intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP -THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chia sẻ: Paradise_12 Paradise_12 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:87

0
155
lượt xem
79
download

LUẬN VĂN: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP -THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) đã và đang diễn ra trên quy mô toàn cầu với khối lượng và nhịp độ chu chuyển ngày càng lớn. Đối với các nước đang phát triển, bên cạnh việc phát huy nguồn nội lực trong nước, tận dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một con đường để rút ngắn thời gian tích luỹ vốn ban đầu, tạo nên tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế. Chính vì lẽ đó mà FDI được coi như " chiếc chìa khoá vàng " để mở ra cánh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP -THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG LUẬN VĂN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP -THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP N gười thực hiện : N guyễn Thị Loan Lớp : A1 - K37A G iáo viên hướng dẫn : TS. Vũ Thị Kim Oanh HÀ NỘI – 2002
  2. LỜI NÓI ĐẦU Đ ầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) đã và đang diễn ra trên quy mô toàn cầu với khối lượng và nhịp độ chu chuyển ngày càng lớn. Đối với các nước đ ang phát triển, b ên cạnh việc phát huy nguồn nội lực trong nước, tận dụng vốn đ ầu tư trực tiếp nước ngo ài là một con đường để rút ngắn thời gian tích luỹ vốn ban đầu, tạo nên tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế. Chính vì lẽ đó mà FDI được coi như " chiếc chìa khoá vàng " để mở ra cánh cửa thịnh vượng cho mỗi quốc gia. V iệt Nam cũng không thể đứng ngoài trước luồng xoáy của sự vận động kinh tế thế giới đang diễn ra từng ngày, từng giờ này. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1987 đánh dấu b ước khởi đầu quá trình mở cửa nền kinh tế, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, kết hợp chặt chẽ giữa việc phát huy có hiệu quả nguồn nội lực trong nước với việc thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài cho chiến lược phát triển kinh tế. Thực tế cho thấy trong những năm gần đây Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ (lĩnh vực công nghiệp thu hút tới gần 50% tổng vốn đầu tư nước ngoài ) là rất phù hợp với chủ trương của nước ta. Trong thế kỷ 21, nước ta chủ trương phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp chế biến xuất khẩu có khả năng cạnh tranh, có triển vọng thị trường và phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn làm nền tảng cho nền kinh tế cất cánh. Do vậy, chúng ta phải ý thức được vai trò và vị trí đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của ngành công nghiệp . X uất phát từ những suy nghĩ trên, tôi đã chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp: " Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp - Thực trạng và g iải pháp ". Mục đích của đề tài là trên cơ sở vận dụng những lý luận cơ b ản về đầu tư trực tiếp nước ngoài để phân tích, đánh giá đúng thực trạng tình hình
  3. đ ầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam và từ đó đ ưa ra một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này. Đối tượng nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp là đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu là tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1988-2001 K hoá luận đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như : p hương pháp phân tích định tính và định lượng, phương pháp thống kê, phương p háp phân tích kinh tế, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử …để xem xét và đánh giá, giúp các vấn đề nghiên cứu thêm sâu sắc. K ết cấu của khóa luận ngoài Lời nói đầu và K ết luận gồm có 3 chương: Chương I: Khái quát về công nghiệp Việt Nam và kinh nghiệm một số nước về thu hút FDI trong lĩnh vực công nghiệp . Chương II : Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngo ài trong lĩnh vực công nghiệp Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI trong lĩnh vực công nghiệp. H à Nội ngày 16 tháng 12 năm 2002 Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Loan
  4. CHƯƠNG I KHÁI QUÁT V Ề CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM V À KINH N GHIỆM TỪ MỘT SỐ N ƯỚC VỀ THU HÚT FDI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về công nghiệp Việt Nam V ới nội dung trình bày khái quát về quá trình phát triển của công nghiệp V iệt Nam trong thời gian qua, phần này nhằm đưa ra một cách nhìn nhận có tính xuyên suốt và tổng thể về quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp V iệt Nam, làm cơ sở cho những phân tích và đánh giá về hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp ở các phần tiếp theo. 1 .1. Con đường phát triển của công nghiệp Việt Nam Q uá trình phát triển công nghiệp Việt Nam kể từ 1945 đến nay đã diễn ra hơn một nửa thế kỷ, trải qua nhiều thời kì với những đặc điểm và điều kiện rất khác nhau. Sau ngày đất nước dành được độc lập, công nghiệp Việt Nam đ ược phát triển từ một điểm xuất phát quá thấp, phát triển trên di sản của một nền công nghiệp bị chi phối bởi các chính sách kinh tế của thực dân Pháp, lạc hậu xa so với các nước phát triển. Nền kinh tế, trong đó có công nghiệp, phát triển què quặt, thấp kém và lệ thuộc vào công nghiệp của nước Pháp đế quốc. Thiết bị, máy móc, công nghệ , tất cả đều nhập từ Pháp. Thực dân Pháp dựa vào nguồn lao động dồi dào và rẻ mạt, duy trì nền sản xuất thủ công lạc hậu, q uy mô nhỏ để khai thác tài nguyên thành nguyên liệu đưa về chế biến sản p hẩm ở chính quốc. Do vậy, thực trạng công nghiệp Việt Nam lúc đó là : tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quá nhỏ bé, công nghiệp hầu như không gắn với nông nghiệp và phục vụ phát triển nông nghiệp, quy mô sản xuất nhỏ, trình độ kỹ thuật thủ công lạc hậu. Mặc dù trong quá trình phát triển sau
  5. này, đ ặc điểm này có sự thay đổi song cho đến nay vẫn còn thể hiện khá đậm nét. Thời kì 1945-1954, nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp bảo vệ độc lập dân tộc. Về kinh tế, Đảng chú trọng ưu tiên phát triển nông nghiệp, thứ đến là thủ công nghiệp và thương nghiệp, công nghiệp chỉ được xếp vào hàng thứ tư trong cơ cấu kinh tế trong đó quan trọng nhất là công nghiệp chế tạo vũ khí. Thời kì khôi phục và cải tạo nền kinh tế 1955- 1960, công nghiệp đ ược hướng trọng tâm vào khôi phục lực lượng sản xuất và q uan hệ sản xuất với 2 loại hình doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp . Thời kì 1960-1986, cả nước tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh tế XHCN, đường lối phát triển kinh tế xuyên suốt của Đ ảng ( được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng III, các kì Đại hội sau tuy có m ột số điều chỉnh nhưng không lớn ) là : "…chủ yếu ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, trong đó điện phải đi trước một bước, cơ khí là trung tâm, than thép là lương thực của nền kinh tế quốc dân…" Công cuộc đổi mới cơ chế nền kinh tế của Việt Nam được mở đầu bằng Đ ại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ( 1986 ). Kinh tế Việt Nam kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đến giữa những năm 90 đã bước vào giai đoạn phát triển ổn đ ịnh và tăng trưởng cao, cơ cấu nền kinh tế quốc dân được chuyển đổi theo hướng tích cực. Những chủ trương, chính sách và biện pháp đổi mới của Đảng từ sau Đại hội VI đã tạo ra những bước chuyển biến tích cực, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp. Công nghiệp nói chung phát triển theo hướng gia tăng tương đối tỷ trọng các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, trong khi vẫn duy trì đ ược một số ngành công nghiệp nặng có tác dụng tích cực đối với nền kinh tế. Sản xuất công nghiệp đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, tạo tiền đề vững chắc hơn trong các năm sau. Đáng chú ý là trong những năm tiến hành đổi mới, nhờ có chính sách đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc b iệt là việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tháng 12 năm 1987
  6. đ ã mở rộng giao lưu hợp tác kinh tế, khoa học - kĩ thuật với nhiều nước trên thế giới, trình độ khoa học - công nghệ của Việt Nam đã có bước phát triển tích cực, cho phép nước ta bắt đầu đầu tư theo chiều sâu đối với một số ngành công nghiệp quan trọng đối với nền kinh tế. Chính sách mở cửa nền kinh tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã phát huy hiệu quả tích cực đối với sản x uất công nghiệp của cả nước. Giai đoạn 1996-2000 thành tựu của công nghiệp V iệt Nam có thể khái quát như sau : Một số ngành công nghiệp tiếp tục được sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, lựa chọn các sản phẩm ưu tiên và có lợi thế, có nhu cầu của thị trường để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ , đạt chất lượng cao hơn. N ăng lực sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp tăng đáng kể, công suất điện năng tăng trong 5 năm khoảng 1.470 MW, công suất khai thác dầu thô tăng 9,4 triệu tấn, công suất khai thác than tăng 216 triệu tấn, sản xuất thép tăng 1,4 triệu tấn, sản xuất xi măng tăng 9,8 triệu tấn, sản xuất giấy tăng 6 vạn tấn. Đến năm 2000, công suất chế biến đường có khoảng 82.000 tấn mía/ ngày, chế biến thuỷ sản trên 1000 tấn/ ngày, chế biến cao su 290 nghìn tấn mủ tươi, chế biến chè 90 nghìn tấn chè búp thô, chế biến hạt điều trên 220.000 tấn, chế b iến gỗ 2 triệu m3 gỗ/năm. Hiện đã hình thành 67 khu công nghiệp, khu chế x uất và khu công nghệ cao, thu hút đ ược nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư sản xuất kinh doanh. N hiều sản phẩm quan trọng có ý nghĩa chiến lược, có tác động lớn đến nhiều ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, đáp ứng nhu cầu trong nước, không những đã thay thế được hàng nhập khẩu mà còn đóng góp đáng kể vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu ( dầu thô tăng trên 16%, khai thác khí tăng 43%, đ iện tăng 14%….) Cơ cấu các ngành công nghiệp đ ã có chuyển dịch đáng kể, hình thành m ột số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp , khu chế xuất với nhiều cơ sở sản xuất có công nghệ hiện đại. Đến năm 2000, công nghiệp khai thác chiếm khoảng 15% tổng giá trị sản xuất toàn ngành trong đó khai thác dầu khí
  7. chiếm 11,2%, công nghiệp chế tạo chiếm 79%, trong đó công nghiệp sản xuất thực phẩm chiếm khoảng 23,6%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước, chiếm khoảng 6% trong đó công nghiệp điện chiếm 5,4%. G iá trị sản xuất công nghiệp tuy chưa đ ạt kế hoạch nhưng vẫn tăng với m ức khá cao, bình quân hàng năm tăng 13,5 %, trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 10%/ năm, công nghiệp ngo ài quốc doanh tăng 11,5%/năm, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,8%/năm. Năm 2000, công nghiệp quốc doanh chiếm khoảng 42% giá trị sản lượng toàn ngành, công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm khoảng 24,3% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nước ngoài chiếm 35,6%. G iá trị xuất khẩu hàng công nghiệp 5 năm đạt trên 34 tỷ USD, tăng từ 3 tỷ USD năm 2995 lên 10,1 tỷ USD năm 2000 và chiếm 66% tổng kim ngạch x uất khẩu cả nước. V ề kết quả năm 2001, theo báo cáo của Bộ Công nghiệp , giá trị sản xuất công nghiệp to àn ngành đạt 223,578 tỷ đồng, tăng 14,47% so với năm 2000. Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, công nghiệp quốc doanh Trung ương tăng 12,84 % nhờ nhiều ngành có tỷ trọng lớn và sản phẩm quan trọng vẫn tăng. Trong đó những ngành có mức tăng trên 10% gồm : điện sản xuất, than, thép và sản phẩm thép, động cơ điện các loại , máy công cụ, quạt điện, máy b iến thế, phân đạm, săm lốp ô tô, máy kéo, ắc quy, chất tẩy rửa, ống cứng và p hụ tùng, sản phẩm sứ các loại, mì ăn liền, dầu thực vật, xi măng..Công nghiệp q uốc doanh địa phương tăng 11,5% do nhiều địa phương có giá trị tăng, trong đó có cả Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh. K hu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tuy tỷ trọng chỉ chiếm 23.49% nhưng có mức tăng cao nhất trong các khu vực, một mặt do có thêm nhiều doanh nghiệp mới thành lập, mặt khác nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh năng động, hiệu quả. Riêng khu vực đầu tư nước ngoài, ngành khai thác d ầu khí chỉ tăng 4,2% do hạn chế khai thác và giá d ầu xuống thấp, nên tốc độ tăng của khu vực này chỉ đạt 13.7%, thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây.
  8. V ề xuất khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt khoảng 15,1 tỷ U SD, tăng 4,5% so với năm 2000; trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( trừ dầu mỏ ) chỉ tăng 3,2%, nguyên nhân chủ yếu là do giá xuất khẩu nhiều mặt hàng giảm. Xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp đạt kim ngạch 10,6 tỷ USD, tăng 4.9%, chiếm tỷ trọng 70,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, trong đó công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 5,1 tỷ USD, bằng thực hiện năm 2000; công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 5,5 tỷ USD, tăng 9,9 %. Một số mặt hàng chủ yếu xuất khẩu tăng so với năm 2000 là hàng d ệt may, đạt 2 tỷ USD, tăng 5,71%; hàng giày dép đạt 1,5 tỷ USD, tăng 2,4%. Trong bối cảnh kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, lại chịu tác động suy thoái của kinh tế thế giới và thiên tai bão lụt nặng nề, thì việc đạt được tốc độ tăng trưởng cao 14,47% là điều đáng khích lệ. 1 .2. Tính cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam Thị trường thế giới và khu vực ngày càng được mở rộng theo xu hướng tự do hóa. Điều đó cho phép Việt Nam thực hiện chiến lược CNH hướng ra xuất khẩu nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mình trong phân công lao đ ộng q uốc tế. Nhằm thu hút tối đa ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam, việc xem xét lợi thế so sánh của các ngành công nghiệp Việt Nam cũng như các những điểm yếu ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh về thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp là việc làm cần thiết và có ý nghĩa chiến lược. 1 .2.1. Lợi thế so sánh của công nghiệp Việt Nam Tài nguyên thiên nhiên : Các loại tài nguyên thiên nhiên ( khoáng sản, lâm sản, hải sản ) và các đ iều kiện tự nhiên ( thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, sông hồ, bờ biển, thềm lục đ ịa… ) là những yếu tố hoặc trở thành đối tượng lao động để phát triển các ngành khai thác chế biến, hoặc trở thành điều kiện để xây dựng và phát triển
  9. các ngành công nghiệp.Việt Nam khá đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, và nguồn lực này đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp . Cả nước có khoảng 7 triệu ha đất nông nghiệp và cây công nghiệp ( cà phê, cao su, bông , thuốc lá…) tạo ra nguồn nguyên liệu đa dạng cho công nghiệp chế biến. Tài nguyên khoáng sản Việt Nam tuy trữ lượng không lớn nhưng phong phú và đ a dạng với gần 100 loại, bao gồm cả kim loại và phi kim loại, tạo ra nguồn nguyên, nhiên liệu đa dạng cho công nghiệp phát triển. Việt Nam có một số lo ại khoáng sản có trữ lượng khá lớn cho phép khai thác và sử dụng lâu dài cho công nghiệp như than đá, d ầu khí, đá vôi, cát silic, boxit, quặng sắt, quặng apatit làm phân bón, v.v…Bên cạnh đó, nước ta có bờ biển dài, thềm lục địa rộng cho phép đánh bắt và nuôi trồng hải sản quanh năm, cung cấp cho các nhà máy chế biến hải sản xuất khẩu. Nguồn lao động dồi dào và trẻ : D ân số và lao động được coi là một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp nói riêng. Trước hết, dân số và mức sống của d ân cư tạo thành thị trường nội địa to lớn m à các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phải phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu. Thứ nữa, trình độ d ân trí , khả năng tiếp thu kỹ thuật mới của lao động tạo thành cơ sở quan trọng đ ể phát triển các ngành kỹ thuật cao. Những nước có nguồn lao động dồi d ào, trong cơ cấu công nghiệp phải chú ý đúng mức việc phát triển các ngành sử d ụng nhiều lao động để góp phần tạo việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp. V iệt Nam là nước đông dân, theo điều tra dân số tháng 4 năm 1999, dân số Việt Nam hiện là 76 triệu người. Với số dân này, Việt Nam là quốc gia đông d ân đứng hàng thứ hai ở khu vực Đông Nam A' ( chỉ sau Indonesia, vượt cả Philippin và Thái Lan ) và thứ 13 trên thế giới. Dân số Việt Nam thuộc loại trẻ, cơ cấu nhóm tuổi trong tổng dân số ở tuổi lao động chiếm khoảng 50,5%. Tốc độ gia tăng nguồn lao động trung bình 2,5% / năm. Hiện cả nước có khoảng 45
  10. triệu lao động, trong đó 25% ở thành thị, 75% ở nông thôn. Dân cư và nguồn lao động ở Việt Nam phân bổ không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồ ng bằng và ven biển . Dân số đông một mặt là lợi thế, nhưng mặt khác lại là trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân. Về thuận lợi Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, và rẻ so với các nước trong khu vực. Lực lượng lao đ ộng trẻ có khả năng tiếp thu nhanh các kĩ thuật và công nghệ mới tiên tiến, đặc biệt là các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, điện tử, chế tạo máy, sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường và các nguồn năng lượng mới. Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi V ị trí địa lý kinh tế của đất nước cũng là một lợi thế cần được xem xét khi xác định cơ cấu công nghiệp . Đó là một tất yếu trong điều kiện xây dựng nền kinh tế mở, tăng cường và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế. Nhiều nước có vị trí địa lý ở đầu mối của sự giao lưu kinh tế quốc tế, điều đó tạo thành lợi thế so với các quốc gia khác. V iệt Nam có bờ biển dài, nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, là bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương, có nhiều tuyến đường giao thông, hàng hải, hàng không từ Đông sang Tây; nhiều vịnh và cảng nước sâu thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, điều kiện giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực Đông Nam A' nói riêng và khu vực Châu A'- Thái Bình Dương nói chung đ ặc biệt thuận lợi. Điều này càng có ý nghĩa q uan trọng trong bối cảnh Châu A'- Thái Bình Dương đang là một khu vực kinh tế đầy triển vọng của thế giới. Tuy có những lợi thế cạnh tranh trên, nhưng trên thực tế chúng ta chưa khai thác có hiệu quả những điều kiện thuận lợi này. Hơn nữa, nền công nghiệp V iệt Nam đang đứng trước rất nhiều những thách thức và khó khăn trong quá trình phát triển. Những khó khăn và thách thức đặt ra đối với Việt Nam trong q uá trình phát triển nói chung và trong khả năng cạnh tranh thu hút FDI sẽ đ ược trình bày cụ thể trong phần tiếp sau.
  11. 1 .2.2. Những khó khăn và thách thức đang đặt ra Thiếu vốn đầu tư : N hững năm qua, tỷ lệ tích luỹ GDP tuy đã tăng khá từ 25% năm 1991 tăng lên 27,1% vào năm 1995, 27,7% vào năm 1996 , trung bình đạt 27,4% thấp hơn so với các nước trong khu vực. Trong tổng số vốn đầu tư, phần tiết kiệm ( tích luỹ trong nước ) cũng tăng từ 13,2% năm 1991 lên 21,4% năm 1995 , nhưng từ năm 1997 đến nay do tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ lại giảm thấp hơn 20%. Nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế trong những năm q ua vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực cũng như nhu cầu đầu tư cho phát triển công nghiệp. Đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước còn nhỏ, chỉ chiếm 1,5% tổng đầu tư toàn xã hội. Nguồn vốn tín dụng cho đầu tư tăng chậm. Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp dành cho đầu tư cũng còn thấp, do hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao. Vốn FDI chiếm gần 32% tổng vốn đầu tư cho phát triển của cả nước. Trong khi đó, nhu cầu vốn để thực hiện các dự án công nghiệp thường đòi hỏi chi p hí rất lớn, ví dụ dự án nhà máy lọc dầu D ung Quất cần 2 tỷ USD, dự án khu công nghệ cao Hoà Lạc bước đầu cũng cần trên 800 triệu USD. Đó là chưa kể đến những dự án, những chương trình không phải thuộc lĩnh vực công nghiệp nhưng liên quan chặt chẽ đến công nghiệp cũng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư không nhỏ. Vấn đề nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển và khả năng huy động vốn của Việt Nam hiện nay đang là một bài toán khá nan giải m à Chính phủ cần phải giải quyết trong những bước đi đầu tiên của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong đó có bài toán tăng cường thu hút nguồn vốn FDI để phát triển nền công nghiệp non trẻ. Kỹ thuật - công nghệ lạc hậu Đ ánh giá chung trình đ ộ công nghệ sản xuất của công nghiệp Việt Nam ( trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ) so với các nước công nghiệp p hát triển là lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ và được hình thành chắp vá từ nhiều
  12. nguồn khác nhau dẫn đến tình trạng tiêu hao năng lượng, nguyên liệu còn khá cao, chất lượng sản phẩm thấp và mẫu mã hàng hoá đơn điệu. Tỷ lệ công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm 60-70%, công nghệ tiên tiến, hiện đại chỉ chiếm 30-40%. Thậm chí ở nhiều nhà máy, hầu hết các trang thiết bị, máy móc, công x ưởng, dây chuyền sản xuất đ ược thiết kế và xây d ựng ở trình độ của những năm 50. Theo đánh giá của World Bank, hệ số đổi mới công nghệ của Việt N am từ 1960 mới chỉ đạt 3%/ năm và kho ảng 8 -10% năm giai đoạn từ 1991 đ ến nay. Phần lớn công nghệ tiên tiến hiện đại tập trung ở các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp . V iệt Nam hiện nay cũng như NIEs trước đây chủ yếu phải dựa vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Trình độ kỹ thuật - công nghệ yếu kém còn thể hiện ở khả năng phục vụ nông nghiệp của các ngành công nghiệp chế biến và chế tạo. Ngoại trừ một số sản phẩm vật tư, hoá chất phục vụ nông nghiệp đ ược sản xuất trong nước, công nghiệp Việt Nam vẫn chưa có khả năng đáp ứng cho nhu cầu cơ giới hoá nông nghiệp cũng như để phát triển tối đa tiềm năng các ngành công nghiệp chế biến nông sản và thực phẩm xuất khẩu. V ề chuyển giao công nghệ thông qua kênh FDI: chất lượng và hiệu quả chuyển giao công nghệ còn hạn chế do thiếu sự lựa chọn công nghệ tối ưu một cách chủ động, trình độ công nghệ không phù hợp và đặc biệt giá trị chuyển giao phần mềm và know-how còn rất thấp: 17% so với thiết bị là 83%. Do đó, hàm lượng kỹ thuật - công nghệ thể hiện trong giá trị sản phẩm là rất thấp, chỉ khoảng 20% trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này trên 70%. Bên cạnh đó, khả năng vận hành, thích nghi và làm chủ thiết bị công nghệ còn hạn chế, trình độ hiểu biết và kỹ năng thực hành của đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành chưa cao. Hiệu suất sử dụng do đó đạt thấp, thường chỉ đạt 70- 80% công suất thiết kế, đặc biệt trong ngành dệt chỉ đạt 50-60%. Trong nhiều doanh nghiệp hiện tượng đan xen giữa công nghệ lạc hậu, trung bình và tiên tiến còn khá phổ biến. Tốc độ đổi mới công nghệ còn thấp, công nghệ tiên tiến chủ yếu tập trung vào một số ngành quang trọng như dầu khí, điện lực, xi
  13. măng, dệt - may, da giầy, đồ uống, lắp ráp ô tô - xe máy, thiết bị điện, săm lốp, ắc quy,… Chất lượng của đội ngũ lao động còn rất thấp: V ề mặt thể lực, lao động Việt Nam còn yếu. Trong một thời gian dài, do thu nhập b ình quân đầu người của Việt Nam rất thấp, mức tăng GDP không theo kịp mức tăng dân số làm cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ, y tế…gặp không ít khó khăn, đời sống của người công nhân suốt một thời gian dài chưa được cải thiện là bao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đên sự phát triển về thể lực của đội ngũ lao động, ảnh hưởng đến sự hình thành tác phong công nghiệp với cường độ lao động lớn, khả năng chịu được áp lực công việc và khả năng tập trung cao đ ộ cho công việc của người công nhân trong thời đại mới. Về mặt trình đ ộ, kỹ năng của đội ngũ lao động ở Việt Nam còn thấp so với nhiều nước trong khu vực chứ chưa nói gì đến so với các nước trên thế giới. Theo số liệu thống kê của Bộ Công nghiệp , tính đến cuối năm 2001 thì đội ngũ lao động có trình độ, đ ã qua đào tạo gồm 227.604 người, trong đó :  Tiến sĩ, phó tiến sĩ : 321 người  Thạc sĩ : 87 người  Đ ại học và cao đẳng : 31.107 người  Trung học công nghiệp : 22.822 người  Công nhân kỹ thuật bậc 5 : 3.446 người  Công nhân kỹ thuật bậc 4 : 169.821 người  Công nhân lao động phổ thông : 180.396 người Cơ cấu trình độ đào tạo cũng bất hợp lý: tính riêng trong đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cứ 1 người tốt nghiệp đại học ( kỹ sư ) ứng với 1,75 người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và 2,3 công nhân. Như vậy, đào tạo đại học quá lớn so với đ ào tạo nghề dẫn đến tình trạng nhiều thầy, ít thợ. Các nước phát triển, thường tỷ lệ sinh viên đại học/ học sinh học nghề là 1/4 còn ở V iệt Nam thì
  14. ngược lại. Trong khi đó , một trong những biểu hiện yếu kém của hệ thống dạy nghề ở nước ta là đội ngũ giáo viên vừa mỏng lại vừa chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn.Với cơ cấu trình độ đ ào tạo như vậy nên việc áp d ụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn. Q uy mô giáo dục chuyên nghiệp , đ ào tạo nghề còn nhỏ bé, nội dung đ ào tạo chậm đổi mới, chưa gắn với thực tiến khiến cho lực lượng lao động có tay nghề đã mỏng lại không đáp ứng đ ược yêu cầu của kỹ thuật - công nghệ trong thực tiễn. Hiện nay nước ta có khoảng 2,5 triệu công nhân, trong đó 40% công nhân được đào tạo hệ chuẩn quốc gia, 40% được đào tạo ngắn hạn, số còn lại chưa qua đào tạo. Con số 2,5 triệu công nhân là quá nhỏ bé, chỉ chiếm khoảng gần 3% dân số và 6% lực lượng lao động cả nước. Trong khi đó, đ ào tạo nghề cho công nhân đã bị thu hẹp trong một thời gian dài. Từ năm 1986 đến năm 1996, tuyển sinh học nghề chính quy giảm 35%, giáo viên dạy nghề giảm 31%, số trường dạy nghề giảm 41%. Năm 1998 có 21 trường, dến năm 2000 đã tăng lên 150 trường nhưng vẫn còn rất nhỏ bé so với yêu cầu về số lượng và chất lượng đào tạo công nhân đang đặt ra. Bên cạnh đó, đào tạo công nhân kĩ thuật cao ( công nhân trí thức ) cho các ngành công nghiệp mũi nhọn còn rất hạn chế cả về số lượng và chất lượng dẫn đến thiếu hụt công nhân cho các ngành này. Theo dự báo đến 2010 riêng các khu công nghiệp và khu chế xuất cần 8 triệu công nhân kĩ thuật và người lao động có tay nghề cao, trong khi đó khả năng đào tạo của các trường và các trung tâm dạy nghề chỉ có thể đáp ứng khoảng 500.000 người / năm. Như vậy, lao động kỹ thuật ở Việt Nam đang thiếu nghiêm trọng. Q uản lý yếu kém: Một trong những vấn đề quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam là cơ chế quản lý và năng lực của cán bộ quản lý.
  15. Cơ cấu quản lý hiện hành buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải đối p hó với các luật lệ và quy định rất khác nhau, phức tạp, nhiều đầu mối làm lãng p hí thời gian và kinh phí để giải quyết các vấn đề về đầu tư, tài chính, mua bán sản phẩm. Cơ chế quản lý hiện nay còn hạn chế tính năng động, sáng tạo của các chủ doanh nghiệp. Cán bộ quản lý của Việt Nam nói chung và trong Công nghiệp nói riêng còn thiếu và phần lớn chưa được đào tạo có hệ thống. Nhiều người chưa có kinh nghiệm và năng lực cần thiết để điều hành doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc tổ chức q uản lý ở một số dự án liên doanh sau khi đi vào ho ạt động chưa chặt chẽ, thiếu kinh nghiệm gây thua thiệt cho phía Việt Nam; vai trò của bên Việt Nam bị lấn át do đội ngũ cán bộ quản lý bên Việt Nam kém về trình độ chuyên môn, thiếu tinh thần trách nhiệm và chưa được rèn luyện về bản lĩnh trong kinh doanh và tinh thần dân tộc. Phân loại hàng công nghiệp Việt Nam xét trên góc độ khả năng cạnh tranh: D ựa trên những lợi thế cạnh tranh và những khó khăn, trở ngại của nền công nghiệp Việt N am đ ã được phân tích ở trên, hiện tại hàng công nghiệp Việt N am xét dưới góc độ khả năng cạnh tranh có thể chia thành 3 nhóm : Nhóm 1 - Có khả năng cạnh tranh : may mặc, d ày dép, cấu kiện kim loại, chế biến nông lâm - hải sản, động cơ diesel nhỏ Nhóm 2 - Sẽ có khả năng cạnh tranh trong tương lai : dệt sợi, cơ khí ô tô - xe máy-thiết bị điện, điện tử - công nghệ thông tin, hoá chất - phân bón, giấy, sành sứ - thuỷ tinh, rượu bia nước giải khát, chế biến sữa, dầu thực vật, khai khoáng và chế biến khoáng sản. Nhóm 3 - K hả năng cạnh tranh yếu : thép, nhôm, cơ khí chế tạo 2. Bài học kinh nghiệm từ một số nước về thu hút FDI trong lĩnh vực công nghiệp
  16. 2 .1.Một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài Lịch sử phát triển kinh tế thế giới những năm qua cho thấy đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngo ài là một trong những yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và x ây dựng phát triển công nghiệp nói riêng. Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu kinh nghiệm về thu hút và sử dụng FDI trong lĩnh vực công nghiệp của một số nước có ít nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam là việc làm có ý nghĩa thiết thực. Nhưng trước hết về mặt lý thuyết cần phải nắm đ ược những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó có khái niệm và động cơ của FDI. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài : Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài là luồng đầu tư thực tế chảy vào đ ể có được một lợi ích qunả lý lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác ngoài nền kinh tế của nhà đầu tư. K hái niệm " đầu tư trực tiếp nước ngoài " được quy định cụ thể trong luật Đ ầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 ( luật sửa đổi bổ sung 2000 vẫn giữ nguyên ) như sau : " Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đ ưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này. " Mặc dù hiện nay có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa về FDI nhưng đều có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản nhất của FDI như sau: - Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do cac chủ đầu tư tự q uyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tình khả thi và hiệu quả kinh tế cao, ít có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. - Chủ đầu tư có thể điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành nếu là doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình.
  17. - Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận đ ược vốn, công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được. - N guồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ d ự án đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình ho ạt động , nó còn bao gồm vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được. N hận thức được sự cần thiết và vai trò quan trọng của nguồn vốn FDI, song vấn đề quan trọng đặt ra là làm thế nào để có thể thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này. Muốn vậy, trước hết cần xem xét các chủ đầu tư cần gì ở thị trường nước mình thông qua việc nghiên cứu động cơ của họ. Động cơ của đầu tư trực tiếp nước ngoài : Động cơ chung nhất của các chủ đầu tư nước ngoài là tìm kiếm thị trường đầu tư hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu được lợi nhuận cao và sự thịnh vượng lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, động cơ cụ thể của chủ đầu tư trong từng dự án lại rất khác nhau tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển của từng doanh ngiệp và mục tiêu của nó ở thị trường nước ngoài. Khái quát chung lại có ba động cơ cụ thể tạo nên ba định hướng khác nhau trong đầu tư trực tiếp nước ngoài: - Đầu tư đ ịnh hướng thị trường - Đầu tư đ ịnh hướng chi phí - Đầu tư đ ịnh hướng nguồn nguyên liệu. Đ ầu tư định hướng thị trường là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ sang các nước sở tại. Việc sản xuất sản phẩm cùng loại ở nước sở tại làm cho chủ đầu tư không cần đầu tư thiết bị, công nghệ mới lại có thể tận dụng được lao động rẻ, tiết kiệm chi phí vận chuyển qua đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Phần lớn các doanh nghiệp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các nước thực chất hoạt động như chi
  18. nhánh của công ty mẹ ở chính quốc. Việc xây dựng các nhà máy sản xuất, chế tạo hoặc lắp ráp tại các nước sở tại sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các công ty mẹ ở nước ngoài, đặc biệt một số nước như Trung Quốc, Ân Độ, Indonesia …có dung lượng thị trường lớn nên có sức hút mạnh mẽ đối với FDI. Đ ây cũng là chiến lược bành trướng của các công ty đa quốc gia để vượt qua hàng rào b ảo hộ của các nước sở tại. Để bảo hộ nền sản xuất non trẻ trong nước, hạn chế nhập khẩu, các nước đang phát triển đã dựng nên hàng rào thuế q uan, phi thuế quan. Vì thế, các nhà đầu tư nước ngo ài bằng hình thức đầu tư sản xuất ngay trên thị trường nước tiêu thụ đã tránh được hàng rào mậu dịch và b án được sản phẩm ngay trên thị trường nước đó. Đ ầu tư định hướng chi phí là hình thức đầu tư ra nước ngo ài nhằm giảm chi phí sản xuất thông qua việc tận dụng nguồn lao động rẻ và tài nguyên sẵn có ở nước nhận đầu tư nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Do sự phát triển không đồng đều về trình đ ộ sản xuất, về mức sống, thu nhập…giữa các nước nên đ ã tạo ra sự chênh lệch về điều kiện, giá cả và các yếu tố đầu vào của sản xuất. H ình thức FDI cho phép lợi dụng sự chênh lệch này để giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Ngo ài ra, vào những năm 70 khi cuộc khủng hoảng cơ cấu diễn ra, khiến các nước tư b ản phát triển phải di chuyển một bộ phận sản xuất có kỹ thuật đơn giản sử dụng nhiều lao động và gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu như các ngành sản xuất và gia công q uần áo, giày dép, hàng điện tử đơn giản, sơ chế khai khoáng quặng … sang các nước đang và chậm phát triển. Đ ầu tư định hướng nguyên vật liệu là hình thức đầu tư theo chiều dọc. Các cơ sở ở nước ngoài là một bộ phận cấu thành trong dây chuyền kinh doanh của công ty mẹ, có trách nhiệm khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ của nước sở tại cung cấp cho công ty mẹ để tiếp tục chế biến, hoàn chỉnh sản phẩm. Bằng hình thức đầu tư này, các chủ đầu tư có được thị trường cung cấp nguyên liệu ổ n định và giá rẻ vì nhiều nước đang phát triển có nguồn nguyên liệu dồi d ào nhưng không có điều kiện khai thác, chế biến do thiếu vốn và công nghệ. Định
  19. hướng đầu tư này thường xuất hiện trong các dự án khai thác dầu khí, tài nguyên thiên nhiên hoặc khai thác và sơ chế các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp ở các nước sở tại. 2 .2. Bài học kinh nghiệm từ một số nước về thu hút FDI trong lĩnh vực công nghiệp N hững thập niên gần đây, trong sự phát triển của một số nền kinh tế, ta thấy có sự tác động to lớn của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế khác nhau, thì sự tác động của FDI sẽ khác nhau về chiều hướng, mức độ, phạm vi, cũng như lĩnh vực cụ thể. Nhiều nước Châu A', tuy FDI chưa phải chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư nhưng nó lại là yếu tố then chốt đ ể các nước này thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. V à, việc các nước này chú trọng thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp là cơ sở chủ yếu để họ thực hiện bước chuyển từ một nước nông nghiệp, khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu là chính sang các nước sản xuất và xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp chế tạo. Tham khảo kinh nghiệm về thu hút và sử dụng FDI trong lĩnh vực công nghiệp của một số nước có ít nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam là việc làm cần thiết. K inh nghiệm của các nước chính là cơ sở để chúng ta tham khảo, học hỏi những thành công và né tránh những điều chưa hợp lý mà các nước đi trước vấp phải. Tuy nhiên, trong giới hạn của khoá luận, tôi chọn ba nước tương đối đ iển hình cho từng loại kết quả đạt được, và kinh nghiệm của họ có thể thích hợp với yêu cầu tham khảo của Việt Nam. Kinh nghiệm của ba nước mà tôi nêu lên dưới đây bao gồm cả kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm chưa thành công. 2 .2.1. Kinh nghiệm của Thái Lan Thái Lan là một trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt N am về điều kiện tự nhiên ( đ ất đai, khí hậu, tài nguyên ), về x ã hội ( một số
  20. tập quán, nhân văn, dân số đông và phần lớn sống ở nông thôn, dung lượng thị trường tiềm năng lớn ), về phát triển kinh tế ( công nghiệp còn ở trình độ phát triển thấp ). Những thập niên gần đây, nền kinh tế Thái Lan đã đạt được sự phát triển thuộc loại nhanh trong khu vực, trong đó có sự đóng góp đáng kể của FDI. Trong lĩnh vực công nghiệp , Chính phủ Thái Lan đã rất khéo léo trong việc kết hợp đầu tư trực tiếp nước ngo ài với chiến lược công nghiệp hóa của từng thời kì. Chính phủ Thái Lan đã có chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn trong nước cùng tham gia đầu tư với các dự án công nghiệp có vốn đầu tư nước ngo ài. Tỷ lệ vốn trong nước của các dự án này lên tới 71,7% ( thời kì 1960-1985 ), 71,6% ( thời kì 1986 -1995 ). Về chính sách tiếp nhận FDI nói chung, Thái Lan được đánh giá là m ột trong những nước có chính sách thông thoáng và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư . Tuy nhiên , phần kinh nghiệm mà tôi muốn nêu tiếp ở đây nhấn mạnh hơn một số những vấn đề chưa hợp lý trong thu hút và sử dụng FDI đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp, vì đây là nơi x uất phát của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997. Thứ nhất, ngay từ thời kì đầu tiến hành công nghiệp hóa, xuất phát từ mong muốn phát triển nhanh nên Thái Lan đã triển khai đầu tư thiếu quy hoạch hoặc theo quy hoạch mất cân đối giữa phát triển sản xuất với xây dựng cơ sở hạ tầng, chú trọng quá nhiều đến công nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên mà ít quan tâm đến vấn đề củng cố và b ảo vệ môi trường. Phần lớn các d ự án phát triển công nghiệp đều tập trung ở thủ đô Bangkok và các vùng lân cận. Điều này, một mặt làm cho các cơ sở hạ tầng ở Bangkok đã không thể đáp ứng nổi nhu cầu, gây cản trở lớn đối với hoạt động sản xuất, chất thải và khí thải công nghiệp đã khiến cho Bangkok phải chịu sức ép lớn nhất về môi trường. Mặt khác, một thời kỳ d ài Chính phủ Thái Lan khuyến khích các nhà đ ầu tư đặt cơ sở gần thủ đô và sự tập trung này cuối cùng đã d ẫn đến sự bất hợp lý trong bố trí đầu tư theo đ ịa bàn. Thứ hai, do đầu tư thiếu cân đối nên có một số ngành công nghiệp chủ chốt chịu ảnh hưởng to lớn của các nhà đầu tư nước ngoài . Điều này d ẫn đến

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản