấy mẹ khóc nhƣ mƣa nhƣ gió" trong phút cuối cùng của sự chia ly,
thì kẻ "thay mặt dân" ấy "đùng đùng đứng dậy giơ cái bàn tay hộ pháp tát cho con bé một cái
đánh đốp, và hắn hét lên như một ông đại tướng trong rạp tuồng:
- Thằng nhỏ, lôi cổ nó xuống nhà bếp kia...". Thật là táng tận lƣơng tâm! Bất cứ ai
còn có chút lòng nhân, chắc rằng sẽ không có hành động phũ phàng nhƣ thế trƣớc tình mẫu
tử. Nếu Nghị Quế chỉ là một tên địa chủ thì thái độ, hành động vô nhân đạo đó của hắn là
thống nhất với bản chất giai cấp của hắn, nhƣng hắn lại là nghị viên - là ngƣời mang danh đại
diện và bảo vệ quyền lợi của dân thì ở đây lại có sự mâu thuẫn. Tất nhiên mâu thuẫn này
cũng là sự phản ánh mâu thuẫn trong xã hội đƣơng thời. Biết bao kẻ tai to mặt lớn, là " phụ
mẫu", là cha mẹ dân, nhƣng lại là những kẻ tàn bạo nhất trong việc cai trị, bóc lột ngƣời dân.
Và mâu thuẫn ấy cũng góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh Tắt đèn.
71
2.3. Cơ chế trấn áp bạo lực
2.3.1. Trong cấu trúc của hoàn cảnh, có yếu tố cơ chế. Hoàn cảnh nào cũng có cơ chế
của nó. Cơ chế của hoàn cảnh là kết qua cái nhìn hiện thực của nhà văn. Cùng đứng trƣớc
một hiện thực xã hội, các nhà văn có thể có những cái nhìn khác nhau về cơ chế của hoàn
cảnh. Với Ngô Tất Tố trong Tắt đèn, đó là cơ chế trấn áp, cơ chế bạo lực. Chính cơ chế này
chỉ đạo toàn bộ hoạt động của tuyến nhân vật phản diện và biểu hiện ở một số hệ thống tín
hiệu nghệ thuật. Mỗi hành động, mỗi việc làm, mỗi câu nói của các nhân vật phản diện đều
tập trung biểu hiện cơ chế ấy. Guồng quay của cơ chế trấn áp, bạo lực dƣờng nhƣ càng trở
nên cấp tập, náo động hơn trong những ngày sƣu thuế ở làng Đông Xá. Trong guồng quay ấy,
những ngƣời nông dân, nghèo khổ, lam lũ, bị thúc bách dồn đuổi chạy ngả nào cũng bị bủa
vây bởi một không khí đầy bạo lực và những lời chửi rủa nạt nộ thồ bạo làn nhẫn của bọn
cƣờng hào lí dịch. Trong cơ chế trấn áp bạo lực đó, làng Đông Xá trở nên sôi sục náo loạn
"Trong làng lúc nào cũng như có đám đánh cướp". Gia đình chị Dậu trở thành nạn nhân bi
thảm của cái cơ chế ấy. Bị dồn đuổi đến bƣớc đƣờng cùng, ngƣời phụ nữ bất hạnh ấy chỉ còn
biết cầu khẩn, van xin, nhƣng chỉ đƣợc đáp lại bằng-những lời đe doa thô bạo không mảy
may thƣơng xót. Trong hoàn cảnh không đào đâu ra tiền nộp sƣu, anh Dậu phải đến vay nhà
Hội ích, nhƣng "mới cất miệng hỏi " đã bị "mắng sơi sơi". Trƣớc tình cảnh ngƣời chồng ốm
yếu bị trói đến gần chết ở trong đình, chị Dậu vừa cất tiếng "se sẽ gọi" thì lập tức bị phó Lý
trấn áp: "... mày câm đi, không thì ông vả vỡ mồm bây giờ...". Để có đƣợc hai đồng bẩy sƣu,
chị Dậu đã phải bán đi lất cả những gì có thể bán (đó là gánh khoai, đàn chó con mới mở mắt
) và đau xót hơn, chị còn phải bán đi cả những gì lẽ ra không thể bán (đó là đứa con gái mới
bảy tuổi đầu và dòng sữa ngƣời mẹ). Vậy mà vẫn chƣa đủ, chị còn phải đóng; thêm suất sƣu
cho ngƣời em chồng đã chết. Uất ức, cay cực, chị đã phải cất lên tiếng kêu xé lòng: "Trời ơi!
Em tôi chết rồi mà còn phải đóng sƣu hở trời? Tôi biết đâm đầu
72
vào đâu đào cho đƣợc hai đồng bảy bạc bày giờ?". Đáp lại tiếng kêu xé lòng ấy của chị là
tiếng thét của tên cai lệ: "... con mẹ kia, muốn sống thì câm cái mồm". Trƣớc khi bị giải lên
phủ, chị Dậu vừa cất lời xin đƣợc cho con bú, một lời khẩn cầu mà bất cứ ai có chút lòng
nhân đều không thể chối từ, thế nhƣng, ngƣời mẹ khốn khổ ấy lập tức bị Lý trƣởng hùng hổ
chìa bàn tay vào mặt và quát: "ông thì vả vỡ mồm bây giờ!". Những lời trấn áp, doa nạt: "im
cái mồm", "câm đi", "vả vỡ mồm", "chẻ xác ra cho"... là những câu nói cửa miệng của bọn
cƣờng hào chức dịch mỗi khi những ngƣời dân cùng khổ cất lời cầu xin. Một không khí bạo
lực trấn áp bao trùm lên toàn bộ tác phẩm. Bị ném vào hoàn cảnh với cơ chế ấy, chị Dậu một
mình "trần trụi giữa bầy sói" tìm mọi phƣơng cách chống lại áp lực của hoàn cảnh mà chẳng
còn biết trông cậy vào ai. Đáp lại những lời khẩn cầu thiết tha, chan hòa nƣớc mắt của ngƣời
đàn bà đáng thƣơng và cũng đáng trân trọng cảm phục ấy, nếu không là những lời quát, thét
nạt nộ thì cũng chỉ là những câu nói lạnh lùng, tàn nhẫn, vô nhân đạo: "cho chết", "chẳng cứu
vớt gì cả", " mặc kệ mày", "mặc! đây không biết", "mặc kệ! không biết".
2.3.2. Cơ chế trấn áp bạo lực trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Tắt đèn đã góp
phần tạo không khí náo loạn, căng thẳng cho hoàn cảnh (chúng tôi sẽ phân tích và làm nổi bật
ở phần sau: 2.4) và đồng thời nó cũng đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện số phận, tính
cách của các nhân vật. Chính trong cơ chế xã hội tàn bạo ấy, bản chất vô nhấn đạo của bọn
cƣờng hào chức dịch đƣợc bộc lộ. Điển hình là câu nói nhƣ một lời "tuyên ngôn" cho cơ chế
trấn áp bạo lực phát ra từ cửa miệng của lý trƣởng Đông Xá: "không cần gì hết, đứa nào trái ý
đánh luôn... chúng tôi làm vua làm việc, quanh năm đầu chày, đít thớt, chỉ có những lúc
"hồng thủy trƣớng giật" và những khi "sƣu thuế giới kỳ"nhƣ thế này thì mới có quyền. Tha
hồ đánh, tha hồ trói, trai làng thằng nào bướng bỉnh ... đánh chết vô tội vạ ". Giữa guồng
quay của cơ chế ấy chị Dậu bị dồn đuổi truy bức và đàn áp thẳng tay. Trong những cuộc tiếp
xúc với bọn "ngƣời nhà nƣớc", ngƣời đàn bà khốn khổ ấy không bao giờ đƣợc
73
nhận một lời tử tế, một thái độ cảm thông, trái lại chị chỉ nhận đƣợc. những cái tát, những cú
đấm không hề thƣơng xót của bọn đàn ông đầu trâu mặt ngựa. Chính tên cai lệ, sau khi đã
đánh ngƣời đàn bà đáng thƣơng đó bằng "cái thụi chuyên môn của ngƣời cửa công, khác hẳn
thứ thụi phổ thông của thƣờng dân" vẫn còn tiếc rẻ: "nếu không vội đi bắt đứa khác thì tôi đã
biếu thêm cho chị ấy vài chục quả phật thủ nữa", Vậy mà lên Phó lý vẫn còn thắc mắc: " ...
Sao ông không giã thêm cho nó một mẻ ? "... Trƣớc sự dồn đuổi truy bức của những kẻ thực
thi cơ chế trấn áp bạo lực, chị Dậu chỉ còn biết van xin với thái độ nhẫn nhục, cam chịu bằng
những lời nói nhẹ nhàng, tình cảm, hy vọng sự thông cảm, xót thƣơng. Với bọn ngƣời ấy chị
Dậu luôn: "khép nép", "khúm núm", "ngập ngừng" và lễ độ " thưa", "bẩm", "lạy"... nhƣng
không bao giờ chị có thể làm dịu đƣợc cái "đằng dằnq sát khí" của bọn ngƣời đã mất hết lòng
nhân.
Có thể nói cơ chế trấn áp bạo lực của hoàn cảnh đã tạo nên một áp lực vừa vô hình lại
vừa hữu hình, truy bức, dồn đuổi những con người khốn khổ vào đƣờng cùng không lối
thoát. Không một nhân vật đáng thƣơng nào đƣợc thƣơng xót, không một nhân vật nào cần
đƣợc nƣơng nhẹ, đƣợc nhẹ tay. Ở đây, chúng tôi chƣa nói tới nhân vật chị Dậu - "người đàn
bà bị săn đuổi", mà nói tới những nhân vật khác quanh nhân vật này.
Trong Tắt đèn, nhân vật cái Tý, thằng Dần, cái Tỉu là những đứa trẻ đáng thƣơng,
vậy mà trong guồng quay của cơ chế trấn áp bạo lực, chúng cũng không đƣợc hƣởng một
chút lòng thƣơng (ngoại trừ của những ngƣời thân yêu nhất). Trái lại, chúng cũng phải chịu
ngọn đòn roi của loài lang sói, Trƣớc lời van xin lội nghiệp của cái Tý cho ngƣời cha ốm yếu
của nó, tên Cai lệ đã "sẵn roi song trong tay quất luôn cho nó mấy cái" khiến "con bé đau
quá. Nó lăn đành đạch xuống đất và nó giẫy giụa nhƣ gà phải nƣớc nóng". Khi sang nhà Nghị
Quế, đứa trẻ mới tám tuổi, cái tuổi lẽ ra phải đƣợc nâng niu chiều chuộng này, lại bị Nghị
Quế tát cho một cái bằng "cái bàn tay hộ pháp" ... Nhƣ vậy, cơ chế trấn áp bạo lực đã thể hiện
sự khắc nghiệt của nó tới cả thế giới trẻ thơ.
74
Nhân vật anh Dậu cũng là một nạn nhân của cở chế trấn áp bạo lực. Ngƣời đàn ông
ốm yếu, tiều tụy này rất cần đƣợc nƣơng nhẹ bởi anh đang ốm rất nặng. Con ngƣời đáng
thƣơng ấy dang bị sốt rét mà vẫn bị trói ở sân đình cho đến khi ngất xỉu mới đƣợc trả về nhà
trong tình cảnh nhƣ "một cái xác" không hồn. Thế rồi, vừa qua cơn thập tử nhất sinh, mới hồi
tỉnh, anh lại lập tức bị tróc nã, đe dọa và đánh đập không thƣơng xót.
Cơ chế của hoàn cảnh Tắt đèn đã không chỉ tác động đến số phận cuộc đời các nhân
vật, mà còn có tác động đến tính cách của các nhân vật (trong đó có những nhân vật vận hành
cơ chế và có những nhân vật là nạn nhân của cơ chế). Trong guồng quay của cơ chế ấy, tính
cách các nhân vật bộc lộ rõ nét: kẻ thực thi, vận hành cơ chế, bộc lộ bản chất tàn bạo dã man,
phi nhân tính ; những nạn nhân của cơ chế, bộc lộ những bản chất tốt đẹp mà trong hoàn cảnh
bình thƣờng có thể không có điều kiện bộc lộ. Ở đây, cơ chế với tƣ cách là một yếu tố thuộc
cấu trúc của hoàn cảnh đã trở thành động lực, đồng thời cũng trở thành cơ sở giải thích tính
cách, hành động nhân vật. Chẳng hạn ở nhân vật chị Dậu: sự truy bức, dồn đuổi trấn áp đã
đẩy chị vào ngõ cụt không có lối thoát và "con giun xéo lắm cũng quằn", ngƣời đàn bà táo
bạo ấy đã buộc phải chống trả quyết liệt. Sự phản kháng của chị thể hiện trong hành động
đánh lại ngƣời nhà lý trƣởng và tên cai lệ là một sự phản kháng tất yếu, dù rằng đó chỉ là
hành động tự phát. Nhƣng hành động tự phát đó là kết cục tất yếu trƣớc áp lực của hoàn cảnh
và tinh thần phản kháng tiềm tàng ở ngƣời phụ nữ nông dân ấy. Trong quá trình vùng vẫy
giữa "cái thiên la địa võng" (Nguyễn Tuân) mà bọn cƣờng hào quan lại giăng mắc, chị Dậu ít
nhất đã ba lần phản kháng và cả ba lần chị đều là ngƣời chiến thắng, ở đây, cái cơ chế trấn áp
bạo lực tạo nên hoàn cảnh khắc nghiệt đen tối đã trở thành một "cơ hội" để nhân vật chị Dậu
bộc lộ những phẩm chất cao đẹp.
75
2.4. Không khí náo loạn, căng thẳng
Đọc Tắt đèn một số nhà nghiên cứu đã khẳng định thành công của Ngô Tất Tố trong
việc tạo không khí cho hoàn cảnh. Đó là cái không khí ngột ngạt, giông bão, oi nồng, không
khí kinh hoàng loạn lạc của nông thôn Việt Nam trƣớc cách mạng trong những ngày sƣu
thuế. Nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện sự cảm nhận của mình về cái không khí đƣợc thể
hiện một cách nghệ thuật ấy: "Tôi thấy cả người mình ngột ngạt, thấy đêm quanh mình như là
một đêm có báo bão. Mạnh hơn cả chất nổ của chai rượu bên đèn đã cạn dần, văn truyện của
Ngô Tất Tố dựng tôi dậy".
Nhƣ vậy, vấn đề không khí của hoàn cảnh trong tác phẩm Tắt đèn đã đƣợc khẳng
định. Nhƣng vấn đề đặt ra là những gì đã tạo nên không khí ấy? Nếu không thấy đƣợc căn
nguyên ấy thì nhận xét vẫn chỉ là nhận xét, hay nhƣ ở Nguyễn Tuân, vẫn chỉ là sự cảm nhận,
là nhận thức cảm tính.
Ở đây, chúng tôi muốn tìm hiểu những gì tạo nên không khí ngột ngạt giông bão, oi
nồng, kinh hoàng, loạn lạc đó của tác phẩm, nghĩa là tìm hiểu không khí của hoàn cảnh Tắt
đèn nhƣ một yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh.
Cần phải khẳng định rằng, không khí là trạng" thái tinh thần, là không khí xã hội đƣợc
toát ra từ toàn bộ tác phẩm, đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật từ chỉnh thể tác phẩm, bởi vậy
tất cả những yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh Tắt đèn đã đƣợc nghiên cứu, khảo sát
trên đây nhƣ: hệ thống nhân vật cơ chế, mâu thuẫn, đều có tác dụng tạo không khí cho hoàn
cảnh, nghĩa là mang lại cho hoàn cảnh Tắt đèn tính nghệ thuật. Những yếu tố ấy đan dệt nên
hình tƣợng hoàn cảnh trong tác phẩm, một hình tƣợng có sức truyền cảm ám ảnh mạnh mẽ
tới ngƣời dọc, dù rằng đấy là một hình tƣợng vô hình, không có dung mạo, ngoại hình, ngôn
ngữ, cử chỉ nhƣ những hình tƣợng nhân vật.
Nhƣng bên cạnh những yếu tố nằm trong hệ thống cấu trúc của hoàn cành ấy, còn có
một số hệ thống yếu tố tín hiêu nghệ thuật khác phần vào việc tạo không khí cho hoàn cảnh
mà chúng tôi đã khảo sát và minh chứng
76
2.4.1. Những âm thanh tạo không khí.
Hiện lên trong nhiều tác phẩm của Nam Cao là một không gian làng quê vắng lặng,
hoang vu, tiêu điều, xơ xác trong cái nghèo đói, một không gian "u tịch" đôi khi chết lặng vì
cái nắng trưa gay gắt của mùa hè, xao xác vào những ngày cuối thu, tả tơi khi những ngày
mưa bão, quạnh vắng vào những đêm trăng ; một không gian nhiều khi nhƣ chết lặng đến nỗi
ngƣời ta có thể nghe thấy tiếng "thở ra u ám" của những "giậu tre rậm như rừng" và "những
khu vườn hẻo lánh tựa tha ma" (Nửa đêm). Còn không gian làng quê trong Tắt đèn của Ngô
Tất Tố lại luôn ồn ào, náo động bởi những âm thanh mang màu sắc bạo lực khủng khiếp
trong những ngày sƣu thuế.
Trong thế giới âm thanh ấy, nổi bật là những âm thanh báo hiệu mùa sƣu thuế, âm
thanh của sự dồn đuổi, thúc ép, đe dọa, đó là âm thanh của tiếng trống, mõ, hiệu ốc, hiệu
sừng, tù và: "suốt năm ngày nay, ngày nào cũng vậy, mõ cá, trống thúc liên hồi, hiệu ốc, hiệu
sừng inh ỏi. Suốt từ sáng sớm cho đến tối mịt, trong làng lúc nào cũng như có đám đánh
cướp". Những âm thanh náo loạn ấy không chỉ xuất hiện một lần mà nó cứ trở đi trở lại nhiều
lần trong tác phẩm. Cứ sau một đoạn trần thuật, sau một vài sự việc, sự kiện, âm thanh ấy lại
đƣợc nhà văn tái hiện và trở thành một sự ám ảnh khôn nguôi. Chỉ trong khoảng diễn biến
câu chuyện hai ngày, đã hơn mƣời lần tác giả tái hiện những âm thanh ấy. Nó trở thành một
điệp khúc, không cho cái làng Đông Xá vốn tĩnh lặng vào những ngày bình thƣờng ấy đƣợc
yên tĩnh mà luôn tràn ngập một không khí bạo loạn khủng khiếp, không khí của cái loạn
"cƣớp ngày là quan". Những âm thanh "như có dám đánh cướp ấy" có khi dội lại từ xa: "xa
xa trong nẻo đình, một hồi mõ cá thật dài tiếp luôn đến trống ngũ liên nên đủ ba hồi chín
tiếng" , "một hồi hiệu ốc rúc từ ngoài đình rúc vào". Có lúc nó lại nhƣ chát chúa bên tai: "Mõ
cá trên cột đình lại há miệng nhận những dùi giận dữ. Trống cái dưới xà đình lại lì mặt chịu
những cái nện phũ phàng". Những âm thanh nhƣ có loạn ấy trải ra khắp không gian ("Tiếng
chó sủa, tiếng ngƣời hét, tiếng hiệu rúc thổi báo động suốt cả mấy xóm") và kéo dài theo thời
gian ("ngoài đình, trống lại thúc, mõ lại khua, tù và rúc liên thanh bất tử", "suốt từ sáng sớm
đến tối mịt").
77
Nói tới những âm thanh tạo không khí cho hoàn cảnh Tắt đèn, còn phải nói tới một
hệ thống âm thành chắc rằng có nằm trong dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Đó là tiếng chó
sủa. Những âm thanh rất bình thƣờng ấy của mọi làng quê, ở đây lại trở nên bất thƣờng, bởi
nó đƣợc tái hiện nhiều lần và cứ trở đi trở lại trong tác phẩm. Nó trở thành một điệp khúc dữ
dội trong bản nhạc kinh hoàng của làng Đông Xá ngày sƣu thuế. Điều đáng chú ý là những
âm thanh báo hiệu sự bất thƣờng ấy bao giờ cũng là những âm thanh của một đàn, một bầy.
Hình nhƣ lũ thú dữ bốn chân này cũng cấu kết với bọn thú dữ hai chân đe dọa trấn áp và sẵn
sàng nhảy bổ vào cắn xé những ngƣời dân hiền lành vô tội. Đó là "đàn chó dữ như đàn hùm
vây kín xung quanh chị Dậu nhƣ quân đèn cù" trong dinh cƣ của vợ chồng Nghị Quế "con
nào con nấy nhe răng lè lưỡi" lăm le lao vào cắn xé ngƣời đàn bà đáng thƣơng trong tay chỉ
có một thứ vũ khí tự vệ là cái nón rách. Đó là "đàn chó chui trong gậm đình, chực cƣớp
xƣơng rơi, con nọ cắn con kia ý ẳng". Âm thanh của những tiếng "chỗ sủa vang khắp xóm" ,
"tiếng chó sủa xô xát", "đàn chó bên đường sủa vang", "đàn chó hàng xóm thi nhau sủa từ
ngõ sủa vào" ... làm cho cái không gian làng Đông Xá bé nhỏ ấy vốn đã náo động bởi tiếng
trống, tiếng mõ, tiếng tù và, lại càng trở nên náo động hơn. Nó trở thành âm thanh dây
chuyền dăng đầy các xóm ngõ gần xa. Những ngƣời nông dân hiền lành cùng khổ nhƣ bị bủa
vây trong cái lƣới âm thanh đầy đe dọa khủng khiếp ấy. Nó theo bƣớc chân của bọn đầu trâu
mặt ngựa đang lùng sục, tróc nã những kẻ thiếu sƣu: "văng vẳng trên nẻo xa có tiếng chó sủa.
Rồi nhƣ theo một vệt đƣờng những giọng ăng ẳng kế tiếp nhau, ganh thi nhau, dần dần lại
dần dân lớn thêm. Nó xô xát dữ dội ở mấy nhà giữa xóm và nó kéo dài vào ngõ láng giềng
nhà chị Dậu". Có lẽ, ngƣời đọc dù vô tâm đến mấy cũng không thể không liên tƣởng giữa
bầy chó dữ đang sủa vang nơi hang cùng ngõ hẻm ấy với bọn cƣờng hào chức dịch cũng đang
tỏa đi khắp mọi ngả để gầm ghè, hậm họe, xâu xé ngƣời dân và xâu xé lẫn nhau.
78
Trong thế giới âm thanh của xã hội Tắt đèn, còn có một hệ thống âm thanh rất tạo
không khí cho hoàn cảnh. Nó cùng với hệ thống âm thanh tiếng trông, mõ, tù và, hiệu sừng,
hiệu ốc và âm thanh tiếng chó sủa trên mọi nẻo đƣờng ngõ xóm góp phần tạo nên cái không
khí căng thẳng, ngột ngạt đầy giông bão của hoàn cảnh. Đó là âm thanh dữ dội, náo động,
kinh hoàng của những tiếng: la, hét, quát, thét, mắng, gắt, chửi bới.....của bọn cƣờng hào
chức dịch trong khi tróc nã, thúc giục, trấn áp những ngƣời dân cùng khổ thiếu sƣu. Trong
không gian tràn ngập những âm thanh đầy đe dọa khủng bố ấy, mộtt tiếng "dạ" phát ra từ cửa
miệng bọn chức dịch trƣớc quan trên cũng không hề nhỏ nhẹ nhƣ lẽ thƣờng phải thế ( Quan
phủ vênh cái mặt nặng chình chịch và đập tay xuống mặt bàn: - Không đóng sƣu ! lại đánh cả
lính ! Nó định làm giặc à ? Bắt cổ nó ra đây!". Một tiếng dạ vang năm gian đình..."). Ở phần
cơ chế của hoàn cảnh và hệ thống nhân vật tĩnh - phản diện, chúng tôi đã khảo sát hệ thống
những âm thanh rất tạo không khí cho hoàn cảnh này, bởi vậy ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói
thêm rằng hệ thống những âm thành tiếng ngƣời đó cùng với hệ thống âm thanh tiếng vạt( tù
và, trống mõ, hiệu ốc, hiệu sừng) và âm thanh tiếng chó ... đã đan dệt nên một mớ tạp âm
loạn xạ, gay gắt, chất chứa, kinh hoàng. Không khí náo loạn căng thẳng của hoàn cảnh Tắt
đèn đã toát lên từ đó.
2.4.2. Những hình ảnh tạo không khí cho hoàn cảnh Tắt đèn.
Trong tác phẩm Tắt đèn có một số hình ảnh đã trở thành hệ thống yếu tố nghệ thuật
trong việc tạo không khí cho hoàn cảnh.
Trƣớc hết là bức tranh thiên nhiên. Cũng nhƣ nhiều nhà văn hiện thực khác, Ngô Tất
Tố ít miêu tả thiên nhiên. Chúng tôi nghĩ điều này không phải do năng lực, sở trƣờng. Phải
chăng, các nhà văn hiện thực chỉ tập trung bút lực vào việc phản ánh hiện thực xã hội, cái mà
họ chú ý hƣớng tới để quan sát, suy ngẫm và phản ánh là hiện thực cuộc sống con ngƣời ?
Thiên nhiên không phải là đối tƣợng cảm hứng chủ đạo của các ngòi bút hiện thực. Nhƣng
khi cần, các nhà văn hiện thực cũng miêu tả thiên nhiên. Và với Ngô Tất Tố, có thể nói rằng
nhà văn đã rất thành công trong việc miêu tả thiên nhiên.
79
Ngay từ khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố ra đời, Phú Hƣơng trên báo Đông Dƣơng số 10,
ngày l/9/1939 đã khẳng định sự thành công của tác giả Tắt đèn về tài năng tả cảnh: "Nghệ
thuật tả cảnh của ông đã đạt tới một trình độ khá cao, có thể cho phép ta đặt ông ngang bằng
với các nhà văn sĩ trong Tự lực văn đoàn về mặt ấy. Những câu tủ cảnh thần tình rất nhiều..."
Tuy nhiên hình ảnh thiên nhiên trong Tắt đèn chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Nó chỉ là
những hình ảnh điểm xuyết trên cái nền hiện thực, làm nổi bật cái nền hiện thực và tâm trạng,
số phận con ngƣời. Có lẽ bởi vậy mà trong các công trình nghiên cứu về Tắt đèn sau này
phƣơng diện này ít đƣợc chú ý. Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Tắt đèn, và ở
cấp độ bên trong cấu trúc đó là lớp không khí của hoàn cảnh, chúng tôi thấy, không thể bỏ
qua hệ thống tín hiệu nghệ thuật này.
Không khí ngột ngạt, oi nồng, đầy giông bão toát ra từ tác phẩm Tắt đèn là cảm nhận
chung của nhiều độc giả sau khi đến với kiệt tác bằng văn xuôi này. Một trong những yếu tố
đem lại hiệu quả tác động đó là bức tranh thiên nhiên, cảnh vật mà ở đây nổi bật là hình ảnh
ánh nắng mặt trời. Đây cũng là một tín hiệu nghệ thuật đƣợc xuất hiện trở đi trở lại nhiều lần
trọng tác phẩm. Hình ảnh ấy hiện lên không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà nó còn
góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh. Tất nhiên, đôi khi hình ảnh ánh nắng mặt trời ấy cũng
chỉ xuất hiện nhƣ một yếu tố biểu thị thời gian. Đó là ánh nắng "xuống thềm gần một hàng
gạch. Xe lửa "một giờ" toe loe hét còi" khi chị Dậu đang làm văn tự bán con ở nhà Nghị Quế
; ánh nắng "chênh chếch nhòm vào gốc đa gốc gạo" lúc xế chiều khi chị Dậu vào định xin
chữ ký của lý trƣởng ; ánh nắng "luồn qua chấn song sắt soi chỗ anh Dậu" đang bị trói trong
đình ... Nếu chú ý, ta thấy ánh nắng trong Tắt đèn chủ yếu là ánh nắng chiều, thứ ánh nắng
vừa gay gắt vừa sắp tàn lụi hắt hiu. Ánh nắng ấy nhƣ cùng với âm thanh quát thét, chửi bới,
tiếng trống, mõ, tù và, hiệu sừng, hiệu ốc ; tiếng chó sủa ran khắp ngóc ngách xóm thôn... làm
cho không gian nhỏ bé
80
của cái làng quê ấy vốn đã ngột ngạt càng trở nên oi nồng. Nó nhƣ "hun" thêm cho cái không
khí vốn đã ngột ngạt bức bối của những quan hệ xã hội đang ở thời kỳ cao điểm trong mùa
sƣu thuế. Trong không gian ngột ngạt oi nồng ấy, quả thực - nhƣ tạc giá đã dùng một hình
tƣợng rất phù hợp, chính xác - những ngƣời nông dân, cùng khổ thiếu sƣu cứ "như con kiến
bò trong chảo nóng" không biết chạy đƣờng nào để thoát khỏi cái "vùng khí hậu" nóng bức
đến nghẹt thở đó.
Cái không khí ngột ngạt oi nóng giông bão của Tắt đèn dƣờng nhƣ cứ tăng dần lên
theo thời gian, theo diễn biến của các sự kiện. Trong cái ngày đầu tiên xảy ra câu chuyện
(theo dòng trần thuật), ánh nắng mặt trời mỗi lúc một thêm gay gắt. Thậm chí có lúc, dƣờng
nhƣ tự nó cũng bứt rứt vì cái oi ả của chính mình ("ánh nắng bứt rứt chiếu đến nửa sân
đình"). Cái ngột ngạt, oi nồng của không gian làng quê ngày sƣu thuế cùng với ánh nắng ấy
tác động tới cả những con vật vốn quen với sự khắc nghiệt của thời tiết ("mấy con trâu bò
vẫn nằm gò lưng dưới những gốc xạo, gốc đa, hơi thư trong cổ họng kéo ra hồng hộc").
Chị Dậu đã sang nhà Nghị Quế dạm bán con trong cái "ánh nắng tháng năm rát như
lửa chàm vào mặt. Hơi nước dưới đồng bốc lên, nóng như bơi trong chõ xôi", ánh nắng ấy
gay gắt đến nỗi: "Những con cua chửa và những con rắn nước chịu không nổi sức nóng của
nước ruộng, rủ nhau bò lên mặt đường và núp vào các khóm cỏ". Dƣới ánh nắng ấy, đoạn
đƣờng ba cây số từ Đồng Xá tới Đoài Thôn " người ta coi như con đường thiên lý trong bãi
cát già". Cũng trong ngày hè xảy ra bao sự kiện, bao cảnh ngộ thƣơng tâm ấy, chị Dậu đã
phải mang đứa con gái mới bẩy tuổi và đàn chó con mới mở mắt đi bán khi "nắng tây gay gắt
đến nửa thềm". Và chị đã "cố sống cố chết, nhũng nhẵng dẫn con và chó lẽo đẽo dưới ánh
nắng mùa hè". Cho đến mấy ngày sau, "ngƣời đàn bà táo bạo" ấy bị giải lên hầu quan phủ vì
tội "đánh lại ngƣời nhà nƣớc" (và có lẽ cũng bởi nhan sắc của chị). Chuyến đi lên huyện
đƣờng ấy của
81
chị diễn ra trong một không gian đầy Giống tố "trời đang nắng gắt, tự nhiên thấy tối sầm lại .
Một đám mây đen lù lù tiến từ phía từ phía nam lên phía bắc. Chân trời nhấp nhoáng hiện lên
mấy luồng chớp. Tiếng sấm, tiếng sét theo cơn giông đồng thời kéo đến. Nƣớc mƣa đổ xuống
ầm ầm". Tƣởng rằng, cơn mƣa nhƣ thác đổ ấy sẽ làm dịu đi cái oi ả ngột ngạt của không gian
đất trời. Nhƣng sau trận Giống tố ấy, chị Dậu lại bị giải đi khi "ánh nắng lại ở trên đầu dội
xuống như thiêu như đốt". Nhƣ vậy, hình ảnh ánh nắng mặt trời trong Tắt đèn với tần số xuất
hiện của nó đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật và cũng không nằm ngoài dụng ý nghệ thuật của
nhà văn.
Nếu nhƣ nói rằng, không phải là ngẫu nhiên mà Ngô Tất Tố đã chọn thời điểm nông
thôn Việt Nam trong những ngày sƣu thuế làm bối cảnh cho Tắt đèn, thì cũng có thể nói
rằng, có lẽ không phải ngẫu nhiên, nhà văn lại đặt những ngày sƣu thuế ấy vào những ngày
hè oi ả với ánh mặt trời luôn gay gắt, chói chang nhƣ thiêu đốt. Nếu thời điểm câu chuyện
diễn ra vào mùa xuân hay mùa thu, thì không thể có hình ảnh ánh mặt trời nhƣ thế, không khí
ngột ngạt bão giông của hoàn cảnh Tắt đèn chắc sẽ giảm đi đáng kể và hiệu quả truyền cảm
của tác phẩm cũng vì thế mà giảm đi không ít.
Trong thế giới thiên nhiên của Tắt đèn bên cạnh hình ảnh nắng mặt trời hình ảnh
trăng cũng là một hình ảnh có ý nghĩa. Trong đêm đầu tiên cái Tý phải xa bố mẹ và các em,
hình ảnh này xuất hiện trong tác phẩm tám lần. Điểm đặc biệt là trăng đêm ấy là trăng sáng,
là "vầng trăng" chứ không phải "mảnh trăng". Dƣới ánh trăng ấy " mặt nước các ao đã lóng
lánh như nồi vàng đang chảy", nó làm cho không gian tràn ngập ánh trăng: "Trước thềm sáng
như ban ngày". Và khi về khuya " vầng trăng thăm thẳm từ trên đỉnh đầu chiếu xuống" lúc
này không gian trở nên cao rộng hơn, đỡ ngột ngạt oi nồng : " Bầu trời trong vắt như một
khối thủy tinh. Gió nồm từ các ngọn cây đưa lại hiu hiu. Bóng là tre in dưới sân rêu luôn
luôn lay động như những đám bèo nổi trên mặt sóng ". Thế rồi "vầng trăng lui xuống phía
sau lũy tre.
82
khuất dưới bóng tà khoảng khuếch chỗ vàng chỗ đen giống như bức tranh thủy mặc ". mặc".
Không gian làng Đông Xá trở nên tĩnh lặng, nó đối lập với cái không gian náo động ầm ĩ ban
ngày. Nhƣng toát ra từ những bức tranh thiên nhiên ấy, ta vẫn cảm thấy một không khí lạnh
lẽo, đìu hiu. Bởi vẻ đẹp của đêm trăng nhƣ tƣơng phản với cảnh ngộ của chị Dậu - thiên
nhiên dƣờng nhƣ cũng vô tình trƣớc những khổ đau, dằn vặt trong trái tim của ngƣời mẹ vừa
phải dứt tình mẫu tử. Vẻ đẹp của đêm trăng "nhắc cho chị cái đời ngây thơ của chị ngày
xưa", đó là cái thời, vào "những đêm trời khô trăng sáng như đêm nay, chị vẫn luôn nô đùa
với trẻ con hàng xóm. Chúng nó đã giở ra với chị chị biết bao trò trò mua vui. Nào nhảy nô,
nào hú tim, nào đánh rồng rắn... ". Cho đến thi trời gần sáng "dưới mái lụp xụp của túp lều
tranh, chị Dậu và vầng trăng án thơ thẩn nhìn nhau, dường như đôi bên đều có riêng một
niềm tâm sự ". Một không khí lạnh lẽo, lụi tàn, ảm đạm, buồn thƣơng toát ra từ hình ảnh vầng
răng tàn ùa ấy. Nó góp phần làm nổi bật tình cảnh bi thƣơng của gia đình chị Dậu và cũng tạo
không khí cho hoàn cảnh.
Không khí náo động, ngột ngạt bão giông của làng Đông Xá dƣờng nhƣ lƣợc dịu đi
mỏi khi hoàng hôn buông xuống. Cái ồn ào, ầm ĩ của tiếng trống, nõ, hiệu ốc, hiệu sừng và
tiếng quát thét chửi mắng tạm qua đi. Không gian làng quê lại rơi vào sự tĩnh lặng đầy tử khí.
Nó toát ra từ hình ảnh "đàn quạ khoang dập dìu là xuống các bãi tha ma", từ âm thanh "tiếng
cuốc kêu khi thưa khi nhặt khắc khoải hòa với tiếng rền rĩ run khóc của giun dế vườn hoang",
từ " tiếng ghê sự buồn rầu có thể tưởng như là ma quái" của con cú kiếm mồi trong đêm ...
và bao trùm lên tất cả là sự im lặng đến rờn ngợp, sự im lặng của một bãi tha ma không còn
chút sinh khí, sự sống hình nhƣ không còn tồn tại nơi đây: "Tuy mới chập tối, các nhà đã
không còn chút đèn lửa", các xóm đều im phăng phắc như cánh đồng không". Sự tĩnh lặng
đầy ma quái ấy sẽ qua đi khi một ngày mới lại bắt đầu. Nhƣng nó không bắt đầu bằng ánh
bình minh với tiếng chim líu lo và những giọt sƣơng long lanh đậu trên cành lá
83
nhƣ hình ảnh đầy thi vị trong một số tác phẩm văn học lãng mạn đƣơng thời, mà nó sẽ lại bắt
đầu bằng những tiếng chửi bới, hò, hét, quát, thét, tiếng trống mõ chó sủa dồn đuổi những
ngƣời dân chƣa trả xong "món nợ nhà nƣớc".
Ở phần mâu thuẫn (mục 2.3) nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh, chúng tôi đã nói tới
hình ảnh những giọt nƣớc mắt của chị Dậu trong cảnh ngộ phải bán con, để chứng minh cho
nỗi đau giằng xé trong trái tim ngƣời mẹ bất hạnh và làm nổi bật mâu thuẫn giữa quyết định
phải bán con của chị với tình mẫu tử. Đến đây chúng tôi lại nói tới những dòng nƣớc mắt khổ
đau ấy của chị và của một số nhân vật khác trong hệ thống những hình ảnh tạo không khí cho
hoàn cảnh và tác động truyền cảm mạnh mẽ tới ngƣời đọc.
Theo thống kê của chúng tôi, trong khoảng hơn một trăm trang của tiểu thuyết Tắt
đèn thì cũng có tới hơn chín mƣơi lần, Ngô Tất Tố miêu tả nhân vật khóc hoặc tái hiện hình
ảnh những giọt nƣớc mắt. Có thể nói đây là một tần số khá cao so với dung lƣợng tác phẩm.
Thử so sánh với hai cuốn tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực cùng thời ta thấy đƣợc điều
đó: Tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng dài 233 trang, tác giả miêu tả tiếng khóc, dòng nƣớc
mắt của các nhân vật 21 lần; tiểu thuyết Bƣớc đƣờng cùng của Nguyễn Công Hoan dài 270
trang, tác giả cũng chỉ miêu tả liếng khóc, dòng nƣớc mắt của nhân vật 7 lần.
Nhƣ vậy nếu nói Tắt đèn là một bản tố khổ chan hòa nƣớc mắt là rất xác thực. Nhƣng
chúng tôi muốn nói thêm rằng, hình ảnh những dòng nƣớc mắt chan hòa chảy dài, thấm đẫm
trên từng trang sách ấy không chỉ góp phần thể hiện tính cách nhân vật, làm nổi bật vẻ đẹp
lung linh trong tình cảm đối với chồng con của chị Dậu" mà còn có tác dụng nghệ thuật tạo
không khí cho hoàn cảnh.
Chỉ riêng những dòng nƣớc mắt của chị Dậu và tiếng khóc của chị cũng đã hiện lên
trong tác phẩm tới 58 lần với rất nhiều cung bậc cảm xức trong những; cảnh ngộ khác nhau.
Có khi nƣớc mắt của ngƣời phụ nữ giàu tình yêu
84
thƣơng và dễ xúc động ấy chỉ là "rơm rớm", "sụt sùi", "rưng rưng", thậm chí chỉ là "những
tiếng thổn thức" nhƣng chủ yếu là những dòng nƣớc mắt chứa chan không thể kìm nén, dòng
nƣớc mắt tuôn trào từ những nỗi khổ đau, cay đắng, tủi nhục chất chứa: "nước mắt chảy qua
gò má ròng ròng", "chan chứa hai hàng nước mắt", "vừa nói vừa nước mắt giàn giụa", "nước
mắt ngắn nước mắt dài", "những giọt nước mắt rơi xuống càng mau", "lã chã hai hàng nước
mắt..." , "khóc nức nở", "cái mặt chan hoa nước mắt", "nước mắt rơi lã chã", "nước mắt theo
sự nghĩ ngợi chẳng ra như mưa", "những giọt nước mắt chứa chan", "thánh thót hai hàng
nước mắt", "nước mắt cứ kế tiếp nhau tưới mãi xuống gò má rồi nó trào ra như suối", "nước
mắt lại cứ chan chứa chảy ra ..." ... Trong những dòng nƣớc mắt chứa chan ấy, có dòng nƣớc
mắt của tình mẫu tử; có dòng nƣớc mắt của nỗi xót xa trƣớc cảnh tƣợng ngƣời chồng bị đầy
ải; có dòng nƣớc mắt của nỗi uất ức chua cay vì phải chịu những bất công, ngang trái; có
dòng nƣớc mắt của sự tủi hờn, đau khổ vì bị khinh rẻ, đay nghiến ; có dòng nƣớc mắt tiếc
thƣơng một thời quá khứ hạnh phúc đã một đi không trở lại ... Tất cả những dòng nƣớc mắt
chảy ra từ trái tim của ngƣời phụ nữ nông dân giàu tình thƣơng yêu ấy đều đáng cảm thƣơng,
trân trọng. Nó càng làm nổi bật hơn cảnh ngộ thƣơng tâm, bi thảm của ngƣời đàn bàn khốn
khổ ấy.
Nhƣng trong Tắt đèn đâu chỉ hiện lên những dòng nƣớc mắt của chị Dậu? bản tố khổ
chan hoa nƣớc mắt ấy còn thấm đẫm nƣớc mắt của chồng, con ngƣời vợ, ngƣời mẹ dáng
thƣơng ấy, nhất là dòng nƣớc mắt của hai đứa trẻ. Đã nhiều lần ta thấy cái Tý, thằng Dần phải
khóc. Nhƣng chúng không phải khóc vì tranh giành, tị nạnh nhƣ những đứa trẻ đƣợc nuông
chiều. Chúng không khóc vì đòn roi của cha mẹ (thậm chí ta không thấy cha mẹ chúng nặng
lời với chúng một câu). Cái gia đình nông dân ấy nghèo lắm, nhƣng cũng hoà thuận thƣơng
yêu nhau lắm. Sự khổ đau cùng cực có thể khiến họ phải khóc, khóc rất nhiều nhƣng họ
không vì thế mà trách móc, cãi cọ, đay nghiên nhau (nhƣ một số gia đình khác trong tác
phẩm Nam Cao).
85
Xem lại các cảnh huống dẫn tới những dòng nƣớc mắt của hai nhân vật bé con này,
thật cảm động, ta thấy đó là những dòng nƣớc mắt của tình thƣơng, đặc biệt là tình cảm chị
em giữa cái Tý và thằng Dần. Nghe thấy chị Dậu nói chuyện bán cái Tý, thằng Dần "oà
khóc"," khóc dữ,"khóc tru tréo", "khóc rầm rĩ" ... trƣớc cái tin dữ dội ấy, cái Tý cũng "oà lên
khóc", "khóc rưng rức", "khóc hu hu". Thật xót xa trƣớc hình ảnh "cái Tý với hai hàng nước
mắt ròng ròng, hôn hít các em" trƣớc giờ phút phải từ biệt gia đình sang nhà Nghị Quế. Tại
nhà tên địa chủ bạc ác bất nhân này, bên rá cơm thừa của chó, cái Tý lại phải khóc, "nước
mắt chảy ra như mưa". Và đến phút giãy cuối cùng đƣợc bên mẹ, dƣờng nhƣ hiểu rằng khó
có dịp đƣợc gặp lại ngƣời mẹ hiền nghèo khó của mình "cái Tý ôm chấm lấy mẹ khóc như
mưa như gió".
Trong cái đêm đầu tiên phải xa cái Tý, chị Dậu đã phải khóc rất nhiều vì nhớ thƣơng
con và thằng Dần "thấy chị khóc nó càng khóc dữ". Trƣớc đó, lúc mẹ nó ở nhà Nghị Quế
chƣa về, thằng bé mới năm tuổi đầu này đã phải khóc đến khàn cả tiếng. Thậm chí "nó đã kêu
gào nhiều quá, cổ rát, hơi hết, nó chỉ có thể đưa ra những tiếng khô khan như người khóc
thầm". Rồi đến lúc "nó khóc nhưng không ra tiếng, chỉ có cái miệng hông hốc há ra nhƣ
miệng cá mè". Và nó thiếp đi trông rất tội nghiệp, nhƣng trong giấc mơ nó lại chợt nhớ tới
chị rồi lại " oà lên khóc". Tỉnh dậy, nhớ chị nó lại "khóc nức nở ", "khóc rầm rĩ, " khóc hu
hu" và giục mẹ đi tìm chị nó ...
Tìm hiểu Giọng điệu nghệ thuật và chủ nghĩa cảm thƣơng trong Truyện Kiều, Trần
Đình Sử nhận xét: " Truyện Kiều đúng là một tiếng kêu đau đớn, da diết. Đọc Truyện Kiều
không ai quên đƣợc những kêu than thống thiết, nhan nhản khắp nơi dƣới nhiều hình thức
trong tác phẩm (...). Tƣơng ứng với tiếng kêu thƣơng, Truyện Kiều tác phẩm đẫm nƣớc mắt.
Có thể nói Truyện Kiều là tác phẩm nhiều nƣớc mắt bạc nhất nong các truyện Nôm" [230.9-
10]. Ta cũng có thể nói nhƣ vậy về Tắt đèn của Ngô Tất
86
Tố Tắt đèn cũng là một Đoạn trƣờng tân thanh cất lên từ xã hội Việt Nam 1930-1945.
Những lời kêu than xé lòng của chị Dậu ("Ối trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và hai gánh
khoai mới đƣợc hai đồng bẩy bạc. Tƣởng rằng đủ tiền nộp sƣu cho chồng thì chồng tôi khỏi
bị hành hạ đêm nay ? Ai ngờ lại còn xuất sƣu của ngƣời chết nữa! Khốn nạn thân tôi ! Trời ơi
! Em tôi chết rồi còn phải đóng sƣu, hởi trời ? Tôi biết đâm đầu vào đâu cho đƣợc hai đồng
bẩy bạc bây giờ ?") ; của cái Tý ("U bán con thật đấy ƣ ? Con van u, con lạy u, con còn bé
bỏng, u dừng đem bán con đi, tội nghiệp ! u để cho con ở nhà chơi với em con. ") ; của thằng
Dần("Em không ! Nào ! Em không cho bán chị Tý ! Nào ! Nào ...")... đã và sẽ còn làm xúc
động nhiều thế hệ. Cũng có thể nói rằng, Tắt đèn là tác phẩm nhiều nƣớc mắt bộc nhất trong
các tác phẩm của trào lƣu văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Và cũng
nhƣ Truyện Kiều "Nó tiếp nối mạch văn chƣơng thƣơng thân, xót đời từ Chinh phụ ngâm
khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai tƣ vãn (...) tiếp tục cho đến Cảm thu, Tiễn thu, Thảm mả cũ
bên đƣờng ... của Tản Đà, Giọt lệ thu của Tƣơng Phố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách
..."[230.12]. Nghĩa là Tắt đèn cũng nằm trong nguồn mạch của chủ nghĩa cảm thƣơng trong
văn học Việt Nam và là sự tiếp nối của nguồn mạch đó. Bởi vậy: "Tắt đèn không chỉ là loại
tiểu thuyết mà ngƣời ta cần dọc mỗi khi muốn hình dung ra đời sống cùng cực ở nông thôn
Việt Nam trƣớc 1945. Tắt đèn còn là loại tiểu thuyết mà ngƣời đọc giàu tình cảm dễ ứa nƣớc
mắt "[177.49].
Hình ảnh những dòng nƣớc mắt và tiếng khóc nức nở của chị em cái Tý và ngƣời mẹ
đáng thƣơng của chúng cứ ám ảnh mãi trong tâm trí ngƣời đọc về cuộc sống bi thảm đầy khổ
đau và nƣớc mắt của những ngƣời nông dân cùng khổ. Nếu coi Tắt đèn là một bản nhạc bi
thƣơng về tình cảnh khốn cùng của ngƣời nông dân trƣớc nạn sƣu thuế thì những tiếng khóc
đó là những nốt nhân thê thảm nhất xoáy sâu vào tâm can ngƣời nghe, giúp ngƣời ta cảm
nhạn thấm thìa sự khắc nghiệt, bạo tàn của hoàn cảnh.
87
2.4.3. Nhịp điệu hối hả, dồn dập.
Nhịp điệu với tƣ cách là một yếu tố nằm trong cấu trúc của hoàn cảnh Tắt đèn đã góp
phần " tạo ra cảm giác vận động của sự sống". Nhịp điệu ấy cũng góp phần phản ánh một
hoàn cảnh ngột ngạt, giông bão, một hoàn cảnh sôi động náo loạn, đầy bạo lực.
Trƣớc hết, nhịp điệu ấy đƣợc tạo nên bởi sự đan xen của những hệ thống chi tiết nghệ
thuật, sự đan xen của những đoạn đối thoại và miêu tả. Nhiều đoạn đối thoại trong Tắt đèn
rất có không khí, rất giàu kịch tính, nghĩa là nó luôn có những xung đột gay gắt. Bởi thế Tắt
đèn dễ chuyển thể thành kịch, thành phim. Và khi chuyển thể, không khí, kịch tính ấy vẫn
không bị mất đi: Cảm tƣởng về bộ phim Chị Dậu, nhà văn Nguyễn Tuân nói: "Văn Ngô Tất
Tố cứ đọc thôi cũng đã thấy nó khỏe rồi. Nay chuyển thứ văn học hiện thực phê phán đó sang
điện ảnh càng thấy nó ghê, nó dữ dội (...) phải nhận rằng văn Tắt đèn khi chuyển sang được
hình và ảnh thì nó kích động người, xem" [242.699]. Có thể thấy rất nhiều đoạn đối thoại
trong Tắt đèn thể hiện cái "dữ dội", cái " kích động" đó, nhƣ đoạn chị Dậu mang con sang
bán cho nhà Nghị Quế; cảnh bọn chức dịch chè chén, gây gổ nhau ở ngoài đình ; cảnh Chị
Dậu tay không đánh lại bọn ngƣời nhà lý trƣởng và cai lệ; cảnh xét xử của tri phủ Tƣ Ân tại
làng Đông Xá ... đan xen với những đoạn đối thoại giàu kịch tính ấy là sự "điểm nhịp" của
các âm thanh tiếng tiếng chó sủa, tiếng quát thét chửi bới, tiếng tù và, trống mõ ... và hình
ảnh những bức tranh thiên nhiên khi thì chói chang gay gắt, lúc thì lạnh lẽo thê lƣơng (mà
chúng tôi đã nói tới ở những phần trƣớc). Theo dòng nhịp điệu ấy, ngƣời đọc dƣờng nhƣ
cũng luôn ở trạng thái căng thẳng. Giáo sƣ Phong Lê đã nói rất đúng về cảm giác này:
"Người đọc truyện nào không cảm thấy tâm lý của mình mỗi lúc một nặng nề hơn một sự ấm
ức, lo ngại. Cứ tỏa rộng dần ra, tưởng chừng bao nhiêu nỗi khổ trên đời đang lẩn lượt được
tập hợp lợi và nâng lên tới tột đỉnh"[ 199-253]. Có lẽ trong suốt chiều dài tác phẩm, chỉ có
một lần ngƣời đọc có đƣợc giây phút hả hê sảng khoái, đó là khi chị Dậu " tức nƣớc vỡ bờ"
nổi dậy đánh lại và đánh thắng hai tên đầu trâu mặt ngựa.
88
Nhịp điệu của hoàn cảnh trong Tắt đèn còn đƣợc tạo nên bởi một nguyên nhân rất
quan trọng. Đó là sự dồn nén thời gian trong đó chồng chất các sự kiện diễn ra.
Nếu so sánh thời gian cốt truyện của tiểu thuyết Tắt đèn với thời gian cốt truyện của
một số tiểu thuyết hiện thực cùng thời nhƣ: Giống tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Bƣớc
đƣờng cùng của Nguyễn Công Hoan, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng ta thấy rằng thời gian cốt
truyện của Tắt đèn là ngắn nhất. Kể từ cái buổi sáng tinh mơ bắt đầu của cốt truyện Tắt đèn
đến cái đêm cuối cùng của chị Dậu "mở cửa chạy té ra sân" chỉ khoảng bảy ngày. Trong đó
những sự kiện chính lại chỉ diễn ra trong vòng ba ngày đầu. Và dồn dập nhất là trong ngày
đầu tiên.
Tiểu thuyết Tắt đèn có 26 chƣơng thì chỉ riêng ngày đầu tiên của cốt truyện đã chiếm
tới 16 chƣơng. Và trong 16 chƣơng bao gồm thời gian vẻn vẹn chỉ có một ngày ấy biết bao sự
kiện đã diễn ra. Sự kiện này vừa qua đi, sự kiện khác đã tiếp nối, sự kiện nào cũng ám ảnh,
gây xúc động: cổng làng đóng chặt từ tinh mơ để tróc nã những kẻ thiếu sƣu ; vì chƣa có tiền
nộp sƣu, chị Dậu bị đánh đập, anh Dậu bị trói điệu ra đình ; chị Dậu sang nhà Nghị Quế dạm
bán con bán chó ; bọn chức dịch chè chén gây gổ với nhau ở ngoài đình ; chị Dậu mang con
đi bán ; tại nhà Nghị Quế, cái Tý phải ăn cơm thừa của chó ; chị Dậu phải đóng thêm một
suất sƣu cho ngƣời em chồng đã chết; chị Dậu với hai đứa con nhỏ đi lang thang trong đêm
anh Dậu gần chết đƣợc trả về...
Sự dồn nén không gian (cái không gian chập hẹp của làng Đông Xá có lũy tre xanh
vây bọc - một không gian tù túng, nhỏ hẹp, bí bó đến nỗi ngay cả "hồi vang của tiếng mõ,
tiếng trống cũng bị những lũy tre ngăn phải lật trở lại") và dồn nén thời gian, với các sự kiện
diễn ra liên tiếp, chồng chéo nhƣ vậy đã góp phần tạo nên nhịp điệu cho hoàn cảnh. Đó là
một nhịp điệu hối hả dồn dập nhƣ chính cái dồn dập, hối hả thúc bách của cuộc sống đang
diễn ra trong những ngày sƣu thuế. Nhịp điệu ấy tạo nên không không khí căng thẳng
89
sục sôi với những tai họa, bất hạnh, khổ dâu liên liếp giáng xuống đầu những ngƣời dân
nghèo khổ. Rõ ràng đấy cũng là một yếu tố tạo không khí và nằm trong cấu trúc của hoàn
cảnh. Và quả thực, đúng nhƣ Phan Cự Đệ nhận xét: "Tắt đèn học đƣợc ở tục ngữ dân gian
cái nghệ thuật tập trung cô đúc, càng nén lại thì càng gây nên những vụ nổ lớn, càng có sức
vang xa rộng trong không gian" [48.(T3).78].
*
* *
Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn, chúng ta đã tiếp cận hoàn
cảnh từ phƣơng diện giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ. Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong
Tắt đèn là một chỉnh thể bao gồm nhiều hệ thống yếu tố. Các hệ thống yếu tố này không tồn
tại tách rời mà có những mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo nên mối quan hệ gắn bó
hữu cơ. Và chính những mối quan hệ này đã sản sinh ra cấu trúc của hoàn cảnh. Nghĩa là nhờ
nó các hệ thống yếu tố đƣợc tổ chức sắp xếp lại tạo nên những hiệu quả nghệ thuật cho hoàn
cảnh của tác phẩm. Hiệu quả ấy là hoàn cảnh đã đƣợc xây dựng một cách nghệ thuật, hoàn
cảnh ấy đã tạo đƣợc không khí. Và không khí của hoàn cảnh đã có tác động truyền cảm mạnh
mẽ tới ngƣời đọc gây những ấn tƣợng sâu sắc. Ý kiến sau đây của Nguyên Tuân đã thể hiện
điều dó: "Tôi thấy cả người mình ngột ngạt, thấy đêm quanh mình như là một đêm có báo
bão, mạnh hơn cả chất nổ của chai rượu bên đèn đã cạn dầu, văn truyện Ngô Tất Tố dựng tôi
dậy..." Nguyễn Tuân cũng đã lý giải nguyên nhân của sự truyền cảm đó: "Trong Tắt đèn cái
gì làm cho tôi xúc động ? cái cốt truyện ư? câu chuyện ư? người trong truyện lí ? cách kể lại,
dựng lại câu chuyện ư? tôi cho là cái cách kể, cách dựng truyện thật quan trọng. Cũng nội
dung Tắt đèn đó người khác kể hoặc dựng thì người tới tôi có thể là rung động kém đi hoặc
không rung động gì cả mà Ngô Tất Tố kể thì tôi đã xúc động thế đó" [xem 241]. Một "cách
kể", "cách dựng truyện" của Ngô Tất Tố mà Nguyễn Tuân nói tới ở đây là nghệ thuật xây
dựng hoàn cảnh của nhà văn.
90
Cấu trúc nghệ thuật hoàn cảnh trong Tắt đèn thể hiện quan niệm nghệ thuật-về hoàn
cảnh của Ngô Tất Tố. Đó là một hoàn cảnh bạo lực mà ở đó có hững thế lực đang nhe nanh,
giơ vuốt sẵn sàng nhảy bổ vào cắn xé nghiền nát những ngƣời dân cùng khổ ; đó còn là một
hoàn cảnh đầy tăm tối, ngột ngạt, bế tắc, trong đó những ngƣời dân khốn khổ chỉ còn biết bất
lực kêu trời.
Nếu so sánh với một số tác phẩm cùng thời của một số các nhà văn Tự lực văn đoàn
viết về đề tài nông dân ta mới thấy hối ý nghĩa, cái nhìn sâu sắc của Ngô Tất Tố về xã hội thể
hiện qua quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh.Xuất phát tƣ những quan niệm nghệ thuật khác
nhau về hoàn cảnh, mà toát ra từ Tắt đèn của Ngô Tất Tố là không khí ngột ngạt giông bão;
còn toát ra từ một số tác phẩm viết về ngƣời nông dân của các nhà văn Tự lực văn đoàn lại là
không khí yên ả, thanh bình thơ mộng và ở đó quan hệ giữa kẻ giàu với ngƣời nghèo là
những mối quan hệ hữu hảo, đầm ấm, tƣơi vui (Gia đình, Con đƣờng sáng...)
Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô Tất Tố đã chi phối với việc xác lập cấu
trúc hoàn cảnh trong Tắt đèn ; chi phối tới việc lựa chọn hệ thống các chi tiết nghệ thuật.
Toàn bộ những hệ thống chi tiết nghệ thuật với những mối liên hệ của nó đã tạo nên tổng thể
cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Bởi vậy nếu phân tích, cảm nhận hoàn cảnh Tắt đèn mà
chỉ chú ý tới mâu thuẫn xung đột giai cấp đƣợc thể hiện là đúng nhƣng chƣa đủ. Hoàn cảnh
phải đƣợc phân tích và cảm nhận từ tổng thể nhiều yếu tố cấu thành nên nó. Phải với cái nhìn
đó mới thấy hết giá trị nghệ thuật - thẩm mỹ của hoàn cảnh, thấy đƣợc cái nhìn sâu sắc và tài
năng nghệ thuật của nhà văn.
Trong văn học hiện thực, hoàn cảnh luôn gắn liền với việc thể hiện tính cách nó chỉ có
ý nghĩa thực sự khi thể hiện đƣợc tính cách, số phận của nhân vật. Tìm hiểu cấu trúc nghệ
thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn chúng ta càng thấy rõ điều đó. Các hệ thống yếu tố trong
cấu trúc của hoàn cảnh Tắt đèn đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện số phận, tính cách
nhân vật: từ cơ chế tác
91
phẩm ; những mâu thuẫn xung đột, kịch tính; hệ thống các nhân vật chính diện, phản diện đến
không khí tác phẩm. Cũng từ đây chúng ta thấy nảy sinh một vấn đề cần lƣu ý: khi nói phân
tích tính cách nhân vật của chủ nghĩa hiện thực không chỉ luôn đặt nó trong mối liên hệ với
hoàn cảnh mà còn phải ý thức rằng hoàn cảnh đó không phải là hoàn cảnh xã hội mà phải là
hoàn cảnh xã hội đã đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật, nghĩa là phải đặt nó trong mối liên hệ
với toàn bộ cấu trúc của hoàn cảnh. Có nhƣ vậy sự phân tích lý giải nhân vật mới có ý nghĩa
nghệ thuật - thẩm mỹ.
92
CHƢƠNG 3: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG
GIỐNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Tiểu thuyết Giống tố bắt đầu đƣợc đăng trên Hà Nội báo, số 1, ngày 2.1.1936. Đây
cũng là năm Vũ Trọng Phụng đạt đƣợc những thành tựu rực rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tác.
Bốn tiểu thuyết xuất sắc ra đời chỉ trong vòng năm ấy: Giống tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ...
Chọn Giống tố là đối tƣợng khảo sát, nghiên cứu để từ đó thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về
hoàn cảnh của nhà văn Vũ Trọng Phụng, chúng tôi xuất phát từ hai lý do cơ bản. Thứ nhất,
Giống tố là một trong hai tiểu thuyết đƣợc đánh giá là thành công nhất của Vũ Trọng Phụng.
Có nhà nghiên cứu đã khảng định: "nhìn tổng thể, Giống tố xứng đáng đƣợc coi là kiệt tác
cùng với Số đỏ" [196.252]. Hơn nữa "Giống tố cũng là một tác phẩm lớn, một kiệt tác hiếm
hoi trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại" [196.261]. Thứ hai, đặt trong tổng thể luận án,
bên cạnh Tắt đèn của Ngô Tất Tố, một tác phẩm viết về hiện thực nông thôn Việt Nam trƣớc
Cách mạng tháng Tám, chúng tôi muốn khảo sát, nghiên cứu một tác phẩm viết về xã hội tƣ
sản thành thị (tất nhiên trong Giống tố cũng có hình ảnh xã hội nông thôn Việt Nam, nhƣng
chỉ là thứ yếu), một tác phẩm có tầm bao quát hiện thực ở diện rộng lớn với nhiều cảnh ngộ,
số phận, nhân vật, tính cách (chứ không nhỏ hẹp nhƣ trong Tắt đèn). Âm vang của hoàn cảnh
xã hội trong Giống tố khác với Tắt đèn bởi mảnh đất hiện thực thu hút sự cảm nhận, khám
phá của hai tác giả không giống nhau.
Giống tố là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam khoảng
cuối 1935 đầu 1936, "những tiếng dội mạnh mẽ của cuộc đấu tranh chính trị trong nƣớc,
ngoài nƣớc, của phong trào quần chúng từ Nam tới Bắc đã khiến ông phải rời mắt khỏi cái
môi trƣờng chật hẹp để nhìn rộng ra ...." [157.29]. Cái ngột ngạt, bão giông, sôi động ngầm
chứa những "vụ nổ" lớn của xã hội đã đƣợc chuyển hóa thành không khí nghệ thuật của hoàn
cảnh trong Giống tố và đƣợc thể hiện qua cấu trúc nghệ thuật của nó.
93
3.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh
So với nhiều nhà văn hiện thực đƣơng thời, thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng
thƣờng rất phong phú, đông đảo, đa dạng. Nó không chỉ là những ngƣời nông dân quanh năm
chỉ biết bán mặt cho đất, bán lƣng cho giời nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hay một xóm
nhỏ ngoại ô với những ngƣời dân nghèo thành thị đang kéo dài sự đơn điệu, tẻ nhạt của
những kiếp "Sống mòn" nhƣ trong Sống mòn của Nam Cao. Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét:
"Đọc Vũ Trọng Phụng, thấy ông có một khả năng chiếm chiếm lĩnh cuộc sống ở một tầm
khái quát tổng hợp ít có ở những nhà tiểu thuyết cùng thời" [209. T1 -44]. Khả năng chiếm
lĩnh cuộc sống ấy của Vũ Trọng Phụng không chỉ thể hiện ở sự bao quát một không gian, một
phạm vi phản ánh rộng lớn từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi tới trung du, miền núi, từ
thủ đô tới biên giới, hải đảo mà còn biểu hiện ở thế giới nhân vật cũng nhiều kiểu loại, muôn
hình muôn vẻ, nhiều thành phần, giai cấp. Tác phẩm Giống tố thể hiện rất rõ điều đó. Trong
cuốn tiểu thuyết gần 500 trang này Vũ Trọng Phụng đã xây dựng một đội ngũ nhân vật đông
đảo, thuộc nhiều tầng lớp giai cấp khác nhau, hoạt động ở những phạm vi xã hội khác nhau.
Tất cả hơn ba chục nhân vật có tên và không tên ấy với những mối quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp đã đan cài dệt nên hoàn cảnh tác phẩm.
3.1.1. Trƣớc hết phải thấy rằng, nếu nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, nhân vật
không ý thức về hoàn cảnh, thì trong Giống tố một số nhân vật lại rất ý thức về sự tác động
nghiệt ngã của hoàn cảnh tới sự tha hóa con ngƣời và của chính mình. Tiêu biểu là ý thức về
hoàn cảnh của Long và Mịch. Hai nhân vật này đều rất ý thức về sự tìm hóa của chính bản
thân mình và hiểu rằng lý do của sự tha hóa đó chính là hoàn cảnh. Sau những giấy giây
"ngoại tình hãng tinh thần" với hàng trăm ngƣời qua đƣờng, "Mịch phải ngạc nhiên rằng
mình thay đổi chóng quá, rằng mình không còn một tí gì là cô thôn nữ thƣở trƣớc nữa, vì
mảnh hồn thơ ngây trong xạch đã bị cành ngộ giết chết mất rồi"
94
Trƣớc sự thay đổi biến chất của ông bà đồ Uẩn, Mịch cũng hiểu rằng : "Người ta thay đổi vì
hoàn cảnh. Nếu ông đồ và bà đồ có đâm ra đê tiện (...) thì âu cùng là sự thƣờng ". Quá trình
tha hóa của Mịch từ một cô thôn nữ ngây thơ, hiền lành, chất phác, đến một thiếu phụ gian
dâm, xảo quyệt, đáng sợ, chí diễn ra trong vòng nửa năm. Điều đó khiến Long không thể hiểu
nổi "Những nguyên nhân nào đã thay đổi lòng ngƣời đến thế ?" và "sau cùng, Long đã tìm ra
cái bả vật chất". Nhìn lại con ngƣời mình, chính Long cũng nhận thấy mình "cũng thay đổi
một cách đáng , cũng chỉ trong vòng nửa năm nay mà thôi". Long nhận (hay rằng mình đã từ
một chàng trai nghèo giàu lòng nhân ái, căm thù những cái xa hoa vật chất trở thành một kẻ
hƣ hỏng, trác táng, một kẻ ích kỷ, xấu xa, đã "thay đổi một cách đáng sợ"... và hiểu rằng "Đời
đã làm cho chàng đến nỗi thế, "Long đã bị hoàn cảnh xui khiển" và "mấy ai là chống chọi nổi
với hoàn cảnh".
Hoàn cảnh khắc nghiệt của xã hội Giống tố đã cuốn các nhân vật vào một vòng xoáy
dữ dội đảo điên để rồi không ai thoát ra khỏi nanh vuốt của nó. Nó xô đẩy các số phận, đảo
lộn mọi trật tự, tạo nên những tấn bi hài kịch mà nhiều nhân vật không thể lý giải nổi và coi
đó là định mệnh, là bàn tay của Hoàng thiên. Trƣớc sự việc Nghị Hách cƣỡng dâm Thị Mịch
rồi bỏ chạy và cuối cùng lại lấy Thị Mịch làm vợ lẽ, ông đồ Uẩn cho rằng "mọi việc trên đời
này đều có tiền định cả ". Và đối với Thị Mịch "từ đấy mà đi, tự trong thâm tâm của" Mịch,
Mịch tin rằng người ta có số mệnh và cái số kiếp của Mịch đã như thế thì Mịch không thể
cƣỡng lại với trời đƣợc nữa". Ngay cả đối với những ngƣời có học thức nhƣ Tú Anh trƣớc
những sự kiện đầy bất ngờ, trớ trêu của cuộc đời thì cũng chỉ biết giải thích bằng số mệnh:"
Ta gian thân làm gì mà oán đời làm gì ? Sự đời là nhƣ thế, bao giờ cũng có cái sự gì nó xảy ra
để chúng ta đƣơng sƣớng hóa khổ, hoặc khổ rồi phải khổ hơn thế nữa... Ai cũng chịu đựng số
phận như thế, chứ chẳng cứ gì một ta đâu, nên tôi muốn khuyên ông can đảm mà chống chọi
với đời". Nhân vật Long, sau những bất
95
hạnh liên tiếp của cuộc đời và trong tình yêu đã tự giải thích căn nguyên là "Tôi sinh ra ở đời
dưới một ngôi sao xấu". Từ đó dẫn đến quan niệm sống buông xuôi: "Đã thế thì âu là chàng
sẽ liều nhắm mắt đƣa chân ... chàng sẽ can đảm chịu những tai họa, vui vẻ hƣởng những cuộc
hảo biến, không nghĩ ngợi gì nữa, mặc cho con tạo xoay vần ". Nhân vật ông già Hải Vân
cũng đã hơn một lần khẳng định sự chi phối của số mệnh tới mọi biến thiên của cuộc đời, của
mọi số phận. Giải thích những việc làm tội lỗi cùa Nghị Hách trong quá khứ, Hải Vân cho là
do một số mệnh, bởi vậy "không ai là đáng ghét, không ai là đáng yêu, không ai là đáng
khinh. Số mệnh xui khiến cả ". Những sự kiện bất ngờ vừa ngẫu nhiên lại vừa tất yếu xảy ra
trong gia đình Nghị Hách, khiến cho ngay những kẻ trong cuộc cũng sửng sốt, choáng váng
và không thể tƣởng tƣợng nổi, khống thể hiểu nổi, đƣợc Hải Vân lý giải: " Trong việc này ,
không có Hoàng Thiên thì không có sự tình cờ này được" và "Trong việc này, dễ thường có
luật quả báo" ... Quả thực, "hầu hết các nhân vật của Vũ Trọng Phụng đều bị ám ảnh bởi tƣ
tƣởng số mệnh" [209. T1 . 19]. Nhƣng thực tế khách quan của tác phẩm lại khiến ngƣời ta
hiểu rằng, tất cả những sự kiện, biến cố nhiều khi tƣỏng nhƣ tình cờ, ngẫu nhiên ấy lại nằm
trong một cơ chế tất yếu của hoàn cảnh xã hội. Sự ám ảnh tƣ tƣởng định mệnh ấy ở các nhân
vật, suy cho cùng cũng là biểu hiện của hoàn cảnh. Ý thức ấy là sản phẩm của hoàn cảnh,
hoàn cảnh đã tác động vào ý thức nhân vật và đƣợc phản ánh qua ý thức nhân vật. Chính
hoàn cảnh với những biến cố đầy những bất ngờ, đảo điên, những số phận thăng trầm trong
guồng quay của xã hội Giống tố đã khiến con ngƣời hoang mang, bất lực đi đến cách lý giải
mọi hiện tƣợng một cách duy tâm siêu hình nhƣ thế.
3.1.2. Nếu so sánh với Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ta thấy trong Giống tố của Vũ Trọng
Phụng cũng có những nhân vật có tên và những nhân vật không tên. Những nhân vật có tên
tiêu biểu là: Nghị Hách, Tú Anh, Long, Thị Mịch ông đồ Uẩn, Vạn tóc mai, ông già Hải vân,
cô Kiểm... Những nhân vật không
96
tên đƣợc gọi bằng chức danh: tri huyện Cúc lâm, trƣơng tuần, chánh hội, lý trƣởng, phó hội,
phó lí, quan công sứ, ông tổng đốc ... Nếu nhìn ở thành phần giai cấp, nghề nghiệp, ta thấy
thế giới nhân vật trong Giống tố rất đa dạng, nhiều vẻ, từ thƣợng lƣu đến hạ lƣu, từ lƣu manh
tới trí thức ; từ nông dân tới thợ thuyền, dân nghèo thành thị ; từ bồi bếp đến thầy bói, cung
văn ; tƣ đồ Nho đến đồ Tây; từ gái quê đến tân thời; từ cƣờng hào địa chủ đến quan lại tƣ sản
; từ lính tráng đến mật thám; từ Tây buôn đến Tây cai trị ... Tóm lại là cả một xã hội thu nhỏ
với những mối quan hệ giằng chéo, đan cài vừa ngẫu nhiêu vừa tất nhiên, trực tiếp hoặc gián
tiếp. Từ tất cả những mối quan hệ ấy, hoàn cảnh đƣợc bộc lộ nổi bật.
Nếu nhìn ở góc độ nhân vật động và nhân vật tĩnh thì so với Tắt đèn, Giống tố nhiều
nhân vật động hơn, nghĩa là loại nhân vật có sự vận động thay đổi về số phận, tính cách trong
Giống tố chiếm tỉ lệ nhiều hơn. Có lẽ bởi vì trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố xây dựng hoàn cảnh
chủ yếu để làm nổi bật sự tác động nghiệt ngã của nó tới số phận con ngƣời - cụ thể là số
phận của ngƣời nông dân trƣớc nạn sƣu thuế (tất nhiên hoàn cảnh Tắt đèn cũng góp phần đắc
lực trong việc thể hiện tính cách ). Còn trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng nhấn mạnh nhiều về
tác động của hoàn cảnh tới sự biến đổi tính cách con ngƣời khả năng hủy diệt chất ngƣời
trong mỗi con ngƣời của hoàn cảnh - Nói cách khác là sự tha hóa của con ngƣời trƣớc hoàn
cảnh. Ý thức về sự tác động tiêu cực của hoàn cảnh tới tính cách con ngƣời của tác giả đã
đƣợc gửi gắm qua lời nói hoặc suy nghĩ của các nhân vật (mà ở phần trên chúng tôi đã đề cập
tới). Để nói về sự thay dổi, tha hóa của con ngƣời trƣớc hoàn cảnh, những cụm từ "đã đi vào"
"đã thay dổi...", "đã hóa ra"... "đã trở nên ..." xuất hiện nhiều lần khi nói về tính cách nhân
vật.
Tự cái tên của tác phẩm Giống tố cũng đã nói lên hoàn cảnh của tác phẩm. Đó là một
hoàn cảnh đầy bão giông, một hoàn cảnh đang chất chứa một sự bùng nổ ghê gớm, bởi nó đã
tích tụ những nhân tố gây nên những vụ nổ lớn. Xu hƣớng ấy của hoàn cảnh cũng đƣợc bộc
lộ qua hệ thống các nhân vật, đặc biệt là qua những tâm trạng hờn căm, những ý định báo thù
của các nhân vật. Giống tố đầy rẫy những tâm trạng, những ý định ấy. Trong cái vòng xoáy
97
dữ dội của những cơn lốc cuộc đời điên đảo, các nhân vật khinh ghét, căm hờn nhau và đầy
những dự định báo thù, rửa hờn. Ngay cả giữa những con ngƣời đã từng gắn bó với nhau bởi
một tình cảm mãnh liệt, thiêng liêng nhất - tình yêu, cuối cùng cũng quay lại oán trách, thù
hằn nhau bởi những biến cố, sự kiện, hiểu lầm. Trƣớc nỗi đau ngƣời yêu bị làm nhục, và sự
bất lực của chính mình, Long đã nói với Tú Anh: "Tôi khổ lắm, tôi giận thân, giận đời lắm,
tôi muốn liều lĩnh làm một điều gì, một điều gì càn rỡ, chỉ cốt được hả giận mà thôi. Tôi
muốn đập vỡ một cái gì, đánh đập một kẻ nào, giết một. người nào, nếu không thì không thể
chịu đƣợc nữa". Khi trở về làng Quỳnh Thôn, trƣớc những biểu hiện bất thƣờng của Thị
Mịch: "Trong óc Long một nghìn mối nghi ngờ căm hờn và ghen giận nổi lên... Long thấy
lộn ruột, lộn ruột lắm". Nỗi căm hờn đã khiến chàng trai vốn có nhân cách này có những suy
nghĩ cực đoan "tƣ tƣởng đê hèn của Long chỉ là muốn làm hại Loan hoặc Tuyết" nghĩa là
muốn báo thù bằng nhục dục", là bắt Loan và Tuyết phải "trả nợ đời cho bố"... Tâm trạng
phẫn uất hờn căm và ý muốn báo thù cũng có ở Thị Mịch - ngƣời gái quê chất phác nhẹ dạ,
sau khi đã phải gánh chịu những nỗi nhục ở đời. Từ chỗ chỉ căm thù Nghị Hách - "thằng hiếp
dâm", "lão già đểu giả, dâm đãng", "thằng chồng khốn nạn" (lời Thị Mịch về Nghị Hách) -
Mịch oán hờn ngay cả những ngƣời thân yêu nhất của mình: "Mịch oán giận mẹ, căm tức bố,
khinh bỉ anh". Ngay cả đối với Long, ngƣời mà Mịch đã một thời yêu thƣơng tha thiết, có lúc
Mịch cũng thấy "chỉ còn có căm hờn","Mịch đã tìm thấy đủ mọi nghĩa lý mà căm Long" và
cuối cùng "thì Mịch chỉ trông thấy sự căm hờn mà thôi mà sự căm hờn chỉ nuôi chứ không
giết".
Nhân vật Tú Anh "là một đống vàng đống bạc mà không hề bị ánh sáng hoàng kim
chiếu loa mắt, đƣơng tuổi thanh xuân mà thản nhiên nƣớc ái tình, một ngƣời học thức cao,
nhân phẩm cao, một ngƣời hữu ích rất hiếm có". Vậy mà con ngƣời ấy, trƣớc hoàn cảnh xã
hội đầy xót xa bẩn thỉu (đầy lọc lừa, xảo trái cũng đã có những tƣ tƣởng hờn căm : "Những
cái dây liên lạc thiêng liêng nhất đời, đại khái nhƣ tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ
chẳng hạn cũng lắm khi đáng để xuống đất mà đi dưới gót chân" và "ở đời này không còn có
cái gì là đán quý nữa, mà sự đời là không có ý nghĩa gì cả "
98
Ngay cả bà đồ Uẩn, ngƣời đàn bà nhà quê, chỉ vì con gái bị làm nhục mà mang tiếng
nhục với dân làng, nhƣng khi tình thế đảo ngƣợc - con gái bà đƣợc lấy "con ngƣời quyền thế
và giàu có nhất tỉnh" - đã có những ý nghĩ đầy hả hê sung sƣớng: "Rồi thì cả làng sẽ ngậm
miếng hến. Rồi thì sẽ vô phúc cho những đứa đã bảo bà là vô phúc... Rồi thì khổ cho những
đứa chê bai, khinh bỉ, chơ những đứa đã làm nhục bà". Và trong đầu ngƣời đàn bà nông dân
ấy đầy những ý định báo thù: "những đứa ấy rồi thì nhục nhã với bà, rồi thì điêu đứng với bà.
Nếu chúng có khốn khổ khốn nạn, mà đến vay thì bà cho vay ngay, để mà khinh bỉ lại chúng,
bắt chúng phải luồn lụy, lạy lục, cho bõ ".
Trong thế giới nhân vật Giống tố, nỗi hờn căm, uất ức của nhiều nhân vật không chỉ
biểu hiện ở suy nghĩ, lời nói mà có khi ở cả giọng nói (Vạn tóc mai, kẻ tƣởng nhƣ có trái tim
không biết xúc động, khi nhắc tới Nghị Hách cũng "nghẹn ngào nói bằng giọng đầy những
căm hờn ;" thiếu niên đứng tƣng hửng ra một lúc rồi căm hờn đáp"; "ông đồ uất ức thưa
lên"....). Những tâm trạng bức bối, hờn căm ấy thường bị đẩy tới rực điểm và nó bộc lộ qua
những hành vi bên ngoài. Đã giận thì phải giận đến "điên người", đã phẫn uất thì phải "phẫn
uất cực điểm", đã tức thì phải "tức lộn ruột", tức đến "con mắt trợn ngược nghiến răng", đến
"muốn bổ vào mặt" thậm chí muốn "xông vào bóp cổ...
Tất cả những biểu hiện của nỗi hờn căm trong ý nghĩ và trong cử chỉ, hành vi, giọng
nói của các nhân vật cũng là những, tín hiệu nghệ thuật góp phần tạo hoàn cảnh.
Nhìn nhận thế giới nhân vật trong Giống tố với ý nghĩa là một yếu tố trong cấu trúc
nghệ thuật của hoàn cảnh, chúng tôi nhận thấy, nếu nhƣ trong tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố
chú ý tới những nhân vật đầy bạo lực trấn áp, thì trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng lại chú ý
những nhân vật đầy mƣu mô, thủ đoạn, bởi vậy bức tranh xã hội Giống tố đầy rẫy những thủ
đoạn, mƣu mô. Tác phẩm mở đầu bằng một sự kiện xuất phát từ thù đoạn của Nghị Hách, đó
là việc Nghị Hách lừa thị Mịch lên xe để thực hiện hành vi bẩn thỉu. Chỉ vì mấy lời nói ngọt
ngào, giả nhân giả nghĩa, ngƣời gái quê ngây thơ, khờ khạo, thị Mịch đã bị "con dê già" Nghị
Hách giăng bẫy và đƣa vào tròng. Trƣớc việc
99
dân làng Quỳnh Thôn và gia đình ông đồ Uẩn kiện hắn về tội cƣỡng dâm thị Mịch, Nghị
Hách lại tiếp tục dùng một loạt mƣu mô, thủ đoạn khác để trốn tội, từ kẻ cỗ tội trở thành
ngƣời vô tội và biến nạn nhân, nguyên đơn thành bị cáo. Để chuẩn bị bào chữa cho hành vi
bẩn thỉu của mình, nghị Hách đã chủ động đến gặp viên công Sứ và phao tin phong trào cộng
sản " đã lan đến tỉnh ta"... ,"toàn dân tỉnh này đã bất đầu nói xấu và vu oan cho con... chắc là
họ chỉ nhắm mắt nghe theo bọn phiến loạn... Họ vu cho con là giết người, hiếp tróc đàn bà...
Họ hết sức gieo cái mầm thù ghét ngƣời giàu có...". Đồng thời với thủ đoạn đó, nghị Hách
còn gây và khoét sâu mâu thuẫn giữa quan tổng đốc với tri huyện Cúc Lâm, giữa một viên
quan Tây học và một viên tổng đốc ít học " làm quan tắt", từ đó cho rằng việc hắn bị tri
huyện Cúc gọi ra công đƣờng là do "có hiềm khích gì" nên đã "kiếm chuyện" và "xui dân đi
kiện tôi". Thủ đoạn ấy của Nghị Hách đã đạt đƣợc mục đích: tri huyện Cúc Lâm có nguy cơ
mất chức, Nghị Hách tránh đƣợc một viên quan thanh liêm để có thể chạy tội. Và trong
những thủ đoạn nhằm mục đích rũ bỏ tội trạng, Nghị Hách cũng không quên sử dụng một thủ
đoạn quen thuộc trong giới quan trƣờng: hối lộ. Hắn gạ gẫm bán rẻ chiếc xe hơi cho tri huyện
Cúc Lâm và "chỉ xin lấy ngài hai trăm thôi. Lúc mới mua giá nó là ba nghìn tám đấy".
Nếu lấy sự kiện về vụ kiện của gia đình ông đồ Uẩn và dân làng Quỳnh Thôn làm cái
mốc, thì ngƣợc dòng thời gian, ta còn thấy thủ đoạn của Nghị Hách từ khi hắn còn là cai
Hách. Với cái dã tâm muốn cƣớp vợ bạn Nghị Hách đã ngấm ngầm "gắp lửa" bỏ tay ngƣời",
để rồi Hải Vân bị ra tòa lĩnh án một năm tù về tội ăn cắp của chủ, mạc dù Hải Vân hoàn toàn
vô tội. Cuối cùng" thằng phản bạn", " thằng cƣớp vợ bạn" ấy cũng đã đạt đƣợc mục đích bẩn
thỉu: trong những ngày Hải Vân ở tù, bà vợ nhẹ dạ của ông đã ăn ở với Nghị Hách bằng cái
tình non vợ chồng mà già nhẫn ngãi, bởi cảm động vì cái " lòng tử tế nham hiểm" của hắn.
Cũng cái kiểu thủ đoạn "gắp lửa bỏ tay ngƣời" đó, sau này Nghị Hách còn khiến cho dân
làng Quỳnh Thôn điêu đứng bằng việc hắn xui tay chân rải truyền đơn vào phòng Hội đồng
làng Quỳnh Thôn, để chức dịch làng này mắc vào hình luật là đã để mất trị an trong làng từ
đó không còn dám nghĩ tới việc kiện cáo nữa.
100
Có thể nói, hoàn cảnh Giống tố đƣợc đan dệt nên bởi rất nhiều hệ thống yếu tố, mà
một trong những hệ thống đó là những thủ đoạn mƣu mô của các nhân vật. Những thủ đoạn
mƣu mô đó không chỉ có ở Nghị Hách mà còn có ở nhiều nhân vật khác nữa. Trong cái
guồng quay của xã hội Giống tố ấy, các nhân vật luôn dùng thủ đoạn dể đạt được những mục
đích của mình: Tú Anh dùng thủ đoạn làm Long và thị Mịch hiểu lầm nhau, ngƣời nọ cứ
tƣởng ngƣời kia là kẻ phụ bạc, để rồi căm thù và từ bỏ nhau, nhờ thế thị Mịch mới nhận lời
làm vợ lẽ Nghị Hách ; ông già Hải Vân dùng thù đoạn để Nghị Hách phải kinh sợ và tống
tiền Nghị Hách đƣợc một vạn đồng "cho quĩ Đảng" ; Long dùng thủ đoạn để yêu cả Loan và
Tuyết với mục đích bắt hai cô con gái Nghị Hách "trả nợ đời cho bố"; Vạn tóc mai dùng thủ
đoạn để moi tiền Nghị Hách, mặc dù Vạn tóc mai biết rằng "cái thằng cha ấy đẻ ra moa... vì
một phút điên rồ của xác thịt". Trong thế giới của những thủ đoạn ấy, có thủ đoạn của giới
quan trƣờng, đó là thủ đoạn viên tri huyện mới của huyện Cúc Lâm. Viên quan này "mới đến
nhậm huyện Lô có sáu tháng mà trong huyện có đến tám chín nhà giàu bị cƣớp vu cho là tòng
đảng, rồi thì quan tậu ngay xe ô tô" Trong cuộc hỏi cung vụ kiện Nghị Hách, hắn đã dùng thủ
đoạn trấn áp, đe dọa, khi thì " cười một hồi dài" lúc thì "hầm hầm nét mặt"; khi thì "đập bàn
giận dữ" lúc thì quát "to và gọn như một tiếng sét"; khi thì "hỏi dồn" lúc thì "gắt gỏng"; khi
thì "cười nức nở', lúc thì "xung thiên chi nộ"... để rồi cuối cùng bên nguyên đơn - những nạn
nhân của nghị Hách buộc phải rút đơn kiện vì nỗi lo "vô phúc thì đáo tụng đình".
Còn đây là một thủ đoạn chính trị trong việc giúp Nghị Hách tranh ghế nghị trƣởng
của một "ngƣời Tây" ( Lời nhân vật này với Nghị Hách: "Những cơ quan của tôi mua đƣợc
vào dịp tranh cử sẽ không ca tụng ông, mà lại còn công kích ông kịch liệt! Tôi sẽ thảo cho
ông một chƣơng trình cải cách vĩ đại về xã hội. Ông sẽ đòi quyền cho hạng lao động, cho
nông dân... những tờ báo kia sẽ chửi ông là cách mệnh, là cộng sản... rồi thì mấy tờ nhật báo
đăng tin chó chết, sẽ trích đăng những bài mà mấy tờ báo Tây chửi ông ! với cái lối hành
động nhƣ thế thì chức nghị trƣờng ông lấy dễ nhƣ bỡn vậy").
101
Cũng nằm trong hệ thống những thủ đoạn chính trị ấy là thủ đoạn của Nghị Hách
trong việc tổ chức phát chẩn bần. Đạt phát chẩn cho bần dân lần thứ nhất đã đƣợc báo chí
Bắc Kỳ đƣa tin và đánh giá đây là "một nghĩa cử hiếm có". Bởi vì "nhà triệu phú Tạ Đình
Hách đã bỏ ra 250 tạ gạo và một nghìn đồng bạc phát chẩn cho dân tỉnh ông, vì tỉnh ông mất
mùa, bao nhiêu ruộng nƣơng đều bị hạn hán hoặc bị sâu cắn lúa. Nạn khủng hoảng kinh tế
càng thêm trầm trọng, dân gian đói khổ, đâm ra hành khất hoặc trộm cƣớp tứ "nhân đây cũng
phải nói thêm rằng, trong tác phẩm Giống tố, việc sử dụng hình thức báo chí dƣa tin, cũng là
một cách góp phần tạo dựng hoàn cảnh của nhà văn). Cuộc phát chẩn lần thứ hai đƣợc tổ
chức ở Tiểu Vạn trƣờng thành. Đây là một cuộc phát chẩn với qui mô lớn, có tới bốn nghìn
ngƣời dân từ mọi nơi trong tỉnh kéo đến. Cuộc phát chẩn ấy đƣợc tổ chức rầm rộ, có phƣờng
nhạc binh, có một dãy lính bồng súng, có cờ quạt, đèn kết hoa, có mấy chục chiếc xe hơi và
"đủ mặt các quan chức hàng tỉnh và các vị thân hào". Đây là thủ đoạn chính trị của Nghị
Hách cùng quan thầy của hắn để đƣa hắn lên ghế nghị trƣởng. Cũng với mục đích chính trị
ấy, thủ đoạn bẩn thỉu, đê tiện nhất của Nghị Hách là khi hắn tuyên bố gả Tuyết cho Long để
đƣợc tiếng là coi trọng bình dân, mặc dù hắn biết cả hai đều là con đẻ của mình. Hành động
đó chứng tỏ để đạt đƣợc tham vọng, Nghị Hách có thể bất chấp tất cả không từ thủ đoạn nào,
kể cả việc đẩy con cái mình vào vòng loạn luân.
3.1.3. Nhìn nhận thế giới nhân vật trong Giống tố với ý nghĩa là một yếu tố trong cấu
trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, chúng tôi thấy có một kiểu hình tƣợng nhân vật có thể gọi
bằng một cái tên ƣớc lệ là "nhân vật đám đông".Có thể nói Vũ Trọng Phụng rất có tài trong
việc tạo dựng loại nhân vật này. "Nhân vật đám đông" trong Giống tố cũng rất nhiều dạng
vẻ. Đó có thể là cái đám đông chức dịch và dân làng Quỳnh Thôn tụ tập ở nhà ông đồ Uẩn để
bàn việc kiện tụng vụ Nghị Mách cƣỡng dâm Thị Mịch. Đó là cái đám đông đệ tử của nàng
tiên nâu trong tiệm hút - hiện than của "cả một cái xã hội thất vọng,
102
truy lạc, muốn làm cho những điều thất vọng phải tan ra khói". Đó là cái đám đông "trên tầng
gác thứ ba của cao lâu Thiền Chân", nơi Long và Tuyết gặp gỡ yêu đƣơng. Rất ấn tƣợng là
cái đám đông ngót hai chục những kẻ "sống lên trên những cuộc lai họa hoặc những sự may
mắn của ngƣời đời" trong phòng khách nhà Nghị Hách ở Tiểu Vạn trƣờng thành. Đối lập với
cái đám đông sang trọng ấy là đám đông bốn nghìn ngƣời dân quê "Ai cũng là bất thành nhân
dạng" từ các nơi kéo về Tiểu Vạn trƣờng thành lĩnh chẩn.
- Tất cả những đám đông ấy có thể có mặt ở những không gian, địa điểm khác nhau,
thành phần khác nhau với những mục đích khác nhau. Nhƣng đều có chung một đặc điểm là
lúc nào, ở đâu cũng nhốn nháo, hổ lốn, ầm ĩ, quân hồi vồ phèng như chính cuộc đời đầy biến
động, đảo điên. Chức dịch và dân làng Quỳnh Thôn tụ tập ở nhà ồng đồ Uẩn là để bàn việc
kiện Nghị Hách. Vậy mà ở đây "đông nghịt những khách khứa" và "y như nhà có giỗ tổ vậy".
Nhƣng tất cả đều nhốn nháo "ồn ào đến nổi không còn ai nghe hiểu ai muốn nói gì nữa",
"mỗi ngƣời một lời, thành thử nhà như có cuộc loạn đả". Cuối cùng "sau nửa giờ vỡ chợ, kẻ
khuyên can lại to tiếng hơn kẻ gây sự, hàng chục cái mồm đàn ông và đàn bà, già và trẻ.
Phân bè kéo đảng nhau mà nói khay nhau, chọc tức nhau". Nhƣ vậy sự yên tĩnh cố hữu của
làng quê đã bị phá vỡ, sự nhốn nháo, ầm ĩ của cuộc đời cũng đã thể hiện từ chính nơi đây.
Từ làng Quỳnh Thôn, theo chân của nhân vật Long, chúng ta bƣớc vào xã hội thành
thị, vào một tiệm hút, nơi khách đến hút thuộc đủ hạng ngƣời. Đến đây, thế giới nhân vật
Giống tố tiếp tục đƣợc mở rộng: ông chủ sòng bạc đang oán giận sở liêm phóng, cậu học trò
bất mãn với xã hội không trọng dụng nhân tài, cụ phán già hận đời vì không đƣợc cƣới thêm
vợ lẽ, ông nhà văn có sách mới bị cấm, cô gái nhảy thất tình ... và cái đám đông ấy cũng ổn
áo, náo nhiệt nhƣ mọi đám đông khác trong Giống tố: "những chuyện tâm sự, những điều
đau khổ nhất, những chuyện đê nhục tƣởng phải giấu kín của họ, họ cũng đem ra nói rất lo".
Trong "bầu không khí ồn ào" luôn vang lên những "tiếng
103
cười rộ, những cái ho khạc, những tiếng nói bô bô, những điều văng tục ghê gớm". Và "giữa
đống huyên náo, lang chạ" ấy, ai cũng chỉ nghĩ tới chuyện làm rầm rĩ lên, ai cũng tranh lấy
nói mà không ai để tai nghe. Nghĩa là cái đám đông ấy cũng lộn xộn, nhốn nháo nhƣ chính
cái nhốn nháo, lộn xộn của cuộc đời.
Đến Tiểu Vạn trƣờng thành, ngƣời đọc lại đƣợc chứng kiến một thế giới nhân vật
khác. Ở đây không có những kẻ dang bất mãn, chán đời nhƣ trong tiệm hút mà "bọn ngƣời
này là những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thƣơng giới". Đây là những nhân vại mà tự
nó đã chứa đầy những mâu thuẫn, nghịch lý, tƣơng phản giữa bản chất và hành động, giữa
con ngƣời thực chất và con ngƣời xã hội, giữa lời nói và việc làm ... Đó là những kẻ "đọc đủ
các báo chí mà không biết gì về văn chƣơng mỹ thuật, tủ sách đầy những tập kỷ yếu các hội
ái hữu nhƣng kỳ chung thật không có ai là bạn trên đời ... đã từng chủ toạ những cuộc ban
giải văn chƣơng mà chƣa hề đọc hết một cuốn tiểu thuyết". Lại có những kẻ "cổ động kịch
liệt cho phật giáo" nhƣng lại "xây hàng dãy nhà săm", "coi đời là một sự vô nghĩa lý, nhƣng
đầy tớ đánh vỡ một cái bát cũng bắt đền năm xu, giữa đám đông ngƣời thì cả mồm chửi
những ngƣời tàn ác buôn đồng loại, nhƣng ngồi một mình thì lại ca tụng mình đã làm đƣợc
một việc tàn ác mội cách có mỹ thuật". Còn có những kẻ "ban đêm đi tiêm thuốc phiện cho
ngƣời quí quốc, ban ngày đi đòi tiền hộ các sở nặc nô, làm chủ đã ba bốn tiệm khiên vũ mà
đánh con gái đến hộc máu về tội ăn mặc tân thời ". Và có cả những kẻ "vừa là chủ hiệu xe
đám ma, vừa là chủ dƣợc phòng, bán tem cho hội bài trừ bệnh lao, lại bán cả thuốc lào mốc,
chiếm kỷ lục về sự vô học, nhƣng lại gọi ông Quỳnh, ông Vĩnh là thằng... "... Tất cả bọn
ngƣời này đều là "bạn hàng", là "vây cánh", là "tay sai" của Nghị Hách. Những nhân vật này
hiện lên không bằng tên tuổi, ngoại hình, hành động... mà chỉ qua vài nét tóm lƣợc bản chất,
đã bổ sung cho đội ngũ nhân vật vốn đã rất đông đảo của xã hội Giống tố và góp phần tạo dệt
hoàn cảnh, làm nổi bật tính cách nhân vật chính.
104
Trong cuộc phát chẩn của Nghị Hách, chúng ta lại đƣợc chứng kiến một cảnh tƣợng
ồn ào, hỗn độn của một tầng lớp khác trong xã hội - tầng lớp những ngƣời dân cùng khổ.
Cíính tƣợng ấy "đủ tiêu biểu cho hết thảy mọi sự thống khổ của loài ngƣời". Bức tranh thế
giới nhân vật Giống tố lại đƣợc tô thêm một mảng đời sống đen tối bởi hình ảnh đám ngƣời
"vô nghĩa lý" ấy. Cũng chỉ bằng vài nét phác họa ghi nhanh theo lối phóng sự, Vũ Trọng
Phụng đã tao dựng trƣớc mắt ngƣời đọc những chân dung liêu biểu của sự khốn cùng. ,Đó là
hình ảnh "Những ông bà già đầu đã trắng xoa nhƣ tuyết lự khụ vừa còng lƣng chống gậy vừa
lần từng bƣớc để mà ho khạc, quần áo thì bƣơm nhƣ xơ nhộng, nón thì nở hoa nhƣ nón bù
nhìn là hình ảnh "những ngƣời đàn bàn gầy còm, bẩn thỉu, vì khoai, củ chuối, mƣa, nắng,
những cảnh bùn lầy nƣớc đọng, vì đẻ nhƣ lợn xề ..." ; là hình ảnh "những đứa trẻ xanh xao,
toét mắt, bụng ỏng vì giun sán ", "những ông chồng ngực lép đét lại vì trùng ho lao, mặt mũi
hốc hác vì sƣu thuế. Và cũng nhƣ hình ảnh những đám đông nhân vật khác trong Giống tố,
thế giới những nhân vật "vô nghĩa lý", "bất thành nhân dạng" ấy cũng nhốn nháo, náo động.
Họ "nằm ngồi hỗn độn, cãi nhau, chửi nhau, đánh nhau", "tranh giành cướp bóc của nhau",
"chửi bới nhau", "xô đẩy nhau"....
Nhƣ vậy, bức tranh Giống tố mở về phía nào cũng không tìm được sự bình lặng, yên
tĩnh. Sự nhốn nháo, náo loạn, vô trật tự ùa tràn vào mọi không gian, từ làng quê tới thành thị.
Nếu nhƣ "nhân vật đám đông" trong nhà ông đồ Uẩn (đã nói ở trên) là đám đông
những ngƣời dân quê, đám đông trong phòng khách Nghị Hách là đám đông của những kẻ
thuộc "công giới và thƣơng giới", đám đông trong Cao Lâu Thiền Châu và trong tiệm hút là
đám đông hổ lốn đủ hạng ngƣời ... thì cái đám đông xuất hiện ở đoạn kết tác phẩm lại "toàn là
những thiếu niên trí thức, cử nhân, tú tài, giáo sƣ Đại Việt học hiệu..."... tóm lại, chủ yếu là
giới trí thức. Nhƣng sự tập hợp của cái đám đông trí thức ấy cũng không "sạch sẽ", không
yên tĩnh gì hơn những cái đám đông đã từng hiện lên trong Giống tố.
105
Hơn nữa đây còn là "một cuộc cuồng dâm dữ dội, một bữa dạ yến long trời lở đất",
mà ở đó tất cả đều ầm ĩ, náo loạn, thậm chí nó còn ầm ĩ, náo loạn hơn mọi nơi, mọi lúc khác.
Tất cả các nhân vật ở đây đều "gào thét như bọn hóa dại", "gào thét inh ỏi xôn xao". Cả
không gian tràn ngập "tiếng cười, tiếng nói, lời tán thành, giọng công phẫn", "người nào
cũng nhao nhao lên", "ngƣời ta vỗ tay hoặc cười lăn cười lộn", "ngƣời ta nói một cách huyên
thuyên hỗn loạn", "sự huyên náo là ở những lời nói, những câu hát lảm nhảm, những sự gào
thét đầu ngô mình sở "... Có thể coi đây là một "góc trời" của cơn "Giống tố'. Trận Giống tố
cuối cùng này ở ngoài đời góp phần thổi bùng lên trận Giống tố cuối cùng trong tâm hồn
Long để rồi dẫn tới cái kết cục bi thảm của nhân vật này. Tiểu thuyết Giống tố đã khép lại
bằng một trận Giống tố dữ dội với sự góp mặt của một mảng nhân vật đƣợc coi là trí thức.
Mảng nhân vật này góp phần hoàn chỉnh bức tranh xã hội Giống tố và cũng đã góp phần tạo
dệt hoàn cảnh cho tác phẩm.
3.1.4. Trong thế giới nhân vật góp phần tạo hoàn cảnh của Giống tố còn có một kiểu
loại nhân vật, loại nhân vật "vô hình", "nhân vật dƣ luận" (trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố,
không có loại nhân vật này). "Nhân vật dƣ luận" với những lời đồn đại của nó, quả thực cũng
đã góp phần vào việc tạo dựng hoàn ánh Giống tố. Vì là "dƣ luận" nên nó không phải là một
ngƣời hay vài cái tên cụ thể. Nhƣng nó lại có tác dụng tạo không khí, thể hiện tính cách các
nhân vật chính. Vũ Trọng Phụng rất hay "mượn lời" dư luận để nói về nhân vật giúp ngƣời
đọc cảm nhận đƣợc không khí xã hội và bản chất tính cách các nhân vật, mặc dù, có khi
những "nhân vật dƣ luận" này không có liên quan trực tiếp gì đến nhân vật đang đƣợc nói tới.
Chẳng hạn, đây là một đoạn dƣ luận về Nghị Hách:
"- Thằng cha có hai chục con vợ lẽ trong đồn điền ấy à?
- Phải.
- Cái Ihằng cha bỏ bã rƣợu vào ruộng lƣơng dân rồi báo nhà đoan và chỉ với một thủ
đoạn ấy đã tậu đƣợc ba trăm mẫu ruộng rất rẻ tiền ấy à ?
106
- Chính thế.
- Cái thằng cha độc ác đánh chết ngƣời làm rồi vứt xác ngƣời ta xuống giếng, mà khai
ngƣời ta tự tử ấy à ?
- Nó đấy !".
Chỉ qua một vài lời đối thoại của các nhân vật vô danh, bản chất dâm ô, xảo quyệt, tàn
bạo của Nghị Hách đƣợc bộc lộ.
Đây là một đoạn đối thoại - dƣ luận về Thị Mịch:
"Một ngƣời nói:
- Con bé bây giờ hƣ lắm, không còn giữ gìn gì nữa. Chắc là từ hôm bị hiếp thì nó lăng
nhăng bừa bãi với bọn con giai làng bên.
Một ngƣời khác nói:
- Chỉ có thế thôi à ? Ngƣời kia lại nói:
- Úi chao ! Con gái voi giày đến thế là cùng chứ bà còn muốn thế nào nữa? Lại thấy
nói:
- Thế thì bà chƣa biết chuyện gì cả. Bà chỉ mới thấy ngƣời ta đồn con Mịch bờm xơm
với tụi con giai làng Thƣợng thôi, chứ mà tôi thì tôi lại thấy con bé ấy trƣơng ruột ra rồi.
- Ủa! cô ả ễnh ruột ra rồi ?
- Bẩm phải ạ ! Bà cứ để ý đến cái bụng nó mà xem ! nhờ ơn vua mẫu, bụng nó đã gần
bằng cái thùng rồi đấy.
- Thật thế à ?
- Phải ! mấy tháng nay con bé đã ốm nghén đấy ! lúc nào cũng ăn đƣợc rổ tƣớng khế,
một rá ụ những chanh ! Lúc nào cũng lử đử lừ đừ chả buồn mó đến công việc gì cả. Lúc nào
cũng chỉ chúi dƣới bếp ngủ thôi. Nó ăn dở của chua nên mới thế.....
107
- Chẹp ! ... chẹp !!! ... Rõ chém cha cái đời ! Cho thế mới mát ruột con mẹ đồ Uẩn.
Không thế thì không đƣợc hợm mình những là giấy rách giữ lề, những là dòng giõi thế gia !
Thế rồi im".
Không biết những lời đối thoại đó là của một nhân vật cụ thể nào, nhƣng ngƣời đọc
vẫn có thể mƣờng tƣợng rất rõ vẻ mặt, cử chỉ của "tác giả" những lời phát ngôn vừa tọc
mạch, tò mò, vừa độc ác, tàn nhẫn ấy. Cái dƣ luận ở đây thật đáng sợ biết chừng nào. Nó theo
dõi ráo riết với một đôi mắt tò mò, vừa phỏng đoán ("chắc là từ hôm ..."), vừa khẳng định
("tôi thì tôi lại thấy ..."). Trong những lời đối thoại ấy, ta thấy mội dƣ luận rất tàn nhẫn, cay
độc, một môi trƣờng thiếu cảm thông mà luôn xoi mói, mỉa mai.
Và đây là mội đoạn đối thoại - dƣ luận về nhân vật Long, dƣ luận của chính những
"ngƣời bạn thân" của nhân vật này:
"- Rõ thực vô phúc cho Nghị Hách !
- Ấy là một vị anh hùng trong nghiệp phá sản ! ...
- Chỉ thƣơng thay cho ông đốc nhà tôi thôi ! giữ gìn để cho thằng con rể nó phá.
- Thằng Long nó có vẻ giám đốc hơn Tú Anh nhiều.
- Vợ nó đẹp thế mà nó vẫn chơi bời thế !
- Đầy tớ nó kêu không bao giờ nó nhìn nhận đến vợ nó cả ! Thế có quái lạ không anh
em?
- Con Tuyết đẻ non, ốm yếu nhƣ thế, mà thằng chồng đêm nào cũng đi nhƣ thế, con
Tuyết chết mất! Tiền oan nghiệp chƣớng gì đây !
- Sự thƣờng ! một đứa sinh trƣởng ở nơi bần hàn, không cha, không mẹ mà lại đào
đƣợc mỏ thì chí có cách chơi bời lêu lổng. Các anh có rõ ràng thằng Long là con nuôi của hội
trẻ con vô thừa nhận hay không ?
- Thế à ! thế à ! bây giờ tao mới biết đấy ! sao nó lại lấy đƣợc con Nghị Hách ?
108
- Thế mới kỳ ! Nghị Hách có thế mới leo lên đƣợc ghế nghị trƣởng chứ ? các báo ba
kỳ độ ấy, chẳng khen ngậu sị lên là Nghị Hách có óc bình dân, tƣ tƣởng xã hội đó sao ?
Họ còn nói nhiêu.... "
M. Bakhtin trong quá trình phân tích những thủ pháp nghệ thuật khơi gợi, kích thích
sâu sắc và tinh tế của Đốtxtôiepxki đã so sánh nhà văn bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực này
với những nhà văn của chủ nghĩa biểu hiện Đức: Komfeld, Werfel: "Trong đa số trƣờng hợp,
họ không biết đi xa hơn sự kích động những cơn istêri và cuồng loại istêri bởi vì họ không
biết tạo ra cái bầu không khí xã hội vô cùng phức tạp và tinh tế xung quanh nhân vật (chúng
tôi nhấn mạnh - PMH), chính bầu không khí ấy bắt buộc các nhân vật phải bộc lộ mình và
bày tỏ mình qua đối thoại, phải nắm bắt những khía cạnh của con ngƣời mình trong ý thức
của những ngƣời khác" [11.250-251].
Chỉ qua một đoạn đối thoại - dƣ luận, tƣởng nhƣ là những lời bình phẩm rất bâng quơ,
khách quan đó, Vũ Trọng Phụng đã "biết tạo ra cái bầu không khí xã hội vô cùng phức tạp và
tinh tế" xung quanh nhân vật Long. Từ đó giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc rất rõ cái môi
trƣờng xã hội xung quanh nhân vật này, khi những lời bình phẩm ác nghiệt hàm chứa cả sự
hả hê, khoái chá ấy phát ra từ cửa miệng của chính những kẻ đƣợc coi là "bạn thân", là "cánh
hẩu" của Long, những kẻ đang đƣợc dự một cuộc "dạ yến long trời lở đất" mà Long chính là
Mạnh Thƣờng Quân - khổ chủ. Cũng qua dƣ luận ấy, số phận cuộc đời nhân vật Long, nỗi bất
hạnh đớn đau của kẻ mà "dƣ luận"tƣởng là may mắn này đƣợc làm nổi bật và bản chất đê tiện
với những thủ đoạn chính trị của Nghị Hách bị vạch trần. Ở đây, dƣ luận vừa có tác dụng tạo
hoàn cảnh vừa có tác dụng làm nổi bật tính cách và tác động mạnh mẽ tới tính cách, số phận
của nhân vật. Hành động tự sát ngay sau đó của nhân vật Long chắc rằng có căn nguyên
không nhỏ từ cái "bầu không khí xã hội" đƣợc toát ra qua lời lẽ của những "nhân vật dƣ luận"
đó.
109
Nhƣ vậy, hoàn cảnh Giống tố đƣợc đan dệt nên bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố
những lời đồn đại, những dƣ luận (thƣờng là dƣ luận xấu). Sự kiện nào cũng có thể dẫn tới
những lời đồn đại, dẫn tới dƣ luận, mà ba trích đoạn trên đây chỉ là những ví dụ tiêu biểu.
Chúng ta còn có thể tìm thấy trong Giống tố nhiều biểu hiện của dƣ luận và những lời đồn
đại nhƣ thế. Chẳng hạn, việc Nghị Hách đến huyện Cúc Lâm theo giấy gọi của tri huyện đã
làm cho "ngƣời dân ở đây nhốn nháo đồn đại cho rằng có vị quan to nào đã về bản huyện.
Người nói đó là quan công sứ về hiểu dụ. Kẻ kêu đó là quan thống sứ về kinh lý. Lại có kẻ
cam đoan đó chỉ là quan nghị ngƣời Nam. Người ta chỉ thoáng thấy chiếc xe hơi hòm ...
Người ta chỉ trông thấy cái hình thức ... Cho nên có những lời đồn đại huyên thuyên kể trên".
Cái dƣ luận ấy nhiều khi rất khắc nghiệt, tàn nhẫn: trong khi thị Mịch khổ đau đến ốm liệt
giƣờng vì nỗi nhục thì "bọn con giai trong làng cứ há mồm ra mà cƣời sau khi đồn đại nhau
rằng ấy là cô bé làm ra thế cho đỡ ngƣợng đó mà thôi". Trƣớc " những cái dư luận khốn nạn
của hạng người nông nổi" ấy, thị Mịch đã khổ đau, ê chề lại càng nhục nhã, đau đớn hơn.
Hành động tự tử sau đó của thị Mịch một phần xuất phát từ áp lực tâm lý đó của hoàn cảnh.
Những lời đồn dại, dƣ luận có khi chỉ xảy ra trong phạm vi làng Quỳnh Thôn hoặc
rộng hơn là phạm vi huyện Cúc Lâm. Nhƣng cũng lại có những sự kiện dẫn tới dƣ luận ở một
phạm vi rộng hơn. Chẳng hạn dƣ luận về hành động của Nghị Hách đối với Thị Mịch không
chỉ bó hẹp trong phạm vi huyện Cúc Lâm mà nó còn "làm cho dư luận Bắc Kỳ rất xôn xao".
Những dƣ luận gần gũi, nhạy cảm và dai dẳng nhất vẫn là dƣ luận làng xã. Xoay quanh câu
chuyện về quan hệ của Thị Mịch và Nghị Hách, đã có biết bao nhiêu lời đồn đại. Có khi nó
thể hiện qua "những câu chế nhạo của bọn giai làng vô giáo dục”; có khi nó là những dƣ luận
không rõ xuất xứ từ đâu ("người ta đồn nhau thế thì phải", "người ta đồn rằng "những lời
đồn đại ở ngoài.. ") Những dƣ luận ấy rất nhiều chiều và cũng rất sôi động. Chỉ với "vài chiếc
xe hơi mấy
110
nghìn cau, mấy trăm bánh và ba trăm bạc" của Nghị Hách trong lễ ăn hỏi cũng đủ làm cho ở
Quỳnh Thôn "cả làng đã nhao lên rồi”. Sự kiện bất ngờ ấy đã khiến cho "dư luận của làng
bỗng xoay đổi hẳn". Và việc cái đám cƣới to tát nhƣng không có chú rể lại khiến cho "cả
làng bàn tán về chỗ ấy dữ dội lắm"...
Nhƣ vậy tạo dựng hoàn cảnh trong Giống tố không chỉ là sự đan cài, giăng mắc, va
đập của các nhân vật có tên, có ngoại hình rõ nét, mà còn là những nhân vật không xuất đầu
lộ diện thông qua dƣ luận với những lời đồn đại. Những yếu tố này không chỉ góp phần tạo
không khí cho hoàn cảnh mà nó còn tạo môi trƣờng để nhân vật bộc lộ tính cách. Và ngƣời
đọc vẫn có thể tiếp nhận ở những dƣ luận, lời đồn đại nhiều khi tƣởng nhƣ nhiễu nhƣơng, vô
tâm của những nhân vật vô danh ấy ("người ta nói...", " kẻ kêu đó là "lại có kẻ cam đoan
"một người nói "một người khác nói " người kia lại nói..."...) những thông tin để hiểu về hoàn
cảnh và số phận tính, cách nhân vật. Bởi vì "ngoài những câu phê bình độc ác thì câu chuyện
ngồi lê bắt chấy ấy chẳng phải là không có chút ít sự thực". Tạo dựng hoàn cảnh bằng những
chi tiết về dƣ luận, lời đồn đại, chắc rằng không nằm ngoài ý thức nghệ thuật của tác giả
Giống tố.
3.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Giống tố
Một trong những yếu tố quan trọng làm nên hoàn cảnh nghệ thuật của tác phẩm
Giống tố là hệ thống những xung đột mâu thuẫn chồng chéo, đan cài trong tác phẩm. Những
xung đột, mâu thuẫn trong thế giới nghệ thuật Giống tố cũng muôn hình muôn vẻ, phức tạp,
rối rắm, căng thẳng nhƣ chính những xung đột của xã hội bên ngoài. Nói cách khác, những
mâu thuẫn, xung đột bên ngoài xã hội đã đƣợc thể hiện tập trung cao độ ở những mâu thuẫn
xung đột giàu kịch tính trong tác phẩm.
111
3.2.1. Những mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ xã hội
Mâu thuẫn đầu tiên trong Giống tố nảy sinh từ vụ Nghị Hách cƣỡng dâm Thị Mịch.
Sự kiện này không chỉ dẫn tới mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân mà còn là mâu thuẫn giữa
một tên bạo chúa khét tiếng dâm ác với dân làng Quỳnh Thôn và bộ máy hành chính của nó,
bởi nỗi nhục của Thị Mịch cũng đƣợc xem nhƣ nỗi nhục của cả làng (lời Chánh Hội với dân
làng: "... nhục lắm ! xấu hổ lắm ! mà nhục cho cả làng ; nhục cho cả cái làng này, các cụ đã
biết chƣa?").
Thế rồi, từ cái mâu thuẫn ban đầu ấy, hàng loạt những mâu thuẫn khác nảy sinh trƣớc
hết, nó nảy sinh trong nội bộ dân làng Quỳnh Thôn. Xung quanh sự kiện ấy, ngƣời ta "chế
diễu nhau", "khích bác nhau", "chửi bới nhau", "người nọ vặc người kia", "cả một làng
không còn một ai giữ được trí khí với một ai nữa". Và rồi những xung đột đã biến thành
những vụ xô xát: "Ngƣời ta đếm ra thì trung bình mỗi ngày có hai đám cãi nhau, hoặc chửi
bới nhau". Thậm chí dẫn tới những vụ đánh nhau, Chỉ trong vòng nửa tháng kể từ khi mâu
thuẫn ban đầu nảy sinh "ngƣời ta đếm đƣợc trong làng có ba mươi nhăm vụ xung đột, trong
số đó có một đám ăn vạ, hai đám có kẻ bươu trán vỡ đầu"... Những xung đột ấy khiến cho
"bầu không khí hầu như không thở được nữa" và trong làng Quỳnh Thôn "từ trẻ đến già, từ
nhớn đến bé, đã sống qua những ngày giờ nặng trình trịch, rất hỗn loạn".
Không chỉ trong nội bộ dân làng, mà nội bộ chức dịch làng Quỳnh Thôn cũng nảy
sinh những mâu thuẫn xung đột xung quanh vụ kiện Nghị Hách." Xung đột này nẩy sinh do
sự mâu thuẫn giữa hai phái: kiện và không kiện. Phái chủ trƣơng kiện, đại diện là chánh hội
và phải chủ trƣơng không kiện đại diện là lý trƣởng. Thực chất đây là mâu thuẫn giữa những
con ngƣời muốn thực hiện công lý, muốn bảo vệ danh dự làng xã với những con ngƣời hiểu
đƣợc bản chất của quan trƣờng, bản chất của pháp luật nằm trong tay kẻ mạnh Và cuối cùng,
những kẻ còn ảo tƣởng mơ hồ ở công lý, ở những kẻ đại diện pháp luật, đã phải chấp nhận
cúi đầu khuất phục.
112
Xét trong phạm vi xung đột của những quan hệ xã hội, ta còn có thể thấy mâu thuẫn
giữa Nghị Hách với viên tri huyện trẻ Cúc Lâm và giữa tri huyện trẻ Cúc Lâm với quan tổng
đốc. Mâu thuẫn giữa Nghị Hách và tri huyện Cúc Lâm là mâu thuẫn giữa kẻ tội phạm nhâng
nháo, ý thức đƣợc sức mạnh của đồng tiền với một kẻ trong giới quan trƣờng mà còn giữ
đƣợc lƣơng tri, đạo đức. Mâu thuẫn giữa tri huyện Cúc Lâm với tổng đốc là mâu thuẫn giữa
một viên quan có chí khí chƣa bị lóa măt bởi kim tiền và không khiếp sợ quyền uy với một kẻ
giữ trọng trách trong bộ máy hành chính mà chỉ quen nghề ăn hối lộ và sự phỉnh nịnh. Nhƣng
tất cả những xung đột xảy ra đƣợc giải quyết nhanh chóng bằng việc tri huyện Cúc Lâm từ
chức. Điều đó phản ánh một qui luật của xã hội đƣơng thời. Đó là một xã hội không dung thứ
cái tích cực, cái thiện. Kẻ nào đi ngƣợc qui luật ấy sẽ bị đào thải ra khỏi guồng máy xã hội
vận hành bởi sức mạnh của đồng tiền.
Mâu thuẫn xung đột giữa Long và Mịch cũng có thể coi là mâu thuẫn xung đột nằm
trong mối quan hộ xã hội. Tình yêu của Long - chàng trai có một quá khứ đầy bất hạnh với
Mịch - ngƣời gái quê hiền lành chăm chỉ đã sớm bị tổn thƣơng bởi hành động bỉ ổi của Nghị
Hách. Sau sự kiện đau lòng đó, do những nghi ngờ, hiểu lầm, Mịch không tìm đƣợc ở Long
sự thông cảm, và Long cũng không thấy ở Mịch sự đáng cảm thông. Cho nên đã có lúc họ coi
nhau nhƣ kẻ thù. Mịch đã có ý nghĩ căm thù Long và ngƣợc lại Long cũng đã có ý nghĩ khinh
bỉ, căm thù Mịch. Thậm chí có lúc, Long đã "muốn bổ vào mặt Mịch" và đã "bóp cổ Mịch"
trong một cơn giận điên cuồng. Xung đột giữa Mịch và Long cũng phản ánh sự nghiệt ngã
của hoàn cảnh xã hội. Đó là cái hoàn cảnh có thể giết chết những mối tình trong sáng, bình
dị, thậm chí nó còn có thể biến tình yêu thành thù địch, biến ngọn lửa tình yêu thành ngọn lửa
của lòng căm hờn.
113
3.2.2. Những mâu thuẫn trong các quan hệ gia đình
Hoàn cảnh trong Giống tố là hoàn cảnh ở đó chồng chéo đan cài các tầng bậc mâu
thuẫn. Có những xung đột mâu thuẫn nảy sinh từ các mối quan hệ xã hội và có cả những mâu
thuẫn xung đột này sinh trong quan hệ gia đình. Đó là những mâu thuẫn trong gia đình ông
đồ Uẩn và đặc biệt là trong nội bộ gia đình nghị Hách.
Trong gia đình ông đồ Uẩn, sau sự việc Thị Mịch bị Nghị Hách làm nhục, một loạt
các mâu thuẫn lại nảy sinh: mâu thuẫn giữa ông đồ và bà đồ xung quanh việc kiện và không
kiện, mâu thuẫn giữa ông đồ và Thị Mịch, mâu thuẫn giữa ông đồ và Cả Phái - "thằng còn
giai vô hạnh"... những mâu thuẫn giữa những cá nhân trong gia đình ông đồ Uẩn cũng tích tụ
làm tăng thêm cái không khí đầy xung đột của hoàn cảnh Giống tố.
Tâm điểm của những mâu thuẫn xung đội tạo hoàn cảnh trong Giống tố là mâu thuẫn
trong nội bộ gia đình Nghị Hách. Thực ra trong gia đình tên bạo chúa giàu khét tiếng miền
trung thổ này đã ngầm chứa những mâu thuẫn, xung đột. Vụ án về "dâm sự" của Nghị Hách
tin làng Quỳnh Thôn có thể coi nhƣ cái "hích" đầu tiên gây nên những mâu thuẫn xung đột
dây chuyền làm lung lay tận gốc rễ nền tảng tƣởng nhƣ là vững chãi, bền chắc của gia đình
tên bạo chúa này. Cơn Giống tố của cuộc đời đã làm tanh bành tất cả những gì mà hắn vẫn
đậy che.
Mâu thuẫn đầu tiên trong nội bộ gia đình Nghị Hách nảy sinh từ vụ cƣỡng dâm Thị
Mịch là mâu thuẫn giữa Nghị Hách và Tú Anh. Không phải đến vụ này, Tú Anh mới mới
hiểu bản chất dâm ô đểu cáng của Nghị Hách. Chính Tú Anh đã nói với Nghị Hách là "ông
đã làm nhiều điều bỉ ổi lắm" và "Tôi đã đến lúc không nín đƣợc rồi". Nghĩa là, đến lúc này
xung đột chính thức đƣợc bộc lộ. Xung đột này cũng rất căng thẳng chứ không hề giản đơn.
Là một ngƣời có ý thức về nhân phẩm, trƣớc việc làm bỉ ổi của Nghị Hách Tú Anh đã muốn
đƣợc chết để tránh nỗi nhục là con của một kẻ đểu giả: "Thƣa ông xin ông cho tôi chết - Ông
giết tôi đi".
114
Cũng trong nội bộ gia đình Nghị Hách, còn có mâu thuẫn giữa Nghị Hách và Vạn tóc
mai. Là một đứa con của Nghị Hách bị bỏ rơi, Vạn tóc mai căm thù Nghị Hách và chỉ rình có
cơ hội là trả thù, dù chỉ là bằng cách vạch mặt bản chất dâm ô đểu cáng của kẻ mà lẽ ra hắn
phải gọi là bố: " Cải thằng cha ấy nó đẻ ra moa, chính là vì một phút điên rồ của xác thịt
đấy", "Lúy bỏ ma mẹ nghèo chết, rồi bây giờ Lúy lại chực từ nốt cả moa ! các đằng ấy bảo vì
lẽ gì mà tớ lại không rửa thù ?". Nói về Nghị Hách, Vạn tóc mai "nghẹn ngào nói bằng giọng
đầy những căm hờn". Trong những lời tâm sự với ông già Hải Vân về Nghị Hách, Vạn tóc
mai luôn: "Bực lắm bố ạ !", "tức lắm bố ạ", "phải vào địa vị con thì mới có những nối uất ức
như con". Bởi vậy "bất cứ ai, hễ làm tiền đƣợc ông via nhà con thì con cũng sƣớng". Có thể
nói trong con mắt của Vạn tóc mai, Nghị Hách bị nhìn nhƣ kẻ thù.
Mâu thuẫn giữa Nghị Hách và vợ thực ra cũng đã có mầm mông từ mấy chục nằm về
trƣớc, khi Nghị Hách còn là Cai Hách. Chính cai Hách đã "gắp lửa bỏ tay ngƣời" để đẩy Hải
vân vào tù và chiếm đoạt vợ bạn. Bà Nghị Hách đã trả thù bằng cách ăn nằm với Hải Vân
(nhiều nhân vật trong Giống tố hay trả thù bằng ngoại tình, bằng cái dâm). Hai mƣơi năm
sau, việc bà Nghị Hách ngủ với cung văn, thực ra cũng là một cách trả thù "thằng chồng đã
rắc con đầy thiên hạ". Đỉnh điểm của xung đột giữa hai nhân vật này diễn ra khi Nghị Hách
nhờ Hải Vân giúp, đã bắt quả tang bà Nghị thông dâm với cung văn. Sự kiện này là một tấn
hài kịch nhƣng lại mang "không khí bi kịch". Đây là con lốc cuối cùng làm lật đổ tanh bành
tất cả những gì mà bấy nay Nghị Hách vẫn che đậy, bƣng bít. Bà Nghị trong tình huống là
một "tội dâm" đã đứng ở vị trí quan toa lớn tiếng vạch mặt chỉ trán lên án, kết tội Nghị Hách
và cũng ngang nhiên thừa nhận: "Không bao giờ bà yêu thƣơng gì mày ! bà ăn ở với mày ba
chục năm nay là vì bần cùng ! xƣa kia bà cũng vẫn lừa mày bây giờ mày, mới biết thì mày cứ
việc mà biết !".
115
Trong những mối quan hệ giằng chéo, đan cài của gia đình Nghị Hách, những mâu
thuẫn xung đội chồng chất, và những cuộc loạn luân (có ý thức và không có ý thức: bố hiếp
vợ của con, con thông dâm vợ bố, anh em ruột thông dâm ...) đã cùng với những mối quan
hệ, mâu thuẫn xung đột khác tạo nên một hoàn cảnh đầy căng thẳng, những mầm mông tất
yếu của một cơn Giống tố.
Có thể nói, những xung đột đầy kịch tính trong hoàn cảnh Giống tố không chỉ là
những mâu thuẫn, xung đội giữa những lực lƣợng giai cấp, phe phái, giữa những nhân vật
phản diện và chính diện, giữa kẻ giàu và ngƣời nghèo mà là những xung đội mâu thuẫn ở mọi
cấp độ, mọi mối quan hệ xã hội và quan hệ gia đình. Những mâu thuẫn xung đột ấy khi âm ỉ,
tích tụ, lúc bùng nổ dữ đội. Nó có khi dồn nén ở những tƣ tƣởng hờn căm, những ý định báo
thù (mà chúng tôi đã đề cập tới ở phần trƣớc). Có khi nó bộc lộ qua những lời phẫn uất, rủa
xả. Trong Giống tố đầy rẫy những lời chửi rủa cay độc, ác nghiệt của nhân vật: có khi đó là
lời chửi rủa của vợ với chồng - đó là lời chửi của bà Nghị Hách: "Đồ lường đảo! Quân giết
người ! Đồ lừa thầy phản bạn ! Quân hiếp dâm !"; có khi là lời chửi của chồng với vợ - Nghị
Hách chửi bà Nghị: "Bà vác cái mặt ra đây để cho ngƣời ta nhổ vào mặt đi ! Đồ chó cái ! " ;
ông đồ chửi bà đồ: "Tôi xin con gái già ! Con gái già đừng có thêm điều ..." ; có khi là lời
chửi rủa của cha với con - Ông đồ Uẩn chửi Mịch: "Đồ đĩ dại! Đồ nhà thổ! Đồ chó ! ; có khi
là lời chửi rủa giữa một ngƣời bạn cũ với một ngƣời bạn cũ - Nghị Hách chửi ông già Hải
Vân: "A ! Đồ khấn nạn! Quân chó má" ... thậm chí là những lời chửi rủa cay độc của một
ngƣời yêu với một ngƣời yêu. Đó là những lời chửi của Long vói Mịch: "Đồ khốn nạn! bố
khốn nạn, con khốn nạn ! " ; "Đồ khốn nạn! Một lũ khốn nạn !" ; "Con khốn nan ! mày có lên
đây ngay không ?" ; "Thằng này phụ cô ? Ai phụ ai ? Hở ! con khốn nạn ! Đồ đĩ rạc! Tao làm
gì .... ", "Tại sao lúc nó hỏi thì cô vui mừng nhƣ bắt đƣợc của rồi nhận lời ngay tức khắc ? sao
thế ? sao thế hả đồ chó ?".. và ngƣợc lại, lời chửi của Mịch với Long: "Quân giả dối ! Quân
khốn nạn!
116
đừng mong đeo mặt nạ mà lừa đƣợc tôi đâu ! ")... Những lời chửi rủa tàn nhẫn đó giữa các
nhân vật cùng với những suy nghĩ hờn căm, những khao khát đƣợc trả thù thể hiện cả trong
suy nghĩ, lời nói và việc làm của nhiều nhân vật đã làm cho hoàn canh Giống tố trở nên đầy
kịch tính.
3.2.3. Những mâu thuẫn xung đột trong thế giới nội tâm nhân vật
Trong Giống tố, những xung đột kịch tính không chỉ thể hiện trong mối quan hệ tác
động va chạm giữa cá nhân với hoàn cảnh, giữa cá nhân với cá nhân, giữa lực lƣợng này với
phe phái khác ... mà nhiều khi nó còn thể hiện ngay trong thế giới nội tâm nhân vật. Có thể
nói, trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng đã có nhiều trang viết rất thành công, sâu sắc, biện
chứng về những trăn trở, giằng xé trong thế giới tâm hồn nhân vật. Tiêu biểu là việc thể hiện
những mâu thuẫn xung đột trong thế giới tâm hồn nhân vật Mịch và Long, hai nhân vật chính
- hai hiện thân nạn nhân của hoàn cảnh.
Trƣớc hết, xin dừng ở nhân vật thị Mịch. Ngƣời gái quê nghèo khó, xinh dẹp này
"mƣời tám tuổi đầu cũng vẫn ngây thơ khờ dại nhƣ gái mƣời lăm". Nhƣng hành động bỉ ổi
của Nghị Hách đã tạo nên một bƣớc ngoặt lớn trong cuộc đời của cô thôn nữ ấy. Trƣớc sự
việc đau lòng đó, Mịch đã khóc rất nhiều: "Hai hàng lệ ràn rụa, Mịch sụt sùi, Mịch khóc nức
nở ","Mịch thổn thức hàng giờ". Nỗi đau đớn khiến "Mịch tủi thân, giận đời, chỉ muốn chết
". Từ cái nhìn hồn nhiên, trong sáng về cuộc đời, Mịch "thấy đời là độc ác vô cùng, thấy chị
em bạn gái trong làng là tồi tệ, thấy bố mẹ không đủ sức chống chọi, thấy trời phật là những
đồ thong manh Và Mịch đã tự tử nhƣng mà may đã đƣợc cứu sống. Chính những lời nói và
việc làm cao thƣợng của Long đã níu giữ đƣợc Thị Mịch sống ở đời. Nhƣng cũng lại chính
những hiểu lầm, nghi kỵ của Long cùng với sự sắp đặt của Tú Anh đã đẩy Mịch vào một thế
giới đen tối, để rồi cái cô Mịch ngây thơ khờ dại ngày xƣa đã bị cảnh ngộ mới biến thành một
con ngƣời khác hẳn. Chấp nhận làm vợ Nghị Hách, Mịch luôn phải sống trong những tâm
trạng đầy mâu thuẫn: vừa nhớ nhung, yêu thƣơng, vừa hờn giận, thậm chí căm thù Long. Vừa
có những suy nghĩ, dằn vặt khi
117
thấy mình làm điều gì không phải, dù chỉ trong ý nghĩ, lại vừa luôn có những tƣ tƣởng thấp
hèn, có những phút giây sa đọa về đạo đức dù cũng chỉ là trong thế giới tinh thần, trong
tƣởng tƣợng. Và "sau những phút ghê tởm đáng kinh hoàng ấy, sau khi ma quỉ đã phải chạy
xa, để cho thiên thần đến thắng trận trong lòng ngƣời nhƣ thế, Mịch "không phải là không hối
hận". Trong thế giới nội tâm của Mịch luồn có sự giằng co giữa thiên thần và ác quỉ. Nó tạo
nên một tấm bi kịch tinh thần đau đớn trong tâm hồn ngƣời phụ nữ bất hạnh ấy.
Ở cuối tác phẩm, khi chia tay với Tú Anh bên bờ biển, trƣớc một cơn Giống tố, ông
già Hải Vân có nói với Tú Anh một câu nói đầy ý nghĩa: "... con sợ cơn Giống tố ngoài bể,
thế con không sợ cơn Giống tố ngay trong lòng con bây giờ đó sao ?". Nhƣ vậy, Giống tố
không chỉ là không khí của hoàn cảnh xã hội, mà nó còn là những cơn bão lòng, cơn cuồng
phong dữ đội đang gào thét trong tâm hồn nhân vật. Nó không chí gầm thét trong tâm hồn Tú
Anh mà còn trong thế giới tinh thần của Mịch, của Long ... và nếu nói rộng hơn, cả trong
Nghị Hách, ổng đồ Uẩn ... và một số nhân vật khác nữa. Tất cả những trận Giống tố trong
tâm hồn mỗi nhân vật ấy cũng cộng hưởng và cùng với nhiều yếu tố khác làm nên cơn Giống
tố của cả xã hội. Ở đây, hoàn cảnh đã tác động sâu sắc tới thế giới tâm hồn nhân vật và thế
giới tâm hồn nhân vật đã phản ánh hoàn cảnh.
Trong số các nhân vật của tác phẩm Giống tố, Long là một nhân vật phải chịu nhiều
giằng xé đau đớn trong thế giới tinh thần hơn cả. Các quan hệ xã hội, quan hệ gia đình và
quan hệ tình yêu của nhân vật này đều chứa rất nhiều những yếu tố, tình huống, tâm trạng đầy
mâu thuẫn: căm thù Nghị Hách kẻ đã cƣỡng đoạt ngƣời vợ chƣa cƣới của mình, nhƣng lại
phải làm tôi tớ cho hắn phải đứng ra giàn xếp hậu quả của nó nhƣ một ngƣời ngoài cuộc; kính
trọng biết ơn Tú Anh, ngƣời đã cƣu mang mình, nhƣng lại phải lừa dối Tú Anh yêu thƣơng,
cảm thông với Thị Mịch nhƣng lại nghi ngờ, hiểu lầm để rồi đối xử tệ bạc với Thị Mịch.
Trong cuộc tình duyên vụng trộm với Thị Mịch không phải là Long không có sự dằn vặt
lƣơng tâm vì biết mình đang làm những điều đáng xấu hổ, Chính Long đã nói với Mịch về
điều này: "Tôi thấy rằng cái
118
cuộc ái ân vụng trộm này đã xếp tôi vào hàng những kẻ thất phu, vô học, những kẻ mất nhân
cách, những kẻ vô lương tâm". ... Những xung đột đầy kịch tính trong tâm hồn chàng trai vốn
có nhiều cách và rất trọng nhân cách ấy càng trở nên gay gắt đau đớn hơn khi Long biết Nghị
Hách chính là cha đẻ của mình. Biết đƣợc điều đó cũng có nghĩa là Long phải đối diện với
một sự thật đau lòng, nhục nhã của những cuộc loạn luân có ý thức và không có ý thức. Bởi
vậy vào cái giây phút biết đƣợc sự thật ấy "Long gào thét như hóa điên Tôi ?.tôi mà lại là con
ông Nghị Hách! ồ ! Thế thì quá lắm ! thế thì ra bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của
bố... rồi thì anh em ruột ... anh em ... ruột ...". Đỉnh điểm của những mâu thuẫn, xung đột dữ
dội trong thế giới tâm hồn Long đã diễn ra vào sự kiện cuối cùng của Giống tố. Nỗi đau đớn
nhục nhã và sự dằn vặt của lƣơng tâm đã khiến Long tìm đến cái chết, một cái chết thê thảm,
nhƣ một sự giải thoát. Trận cuồng phong cuối cùng này của cơn Giống tố cuộc đời càng làm
bổi bật hơn sự tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh tới số phận con ngƣời. Trong vòng xoáy
của nó, không chỉ mọi mối quan hệ, ngôi thứ bị đảo lộn mà có khi còn dẫn tới sự hủy diệt.
3.3. Cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền
3.3.1. Cơ chế dâm loạn
Bàn về tác phẩm Vũ Trọng Phụng, ngƣời ta thƣờng nói tới vấn đề cái dâm một vấn đề
nổi bật, xuyên suốt và nhiều khi bị coi là một hạn chế trong tác phẩm của ông. Nhà văn Lan
Khai nhận thấy: " Khi đọc văn phẩm của Vũ Trọng Phụng, ta thấy lúc nhúc một nhân loại đen
tối, ngu xuẩn ích kỉ, tàn nhẫn và dâm loạn một cách vô cùng lố bịch" [195.159]; Vũ Ngọc
Phan nhận xét:" Trong tất cả các văn phẩm của ông, dù là phóng sự hay tiểu thuyết, bao giờ
cũng bị cái ý tƣởng dâm dục ám ảnh" [195. 183]; Nguyễn Đức Đàn nhấn mạnh bản năng tình
dục ảnh hƣởng tới nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng:" Xã hội do Vũ Trọng
Phụng sáng tạo ra là một xã hội trong đó cái thế lực đen tối của bản năng tình dục (tức là cái
mà Frớt gọi là li bi đô) tác động sâu sắc đến số phận của các nhân vật" [195.316] và khẳng
định : "Những
119
ngƣời bênh vực Vũ Trọng Phụng cũng không thể phủ nhận tính chất khiêu dâm ở các tác
phẩm nhƣ Làm đĩ, Cơm thầy cơm cô, Giống tố, Số đỏ ..."[195.322]... có thể thấy rất nhiều ý
kiến đại loại nhƣ thế về vấn đề cái dâm trong văn chƣơng của nhà văn họ Vũ. Ở đây, chúng
tôi chỉ nhìn nhận vấn đề này từ góc độ xem đó như một cơ chế của hoàn cảnh.
Đúng nhƣ một nhà nghiên cứu đã nhận xét: " Thế giới Giống tố là một thế giới trong
đó dâm thần tác phúc, tác họa ghê gớm, một thế giới mà sức mạnh của libiđô có một thế lực
vạn năng" [195,319]. Nhƣng cũng phải thấy rằng, việc thể hiện cái dâm trong các tác phẩm
của Vũ Trọng Phụng nói chung và trong Giống tố nói riêng, suy cho cùng xuất phát từ quan
niệm, cái nhìn của nhà văn về cuộc đời (mà theo chúng tôi, Vũ Trọng Phụng không có ý định
khiêu dâm nhƣ quan niệm của một số ngƣời).
Viết về cái dâm, Vũ Trọng Phụng phản ánh một thực trạng trong thối nát của xã hội
đƣơng thời, khi mà dâm loạn dƣờng nhƣ đã không chỉ còn phạm vi tính cách mà đã trở thành
một cơ chế xã hội. Thiều Quang, trong bài viết Chút ít tài liệu về Vũ Trọng Phụng cho biết
việc Vũ Trọng Phụng viết nhiều về cái dâm xuất phát từ nhiều lí do, một trong những lí do ấy
là sự " com măng" của nhà xuất bản; và vì thế, ông đã nói: " thiên hạ đã muốn ông viết khiêu
dâm thì rồi ông sẽ viết, ông sẽ "lật tẩy "từ trong ruột chúng ra : nó dâm, mẹ nó dâm, vợ nó
dâm, con nó dâm, chúng nó dâm trong nhà, chúng nó dâm ngoài đời, vợ dâm với bạn, bố dâm
với con, con nhân tình chung với mẹ, thầy tớ dâm với chủ nhà, thằng bé chƣa ráo máu đầu
cũng biết dâm trong lòng ngƣời vú em. Dâm tất. Cả một xã hội dâm (chúng tôi nhấn mạnh -
PMH)" [195.231].
Nhƣ vậy trong cái nhìn của nhà văn họ Vũ, xã hội đƣơng thời là xã hội đầy rẫy những
chuyện dâm loạn, cái dâm đã trở thành cơ chế tâm lí, cơ chế xã hội. Cũng trong bài viết trên,
Thiều Quang đã nhận định rất đúng về vấn đề này: " Theo quan niệm của anh (Vũ Trọng
Phụng), quan niệm đúc nên bởi kinh nghiệm cuộc sống trong phạm vi của mình, cái dâm là
bản chất của con
120
ngƣời " trƣởng giả". Trong xã hội trƣởng giả, theo mắt anh, một qui luật tất yếu của họ là cha
dâm đằng cha, con dâm dằng con, vợ dâm đằng vợ, chồng dâm đằng chồng..." [195.249 ].
Quan niệm đó của Vũ Trọng Phụng đã đƣợc phát ngôn" qua lời nói của nhân vật Tú Anh với
Long trong Giống tố: " Hoặc là ông ngồi trong văn phòng, hoặc là ông ra ngoài phố, mắt
ông, tai ông, lúc nào ông cũng chỉ thấy sự dâm đãng đội lốt văn chương mĩ thuật mà thôi.
Văn chƣơng sách vở khiêu dâm, phim ảnh khiêu dâm, nhà hát khiêu dâm, tranh ảnh khiêu
dâm, phòng khiêu vũ, nhà săm, những quân phu xe báo ông đi lấy sự trinh tiết của mọi hạng
phụ nữ bằng năm đồng cũng khiêu dâm, nói tóm lại thì bao nhiêu cái xô đẩy người ta vào
vòng thương luân bại lí ! Ông có thấy rằng chúng ta đang đắm đuối ngập lụt đến cổ vì vũng
lầy dâm đãng đó không?". Nhƣ vậy, rõ ràng cái dâm đã trở thành một nét quán xuyến chủ
đạo ca cái xã hội Giống tố, nó chi phối tới toàn bộ đời sống xã hội và đến tận đời sống của
từng hạt nhân trong xã hội, đó là gia đình - điển hình là gia đình Nghị Hách. Khi Phan Cƣ Đệ
nhận xét trong Giống tố "Cả một bọn ngƣời mê mệt, chìm đắm trong cơn dâm loạn để tìm
những khoái lạc vật chất và cuối cùng chịu những đau khổ do các hành động thú vật ấy gây ra
" [48T2.370] thì có lẽ trƣớc hết là nói tới gia đình " con dê già" với cái "tiếng dâm... đã lừng
lẫy mấy tỉnh" này.
Cơ chế dâm loạn của hoàn cảnh Giống tố biểu hiện ở nhiều yếu tố. Trƣớc hết là ở
những sự kiện, những tình tiết xoay quanh những chuyện dâm ô truy lạc. Tác phẩm mở đầu
bằng một cuộc cƣỡng dâm bẩn thỉu của Nghị Hách với ngƣời gái quê khờ dại ngây thơ là Thị
Mịch, kết thúc tác phẩm cũng là "một cuộc cuồng dâm dữ dội, một bữa dạ yến long trời lở đất
đáng chép vào cuốn sử của khách làng chơi". Giữa hai sự kiện dâm loạn ấy là một loạt các
cuộc loạn dâm khác của các nhân vật: Long thông dâm với Tuyết; Mịch "cho Long ái tình";
vợ Nghị Hách thông dâm với cung văn... Trƣớc những hành vi bẩn thỉu ấy, chính nhân vật
Long đã phải đau đớn, chua chát "gào thét nhƣ hóa
121
điên": "Thế thì quá lắm ! Thế thì quá lắm ! Thì ra, bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ của
bố... rồi thì anh em ruột ... anh em ruột. Nếu ngƣợc thời gian trở về với quá khứ, còn có
những cuộc thông dâm giữa Cai Hách với vợ Khoa Hiền và giữa Khoa Hiền với vợ Cai Hách.
Có thể nói, trong tất cả các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thì Giống tố là một tác phẩm xảy
ra nhiều "dâm sự" nhất. Và nếu nhìn ở cái nhìn tổng thể thì tất cả nhũng "dâm sự" ấy dƣờng
nhƣ đều có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau, nhiều khi sự kiện này ít nhiều là hậu quả
của sự kiện trước (Việc Mịch sau khi lấy Nghị Hách vẫn thông dâm với Long cũng là một
cách trả thù Nghị Hách về cái vụ cƣỡng dâm bỉ ổi; Khoa Hiền thông dâm với vợ Cai Hách
cũng là để trả thù kẻ đã thông dâm với vợ mình; Bà Nghị Hách ngủ với cung văn cũng là hậu
quá của việc sống với mội ngƣời chồng dâm đãng đã từng "rắc con khắp thiên hạ"). Ngƣời ta
đến với cái dâm để thỏa mãn thú tính và có khi dùng ngay cái dâm để trả thù nhau, thông dâm
với ngƣời này có khi là để trả thù kẻ khác. Mà trong guồng quay của cơ chế dâm loạn ấy, kẻ
dâm ô đểu cáng nhất - Nghị Hách cũng là kẻ bị trả thù nhiều nhất (đó là khi Mịch thông dâm
với Long, vợ Nghị Hách ngủ với cung văn, Long thông dâm với Tuyết ...)
Trong guồng quay của cơ chế dâm loạn, các nhân vật trong Giống tố có thể dâm
trong ý nghĩ (trong giờ phút chờ đợi ngƣời tài xế chữa chiếc ô tô hỏng giữa đồng khuya
hoang vắng, Nghị Hách "nghĩ đến những cái má hồng mơn mởn, những cánh tay ngọc ngà
của mấy cô đào tơ Hà Nội"; trong những ngày xuống cảng Hải Phòng gặp bà cả của Nghị
Hách để đàm phán về việc lấy vợ lẽ cho ông chủ, "dù không muốn cũng không đƣợc, những
cảnh ân ái với Loan hoặc Tuyết lại bất thần đến chiếm chỗ trong sự mơ màng của Long"- nhớ
lại cái giây phút bị Nghị Hách cƣỡng bức nên xe hơi, có lúc "con vật đã nổi dậy trong lòng cô
gái quê mập mạp, trẻ trung, đƣơng thì ... Mịch nhớ lại lúc ấy một cách say sƣa nhƣ ngƣời háu
đói vậy"... ). Cũng có khi cái dâm biểu hiện trong hành động, cử chỉ (Trong nhà Nghị Hách
"nếu chủ nhân ở nhà thì dù sao
122
cũng phải có sẵn đàn bà để chủ nhân ông sai bảo việc vặt, hoặc ngứa mồm thì hôn một cái,
ngứa tay thì sờ soạng một cái, cấu véo một cái"; những ngày đầu làm vợ Nghị Hách, khi
Long tìm đến, Thị Mịch đã "mở cổng cho Long bằng sự hấp tấp của một con dâm phụ" và
"sáng chủ nhật hôm ấy... y nhƣ một con dâm phụ, Mịch đã cho Long ái tình" ... và còn nhiều
vụ xì - căng - đan khác xoay quanh những vụ loạn luân của gia đình Nghị Hách). Những sự
kiện - tinh thần và những sự kiện - hành động về cái dâm ấy là biểu hiện cơ chế dâm loạn
của hoàn cảnh. Nó không chỉ biểu hiện ở bản chất mỗi tính cách, ở mối quan hệ giữa các
nhân vật, ở trong phạm vi một gia đình, phạm vi xã hội mà còn biểu hiện ở những yếu tố môi
trƣờng. Trong xã hội Giống tố ngƣời ta không chỉ thấy những sự kiện về cái dâm mà thấy cả
những tình tiết, những hình ảnh biểu hiện không khí của cái dâm. Có thể thay không khí ấy ở
trong các nhà săm, điển hình là "tại nhà một ả danh ca ở xóm Khâm Thiên", mà ở đó là đã
diễn ra"một cuộc cuồng dâm dữ dội" vào buổi tối mùa hạ khép lại tấn bi kịch Giống tố. Tại
đây hiện lên "một thị trƣờng hỗn loạn có đủ các cảnh ngộ, đủ các trạng huống của bọn nô lệ
dục tình, từ cao đẳng đến hạ đẳng tất cả "nhào lộn quay cuồng trong một dịp cuồng khấu" khi
"dâm thần đã điểm giờ khai chiến". Không khí ấy còn thể hiện ở cả những tiệm hút, nơi
ngƣời ta đến với mục đích chính là thoả cơn nghiện với nàng tiên nâu (ở đây "bốn mặt tƣờng
đều có vẽ hình đen những mĩ nữ khỏa thân"). Thậm chí nó còn tràn cả vào buồng ngủ của vợ
chồng (lần đầu tiên bƣớc vào buồng ngủ nhà Nghị Hách trong đêm tân hôn, nhìn lên tƣờng
Thị Mịch thấy "mấy bức vẽ đàn bà trần truồng trông đến lạ". Ngƣời gái quê ấy băn khoăn
"không biết ai lại đi treo nhƣ thế, và treo nhƣ thế để làm gì"). Còn có thể thấy nhiều chi tiết
về cái dâm nhƣ thế trong Giống tố. Đó là "bộ đùi thôn nữ trắng nõn, phốp pháp "của Thị
Mịch trong cái nhìn đa dâm của Nghị Hách; là hình ảnh "hai ngƣời thiếu nữ trẻ tuổi cực đẹp,
quần áo mỏng dính trông nhƣ lõa lồ ... "trong đêm Nghị Hách tiếp ông già Hải Vân; là chi tiết
Thị Mịch "áo ngắn quần trong" ra tiếp chuyện Long tại phòng khách; là hình ảnh vợ Nghị
Mách "hạ thể lõa lồ" nằm ôm cung
123
văn ngủ say mê mệt...". Môi trƣờng Giống tố là môi trƣờng của sự dâm loạn. Đúng nhƣ
Trƣơng Chính nhận xét: "Trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng chú ý tả khía cạnh dâm loạn của
con ngƣời nhiều hơn cả, khi tả ông lại tả trần truồng tỷ mỉ (...) có thế nào tả thế ấy, với định
kiến xã hội tư sản là xã hội loạn dâm" [190.154].
Chúng tôi còn muốn nhấn mạnh thêm một điều mà mặc dù đã bàn nhiều về cái dâm
trong tác phẩm Vũ Trong Phụng, ngƣời ta lại chƣa chú ý tới; cái dâm đƣợc Vũ Trọng Phụng
phản ánh, biểu hiện thƣờng ở mức độ đỉnh điểm, nó phải là "cuồng khấu", "cuồng dâm",
"dâm thần" và đặc biệt vì cái dâm đó nhiều nhân vật có thể làm tất cả, bất chấp đạo lý. Ở đây,
chúng tôi không chỉ nói tới Nghị Hách bởi vì ai cũng rất rõ sự bỉ ổi bất nhân, dâm ác của "con
quỷ dâm dục" này. Chúng tôi muốn nói tới những nhân vật mà gốc rễ có bản chất là những
con ngƣời hiền lành, lƣơng thiện, tử tế. Cơ chế dâm loạn cuốn vào cơn lốc loạn dâm của nó
cả những, con ngƣời ấy, khiến họ bất chấp đạo lý. Vì nó mà Mịch đã sẵn sàng "cho Long ái
tình mà không nghĩ đến cái thai trong bụng" ở đậy tình mẫu tử đã bị giết chết. Vì nó, Long đã
"không ngăn nổi dục tình ... mà đến chỗ loạn luân lần thứ nhì vào tối tân hôn" ... Và còn biết
bao kẻ khác bị cuốn vào vòng xoáy của cơ chế ấy.
Bàn về tác phẩm Vũ Trọng Phụng, nhà văn Nguyễn Tuân có viết: "Nói chung về tác
phẩm Vũ Trọng Phụng và cả con ngƣời tác giả, lúc sinh thời và cả sau lúc nằm xuống để
đƣờng hoàng đi vào cõi bất diệt của văn xuôi Việt Nam, rất nhiều ngƣời đọc hay bận tâm về
cái khía dâm trong bất cứ trƣớc tác nào của Vũ Trọng Phụng. Bận tâm đến cái mức độ ngộ
nhận những văn phẩm có chân giá của hiện thực phê phán kia đó là những dâm thƣ. Những
đoạn gọi là dâm ấy mà có vì sự cần thiết của cơ cấu một chuyện dựng thì đấy cũng là những
hiện tƣợng" [242. 226]. Có thể nói, trong nhận định trên, Nguyễn Tuân đã thấy đƣợc dụng ý
nghệ thuật (và sau đó là ý đồ tƣ tƣởng) của Vũ Trọng Phụng trong việc thể hiện cái dâm. Nó
là một yếu tố thuộc cấu trúc hoàn cảnh và suy cho cùng, nó thể hiện quan niệm nghệ thuật về
hoàn cảnh của tác giả
124
3.3.2. Cơ chế vạn năng của đồng tiền
Nói về uy lực của đồng tiền trong xã hội đƣơng thời, ngay từ năm 1931, trong vở kịch
và cũng là tác phẩm đầu tay Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng dã mƣợn lời của một
nhân vật: "Bây giờ ấy à ? chỉ có đồng tiền là Giời là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì
nó sai khiến đƣợc mọi thứ, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống dƣợc. Lƣơng tâm à? còn
thua đồng tiền. Luật pháp à ? còn kém đồng tiền. Chỉ có đồng tiền là ai cũng phái kính thờ,
chỉ những cách xoay tiền là đáng cho ngƣời ta tụng niệm".
Đến tác phẩm Giống tố, Vũ Trọng Phụng lại tiếp tục khẳng định uy lực tuyệt đối của
đồng tiền. Trong xã hội Giống tố, đồng tiền trở thành đấng tối cao có thể sai khiến chỉ đạo
mọi hoạt động của các nhân vật. Nó có thể làm đổi trắng thay đen, đảo ngƣợc mọi tình thế,
sắp xếp ngôi thứ, quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Nó nhƣ một nhân vật vô hình có bàn
tay mầu nhiệm đƣa đẩy số phận, vị thế của các nhật vật tới những kết cục khôn lƣờng. Giống
tố cho thấy hình ảnh một xã hội bị chi phối, bị cuốn vào guồng quay sức mạnh của đồng tiền.
Nguyễn Hoành Khung nhận định: "Bức tranh xã hội rộng lớn ở Giống tố, cái xã hội không có
chút công lý nào, cái ác và đồng tiền thống trị nhƣ một uy lực tuyệt đối, số phận ngƣời nghèo
bị nghiền nát trong các guồng máy quay cuồng đảo điên chóng mật không gì thoát ra
đƣợc"[194 - 44].
Có một điều dễ nhận thấy là hầu hết các nhân vật trong Giống tố, từ kẻ giàu tới ngƣời
nghèo, từ giới quan trƣờng tới tầng lớp bình dân đều ý thức rất rõ về vai trò sức mạnh của
đồng tiền. Đặc biệt, những kẻ có đồng tiền trong tay nhiều khi ngang nhiên, trắng trợn khẳng
định uy quyền tuyệt đối của nó: đồng tiền có thể mua đƣợc cả cuộc đời ngƣời phụ nữ (lời
Nghị Hách nói với Long: "Mày có biết những nàng hầu của tao ở đây đáng giá bao nhiêu một
thị không? cái đứa đẹp nhất tao cũng chỉ mua của bố mẹ nó có bẩy chục. Còn phần nhiều
không mất xu nào") ; đồng tiền có thể mua đƣợc phẩm tiết của ngƣời con gái (khi Tú Anh
buộc Nghị Hách phải lấy Thị Mịch sau vụ cƣỡng dâm Nghị Hách trả lời ráo hoảnh: "Ô hay !
sao mày dở hơi thế ? Thì tao mua con bé ấy làm hầu là cùng chứ gì?"); đồng tiền có thể mua
đƣợc vị thần công
125
lý, chuyển bại thành thắng, biến gian thành ngay, nạn nhân thành thủ phạm, và thủ phạm
thành quan tòa. Trong vụ kiện của gia đình Thị Mịch và dân làng Quỳnh Thôn với Nghị
Hách, mọi chứng cứ, nhân chứng đều rõ ràng đầy đủ, thế nhƣng ngƣời ta vẫn còn lo sợ bởi
sức mạnh của kim tiền trong tay Nghị Hách (Lời của ông Lý với ông đồ Uẩn: "... bạc nhà nó
cứ gọi là gà ăn không hết, vậy ông có đủ tiền chọi nhau với nó không?"). Viên tri huyện, kẻ
đứng về Nghị Hách trong vụ kiện ấy cũng dọa dẫm: "chúng mày chống án lên Hà Nội thì
càng khó lòng mà được kiện vì người ta giàu có lắm, chúng mày không bán nghiệp mà theo
kiện đƣợc"). Còn Nghị Hách thì trắng trợn khẳng định sức mạnh đảo lộn luật pháp của đồng
tiền: "Bẩm quan lớn nén bạc đâm toạc tờ giấy, ngài nên bảo nguyên đơn giải hòa" và tuyên
bố: "... chúng tôi không thua cái kiện này đâu ....chúng tôi chỉ hơi phiền lòng mà thôi, chứ
thua thì không có thể". Ngay cả Tú Anh, ngƣời hiểu rất rõ hành động bỉ ổi của Nghị Hách,
đứng về phía nạn nhân của cuộc cƣỡng dâm bẩn thỉu, cũng nói với ông đồ Uẩn: "Nếu cụ
muốn viện cớ tôi về đây mà lại kiện tụng nữa thì tôi xin nói trƣớc là không khi nào cụ được
kiện"... Nhƣ vậy, quả thực, đồng tiền đã khuynh đảo cả cán cân công lý. Vụ án ấy không có
lời kết nhƣng ngƣời ta thừa hiểu rằng, nếu nó còn đƣợc tiếp tục, phần thắng sẽ thuộc về bị
cáo - Nghị Hách sẽ trắng án và kẻ chịu hình phạt sẽ chính là gia đình ông đồ Uẩn cùng dân
làng Quỳnh Thôn. Và trong thực tế, với đồng tiền trong tay, Nghị Hách đã đem đến cho gia
đình Thị Mịch và dân làng Quỳnh Thôn những tai họa. Họ bị biến thành những kẻ vi phạm
pháp luật và phải đứng trƣớc vành móng ngựa. Ông đồ Uẩn bị dọa tống giam vì "dám dạy 6
đứa trẻ mà không xin phép mở trƣờng" (!) ; chức dịch làng Quỳnh Thôn thì bị đe dọa tống
giam vì tội có truyền đơn, cờ đỏ trnong làng ...
Trong xã hội Giống tố đồng tiền không chỉ có khả năng màu nhiệm là "rửa tội "mà
nó còn cỏ khả năng "rửa nhục", "rửa hờn". Chính Tú Anh đã nói với Thị Mịch: "Cô muốn
rửa nhục cho cha mẹ, cho mình, rửa nhục với làng nƣớc, thì chỉ có cách lấy lẽ bố tôi thôi".
"Lấy lẽ bố tôi" nghĩa là làm vợ Nghị Hách, là giàu có, là có tiền bạc. Trƣớc sự khinh miệt,
đàm tiếu của dân làng
126
Quỳnh Thôn đối với gia đình ông đồ Uẩn, Tú Anh đã nói với Long: "Tôi căm giận hộ ông đồ
Uẩn ! Cô Mịch phải lấy chồng giầu để rửa hờn. Nhƣ vậy, cũng nhƣ nhiều nhân vật khác
trong Giống tố, Tú Anh cũng ý thức rất sâu sắc về vai trò sức mạnh uy thế của đồng tiền
trong xã hội. Nó không chỉ có thể đổi trắng thay đen, hóa gian thành ngay mà còn có thể biến
nhục thành vinh.
Và trong cái xã hội Giống tố ấy, uy lực vạn năng của đồng tiền còn biểu hiện ở chỗ
nó có thể trở thành cái bàn đạp để ngƣời ta bƣớc lên bậc thang danh vọng (nó giúp Nghị Hách
tranh ghế nghị trƣởng) ; nó có thể bịt mồm dƣ luận (lời ngƣời Tây với Nghị Hách: "Những
đứa nào chê ông là vô học thì ông sẽ lấy giấy bạc dán vào mồm nó cho nó câm đi ! ") ; nó
cũng có thể làm câm họng các cơ quan ngôn luận (vẫn lời ngƣời Tây "Còn báo chí thì sợ gì ?
Ông chỉ việc ký vào các ngân phiếu cho mấy thằng chủ báo!"). Trong xã hội Giống tố đồng
tiền tác động mạnh mẽ tới tâm lý con ngƣời, khiến ngƣời ta kinh sợ nó, phục tùng nó. Nó vừa
là vô hình vừa là hữu hình. Nó có mặt ở nhiều tình tiết quan trọng trong tác phẩm, hoặc trực
tiếp, hoặc gián tiếp. Nhiều hành động, bƣớc ngoặt số phận của các nhân vật ít nhiều đều liên
quan tới nó và không thoát khỏi bàn tay có uy lực tuyệt đối của nó. Nhiều nhân vật dùng nó
để thực hiện mục đích của mình hoặc vì nó mà các nhân vật khác phải khổ sở điêu đứng. Cơ
chế vạn năng của đồng tiền đã trở thành một yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh
trong tác phẩm Giống tố.
3.4. Không khí điên loạn, bão giông
Có nhà nghiên cứu đã phát biểu: "Đọc Giống tố phải cảm nhận cái không khí chung,
cái âm hƣởng chung, cái linh hồn chung của thế giới hình tƣợng của cuốn tiểu thuyết. Ấy là
một xã hội quay cuồng đảo điên đến chóng mặt, biết bao tình huống trớ trêu, biết bao cuộc
đời lên voi xuống chó, ông hóa ra thằng, thằng hoa ra ông, khổ trở nên sƣớng, sƣớng hoa ra
khổ, tất cả diễn ra trong tiếng cƣời, tiếng khóc, tiếng chửi bới, rên la, có khi lại vừa cƣời, vừa
khóc, tạo nên những tấn bi hài kịch về cái sự vô nghĩa lý, về cái "chó đểu" của cuộc
đời"[196.262]. Trong ý kiến này, nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh tới
127
"không khí chung, âm hƣởng chung" của Giống tố, nghĩa là cũng đã chú ý tới một yếu tố
thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh tác phẩm. Vậy những yếu tố nào tạo nên không khí
điên loạn bão giông ấy ?
Cần phải thấy rằng, không khí của Giống tố cũng toát lên từ các yếu tố thuộc cấu trúc
của hoàn cảnh. Nhƣng đồng thời nó cũng còn toát lên từ nhiều hộ thống tín hiệu nghệ thuật
khác.
3.4.1. Trƣớc hết, là hệ thống những tình huống, cảnh ngộ đầy kịch tính. Nói rõ hơn,
trong diễn biến cốt truyện Giống tố xuất hiện rất nhiều những tình huống đầy kịch tính.
Những tình huống ấy đều có thể chuyển thể thành những lớp kịch thú vị, hấp dẫn bởi nó chứa
đầy những yếu tố bất ngờ, những xung đột va chạm nhiều khi nảy lửa giữa các nhân vật
(những tình huống kiểu này rất ít thấy trong tác phẩm Nam Cao). Xin lấy ví dụ một số tình
huống giàu kịch tính nhƣ thế: tình huống xuất hiện đầu tiên, mở màn cho một loạt sự kiện,
một loạt những mâu thuẫn, xung đột trong tác phẩm là tình huống Nghị Hách dụ Thị Mịch
lên xe để thực hiện ý đồ bẩn thỉu. Việc làm xấu xa đê tiện của Nghị Hách diễn ra trong khung
cảnh làng quê giữa đêm trăng yên bình mà chỉ cách đó không xa là những ngƣời nông dân và
ngay cạnh đó là hai tài xế. Sự kiện này đã bắt dầu hé mở về một thực trạng xã hội điên loạn
và nó cũng sẽ dẫn tới một loạt những tình huống đầy kịch tính sau đó: tình huống Mịch tự tử
trong nhà thƣơng rồi đƣợc cứu sống ; tình huống Nghị Hách đến tri huyên Cúc Lâm tìm cách
hối lộ để chạy tội và bị chối từ thẳng cánh ; tình huống Long đến gặp Thị Mịch ở nhà Nghị
Hách, xảy ra xung đột gay gắt rồi sự hiểu lầm đƣợc giải tỏa ; tình huống Mịch đang "áo ngắn
quần trong" tiếp Long tại nhà riêng thì Tú Anh bất chợt xuất hiện ; tình huống Nghị Hách bắt
quả tang vợ đang ngủ với cung văn, một cuộc xung đột, gay gắt, dữ dội nổ ra, mọi bí mật của
quá khứ bị lôi ra ánh sáng ... và còn nhiều tình huống khác. Tất cả những tình huống ấy đều
chứa đầy những mâu thuẫn, xung đột, bất ngờ và luôn không kém phần căng thẳng, gay gắt,
bởi vậy nó có tác dụng rất lớn trong việc tạo dựng không khí cho hoàn cảnh và lôi cuốn hấp
dẫn ngƣời đọc giúp ngƣời đọc cảm nhận đƣợc cái không khí xã hội đã đƣợc thể hiện, chuyển
hóa thành không khí nghệ thuật trong tác phẩm.
128
3.4.2. Nhịp điệu của tác phẩm Giống tố cũng là một yếu tố quan trọng góp phần tạo
không khí cho hoàn cảnh. Nếu nhƣ, nhịp điệu trong nhiều tác phẩm của Nam Cao là nhịp
điệu dàn trải, trì trệ, ngƣng đọng thì nhịp điệu trong Giống tố lại là một nhịp điệu dồn dập,
hối hả, điên loạn. Nhịp điệu ấy đƣợc tạo nên bởi sự xuất hiện liên tiếp của những tình huống,
cánh ngộ bất ngờ. Trong diễn biến cốt truyện Giống tố, luôn xuất hiện những đột biến, những
tình thế chuyển xoay mà ngƣời ta không thể lƣờng trƣớc, sự kiện này chƣa xong, sự kiện
khác dã tiếp nối, dồn dập, hối hả. Điều này thể hiện ở việc xuất hiện rất nhiều những cụm từ
biểu thị những hành động sự việc diễn ra liên tiếp hoặc song hành: vừa lúc này,giữa lúc ấy,
giữa cái lúc, ngay lúc đó, ngay lúc ấy ...("vừa lúc này thấy viên cai lệ từ ngoài ..." ; "Giữa lúc
ấy trong phòng vẫn là sự im lặng"; "giữa cái lúc bi thƣơng ..." ; "ngay lúc đó một thằng bé
len lót bƣớc vào" ; " ngay lúc ấy có ba tiếng gõ cửa..."...). Trong những tình huống, những
cảnh ngộ đầy yếu tố bất ngờ ấy, số phận vị thế của các nhân vật bị cuốn vào một nhịp điệu
quay cuồng trong một cơn Giống tố và dẫn tới những kết cục khôn lƣờng. Nó biểu hiện qua
những cảnh huống đầy những bỗng, chợt, thốt nhiên, chợt thấy, hốt nhiên, bất ngờ .... ("xe
đƣơng phăng phăng chạy ... bỗng dần dần rồi chậm hẳn " - Chính cái "bỗng" tình cờ, ngẫu
nhiên xảy ra trên đƣờng này sẽ dẫn tới một tình huống mở đầu cho một loạt tình huống bất
ngờ khác trong suốt chiều dài thiên truyện ; "chợt có ba tiếng gõ khẽ vào cửa" ; "thốt nhiên,
cả gia đình đã mất sinh kể" ; "bất ngờ, một bàn tay để vào vai Long"...) những từ, cụm từ ấy
cũng ít thấy xuất hiện trong các tác phẩm Nam Cao. Nhân vật của Nam Cao ít bị đẩy vào
những tình huống với những bất ngờ để rồi dẫn tới những đột biến khôn lƣờng nhƣ thế.
Nhiều khi trƣớc những sự việc, sự kiện bất ngờ, điên đảo đó của cuộc đời, các nhân
vật trong Giống tố không thể lý giải nổi, không thể hiểu nổi, vì họ không bao giờ có thể
tƣởng tƣợng đƣợc những sự việc, những câu chuyện, những tình huống đảo điên đến chóng
mặt đó lại có thể xảy ra. Bởi vậy trong
129
Giống tố cũng rất nhiều lần các nhân vật, hoặc trong lời nói, hoặc trong suy nghĩ, đã thể hiện
điều đó (ông đồ Uẩn: "Ông không hiểu nổi sự phẫn uất của con gái ông" ; một nhân vật vô
danh: "Mình không thể tưởng tượng được lại có hạng ngƣời dã man đến thế !" ; Thị
Mịch:"Không bao giờ Mịch lại tưởng tượng rằng lại có thể có một người bằng tuổi bố mình
....mà lại lừa mình để làm một việc xấu hổ trong các xe tu bin, lúc đó ngƣời ở đằng trƣớc và ở
đằng sau xe nữa!"; Long: "Trời ơi ! không ngờ cơ sự lại xoay ra như thế ! thật không ngờ " ...
và trƣớc những bất ngờ liên tiếp trong tình huống bi hài kịch -Nghị Hách bắt quả tang vợ ngủ
với cung văn, tất cả những ngƣời có mặt ở đó đều "không ai dám ngờ rằng sự tình đã đến thế
!".
Những thay đổi đột biến, bất ngờ liên tiếp trong cuộc đời, nhiều khi còn khiến cho các
nhân vật có cảm tƣởng nhƣ đang sống trong một giấc mộng, nghĩa là họ không tin đƣợc rằng,
những gì đã và đang xảy ra trƣớc mắt mình là hiện thực. Từ địa vị một cô thôn nữ nghèo khó,
trải qua những đƣa đẩy thăng trầm của số phận, Thị Mịch trở thành vợ lẽ một kẻ giàu có khét
tiếng miền trung thổ, đƣợc sống trong vinh hoa phú quý "Mịch bàng hoàng ngơ ngác ... như
vừa tỉnh một giấc mộng" và tự nhủ "thật là một giấc mộng". Cũng trƣớc những thay đối, biến
thiên, dồn dập, liên tiếp không thể lƣờng trƣớc của cuộc đời, từ chỗ là ngƣời chồng sắp cƣới
của Thị Mịch, vậy mà chỉ sau bốn tháng, Thị Mịch lại đã làm vợ Nghị Hách, Tuyết lại trở
thành vợ sắp cƣới của mình, nhân vật Long cũng cảm thấy "sự đời y như giấc mộng". Và
nhân vật Tú Anh, trƣớc nhịp đời điên loạn, đầy những biến đổi khôn lƣờng cũng " thấy như
mình đương bàng hoàng sống trong một giấc mộng say sưa".
Toàn bộ diễn biến cốt truyện Giống tố chỉ trong vòng chƣa đầy một năm (từ một đêm
rằm tháng 10.1932 đến một đêm mùa hạ 1933 - nghĩa là cùng lắm chỉ khoảng bảy, tám
tháng). Thế nhƣng trong khoảng thời gian chƣa đầy một năm ấy, biết bao sự kiện, cảnh huống
đã diễn ra. Những cảnh huống ấy nhiều khi ngoài sức tƣởng tƣợng của ngƣời trong cuộc, bởi
vậy các nhân vật
130
trong Giống tố đã rất nhiều lần phải ngạc nhiên, kinh ngạc. Sự ngạc nhiên ấy khiến họ nhiều
khi phải "ngẩn người ra" ("đáp xong bà đồ ngẩn người ra nhìn con rể, miệng tròn như một
chữ O"; "Quan tổng đốc ngẩn người ra hồi lâu rồi dịu giọng" ; "Trƣớc luận điệu bất ngờ ấy
Long đứng ngẩn mặt ra" ; "Tú Anh ngẩn người ra nấc lên mấy cái phải tựa lƣng vào tƣờng
cho khỏi ngã" ; "Sau cùng thì Nghị Hách đứng ngẩn người ra"). Có khi, sự ngạc nhiên khiến
họ phải "ngơ ngác " hoặc "ngây người ra" ("bà Nghị ngơ ngác nhìn Hải vân một cách kinh
hãi"', "Ba người ngơ ngác lần lƣợt nhìn nhau" ; "Nghị Hách ngơ ngác nhìn lên" ; "Chị em
ngơ ngác nhìn nhau" ; "Tú Anh thấy quang cảnh nhƣ thế cũng đứng ngây ra" ; "Mịch vẫn
ngây ra, vì không hiểu hai bên nói với nhau những gì "). Những bất ngờ đến phi lý của cuộc
đời nhiều khi khiến các nhân vật phải đến đỉnh cao của sự ngạc nhiên, đến tột cùng của sự
kinh ngạc, ngạc nhiên đến "bùng hoàng" ("Mịch bàng hoàng ngơ ngác nhìn quanh nhƣ vừa
tỉnh một giấc mộng" ; "Long bàng hoàng thấy rằng những sự bất ngờ, những điều không ai
lƣơng lƣợng là sẽ xảy ra đƣợc, thì vẫn cứ xảy ra luôn luôn, trái hẳn với ý nghĩ của thiên hạ" ;
"cử toa kinh hoàng cả lên vì ngạc nhiên vì sợ sệt"), ngạc nhiên đến mức tƣởng mình đang mê
ngủ ("hai ngƣời đàn bà đứng ngẩn ngƣời ra như những người ngủ mê mà chợt tỉnh giấc" ;
"Anh cung văn bỏ cái bình phong ngó đầu nhìn theo tưởng mình mê ngủ" ; "Long không biết
rằng cuộc đời còn có là cuộc đời hay là Long đã ngủ mê"). Sự ngạc nhiên đến tột độ của các
nhân vật trƣớc những biến cố dồn dập, bất thƣờng của cuộc đời biểu hiện ở chỗ đã ngạc nhiên
thì phải là "ngạc nhiên hết sức" ("chàng kinh ngạc hết sức phải đứng hẳn lại" ; "Ông già ....
ngạc nhiên hết sức không nhớ đến cảm ơn nữa" ; "Long ngạc nhiên hết sức không biết ông
già này là ngƣời thế nào " ) "sự thay đổi tâm tính của Mịch khiến Long phải ngạc nhiên một
cách kinh khủng cho đến bây giờ"); hoặc ngạc nhiên đến "trố mắt", "trợn mắt" "trừng mắt"
("Long trố mắt nhìn vì lúc ấy Long lại cũng hồi hộp, tƣởng nhƣ đó là một con yêu tinh nào
hiện lên làm Mịch chăng" ; "Long nhìn
131
Mịch trừng trừng. Sự nghi ngờ trong lòng bỗng nổi dậy lên" ; "Nghị Hách còn đƣơng trố mắt
ngạc nhiên thì bỗng Tú Anh ngã lăn đánh huỵch xuống sàn" ;"Bà đồ trợn ngược mắt lên thất
thanh hô" ; "ông đồ trợn mắt lên kỉnh hãi" ; "Ngƣời Tây trợn tròn hai mắt" ...). Trong Giống
tố, những cụm lừ "ngẩn người ra", "sửng sốt lắm", "trố mắt nhìn" , "rất ngạc nhiên", "ngạc
nhiên hết sức", "bàng hoàng thấy", "đứng ngây ra" , "ngơ ngác nhìn", "trố mắt ngạc nhiên",
"kinh hoàng cả lên", "rất đỗi kinh ngạc" ... xuất hiện khá nhiều. Có thể nói hầu hết các nhân
vật từ chính diện tới phản diện, từ nhân vật tĩnh đến nhân vật động đều có những lúc rơi vào
tâm trạng ấy. Những tâm trạng thái độ ấy là kết quả tác động của tình huống, của hoàn cảnh,
bởi vậy nó cũng là yếu thể hiện hoàn cảnh, một hoàn cảnh luôn có những biến cố dồn dập,
phi thƣờng khiến con ngƣời luôn bị bất ngờ, choáng váng.
Không khí điên loạn đầy bão giông của hoàn cảnh Giống tố đã cuốn các nhân vật vào
cơn lốc cuồng xoay của cuộc đời. Số phận các nhân vật luôn vận động biến đổi với tốc độ
chóng mặt. Và hình nhƣ trong cơn cuồng phong dữ dội đó của cuộc đời, các nhân vật ít tĩnh
tại, đứng yên mà luôn va đập, di chuyển với tốc độ rất nhanh. Các nhân vật ít có những bƣớc
đi thong thả, ít có những trạng thái ung dung, mà nhiều khi đi lại thoăn thoắt nhƣ mắc cửi
trên bàn cờ của số mệnh cuộc đời. Có khi nhân vật đi hoặc chạy rất nhanh nhƣ một bản năng
("Nghị Hách chƣa kịp nói gì thì một bác lính đã chạy tọt vào") ; có khi để rƣợt đuổi ("Long
chạy xộc xuống bếp"- để tìm Mịch) ; có khi để chạy trốn ("Mịch cũng vội đứng lên mới kịp
chạy tại vào gian buồng bên"; "Mịch bƣng mặt chạy tọt xuống bếp"); có khi để kịp giấu một
việc làm ám muội ("lúc Nghị Hách vào đến phòng khách thì vừa thủy cụ lớn bà vội ngồi dậy
tay cầm một cái tráp mà chạy lọt vào nhà trong" ) ; có khi để đƣa một tin sốt dẻo ("giữa lúc
ấy một thằng bé chạy xồng xộc vào giữa nhà ...") ; có khi để thực hiện một nhiệm vụ cần kíp
của ông chủ ("Thằng nhỏ cầm tiền cắm cổ chạy đi"). Ngay cả một ngƣời mực thƣớc, từ tốn
nhƣ Tú Anh cũng đi với những
132
bƣớc đi nhƣ thế ("Đứa ở chƣa kịp chạy ra, Tú Anh đã thoăn thoắt bước vào").Thậm chí,
ngƣời ta còn đi vào nơi tôn nghiêm, công đƣờng cũng bằng những bƣớc đi vội vã ("Nghị
Hách cứ xồng xộc chạy thẳng vào huyện đường"). Ngay cả trong đêm tân hôn, Nghị Hách
cũng bỏ lại ngƣời vợ mới cƣới của mình với những bƣớc đi nhƣ trốn chạy nhƣ thế ("Thế là
Nghị Hách, không ân cần đƣợc nửa lời lại tất cả xuống thang"). Cùng những bƣớc đi trốn
chạy, mà ở đây là trốn chạy sự thật cay đắng, là bƣớc đi của Long từ làng Quỳnh Thôn về
tỉnh ("Tức khắc, Long quay ra cắm đầu cắm cổ" ; "Long cắm cổ khỏi làng"). Thị Mịch cũng
đã đón Long, đón ngƣời tình cũ bằng những bƣớc chân nhƣ bay ("Mịch thoăn thoắt xuống
mở cổng cho Long") ... Trong lời giới thiệu tuyển tập Vũ Trọng Phụng, bàn về Giống tố, Số
đỏ, Vỡ đê, Nguyễn Đăng Mạnh viết: "Trong cái không khí xã hội đầy biến động ấy, số phận
mỗi nhân vật tất nhiên cũng không thể yên tĩnh đƣợc. Nhân loại trong tác phẩm Vũ Trọng
Phụng là một thứ nhân loại ồn ào, nhốn nháo, hoạt động quyết liệt... ". Trạng thái không yên
tĩnh của các số phận nhân vật Vũ Trọng Phụng, phải chăng còn bộc lộ qua cả những bƣớc đi
lúc nào cũng hối hả tất bật ấy ? Điều có thể thấy rất rõ là những bƣớc đi với tốc độ quen
thuộc ấy đã góp phần làm nổi bật cái nhịp điệu hối há, dồn dập, điên đảo của hoàn cảnh - âm
vang không khí nhịp điệu của xã hội đƣơng thời.
Nhịp điệu hối hả dồn dập đó có khi còn toát lên từ những chi tiết tƣởng nhƣ là ngẫu
nhiên trong tác phẩm.. Trong Giống tố có một số lần xuất hiện hình ảnh chiếc ô tô trên
đƣờng trƣờng và lần nào nó cũng đƣợc chạy với tốc độ cao. Mở đầu tác phẩm là cảnh một
đêm khuya tĩnh mịch, trăng to tròn chiếu vằng vặc và trên con đƣờng quan lộ chiếc ô tô của
Nghị Hách "đƣơng phăng phăng chạy hết tốc lực, thân xe chỉ là một cái chấm đen bóng, còn
hai ngọn đèn sáng quắc; chiếu dài hàng nửa cây số thì như hai cái tên bay vun vút dƣới ánh
trăng". Cũng vẫn chiếc xe ấy dƣới cái lệnh "mở hết máy" của Nghị Hách, để chạy trốn, đã
nhằm vào ngƣời trƣơng tuần "mà đâm thẳng, theo cái tốc lực
133
sáu mươi cây số một giờ". Chiếc xe chở Nghị Hách từ Hà Nội xuống Hải Phòng để giải thoát
cho bà Nghị đang bị "bắt cóc" cũng "phóng nước đại ... theo đà một giờ một trăm hai mươi
cây". Ngày Tú Anh tiễn ông già Hải Vân tiếp tục ra nƣớc ngoài hoạt động bí mật cũng "ngồi
bên trong cái xe hơi hòm vun vút nuốt đường và "trong quãng đƣờng dài từ Hà Nội qua Hải
Phong, rồi đi thẳng về mạn Móng Cái, đà xe cứ thay từ 60 đến 100 cây số mỗi giờ".
3.4.3. Nói về không khí của hoàn cảnh trong Giống tố có lẽ không thể không nói tới
bức tranh thiên nhiên đƣợc nhà văn miêu tả trong tác phẩm. Nếu nhƣ trong Số đỏ ta thấy hầu
nhƣ vắng bóng thiên nhiên thì trong Giống tố, Vũ Trọng Phụng đã giành một số trang cho
việc miêu tả thiên nhiên, cảnh vật -một yếu tố có khả năng tạo không khí cho hoàn cảnh. Và
ở phƣơng diện nghệ thuật tả cảnh, có thể nói Vũ Trọng Phụng cũng rất thành công. Thiên
nhiên trong Giống tố của Vũ Trọng Phụng cũng nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố Sống
mòn của Nam Cao không chỉ đơn thuần là những bức tranh thiên nhiên làm nền hoạt động
cho các nhân vật, làm bối cảnh cho những sự kiện, tình huống. Trong Giống tố những bức
tranh thiên nhiên cũng là một hệ thống tín hiệu nghệ thuật trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn
cảnh.
Thiên nhiên trong Giống tố thƣờng đƣợc hiện lên với hình ảnh những cơn mưa,
những đêm tối mịt mủ, nếu có trăng thì hình ảnh ánh trăng ít gợi một vẻ đẹp trong sáng mà
toát lên một không khí lạnh lẽo.
Mở đầu tác phẩm, thiên nhiên trong cái đêm Nghị Hách giở trò bỉ ổi với Thị Mịch là
một thiên nhiên tối tăm: "Mặt trăng lúc này bị mảng mây to lƣớt qua che đi, thành thử đất
trời tối sầm hẳn lại.... giữa cánh đồng thấy tản mạn những cục lửa xanh, lửa đỏ trên mặt đất
lúc cháy lúc tắt như ma trơi". Và ngay cả khi mặt trăng không còn bị mây che khuất thì "trời
dài lại sáng quang vì cái ánh trăng lạnh lẽo". Bức tranh thiên nhiên tối lăm, lạnh lẽo ấy bắt
đầu tạo không
134
khí cho hoàn canh và hé mở một hoàn cảnh không lấy gì làm tƣơi sáng. Ngƣời đọc dự cảm
một câu chuyện mà kết cục của nó chắc sẽ nhuốm màu bi kịch.
Hình ảnh không gian mù mịt, tăm tối và ánh trăng lạnh lẽo sẽ còn trở đi trở lại nhiều
lần trong nhiều cảnh huống của Giống tố. Những hành động đen tối của Nghị Hách trong
việc chuẩn bị cho tay chân "gắp lửa bỏ tay ngƣời" -gieo tai vạ cho làng Quỳnh Thôn - cũng
diễn ra vào một đêm có ánh trăng lạnh lẽo và tối lăm nhƣ thế: "Đêm đã khuya, những cây đèn
trong ấp đã cạn bấc, lụi dầu, nên hiện ra những cục lửa đỏ ối ở hai bên lối đi. Mặt trăng đã
lên đến lưng chừng trời nha một mình Long xuống thềm ga lạnh lẽo và vắng vẻ". Mảnh trăng
ở đây mới đơn độc và lạnh lẽo làm sao (lờ mờ giữa cái sáng tối, một mảnh trăng treo trên
cành một cây xoan "). Hình ảnh mảnh trăng lạnh lẽo ở cái nơi thâm sơn cùng cốc ấy, khiến
cho Long "càng thấy mình là cô độc, chơ vơ trên con đƣờng đời dài dằng dặc". Có thể nói,
trăng trong cái nhìn của tác giả Giống tố không bao giờ là hình ảnh của một vẻ đẹp thơ mộng
trữ tình (trăng trong cái nhìn của tác giả Sống mòn có lúc đã hiện lên nhƣ thế) mà thƣờng
hiện lên cùng với một không khí vắng lạnh, cô đơn. Cũng có lúc trăng đã hiện lên tròn đầy -
"Mặt trăng rất to và rất tròn, chiếu vằng vặc cánh đồng lúa chín nhƣ một tấm thảm vàng" -
Nhƣng cái ánh trăng "vằng vặc" ấy không báo hiệu điều gì tƣơi sáng mà nó lại nhƣ dự cảm
cho việc chứng kiến một sự kiện xấu xa của ngƣời đời - hành động của Nghị Hách với Thị
Mịch.
Có một điều dễ nhận thấy là thiên nhiên trong Giống tố hầu như không hề có hình
ánh nắng - nắng không xuất hiện trong bức tranh thiên nhiên Giống tố, dù đó là nắng bình
minh hay nắng hoàng hôn. Những tia sáng ấm áp của mặt trời dƣờng nhƣ không bao giờ có
cơ hội đƣợc soi rọi vào cái thế giới mịt mù, hỗn độn, tối tăm của xã hội Giống tố. Phải chăng
đó cũng là một qui luật: trong Giống tố không thể thấy đƣợc ánh sáng mặt trời, không thể có
đƣợc tia sáng lạc quan hay niềm vui ấm áp.
135
Và nếu nhƣ thiên nhiên Giống tố vắng bóng hình ảnh nắng thì lại nhiều lần hiện lên
hình ảnh mưa. Có khi dó là hình ảnh những trận mƣa xuân. Những cơn mƣa xuân ấy không
gắn với những bức tranh tƣơi đẹp của mùa xuân mà nó chỉ càng làm tăng thêm nỗi buồn cho
những cảnh ngộ. "Đã hai ngày rồi trời cứ lún phún mưa xuân. Hạt mƣa lúc mau lúc thƣa như
có bão rớt". Với ông đồ Uẩn "những cơn mƣa lúc lấm tấm, lúc rào rào, vẫn không thôi khiêu
khích sự bực mình, sự chán nản, sự muốn tự lử trong lòng ông. Thật là trời sầu đất thảm".
Với nhân vật Tú Anh, những sự thực cay đắng (tận mắt chứng kiến những tấn bi kịch trong
gia đình Nghị Hách) đã tạo nên những trận Giống tố trong tâm hồn. Và những trận Giống tố
trong tâm hồn Tú Anh càng trở nên dữ dội hơn khi nó đƣợc đặt trên cái nền thiên nhiên cũng
đầy giông bão: "Chàng đƣơng ngồi ôm đầu trong phòng giấy nghe tiếng mưa gào gió thét của
cảnh trời sầu đất thảm mà ôn lại tấn bi kịch ghê gớm dƣới Hải Phòng". Thế rồi, Tú Anh đã
tiễn biệt Hải Văn ra nƣớc ngoài hoạt động bí mật trên một chuyến xe đi trong Giống tố với
"mưa gào gió thét quanh xe". Trận Giống tố trong buổi tiễn biệt ấy thái vô cùng dữ dội:
"Những luồng gió mạnh mẽ nặng nề và những hạt mưa to ào ào hắt vào bốn bề cửa kính.
Lắm lúc qua một chặng đƣờng úng thủy, bánh xe lại tung lên nhƣng cây nƣớc cao ba thƣớc ra
hai bên vệ đƣờng. Cơn Giống tố phũ phàng bỏ những cành cây mục rồi để rơi dƣới mặt
đƣờng ngổn ngang. Cả trời đất ủng sũng, trắng xóa những nƣớc là nƣớc "... Con thuyền đƣa
Hải Vân ra hải ngoại cũng đi trong một không gian đầy Giống tố, bão bùng nhƣ thế: "Mũi
thuyền quay ra khỏi những làn sóng vỗ vào cồn đá ầm ầm, tiếng vang như núi đổ... Mưa như
trút nước ... chiếc hải thuyền nổi lên chìm xuống bập bềnh ... trời và bể trắng xóa nhƣ tấm
vải nắng mà chiếc thuyền là một chấm đen ..."
Âm vang của những trận Giống tố trong thiên nhiên cộng hƣởng với những trận
Giống tố trong cuộc đời và những trận Giống tố trong lòng nhiều nhân vật đã để lại những
dƣ âm ám ảnh, day dứt trong tâm hồn ngƣời đọc.
136
Bức tranh thiên nhiên trong Giống tố, dù chỉ dƣợc tái tạo không nhiều trong tác phẩm, nhƣng
rõ ràng là nó đã đạt dƣợc những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Nó đã góp phần tạo không khí
cho hoàn cảnh và làm sâu sắc thêm ý nghĩa nhan đề tác phẩm, một nhan đề tự nó đã mang
đầy ý nghĩa biểu tƣợng.
Còn một hệ thống chi tiết nghệ thuật, có lẽ không nằm ngoài ý thức nghệ thuật của
nhà văn trong việc tạo không khí cho hoàn cảnh nhƣ thế là hình ảnh những ngọn đèn trong
Giống tố. Đây chỉ là một hệ thống chi tiết rất nhỏ những nếu nhìn ở cái nhìn tổng thể những
chi tiết trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, thì ta lại thấy nó có ý nghĩa tô đậm cái nền
đen của bầu trời Giống tố, bởi nó thƣờng hiện lên không phải với ánh sáng rực rỡ, chói chang
mà thƣờng tù mù yếu ớt... Nó cũng tăm tối nhƣ cuộc đời đang bị bao phủ bởi màn đêm của
một cơn Giống tố. Nó hiện lên với thứ ánh sáng leo lét trong một hiệu phở "vắng vẻ nhƣ bãi
sa mạc" ("một ngọn đèn đất leo lét chiếu vào một con gà, một miếng thịt bò, vài dây ớt đỏ
..."). Nó chỉ là "một thứ ánh sáng héo hắt" trên một căn gác trong tiệm hút. Hoặc nó chỉ là
"một ngọn đèn dầu leo lét" trong một nhà ga bé nhỏ "nhƣ một cái quán gạch" ở giữa đồng
không mông quạnh. Đó là ánh sáng của những ngọn đèn dầu, đèn đất. Còn ánh sáng của
những ngọn đèn điện cũng chẳng sáng sủa hơn, bởi nó luôn bị vây bọc, che phủ ("những đêm
khuya thức giấc nhìn xung quanh, Mịch chỉ thấy sự hiu quạnh và ánh sáng của một bóng điện
trong dua xanh"; "những bóng điện bị giam hãm trong những khung dua dày dặn, không ra
sáng cũng không ra tối" ...). Hình ảnh những ngọn đèn với thứ ánh sáng leo lét, hắt hiu ấy
nếu nhìn ở cái nhìn đơn lẻ tách rời thì không có mấy ý nghĩa, nhƣng nếu nhìn trong cái nhìn
tổng thể thì không phải là không có căn nguyên. Chúng tạo thành một mảng đen - Âm thầm,
bên cạnh cái mảng đen, -dữ dội của cả cái nền hoàn cảnh đen tối trong Giống tố.
*
* *
137
Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong Giống tố, chúng ta thấy rõ hơn tài
năng của nhà văn trong việc xây dựng hoàn cảnh. Hoàn cảnh trong Giống tố đã đƣợc xây
dựng một cách nghệ thuật bởi nó đã tạo đƣợc không khí. Qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn
cảnh ấy, chúng ta cũng thấy đƣợc quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Đó là một
hoàn cảnh xã hội đầy rẫy những xấu xa, nhơ bẩn, dâm loạn mà ở đó đồng tiền đã ngự trị lên
lƣơng tâm con ngƣời, làm đảo lộn mọi cƣơng thƣờng, đạo lý. Trong hoàn cảnh ấy, con ngƣời
có thể dễ dàng nhanh chóng bị tha hóa. Họ có thể ý thức rất rõ về sự tha hóa nhanh đến chóng
mặt ấy, mà không thể cƣỡng lại bởi đã bị cuốn vào cơn cuồng phong Giống tố, mà cơ chế
của những trận cuồng phong ấy là những mƣu mô, thủ đoạn và sức mạnh vạn năng của đồng
tiền. Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn đã chi phối tới việc xây dựng cấu trúc
nghệ thuật của hoàn cảnh trong cuốn tiểu thuyết đƣợc coi là "một tác phẩm lớn, một kiệt tác
hiếm hoi trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại" [196.261].
Trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Giống tố, số phận tính cách của các nhân vật
dần đƣợc bộc lộ, Nói cách khác, cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Giống tố đã góp phần đắc
lực trong việc làm nổi bật số phận tính cách nhân vật, hình thành tính cách nhân vật. Rõ ràng,
Nghị Hách, Vạn tóc mai, Tú Anh, Long, Tuyết, Thị Mịch, ông đồ Uẩn ... là những con đẻ của
hoàn cảnh. Họ là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh. Và nhƣ vậy, cấu trúc nghệ thuật của hoàn
cảnh Giống tố dã không chỉ tạo đƣợc không khí, thể hiện hoàn cảnh nghệ thuật mà còn thực
hiện đƣợc chức năng xây dựng tính cách. Trƣớc những cơn Giống tố dữ dội của cuộc đời,
trong vòng xoáy của cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền, các nhân vật cọ xát,
va đập vào nhau và buộc phải bộc lộ bản chất, tính cách. Tiểu thuyết Giống tố là một bằng
chứng thể hiện rất rõ một nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực, đó là nguyên lý về mối quan hệ
giữa tính cách và hoàn cảnh.
138
Nếu so sánh với Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ta sẽ nhận thấy, trong hoàn cảnh Tắt đèn,
cơ chế trấn áp bạo lực đƣợc thể hiện ở nhiều chi tiết về những hành động, lời nói mang đầy
màu sắc trấn áp, bạo lực của các nhân vật, thì trong Giống tố yếu tố bạo lực của hoàn cảnh
đƣợc các nhân vật thể hiện một cách ít lộ liễu, kín đáo hơn. Hoàn cảnh Tắt đèn và hoàn cảnh
Giống tố đều là những hoàn cảnh áp bức, đè nén con ngƣời. Nhƣng nếu nhƣ sự áp bức của
hoàn cảnh Tắt đèn biểu hiện bằng những hành động, lời nói lộ liễu, công khai của các nhân
vật thì trong Giống tố nó lại đƣợc biểu hiện qua những mƣu mô, thủ đoạn, không ồn ào
nhƣng cũng không kém phần nặng nề, dữ dội.
Và nếu nhƣ trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã phản ánh một cách nghệ thuật, đầy ấn
tƣợng về hoàn cảnh nông thôn Việt Nam đƣơng thời trong mùa sƣu thuế, thì Vũ Trọng Phụng
trong Giống tố lại phản ánh một mảng đời sống hiện thực khác - đời sống xã hội tƣ sản thành
thị, bằng tài năng của một nhà văn hiện thực xuất sắc. Mảng đời sống hiện thực này cũng đã
đƣợc tái tạo một cách nghệ thuật qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm.
139
CHƢƠNG 4: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG
SỐNG MÒN VÀ MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA NAM CAO
Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao đƣợc viết xong ại làng Đại Hoàng -quê hƣơng
nhà văn, ngày 1.10.1944. Nhƣng phải đến sau 1956 tác phẩm mới đƣợc ra mắt công chúng.
Một trong những chuyên gia hàng đầu về Nam Cao đã khẳng định Sống mòn "là một tiểu
thuyết có thể đọc nhiều lần. Đọc lại rồi lại đọc. Đọc để hiểu Nam Cao, hiểu mội thế hệ trí
thức kiểu Nam Cao và hiểu một thời thanh niên Nam Cao đã sống ..." [193.344]. Theo chúng
tôi, Sống mòn là một cuốn tiểu thuyết thể hiện nhiều nét phong cách nghệ thuật Nam Cao,
một tác phẩm càng đọc càng phát hiện đƣợc nhiều điều bất ngờ, kỳ thú cả về những nội dung
triết lý sâu sắc và văn phong hiện đại. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết thể hiện rõ nhất quan
niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Đặt trong tổng thể cấu trúc của luận án, chúng tôi
thấy, lấy Sống mòn của Nam Cao làm đối tƣợng khảo sát là rất phù hợp, bởi đây là một tác
phẩm tiêu biểu của Nam Cao. Mặt khác, nếu so với Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Giống tố của
Vũ Trọng Phụng, thì Sống mòn tập trung phản ánh một mảng đời sống xã hội khác - đời sống
của những ngƣời trí thức tiểu tƣ sản, và bên cạnh đó là hình ảnh cuộc sống của những ngƣời
dân nghèo ở một xóm nhỏ ven đô.
Xã hội thành thị Việt Nam những năm trƣớc Cách mạng tháng Tám là một xã hội trì
trệ, ngƣng đọng, ngột ngạt, bế tắc. Cả xã hội đang quằn quại trƣớc giờ "lột xác". Cuộc sống
của ngƣời dân, nhất là tầng lớp trí thức nghèo trong xã hội đang "mốc lên", "gỉ đi", "mục ra".
Trong xã hội ấy, nhiều ngƣời đang "chết mà chƣa làm gì cả, chết mà chƣa sống". Cái không
khí xã hội ấy đã uà tràn vào không gian Sống mòn, đƣợc tái hiện trong tiểu thuyết Sống mòn
thông qua hệ thống những tín hiệu nghệ thuật nằm trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh.
Để làm rõ hơn quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Nam Cao, ở chƣơng này, chúng tôi
còn khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn, bởi đây là một phần sáng tác thể hiện
rất rõ năng lực, sở trƣờng đặc sắc của tác giả.
140
4.1.Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao
4.1.1. Quan hệ đổng đẳng giữa nhân vật động và hệ thống nhân vật tĩnh.
Nếu nhƣ trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hoàn cảnh đƣợc làm nổi bật chủ
yếu qua quan hệ giữa nhân vật động và nhân vật tĩnh - phản diện, tức là từ những quan hệ
tƣơng phản, đối lập, thì trong tác phẩm Nam Cao lại thƣờng là những quan hệ đồng đẳng, bổ
sung. (Tất nhiên, trong Tắt đèn cũng có những quan hệ đồng đẳng bổ sung giữa các nhân vật.
Đó là quan hệ trong hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện mà chúng tôi đã phân tích ở chƣơng
2. Và những mối quan hệ ấy cũng có tác dụng tạo hoàn cảnh).
Nhân vật trung tâm của Sống mòn là Thứ. Xung quanh nhân vật động -trung tâm này
là một số các nhân vật khác: San, Oanh, Đích, Mô, vợ chồng ông Học, vợ chồng anh kéo xe,
vợ chồng ngƣời thuê căn nhà lá ... tất cả những nhân vật có tên và không tên ấy đều không
nằm ngoài cái guồng quay của cơ chế " Sống mòn". Họ góp phần tô đậm thêm cái nền mù
xám triền miên của xã hội" Sống mòn ". Trong dòng chảy của cuộc đời, số phận của những
nhân vật ấy mỗi ngày một đen tối hơn. Chẳng có cuộc đời nào sáng sủa, khấm khá hơn theo
thời gian . Có thể nói, mỗi nhân vật trong " Sống mòn" là hiện thân của một kiểu " Sống
mòn". Có kiểu " Sống mòn" của Thứ và San, những giáo khổ trƣờng tƣ: "quần áo là, sơ mi
trắng, thắt ca vát, giầy tân thời... thế mà kỳ thực bụng chứa đầy rau muống luộc" và lúc nào
cũng nghi kị, hiềm khích, tính toán, nhỏ nhen, để ý nhau từ cả miếng ăn, miếng uống ; đã
từng có những hoài bão lớn lao nhƣng cuối cùng lại bị" cuộc sống áo cơm ghì sát đất". Có
kiểu "Sống mòn" của Oanh và Đích, cặp tình nhân yêu nhau mà không thể sống gần nhau
thời gian dƣờng nhƣ chỉ để giành cho sự tính toán, nhỏ nhen, cãi vã ... đến khi trở về đƣợc
với nhau thì cũng là lúc một ngƣời chuẩn bị xuống mồ. Có kiểu "Sống mòn" của vợ chồng
Mô, cam chịu cuộc sống nghèo khổ của đứa ở, làm thuê nhƣng tình cảnh vẫn mỗi ngày một
bi đát. Có kiểu "sống" mòn" của vợ chồng ông Học, cả đời chỉ gắn chặt với cái cối xay đậu,
vui thú
141
với việc chăn lợn và thổi kèn tàu, không cần biết đến xã hội bên ngoài, không có khát vọng,
ƣớc mơ ... Có kiểu "Sống mòn" của vợ chồng anh xe, một kiểu sống tạm bợ vất vƣởng, dễ
hợp mà cũng dễ tan, ào vào " cái xã hội con con " ở nhà ông Học rồi cũng lại biến đi nhƣ
chƣa từng tồn lại ở cõi đời. Một kiểu "Sống mòn" khác là cuộc sống của ngƣời đàn bà
(không tên) làm ở hãng rƣợu bia với hai đứa con và ông chồng " chƣa bao giờ có một cử chỉ
hoặc một lời nói nào thân mật với vợ con". Ngƣời đàn bà này đã bán ruộng vƣờn ở nhà quê
ra Hà Nội với ý nghĩ " ra Hà Nội, đi bán cháo còn hơn ở nhà quê bám lấy mấy sào vƣờn",
nhƣng cuối cùng cũng lại phải trở về nơi đã ra đi để mò cua bắt ốc, sống cuộc đời mòn mỏi ở
" xó nhà quê" ... Trong thế giới nhân vật của xã hội " Sống mòn" có một nhân vật chỉ xuất
hiện đôi lần thoáng qua nhƣng lại có sức ám ảnh rất lâu đối với ngƣời đọc. Đó là hình ảnh
nhân vật U em lúc nào cũng âm thầm, lặng lẽ nhƣ một cái bóng, một cái xác vô hồn - " Một
vật lù lù lặng lẽ như một dụn rạ biết đi". Đặc biệt ám ảnh là hình ảnh ngƣời u em đêm đêm
ngồi vá áo âm thầm, lặng lẽ đến nỗi " Thứ có cảm tƣởng nhƣ thị vá chỉ vì đêm dài quá, không
sao ngủ hết, cũng nhƣ bà ngoại y thƣờng bắt rận vào những đêm mùa rét, vì không ngủ
được". Đó cũng là hình ảnh của một kiếp "Sống mòn", Những con ngƣời này dƣờng nhƣ
sống mà không có khát vọng. Bên cạnh thế giới nhân vật mòn mỏi trong Sống mòn còn biết
bao kiếp ngƣời t nhƣ thế trong nhiều tác phẩm khác của Nam Cao. Nhƣ kiếp sống của Lão
Hạc (Lão Hạc), mội kiếp sống lay lắt, tạm bợ, tồn tại chỉ nhờ vào sung luộc, rau má, củ ráy,
bữa trai, bữa ốc để rồi cuối cùng phải tìm đến cái chết bằng bả chó, cho hết kiếp "Sống mòn".
Hoặc nhƣ kiếp sống của bà Quản Thích (Nửa đêm), ngƣời đàn bà nổi tiếng nhân đức một
vùng mà cuộc đời gặp biết bao đắng cay, tủi nhục. Những bất hạnh liên tiếp trong cuộc đời đã
khiến bà muốn đƣợc thoát khỏi dƣơng gian, nhƣng "cái kiếp sống vất vƣởng ấy cứ bập bùng
chực tắt mà không tắt. Nó cứ còn mãi, còn để sợ từng cơn gió, để run rẩy trƣớc từng cơn gió
(...) đã già nua, lại đau yếu, lại đói khát, lại bơ vơ thì khổ hơn là chết. Khốn nỗi bà cứ sống
dai dẳng nhƣ nỗi lầm than trên đời ".
142
Có lẽ nhân đây cũng phải nói thêm rằng, trong thế giới hình tƣợng nhân vật của Nam
Cao, có một loại hình tƣợng hiện lên khá nhiều dƣới ngòi bút của nhà văn. Đó là hệ thống
hình tƣợng nhân vật những bà lão. Tất cả những nhân vật trong hệ thống hình tƣợng đặc biệt
ấy thƣờng đều có chung một đặc điểm: già nua, ốm yếu, đói khổ và trong đó có nhiều ngƣời
cô độc, không nơi nƣơng tựa. Nhiều khi họ chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm nhƣng
vẫn để lại những ám ảnh không nguôi trong ký ức ngƣời đọc. Hình ảnh bà Quản Thích trên
đây chỉ là một trong nhiều nhân vật ấy. Chỉ riêng trong tiểu thuyết "Sống mòn" ta cũng có
thể gặp vài ba nhân vật rất phụ nhƣng vẫn ấn tƣợng nhƣ thế. Đó là hình ảnh bà ngoại Thứ "
già nua,, ốm yểu, bẳn gẳn, buồn rầu" đã ngoài bẩy mƣơi mà vẫn luôn chịu đói khát ; là ngƣời
mẹ của Thứ già nua teo tóp " như một con ve, một mình cố nâng đỡ cả một thế qiới đang sụp
đổ...; là hình ảnh bà Hà, bà mẹ vợ của Mô đã khoảng bảy, tám mƣơi tuổi " tóc hai phần
trắng, còn mỗi một phần đen. Mắt lờ đờ. Miệng móm mém. Mặt và hai bàn tay nhăn nhún"
mà vẫn phải đi xe cát thuê để rồi bị tai nạn ... Sự xuất hiện hình ảnh những bà lão già nua đói
khổ ấy góp phần tô đậm bức tranh hoàn cảnh của những kiếp Sống mòn.
Có một đặc điểm thuộc về sở trƣởng của ngòi bút Nam Cao đã đƣợc những nhà
nghiên cứu thống nhất khẳng định, đó là tài năng miêu tả sâu sắc, tinh tế thế giới nội tâm
nhân vật. Nhƣng cũng cần phải thấy thêm là nhà văn thưởng chỉ tập trung ngồi hút vào việc
thể hiện thế giới tâm trạng, những phản ứng tâm lý của nhân vật chính, nhân vật trung tâm.
Còn các nhân vật phụ, nhân vật tĩnh thì hầu nhƣ không đƣợc chú ý khai tháo ở phƣơng diện
này. Trong Sống mòn ta chỉ thấy các nhân vật tĩnh sống ra sao, chứ ta không thấy họ nghĩ
như thế nào. Vợ chồng Mô, vợ chồng ông Học, anh xe, U em cảm nghĩ gì về cuộc sống của
họ - đó là điều ta ít thấy. Việc nhà văn chỉ tập trung miêu tả (nhiều khi khá tỉ mỉ) cuộc sống,
sinh hoạt thƣờng nhật của các nhân vật tĩnh (nhƣ cuộc- sống thƣờng nhật của gia đình ông
Mọc, gia đình ngƣời đàn
143
bà làm ở hàng rƣợu bia ...) mà không miêu tả thế giới nội tâm của những nhân vật này đã
chứng tỏ dụng ý nghệ thuật của nhà văn: hệ thống nhân vật tĩnh này chỉ là những yếu tố thể
hiện hoàn cảnh, tất cả những mảnh đời ấy góp phần đan dệt nên hoàn cảnh. Hình ảnh cuộc
đời của họ chỉ là những cái cớ, là chất xúc tác mang đến những phản ứng tâm lý cho nhân vật
chính - Thứ, để rồi từ đó nhà văn thể hiện những suy tƣ, chiêm nghiệm về cuộc đời. Nhiều
nhà nghiên cứu đã nói tới vai trò là tấm gƣơng soi, là đối tƣợng để nhân vật Thứ suy nghĩ,
trăn trở về cuộc đời của các nhân vật tĩnh. Chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm tới vai trò tạo tác
hoàn cảnh của hệ thống nhân vật này - những nhân vật có quan hệ đồng đẳng, bổ sung cho
nhân vật động. Họ không có quan hệ đối kháng, thậm chí dƣờng nhƣ họ chẳng có quan hệ gì
với nhân vật động - nhân vật Thứ. Cuộc sống của mỏi ngƣời trong hệ thống nhân vật ấy
dƣờng nhƣ chẳng có liên quan gì tới cuộc sống của Thứ. Thế nhƣng nó lại có sự gắn kết vô
hình trong một xu thế xã hội đang mỏi mòn trì trệ. Trong xu thế xã hội ấy, nhìn ra cuộc sống
của những ngƣời xung quanh - những kiểu Sống mòn trăm hình, vạn trạng, Thứ luôn " giật
mình mình lại thƣơng mình xót xa".
Nói tới mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong thế giới nhân vật của Nam
Cao còn phải thấy ở đó những định kiến, ghen ghét, nghi kị, nhỏ nhen, cái vã, lãng nhục...
những thói xấu làm thấp bé con ngƣời những thói xấu nhiều khi trở thành nếp, thành tập
quán. Trong cái xã hội mà định kiến dã thành nếp nghĩ thì một kẻ nhƣ Chí Phèo sẽ mãi mãi
"không thể thành ngƣời lƣơng thiện đƣợc nữa"; một thằng đã làm Mõ thì ai cũng có quyền
khinh bỉ ít tuổi hơn nói đến hắn cũng gọi bằng thằng"; một kẻ bạch đinh nhƣ Trạch Văn
Đoành thì không thể "nhảy tót lên bao lan làm một ông kỳ mục"; và đứa con của Ông Thiên
Lôi, kẻ đã từng giết vợ thì phải "mang trong huyết quản cái máu ác ngược của quân giết
người " và "nọc độc tiết ra từ mồm nó". Sự phản ứng tiêu cực của Chí Phèo (Chí Phèo), anh
Cu Lộ (Tư cách mõ) Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò), Đức (Nửa đêm)... là kết quả của
những định kiến đó.
144
Chính nhân vật Thứ (Sống mòn) đã có lần phải thừa nhận:" chúng ta vẫn tự phụ không định
kiến những thực ra vẫn còn nhiều định kiến". Chính cái không khí của những định kiến nghi
kị, nhỏ nhen, cãi vã... ấy đã khơi gợi thúc đẩy quá trình tự ý thức của nhân vật và nó góp phần
tạo nên áp lực của hoàn cảnh. Nếu nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, áp lực của hoàn cảnh
đƣợc tạo nên bởi sự hoạt động của bộ máy thống trị, hành chính với cơ chế trấn áp bạo lực,
thì trong tác phẩm Nam Cao, nó lại đƣợc tạo nên bởi nhiều yếu tố, mà áp lực lớn nhất là
những định kiến, thói tục với cơ chế của đạo đức, phong lục, lƣơng tâm. Nhiều khi những
định kiến, hủ tục, "bao giờ cũng sai, dựa trên những hiểu biết rất mù mờ [83] ấy ảnh hƣởng
rất lớn tới số phận cuộc đời nhân vật. Nếu Chí Phèo lấy đƣợc Thị Nở thì chắc rằng rằng cuộc
đời của con quỉ dữ đã hoàn lƣơng ấy sẽ sang một trang mới, khép lại một quá khứ đau
thƣơng, tội lỗi và mở ra một tƣơng lai mà hắn đã một thời mơ ƣớc "chồng cuốc mƣớn, cày
thuê, vợ dệt vai, chúng lại bỏ ra một con lợn nuôi làm vốn, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng
làm". Thế nhƣng, cuộc tình duyên của hai con ngƣời tội nghiệp " dưới đáy " xã hội ấy đã
không thành bởi vì những định kiến của ngƣời dân làng Vũ Đại: " Đàn ông chết hết cả rồi sao
đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy một thằng chỉ có một nghề là đi rạch mặt
ăn vạ". Trong không khí của những định kiến ấy, việc Thị Nở định lấy Chí Phèo làm bà cô
của chị cảm thấy:" nhục nhã ơi là nhục nhã !"và " ngƣời đàn bà đức hạnh ấy thấy cháu bà
sao mà đĩ thế !". Cho đến khi sang nhà Chí Phèo để nói lời cự tuyệt, Thị Nở cũng chỉ biết
nói theo cái định kiến đó bằng cách " trút vào mặt hắn tất cả các lời bà cô", nghĩa là không
phải thị nói những lời của thị. Bởi vì với Thị Nở, Chí Phèo trƣớc hết là ngƣời láng giềng tốt
bụng (đã có lần, thị sang nhà Chí Phèo xin rƣợu về bóp chân, Chí bảo thị" rót bao nhiêu thì
rót"); với thị, Chí không đáng sự nhƣ ngƣời ta vẫn nghĩ ("lắm lúc thị ngạc nhiên sao ngƣời ta
ghê hắn đến thế"), thậm chí thị còn thấy " ôi sao mà hắn hiền" và " thị thấy nhƣ yêu hắn".
Nhƣng cái tình yêu vừa mới đƣợc nhen
145
nhóm giữa hai trái tim tƣởng chừng không biết đập những nhịp đập thƣơng yêu ấy đã bị cái
định kiến khắc nghiệt của hoàn cảnh bóp chết, để rồi Chí Phèo phải đi đến một kết cục bi
thảm - đoạn tuyệt với cõi ngƣời để dƣợc làm ngƣời.
Cũng tƣơng tự nhƣ trƣờng hợp Chí Phèo, nếu nhƣ Đức (Nửa đêm) lấy đƣợc Nhi thì
cuộc đời của đứa con mồ côi khốn khổ ấy hẳn sẽ đi theo một hƣớng khác. Tình yêu đối với
Nhi đã làm cho chàng trai " vẫn lặng lẽ, ngờ nghệch và hay thở dài " ấy, trở nên " nhanh nhẹn
hơn trƣớc, mắt đỡ lờ đờ, hay tủm tỉm cƣời". Đức đã nghĩ đến chuyện dành dụm và nghĩ tới
những cách làm giầu. Và cũng nhƣ mối tình của Chí Phèo với Thị Nở, mối tình của Đức và
thị Nhi lập tức bị lên án bởi những định kiến tàn nhẫn: " người ta bảo: Nếu thế thật thì đến
trời cũng chết". Cái " người ta" vu vơ, " người ta" mù mờ phải ngôn không chính thức ấy đã
tạo nên những dƣ luận gây áp lực đến mức có thể bóp chết một mối tình chất phác, chính
đáng của hai con người khốn khổ . Cái " người ta" ấy, khiến nhiều ngƣời phải nể sợ và theo
nó. Mối tình của Đức, Nhi cứ bình lặng trôi đi nhƣng " đến lúc người, ta ngờ thì thật ầm ĩ".
Ông Cửu Hoa, bố nuôi của thị Nhi trƣớc dƣ luận ấy đã đánh đập Nhi tàn nhẫn cũng chỉ vì: "
Mày làm thế người ta cứ tao người ta chửi. Cái mặt tao còn ra gì ?". Và khi bà Cửu xông vào
tiếp sức cho ông để đánh đập thị Nhi "mồm thì gào lên nhƣ chính bà bị đánh", thì ông Cửu
cũng chỉ sợ cái " người ta" vừa vô hình, lại vừa hữu hình ấy: " thôi hàng xóm người ta chửi
chúng mày ngoài kìa!" , Ngay cả ngƣời trần thuật, khi nói về bà Quản Thích cũng cảm thông,
thƣơng hại vì bà không đƣợc biết cái dƣ luận định kiến đang dần giết chết phần ngƣời ở đứa
cháu của bà, kẻ đang muốn sống cuộc sống bình thƣờng của một con ngƣời: " Tội nghiệp cho
bà già ấy ! bà còn ngây ngô hơn cháu bà? bà không biết một tí gì ƣ ? bà không nghe người ta
bàn tán nhao lên đấy à ? ". Đến khi Nhi bị ông Cửu Hoa gọt đầu bôi vôi đuổi đi thì cái dƣ
luận " người ta " ấy lại nhao lên: " có người thì bảo....", người khác, giàu tƣởng tƣợng hơn thì
lại kể
146
và ngƣời trần thuật kết luận: " thế thì còn biết tin ai đƣợc ? mỗi người nói một cách, rút cục
chẳng ai hiểu Nhi đi dâu ". Thế rồi đến lƣợt Đức bỏ làng ra đi " cả làng lại xôn xao..., có
người quả quyết rằng..., kẻ thì bảo ... họ kết luận... "
Từ lý thuyết đối thoại của Bakhtin, Trần Đình Sử đã tìm hiếu Cấu trúc đối thoại trong
truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và rút ra nhận xét: " Nam Cao không giản đơn kể
chuyện và tâm trạng nhân vật, không giản đơn vạch ra sự qui định của hoàn cảnh đối với số
phận con ngƣời, mà xuyên qua hình thức tồn tại của con ngƣời để hiểu nó. Con ngƣời tồn tại
bằng ý thức và đƣợc bao bọc bởi ý thức, và muốn tiếp cận nó ngƣời ta phải đối thoại với các
ý thức đó. Cả một môi trƣờng ý thức vây quanh nhân vật, sự kiện với biết bao định kiến tâm
thế, khiến cho không ai biết rõ đƣợc nhân vật tự nó vốn có nhƣ thế nào. Một nhân vật mà tách
rời với ý thức của chính nó và ý thức bao bọc nó thì nó không thật ... " . Từ đó, nhà nghiên
cứu khẳng định: " Miêu tả nhân vật trong cái vầng ý thức bao quanh mới là một mặt phát hiện
của Nam Cao ". Chính "cái vầng ý thức" ấy đã quyết định không nhỏ tới vận mệnh của nhiều
nhân vật của Nam Cao mà nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo) và Đức (Nửa đêm) chỉ là những ví
dụ tiêu biểu. Trong " cái vầng ý thức" đó các nhân vật buộc phải bộc lộ mình và tự hiểu mình
qua ý thức ngƣời khác. Ở đây, hoàn cảnh đã đƣợc Nam Cao nhìn nhận một cách sâu sắc và
đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật.
Nhƣ vậy có thế nói, hệ thống nhân vật tĩnh trong tác phẩm Nam Cao thƣờng không đa
dạng, phong phú nhƣ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nhƣng chúng cũng đã góp phẩn
đắc lực vào việc tạo dựng hoàn cảnh nghệ thuật.
4.1.2. Hoàn cảnh qua sự cảm nhận của các nhân vật - một cách thể hiện hoàn cảnh ấn
tƣợng truyền cảm.
Một điểm khác biệt khá rõ giữa hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao và nhiều nhà văn
hiện thực đƣơng thời là sự cảm nhận hoàn cảnh của chính các
147
nhân vật. Nói rõ hơn, nếu nhƣ ở nhiều nhà văn hiện thực khác, hoàn cảnh đƣợc cảm nhận và
tái hiện chủ yếu qua lăng kính của chính bản thân tác giả, thì trong tác phẩm Nam Cao, hoàn
cảnh nhiều khi đƣợc cảm nhận, tái hiện qua chính cái nhìn nội tâm của nhân vật. Vì thế, hoàn
cảnh hiện lên không chỉ là hoàn cảnh khách quan mà còn hoàn cảnh đã đƣợc cảm nhận, toát
lên qua sự cảm nhận của các nhân vật... Chẳng hạn, trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, cái
không khí ngột ngạt, dông bão, oi nồng đến ngạt thở của hoàn cảnh đƣợc toát lên chủ yếu từ
những yếu tố ngoài nhân vật: thiên nhiên, cảnh vật, âm thanh, tiếng chửi bới quát, thét, tiếng
mõ, tiếng trống, tiếng tù và, chó sủa... Có thể nói nhân vật trong "Tắt đèn" không cảm nhận
đƣợc môi trƣờng, hoàn cảnh không đƣợc thể hiện qua sự cảm nhận môi trƣờng của nhân vật.
Nhƣng trong tác phẩm Nam Cao; nhân vật ý thức rất rõ về môi trƣờng, hoàn cảnh. Và không
khí của hoàn cảnh đƣợc toát lên từ chính sự cảm nhận, ý thức đó. Vì thế, sự tác động truyền
cảm tới ngƣời đọc cũng mãnh liệt, sâu sắc hơn.
Cảm giác ngột ngạt, nặng nề, bế tắc đến đau đớn, trăn trở vật vã dƣới tác động của
hoàn cảnh thể hiện tập trung ở nhiều nhân vật trí thức tiều tƣ sản của Nam Cao, những con
ngƣời luôn nhạy cảm với thời cuộc, với nhân tình thế thái, hay chiêm nghiệm suy tƣ về cuộc
đời, tự ý thức về số phận, hoàn cảnh của bản thân. Biết bao nhân vật của Nam Cao đã phải
sống trong tâm trạng cảm giác bức bối và đau đớn về tinh thần do tác động của ngoại cảnh.
Những cảm giác ấy nhiều khi ứ trào trong tâm hồn, nhức nhối trong tâm can, não tủy.
Trƣớc tình cảnh gia đình nhếch nhác đói khổ, con ốm, vợ bóng gió đay nghiến, văn sĩ
Điền (Trăng sáng) đã "cố thản nhiên. Nhƣng da mặt cứ rồm rộm; nó có vẻ dày lớn và tê tê "
thậm chí" Một nỗi chua xót gần nhƣ là thuộc về thể chất ứ lên trong lòng Điền nó dâng lên cổ
xông lên óc ",Cũng tƣơng tự nhƣ vậy, nhân vật ngƣời thầy giáo ốm yếu - "hắn" trong Cƣời
sau những phút cãi vã bằng những lời tàn nhẫn với vợ chỉ còn biết "ngồi cắm mặt ở nhà
ngoài, mím chặt môi để nuốt lấy khí giận trong lòng". Trƣớc cái tin vợ San ngọai
148
tình, Thứ (Sống mòn) liên tƣởng tới hoàn cảnh vợ mình và sự nghi ngờ khiến cho "Y có cảm
giác nhƣ bao nhiêu khí nóng trong người đã rút lên đầu y hết."Đầu y nóng rực"
Sự khắc nghiệt của hoàn cảnh khiến cho nhiều nhân vật của Nam Cao cũng có cảm
giác ngạt thở. Đó là cảm giác của anh Phúc (Điếu văn) lúc lâm chung: "cổ anh tắc lại...ngực
anh như có một phiến đá nặng đè lên"; là cảm giác của cậu bé Hiền (Truyện người hàng
xóm) trong một đêm khuya: "nó ngạt thở mà không dám thử mạnh"; hay sau này khi Hiền
đứng trƣớc một hoàn cảnh đáng buồn tủi (ngƣời mình yêu nằm trong vòng tay kẻ khác chỉ vì
mình quá nghèo): "một nỗi ghen tức cuộn dâng lên trong cổ hắn đã nghẹn tắc lại. Hắn không
thở được" và nhân vật Thứ (Sống mòn) đã cảm thấy: "tắc cổ nhƣ trông thấy bố mình bị
đánh" khi chứng kiến cảnh "Bá Kiến sai trói một lúc 17 ngƣời và đánh một ngƣời lòi con
mắt". Trong những ngày phải xa vợ con chỉ vì kế sinh nhai "ông giáo khổ trƣờng tƣ" ấy khi
nghĩ tới "tất cả nỗi buồn mênh mông của đời mình" đã "thấy nổi lên trong mình một nỗi uất
ức tối tăm, nó nâng một cục gì lên cổ họng y"... Có thể tìm thấy rất nhiều trạng thái tình cảm,
tâm trạng nghẹn ngào, uất ức, tủi cực, cay đắng ở các nhân vật của Nam Cao trƣớc tác động
của ngoại cảnh. Nam Cao đã "vật chất hoá" những tâm trạng, những cảm xúc đó của các nhân
vật bằng những so sánh liên tƣởng ... Bởi vậy, nó tác động truyền cảm rất mạnh mẽ với ngƣời
đọc, giúp họ cảm nhận trực không khí của hoàn cảnh.
Nhƣng nhân vật của Nam Cao không chỉ cảm nhận về hoàn cảnh mà còn nhận định về
nó, ý thức sâu sắc về nó. Nhiều nhân vật ý thức rất rõ rằng hoàn cảnh bế tắc, ngột ngạt, tăm
tối của họ không diễn ra ngày một ngày hai mà nó sẽ kéo dài suốt cả cuộc dời. Vì thế sức
nặng của hoàn cảnh càng trở nên ám ảnh đáng sự hơn. Hoàn cảnh ấy không chỉ ngột ngạt,
căng thẳng, sục sôi trong mấy ngày sƣu thuế nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Nó kéo dài
triền miên và không hứa hẹn sự đổi thay. Nhân vật Thứ (Sống mòn) hiểu rõ rằng :"y cứ
149
phải gò cúi mãi! gò cúi mãi! làm ! chỉ có làm! chịu khổ! mà chẳng bao giờ được hưởng, mà
chẳng bao giờ cất đầu lên nổi" và Thứ có cảm giác rất rõ là "cuộc sống đè nặng lên ngực
người ta quá". Còn ngƣời bạn đồng nghiệp của Thứ - San cũng cay đắng nhận xét: "suốt dời
cứ dở dang mãi thế, chẳng có một cái gì vững chãi. Rồi có ngày chết đói". Bà Quản Thích
(Nửa đêm), ngƣời đàn bà nhân đức nhƣng phải chịu bao nỗi bất hạnh ở đời cũng cảm thấy:
"Cuộc đời chẳng khác gì cuộc đời trong địa ngục". Trong hoàn cảnh đen tối, ngột ngạt bế tắc
ấy, nhiều nhân vật đã nghĩ đến cái chết nhƣ một sự giải thoát. Nhân vật ngƣời vợ (Trẻ con
không ăn được thịt chó) thấy mình ở "cái thế không chết, chứ giá chết được thì thị cũng đã
thắt cổ mà chết cho rồi". Hài, ngƣời thầy giáo thất nghiệp trong Quên điều độ cũng nhận
thấy: "cái đời hắn chỉ là cái đời vất đi. Thà chết ngay cho rồi". Chàng trai Hiển (Truyện
người hàng xóm) trong tiếng khóc hờ cha hờ mẹ của một ngƣời đàn bà, tiếng ngƣời đàn ông
chửi tục qua hàm răng nghiến chặt, vào một đêm khuya nơi ngoại ô với tiếng côn trùng văng
vẳng đều đều thảm đạm... nghĩ tới ngày mai đầy tối tăm với biết bao nhiều điều tủi nhục chờ
đón đã "có cái ý muốn được lăn ra đây chết như một con chó đói"... Và ngay cả Thứ (Sống
mòn), một trí thức từng có những khát vọng hoài bão cao đẹp cũng phải cay đắng nhìn lại
cuộc đời mình với ý nghĩ: "Sống thì sống hẳn mà chết thì chết hẳn. Cứ ngắc ngoải mãi thì
chán lắm". Thậm chí, có lúc con ngƣời rất coi trọng nhân phẩm, giấu tình thƣơng yêu đồng
loại ấy đã có những ý nghĩ cực đoan: "sao tất cả những cái gì ở trên đời này không chết hết
cả đi. Sao trái đất của loài người không vỡ toang ra! Cuộc sống...Cuộc sống thật (kĩ là một
cái gì trói buộc và nặng nề quá sức!"...
Sự tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh đã khiến cho nhiều nhân vật của Nam Cao bị
ám ảnh về cái chết, nỗi ám ảnh này dƣờng nhƣ ít có ở các nhân vật của Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng, ngay cả khi những nhân vật của các nhà văn này ở vào những tình cảnh bi đát
nhất. Trong những ám ảnh về cái chết,
150
nhân vật của Nam Cao lo nhiều về nỗi lo chết đói, cái chết sinh vật. Nỗi lo chết đói trở thành
nỗi lo thƣờng trực trong tâm trí của những ngƣời dân cùng khổ, nhất là trong những ngày
mƣa bão. Sau những trận thiên tai khắc nghiệt ấy "biết bao nhiêu cây chuối đổ, cây gẫy gục,
cây tróc gốc. Biết bao nhiêu mía đổ. Bƣởi, cam rụng lở tở Đối với những ngƣời nông dân mà
cuộc sống chủ yếu bóng vào mấy sào vƣờn bãi thì quả là cái đói đã nhỡn tiền. Bởi vậy "ngƣời
ta thở dài chép miệng rên lên nhƣ sốt rét. Người ta lo chết đói" (Làm tổ). Cũng sau một trận
bão nhƣ thế cả hai vợ chồng Bịch (Mua danh) " Mặt nào cũng nhăn nhƣ mặt khỉ ... Hắn đã
chắc lo chết đói ". Nhân vật Hài (Quên điều độ) ốm đau, bệnh tật, thất nghiệp " đợi chết mà
không chết" phải đi kiếm việc làm, xin mở trƣờng tƣ. Trƣớc lời khuyên của bác sĩ :" ông mà
dạy học thì chết mau lắm đấy", Hài đã tự nhủ:" Hắn không dạy thì chết đói. Thiếu gì kẻ
chẳng lấy gì làm can đảm vẫn phải bán dần sự sống đi để giữ cho mình khỏi chết... ta có thể
liều chế mà kiếm ăn ...thà cứ làm việc cho chết quách". Cũng với sự ám ảnh của cái chết sinh
vật ấy, nhân vật San (Sống mòn) đã khẳng định nỗi lo thƣờng trực của đời mình, của những
giáo khổ tƣơng tƣ về mình:" Lúc nào cũng lo chết đói, lúc nào cũng là làm thế nào cho không
chết đói.." và dự đoán một tƣơng lai bi thảm: " Suốt đời cứ dở dang mãi thế, chẳng có một cái
gì vững chãi. Rồi có ngày chết đói!"." Lúc nào cũng...",Suốt đời cừ' ... Sự ám ảnh của cái chết
tia trở thanh nôi ám ảnh thƣờng trực trong tâm trí của ngƣời trí thức tự biết mình đang " chết
mòn" ấy. Bên cạnh sự ám ảnh về cái chết do đói khát là nỗi lo về cái chết đang đến gần của
những con ngƣời già nua bệnh tạt mà ốm đau, cô độc, không nơi nƣơng tựa, bấu víu. Những
nhân vật ở cái tuổi cần đƣợc nghỉ ngơi chăm sóc, bởi đã qua cái dốc bên kia của cuộc đời bị
cuộc đời vắt kiệt sức lực, chỉ còn chút " hơi thở tàn" ấy đã nghĩ tới cái chết ngay từ khi còn
sống. Sự khắc nghiệt của cuộc đời, sự tối tăm của hoàn cảnh đã khiến họ cảm thấy cái chết đã
có thể đến với họ bất cứ lúc nào (Lão Hạc:" lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào
... lỡ chết
151
không biết lo cho đƣợc..." cuối cùng lão Hạc đã phải ăn bả chó để chết. Lão chết bởi lão hiểu
rằng, mình không thoát khỏi cái chết); và họ cảm thấy họ đã đến ngƣỡng cửa của cái chết, đã
cận kề cõi âm (bà lão trong Một bữa no:" ... cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con
cũng tƣởng đi chơi dối già một bận"). Những con ngƣời già cả đáng thƣơng ấy không chỉ bị
ám ảnh bởi cái chết, mà họ còn chuẩn bị cho cái chết của mình (lão Hạc gửi tiền ông giáo để
lo ma chay cho ông bởi " để phiền hàng xóm thì chết không nhắm mắt". Bà Quản Thích
(Nửa đêm)" thắt lƣng buộc bụng để dành dăm bẩy đồng mua một cái áo quan để đợi ngày
chui vào" ). Và có khi họ còn hình dung ra cái chết thảm thƣơng, lạnh lẽo của mình: " Bà
nghĩ đến cái chết của bà cô quạnh giữa một khu vƣờn hoang, không có lấy một ngƣời lại gần
mà vuốt mắt. Có lẽ cũng chẳng ai biết để mời cha xứ về cho bà đƣợc ăn mày các phép trƣớc
khi từ giã chốn khách đày. Cái chết của bà sẽ là một cái chết cheo leo" (bà Quản Thích - Nửa
đêm).... Thông qua sự ám ảnh về cái chết của các nhân vật, Nam Cao thể hiện sự tác động
của hoàn cảnh. Nói cách khác, sự ám ảnh đó là phản ánh của hoàn cảnh. Hoàn cảnh cuộc
sống tối tăm, khổ đau, tuyệt vọng đã tác động vào tâm lý nhân vật tạo thành những ám ảnh
khôn nguôi ấy. Ở đây, Nam Cao đã nhìn nhận tác động của hoàn cảnh ở chiều sâu tâm lý.
Những cảm nhận, suy nghĩ nỗi ám ảnh ấy của các nhân vật không chỉ phản ánh bí kịch của
một cá nhân mà nó còn phản ánh tình trạng xã hội đang ở thời kỳ bế tắc đến tột độ, đang quằn
quại trƣớc giờ "lột xác". Việc đi sâu vào thế giới tâm hồn nhân vật, làm nổi bật những suy tƣ,
trăn trở, vật vã của thế giới ấy trƣớc cuộc đời đã góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh và
phản ánh hoàn cảnh.
4.1.3. Các nhân vật dị dạng, xấu xí - một hệ thống yếu tố thể hiện quan niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh của Nam Cao.
Đã có những công trình nghiên cứu về hiện tƣợng các nhân vật dị dạng xấu xí trong
tác phẩm Nam Cao. Việc các nhà nghiên cứu chú ý tới hiện tƣợng này trong tác phẩm Nam
Cao là điều tất yếu. Bởi lẽ đây là một hiện tƣợng
152
mang tính chất thi pháp Nam Cao. Nó không phải là hiện tƣợng cá biệt mà cứ trở đi trở lại
nhiêu lần trong nhiều tác phẩm, thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Về hiện tƣợng này,
có một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là một hạn chế của Nam Cao. Nhƣng nhiều nhà
nghiên cứu khác lại khẳng định " đó không phải là thiếu sót hoặc đang tiếc mà là một đặc
điểm đáng lƣu ý ", những hiện tƣợng đó chỉ " càng tô đậm thêm bộ mặt cùng quẫn mất nhân
tính của xã hội". Vƣơng Trí Nhàn còn cho rằng đó là một trong " những biến hóa của chất
nghịch dị" trong tác phẩm Nam Cao, là một nét đặc sắc của tác phẩm Chí Phèo [193.454 -
462]. Trong khi có nhà nghiên cứu cho rằng hiện tƣợng những nhân vật dị dạng, xấu xí đó là
hiểu hiện của chủ nghĩa tự nhiên, thì có nhà nghiên cứu lại phủ nhận điều đó, hoặc cho rằng:
"dẫu có những biểu hiện của chủ nghĩa tự nhiên khi miêu tả loại nhân vật xấu xí, Nam Cao
vẫn là ngƣời đứng vững trên đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực" [193.466]).
Trƣớc hết, điều mà ai cũng thừa nhận là trong tác phẩm Nam Cao có rất nhiều hình
tƣợng nhân vật dị dạng mang vẻ ngoại hình xấu xí, nhiều khi khiến ngƣời ta phải ghê sợ.
Điển hình nhất là nhân vật Thị Nở (Chí Phèo) một nhân vật đã trở thành biểu tƣợng cho sự
xấu xí của ngƣời phụ nữ. Cái tên Thị Nở đã trở thành đồng nghĩa với cái xấu đến ma chê quỷ
hờn. Ấn tƣợng về nhân vật này sâu sắc đến nỗi nhắc đến Nam Cao, ngƣời ta nhớ đến Chí
Phèo và nhắc đến Chí Phèo ngƣời ta nhớ đến Thị Nở. Nhƣng trong thế giới các nhân vật vẹo
vọ dị dạng xấu xí của Nam Cao, đâu chỉ có một mình Thị Nở. Còn có biết bao nhiêu nhân vật
" họ hàng gần xa" với ngƣời đàn bà bị ngƣời dân làng Vũ Đại xa lánh "nhƣ lánh một con vật
rất tởm" này. Đó là nhân vật Lang Rận trong truyện ngắn cùng tên với cái " mặt gì mà nặng
chình chịch nhƣ mặt ngƣời phù, da nhƣ da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang.
Cái trán ngắn ngủn ngắn ngùn, lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại nhƣ mắt lợi xể. Môi rất nở cong
lên bịt gần kín hai lỗ mũi con con...". Cái mặt ấy bẩn đến nỗi " dẫu cho mỗi ngày rửa ba lƣợt
xà phòng, bà Cựu trông thấy vẫn còn buồn mửa". Nhân
153
vật Lang Rận cùng với mụ Lợi quả là một "đôi lứa xứng đôi" bởi mụ có một thân hình: "béo
trục, béo tròn, mặt rỗ nhƣ tổ ong bầu, mắt trắng, môi thâm, má đen nhƣ thằng quỉ ". Hình
tƣợng nhân vật Thị Nhi trong Nửa đêm cũng đƣợc miêu tả bằng những nét bút nguệch ngoạc,
dị kỳ ấy. Ngƣời thiếu nữ mới mƣời chín tuổi - cái tuổi đang đẹp của thời con gái đã hiện lên
thật xấu xí đến ghê sợ: "Nó trắng lắm, trắng như con lợn cạo" (Ngƣời thiếu nữ nào mà lại
chẳng mong có một nƣớc da trắng trẻo. Nhƣng "trắng như con lợn cạo" thì không còn mang
lại cho con ngƣời cảm xúc nƣớc cái đẹp mà khiến ngƣời ta có cảm giác ghê sợ). Ngoài cái
nƣớc da để ngƣời ta phải ghê, ngƣời thiếu nữ này còn có ngoại hình khiến ngƣời ta phải sợ:
"Nó phục phịch quá, giá có phải lợn, bán đƣợc đến hơn hai mƣơi đồng. Bàn chân to và đầy
hùm hụp, nhấc đƣợc lên quả đã là khó nhọc. Cái mặt thì chỉ thịt rồi lại thịt, nẫn lên những thịt
- Hai má phị, hai mũi to mà lỗ thì lại nhỏ, gần nhƣ đặc, mắt không còn chỗ để phô ra, cái mi
mắt đủ đầy nhƣ một cái môi và cái môi thì dầy nhƣ ... không có cái gì dầy đến thế". Cũng
trong tác phẩm này, còn có hình tƣợng một nhân vật phụ nữ khác có ngoại hình nhƣ quỉ sứ
hiện hình. Đó là ngƣời vợ mới của Đức: "con này thì ngƣời đét mà cứng nhắc. Cái mặt thì
câng câng chẳng có tý nhân hậu nào. Da xấu quá, cứ tai tái, đen đen nhƣ ngƣời ngã nƣớc; hai
mắt to mà trắng dã... " Hình tƣợng nhân vật Trƣơng Rƣ cũng hiện lên trong tác phẩm với
những đƣờng nét nham nhở, gồ ghề nhƣ một quái nhân nhƣ thế: "Da đen nhƣ cột nhà cháy,
mặt rỗ lổ ong, trán thấp và hóp lại hai bên, tóc cờm cợp dở ngắn, dở dài, mắt ti hí nhƣng sáng
nhƣ mắt vọ, đã thế còn đƣợc đôi lông mày rậm và dựng đứng nhƣ hai con sâu róm nằm trên
trợ lực, tất cả những cái ấy vào hùa với cái mũi ngắn và to hếch lên nhƣ mũi hổ phù, đôi
lƣỡng quyền cao trên bờ những cái má trũng nhƣ hai cái hố, những cái xƣơng hàm nổi bật
lên, và bộ răng cải mả nhai xƣơng rau ráu cùng nhăn nhó, trừng trợn với nhau để tạo cho hắn
một bộ mặt làm những trẻ con trông thấy phải thét lên nhƣ bị mẹ bóp cổ". Gần gũi với bộ mặt
đằng đằng sát khí đó của ông Thiên lôi Trƣơng Văn Rƣ là bộ
154
mặt của Trạch Văn Đoành trong Đôi móng giò: "Cái mặt hắn vênh vênh ngậu xị thế nào ...
Đôi lƣỡng quyền nhô ra nhƣ gây sự với ngƣời ta. Hai má thóp vào đế tiếp sức cho hai cái
lƣỡng quyền. Cái mũi hóp lại ở trên để cho dƣới đƣợc banh ra ... cái hàm răng vổ làm môi trật
hẳn ra. Những cái răng dọa nạt ai: Y nhƣ một con chó khi nó gừ với một con chó khác". Với
một ngòi bút hiện thực tỉnh táo và rất kiệm lời nhƣ Nam Cao, việc khắc họa những chân dung
một cách tỉ mỉ, chi tiết nhƣ vậy hẳn không phải là không có dụng ý nghệ thuật.
Có thế còn dẫn thêm nhiều gƣơng mặt bất thành nhân dạng nhƣ thế nữa trong thế giới
nhân vật của Nam Cao. Nhƣng đến đây chúng tôi xin dừng lại ở một vài gƣơng mặt trong thế
giới nhân vật ấy của tác phẩm Truyện người hàng xóm. Trong cái xóm Bài thơ gần kề ngoại ô
ấy, số nhân vật chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, thế nhƣng cũng đã có tới vài ba gƣơng mặt
vẹo vọ, dị tật. Đó là ngƣời đầy tớ của ông ấm chủ nhân xóm Bài thơ "Một lão chột lực lƣỡng,
cục mịch, xấu xí, vai và lƣng u lên, cổ to và đen ghê nhƣ cổ trâu, chân đi bình bịch, cổ tay to
và vuông, những ngón tay nổi cục, mặt nấc lên thành nhiều cái bƣớu nho nhỏ, cái mắt chột
lúc nào cũng giƣơng cái con ngƣơi trắng đục ra, còn mắt kia thì luôn luôn nhấp nháy...". Cả
chủ và tớ chúng đều là những thằng câm: Thằng câm chuột bò và thằng câm nháy trời ...
trong xóm Dài thơ ấy còn có một thằng câm nữa, để phân biệt với hai thằng câm kia, ngƣời ta
gọi hắn là thằng câm tịt. Trong một cái xóm nhỏ có vài ba gia đình mà có tới ba thằng câm,
một cô thày mù lòa và mấy gƣơng mặt dị dạng. Điều ấy hẳn không phải không có ý nghĩa.
Chúng tôi cho rằng, việc Nam Cao khắc họa nhiều hình ảnh các nhân vật xấu xí, dị
dạng, dị tật không phải là để chiều theo tâm lý, thị hiếu thích cái mới lạ, bất thƣờng của ngƣời
đọc, càng không phải để miệt thị, bôi nhọ những ngƣời dân cùng khổ... mà nó là kết quả của
quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn. Hệ thống những nhân vật ấy cũng là yếu tố
tạo không khí cho hoàn cảnh, thể hiện hoàn cảnh nghệ thuật. Thông qua hệ thống những
155
nhân vật ấy, nhà văn phản ánh một hoàn cảnh phi nhân tính, hoàn cảnh làm biến dạng con
ngƣời không chỉ tâm tính mà cả hình hài, làm méo mó tha hoá con ngƣời không chí phần hồn
mà cả phần xác. Quan niệm sâu sắc này của. Nam Cao về sự tác động của hoàn cảnh tới con
ngƣời không phải nhà văn hiện thực đƣơng thời nào cũng có đƣợc.
Cũng xuất phái từ quan niệm nghệ thuật ấy, có một đặc điểm khá rõ trong tác phẩm
Nam Cao là khi miêu tả con ngƣời, tác giả hay ví von, so sánh con ngƣời ứng với loài vật, đồ
vật. Nhƣng không có nghĩa là nhà văn vật hóa con ngƣời - vật hóa là một thủ pháp thƣờng
đƣợc dùng để hạ thấp đối tƣợng. Nam Cao chỉ hay liên tƣởng so sánh con ngƣời với con vật,
đồ vật. Có thể dẫn ra ở đây rất nhiều ví dụ: "Nó trắng lắm, trông như con lợn cạo... giá có
phải là lợn bán đƣợc đến hai mƣơi đồng" (Nửa đêm); "Thỉnh thoảng hắn lại đƣa tay che
miệng ngáp thật to, như một con trâu nghé ọ..." (Trẻ con không được ăn thịt chó); "Cái đĩ
ngƣợng quá, duỗi cổ ra trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà nuốt nhái"
(Một bữa no); "Nó nhay cái vú beo như một con chó day bối giẻ" (Ở hiền); "Bao giờ Nhu
chẳng dễ bảo như một con chó xiếc" (Ở hiền); "anh có chân nhảy tót lên giƣờng ngồi chồm
chỗm như một con cóc rình muỗi" (Rình trộm); ."Mặt nó nhăn nhăn: Mặt giơi chẳng ra mặt
giơi, mặt chuột chẳng ra mặt chuột... loắt choắt như con chuột nhắt " (Một truyện xú vơ
nia); "Anh chàng ... da nhƣ con tằm bủng ... mắt híp như mắt lợn xể" (Lang Rận); "Mụ béo
trục béo tròn, mặt rỗ như tổ ong bầu, môi thâm mà đen như thằng quỉ" (Lang Rận); "Chúng
không lăn lộn trên giƣờng như một con đỉa phải vôi" (Điếu văn); "Trông anh những lúc ấy
chẳng khác gì một con cò chết rét" (Điếu văn) "Anh đa nghi như con chuột" (Nhỏ nhen); "Y
vừa nhảy cẫng lên như một con gà chọi " (Những truyện không muốn viết); "Sinh ngồi
xuống ghế ... mắt trợn lên nhìn trừng trừng cái chõng hàng như một con cóc nhìn giun " (Đón
khách); "Nó đầu to đít bé như một con nòng nọc cóc" (Truyện người hàng xóm); "Nó hếch
mặt lên mắt quắc quáo như một con chó thấy miếng thịt và cái tay người chủ đang rử rử"
(Truyện
156
người hàng xóm); "Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình cảm của một con
chó với người nuôi" (Đời thừa); "Vợ Hiệp lại cứng như một cái đanh, bẩn thỉu vá cục mịch"
(Sao lại thế này ?); "Hắn thấy mình khổ quá, khổ như một con chó vậy" (Nước mắt); "Y đi
trông thẳng đuồn đuỗn như một cây cau"; "Còn chúng mình thì khổ như chó cả"; "Nếu ông
chồng là một con gấu thì bà là một con cò ruồi" ; "Ông ngồi xay bột, ngƣời trần như một con
ếch"; "Ông chồng thổi kèn hăng quá ... cái cổ to như cổ trâu nổi cục lên" (Sống mòn) ...
Miêu tả ngoại hình, hành động nhân vật, Nam Cao hay liên tƣởng, so sánh, ví von với những
con vật nhỏ bé, xấu xí, những loài vật "hạ đẳng" trong số các loại vật nhƣ cóc, giun, chó,
ếch... Thậm chí, có không ít các nhân vật của Nam Cao mang dáng dấp, hình bóng của mít
quỷ. Đó là hình ảnh bà Quản Thích (Nửa đêm) già nua, còm cõi với cái giọng nói "Khàn
khàn ra nhƣ là tiếng mèo "và" cái mặt thì dăm dúm nhƣ cái đèn xếp của một cậu học trò vụng
làm thủ công "đang" đi thất thểu tựa như ma trơi "giữa đòng đời cay nghiệt. Đó là hình ảnh
ngƣời vợ của Đức (cũng trong tác phẩm này), Nửa đêm "ngồi chống tay nhìn mặt hắn, tóc nó
xõa xượi, mắt nó lấp lánh trong bóng tối" khiến cho Đức phải thốt lên: "Trời ơi! Nó là người
hay cái quái về đây báo oán ?". Đó là hình ảnh nhân vật Bịch (Mua danh) làm nghề xúc
dậm, đêm nào cũng nhƣ đêm nào, thui thủi "lần mò như một con ma" nơi bờ sông, bến nƣớc
để kiếm ít tôm, ít tép về bán lấy tiền sống qua ngày. Có khi cái nghèo, cái đói đã làm cho con
ngƣời không còn sinh khí và nhƣ đã nhập vào thế giới của hồn ma. Anh đĩ chuột (Nghèo) là
một nhân vật nhƣ thế: "Mái tóc dài xòa xuống tai và cổ, hai con mắt ngơ ngác và lờ đờ,
những chiếc răng dài và thƣa ở cai mõm hé ra để cho dễ thở khiến anh có cái vẻ đáng sợ của
con ma đói". Thậm chí có những ngƣời phụ nữ có nhan sắc nhƣng trong cái không khí ảm
đạm, thê lƣơng của một vùng quê nghèo khó xác xơ, cũng khiến ngƣời ta phải kinh sợ (Quái
dị): "Y còn trẻ lắm, mặt đẹp nhƣng xương xương, lạnh lạnh. Một cái khăn vuông đen trùm
gần hết trán ... Nó không ra mặt người. Nó giống ma quái gì". Nhìn ngƣời thiếu phụ ấy ấy cắt
tiết gà, nhân vật "tôi" liên tƣởng tới "Chuyện yêu tinh làm thịt con". Đọc Sống mòn, có hình
ảnh
157
của một nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua vài lần, nhƣng nó đã để lại ấn tƣợng rất sâu trong
tâm trí ngƣời đọc về cái mỏi mòn, tăm tối của kiếp ngƣời. Đó là hình ngƣời u em, một mình
trong đêm khuya canh vắng "Lặng lẽ như một con ma, ngồi vá bên một ngọn đèn con".
Có thể nói hình ảnh những ngƣời - ma ấy đã góp phần tô đậm thêm bức tranh một xã
hội mà ở đó ngƣời ta phải sống những kiếp sống lay lắt, lụi tàn. Con ngƣời của dƣơng gian
mà lại nhƣ những hồn ma ở âm thế. Cái không khí bế tắc, tù đọng, tối tăm, thiếu sinh khí của
hoàn cảnh cũng toát ra từ đó.
4.2. Những mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh
Trên cơ sở những kiểu loại mâu thuẫn, xung đột đã đề cập ở chƣơng 1, chúng tôi nhận
thấy, nổi lên trong nhiều tác phẩm của Nam Cao (đặc biệt là những tác phẩm viết về đề tài
ngƣời trí thức tiểu tƣ sản) một mâu thuẫn xung đột quen thuộc. Đó là mâu thuẫn xung đột
nằm ngay trong bản thân nội tại tính cách, tâm hồn nhân vật. Bàn về tiểu thuyết của
Đôxtôiépxki, L. X. Vƣgốtxki có nhận xét: "... trong tiểu thuyết, chúng ta vẫn thƣờng bắt gặp
các tính cách nhân vật đƣợc triển khai năng động, đầy những mâu thuẫn và đƣợc phát triển
nhƣ một nhân tố cấu trúc đang làm đổi thay mọi sự kiện, hay ngƣợc lại, nhƣ một nhân tố phải
chịu đựng sự biến dạng từ phía một nhân tố chủ yếu khác. Một sự mâu thuẫn bên trong nhƣ
vậy ta luôn tìm thấy trong các tiểu thuyết của Đôxtôiepxki" [280.291]. Ta cũng có thể nói
nhƣ vậy về tác phẩm của Nam Cao. Trong tác phẩm Nam Cao, mâu thuẫn giữa tính cách và
hoàn cảnh nhiều khi đƣợc phản ánh thông qua mâu thuẫn xung đột trong tâm hồn mỗi nhân
vật. Điều mà nhà văn muốn tập trung phản ánh là mâu thuẫn bên trong, chứ không chỉ là
những mâu thuẫn dễ nhận biết bên ngoài giữa tính cách và hoàn cảnh, giữa tính cách và tính
cách. Mâu thuẫn, xung đột trong Tắt đèn, Giống tố,Vỡ đê, Bước đường cùng, ... là những
mâu thuẫn xung đột mà ngƣời la có thể "nhìn thấy" còn trong tác phẩm Nam Cao), nhiều khi
ngƣời ta chỉ "cảm nhận thấy". Bởi vậy, ngƣời ta có thể dễ dàng chuyển thể các tác phẩm đó
thành kịch, thành phim
158
nhƣng thật khó có thể chuyển thể tác phẩm Nam Cao (chẳng hạn Sống mòn) sang những loại
hình nghệ thuật ấy. (Ở đây, chúng tôi không đặt vấn đề ai hơn ai mà chỉ muốn đối sánh để
thấy dƣợc sự khác nhau giữa Nam Cao và các nhà văn khác ở phƣơng diện khám phá, thể
hiện những xung đột xã hội thông qua những mâu thuẫn, xung đột nghệ thuật).
Tất nhiên, việc khẳng định những mâu thuẫn xung đột trong thế giới nội tâm nhân vật
là đặc điểm trong tác phẩm Nam Cao không phải là điều mới mẻ. Có nhiều nhà nghiên cứu
đã ý thức và khẳng định điều này. Chẳng hạn, Phạm Xuân Nguyên nhận thấy trong truyện
của Nam Cao: "Nhân vật luôn đứng giữa giáp ranh giữa thiện - ác, hiền - dữ ; luôn ở thế
giằng co, chống chọi giữa cái bên trong mình và cái nghịch cảnh bên ngoài ; luôn luôn ở
trạng thái hối hận, nuối tiếc, cô dơn" [193.148]- Trần Đăng Xuyên cho rằng, một trong những
yếu tố để dẫn tới sự khẳng định Nam Cao " Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ
nghĩa lớn", là vì "Nếu nhƣ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố - những nhà
văn hiện thực xuất sắc thời mặt trận Dân chủ (1936 - 1939) đều tập trung phán ánh trực tiếp
những mâu thuẫn, xung đột xã hội thì sáng tác của Nam Cao - đại biểu ƣu tú nhất của trào lƣu
hiện thực chặng đƣờng cuối cùng (1940 - 1945), trừ truyện ngắn Chí Phèo trực tiếp đề cập
tới xung đột giai cấp, còn các tác phẩm khác đều tập trung thể hiện xung đột trong thế giới
nội tâm của nhân vật " [193.156]. Nguyễn Quang Trung khi tìm hiểu Tính chất lưỡng hóa
trong nhân vật Chí Phèo đã có một nhận định gần gũi: " Với đề tài ngƣời trí thức tiểu tƣ
sản, Nam Cao mới thực sự quay về với bút pháp lƣỡng hóa, mỗi truyện của Nam Cao nhƣ
một trận địa tƣ tƣởng diễn ra cuộc vật lộn giữa chính và tà, giữa thiện và ác, giữa cao thƣợng
và thấp hèn giữa vị tha và vị kỷ ... Tất nhiên cuộc vật lộn của các nhân vật tiểu tƣ sản chủ yếu
diễn ra trong tâm tƣởng và thƣờng kết thúc ở hành động" [193.216]. Trong bài viết về " Bút
pháp tự sự đặc sắc trong Sống mòn", Nguyễn Ngọc Thiện cũng khẳng định: " Qua những
trang viết Nam Cao thấy hiện rõ ảnh về con đƣờng, về quá trình tìm tòi, căng thẳng, vật vã
đầy ƣu tƣ
159
ngƣời lƣơng thiện hƣớng về chân lý, công bằng, cái cao cả và điều lành, với một tinh thần
nhân ái, độ lƣợng" [193.333]. Bàn về giá trị của tác phẩm Sống mòn Đỗ Đức Hiểu viết:
"Sống mòn là sân khấu của những xung đột bên trong một con ngƣời, một thế giới ẩn sâu; nó
gây nhức nhối, xao động, gây bão táp, nó gây bất an cho ngƣời đọc, Nam Cao khuấy động
những tình cảm, những suy tƣ, gạt bỏ cái bên ngoài giao đãi, giả dối, cái mờ đục và phơi ra
ánh nắng cái chân thật, cái thật, sự thật. Cái xung đột mờ đục sáng trong làm nên sức sống và
giá trị lâu bền của Sống mòn" [193.337]. Tìm hiểu một chữ "nhƣng" trong văn Nam Cao,
Phan Trọng Thƣởng có một nhận xét rất xác đáng: " Đọc văn Nam Cao, ở truyện nào ta cũng
có thể gặp những hoàn cảnh mâu thuẫn; những tình huống trái ngƣợc; những sự tƣơng phản
giữa thực tại và ƣớc mơ, giữa bên trong và bên ngoài, giữa ý nghĩ và hành động, giữa cao cả
và thấp hèn, giữa lƣơng thiện và độc ác, giữa cái xấu và cái đẹp" [262.474]. Hà Minh Đức
trong Nam Cao đời văn và tác phẩm cũng đã nhiều lần nói tới vấn đề mâu thuẫn, xung đột
trong bản thân mỗi tính cách nhân vật của Nam Cao: "đứng về mặt luân lý nội tại của tính
cách nhân vật mà nói, thì tâm trạng Thứ là một tâm trạng phức tạp, lồng lộn trong bế tắc, một
tâm trạng đầy mâu thuẫn"[63.108] "Nhân vật của Nam Cao không thuyết lý dài dòng mà chỉ
chân thành bộc lộ những khía cạnh tâm lí, nhƣng mâu thuẫn đòi sống nội tâm"[63.171];
"Nhân vật tiểu tƣ sản của Nam Cao cũng chìm nổi vật vã trong cuộc đấu tranh với hoàn cảnh
và trong bản thân họ cũng chứa chất biết bao mâu thuẫn"[63.218]; "ở mỗi con ngƣời trong tác
phẩm Nam Cao luôn có mặt hai con ngƣời, con ngƣời trung thực và con ngƣời của sự che đậy
dối trá, con ngƣời năng động luôn muốn tìm đến mội hƣớng đi, một sự đổi thay và con ngƣời
thụ động bảo thủ, con ngƣời lãng mạn thi vị hoa và con ngƣời lấy đời sống thực tế làm chuẩn
mực, hai con ngƣời đó luôn đối mặt và đối thoại với nhau trong từng cảnh ngộ... " [63.292]...
Chỉ ra những mâu thuẫn xung đột trong tâm hồn, tính cách của các nhân vật, các ý kiến, nhận
định chú ý nhấn mạnh sự mâu thuẫn trong nội tại mỗi tính cách, nhìn nhận những mâu thuẫn
160
xung đột ấy trong quan hệ với tính cách. Từ góc độ hoàn cảnh nghệ thuật, chúng tôi muốn nói
thêm rằng, những mâu thuẫn xung đột trong nội tại mỗi tính cách, số phận ấy còn góp phần
đắc lực trong việc thể hiện hoàn cảnh. Bởi lẽ "Văn xuôi hiện thực nhìn nhận xã hội trong
quan hệ với số phận và ứng xử cá nhân. Hoàn cảnh là đối tƣợng ƣu tiên của chính nó nhƣng
con ngƣời vẫn là điểm lựa để nhìn vào hoàn cảnh. Văn học hiện thực xem con ngƣời là sản
phẩm của hoàn cảnh, là tiêu bản của hoàn cảnh. Mổ xẻ con ngƣời là khám phá tác động của
hoàn cảnh lên con ngƣời " [229.58].
Ở phần cơ chế của hoàn cảnh (chƣơng I) chúng tôi đã nhận xét rằng, nếu nhƣ Ngô Tất
Tố trong Tắt đèn chú ý tới cơ chế hành động của hoàn cảnh (cơ chế trấn áp, bạo lực) thì Nam
Cao lại thƣờng chú ý tới cơ chế tâm lý. Ở phƣơng diện mâu thuẫn xung đột "ta lại thấy nếu
nhƣ Ngô Tất Tố làm nổi bật mâu thuẫn xung đột giai cấp trong xã hội (thông qua những mâu
thuẫn xung đột đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật trong tác phẩm) thì Nam Cao lại tập trung
làm nổi bật những mâu thuẫn xung đột bên trong nội tâm. Một trong những mƣu thuẫn xung
đột nổi bật trong nhiều tác phẩm Nam Cao (ở cả hai mảng đề tài: nông dân và trí thức tiểu tƣ
sản ) là mâu thuẫn giữa các ƣớc muốn, khát vọng, hoài bão của con ngƣời với thực tại khắc
nghiệt không thể thực hiện đƣợc những hoài bão khát vọng, ƣớc muốn đó. Mâu thuẫn đó sẽ
dẫn tới những xung đột gay gắt trong thế giới nội tâm nhân vật. Và nhìn ngƣợc trở lại, những
mẫu thuẫn xung đột trong tâm hồn nhân vật ấy lại là sự phản ánh những xung đột xã hội. Ở
đây Nam Cao đã dùng cái vi mô để nói cái vĩ mô. Xung đột xã hội đã đƣợc phản ánh thông
qua xung đột trong thế giới nghệ thuật. Quả thực, Nam Cao đã "mổ xẻ" tâm hồn con ngƣời,
luồn lách ống kính hiện thực vào những ngõ ngách sâu kín nhất trong tâm hồn con ngƣời để
từ đó " khám phá tác động của hoàn cảnh lên con ngƣời", bi kịch xã hội đƣợc phản ánh trong
bi kịch của mỗi con ngƣời. Bởi vậy mâu thuẫn xung đột trong tác phẩm Nam Cao thƣờng
không mang tính chất căng thẳng, nhƣng nó lại vô cùng nhức nhối đớn đau.
161
Điển hình cho những nhân vật đầy mâu thuẫn xung đột trong nội tại tính cách, tâm
hồn là những Hộ (Đời thừa), Điền (Trăng sáng, Nước mắt) ... và nhất là Thứ (Sống mòn).
Trong thế giới tinh thần của ngƣời trí thức nghèo ấy, chứa đựng biết bao mâu thuẫn, bao đối
cực giữa: vị tha - ích kỉ, cao cả - thấp hèn, thiện - ác, tốt - xấu, cao thƣợng - nhỏ nhen ...
những mâu thuẫn, xung đột ấy không chỉ diễn ra một vài lần mà nó cứ trở đi trở lại trong suốt
cuộc đời của Thứ. Cuộc sống hàng ngày lạo ra biết bao tình huống để thử thách ngƣời trí
thức. Và trong những cuộc thử thách ấy, không phải bao giờ cái thiện, cái tốt, cái cao cả, cái
vị tha... trong con ngƣời trí thức cũng chiến thắng. Và mỗi lần bị thất bại trƣớc "phần con"
trong "con ngƣời" mình, nhân vật Thứ (cũng nhƣ Hộ, Điền...) lại xói xa đau đớn, dằn vặt, tự
xí vả mình. Sau sự kiện " Ăn hết cả chục chiếc bánh chƣng" để "cảnh cáo" Oanh vì cái thói
bủn xỉn, keo kiệt, Thứ nhận ra rằng: " Cái cử chỉ của y vừa rồi vừa tàn nhẫn đã đành. Nhƣng
nó chả thô tục hay sao? thô tục mà lại đê tiện nữa. Nó tỏ ra là một ngƣời quá để ý đến miếng
ăn ", Từ đó Thứ tự dằn vặt : " Y có thể kèn cựa, tèm nhèm, nhỏ nhặt đến thế ƣ? Y lấy làm
nhục cho y lắm" . Qua những giằng xé, đau đớn trong tâm hồn Thứ xung quanh câu chuyện
miếng ăn, vấn đề miếng ăn, vấn đề cái đói đã không chỉ còn là vấn đề vật chất, vấn đề nhu
cầu của sự sinh tồn, mà nó đã trơ thành vấn đề nhân phẩm. Cái đói ở đây đã không chỉ tác
động đến con ngƣời sinh vật mà còn tác động đến nhân cách, tác động đến Con Ngƣời theo
nghĩa viết hoa của nó. Chính Thứ đã chua chát nhận ra qui luật nghiệt ngã này của hoàn cảnh,
của sự đói nghèo: " Nó làm tiêu mọi sức lực, héo hắt tâm hồn.
Nó khiến ngƣời ta thành bủn xỉn, nhỏ nhen, ích kỉ, sát bờ đất. Nó tạo nên thành những
con ngƣời nô lệ". Nó làm ... Nó khiến..., nó tạo... Sự đói nghèo quả là có sức mạnh hủy diệt
ghê gớm cả phần xác và phần hồn của con ngƣời. Ở đây sự xung đột trong tâm hồn mỗi nhân
vật đã phản ánh sự nghiệt ngã của hoàn cảnh. Và ngƣợc trở lại, sự nghiệt ngã của hoàn cảnh
đã đƣợc phản ánh qua xung đột trong nội tâm nhân vật. Những mâu thuẫn xung đột ấy nhiều
khi đã trở thành những tấn bi kịch tinh thần đau đớn và dai dẳng đối với những
162
ngƣời trí thức nghèo trong tác phẩm Nam Cao. Chỉ vì có một hành động ti tiện về một miếng
ăn, Thứ cảm thấy " cả buổi chiều hôm ấy y luẩn quẩn với những ý nghĩ buồn bã về nhân cách
của y"; Cũng chỉ từ một đĩa cá kho " giá trị chỉ độ nửa đồng hào" mà đối với ai nhà là "to tát"
Thứ ân hận "nhớ đến những bữa ăn hàng, y tiêu tốn hang đồng". Nỗi ân hiện ấy khiến" suốt
một bữa cơm y nghĩ vẫn vơ. Y chẳng còn biết gì là ngon". Đối với ngƣời vợ nghèo khổ lam
lũ của mình Thứ cũng có những tình cam đầy mâu thuẫn, trái ngƣợc: yêu thƣơng và hờn giận,
tin tƣởng và nghi ngờ... Sự nghi ngờ vợ về lòng chung thủy có lần khiến Thứ " xao xác suốt
một đêm, khóc suốt đêm. Y đã nghiến răng nguyền rủa rất nhiều ngày. Rồi rất nhiều ngày y
đã tự vò xé lòng mình". Những mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, giữa cái cao cả và thấp
hèn... luôn diễn ra trong bản thân con ngƣời Thứ. Ranh giới giữa những phạm trù đạo đức ấy
thật mỏng manh và nhiều khi Thứ đã có những bƣớc chông chênh trên biên giới mỏng manh
đó để rồi có lúc chao đảo thụt bƣớc sa chân vào mảnh đất của cái ác, cái xấu. Đƣợc tin Đích
ốm nặng, trong đầu Thứ đã lóe lên một ý nghĩ tàn nhẫn: "Giá Đích chết ngay đi !" nhƣng
cũng tiền sau đó là sự hối hận chân thành: "Đội nhiên y thấy buồn rầu. Lòng y đã cằn cõi đến
mức ấy rồi ƣ ? y đã ích kỷ, đã đồi bại, đã tàn nhẫn, đã khốn nạn đến thế ƣ ? ". Sự hối hận
chân thành ấy khiến cho "trên mắt y, một chút nước mắt bỗng ứa ra. Trơ trơ trƣớc cái chết
của một ngƣời thân, y đã khóc cái chết của chính tâm hồn mình ".
Ngƣời ta có thể nói rằng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố là bản tố khổ chan hòa nƣớc mắt (ở
chƣơng II chúng tôi đã nói về vấn đề này). Nhƣng có lẽ khó có thể nói về tác phẩm Nam Cao
nhƣ thế. Bởi lẽ, trong các tác phẩm Nam Cao, tiếng khóc và hình ảnh những giọt nƣớc mắt
của các nhân vật xuất hiện không nhiều nhƣ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Nhƣng trong
những cuộc đấu tranh, xung đột giữa cái thiện và cái ác trong tâm hồn, khi sự chiến thắng
thuộc về cái thiện nhiều nhân vật của Nam Cao dã khóc. Điển hình là những giọt nƣớc mắt
hối hận chân thành của Hộ (Đời thừa). Sau những hành vi vũ phu đối với vợ con trong cơn
say, bản chất của một con ngƣời giàu tình thƣơng với triết lý
163
sống "kẻ mạnh không phải là kẻ đứng trên vai ngƣời khác để thỏa mãn lòng ích kỷ. Kẻ mạnh
là kẻ giúp ngƣời khác đứng trên đôi vai mình" đã thức dậy trong con ngƣời Hộ và "nước mắt
hắn bật ra nhưng nước một quả chanh mà người ta bóc mạnh. Và hắn khóc... ôi chao ! Hắn
khóc. Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc ... ". Nhân vật Điền (Trăng sáng),
sau những phút giây căm giận vợ con đến mức "muốn nhảy lại vợ mà bóp cổ", "tức xùi bọt
mép", "mắt hắn lòe ra lửa" và có những lời nguyền rủa độc ác, tàn nhẫn với vợ con, cũng đã
xót xa ân hận và trở về với bản chất của một con ngƣời có lòng nhân ái. Sự ân hận, xót
thƣơng khiến "mắt hắn đầm đìa"...
Bên cạnh hình ảnh những dòng nƣớc mắt chứa chan cảm động ấy là hình ảnh những
giọt nƣớc mắt hiếm hoi và không kém phần đáng quý của các nhân vật sau những trăn trở
giằng xé trong tâm hồn. Đó là hình ảnh giọt nƣớc mắt của Lão Hạc (Lão Hạc), giọt nƣớc mắt
cảm động, hiếm hoi của tuổi già rỉ ra từ trái tim của một con ngƣời có nhân cách cao đẹp khi
tự thấy mình có tội chỉ vì "già bằng này tuổi rồi mà còn đánh lừa một con chó". Nhắc đến cái
hành vi "lội lỗi " đó: "Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho
những mắt chảy ra". Hiếm hoi hơn nữa là hình ảnh giọt nƣớc mắt của Chí Phèo (Chí Phèo).
"Con quỉ dữ của làng Vũ Đại " ấy, dƣờng nhƣ chỉ biết làm ngƣời khác phải khóc, còn đôi mắt
hắn thì luôn ráo hoảnh hoặc đỏ ngầu vì rƣợu. Thế nhƣng, cái ác trong con ngƣời Chí cũng có
lúc phải lùi bƣớc trƣớc cái thiện. "Con quỉ dữ " ấy có lúc dã hoàn lƣơng. Và hình ảnh những
giọt nƣớc mắt trong những phút đầu hoàn lƣơng, phút đầu trở lại cuộc sống làm ngƣời của
Chí Phèo thật cảm động biết bao: "Hắn thấy mắt hình như ươn ướt". Xƣa nay khi khóc, có
mấy ai lại ý thức rằng mình đang khóc đâu. Thế nhƣng, Chí Phèo lại ý thức rất rõ điều đó:
"Hắn thấy...", nghĩa là Chí cũng rất hiểu giá trị của những giọt nƣớc mắt hiếm hoi ấy.
Hình ảnh những giọt nƣớc mắt của Hộ, Hiền, Lão Hạc, Chí Phèo ... là kết quả của
quá trình tự thức, của sự chiến thắng giữa cái thiện và cái ác, giữa phần "Ngƣời" và phần
"Con" trong mỗi " Con Ngƣời". Những xung đột âm
164
thầm và quyết liệt ấy đã gián tiếp phản ánh những mâu thuẫn xung đột xã hội và cũng góp
phần tạo không khí cho hoàn cảnh. Đó là cái không khí ngột ngạt, bế tắc, ảm đạm buồn
thƣơng mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong phần sau (4.4).
4.3.Cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn và cơ chế Sống mòn
4.3.1. Cơ chế lạnh lùng, tàn nhẫn.
Có thể nói, lạnh lùng, tàn nhẫn là một cơ chế tâm lý xã hội thể hiện trong nhiều tác
phẩm Nam Cao.
Nếu ai đó quen nhìn nhận hoàn cảnh ở những mâu thuẫn xã hội, xung đột giai cấp,
quan hệ đối kháng giữa nông dân và địa chủ, giữa kẻ áp bức và ngƣời bị áp bức, giữa giai cấp
thống trị và bị trị... thì sẽ ít thấy những kiểu loại mâu thuẫn, xung đột đó khi đọc tác phẩm
Nam Cao. Bởi vì ở đó, ít có những xung đột giai cấp gay gắt, quyết liệt, nảy lửa nhƣ trong
Tắt đèn của Ngô Tất Tố, ít có những cuộc đấu tranh, phản kháng giữa những ngƣời dân cùng
khổ với bọn áp bức, bóc lột, dù là tự phát yếu ớt nhƣ trong Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng (có
chăng, chỉ là trong Chí Phèo. Nhƣng hành động giết Bá Kiến của Chí Phèo cũng chỉ là một
ánh chớp lóe lên rồi vụt tắt trên cái nền đen tối, ảm đạm, triền miên).
Nói tới cơ chế của hoàn cảnh, không thể tácg rời nhân vật, đặc biệt không thể không
nói tới mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Nói rõ hơn, phải nói tới nguyên tắc chỉ
đạo, chi phối tới những mối quan hệ ứng xử ấy. Nổi lên trên nhiều tác phẩm của Nam Cao
không phải là những quan hệ đối kháng nhƣ thƣờng thấy trong tác phẩm của nhiều nhà văn
hiện thực đƣơng thời. Trong thế giới nhân vật Nam Cao, ít có sự phân tuyến chính diện, phản
diện rõ ràng. Không khí của hoàn cảnh thƣờng không đƣợc toát lên từ những mối quan hệ đối
kháng giai cấp nhƣ trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Giống tố (Vũ Trọng Phụng), Bước đường
cùng (Nguyễn Công Hoan) mà nó toát lên từ ngay những mối quan hệ giữa các nhân vật
cùng tuyến, bởi hệ thống nhân vật này tuân theo một cơ chế tâm lý xã hội - cơ chế lạnh lùng,
tàn nhẫn.
165
Có nhà nghiên cứu cho rằng, mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong tác
phẩm Nam Cao là những mối quan hệ rã rời, tan tác. Chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn tới một
tính chất khác của những mối quan hệ ấy - đó là tính chất lạnh lùng, tàn nhẫn, một tính chất
đã trở thành cơ chế tâm lý xã hội. Cơ chế này không chỉ chi phối tới mối quan hệ giữa những
kẻ không cùng giai cấp mà nó còn tác động tới mối quan hệ giữa những con ngƣời có cùng
cảnh ngộ, thậm chí cả những con ngƣời có cùng huyết thống, nghĩa là trong mối quan hệ ruột
thịt, cha con, vợ chồng, anh em, bà cháu ... Dƣới áp lực của hoàn cảnh, dƣới tác động tiêu cực
nghiệt ngã của môi trƣờng, quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời ngày càng trở nên tồi tệ.
Trong guồng quay của cơ chế lạnh lùng, tàn nhẫn đó, khó có đƣợc sự tồn tại của tình thƣơng.
Tình cảm nhân văn đó bị hoàn cảnh bóp chết bởi "chất độc ở ngay trong sự sống" (Sống
mòn) . Ngƣời ta có thể dửng dƣng, bàng quan trƣớc những nỗi đau, bất hạnh của ngƣời đời.
Thậm chí ngƣời ta còn thờ ơ, vô cảm đến tàn nhẫn trƣớc cái chết của đồng loại... Việc Chí
Phèo đâm chết Bá Kiến rồi tự chọn đến cái chết thê thảm khiến cho những con ngƣời ở làng
Vũ Đại "có nhiều kẻ mừng thầm. Không thiếu kẻ mừng ra mặt". Ngay cả Thị Nở, ngƣời duy
nhất trong làng Vũ Đại đã từng có tình yêu thƣơng chân thành cảm động với Chí Phèo cũng
chẳng có chút biểu hiện của sự xót thƣơng mà chỉ nghĩ tới cái hậu quả Chí Phèo để lại và
nghĩ tới " cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại..." Trong "Một bữa
no", khi bà phó Thụ nghe tin bà cái Tý chết, cũng chỉ lạnh lùng buông một câu: "Bà chết no".
Trong lời bình luận ngắn gọn ấy, ta nhƣ còn thấy cả cái hằn học, tức tối chƣa nguôi của ngƣời
đàn bà vừa ác tâm vừa ác khẩu này, Tính chất lạnh lùng tàn nhẫn của mối quan hệ giữa con
ngƣời với con ngƣời trong tác phẩm Nam Cao thể hiện ở nhiều chi tiết, mà một trong những
loại chi tiết tiêu biểu là những lời cay nghiệt của các nhân vật. Biết bao lần các nhân vật của
Nam Cao rủa nhau chết. Đây không phải là lời rủa giữa những kẻ hận thù giai cấp. Trái lại là
giữa những con ngƣời vốn có mối quan hệ gần gũi, thân thiết, ruột thịt: mẹ- con, cha - con,
bạn -bè, vợ chồng,
166
anh em, đồng nghiệp... Bản chất của những con ngƣời này là có tình thƣơng, nhƣng cuộc
sống khắc nghiệt tăm tối triền miên khiến họ trở lên cay nghiệt tàn nhẫn. Nhân vật ngƣời vợ
ông giáo trong Lão Hạc khi biết chuyện Lão Hạc phải ăn củ chuối, củ ráy, sung luộc, rau má
để sống qua ngày đã lạnh lùng nói: "cho lão chết"....
Sự cay nghiệt tàn nhẫn nhiều khi diễn ra cả giữa những ngƣời gần gũi thân yêu nhất.
Ngƣời vợ của văn sĩ Điền (Trăng sáng) có lúc đã gào lên với đứa con gái ốm yếu
"như một con mèo con" đáng thƣơng của mình: "kệ cha mày! Cho mày chết đi!" Và cũng
nhân vật Điền trong Nước mắt đã có lúc nguyền rủa đứa con tội nghiệp của mình bằng
"những lời nói bực dọc thành tàn nhẫn: Cho nó chết! cho nó chết! ...sống làm gì nữa! Nay ốm
mai đau thì chết đi cũng phải!.. Mày chết đi! Mày chết đi...".
Cũng chỉ vì mất mấy chiếc vé sợi mà chị cu Thiêm (Thôi đi về) đã rủa chồng: " Mày
chết đi!...Mày chết đi cho rồi...". Còn trƣớc câu hỏi của ngƣời vợ: "mình rủa tôi đấy à? mình
mong tôi chết lắm ?, ngƣời chồng - nhân vật "hắn" trong Cười đã trả lời cay độc: "Tôi mong
lắm, sống mà cứ cau có nhƣ khỉ thì cũng nên chết đi cho rảnh"... Và đây là sự thách thức đầy
nhẫn tâm của Thị Yên (Tình già) khi nghe bố mẹ đẻ mình dọa tự tử vì bị nghi ngờ oan là ăn
trộm mấy quả chuối trong vƣờn nhà: "... Không dễ gì mà chết đƣợc. Nếu chết mà dễ thì ai
cũng chết. Ông có giỏi thì chết đi xem nào ?".
Nhiều nhân vật trí thức tiểu tƣ sản của Nam Cao có bản chất là những con ngƣời giàu
lòng nhân ái, nhƣng hoàn cảnh sống khắc nghiệt với những lo lắng tủn mủn về vật chất đã
khiến họ không còn giữ đƣợc nguyên tắc tình thƣơng. Nhân vật nhà văn trong Mua nhà có
bản chất cao thƣợng và nhân đạo là thế vậy mà đã có ý nghĩ về một con ngƣời bất hạnh: "Hắn
đã muốn chết thì cho hắn chết:' và tự biện hộ cho mình: "Chẳng chết vì tay tôi thì chết vì tay
ngƣời khác". Thầy giáo Thứ (Sống mòn) khi nghe lên Đích - ngƣời anh họ của mình sắp trở
về, có nguy cơ mất chức Hiệu trƣởng, đã có một ý nghĩ
167
vụt đến: " Giá Đích chết ngay đi "để rồi sau đó tự dằn vặt lƣơng tâm: "lòng y đã cằn cỗi đến
mức ấy rối ƣ ? Y đã ích kỷ, đã đồi bại, đã khốn nạn, đã tàn nhẫn đến thế ƣ ?... " văn sĩ Hộ
(Đời thừa) cũng là một con ngƣời sống theo nguyên tắc tình thƣơng, lấy tình thƣơng làm
chuẩn mực. Xuất phát từ nguyên tắc tình thƣơng ấy, Hộ đã lấy Từ khi cô bị bỏ rơi cùng đứa
con. Nhƣng rồi hoàn cảnh của cuộc sống gia đình với "áo cơm ghì sát đất" đã có lúc biến Hộ
thành một kẻ vũ phu tàn bạo. Nhìn những đứa con của mình, Hộ thấy " đáng vật một nhát cho
chết cả". Ngay cả đối với Từ, ngƣời mà Hộ đã từng giang tay cứu vớt, Hộ cũng thấy "đáng
vật một nhát cho chết cả". Nhân vật San (Sống mòn) cũng đã có lúc nhìn những cậu học trò
nhỏ bé của mình với " đôi mắt nảy lửa" " căm thù và ý nghĩ": "...Muốn đem chúng ra mà giết
hết đi".
Cho nó chết, cho mày chết đi, cho hắn chết, chết đi cho rảnh, chết ngay đi, chết đi cho
rồi, giỏi thì chết xem nào ?... Những lời rủa xả tàn nhẫn, cay nghiệt ấy cứ trở đi trở lại nhiều
lần trên cửa miệng nhiều nhân vật của Nam Cao. Và nhiều khi nó phát ra từ những con ngƣời
bản chất có tình thƣơng. Điều đó càng làm nổi bật tính chất nghiệt ngã, phi nhân tính của
hoàn cảnh, hoàn cảnh đang dần giết chết tình ngƣời trong con ngƣời.
Không chỉ một lần, nhân vật của Nam Cao, dƣới sức xô đẩy của hoàn cảnh đã mong
muốn làm điều ác. Bà Quản Thích, "người đàn bà nhân đức" nổi tiếng một vùng, đã từng làm
bao điều thiện, cƣu mang những đứa trẻ không nơi nƣơng lựa, mà cuối cùng đi đến những ý
nghĩ cay độc: "Bà muốn cháu bà cũng hung ác như bố nó". "Cháu bà" là thằng Đức một đứa
trẻ vốn hiền lành, giờ đây là một chàng trai chăm chỉ tối bụng và có phần ngờ nghệch. Còn
"bố nó" là Lê Văn Rợ, biệt hiệu là Ông Thiên Lôi, một kẻ "hung dữ như một con hổ đói", đã
từng giết chết ngƣời vợ của mình nhƣ một tên đao phủ thời trung cổ. Trong "Đời thừa", nhà
văn Hộ, ngƣời đã từng mơ ƣớc viết những tác phẩm "ca tụng lòng thƣơng, tình bác ái, sự
công bình", mà có lúc đã nghĩ tới câu nói của một nhà triết học phát xít: "phải biết ác, biết
tàn nhẫn để mà sống cho mạnh mẽ"... Và ngay cả Thứ, ông " giáo khổ trường tư" luôn ý
168
thức về nhân phẩm, lƣơng tâm, tƣ cách của một con ngƣời, vậy mà đã phải tự thú: "Có lúc tôi
muốn tàn nhẫn quá. Tôi muốn làm một thằng bạt tử, chẳng nghĩ gì đến bố, mẹ, vợ, con để
khởi cái vì bận vướng thân... tôi cầu cho vợ tôi ghét tôi và làm tôi ghét..."
Nhƣ vậy, sự tàn nhẫn, lạnh lùng đã không chỉ dừng ở những hành động, câu nói bột
phát nhất thời mà nó trở thành ý thức. Chính ý thức ấy và sự bộc lộ của nó qua ứng xử, đối
thoại của các nhân vật đã góp phần làm nổi bật tính khắc nghiệt của hoàn cảnh, góp phần tạo
không khí cho hoàn cảnh.
4.3.2. Cơ chế "Sống mòn".
Đúng nhƣ Phong Lê nhận xét: "Có lẽ Nam Cao là ngƣời đầu tiên, và cũng là ngƣời
cuối cùng của văn học hiện thực Việt Nam cho ta cảm nhận đƣợc một cách đầy đủ hơn bất cứ
ai cái dƣ vị nhạt phèo mà thật mặn chát của một sự sống ... mòn; cái "Sống mòn" đã trở
thành một phát hiện kỳ thú, một biến trưng cho sự độc đáo trong sáng tạo của Nam Cao
(193.344). Trong cảm quan của Nam Cao, "Sống mòn" đã không chỉ là một hiện lƣợng ở một
cá nhân nào mà nó đã trở thành một cơ chế xã hội từ thành thị đến nông thôn. Cơ chế ấy thể
hiện trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là cuốn tiểu thuyết mà ngay cái tên của nó đã phản ánh cơ
chế ấy: " Sống mòn". Cơ chế này biểu hiện ở nhiều yếu tố.
Trƣớc hết, nó biểu hiện ở phạm vi hoạt động của các nhân vật trong tác phẩm. Các
nhân vật của Nam Cao thƣờng hoạt động trong một phạm vi rất nhỏ hẹp. Nhiều nhân vật hầu
nhƣ cả đời chỉ quẩn quanh trong bốn bức tƣờng của gia đình mình, quan hệ xã hội của họ
thƣờng rất hạn chế. Bức tranh xã hội các nhân vật thƣờng thƣa, mỏng, "tới hay lui vẫn chừng
ấy mặt người". Tiêu biểu là nhân vật Thứ. "ông giáo khổ trƣờng tƣ"này đã một thời có những
khát vọng đi xa "Đợi một dịp may mắn có thể xin làm bồi tàu để đi sang Pháp... để nhìn rộng
biết xa hơn, để tìm cách học thêm". Thế nhƣng cuối cùng Thứ lại phải trở về với cái không
gian tù túng của đời mình, bị bủa vây trong một thứ
169
lƣới vô hình của kiếp "Sống mòn": "Y hay ngồi trên giường trông ra bên ngoài cái cửa sổ
căng lưới thép, như một con thỏ trong cái chuồng của nó ". Đây quả là một hình ảnh mang
đầy ý nghĩa biểu tƣợng về một kiếp sống tù túng, bế tắc. Nhƣng trong thế giới "Sống mòn"
ấy đâu chỉ có cuộc đời của Thứ đang mỏi mòn, quanh quẩn ; đâu phải chỉ có Thứ là luôn bị
bó hẹp trong không gian tù túng của đời mình. Hãy xem những ngƣời sống xung quanh Thứ,
ta sẽ thấy tiêu biểu là ông Học. Ngƣời đàn ông suốt đời chỉ biết chúi mũi vào cái cối xay bột
này "Suốt ngày chỉ ở nhà. Ông chỉ ra khỏi cổng để đổ rác bẩn ra cái lối đi hay để tiểu tiện vào
những cái vũng ngầu ngầu ở chân tƣờng. Cả tháng ông cũng chẳng đi đâu". Không gian hoạt
động chật hẹp, tù đọng của Thứ cũng là của San, của Oanh, của Mô ... và xa hơn chút nữa là
của Đích. Thời kỳ đi học "Y phải trọ học ở những chỗ rẻ tiền... Y không ra đến ngoài, không
đi chơi". Trong thế giới của những con ngƣời sống quẩn quanh tù hãm ấy, không phải tất cả
đều là những ngƣời nghèo khổ có khi đó còn là những kẻ sống nhàn rỗi, phong lƣu. Đó là
mấy cô con gái nhà Hải Nam: "Họ chẳng làm gì mà cũng ít khi ra đến bên ngoài. Họ có vẻ
cấm cung".
Trong cái thế giới quẩn quanh tù hãm ấy, các nhân vật của Nam Cao thƣờng phải
sống trong môi trƣờng bẩn thỉu, tăm tối, nghèo nàn. Ánh sáng của cuộc sống phồn hoa không
bao giờ soi rọi tới nơi đây. Cái ngõ đi vào nhà ông Học - không gian cƣ trú của hai ông giáo
khổ trƣờng tƣ: San và Thứ là " cái lối đi bẩn thỉu và rác rưởi ! Lẫn rác mục, lá khô phủ trên
mặt, dày đến nỗi ngƣời ta đi thấy lún chân. Ngôi nhà của ông Học, nơi Thứ và San thuê trọ
nằm kề cận " Những vũng nước đen những chỗ đất phủ rêu nhầy nhầy, những đống rác lù lù
bừa bãi" và từ đó " một mùi khai khăn khẳn bốc lên". Trong tác phẩm " Truyện người hàng
xóm", xóm nghèo bài thơ là nơi cƣ trú của hầu hết các nhân vật, nhƣng thật mỉa mai, xóm
nghèo mang cái tên đầy thi vị ấy lại "ở ngang hống một cái ngõ ngang bẩn như một cái vũng
phân", quanh đó là "những đống rác, những đám rêu"," những vũng nước ngầu ngầu ","
Những
170
đống bã cua bốc mùi hăng"...Đây là những môi trƣờng đầy xú khí. Vậy mà bao kiếp ngƣời cứ
phải mỏi mòn hấp hối với những "hơi thở tàn" trong không gian ngột ngạt ấy. Trong không
gian đó, con ngƣời quả chỉ còn là tồn tại chứ không phải là sống, và vì thế, chân dung ngoại
hình của nhiều nhân vật cũng đã hiện lên theo xu thế của sự già nua, mỏi mòn, tàn tạ. Cuộc
sống đã bào mòn con ngƣời về thế xác và tinh thần. Chỉ sau ba năm xa quê hƣơng trở về, Thứ
đã thấy tất cả những ngƣời thân của mình đều trở nên tiều tụy. Đó là hình ảnh " bà ngoại y
già nua, ốm yếu, bẳn gắt, buồn rầu ... , chửi con cháu suốt ngày và khóc suốt ngày", là " ông
thân y uống rượu rất nhiều chỉ vì thất bại rất nhiều ", " lũ em lóc nhóc rất đông ... gầy guộc,
rách rưới, bẩn thỉu, đen thỉu ..." ; là " bà mẹ già và xấu đi nhiều quá ... làm và nhịn tọp người
đi nhƣ một con ve", và " vợ y cũng khác nhiều. Liên già đi đến mười năm. Khuôn mặt trái
xoan xƣa đã có cạnh ra. Dáng ngƣời và chân tay nặng nề thêm. Đôi mắt trong trẻo, long lanh
đã hơi mệt mỏi". Hình ảnh về sự tàn tạ, tiều tụy của ngƣời vợ sẽ còn nhiều lần trở lại trong
tâm trí của Thứ nhƣ một nỗi xót xa, nhức nhối: "Biết bao nhiêu sự đổi thay ! biết bao nhiêu
mộng đẹp tàn ! Liên đã già đi, đã xấu đi, đã mặc những áo rách bạc màu Cuộc sống vất vả
lam lũ và những hiểu lầm, ghen tuông, những xích mích, nghi kỵ nhỏ nhen đã khiến cho
ngƣời phụ nữ ấy héo hon ca về thể chất lẫn tâm hồn: "Những tia sáng của một tâm hồn tin
tƣởng, yêu thƣơng đã tắt trên đôi mắt của y. Đôi mắt bây giờ mệt nhọc hơn, lơ đãng hơn,
Liên có vẻ già đi đến mười năm Và ngay cả Thứ, cũng không thoát khỏi cái xu thế nghiệt ngã
đó: " Trƣớc sau chỉ cách nhau có 6,7 năm nhƣng mà biết bao nhiêu sự thay đổi ! y đã già đi,
đã xấu đi nhiều ... y là một ông giáo khổ tƣơng tƣ. Y mặc những quần áo rẻ tiền xốc xếch và
bạc màu". Chính vì vậy, không chỉ một lần nhân vật Thứ đã phải thốt lên lời cảm thán: " biết
bao nhiêu là sự đổi thay !" nhƣng đây lại là sự đổi thay đáng buồn, sự đổi thay theo chiều
hƣớng đi xuống của cuộc đời, của những kiếp " Sống mòn".
171
Sống trong cái thế giới ngột ngạt, quẩn quanh, tù túng, một thế giới đang bào mòn,
gặm nhấm cả phần xác và phần hồn của con ngƣời ấy, nhiều nhân vật của Nam Cao đặc biệt
là các nhân vật trí thức rất ý thức về hoàn cảnh thực tại của mình, ý thức đƣợc tác động
nghiệt ngã của hoàn cảnh. Tiêu biểu là Thứ (Sống mòn). Trƣớc những biểu hiện của tính
tham lam, ích kỷ, nhỏ nhen của Oanh, Thứ hiểu rằng: " Chất độc ở ngay trong sự sống.
Ngƣời nọ, ngƣời kia không đáng cho ngƣời ta ghét. Đáng ghét, đáng nguyền rủa, ấy là cái lối
sống lầm than nó bắt buộc người ích kỷ, nó tạo ra những con người tàn nhẫn, tham lam...".
Có thể nói, ở đây. Thứ dã hiểu rất rõ sự tha hóa của con ngƣời do hoàn cảnh, do cuộc sống
khắc nghiệt, do ảnh hƣởng của những mối quan hệ xã hội. Với ý thức ấy, Thứ đã tự giải thích
cho những hành động nhỏ nhen, ti tiện của mình đối với Oanh (Thứ nói với San: " Tôi vẫn
bảo rằng: ở với người tồi rồi chúng mình cũng sinh tồi" ). Đó cũng là ý thức của San thể hiện
qua câu nói của San với Thứ: " Chúng mình có muốn đểu giả làm gì ? Nhƣng bởi En đểu giả
nên chúng mình cùng hóa ra đểu giả". Thứ cũng đã lo sợ cho sự ảnh hƣởng tất yếu đó của
hoàn cảnh tới nhân cách của chính mình: " Mình ở chung với nhiều người nhỏ nhen lắm, tất
cũng có ngày nhỏ nhen như họ mất thôi", Nhân vật của Nam Cao không chỉ thấy đƣợc hoàn
cảnh làm tha hóa con ngƣời, mà còn hiểu đƣợc hoàn cảnh còn dập tắt, làm thui chột những
ƣớc vọng, khả năng của con ngƣời: "biết bao nhiêu tài năng không nẩy nở được, chỉ vì không
gặp được một cái hoàn cảnh tốt !... ". Và hiểu rằng hoàn cảnh đã hình thành nên ở con ngƣời
những thói quen mà ngƣời ta không dễ gì từ bỏ: " người ta không mỗi chốc bỏ được những
ngôn ngữ, cử chỉ mà cái hoàn cảnh đã tạo của mình" bởi vì đó không phải là thói quen của
riêng mình, mà " là cái thói quen lưu truyền đã mấy đời, đến nỗi nó đã nhập vào máu chúng
ta. Tƣ tƣởng, tính tình, cảm giác, hành động của chúng ta đều khuôn theo những thói tục.
Những lề lối sẵn trong thời đại của chúng ta. Thời thế đổi, lòng người đổi".
172
Nhân vật Thứ (Sống mòn) đã từng có những quan niệm sâu sắc, cao đẹp về sự sống
và cái chết. Với Thứ, sống không phải là sự tồn tại của thân xác, không chỉ là cuộc sống,
không chỉ là sự tồn tại trong hiện tại mà còn để lại dấu ấn trong tƣơng lai " Thứ vẫn không
thể nào chịu đƣợc rằng, sống chỉ là làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn áo mặc thôi.
Sống là để làm cái gì đẹp hơn nhiều, cao quí hơn nhiều. Mỗi ngƣời sống phải làm thế nào cho
phát triển đến tận độ khả năng của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi ngƣời chết đi phải
để lại một chút gì cho nhân loại. Có thú vị gì là cái lối sống co quắp vào mình, cái lối sống
quá ƣ loài vật, chẳng biết việc gì ngoài các việc kiếm thức ăn đổ vào cái dạ dày ". Ngƣời trí
thức ấy không chấp nhận cái " lối sống vô tri của cây cỏ cây" mà quan niệm " sống tức là cảm
giác và tƣ tƣởng. Sống cũng là hành động nữa, nhƣng hành động chỉ là phần phụ, có cảm giác
có tƣ tƣởng mới sinh ra hành động. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tƣ
tƣởng". Chính vì có những quan niệm sâu sắc và cao đẹp nhƣ vậy về ý nghĩa của cuộc sống
nên nhìn lại cuộc sống của mình và của bao ngƣời xung quanh mình Thứ đã phải ngậm ngùi
xót xa tự vấn: "Làm để có ăn, ăn để sống, sống để đợi chết... cả cuộc đời chỉ thu gọn vào
bằng ấy việc thôi ƣ ?". Và trên con tàu đƣa mình từ Hà Nội trở về cái nơi mà mình đã ra đi
với hy vọng " dự một phần vào việc xây dựng lại cái nhân loại... mênh mông rất bao la, rộng
rãi, cái nhân loại hỗn hợp dang bị khổ cực, đau đớn, điên cuồng vì những lỗi lầm của mọi
ngƣời, một cái nhân loại đang sống một cuộc sống tối ƣ vô lý" . Thứ đã khẳng định một quan
niệm nhân sinh: "Sống tức là thay đổi". Đó cũng chính là quan niệm của Nam Cao. Khi nhà
văn quan niệm " sống tức là thay đổi" cũng có nghĩa là nếu cuộc sống không thay đổi thì
không còn là sống, đó chỉ còn là một cuộc "Sống mòn", là cái chết đang đến từ ngay lúc
sống.
Ý thức rất sâu sắc về tác động tiêu cực của hoàn cảnh đối với nhân cách của con
ngƣời, về sự đen tối, nặng nề của cuộc sống hiện tại, và xuất phát từ những quan niệm sâu sắc
cao đẹp về ý nghĩa của cuộc sống con ngƣời nhiều
173
nhân vật của Nam Cao có khát vọng đổi thay, khát vọng thoát khỏi hoàn cảnh ngột ngạt tăm
tối đó, thậm chí có lúc họ cũng đã có khát vọng cải tạo xã hội. Nhƣng trong cái guồng quay
của cơ chế Sống mòn, cuối cùng họ lại "phải trở về với thực tế với cuộc đời chật hẹp" của
mình để sống với những tháng ngày buồn tủi. Có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm Nam Cao
những kiếp ngƣời có khát vọng thay đổi nhƣng rồi lại phải kéo dài tình trạng một cuộc sống
không đổi thay, mòn mỏi nhƣ thế. Tiêu biểu là nhân vật Hộ (Đời thừa), Điền (Nước mắt,
Trăng sáng), Dì Hảo (Dì Hảo), Bà Quản Thích (Nửa đêm), Hiền (Truyện người hàng xóm)
... thậm chí có những nhân vật đã phải tìm đến cái chết nhƣ một sự giải thoát (Chí Phèo).
Điển hình cho những nhân vật luôn có khát vọng thay đổi là Thứ (Sống mòn). Nhân vật
ngƣời trí thức này đã từng có những khát vọng đổi thay, khát vọng cải tạo xã hội " Y có cái
ảo tưởng đẹp đẽ mình cũng là một vĩ nhân, một anh hùng vượt lên trên sự tẩm thường để chỉ
nghĩ đến một cái gì vĩ đại mà thôi. Y nghĩ đến những phương kế để xoay ngược lại, đồng thời
xếp đặt cho sự giao tiếp giữa người với nqưòi ổn thỏa hơn". Và Thứ cũng hy vọng: " Y vẫn
cho rằng cuộc đời hiện tại của y chỉ là một cách sống tạm bợ mà thôi. Y vẫn đợi chờ một cái
gì, một cuộc đổi thay Nhƣng tất cả những khát vọng, những hy vọng đó sớm bị hoàn cảnh
thực tế bào mòn dập tắt. Thứ và biết bao nhân vật khác của Nam Cao, bên cạnh những khát
vọng thay đổi lại bị sức kéo bởi tâm lý ngại đổi thay. "Ông giáo khổ trƣờng tƣ" ấy đã có lúc
khẳng định: " Tôi không thể để tôi mục ra ở cái trƣờng này". Nhƣng rồi chính Thứ cũng tự
biết: " Y sẽ chẳng bao giờ tự rời nổi cái tƣờng này. Cuộc đời ở đây cố nhiên là chẳng đẹp gì,
nhƣng chắc chắn là y có ăn (...) đi là đến, những cái chƣa thấy đâu, sự bấp bênh, một cuộc đời
chƣa biết thế nào mà chắc chắn ..." ... Khát vọng bị bào mòn, hy vọng bị vùi tắt ... nhiều nhân
vật của Nam Cao luôn lo lắng về một tƣơng lai ảm đạm, bế tắc, lụi tàn. Tƣơng lai trong suy
nghĩ của các nhân vật không bao giờ có đƣợc sắc màu tƣơi sáng. Ngay ở nhân vật Chí Phèo,
kẻ mà ngƣời ta tƣởng rằng hắn không còn biết đến quá khứ (bởi hắn không còn ý thức về thời
gian: " Bây giờ hắn đã thành ngƣời không tuổi rồi. Ba mƣơi tám hay ba mƣơi chín ? bốn
mƣơi hay
174
ngoài bốn mƣơi ? (...) hắn nhớ mang máng rằng có lần hai mƣơi tuổi, rồi hắn đi ở tù, rồi hình
nhƣ hắn hăm nhăm không biết có đúng không?" ) mà chỉ biết có hiện tại (thậm chí không ý
thức cả về hiện tại: " Chƣa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chƣa bao giờ tỉnh táo để nhớ rằng hắn có
ở đời"). Vậy mà con ngƣời đã bị tƣớc đoạt quyền làm ngƣời ấy, khi thoát khỏi những cơn say
triền miên, khi bắt đầu trở về cuộc sống làm ngƣời đã ý thức về mình: " Hắn thấy hắn già mà
vẫn đơn độc", " Hắn đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời " ; và trƣớc mắt Chí là một tƣơng lai
mù xám: " Chí Phèo hình nhƣ đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cỏ
độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau". Sắc màu ảm đạm của tƣơng lai cũng nhuốm
trong suy nghĩ của nhân vật Thứ (Sống mòn): " Càng nhìn xa, y thấy đời y càng ngày càng
thắt chặt vào, càng chật chội thêm. Y chỉ có thể khổ hơn thế, không cố thể sướng ra ... Y
đúng nhƣ một con ngựa còm, vừa mới ỳ ạch qua cái dốc này lại đến ngay dốc khác. Tương
lai sầm tối". Tƣơng lai sầm tối và cuộc sống hiện tại âm u, mù xám đã làm tối sầm cõi lòng
và gƣơng mặt biết bao nhân vật của Nam Cao. Đã bao lần, trƣớc những tình cảnh xót xa của
sự đói khát, của sự nghi kỵ, ghen tuông, hờn giận, nhân vật Thứ đã " thấy lòng sầm tối lại".
Nhân vật San, một con ngƣời chẳng mấy khi gặp đƣợc điều tốt đẹp may mắn trong sự nghiệp
cũng nhƣ cuộc sống gia đình cũng bị bóng tối của hiện tại và tƣơng lai bao phủ " Mặt y tối
sầm những lo âu". Ngay cả nhân vật Mô, một chàng trai khỏe mạnh, xốc vác, sôi nổi rất có cá
tính cũng bị cuộc sống mỏi mòn bế tắc, không có chút ánh sáng ở tƣơng lai làm cho " trở nên
ít nói ít cƣời, mặt suốt ngày tối sầm sầm" . Và rồi, từ cái hiện tại mù xám, âm u ấy " Không
khí nặng nề, Giống tố sắp bùng ra. Trán tối sầm, mắt lo âu, mọi ngƣời lo lắng đợi". Nhƣng
đợi gì ? một tƣơng lai sáng sủa hơn ƣ ? trƣớc mắt họ chỉ là " một tia sáng mong manh", niềm
hy vọng, đợi chờ của họ chỉ là " hy vọng một cách vu vơ". Trong thực tại khắc nghiệt ấy,
nhân vật Thứ đã bao Kin trăn trở với những câu hỏi đầy bi quan, bế tắc về tƣơng lai: " biết
đến bao giờ... " còn có cách gì ...? " "còn có bao giờ... ", "không bao giờ dám cưỡng lại đời
mình". Mặc dù họ biết " đời họ là một đời tù đày" ... Nghĩa là, dù có ý thức về hoàn cảnh, ý
175
thức về cuộc sống tù đọng, ngột ngạt, tăm tối, bế tắc của mình, nhƣng họ vẫn không đủ dũng
khí, khả năng để bứt tung ra khỏi cuộc sống ấy.
" Sống mòn" đã trở thành một cơ chế tâm lý xã hội. Phát hiện, làm nổi bật đƣợc cơ
chế ấy là kết quả của cái nhìn hiện thực sâu sắc, nhân đạo và cũng là đóng góp của Nam Cao
trong việc phản ánh hiện thực xã hội ở phƣơng diện xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật.
4.4. Không khí ngột ngạt, bế tắc
Nhận định về tác phẩm Nam Cao, Hà Minh Đức viết: "Tác phẩm của Nam Cao mang
những đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực ở chặng đƣờng cuối cùng. Không khí ngột ngạt bao
trùm đời sống và tràn vào các tác phẩm. Số phận các nhân vật ở thành thị cũng nhƣ nông thôn
trong cảnh ngộ riêng của mình đều rơi vào bế lắc tột độ" [63.239]. Bàn về tác phẩm Sống
mòn, nhà nghiên cứu tiếp tục khẳng định: " Nam Cao đã phản ánh sâu sắc không khí ngột
ngạt bế tắc chung của cả xã hội đang bị đẩy đến bên bờ vực thẳm. Những nhân vật tiểu tƣ sản
bị giam hãm vào môi trƣờng chật hẹp, tù túng, quẩn quanh do một sức mạnh tƣởng nhƣ vô
hình nhƣng tác động lại rất cụ thể (...) Sống mòn là một hoàn cảnh hầu nhƣ không vận động
hay đúng hơn là cứ chết lặng dần, một hoàn cảnh khá điển hình không chỉ đƣợc tạo nên bằng
những tính cách tiêu biểu, những mối liên hệ cơ bản của nhiều tầng lớp giai cấp, mà còn bằng
không khí hấp hối và hơi thở tàn của toàn bộ xã hội" [63.222]. Nhà nghiên cứu văn học
Vƣơng Trí Nhàn khi bàn về " Những biến hóa của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam
Cao" cũng nhận xét: " Cảm giác về sự kỳ dị nảy sinh do chỗ tác giả tạo nên một hiệu quả
ngột ngạt tức thở, gợi ra cảm tƣởng một thứ lƣới vô hình bao quanh ngƣời ta. Lƣới chỉ mỏng
manh, nhẹ nhàng, nhƣng ngày một thít chặt hơn, khổng ai thoái ra nổi" [193.456]. Cũng với
cảm nhận ấy khi liếp nhận lác phẩm của Nam Cao, Hà Văn Đức viết: " Gấp những trang sách
của Nam Cao lại, ngƣời đọc dƣờng nhƣ vẫn cảm thấy ngột ngại và ám ảnh không nguôi với
số phận của những con người khốn khổ.
176
Cái không khí ngột ngạt đó chủ yếu là do hiện thực xã hội lúc bấy giờ " [193.478]...
Nhƣ vậy, cảm nhận về không khí ngột ngạt, bế tắc đến nghẹt thở là cảm nhận chung
của nhiều nhà nghiên cứu khi đọc tác phẩm Nam Cao. Nói lên sự cảm nhận ấy, cũng có nghĩa
là các nhà nghiên cứu đã khẳng định sự thành công của Nam Cao trong việc tạo không khí
cho hoàn cảnh, tức là trong nghệ thuật xây dựng hoàn cảnh. Vậy những yếu tố nghệ thuật nào
dẫn tới thành công đó?
Phải thấy rằng, không khí của hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao cũng toát lên từ tất
cả các yếu tố thuộc cấu trúc của hoàn cảnh: nhân vật, cơ chế, mâu thuẫn. Đồng thời nó còn
đƣợc toát lên bởi hệ thống một số tín hiệu nghệ thuật khác.
4.4. 1. Những hình ảnh tạo không khí
Trong hệ thống những hình anh tạo không khí, trƣớc hết là những bức tranh thiên
nhiên đƣợc nhà văn tái hiện trong tác phẩm. Nhiều nhà nghiên cứu đã có chung nhận xét là
Nam Cao rất ít miều tả thiên nhiên. Điều đó rất đúng, có lẽ đây cũng là một đặc điểm chung
của văn học hiện thực Việl Nam. Các nhà văn thuộc trào lƣu văn học hiện thực thời kỳ 1930 -
1945 thƣờng ít miêu tả thiên nhiên. Nhƣng tìm hiểu thế giới nghệ thuật Nam Cao, không nên
bỏ qua những chi tiết về phƣơng diện phản ánh này. Nó cũng là một yếu tố bộc lộ quan niệm
nghệ thuật về hoàn cảnh của tác giả.
Thiên nhiên cảnh vật trong tác phẩm Nam Cao không phải chỉ đơn thuần là những
bức tranh phong cảnh. Nhiều khi nó là yếu tố biểu hiện tâm lý. Và đứng ở góc độ hoàn cảnh
nghệ thuật, nó có thể là yếu tố tạo không khí cho hoàn cảnh, nghĩa là nó mang lại cho hoàn
cảnh trong tác phẩm Nam Cao tính nghệ thuật.
Trong tác phẩm Nam Cao, có những bức tranh thiên nhiên tƣơi đẹp, hấp dẫn. Sự tạo
dựng những bức tranh ấy xuất phát từ những dụng ý nghệ thuật
177
của nhà văn. Bởi nó tƣơng phản với cảnh ngộ, tâm lý nhân vật. Từ đó, nó càng làm nổi bật
cái nghiệt ngã đến tàn nhẫn của hoàn cảnh. Đây là bức tranh thiên nhiên tƣơi đẹp để chuẩn bị
cho một tình cảnh thƣơng tâm của sự đói khát và nhục nhã vì miếng ăn: " Nắng bừng lên.
Nắng mùa thu dìu dịu. Trời thì đẹp. Cánh đồng lúa mơn mởn, run gờn gợn nhƣ trong làn da ủ
kín, đột nhiên phơi ra gió lạnh. Phong cảnh quyến rũ nhƣ một nhan sắc hoàn toàn nảy nở"
(Trẻ con không được ăn thịt chó). Trong lúc gia đình văn sĩ Điền (Trăng Sáng) đang lục
đục vì ốm đau, dằn vặt, nhiếc móc lẫn nhau thì " Trên kia, giăng nhởn nhơ nhƣ một có gái
non vừa mới có nhân tình. Gió nhẹ nhàng đặt trên lá những bƣớc chân vũ nữ. Những tàu lá
láng trăng đƣa đẩy". Đây là cảnh vật trƣớc con mắt của một chàng trai sau ba năm chờ đợi
vừa bị ngƣời yêu phụ bạc bỏ đi lấy chồng chỉ vì ngƣời đó giàu có: " cảnh rất tƣơi vui ... bầu
trời rất xanh, không khí trong suốt. Cánh đồng gió lộng phập phồng nhƣ cái ngực xốn xao của
bể. Lại có nắng, có chim, có tiếng xe bò nghiến những hòn đá vụn nghe lắc rắc và tiếng cƣời,
nói" (Nhìn người ta sung sướng). Và đây là hình ảnh thiên nhiên đối lập với tình cảnh của
nhân vật Phúc trong giây phút kề bên cái chết: " Bên ngoài trời rất đẹp. Nắng tƣng bừng. Một
đàn chim sẻ chí chóe cãi nhau nhƣ một lẽ trẻ con tập làm ngƣời lớn ... muôn loài sống mạnh
mẽ và sung sƣớng. Không gian là một đám hội xôn xao và rực rỡ " (Điếu văn) ... Sự tƣơng
phản giữa cảnh ngộ, tâm trạng nhân vật với những bức tranh thiên nhiên tƣơi đẹp đầy sức
sống ấy đã làm nổi bật hơn sự trớ trêu của hoàn cảnh, sự vô tình của cuộc đời đối với những
khổ đau bất hạnh của con ngƣời.
Nhƣng không phải bao giờ thiên nhiên trong tác phẩm Nam Cao cũng; sinh động, tƣơi
đẹp, hấp dẫn, mà nhiều khi nó mang màu sắc của sự hắt hiu, tàn lụi nhƣ chính mộc sống của
con ngƣời. Đó là khung cảnh một bầu trời chiều hắt hiu ảm đạm đang lụi tàn lúc hoàng hôn: "
Không gian xám tro. Và tít ngoài xa, đằng sau nhƣng đám me loáng thoáng nhƣ những mạng
nhện đen, trên một nền trời bằng lạng, mấy vệt màu đỏ chết, cứ nhạt dần đổi màu
178
sang màu tím thầm " (Sống mòn) ; là cái phai tàn của nắng, cái chết lặng của không gian
trong một xóm nhỏ ngoại ô, nơi cƣ trú tạm bợ của nhiều kiếp người khốn khổ đang phải
sống cuộc sống quẩn quanh tù hãm: "nắng nhạt dần. Nắng úa vàng, sức nắng giảm rất mau.
Thứ tƣởng nhƣ trông thấy thời gian trôi và ngày chết dần di. Mấy cái tàu chuối hơi cúp
xuống, gió chỉ khẽ lung lay và ngây ra trong một dáng điệu ngẩn ngơ" (Sống mòn). Đó là
hình ảnh thiên nhiên vào lúc còn có ánh sáng của ban ngày, còn khi bóng đêm bắt đầu buông
xuống, thế giới thiên nhiên ấy càng trở nên u uất, tối tăm hơn: " Con đƣờng vắng, chạy dài
phang lì dƣới ánh sáng úa vàng của những bóng đèn buồng ngủ ... hàng cây cối ở bên đường
ủ rũ bơ phờ nhƣ những ngƣời ốm tƣơng tƣ ... Cây rậm um tùm. Nước đen ngòm. Bóng tối u
uất, âm thầm" (Sống mòn). Hình ảnh những bức Tranh thiên thiên mang màu sắc của sự hắt
hiu, lụi tàn, tăm tối, hẳn không phải là ngẫu nhiên. Nó là kết quả quan niệm nghệ thuật về
hoàn cảnh của nhà văn. Chính quan niệm nghệ thuật về một hoàn cảnh tù đọng, tăm tối, mỏi
mòn đã chi phối tới việc tái tạo những bức tranh thiên nhiên ấy. Và những bức tranh thiên
nhiên đó đã góp phần tô đậm thêm cái nền đen tối, trì trệ, ngƣng đọng của hoàn cảnh Sống
mòn.
Có một điều nhận thấy khá rõ là mặc dù rất ít miêu tả thiên nhiên, nhƣng nếu tả thiên
nhiên, Nam Cao thƣờng chú ý tới những trận bão, những cơn mƣa, những thiên tai ... Có lẽ
bởi vì những hiện tƣợng thiên nhiên ấy có ảnh hƣởng rất rõ rất mạnh tới số phận thế giới
nhân vật quen thuộc của Nam Cao: những con ngƣời cùng khổ, nhất là những ngƣời nông dân
mà miếng cơm manh áo phụ thuộc rất nhiều vào mƣa, nắng, bão, giông. Chính cơn bão quái
ác làm cho " hoa màu bị phá sạch sành sanh" là một trong những nguyên nhân dẫn tới cảnh
ngộ bi đát và cái chết thê thảm của Lão Hạc. Cũng chính cơn bão bất ngờ xảy ra vào " tận lúc
đã sang tháng chín" khiến cho ngôi nhà của nhân vật" tôi " (Mua nhà) bị" úp xuống nhƣ một
ngƣời già khụy gối" và " vƣờn bị tàn phá hết. Bao nhiêu tiền của, bao nhiêu mồ hôi nƣớc mắt
đổ ra chăm chút cho giàn
179
trầu, bụi mía thôi là mất công toi". Và cũng chính cơn bão tháng chín ấy dã làm cho bao
ngƣời dân quê phải xót xa nghĩ tới một tƣơng lai sầm tối: " Trận này nữa là không một giống
cây gì còn sống nổi. Rồi đây vƣờn sẽ chỉ còn đất trắng, củ chuối mà ăn cũng không có
nữa"(Làm tổ). Trong cái nhìn của Nam Cao thiên nhiên nhiều khi thật khắc nghiệl, quái ác.
Nó cũng nhƣ một lực lƣợng vô hình đầy sức mạnh và không kém phần tàn bạo góp phần cùng
cái xã hội bạo tàn đẩy những ngƣời dân khốn khổ vào sự cùng cực của đói nghèo. Nam Cao ít
miêu tả thiên nhiên, nhƣng những đoạn văn miêu tả thiên nhiên, đặc biệt những trận bão,
những cơn gió đã thể hiện một tài năng miêu tả tạo dựng không khí. Hãy xem Nam Cao tả
gió: " Gió suốt đêm ... gió đã hung hăng lắm, lấn át những tiếng kêu rên của lá ... Mặc ! gió
vẫn gào vẫn thét, vẫn hồng hộc nhƣ những con ngựa chiến. Và trên cao cái thứ tiếng u u vẫn
kéo dài ra mãi nhƣ có ngƣời chọc tiết hàng trăm con bò" (Làm tổ). Có khi gió đã trở thành
một lũ âm binh quái đảm dữ tợn từ địa ngục xô về dƣơng thế: " Gió thổi hồng hộc. Gió gào
rít lên, gió nghiến răng, gió reo cƣời. Đó là cả một bọn âm hồn xổng từ địa ngục ra. Chúng
điên cuồng sự tự do. Chúng ùa nhau, xô đẩy nhau à á chạy về cõi trần gian ..." (Hai người ăn
tết lạ).
Trong thế giới thiên nhiên, cảnh vật, Nam Cao thƣờng chú ý miêu tả ngôi nhà, căn
phòng của các nhân vật. Bởi trong thực tế, không gian nhà ở, căn buồng là không gian cƣ trú
thƣờng nhật của con ngƣời. Vậy hình ảnh nhà trong các tác phẩm của Nam Cao có gì đặc biệt
? Nếu chú ý ta sẽ thấy, hầu hết hình ảnh những ngôi nhà trong tác phẩm Nam Cao đều rất
thấp bé, ẩm thấp, tối tăm. Có khi nó không đáng gọi là "nhà" mà chỉ đƣợc gọi là "lều". Đó là
"cái lều ẩm thấp chỉ hơi lờ mờ" mà ở đó " ngƣời ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm thì ban
ngoài trời vẫn sáng ..." của Chí Phèo; là "cái lều hôi hám" của mẹ con Dì Hảo (Dì Hảo); là
"cái nhà lá tối như hũ nút" của ngƣời phụ nữ bất hạnh đang rơi vào một hoàn cảnh bi thảm
trong "Quái dị"; là " gian nhà tối ẩm, đầy mùi bệnh tật, rác rưởi, muỗi ruồi " mà ở đó: " Chỉ
có những
180
con ruồi là có vẻ sống có vẻ hoạt động và khỏe mạnh giữa cái thế giới ốm yếu ấy, đã chìm
một nửa vào cõi chết..." của anh Phúc (Điếu văn) ; là " Căn nhà lá ẩm ướt tối om om" của vợ
chồng Mô (Sống mòn) ... Những ngôi nhà, những " căn lều nát " ấy thƣờng dƣợc đặt trong
những không gian bẩn thỉu, hôi hám. Nhân vật " tôi " (Mua nhà) hiểu rằng đến chơi nhà
mình, những ngƣời bạn sẽ phải " chui vào một cái lều tối om om. Nền nhà bằng đất nên âm
ẩm dƣới chân. Một mùi mốc khăng khẳng làm các anh nhăn mũi ... ". Hai thầy giáo San và
Thứ (Sống mòn) phải ở trọ trong một ngôi nhà " Mùa bức đến ... mùi phân và mồ hôi ngựa
đưa sang rất là khó ngửi". Trong cái không gian tối tăm, hôi hám ấy, nhiều ngôi nhà toát ra
một không khí lạnh lẽo, âm u, bệnh tật, chết chóc. Bƣớc chân vào ngôi nhà của ngƣời phụ nữ
đang cần thuê ngƣời làm, những ngƣời thợ gặt trong Quái dị cảm thấy "Cái khí lạnh ở ngoài
đƣờng lúc này chƣa thấm vào đâu với cái lạnh trong căn nhà hoang vắng này". Cậu bé Hiền
(Truyện người hàng xóm) cũng cảm thấy cái lạnh lẽo ấy trong gian buồng ở thuê của hai mẹ
con "... khí lạnh ùa sang cả nhà Hiền. Nó thấy nhà tẻ ngắt, tẻ ngơ. Buồn vắng làm sao !" ...
Thậm chí, không gian của những ngôi nhà, căn buồng trong tác phẩm Nam Cao còn mang
màu sắc thâm u đầy tử khí. Nó nhƣ không còn là thế giới của dƣơng gian mà đã trở thành âm
thế. Nhân vật Dì Hảo (Dì Hảo) mặc dù rất nuối tiếc tuổi thơ vì hiện tại đầy khổ đau, nƣớc
mắt, nhƣng vẫn " muốn xa lánh hẳn cái lều đầy những ma cùng quỉ ... và mỗi lần về thăm mẹ,
dì thấy hơi rờn rợn khi đến gần cái bàn thờ lúc nào cũng âm u nhƣ che đậy bao nhiêu là bí
mật" đến nỗi có cảm tƣởng " chốn này có vẻ một nơi ma ở quá". Và căn nhà của mẹ con Hiền
(Truyện người hàng xóm) cũng mang màu sắc không khí cõi âm nhƣ thế: " Căn nhà trở nên
đầy những quỉ cùng ma. Ma lủng lẳng ở trên không. Ma ở dưới gầm giường. Ma ở trong xó .
Chúng đứng kia trong bóng tối".
Có một đặc điểm dễ nhận thấy là nhiều ngôi nhà trong tác phẩm Nam Cao thƣờng
đƣợc đặt ở vị trí trong ngõ (một không gian tù túng, bế tắc) và rất
181
hay trong tình trạng đóng cửa (tô đậm sự ngột ngạt, tối tăm). Cái xóm Bài Thơ của những
ngƣời dân nghèo ngoại ô (Truyện người hàng xóm) " ở ngang hông một cái ngõ". Sau này
dời khỏi cái xóm nghèo ấy, nhân vật Tiền cũng lại đến sống trong một căn nhà ở "Lối vào
ngõ gạch" mà muốn đến đó ngƣời ta phải đi qua một "lối đi rất hẹp" và trong nhà thì "Tối
như hang". Ngôi nhà của ngƣời chủ nhân xóm Bài Thơ mặc dù "kiên cố, nghênh ngang và bệ
vệ" nhƣng " những cánh cửa con bao giờ cũng đóng". Mấy nhà hàng xóm của Tiền, nơi ở
mới cũng "đều đóng cửa". Ngôi nhà của ông Học, nơi San và Thứ (Sống mòn) ở trọ cũng " ở
thụt mãi trong làng. Từ ngoài đƣờng nhựa có một cái ngõ sạch đi vào". Hơn nữa đấy lại là
cái ngõ cụt: " Ngõ vào đến nhà ấy vừa cùng". Đặt nhân vật của mình vào những không gian
cƣ trú ấy, hẳn không phải là sự vô tình của tác giả. Nó vừa là hình ảnh của hiện thực, vừa
mang ý nghĩa biểu tƣợng.
Dƣờng nhƣ, để tô đậm cái hoàn cảnh tối tăm (theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen), nhiều
sự kiện, hành động của các nhân vật Nam Cao thƣờng xảy ra vào không gian trời tối, khi
bóng đêm bắt đầu buông xuống. Ngay cả những sự kiện tƣơi sáng nhất của đời ngƣời cũng
thƣờng diễn ra vào thời điểm ấy. Đám cƣới của dì Hảo (Dì Hảo) diễn ra vào "một buổi chiều
có sương bay" và lúc đón dâu là " vào lúc tờ mờ tối". Đám cƣới của Dần (Từ ngày mẹ chết)
cũng lại diễn ra vào cái thời điểm ấy. Nó không đƣợc diễn ra vào ban ngày mà phải "đến tối,
dám cưới mới ra đi ". Bởi vậy hình ảnh của đám đƣa dâu ấy mới ẩm đạm, tăm tối biết chừng
nào ! "Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt
díu nhau đi tìm chốn ngủ ". Không hiểu đây là hình ảnh của cuộc đƣa dâu hay đƣa đám? Hình
ảnh của đám cƣới hay đám tang nghèo ? Hình ảnh của niềm vui đoàn tụ hay nỗi buồn chia
phôi?
Nếu chú ý tới hình ảnh của những ngọn đèn trong tác phẩm Nam Cao, ta cũng thấy
chủ yếu là những ngọn đèn lù mù, yếu ớt. Đơn cử trong tác phẩm
182
Truyện người hàng xóm. Tác phẩm này mở đầu bằng một không gian còn mờ tối " đƣờng
vắng vả câm. Nhà hàng phố còn đóng cửa". Hiện lên trong không gian ấy là " Những bóng
điện mòng mọng đỏ". Nhìn những ngọn đèn ấy, cậu bé Hiền cảm thấy " chúng giống hệt nhƣ
những con mắt đã thức đêm nhiều quá thành mỏi mệt. Chúng gà gà)". Đến khi trời tối, trong
những gian nhà rách nát của xóm Bài Thơ, ngƣời ta lại thắp lên những ngọn đèn Hoa Kỳ
"Những ngọn đèn ngái ngủ chí thức mỏi đêm nửa tiếng đồng hồ vào lúc bắt đầu đêm. Chúng
tù mù...". Hình ảnh những ngọn đèn thiếu sáng ấy "làm ngƣời ta nghĩ đến những kiếp sống
còm rom, những cuộc đời lúc gần tàn, những người già nằm đợi chết...". Và hình ảnh tù mù
lay lắt của những ngọn đèn ấy sẽ lại còn hiện lên ở cuối tác phẩm nhƣ một nốt nhấn thê lƣơng
giữa bản nhạc cuộc đời thê thảm. Đó là khi nhân vật Hiền, một mình tuyệt vọng bơ vơ giữa
dòng đời lạc vào một" khu vƣờn tối om om" mà ở đó "những bóng đèn thưa thớt ở ven đƣờng
bị lá cây um tùm che lấp không tỏa sáng đi xa đƣợc. Ở trên là bóng tối dày và đặc". Có thể
nói, hình ảnh những ngọn đèn mù mờ ấy chí càng làm nổi bật cái bóng tối dày đặc bao quanh
và rộng hơn là càng làm nổi bật không khí tối tăm, ngột ngạt, bế tắc của hoàn cảnh. Trong
tiểu thuyết Sống mòn, hình ảnh ngọn đèn tù mù lay lắt với không gian bóng tối cũng rất đáng
chú ý. Ở phần "Cơ chế Sống mòn" chúng tôi đã hai ý không gian hoạt động của nhân vật
Thứ, San là rất chật hẹp, quẩn quanh tù túng. Đến đây chúng tôi muốn nói thêm rằng, những
nhân vật ngƣời trí thức nghèo ấy thƣờng ra khỏi nhà khi trời tối. Hình ảnh những con đường
đầy bóng tối cũng là một chi tiết xuất hiện nhiều lần trong Sống mòn. Nhân vật Thứ đã đến
nhà Hải Nam với ý định xin ở trọ qua " Con đường nhựa dưới vòm cây tối đen thăm thẳm
nhƣ một dòng sông chảy trong hang ". Khi chuyên chỗ ở từ trƣờng đến nhà ông Học, họ cũng
đợi đèn " Tối mịt mới dọn nhà... Họ muốn làm việc ấy lén lút nhƣ một cô gái chửa hoang đi
đẻ " Cuộc gặp gỡ giữa San và một cô gái án sƣơng cũng xảy ra " Giữa một con đường tối
trong vƣờn bách thảo". Trong
183
những giờ phút cảm thấy cô đơn, lẻ loi muốn tìm một cử chỉ yêu thƣơng, một bàn tay ve
vuốt, Thứ đã đi lang thang vô định và " y rẽ vào những con đường tối và ít ánh đèn ... con
đƣờng vắng, chạy dài phẳng lì dƣới ánh sáng úa vàng của những bóng đèn buồng ngủ, cũng
quạnh hiu nhƣ cõi lòng y ..." và " Nhiều khi Thứ đi sâu cả vào những con đường tối và kín
đáo trong vƣờn bách Ihảo ... cây rậm um tùm. Nƣớc đen ngòm. Dóng tối u uất âm thầm Ở
phần cuối tác phẩm, sau khi ở quê lên trở về trƣờng với một hy vọng mơ hồ, mong manh là
vẫn còn việc làm, Thứ cũng " không muốn đến trƣờng vào lúc chƣa tối hẳn" và ông giáo khổ
trƣờng tƣ sắp thất nghiệp ấy đã " chọn mé đường tối cúi mặt xuống mà đi"...
Có thể nói, không khí ngột ngạt, bế tắc, tăm tối của hoàn cảnh đã toát lên từ nhiều hệ
thống những chi tiết nghệ thuật. Ở phƣơng diện những hình ảnh tạo không khí, ta còn có thể
nhận thấy rằng, thế giới đồ đạc của hầu hết các nhân vật trong tác phẩm Nam Cao thƣờng rất
nghèo nàn, chắp vá, cũ nát, tạm bợ (ngoại trừ gia cảnh của một số ít các nhân vật - nhƣ Hải
Nam (Sống mòn). Nhƣng cả cái cơ ngơi đổ sộ của " tay thầu khoán, kiêm lái gỗ, kiêm chủ
đồn điền giàu cỏ tiếng ở vùng này" trông nhƣ "dinh cƣ của những vị tể tƣớng về hƣu trong
các truyện tàu" đằng sau " cái cổng lù lù, trông hiu quạnh và vắng lặng như một cái cổng
thành cổ", cũng bị bao phủ một không khí thâm u).. Trƣớc hình ảnh thế giới dồ đạc của các
nhân vật trong Sống mòn, ngƣời ta có thể nhớ tới nhận xét của M.B. Khraptrenko về Gôgol:
"nhƣ Bandắc, tác giả Những linh hồn chết đã mô tả rộng rất cảnh sinh hoạt vật chất của các
nhân vật của mình, cái hoàn cảnh mà họ có sinh hoạt chặt chẽ. Gôgol đã đi xa hơn Bandắc
trong việc khám phá quan hệ đó, ông đã chỉ ra sự gắn kết của con ngƣời với thế giới đồ vật,
khi mà "hoàn cảnh " có thể là một loại dấu hiệu của nhân vật, còn nhân vật là dấu hiệu của đồ
vật" [110.103].
Ta hãy thử nhìn lại gia cảnh, đồ đạc của những gia đình trong " cái xã hội con con" ở
nhà ông Học. Trƣớc hết là đồ đạc, vật dụng của gia đình ông
184
chủ nhà. này. Bên trong ngôi nhà mà " ai cũng tưởng là một phần chuồng ngựa" này, tất cả
đều toát lên sự nghèo nắn, mỏi mòn, tàn tạ. Đó là những chiếc " bàn ghế cục mịch và không
được bóng ... ít khi dùng đến, ít khi lau chùi và bụi bụm khá nhiều "; là chiếc ấm với " chiếc
vòi không chịu chảy " và có chảy thì cũng chí "liu rịn chậm chậm" sau khi ông chủ nhà phải
"ghé miệng vào vòi ấm, thổi"; là "những chiếc chén hạng rẻ tiền trông nhƣ cáu bẩn" ... Trong
căn nhà bếp, mà "mặt trƣớc trông hốc hác như quán chợ " cũng "chẳng thấy kê đồ đạc gì,
toàn thúng mủng " ... Gia đình ông chủ nhà đã vậy. còn những ngƣời ở trọ thì sao? Gia cảnh,
vật dụng của những gia đình này cũng chẳng khá hơn gì, thậm chí còn nghèo nàn, tạm bợ
hơn. Trong cái nhà lá sau khi anh xe đến ở trọ " vẫn trước thế nào, sau thể ấy: ban ngày vẫn
bỏ không, đồ đạc chẳng thêm gì, vẫn trơ trọi một cái giường tre xộc xệch". Ngày cả khi anh
ta dẫn về một ngƣời vợ theo thi họ vẫn "chẳng có một tí gì. Đồ đạc không. Hòm xiểnq không.
Đồ ăn thức đựng không. Một cái bát nhỏ để ăn cũng không nốt". Nghĩa là họ sống một cuộc
sống cực kỳ tạm bợ, vất vƣởng. Sau khi anh xe trả cái nhà lá đƣợc mấy hôm, thì một ngƣời
đàn bà với hai đứa con nhỏ lại đến ở trọ. Gia đình ngƣời đàn bà này cũng chẳng sung túc gì,
chỉ có một "cái thúng đựng tất cả gia tài sự nghiệp". Những con ngƣời này nghèo lắm, họ
nghèo đến nỗi dƣờng nhƣ họ không có cả cái tên. Ngƣời kể chuyện chỉ gọi họ là "anh xe",
"vợ người thuê nhà lá", "bà làm ở hãng rượu bia" ... Họ tồn tại ở đời mà cũng chỉ nhƣ cái
bóng, họ hiện lên trong tác phẩm chỉ thoáng qua rồi lại chìm lấp giữa dòng đời. Họ nhƣ
những hòn sỏi nhỏ ném vào cái ao tù ngƣng đọng và tăm tối của "xã hội con con" trong nhà
ông Học. Họ có làm khuấy động đôi chút cái ao tù đó rồi lại chìm nghỉm và trả lại cho nó cái
phẳng lặng, mỏi mòn.
Nhìn lại hệ thống những chi tiết nghệ thuật về hình lính thiên nhiên, hình ảnh ngôi
nhà, con đƣờng, không gian bóng tối, những ngọn đèn, thế giới đồ đạc... trong tác phẩm Nam
Cao ta có thể nghĩ tới một nhận định
185
của Phan Cự Đệ: "Hoàn cảnh điển hình không đồng nhất với hình tƣợng môi trƣờng, địa
điểm của nhân vật. Những cái này đứng bên cạnh các nhân vật và đằng sau các nhân vật, làm
thành một bộ phận của hoàn cảnh điển hình. Các nhà văn hiện thực phê phán đã biết thông
qua việc miêu tả môi trƣờng và hoàn cảnh để làm nổi bật lên những nét đặc trƣng của tính
cách" [48.366- 367].
4.4.2. Những âm thanh " đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than".
Trong tác phẩm Trăng sáng, Nam Cao đã khẳng định: "nghệ thuật chỉ có thể là tiếng
đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than". Xuất phát từ quan điểm nghệ thuật ấy, văn sỹ
Điền đã "cứ đứng trong lao khổ mở hồn ra mà đón lấy tất cả những vang động của đời" đón
nhận biết bao âm thanh của cuộc sống lầm than. Không khí ngột ngạt, bế tắc, mỏi mòn, của
hoàn cảnh cũng toát lên từ hệ thống những âm thanh ấy. Trong tác phẩm Nam Cao, ta thấy
đầy những tiếng chửi bới, khóc than, tiếng thở dài, tiếng chép miệng, tiếng nghiến răng, tiếng
rên rỉ... và cả những tiếng cười mà khi nghe, ngƣời ta có khi phải khóc hoặc rùng mình ghê
sợ... đó là những âm thanh của cuộc sống lầm than, cay đắng, tủi nhục. Ở đây, chúng tôi chỉ
xin dừng ở một vài hệ thống âm thanh trong bản nhạc cuộc đời đau khổ ấy.
Trƣớc hết là những tiếng thở dài. Có thể nói, những tiếng thở dài đã trải dài trên nhiều
trang sách của Nam Cao. Tiếng thở dài là biểu hiện của tâm trạng, là phản ứng tâm lý của con
ngƣời trƣớc ngoại cảnh, số phận, cuộc đời. Theo lẽ thƣờng, tiếng thở dài là biểu hiện của sự
chán chƣờng, thất vọng, bi quan, ngao ngán... Bởi-vậy nó sẽ trở thành yếu tố tạo không khí
cho hoàn cảnh nếu nó đƣợc xuất hiện với tần số cao. Nhân vật của Nam Cao rất hay thở dài.
Đó là tiếng thở dài của Lão Hạc (Lão Hạc) khi biết rằng mình sắp phải dối lừa một con chó;
của bố Dần (Một đám cưới) khi phải gả chồng cho con mà thực ra là lo chạy đói; của ngƣời
mẹ (Trẻ con không được ăn thịt chó) trƣớcc tình cảnh lũ con đói khát mà ngƣời chồng lại là
kẻ phàm phu tục tử; của anh Cu Lộ (Tư cách mõ) khi bị ngƣời đời khinh rẻ vì chỉ là một
thằng Mõ; của
186
ông Đồ (Đón khách) vì tiêu tan hy vọng kiếm đƣợc cho cô con gái tấm chồng; là tiếng thở
dài "suốt đêm" của bà lão nghèo khổ trong Một bữa no; là tiếng "thư dài ngao ngán cho kiếp
mình" của văn sỹ Điền (Trăng sáng)... và của biết bao nhân vật khác nữa. Trong hoàn cảnh
cuộc sống tối tăm bế tắc đó. ngay cả những đứa trẻ ở lứa tuổi hồn nhiên vô tƣ cũng phải thở
dài (Trẻ con không được ăn thịt chó). Một thằng câm (Truyện người hàng xóm) tƣởng
nhƣ chỉ biết sống âm thật lặng lẽ không biết suy tƣ về cuộc đời cũng thở dài. Nhân vật Đức
(Truyện người hàng xóm) đang ở lứa tuổi 18 trƣớc những định kiến khắc nghiệt của hoàn
cảnh đã sống nhƣ một cái bóng và "rất hay thở dài", "thở dài rất to" và đôi lúc "tiếng thở dài
thoát ra như tiếng rên". Bà Quan Thích chỉ mong dƣợc nghe tiếng nói của nó cho cuộc sống
bởi phần cò quạnh nhƣng Đức "chỉ im lặng hay thở dài". Trƣớc những tiếng thở dài triền
miên ấy của Đức, Bà Quản Thích đã phải thốt lên "Trời ơi! Bà muốn bớt sống đi một vài năm
cũng vui lòng nếu có biết hắn thở dài vì đâu ?" ... Tiếng thở dài đã trở thành một yếu tố tô
đậm thêm cuộc sống mỏi mòn ngao ngán của kiếp ngƣời. Nó là sự thể hiện của một nỗi buồn
chất chứa trong cuộc sống, trong tâm hồn nhân vật. Bởi vậy có lúc nó trở thành tiêu chí của
nổi bật ("hai đứa con anh ẻo lả nhƣ một cái lá úa và buồn như một tiếng thở dài" - Điếu văn).
Trong tác phẩm Sống mòn, ngƣời đọc cũng bắt gặp nhiều tiếng thở dài của San, Đích,
Oanh... và đặc biệt là của Thứ. Tiếng thở dài buồn bã ngao ngán theo Thứ vào cả những cuộc
vui. Nó khiến cho ngƣời trí thức luôn ý thức vẻ hoàn cảnh của mình ấy, không thể có đƣợc
một phút vui trọn vẹn: "biết bao nhiều lần giữa một đám tiệc vui do một ngƣời bạn có tiền
mời, hình ảnh một cụ già nuốt nƣớc bọt thầm hay một đứa em lấm lét nhìn trộm nồi cơm hy
vọng nó còn có hy vọng gì thêm một lƣợt sới nữa chăng, đột nhiên hiện ra khiến y đang ăn
uống ngon lành bỗng ngẩn ngơ mân mê cốc rƣợu để trên bàn và thở dài khe khẽ"...
187
Trong những âm thanh của cuộc sống đau khổ " thoát ra từ những kiếp lầm than" còn
có những tiếng rên của những ngƣời cùng khổ. Có tiếng rên rỉ của Chí Phèo (Chí Phèo) sau
những phút rạch mặt ăn vạ. Có tiếng rên của bà cái Tý chuẩn bị bƣớc vào cõi chết sau khi đã
nhẫn nhục kiếm lấy Một bữa no. Có tiếng rên rỉ của những ngƣời dân quê sợ lo chết đói sau
một trận bão làm tan hoang nhà cửa ruộng vƣờn (Thôi đi về); tiếng rên cay cực, tủi hờn của
ngƣời mẹ trong Bài học quét nhà ; tiếng rên xót xa nuối tiếc của vợ anh Cu Thiêm (Thôi đi
về) vì mất mấy cái vé sợi cũng là mất một nguồn kiếm sống... Thậm chí, nhiều khi thiên
nhiên cũng rên lên trƣớc những đắng cay cơ cực của kiếp ngƣời ("gió đã hung hăng lắm, lấn
át những tiếng rên của lá" - Làm tổ, "những bụi tre cố tình rên bằng những tiếng lào xào của
những chiếc lá xoa xƣợi vì mệt lử" - Hai người ăn tết lạ). Bên cạnh những tiếng kêu rên, rền
rĩ từ những cảnh ngộ bi đát, thƣơng cảm, ta còn thấy giọng nói của nhiều nhân vật rất khác
thƣờng, thậm chí nghe rất "quái dị" (nhƣ tên một tác phẩm của Nam Cao). Đó là cái giọng
"khàn khàn như một tiếng nói mê" của bà lão bán bánh mỹ tây và cái giọng "thào thào như
tiếng gió, khạo khạo như một vật gì bị rạn vừa đưa ra vừa hút vào thành tiếng rít" của Ấm
Háo trong Truyện người hàng xóm ; là cái giọng "yếu ớt như từ thế giới bền kia đưa lại"
của anh Đĩ Chuột trong sự cùng cực của đói khổ (Nghèo). Cũng yếu ớt buồn thảm nhƣ từ âm
phủ vọng về nhƣ thế là giọng của bà cụ Hà (Sống mòn) "giọng tuy gắt gỏng mà tiếng vẫn
không vang lên đƣợc: Nó cứ âm âm trong lồng ngực, dường nhƣ cái ngực yếu ớt quá, óp ép
quá, chỉ đẩy được một luồng hơi yếu ớt". Nghe giọng nói não nùng nhƣ của ngƣời hấp hối ấy,
Thứ "đã lặng đi nhƣ thấy cả một nỗi cô đơn rót vào lòng" và cảm nhận thấm thía: "sao mà
buồn thế !". Nhƣng có lẽ, kinh rợn hơn cả là những giọng nói không ra giọng ngƣời mà nhƣ
giọng của những con thú. Giọng nói của nhân vật thằng Câm (Truyện người hàng xóm) là
thế. Mỗi khi muốn nói "cái mồm hắn run run để thoát ra những tiếng cổ họng giống như chó
tru". Giọng nói của bà Trinh trong Ma đưa cũng mang âm hƣởng thê thảm ghê ngƣời ấy:
"tiếng gì mà lọ quá, lúc run run, lúc ú ớ, có lúc tru lên như tiếng thú, nghe mà rợn". Hay cái
giọng của ông
188
Hộ (Tình già) cũng dị kỳ nhƣ từ thế giới bên kia vọng về, đến nỗi Thị Yên. con gái ông
không nhận ra mà cứ "tưởng ma quái gì"... Nhƣ vậy, trong thế giới nhân vật của Nam Cao,
không chỉ có những nhân vật vẹo vọ, xấu xí, dị dạng mà còn có cả những giọng nói méo mó
dị kỳ, quái đản. Phải chăng nó cũng là sản phẩm của một hoàn cánh phi nhân tính. Và nó
cũng là yếu tố góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh.
Đã có nhà nghiên cứu nói tới vấn đề tiếng khóc, nƣớc mắt trong tác phẩm Nam Cao.
Quả thực đây cũng là một hệ thống tín hiệu nghệ thuật đáng chú ý Nam Cao có một truyện
ngắn mang tên chủ đề này (Nước mắt). Nhƣng ở đây chúng tôi xin nói tới một hệ thống tín
hiệu về hình thức có thể coi là đối cực với chủ đề đó: tiếng cười của các nhân vật. Trong tác
phẩm của Nam Cao, không chỉ có rất nhiều nƣớc mắt mà còn có rất nhiều tiếng cƣời. Và âm
điệu của những tiếng cƣời ấy cũng rất phong phú đa dạng, nhiều sắc thái cung bậc. Khảo sát
hai tuyển tập tác phẩm Nam Cao, chúng tôi thấy có tới ngót 100 lần tác giả nói tới tiếng cƣời
của nhân vật. Nó hiện lên với nhiều sắc điệu. Có thể nói, ít có nhà văn hiện thực nào đƣơng
thời miêu tả tiếng cƣời của nhân vật ở nhiều cung bậc, kiểu cách đến thế: Cƣời khanh khách,
cười giòn giã, cười sặc sụa, cười ha ha, cười hừ hừ, cười sằng sặc, cười nức nở, cười rũ rượi,
cười rú, cười the thé, cười khánh khách, cười khi khìn khịt, cười ẳng ặc, cười hơ hớ, cười
khằng khặc, cười khú khí, cười ngặt nghẽo, cười hô hố, cười hi hi, cười hùng hục cười hừng
hực, cười ri rí, cười he hé, cười sòng sọc... có điều thật ít những tiếng cƣời sảng khoái hả hê
sung sƣớng, càng hiếm những tiếng cƣời hồn nhiên vô tƣ của trẻ nhỏ (mặc dù trong tác phẩm
Nam Cao cũng có nhiều nhân vật trẻ thơ), mà chủ yếu cũng là tiếng cƣời méo mó kỳ quái. Có
tiếng "cười như một đôi tri kỷ cuồng" của Chí Phèo và Tự Lãng (Chí Phèo); tiếng "cười như
những thằng điên " của cha con Trạch Văn Doanh thuở hàn vi (Đôi móng giò); "tiếng cười
sằng sặc nức nở như tiếng khóc" của vợ Đức (Nửa đêm); "Tiếng cƣời ằng ặc "....nghe còn
đau đớn hơn cả tiếng khóc của Thứ (Sống mòn); tiếng "cười nức nở" của ông Ngã (Truyện
người hàng xóm). Đặc biệt ám ảnh là những tiếng cười "quái dị" ghê ngƣời. Đó là tiếng cười
"nổ như xe
189
phành phạch" của bọn trai em trong Đôi móng giò; tiếng cười "ìn ịt như con ỉn" của một
nhân vật không tên trong Từ ngày mẹ chết; "tiếng cười nảy lên inh đạch" của mấy chị đẩy
xe bò trong Nhìn ngƣời ta sung sƣớng; hay tiếng cƣời "sền sệt trong cổ họng...hình như dính
chặt trong cổ họng, phải dãy giụa để ngoi ra" , "cười bằng thứ tiếng nặng nặc mỡ" của bà
Hai, "tiếng rời đặc sệt" của bà đỡ trong Truyện người hàng xóm... Trong thế giới âm thanh
tiếng cƣời ấy, chủ yếu là tiếng cƣời tâm lí, ngƣời ta cƣời có khi không phải vì buồn cƣời mà
"họ cười ầm ĩ như thể là để đẩy bớt chua cay ra khỏi lòng" (Nhìn người ta sung sướng), để
khuấy động cái cuộc sống đang chết lặng, mỏi mòn. Nhƣng tất cả những tiếng cƣời ấy cũng
chìm đi trên cái nền đen tối ảm đạm của cuộc đời. Có đôi lần ta nghe thấy tiếng cƣời mang
âm hƣởng của niềm vui nhƣ "tiếng cười trong trẻo giòn giã của Tiền" (Truyện người hàng
xóm) nhƣng tiếng cƣời ấy cũng chỉ "rướn lên như một tia nước lạc, cố rướn lên rồi rũ
xuống", nghĩa là nó lại chìm đi trong cái lặng lẽ tăm tối của xóm nhỏ ngoại ô. Có thể nói, mọi
biểu hiện của tiếng cƣời "thoát ra từ hững kiếp lầm than" đã vang vọng vào tác phẩm Nam
Cao. Nó cũng là một trong những hệ thống chi tiết nghệ thuật góp phần tạo dựng hoàn cảnh.
Cùng tới những âm thanh khác của cuộc đời: tiếng chửi bới, nguyền rủa, tiếng khóc, tếng thở
dài, tiếng rên rỉ, tiếng nghiến răng... hệ thống cung bậc những tiếng ngƣời ấy cũng góp phần
làm toát lên không khí ngột ngạt bế tắc, trì trệ của hoàn cảnh, làm nổi bật tính chất phi nhân
tính của môi trƣờng xã hội, một môi trƣờng làm biến dạng không chỉ hình hài, tâm tính mà cả
giọng nói, tiếng cƣời của con ngƣời.
4.4.3. Nhịp điệu dàn trải, ngƣng đọng
Nếu nhƣ nhịp điệu trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thƣờng nhanh, mạnh, hối hả,
dồn dập, đầy kịch tính, đầy những yếu tố bất ngờ thì nhịp điệu trong tác phẩm Nam Cao
thƣờng dàn trải, chậm rãi. Nó phản ánh nhịp vận động của đời sống. Đó là đời sống xã hội
Việt Nam những năm cuối cùng của
190
chế độ thực dân nửa phong kiến đang trong tình trạng trì trệ, ngƣng đọng, quằn quại trƣớc giờ
"lột xác".
Tất nhiên ở đây, không nói tới nhịp điệu của tổ chức lời văn - nhịp điệu đƣợc tạo nên
từ ngôn ngữ ngƣời kể chuyện mà nói tới nhịp điệu với tƣ cách là yếu tố năm trong câu trúc
hoàn cảnh. Nhịp điệu dàn trải ngƣng đọng trong tác phẩm Nam Cao đƣợc toát lên từ nhiều
yếu tố.
Trong tác phẩm Nam Cao, ít có những sự kiện , ít có những đột biến, khoảng cách sự
kiện. Theo Trần Đình Sử, khi nghiên cứu cốt truyện của A. Sê-khốp, nhà nghiên cứu A.
Suđacốp " nhận thấy trong truyện ngắn của , A.Sê -khốp sự kiện không ít hơn trong truyện
của bất cứ nhà văn nào, song ngƣời ta vẫn cho rằng truyện của ông " không có chuyện". Đó là
vì thông thƣờng, sự kiện lớn phải cho kết quả lớn, thay đổi lớn, nhƣng các sự kiện trong
truyện ngắn Sê-khốp thì tuy có diễn ra nhƣng không làm thay đổi gì cả. Ví dụ sự kiện chủ yếu
trong truyện Hai vợ chồng là ngƣời chồng bắt gặp bức điện của ngƣời tình của vợ. Thế là
nhớ lại bao sự việc xung quanh, xảy ra ý nghĩ của nhân vật: Làm sao mà mình, con trai của vị
cha cố làng, về đào tạo là học sinh nội tru trƣờng đạo, một con ngƣời bình thƣờng, thô thiển,
trực tính lại có thể buông ly chịu lép trƣớc con ngƣời đê tiện, tầm thƣờng, giả dối này, một kẻ
về bản hất là hoàn toàn xa lạ với mình ? ". Ấy thế nhƣng rút cuộc, lúc mƣời một giờ, anh ta
mặc áo để đi đến sở thì ngƣời hầu vào nhắc anh ta đƣa tiền cho vợ. Mọi việc lại nhƣ cũ. Nhƣ
vậy sự kiện ở đây là: Cái đáng lẽ phải xảy ra lại không xảy ra !" [229.143]. Tác phẩm Nam
Cao cũng có loại sự kiện nhƣ thế. Sự kiện cái đáng lẽ phải xảy ra lại không xảy ra trong tác
phẩm Nam Cao, nhiều hơn sự kiện xảy ra La Khắc Hòa (Lã Nguyên) cũng đã nhận xét một
cách hình tƣợng về đặc điểm này : "Lấy có sự làm "sƣờn" cho truyện ngắn, các nhà văn
thƣờng chọn những sự kiện đƣợc tạo thành bởi mối quan hệ nhân quả ở chính thời điểm có
biến cố, tức là lúc mà "nhân" đang chuyển thành "quả" làm cho tình trạng cân bằng của thế
giới nghệ thuật bị phá vỡ, số phận của nhân vật
191
hoàn toàn thay đổi. "Nhân" to, ắt "quả" sẽ lớn. Và "quả" càng lớn thì cảm giác "nhân" to ở
ngƣời đọc càng rõ. Nam Cao ít sử dụng loại sự kiện và biến cố tƣ thế. Cây ra hoa tất hoa sẽ
thành quả. Nhƣng lẽ tự nhiên, bên cạnh những hoa đơm trái bao giờ cũng có hoa điếc. Phần
lớn sự kiện và biến cố trong sáng của Nam Cao chính là cái " hoa điếc" của đời sống" [84].
Quả thực, dọc phẩm Nam Cao, ngƣời đọc chờ đợi "quả" thì lại chỉ có "nhân", chờ đợi " " thì
"hoa điếc", chờ đợi cái lẽ ra sẽ xảy ra, thì nó lại không xảy ra... Bởi vậy ngƣời ta có cảm
tƣởng truyện của Nam Cao thƣờng "không có chuyện" và nhịp điệu tác phẩm Nam Cao
thƣờng dàn trải, ngƣng đọng.
Trƣớc sự tàn bạo, bội bạc, nhẫn tâm của thằng chồng vũ phu, ngƣời đọc chờ đợi một
sự phản ứng, dù chỉ là tiêu cực của Dì Hảo (Dì Hảo) nhƣng điều chờ đợi đó không bao giờ
xảy ra. Khi thấy chồng dẫn về " một ngƣời vợ theo trơ tráo", dì Hảo đã "ngạc nhiên" và " tức
tối". Thế nhƣng "sau cùng thì dì nhẫn nại ; phải nhẫn nại vẫn là hơn ; nếu hắn không về thì
vẫn thế". Và khi con vợ bé" ấy sau một trận loạn đả với kẻ mà thị đã theo, bỏ đi, rồi thằng
hồng cũng bỏ đi, dì Hảo cũng đã "ngạc nhiên" và " tức tối". Nhƣng rồi "sau cùng thì thị nhẫn
nại. Phải, nhẫn nại là hơn, nếu hắn cứ ở nhà thì cũng thế ". nghĩa là mọi sự vẫn không có gì
thay đổi. Một loạt các nhân vật trí thức trong tác phẩm của Nam Cao (Thứ - Sống mòn ; Điền
- Trăng sáng, Nước mắt ; Hộ - Đời thừa ...) đã có biết bao nhiêu dự định, toan tính. Trong
đó có những dự định rất đời thƣờng, cảm động (lĩnh lƣơng ở tòa báo ra, Hộ (Đời thừa) dự
định" Mua mấy hào thịt, vài cái bánh tây, gói đem về ... Hắn tƣởng tƣợng cái ảnh lũ con cháu
ăn và đói khát, rón thịt bằng tay và ăn những miếng bánh thật no , miệng phụng phịu và môi
bóng nhờn những mỡ"). Có cả những dự định rất cao đẹp, nhƣ dự định của Hộ (Đời thừa): "
Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhƣng quyển ấy sẽ ăn giải Nobel và đƣợc dịch
ra đủ mọi thứ tiếng trên toàn cầu !" ; dự định của Thứ (Sống mòn): "... khi nhà trƣờng đã
thuộc hẳn về tay y ... y tin chắc rằng nó sẽ không chỉ thế này thôi. Nó sẽ biến hơn rất nhiều ...
y sẽ đem theo vợ con. Còn bao nhiêu lời lãi sẽ đập cả vào cái quĩ
192
chung của nhà trƣờng. Trong cái quĩ ấy, bao nhiêu phần sẽ dùng vào việc mở mang, bao
nhiêu phần sẽ dùng vào những cuộc phát thƣởng, bao nhiêu phần sẽ giữ lại cho giáo viên vào
mỗi cuối năm, bao nhiêu phần sẽ chia cho họ để làm cho họ một số tiền về hƣu Nhƣng tất cả
những dự định tầm thƣờng hoặc cao đẹp ấy đều chỉ là dự định, nó không bao giờ xảy ra. Nó
luôn dừng ở thì tƣơng lai: Hắn sẽ, y sẽ, y định, hắn định ... là những cụm từ xuất hiện nhiều
trong tác phẩm của Nam Cao. Những cái " sẽ ", cái "định" đó là điều ngƣời đọc chờ đợi, hy
vọng cùng nhân vật, nhƣng nó vẫn không xảy ra. Cuộc sống của các nhân vật luôn chìm chân
lại chỗ, thậm chí ngày một tâm vào tình cảnh bi đát hơn. Nó không thoát khỏi cái vòng luẩn
quẩn của sự đói nghèo, bế tắc, nhạt nhẽo, vô vị. Bởi vậy đọc tác phẩm Nam Cao, ngƣời ta dễ
có cảm tƣởng truyện của ông thƣờng " không có chuyện".
Nhịp điệu dàn trải, ngƣng đọng trong nhiều tác phẩm Nam Cao còn toát lên từ một
thủ pháp quen thuộc. Đó là sự miêu tả quá khứ qua hồi tƣởng, dòng tâm trạng, từ đó khắc hoa
ấn lƣợng thời gian kéo dài trong tâm hồn so với thời gian ngắn ngủi trong thực tế. Nhiêu khi
chỉ từ một sự việc rất bình thƣờng trong cuộc sống, nhân vật của Nam Cao hồi tƣởng rất
nhiều, rất lâu về quá khứ, về cái đã và đang xảy ra. Sự hồi tƣởng, liên tƣởng ấy làm cho nhịp
điệu trần thuật chùng lại (chẳng hạn: từ câu chuyện đi chợ mua thức ăn của Mô, tác giả dành
tám trang tiếp theo cho nhận vật Thứ hồi tƣởng, suy nghĩ về những kỷ niệm buồn xoay quanh
miếng ăn, sau dỏ mới trở lại cuộc đối thoại giữa hai nhân vật này ; từ việc tính toán lỗ, lãi qua
bữa cơm của bà cụ Hà, Thứ cũng lại liên tƣởng rất lâu, rất nhiều về cuộc sống đói khổ của
biết bao ngƣời dân ở quê mình phải " ăn cháo rau má, cháo cám, rau luộc trừ cơm " ; về lão
ăn mày" có những chiếc răng thƣa đến nỗi chẳng chiếc nào dính chiếc nào, cũng dài, cũng
rớt, cũng bẩn thỉu nhƣ cái thân hình còm rom và dài thƣờn thƣợt của lão ta ". Và " Y lại nghĩ
đến bà, đến mẹ, đến vợ, đến em nghĩ đến Liên, đến ngƣời vợ của mình). Có thể tìm thấy
trong tác phẩm Nam Cao rất nhiều những cụm từ: hắn nghĩ đến, y tưởng tượng tới, hắn liên
tưởng tới, y nghĩ, y cố tưởng tượng ra hắn nhớ tới ... Có thể nói Nam Cao có xu hƣớng rút
ngắn khung thời gian
193
kiện bên ngoài, kéo dài thời gian bên trong tâm hồn. Điều đó góp phần tạo nhịp điệu và từ đó
tạo không khí cho hoàn cảnh.
Bên cạnh đó, sự lặp lại của các câu chuyện, luận bàn, tranh cãi, dằn vặt ra các nhân
vật trong nhiều tác phẩm Nam Cao thƣờng chỉ xoay quanh chủ : miếng ăn, cái đói, tiền nong,
chi tiêu ... cũng là yếu tố tạo nhịp điệu dàn trải, chậm rãi, ngƣng đọng. Chẳng hạn, theo thống
kê của chúng tôi, trong Sống mòn có 90 đoạn đối thoại giữa các nhân vật thì có tới 56 lần các
nhân nói tới chủ đề này. Tất nhiên, sự lặp lại của những câu chuyện, luận bàn về vấn đề
miếng ăn, cái đói không chỉ góp phần tạo nhịp điệu, từ đó tạo không khí cho hoàn cảnh mà nó
còn thể hiện quan niệm của Nam Cao về hoàn cảnh. là văn cảm nhận hoàn cảnh ở khía cạnh
tồn tại vật chất, ở phƣơng diện tồn thấp nhất, sơ đẳng nhất.
Cuối cùng, có thể nói rằng nhịp điệu dàn trải, ngƣng đọng trong tác phẩm Nam Cao
đã góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh và nó cũng thể hiện quan điểm của nhà văn về sự
bất biến, trì trệ, không thay đổi của hoàn cảnh.
*
* *
Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao, chúng tôi hiểu
rõ hơn quan niệm nghệ về hoàn cảnh của nhà văn. Đó là quan niệm về một hoàn cảnh phi
nhân tính, hoàn cảnh không cho con ngƣời đƣợc sống cuộc sống bình thƣờng của con ngƣời.
Hoàn cảnh đó không chỉ giết chết con ngƣời về phần xác mà còn gặm nhấm, hủy diệt họ cả
về phần hồn - hoàn cảnh làm tha hóa con ngƣời. Bên cạnh đó còn là quan niệm về một hoàn
cảnh bất biến, trì trệ, không đổi thay - hoàn cảnh tạo nên những kiếp " Sống mòn". Tất cả
những quan niệm ấy về hoàn cảnh không biểu hiện bằng những thuyết lý khô khan trừu
tƣợng, mà nó đƣợc thể hiện một cách chân thực, sâu sắc, truyền cảm thông qua cấu trúc nghệ
thuật của hoàn cảnh với những hệ thống yếu tố nghệ thuật phong phú đầy ấn tƣợng. Hoàn
cảnh trong tác phẩm Nam Cao đã trở thành hình tƣợng hoàn cảnh, bởi lẽ nó đã đƣợc xây
dựng một cách nghệ thuật, nó mang những giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ.
194
Xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật (để phản ánh hoàn cảnh xã hội), so với các nhà văn
hiện thực đƣơng thời, Nam Cao chú ý nhiều hơn tới phƣơng diện đời sống tinh thần của con
ngƣời, phản ánh hoàn cảnh qua việc tái hiện thế giới tinh thần của nhân vật. Nói cách khác,
thế giới tinh thần của nhân vật không chỉ chịu sự tác động của hoàn cảnh mà nó còn phản ánh
hoàn cảnh, góp phần tạo dựng hoàn cảnh. Bởi vậy nếu so sánh với Ngô Tất Tố và Vũ Trọng
Phụng ta có thể thấy rất rõ là cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm của hai nhà văn này (Tắt
đèn, Giống tố ...) là sự tố cáo mạnh mẽ xã hội, là lột trần, xé toang cái mặt nạ đổ phơi bày bộ
mặt thật của xã hội, thì ở Nam Cao lại là sự trăn trở, tìm tòi những quy luật khắc nghiệt của
xã hội đang dần "bóp chết" con ngƣời trong những kiếp sống mỏi mòn tăm tối. Từ đó, nhà
nhân đạo Nam Cao muốn tìm một lối thoái, một cách cứu vớt con ngƣời. Phản ánh hoàn cảnh
qua việc tái hiện thế giới tinh thần nhân vật hoàn toàn không có nghĩa là thoát ly hoàn cảnh
xã hội. Bởi vì "càng đi sâu vào thế giới bên trong thì không phải con ngƣời bị tách khỏi xung
quanh, mà trái lại, nó càng cảm nhận nổi bật tính qui định của các quan hệ xã hội ở bên
ngoài" [227.356]. Và hơn nữa, có lẽ vì thế sự tác động truyền cảm của tác phẩm Nam Cao từ
phƣơng diện hoàn cảnh càng trở nên mãnh liệt và có chiều sâu.
Và cuối cùng, cũng phải thấy rằng hoàn cảnh nghệ thuật trong tác phẩm Nam Cao, có
một vai trò to lớn trong việc xây dựng, thể hiện những tính cách nghệ thuật. Nói tới Nam
Cao, ngƣời ta nhớ tới những Thứ, Điền, Hộ, Lão Hạc, Chí Phèo... Nhƣng để có đƣợc ấn
tƣợng ấy, Nam Cao đã phải có một tài năng xây dựng hoàn cảnh. Bởi vì tất cả những nhân
vật ấy sẽ. trở nên nhợt nhạt, thiếu sức sống nếu chúng không đƣợc đặt trong một cấu trúc
nghệ thuật của) hoàn cảnh, không đƣợc đặt trong một hoàn cảnh nghệ thuật. Tính cách nghệ
thuật đƣợc làm nổi bật trong hoàn cảnh nghệ thuật và hoàn cảnh nghệ thuật đƣợc đan dệt nên
bởi nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là những tính cách nghệ thuật. Đây là mối quan hệ gắn bó
hữu cơ trong tác phẩm Nam Cao.
195
KẾT LUẬN
Từ việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn ảnh trong
văn xuôi hiện thực qua một số tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam
Cao, chúng tôi thấy có thể rút ra một số kết luận sau đây:
1. Vấn đề hoàn cảnh đã đƣợc các nhà nghiên cứu đặt ra và tìm hiểu trong quá trình
khám phá, tiếp nhận các tác phẩm văn học hiện thực. Tiếp theo quá trình đó, luận án này đại
ra vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của trào lƣu văn học hiện thực và giải quyết
bƣớc đầu nhƣ một vấn đề lý thuyết. Nói cách khác, lần đầu tiên, vấn đề thi pháp hoàn cảnh
của văn học hiện thực đƣợc nghiên cứu một cách hệ thống, có ý thức. Quan niệm nghệ thuật
về hoàn cảnh thể hiện qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Bởi vậy, luận án đã đƣa ra một
cơ sở lý thuyết về nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học. Trên cơ sở lý
thuyết ấy, chúng tôi đã khảo sát phân tích cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong một số tác
phẩm tiêu biểu của các tác giả: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao. Từ đó bƣớc đầu thấy
đƣợc quan" niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn hiện thực thể hiện trong mới số
tác phẩm tiêu biểu. Quá trình áp dụng cơ sở lý thuyết về cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh
vào việc nghiên cứu vấn đề hoàn cảnh của trào lƣu văn học hiện thực vừa làm sáng rõ, minh
chứng cho cơ sở lý thuyết, vừa giúp chúng tôi hiểu sâu hơn bản chất nghệ thuật của hoàn
cảnh trong các tác phẩm của văn học hiện thực.
Đặt vấn đề tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn học hiện thực, ý
nghĩa của đề tài không chỉ dừng ở việc nghiên cứu một vấn đề của một khuynh hƣớng sáng
tác mà còn là vấn đề của thể loại văn học. Trên cơ sở đó, chúng tôi đi tới xác lập thêm một
hƣớng tiếp cận phân tích vấn đề hoàn
196
cảnh từ phƣơng diện giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ. Từ đó, khám phá sự phong phú về mặt
nghệ thuật - thẩm mỹ của hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực. Từ những gì rút ra qua nghiên
cứu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong một số tác phẩm trên đây, chúng tôi càng nhận
thức rõ rằng, hoàn cảnh chi có thể hiểu trong cái nhìn tổng thể, trong tính chỉnh thể của nó ;
cảm thụ hoàn cảnh là cảm thụ toàn bộ, cảm thụ từ những chi tiết nhỏ nhất trong tác phẩm ;
quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh đƣợc thể hiện qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật chứ nó
không biểu hiện bằng một khái niệm trừu tƣợng. Và tìm hiểu hoàn cảnh trong các tác phẩm
văn học hiện thực, bên cạnh việc tiếp cận nó ở phƣơng diện xã hội, ngƣời nghiên cứu còn
phải tiếp cận ở phƣơng diện giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ. Đây cũng là mội cách trả cho văn
học trở về với bản chất của văn học, nghĩa là nhìn nhận tác phẩm văn học nhƣ nhìn nhận một
tác phẩm nghệ thuật.
2. Tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong một số tác phẩm tiêu biểu của
Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao, chúng tôi thấy có những quan niệm nghệ thuật về
hoàn cảnh trong văn học hiện thực thời kỳ 1930 - 1945. Nó không phải là quan niệm nhất
thành bất biến mà có sự thay đổi. Và qua đó, chúng tôi cũng thấy rằng, nhà văn không chỉ ý
thức về hoàn cảnh, không chỉ thấy đƣợc vai trò, tác động của hoàn cảnh đối với việc hình
thanh tính cách và số phận con ngƣời, mà họ còn có ý thức trong việc sáng tạo hoàn cảnh.
Những sáng tạo ấy biểu hiện ở những cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong những tác
phẩm văn học cụ thể. Từ những cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh với hệ thống những tín
hiệu nghệ thuật ở nhiều cấp độ, tầng bậc của nó hoàn cảnh đã đƣợc thế hiện một cách nghệ
thuật. Và chính hoàn cảnh nghệ thuật ấy đã trở thành một trong những yếu tố góp phần tạo
nên sức truyền cảm, ám ảnh mạnh mẽ của các tác phẩm văn học đối với ngƣời đọc, tạo nên
sức hấp dẫn và sức sống lâu bền cho các tác phẩm của trào lƣu văn học hiện thực. Đọc các tác
phẩm của các nhà văn hiện thực (tiêu biển nhƣ Tắt đèn
197
của Ngô Tất Tố, Giống tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Sống mòn của Nam Cao)... ngƣời
đọc không chỉ có ấn tƣợng đối với số phận, tính cách, ấn tƣợng về những chị Dậu, Nghị
Hách, Xuân Tóc Đỏ, Thứ, San ... mà còn bị ám ảnh bởi cái không khí xã hội đã đƣợc tái tạo
một cách nghệ thuật trong các cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Thậm chí, có khi, cái không
khí ấy còn ám ảm mạnh mẽ, sâu sắc không kém các hình tƣợng tính cách. Bởi vì khi gấp
trang sách lại, cùng với đƣờng nét về các nhân vật lƣu lại trong tâm trí, sự ám ảnh của không
khí chung toát ra từ tác phẩm vẫn còn để lại những dƣ âm mạnh mẽ nhƣ một "vĩ thanh"
không bao giờ dứt trong tâm hồn ngƣời đọc.
3. Từ Ngô Tất Tố tới Nam Cao, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi
hiện thực ngày càng phong phú, bao quát, sâu sắc. Nếu nhƣ ở Ngô Tất Tố hoàn cảnh chủ yếu
đƣợc thể hiện ở những yếu tố khách quan nằm ngoài nhân vật và đƣợc cảm nhận qua lăng
kính của chính nhà văn thì đến Nam Cao, hoàn cảnh còn đƣợc thể hiện qua những yếu tố
trong chính bản thân nhân vật, qua tất cả những âm thanh vang vọng của cuộc sống đời
thƣờng và nó đƣợc cảm nhận qua chính bản thân nhân vật. Sự tác động nghiệt ngã của hoàn
cảnh đã không chỉ ảnh hƣởng tới đời sống vật chất mà còn ảnh hƣởng sâu sắc tới đời sống
tinh thần của con ngƣời. Hoàn cảnh đã hiện lên và soi bóng trong đáy sâu tâm hồn con ngƣời.
Các nhà văn hiện thực đều ý thức về vai trò tác động của hoàn cảnh tới nhân cách con ngƣời
.Đến Nam Cao ý thức đó càng trở nên đầy đủ và đƣợc thể hiện một cách nghệ thuật.
4. Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về cơ chế hoàn cảnh, mỗi tác giả văn học
hiện thực đã phản ánh những cơ chế hoàn cảnh không giống nhau, mặc dù đối tƣợng phản
ánh đó đều là hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945. Từ đó các nhà văn hiện thực
thời kỳ này đã xây dựng đƣợc một bức tranh phong phú về đời sống xã hội, tái tạo nên diện
mạo của một thời kỳ lịch sử. Mỗi tác phẩm của các nhà văn hiện thực là một mảng đời sống
xã hội đƣợc tái tạo một cách nghệ thuật. Cho nên ở đó không chỉ hiện lên
198
những hình tƣợng tính cách mà còn hiện lên những hình tƣợng hoàn cảnh. Vì cùng đứng
trƣớc một đối tƣợng phản ánh, lại có những quan điểm nghệ thuật gần gũi - quan điểm nghệ
thuật của các nhà văn thuộc trào lƣu văn học hiện thực, cho nên quan niệm nghệ thuật về
hoàn cảnh trong các tác phẩm của các tác giả hiện thực vẫn có những nét chung, có điểm
tƣơng đồng bên cạnh những nét khác biệt. Điểm chung đó là, các nhà văn hiện thực đều ý
thức rất rõ về sự tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh đối với con ngƣời. Nhƣng mỗi nhà văn,
xuất phát từ cái nhìn của riêng mình, từ vốn thực tế và cảm quan nghệ thuật của riêng mình,
lại thể hiện điều đó ở những góc độ khác nhau, với những chiều sâu khác nhau. Rõ ràng là,
vẫn trƣớc hiện thực xã hội chung ấy, nhƣng các nhà văn hiện thực đã phản ánh những cơ chế
hoàn cảnh khác nhau, những kiểu loại mâu thuẫn, xung đột không giống nhau ... và không khí
xã hội đƣợc thể hiện thành không khí nghệ thuật trong tác phẩm của các nhà văn không phải
bao giờ cũng giống nhau. Nghĩa là nó cũng phong phú, phức tạp, đa dạng nhƣ chính cuộc đời.
Sự phức tạp, đa dạng của cuộc đời, những kiểu loại môi trƣờng, hoàn cảnh ở nhiều mảng đời
sống xã hội, từ nông thôn tới thành thị, từ xã hội thƣợng lƣu đến xã hội của những kẻ sống ở
"dƣới đáy" đã đƣợc các nhà văn hiện thực tái tạo một cách nghệ thuật và rất có không khí.
5. Việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực 1930 -
1945 qua một số tác phẩm tiêu biểu cuả Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao giúp
chúng ta hiểu thêm một phƣơng diện thi pháp của trào lƣu văn học này, thấy đƣợc vai trò của
cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn; hiểu đƣợc một trong những yếu tố làm nên sự phong
phú, đa dạng của văn học hiện thực. Từ đó thấy đƣợc đóng góp quan trọng của các nhà văn
hiện thực về hình thức nghệ thuật của văn học thời kỳ 1930 -1945 nói riêng và nền văn học
dân tộc nói chung. Chúng tôi nghĩ rằng, những kết luận trên sẽ đƣợc khẳng định hơn khi đề
tài đƣợc mở rộng sang việc nghiên cứu một số các tác
199
gia tiêu biểu khác trong nào lƣu văn học hiện thực nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng,
Tô Hoài, Kim Lân...
Tìm hiểu hoàn cảnh ở góc độ cấu trúc nghệ thuật để từ đó thấy đƣợc quan niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh của nhà văn, chúng tôi muốn góp thêm một cách tiếp cận, một cách nhìn
mới, làm phong phú thêm con đƣờng đi vào thế giới nghệ thuật của các nhà văn. Từ cách tiếp
cận đó, chúng tôi sẽ tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn
cảnh trong tác phẩm của nhiều nhà văn hiện thực khác (và ngay trong số các tác phẩm của ba
nhà văn : Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, chúng tôi thấy cũng còn nhiều tác phẩm
cần tiếp tục nghiên cứu theo phƣơng hƣớng này). Nếu có điều kiện nghiên cứu các tác phẩm
văn học hiện thực một cách hệ thống, toàn diện hơn, thì chúng tôi nghĩ rằng, vấn đề bức tranh
hoàn cảnh trong văn học hiện thực sẽ đƣợc hiện lên đầy đủ, rõ ràng hơn. Từ đó sẽ làm sáng tỏ
hơn phƣơng diện nghệ thuật ở những kết luận về vấn đề hoàn cảnh của văn học hiện thực mà
những ngƣời đi trƣớc đã khám phá. Chúng tôi cũng hy vọng rằng từ góc độ tiếp cận này,
những ngƣời nghiên cứu sẽ làm sáng rõ hơn tài năng nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt là các
nhà văn hiện thực, những con ngƣời rất ý thức về vai trò, tầm quan trọng của hoàn cảnh. Mặt
khác, với vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh, theo chúng lôi, ngƣời nghiên cứu còn
có thể mở rộng tới việc tìm-hiểu một số trào lƣu văn học khác đƣơng thời, kể cả nền văn xuôi
Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay.
200
DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ
(Có liên quan đến đề tài luận án đã công bố)
1. Phạm Mạnh Hùng (1997), "Quan niệm nghệ thuật về môi trƣờng của con ngƣời trong tiểu
thuyết "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Khoa học và CN - Đại học Thái
Nguyên, số 2.
2. Phạm Mạnh Hùng (1998), " Cảm nhận môi trƣờng phi nhân tính trong tác phẩm Nam
Cao", Tạp chí Khoa học và CN - Đại học Thái Nguyền, số 4.
3. Phạm Mạnh Hùng (2000), "Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học", Tạp chí
Khoa học và công nghệ - DHTN số 1.
4. Phạm Mạnh Hùng (2000), "Một hệ thống chi tiết nghệ thuật thể hiện không khí hoàn cảnh
của tác phẩm Tắt đèn", Thông báo Khoa học - ĐHSP Thái Nguyên, số 3.
5. Phạm Mạnh Hùng (2000), "Khảo sát hệ thống yếu tố nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao", Tạp chí Văn hoa nghệ thuật, số 10.
6. Phạm Mạnh Mùng (2000), "Hệ thống nhân vật tĩnh - chính diện và việc thể hiện hoàn cảnh
nghệ thuật trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Đại học
Thái Nguyên, số 4.
7. Phạm Mạnh Hùng: "Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh và việc miêu tả thế giới thiên
nhiên cảnh vật trong tác phẩm Nam Cao", Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số2/2001.
8. Phạm Mạnh Hùng (2001), "Bƣớc đầu tìm hiểu hoàn cảnh nghệ thuật trong tác phẩm Nam
Cao trƣớc cách mạng", Tạp chí Giáo dục, số4.
9. Phạm Mạnh Hùng (2001), "Tìm hiểu hoàn cảnh nghệ thuật trong Tắt đèn của Ngô Tất
Tố", Tạp chí Văn học, số 8.
201
THƯ MỤC THAM KHẢO
A. Tiếng Việt:
1. T.A (2000), "Tắt đèn bị thu hồi", Ngô Tất Tố về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
2. Alain Robbe - Grillet (1998), Vì một tiểu thuyết mới (Lê Phong Tuyết dịch), Nxb Hội nhà
văn, Hà Nội
3.Vũ Tuấn Anh (1992), "Phong cách truyện ngắn Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội
nhà văn, Hà Nội.
4. Vũ Tuấn Anh (1994), (chu biên), Thạch Lam văn chương và cái đẹp, Nxb Hội nhà văn, Hà
Nội.
5. Đào Tuấn Ảnh (1993), "Tsê khốp và Nam Cao - Một sáng tác hiện thực kiểu mới", Tạp chí
Văn học, số 1 (253).
6. Lại Nguyên Ân (1990), "Một khía cạnh ở nhà báo Vũ Trọng Phụng - ngƣời lƣợc thuật
thông tin quốc tế", Tạp chí Văn học, số 2.
7. Lại Nguyên An (1992), "Nam Cao và cuộc cách tan văn học đầu thế kỷ XX", Tạp chí Văn
học, số.
8. Lại Nguyên Ân, biên soạn (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
9. Sylvan Bamet, Morton Berman, NVilliam Burto (1992), Nhập môn văn học (Hoàng Ngọc
Hiến dịch và giới thiệu), Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.
10. Bakhtin. M (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,
Vƣơng Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
11. Bakhlin. M(1992), Lý luận vờ thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cƣ tuyển chọn, dịch và
giới thiệu), Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.
12. Bành Bảo (197-1), "Đƣa Tắt đèn lên phim", Báo Văn nghệ số ra 5/4/1974.
202
13. Nguyễn Hoa Bằng (1999), "Thời gian nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao", Tạp chí Văn
học, số 11.
14. Vũ Bằng (2000), "Về một truyện dài nổi tiếng nhất của Ngô Tất Tố: Truyện Tắt đèn ",
Ngô Tất Tố về tác giả tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
15. Trần Văn Ban (1965), "Về bản chất của điển hình", Tạp chí Văn học, số 3/1965.
16. Trần Văn Binh (1970), "Phản ánh luận của Lênin và một số vấn đề văn học", Mấy vấn đề
lý luận văn học, Nxb Khoa học Xã hội.
17. Trần Văn Bính (1980), "Ánh sáng kỳ diệu", Tạp chí Văn học, số 2/1980.
18. Nam Cao ( Cao truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
19. Nam Cao (1997) Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, Hà Nội.
20. Cao Hữu Công, Mai Tổ Lâm (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Trần Đình Su - Lê
Tẩm địch, Nxb Văn học, Hà Nội.
21. Phạm Tú Châu (1992), "Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và A.Q", Tạp chí Văn học, số 1
/1992.
22. Trƣờng Chinh (1985), Về văn hóa và nghệ thuật (2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
23. Huệ Chi, Phong Lê (1000), "Vài vấn đề về văn học sử giai đoạn 1930-1945", Tạp chị Văn
học, số 5/1990.
24. Hiện Chi (19%), "Đọc Giống tố của Vũ Trọng Phụng", Nhà văn Vũ Trọng Phụng với
chúng ta - NXB TP. Hồ Chí Minh. 1999.
25. Huệ Chi - Phong Lê [1960], "Đọc" Truyện Ngắn Nam Cao" soi lại những bƣớc đƣờng đi
lên của một nhà văn hiện thực", Tạp chí Văn nghệ, số 8-1960.
203
26. Trƣơng Chính (1994), Lời giới thiệu tuyển tập Ngô Tất Tố, tập I - Nxb Văn học, Hà Nội.
27. Nguyễn Đình Chú (1990), "Đôi mắt của Nam Cao", Tạp chí Văn học số 3-1990.
28. Hồng Chƣơng (2000), "Tắt đèn - Cuốn tiểu thuyết hiện thực xuất sắc", Ngô Tất Tố về tác
giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
29. Đỗ Đức Dục (1981), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Phương Tây, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
30. Trƣơng Đăng Dung và Nguyễn Cƣơng (chủ biên) (1990), Các vấn đề của khoa học văn
học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
31. Trƣơng Đăng Dung (1996), "Tác phẩm văn học nhƣ là quá trình" Tạp chí Văn học, số 12
(298) tháng 12-1996.
32. Đinh Trí Dũng (1992), "Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của
Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, hà Nội.
33. Đinh Trí Dũng (1996), "Sự thể hiện con ngƣời "tha hóa" trong các tiểu thuyết hiện đại của
Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 5 (291) tháng 5-1996.
34. Phan Huy Dũng (1992), "Bàn luận về ý nghĩa thẩm mỹ của cái gọi là yếu tố tự nhiên chủ
nghĩa trong tác phẩm Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
35. Nguyễn Đức Đàn (1968), Mấy vấn đế văn học hiện thực phê phán Việt Nam,NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội.
36. Nguyễn Đức Đàn (1974), "Ngô Tất Tố và thời đại", Báo Văn nghệ 5/4/1974.
37. Nguyền Đức Đàn (1999), "Vũ Trọng Phụng" Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh.
204
38. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
39. Phan Cự Đệ - Nguyên Đức Đàn (1962), Ngô Tất Tố, Nxb Văn học, Hà Nội.
40. Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hện đại, lập I, Nxh Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội.
41. Phan Cự Đệ (1989), "Đánh giá lại Số dỏ", Báo Giáo viên nhân dân số đặc biệt, Hà Nội.
42. Phan Cự Đệ (1990), Tự lực văn đoàn - con người và văn chương, Nxb Văn học.
43. Phan Cự Đệ - Nguyễn Trác - Hà Minh Đức (1992), Văn học Việt Nam 1930 -1945, Nxb
Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.
44. Phan Cự Đệ (1993), "Ngô Tất Tố và sự nghiệp đổi mới hôm nay", Ngô Tất Tố với chúng
ta, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
45. Phan Cự Đệ (1996), Lời giới thiệu Ngô Tất Tố toàn lập (5 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
46. Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
47. Phan Cự Đệ, Nguyễn Đức Đàn(1999),Bước đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của
Ngô Tất Tố, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
48. Phan Cự Đệ (2000), Tuyển tập Phan Cự Đệ (4 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
49. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
50. Hà Minh Đức (1961), Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc, Nxb Văn hóa, Viện Văn
học, Hà Nội.
51. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.
52. Hà Minh Đức (1978), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, tập I, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội.
205
53. Hà Minh Đức (1981), "Nam Cao - thời gian và sự khám phá", Tạp chí Văn học, số 6.
54. Hà Minh Đức (1983), Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975) tập II, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội.
55. Hà Minh Đức (1988), "Đọc lại Nam Cao", Những cánh hoa tàn, Nxb Tác phẩm mới, Hà
Nội.
56. Hà Minh Đức (1992)," Nam Cao phê phán và tự phê phán", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb
Hội nhà văn, Hà Nội.
57. Hà Minh Đức (chủ biên) (1993), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
58. Hà Minh Đức (chủ biên)(1997), Lý luận văn học (tái bản lần thứ 4), Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
59. Hà Minh Đức (1997),"Nam Cao qua một cuộc hội thảo ở nƣớc ngoài", Nam Cao đời văn
và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.
60. Hà Minh Đức (1997)," Ngô Tất Tố - Nhà văn tin cậy của nông dân", Các nhà văn được
giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
61. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại (Bình giảng và phân tích tác phẩm),
Nxb Thanh niên, Hà Nội.
62. Hà Minh Đức (1998), Đi tìm chân lý nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà Nội.
63. Hà Minh Đức (1998), Nam Cao đời văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.
64. Hà Minh Đức (1998),"Tiểu phẩm văn học và báo chí của Ngô Tất Tố", Tạp chí Văn học,
số 1 (321), tháng 11/1998.
65. Hà Minh Đức (1999), "Nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Ngô Tất Tố về
tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
66. Hà Minh Đức (2000), "Phóng sự của Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Văn học. số 1/2000.
67. Gorki. M (1970), Gorki bàn về văn học (2 tập - tái bản lần 2), Nxb Văn học, Hà Nội.
206
68. Heghen (1999) Mỹ học (2 tập - Phan Ngọc dịch), Nxb Văn học, Hà Nội.
69. Lê Thị Đức Hạnh (1983), "Một nghệ thuật viết tiểu phẩm đặc sắc", Tạp chí Vân học, số 6
-1983.
70. Lê Thị Đức Hạnh (1989), "Nhìn lại việc đánh giá Vũ Trọng Phụng, suy nghĩ về vấn đề
đổi mới tƣ duy trong nghiên cứu văn học" Tạp chí Văn học, số 1-1989.
71. Nguyễn Văn Hạnh (1992) "Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lƣơng-thiện xứng
đáng", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn. Hà Nội.
72. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Nhƣ Phƣơng (1998), Lý luận văn học, vấn dề và suy nghĩ,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
73. Nguyễn Văn Hạnh (1993), Nam Cao - Một đời người một đời văn, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
74. Nguyễn Văn Hạnh (1999)," Về nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng", Nhà văn Vũ
Trọng Phụng với chúng ta, Nxb thành phố Hồ Chí Minh .
75. Hoàng Ngọc Hiến (1990), "Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ", Tạp chí Văn
học, số 2.
76. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà
Nội.
77. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và học văn, Nxb Văn học, Hà Nội.
78. Đỗ Đức Hiểu (1990),"Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng", Tạp
chí Ngôn ngữ, số 4.
79. Đỗ Đức Hiểu (1992), "Hai không gian trong Sống mòn", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội
nhà văn, Hà Nội.
80. Đỗ Đức Hiểu (1996), "Đọc Bƣớm trắng của Nhất Linh", Tạp chí Văn học, Số 1
81. Đỗ Đức Hiểu (1997), "Đọc Đôi bạn của Nhất Linh", Tạp chí văn học. số 1.
207
82. Đỗ Đức Hiểu (1999), Đổi mới đọc và bình văn, Hội nhà văn, Hà Nội.
83. La Khắc Hòa (1987), "Khả năng phản ánh đời sống trong truyện ngắn Nam Cao", Tạp chí
Văn nghệ quân đội, số 10.
84. La Khắc Hòa (1996), "Lịch sử nghiên cứu thể loại (vấn đề thể loại trong tƣ duy nghiên
cứu văn học)", Bài giảng chuyên đề cho lớp chuẩn hoa Thạc sỹ. Khoa Ngữ Vân,
ĐHSP Hà Nội.
85. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
86. Kiều Thu Hoạch (1993), Truyện Nôm - Nguồn gốc và bản chất thể loại, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
87. Tô Hoài (1961), Lời giới thiệu chuyên luận "Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc",
Nxb Văn hóa, Hà Nội.
88. Tô Hoài (1985), Tự truyện (Hồi ký - Tái bản lần 2), Nxb Văn học. Hà Nội.
89. Tô Hoài (1992), "Ngƣời và tác phẩm Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà
văn, Hà Nội.
90. Nguyễn Công Hoan (1971), Đời viết văn của tôi, Nxb Văn học, Hà Nội.
91. Nguyễn Công Hoan (1986), "Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Báo Văn nghệ, số 116 ngày
19-4.
92. Nguyễn Công Hoan (1993)" Cần hiểu đúng Ngô Tất Tố ", Ngô Tất Tố với chúng ta, Nxb
Hội nhà văn, Hà Nội.
93. Nguyễn Công Hoan (1997), Bước đường cùng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
94. Nguyên Hồng (1999), Bỉ vỏ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
95. Nguyên Hồng (1993), "Ngô Tất Tố với chúng ta ", Ngô Tất Tố với chúng, ta Nxb Hội
nhà văn, Hà Nội.
96. Nguyên Hồng (1999) "Vũ Trọng Phụng và những tác phẩm của anh", Vũ Trọng Phụng
với chúng ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
208
97. Nguyễn Kim Hồng (1992), "Hình tƣợng con ngƣời làng quê tha hóa trong văn xuôi hiện
thực Việt Nam 1930 -1945 (Qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu)" Tạp chí Văn
học, số 2.
98. Đỗ Kim Hồi (1990)," Chí Phèo của Nam Cao", Tạp chí văn học, số 3.
99. Đỗ Kim Hồi (l999),"Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Ngô Tất Tố về tác gia và tác
phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
100. Khái Hƣng (1994) Hồn bướm mơ tiên, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
101. Khái Hƣng (1995), Trống mái, Nxb Văn học, Hà Nội.
102. Khái Hƣng - Nhất Linh (1995), Gánh hàng hoa, Nxb Văn học, Hà Nội.
103. Khái Hƣng (1997), Nửa chừng xuân, Nxb Văn học, Hà Nội.
104. Mai Hƣơng (2000), "Ngô Tất Tố - Tài năng và tấm lòng", Ngô Tất Tố về tác gia và tác
phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
105. Phú Hƣơng (1939), " Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Báo Đông Phương, số 10 ngày 1/9.
106. Lê đình Kỵ (1970), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
107. Lê Dinh Kỵ (1992), "Về vấn đề đánh giá văn học Việt Nam 1932 - 1945 và đánh giá Vũ
Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 6 (258) tháng 11, 12.
108. Lê Tràng Kiều (1999), "Về Vũ Trọng Phụng", Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh .
109. Khraptrenkô M. B (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb
Tác phẩm mới, Hà Nội.
110. Khraplrenko. M.B (1984), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, (Tập I), Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
111. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian (tập I), Nxb Đại học và
THCN, Hà Nội.
209
112. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
113. Đinh Gia Khánh, chủ biên (1997), Văn học dân gian Việt Nam (tái bản lần 2) - Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
114. Đinh Giả Khánh (1999), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyệnTấm
Cám, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
115. Nguyễn Hoành Khung (1973), "Nam Cao", Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, tập
V, phần TI, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
116. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Ngô Tất Tố", Từ điển văn học, tập II, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
117. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Vũ Trọng Phụng", Từ điển văn học, tập I, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
118. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Giống tố", Từ điển văn học, tập I - Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
119. Nguyễn Hoành Khung (1984), "Số đỏ", Từ điển văn học, tập II - Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
120. Nguyễn Hoành Khung (1994), Vũ Trọng Phụng con người và tác phẩm, Nxb Hội nhà
văn, Hà Nội.
121. Nguyễn Hoành Khung (1997), Vũ Trọng Phụng - Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxd
Giáo dục, Hà Nội.
122. Nguyễn Hoành Khung (1998), "Đọc Nam Cao - Phác thảo sự nghiệp và chân dung", Tạp
chí Văn học, số 3.
123. Mã Giang Lân (chủ biên) (2000), Quá trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam 1990 -
1945, Nxb Văn hoa thông tin, Hà Nội.
124. Thạch Lam (1996), Truyện ngắn, (Trần Mạnh Thƣờng tuyển chọn), Nxb Hội nhà văn,
Hà Nội.
125. Lênin V.I (1977), Bàn về văn hóa văn học, Nxb Văn học, Hà Nội.
210
126. Đặng Thanh Lê (1979), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
127. Đặng Thanh Lô - Hoàng Hữu Yên - Phạm Luận (1990), Văn học Việt Nam nửa cuối thể
kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
128. Phong Lê (1963), "Tắt đèn và tiếng nói của Ngô Tất Tố", Tạp chí Văn học, số 3.
129. Phong Lê (1980), Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
130. Phong Lê (1984), Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
131. Phong Lê (1986), "Ngƣời trí thức kiểu Nam Cao và chiến thắng của chủ nghĩa hiện
thực", Tạp chí Văn học, số 6:
132. Phong Lê (1987), "Cấu trúc của ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao", Tạp chí Văn nghệ
quân đội, số 10.
133. Phong Lê (1990), "Di sản Vũ Trọng Phụng trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta", Tạp
chí Văn học, số 2.
134. Phong Lê (1992), "Sự sống và sức sống trong văn Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao,
Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
135. Phong Lê (1992), "Nam Cao", năm 1991, Tạp chí Văn học, số 1.
136. Phong Lê (1994), "Một chân dung lớn, một sự nghiệp lớn", Tạp chí Văn học, số 1.
137. Phong Lê (1996), "Tố tâm" với tiểu thuyết mới và với dòng văn xuôi lãng mạn Việt
Nam", Tạp chí Văn học, số 8.
138. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
139. Phong Lê (1997),"Đọc lại và lại dọc Sống mòn", Tạp chí Văn học, số 10.
140. Phong Lê (1997), Nam Cao - phác thảo sự nghiệp và chân dung, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
211
141. Phong Lê (1998), "Nam Cao - Nhìn từ cuối thế kỷ", Văn học trên hành trình thế kỷ XX,
Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
142. Phong Lê (1999), Vẫn chuyện văn và người, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
143. Nhất Linh (1944), Đoạn tuyệt (tái bản), Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
144. Nhất Linh (1999), Bướm trắng (tái bản), Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
145. Hồ Giang Long (1999), "Giọt nƣớc mắt chị Dâu trong tác phẩm Tắt đèn", Ngô Tất Tố
về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
146. Phạm Quang Long (1998), "Một đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nam Cao", Nam Cao về
tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
147. Nguyễn Lộc (1978), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX (Tập
I, II), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội.
148. Nguyễn Lộc (1997), Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - Hết thế kỷ XIX), (tái bản
lần thứ 2), Nxb Giáo dục.
149. Phƣơng Lựu (chủ biên) (1998), Lý luận văn học, tập 3 - Nxb Giáo dục.
150. Phƣơng Lựu (1994), Trên đà dổi mới văn hoa văn nghệ, Viện văn hóa, Sở thông tin văn
hóa tỉnh Quảng Ngãi xuất bản.
151. Phƣơng Lựu (1999), Nhìn lại nửa thế kỷ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
(1936 - 1983), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
152. Mác.C - PH. Ăng ghen - V.I.Lênin (1977), Về văn học và nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
153. Hoàng Nhƣ Mai (2000), "Nhà văn Vũ Trọng Phụng và cái xã hội thời thuộc Pháp", Nhà
văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
154. Nguyễn Đăng Mạnh (1973), Lịch sử văn học Việt Nam tập V (1930 -1945) (phần Ngô
Tất Tố), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
212
155.- Nguyễn Đăng Mạnh (1979), "Chủ nghĩa tự nhiên trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng"
Nhà văn tư tưởng phong cách, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
156. Nguyễn Đăng Mạnh (1983), Nhà văn tư tưởng và phong cách (tái bản) -Nxb Văn học,
Hà Nội.
157. Nguyễn Đăng Mạnh (1987), Lời giới thiệu tuyển tập Vũ Trọng Phụng -(3 tập), Nxb Văn
học, Hà Nội.
158. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), "Vũ Trọng Phụng và niềm căm uất không nguôi", Chân
dung văn học, Nxb Thuận Hóa và Trƣờng Đại học Sƣ phạm Huế.
159. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), "Đọc lại Giống tố", Tạp chí Văn học, số 2.
160. Nguyên Đăng Mạnh (1992), Nam Cao - Tác gia văn học Việt Nam - Tập II, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
161. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
162. Nguyên Đăng Mạnh (1997), "Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam nửa dầu thế
kỷ XX", Tạp chí Văn học, số 5.
163. Nguyễn Đăng Mạnh (1999), Những bài giảng về tác gia văn học trong tiến trình văn
học hiện đại Việt Nam, 3 tập, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
164. Nguyền Đăng Mạnh (1999), "Cái đói và miếng ăn trong truyện Nam Cao" Những bài
giảng về rắc gia vãn học trong tiến trình vân học hiện dại Việt Nam, Nxb Đại học
Quốc gia Mà Nội, Hà Nội.
165. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
166. Đức Mậu (1992), "Các mối quan hệ trong, làng Vũ Đại", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb
Hội nhà văn, Hà Nội.
167. Dƣơng Nghiễm Mậu (1999), "Viết về Vũ Trọng Phụng", Vũ TrọngPhung với chúng ta.
Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
213
168. Nguyên Đăng Na (1997), "Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại -Những bƣớc di lịch
sử", Tạp chí Văn học, số7.
169. Vũ Tú Nam (2000), "Cây bút sắc bén của một nhà nho", Ngô Tất Tố về tác gia và tác
phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
170. Quỳnh Nga (1991), "Có hay không yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong tác phẩm của Nam
Cao", Tạp chí Vãn học, số 3.
171. Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
172. Nguyễn Lƣơng Ngọc (1992), "Thử sống trong văn Nam Cao", Nghĩ tiếp về Nam Cao,
Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
173. Phạm Xuân Nguyên (1992), "Nam Cao và sự lựa chọn một chủ nghĩa hiện thực kiểu
mới", Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
174. Vƣơng Trí Nhàn (1992),"Sự biến hóa của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao",
Nghĩ tiếp vổ Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
175. Vƣơng Trí Nhàn (1993), "Nam Cao, ngày Chí Phèo năm mƣơi tuổi", Những kiếp hoa
dại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
176. Vƣơng Trí Nhàn (1994), "Nhà nho thức thời, ngòi bút tình cảm Ngô Tất Tố", Tạp chí
Văn học, số 1.
177. Vƣơng Trí Nhàn (1999), Cánh bướm và đóa hướng dương, Nxb Hải Phòng.
178. Vƣơng Trí Nhàn (2000), "Cảm nhận từ nhà văn Vũ Trọng Phụng", Vũ Trọng Phụng một
tài năng độc đáo, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
179. Vƣơng Trí Nhàn (2000), Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế
kỷ XX đến 1945, Nxb Hội nhà văn.
180. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) (1999), Văn học dân gian những công trình nghiên cứu, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
181. Nhiều tác giả (1976) Tập nghị luận và phê bình văn học chọn lọc (tập I), Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
214
182. Nhiều tác giả (1983), Số phận của tiểu thuyết, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
183. Nhiêu tác giả (1992), Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
184. Nhiều tác giả (1992),Vũ Trọng Phụng hôm qua và hôm nay, Nxb TP. Hồ Chí Minh.
185. Nhiều tác giả (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
186. Nhiều tác giả (1992), Vũ Trọng Phụng tài năng và sự thật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
187. Nhiều tác giả (1993), Ngô Tất Tố với chúng ta, NXB Hội nhà văn. Hà Nội.
188. Nhiều tác giả (1995), Những bậc thầy văn chương thế giới, tư tưởng và quan niệm, Nxb
Văn học, Hà Nội.
189. Nhiều tác giả (1996), Khảo về tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
190. Nhiều tác giả (1997), Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn Nghệ thành phố
Hồ Chí Minh.
191. Nhiều tác giả (1997), Ngô Tất Tố - Nguyễn Huy Tưởng - Tô Hoài, Nxb Văn nghệ thành
phố Hồ Chí Minh .
192. Nhiều tác giả (1997), Văn học Việt Nam 1900 - Ị945 (tái bản lần 4), Nxb Giáo dục, Hà
Nôi.
193. Nhiêu tác giả (1998), Nam Cao về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
194. Nhiều tác giả (1999), VũTrọng Phụng tài năng và sự thật, Nxb Văn học.
195. Nhiều tác giả (1999), Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh.
196. Nhiều tác giả (2000), Vũ Trọng Phụng một tài năng độc đáo, Nxb Văn hoa thông tin, Hà
Nội.
197. Nhiều tác giả (1999), Tuyển tập Tự lực văn đoàn (3 tập), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
215
198. Nhiều tác giả (2000), Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb Văn háo
thông tin, Hà Nội.
199. Nhiều tác giả (2000), Ngô tất tố về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục. Hà Nội.
200. Pêtơrốp. X.M (1986), Chủ nghĩa hiện thực phê phán (ngƣời dịch: Nguyễn Đức Nam,
Phạm Văn Trọng, Anh Đào), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
201. Pospelov. G.N (chủ biên) (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học (2 tập -Ngƣời dịch: Trần
Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Nghĩa Trọng), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
202. Hoàng Ngọc Phách (1988), Tố Tâm (tái bản) - NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp,
Hà Nội.
203. Vũ Ngọc Phan (1987), Những năm tháng ấy (hồi ký), Nxb Văn học, Hà Nội.
204. Vũ Ngọc Phan (1999), "Vũ Trọng Phụng (biệt hiệu Thiên Hƣ", Nhà văn Vũ Trọng
Phụng với chúng ta - Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
205. Nhƣ Phong (1964), "Giá trị nhận thức của Tắt đèn", Bình luận văn học, Nxb Văn học,
Hà Nội.
206. Nhƣ Phong (1977), Bình luận văn học, Nxb văn học, Hà Nội.
207. Bùi Huy Phồn (1988), "Nhớ và nghĩ về Vũ Trọng Phụng", Báo Người Hà Nội số 79,
ngày 1-7.
208. Vũ Trọng Phụng (1939), "Tắt đèn của Ngô Tất Tố", Báo Thời vụ. số 100; ngày 31-1.
209. Vũ Trọng Phụng (1987), Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (3 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
210. Vũ Trọng Phụng (1993), Tuyển tập Vũ Trụng Phụng (2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
211.Vũ Trọng Phụng (1996), Làm đĩ (tái bản), Nxb Văn học, Hà Nội.
216
212. Vũ Trọng Phụng (1997), Truyện ngổn Vũ TrọiiỊi Phụng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
213. Phan Diễm Phirơne (1992), "Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao",
Tạp chí Văn học, số 1 (253) tháng 1 +2.
214. Thiều Quang (1999), " Chút ít tài liệu về Vũ Trọng Phụng", Vũ Trọng Phụng với chúng
ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
215. Lê Chí Quế (chủ biên) (1999), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà
Nội.
216. Vũ Dƣơng Quỹ (1991), "Những nhân vật, những cuộc đời và nẻo đƣờng đi tìm nhân
cách", Những nhân vật, những cuộc đời, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
217. Vũ Dƣơng Quỹ (1998), Ngô Tất Tố. Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
218. Nguyễn Quang Sáng (1989), "Bút lực của nhà văn Vũ Trọng Phụng", Tạp chí Kiến thức
ngày nay, .số 25, 12.
219. Hoàng Thiếu Sơn (1990), "Số đỏ - cuốn " Truyện bợm" kỳ tài", Tạp chí Văn học, số 2.
220. Trần Đình Sử (1981), "Mội số vấn đề thi pháp học lý thuyết", Chuyên đề cho lớp sau
Đại học khoa VI (1981 - 1983), Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội.
221. Trần Đình sử - Phƣơng Lựu - Nguyễn Xuân Nam (1987), Lý luận văn học tập II, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
222. Trần Đình sử (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới Hà Nội.
223. Trần Đình sử (1991), "Khái niệm " Quan niệm nghệ thuật" trong nghiên cứu văn học Xô
Viết", Tạp chí văn học, số 1.
224. Trần Đình Sừ (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Tài liệu bồi dƣỡng giáo viên
văn- Vụ giáo viên xuất bản, Hà Nội
217
225. Trần Đình Sử (1996), "Bệnh ngủ của Thị Nở và đàn cá bạc của Huy Cận", Tạp chí Văn
học và tuổi trẻ, số 17.
226. Trần Đình Sử (1996), Lý luận phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
227. Trần Đình Sử (1997), Những thế giới nghệ thuật thơ (tái bản lần thứ nhất) - NXB Giáo
dục, Hà Nội.
228. Trần Đình Sử (1998), "Cấu trúc đối thoại trong truyền ngắn Chí Phèo của Nam Cao",
Tạp chí Văn học, số 12.
229. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
230. Trần Đình Sử (1998), "Giọng điệu nghệ thuật và chủ nghĩa cảm thƣơng trong Truyện
Kiều", Tạp chí Văn học, số2 (324) tháng 2.
231. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam-Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
232. Văn Tâm (1996), Vũ Trọng Phụng - Nhà văn hiện thực, Nxb Văn nghệ, Hà Nội.
233. Văn Tâm (1989), "Vũ Trọng Phụng trong rừng cƣời nhiệt đới", Tạp chí Kiến thức ngày
nay, số 25, 12.
234. Bùi Văn Tiếng (1 99 7), Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Nxb
Văn hóa, Hà Nội.
235. Timofeep. L. I (1962), Nguyên lý lý luận văn học, Nxb Văn hóa, Viện văn học, Hà Nội.
236. Ngô Tất Tố (1939), "Gia thế ông Vũ Trọng Phụng", Tao đàn số đặc biệt 12.
237. Ngô Tất Tố (1993), Tuyển tập Ngô Tất Tố(2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
238. Ngô Tất Tố (1996), Ngô Tất Tố toàn tập (5 tập, Nxb Văn học, Hà Nội.
239. Cù Đình Tú (1988), "Mấy cảm nghĩ ban đầu về cách phô diễn của nhà văn Vũ Trọng
Phụng", Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 2.
218
240. Nguyễn Tuân (1939), "Một đêm họp đƣa ma Phụng", Tao đàn tạp chí, số 1 (12).
241. Nguyễn Tuân (1993), "Trƣớc đèn, đọc đoản thiên Ngô Tất Tố", Ngô Tất Tố với chúng
ta, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
242. Nguyễn Tuân (1999), Bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
243. Nguyễn Tuân (1999), "Truyện ngắn Tắt đèn của Ngô Tất Tố" Nguyễn Tuân bàn về văn
học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
244. Nguyễn Tuân (1999), "Phim chị Dậu cũng là cảm nghĩ tất niên với bác đầu xứ Tố",
Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn Hà Nội.
245: Nguyễn Tuân (1999), "Đọc lại truyện Giống tố", Nguyên Tuân bàn về văn học nghệ
thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
246.Trần Minh Tƣớc (1939), "Một nhà văn của dân quê - Ngô Tất Tố trong Tắt đèn", Báo
Mới, số 4, ngày 15-6.
247. Trƣơng Tửu (1939), "Địa vị Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam hiện đại", Tao
đàn, số đặc biệt (12).
248. Hoài Thanh (1998),), Bình luận văn chương (1934 - 1943), (nhóm tuyển soạn: Nguyễn
Ngọc Thiện, Từ Sơn ), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
249. Nguyễn Hoài Thanh (1996), "Nghệ thuật tiếp cận hiện thực trong phóng sự của Vũ
Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 2 (288) tháng 2.
250. Nguyễn Thành (1997), "Ảnh hƣởng của phân tâm học Freud tron" sáng tác của Vũ
Trọng Phụng", Tạp chí Văn học, số 4.
251. Nguyễn Thành (1999), "Chất hài trong câu văn tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng",
Tạp chí Văn học, số 4.
252. Trần Đăng Thao (1996) "Kết cấu hoành tráng - Một đóng góp lớn của Vũ Trong Phụng
trong lĩnh vực tiểu thuyết", Tạp chí Văn học, số 4 (290).
219
253. Bùi Việt Thắng (biên soạn) (2000), Bàn về tiểu thuyết, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
254. Đỗ Ngọc Thống (1991), "Thêm một lời bào chữa cho Nam Cao qua nhân vật Thị Nở ",
Báo Nhân dân chủ nhật, số 42.
255. Nguyễn Đình Thi (1956), Mấy vấn đề văn học, Nxb Văn nghệ, Hà Nội.
256. Nguyễn Ngọc Thiện (1992), "Bút pháp tự sự đặc sắc trong Sống mòn", Nghĩ tiếp về
Nam Cao, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
257. Nguyễn Ngọc Thiện (1995), "Những cuộc đời đón đẩy trong tiểu thuyết tả chân của
Nguyễn Đình Lạp", Tạp chí Văn học, Số 12 (286).
258. Nguyễn Ngọc Thiện (chủ biên) (1997), Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam (1900 -
1945) (5 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
259. Nguyễn Ngọc Thiện (2000), "Nghiên cứu sáng tác của Vũ Trọng Phụng trong tiến trình
văn học dân tộc hiện đại thế kỷ XX", Tạp chí Văn học, số 4.
260. Đỗ Thị Minh Thúy (1997), "Cái tôi lãng mạn và nhân vật Tố Tâm của nhà văn Hoàng
Ngọc Phách", Tạp chí Văn học, số 2.
261. Bùi Công Thuấn (1997), "Phong cách truyện ngắn Nam Cao trƣớc cách mạng", Tạp chí
Văn học, số 2.
262. Phan Trọng Thƣởng (1998), " Tìm hiểu một chữ "nhƣng" trong văn Nam Cao", Nam
Cao về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
263. Phan Trọng Thƣởng (2000): "Cuối thế kỷ nhìn lại việc nghiên cứu đánh giá văn chƣơng
Tự lực văn đoàn ", Tạp chí Văn học. số 2 (336) tháng 2
264. Mà Bình Trị (1996), "Chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ độc đáo của Nam Cao - Sự tự ý thức
về cá nhân", Tạp chí văn học, số 9 (295), tháng 9.
265. Hà Bình Trị (1996), "Một thành tựu nghệ thuật độc đáo của Nam Cao", Tạp chí Đại học
và Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội, số 7.
266. Hà Bình Trị (1997), "Truyện ngắn Nửa đêm của Nam Cao, hiện thực chủ nghĩa hay tự
nhiên chủ nghĩa", Tạp chí Văn học, số 4.
220
267. Hà Bình Trị (998), "Một tác phẩm đặc sắc của Nam Cao chƣa đƣợc chú - ý: Truyện
ngƣời hàng xóm", Nam Cao về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
268. Hoàng Trinh 1980), Về khoa học và nghệ thuật trong phê bình văn học, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
269. Nguyễn Quang Trung (1997), "Vũ Trọng Phụng và nhỡn quan Vô nghĩa lý, Tạp chí Văn
học, số 4.
270. Nguyễn Quang Trung (1998), "Tính chất lƣỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo", Nam Cao
về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
271. Trần Thị Việt Trung (1991), "Các nhân vật xấu xí của Nam Cao", Báo Văn nghệ, số 51.
272. Lê Vin Trƣơng (1997), "Tựa Đôi lứa xứng đôi ", Nam Cao đời văn và tác phẩm, Nxb
Văn học, Hà Nội.
273. Trần Đăng Xuyền (1991), "Thời gian và không gian trong thế giới nghệ thuật của Nam
Cao", Tạp chí Văn học, số 5.
274. Trần Đăng Xuyền (1991), "Chủ nghĩa tâm lý trong sáng tác của Nam Cao", Tạp chí
Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 2.
275. Trần Đăng Xuyền (1991), "Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao", Tạp chí Văn nghệ
Quân đội, số 121.
276. Trần ĐăngXuyền (1998), " Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ
nghĩa lớn", Tạp chí Văn học, số 6 - tháng 6.
277. Trần Đăng Xuyền (1998), "Nam Cao qua những công trình của một nhà nghiên cứu
(Mấy ghi nhận nhân đọc Nam Cao đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức. NXB Văn
học 1998), Tạp chí Văn học, số 9.
278. Chế Lan Viên (1998), "Vài ý kiến nhỏ", Tạp chí Kiến thức ngày nay, Số 3-4.
279. Hoài Việt (1953), "Ngô Tất Tố - Nhà văn hóa lỗi lạc", Ngô Tất Tố nhà văn hóa lớn, Nxb
Văn hóa, Hà Nội.
221
280. Vƣgôtxki,(1981), Tâm lí học nghệ thuật (ngƣời dịch: Hoài Lam), Nxb Khoa học xã hội ,
Hà Nội.
281. Box Xuskov, (1982), Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực. Ngƣời dịch : Hoàng
Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hải Hà) Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội .
242. Phạm Hoàng Yến (1996), "Giá trị của cấu trúc trong truyện ngắn Lão Hạc", Tạp chí
Văn học và tuổi trẻ, tập 19.
283. Insun Yu (1994), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII. Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
B.Tiếng Nga
284. Абрамович. ГЛ, Гей. И.К, В.В. Ермилов: Теория литературы - Основные проблемы
и истерическом освещении Ролы и Жанры литературы.
(Издательство "Hayka" М. 1964)