VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ----------
TÂN HƯƠNG HUÊ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
TÂN HƯƠNG HUÊ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG
Hà Nội, năm 2021
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) vừa là một hình thức chuyển giao rủi ro, vừa
là một hình thức đầu tư tài chính. Mục tiêu của BHNT là đảm bảo khả năng chi
trả các chi phí tài chính của người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
đối với người được bảo hiểm (NĐBH). Trong quan hệ BHNT, do hạn chế về
trình độ chuyên môn và khả năng đàm phán trực tiếp với doanh nghiệp bảo
hiểm (DNBH), người mua bảo hiểm thường ở vị thế bất lợi hơn trong việc thỏa
thuận dẫn đến nguy cơ từ chối chi trả bảo hiểm. Vì vậy, các quy định của pháp
luật về bảo vệ người tiêu dùng (người mua BHNT) trở thành yếu tố quan trọng
chi phối đến hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, một số
quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) đã không
còn phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam và xu thế phát triển chung của thế giới.
Điều này vừa là rào cản cho sự phát triển của thị trường kinh doanh BHNT,
vừa không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người mua BHNT hoặc
người thụ hưởng bảo hiểm.
Luật kinh doanh bảo hiểm (KDBH) đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09/12/2000 (sửa
đổi bổ sung năm 2010 và năm 2019) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng
trong việc xây dựng pháp luật điều chỉnh lĩnh vực KDBH trong đó có giao dịch
BHNT.
Hiện nay, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng (NTD) chưa quy định người
mua các sản phẩm BHNT là NTD thực thụ dẫn đến việc bảo vệ quyền lợi cho
họ gặp nhiều bất cập, rất khó khăn khi giải quyết các tranh chấp hoặc vi phạm
xảy ra.
Từ thực tiễn phát sinh, kết quả giải quyết các tranh chấp về BHNT và kết
quả nghiên cứu về thực trạng trên, có thể thấy các nguyên nhân chính ảnh hưởng
đến quyền lợi của NĐBH đó là hệ thống pháp luật về KDBH, quy định về bảo
vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, bất cập.
Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền
1
lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) khi tham gia BHNT là vô cùng cần thiết, có
ý nghĩa cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ những lý do trên,
tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai ” làm
luận văn tốt nghiệp cấp học thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, một số công trình nghiên cứu cấp trường, cấp
bộ và các báo cáo chuyên sâu, chi tiết về BHNT như các yếu tố chi phối đến
pháp luật kinh doanh BHNT; đánh giá nội dung pháp luật về kinh doanh BHNT,
bao gồm những ưu điểm và hạn chế của các quy định hiện hành. Việc đánh giá
được thực hiện chi tiết theo cấu trúc của từng bộ phận pháp luật nhằm phát hiện
những bất cập, hạn chế cơ bản của các quy định pháp luật hiện hành; xây dựng
các giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về kinh doanh BHNT nhằm thúc
đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường KDBH, đáp ứng quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Đơn cử một số công trình nghiên cứu như:
Năm 2001, Nhà xuất bản Thống kê cho tái bản lần thứ nhất cuốn “Một
số điều cần biết về pháp lý trong Kinh doanh Bảo hiểm” của GS.TSKH. Trương
Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh. Trong lần tái bản này, cuốn sách đã bước
đầu đề cập những nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và
đây có thể coi là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam về vấn đề này.
Luận án tiến sỹ “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam,
những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Vũ Hải, trường Đại học
Luật, Hà Nội năm 2014, Luận án tập trung nghiên cứu những quan điểm hiện
hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận về pháp luật kinh doanh; Đánh giá
nội dung pháp luật về kinh doanh BHNT, bao gồm những ưu điểm và hạn chế
của các quy định hiện hành. Việc đánh giá được thực hiện chi tiết theo cấu trúc
của từng bộ phận pháp luật nhằm phát hiện những bất cập, hạn chế cơ bản của
các quy định pháp luật hiện hành; Xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật
hiện hành về kinh doanh BHNT; Là công trình chuyên khảo xây dựng hệ thống
lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT cũng như đánh giá tương đối toàn diện
2
thực trạng pháp luật hiện hành điều chỉnh lĩnh vực này.
Đề tài Bảo hiểm Nhân thọ theo pháp luật Việt Nam của tác giả Trịnh Thị
Bích Thủy, luận văn thạc sỹ nghành luật năm 2014. Luận văn là một trong
những công trình nghiên cứu chuyên sâu về BHNT theo pháp luật Việt Nam,
làm tài liệu tham khảo rất quý giá cho những công trình nghiên cứu tiếp theo
và trong hoạt động giảng dạy. Bên cạnh đó, những ý kiến đóng góp tích cực
của Luận văn cũng góp phần giải quyết những bất cập hiện tại liên quan đến
vấn đề BHNT. Đồng thời Luận văn cũng tác động đến những nhà làm luật trong
việc ban hành quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp trong BHNT. Ngoài
ra, qua những tranh chấp được phân tích trong luận văn cũng phần nào góp
phần cung cấp những tri thức quý giá cho những người tham gia ký kết hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu liên quan cũng có nhiều
đề xuất, kiến nghị đáng chú ý đã được công bố, như:
Tác giả Phí Thị Quỳnh Nga (2006) trong bài báo “Những bất cập của
điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm” cho
rằng một số quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm cần được sửa đổi vì chưa
bao quát được hết các trường hợp cần điều chỉnh [54]
Tác giả PGS, TS. Hoàng Trần Hậu và ThS. Nguyễn Tiến Hùng (2013)
trong “Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt
Nam” đề xuất giải pháp khắc phục sự khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán số 19
và quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ theo Thông tư 125/2012/TT-BTC.
Tác giả Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong tác phẩm “Giám
sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có đề xuất về xây dựng
mô hình giám sát hợp nhất từ nay đến năm 2020. Tuy nhiên, các tác giả chưa
đề xuất cụ thể các bước thực hiện mục tiêu này.
Qua rà soát, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về BVQLNTD trong
lĩnh vực BHNT hiện nay là rất ít. Phần lớn các công trình nghiên cứu chỉ đề
cập đến pháp luật KDBH, về vấn đề quản lý, kinh doanh của các DNBH, số ít
các công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn đề BVQLNTD trong lĩnh vực
3
BHNT cũng chỉ đề cập khái quát.
Việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp
luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT là cần thiết để đảm bảo lợi ích cho
các bên khi tham gia bảo hiểm và góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường
KDBH trong nước. Từ đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài "Bảo vệ quyền lợi
NTD trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam hiện nay, thực
tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng Nai" là rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận pháp luật
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành
và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực
BHNT đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện
nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Làm rõ một số khía cạnh lý luận pháp luật về BVQLNTD như: Khái
niệm người tham gia bảo hiểm, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, cấu
trúc pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.
- Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về BVQLNTD trong lĩnh vực
BHNT tại Đồng Nai (thực tiễn áp dụng pháp luật của doanh nghiệp BHNT; cơ
quan giám sát, quản lý; cơ quan giải quyết tranh chấp...)
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật để BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh mối quan hệ giữa
người tham gia BHNT và doanh nghiệp kinh doanh BHNT kể từ khi có Bộ Luật
Dân sự năm 2015; Luật KDBH năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm
2019; Luật BVQLNTD năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Căn cứ trên các dữ liệu thu thập từ các công trình nghiên cứu, bài viết,
4
số liệu thống kê, tài liệu tham khảo, các báo cáo pháp luật hiện hành về
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT, tình hình thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai được
công bố gần đây.
Luận văn chỉ đề cập và nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn thi
hành pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT ở Việt Nam hiện nay, thực
tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng Nai và không nghiên cứu các hình thức KDBH khác.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
của chủ nghĩa Mác - Lênin dựa trên các quy định pháp luật Việt Nam về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
Phương pháp phân tích tổng hợp được dùng để phân tích, lập luận và
tổng hợp những vấn đề lý luận về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.
Phương pháp so sánh pháp luật được dùng để so sánh quy phạm pháp
luật về BVQLNTD dùng trong lĩnh vực BHNT so với các nước phát triển và
đang phát triển.
Phương pháp thống kê được dùng để thống kê, thu thập dữ liệu báo cáo
thực tế ở địa phương để đánh giá hiệu quả thực hiện về BVQLNTD trong lĩnh
vực BHNT.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nội dung Luận văn này là nghiên cứu chuyên sâu về BVQLNTD trong
lĩnh vực BHNT ở trình độ thạc sỹ. Kết quả nghiên cứu (sau khi được Hội đồng
thông qua) sẽ làm tài liệu tham khảo cho đối tượng có nhu cầu, tìm hiểu về
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT dưới góc độ khoa học pháp lý.
Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống lý luận pháp luật về BVQLNTD
trong lĩnh vực BHNT và đánh giá thực tiễn thi hành các quy định đó tại tỉnh Đồng
Nai, từ đó có những giải pháp phù hợp, mang tính khả thi, hạn chế phát sinh
các tranh chấp, vi phạm nhằm BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT trong thời gian
tới.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục tài liệu
5
tham khảo. Nội dung của luận văn có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và thực tiễn thi hành tại tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
6
bảo hiểm nhân thọ.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Người tiêu dùng (NTD) là người mua hàng hoá, dịch vụ để trực tiếp sử dụng
hoặc sở hữu.
Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) là kinh doanh dịch vụ tài chính, theo đó,
người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người cần được pháp luật bảo hộ.
Pháp luật của các nước về lĩnh vực KDBH không có định nghĩa riêng về quyền
lợi của người được bảo hiểm (NĐBH).
Do đó quyền lợi của NĐBH có thể được nhận diện qua suy luận từ quyền
lợi của NTD hưởng dịch vụ của nhà kinh doanh. Người tiêu dùng trong lĩnh
vực BHNT có thể là bên mua bảo hiểm (BMBH), NĐBH hoặc người thụ hưởng.
Từ phân tích trên ta có thể kết luận rằng quyền lợi của NTD trong lĩnh vực
BHNT chính là quyền lợi của BMBH, NĐBH hoặc người thụ hưởng.
Bên mua bảo hiểm (BMBH) được hiểu là NTD theo đúng định nghĩa về
NTD hiện hành.
1.1.2. Khái niệm và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) trong lĩnh vực BHNT
gắn liền với ý tưởng về quyền NTD và với sự thành lập của các tổ chức
BVQLNTD giúp NTD lựa chọn tốt hơn trên thị trường và trợ giúp họ bảo vệ
quyền lợi. Một số tổ chức thúc đẩy việc bảo vệ NTD bao gồm các tổ chức chính
phủ và các tổ chức kinh doanh tự điều chỉnh như các tổ chức và cơ quan bảo
vệ NTD, các cán bộ thanh tra, ở Mỹ có Uỷ ban Thương mại Liên bang và các
Văn phòng kinh doanh tốt hơn (Better Business Bureau) ở Mỹ và Canada...
Ngoài ra, lợi ích của NTD còn được bảo vệ bằng cách thúc đẩy thương mại,
7
cạnh tranh lành mạnh, công bằng và minh bạch thông tin trên thị trường để
phục vụ NTD, phù hợp với hiệu quả kinh tế, tuy nhiên chủ đề này lại được đề
cập trong Luật Cạnh tranh.
Về mặt pháp lý, NTD được bảo vệ qua các quy định pháp luật trong đó
có Luật BVQLNTD, bao gồm những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của NTD.
Ví dụ: Pháp luật có thể yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin về các sản
phẩm liên quan tới an toàn, sức khoẻ của cộng đồng. Luật pháp được thiết kế
như là các quy định để ngăn chặn các doanh nghiệp có các hoạt động gian lận
hoặc có các hoạt động không công bằng do giành được nhiều lợi thế hơn so với
các đối thủ cạnh tranh, giúp bảo vệ, bổ sung cho những người dễ bị tổn thương
nhất trong xã hội. Bảo vệ NTD cũng có thể được thực hiện thông qua các tổ
chức phi chính phủ và cá nhân như là hoạt động của NTD.
Bản chất của BHNT là cách thức dự phòng tài chính an toàn cho tương
lai với mục đích thay thế nguồn thu nhập khi người tham gia gặp rủi ro bất trắc
(quyền lợi BHNT). Chính vì thế BHNT có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống con
người, nó không chỉ giúp ổn định cuộc sống khi rủi ro bất ngờ xảy ra mà còn
là cách thức chia sẻ rủi ro trong cộng đồng bằng cách lấy số đông bù số ít.
1.1.3. Các hình thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
bảo hiểm nhân thọ
- Người tiêu dùng (NTD) tự bảo vệ mình trong quá trình đàm phán, ký
kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Người tiêu dùng phải ý thức, nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ của
mình trong việc đàm phán, thương lượng, ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
(HĐBHNT). Ngoài ra, NTD cần hiểu rõ quy định về các quyền của mình, cần
có kiến thức, tự tìm hiểu thêm để am hiểu về sản phẩm mà mình sẽ mua và có
năng lực để đối phó với các tranh chấp có thể xảy ra trước, trong hoặc sau quá
trình thực hiện HĐBHNT.
Trong quan hệ với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (DNBHNT), hơn ai
hết, NTD chính là người hiểu về nhu cầu của chính bản thân mình khi quyết
định tham gia vào các giao dịch, họ có quyền lựa chọn sản phẩm phù hợp với
8
nhu cầu và năng lực tài chính của mình hay yêu cầu được cung cấp thêm thông
tin hoặc thay đổi, bổ sung, hủy bỏ các điều khoản giao dịch và quyết định tham
gia hoặc không tham gia HĐBHNT.
Như vậy, NTD cần chủ động tự bảo vệ mình trước khi cần đến sự trợ giúp
của các cơ quan chức năng hoặc của pháp luật.
- Được bảo vệ thông qua pháp luật Nhà nước
Đây là một trong các quy định về quyền con người, với chức năng của
Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người được thực thi trên thực tế.
Trách nhiệm bảo vệ NTD sẽ do Nhà nước đảm nhận, để BVQLNTD,
pháp luật và thực thi pháp luật trong lĩnh vực BHNT là công cụ để nhà nước
bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tham gia bảo hiểm, duy trì trật tự, ổn
định xã hội.
- Được bảo vệ thông qua các tổ chức xã hội
Để bảo vệ những quyền lợi hợp pháp và chính đáng của bản thân, người
tiêu dùng có thể liên hệ với các tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD. Vai trò
của các tổ chức xã hội này đã được xã hội hóa trong Luật Bảo vệ NTD năm
2010 và Nghị định số 99/2011/NĐ-CP.
Các tổ chức xã hội này sẽ hướng dẫn, giúp đỡ và tư vấn cho NTD khi
được yêu cầu, đại diện cho NTD khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện khi lợi ích
NTD bị xâm hại.
- Được bảo vệ thông qua Cục quản lý, giám sát bảo hiểm
Nhiệm vụ BVQLNTD trong BHNT thuộc trách nhiệm chủ yếu của Cục
quản lý, giám sát bảo hiểm. Đây là cơ quan thuộc Bộ tài chính, có chức năng
thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực KDBH; trực tiếp quản lý, giám sát
hoạt động KDBH; thực hiện chức năng BVQLNTD thông qua những hoạt động
như: xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH; giải quyết khiếu nại, tố cáo;
kiểm tra và giám sát hoạt động của DNBH; tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ để cấp, gia
hạn, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của DNBH; tổ chức thực hiện, tuyên
truyền về bảo hiểm; phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch và các văn bản pháp luật về KDBH v.v.
9
- Được bảo vệ thông qua hoạt động tài phán
Các tranh chấp phát sinh từ giao kết HĐBHNT thường xuất phát từ hành
vi vi phạm hợp đồng của một bên hoặc cả hai bên với lỗi cố ý hoặc vô ý làm
trái các điều, khoản trong hợp đồng. Trong trường hợp NTD thấy mình bị xâm
hại về quyền lợi chính đáng thì có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại hoặc tòa án, các phán quyết có giá trị bắt buộc các bên
phải thi hành.
1.1.4 Những vấn đề chung về bảo hiểm nhân thọ
Khái niệm bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sản phẩm của các doanh nghiệp kinh
doanh bảo BHNT nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro liên quan đến sức
khỏe, thân thể, tính mạng. Đơn giản là người tham gia thỏa thuận và ký kết
HĐBHNT với công ty bảo hiểm về việc sẽ đóng đúng những khoản phí đều
đặn vào quỹ dự trữ tài chính do công ty bảo hiểm quản lý để được chi trả số
tiền nhất định khi không may gặp rủi ro hoặc đến thời điểm đáo hạn.
Theo Khoản 1, Điều 12, Luật KDBH: Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả
thuận giữa BMBH và DNBH, BMBH phải đóng phí bảo hiểm, khi có sự kiện
bảo hiểm xảy ra, DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi
thường cho NĐBH.
Đặc điểm bảo hiểm nhân thọ
BHNT là một loại nghiệp vụ bảo hiểm cho NĐBH sống hoặc chết. Chính
vì vậy mà BHNT mang những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe con người không xác định được
giá trị.
Thứ hai, sự kiện bảo hiểm không hoàn toàn gắn liền với rủi ro. Sự kiện
bảo hiểm là sự kiện khách quan mà theo đó, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì
DNBHNT phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho
NĐBH.
Thứ ba, chỉ DNBHNT mới được cung cấp. BHNT là bảo hiểm con người,
đây là thuộc tính cơ bản nhất của BHNT mà các loại bảo hiểm khác không có.
Ví dụ: bạn tham gia bảo hiểm tính mạng, sức khỏe thì bạn phải đóng phí khi
10
tham gia bảo hiểm. Trong khoản thời gian tham gia bảo hiểm nếu bạn gặp rủi
ro như tai nạn thì bạn sẽ được bên bảo hiểm chi trả các chi phí phát sinh trong
việc gặp rủi ro này.
Thứ tư, đây là loại hợp đồng dài hạn và thường mang tính tiết kiệm.
Khái niệm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi
trên cơ sở chấp nhận rủi ro của BMBH; KDBH chính là nghiệp vụ bảo hiểm
mà theo đó, KDBH chính là việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm
bao gồm khai thác bảo hiểm, lưu giữ hồ sơ và giải quyết bồi thường, hoặc bao
gồm việc thiết kế sản phẩm, định phí, lập dự phòng và phân phối sản phẩm bảo
hiểm. BHNT là sản phẩm của các DNBH nhằm bảo vệ con người trước những
rủi ro liên quan đến sức khỏe, thân thể, tính mạng. Đơn giản là người tham gia
thỏa thuận và ký kết hợp đồng bảo hiểm với DNBH về việc sẽ đóng đúng những
khoản phí đều đặn vào quỹ dự trữ tài chính do DNBH quản lý để được chi trả
số tiền nhất định khi không may gặp rủi ro hoặc đến thời điểm đáo hạn.
Chính vì thế BHNT có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống con người, nó
không chỉ giúp ổn định cuộc sống khi rủi ro bất ngờ xảy ra mà còn là cách thức
chia sẻ rủi ro trong cộng đồng bằng cách lấy số đông bù số ít.
1.2. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo
hiểm nhân thọ
Những vấn đề chung pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT
gồm: Pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT; đặc điểm pháp luật về
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT; vai trò và vị trí của pháp luật về BVQLNTD
trong lĩnh vực BHNT trong hệ thống pháp luật được phân tích chi tiết như sau:
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Luận văn đưa ra khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
(BVQLNTD) trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là hệ thống các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận đảm bảo thực hiện, điều
chỉnh những quan hệ phát sinh giữa bên mua bảo hiểm (BMBH) với doanh
11
nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của BMBH.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 9 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi năm
2010 và năm 2019 thì quyền lợi được bảo hiểm là: “quyền sở hữu, quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối
với đối tượng được bảo hiểm”. Theo đó, xét dưới góc độ BHNT thì quyền lợi
bảo hiểm trong BHNT là “quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối
tượng được bảo hiểm”. “Cấp dưỡng” được định nghĩa tại Khoản 24, Điều 3
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là nội dung quan trọng của pháp luật
hôn nhân và gia đình: nghĩa vụ nuôi dưỡng được xác lập giữa cha mẹ (cả cha
mẹ ruột, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế) với con cái (cả con ruột, con nuôi,
con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng) và ngược lại, giữa ông bà đối với
cháu và ngược lại, giữa cô, dì, chú, bác ruột với cháu. Ngoài nghĩa vụ được
pháp luật hôn nhân và gia đình xác lập, không còn tồn tại bất kỳ quy định pháp
luật nào khác về quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Do đó, căn cứ
để xác lập quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là quy định của pháp
luật hôn nhân và gia đình. Cách hiểu này là rất hẹp so với thực tiễn. Bởi vì,
ngoài mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng được xác lập theo quan hệ hôn nhân,
huyết thống thì còn tồn tại các mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng khác như:
quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn, quan hệ cấp dưỡng của
người phạm tội đối với những người mà người bị hại phải nuôi dưỡng nếu người
bị hại còn sống…
Theo quy định của khoản 3 Điều 9 Luật KDBH, nghĩa vụ nuôi dưỡng,
cấp dưỡng phải gắn với đối tượng được bảo hiểm. Khoản 1, Điều 31 Luật Luật
KDBH quy định: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ,
tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người”. Như vậy, có thể hiểu, quyền lợi bảo
hiểm trong BHNT là quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng của BMBH
đối với NĐBH phát sinh liên quan đến tuổi thọ, sức khỏe hoặc tính mạng của
NĐBH. Pháp luật KDBH Việt Nam không bảo hiểm cho những yêu tố khác
thuộc về con người như nghề nghiệp, bộ phận cơ thể người,… Ví dụ, pháp luật
bảo hiểm Việt Nam không cho phép một cá nhân mua bảo hiểm cho giọng hát của
12
nghề ca sĩ, hoặc đôi chân của cầu thủ bóng đá. Người mua bảo hiểm chỉ có thể
mua bảo hiểm cho cầu thủ bóng đá với sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, sinh kỳ hoặc
tử kỳ. Theo đó, cầu thủ bóng đá chỉ được bảo hiểm cho tổn thất về sức khỏe khi
bị gãy chân chứ không được bảo hiểm cho tổn thất về thu nhập, chi trả tài chính
cho cuộc sống khi phải giải nghệ vì gãy chân.
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm quyền lợi có thể
được bảo hiểm trong BHNT như sau: Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT
là quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa của người mua bảo hiểm với
NĐBH gắn liền về tính mạng, tuổi thọ, sức khỏe và tai nạn con người.
1.2.2. Đặc điểm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Về phương pháp luận, pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT là
một bộ phận của pháp Luật KDBH và trong quan hệ KDBH, ngoài lợi ích chung
của nhà nước, của xã hội thì còn có quan hệ lợi ích trực tiếp giữa DNBH và
NTD. Vì vậy, nền tảng của pháp luật về BVQLNTD xác định cần làm rõ những
tư tưởng mang tính nguyên tắc:
Thứ nhất, pháp luật phải thực hiện đúng chức năng công cụ của công
quyền với đúng nghĩa là sự bảo đảm của nhà nước trong một trật tự xã hội,
trong đó các chủ thể bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, nội dung là sự
phản ánh nhu cầu của xã hội và pháp luật phải bảo đảm cân bằng lợi ích giữa
quyền tự do kinh doanh của DNBHNT với QLNTD. Nếu pháp luật chỉ chú
trọng đến QLNTD thì có thể dẫn tới tình trạng hạn chế quyền tự do kinh doanh
của DNBHNT và ngược lại, nếu tuyệt đối hóa quyền tự do kinh doanh của
DNBHNT thì sẽ dẫn đến tình trạng quyền lợi của NĐBH không được bảo đảm.
Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của DNBHNT với việc bảo đảm an toàn, hạn
chế rủi ro kinh doanh là hai vấn đề cần phải giải quyết đối với loại doanh nghiệp
này, vì đây là chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.
Thứ hai, về phía NĐBH, pháp luật phải đảm bảo các quyền sau:
- Quyền được bình đẳng trong giao kết và thực hiện HĐBHNT. Tuy
nhiên thực tế cho thấy, đối với quan hệ BHNT, người tham gia bảo hiểm thường
là cá nhân, là bên yếu thế hơn so với DNBHNT khi giao kết và thực hiện hợp
13
đồng.
- Quyền được hướng dẫn, giải thích chi tiết để hiểu đúng và đầy đủ nhất
các nội dung của HĐBHNT. Hoạt động kinh doanh BHNT gồm các tác nghiệp
mang tính kỹ thuật kinh tế cao, đòi hỏi người mua bảo hiểm phải có kiến thức
hoặc hiểu biết tối thiểu về bảo hiểm. Nếu không, người mua bảo hiểm có thể sẽ
thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, dẫn đến bất lợi, hoặc có thể
không được trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Quyền được trả tiền bảo hiểm theo đúng nội dung đã thỏa thuận. Đây
là quyền lợi quan trọng nhất, vì nó là mục đích chính của BMBH.
- Ngoài ra BMBH còn có các quyền như quyền được lựa chọn, được lắng
nghe, được khiếu nại, được an toàn và được đền bù.
Thứ ba, pháp luật về BVQLNTD đảm bảo ràng buộc trách nhiệm của
các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong mối quan hệ với NTD; có chế tài, xử lý đủ
sức răn đe, loại bỏ những bất cập vốn có, huy động được sự tham gia của toàn
xã hội trong việc bảo vệ NTD.
Chính vì lẻ đó, pháp luật BVQLNTD cần chứa các yếu tố cân bằng lợi
ích giữa DNBHNT và NTD cũng như lợi ích của xã hội, tạo nên môi trường
kinh doanh lành mạnh, bền vững; thông qua hoạt động bảo vệ NTD nhằm nâng
cao trách nhiệm của DNBHNT với NTD, đảm bảo trật tự công, đảm bảo các
quyền lợi của doanh nghiệp, tránh tình trạng NTD lợi dụng chính sách để trục
lợi bảo hiểm, gây thiệt hại cho DNBHNT.
Như vậy pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT cần có là tổng
hợp các quy định về tư cách pháp lý, về quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết
HĐBHNT, về cơ chế kiểm soát, giám sát đối với hoạt động KDBH nhằm mục
tiêu bảo đảm NTD được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm theo HĐBHNT hoặc
theo quy định của pháp luật.
1.2.3. Vai trò và vị trí của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ trong hệ thống pháp luật
Người tiêu dùng (NTD) trong quan hệ giao dịch với doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ (DNBHNT) luôn ở vị thế yếu hơn, không cân xứng. Vì thế, vai
trò của pháp luật BVQLNTD nên là công cụ để đảm bảo hiệu chỉnh, khắc phục
14
vị thế bất cân xứng trong mối quan hệ giữa NTD và DNBHNT.
Pháp luật BVQLNTD tại Việt Nam trước đó có quy định tại Pháp lệnh
BVQLNTD có hiệu lực từ 01/10/1999. Pháp lệnh đã điều chỉnh việc bảo vệ
quyền lợi của người tham gia BHNT trong thời gian này với những ghi nhận rõ
ràng về quyền và trách nhiệm của NTD, trách nhiệm của các cơ quan chính
quyền cũng như của các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Sau đó, pháp luật
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT tiếp tục được quy định tại các văn bản pháp
luật khác nhau như Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm
2019), Luật BVQLNTD năm 2010, Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản
hướng dẫn liên quan. Những văn bản này đã và đang có tác động trực tiếp, tích
cực đến nền kinh tế, xã hội, đến nhận thức của các DNBHNT và bản thân NTD
trong giao kết HĐBHNT nói riêng và trong vấn đề BVQLNTD nói chung.
1.2.4. Cấu trúc nội dung pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT đã trở thành một lĩnh vực
pháp luật độc lập, có vị trí nhất định trong hệ thống pháp luật Việt Nam, góp phần
tạo nên một môi trường kinh doanh công bằng, pháp quyền và hiện đại.
Cấu trúc pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT có thể được nhận
diện từ nhiều góc độ khác nhau với những mục tiêu khác nhau.
Theo NAIC (National Association of Insurance Commissioners) Hiệp
hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ thì mục tiêu của pháp luật KDBH là
để bảo vệ NTD, bảo đảm những cam kết của DNBHNT phải được thực hiện
đúng. Nội dung pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT bao gồm các quy
định về cấp phép cho DNBHNT, dịch vụ bảo hiểm; quy định về quy chế tài
chính; quy định về sản phẩm bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
(HĐBHNT), trách nhiệm của người bán sản phẩm; quy định về bồi thường, về
giải quyết tranh chấp giữa NTD và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
(DNBHNT).
Để phân tích cấu trúc pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tham
BHNT, cần làm rõ từ “cái gốc” của hiện tượng xã hội, đó là các quan hệ phát
sinh từ hoạt động kinh doanh BHNT. Theo đó, pháp luật về bảo vệ quyền lợi
15
của người tham gia BHNT cần điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội sau:
Thứ nhất, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội định hình tư
cách chủ thể của các bên trong HĐBHNT nhằm xác định địa vị pháp lý của
NTD, của DNBHNT với những quyền và nghĩa vụ phù hợp với chức năng của
nó trong mối tương quan với các chủ thể khác của nền kinh tế. Với năng lực
chủ thể được pháp luật quy định, DNBH kinh doanh BHNT sẽ có cơ sở pháp
lý để tiến hành các hoạt động kinh doanh với tư cách là một chủ thể độc lập bao
gồm những quy định: Thành lập và hoạt động của DNBHNT; quy định về cơ
cấu, tổ chức cùng với những quyền và nghĩa vụ của DNBHNT khi hoạt động,
trong đó quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hoạt động kinh doanh BHNT là những
quy định quan trọng, đặc trưng nhất.
Thứ hai, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ HĐBHNT giữa
DNBHNT với người mua BHNT. DNBHNT với tư cách chủ thể kinh doanh
sản phẩm BHNT, sẽ tiến hành “phân phối” các sản phẩm của mình thông qua
một giao dịch HĐBHNT. Do sản phẩm BHNT là dịch vụ, không giống như
những sản phẩm hàng hóa nên trong HĐBHNT cần phải mô tả rõ ràng và cụ
thể về nội dung dịch vụ đó với những quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
hợp đồng. Vì thế, pháp luật điều chỉnh về HĐBHNT được xem như một bộ
phận pháp luật quan trọng đối với việc BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.
Thứ ba, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội là các cơ quan có
thẩm quyền thực hiện việc giám sát, giải quyết tranh chấp và xử lý các vi phạm
khi có khiếu nại, tố cáo của người tham gia bảo hiểm hoặc DNBHNT với mục
đích là BVQLNTD.
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ với tư cách là một chủ thể kinh doanh,
chịu sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Quan hệ pháp
luật phát sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với DNBHNT chủ
yếu là quan hệ pháp luật hành chính, dựa trên nguyên tắc mệnh lệnh giữa một
bên là chủ thể quản lý và một bên là chủ thể chịu quản lý, bao gồm các nội
dung: Xác định những quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể
khác có thẩm quyền trong hoạt động giám sát; xác định những nghĩa vụ mà
16
DNBHNT cần phải tuân thủ và thực hiện để đảm bảo sự minh bạch, công bằng
trên thị trường bảo hiểm tự do cạnh tranh và đảm bảo nguyên tắc bảo vệ người
tham gia bảo hiểm.
Nội dung pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT cụ thể như sau:
1.2.4.1. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên
- Quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHNT
Điều 8 của Luật BVQLNTD năm 2010 quy định về tám quyền của NTD
như sau: (1) quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; (2) quyền được an
toàn; (3) quyền được thông tin; (4) quyền được lắng nghe; (5) quyền được lựa
chọn; (6) quyền được giáo dục, đào tạo và tiêu dùng; (7) quyền được khiếu nại
và bồi thường; (8) quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững.
Người tiêu dùng có bốn nghĩa vụ sau: (1) biết phê bình; (2) có ý thức
cộng đồng và xã hội; (3) hành động; (4) hiểu biết về tiêu dùng và môi trường.
Ngoài các quyền và nghĩa vụ nêu trên, theo Điều 18 Luật KDBH, người tham
gia bảo hiểm còn có các quyền và nghĩa vụ như sau:
Bên mua bảo hiểm có quyền:
Lựa chọn DNBH hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm;
Yêu cầu DNBH giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy
chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm;
Đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBHNT theo quy định tại Khoản 3
Điều 19, Khoản 1 Điều 20 của Luật KDBH: “Yêu cầu DNBH trả tiền bảo hiểm
cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho NĐBH theo thỏa thuận trong
HĐBHNT khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; chuyển nhượng HĐBH theo thỏa thuận
trong HĐBHNT hoặc theo quy định của pháp luật; và các quyền khác theo quy
định của pháp luật”.
Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:
Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận
trong HĐBH; kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến HĐBH
theo yêu cầu của DNBH; thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro
hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện
HĐBH theo yêu cầu của DNBH; thông báo cho DNBH về việc xảy ra sự kiện
17
bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBHNT; áp dụng các biện pháp đề phòng,
hạn chế tổn thất theo quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp
luật có liên quan; và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ:
Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền: thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong
HĐBHNT; yêu cầu BMBH cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến
việc giao kết và thực hiện HĐBHNT; đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH
theo quy định tại Khoản 2 Điều19, Khoản 2 Điều 20, Khoản 2 Điều 35 và
Khoản 3 Điều 50 của Luật KDBH; từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc từ chối bồi thường cho NĐBH trong trường hợp không thuộc phạm
vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo
thỏa thuận trong HĐBHNT; yêu cầu BMBH áp dụng các biện pháp đề phòng,
hạn chế tổn thất theo quy định và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ: giải thích cho BMBH về các điều
kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của BMBH; cấp cho BMBH giấy
chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết HĐBHNT; trả tiền
bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho NĐBH khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm; giải thích bằng văn bản lý do từ chối chi trả bảo hiểm hoặc
từ chối bồi thường; và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ của hai bên cần minh bạch thông tin khi giao kết
HĐBHNT là để đảm bảo cho HĐBHNT có hiệu lực pháp. DNBHNT có nghĩa
vụ bảo đảm cho BMBH thực sự hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình trong
hợp đồng, giúp cho BMBH có thể lường trước được những khó khăn, rủi ro có
thể gặp phải khi giao kết và thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, DNBHNT phải công
bố thông tin chung về hoạt động kinh doanh và quản lý doanh nghiệp; tình hình
tài chính cũng như mức độ rủi ro và giải pháp quản lý rủi ro ... trước cơ quan
giám sát và công chúng. Cũng như phía DNBHNT, bên mua bảo hiểm cũng
phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ và rõ ràng cho DNBHNT biết nhằm
bảo vệ quyền lợi cho chính mình. Người tham gia bảo hiểm hay NTD trong
lĩnh vực BHNT có cả NĐBH và người thụ hưởng, tuy nhiên hiện nay chưa có
18
quy định nào đề cập về vấn đề này.
1.2.4.2. Quy định về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ
- Quy định về cấp phép hoạt động
Kinh doanh về BHNT là một lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế
và xã hội. DNBHNT phải được cấp phép thành lập theo các điều kiện do pháp
luật quy định nhằm đảm bảo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
chức năng giám sát.
Những điều kiện DNBHNT cần đáp ứng khi được cấp phép là điều kiện
về quy mô vốn; có trụ sở chính ổn định; năng lực của đội ngũ quản lý, điều
hành; có chiến lược kinh doanh và KDBH là hoạt động chính của doanh nghiệp.
- Quy định về cơ cấu tổ chức, nhân sự và quản lý
Pháp luật Việt Nam cũng như các quốc gia đều đưa ra những yêu cầu,
quy định về cơ cấu, tổ chức nhân sự, đặc biệt là quy định đối với thành viên
Hội đồng quản trị, các chủ sở hữu và cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý điều hành
cấp cao của DNBHNT, quy định về điều kiện cung ứng sản phẩm BHNT, quy
định về hoạt động đầu tư của DNBHNT; quy định về khả năng thanh toán của
DNBHNT.
1.2.4.3. Quy định về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Về bản chất, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là giao dịch dân sự, về nguyên
tắc của giao dịch dân sự nói chung luôn được pháp luật tôn trọng. Từ mối quan
hệ giữa người tham gia BHNT và DNBHNT, cùng với bản chất của sản phẩm
BHNT mà pháp luật về HĐBHNT thường tập trung quy định về mặt nội dung,
về mặt hình thức và về hiệu lực của HĐBHNT.
Người tham gia bảo hiểm
Trong lĩnh vực BHNT, khái niệm về người tham gia bảo hiểm hay NTD
như đã phân tích ở trên là để chỉ bên mua bảo hiểm (BMBH) và các chủ thể có
quyền và nghĩa vụ liên quan đến HĐBHNT, nó bao gồm cả NĐBH và người
thụ hưởng. Ngoài những điều kiện chung để đảm bảo tư cách chủ thể của
BMBH như trong các giao dịch dân sự khác thì một nội dung đặc biệt được
19
pháp luật quy định là BMBH phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Mục đích
của bảo hiểm chỉ đạt được nếu BMBH phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm,
điều này sẽ làm hạn chế được tình trạng trục lợi bảo hiểm xảy ra.
Quyền lợi có thể được bảo hiểm là những lợi ích của BMBH đối với đối
tượng được bảo hiểm, nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm thì BMBH sẽ bị thiệt hại.
Việc giải thích có hay không có quyền lợi có thể được bảo hiểm là ở ba trường
hợp:
Một là, trong trường hợp mua bảo hiểm cho bản thân mình hoặc cho vợ,
chồng, con...;
Hai là, có thể xảy ra tổn thất về mặt tài chính;
Ba là, có lợi ích về tài chính theo quy định của pháp luật.
Nội dung và hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Nội dung của HĐBHNT là những thỏa thuận giữa người tham gia bảo
hiểm và DNBHNT được ghi nhận trong HĐBHNT. Trong quan hệ HĐBHNT
có một số thỏa thuận rất đặc trưng, vì HĐBHNT là một loại hợp đồng rất phức
tạp, do đó người tham gia bảo hiểm có thể không lưu ý được hết các điều khoản
quan trọng trong hợp đồng đã được DNBHNT soạn thảo sẵn. Vì vậy, để bảo vệ
quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm, pháp luật phải quy định chi tiết về
những nội dung cần phải có trong HĐBHNT. Trên thực tế thì một bộ HĐBHNT
thường có nhiều văn bản khác nhau tập hợp lại như giấy yêu cầu bảo hiểm,
bẳng minh họa quyền lợi bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm .v.v.
Một bộ HĐBHNT thường bao gồm nhiều văn bản khác nhau là do: một
là, quá trình giao kết hợp đồng gồm nhiều bước công việc và hai bên thường
không trực tiếp gặp nhau để cùng ký kết, nên để được bảo hiểm thì BMBH phải
thực hiện kê khai một số mẫu biểu theo trình tự thủ tục quy định của DNBHNT;
hai là, trong cùng một sản phẩm BHNT thì tập điều khoản bảo hiểm là giống
nhau, thậm chí giữa các sản phẩm BHNT tương tự nhau, nên DNBHNT thường
in sẵn để dùng chung cho các HĐBHNT; ba là, DNBHNT và BMBH có thể
thỏa thuận thêm về một hay một số sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm chính, sự
thỏa thuận này có thể khác nhau giữa những người mua bảo hiểm, và sau cùng,
20
DNBHNT còn có thể yêu cầu BMBH thực hiện thêm một số loại giấy tờ khác
để đảm bảo đánh giá đúng tình trạng của đối tượng bảo hiểm và những yêu cầu
này giữa các HĐBHNT là không giống nhau.
Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Quy định về hiệu lực (quy định về thời điểm có hiệu lực và những trường
hợp HĐBHNT bị vô hiệu) của HĐBHNT rất quan trọng bởi vì chỉ khi hợp đồng
có hiệu lực thì các bên mới có quyền và nghĩa vụ với nhau.
Thời điểm có hiệu lực của HĐBHNT được quy định tương tự như các
hợp đồng thông thường. Do đặc thù của việc giao kết HĐBHNT thường không
được các bên trực tiếp thực hiện việc ký kết, nên hiệu lực của HĐBHNT thường
bắt đầu kể từ khi DNBHNT chấp nhận bảo hiểm.
Khi xét đến tính hiệu lực của HĐBHNT, một vấn đề pháp lý hết sức quan
trọng cần lưu ý đó chính là trường hợp hợp đồng vô hiệu. Có hai trường hợp
đương nhiên vô hiệu và có khả năng vô hiệu. Các hợp đồng thực hiện giao dịch
không hợp pháp, không đảm bảo tính công bằng hoặc có ảnh hưởng đến lợi ích
chung hoặc do chủ thể giao kết không đủ năng lực hành vi dân sự v.v. là trường
hợp hợp đồng đương nhiên vô hiệu. Đối với các hợp đồng đã có hiệu lực, đang
được thực hiện tuy nhiên việc giao kết hợp đồng là do nhầm lẫn, thiếu tự do ý
chí, trình bày không đúng hình thức hoặc khi có vi phạm nghiêm trọng các điều
khoản của hợp đồng gây thiệt hại cho một bên thì đây là những trường hợp hợp
đồng có khả năng vô hiệu.
Ngoài những trường hợp HĐBHNT bị vô hiệu theo quy định chung của
pháp luật về hợp đồng, pháp luật về kinh doanh BHNT còn có những quy định
riêng đối với một số trường hợp, chẳng hạn như trường hợp một trong các bên
không trung thực khi giao kết hợp đồng hoặc khi BMBH không có quyền lợi
có thể được bảo hiểm.
1.2.4.4. Quy định về giám sát kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Đối với lĩnh vực BHNT, hoạt động giám sát và khả năng xử lý những vi
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giữ một vai trò rất quan
trọng nhằm đảm bảo ở mức độ lớn nhất có thể để DNBHNT luôn đảm bảo
nguồn tài chính để thanh toán tất cả các khiếu nại khi đến hạn cũng như đảm
21
bảo cho DNBHNT sẽ xử sự một cách công bằng đối với người tham gia bảo
hiểm trong tất cả các giao dịch. Pháp luật về giám sát hoạt động kinh doanh
BHNT về cơ bản thường có những quy định sau:
Thứ nhất, pháp luật quy định về thẩm quyền giám sát của các cơ quan
nhà nước. Chức năng giám sát được giao cho các cơ quan chuyên trách nhằm
bảo đảm yếu tố độc lập cũng như hiệu quả về chuyên môn. Trách nhiệm giám
sát có thể được kết hợp giữa cơ quan nhà nước với các hiệp hội có liên quan,
các cơ quan kiểm toán, hội đồng các giám đốc DNBHNT...
Thứ hai, pháp luật quy định về nội dung giám sát. Nhìn chung, pháp luật
Việt Nam và các quốc gia đều ghi nhận nội dung giám sát phải đa dạng để đảm
bảo cho các cơ quan giám sát có khả năng đánh giá đúng về thị trường bảo hiểm
cũng như tình hình hoạt động của DNBHNT với hai mục tiêu chính đó là đảm
bảo sự tuân thủ quy định pháp luật của DNBHNT và có khả năng đưa ra những
cảnh báo kịp thời để đảm bảo sự an toàn cho DNBHNT và BVQLNTD trong
lĩnh vực BHNT. Giám sát được tập trung chủ yếu vào các nội dung chính sau:
việc cấp phép hoạt động; đầu tư vốn cũng như các biện pháp phòng ngửa rủi ro và
xử phạt; tiêu chuẩn đối với người quản lý, điều hành, hoạt động kinh doanh. Bằng
tất cả những nguồn lực sẵn có cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan giám sát
với nhau, cơ quan giám sát thực hiện giám sát hoạt động thị trường bảo hiểm, phân
tích những yếu tố tác động đến thị trường bảo hiểm cũng như DNBHNT. Việc
thực thi quyết định và xử phạt vi phạm được thực hiện rõ ràng, khách quan và phải
công bố công khai.
Thứ ba, pháp luật quy định về phương thức giám sát. Có hai phương thức
giám sát cơ bản là giám sát gián tiếp và giám sát trực tiếp, pháp luật trao quyền
cho cơ quan giám sát căn cứ tình hình thực tiễn thực hiện một trong hai hoặc
cả hai phương thức giám sát trên. Giám sát gián tiếp được thực hiện bằng hoạt
động tiếp nhận thông tin và đánh giá thông tin theo những tiêu chí quy định cụ
thể. Giám sát trực tiếp được các cơ quan giám sát thực hiện kiểm tra trực tiếp
tại DNBHNT đối với hoạt động kinh doanh, việc tuân thủ pháp luật và các yêu
cầu của cơ quan giám sát. Để đảm bảo hoạt động giám sát được thực hiện hiệu
quả, các cơ quan giám sát có thể kết hợp giữa hai phương thức giám sát nêu
22
trên.
1.2.4.5. Quy định về phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tham
gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Cần có phương thức giải quyết hiệu quả đối với các tranh chấp phát sinh
do xung đột về lợi ích giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Pháp luật về hợp
đồng quy định bốn phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản, gồm: thương
lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Bốn phương thức này được pháp luật
BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT kế thừa làm cơ sở pháp lý giải quyết tranh
chấp giữa NTD và DNBHNT. Cơ quan nhà nước và trọng tài chỉ can thiệp theo
yêu cầu của các bên tranh chấp vì việc giải quyết các tranh chấp trong kinh
doanh dựa trên nguyên tắc tự định đoạt của các bên.
Khi có cơ sở cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
thì bên mua bảo hiểm (BMBH) có quyền gửi yêu cầu đến DNBHNT để yêu cầu
giải quyết và thương lượng. DNBHNT có trách nhiệm tiếp nhận yêu cầu và tiến
hành thương lượng với BMBH trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được yêu cầu của BMBH. Kết quả thương lượng thành hoặc
không thành đều phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác.
Khi xảy ra tranh chấp, DNBHNT và NTD có quyền thỏa thuận lựa chọn
bên thứ ba để thực hiện việc hòa giải (có thể là cá nhân hoặc tổ chức hòa giải) trên
nguyên tắc khách quan, trung thực, thiện chí, không bị ép buộc, lừa dối. Các bên
có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc kết quả hòa giải thành trong thời hạn đã được
thỏa thuận ghi cụ thể trong biên bản hòa giải, nếu một bên không thực hiện nghiêm
túc theo biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu
cầu giải quyết.
DNBHNT phải thông báo về điều khoản trọng tài cho người tham gia
bảo hiểm biết và phải được người tham gia bảo hiểm chấp thuận trước khi thực
hiện giao kết HĐBHNT. Trường hợp điều khoản trọng tài được DNBHNT thiết
kế sẵn trong HĐBHNT theo mẫu hoặc là điều kiện giao dịch chung thì khi xảy
ra tranh chấp, người tham gia bảo hiểm là cá nhân có quyền lựa chọn phương
23
thức giải quyết tranh chấp khác.
Một số lưu ý khi NTD hoặc tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD thực
hiện quyền khởi kiện DNBHNT theo phương thức giải quyết tranh chấp bằng
Tòa án:
Vụ án dân sự về BVQLNTD được giải quyết theo thủ tục đơn giản, rút
gọn theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự khi có đủ các điều kiện:
+ Người tiêu dùng là cá nhân khởi kiện; bên bị khởi kiện là tổ chức hoặc
cá nhân trực tiếp cung cấp dịch vụ, hàng hóa cho NTD;
+ Vụ án đơn giản và có chứng cứ rõ ràng;
+ Giá trị của giao dịch dưới 100 triệu đồng.
- Pháp luật về tố tụng dân sự quy định, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và
chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình là
nghĩa vụ của NTD, trừ việc chứng minh lỗi. Nghĩa vụ chứng minh mình không
có lỗi gây ra thiệt hại là của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tòa
24
án quyết định bên có lỗi trong vụ án dân sự về BVQLNTD.
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã nêu lên những vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT.
Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được đề cao
là do tính đặc thù của sản phẩm BHNT, sự phụ thuộc về quyền lợi của người
tham gia bảo hiểm vào DNBH và nhằm duy trì niềm tin của công chúng đối với
ngành bảo hiểm. Pháp luật các quốc gia thường xác lập nhiều phương thức để
thực hiện việc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm như minh bạch thông
tin, đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động giám sát.
Kinh doanh BHNT theo pháp luật Việt Nam hiện nay có liên quan đến
mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất kinh doanh của xã hội. Đồng thời nó luôn
gắn liền với đầu tư vốn vào nền kinh tế nên BHNT có vị trí quan trọng nhất
định trong thị trường tài chính. Mặt khác BHNT là một dịch vụ tài chính mang
tính toàn cầu và nó là một trong những lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh tế. Vì
vậy, hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT theo pháp luật Việt Nam hiện
nay là một tất yếu khách quan và là một yêu cầu của quá trình hội nhập, đồng
thời nó luôn phải đặt trong mối quan hệ phát triển bền vững. Pháp luật về kinh
doanh BHNT có hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh
doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Để đảm
bảo quyền tự do kinh doanh, pháp luật cần đảm bảo sự bình đẳng của các thành
phần kinh tế trong việc tham gia thành lập cũng như trong quy định về địa vị
25
pháp lý đối với DNBH.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay
Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động KDBH, đặc biệt là lĩnh vực BHNT
hiện nay đã được cải thiện, có nhiều đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ quyền lợi
người tham gia bảo hiểm cũng như sự phát triển của thị trường bảo hiểm.
Khung điều chỉnh hoạt động KDBH là Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi
bổ sung năm 2010 và năm 2019) và văn bản hướng dẫn thi hành (các nghị định của
Chính phủ, thông tư của Bộ Tài chính). Việc xây dựng văn bản hướng dẫn luật, sẵn
sàng thay đổi, điều chỉnh cũng như ban hành có hệ thống và kịp thời là một thành
công đáng kể, phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế - xã hội và thực tế thị trường
bảo hiểm. Ví dụ, Nghị định 73/2016/NĐ-CP là việc “hợp nhất” các văn bản pháp
quy (như trên đã đề cập), ngoài ra còn thể hiện được mục tiêu vừa đảm bảo quản lý
chặt chẽ của Nhà nước, vừa tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển ổn định,
tạo được tính đồng bộ giữa hệ thống pháp luật KDBH với các văn bản pháp quy ở
những lĩnh vực khác; bên cạnh đó, việc bỏ chương HĐBH trong Bộ luật dân sự
năm 2015 đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc và khó khăn cho DNBH cũng như
những người áp dụng pháp luật, tránh sự chồng chéo trong việc áp dụng luật, đặc
biệt là khi giải quyết tranh chấp tại tòa án.
2.1.1. Các quy định về tư cách chủ thể của người tham gia bảo hiểm cũng
như doanh nghiệp bảo hiểm
2.1.1.1. Quy định về người tham gia bảo hiểm
Người tham gia bảo hiểm là chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến
HĐBHNT. Như đã phân tích ở trên, người tham gia bảo hiểm là BMBH, NĐBH
và người thụ hưởng. BMBH có thể đồng thời là NĐBH, người thụ hưởng và
cũng có thể là những chủ thể riêng biệt.
BMBH là chủ thể đứng tên trong HĐBHNT, có nghĩa vụ nộp phí bảo
26
hiểm. BMBH có thể là cá nhân, là tổ chức, miễn là thỏa mãn các điều kiện quy
định như là: phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; phải có quyền lợi có thể
được bảo hiểm. Trường hợp NĐBH không đồng thời là BMBH thì HĐBHNT
chỉ được giao kết nếu có sự đồng ý của NĐBH. Quy định này được đặt ra nhằm
mục đích loại bỏ tình trạng người thụ hưởng muốn trục lợi bất chính. Vì thế,
Luật KDBH quy định rõ: “Khi BMBH giao kết HĐBH con người cho trường
hợp chết của người khác thì phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong
đó ghi rõ số tiền bảo hiểm và người thụ hưởng”.
Tuy nhiên, các quy định hiện nay vẫn còn một vài bất cập cơ bản sau
đây:
Một là, pháp luật còn chưa quy định rõ những quyền và nghĩa vụ của
NĐBH và người thụ hưởng.
Về nguyên tắc, NĐBH hoặc người thụ hưởng có quyền từ chối tư cách
chủ thể nếu họ không muốn, đó là những quyền dân sự không thể phủ nhận.
Nếu họ đồng ý, họ sẽ phải tuân thủ những nghĩa vụ nhất định để đảm bảo hợp
đồng được thực hiện. Tuy nhiên, pháp luật về KDBH hiện nay lại không có quy
định này, dẫn đến thiếu chặt chẽ trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa những
người tham gia bảo hiểm với nhau, thiếu cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi
“Thứ hai, khái niệm về quyền lợi có thể được bảo hiểm nêu tại khoản 9
chính đáng của họ trong mối quan hệ với DNBH. ”
Điều 3 Luật KDBH chưa phù hợp với bản chất của BHNT.
Thực ra, “quyền lợi có thể được bảo hiểm” như quy định nếu trên chỉ là
quyền lợi về vật chất thuần tuý của BMBH đối với đối tượng bảo hiểm. Thực
ra, bảo hiểm con người không mang yếu tố bồi thường thiệt hại, mà là sự bù
đắp tổn thất về tính mạng, về sức khoẻ của NĐBH đối với chính người này và,
hoặc người thân của họ, đồng thời, nó có thể có yếu tố tiết kiệm, chẳng hạn như
trong BHNT. Chính bởi lẻ đó, những lợi ích về mặt tinh thần cần được đánh
giá đúng đắn và khách quan để xác định được quyền lợi có thể được bảo hiểm
như quan hệ hôn nhân, quan hệ ông bà với cháu, giữa người sử dụng lao động
và người lao động v.v.. trong bảo hiểm con người.
Luật KDBH quy định rõ BMBH có thể mua bảo hiểm cho những đối
27
tượng nào. Theo đó, BMBH có thể mua bảo hiểm cho “người khác, nếu BMBH
có quyền lợi có thể được bảo hiểm”, tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm về “quyền
lợi có thể được bảo hiểm” trong Luật KDBH thì những đối tượng này có phần
bị “giới hạn”. Điều này dẫn đến hai hệ quả: Một là, việc mở rộng thị trường
bảo hiểm con người bị hạn chế; Hai là, những sản phẩm bảo hiểm được DNBH
cung cấp cho BMBH có thể sẽ không có “quyền lợi có thể được bảo hiểm” theo
quy, có nghĩa là đã vi phạm pháp luật. Vậy nên cần phân biệt rõ giữa quyền lợi
có thể được bảo hiểm của bảo hiểm con người và bảo hiểm thiệt hại.
2.1.1.2. “Quy định về cấp phép hoạt động đối với doanh nghiệp bảo hiểm
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, lĩnh vực kinh doanh BHNT chỉ
được thực hiện thông qua việc thành lập DNBH tại Việt Nam, không cho phép
thành lập chi nhánh của DNBH nước ngoài để kinh doanh BHNT, tuy nhiên
DNBH nước ngoài lĩnh vực phi nhân thọ thì được quyền này. DNBH được
thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật và được Bộ Tài chính cấp phép.
Theo Luật KDBH, Nghị định 73/2016/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn
(Thông tư số 50/2017/TT-BTC; Thông tư số 124/2012/TT-BTC; Thông tư số
194/2014/TT-BTC) tập trung vào ba nội dung chủ yếu là yêu cầu về vốn pháp
định phải phù hợp, về người quản trị và điều hành phải đủ tiêu chuẩn và cơ sở
vật chất, trang thiết bị phải đáp ứng và đảm bảo có thể đi vào hoạt động ngay
sau khi được cấp phép.
Các quy định tại Nghị định số 73 đã hoàn thiện và thống nhất, chẳng hạn
như tại Điều 6, Điều 7, quy định về điều kiện chung để được cấp Giấy phép
thành lập và hoạt động, điều kiện thành lập DNBH; Điều 10 quy định về vốn
pháp định; Điều 11, 12, 13, 14 hướng dẫn chi tiết về hồ sơ đề nghị cấp Giấy
phép thành lập và hoạt động; quy định về trình tự, thủ tục cấp Giấy phép thành
lập và hoạt động cũng như các thủ tục tiếp theo sau đó.
Luật KDBH không quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của DNBH, tuy
nhiên tại Nghị định 73 thì có quy định về cơ cấu tổ chức và hoạt động, tiêu
chuẩn của người quản lý, điều hành, cơ bản như sau: Tổ chức hoạt động của
DNBH bao gồm Trụ sở chính; Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành
viên hạch toán phụ thuộc (được gọi là Chi nhánh) trực thuộc DNBH, doanh
28
nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức
năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền; Văn phòng đại
diện là đơn vị phụ thuộc của DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm
vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của DNBH và bảo vệ các lợi ích đó; Địa
điểm kinh doanh, phòng giao dịch (được gọi chung là địa điểm kinh doanh) là
nơi mà DNBH tiến hành hoạt động kinh doanh. ”
Luật KDBH, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP và Thông tư số 50/2017/TT-
BTC đều quy định cụ thể về bộ máy quản lý DNBH, từ quy định chung cho
đến quy định cụ thể về tiêu chuẩn từng chức danh. Các yêu cầu cơ bản mà
Thông tư số 50/2017/TT-BTC đưa ra đối với các chức danh quản lý như sau:
Một là, người quản lý phải không thuộc các đối tượng bị cấm quản lý
doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp và trong 03 năm liên tục
trước thời điểm được bổ nhiệm không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực KDBH với hình thức bị buộc bãi nhiệm chức danh quản trị, điều hành đã
được Bộ Tài chính chấp thuận hoặc buộc đình chỉ chức danh đã được DNBH
bổ nhiệm; không bị xử lý kỷ luật dưới hình thức sa thải do vi phạm quy trình
nội bộ về khai thác, giám định, bồi thường, kiểm soát nội bộ, quản lý tài chính
và đầu tư, quản lý chương trình tái bảo hiểm trong DNBH, chi nhánh nước
ngoài hoặc quy trình nghiệp vụ môi giới bảo hiểm, kiểm soát nội bộ, quy tắc
đạo đức nghề nghiệp trong doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; Không trực tiếp
liên quan đến vụ án đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố theo quy định pháp
luật. ”
Hai là, người quản lý phải là người có năng lực quản lý, điều hành, có
chuyên môn phù hợp (bằng đại học hoặc trên đại học), có kinh nghiệm và thời
gian công tác tối thiểu 3 năm trong lĩnh vực KDBH hoặc lĩnh vực tương ứng
được bổ nhiệm. Quy định này nhằm đảm bảo rằng người quản lý có đủ năng
lực thực hiện tốt nhiệm vụ ở vị trí tương ứng.
Ba là, người quản lý, điều hành phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian
đương nhiệm, nhằm đảm bảo điều kiện thực hiện công tác quản lý, điều hành
cũng như khả năng giám sát của các cơ quan có thẩm quyền nhà nước.
Một chức danh quản lý hết sức đặc thù chỉ có ở DNBH theo thông lệ
29
quốc tế là chuyên gia tính toán (actuary), tại Điều 31 Nghị định số 73/2016/NĐ-
CP quy định riêng về tiêu chuẩn, nhiệm vụ của chuyên gia tính toán với từng
loại DNBH để thực hiện một số nhiệm vụ sau:
* Tính toán các mức phí bảo hiểm, tham gia xây dựng bộ quy tắc và điều
khoản của các sản phẩm bảo hiểm; định kỳ hàng năm, thực hiện đánh giá sự
chênh lệch giữa các giả định tính phí so với thực tế triển khai của từng sản phẩm
bảo hiểm; xác định mức phí bảo hiểm dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo tính
khả thi về kinh tế và kỹ thuật của sản phẩm cũng như khả năng thanh toán của
DNBH;
* Tính toán việc trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm theo quy định
của pháp luật;
* Tham gia thực hiện việc tách quỹ và tính toán phân chia thặng dư hàng
năm của quỹ chủ HĐBH trên cơ sở công bằng, hợp lý và tuân thủ pháp luật.
Tính toán, lập báo cáo kết quả hoạt động KDBH vào cuối năm tài chính, trong
đó báo cáo riêng về tách quỹ chia lãi, đề xuất cấp có thẩm quyền của doanh
nghiệp quyết định số lãi chia cho từng chủ hợp đồng;
* Đánh giá khả năng thanh toán của DNBHNT, DNBH sức khỏe xác
nhận và báo cáo khả năng thanh toán gửi Bộ Tài chính theo quy định (định kỳ
hàng tháng);
* Báo cáo bằng văn bản cho Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên,
Chủ tịch công ty), Tổng Giám đốc (Giám đốc) định kỳ hàng quý và hàng năm
về tình hình tài chính, dự báo tình hình tài chính tương lai của doanh nghiệp,
tình hình hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, nêu rõ các rủi ro có thể phát sinh
và đề xuất về tài sản đầu tư, thời hạn đầu tư của từng loại tài sản đảm bảo tương
xứng giữa thời hạn của tài sản đầu tư với các trách nhiệm đã cam kết theo
HĐBHNT; Báo cáo kịp thời các vấn đề bất thường bất lợi tới tình hình tài chính
của doanh nghiệp và đề xuất biện pháp khắc phục, đối với các trường hợp có
thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của DNBH, chuyên gia tính toán phải
báo cáo trực tiếp Bộ Tài chính.
Các quy định của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực BHNT hiện nay từng
bước đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, dần phù hợp với chuẩn mực chung
30
của quốc tế. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn hạn chế là chưa đảm bảo
tính cân bằng trong kiểm soát của bộ máy quản trị và điều hành DNBHNT như
chưa có quy định về cơ chế kiểm soát thích hợp trong trường hợp cho phép Chủ
tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc, chưa có quy định tách bạch hai
chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên) với Tổng Giám
đốc (Giám đốc) của DNBHNT. Đây là điều rất được pháp luật nhiều quốc gia
coi trọng, cần có sự cân bằng quyền lực của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng
Giám đốc để không ai có quyền tự do quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi của
người tham gia bảo hiểm, tránh cho việc DNBHNT có những quyết định không
phù hợp.
2.1.1.3. “Quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ ”
Theo Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn thì doanh nghiệp kinh doanh
BHNT được quyền thiết kế và phân phối các sản phẩm BHNT như: bảo hiểm
trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả
tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí. Có thể thấy rằng, để
đáp ứng sự đa dạng trong nhu cầu của những đối tượng khách hàng khác nhau
thì hầu hết các sản phẩm BHNT thông dụng trên thế giới đều được pháp luật
cho phép cung cấp tại thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Pháp luật quy định, sản phẩm BHNT phải được Bộ Tài chính phê chuẩn
trước khi triển khai ra thị trường, theo đó, sản phẩm BHNT được thiết kế phải
đảm bảo các yêu cầu như: phải đảm bảo tuân thủ pháp luật; phù hợp với thông
lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hoá và phong tục, tập quán của Việt Nam; ngôn
ngữ sử dụng phải thật đơn giản, dễ hiểu và chính xác, phải định nghĩa rõ ràng
các thuật ngữ chuyên môn; các nội dung chủ yếu của HĐBHNT phải được thể
hiện rõ rang, minh bạch đối. Phí bảo hiểm được xây dựng dựa trên số liệu thống
kê, công thức tính toán hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán của DNBHNT,
tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm. Nội dung phê chuẩn được
thực hiện bao gồm thẩm định về tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị, sự phù hợp pháp
luật của quy tắc, điều khoản bảo hiểm và thẩm định tính khả thi về mặt kinh tế,
kỹ thuật của sản phẩm BHNT. Về thủ tục phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm, pháp
luật quy định DNBHNT cần chuyển cho Bộ Tài chính những tài liệu cần thiết
31
cũng như giải trình chi tiết về sản phẩm bảo hiểm trên cơ sở ý kiến xác nhận
của chuyên gia tính toán bảo hiểm đối với nội dung của sản phẩm BHNT. Trong
vòng 21 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính sẽ có văn bản chấp
thuận hoặc từ chối chấp thuận sản phẩm BHNT, trường hợp từ chối phê chuẩn
sản phẩm phải có văn bản nêu rõ lý do. Thêm một "hàng rào" khác của pháp
luật nhằm đảm bảo sản phẩm BHNT đến tay NTD là tối ưu nhất, tại Quyết định
35/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ yêu cầu DNBHNT sau khi được
Bộ Tài chính phê chuẩn sản phẩm phải hoàn thành thủ tục đăng ký mẫu hợp
đồng BHNT với Bộ Công thương trước khi phân phối sản phẩm ra thị trường.
Tuy nhiên, do có nhiều ý kiến phản đối của các DNBHNT về việc quá
nặng nề thủ tục hành chính nên Chính phủ đã quyết định giao cho hai bộ là Bộ
Tài chính và Bộ Công thương phối hợp tham gia vào việc đăng ký HĐBHNT
theo mẫu. Bộ Tài chính là cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị phê chuẩn, đăng ký
sản phẩm bảo hiểm. Bộ Tài chính thống nhất với Bộ Công thương về sản phẩm
bảo hiểm phải thực hiện đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
theo quy định tại Luật BVQLNTD.
Hoạt động phân phối sản phẩm BHNT của DNBH được pháp luật quy
định theo hướng mở. DNBHNT có thể phân phối thông qua kênh đại lý hoặc
môi giới bảo hiểm, thông qua kênh bán trực tiếp, thông qua đấu thầu và các
hình thức khác theo luật định. Riêng kênh phân phối qua trung gian, pháp luật
đã quy định cụ thể về điều kiện hoạt động của đại lý bảo hiểm và môi giới bảo
hiểm nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ bảo hiểm cũng như bảo vệ quyền lợi
của người tham gia bảo hiểm. Theo đó, đại lý bảo hiểm có thể là cá nhân hoặc
tổ chức, môi giới bảo hiểm phải được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp
nhưng đều phải tuân thủ các điều kiện của pháp luật, điều kiện tiên quyết là về
năng lực và chuyên môn nghiệp vụ. Đại lý bảo hiểm phải được đào tạo và cấp
chứng chỉ. Đối với đại lý bảo hiểm là tổ chức thì tất cả những cá nhân có khả năng
đại diện cho tổ chức đại lý đều phải thỏa mãn điều kiện giống như đại lý là cá
nhân.”
Từ những phân tích trên, có thể thấy quy định hiện hành của pháp luật
32
Việt Nam về cung ứng dịch vụ BHNT là phù hợp với bản chất của lĩnh vực
kinh doanh này. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nêu trên, vẫn còn một số
hạn chế sau đây:
Thứ nhất, Luật KDBH còn không rõ ràng trong phân loại nghiệp vụ
BHNT và cách hiểu về sản phẩm BHNT, không thống nhất về tiêu chí phân
loại cũng như có sự nhầm lẫn về bản chất của BHNT với sản phẩm BHNT.
Theo Luật KDBH, sản phẩm BHNT bao gồm: Bảo hiểm trả tiền định kỳ; Bảo
hiểm sinh kỳ; Bảo hiểm tử kỳ; Bảo hiểm trọn đời; Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm
liên kết đầu tư và Bảo hiểm hưu trí.
Để nhất quán về tiêu chí nghiệp vụ khi phân loại, BHNT cần được chia
làm 3 loại cơ bản: bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm hỗn hợp. Lý
do chỉ nên chia thành 3 loại cơ bản này là do sự kiện bảo hiểm trong từng loại
rõ ràng là khác nhau, trong khi đó bảo hiểm hỗn hợp là loại hình BHNT cho
phép sự kiện bảo hiểm vừa là trường hợp bảo hiểm tử kỳ, vừa là trường hợp
bảo hiểm sinh kỳ. Bảo hiểm trọn đời là bảo hiểm tử kỳ còn bảo hiểm trả tiền
định kỳ là loại hình bảo hiểm sinh kỳ hoặc bảo hiểm hỗn hợp. Đối với loại hình
bảo hiểm hưu trí tự nguyện, về bản chất cũng thuộc về loại hình bảo hiểm trả
tiền định kỳ, theo thỏa thuận trong hợp đồng thì NĐBH sẽ nhận được một khoản
trợ cấp khi đến một độ tuổi nhất định (không còn trong độ tuổi lao động).
Hiện nay, không có cách hiểu chính thức về sản phẩm BHNT vì trong
các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động KDBH nói chung và BHNT nói
riêng không hề có định nghĩa về sản phẩm bảo hiểm, chỉ có sự phân biệt giữa
khái niệm loại hình bảo hiểm và khái niệm sản phẩm bảo hiểm. Vì thế, pháp
luật hiện hành còn đang thiếu các quy định điều chỉnh về sản phẩm bảo hiểm,
điều này gây khó khăn cho công tác quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh
BHNT.
Thứ hai, pháp luật quy định Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền phê
chuẩn quy tắc, điều khoản BHNT, tuy nhiên chưa quy định chi tiết, rõ ràng,
minh bạch về trình tự, thủ tục phê chuẩn sản phẩm BHNT nhằm đảm bảo quyền
và trách nhiệm của các bên. Xét về mặt nguyên tắc, thời gian Bộ Tài có văn
bản trả lời chấp thuận hay từ chối trong thời hạn 21 ngày, tuy nhiên chưa có
33
quy định cụ thể về trình tự, thủ tục phê chuẩn sản phẩm BHNT. Mặc dù theo
quy định, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền nhưng hiện nay, Cục Quản
lý, giám sát bảo hiểm lại là cơ quan quản lý chuyên ngành, vậy chủ thể nào đã
thực tế thẩm định nội dung về quy tắc và điều khoản bảo hiểm? Các bước để
thực hiện việc phê chuẩn sẽ thực hiện như thế nào để đảm bảo đánh giá đúng?
Liệu trong quá trình phê chuẩn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cần trao
đổi và làm việc với DNBH có sản phẩm bảo hiểm đề nghị phê chuẩn hay
không?
Những vấn đề nêu trên cần được giải quyết để đảm bảo chất lượng của
hoạt động phê chuẩn cũng như xác định cụ thể trách nhiệm của các cá nhân và
tổ chức trong hoạt động phê chuẩn sản phẩm BHNT. Quá trình phê chuẩn sản
phẩm BHNT được quy định càng rõ ràng và cụ thể (về mặt thủ tục và trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân) có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng
hoạt động phê chuẩn, thông qua đó quyền lợi của người tham gia bảo hiểm sẽ
được bảo vệ. Nếu một sản phẩm BHNT được phê chuẩn mà không đảm bảo
yêu cầu về mặt pháp lý, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chủ thể tham gia
bảo hiểm. Đặc biệt, việc soạn thảo nội dung các điều khoản bảo hiểm cũng có sự
ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá
trình thực hiện HĐBHNT. Hiện vẫn tồn tại HĐBHNT có các nội dung, quy định
không bảo vệ người tham gia bảo hiểm, điều này trái với nguyên tắc của Luật
KDBH nhưng vẫn được phê chuẩn và triển khai ra thị trường.
2.1.1.4. “Quy định về hoạt động đầu tư của DNBH”
Luật KDBH quy định hoạt động đầu tư vốn của DNBHNT phải đảm bảo
các nguyên tắc về an toàn, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên
đối với các cam kết theo HĐBHNT. Theo đó, một số lĩnh vực mà DNBHNT
được phép đầu tư như: mua trái phiếu Chính phủ, mua cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản; góp vốn vào các doanh nghiệp khác;
cho vay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và gửi tiền tại các tổ chức
tín dụng. Theo thông tư số 125/2012/TT-BTC, thông tư 194/2014/TT-BTC và
nghị định số 123/2011/NĐ-CP, đối với nguồn vốn chủ sở hữu được phân chia
nội dung đầu tư thành hai nhóm: Nhóm 1, đối với hoạt động đầu tư cho cơ sở
34
vật chất và trang trải chi phí kinh doanh thì thực hiện theo quy định chung;
Nhóm 2, đối với phần vốn chủ sở hữu còn lại thì được sử dụng để đầu tư tương
tự như đối với nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Đồng thời,
để đảm bảo sự minh bạch, pháp luật cũng quy định DNBH phải tách bạch trong
hạch toán các loại nguồn đầu tư, cũng như đảm bảo ghi nhận các tài sản đầu tư
một cách thống nhất. Ngoài ra, Nghị định 46/2007/NĐ-CP không hạn chế hạn
mức mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh cũng như
gửi tiền tại các tổ chức tín dụng đối với DNBHNT. Đối với hoạt động đầu tư
cổ phiếu, trái phiếu nếu DNBHNT không có bảo lãnh hoặc góp vốn vào các
doanh nghiệp khác thì chỉ được đầu tư tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng
nghiệp vụ. Tương tự, đối với kinh doanh bất động sản hoặc cho vay, các giới
hạn này lần lượt là 40% (đối với DNBHNT). Quy định này cũng áp dụng đối
với nguồn vốn chủ sở hữu dành để đầu tư. Để bảo đảm an toàn tài chính, thông
tư 125/2012/TT-BTC cũng hướng dẫn bổ sung quy định DNBH không được
đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông/thành viên góp vốn và người
có liên quan (trừ trường hợp gửi tiền vào tổ chức tín dụng), đồng thời những tổ
chức tín dụng nhận tiền gửi phải có mức tín nhiệm cao (thuộc nhóm 1 và 2)
theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước. Theo luật định DNBH có quyền sử
dụng nguồn vốn chủ sở hữu để đầu tư ra nước ngoài với nhiều hình thức đầu tư
như thành lập DNBH, chi nhánh DNBH ở nước ngoài và các hình thức đầu tư
khác. Tuy nhiên, DNBH chỉ được đầu tư ra nước ngoài ở phần vốn tương ứng
với số chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu vượt quá so với vốn pháp định. ” Trong
trường hợp biên khả năng thanh toán tối thiểu lớn hơn vốn pháp định, thì giới
hạn đầu tư ra nước ngoài sẽ là chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu vượt quá biên
khả năng thanh toán tối thiểu. Một nội dung quan trọng khác cũng được quy
định trong việc thực hiện đầu tư ra nước ngoài của DNBH đó là phải được sự
chấp thuận của Bộ Tài chính khi tiến hành đầu tư, điều chỉnh và chấm dứt đầu
tư với quy trình được quy định tại thông tư 125/2012/TT-BTC.
Với những quy định trên, nhìn chung DNBHNT được thuận lợi hơn trong
hoạt động đầu tư và đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tuy nhiên, để đảm bảo an
toàn và có cơ sở cho hoạt động giám sát ở một số hoạt động đầu tư thì cần phải
35
có giới hạn cụ thể, ví dụ như đầu tư vào cổ phiếu, góp vốn doanh nghiệp.
Ngoài ra, liên quan đến nghiệp vụ cho vay còn có sự mâu thuẫn giữa Luật
KDBH và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Theo Luật KDBH, cho vay là một trong những lĩnh vực đầu tư được thực
hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, gồm cả việc cho vay độc lập
và cho vay theo HĐBHNT, tuy nhiên Điều 8 Luật KDBH lại cấm cá nhân, tổ
chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch
ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán. Điều này
có nghĩa là nghiệp vụ cho vay của DNBH hiện đang được thực hiện được xem là
không hợp pháp theo cách tiếp cận của Luật các tổ chức tín dụng vì DNBH đương
nhiên không phải là tổ chức tín dụng.
2.1.2. “Quy định về hợp đồng bảo hiểm
Các nội dung BVQLNTD liên quan đến HĐBHNT theo quy định pháp
luật hiện nay nhìn chung đã được điều chỉnh một cách đồng bộ, bảo vệ quyền
lợi của người tham gia bảo hiểm. Chẳng hạn Luật dân sự năm 2015 đã bãi bõ
quy định về HĐBH vì đây không phải là một loại hợp đồng dân sự thông
thường, đã được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành (Luật KDBH). Việc này góp
phần làm cho hệ thống pháp luật đạt được sự thống nhất, tạo hành lang pháp lý
giúp các cơ quan xét xử dễ dàng giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan
đến HĐBHNT .. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:
2.1.2.1. Quy định về nội dung hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Luật KDBH hiện hành chỉ quy định những nội dung cần phải có của
HĐBH nói chung mà không quy định riêng về nội dung của HĐBHNT, chẳng
hạn như ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng; nội dung về tên và địa chỉ của
DNBH; về thông tin của BMBH, NĐBH hoặc người thụ hưởng; về đối tượng
bảo hiểm và số tiền bảo hiểm phải; về phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm,
điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; về thời hạn bảo hiểm, mức phí bảo
hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm cũng như thời hạn, phương thức trả tiền
bảo hiểm hoặc bồi thường; về phương thức giải quyết tranh chấp.
Sản phẩm BHNT được DNBH cung cấp với những tiện ích thương gắn
liền với mục đích tiết kiệm, thời hạn tham gia bảo hiểm tương đối dài. Những
36
nội dung này tuy pháp luật ít đề cập đến một cách chi tiết nhưng theo thông lệ
quốc tế thì phổ biến và cũng thường được DNBH đưa vào điều khoản bảo hiểm,
ví dụ như:
• Về thời gian cân nhắc: Sau khi HĐBH có hiệu lực, BMBH có một khoảng
thời gian từ 14 đến 21 ngày để xem xét, cân nhắc về quyết định mua bảo hiểm của
mình. Nếu BMBH thay đổi ý định, không tham gia nữa thì hợp đồng chấm dứt,
DNBH sẽ hoàn lại số phí đã nộp sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý.
• “Về miễn truy xét: DNBH sẽ không truy xét trách nhiệm của BMBH
nếu BMBH vô ý kê khai không chính xác (thông thường là 2 năm) sau khi
HĐBHNT có hiệu lực hoặc phục hồi hiệu lực. ”
• Về gia hạn nộp phí: DNBH có quyền đình chỉ hợp đồng nếu quá 60
ngày kể từ ngày đến hạn, mà BMBH vẫn không nộp phí và không có thỏa thuận
khác.
• “Về từ bỏ thu phí: trong trường hợp BMBH chết hoặc thương tật toàn
bộ và vĩnh viễn, NĐBH mắc bệnh hiểm nghèo... thì BMBH sẽ không phải tiếp
tục nộp phí bảo hiểm, và HĐBHNT vẫn được duy trì đến hết thời hạn bảo hiểm. ”
• Về giá trị hoàn lại: Giá trị hoàn lại là số tiền bên mua bảo hiểm sẽ nhận
được khi yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước thời hạn. Giá trị hoàn lại
bằng giá trị tài khoản hợp đồng trừ đi chi phí chấm dứt hợp đồng trước thời
hạn. Giá trị hoàn lại chỉ phát sinh sau khi khách hàng đã nộp đủ hai năm phí
bảo hiểm, sau đó giá trị hoàn lại sẽ tăng dần qua các năm. Về bản chất thì số
phí bảo hiểm đã nộp đó thuộc về BMBH nên phải được trả cho BMBH. Luật
KDBH hiện nay không trực tiếp định nghĩa về giá trị hoàn lại và quy định khi
nào HĐBHNT có giá trị hoàn lại. Tại thông tư 124/2012/TT-BTC có hướng
dẫn: trường hợp thứ nhất, thời điểm có giá trị hoàn lại có thể sớm hơn theo thỏa
thuận trong HĐBHNT; trường hợp thứ hai, đối với HĐBHNT nộp phí một lần
thì sẽ có giá trị hoàn lại ngay thời điểm nộp phí. ”
• Về việc cho vay từ giá trị hoàn lại: Đây là thoả thuận mà theo đó, kể
từ khi hợp đồng đã có giá trị hoàn lại, DNBH sẽ cho khách hàng vay một số
tiền nhất định. Việc cho vay này giúp cho BMBH vừa duy trì được hợp đồng
vừa đảm bảo cuộc sống. Số tiền vay thường không quá 80% giá trị hoàn lại.
37
Một trong những nội dung thỏa thuận vay từ giá trị hoàn lại đó là việc nộp phí
bảo hiểm tự động. Theo đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu BMBH
gặp khó khăn chưa thể nộp phí bảo hiểm đúng hạn và còn trong khoảng thời
gian gia hạn thì DNBH sẽ tự động cho BMBH vay tiền trong phạm vi giá trị
hoàn lại để nộp phí bảo hiểm. Tùy theo điều kiện của mình, bên mua bảo hiểm
có thể hoàn trả khoản vay từ giá trị hoàn lại, nếu không hoàn trả thì số tiền vay
và lãi vay sẽ được khấu trừ vào giá trị hoàn lại hoặc khấu trừ vào số tiền bảo
hiểm khi chấm dứt hợp đồng. HĐBHNT sẽ chấm dứt hiệu lực khi tổng số tiền
vay và lãi vay bằng giá trị hoàn lại.
Các thuật ngữ phổ biến trong HĐBHNT như giá trị hoàn lại, chi phí
hợp lý, ngày kỷ niệm hợp đồng,... hiện được sử dụng rất thường xuyên nhưng
Luật KDBH hiện hành lại không định nghĩa các thuật ngữ này. Năm 2006, các
DNBHNT tại Việt Nam đã thống nhất được cách hiểu 29 thuật ngữ của BHNT,
chứng tỏ đây là nội dung hết sức quan trọng [24], tuy nhiên việc thỏa thuận này
không có tính ràng buộn về mặt pháp lý.
2.1.2.2. Quy định về điều khoản mẫu và hợp đồng theo mẫu của hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ”
Đối với các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu hiện nay rất được
Bộ luật Dân sự và Luật BVQLNTD quan tâm, đạc biệt là việc BVQLNTD. Tuy
nhiên, Bộ luật Dân sự, Luật BVQLNTD và Luật KDBH vẫn chưa quy định
những khái niệm điều khoản mẫu của HĐBHNT, hay như vấn đề điều chỉnh
hợp đồng theo mẫu cũng chưa có cách hiểu giống nhau.
Theo quy định của Luật BVQLNTD thì hợp đồng theo mẫu là hợp đồng
do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo sẵn để thực hiện
giao dịch với NTD. Như vậy, với cách hiểu về khái niệm hợp đồng theo mẫu
của Luật BVQLNTD là hẹp hơn vì chỉ thể hiện yếu tố “mẫu” về mặt hình thức
mà chưa thể hiện được bản chất “mẫu” về mặt nội dung của loại hợp đồng mẫu
này. Hợp đồng theo mẫu được áp dụng cho nhiều khách hàng vậu nên có thể
thấy khái niệm hợp đồng theo mẫu của Luật BVQLNTD là chưa hoàn thiện.
Điều khoản mẫu chính là những nội dung còn lại của HĐBHNT, bao
gồm các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên, có tính chất áp dụng
38
chung cho tất cả các hợp đồng của cùng một loại sản phẩm BHNT, được sử
dụng nhiều lần cho nhiều khách hàng chứ không phải cho từng khách hàng cụ
thể. Các DNBH thường nhấn mạnh với khách hàng rằng điều khoản bảo hiểm
là một phần không thể tách rời của HĐBHNT.
Xét thấy tính chất phổ biến và quan trọng của điều khoản mẫu, cần phải
được pháp luật định nghĩa cụ thể. Tuy nhiên, Luật KDBH hiện sử dụng khá phổ
biến thuật ngữ “điều khoản bảo hiểm” nhưng lại không được định nghĩa. ”
2.1.2.3. Quy định về hình thức hợp đồng bảo hiểm
Điều 14, “Luật KDBH quy định hình thức của HĐBHNT là văn bản, bằng
chứng của giao kết HĐBH là giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng minh họa quyền lợi
bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác theo quy định. Tuy nhiên,
vẫn còn thiếu sự ghi nhận những thành tố tạo nên hình thức HĐBHNT. Trên
thực tế, không giống những hợp đồng thông thường chỉ có một văn bản duy
nhất, HĐBHNT thường bao gồm nhiều văn bản với những nội dung rất khác
nhau như: giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng minh họa quyền lợi bảo hiểm, tập điều
khoản bảo hiểm chính, điều khoản bảo hiểm bổ trợ... Tổng hợp các văn bản này
mới tạo thành bộ HĐBHNT. Do đó, pháp luật cần ghi nhận những loại giấy tờ
nào là thành tố HĐBHNT để đảm bảo cho người tham gia bảo hiểm biết rõ về
quyền và nghĩa vụ của mình. Hiện nay còn rất nhiều trường hợp người tham
gia bảo hiểm không biết rằng tập điều khoản bảo hiểm được in sẵn chính là một
phần quan trọng của HĐBHNT mà mình đã giao kết.
2.1.2.4. “Quy định về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm và xử lý hợp
đồng trong trường hợp có gian dối ”
Chuyển nhượng HĐBHNT là một trong những nội dung quan trọng được
pháp luật điều chỉnh. Bản chất của việc chuyển nhượng HĐBHNT là việc thay
đổi chủ thể khác đối với BMBH trong hợp đồng (kế thừa quyền và nghĩa vụ).
Lúc đó, người nhận chuyển nhượng trở thành BMBH mới để tiếp tục duy trì
hợp đồng và hưởng các quyền lợi theo hợp đồng. Về nguyên tắc, việc thay đổi
này phải đảm bảo không ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của HĐBHNT. Theo
đó, bên nhận chuyển nhượng HĐBHNT phải thỏa mãn điều kiện giống BMBH
39
như có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Luật KDBH quy định chưa hợp lý về việc chuyển nhượng HĐBH con
người vì bản chất của việc chuyển nhượng hợp đồng là việc thay thế vị trí pháp
lý về chủ thể của BMBH trong hợp đồng. BMBH có thể chuyển nhượng
HĐBHNT cho chủ thể khác để tiếp tục duy trì hợp đồng, hoặc để có một khoản
tiền hoặc không muốn hợp đồng chấm dứt ảnh hưởng đến quyền lợi của người
thụ hưởng. Điều 26, Luật KDBH có quy định vấn đề này, tuy nhiên, thực tế
điều khoản này chỉ phù hợp với HĐBH thiệt hại, khi mà BMBH đồng thời là
NĐBH (vào thời điểm mua bảo hiểm). Riêng đối với HĐBH con người, bên
chuyển nhượng (BMBH) có thể không phải là NĐBH nên quá trình chuyển
nhượng HĐBH con người còn nhiều vấn đề phát sinh.
Về việc chuyển nhượng HĐBH quy định tại Điều 26 Luật KDBH mang
tính khái quát, chung chung, chỉ ghi nhận quyền của BMBH trong việc chuyển
nhượng HĐBH cho bên thứ ba và việc chuyển nhượng này phải có sự chấp
thuận bằng văn bản của DNBH, mà chưa đề cập đến các nội dung như: điều
kiện chuyển nhượng, thủ tục chuyển nhượng, quyền hạn và trách nhiệm của các
bên trong quan hệ chuyển nhượng; hậu quả pháp lý của việc chuyển nhượng
HĐBH .v.v.
Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 quy định, nếu hợp đồng vô hiệu thì
hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
và các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã
nhận; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường (Điều 127 và Điều 407).
Về nguyên tắc, nếu có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng thì hợp đồng
đó đương nhiên vô hiệu (vi phạm nguyên tắc trung thực khi giao kết). Theo quy
định tại khoản 1 Điều 132 BLDS năm 2015, trong thời hạn hai năm kể từ ngày
ký kết hợp đồng, nếu một bên phát hiện bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Toà án
tuyên bố hợp đồng là vô hiệu. Do đó, việc cung cấp sai thông tin để giao kết
HĐBH không thể dẫn đến hành vi đình chỉ thực hiện hợp đồng. ”
Đây là những nội dung quan trọng mà Luật KDBH chưa đề cập tới, dẫn
đến việc không có cơ sở pháp lý để giải quyết khi phát sinh tranh chấp. Hiện
40
nay, trong điều khoản hợp đồng BHNT thường có nội dung “DNBH không chịu
trách nhiệm về tính hiệu lực, hợp pháp, sự đầy đủ của việc chuyển nhượng hợp
đồng giữa BMBH và người được chuyển nhượng". Giả sử, việc chuyển nhượng
hợp đồng là không hợp pháp, trong khi đó DNBH lại đồng ý việc chuyển
nhượng và có sự kiện bảo hiểm xảy ra sau khi hợp đồng đã được chuyển
nhượng, như vậy trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng
này sẽ được xác định như thế nào (bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ, người nhận chuyển nhượng hợp đồng và người thụ hưởng)?
Trên thực tế thì các DNBH đều thoả thuận với BMBH là không chịu
trách nhiệm về tính hợp pháp của thoả thuận chuyển nhượng, dẫn đến tình trạng
DNBH chấp nhận việc chuyển nhượng để tiếp tục thu phí, và khi có sự kiện
bảo hiểm xảy ra thì lại từ chối chi trả tiền bảo hiểm mà chỉ hoàn lại phí bảo
hiểm vì hợp đồng không còn hiệu lực.
2.1.2.5. “Quy định về cơ sở tính phí bảo hiểm”
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Luật KDBH, doanh nghiệp bảo hiểm
(DNBH) có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của HĐBH khi
có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các
rủi ro được bảo hiểm. Nếu bên mua bảo hiểm không đồng ý tăng phí bảo hiểm
thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH và thông báo ngay
bằng văn bản cho BMBH biết.
Theo ý kiến của các chuyên gia, quy định như trên sẽ gây thiệt thòi cho
BMBH hoặc người thụ hưởng. Trường hợp có các yếu tố làm tăng mức độ rủi
ro thì phải phân định được nguyên nhân là khách quan hay chủ quan. Nếu mức
độ rủi ro tăng do yếu tố chủ quan thì DNBH có quyền tăng phí bảo hiểm, ví dụ
NĐBH làm công việc có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có nếp
sinh hoạt ngày càng không đều độ, không lành mạnh, có ý thức kém trong việc
gây giảm sút sức khoẻ của chính mình,.... Nếu do nguyên nhân khách quan làm
cho rủi ro tăng lên, DNBH không thể xét đó làm cơ sở để tăng phí bảo hiểm,
trừ trường hợp có thoả thuận với BMBH, ví dụ các rủi ro khách quan như ô
nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu v.v...
Trong quan hệ bảo hiểm, tính không xác định chính là một trong những
41
yếu tố của rủi ro, là động cơ để BMBH quyết định giao kết hợp đồng, vì vậy,
DNBH không nên vì quyền lợi của riêng mình mà tự ý tăng phí bảo hiểm hoặc
đình chỉ hợp đồng khi nguyên nhân làm tăng yếu tố rủi ro là khách quan.
2.1.2.6. “Bất cập trong quy định về Quỹ bảo vệ NĐBH
Một nét đột phá của Luật KDBH (sau sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm
2019) chính là quy định về Quỹ BVNĐBH (được thành lập vào tháng 9/2014)
để bảo vệ quyền lợi của NĐBH trong trường hợp DNBH mất khả năng thanh
toán hoặc phá sản với nguồn tài chính được trích lập theo tỷ lệ phần trăm trên
phí bảo hiểm áp dụng đối với tất cả HĐBH. Quỹ BVNĐBH được quy định chi
tiết tại Nghị định số 73/2016/NĐ-CP. Theo đó, Quỹ BVNĐBH được sử dụng
để chi trả tiền bảo hiểm, giá trị hoàn lại; chi trả tiền bồi thường bảo hiểm; hoàn
phí bảo hiểm theo quy định tại HĐBH theo đề nghị của DNBH bị phá sản hoặc
mất khả năng thanh toán.
Quỹ BVNĐBH được quản lý tập trung từ ngày 18/12/2017 bởi Bộ Tài
chính thay vì Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam như trước và được hạch toán, quản
lý, theo dõi riêng đối với từng loại hình bảo hiểm. Bộ Tài chính công bố mức
trích nộp Quỹ BVNĐBH của DNBH hàng năm, tối đa không vượt quá 0,3%
tổng doanh thu phí bảo hiểm giữ lại của các HĐBH gốc (hiện nay đang là 0,1%).
Đối với DNBH kinh doanh BHNT, việc trích nộp được thực hiện cho đến khi
quy mô của Quỹ BVNĐBH đạt 3% tổng tài sản.
Tính đến thời điểm này, bên cạnh việc ghi nhận những ưu điểm đã đạt
được thì quy định về Quỹ BVNĐBH cũng còn vài bất cập cơ bản sau:”
Một là, tên gọi của Quỹ chưa bao hàm tất cả những chủ thể cần được
“bảo vệ” trong quan hệ pháp luật BHNT.
Cái tên “Quỹ BVNĐBH” về cơ bản chỉ đúng đối với bảo hiểm tài sản,
còn đối với lĩnh vực BHNT thì chưa đúng. Trong HĐBHNT, người mua bảo
hiểm và người thụ hưởng có những lợi ích liên quan đến HĐBH, thậm chí còn
nhiều hơn là NĐBH (nếu như các chủ thể này không cùng là một người) như
quyền hưởng lãi, quyền vay vốn, quyền nhận tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo
hiểm xảy ra v.v.. Thế nên, quyền lợi của NĐBH và người thụ hưởng cần được
bảo vệ khi DNBH bị phá sản hoặc mất khả năng thanh toán chứ không riêng gì
42
đối với NĐBH.
Hai là, quy định pháp luật hiện hành còn hạn chế chức năng của Quỹ, do
đó chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chức năng của Quỹ BVNĐBH chỉ là hỗ trợ DNBH trong việc thanh toán
các nghĩa vụ theo HĐBHNT khi DNBH mất khả năng thanh toán hoặc bị phá
sản. Có nghĩa là, Quỹ BVNĐBH không tham gia hỗ trợ các DNBH trong quá
trình thực hiện các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán mà chỉ hỗ trợ thanh
toán chi trả tiền bảo hiểm khi những giải pháp khôi phục này không hiệu quả.
Việc hỗ trợ chuyển giao HĐBH từ DNBH phá sản hoặc mất khả năng
thanh toán sang cho DNBH khác đủ điều kiện để tiếp tục duy trì HĐBH là một
trong những chức năng tương đối quan trọng của Quỹ BVNĐBH tuy nhiên
không được pháp luật ghi nhận. Trong khi đó, rất nhiều nước như Nhật, Anh
hoặc Canada v.v., pháp luật rất quan tâm đến chức năng này để đảm bảo quyền
lợi cho NĐBH hoặc người thụ hưởng vì nếu tại thời điểm DNBH mất khả năng
thanh toán hoặc phá sản mà chưa có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì BMBH sẽ bị
thiệt thòi về quyền lợi bảo hiểm khi buộc phải chấm dứt hợp đồng trước hạn
[45]. Thậm chí, ở một số nước, Quỹ bảo vệ chủ HĐBH có thể trực tiếp là chủ
thể duy trì HĐBH cho đến khi HĐBH đáo hạn [18]. ”
2.1.3. Quy định về vấn đề giám sát của cơ quan quản lý và giải quyết
tranh chấp đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ”
“ Việc thực hiện nghĩa vụ minh bạch thông tin của các chủ thể trong hoạt
2.1.3.1. Quy định về nghĩa vụ minh bạch thông tin
động kinh doanh BHNT giúp nâng cao hiệu quả công tác giám sát của cơ quan
có thẩm quyền, bởi thông tin chính là cầu nối giữa cơ quan giám sát với DNBH
và các chủ thể khác có liên quan. Vì thế, Luật KDBH đã quy định khá cụ thể
về nghĩa vụ minh bạch thông tin.
Thứ nhất, DNBH phải minh bạch năng lực tài chính và năng lực quản lý
khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động.
Theo quy định của Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn thì khi có
những thay đổi về vốn điều lệ, cơ cấu tổ chức hoặc người lãnh đạo thì
DNBHNT phải xin ý kiến và được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, đồng thời
43
thực hiện công bố công khai trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được chấp thuận,
nhằm đảm bảo cho hoạt động của DNBH được giám sát một cách chặt chẽ, bảo
đảm sự an toàn trong hoạt động KDBH.
Trong quá trình hoạt động, DNBHNT có nghĩa vụ thực hiện báo cáo
thông tin chi tiết định kỳ (hàng tháng, quý, năm) và bất thường với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền; trường hợp xảy ra những diễn biến không bình thường
trong hoạt động kinh doanh hoặc khi không bảo đảm các yêu cầu về tài chính
theo quy định để thực hiện những cam kết với BMBH thì phải báo cáo ngay về
Bộ Tài chính. Công khai gồm toàn văn báo cáo tài chính trên trang thông tin
điện tử; báo cáo thường niên, báo cáo tài chính tóm tắt công bố trên báo trung
ương hoặc địa phương. Tất cả văn bản nêu trên phải có ý kiến của tổ chức kiểm
toán độc lập trước khi thực hiện công khai. Việc công khai thông tin được thực
hiện trong thời hạn là 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Thứ hai, DNBHNT phải cung cấp thông tin trung thực khi giao kết và
thực hiện HĐBHNT. Sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, nên việc
cung cấp thông tin là hết sức quan trọng để người tham gia bảo hiểm có thể lựa
chọn cho mình sản phẩm phù hợp. Đối với BHNT, thời hạn bảo hiểm là tương
đối dài nên việc cân nhắc trước khi tham gia của BMBH lại càng quan trọng,
không những để đảm bảo cho quyền lợi của người tham gia bảo hiểm mà còn
giúp cho DNBH tránh tình trạng bị hủy hợp đồng trước thời hạn.
Luật KDBH quy định, DNBHNT có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông
tin liên quan đến HĐBHNT, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho
BMBH, đảm bảo những thông tin quảng cáo về sản phẩm là trung thực, tránh
làm cho khách hàng hiểu nhầm. Pháp luật nghiêm cấm hành vi cung cấp thông
tin và quảng cáo sai sự thật gây tổn hại quyền và lợi ích hợp pháp của BMBH.
Tài liệu giới thiệu về sản phẩm BHNT phải rõ ràng, dễ hiểu, không chứa đựng
thông tin gây hiểu nhầm và không trái với quy tắc, điều khoản bảo hiểm của
sản phẩm. Tài liệu minh họa bảo hiểm sử dụng ngôn ngữ phù hợp với đối tượng
khách hàng. Để đảm bảo quyền lợi của BMBH, DNBHNT phải thông báo cho
khách hàng các vấn đề sau: một là, các sản phẩm bổ trợ kèm theo HĐBHNT
chính không phải là điều kiện bắt buộc để duy trì hiệu lực của HĐBHNT chính;
44
hai là, HĐBHNT có giá trị hoàn lại khi có hiệu lực và đóng phí bảo hiểm đủ
hai năm trở lên hoặc có thể sớm hơn theo thỏa thuận; ba là, quyền của
DNBHNT được khấu trừ các khoản nợ chưa được hoàn trả trước khi thanh toán
giá trị hoàn lại cho BMBH.
Thứ ba, người tham gia bảo hiểm cũng phải kê khai trung thực những
thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm và được DNBH bảo mật những
thông tin này.
Người tham gia bảo hiểm thực hiện tốt nghĩa vụ này nhằm đảm bảo
quyền lợi chính đáng cho mình, giúp cho DNBH tính toán được mức độ rủi ro
bảo hiểm, cũng như đảm bảo sự công bằng cho các chủ thể tham gia bảo hiểm
khác đối với cùng một sản phẩm bảo hiểm. Khác với DNBH phải có nghĩa vụ
minh bạch thông tin trong suốt quá trình hoạt động và trong nhiều trường hợp
cụ thể, pháp luật chỉ yêu cầu nghĩa vụ này đối với người tham gia bảo hiểm khi
tiến hành giao kết và thực hiện HĐBHNT với DNBHNT.
Ngoài việc quy định BMBH phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông
tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho DNBHNT và chịu trách nhiệm về
tính chính xác, trung thực của thông tin đã cung cấp, Luật KDBH còn quy định
người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm cung cấp những thông tin phát
sinh có liên quan như việc thay đổi mức độ rủi ro, thông báo về sự kiện bảo
hiểm... Đối với HĐBHNT, ngoài những nghĩa vụ kể trên, BMBH còn có nghĩa
vụ thông báo chính xác tuổi của NĐBH vào thời điểm giao kết HĐBHNT để
làm cơ sở tính phí bảo hiểm.
Pháp luật cũng quy định nghĩa vụ đối với DNBHNT trong vấn đề bảo
mật thông tin về người tham gia bảo hiểm. Luật Bảo vệ NTD quy định NTD
được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch trừ
trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu, đồng thời tổ chức, cá
nhân kinh doanh phải có trách nhiệm minh bạch về mục đích sử dụng thông tin,
chỉ được chuyển giao thông tin của NTD cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của
NTD (trừ trường hợp pháp luật có quy định) và nhiều nghĩa vụ khác.
Như vậy, các quy định pháp luật hiện hành là tương đối rõ ràng và cơ
bản phù hợp với mức độ phát triển của thị trường BHNT. Tuy nhiên, vẫn còn
45
một số tồn tại như: pháp luật không có quy định về trách nhiệm trao đổi cơ sở
dữ liệu khách hàng giữa các DNBH nhằm phòng, chống trục lợi bảo hiểm; chưa
có quy định bắt buộc công khai điều khoản mẫu BHNT trên trang thông tin
điện tử của DNBH.
2.1.3.2. “Quy định về thẩm quyền giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ”
Cuối tháng ba năm 2017, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính đã tiến hành
ký kết quy chế phối hợp giữa hai Bộ trong việc phê chuẩn sản phẩm, đăng ký
hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đối với lĩnh vực BHNT. Cho
thấy quy trình phê chuẩn, giám sát quá trình phân phối và thực hiện sản phẩm
BHNT đã được quy định cụ thể và có cải tiến. Theo quy định của Luật
BVQLNTD và Luật KDBH, doanh nghiệp kinh doanh BHNT phải thực hiện 2
thủ tục hành chính riêng biệt, đó là thủ tục phê chuẩn sản phẩm BHNT tại Bộ
Tài chính và thủ tục đăng ký HĐBHNT theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
tại Bộ Công Thương. Trong thời gian qua, việc phải thực hiện hai thủ tục nói
trên cùng lúc đã mang lại không ít khó khăn cho các doanh nghiệp KDBH. Do
đó, để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp KDBH, hai Bộ này đã thống nhất cơ chế
liên thông một đầu mối trên tinh thần nhất quán về nội dung khi hướng dẫn
doanh nghiệp KDBH thực hiện các thủ tục nói trên.
Tại Thông tư 50/2017/TT-BTC cũng có quy định các nguyên tắc khi phê
chuẩn sản phẩm BHNT như sau:
* Bộ Tài chính kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đề nghị phê chuẩn,
đăng ký sản phẩm bảo hiểm và sự phù hợp của quy tắc, điều khoản bảo hiểm
với các quy định pháp luật hiện hành.
* Bộ Tài chính kiểm tra nội dung giải trình cơ sở kỹ thuật của sản phẩm
“Mặc dù đã có cải tiến và thuận lợi cho DNBH và NTD, tuy nhiên quy
BHNT.
“Một là, việc phân định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản
định pháp luật về giám sát sản phẩm BHNT vẫn còn những tồn tại như:”
lý nhà nước là không rõ ràng.
Điều 47, 48, 49, Luật BVQLNTD quy định, Bộ Công thương và UBND
46
các cấp có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước đối với vấn đề BVQLNTD
và nhiệm vụ này hiện được giao cho Cục Quản lý cạnh tranh. Tuy nhiên, Luật
KDBH lại quy định Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về
lĩnh vực KDBH và Bộ Tài chính là cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm trước
Chính phủ về hoạt động giám sát KDBH nói chung, trong đó có lĩnh vực
BHNT. Theo Quyết định 288/QĐ- BTC, ngày 12/2/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính thì hoạt động giám sát bảo hiểm được thực hiện trực tiếp bởi Cục Quản
lý, giám sát bảo hiểm trực thuộc Bộ Tài chính, thay thế cho Vụ Bảo hiểm và
theo Thông tư 50/2017/TT-BTC thì Ban kiểm soát khả năng thanh toán (trong
trường hợp DNBH không khôi phục được khả năng thanh toán) cũng có chức
năng giám sát hoạt động của DNBH, đây là một quy định rất tiến bộ của các
nhà làm luật. Ban này được lập ra để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng
thanh toán theo quy định tại Điều 80 Luật KDBH trong trường hợp DNBH
không khôi phục được khả năng thanh toán theo yêu cầu của Bộ Tài chính quy
định tại khoản 2 Điều 67 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP. Ban này cũng thực
hiện chức năng giám sát việc triển khai thực hiện các biện pháp khôi phục khả
năng thanh toán theo phương án đã được chấp thuận. Việc giám sát được thực
hiện như sau: Giám sát thông qua các báo cáo định kỳ và đột xuất của DNBH
hoặc làm việc trực tiếp với người đại diện theo pháp luật của DNBH; Giám đốc
của chi nhánh trong trường hợp cần thiết.
Từ sự chồng chéo nêu trên, nhất thiết phải có cơ chế phối hợp quản lý
của các cơ quan chức năng. Việc phân công Cục Quản lý cạnh tranh giữ chức
năng BVQLNTD mà không có sự tách biệt rõ về cơ cấu, tổ chức chuyên môn
xét về mặt lý luận và thực tiễn đều chưa phù hợp. Về lý luận, lĩnh vực cạnh
tranh và BVQLNTD tuy có vài điểm chung nhưng về cơ bản thì khác nhau,
BVQLNTD liên quan đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng, còn
cạnh tranh là vấn đề nảy sinh giữa các doanh nghiệp với nhau. Trên thực tế, các
vụ việc liên quan đến BVQLNTD có tính chất phức tạp và “nhỏ lẻ”, cơ quan
BVQLNTD nên cần có mặt tại địa phương, đồng thời có thể giải quyết các vụ
việc trên phạm vi cả nước, nếu chỉ tập trung ở Cục Quản lý cạnh tranh thì hiệu
quả sẽ không cao. Hiện nay, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm
47
liên quan với nhau vẫn chưa được ban hành.
Thứ hai, việc cơ quan giám sát bảo hiểm và các cơ quan giám sát nói
chung, vừa giữ chức năng giám sát, vừa giữ chức năng ban hành chính sách,
pháp luật dẫn đến hiệu quả giám sát chưa cao. Hiện nay, Bộ Tài chính vừa là
cơ quan ban hành các chỉ tiêu giám sát, các văn bản hướng dẫn Luật KDBH,
vừa thực hiện chức năng giám sát, bao gồm cả việc cấp phép, phê chuẩn, thanh
tra, kiểm tra,... đối với hoạt động KDBH, do đó sẽ khó tránh khỏi sự xung đột
về chức năng và lợi ích.
Thứ ba, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam là một trong những chủ thể có vai
trò quan trọng trong hoạt động giám sát KDBH nhưng không được Luật KDBH
đề cập đến, điều này làm hạn chế nhiều đến hiệu quả giám sát vì tổ chức này
có nhiều thông tin và với vai trò là tổ chức phi Chính phủ, Hiệp hội Bảo hiểm
Việt Nam sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện chức năng giám sát và phối hợp
giám sát, vũ cũng phù hợp với xu hướng hiện nay là hạn chế can thiệp hành
chính vào hoạt động kinh doanh của DNBH. Trên thực tế, Nghị định số
45/2007/NĐ-CP mặc nhiên công nhận vai trò của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
trong việc giám sát, theo đó, Nghị định 45 quy định Nhà nước tạo điều kiện để
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp tăng cường
vai trò tự quản trong lĩnh vực bảo hiểm và DNBH phải có nghĩa vụ thông báo
danh sách các đại lý bảo hiểm bị chấm dứt hợp đồng đại lý do vi phạm pháp
luật, vi phạm quy tắc hành nghề.
2.1.3.3 “Quy định về nội dung giám sát và phương thức giám sát đối với
hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Giám sát đối với hoạt động KDBH nói chung và BHNT nói riêng được
ghi nhận ngắn gọn trong Luật KDBH và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định
73/2016/NĐ-CP, theo đó, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc giám
sát các hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp, quản trị
rủi ro và việc chấp hành pháp luật của DNBH và có thể áp dụng các biện pháp
cần thiết để DNBH bảo đảm các yêu cầu về tài chính và thực hiện những cam
kết đối với BMBH. Hoạt động giám sát bao gồm các nội dung như việc cấp
48
phép, phê chuẩn, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm .v.v.
Theo Nghị định 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh xổ số, những hành vi được xem
là vi phạm liên quan đến khai thác bảo hiểm như: quảng cáo sai sự thật, tài liệu
minh hoạ không rõ ràng hoặc không công khai, minh bạch dẫn đến sự hiểu lầm
của khách hàng, ép buộc giao kết hoặc không thông báo về tình trạng của
HĐBHNT, vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật về thông tin có liên quan đến HĐBH
do BMBH cung cấp .v.v. những hành vi vi phạm nên trên đều bị xử phạt.
Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn hiện hành không có quy định cụ
thể về phương thức giám sát. Tuy nhiên, tại các quy định về quyền hạn và trách
nhiệm của cơ quan quản lý giám sát, cho thấy việc giám sát có thể được thực
hiện theo phương thức giám sát trực tiếp hoặc phương thức giám sát gián tiếp
(hay còn gọi là giám sát từ xa). Phương thức giám sát gián tiếp được thể hiện
bằng hoạt động: cấp phép, phê chuẩn hoặc chấp thuận của Bộ Tài chính.
Phương thức giám sát trực tiếp được thực hiện thông qua hoạt động: thanh tra,
kiểm tra tại DNBH. Việc thanh tra hoạt động KDBH được thực hiện theo Điều
122 của Luật KDBH đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật về thanh tra đối
với doanh nghiệp. Việc kiểm tra hoạt động KDBH phải được thực hiện theo
đúng thẩm quyền, đúng chức năng và tuân thủ quy định pháp luật, không được
tiến hành trùng lặp và không quá một lần về cùng một nội dung trong một năm
đối với một doanh nghiệp (trừ trường hợp kiểm tra đột xuất).
Thông qua các phương thức giám sát nêu trên, cơ quan quản lý nhà nước
đã phát hiện và xử lý nhiều sai phạm của DNBH. Ví dụ: trong năm 2017, Cục
giám sát bảo hiểm đã có 6 cuộc kiểm tra chuyên đề và 2 cuộc thanh tra toàn
diện đối với các DNBH. Trong lĩnh vực BHNT, đã xảy ra một số sai phạm như:
công tác chăm sóc, chi trả quyền lợi bảo hiểm chưa thống nhất, chưa phù hợp
với quy tắc điều khoản sản phẩm, nguyên nhân chính là chất lượng của đội ngũ
đại lý bảo hiểm; việc dẫn chiếu và vận dụng các quy định pháp luật của DNBH
trong giải quyết quyền lợi bảo hiểm chưa nhất quán phần nào ảnh hưởng đến
quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, đồng thời quy trình kiểm tra, đánh giá
do chính DNBH xây dựng đã không được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc. Qua
49
thanh tra, Cục đã chấn chỉnh các DNBH có sai phạm, kiến nghị xử lý tài chính
(hạch toán tăng thu nhập chịu thuế TNDN 10,46 tỷ đồng; kê khai bổ sung thuế
TNDN 1,17 tỷ đồng). [46]”.
Nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của mình, bên cạnh
việc giám sát từ phía cơ quan quản lý nhà nước, pháp luật cũng có quy định về
mô hình giám sát nội bộ yêu cầu DNBH phải xây dựng để đánh giá khả năng
thanh toán và quản lý. Một số quy định tại Thông tư 124/2012/TT-BTC quy
định về việc DNBH thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ (theo quy định
tại Điều 15 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP) như sau”:
• “Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải độc lập với các hoạt động
điều hành, hoạt động kinh doanh và đảm bảo đánh giá, phát hiện kịp thời mọi
rủi ro có nguy cơ ảnh hưởng theo chiều hướng bất lợi đến hiệu quả và mục tiêu
hoạt động của DNBH, đồng thời phản ánh ngay với cấp có thẩm quyền của
DNBH để có biện pháp xử lý thích hợp ”.
• Yêu cầu đối với gười làm công việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ là phải
có bằng đại học hoặc trên đại học, có kinh nghiệm tối thiểu ba (03) năm làm
việc trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.
• Quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải được cấp có thẩm quyền quy
định tại Điều lệ tổ chức, phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Trong một quy trình nghiệp vụ, cho phép kiểm tra chéo giữa các cá
nhân, các bộ phận cùng tham gia;
+ DNBH phải thông báo quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ đến tất cả
người lao động của doanh nghiệp để người lao động tham gia vào hoạt động
kiểm tra, kiểm soát nội bộ một cách hiệu quả;
+ “Người quản lý điều hành và các cá nhân liên quan cần xem xét, đánh
giá thường xuyên về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát
nội bộ; báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp nếu phát hiện khiếm khuyết
của hệ thống.
Nhìn chung, về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giám sát KDBH là
tương đối rõ, đã thể hiện được nhiều quan điểm phù hợp với thông lệ quốc tế. ”
50
2.1.3.4. “Quy định về giải quyết tranh chấp giữa DNBH và NTD”
Về giải quyết tranh chấp giữa DNBH và NTD hiện nay được pháp luật
quy định rất nhiều điểm có lợi cho NTD. Vấn đề này được thấy rõ nhất là trong
quy định tại Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự, trường hợp hợp đồng theo mẫu
có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng mẫu phải chịu bất lợi khi
đưa ra điều khoản đó; hay tại Khoản 6 Điều 404, trường hợp bên DNBH đưa
vào hợp đồng nội dung bất lợi cho BMBH thì khi giải thích hợp đồng phải theo
hướng có lợi cho BMBH và tại Điều 15 Luật BVQLNTD, trường hợp có cách
hiểu khác nhau về nội dung hợp đồng thì tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp giải thích theo hướng có lợi cho NTD. Với các quy định nêu
trên thì NTD được ưu tiên bảo vệ trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo
mẫu, mà cụ thể là HĐBHNT. Nội dung này cho thấy có tính chất ngoại lệ trong
quan hệ dân sự đơn thuần”.
Tại khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự quy định, khi hợp đồng theo mẫu
có điều khoản miễn trách nhiệm của bên thiết kế hợp đồng mẫu và tăng trách
nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên còn lại thì điều khoản này
không có hiệu lực, trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác. Đây là một trong
những quy định có tính "chế tài" đối với những giao dịch có khả năng gây bất
lợi cho NTD nhằm đảm bảo sự công bằng giữa người tham gia bảo hiểm và
DNBH trong quan hệ HĐBHNT. Tuy nhiên, quy định "trừ trường hợp có thỏa
thuận khác" lại thể hiện sự mâu thuẫn với nội dung nêu trên, có thể làm triệt
tiêu cơ chế bảo vệ NTD bởi vì những cơ quan giải quyết tranh chấp luôn tôn
trọng sự thỏa thuận giữa các bên, cho dù các thỏa thuận này có "điều khoản
miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc
loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia". Như vậy, BLDS chỉ đưa ra những
quy định mang tính nguyên tắc, chưa thể hiện được mục đích bảo vệ đến cùng
các quyền và lợi ích chính đáng của NTD.
Để khắc phục hạn chế trên, Điều 16 Luật BVQLNTD quy định, cơ quan
có thẩm quyền có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ phải sửa đổi, hủy bỏ nội dung vi phạm trong trường hợp nội dung của hợp
đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung vi phạm pháp luật về BVQLNTD
51
hoặc trái với nguyên tắc chung về giao kết hợp đồng. Cơ quan có thẩm quyền
yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh phải giải trình, làm rõ các nội dung trong
hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung không rõ ràng hoặc có thể làm
cho khách hàng có nhiều cách hiểu khác nhau. Điều 21 Luật KDBH quy định
về giải thích HĐBH theo hướng có lợi cho BMBH,” Trong trường hợp hợp
đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích
theo hướng có lợi cho BMBH”. Tuy vậy, quy định này chỉ dừng lại ở nguyên
tắc giải thích HĐBH mà không nói cụ thể cách giải thích hợp đồng này như thế
nào. Do đó, khi xảy ra tranh chấp, việc giải thích hợp đồng bảo hiểm sẽ căn cứ
vào quy định khác của pháp luật (nếu có).
Hiện nay, cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến QLNTD trong lĩnh
vực KDBH và lĩnh vực BVQLNTD hoàn toàn thuần túy dựa vào các phương
thức giải quyết theo cơ chế dân sự. Theo Luật BVQLNTD, cơ chế giải quyết
tranh chấp gồm: hòa giải, thương lượng, trọng tài hoặc tòa án (từ Điều 30 đến
Điều 46). Luật KDBH không quy định cụ thể mà được dẫn chiếu đến Điều 12
Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, Điều 25 Luật BVQLNTD còn quy định thêm nội
dung về khiếu nại của NTD sẽ được cơ quan quản lý nhà nước BVQLNTD cấp
huyện giải quyết nếu khiếu nại đó gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi
ích của NTD, lợi ích công cộng. Trong khí đó, cơ quan này hiện nay vẫn chưa
được hình thành cụ thể (hiện nay nhiều cá nhân, tổ chức vẫn cho rằng đó là Ủy
ban nhân dân cấp huyện), thêm vào đó, việc chứng minh đủ điều kiện để thực
hiện việc khiếu nại đến cơ quan này là không dễ dàng.
Về thời hiệu khởi kiện tranh chấp cũng chưa được thống nhất. Theo quy
định tại Điều 30, Luật KDBH: “Thời hiệu khởi kiện về HĐBH là ba năm, kể từ
thời điểm phát sinh tranh chấp”. Điều 184, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS)
năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:
“1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết các vụ việc dân sự
được thực hiện theo quy định của BLDS.
2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời
hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra
52
trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Trừ trường hợp việc từ chối áp dụng thời hiệu nhằm mục đích trốn tránh
thực hiện nghĩa vụ, người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền
từ chối áp dụng thời hiệu.”
BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi bổ sung theo hướng dẫn chiếu tới các qui
định tương ứng của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015, về thời hiệu khởi kiện ở
một số điều luật như sau:
Điều 429 quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, “Thời hiệu khởi kiện
để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm kể từ ngày
người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp của mình pháp bị xâm
phạm”.
Dù rằng thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 30 Luật KDBH và Điều
429 BLDS năm 2015 đều là 03 năm, nhưng cách tính bắt đầu thời hiệu khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại khác nhau hoàn toàn về mặt ngữ nghĩa, từ
đó, cũng khác nhau về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu. Chẳng hạn như, tại Điều
30 Luật KDBH, thời hiệu khởi kiện bắt đầu tính kể từ thời điểm phát sinh tranh
chấp, có nghĩa là sau khi sự kiện pháp lý xảy ra, có thiệt hại về quyền lợi nhưng
họ chưa thực hiện quyền khởi kiện ngay, đến một thời gian sau đó, có thể là 5
tháng, 9 tháng hoặc 2 năm sau đó họ mới chính thức yêu cầu bên có nghĩa vụ thực
hiện trách nhiệm của mình. Quá trình đó, nếu hai bên không thống nhất được kết
quả giải quyết, thì thời điểm phát sinh tranh chấp được tính kể từ khi hai bên không
đạt được sự thỏa thuận. Tại Điều 429, BLDS năm 2015 thì lại quy định thời hiệu
khởi kiện bắt đầu tính kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi
ích hợp của mình pháp bị xâm phạm.
Ví dụ minh họa như sau, ngày 20/6/2019, chị L.T.H làm hợp đồng mua
BHNT Bảo Việt cho anh N.V.T với tổng số tiền hơn 06 triệu đồng, đóng phí
kỳ 6 tháng, một năm đóng hai lần. Khi mua bảo hiểm, họ chưa phải là vợ chồng
hợp pháp, 10 ngày sau đó họ đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị H. Ngày 09/7/2019, anh H đột ngột qua đời tại Bệnh
viện đa khoa khu vực huyện M, tỉnh Đồng Nai do nhồi máu cơ tim cấp. Sau khi
anh T chết, ngày 25/7/2019 chị H liên hệ với Chi nhánh của Công ty BHNT Bảo Việt, tại tỉnh Đồng Nai nộp hồ sơ để yêu cầu thực hiện chi trả quyền lợi
53
bảo hiểm. Chờ đợi một thời gian rất lâu nhưng phía Công ty BHNT Bảo Việt vẫn chưa phản hồi kết quả giải quyết, ngày 10/01/2020 chị H tiếp tục liên hệ
đến Công ty thì được trả lời, “đang tiếp tục thu thập chứng cứ", do đó, ngày
14/02/2020 chị H làm đơn khởi kiện Công ty BHNT Bảo Việt ra Tòa án để giải
quyết.
Từ ví dụ minh họa trên, cho thấy căn cứ để tính thời hiệu khởi kiện của
chị H yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ sự kiện
pháp lý trên theo BLDS và theo Luật KDBH là khác nhau, cụ thể:
+ Theo Điều 429 BLDS, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
bắt đầu tính là ngày 10/01/2020 (ngày chị H nhận kết quả phản hồi từ phía Công
ty BHNT Bảo Việt, hay nói cách khác, đó là ngày chị H biết được quyền và lợi
ích hợp pháp của mình pháp bị xâm phạm.)
+ Theo Điều 30 Luật KDBH, ngày bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là
ngày 14/02/2020 (ngày chị H không đồng ý với kết quả giải quyết cuối cùng
của phía Công ty BHNT Bảo Việt, nên từ đó phát sinh tranh chấp, chị H đã nộp
đơn khởi kiện).
2.1.4. Bất cập trong nội dung một số quy định giữa Luật Kinh doanh
bảo hiểm, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ nhất, việc ưu tiên áp dụng luật nào để bảo vệ NTD khi tham gia
BHNT có nhiều nội dung giữa Luật KDBH và Luật BVQLNTD không thống
nhất với nhau.
Có nhiều vấn đề cùng được điều chỉnh bởi cả hai Luật, đặc biệt là các
văn bản pháp luật có hiệu lực ngang nhau, việc ưu tiên áp dụng văn bản pháp
luật nào là một vấn đề tương đối phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Chẳng hạn như vấn đề về minh bạch thông tin, về hợp đồng theo mẫu hay về
trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong thời hạn hợp đồng v.v.
Luật Ban hành VBQPPL có quy định, trường hợp những VBQPPL có
những quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì sẽ áp dụng VBQPPL có hiệu
lực pháp lý cao hơn và nếu trường hợp các VBQPPL do cùng một cơ quan ban
hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì sẽ áp dụng quy định
của VBQPPL được ban hành sau [43]. Tuy nhiên, theo luật KDBH thì hoạt
động KDBH phải tuân thủ đúng quy định cũng như các văn bản pháp luật hướng
dẫn khác liên quan tại Điều 2 Khoản 1, mà không nêu rõ nếu điều chỉnh cùng
54
một nội dung thì sẽ ưu tiên áp dụng văn bản nào. Luật BVQLNTD ghi nhận
nguyên tắc áp dụng Luật này đối với hoạt động BVQLNTD trên lãnh thổ Việt
Nam tại Điều 1 và 2, có thể hiểu là gồm cả vấn đề BVQLNTD trong lĩnh vực
BHNT. Hai luật nêu trên, về thời gian ban hành (sửa đổi) đều là năm 2010, đều
do Quốc hội ban hành, nên việc xem xét áp dụng văn bản trở nên phức tạp, cần
được bổ sung, sửa đổi cho thống nhất hoặc ít nhất cũng cần có hướng dẫn cụ
thể để nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật. ”
Thứ hai, Luật BVQLNTD yêu cầu đối với người cung cấp hàng hóa, dịch
vụ là vấn đề niêm yết giá, tuy nhiên trong Luật KDBH lại không đặt ra trách
nhiệm này.
Nếu áp dụng quy định của Luật BVQLNTD yêu cầu người cung cấp hàng
hóa, dịch vụ niêm yết giá tại địa điểm kinh doanh, văn phòng tại khoản 2 Điều
12 cho sản phẩm BHNT thì còn nhiều bất cập. Vì đặc điểm của sản phẩm bảo
hiểm là phụ thuộc vào năng lực tài chính của BMBH. Với mỗi số tiền bảo hiểm
khác nhau thì sẽ có một mức phí bảo hiểm khác nhau. BMBH có thể lựa chọn
nộp phí bảo biểm theo tháng, theo quý hoặc 6 tháng hoặc năm tương ứng với
mức phí khác nhau. Do đó, việc niêm yết giá trong trường hợp này đối với
DNBH là không khả thi.
2.2. “Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ hiện nay tại tỉnh Đồng Nai
Tính đến 31/12/2020, thị trường BHNT Việt Nam đã có 18 DNBH nhân
thọ tham gia, cung cấp đa dạng các quyền lợi bảo hiểm dịch vụ cho gần 9 triệu
hợp đồng chính và 14,5 triệu hợp đồng bảo hiểm bổ trợ. Tốc độ tăng trưởng
bình quân doanh thu phí hàng năm ước đạt 26%, tổng số tiền bảo hiểm chi trả
bình quân hàng năm ước tính 10.000 tỷ đồng với số lượng hồ sơ yêu cầu giải
quyết quyền lợi bảo hiểm bình quân trên 600.000 hồ sơ/năm. [52]
Số lượng hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính hàng
năm có mức tăng trưởng ổn định. Theo số liệu từ niên giám, thị trường bảo hiểm Việt Nam của Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm, trong năm 2016, số lượng hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính đạt 1.538.896
hợp đồng, tăng 18,93% so với năm 2015. Tổng doanh thu phí bảo hiểm của các
hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính đạt 15.891 tỷ đồng,
55
tăng 30,52% so với năm 2015. Đến năm 2019, số lượng hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính đạt 2.716.671 hợp đồng, tăng 20,84% so
với năm 2018. Trong đó, số lượng hợp đồng bảo hiểm cá nhân đạt 2.716.334
hợp đồng, số lượng hợp đồng bảo hiểm nhóm đạt 337 hợp đồng (tương ứng với
số lượng thành viên trong nhóm được bảo hiểm là 108.322 người). Tổng doanh
thu phí bảo hiểm của các hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm
chính đạt 30.722 tỷ đồng, tăng 15,13% so với năm 2018. [51]
Số lượng hợp đồng có hiệu lực của các sản phẩm bảo hiểm chính trong
năm 2016, tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực của các sản phẩm bảo hiểm
chính đạt 6.395.262 hợp đồng, tăng 14,03% so với năm 2015, tổng phí bảo
hiểm của các hợp đồng có hiệu lực là 50.497 tỷ đồng, tăng 31,95% so với năm
2015. Năm 2019 đạt 10.274.339 hợp đồng, tăng 18,4% so với năm 2018, tổng
phí bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực là 106.640 tỷ đồng, tăng
23,75% so với năm 2018. Thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm của các hợp
đồng bảo hiểm có hiệu lực như sau: Bảo Việt nhân thọ (23,87%), Prudential
(20,82%), Manulife (14,14%), Dai-ichi (12,24%), AIA (10,73%), Chubb
(3,31%), Hanwha (2,67%), Generali (2,51%). Các doanh nghiệp còn lại chiếm
9,71% thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm có
hiệu lực. [51]
Về tình hình trả tiền bảo hiểm, tổng số tiền bảo hiểm các doanh nghiệp
đã chi trả trong năm các năm qua đều tăng. Năm 2016 tổng số tiền bảo hiểm
các doanh nghiệp đã chi trả cho các sản phẩm bảo hiểm là 12.363 tỷ đồng; trong
đó trả giá trị tiền bảo hiểm gốc là 7.766 tỷ đồng, trả giá trị hoàn lại là 2.373 tỷ
đồng, trả tiền đáo hạn là 2.223 tỷ đồng. Năm 2019 cho các sản phẩm bảo hiểm
là 22.854 tỷ đồng; trong đó trả giá trị tiền bảo hiểm gốc là 8.097 tỷ đồng, trả
giá trị hoàn lại là 6.474 tỷ đồng, trả tiền đáo hạn là 8.283 tỷ đồng. Số tiền chi
trả bảo hiểm tập trung chủ yếu vào các sản phẩm hỗn hợp và bảo hiểm liên kết
đầu tư.
Trong giai đoạn 2016 - 2019, số lượng hợp đồng khai thác mới có tốc độ tăng trưởng ổn định, tuy nhiên trong cùng khoảng thời gian, số lượng hợp đồng
có hiệu lực có mức tăng trưởng thấp, cho thấy tỷ lệ duy trì hợp đồng ở mức
thấp, rất nhiều HĐBH bị khách hàng hủy bỏ. Trong năm 2019 có 436.749 hợp đồng bị hủy bỏ.
56
Tình hình hủy bỏ hợp đồng năm 2019
Trong năm hợp Trong năm hợp Trong năm Nghiệp vụ đồng thứ nhất đồng thứ hai hợp đồng sau
Bảo hiểm trọn đời 160 307 2.741
Bảo hiểm sinh kỳ 0 - 75
Bảo hiểm tử kỳ 27.903 57.579 25.791
Bảo hiểm hỗn hợp 58.935 73.580 86.668
Bảo hiểm trả tiền định kỳ 628 448 628
Bảo hiểm liên kết đầu tư 31.102 33.279 36.919
Bảo hiểm hưu trí 8
Tổng 118.735 165.192 152.822
Nguồn: Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính
Nhận thức của người dân về bảo hiểm trong những năm gần đây được
nâng lên, nhưng một thách thức tồn tại trong hơn 20 năm qua là hiện vẫn chỉ
có một tỷ lệ rất nhỏ người dân Việt Nam tham gia BHNT. Xét về khía cạnh khả
năng tài chính của khách hàng thì lý do chính của tình trạng trên là bở còn một
số lượng lớn người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết
phải sở hữu một HĐBHNT và nguyên nhân quan trọng hơn nữa là do những
"điều tiếng" và tranh chấp của các DNBH với khách hàng trong thời gian qua
làm cho NTD dần dần mất niềm tin vào các công ty bảo hiểm.
2.2.1. Thực tiễn quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tiêu dùng
Một số nghệ thuật hay các “chiêu bài” mà các DNBH đang sử dụng để
tiếp cận và mời gọi NTD tham gia bảo hiểm như:
* Khi quảng cáo các sản phẩm bảo hiểm đặc biệt là BHNT, DNBH
thường chỉ đề cập đến các ưu điểm và cố gắng khắc họa nó thật nổi bật để làm
cho khách hàng chỉ tập trung vào các quyền lợi hấp dẫn đó, dẫn đến việc hiểu
không đầy đủ về HĐBHNT. Ví dụ như trong HĐBHNT thường có nội dung
thu hút sự chú ý của khách hàng như về chia lãi và các quyền lợi khác đi kèm
hấp dẫn hơn. Tất nhiên các HĐBHNT có chia lãi thường sẽ có mức phí bảo
57
hiểm cao hơn, dẫn đến hạn chế khả năng duy trì hợp đồng, điều này các DNBH
rất ít đề cập hoặc là không đề cập tới. Vì vậy khách hàng đã không lường trước
được và thường gặp trường hợp vi phạm về nghĩa vụ nộp phí.
* Ngoài ra, quảng bá trên phương tiện thông tin đại chúng và đại lý
BHNT cũng là một kênh tiếp thị được đa số DNBHNT sử dụng. Tuy nhiên, khi
đại lý mô tả sản phẩm bảo hiểm thường chỉ giới thiệu về những quyền lợi mà
NTD sẽ được hưởng, có thể gọi là tình trạng “bán mùi thơi” của sản phẩm mà
bỏ qua những chi tiết quan trọng như giá trị hoàn lại của HĐBHNT, những
nghĩa vụ cần tuân thủ như thời hạn nộp phí bảo hiểm, nghĩa vụ kê khai thông
tin cá nhân chi tiết và trung thực,... Chính bản thân các đại lý cũng có suy nghĩ
rằng nếu bản thân mình là khách hàng và phải đối mặt với quá nhiều nghĩa vụ
có thể khách hàng sẽ cân nhắc và không tham gia bảo hiểm, điều này làm cho
đại lý thường bỏ qua việc phải mô tả chi tiết về sản phẩm, dẫn đến việc khách
hàng không hiểu đầy đủ về sản phẩm bảo hiểm của mình, gây ảnh hưởng đến
quyền lợi của khách hàng hoặc dẫn đến phát sinh tranh chấp về sau.
Ví dụ như năm 2016, hàng loạt khách hàng ở công ty bảo hiểm nhân thọ
Prudential Đồng Nai đến hủy bỏ hợp đồng vì không đủ khả năng tài chính theo
đuổi đến khi đáo hạn [36]. Năm 2015, chị B và nhiều khách hàng đã ký
HĐBHNT Phú, có bảo tức, tích luỹ định kỳ gia tăng, có thời hạn là 12 năm,
mức đóng phí hàng năm gần 6.150.000 đồng, khi đáo hạn chị B sẽ nhận được
97.950.790 đồng. Chị B đã đóng phí được 3 năm, đến năm thứ 4, do được cộng
tiền bảo tức theo định kỳ nên chỉ phải đóng thêm 1.150.000 đồng nữa. Như vậy,
tính đến năm 2018, chị B đã đóng phí được 4 năm, với tổng số tiền 19.600.000
đồng. Năm 2019, do không còn khả năng theo đuổi HĐBHNT, chị B đã ngừng
nộp phí. Cũng trong năm 2019, chị đến Công ty để thanh lý HĐBHNT thì được
nhân viên của công ty thông tin rằng số tiền chị được nhận lại là 8.907.366
đồng (do đã trừ phí bảo hiểm mà công ty tự đóng cho khách hàng). Thấy số tiền
được nhận lại quá ít, chưa bằng một nửa so với số đã nộp, chị B không đồng ý
nhận và được nhân viên tư vấn, nên để hợp đồng lại, vài năm sau hãy phá thì
số tiền được nhận sẽ cao hơn. Tin tưởng nên mãi đến cuối tháng 7 năm 2019,
chị B mới trở lại để làm thủ tục thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, cũng như lần
58
trước, lần này mức tiền mà chị B được nhận lại theo tính toán của nhân viên
cũng chỉ có 8.907.366 đồng. Trả lời thắc mắc của chị, nhân viên vẫn nêu ra lý
do rằng khi đến hạn chị đã không nộp phí nên DNBH đã tự đóng, vì phải trừ đi
số phí này, cộng thêm “lãi suất” của số tiền mà DNBH tự đóng, nên số tiền mà
chị B được nhận còn lại là 8.907.366 đồng. Như vậy, trong trường hợp của chị
B, so sánh giữa số tiền đã đóng và số được nhận lại, có thể nói chị B đã bị thiệt
hơn 2/3 số tiền đã nộp. Điều đáng quan tâm là trong suốt thời gian ngừng đóng
phí, chị B cùng với rất nhiều khách hàng khác cùng hoàn cảnh đều không hề
nhận được bất cứ thông báo nào từ Công ty Prudential về việc “nếu không tiếp
tục đóng phí hàng năm, khách hàng sẽ bị DNBH tự động đóng và trừ vào số
tiền đã nộp” mà chỉ có thông báo yêu cầu đóng phí được gửi đến khách hàng
mỗi năm vào thời hạn nộp tiền. Trước khi tiến hành ký HĐBHNT, đại lý cũng
không tư vấn rõ ràng, cụ thể để khách hàng hiểu rõ hết vấn đề nêu trên. Trên
HĐBH được ký giữa Prudential với khách hàng cũng chỉ có những điều khoản
mơ hồ, khó hiểu về “giá trị hoàn lại, giảm thu nhập đầu tư ...” khiến cho khách
hàng như lâm vào “ma trận”, không thể nào biết được nếu không tiếp tục đóng
phí thì quyền lợi của mình sẽ bị “khấu trừ”. Ví dụ trên đây cho thấy đại lý bảo
hiểm đã cố ý bỏ qua những nội dung cần thiết phải cho khách hàng biết nó có
thể gây bất lợi cho khách hàng mặc dù bất lợi đó phụ thuộc vào hành vi của
khách hàng.
* Khi tư vấn chốt với khách hàng, các đại lý giải thích rất mập mờ giữa
quyền lợi có bảo đảm và quyền lợi không bảo đảm, cố tình khẳng định mức lãi
suất không bảo đảm như là một cam kết chắc chắn của DNBH hoặc mức lãi có
đảm bảo (chắc chắn) với tổng số phí bảo hiểm với mục đích để khách hàng
đồng ý ký hồng đồng.
* Trong quá trình chuẩn bị giao kết HĐBHNT, khách hàng chỉ được xem
các tờ quảng cáo, bảng minh họa quyền lợi bảo hiểm nhưng không được cung
cấp toàn văn nội dung hợp đồng. Chỉ khi khách hàng đồng ý ký hợp đồng, hoàn
tất các thủ tục kê khai và được DNBH chấp nhận bảo hiểm, khách hàng mới
được cung cấp đầy đủ bộ HĐBHNT, bao gồm cả tập điều khoản mẫu. Thực
chất, khi hợp đồng đã được ký kết, khách hàng mới nghiên cứu được kỹ về nội
59
dung hợp đồng. Trên thực tế, mặc dù các DNBH có dành một thời gian (từ 14
đến 21 ngày) để khách hàng việc hủy hợp đồng, tuy vậy sự bất lợi tất nhiên
thuộc về khách hàng, chẳng hạn như khi hủy hợp đồng, khách hàng phải chịu
chi phí hợp lý có liên quan như chi phí khám nghiệm y khoa, chi phí phát hành
các văn bản v.v.
Trong quá trình thực hiện HĐBHNT, đã có nhiều tranh chấp xảy ra,
nguyên nhân chủ yếu phần lớn xuất phát từ giai đoạn ký kết hợp đồng, gây thiệt
hại cho các bên, có khả năng dẫn đến tranh chấp kéo dài. Theo quy định, việc
kê khai hồ sơ yêu cầu bảo hiểm phải đầy đủ thông tin và chính xác. Nhiều
trường hợp BMBH khi kê khai hồ sơ yêu cầu BHNT không cẩn thận, thông tin
không chính xác và không lường được hậu quả mà họ buộc phải biết. Nhiều đại
lý bảo hiểm vì muốn khách hàng ký kết hợp đồng nhanh chóng nên đã rất cẩu
thả trong việc tư vấn cho BMBH kê khai theo kiểu chiếu lệ. Trong quan hệ
HĐBHNT, nguyên tắc trung thực là nguyên tắc cao nhất phải được các bên
tuân thủ. Trong quan hệ dân sự, khi không có chứng cứ để chứng minh là thông
tin đưa ra do cẩu thả thì có thể bị xem là cố ý đưa thông tin sai sự thật, khi đó
DNBHNT có quyền từ chối chi trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra.
Bên mua bảo hiểm nhầm lẫn khi kê khai hồ sơ yêu cầu bảo hiểm được
hiểu là họ có thể đã không nhớ chính xác hoặc không hiểu đúng về yêu cầu kê
khai dẫn đến việc kê khai sai. Thực tế thì hồ sơ yêu cầu bảo hiểm có nhiều thuật
ngữ mang tính chuyên môn, nếu không được đại lý (tư vấn viên) giải thích và
hướng dẫn rõ thì rất dễ gây nên sự nhầm lẫn cho khách hàng trong việc thực
hiện kê khai. Ngoài ra còn có những câu hỏi về lý lịch sức khỏe với nội dung
rất rộng, nếu không có sự chuẩn bị thông tin trước đó thì người kê khai rất khó
có thể kê khai chính xác, vì phần lớn họ không nhớ chính xác hoặc không biết,
dẫn đến trả lời không đúng.
* Có thể nói, DNBHNT và các đại lý bảo hiểm chưa thực sự đặt quyền
lợi của khách hàng là quan trọng, mặc dù đây được coi là yếu tố có tính quyết
định và cơ bản nhất của loại hình KDBHNT. Để hiểu rõ hơn về ý kiến này, học
60
viên xin đưa ra hai trường hợp cụ thể vừa xảy ra như sau:
Trường hợp 1: Theo Báo Việt Nam mới đưa tin ngày 05/6/2019, chị Trần
Thị A có hộ khẩu tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Năm 2010, chị A có
mua ba HĐBHNT của Công ty Prudential cho bản thân và hai người con từ một
đại lý (tư vấn viên) tên là Đỗ Văn H. Mỗi HĐBHNT có giá trị cả 100 triệu
đồng, phí đóng mỗi năm của một HĐBHNT là hơn 7 triệu đồng. Khi bán bảo
hiểm cho chị A thì H có nói là sẽ đến thu tiền trực tiếp từ gia đình, không phải
đi đến nơi thu hộ nào khác để đóng phí. Trong 3 năm (2016, 2017, 2018), chị
A đã đóng phí bảo hiểm cho ông H số tiền gần 65 triệu đồng. Đến cuối năm
2017, đầu 2018 gia đình chị không thấy ông H đến thu tiền nên đã gọi điện hối
mấy lần nhưng ông H đều báo bận không qua được và có nói cứ để đó sẽ qua
thu sau. Tin tưởng nhân viên của công ty bảo hiểm nên bẵng đi một thời gian,
đến cuối năm 2018, vẫn không thấy ông H đến thu tiền bảo hiểm, chị sinh nghi
mới gọi điện lên hỏi trung tâm chăm sóc khách hàng của Prudential để hỏi về
hợp đồng và tại sao không có nhân viên tới thu tiền bảo hiểm thì được biết ba
hợp đồng của chị bị mất hiệu lực do quá 24 tháng không đóng phí và các số
điện thoại nhập trên hệ thống liên quan tới người đứng tên hợp đồng không
chính xác, không thể liên lạc được. Công ty đưa ra lý do là đã lưu nhầm số điện
thoại của chị A và H “quên” không thu tiền bảo hiểm. Quá bức xúc vì cách làm
việc thiếu trách nhiệm của nhân viên công ty, chị A yêu cầu chấm dứt hợp đồng,
nhân viên tư vấn thông tin cho chị rằng nếu chấm dứt hợp đồng chị không nhận
được tiền gốc mà chỉ thu lại được vài trăm ngàn đồng cho mỗi hợp đồng mà
thôi. Chị A không đồng ý và đã nhiều lần làm đơn khiếu nại mong được khôi
phục hợp đồng nhưng không được phúc đáp, giải quyết. Đến ngày 18/5/2018,
tức là khoảng 1 năm rưỡi sau ngày gửi đơn khiếu nại, chị A nhận được văn bản
trả lời từ Công ty Prudential rằng không thể khôi phục được hợp đồng cho chị
và nếu khôi phục sẽ phải mất một số tiền rất lớn, số tiền để khôi phục cho mỗi
hợp đồng được phía công ty đưa ra là 64.140.000 đồng. Như vậy, nếu khôi phục
cả 3 hợp đồng này thì phải tốn thêm khoảng 190.000.000 đồng. Trong khi nếu
đóng phí định kỳ đúng hạn cho 4 năm (2013-2016) thì mỗi hợp đồng chỉ mất
khoảng hơn 29 triệu đồng. Với 64.140.000.000 đồng để khôi phục mỗi hợp
61
đồng thì chị phải mất phí phạt khoảng 35.000.000 đồng. Ba hợp đồng mất phí
phạt 105.000.000 đồng dù lỗi hoàn toàn từ phía đại lý và công ty. Tuy vậy, dù
đã đóng phí để khôi phục 3 hợp đồng nhưng khi thực hiện thủ tục khôi phục
hợp đồng lại quá phức tạp khiến chị càng thêm bức xúc. Do Công ty bốc thăm
một trong ba hợp đồng để lập thủ tục, bốc thăm trúng hợp đồng của con gái chị
và yêu cầu là phải có giấy khám sức khỏe trong khi con gái chị đang du học ở
Australia, do chưa có giấy khám sức khỏe nên chưa thể khôi phục được hợp
đồng. Quá bức xúc với sự việc trren, chị A đã nhờ người em gái đi cùng dùng
điện thoại quay lại sự việc khi bị Công ty Pudential đuổi ra ngoài và sự việc
này đã tạo nên nhiều tranh luận trong dư luận xã hội. [1]
Trường hợp 2: anh Nguyễn Duy H (Đồng Nai), mua bảo hiểm nhân thọ
của Công ty AIA Việt Nam vào ngày 20/8/2015, nhưng ngay ngày hôm sau
(21/8/2015) anh đã qua đời vì tai nạn giao thông, trong khi đó bảng minh họa
được lập và in trên hệ thống của AIA Việt Nam vào ngày 22/8/2015 (một ngày
sau khi khách hàng qua đời) thì vẫn chưa tìm được dữ liệu của đại lý bảo hiểm.
Sau khi xem xét hồ sơ yêu cầu bồi thường, AIA Việt Nam quyết định từ chối chi
trả quyền lợi bảo hiểm với lý do không trùng khớp chữ ký của anh H tại hồ sơ bảo
hiểm với các giấy tờ khác như biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, giấy khám
sức khỏe, tờ khai lệ phí trước bạ..., thậm chí, chữ ký và chữ viết trong các giấy tờ
trên cũng không phải do cùng một người thực hiện. [48]
Phân tích nguyên nhân của những vụ tranh chấp trên, cho thấy nguyên
nhân chính đều xuất phát từ hành vi cẩu thả và thiếu trách nhiệm của đại lý bảo
hiểm và sự "thiếu trách nhiệm" của các DNBH trong việc quản lý đội ngũ đại
lý, tư vấn viên của mình, điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của
khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
2.2.2. Thực tiễn hoạt động giám sát kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Để đảm bảo cho các chủ thể liên quan thực hiện hành vi một cách có
trách nhiệm đối với quyền lợi của người tham gia bảo hiểm thì hoạt động giám
sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.
62
2.2.2.1. Thực hiện minh bạch thông tin còn nhiều hạn chế
Thứ nhất, việc công khai các điều khoản bảo hiểm trên các phương tiện
thông tin chưa được các DNBHNT chú trọng đến, đặc biệt là trên trang thông
tin điện tử của doanh nghiệp mình. Một phần nguyên nhân có thể lý giải là do
động lực cạnh tranh giữa các DNBH, nhưng như thế sẽ không đảm bảo sự được
sự công khai và minh bạch trong khi khách hàng không có khả năng so sánh
giữa các sản phẩm BHNT với nhau. Về vấn đề này, các DNBH có vốn đầu tư
nước ngoài thực hiện tốt hơn so với DNBH trong nước. Hiện nay, DNBH thường
chỉ công khai điều khoản mẫu BHNT liên kết đầu tư, còn những loại hình BHNT
khác thường ít được công bố, phần nào ảnh hưởng đến khả năng duy trì HĐBHNT
của BMBH trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Thứ hai, các điều khoản HĐBHNT hiện nay nhìn chung thường có nội
dung khó hiểu, mập mờ, rất dễ làm cho người tham gia bảo hiểm hiểu sai vấn
đề dẫn đến quyết định giao kết HĐBHNT hoặc làm hạn chế quyền của người
tham gia bảo hiểm khi HĐBH đã được giao kết. Trong quá trình phân phối sản
phẩm BHNT, việc giải thích các điều khoản bảo hiểm đối với BMBH có ý nghĩa
hết sức quan trọng. Thực tế hiện nay, việc giải thích HĐBHNT thường là trách
nhiệm của đại lý, tuy nhiên nhiều đại lý chỉ giải thích “qua loa, chiếu lệ” với
mục đích là ký được HĐBHNT để hưởng hoa hồng, hậu quả là BMBH không
nắm rõ hết được các nội dung về quyền và nghĩa vụ của mình, hoặc quyết định
ký kết HĐBHNT không phù hợp với năng lực tài chính của mình. Ngoài ra, có
những sản phẩm BHNT tương tự nhau, tuy nhiên trong điều khoản mẫu thì lại
được các DNBH đưa ra các định nghĩa khác nhau, mặc dù về bản chất là cùng
để chỉ một khái niệm như học viên đã nêu ở phần trên, ví dụ về "khoản lãi vay
từ giá trị hoàn lại của HĐBH".
Về trách nhiệm cung cấp thông tin, theo Điều 19 Luật KDBH thì DNBH
và người tham gia bảo hiểm đều có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ cho
nhau và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin được cung
cấp. Khi một bên vi phạm nghĩa vụ thì bên kia có quyền đơn phương đình chỉ
việc thực hiện HĐBHNT. Tuy nhiên, khi xem xét hành vi cố ý cung cấp thông
tin sai sự thật để giao kết hợp đồng là hành vi lừa dối và dẫn đến hậu quả pháp
63
lý là hợp đồng vô hiệu, từ đó "các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu,
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận..., bên có lỗi phải bồi thường". Trong thời
gian qua, có rất nhiều tranh chấp phát sinh giữa DNBH và người tham gia bảo
hiểm bởi vì DNBHNT dựa vào quy định này để thông báo HĐBHNT vô hiệu
và thoái thác trách nhiệm.
2.2.2.2. Hoạt động phê chuẩn sản phẩm còn hình thức, chưa thực sự bảo
vệ quyền lợi NTD
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, 18/18 DNBH nhân thọ đã cung
cấp hơn 500 sản phẩm BHNT, bảo hiểm sức khỏe, BHNT đang ngày càng trở
nên quen thuộc đối với một bộ phận không nhỏ người dân. Tất cả các bộ sản
phẩm bảo hiểm phân phối trên thị trường đều được đăng ký với cơ quan có
thẩm quyền và được chấp thuận.
Mặc dù đã có nhiều quy định chi tiết và rõ ràng hơn về việc phê chuẩn
sản phẩm BHNT, tuy nhiên những tiêu chí để phê chuẩn sản phẩm BHNT đã
được quy định trong Thông tư 124/2012/TT-BTC vẫn còn sự bất cập. Theo đó,
Bộ Tài chính yêu cầu DNBHNT phải chịu trách nhiệm về tính hợp lý, hợp pháp
của các quy tắc, điều khoản bảo hiểm, nhưng lại không quy định về trách nhiệm
của cơ quan phê chuẩn khi phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm có điều khoản không
đảm bảo tính công bằng. Do đó, nhiều quy tắc, điều khoản BHNT khi được phê
chuẩn vẫn còn có nhiều nội dung gây bất lợi cho người tham gia bảo hiểm. Từ
thực tiễn cho thấy, các điều khoản mẫu do DNBH ban hành thường có cấu trúc
và nội dung chặt chẽ, trong đó chứa đựng một số quy định “lắt léo” và “mập
mờ” có thể làm cho người tham gia bảo hiểm hiểu sai. Bên cạnh đó, điều khoản
BHNT còn quy định rất “kín” một số nội dung có lợi cho DNBH, từ đó đòi hỏi
công tác thẩm định trước khi phê chuẩn phải được thực hiện một cách nghiêm
túc.
Ví dụ 1: Theo Bộ điều khoản Bảo hiểm hỗn hợp có quyền lợi mở rộng
của Prudential, được Bộ Tài chính phê chuẩn năm 2009 tại văn bản số
14830/BTC-QLBH ngày 21/10/2009, có quy định về điều khoản miễn truy xét
như sau:
“Ngoại trừ những thông tin quan trọng và cần thiết quy định tại Quy tắc,
64
điều khoản sản phẩm bảo hiểm này, Prudential sẽ không truy xét các thông tin
khác do BMBH kê khai không chính xác thể hiện trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm
sau 24 tháng liên tục đóng phí bảo hiểm, trong khi NĐBH vẫn còn sống, tính
từ ngày giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc các sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận
bảo hiểm có hiệu lực.”
Với quy định này, tưởng như Prudential dễ dàng “bỏ qua” những thông
tin có thể không chính xác mà BMBH đã khai, nhưng xét kỹ thì không phải như
vậy:
• Một là, trong cả bộ điều khoản nói trên không hề có định nghĩa hoặc
chỉ dẫn đâu là thông tin quan trọng và cần thiết, do đó Prudential có thể toàn
quyền đánh giá về những thông tin mà BMBH phải kê khai là có cần thiết và
quan trọng hay không. Với việc yêu cầu kê khai thông tin quá nhiều thì khả
năng thông tin được kê khai không chính xác sẽ tang, do đó khả năng từ chối
trả tiền của DNBHNT sẽ tăng.
• Hai là, từ quy định nêu trên cho thấy, nếu trường hợp NĐBH không
còn sống (đây là một trường hợp phải chi trả tiền bảo hiểm trong sản phẩm
BHNT hỗn hợp), thì tất cả các thông tin kê khai không chính xác có thể bị
DNBH từ chối chi trả tiền bảo hiểm.
Ví dụ 2: Theo Điều khoản hợp đồng sản phẩm BHNT liên kết đơn vị của
Manulife được Bộ Tài chính phê chuẩn năm 2008 tại văn bản số 5485/BTC-
BH ngày 13/5/2008 có quy định nư sau:
“Các loại phí liên quan đến HĐBH được quy định rõ trong trang hợp đồng.
Công ty cũng có thể thay đổi mức phí, nhưng không vượt quá mức tối đa được đề
cập trong Điều 13.9 sẽ được nêu dưới đây và trong vòng 3 tháng trước khi thay
đổi, công ty phải có thông báo và thỏa thuận bằng văn bản với BMBH.”
Với Điều 13.9 cho phép nhiều loại phí được tăng tối đa 15%/năm, DNBH
đã trao cho mình quyền được tăng nhiều loại phí mà không cần sự đồng ý của
người mua bảo hiểm với mức tăng cao hơn mức lạm phát ước tính vào thời
điểm sản phẩm BHNT này được bán. Sự “mập mờ” ở đây là bởi sau khi đã
quy định về quyền thay đổi mức phí, thì “thỏa thuận bằng văn bản” được nêu
65
ở điều khoản này chỉ có ý nghĩa là sự “thông báo” của DNBH mà thôi.
Chính vì có lợi thế từ sự “mập mờ” này dẫn đến hiện nay có rất nhiều
HĐBHNT có khả năng chắc chắn là DNBH sẽ không chi trả tiền bảo hiểm
nhưng vẫn được DNBH duy trì để chiếm dụng phí bảo hiểm. DNBH sẽ dựa vào
các quy định này để từ chối bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thời gian qua đã rất cố gắng và nỗ lực để
ban hành mẫu điều khoản BHNT đạt chất lượng tốt hơn.[30] Tuy nhiên, bộ điều
khoản đã ban hành hiện nay vẫn chỉ có những quy định chung chung, mang ý
nghĩa là sự khuyến nghị hoặc hướng dẫn đối với các DNBH là chính chứ chưa
thực sự đạt đến một chuẩn mực để có thể thành “mẫu”, dẫn đến hiệu quả trên
thực tế là không cao.
2.2.3. Thực tiễn xét xử các vụ tranh chấp bảo hiểm nhân thọ
Khi xét đến khả năng áp dụng pháp luật của cơ quan tài phán ta thấy hầu
hết các tranh chấp về HĐBHNT đều được giải quyết qua phương thức Tòa án,
do đó khả năng xét xử của Tòa án được xem là yếu tố quan trọng đối với việc
đảm bảo thực hiện pháp luật. Nếu các vụ án được giải quyết đúng bản chất, áp
dụng đúng quy định pháp luật sẽ có đóng góp rất lớn vào việc bảo vệ quyền lợi
chính đáng của các bên, đồng thời đó cũng là một phương thức phổ biến pháp
luật hữu hiệu. Ngược lại, nếu phán quyết của Tòa án không thỏa đáng, sẽ ảnh
hưởng rất tiêu cực đến thị trường BHNT. Đơn cử như vụ xét xử mới đây tại
TAND tỉnh Đồng Nai, gây nhiều tranh cãi:
Giữa tháng 11/2010, ông C ký hợp đồng BHNT với công ty bảo hiểm,
mệnh giá sản phẩm chính là 500.000.000 đồng. Ngày 60/6/2011, ông C bị bệnh.
Sau khi cấp cứu tại bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh của ông C
chuyển biến nặng, người nhà đưa về thì mất. Anh của ông C (người thụ hưởng
hợp đồng bảo hiểm) đã yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả. Công ty bảo hiểm từ
chối với lý do: “Thông tin thu thập được từ địa phương và cơ quan chức năng
có liên quan thì ông C là người nghiện rượu, uống rượu thường xuyên, liên tục
trong nhiều năm trước khi tham gia bảo hiểm, tức là mâu thuẫn với thông tin
ông C khai trong hồ sơ HĐBHNT. Vì vậy hợp đồng không có hiệu lực ngay từ
khi giao kết”. Không đồng ý, anh của ông C khởi kiện ra tòa án nhân dân tỉnh
66
Đồng Nai (nơi công ty bảo hiểm có trụ sở) yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường
hơn 500.000.000 đồng. Làm việc với Tòa, đại diện công ty bảo hiểm trình
chứng cứ chứng minh là “biên bản xác minh nhân thân” do công an xã cung
cấp, nội dung thể hiện là ông C nghiện rượu từ năm 2005 cho đến khi qua đời.
Tại phiên tòa, đại diện công ty bảo hiểm rút chứng cứ nêu trên nhưng vẫn cho
rằng ông C nghiện rượu căn cứ vào bệnh án của bệnh viện cung cấp.
Tranh luận tại tòa, anh của ông C phản biện, bệnh án không nêu rõ ông
C nghiện rượu từ lúc nào, bác sĩ cũng khẳng định: “Không thể xác định được
thời điểm nghiện rượu”. Bác sĩ trình bày việc bệnh án ghi nhận ông C nghiện
rượu là căn cứ vào lời khai của người nhà bệnh nhân tuy nhiên bác sĩ không
xác định được đó là người nào. Trước đó, tòa đã có văn bản hỏi bệnh viện “bệnh
nhân C bị xuất huyết tiêu hóa trên do giãn tĩnh mạch thực quản, xơ gan có phải
là hậu quả tất yếu của việc sử dụng rượu bia trong một thời gian dài hay
không?”, bệnh viện trả lời: “Chưa đủ dữ liệu khẳng định nguyên nhân xơ gan
là do rượu...”. Dù vậy, tòa vẫn kết luận: Ông C bị xơ gan nên ông là người
nghiện rượu, HĐBHNT của ông C là vô hiệu nên bác yêu cầu khởi kiện của
anh ông C. Sau phiên xử, anh của ông C cho biết sẽ kháng cáo vì “không phải
ai xơ gan cũng do nghiện rượu”. [40]
Trong vụ án trên, Tòa án đã đưa ra kết luận một cách chủ quan khi khẳng
định ông C không trung thực khi khai thông tin tại hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, khi
chưa có đầy đủ chứng cứ chứng minh nguyên nhân chính đã gây ra căn bệnh
xơ gan của ông C là do nghiện rượu.
Hay như trong vụ án mà Thẩm phán cho rằng "mua bảo hiểm không phải
vì mục đích kinh doanh nên đây được coi là hợp đồng dân sự" nên không thể
áp dụng Luật KDBH trong trường hợp này, dù rằng có những lý lẽ để bảo vệ
người mua bảo hiểm. Cụ thể:
Tháng 2/2006, bà M mua HĐBHNT cho con trai, thời hạn đóng phí là
15 năm, giá trị hợp đồng 70.000.000 đồng cho sản phẩm chính, và 80.000.000
đồng cho sản phẩm bổ trợ “chết và thương tật toàn bộ vĩnh viễn”. Một tháng
sau, trên đường từ Vĩnh Long về Biên Hòa (Đồng Nai), con trai bà M bị tai nạn
giao thông, tử vong. Bà M yêu cầu DNBH chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp
67
đồng. DNBH từ chối, cho rằng HĐBHNT trước đó đã vô hiệu do bà M đã kê
khai không trung thực về tình trạng sức khỏe của con bà. Bà M không đồng ý,
khởi kiện ra tòa yêu cầu bồi thường 150.000.000 đồng. Xử sơ thẩm, TAND tỉnh
Đồng Nai đã áp dụng Luật KDBH để nhận định HĐBHNT của bà M vô hiệu.
Theo tòa, bà M phải kê khai đầy đủ thông tin, tự khẳng định rằng “có” hoặc
“không” đối với các câu hỏi trong phần khai chi tiết về sức khỏe. Cụ thể, ở câu
hỏi “bạn đã, đang có sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện không?”, bà M đánh
dấu chéo vào ô “không”. Trước đó, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Đồng Nai ra
thông báo con bà bị HIV. Như vậy bà M đã khai không trung thực.
Phiên tòa phúc thẩm nhận định bà M mua bảo hiểm không phải vì mục
đích kinh doanh nên đây chỉ là hợp đồng dân sự. Việc cấp sơ thẩm áp dụng
Luật KDBH là không phù hợp. Tòa phúc thẩm cho rằng nội dung ghi trong hợp
đồng “nếu kê khai không trung thực... thì hợp đồng sẽ vô hiệu” là vi phạm pháp
luật. BLDS quy định hợp đồng chỉ vô hiệu khi vi phạm các điều cấm. Ngoài ra,
xét thấy án sơ thẩm còn có các vi phạm về tố tụng nên tòa tuyên hủy án để xét
xử lại. [40]
Trên đây chỉ là hai trong số rất nhiều vụ tranh chấp xảy ra hàng năm về
về lĩnh vực BHNT. Từ thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp về lĩnh vực BHNT
trong thời gian qua cho thấy, về chất lượng xét xử lĩnh vực này ở Việt Nam còn
chưa cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thời gian xét xử thường
kéo dài, ngoài nguyên nhân xuất phát từ sự bất cập của các quy định pháp luật
thì còn nguyên nhân xuất phát từ khả năng áp dụng pháp luật của cơ quan xét
xử cũng như các chủ thể tham gia hợp đồng.
2.2.4. Một số yếu tố khác ảnh hưởng gián tiếp đến quyền lợi người tiêu
dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại Đồng Nai.
Yếu tố về kinh tế:
Tỉnh Đồng Nai trong những năm gần đây phát triển mạnh về các khu
công nghiệp, tạo điều kiện cho người lao động ổn định việc làm và nâng cao
thu nhập. Khi chất lượng cuộc sống đã được nâng lên, người dân nhận thức
được những rủi ro trong cuộc sống và quyền lợi khi tham gia bảo hiểm nhân
thọ, với điều kiện kinh tế có sẵn, họ quyết định chọn cho mình sản phẩm bảo
68
hiểm phù hợp với khả năng kinh tế của mình, có người tham gia ít nhất là 01
hợp đồng bảo hiểm, có người tham gia đến hơn 03 hợp đồng bảo hiểm. Vì có
điều kiện kinh tế nên người dân tham gia hợp đồng bảo hiểm coi như là để tích
lũy và chuyển giao rủi (nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra), họ không quan tâm
sâu đến các quy định chi tiết trong hợp đồng bảo hiểm về nghĩa vụ bồi thường
và chi trả bảo hiểm. Vì vậy, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, căn cứ theo các
điều khoản quy định trong hợp đồng họ mới nhận thấy được quyền lợi của mình
không được bảo vệ.
Yếu tố về chính trị:
Đội ngủ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm nhân thọ khu vực Đồng Nai hiện
nay được nâng chất về số lượng lẫn chất lượng. Phần lớn các tư vấn viên, đại
lý bảo hiểm hiện là các cán bộ, lãnh đạo, quản lý của một số đơn vị, một số
ngành trong cơ quan nhà nước về hưu hoặc đang đương nhiệm. Khi tiếp cận và
tư vấn bảo hiểm, khách hành phần lớn tin tưởng vào uy tín và vị thế của tư vấn
viên, đại lý bảo hiểm nên thường quyết định tham gia hợp đồng bảo hiểm rất
nhanh mà bỏ qua các bước tư vấn sâu về nghĩa vụ, quyền lợi bảo hiểm... Chính
vì vậy, khi có sự kiện bảo hiểm xả ra hoặc khi phát sinh tranh chấp, phần lớn
người mua bảo hiểm bị thiệt thòi vì chính họ không thực hiện đúng nghĩa vụ
được quy định trong hợp đồng.
Yếu tố về văn hóa:
Xuất phát từ bản chất là người nông dân chân chất, phần lớn người dân
thường có xu hướng lắng nghe thông tin và hoàn toàn tin tưởng từ nguồn thông
tin được truyền miệng từ những người hàng xóm, láng giềng, người thân quen
về một sự việc đã và đang diễn ra mà không cần rà soát và tìm hiểu lại thông
tin như được truyền đạt là có đúng và chuẩn xác chưa? Ví dụ tư vấn viên A của
công ty bảo hiểm Nhân thọ Bảo Việt Đồng Nai tư vấn rất tận tình, dễ thương,
sản phẩm bảo hiểm này có nhiều quyền lợi lắm nè, gia đình mình đã tham gia
03 hợp đồng .... Chính vì thói quen tin tưởng vào thông tin truyền đạt từ người
thân quen mà người dân sẵn sàng quyết định tham gia hợp đồng bảo hiểm mà
không cần tìm hiểu và xem xét cẩn trọng đến các nghĩa vụ, quyền lợi của hai
bên khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc hậu quả pháp lý khi một trong hai bên
69
không tuân thủ hợp đồng ...
Tiểu kết chương 2
Mặc dù, trong thời gian qua kinh doanh BHNT Việt Nam đã có những
bước phát triển đáng ghi nhận, song so với tiềm năng thực tế và yêu cầu phát
triển của thị trường trong quá trình hội nhập, thì kinh doanh BHNT Việt Nam
còn nhiều hạn chế, thách thức cần phải nhanh chóng khắc phục. Có vậy mới
đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội trong điều kiện hiện nay.
Trong quá trình thực hiện pháp luật về kinh doanh BHNT Việt Nam cũng
mới chỉ đi được những bước đi đầu tiên trong quãng đường dài, tuy có nhiều
cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn thách thức.
Từ thực tiễn thi hành pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT hiện
nay và những yếu tố đặc thù tại tỉnh Đồng Nai, để phát huy tốt những thành quả
đã được và khắc phục những hạn chế tồn tại cũng như tận dụng tốt nhất những
cơ hội và vượt qua những khó khăn thách thức trong quá trình hội nhập nhằm
phát triển về kinh doanh BHNT một cách toàn diện, vững chắc và ổn định, cần
phải có những định hướng và hệ thống các giải pháp cụ thể, đồng bộ và có tính
khả thi cao. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT ở
70
chương 3 dưới đây.
Chương 3
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC
BẢO HIỂM NHÂN THỌ
3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
3.1.1. Giải quyết mối quan hệ điều chỉnh giữa Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật dân sự.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) gồm 6 chương, 51
điều. Theo đó, KDBH là một loại hình kinh doanh dịch vụ, về nguyên tắc, người
sử dụng dịch vụ bảo hiểm là người được pháp luật bảo vệ theo quy định của
Luật BVQLNTD.
Đối với Luật BVQLNTD năm 2010, các quy định này không đủ để điều
chỉnh các quan hệ giữa DNBH với người tham gia bảo hiểm từ chế độ
BVQLNTD. Riêng chương IV Luật BVQLNTD năm 2010 quy định về giải
quyết tranh chấp giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
là những quy định về tố tụng, chồng chéo với chức năng điều chỉnh của pháp
luật tố tụng dân sự về pháp luật nội dung, thực tế giải quyết tranh chấp, các cơ
quan tài phán áp dụng quy quy định của Bộ luật dân sự, Luật KDBH. Vì thế,
theo pháp luật về BVQLNTD được ban hành năm 2010, đối với người tham
gia bảo hiểm chỉ có ý nghĩa về lý thuyết mà không có ý nghĩa thực thi trên thực
tế.
Để nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật thì Luật BVQLNTD nên
có quy định loại trừ áp dụng đối với việc sử dụng một số dịch vụ, trong đó có
dịch vụ bảo hiểm. Luật KDBH cũng nên có những quy định cụ thể, chi tiết hơn
đối với các vấn đề liên quan đến BVQLNTD.
Bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm dưới góc độ toàn diện và
thống nhất được hiểu là các quy định của pháp luật về quyền lợi của người tham
71
gia bảo hiểm vừa đóng vai trò là hàng rào pháp lý ngăn ngừa, vừa tác động trực
tiếp bằng quy phạm pháp luật thông qua các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ
của các bên, và một bộ máy thực thi pháp luật hiệu quả.
Trong mối quan hệ pháp luật với người tham gia bảo hiểm thì BLDS
đóng vai trò là nền tảng, Luật KDBH đóng vai trò là luật chuyên ngành, Luật
BVQLNTD, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Tố tụng dân sự,... cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi NTD lĩnh vực BHNT. Để đảm bảo tính
thống nhất, cụ thể và rõ ràng trong Luật KDBH, cần phải xây dựng mối tương
quan thống nhất với các bộ phận pháp luật khác có liên quan.
3.1.2. Xác định quyền lợi của người tiêu dùng là trọng tâm khi hoàn
thiện quy định về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Một là, cần thống nhất tiêu chí để phân loại BHNT ra thành ba loại chính,
đó là “bảo hiểm tử kỳ”, “bảo hiểm sinh kỳ” và “bảo hiểm hỗn hợp”. Việc này
có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của DNBHNT trong
việc cung cấp các sản phẩm trong cùng một loại nghiệp vụ bảo hiểm. Theo quy
định, DNBHNT muốn bổ sung nghiệp vụ bảo hiểm thì phải làm thủ tục và được
Bộ Tài chính chấp thuận.
Hai là, bổ sung nội dung về khái niệm sản phẩm BHNT để phân biệt rõ
hai khái niệm “BHNT” và “sản phẩm BHNT”. Cần bổ sung các quy định về
cách đặt tên sản phẩm BHNT nhằm hạn chế tối đa sự nhầm lẫn (cùng một loại
sản phẩm BHNT nhưng lại có rất nhiều tên gọi khác nhau) theo hướng: Tên gọi
phải thể hiện rõ loại hình sản phẩm BHNT để BMBH dễ nhận biết, lựa chọn
sản phẩm phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính của mình. Cần quy định rõ
phần trách nhiệm của DNBH khi xây dựng một sản phẩm BHNT mới, phải thể
hiện rõ những điểm khác biệt quan trọng của sản phẩm mới so với những sản
phẩm đã phân phối trên thị trường trước đây nhằm đảm bảo không còn tình
trạng cung cấp hai sản phẩm BHNT tương đối giống nhau nhưng tên gọi lại
khác nhau gây nhầm lẫn cho khách hàng. Bộ Tài chính có quyền từ chối phê
chuẩn đối với sản phẩm BHNT mới nếu những điểm khác biệt đó không quan
trọng, không rõ ràng.
Ba là, cần bổ sung và sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục phê chuẩn sản
72
phẩm BHNT, ghi nhận vào Luật KDBH các vấn đề cơ bản nhất.
Bốn là, cần quy định rõ và thống nhất các đầu mối có chức năng thực
hiện công tác đào tạo đại lý bảo hiểm, ban hành các quy tắc hành nghề đại lý
bảo hiểm; điều chỉnh các quy định về phân phối sản phẩm BHNT; Đại lý bảo
hiểm là một nghề thương mại, các cá nhân, tổ chức làm đại lý bảo hiểm phải
được cấp phép hành nghề. Do tính đặc thù của sản phẩm BHNT, kênh phân
phối chủ yếu sản phẩm BHNT là đại lý. Mặc dù đã có quy định thống nhất về
phương pháp sát hạch, tuy nhiên pháp luật vẫn cho phép các DNBH được tự
đào tạo đại lý bảo hiểm của mình, có thể thấy việc kiểm soát về chất lượng đào
tạo là rất khó; Công tác tự đào tạo của một số DNBH chưa đạt yêu cầu vì chịu
sự ảnh hưởng của yếu tố chi phí và sức ép của việc giành thị phần. Điều này
cho thấy, cần phải quy định rõ những tổ chức được phép đào tạo về đại lý bảo
hiểm, cần đưa ra yêu cầu cụ thể về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên cũng như
chương trình đào tạo để các DNBH có nhu cầu đào tạo đại lý sẽ cử người tham
gia. Về công tác tổ chức đào tạo đại lý bảo hiểm, kiến nghị giao cho Hiệp hội
Bảo hiểm Việt Nam thực hiện vì tổ chức này vừa có tính độc lập, vừa có mối
quan hệ gắn bó với các DNBH là thành viên, đồng thời có trách nhiệm đối với
sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Để đảm bảo tính khách quan, Bộ Tài
chính không nên trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động đào tạo khi Bộ
tài chính là đơn vị chủ trì việc tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề đại lý
bảo hiểm.
Năm là, cần bổ sung và sửa đổi các quy định về Quỹ BVNĐBH:
• Sửa đổi tên gọi của Quỹ để đảm bảo ý nghĩa của quỹ là bảo vệ những
chủ thể có lợi ích liên quan trực tiếp đến HĐBH như NĐBH, BMBH và người
thụ hưởng.
• Cần bổ sung quy định cụ thể để đảm bảo Quỹ BVNĐBH có đầy đủ
những chức năng theo thông lệ quốc tế nhằm mục đích duy trì HĐBH, bảo vệ
quyền lợi người tham gia bảo hiểm (ngoài chức năng hỗ trợ DNBH trong việc
thanh toán các nghĩa vụ theo HĐBH khi DNBH mất khả năng thanh toán hoặc
bị phá sản thì Quỹ cần có thêm chức năng tham gia vào việc hỗ trợ chi phí để
chuyển giao HĐBH từ DNBH mất khả năng thanh toán hoặc phá sản sang cho
73
DNBH khác đủ điều kiện).
• Bổ sung, sửa đổi các quy định nhằm đảm bảo tư cách pháp lý độc lập
cho Quỹ BVNĐBH. Quỹ nên là một pháp nhân độc lập, hoạt động hoặc theo
mô hình doanh nghiệp, hoặc mô hình tổ chức phi lợi nhuận, trong cơ cấu tổ
chức và bộ máy quản lý có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, các
DNBH thành viên, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và đặc biệt là cần có sự tham
gia của các cơ quan, tổ chức có chức năng BVQLNTD hoặc Hội tiêu chuẩn và
bảo vệ NTD Việt Nam. Cơ cấu quản lý được thực hiện theo nguyên tắc vừa đảm
bảo tính độc lập trong công tác điều hành, vừa đảm bảo sự liên kết với các thành
viên cũng như chức năng giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đối với hoạt động của Quỹ. Việc lựa chọn người tham gia quản lý phải dựa trên
năng lực và kinh nghiệm quản lý cũng như đảm bảo sự khách quan và độc lập
khi tham gia quyết định.
3.1.3. Hoàn thiện các quy định về hợp đồng bảo hiểm
Một là, bổ sung nội dung “khái niệm người tham gia bảo hiểm” vào Luật
KDBH, bởi vì người mua bảo hiểm, NĐBH và người thụ hưởng quyền lợi bảo
hiểm có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với nhau.
Hai là, bổ sung phần định nghĩa đối với các thuật ngữ thường được sử
dụng trong HĐBHNT để có cách hiểu thống nhất, ví dụ như “chi phí hợp lý”,
“giá trị hoàn lại” và “vay từ giá trị hoàn lại”.
Ba là, bổ sung phần nội dung quy định thật chi tết về quyền và nghĩa vụ
của NĐBH, như:
• Quy định cụ thể về quyền của NĐBH như quyền từ chối tư cách NĐBH
trong một khoảng thời gian nhất định khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết (nếu
NĐBH không đồng thời là BMBH); quyền đồng ý hoặc không đồng ý với sự
chỉ định người thụ hưởng của BMBH; quyền được ưu tiên nhận tiền bảo hiểm
so với người mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
• Quy định cụ thể về nghĩa vụ của NĐBH khi có sự kiện bảo hiểm phát
sinh như: tự mình thực hiện khai báo thông tin trung thực theo yêu cầu của
DNBH, trừ trường hợp NĐBH dưới 18 tuổi thì việc khai báo sẽ do cha, mẹ
74
hoặc người giám hộ của NĐBH thực hiện; thực hiện các xét nghiệm, giám định
y khoa theo chỉ định của DNBH; chấp hành chỉ dẫn của bác sỹ chuyên khoa
trong điều trị khi khám và chữa bệnh.
• Quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người thụ hưởng quyền lợi
bảo hiểm như: quyền được thông báo về việc mình là người thụ hưởng hoặc
không còn là người thụ hưởng theo HĐBHNT; quyền từ chối trở thành người
thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm; nghĩa vụ hợp tác với DNBHNT thực hiện xác
minh sự kiện bảo hiểm, thông báo với DNBH về sự kiện bảo hiểm (trong trường
hợp BMBH không thể thông báo được).
Bốn là, phân định rõ quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm con người
với quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm
tài sản. Chẳng hạn, trong bảo hiểm con người, quyền lợi được bảo hiểm là
quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng cùng với các quyền lợi khác đối với NĐBH, nếu
được DNBH chấp thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên cạnh đó, cần bổ sung
tại khoản 2 Điều 31 Luật KDBH những chủ thể có thể là BMBH (gồm doanh
nghiệp, tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động; bên cho vay mua bảo hiểm
cho bên vay).
Năm là, quy định chi tiết việc chuyển nhượng HĐBHNT từ người mua
bảo hiểm sang người khác, từ NĐBH sang người khác, quy định này cần được
ghi rõ trong HĐBHNT để NĐBH biết rõ quyền, nghĩa vụ của mình trong quan
hệ hợp đồng, làm cơ sở giải quyết tranh chấp nếu có. Kiến nghị bỏ khoản 3
Điều 19, sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 19, bỏ cụm từ "nhằm giao kết hợp đồng
bảo hiểm”, khi đó, khoản 2 Điều 19 chỉ áp dụng cho trường hợp BMBH thực
hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin khi thực hiện hợp đồng, còn nếu các bên cung
cấp thông tin sai sự thật để giao kết hợp đồng, sẽ áp dụng quy định tại Điều 22
Luật KDBH.
Việc chuyển nhượng HĐBH, theo nguyên tắc là thoả thuận, phải có sự
chấp thuận của DNBH, tuy nhiên để đảm bảo quy định của pháp luật về BMBH,
cần bổ sung, sửa đổi Điều 26 Luật KDBH theo hướng quy định cụ thể người
nhận chuyển nhượng phải thoả mãn điều kiện là BMBH. Việc chuyển nhượng
HĐBH con người không làm thay đổi NĐBH, do đó việc chuyển nhượng
75
HĐBH phải có sự đồng ý của chủ thể này. Nếu NĐBH không có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ thì điều kiện để chuyển nhượng HĐBH là phải có sự đồng ý
của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp khác. [9]
Sáu là, bổ sung và sửa đổi khoản 2 Điều 20 Luật KDBH về cơ sở tính
phí bảo hiểm theo hướng: “DNBH có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian
còn lại của HĐBHNT nếu như có sự thay đổi các yếu tố là cơ sở để tính phí
bảo hiểm mà nguyên nhân xuất phát từ phía BMBH hoặc NĐBH, dẫn đến tăng
các rủi ro được bảo hiểm. Nếu BMBH không chấp nhận việc tăng phí bảo hiểm
thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và thông báo
bằng văn bản ngay cho BMBH biết.” [9]
Bảy là, cần quy định cụ thể về hình thức HĐBH con người, trong đó đặc
biệt chú trọng đến việc phân định rõ các hình thức cụ thể để thiết lập quan hệ
HĐBH. Đồng thời, nên quy định rõ thế nào là hợp đồng mẫu, điều khoản hợp
đồng mẫu.
Tám là, cần định rõ ràng và cụ thể về hiệu lực của HĐBH nhân thọ. Đề
xuất bãi bỏ khoản 3 Điều 19 Luật KDBH, "trường hợp DNBH cố ý cung cấp
thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì BMBH có quyền đơn
phương đình chỉ thực hiện HĐBH; DNBH phải bồi thường thiệt hại phát sinh
cho BMBH do việc cung cấp thông tin sai sự thật”, để tránh hiểu nhầm về hành
vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật trong giao kết hợp đồng, trường hợp
HĐBH sẽ vô hiệu và quyền lợi của NĐBH sẽ không được bảo vệ.
Chín là, hoàn thiện một số quy định về HĐBHNT vô hiệu theo hướng có
lợi cho người tham gia bảo hiểm nhưng không làm phương hại đến quyền và
lợi ích của DNBH. Ví dụ như trường hợp HĐBHNT chấm dứt trước thời hạn
do khách hàng vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm thì DNBH sẽ tất toán phí
bảo hiểm và hoàn lại phí nếu đã thu phí nhiều hơn thời gian có hiệu lực tương
ứng của HĐBHNT.
Còn một trường hợp, mặc dù không được đề cập đến trong phần thực
trạng bởi còn gây nhiều tranh cãi nên học viên chỉ phân tích dưới góc độ tổng
hợp ý kiến để đánh giá, đó là quy định về các trường hợp không được trả tiền
bảo hiểm tại Điều 39, "NĐBH chết hoặc bị thương tật vĩnh viên do lỗi cố ý của
76
BMBH hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng”. Có hai trường hợp: thứ nhất,
NĐBH chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của BMBH; thứ hai là,
NĐBH chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của người thụ hưởng. Cả
hai trường hợp này cần có cách giải quyết khác nhau. Trường hợp thứ nhất, với
mục đích là hưởng tiền bảo hiểm hoặc để người khác hưởng tiền bảo hiểm nên
BMBH mong muốn hậu quả xảy ra. Vì vậy, pháp luật quy định không trả tiền
bảo hiểm là hợp tình, hợp lý. Ở trường hợp thứ hai, sự kiện pháp lý xảy ra là
hoàn toàn nằm ngoài dự liệu và không phải do lỗi của người mua bảo hiểm, đó
là lỗi của người thụ hưởng. Có thể nói, trong trường hợp này, người mua bảo
hiểm cũng là người bị hại, và nếu không được nhận tiền bảo hiểm thì người
mua bảo hiểm sẽ là người bị thiệt hại kép, vừa bị người thụ hưởng hại, vừa mất
quyền yêu cầu DNBH chi trả. Tuy nhiên, trên đây chỉ là ý kiến thiểu số, không
phải chuyên gia của lĩnh vực bảo hiểm.
3.1.4. Hoàn thiện các quy định về giám sát đối với hoạt động kinh
doanh bảo hiểm nhân thọ
Một là, thông tin về các sản phẩm bảo hiểm cần được công khai rộng rãi
và cụ thể, đầy đủ nội dung điều khoản bảo hiểm trên trang thông tin điện tử
trước và trong quá trình triển khai sản phẩm để khách hàng có khả năng tiếp
cận, hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình trong HĐBHNT. Đồng thời, cần
có chế tài xử phạt hành chính đối với đại lý bảo hiểm trong trường hợp không
giải thích đầy đủ các nội dung về quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên nêu trong
HĐBHNT cho khách hàng trước khi thực hiện giao kết hợp đồng.
Hai là, để tránh bị chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, nên thống nhất (hợp
nhất) cơ quan thực hiện chức năng giám sát.
Ba là, cần có quy định cụ thể về nội dung giám sát, có khung tiêu chí
đánh giá, cách thức đánh giá. Cần định lượng tiêu chí rõ ràng, công khai, minh
bạch.
Bốn là, cần có những quy định cụ thể về phương thức giám sát. Trường
hợp nào giám sát gián tiếp, trường hợp nào giám sát trực tiếp, cách thức thực
hiện như thế nào.
Luật KDBH cũng cần quy định rõ về quyền hạn của Đoàn thanh tra, kiểm
77
tra cũng như quyền và nghĩa vụ của DNBH trong quá trình chấp hành quyết
định thanh tra, kiểm tra; bổ sung quy định giải quyết xung đột về thẩm quyền
thanh tra, kiểm tra giữa cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm với những cơ
quan quản lý nhà nước khác.
Năm là, theo quy định tại Điều 25 Luật BVQLNTD, cần thành lập cơ
quan quản lý nhà nước về BVQLNTD cấp huyện để tạo điều kiện thuận lợi và
dễ dàng hơn trong giải quyết tranh chấp khi quyền, lợi ích hợp pháp của những
người tham gia bảo hiểm bị xâm phạm.
Sáu là, cần quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của các cơ quan giám
sát hoạt động KDBH; hướng dẫn cụ thể về phương thức phối hợp giữa các cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền lợi của người
tham gia bảo hiểm.
Bảy là, về thời hiệu khởi kiện giữa BLDS và Luật KDBH cần phải thống
nhất, đề xuất sửa đổi quy định tại Điều 30 Luật KDBH, thay cụm từ “kể từ thời
điểm phát sinh tranh chấp” bằng cụm từ “kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc buộc
phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
3.2.1. Thành lập cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm bảo vệ
người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và cơ quan giám sát
tuân thủ
Hiện nay, tại Việt Nam, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trong các
vấn đề về BVQLNTD nói chung. Tuy nhiên, Cục Quản lý cạnh tranh của Bộ
này quản lý đối với tất cả các lĩnh vực ngành nghề và không có một bộ phận
riêng chịu trách nhiệm quản lý giám sát đối với BVQLNTD trong lĩnh vực
BHNT dẫn đến việc BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT không được thực hiện
một cách hiệu quả. Ngành tài chính là một lĩnh vực đặc thù liên quan đến sự
lưu thông tiền tệ quốc gia. Khi lĩnh vực này có những diễn biến không tốt
ngay lập tức có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế và các chính sách kinh tế vĩ
mô. Chính vì vậy, nhu cầu cần có một cơ quan chuyên trách, chịu trách
nhiệm về bảo vệ NTD trong lĩnh vực này là thực sự cần thiết. Để thực sự có
78
quyền năng thực thi việc bảo vệ NTD tài chính đặc biệt là trong lĩnh vực
BHNT cơ quan này cần phải có thẩm quyền nhất định, hoạt động khách quan
và độc lập, có đủ quyền lực, nguồn lực và năng lực trong việc giám sát và
chịu trách nhiệm đề xuất các chính sách về bảo vệ NTD trong lĩnh vực
BHNT. Bên cạnh đó, cơ quan này nên có quyền hợp tác với các cơ quan giám
sát dịch vụ bảo hiểm quốc tế để thường xuyên nắm bắt và cập nhật được
những vấn đề mới của thị trường BHNT, từ đó đi đầu trong việc điều chỉnh
các quy định ở trong nước cho phù hợp hoặc giúp điều tiết các giao dịch
BHNT mang tính quốc tế hoặc xuyên biên giới một cách thuận lợi. Cơ quan
chuyên trách này sẽ chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống các quy định và cơ
chế BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT phù hợp.
3.2.2. Thành lập Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo
hiểm nhân thọ
Việt Nam có Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng (NTD) mới được thành
lập năm 2018 (trên cơ sở tách ra từ Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt
Nam). Đây là một tổ chức chính trị xã hội, được thành lập nhằm mục đích
bảo vệ NTD nói chung trong tất cả các lĩnh vực. Ngoài Hiệp hội này, Việt
Nam cũng nên thành lập Hiệp hội bảo vệ NTD trong lĩnh vực BHNT hoạt
động độc lập để thực hiện các mục tiêu bảo vệ NTD trong lĩnh vực này. Hiệp
hội này vừa có thể là tổ chức cung cấp các kiến thức BHNT đến NTD, giúp
nâng cao giáo dục tài chính cho NTD, đồng thời cũng là kênh đầu tiên tiếp
nhận thông tin về những rủi ro của NTD BHNT mang tính thời sự.
Ngoài ra, Hiệp hội bảo vệ NTD trong lĩnh vực BHNT có thể thực hiện
các trách nhiệm như:
(1) Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn NTD khi có yêu cầu;
(2) Đại diện NTD khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công
cộng;
(3) Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD thông tin
về hành vi vi phạm pháp luật của các công ty BHNT;
79
(4) Độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm
chất lượng sản phẩm, dịch vụ do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho
NTD rủi ro của các dịch vụ tài chính mới, đặc biệt là các dịch vụ tài chính
được cung cấp khi cơ quan nhà nước chưa kịp có văn bản hướng dẫn và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình; kiến nghị
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BVQLNTD
trong lĩnh vực tài chính;
(5) Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức
tiêu dùng tài chính...
3.2.3. Khuyến khích các công ty bảo hiểm nhân thọ xây dựng các
quy định nội bộ về việc công khai minh bạch thông tin với khách hàng
Các công ty BHNT cần cung cấp cho NTD trong lĩnh vực BHNT các
thông tin chính quan trọng liên quan đến lợi ích, rủi ro và các điều khoản của
sản phẩm. Cụ thể, cần cung cấp các thông tin trọng yếu của sản phẩm, và
trước khi giao kết hợp đồng, trong suốt giai đoạn khách hàng sử dụng dịch
vụ BHNT của tổ chức cung cấp, bất cứ khi nào có sự thay đổi, phát sinh mới,
công ty BHNT phải cung cấp thông tin cần thiết và kịp thời cho khách hàng.
Tất cả các tài liệu quảng cáo về các sản phẩm tài chính phải chính xác, trung
thực, dễ hiểu, không gây hiểu lầm. Việc cung cấp thông tin giúp cho khách
hàng đánh giá được những lợi ích và rủi ro đi kèm khi thực hiện giao kết hợp
đồng, đảm bảo khách hàng có những giải pháp để chấp nhận rủi ro nếu giao
kết hợp đồng.
3.2.4. Tăng cường đào tạo, hướng dẫn, sử dụng, kiểm soát chặt chẽ
đội ngũ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm
Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là trừu tượng, vì vậy đưa sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ đến tận tay khách hàng, đa số là khách hàng cá nhân cần có
đội ngũ trung gian: tư vấn viên, đại lý bảo hiểm.
Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, có quy định thời gian chờ,
thường là 21 ngày. Thời gian chờ là khoảng thời gian quy định trong hợp
80
đồng bảo hiểm kể từ khi khách hàng đã chấp nhận tham gia bảo hiểm, đóng
phí bảo hiểm định kỳ lần đầu tiên đầy đủ và doanh nghiệp bảo hiểm có thể
đã phát hành hợp đồng bảo hiểm cho đến hết thời gian chờ, quy định khách
hàng có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm vô điều kiện, được hoàn lại phí
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được quyền thu lại phần chi phí
khám sức khỏe cho khách hàng trước khi tham gia bảo hiểm (nếu có).
Trong thời gian chờ, khách hàng có thể tự nghiên cứu xem xét lại
nội dung điều khoản, điều kiện bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm,
đối tượng được bảo hiểm, phạm vi và các rủi ro được bảo hiểm, quyền lợi
và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trách nhiệm
của doanh nghiệp bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm,
phương thức trả tiền bảo hiểm, quy định về giải quyết tranh chấp. Nếu
người mua bảo hiểm chưa hiểu rõ có thể yêu cầu tư vấn viên, nhân viên
của doanh nghiệp bảo hiểm giải thích thêm hoặc nhờ luật sư tư vấn.
Trong trường hợp này, cần đào tạo, hướng dẫn, sử dụng, kiểm soát
chặt chẽ đội ngũ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm sao cho giải thích được rõ
ràng, đầy đủ và hiểu được các cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm cũng
như nghĩa vụ của khách hàng.
Chất lượng của đội ngũ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm gắn liền với chất
lượng khách hàng và chất lượng hợp đồng bảo hiểm được ký kết. Việc
khách hàng từ bỏ hợp đồng bảo hiểm trước hạn do nghi ngờ các nội dung
cam kết trong hợp đồng bảo hiểm hoặc không đủ khả năng duy trì việc
đóng phí bảo hiểm đúng hạn có một phần do lỗi của tư vấn viên, đại lý bảo
hiểm gây thiệt hại cho cả người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm.
KẾT LUẬN
Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh lĩnh vực BHNT trong
nước từng bước được cải thiện, thị trường đã phát triển về quy mô, tốc độ
81
tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên riêng thị trường Đồng Nai tốc độ phát triển
còn chưa tương xứng với tiềm lực hiện hữu. Nếu đánh giá một cách tổng
thể, toàn diện thì hoạt động KDBHNT Đồng Nai phát triển chưa cơ bản,
chưa vững chắc, chưa đồng bộ và đặc biệt là còn một số nguy cơ tiềm ẩn,
thiếu tính minh bạch và quyền lợi tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm còn
nhiều bất cập.
Từ những thực tế nêu trên, trong thời gian tới KDBHNT Đồng Nai rất
cần có những giải pháp mang tính đột phá nhằm phát triển một cách toàn diện,
đồng bộ và vững chắc, đáp ứng tốt nhất những yêu cầu phát triển và hội nhập
ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nhằm đảm bảo quyền lợi của NTD trong
lĩnh vực BHNT còn nhiều bất cập. Trên cơ sở những yêu cầu đó luận văn đã
đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển KDBHNT trong
82
thời gian tới.