
LỜI GIỚI THIỆU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một
bức tranh tổng thể là thế giới với gần một nửa số dân sống dưới 2USD*/ngày
và cứ 8 trong số 100 trẻ em không sống được đến 5 tuổi. Vì vậy một phong
trào sôi nổi và rộng khắp trên thế giới là phải làm như thế nào để đẩy lùi
nghèo đói. Còn Việt Nam thì sao? Trong những năm gần đây, Việt Nam được
đánh giá là một trong những nước có công tác xoá đói giảm nghèo tốt nhất
theo tiêu chuẩn và phương pháp xác định đường nghèo khổ của WB, tỷ lệ
nghèo ở Việt Nam giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998 và
hiện nay còn khoảng 30%. Theo tiêu chuẩn quốc gia tỷ lệ nghèo đói của nước
ta giảm từ 30,01% năm 1992 xuống 11% năm 2000. Tuy quy mô đói nghèo
toàn quốc giảm nhanh. Nhưng thực trạng cho thấy, Việt Nam vẫn là một nước
nghèo. Con số các hộ bị tái nghèo là rất lớn bình quân hàng năm khoảng
50.000 hộ (riêng năm 1996 và 1997 mỗi năm khoảng gần 100.000 hộ do bão
lụt. Nếu so sánh tình trạng đói nghèo của nước ta với các nước trên thế giới
thì tính bức xúc của nó là rất lớn, ngưỡng nghèo của Việt Nam vẫn xa với
ngưỡng nghèo của thế giới.
2. Mục đích nghiên cứu
Với một tỷ lệ không nhỏ số dân đang sồng trong cảnh cùng cực, Việt
Nam sẽ khó thực hiện được tiến trình CNH-HĐH đất nước. Vấn đề đặt ra là
phải làm sao đẩy lùi được tình trạng đói nghèo xuống. Nhưng muốn có những
chính sách, biện pháp xoá đói giảm nghèo hiệu quả thì nhất thiết phải hiểu
được những nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng nghèo đói của Việt Nam.
Nhận thức được yêu cầu bức thiết đó, nghiên cứu này sẽ tập trung đi sâu vào
thực trạng nghèo đói ở Việt Nam, các nguyên nhân làm cho một số người rời
vào cảnh khối cùng, các mối quan hệ giữa nghèo đói với công bằng xã hội, sự
phân hoá giàu nghèo giữa các vùng khác nhau. Nghiên cứu này còn giúp ta
hiểu thêm mức độ, tầm ảnh hưởng của nghèo đói ở Việt Nam cũng như nhiều
nước trên thế giới. Nó ảnh hưởng như thế nào, tác động ra sao đến chất lượng
cuộc sống của người dân, cũng như sự cải thiện vị thế của quốc gia. Cuối
* 2USD tí nh theo PPP

cùng, nghiên cứu sẽ đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng để giúp
xoá đói giảm nghèo hiệu quả hơn.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ chỉ ra tổng quan của sự nghèo đói trên thế giới và chủ
yếu xoáy sâu vào tình trạng nghèo đói ở Việt Nam, trong những năm gần đây.
Đối tượng được đề cập đến chính là những người nghèo đói. Họ là ai và mức
khốn khổ của họ đến đâu, cần phải làm những gì cho cuộc sống của họ tốt đẹp
hơn. Thông qua các ngưỡng nghèo, các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo như chất
lượng của cuộc sống, mức nghèo đến đâu, tình trạng giáo dục ra sao, sự đảm
bảo y tế như thế nào, tình trạng giáo dục ra sao, sự đảm bảo y tế như thế nào.
Nó sẽ xác định được các đối tượng rơi vào diện nghèo, diện đói.
4. Các câu hỏi nghiên cứu
Để đánh giá chính xác về tình trạng của nghèo đói ta cần trả lời các câu
hỏi:
- Đói nghèo là gì?
- Đói nghèo được biểu hiện ở những khía cạnh nào?
- Các chỉ tiêu và chuẩn mực để xác định và đánh giá đói nghèo?
- Thực trạng đói nghèo của Việt Nam trong những năm gần đây?
- Các nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói?
- Các biện pháp khắc phục?
5. Phương pháp nghiên cứu
Để phân tích được tình trạng nghèo đói thì ta cần dùng một số phương
pháp như phân tích, đánh giá, so sánh, thống kê và mô tả nhằm phân tích xoáy
sâu vào các nhân tố tác động đến sự nghèo khó, đánh giá xem mức độ nghèo
đói đến đâu, diễn biến của nó như thế nào là phạm vi ảnh hưởng của nó ra
sao. Mặt khác cần phải có sự kết hợp với các số liệu thống kê để phản ánh
tình trạng nghèo đói một cách trung thực hơn, chính xác hơn. Qua đó cho
phép ta so sánh được các người nghèo, các nhóm dân cư nghèo, các vùng
nghèo và các quốc gia nghèo khác nhau.
6. Kết cấu của đề tài:

Đề tài sẽ được chia làm 3 phần:
Chương 1: Đói nghèo - các nguyên nhân dẫn tới đói nghèo.
Chương 2: Những nhân tố tác động đến đói nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm xoá đói giảm nghèo.
Do phạm vi nghiên cứu rộng, năng lực và kinh nghiệm bản thân có hạn,
đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em mong nhận được
sự chỉ dẫn, gợi ý, nhận xét của thầy cô để bổ sung và hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên: Nguyễn Vũ Phúc
Lớp K35-F1 trường Đại học Thương mại

Chương 1: Tổng quan của đói nghèo
1.1. Khái niệm về đói nghèo
1.1.1. Định nghĩa về đói nghèo
Đói nghèo từ tiếng nói của chính người nghèo.
Tiếng nói của người nghèo cho ta những cảm nhận cụ thể, rõ ràng nhất
về các khía cạnh của nghèo đói (nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng
về vật chất mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo dục và y tế. Một người
nghèo ở Kênia đã nói về sự nghèo đói: “Hãy quan sát ngôi nhà và đếm xem
có bao nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo
tôi đang mặc trên người. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy. Cái
mà ông thấy chính là nghèo đói”. Một nhóm thảo luận Braxin đã định nghĩa
về đói nghèo là: “Tiền lương thấp và thiếu việc làm, và cũng có nghĩa là
không được hưởng thụ về y tế, không có thức ăn và quần áo”. Ngoài ra, khái
niệm đói nghèo còn được mở rộng để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương,
không có tiếng nó và quyền lực. Từ tiếng nói của người nghèo, các nhà
nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về đói nghèo. Tuỳ thuộc vào cách tiếp
cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà ta có
các quan điểm khác nhau về nghèo đói.
Quan niệm trước đây
Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp.
Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người.
Quan niệm này có ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo
dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo. Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác
định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống. Thu nhập
thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho
chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo. Do đó,
quan niệm này còn rất nhiều hạn chế.
Quan điểm hiện nay
Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo
đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp
cận khác nhau:

- Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu Á Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái
niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập
quán của địa phương.
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức
trung bình của cộng đồng.
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng
cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ
yếu là trong lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,
một vùng.
- Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự
nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo.
+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người
như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng dồng và được
nuôi dưỡng tạm đủ.
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng
chi tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác
định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phí
lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở
nước này hoặc nước khác.
Quan niệm của Việt Nam

