TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG --------***--------- TRẦN NGỌC HÀ SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU PHẨM TRONG BÁO CHÍ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI.
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC MÃ SỐ: 60 32 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM THÀNH HƯNG HÀ NỘI: 2008
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7. Cấu trúc của luận văn PHẦN NỘI DUNG Trang 1 1 2 3 4 5 5 6 7
Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỂU PHẨM VÀ BIẾN THỂ 7
CỦA NÓ
7 7
I. Quá trình hình thành và phát triển của tiểu phẩm báo chí 1.1 Sự xuất hiện của tiểu phẩm với tư cách là một thể loại trên báo chí 1.2 Vị trí của tiểu phẩm trong hoạt động báo chí hiện đại II. Khái niệm 9 10
2.1 Các quan niệm khác nhau về tiểu phẩm 2.2 Khái niệm về tiểu phẩm và tiểu phẩm báo chí 2.3 Những đặc trưng cơ bản của tiểu phẩm III. Biến thể của tiểu phẩm 3.1 Quan niệm về biến thể của tiểu phẩm 3.2 Sự xuất hiện của tiểu phẩm biến thể trên báo chí Việt Nam hiện 10 11 15 17 17 18
đại
Chƣơng II: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU 20
PHẨM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX QUA PHONG CÁCH CỦA
HAI TÁC GIẢ NGUYỄN AÍ QUỐC VÀ NGÔ TẤT TỐ
20
I. Đôi nét về diện mạo báo chí và tình hình sử dụng tiểu phẩm trên báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX II.Phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh 26
2.1 Về sự nghiệp báo chí cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh 26
2.2 Những nét độc đáo trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh 27
31
2.2.1 Vận dụng sáng tạo các thủ pháp của sáng tác văn học vào tiểu phẩm 2.2.2 Độc đáo trong sử dụng ngôn từ 2.2.3 Độc đáo trong cách rút tít cho tiểu phẩm III.Tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố 3.1 Sơ lược tiểu sử tác giả Ngô Tất Tố 3.2 Ngô Tất Tố nghề văn và nghiệp báo 3.3 Nội dung tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố 3.4 Những đặc trưng và sự sáng tạo trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố 3.4.1 Sử dụng có hiệu quả bút pháp trào phúng, châm biếm 3.4.2 Sự độc đáo về việc sử dụng giai thoại, điển tích trong tiểu 33 35 38 38 39 41 43 43 44
phẩm
3.4.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố 46
Chƣơng III: BIẾN THỂ CỦA TIỂU PHẨM TRÊN BÁO CHÍ 50
VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
50 52
52 53 55 56 59
59 63 70
75 85
86 88 91
I. Diện mạo báo chí Việt Nam đương đại II Biến thể của tiểu phẩm và hiệu quả của nó trong quá trình tạo lập và định hướng dư luận xã hội 2.1 Thử tìm một khái niệm 2.2 Tình hình sử dụng biến thể tiểu phẩm trên báo in hiện đại 2.3 Sự đa dạng về đề tài, nội dung phản ánh của biến thể tiểu phẩm 2.4 Hiệu quả truyền thông của tiểu phẩm biến thể III. Một số tác giả tiêu biểu về phong cách sử dụng tiểu phẩm biến thể 3.1. Nhà báo Hữu Thọ 3.2 Biến thể trong tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện 3.3 Lý Sinh Sự và sự tiếp nối chuyên mục “Nói hay đừng” trên báo Lao động 3.4 Độc đáo tiểu phẩm biến thể của Bút Bi trên báo Tuổi trẻ IV. Đặc điểm về phong cách, cấu trúc và kết cấu của tiểu phẩm biến thể 4.1 Chủ đề, đề tài của tiểu phẩm biến thể 4.2 Phong cách ngôn ngữ của tiểu phẩm biến thể 4.3 Đặc điểm về kết cấu, dung luợng và vị trí tiểu phẩm biến thể trên mặt báo V. Định danh tiểu phẩm biến thể 97
5.1 Tiểu phẩm chính luận-thời đàm 5.2 Tiểu phẩm đối thoại giả tưởng và phỏng vấn giả tưởng 5.3 Tiểu phẩm ngụ ngôn 5.4 Tiểu phẩm tiếu lâm 97 98 99 100
101 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài.
Báo chí Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ trên tất cả các phương
diện, từ kỹ thuật làm báo, công nghệ làm báo, công tác đào tạo báo chí lẫn
khoa học và lý luận về báo chí.
Sự đa dạng của bức tranh báo chí có sự đa dạng của các loại hình báo
chí cũng như tính phong phú của các thể loại báo chí. Báo chí hiện đại không
đóng khung trong các dạng thức thể loại đã từng phôi thai xuất hiện và định
hình trong lịch sử. Thực tiễn nghề báo cho thấy xuất hiện ngày càng nhiều thể
loại mới hoặc những thể loại cũ được cách tân tạo nên những biến thể mới mà
khoa học báo chí chưa thực sự khảo sát và tổng kết hết. Tiểu phẩm báo chí là
một trong những dạng thức hết sức thú vị và đặc biệt đó.
Tiểu phẩm báo chí đã xuất hiện khá lâu trong lịch sử báo chí thế giới lẫn
báo chí Việt Nam. Nhiều cây bút đã thành danh và gắn tên tuổi của mình với
thể loại vừa có tính trào lộng, vừa có tính chiến đấu này. Một mặt đặc trưng
với lối viết giàu chất văn trên cái nền của sự kiện và thông tin mang tính báo
chí đã làm cho tiểu phẩm ngày càng phát triển mạnh mẽ và có một chỗ đứng
xứng đáng qua tất cả các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử báo chí.
Tất nhiên hoàn cảnh xã hội thay đổi, thông tin báo chí theo đó cũng thay đổi.
Sự vận động, đổi mới của tiểu phẩm cho phù hợp với tâm lý bạn đọc đang là
một xu thế tất yếu. Trên báo in, đa phần các báo lớn, nhỏ, kể cả báo địa
phương đều xuất hiện tiểu phẩm với tư cách là một bài viết trội có thế mạnh.
Tiểu phẩm trên báo chí ngày nay tiết kiệm thời gian cho bạn đọc nên kết cấu
vô cùng ngắn gọn, linh động và không kém phần sâu sắc.
Tuy tiểu phẩm xuất hiện đã lâu trên báo chí nhưng hệ thống lý luận về
nó vẫn chưa thực sự phong phú, có tính hệ thống và đầy đủ. Đặc biệt những
biến thể của nó trên báo chí Việt Nam hiện đại thì càng không thấy đề cập đến
từ góc độ lý luận, với những đặc trưng, đặc điểm trên phương diện cấu trúc tác
1
phẩm, đồng thời cũng chưa thấy có những nghiên cứu về hiệu quả báo chí,
hiệu quả thông tin trên phương diện nội dung. Chính vì vậy, luận văn này sẽ
góp phần nghiên cứu thêm tiểu phẩm và biến thể của nó để góp thêm một góc
nhìn lý luận và thực tiễn đầy đủ và toàn diện hơn về tiểu phẩm và những biến
thể của nó. Trong lĩnh vực báo chí học xuất phát từ sự thiếu vắng, mỏng manh
của lý luận thể loại, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này với chút hy vọng
góp phần hoàn thiện hơn lý luận về tiểu phẩm báo chí cả trong lịch đại và đồng
đại.
Chính vì những đòi hỏi từ thực tiễn nghiên cứu về tiểu phẩm và các biến
thể của nó trong sự vận động đi lên, xuất hiện nhiều điểm mới mẻ như vậy nên
mặc dầu biết sẽ gặp nhiều khó khăn trong nghiên cứu, chúng tôi vẫn cố gắng lý
giải xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện tại có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu nào dày dặn hoặc
có những giáo trình, cuốn sách nào về lý luận cũng như thực tiễn riêng về thể
loại tiểu phẩm cũng như sự vận động của nó để dẫn đến sự ra đời của các biến
thể trên báo chí Việt Nam hiện đại. Nếu như các thể loại khác như tin tức,
phóng sự, phỏng vấn, điều tra…đã có nhiều công trình nghiên cứu, các giáo
trình và cả sách công cụ, kỹ năng thì tiểu phẩm báo chí và các biến thể của nó
có thể nói chưa có một công trình hoàn chỉnh nào.
Nghiên cứu về tiểu phẩm trong lịch sử báo chí, đa phần các tác giả đi sâu
vào nghiên cứu phong cách tiểu phẩm của các nhà báo cụ thể. Chẳng hạn như
phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh, phong cách tiểu phẩm Ngô Tất Tố, Hữu
Thọ, Lý Sinh Sự...Tiêu biểu như TS Phạm Thành Hưng với: “Ảnh hưởng qua
lại giữa văn học và báo chí qua tiểu phẩm của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất
Tố”; thạc sỹ Đỗ Chỉnh với tiểu luận: “Vài suy nghĩ về tiểu phẩm trên báo chí
của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố”; Luận văn thạc sỹ của Trần Xuân Thân
với: “Phong cách hài trong các tiểu phẩm báo chí hiện đại qua ba nhà báo Lý
2
Sinh Sự, Lê Thị Liên Hoan, Thảo Hảo”. Khóa luận cử nhân của Phan Giang
Liên với : “Tìm hiểu thể loại tiểu phẩm trong di sản báo chí của Hồ Chủ
Tịch”…
Những nghiên cứu chung về tiểu phẩm báo chí có tiểu luận của PGS.TS Tạ
Ngọc Tấn với : “Tiểu phẩm báo chí (từ khái quát đến tác giả tiêu biểu- Hồ Chí
Minh) PGS. TS Dương Xuân Sơn có một chương về tiểu phẩm trong giáo trình
“Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật”.Trong một số giáo trình của Phân
viện báo chí tuyên truyền phần thể loại cũng có đề cập đến tiểu phẩm báo
chí…
Như vậy, việc nghiên cứu tiểu phẩm báo chí đã có những nền móng nhất
định, song để nghiên cứu và gọi tên biến thể của tiểu phẩm thì chưa thấy đề
cập nhiều.Các tài liệu nói về biến thể của tiểu phẩm báo chí hiện đại đặt trong
sự vận động và phát triển của nó cho tới nay vẫn chưa có được một công trình
nghiên cứu hoàn chỉnh.
Thừa hưởng những kết quả nghiên cứu quan trọng nói trên, chúng tôi xem
đây như là những nền móng vô cùng quan trọng để tiếp tục nghiên cứu thêm,
làm sâu sắc và phong phú hơn kho tang lý luận về thể loại tiểu phẩm cũng như
các biến thể của nó trong khoa học về báo chí nói chung trong đề tài luận văn
thạc sỹ khoa học báo chí “Sự vận động và phát triển của thể loại tiiểu phẩm
trong báo chí Việt Nam hiện đại”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Như đã trình bày, tiểu phẩm báo chí trong sự vận động và phát triển của nó
rất cần một sự nghiên cứu và tổng kết từ thực tiễn cho đến lý luận một cách
đầy đủ để bổ sung vào hệ thống lý luận về thể loại trong báo chí học. Vì lẽ đó,
mục đích và nhiệm vụ của Luận văn này sẽ góp phần vào việc tập trung khái
quát và hệ thống hoá một cách tương đối đầy đủ các vấn đề lý luận chung về
tiểu phẩm. Trên cơ sở đó, luận văn cũng sẽ đi tìm và “giải mã” những bí ẩn
của thể loại, cũng như chỉ ra những vấn đề lý luận mới về Biến thể của tiểu
3
phẩm trên báo chí Việt Nam hiện đại. Từ kết quả của sự tập hợp và phân tích
thực tiễn thể loại,chúng tôi cố gắng chỉ ra những đặc trưng, kết cấu cũng như ý
nghĩa nội dung của biến thể tiểu phẩm để vận dụng nó trong đời sống báo chí
đương đại. Không chỉ trên phương diện lý luận, luận văn cũng sẽ tiếp cận trên
cả những kỹ năng, phương pháp sáng tạo của tiểu phẩm và biến thể của nó với
mong muốn không chỉ trang bị kiến thức lý luận mà cả kỹ năng cho tất cả
những ai quan tâm đến thể loại báo chí sinh động mà hấp dẫn này. Cùng với ý
tưởng đó, trên cơ sở nhận diện những đặc trưng cơ bản và những nét mới của
tiểu phẩm trên báo chí Việt Nam hiện đại, mục tiêu của luận văn còn là sử thử
nghiệm chính danh hóa các loại tiểu phẩm, phân loại và “đặt tên” cho biến thể
tiểu phẩm.
Dẫu biết đây là một công việc khó khăn và chắc chắn sẽ còn nhiều bàn cãi,
song luận văn đã đặt ra một nhiệm vụ như vậy. Chúng tôi sẽ cố gắng giải quyết
trong tầm nhận thức và kiến thức của một học viên cao học và trong khuôn
khổ cho phép của một luận văn thạc sỹ khoa học báo chí.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu.
Lịch sử báo chí Việt Nam đã để lại nhiều cây bút tiểu phẩm tên tuổi, nhưng
trong phạm vi và như tên gọi của luận văn là “Sự vận động và phát triển của
tiểu phẩm trong báo chí Việt Nam hiện đại” thì sẽ là một “sân chơi” quá rộng
mà tác giả luận văn không thể nào khái quát và kham nổi. Vậy nhưng để thấy
được sự vận động của nó luận văn phải đặt tiểu phẩm trong dòng chảy chung
từ khi báo chí Việt Nam ra đời. Nói cách khác sẽ quy chiếu vấn đề nghiên cứu
trong cả cách nhìn lịch đại lẫn đồng đại. Cũng do phạm vi rộng lớn như vậy
nên luận văn lựa chọn khảo sát phong cách của các tác giả tiêu biểu trong quá
khứ, mà cụ thể là hai tên tuổi không thể không nhắc đến là Nguyễn Ái Quốc và
Ngô Tất Tố. Từ sự khảo sát này để dẫn đến sự so sánh diện mạo tiểu phẩm báo
chí một thời để thấy sự “vận động” và thay đổi những phong cách tiểu phẩm
của một số cây bút hiện tại như Hữu Thọ, Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự, Bút Bi
4
trên các tờ báo xuất hiện nhiều thể loại này như Lao Động, Nhân dân, Tuổi trẻ,
Thể thao Văn hóa, Pháp luật Việt Nam…
Như vậy Phạm vi nghiên cứu của Luận văn chủ yếu tập trung vào hai giai
đoạn. Một là trên diện mạo báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX trên
cơ sở khảo sát các tác giả tiêu biểu, cụ thể, luận văn sẽ tập trung vào các nhà
báo Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố. Giai đoạn thứ hai, luận văn khảo sát về những
biến thể của tiểu phẩm trên báo chí hiện đại, cũng tập trung vào một số tác giả
tiêu biểu như Hữu Thọ, Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự, Bút Bi... Đối tượng mà luận
văn tập trung nghiên cứu là tiểu phẩm báo chí và các biến thể của nó, thông
qua khảo sát các tác phẩm của các nhà báo kể trên để nhận diện đặc trưng rồi
chỉ ra các biến thể của tiểu phẩm báo chí là gì.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên nền tảng và cơ sở lý luận của Chủ nghĩa
duy vật biện chứng Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Báo chí cách
mạng và nhiệm vụ của báo chí cách mạng.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh các tác phẩm báo chí và các tác
giả liên quan đến phạm vi, đối tượng và đề tài nghiên cứu qua việc hệ thống
hóa tài liệu và các tác phẩm báo chí.
- Nghiên cứu văn bản, cụ thể là tiếp cận văn bản tiểu phẩm của các tác giả
liên quan trong hoàn cảnh xã hội xuất hiện tiểu phẩm
- Lấy mẫu và số liệu để khảo sát tần suất xuất hiện của tiểu phẩm cũng như
có những nghiên cứu nhỏ bằng phương pháp điều tra xã hội học về tâm lý, thái
độ từ thực tiễn công chúng trong việc tiếp nhận thể loại tiểu phẩm và các biến
thể của tiểu phẩm báo chí.
- Dựa trên nền tảng lý luận, các sách vở, giáo trình có đề cập đến vấn đề mà
luận văn quan tâm nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
5
Về ý nghĩa lý luận, luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm và hệ thống hoá lại
những kiến thức về thể loại tiểu phẩm báo chí. Đặc biệt sẽ bổ sung những
thông tin lý luận ít nhiều mới mẻ về các biến thể của nó vào hệ thống lý luận
tiểu phẩm nói chung. Cùng với mục tiêu đó luận văn triển khai theo hướng
khẳng định lại vai trò, vị trí và hiệu qủa thông tin của tiểu phẩm báo chí và
những biến thể của nó mang lại trong hoạt động báo chí hiện nay.
Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn sẽ là tài liệu góp phần để các bạn sinh viên,
học viên cao học và những ai quan tâm đến tiểu phẩm và các biến thể của tiểu
phẩm tìm hiểu để phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu và hoạt động
chuyên môn của mình.
Mặt khác, luận văn cũng sẽ gọi tên, chỉ ra đặc điểm, cách viết, cấu
trúc...của các biến thể tiểu phẩm để những người làm báo có thể vận dụng nó
vào trong hoạt động chuyên môn cho nghề báo.
7. Cấu trúc của luận văn.
Luận văn được cấu trúc như sau
+ Phần mở đầu
+ Phần nội dung: Bao gồm 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tiểu phẩm và những biến thể của nó
Chƣơng 2: Sự hình thành và phát triển của tiểu phẩm nửa đầu thế kỷ XX
qua phong cách hai tác giả: Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố.
Chƣơng3: Biến thể của tiểu phẩm trên báo chí Việt Nam đương đại.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục.
6
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỂU PHẨM VÀ BIẾN THỂ CỦA NÓ
I. Quá trình hình thành và phát triển của tiểu phẩm báo chí.
Sự xuất hiện của tiểu phẩm với tƣ cách là một thể loại trên báo chí.
Khá nhiều các tài liệu đều cho rằng tiểu phẩm báo chí xuất hiện vào khoảng
thế kỷ XVIII. Và như vậy nó đã xuất hiện được hơn 200 năm có lẻ. Nhiều nhà
nghiên cứu báo chí cho rằng: Tiểu phẩm xuất hiện trong cuộc cách mạng tư
sản Pháp lần thứ nhất cuối thế kỷ 18. Báo chí Pháp gọi thể loại này là
Feuilleton. Ban đầu đa phần các nhà văn dùng dạng thức này như một thứ vũ
khí có tính chiến đấu cao để đả kích và công phá vào mặt trận tư tưởng của
những thế lực thù địch. Một số tài liệu báo chí Xô Viết lại cho rằng tiểu phẩm
ra đời vào những năm 60- 70 của thế kỷ XVIII với sự xuất hiện của các bài
viết có tính châm biếm của Nôvicốp và Giécxen trên báo chí Nga. Quan điểm
này thì cho rằng ở Pháp tiểu phẩm xuất hiện muộn hơn, nghĩa là đến đầu thế
kỷ XIX mới xuất hiện gắn với các bài viết của Cha đạo Julien Geoffroy
Các bài báo dạng này đều gắn với tên tuổi các nhà văn, nhà báo nổi tiếng và
đều nhằm theo mục tiêu chung là phê phán hiện thực xã hội thối nát đương
thời. Các cây bút tiểu phẩm nổi tiếng được nhắc đến nhiều trong lịch sử báo
chí là Tuốc-ghi-nhê-ép; Sê-đrin; Ghéc- xen; Goóc- ky; Đéc-mu- lanh; Brít-sot;
An-na-tôn Frăng; Lỗ Tấn…Nhiều nhà hoạt động cách mạng và là những lãnh
tụ của giai cấp công nhân thế giới cũng đã sử dụng tiểu phẩm như một thứ vũ
khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh với những thế lực, giai cấp thống trị
phản động.
Dẫn chứng là C.Mác đã từng ra báo và đã từng bị cấm hoạt động báo chí,
thậm chí còn bị giai cấp tư sản đàn áp hoạt động báo chí của mình. Lịch sử còn
ghi lại sự kiện trước phiên tòa bồi thẩm ngày 7 tháng 2 năm 1848 xử những
người chịu trách nhiệm chính ở tờ báo Neue Rheinnische Zeitung (Báo Ranh
7
Mới) thì từ hàng ghế bị cáo, C.Mác đã nói rằng: “Báo chí phải chống lại một
hiến binh nhất định, một viên công tố nhất định”. Và trong suốt thời gian tồn
tại của tờ Ranh Mới. C. Mác và F.Ăng ghen đã viết rất nhiều tiểu phẩm phê
phán và đả kích sâu cay vào kẻ thù của cách mạng.
Còn ở Việt Nam, do các điều kiện lịch sử xã hội chi phối nên báo chí ra đời
khá muộn. Những tờ báo đầu tiên của Việt Nam xuất hiện vào khoảng giữa thế
kỷ XIX. Tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam là Gia Định Báo
cũng mãi đến ngày 15 tháng 4 năm 1865 mới ra đời. Cũng chính vì vậy mà
tiều phẩm báo chí cũng xuất hiện khá muộn màng so với lịch sử của thể loại
này trong báo chí thế giới. Các tài liệu nghiên cứu cho thấy các dạng thức bài
viết mang tính trào phúng, ban đầu chỉ mang tính “hài” đơn thuần, về sau phát
triển thành dạng thức tiểu phẩm và xuất hiện trên báo vào những năm đầu của
thế kỷ XX. Các tờ báo thời kỳ này như Đông Dương tạp chí, Đông Tây, Duy
Tân, Phong hóa, Vịt đực…Nhưng tiểu phẩm chỉ thực sự xuất hiện rầm rộ và
trở thành một thể loại mạnh trên báo chí Việt Nam với đầy đủ các đặc trưng cơ
bản nhất và mặt thể loại của nó là thời kỳ Mặt trận dân chủ giai đoạn 1936-
1939. Đây là giai đoạn mà báo chí cách mạng có điều kiện phát triển mạnh nên
theo đó cũng là một mảnh đất tốt cho tiểu phẩm phát triển và phát huy lợi thế
tuyên truyền của mình.Cũng từ đây những cây bút tiểu phẩm xuất hiện và để
lại nhiều dấu ấn sáng tạo mà đặc biệt là tên tuổi của Ngô Tất Tố dưới rất nhiều
các bút danh khác nhau.
Một tên tuổi hay một hiện tượng tiểu phẩm khác xuất hiện ở nước ngoài
đầu những năm 20 chính là Nguyễn Ái Quốc với rất nhiều tiểu phẩm đăng tải
trên những tờ báo bằng tiếng Pháp như Le Paria (Người cùng khổ) do chính
Nguyễn Ái Quốc sáng lập hay L’Humanité (Nhân đạo).
Sau giai đoạn 1936- 1939, tiểu phẩm báo chí tiếp tục phát triển cùng sự
phát triển của báo chí cách mạng. Trên mặt báo, những người viết tiểu phẩm
8
ngày càng nhiều và những tên tuổi gắn với thể loại này ngày càng dài thêm
như Xích Điểu, Lê Kim, Lã Vọng, Thợ Rèn….
Cho đến báo chí hiện đại ngày nay, hầu hết trên các mặt báo tiểu phẩm vẫn
xuất hiện như một thể loại mạnh. Từ báo chí giải trí đến chính trị xã hội, báo
giới, ngành…đều thấy xuất hiện dày đặc thể loại này với những biến thể hết
sức đa dạng.
Điều này cho thấy Tiểu phẩm trên báo chí nước ta có sự phát triển liên tục,
không đứt đoạn. Trong dòng chảy của lịch sử báo chí, cả báo chí không cách
mạng và báo chí cách mạng đều sử dụng tiểu phẩm như một món ăn tinh thần
không thể thiếu của mình.
Vị trí của tiểu phẩm trong hoạt động báo chí hiện đại.
Chúng ta biết rằng tiểu phẩm xuất hiện trên báo chí cũng có những cơ sở xã
hội của nó. Mà một trong những nhân tố có tính tâm lý xã hội xuất phát từ văn
hóa và truyền thống Việt, đó là bản lĩnh đấu tranh và tinh thần lạc quan trong
lối sống của con người Việt Nam được hun đúc qua đấu tranh dân tộc và đấu
tranh xã hội. Một mặt truyền thống tiếu lâm trong văn nghệ dân gian với quan
niệm thẩm mỹ: Tiếng cười là vũ khí của kẻ mạnh, văn học là vũ khí đấu tranh
nên tiểu phẩm luôn phát huy được lợi thế sắc bén của nó trong mọi gian đoạn
phát triển của báo chí Việt Nam hiện đại như đã trình bày. Mặt khác, khi xã
hội có những bất công, ngang trái, có những mâu thuẫn giai cấp rõ nét, đặc biệt
là trong xã hội phong kiến thuộc Pháp nửa sau thế kỉ XIX thì thứ vũ khí sắc
bén có tên gọi là tiểu phẩm để đả kích sâu cay vào tư tưởng của chủ nghĩa thực
dân nửa phong kiến lẫn bè lũ xâm lược Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ
cho đến thời bình, tiểu phẩm cũng luôn phát huy được sức mạnh đấu tranh của
mình.
Vì các lẽ đó mà tiểu phẩm báo chí có một vị trì đặc biệt và ngày càng trở
thành một thể loại xung kích với tần số xuất hiện đậm đặc trong các trang báo
in. Tiểu phẩm được nghiên cứu và đúc kết lý luận như một đối tượng hấp dẫn
9
và có tính đặc thù cao. Nó được xếp vào nhóm Chính luận nghệ thuật và ngày
càng được chú ý nghiên cứu.
Tiểu phẩm và các biến thể của nó trong báo chí hiện đại không đơn thuần là
những bài báo giải trí gây cười thông thường. Càng ngày tính chính luận của
nó càng được khẳng định mạnh mẽ. Cũng vậy mà thay vì những vị trí khiêm
nhường của một góc trang Văn hóa- Văn nghệ, tiểu phẩm có sự “dời đô”
ngoạn mục lên trang 2 của mặt báo và nhiều tờ báo đã dành hẳn một diện tích
trang 1 cho tiểu phẩm và biến thể của nó. Đó là một vị trí xứng đáng, bởi vì
nội dung mà tiểu phẩm hướng đến luôn có tính thời sự, tính chiến đấu cao và
nhiều lúc còn là một phương tiện truyền phát chính kiến của cơ quan báo chí.
Từ lý luận báo chí đến thực tiễn hoạt động báo chí, đã khẳng định tính độc
đáo, sự độc lập và nét trội của tiểu phẩm bên cạnh các thể loại báo chí khác.
Và tiểu phẩm đang khẳng định vị thế chính luận, chức năng giải trí, và do vậy
khẳng định luôn hiệu quả kinh tế của nó, trên thương trường báo chí hiện đại.
II. Khái niệm
Các quan niệm khác nhau về tiểu phẩm.
Có thể nói rằng có rất nhiều các quan niệm khác nhau về tiểu phẩm. Về mặt
từ vựng học với nội hàm rộng, thuật ngữ “tiểu phẩm” xuất hiện trong nhiều
lĩnh vực nghệ thuật. Trong văn học, trong sân khấu, trong điện ảnh…Theo
nghĩa này, tiểu phẩm không chỉ là địa hạt của riêng lĩnh vực báo chí. Và như
vậy quan niệm rộng rãi và cách dùng phổ thông thì tiểu phẩm là tất cả các sáng
tác văn nghệ (văn chương, điện ảnh, sân khấu…) có dung lượng nhỏ, ngắn
gọn.
Một góc độ khác, các câu chuyện tiếu lâm có tính trào phúng và được sử
dụng các hình ảnh, thủ pháp của văn học cũng được gọi là tiểu phẩm. Như vậy,
từ góc độ này, tiểu phẩm bị đồng nhất với một thể loại của văn học là tiếu lâm.
Trong sự linh động về mặt kết cấu, cả trong văn học lẫn báo chí, có một số
thể văn, bài viết ngắn, có sự gần gũi về bút pháp và đặc điểm thẩm mỹ, chằng
10
hạn như tạp văn, tản văn, phiếm luận…Cũng đã có những quan điểm đồng
nhất những dạng thức kể trên với tiểu phẩm.
Còn từ góc độ báo chí học, khái niệm tiểu phẩm có thể xuất phát tự việc
phân tích thuật ngữ từ Hán-Việt “tiểu phẩm” với thuật ngữ tiếng nước ngoài –
feuilleton, newspaper satire, /feleton/, để định dạng và nhận biết thể loại này.
N»m trong hÖ thèng thuËt ng÷ ghi b»ng ©m H¸n ViÖt, thuËt ng÷ “tiÓu phÈm”
®«i khi g©y ra sù hiÓu nhÇm vÒ néi hµm cña nã, còng t ¬ng tù nh c¸c thuËt
ng÷ “ tiÓu thuyÕt”, “tiÓu” trong “tiÓu thuyÕt” l¹i kh«ng biÓu hiÖn dung lîng sè
trang, ngîc l¹i “tiÓu “ trong “tiÓu phÈm” l¹i g©y Ên tîng ngay l¯ nhá bÐ,
ng¾n ngñi; Gäi l¯ “t¹p v¨n” nhng tiÒn tè “t¹p” ë ®©y kh«ng ®ång nghÜa v¬Ý
tÝnh chÊt tÇm th êng, vôn vÆt vÒ ph ¬ng diÖn ®Ò tµi.
Từ những quan niệm này, dựa trên những nét đặc trưng chung nhất của tiểu
phẩm trên cả phương diện nội dung, kết cấu, các phương pháp và thủ pháp
biểu hiện chúng, ta sẽ đi đến tìm hiểu và ghi nhận một khái niệm khoa học hơn
cả về tiểu phẩm..
Khái niệm về tiểu phẩm và tiểu phẩm báo chí.
Nh ®· tr×nh bµy trong phÇn c¸c quan niÖm kh¸c nhau vÒ tiÓu phÈm, mét sù
tiÕp cËn b¾t ®Çu tõ tªn gäi lµ sù hÐ lé mét phÇn cña kh¸i niÖm. Trong tiÕng
Anh, thÓ lo¹i nµy ® îc gäi lµ Feuilleton, Newspaper satire. Thùc ra thuËt ng÷
nµy xuÊt ph¸t tõ nguyªn gèc tiÕng Ph¸p: Feuillton cã nghÜa lµ tê giÊy, chiÕc l¸.
Do sö dông thuËt ng÷ bºng tõ H¸n ViÖt, “tiÓu phÈm” ®îc hiÓu mét c¸ch th«ng
dông nh mét t¸c phÈm ng¾n gän, nhá lÎ, cã dung l îng khiªm tèn, chØ l u ý
tíi “lîng” chø kh«ng tíi “chÊt” cña t¸c phÈm. Trong lÜnh vùc truyÒn th«ng,
®Æc biÖt lµ b¸o in, tiÓu phÈm lµ thÓ lo¹i cã vÞ thÕ t ¬ng ®èi cæ ®iÓn. Thêi kú ®Çu
xuÊt hiÖn, tiÓu phÈm cßn n»m lÉn trong c¸c trang phô tr ¬ng qu¶ng c¸o g¾n
kÌm víi néi dung chÝnh cña tê b¸o. Næi tiÕng nhÊt trong sè c¸c trang phô
tr ¬ng tiÓu phÈm vµ qu¶ng c¸o nµy lµ phô tr ¬ng cña nhµ v¨n Lessing cho tê
b¸o §øc Vossische Zeitung, xuÊt b¶n tõ n¨m 1751 ®Õn n¨m 1751. V× cã néi
dung ch©m biÕm, hµi h íc vÒ nh÷ng chuyÖn sinh ho¹t ®êi sèng, cã chøc n¨ng
11
gi¶i trÝ lµ chñ yÕu, tiÓu phÈm ® îc phÐp ph¸t triÓn n»m ngoµi sù quan t©m cña
bé m¸y kiÓm duyÖt chÝnh thèng. Sù nhËn biÕt v¯ “khai tr¬ng” thÓ lo¹i chÝnh
thøc diÔn ra vµo n¨m 1800, khi chñ bót tê b¸o Ph¸p Journal des DÐbats lµ J.
Geoffroy quyÕt ®Þnh di chuyÓn tiÓu phÈm cïng môc qu¶ng c¸o tõ c¸c trang phô
tr ¬ng vµo nöa d íi trang nhÊt cña mçi sè b¸o. Nh÷ng sè b¸o ®Çu tiªn, «ng in
c¸c bµi phª b×nh s©n khÊu cña m×nh. Nöa d íi trang b¸o ® îc ng¨n víi nöa
trªn b»ng mét v¹ch kÎ ngang, mùc ®Ëm, víi môc ®Ých l u ý ®éc gi¶ r»ng ®©y lµ
phÇn ® îc miÔn kiÓm duyÖt. VÒ mÆt ®å ho¹ kü thuËt, bµi tiÓu phÈm th êng
® îc in b»ng kiÓu ch÷ nghiªng vµ ® îc ®ãng khung. § îc s¸p nhËp vµo trang
b¸o chÝnh thøc, thÓ tiÓu phÈm b¾t ®Çu mét lÞch sö ph¸t triÓn cña nã. NhiÒu ký
gi¶ vµ nhµ v¨n næi tiÕng nh Th. Gautier, Ch. A. Sainte-Beuve (Ph¸p), I.S.
Puskin (Nga), H. Heine (§øc), K. Capek (SÐc), ®Òu tham gia viÕt tiÓu phÈm.
Mét sè níc cßn gäi tiÓu phÈm bºng c¸i tªn n«m na l¯ “b¯i díi v¹ch”
(podcara – SÐc), tøc l¯ díi v¹ch cÊm, hay khu vùc “phi kiÓm duyÖt”. C¸c b¯i
tiÓu phÈm cµng ngµy cµng hÊp dÉn ®éc gi¶ vµ ¶nh h ëng s©u réng tíi ®«ng ®¶o
c«ng chóng. §Ò tµi cña tiÓu phÈm më réng dÇn trªn c¸c mÆt cña ®êi sèng v¨n
ho¸-x· héi vµ nghÖ thuËt. V× bÞ giíi h¹n vÒ dung l îng ch÷, tiÓu phÈm ph¸t
triÓn theo xu h íng dån nÐn thÈm mü vµ b¾t ®Çu mét lÞch tr×nh giao thoa lo¹i
h×nh. B»ng lèi viÕt nhÑ nhµng, hãm hØnh, ph©n tÝch, b×nh luËn mét c¸ch hµi
h íc, c¸c c©y bót tiÓu phÈm ®· ® a thÓ lo¹i nµy xÝch l¹i gÇn v¨n häc, tíi møc
cã nhµ nghiªn cøu (J. T¸borsk¸) cho r»ng ®©y chØ lµ mét thÓ lo¹i v¨n häc xuÊt
hiÖn v¯ ph¸t triÓn n¬ng nhê trªn “®Êt b¸o”.
Tuy vËy, thùc tiÔn vµ sù kh¸i qu¸t lý thuyÕt vÒ tiÓu phÈm kh«ng ph¶i cã sù
thèng nhÊt ë tÊt c° mäi níc. HiÖn t¹i, ë §øc, kh¸i niÖm “feuilleton” ®îc
dïng ®Ó chØ tÊt c¶ c¸c bµi b¸o ng¾n in trªn c¸c trang phô tr ¬ng, viÕt vÒ v¨n
hãa, x· héi, giíi thiÖu vµ phª b×nh v¨n häc nghÖ thuËt, kÓ c¶ nh÷ng bµi b×nh
luËn chÝnh trÞ vµ kh«ng tÝnh tíi chÊt hµi h íc, ch©m biÕm ë ®ã cã hay kh«ng.
ë ViÖt Nam, tiÕp nhËn nh÷ng ¶nh h ëng tinh hoa cña hai nÒn v¨n ho¸ lín
lµ Ph¸p vµ Trung Quèc, c¸c nhµ b¸o NguyÔn ¸i Quèc, Ng« TÊt Tè thùc sù lµ
12
nh÷ng c©y bót tiÓu phÈm tiªn phong cña b¸o chÝ ViÖt Nam hiÖn ®¹i. Di s¶n tiÓu
phÈm cña hai t¸c gi¶ ngay tõ ®Çu ®· héi ®ñ kh«ng chØ nh÷ng thuéc tÝnh phæ
qu¸t cña thÓ lo¹i feuilleton ph ¬ng T©y mµ cßn cã sù bæ sung c¸c ®Æc ®iÓm
míi: TÝnh chiÕn ®Êu vµ sù can dù s©u réng vµo ®Þa h¹t chÝnh trÞ. TiÓu phÈm cña
b¸o chÝ ®Çu thÕ kû nµy ë ViÖt Nam th êng xuÊt hiÖn trong c¸c chuyªn môc nh
“Nãi m¯ ch¬i”, “Thêi ®¯m”, “Mua vui còng ®îc mét v¯i trèng canh”, “Nãi
hay ®õng” v.v.
Đại từ điển tiếng Việt có đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, tiểu phẩm là bài
báo ngắn nói về đề tài thời sự có tính chất châm biếm và là một vở kịch ngắn
mang tính chất hài hước, châm biếm. Một số giáo trình báo chí cũng đã đưa ra
những khái niệm về tiểu phẩm báo chí. Chẳng hạn như trong Giáo trình “Các
thể loại báo chí Chính luận nghệ thuật” của PGS.TS Dương Xuân Sơn, trong
chương 8- Chương Tiểu phẩm có đưa ra khái niệm: “Tiểu phẩm là một thể loại
báo chí ở nhóm chính luận-nghệ thuật, mang tính văn học, được diễn đạt bằng
ngôn ngữ châm biếm, đả kích hoặc hài hước về một sự kiện, sự việc, hiện
tượng có thực, cụ thể hoặc khái quát, qua đó tác giả thể hiện quan điểm của
mình về sự kiện, hiện tượng đó”. Trong cuốn Nghề nghiệp và công việc của
nhà báo, tác giả Trịnh Đình Khôi cho rằng: “Tiểu phẩm là một thể loại tác
phẩm báo chí ngắn gọn, mang tính văn học, được diễn đạt bằng ngôn ngữ
châm biếm hoặc hài hước về một sự việc có thực, cụ thể hoặc khái quát, mà
thông qua đó tác giả biểu hiện quan điểm của mình trước những sự việc, hiện
tượng đó”. Thực chất hai quan điểm này có những nét tương đồng, khác chăng
trong khái niệm được PGS.TS Dương Xuân Sơn đưa ra đã xác định tính khu
biệt của tiểu phẩm trong địa hạt của nó khi xếp nó vào nhóm Chính luận- nghệ
thuật.
Còn từ góc độ của người làm báo, nhà báo đồng thời cũng là một cây bút
tiểu phẩm, Xích Điểu cho rằng : Tiểu phẩm “Là thể loại vừa cho phép phát
triển tính chất điển hình của văn học, vừa mang tính chân thật, khoa học và kịp
13
thời của báo chí, tiểu phẩm vốn mang một tính chiến đấu cao, có khả năng
vạch bản chất tàn bạo của kẻ thù một cách trực tiếp, sâu cay và châm biếm làm
cho người đọc vừa căm thù, vừa khinh ghét vừa cười vào mũi chúng”.
Những khái niệm được nêu trên đã cơ bản đề cập được những nét chính yếu
dựa trên những đặc điểm, đặc trưng chung nhất của tiểu phẩm. Tuy nhiên các
vấn đề lý luận, các quan niệm khoa học không dừng lại mà nó vận động theo
thực tiễn của hoàn cảnh xã hội và thực tiễn của hoạt động báo chí. Cách nhìn
lịch đại và cách nhìn đồng đại sẽ có những thay đổi như một tất yếu khách
quan khi chính chủ thể, vấn đề nghiên cứu không cố định mà phát triển theo
nhu cầu thông tin, cách thông tin trong từng hoàn cảnh lịch sử xã hội. Cũng
chính vì lẽ đó và dựa trên những nền tảng lý luận cũng như những cứ liệu phân
tích trên, chúng tôi đề xuất một khái niệm như sau về tiểu phẩm báo chí hiện
đại:
Tiểu phẩm báo chí là những tác phẩm thuộc nhóm chính luận nghệ
thuật với kết cấu ngắn gọn và linh động có nội dung phê phán, bằng tư duy
lý luận đả kích sâu cay những mặt trái cuộc sống đương đại mang hơi thở
thời sự, dưới một thủ pháp uyển chuyển và hình tượng, gần với văn học.
Ở đây sở dĩ chúng tôi đưa ra khái niệm này là vì: Tự thân tiểu phẩm báo
chí, nhất là qua khảo sát, nghiên cứu trên báo chí hiện đại thì phải khẳng định
tiểu phẩm báo chí là một dòng riêng, không thể đồng nhất với tiểu phẩm trong
văn học nghệ thuật từ phương diện đề tài, đối tượng, cách thức và phương
pháp phản ánh. Theo đó “chất” hay “nội dung” của tiểu phẩm báo chí là những
mặt trái của các vấn đề thời sự trong xã hội đương đại. Tính lý luận, lập luận
sắc bén của tư duy là yếu tố thuyết phục người đọc, cũng là yếu tố tạo nên bản
lĩnh, chính kiến của người viết tiểu phẩm cũng như của cơ quan báo chí. Còn
tính châm biếm, tính hài và một số thủ pháp vay mượn của văn học chỉ là cái
“vỏ”, là phạm trù “hình thức” của tác phẩm để tăng tính hấp dẫn, sự sáng tạo
phù hợp với kết cấu của tác phẩm. Nói tóm lại, tư duy lý luận, tính chính luận
14
trong nội dung thông tin phản ánh của tiểu phẩm báo chí hiện đại vẫn là tính
trội. Bởi vì nó có cái vỏ hình thức gần gũi với văn chương nên chúng tôi gọi
tiểu phẩm có “thủ pháp uyển chuyển và hình tượng gần với văn học”. Vậy nên
việc xếp nó vào nhóm chính luận nghệ thuật là hợp lý, nhưng tính trội về chính
luận trong tiểu phẩm báo chí vẫn là yếu tố tiên quyết chứ không phải cái vỏ
“nghệ thuật” của tác phẩm tiểu phẩm.
Đây cũng là một sự “khắc phục” các khái niệm được nêu ra trước đó, khi
cho rằng tiểu phẩm báo chí “mang tính văn học”. Tính văn học có chăng, như
chúng tôi trình bày, nó chỉ là cái vỏ hình thức của tác phẩm, vậy nên tiểu phẩm
của báo chí hiện đại và những biến thể của nó trong quá trình vận động và phát
triển thì tính tư duy lý lẽ sắc bén mang “tính báo chí” mới là đặc điểm số một
của nó.
2.3 Những đặc trƣng cơ bản của tiểu phẩm.
Hệ thống lý luận nghiên cứu về tiểu phẩm trước đây cũng đã chỉ ra những
đặc trưng, đặc điểm cơ bản của tiểu phẩm. Trong luận văn này, qua nghiên
cứu, khảo sát tiểu phẩm trên báo chí hiện đại và các biến thể của nó, chúng tôi
bổ sung thêm một số đặc trưng và sắp xếp chúng lại theo trình tự tăng dần mức
độ quan trọng của các đặc trưng cơ bản của một tiểu phẩm báo chí.
Tiểu phẩm báo chí hiện đại có kết cấu ngắn gọn và linh động:
Trong lý luận báo chí về thể loại tiểu phấm đã từng xuất hiện khái
niệm “tiểu phẩm dài”, chẳng hạn như các tác phẩm của Nguyễn Ái
Quốc. Một số giáo trình như Giáo trình Các thể loại chính luận nghệ
thuật của khoa báo chí Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn-
Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Độ dài của tiểu phẩm từ 300 đến
1500 chữ. Thực chất trong quá khứ dung lượng dài đến 1500 chữ là có
thật nhưng qua khảo sát trên báo chí hiện đại hiện nay, độ chữ của tiểu
phẩm rất ít khi vượt quá ngưỡng 700 chữ. Cạnh đó có những tiểu
phẩm ngắn gọn, dạng hội thoại, chưa đến 200 chữ. Độ dài trung bình
15
của tiểu phẩm báo chí hiện nay chỉ dao động từ 200 đến 600 chữ. Có
thể khẳng định không còn xuất hiện tiểu phẩm báo chí nào có độ dài
đến 1500 chữ. Sự linh động của tiểu phẩm thể hiện ở kết cấu văn bản
của nó, lúc là những câu chuyện, lúc là những phỏng vấn, lúc là những
đối thoại, lúc là dạng ôn cố tri tân, rất biến hóa.
Tiểu phẩm báo chí hiện đại mang tính chính luận với hệ thống tƣ
duy lý lẽ sắc sảo đặt dƣới cái vỏ hình thức tác phẩm gần với văn
học: Đặc trưng này gắn với việc tiểu phẩm trên báo chí hiện đại
thường phản ánh, đề cập và phản biện những vấn đề lớn có tính chính
trị xã hội, được dư luận quan tâm. Hệ thống tư duy lý luận có tính đả
kích nhưng là đả kích sâu cay, mềm mại và hóm hỉnh bằng cách sử
dụng nhiều thủ pháp gần với văn học. Cũng là một vấn đề chính trị xã
hội nhưng tư duy lý luận cộng với cách viết lý luận và cứng nhắc thì
sẽ trở thành một tác phẩm xã luận, bình luận hay chuyên luận.
Tiểu phẩm báo chí hiện đại quan tâm đến các vấn đề có tính thời
sự và rất khắt khe về tính thời gian của sự kiện: Điều này cho thấy
thông tin trong tiểu phẩm nóng hổi như tin tức, hay nói chính xác hơn
là các sự kiện thời sự đã được chuyển đến độc giả dưới một dạng thức
hấp dẫn, trí tuệ hơn và bộc lộ chính kiến của người viết một cách rõ
nét. Tiểu phẩm báo chí không viết, không bình luận, không đả kích cái
đã cũ, đã lỗi thời, trừ phi cái cũ lại…có tính thời sự. Hay cái cũ được
lấy lại để làm nền cho cái mới tương tự. Không ai đi viết tiểu phẩm về
một sự kiện, vấn đề không có tính thời sự. Các dạng “ôn cố”, lấy cái
cũ để nói cũng là một cái cớ về mặt thủ pháp để nói về những bất cập
đương thời.
Cũng nhƣ các dạng nhiều thể loại báo chí khác, tiểu phẩm có tính
chiến đấu cao: Báo chí nói chung là vũ khí trên mặt trận văn hóa tư
tưởng, đặc biệt riêng với tiểu phẩm thì đây là thứ vũ khí sắc bén với
16
tính chiến đấu cao. Tiểu phẩm đả kích sâu cay, “đánh” vào những bất
công, bất cập của những mặt trái đời sồng xã hội và nó gây ra những
hiệu ứng xã hội, tạo dư luận và cảm xúc cho người đọc để lên án gay
gắt các hiện tượng, vấn đề, sự kiện…phản tiến bộ. Tiểu phẩm “bé”,
nhưng là “bé hạt tiêu”, một thứ vũ khí mà ai đó bị đả kích thì không
thể không cảm thấy bị… “chạm nọc”!.
Khác với các thể loại báo chí khác, tiểu phẩm có tính hài, chất
châm biếm trào phúng nhƣng không phải với mục đích gây cƣời:
Đây là một nét khu biệt rất riêng của tiểu phẩm báo chí. Nhiều người
đã nhầm lẫn khi cho rằng cái chính của tiểu phẩm là gây cười, và một
số nghiên cứu đã nghiêng về tính giải trí đơn thuần của tiểu phẩm để
xếp dạng thức này là tiểu phẩm văn học. Thực chất cái cười, cái hài
trong tiểu phẩm chính là để hướng đến cái bi, cái cay đắng và bất công
trong xã hội mà thôi. Theo đó tiểu phẩm gợi nên những căm phẫn,
những phản biện chứ không phải để…cười.
Nắm bắt được những nét đặc trưng cơ bản này sẽ giúp tiếp cận việc nghiên
cứu tiểu phẩm báo chí hiện đại đi đúng hướng với tư cách là một thể loại báo
chí giàu tính chính luận có những thủ pháp biểu hiện gần với văn học như
chúng tôi đã trình bày.
III. Biến thể của tiểu phẩm.
Quan niệm về biến thể của tiểu phẩm.
Biến thể, theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt nghĩa là thể đã biến
đổi đi ít nhiều so với thể gốc. Theo nghĩa này, trong sự vận động và phát triển
của thể loại, việc xuất hiện những biến thể mới phù hợp với truyền thông hiện
đại là một quy luật có tính tất yếu. Tiểu phẩm báo chí và việc xuất hiện các
biến thể của nó không là ngoại lệ. Việc nghiên cứu tiểu phẩm biến thể là rất
cần thiết cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn của hoạt động báo chí.
17
Về phần này, chúng tôi sẽ trình bày kỹ trong chương III của luận văn, ở
đây chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề có tính chất lý luận sơ lược về biến
thể của tiểu phẩm.
Kh¸i niÖm biÕn thÓ ë ®©y ® îc dïng trong tÝnh t ¬ng ®èi cña ng÷ nghÜa.
BiÕn thÓ chØ cã khi chung mét gèc xuÊt ph¸t, khëi ®Çu. BiÕn thÓ cña tiÓu phÈm
b¸o chÝ ViÖt Nam h×nh thà nh vµ ph¸t triÓn trªn c¬ së:
1 -KÕ thõa truyÒn thèng tiÕu l©m vµ v¨n ch ¬ng trµo phóng d©n gian.
2- TiÕp thu vµ ph¸t triÓn c¸c thµnh tùu cña tiÓu phÈm, cña thÓ v¨n giai tho¹i
trong b¸o chÝ vµ v¨n häc Trung Quèc. Ng« TÊt Tè lµ c©y bót tiÓu phÈm tiªu
biÓu cho sù ¶nh h ëng vµ chñ ®éng tiÕp thu ®ã.
3 – TiÕp thu vµ ph¸t triÓn kinh nghiÖm tiÓu phÈm ¢u ch©u, tr íc hÕt lµ tõ
b¸o chÝ, v¨n häc Ph¸p. NguyÔn Ái Quèc vµ nhiÒu ký gi¶ T©y häc tr íc CM
th¸ng T¸m ®· chñ ®éng tiÕp nhËn.
Do vËy kh¸i niÖm “BiÕn thÓ” ë ®©y nh ®· nãi lµ ® îc dïng víi nghÜa nh
nh÷ng d¹ng thøc ph¸t triÓn phong phó trong ®êi sèng b¸o chÝ ViÖt Nam. MÆt
kh¸c, nÕu tÝnh tõ khi tiÓu phÈm xuÊt hiÖn trªn mÆt b¸o ch©u ¢u, khi tiÓu phÈm
cßn chung ®Êt víi Qu¶ng c¸o, víi c¸c Tê r¬i, TruyÒn ®¬n, n»m ngoµi sù kiÓm
so¸t cña bé m¸y kiÓm duyÖt, sau h¬n 200 n¨m ph¸t triÓn (nÕu lÊy mèc íc lÖ lµ
n¨m 1800) tiÓu phÈm ®· thùc sù v ît rµo, can dù vµo nhiÒu lÜnh vùc ®Ò tµi, hiÖn
diÖn trªn trang b¸o nh mét thÓ lo¹i võa cã tÝnh chiÕn ®Êu cao, võa cã bé c¸nh
cña mét thÓ lo¹i gi¶i trÝ, th gi·n, lµm dÞu kh«ng khÝ thêi sù nãng báng hµng
ngµy. Nh vËy vÒ mÆt lÞch sö thÓ lo¹i, tiÓu phÈm ®· thùc sù biÕn ®æi. ViÖc dïng
tõ BiÕn thÓ lµ hoµn toµn phï hîp, ph¶n ¸nh ®óng thùc tiÔn b¸o chÝ thÕ giíi
còng nh ho¹t ®éng cña b¸o chÝ ViÖt Nam hiÖn nay.
Sự xuất hiện của tiểu phẩm biến thể trên báo chí Việt Nam hiện đại
B¸o chÝ thêi kú ®Êu tranh Gi¶i phãng d©n téc ®· sö dông tiÓu phÈm chñ yÕu
v× môc tiªu ®Êu tranh chèng kÎ thï x©m l îc. Sù tËp trung vµo mét ®èi t îng
duy nhÊt tÊt yÕu dÉn tíi sù ®¬n ®iÖu vÒ h×nh thøc, bót ph¸p. C¸c tiÓu phÈm ®¶
18
kÝch, lªn ¸n bän x©m l îc Mü cã hiÖu qu¶ t t ëng râ rÖt, nh ng kh«ng tr¸nh
khái sù trïng lÆp nhÊt ®Þnh vÒ c¶ néi dung lÉn h×nh thøc.
Sù ®a d¹ng, phong phó cña h×nh thøc thÓ lo¹i tiÓu phÈm h«m nay ph¶n ¸nh
nh÷ng yªu cÇu ®a d¹ng, phong phó cña ®êi sèng x· héi. Tõ chøc n¨ng mét vò
khÝ ®Êu tranh d©n téc, tiÓu phÈm trë l¹i víi chøc n¨ng c¶i t¹o ®êi sèng vµ x©y
dùng ®êi sèng thêi b×nh. TiÓu phÈm ®· vËn ®éng ®Ó råi xuÊt hiÖn c¸c biÕn thÓ
cña nã ®Ó tham gia vµo cuéc ®Êu tranh chung, bÒn bØ, l©u dµi vµ réng r·i, v× sù
c«ng b»ng x· héi, v× tù do, d©n chñ, v¨n minh vµ h¹nh phóc thùc sù cho mçi
con ng êi. Cã bao nhiªu lÜnh vùc ho¹t ®éng ®êi sèng, cã chõng Êy m¶ng ®Ò tµi
cho c¸c c©y bót tiÓu phÈm khai chiÕn vµ cèng hiÕn. C«ng cuéc ®æi míi x· héi
toµn diÖn, trong ®ã cã ®æi míi t duy, cô thÓ lµ t duy b¸o chÝ ®· t¹o ®iÒu kiÖn
cho c¸c nhµ b¸o tù tin, tù do s¸ng t¹o, ph¸t huy tÝnh n¨ng ®éng trong ®æi míi,
c¸ch t©n h×nh thøc, bót ph¸p thÓ hiÖn. Mét qu¸ tr×nh biÕn ®æi tiÓu phÈm ®· diÔn
ra, nhiÒu khi v ît xa tÇm tay n¾m b¾t cña lý luËn b¸o chÝ häc vµ chÝnh sù biÕn
®æi Êy rÊt cÇn ® îc nghiªn cøu mét c¸ch ®Çy ®ñ, toµn diÖn ®Ó ®¸p øng c¶ c«ng
t¸c nghiªn cøu vÒ b¸o chÝ lÉn viÖc ®Þnh d¹ng, t×m ®Æc tr ng, thñ ph¸p thÓ cña
tiÓu phÈm ®Ó gióp nh÷ng ng êi lµm b¸o cã thÓ tiÕp cËn vµ thùc hµnh trong qu¸
tr×nh s¸ng t¹o t¸c phÈm b¸o chÝ cña m×nh.
TiÓu kÕt ch ¬ng 1
Tãm l¹i tiÓu phÈm b¸o chÝ hiÖn ®¹i ®· cã nh÷ng sù vËn ®éng vµ ph¸t triÓn
theo thêi gian ®Ó råi tõ thÓ gèc cña tiÓu phÈm ban ®Çu xuÊt hiÖn nh÷ng biÕn thÓ
víi nh÷ng ®Æc tr ng, kÕt cÊu hÕt søc linh ®éng vµ hÊp dÉn. Søc chiÕn ®Êu cña
tiÓu phÈm vµ tiÓu phÈm biÕn thÓ më réng ra trªn mäi mÆt cña ®êi sèng x· héi
khiÕn thÓ lo¹i nµy chiÕm mét vÞ trÝ xøng ®¸ng víi tÇn suÊt xuÊt hiÖn kh¸ dµy
®Æc trong ho¹t ®éng b¸o chÝ hiÖn nay. Còng chÝnh tõ sù ®a d¹ng cña ®Ò tµi, vÊn
®Ò ph¶n ¸nh céng víi sù s¸ng t¹o cña ng êi viÕt trªn viÖc n¾m b¾t nhu cÇu, t©m
lý cña ®éc gi¶, tiÓu phÈm biÕn thÓ xuÊt hiÖn víi nhiÒu d¹ng thøc, lµm sinh ®éng
vµ phong phó thªm cho c¶ ho¹t ®éng lý luËn lÉn thùc tiÔn cña nghÒ b¸o. Tuy
19
nhiªn còng ®Æt ra nh÷ng th¸ch thøc cho nh÷ng ng êi lµm c«ng t¸c nghiªn cøu
lý luËn b¸o chÝ khi nghiªn cøu vµ ®Þnh danh nã mét c¸ch khoa häc.
Chƣơng 2
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU PHẨM NỬA ĐẦU
THẾ KỶ XX QUA PHONG CÁCH CỦA HAI TÁC GIẢ NGUYỄN AÍ
QUỐC VÀ NGÔ TẤT TỐ.
I. Đôi nét về diện mạo báo chí và tình hình sử dụng tiểu phẩm trên
báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Những năm đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử Việt Nam đầy rẫy những
biến động phức tạp. Đặc biệt năm 1914 thế chiến I bùng nổ cũng đã ảnh hưởng
mạnh mẽ đến các nước thuộc địa. Chính sách bóc lột thuộc địa của Pháp ở
Đông Dương được đẩy mạnh để bòn rút của cải mang về mẫu quốc. Cạnh đó
trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, một “chính sách thực dân” bằng sách vở
cũng được thực hiện một cách ráo riết. Và lẽ tất nhiên nằm trong các chính
sách về văn hóa tư tưởng, báo chí đã được bọn thực dân lợi dụng như một thứ
vũ khí tư tưởng lợi hại.
Bước vào thế kỷ XX, Việt Nam có khoảng 10 tờ báo cả tiếng Việt lẫn
tiếng Pháp và chữ Hán. Trong những năm đầu thế kỷ, như đã nói, báo chí do
người Pháp làm chủ bởi luật pháp thời thuộc địa bấy giờ không cho người bản
xứ làm báo. Tuy nhiên như quy luật phát triển, dần dà cũng có những tờ báo
“lách luật” để có những cú lội ngược dòng trong sự “bóp cổ” báo chí bản địa
của chính quyền thực dân. Đến đầu những năm 20 của thế kỷ, đã dần định
hình một nền Báo chí Việt Nam. Bên cạnh những tờ báo thời sự chính trị xã
hội, đã có báo chí văn hóa văn nghệ, báo chí kinh tế, báo chuyên ngành,
chuyên giới. Ngoài các trung tâm lớn là Sài Gòn và Hà Nội, lẻ tẻ một vài địa
phương khác như Hải Phòng, Cần Thơ, Huế cũng đều xuất bản báo.
20
Chiếm dòng chủ lưu trong báo chí thời gian này là những cơ quan
chuyên lo việc tuyên truyền, tô điểm cho chế độ thực dân, kêu gọi nhân dân
hợp tác với nhà cầm quyền. Những tiếng nói phản kháng tuy đã có cất lên song
vẫn còn rất yếu ớt và luôn luôn bị bóp nghẹt. Tuy nhiên những tiếng nói này
lại biểu thị một ý thức dân tộc đang tự khẳng định qua những khuynh hướng
yêu nước thương nòi, đòi quyền dân chủ, lên án chế độ cai trị hà khắc và bất
công xã hội... Đó là tín hiệu báo trước sự xuất hiện tất yếu của một nền báo chí
cách mạng.
Sự phát triển cho dù chật vật của báo chí Việt Nam dưới chế độ cũ vẫn
từng bước tạo nên một đội ngũ những người làm báo chuyên nghiệp. Trừ một
số rất ít, người làm báo lúc này không còn là viên chức hoặc là kẻ cúc cung tận
tụy phục vụ quyền lợi thực dân. Gia nhập đội ngũ làm báo có những nhà hoạt
động chính trị như Trần Huy Liệu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng..., những
người làm chính trị dưới dạng nghiên cứu học thuật như Phạm Quỳnh, Nguyễn
Văn Vĩnh..., những nhà dịch thuật như Trần Chánh Chiếu, Phan Kế Bính,
Nguyễn Đỗ Mục..., những trí thức du học từ nước ngoài về như Nguyễn An
Ninh, Hoàng Tích Chu..., Chính họ chứ không phải nhà cầm quyền, là những
người quyết định nội dung báo chí tất nhiên theo quan điểm riêng của mỗi
người cùng với tất cả ràng buộc khắt khe dưới chế độ thuộc địa. Với việc
người Pháp đẩy mạnh việc khai thác Đông Dương để bù đắp cho nền kinh tế
chính quốc bị kiệt quệ bởi chiến tranh thế giới thứ nhất đi đôi với sự gia tăng
đàn áp về chính trị, xã hội nông nghiệp Việt Nam càng bị bần cùng hóa. Giai
cấp tư sản bản xứ hình thành và cùng với nó là sự xuất hiện và lớn mạnh của
giai cấp công nhân. Trên thế giới, Cách mạng Tháng Mười đã thành công ở
Nga. Đảng Cộng sản Pháp đã thành lập với chính sách đúng đắn đối với vấn đề
thuộc địa. Ở Việt Nam, dần dần hội tụ những điều kiện khách quan cho sự ra
đời của một phong trào yêu nước, dân chủ được chỉ đạo bởi tư tưởng của giai
cấp công nhân. Hoàn cảnh trong nước cũng như bối cảnh quốc tế đã chín muồi
21
cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thành lập tổ chức tiên phong của
giai cấp công nhân, vận động nhân dân đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, dành độc
lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những phương tiện không thể
thiếu để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược ấy là xuất bản báo chí
Nhưng thực tiễn cho thấy, trong một nước Việt Nam đang bị cùm kẹp
dưới chế độ thống trị hà khắc của nước ngoài, báo chí cách mạng không thể
công khai ra đời. Ngay đến những người trong cuộc như Lê Thành Lư, chủ bút
tờ báo mang cái tên hẳn có dụng ý là Pháp Việt nhất gia (!) cũng đã phải chua
chát thốt lên khi tờ báo của ông bị đóng cửa: "... Có miệng không được nói, có
tư tưởng không thể giải bày, đó là cái số kiếp của 25 triệu đồng bào ta, mà
cũng là cái đặc ân của chính phủ Pháp ban cho 25 triệu đồng bào ta. Lịch sử
báo giới trải qua mấy chục năm nay, những người làm báo toàn là những
người miệng câm tai điếc...".
Nói cách khác, lịch sử đòi hỏi và đã hội đủ những tiền đề cho sự ra đời
một tờ báo cách mạng. Nhưng tờ báo ấy chỉ có thể thực hiện và lưu hành bí
mật. Đó chính là điều Nguyễn Ái Quốc đã rút ra khi Người sáng lập báo Thanh
Niên, số 1 ra ngày 21-6-1925 và từ nước ngoài đưa về lưu hành bí mật trong
nước. Qua 90 số báo do Người trực tiếp chỉ đạo, xuất bản đều đặn hằng tuần
trong gần hai năm, báo Thanh Niên đã làm một sứ mệnh trọng đại là vạch rõ
đường lối, thức tỉnh quần chúng, tập hợp đội ngũ, đào tạo cán bộ, chuẩn bị về
lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản.
Từ ngày tờ báo đầu tiên xuất bản số đầu cho đến tháng tám 1945, trong
vòng hai mươi năm, báo chí cách mạng gắn liền số phận của mình với cuộc
vận động cách mạng của nhân dân, khi phát triển mạnh trong cao trào, khi tạm
thời co lại do thoái trào, nhưng không lúc nào từ bỏ vai trò là những phương
tiện vận động chính trị của Đảng lãnh đạo hoặc của các đoàn thể nhân dân.
Qua hai mươi năm, có thể ghi nhận mấy thời kỳ báo chí hoạt động sôi
nổi nhất. Tiếp ngay sau khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, một loạt
22
báo chí được xuất bản và lưu hành, ở trung ương, ở nhiều địa phương và ngay
cả trong nhà tù, với nội dung chủ yếu là giáo dục cán bộ về con đường cách
mạng và đấu tranh chống những khuynh hướng chính trị sai lầm. Sự nở rộ này
về khách quan có lẽ phần nào do được khích lệ bởi kinh nghiệm thành công
của báo Thanh Niên song không phải là sự tự phát. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ nhất của Trung ương (10-1930) đã nói rõ Đảng cần ra báo để phổ biến tôn
chỉ, mục đích của mình và bày tỏ thái độ đối với những vấn đề thời cuộc.
Những năm 1936 - 1939 là một thời kỳ hoạt động đặc sắc. Cuộc đấu
tranh sâu rộng của nhân dân thế giới chống hiểm họa phát-xít và thắng lợi của
Mặt trận Nhân dân Pháp ở chính quốc buộc nhà cầm quyền thực dân phải trả
lại tự do cho một số tù chính trị và nới lỏng chính sách ở Đông Dương. Những
người cách mạng tranh thủ thời cơ nhanh chóng vào cuộc, hoạt động báo chí
công khai với nhiều hình thức đầy sáng tạo. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian
ngắn, báo chí cách mạng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong nhân dân trước khi bị
nhà cầm quyền nhân danh chiến tranh bắt phải trở lại con đường đấu tranh
ngoài vòng pháp luật.
Trở về nước để chỉ đạo cách mạng sau bao nhiêu năm bôn ba ở nước
ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập tờ Việt Nam Độc lập với mục đích Kêu
gọi nhân dân trẻ với già - Đoàn kết vững bền như khối sắt - Để cùng nhau cứu
nước Nam ta.
Với sự ra đời của báo Cứu Quốc, cơ quan của Tổng bộViệt Minh (số 1
ra ngày 25-1-1942) của tờ Cờ Giải Phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động của
Đảng (ngày 10-10-1942), của Tạp chí Cộng sản chuyên về lý luận cùng với
nhiều tờ báo khác ở các địa phương hoặc của các đoàn thể, báo chí càng mạnh
mẽ dấn thân vào tiến trình cách mạng. Báo chí đã góp phần quán triệt đường
lối cứu nước trong cán bộ và nhân dân, thống nhất nhận thức, thống nhất hành
động và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị và tiến hành thành
công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
23
Trong thời gian ấy, do bầu không khí ngột ngạt giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới và đặc biệt là sau khi phát-xít Nhật phát động chiến tranh Thái
Bình Dương, báo chí công khai tuy có tăng về số lượng và cải tiến nhất định
về hình thức, vẫn lâm vào bế tắc. Các nhà báo yêu nước và có lương tâm né
tránh thời cuộc; một số người đi vào con đường văn học, biên khảo hoặc tìm
về cội nguồn qua các đề tài lịch sử.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, đặt lên vai báo chí cách
mạng trách nhiệm chủ lưu trong đời sống báo chí cả nước. Mặc dù còn nhiều
khó khăn, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm tạo điều kiện phát triển
các phương tiện thông tin đại chúng. Từ những kinh nghiệm quý báu tích lũy
được sau mấy chục năm đấu tranh, báo chí đã làm tốt chức năng của mình
trong hai cuộc kháng chiến. Báo chí có mặt ở hàng đầu trên mọi trận tuyến: tại
miền bắc, hậu phương lớn của cả nước, ở vùng giải phóng miền Nam và ở
ngay các đô thị do đối phương kiểm soát. Gần bốn trăm nhà báo liệt sĩ đã ngã
xuống ở các mặt trận vì bom đạn trong khi đang hành nghề.
Qua việc cung cấp thực tế và chuẩn bị dư luận xã hội, báo chí đã đống
góp thêm tiếng nói cho Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo
công cuộc đổi mới. Ngày nay, báo chí đã thật sự trở thành một nhu cầu thiết
yếu trong đời sống xã hội, một sinh hoạt văn hóa và tinh thần phong phú, một
phương tiện thực thi dân chủ và đấu tranh cho công bằng xã hội; tóm lại báo
chí tham gia mọi lĩnh vực hoạt động nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam
Từ khoảng mươi ấn phẩm định kỳ với số lượng phát hành không đáng
kể hồi đầu thế kỷ đến nay trên dải đất Việt Nam đã hình thành một hệ thống
thông tin đại chúng hùng hậu và từng bước hiện đại. Đến nay chúng ta có 553
cơ quan báo, tạp chí với 713 ấn phẩm định kỳ. Ngoài báo viết thì Đài phát
thanh, Truyền hình, Báo điện tử, hãng tin Thông tấn xã Việt Nam cũng có
những bước tiến dài, làm cho diện mạo báo chí Việt Nam ngày càng sinh
24
động, hiện đại và phục vụ công chúng, phục vụ công cuộc đổi mới của Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta ngày càng tốt hơn.
Báo chí Việt Nam đầu thế kỷ với tình hình quản lý báo chí cũng như
những hoàn cảnh xã hội đặc trưng của nó cũng đã làm cho thể loại “bóng gió”
mà “sâu cay” này có đất để phát triển. Mặc dầu tần suất xuất hiện của nó ít hơn
các thể loại như tin tức, phóng sự nhưng Tiểu phẩm đã khẳng định một chỗ
đứng của mình. Thể hiện rõ nét là nhiều tờ báo xuất hiện các chuyên mục chỉ
dành cho tiểu phẩm.
Nhìn vào hệ thống các tên gọi chuyên mục thì chúng ta có thể nhận thấy
“đất” dành cho tiểu phẩm. Chẳng hạn như Thời đàm, Nói hay đừng, Guồng
trần xoay máy, Câu chuyện hàng ngày, Câu chuyện hàng tuần, Nói sương
sương, Nói hay đừng, Cực chẳng đã, Giữa đường thấy chuyện...
Hoàn cảnh xã hội nào cũng có những mặt trái, có những mặt trái mà báo
giới khó đề cập một cách trực diện, vì đặc tính này mà “đất” cho tiểu phẩm
thời nào cũng có cơ hội để phát triển. Hay như nhận xét của TS Tạ Ngọc Tấn
trong thì : “Thay vì phần ngẫu hứng có chút thù tạc kiểu văn chương, tiểu
phẩm báo chí giờ đây đã nóng bỏng một ý thức xã hội và tính mục đích của nó
luôn luôn được xác định như một lý do tồn tại của mỗi tác phẩm. "Trong báo
chí, tiểu phẩm có dung lượng nhỏ và tần số xuất hiện ít hơn so với các thể
loại: tin tức, phóng sự, bình luận v.v...", nhưng "tiểu phẩm khẳng định vai trò
là một vũ khí sắc bén". (Tạ Ngọc Tấn- Từ lý luận đến thực tiễn Báo chí- NXB
VHTT 1999)
Ngay những tờ báo đầu tiên đầu thế kỷ XX như Đông Dương tạp chí,
Vịt Đực, Đông Tây, Duy Tân, Phong Hóa, Con ong…đã xuất hiện những bài
viết có tính châm biếm, manh nha của tiểu phẩm và dần dà phát triển rầm rộ
thành một thể loại đã làm nên tên tuổi của nhiều người làm báo thời bấy giờ.
Đến giai đoạn Cách mạng dân chủ, khi báo chí tiến bộ và cách mạng có điều
kiện thuận lợi, tự do, tiểu phẩm được phát triển lên một tầm cao mới, trở thành
25
một tiếng nói đấu tranh như một thứ vũ khí tư tưởng sắc lẹm với những cái tên
như Ngô Tất Tố, Tam Lang, Thông Reo, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công
Hoan…Mục đích hướng đến của tiểu phẩm trong giai đoạn này không nằm
ngoài sự đả kích và “đánh” vào bản chất xấu xa của chế độ thực dân nửa
phong kiến, chế độ thực dân và những “căn bệnh” mà chúng tạo dựng nên
trong xã hội bấy giờ. Đó là sự đớn hèn của những kẻ bán nước cầu vinh, thói
Âu hóa mà coi rẻ truyền thống dân tộc…
Đến thời kỳ Báo chí cách mạng phát triển mạnh và xuất hiện một dòng
báo cách mạnh, được đánh dấu bằng tờ Thanh niên ngày 21 tháng 6 năm 1925
do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập thì tiểu phẩm cũng có “đất” để thể hiện sức
mạnh thông tin của mình trên các mặt báo. Tiểu phẩm có sự hoàn thiện hơn về
đặc trưng thể loại và tính chiến đấu của báo chí cách mạnh cũng rõ nét hơn.
Đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ tiểu phẩm cũng mang tính…bút
chiến. Đó là những tác phẩm vạch trần những âm mưu, tội ác của đế quốc Mỹ
và bè lũ tai sai. Theo đó thời gian này xuất hiện một số cây bút tiểu phẩm tên
tuổi như Xích Điểu, Lê Kim, Lã Vọng, Tú Mỡ…mà đặc biệt là Hồ Chủ Tịch
với hàng loạt tiểu phẩm nổi tiếng mà chúng tôi sẽ đề cập và phân tích trong
chương này.
Và trong những tên tuổi tiểu phẩm nổi bật như chúng tôi đề cập, tiểu
phẩm báo chí Ngô Tất Tố và Hồ Chí Minh là gần với tiểu phẩm nguyên gốc
hơn cả nên sẽ là cơ sở quan trọng để từ đó cho thấy những dạng thức biến thể
của nó sau này.
II. Phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh
Về sự nghiệp báo chí cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sự nghiệp báo chí Hồ Chí Minh có thể nói gắn chặt với sự nghiệp cách
mạng của Người. Hoạt động báo chí không tách rời hoạt động cách mạng và
hầu hết các tác phẩm báo chí, hoạt động báo chí của chủ tịch Hồ Chí Minh
26
không ngoài mục đích phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Chính Người đã khai
sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam.
Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên “Quyền các dân tộc thuộc địa” đăng trên tờ
L’humanité ngày 18 tháng 6 năm 1919 đến tác phẩm cuối cùng “Thư trả lời
tổng thống Mỹ” đăng trên báo Nhân dân ngày 25 tháng 8 năm 1969 thì trọn
cuộc đời làm báo của chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một số lượng khổng lồ
với hơn 2000 bài báo các loại. Không chỉ là người viết báo, Hồ Chí Minh còn
là người sáng lập ra 9 tờ báo: Le Paria (Người cùng khổ năm 1922); Quốc tế
nông dân (1924); Thanh niên (1925); Công nông (1925); Lính Kách Mệnh
(1925); Thân Ái (1928); Đỏ (1929); Việt Nam Độc Lập (1941); Cứu Quốc
(1942). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khoảng 150 bút danh để viết lên
hàng ngàn tác phẩm báo chí bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp,
Nga, Hán, Việt… Người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam bằng
việc sáng lập ra tờ Thanh niên, số đầu tiên ra ngày 21/6/1925 như đã nói.
Chiếm vị trí nổi bật trong các tác phẩm của Người là những bài báo thể hiện
quan điểm chỉ đạo kịp thời đối với những vấn đề thời sự, những lĩnh vực liên
quan đến công cuộc kháng chiến và cứu quốc. Ngòi bút của Người bao quát
một cách rộng lớn các vấn đề của đất nước, phân tích bình luận một cách sắc
sảo, cụ thể cũng như đưa ra những đánh giá xác đáng và những giải pháp thiết
thực trong hoạt động thực tiễn.
Có thể nói các tác phẩm báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kho tàng
đồ sộ, phong phú với nhiều thể loại khác nhau như chính luận, tiểu phẩm,
truyện, ký và thơ… và ở thể loại nào Người cũng thể hiện bản lĩnh của một cây
bút hàng đầu.
2.2 Những nét độc đáo trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh
Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhận mình là một cây
bút tiểu phẩm. Khi tiếp một đoàn nhà văn Liên Xô năm 1957 Hồ Chí Minh
nói: “Tôi là cây bút tiểu phẩm, nhà chính luận. Gọi là nhà tuyên truyền tôi
27
cũng không tranh cãi, nhà cách mạng chuyên nghiệp là đúng nhất”. Như vậy,
ngay từ vế đầu tiên Người đã nhận, đã khẳng định mình là một nhà báo chuyên
viết về tiểu phẩm. Thật vậy, trong kho tàng báo chí đồ sộ của Người, thể loại
tiểu phẩm chiếm số lượng nhiều hơn cả. Chỉ riêng trên báo Nhân dân từ năm
1950 đến năm 1969 đã có 1200 tác phẩm báo chí thuộc thể loại tiểu phẩm.
Tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh từ những tác phẩm đầu tiên là bằng tiếng
Pháp và tiếng Trung Quốc cho đến hàng loạt tiểu phẩm tiếng Việt sau này.
Trong các tiểu phẩm của mình Người chủ yếu tập trung vào chủ đề vạch rõ tội
ác của bọn thực dân. Qua ngòi bút linh động của Người, bộ mặt chủ nghĩa thực
dân đế quốc và chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn chủ nghĩa đế quốc đã hiện lên với
tất cả tội ác, sự dã man đối với xứ thuộc địa nói chung và nhân dân Việt Nam
nói riêng. Cạnh chủ đề tố cáo tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tiểu
phẩm Hồ Chí Minh còn đề cập đến hàng loạt các chủ đề về chiến lược, chiến
thuật quân sự, về nghiệp vụ tuyên truyền và nội dung tuyên truyền giáo dục
trong từng thời kỳ, về thi đua, về đời sống mới, về biểu dương người tốt việc
tốt… Đặc biệt mảng đề tài về chống quan liêu, tham nhũng cũng đã được đề
cập một cách quyết liệt trong nhiều tác phẩm tiểu phẩm cả ở dưới chế độ ta lẫn
dưới chế độ thực dân, đế quốc.
Trong các tiểu phẩm của Người, tiếng cười đả kích châm biếm bao giờ
cũng thanh nhã, dí dỏm nhưng vẫn rất mạnh mẽ, sâu cay. Với con mắt tinh
tường, phân biệt rạch ròi hình thức và nội dung, bản chất và hiện tượng của thế
giới xung quanh, Người đi sâu vào phát hiện và lý giải những mâu thuẫn nội
tại của sự vật cũng như các quan hệ xã hội. Trong đó Người quan tâm đến
những mâu thuẫn giữa áp bức bóc lột và bị áp bức bóc lột, giữa xiềng xích nô
lệ và độc lập tự do, giữa sự giảo trá và hiện thực xã hội. Chính những mâu
thuẫn này là cơ sở trong tiếng cười châm biếm, đả kích trong tác phẩm, tiểu
phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và từ đó ta có thể khẳng định chủ đề quán
xuyến trong tiểu phẩm Hồ Chí Minh là những tiểu phẩm có tính chính trị để đả
28
kích, châm biếm bọn thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai bán nước. Cây bút tiểu
phẩm Hồ Chí Minh trên mạch nguồn sáng tạo đó đã làm việc không ngơi nghỉ.
Ngoài là một nhà hoạt động chính trị, một nhà báo thì Người còn là một nhà
văn, nhà thơ và là nhà văn hóa lớn, nên sự độc đáo hấp dẫn cũng như tính trí
tuệ trong các tác phẩm tiểu phẩm của Người luôn có sức hút và sự thuyết phục
tuyệt đối cho mọi đối tượng công chúng. Cùng với đó, tiểu phẩm của Người về
dung lượng đều ngắn gọn, súc tích, sắc sảo trong lập luận nhưng văn phong lại
rất giản dị, gần gũi.
Trên bình diện nội dung của các tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh, chúng ta
có thể chia ra làm hai giai đoạn khác nhau là giai đoạn trước cách mạng Tháng
Tám năm 1945 và giai đoạn sau Cách mạng. Việc phân chia này sẽ làm rõ hơn
chủ đề tư tưởng tác phẩm và định vị đề tài phản ánh theo hoàn cảnh lịch sử xã
hội để nghiên cứu sự vận động tư tưởng cũng như thủ pháp và đặc trưng phong
cách trong việc viết tiểu phẩm.
Một điều đáng chú ý trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám là giai
đoạn Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Pháp. Sự thâm nhập của ngôn ngữ và văn
hóa Pháp đã tạo nên tính hài, tính châm biếm trí tuệ như một nét đặc thù của
tính cách Pháp. Cũng do vậy mà các tiểu phẩm của Người trong giai đoạn này
rất đáng được nghiên cứu. Ngay từ tác phẩm “Động vật học” đăng trên báo
“Người cùng khổ” số 2 ra ngày mùng 1 tháng 5 năm 1922 tác giả viết về một
loài động vật “đi bằng hai chân, cũng có khi trở thành loài đi bốn chân, lông
lá lại mọc trên đầu.” Loài “động vật” này còn có những đặc tính là “nó ăn thịt,
ăn cỏ, ăn gạo và ăn cả tiền nữa.” Chỉ cần hình ảnh ngoài những thức ăn thông
thường thì loài “động vật” này còn biết ăn một thức ăn đặc biệt: “ăn tiền” đã
cho thấy sự mỉa mai, đả kích sâu cay về thói ăn bẩn của bọn quan lại bản xứ
bám gót bọn thực dân đế quốc. Cũng vậy, trong tiểu phẩm này Bác còn viết:
“cần chú ý rằng khi một con vật cá biệt đã đến trình độ ăn cả tiền nữa thì
thường bị coi là thoái hóa vì nó đã mất hết đặc tính tinh thần giống nòi rồi”.
29
Nghĩa là qua hình ảnh này là sự ám chỉ bọn quan lại mất hết lương tri loài
người không còn tinh thần dân tộc, giống nòi nữa. Một tiểu phẩm ngắn nhưng
chỉ cần ngần ấy hình ảnh đã vạch trần chân tướng của bọn quan lại bán nước.
Ở một tiểu phẩm khác bàn về tội ác của bọn thực dân đối với người bản xứ,
tiểu phẩm “Thù ghét chủng tộc”, Nguyễn Ái Quốc viết: “Mọi người đều biết rõ
những thành tích “lớn lao” của tên quan cai trị sát nhân Đác-lơ. Tuy nhiên
đâu có phải chỉ mình hắn mới có những thủ đoạn tàn ác với người bản xứ như
thế. Một gã tên là Puốc-xi-nhông đã hùng hổ nhẩy ra đánh một người Việt
Nam chỉ vì người này dám tò mò và cả gan nhìn ngôi nhà của người Âu trong
mấy tiếng đồng hồ. Hắn đánh anh và cuối cùng bắn một nhát vào đầu anh”…
“Ông Béc đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.
Ông thầu khóan Bơ-rét, sau khi cho chó cắn một người Việt Nam đã trói
tay người này lại đá cho đến chết…
Một người Pháp buộc ngựa của mình vào một cái chuồng trong đó đã có sẵn
con ngựa cái của một người bản xứ. Con ngựa đực nhảy chồm lên, làm cho
người Pháp tức điên ruột. Ông ta đánh người bản xứ hộc cả máu mồm máu
mũi, rồi đem trói lại, treo lên cầu thang”.
Tất cả những sự kiện trên với thời gian và con người cụ thể được kể ra
một cách tự nhiên, “tưng tửng” lặp đi lặp lại cho thấy như chính sự hung hãn
vô lương âm của bọn thực dân Pháp mặc sức giết người, hành hạ con người mà
không cần biết họ có tội hay không có tội. Qua tiểu phẩm này cho thấy người
xứ thuộc địa bị đối xử như những con vật không hơn không kém. Giá trị tố cáo
mạnh mẽ cũng nằm ở đây.
Sau cách mạng tháng Tám, Người vẫn tiếp tục quan tâm tới công tác
báo chí, cả viết báo lẫn quản lý báo chí. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đều đặn
viết cho các báo Sự thật, Nhân dân, Cứu quốc… Nội dung tiểu phẩm trong giai
đoạn này chủ yếu tập trung vào giáo dục đạo đức cán bộ, phê phán những thói
hư tật xấu vẫn còn tồn tại ở một bộ phận cán bộ. Cạnh đó, tiểu phẩm Hồ Chí
30
Minh tiếp tục vạch trần âm mưu, tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ và bè lũ tay sai của chúng. Sau Cách mạng Tháng Tám tiểu phẩm báo chí
Hồ Chí Minh có thể nói tập trung vào hai mảng chính là tiểu phẩm tuyên
truyền giáo dục và tiểu phẩm chính trị. Có thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh viết
rất nhiều tiểu phẩm. Năm 1952 có 28 tác phẩm tiểu phẩm đăng trên các báo
Nhân dân, Cứu quốc, riêng tháng 7 năm 1951 Người đã viết 8 tiểu phẩm. Có
những tác phẩm tiểu phẩm gần như trở thành sự mẫu mực của thể loại báo chí
độc đáo này. Ví dụ tiểu phẩm “Tu ma đầu bò”, được bắt đầu bằng một câu
giao tiếp thật giản dị và gần gũi: “Nhiều bạn đọc bảo: D.X. nói chính trị nhiều
rồi, hôm nay hãy nói một chuyện gì hay hay, tức cười cho bà con nghe”. Và
sau đó đúng là một câu chuyện “hay hay, tức cười”. Chuyện kể về hai người
lính, một là lính Nga, một là lính Mỹ, cùng đứng gác ở hai bên đường phân
giới Đông và Tây Berlin. Họ cùng khoe và chứng minh về sự tự do, dân chủ ở
đất nước mình. Người lĩnh Mỹ khoe rằng, anh ta có thể nói với tổng thống Tu
ma rằng ông ta là “đầu bò”. Người lính Nga khoe rằng, anh ta có thể về nước
nói với đồng chí Stalin rằng, “Tu ma là đầu bò” mà vẫn không bị phạt. Logic
vận động của tiểu phẩm đơn giản đến bất ngờ và chính sự đơn giản đến bất
ngờ ấy đã tạo nên sự dí dỏm và đặc sắc của nó. Tiểu phẩm rất ngắn gọn, cô
đọng chỉ với 183 âm tiết. Cách viết tự nhiên, nhẹ nhàng, không một chút làm
duyên nhưng lại tạo ra sự gần gũi, đồng cảm với người đọc, từ đó làm nên sức
cuốn hút của tác phẩm tiểu phẩm. Có thể coi đây là một trong những tác phẩm
báo chí mẫu mực của Bác trên cả nội dung lẫn nghệ thuật thể hiện.
Vậy sự độc đáo trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh thể hiện trên những
phương diện nào? Chúng tôi sẽ lần lượt đề cập các giác độ này.
2.2.1 Vận dụng sáng tạo các thủ pháp của sáng tác văn học vào tiểu
phẩm.
Như đã nói chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nghệ sỹ lớn với những tố chất
và thiên tính của một nhà thơ, nhà văn vừa hiện thực, vừa lãng mạn và giàu
31
tính sáng tạo. Và cũng vì vậy khi làm văn hay viết tiểu phẩm báo chí Bác
không bị ràng buộc bởi những quan niệm lý thuyết thông thường, nhất là
những quy định có tính khuôn mẫu của thể loại. Bước ra khỏi những khuôn
mẫu để có những sự phá cách, “xé rào” là những điều làm nên sự sáng tạo
trong viết tiểu phẩm. Sự sáng tạo ấy lại đuợc chắp cánh khi tìm ra một hình
thức thể hiện hiệu quả nhất dù nó là văn học hay báo chí chính luận.
Nguyễn Ái Quốc trong tiểu phẩm đã vận dụng một cách sáng tạo các thủ
pháp và phương tiện nghệ thuật của sáng tác văn học. Điều này bộc lộ rõ ở hai
khía cạnh chính, đó là mạch nguồn và của văn học dân gian và sự “xâm lấn thể
loại” theo cách gọi của PGS.TS Phạm Thành Hưng. Chúng ta dễ dàng tìm thấy
tính chất điển tích, điển cố- một tập quán của văn học Việt Nam trong sáng tạo
tiểu phẩm của Người. Vậy nên tiếng cười của tiểu phẩm Hồ Chí Minh rất khỏe
khoắn, lạc quan, dân dã, bắt nguồn từ tiếng cười yêu đời trong văn học và văn
hóa dân gian.
Trong tiểu phẩm vè “Chết vì ốm đòn”(Báo Nhân dân, số 42 ngày
24.1.1952) là một ví dụ về sự sáng tạo trong vận dụng văn học vào tiểu phẩm.
“Tướng giặc Tátxinhi
Tháng trước về Pari
Rồi thì nó khai ốm
Không biết ốm bệnh chi?
Chắc là nó ốm đòn
…
Chiến dịch Quang Trung
Tát thua lung tung,
Chiến dịch Đề Thám
Tát thua mặt xám
Trận Lý Thường Kiệt
Tát thua tê liệt…?
32
Ở đây chất đồng dao, cách nói dân dã đã được triệt để vận dụng để có một tiểu
phẩm dạng vè thú vị mà hào sảng.
Riêng về cái gọi là “xâm lấn thể loại” không chỉ thấy ở những tiểu phẩm vè
mà đặc biệt là xuất hiện nhiều ở các tiểu phẩm tự sự có dáng dấp của một
truyện ngắn. Tác phẩm “Con rùa” là một tranh cãi thú vị giữa các nhà nghiên
cứu rằng nó là truyện ngắn hay tiểu phẩm, hay là một dạng “xâm lấn thể loại”
từ truyện ngắn sang tiểu phẩm tự sự. Kỳ thực khi phân tích kỹ tác phẩm sáng
tạo này từ ý đồ tư tưởng tác phẩm, phạm vi và tính thời sự của đề tài thì nó có
tính báo chí hơn là tính văn học. Hay nói cách khác là một sự sáng tạo độc đáo
về tiểu phẩm trên cái nền tự sự mang dáng dấp của một truyện ngắn.
Sự vận dụng tài hoa này đáng được xem là sáng tạo độc đáo trong phong
cách tiểu phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh.
.2 Độc đáo trong sử dụng ngôn từ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là một nhà văn hóa và là một con người có tri
thức uyên thâm, cả về Hán học và tri thức Tây học. Vậy nhưng trong nghệ
thuật sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm tiểu phẩm thì ngôn ngữ không
được dùng như một sự “khoe mẽ” kiến thức, mà nó đã được chuyển hóa thành
“Ngôn ngữ bình dân” một cách giản dị, dễ hiểu với vốn từ Việt nôm na được
dùng đúng hoàn cảnh. Sử dụng ngôn ngữ bình dân là một trong những đặc
điểm dễ nhận thấy trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh. Nếu làm một
phép thống kê thông thường thì trong hầu hết các tiểu phẩm của Bác, tần suất
xuất hiện lớp ngôn ngữ “nôm na, dân giã” này rất cao, kể cả trong những tiểu
phẩm chính trị.
Chẳng hạn trong các trích đoạn tiểu phẩm sau:
“Về chính trị, cần phải vạch rõ mưu mô xỏ lá của đại bợm Giôn. Càng thua
Giôn càng dãy dụa, càng đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam càng rêu rao cái
món hòa bình giả dối. Từ tháng 4 năm 1965, y đưa cái gọi là “đàm phán
không điều kiện” hòng bịp thiên hạ”.
33
Hay: “Chợt thấy mình hớ hênh lỡ miệng, hôm 15/3/1964 tổng Giôn đã thề
hết thành hoàng thổ công rằng y tuyệt đối “không có âm mưu Bắc tiến”.
(Chiến sỹ, nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ- Nhân dân 7/5/1964)
Rõ ràng hàng loạt các từ như “xỏ lá”, “đại bợm”, “bịp”, “hớ hênh lỡ
miệng”, “thề thành hoàng thổ công” hay các từ đệm như “cái món”…vốn dĩ là
những từ nôm na trong hệ thống ngôn ngữ bình dân. Nhưng việc sử dụng nó
đúng hoàn cảnh đã tăng sức thuyết phục và hiệu quả thông tin, tuyên truyền
cho tác phẩm. Lớp từ đó còn có hiệu quả lên án và vạch trần những thói “bịp
bợm” của chính quyền thực dân, đế quốc đối với các chính sách đánh chiếm và
cai trị cũng như những tội ác mà chúng gây ra cho dân tộc và nhân dân Việt
Nam.
Cạnh đó, ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ khẩu ngữ không chỉ được sử dụng ở
tần suất cao mà sử dụng một cách hết sức sáng tạo với những kết nối ngôn từ
linh động, thông minh và vô cùng bất ngờ. Sự xuất hiện các động từ như “láo”
kết hợp với các tính từ để nâng mức độ, cấp độ bản chất lên nhiều lần như “láo
toét”, “láo xược”…để vạch trần những âm mưu của kẻ thù. Không chỉ vậy việc
dùng ngôn ngữ theo cách này còn là một sự mỉa mai sâu cay và “chửi” vỗ mặt
vào bản chất dối trá của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chẳng hạn như Bác gọi
: “Bộ trưởng quốc Mỹ Mắc na ma ra là trạng nói láo” (ND 4.1.1966); “Bài
diễn văn láo xược của Đa lét không dọa nổi nhân dân châu Á”(ND 13.3.1955);
“Tổng Giôn luôn cho rằng mục đích của Mỹ là hòa bình…thực ra là láo toét”
(ND 20.7.1964).
Việc phiên âm tiếng nước ngoài, đặc biệt là phiên âm tên người, nhất là tên
giới cầm quyền một cách cố ý theo dụng ý châm biếm cũng là một đặc điểm
sáng tạo trong ngôn ngữ tiểu phẩm của Hồ Chí Minh. Chẳng hạn tổng thống
Mỹ Ai- xen- hao được Bác rút gọn lại là “Tổng Ai”, rất ít khi Bác gọi đầy đủ là
Tổng thống, mà chỉ gọi là “tổng” với cái tên phiên âm mai mỉa phía sau như
một bổ ngữ. Chẳng hạn “Mấy lời thành thật ngỏ cùng tổng Ai”. Ai ở đây chính
34
là Ai-xen- hao nhưng bởi tính đa nghĩa của từ tiếng Việt sau khi phiên âm,
“Ai” cũng có thể hiểu “xiên xẹo” là “bi ai” buồn phiền, khổ não, và “Ai” cũng
là một đại từ nghi vẫn hỏi người…Nixơn phó tổng thống Mỹ thì bị lược lại
thành “Nix” trong tiểu phẩm “Gửi Mr. Nixơn, phó tổng thống Mỹ”. Dòng mở
đầu là một câu văn “dở tây dở ta” rất gây ấn tượng: “Alo.Mr Nix! You đến Sài
Gòn với mục đích gì?”..
Một loạt các tướng tá Mỹ cũng đều “bị” phiên âm tên ra tiếng Việt một
cách dụng ý để cố tình châm biếm. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mắc-na- ma
ma - ra lúc thì “bị” gọi là “Mặt- nạ”, lúc thì “Mặt- nạ- ma-ra” để hai từ “mặt
nạ” và “ma” cạnh nhau như một hàm ý ám chí một tên ma mãnh, quỷ quyệt,dả
dối đeo mặt nạ. Sự phiên âm có chủ đích này như một sở trường đặc biệt và
lần đầu chỉ thấy trong tiểu phẩm của Bác Hồ. Ngoài ra một loạt quan
chức,tướng tá khác cũng được “phiên” cho những cái tên ấn tượng. Đing-rát-
Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ thì được gọi là “Đinh-rút”; tướng Ca-bô-lốt được
phiên là “Cá bỏ lọt” hay “Cá bột lót”; Tướng Mắc- a-tơ được phiên thành một
cái tên như chính bản chất độc ác của hắn “Mặt ác tệ”; Oét-mơ-len được gọi
là… “Vét mỡ lợn”…
Và việc “cố tình” phiên âm theo cách này, Bác không chú trọng đến việc
phiên âm chuẩn mà cố tính gán cho nó những âm tiếng Việt mang hàm ý xấu,
“bôi nhếch” để chế nhạo và dễu cợt một cách hài hước, dễ nhớ mà sâu sắc, như
chính bản chất xấu xa của chúng. Đây lại là một nét tài hoa, độc đáo trong
phong cách ngôn ngữ tiểu phẩm của Hồ Chí Minh.
Nghệ thuật chơi chữ cũng là một nét tài hoa trong phong cách tiểu phẩm Hồ
Chí Minh. Đó là việc tạo ra sự tương phản giữa các từ đồng âm khác nghĩa, là
sự kết hợp các tổ hợp từ, là việc phiên âm tiếng nước ngoài…tất cả đều xuất
hiện một cách cố ý, dày đặc trong khối lượng tiểu phẩm độ sộ của Người.
2.2.3 Độc đáo trong cách rút tít cho tiểu phẩm.
35
Ai cũng biết tít báo là yếu tố đầu tiên gây ấn tượng với độc giả. Một tác
phẩm báo chí thành công và thu hút người đọc chính là bắt đầu từ tít báo. Vậy
nên rút tít vừa là một khâu kỹ thuật và là cả một nghệ thuật đối với những nhà
báo có tài. Bởi đây là yếu tố đầu tiên để thông báo nội dung, chủ đề để thu hút
và định hướng tình cảm, cảm xúc và tư duy của người đọc. Và chính vì lẽ đó
không một người làm báo nào lại không “dằn vặt” để tìm ra một tít báo ấn
tượng.
Sự lao động sáng tạo này càng thể hiện rõ trong quá trình viết báo của chủ
tịch Hồ Chí Minh. Với một trình độ điêu luyện Người đã rất chú ý đến nghệ
thuật đặt tít cho các tác phẩm tiểu phẩm của mình. Đa phần những tít báo của
Bác ở thể loại tiểu phẩm đều rất ngắn gọn súc tích chứa đựng một lượng thông
tin tối đa mà vẫn hấp dẫn bạn đọc bởi sự bất ngờ, duyên dáng của nó. Nhiều
nhà nghiên cứu thống kê trung bình tít mỗi bài tiểu phẩm của Bác chỉ bao gồm
bốn từ, có tít chỉ vọn vẹn một từ, cá biệt có trường hợp bẩy đến tám từ. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khi giật tít thường tìm những phương tiện từ vựng, ngữ pháp
thích hợp nhất nhằm tiết kiệm lời và tăng lượng thông tin cho bài.
Đó là tạo sự cân xứng, đối lập trong mệnh đề. Chẳng hạn có tít bài Người
viết: “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn” (Nhân dân số 194 từ ngày 13 đến
15/6/1954); “Mỹ thú Mỹ thua” (Nhân dân mùng 1 tháng 2 năm 1956). Đôi khi
Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng cả nối nói tắt trong hội thoại: “Mỹ thua to, Xô
thắng lợi”, “Tổng Ken dại dột”… Trong nhiều trường hợp giật tít khác Người
lược bớt quan hệ từ, chẳng hạn không dùng từ “của” làm cho từ biểu thị người
có quyền sở hữu chuyển thành từ biểu thị tính chất. Cách này mang lại cho tên
bài sắc thái ý nghĩa tế nhị ví dụ tiểu phẩm “Lại chuyện chó Mỹ”, lý ra phải viết
“chó của Mỹ” nhưng sự lược từ này là có chủ ý ám chỉ lũ Người lòng lang dạ
thú đã mất gốc gắn mình với bọn thực dân.
Một sự sáng tạo khác trong cách giật tít của Bác là sự chơi chữ tương phản
trong cùng một tít báo. Hình thức đặt hai từ điệp âm, láy âm gần nhau cũng là
36
một trong những ví dụ đáng quan tâm. Chẳng hạn như: “Xa lăng xa lù” (Nhân
dân 20/3/1952)- “xa lù” là phiên âm tiếng Pháp có hàm nghĩa mắng chửi. “Đế
quốc Mỹ bi và bí” (Nhân dân 29/12/1957).
Nguồn tít báo của tiểu phẩm Hồ Chí Minh rất đa dạng, trong đó thành ngữ,
tục ngữ, ca dao, văn học cổ điển trong và ngoài nước được vận dụng và khai
thác triệt để, từ đó sáng tạo ra một loạt các tít báo sinh động, muôn hình muôn
vẻ và rất…Hồ Chí Minh. Một số thành ngữ, tục ngữ được dùng nguyên dạng
như “Mồ cha không khóc, khóc mố mối”(Cứu quốc 12/10/1951); “Vỏ quýt dày
có móng tay nhọn” (Nhân dân 29/1/1955); “Treo đầu dê bán thịt chó”…Do
nghĩa của tục ngữ, thành ngữ là nghĩa bóng, ở phần mở đầu tiểu phẩm, Bác
giới thiệu ngay nội dung câu chuyện để người đọc nắm bắt ngay được vấn đề,
chẳng hạn bài “Mồ cha không khóc, khóc mồ mối” được mở đầu bằng câu:
“Mỹ đưa tiền, đưa thuốc đi giúp các nước khác, trong lúc đó, nhân dân Mỹ
sống thế nào?”.
Khi viết về thái độ chán ngán của dân chúng và phụ nữ Pháp vì cuộc chiến
tranh phi nghĩa, hao người tốn của ở Đông Dương, Người đã lẩy “Chinh phụ
ngâm”: “Vì ai nên nỗi nước này” (Nhân dân 13/3/1952) hoặc lấy ngay tên tác
phẩm làm tên tiểu phẩm: “Chinh phụ ngâm mới”(Nhân dân tháng 5/1954).
Có khi tít tiểu phẩm là những câu do chính miệng kẻ thù nói ra: “Từ Hoa
Thịnh Đốn đến hòa bình hay là mất cả áo lẫn da” (Nhân dân 3/3/1952), lấy ý ở
câu của Tát xi nhi kêu với Mỹ: “Người Pháp đã hy sinh áo lót và đang hy sinh
cả da thịt”. Những câu huênh hoang bịp bợm của kẻ địch đều được để trong
ngoặc kép: “Đạo đức của Mỹ”, “Văn minh kiểu Mỹ”, “Sinh hoạt kiểu Mỹ”…
Tít tiểu phẩm Hồ Chí Minh có sức hấp dẫn công chúng một cách đặc biệt vì
các lẽ: Về nội dung, nó phản ánh quan điểm, tư duy và sự minh triết trong tư
tưởng của Bác cũng như là sự thể hiện đường lối của một lãnh tụ đứng đầu với
các vấn đề thời sự cách mạng trong và ngoài nước. Đáp ứng được yêu cầu về
nhận thức tư tưởng, tình cảm và hành động của quảng đại quần chúng nhân
37
dân. Trên bình diện hình thức, tiểu phẩm của bác có lối diễn đạt rất dễ hiểu
ngắn gọn, cô đọng, rất dí dỏm và đa dạng. Đây là kết tinh của sự lao động sáng
tạo, trải nghiệm và học tập không ngừng trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách
mạng và hoạt động báo chí của Bác.
Nghiên cứu về tiểu phẩm Hồ Chí Minh trong sự tìm hiểu sự vận động và
phát triển đi lên nói chung của thể loại tiểu phẩm để có những so sánh trên cả
mặt nội dung và hình thức tác phẩm là rất cần thiết. Bởi lẽ những tác phẩm báo
chí tiểu phẩm của Người đã đạt đến độ chuẩn mực để đúc kết lại thành những
nét đặc trưng cơ bản của tiểu phẩm trong một thời kỳ và cả những ảnh hưởng
sau này trong quá trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn về thể loại tiểu phẩm và
biến thể của nó trong báo chí học.
III.Tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố.
3.1 Sơ lƣợc tiểu sử tác giả Ngô Tất Tố.
Ngô Tất Tố, sinh năm 1894, quê gốc là làng Lộc Hà, Từ Sơn, Bắc Ninh
(nay là xã Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Nam. Trước cách mạng, Ngô Tất Tố làm nhiều nghề: Dạy học, bốc thuốc, làm
báo, viết văn; từng công tác với nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời
báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo,
Hà Nội Tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt Nữ, Tiểu
thuyết thứ ba...
Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia ủy ban Giải phóng xã (Lộc Hà).
Năm 1946 Ngô Tất Tố gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc và lên chiến khu Việt
Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Nhà văn đã từng là: Chi hội trưởng Chi
hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các
báo: Cứu quốc khu XII, Thông tin khu XII, Tạp chí Văn nghệ và báo Cứu
quốc Trung ương... và viết văn. Ông đã là ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn
nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ I - 1948). Ngô Tất
38
Tố mất ngày 20 tháng 4 năm 1954 (tức 18-3 năm Giáp Ngọ) tại Yên Thế, Bắc
Giang.
Ngô Tất Tố có một khối lượng các tác phẩm khá đồ sộ bao gồm các tác
phẩm đã xuất bản: Ngô Việt Xuân Thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch,
1929); Vua Hàm Nghi với việc Kinh thành thất thủ (truyện ký lịch sử, 1935);
Đề Thám (truyện ký lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết, 1937 (báo
Việt Nữ), 1939 (Mai Lĩnh xuất bản); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1939
(đăng báo Thời vụ), 1941 (Mai Lĩnh xuất bản) 1952); Thơ và tình (dịch thơ
Trung Quốc, 1940); Đường Thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng
(phóng sự, 1940 (báo Hà Nội Tân văn); 1941 (Mai Lĩnh xuất bản); Thi văn
bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lý (tập I) và Văn học đời
Trần (tập II) (trong bộ Việt Nam văn học) (nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão
Tử (soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí
(dịch, tiểu thuyết lịch sử, 1942 (báo Đông Pháp), 1956); Kinh dịch (chú giải,
1953); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện
vừa, 1946); Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện
ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946, 1954); Nữ chiến sĩ
Bùi Thị Phác (chèo, 1951).
Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949-
1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: "Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến
đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác). Giải thưởng Hồ
Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt I, 1996).
3.2 Ngô Tất Tố nghề văn và nghiệp báo.
Một số người làm công tác nghiên cứu cứ đi giải mã một câu hỏi không đâu
là Ngô Tất Tố là nhà văn hay nhà báo? Bởi thực tế các tác phẩm văn học và
báo chí của ông cũng như hành trình chữ nghĩa của mình qua các giai đoạn
lịch sử khác nhau đều đương nhiên khẳng định ông là cả hai nhà. Cả nghề văn
39
lẫn nghiệp báo đều để lại những dấu ấn sáng tạo sâu sắc và sức làm việc hết
mình cho nghiệp cầm bút của mình.
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tập trung vào phân tích và nghiên cứu
con người báo chí Ngô Tất Tố, và trong hàng loạt các tác phẩm báo chí của
ông, chúng tôi cũng chỉ một phần đề cập đến mảng tiểu phẩm như một thế
mạnh số một của cây bút tiểu phẩm xuất chúng này. Với những phát hiện mới
đây và những khảo cứu chưa đầy đủ thì lượng tác phẩm báo chí của Ngô Tất
Tố đã lên đến con số ngàn. Trong gần 1500 tác phẩm báo chí, ấy đa phần là
những tiểu phẩm báo chí có gía trị thời sự với những hình thức chuyển tải hết
sức độc đáo và sắc sảo. Và từ đó đã có rất nhiều những đề tài đề cập, nghiên
cứu về tiểu phẩm của Ngô Tất Tố.
Đánh giá về nội dung báo chí của Ngô Tất Tố, nhiều nhà nghiên cứu gần
như cùng quan điểm khi nhìn nhận những tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố
như vũ khí lợi hại đánh thẳng vào bọn cướp nước và lũ bán nước. Nội dung
báo chí của Ngô Tất Tố còn như “bản tố khổ chan hòa nước mắt và lòng căm
phẫn của nông dân” Việt Nam dưới chế độ đế quốc, phong kiến.
Đặc điểm nổi bật trong sự nghiệp báo chí của Ngô Tất Tố là ông viết nhiều
thể loại, trong đó tiểu phẩm báo chí và phóng sự là hai thể loại nổi tiếng nhất
của ông. Ông phụ trách nhiều chuyên mục của nhiều tờ báo hằng ngày và hằng
tuần. Chuyên mục nào ông cũng nêu rõ chủ trương về nội dung và hình thức
để các cộng tác viên theo đó mà tham gia viết bài cho chuyên mục. Nhà báo
Ngô Tất Tố đặc biệt lưu ý các đồng nghiệp ở các báo nên chú ý chọn lọc chữ
cho kỹ để đặt tên chuyên mục (tức “đề mục”) cho dễ hiểu và gây ấn tượng tốt,
không nên đặt đề mục một cách tùy tiện. Ông khuyên đồng nghiệp: “Đề mục
nếu đặt bằng chữ lố lăng, thì có khác gì cái mắt có rạp (bụi) mà không rửa”.
Về tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, nhiều đề tài nghiên cứu đã đúc kết thành các
chuyên đề như: Sức thuyết phục logic của văn tiểu phẩm Ngô Tất Tố; về sức
truyền cảm bằng hình tượng thẩm mỹ, về điển hình hóa mà không hư cấu; về
40
nghệ thuật trào lộng, đả kích và về phong cách đậm đà bản sắc dân tộc…Các
nhà nghiên cứu đã dày công sưu tầm và đã sao y bản gốc số lượng 1350 tác
phẩm đăng báo và thẩm định được 26 bút danh khác nhau của Ngô Tất Tố. Số
lượng mới tìm thấy chưa in thành sách chiếm 90% (ước khoảng 4000 trang).
Các nhà nghiên cứu cũng đã tìm và xác định được chính xác 13 bút danh đã
tìm thêm. Đây là kho tàng tư liệu phong phú, phản ánh toàn diện, trung thực xã
hội ta dưới ách nô lệ của thực dân Pháp nửa đầu thế kỷ XX và cũng là một
nguồn tư liệu vô tận để nghiên cứu vể đặc trưng phong cách tiểu phẩm báo chí
của Ngô Tất Tố.
Là một nhà văn, một người có vốn Hán học uyên thâm và cũng biết chữ
Pháp cũng như uyên thâm về văn hóa nên tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố
cũng rất giàu tính văn học và sử dụng các thủ pháp văn học một cách nhuần
nhuyễn để tạo tính hấp dẫn và sức thuyết phục cho các tác phẩm tiểu phẩm.
3.3 Nội dung tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố
Tiểu phẩm Ngô Tất Tố nội dung cũng có tính phân kỳ theo từng niên
biểu hoạt động báo chí của ông. Đó là giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám,
giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1954, thời điểm mà
ông gắn với các hoạt động ở chiến khu Việt Bắc và giai đoạn 1954 đến sau
này.
Dù ở giai đoạn nào thì tiểu phẩm Ngô Tất Tố cũng là một bức trang tổng
thể, rộng lớn phản ánh chân thực cảnh sống khốn cùng của những người nông
dân ở các vùng nông thôn, vạch rõ những tai ương, những bất công ngang trái
của chế độ thực dân phong kiến ở nước ta những năm trước cách mạng tháng
8. Ngòi bút chống thực dân phong kiến mạnh mẽ của ông đã tập trung lột tả
bản chất của giai cấp thống trị với những kiểu người điển hình trong xã hội cũ
qua các bức chân dung biếm họa hết sức tài tình. Đó là bộ mặt của những tên
như Pagie (Pages) Thống đốc Nam Kỳ, “Tôlăngxơ (Tholange) đại nhân” Thủ
yến Bắc Kỳ… Đó là những tên quan lại công chức người Pháp sống giàu có,
41
phè phỡn trên mồ hôi xương máu của người dân thuộc địa. Ngô Tất Tố đã chỉ
tên vạch mạch từng loại quan tham, khắc lên bộ mặt nham nhở của chúng
những dấu ấn không thể phai mờ, để người dân nô lệ muôn đời nguyền rủa
chúng. Ngô Tất Tố ngay từ đầu những năm 30 đã đứng vững trên lập trường
chủ nghĩa hiện thực phê phán để phản ánh thực trạng cuộc sống nên tiểu phẩm
của ông giàu tính hiện thực, luôn gắn bó với quần chúng nhân dân lao động.
Đặc biệt ông là người đã từng chứng kiến sự thối nát của chính quyền đương
thời và sự hèn hạ của bọn phản động đầu hàng thực dân cũng như chứng kiến
nhiều phong trào yêu nước bị đàn áp nên tinh thần yêu nước đã hun đúc và
khắc sâu trong tâm khảm của ông. Đáng chú ý nhân tố có ý nghĩa quyết định
nhất đối với ông là những ảnh hưởng của các phong trào cách mạng trong
nước và báo chí công khai của Đảng Cộng sản trong thời kỳ mặt trận dân chủ.
Sự tác động này làm ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần yêu nước của Ngô Tất
Tố và làm cho ngòi bút trong các tác phẩm tiểu phẩm trở nên sắc bén và lợi hại
hơn.
Đấu tranh trực diện với kẻ thù là một việc làm khó khăn phức tạp và
nguy hiểm nhưng với dũng khí của một ngòi bút chân chính đấu tranh cho
công bằng xã hội đã tạo nên sự thành công trong các tác phẩm tiểu phẩm của
Ngô Tất Tố. Trước hết, ông phê phán những tổ chức mị dân, núp dưới chiêu
bài dân cử như Viện Dân biểu Bắc Kỳ được Ngô Tất Tố giới thiệu một cách
hài hước: “Ông Lục đã hiến trái tim cho dân mà vẫn mạnh khỏe như thường”,
“không phải bênh vực quyền lợi cho dân mà cứ làm phó hội trưởng hội nhân
quyền” những người như Phan Huy Lục rõ ràng không thể đại diện cho quyền
lực của người dân. Trong tiểu phẩm “Còn chờ gì nữa mà không giải tán Viên
dân biểu” Ngô Tất Tố đã phê phán cách gay gắt tổ chức mỵ dân vô tích sự này.
Ông viết: “Chưa có dân viện tình cảnh dân chúng đã thế này. Từ khi có dân
viện tình cảnh dân chúng vẫn thế này. Dân chúng không thể mong chờ gì vào
thứ đồ chơi ấy. Giải tán đi là phải”. Không chỉ tố cáo những thủ đoạn ngu dân,
42
mỵ dân của bọn thực dân phong kiến, Ngô Tất Tố còn vạch ra những âm mưu
đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện, nhà xăm… nhằm ru ngủ và làm tê liệt
tinh thần đấu tranh, ý chí phản kháng của người dân đặc biệt là tầng lớp thanh
niên để đẩy họ vào con đường trụy lạc, làm đất nước đến bờ vực của diệt vong.
Bên cạnh việc lên án một cách mạnh mẽ, kết tội bè lũ thực dân cướp
nước cùng bọn vua quan phong kiến bán nước, Ngô Tất Tố còn dành nhiều
tâm huyết trong các tiểu phẩm phản ánh về nối thống khổ của các tầng lớp
nông dân lao động ở thôn quê đang bị bao vây bởi những hủ tục lạc hậu cùng
với các thủ đoạn bóc lột tàn ác của giai cấp thống trị. Từ đó ông lên tiếng
mạnh mẽ và tìm cách bênh vực quyền lợi cho họ.
Trên bình diện nội dung, tiểu phẩm của Ngô Tất Tố là những bài báo có
tính chiến đấu như một thứ vũ khí tinh thần sắc bén đấu tranh chống lại bất
công ngang trái và những thói bịp bợm rởm đời dưới chế độ cũ và là tiếng nói
vì công bằng xã hội trong quyền sống của con người. Trên nền nội dung ấy,
cách thức chuyển tải nội dung qua các tác phẩm tiểu phẩm cũng thể hiện
những sáng tạo mang dấu ấn riêng của tác giả, như nhận xét cảu Vũ Trọng
Phụng là “Một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho”.
3.4 Những đặc trƣng và sự sáng tạo trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố.
3.4.1 Sử dụng có hiệu quả bút pháp trào phúng, châm biếm.
Cùng thời với Ngô Tất Tố, các nhà văn hiện thực như Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đều là những cây bút bậc thầy về nghệ thuật
trào phúng, nhưng phân tích kỹ từ bút pháp, giọng điệu thì sẽ nhận thấy “chất”
riêng của Ngô Tất Tố. Với Ngô Tất Tố là giọng điệu trào phúng thâm thúy, sâu
cay, vừa có tính triết lý, vừa là những suy nghĩ về thói đời ngang trái và chỉ ra
hàng chục, hàng trăm thứ rởm đời khôi hài ở bọn cầm quyền, lừa đảo, trọc
phú. Có khi mọi việc được bắt đầu từ một từ ngữ nhưng đằng sau nó là một
tấm hài kịch. Ngay từ đầu thế kỷ, bọn thực dân Pháp đã dựng lên chiêu bài
nước Pháp văn minh đi khai hóa các dân tộc thuộc địa. Hai chữ khai hóa mang
43
nghĩa tiến bộ, thiện chí nhưng thực chất là ngụy tạo cho hai từ xâm chiếm. Ngô
Tất Tố đã vạch trần chiêu bài này trong văn phong châm biếm sâu cay của
mình: “Chẳng ai dùng đến chữ “đánh chiếm”, người ta bảo đó là công cuộc
rất nhân đạo của mấy nước văn minh vì thiên chức khai hóa cho những dân
tộc dã man… Hễ mà mở miệng trước mặt lũ dân bị chinh phục, mấy ông văn
minh không bao giờ quên cái giọng chứa chan nhân nghĩa ấy. Tôi đương
thành tâm kính phục cái nhân đạo của mấy ông đó và muốn tin rằng ở trên đời
này chỉ có cuộc khai hóa, không bao giờ có cuộc đánh chiếm thế nhưng tôi vẫn
còn tự phân vân và tự hỏi thầm “nếu quả như vậy thì cái Âu châu đại chiến
1914 cũng do mấy ông Nhật Nhĩ Man định khai hóa nước Pháp à?” Sự trào
lộng, mỉa mai thể hiện trong sự phân tích những mâu thuẫn, nghịch lý nội tại
trong chính sự xâm lược được che đậy dưới mỹ từ khai hóa này.
Ngòi bút châm biếm của Ngô Tất Tố còn có nhiều giọng điệu khác
nhau. Lúc thì tấn công trực diện, lúc thì vận dụng cách nói gián tiếp mỉa mai
sây cay những mặt trái, bất công trong đời sống xã hội.
3.4.2 Sự độc đáo về việc sử dụng giai thoại, điển tích trong tiểu
phẩm
Một trong những yếu tố tiếp nhận ảnh hưởng từ văn học vào các tác
phẩm báo chí của Ngô Tất Tố là tính chất giai thoại, điển tích trong các tiểu
phẩm. Ngô Tất Tố thường sử dụng điển tích từ kho tàng tri thức Hán học để
vận dụng một cách linh động vào các trường hợp, hoàn cảnh khác nhau để qua
đó làm sáng tỏ các sự kiện và tăng tính hấp dẫn, thuyết phục cho sự kiện. Tiểu
phẩm “Bộ thuộc địa và chàng Đặng Bá Đạo” là một trong những ví dụ tiêu
biểu, chứng minh điều này. Mục tiêu đả phá, lên án của tiểu phẩm này là Bộ
Thuộc địa Pháp với chủ trưong quái đản là chuyển người Việt Nam sang châu
Phi và 5 vạn dân Do Thái sang Đông Dương. Sự thật, đây là một trò lố núp
dưới cái vỏ nhân đạo của Bộ Thuộc địa Pháp nhằm lấy tiếng với thế giới trong
việc cưu mang người Do Thái vốn đang bị đe dọa bởi chủ nghĩa Apácthai phát
44
xít trong thời kỳ chuẩn bị chiến tranh thế giới thứ 2. Bất bình và muốn vạch
trần sự dối trá này, Ngô Tất Tố đã lấy giai thoại của người Trung Hoa cổ đại
để so sánh. Đó là giai thoại “Bỏ con lấy cháu” trong câu chuyện của Đặng Bá
Đạo.
Có thể kể lại vắn tắt chuyện này như sau: Hai vợ chồng Bá Đạo đưa một
người con và một đứa cháu (gọi bằng Bác) đi chạy loạn. Giữa đường thấy tình
thế nguy cấp, khó lòng giữ nổi cả con lẫn cháu. Bá Đạo bàn với vợ và quyết
định trói con để lại, không cho theo, chỉ đem đứa cháu đi, với lập luận: Cháu là
giọt máu duy nhất của người em xấu số để lại. Vợ chồng Bá Đạo còn trẻ vẫn
còn có thể đẻ tiếp. Vợ Bá Đạo vô cùng đau khổ nhưng phải nghe theo. Hết thời
loạn lạc, Bá Đạo muốn có con nối dõi tông đường nhưng dường như hắn bị
trời phạt, đã không có nổi. Thậm chí, có lần thấy vợ già, hắn tìm người trẻ, lấy
làm lẽ, hi vọng sẽ đẻ được con. Trớ trêu thay, cưới xong hắn mới biết mình lấy
nhầm phải một đứa cháu, bèn đuổi đi… Đó là một câu chuyện tàn nhẫn, một bi
kịch cay đắng trong quan hệ ứng xử và tình thế lựa chọn của con người. Nhà
văn Lỗ Tấn trong một tạp văn của mình đã từng lên án giai thoại đó. Trước các
chi tiết: Bá đạo trói con vào cây, không theo kịp mới bỏ tay ra, Lỗ Tấn lên án
là: “Lấy chuyện ghê tởm làm điều thú vị, lấy chuyện không có tình nghĩa làm
luân lý, kỷ cương, vu khống miệt thị cổ nhân dậy làm điều bậy cho hậu thế”.
Ngô Tất Tố khai thác triệt để ý nghĩa của giai thoại này để lên án mưu đồ xảo
trá của chính phủ Pháp. Tác giả đã phân tích một cách mỉa mai: “Với Đông
Dương nước Pháp là một mẫu quốc, lẽ tất nhiên Đông Dương cũng như con
của nước Pháp rồi. Còn dân Do Thái, ngoài cái nghĩa đồng tông với quan cựu
thủ tướng Blum, chính phủ Balê không có tình gì với họ. Vậy thì dân Do Thái
cũng như cháu của nước Pháp chứ gì?”. Không dừng lại ở đó, tác giả còn tiếp
tục vạch trần bộ mặt bịp bợm của Bộ thuộc địa Pháp trong chủ trương nêu
trên: “Nhưng có người khác lại nói trong cuốn “Ấu học tầm nguyên” rằng: lúc
chạy loạn Bá Đạo vẫn có thể chạy cả con lẫn cháu. Vì muốn lấy tiếng nên anh
45
ta mới trói thằng con vào gốc cây để nó khỏi theo mình đi, dù nó có kêu van
mặc kệ”.
Trong tiểu phẩm trên, giai thoại được dẫn ra từ hai nguồn sách cổ: Tấn
thư và Ấu học tầm nguyên. Yếu tố điển tích giai thoại này còn xuất hiện trong
rất nhiều tiểu phẩm khác của Ngô Tất Tố chẳng hạn như “Quan tham biện chợ
lớn với ông Khổng Tử?” sử dụng một trích dẫn trong luận ngữ. Hay ông Pagés
chắc có đọc qua Trang Tử sử dụng điển tích Thư Công nước Tống lừa đàn khỉ
trong chuyện chia hạt dẻ. Hay tiểu phẩm “Ông thống sứ với trận mưa hôm nọ”
sử dụng điển tích Vua Thang sám hối, cầu đảo trong Thương thư và quan phủ
Trịnh Hoằng giảm thuế cứu dân, xe đi đến đâu trời mưa đến đó trong sách Hậu
Hán thư… Để vận dụng được những điển tích, điển cố này trong hoạt động
sáng tạo tác phẩm tiểu phẩm của mình, Ngô Tất Tố đã bộc lộ những khả năng
khai thác một tri thức Hán học khổng lồ.
Không chỉ vận dụng các điển tích, điển cố trong kho tri thức Hán học,
ông còn sử dụng từ nguồn văn học Việt Nam. Trong tiểu phẩm “Khổ cho ông
thần Bạch Mã” tác giả dẫn ra tích thần Bạch Mã trong “Việt điện u linh” và sự
tích Tô Hiến Thành trong “Tang thương ngẫu lục”.
3.4.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố
Đọc tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, hầu hết công chúng đều bị thuyết phục,
lôi cuốn vào cách dẫn chuyện, tình huống, hoàn cảnh bởi cách sử dụng từ ngữ
trong tiểu phẩm hết sức linh hoạt. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tiểu phẩm
Ngô Tất Tố là yếu tố quan trọng tạo ra sức hấp dẫn, độ lan tỏa đối với bạn đọc.
Đầu tiên phải kể đến sự khéo léo, tài tình trong nghệ thuật đặt tít. Hàng loạt
những tít cho tiểu phẩm như “Đã dại thì thôi định hùn ai”, “Vừa chạy vừa quay
cổ lại, vừa quay cổ lại”, “Mạ lại tin tức”, “Ai bảo quan sĩ xứ mình không gan”,
“Đại hiền nói dối”, “Có mà kiện lên thiên đình”, “Đen đỏ đỏ đen”, “Ngắn hai
dài một”, “Hitle và con gà mái Biên Hà”, “Còn chờ gì nữa mà chưa giải tán
Hội dân biểu, trò nhố nhăng” …
46
Ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố đã kết hợp được nét sắc
nhọn mạnh mẽ của ngôn ngữ báo chí với chất thâm thúy, nhuần nhị, hàm súc
của ngôn ngữ văn chương. Hầu hết các tác phẩm tiểu phẩm của Ngô Tất Tố
người đọc đều cảm thấy tác giả đã rất dụng công trong việc tìm tòi cách thức
thể hiện để ngôn ngữ sử dụng trong tiểu phẩm đạt được hiệu quả thông tin cao
nhất. Ngôn ngữ tiểu phẩm Ngô Tất Tố không chỉ biểu đạt những ý tưởng một
cách thông thường mà còn tham gia trực tiếp vào việc xây dựng và kiến trúc
nội dung trong tiểu phẩm.
Ngôn ngữ tiểu phẩm Ngô Tất Tố là một sự kết hợp ngẫu hứng của một
con người đầy trải nghiệm vốn kiến thức phong phú của Hán học, văn học dân
gian và cả ngôn ngữ hiện đại. Vậy nên sự diễn đạt trong các tiểu phẩm gần như
không có sự lặp lại của một cấu trúc văn bản và ngôn từ có tính khuôn mẫu.
Chỉ có điều trong cách giật tít, mặc dầu hấp dẫn, nhưng các âm tiết hơi nhiều.
Tít tiểu phẩm của Ngô Tất Tố chủ yếu từ 4 tâm tiết trở lên, có tiểu phẩm dài
đến 12 âm tiết như : “Nếu vậy thì Ích hữu ái quốc thư xã lâu rồi” in trên báo
Đông phương năm 1931.
Trong việc sử dụng từ ngữ, ngoài sự điềm đạm của một người có kiến
thức và văn hóa, đôi lúc ta còn thấy Ngô Tất Tố còn sử dụng “ngoa ngôn” theo
đúng nghĩa đen để bày tỏ những cung bậc tình cảm qúa sức chịu đựng trước
những thói đời giả dối. Lúc này sự “điềm đạm” tạm nhường chỗ cho những
ngôn từ hơi “cay độc” , “ngoa ngoắt” nhưng rất “đáng đồng tiền bát gạo” khi
“vận” vào những tình huống buộc phải chửi như thế mới đau.
Tiểu phẩm “Một người oan, một người không oan” là một trong những
ví dụ điển hình cho việc sử dụng ngôn ngữ có tính “ngoa ngôn” này. Tháng
giêng năm 1939,vì một bức biếm họa của tờ Quốc gia tuần báo, cả ba người là
Trương Tửu, họa sỹ Nguyễn Đỗ C, và bà quản lý báo (vợ một người làm thuốc
chữa bệnh giang mai là Lê Ngọc Thiều), đều bị chịu phạt tiền. Vốn không ưa
tính cách Trương Tửu, lại căm ghét thói hợm mình của tên chủ thuốc lậu, Ngô
47
Tất Tố đã viết tiểu phẩm nổi tiếng nói trên. Trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố
“chửi” một cách cay nghiệt: “Không biết từ trước tới giờ có ai uống thuốc nhà
ấy mà khỏi được bệnh. Người ta chỉ biết về đường học vấn, Thiều thì cũng như
Phách mà Phách thì cũng như Vụ, cả ba đều xứng đáng treo làm câu đối hai
câu “Hán tự đếch biết Hán, Tây tự đếch biết Tây” của ông Tú Xương…
Hắn là hắn cũng tưởng rằng: nhà mình nhà mình đã có đất phát về nghê
bán thuốc lậu, thì cũng có đất phát về nghề báo chứ gì? Nhưng, hình như mả
tổ nhà hắn chỉ có ống thụt, không có quản bút”
Ở đây tác giả đã mỉa mai hai anh em nhà Lê Ngọc Thiều và Lê Huy
Phách cứ cho rằng mình có tài kinh doanh thuốc lậu thì cũng có tài…làm báo.
Những câu chửi “chết người” này chắc làm cho đối tượng bị chửi phải muối
mặt mà không dám ngẩng đầu lên với thiên hạ. Chưa hết, Ngô Tất Tố khi chửi
Trương Tửu thì càng ngoa ngoắt hơn, cũng trong tiểu phẩm này ông viết:
“Nhưng ông Trương Tửu thì không oan một chút nào. Ai bảo ông ấy “thí
nghiệm ngòi bút” với hạng người ấy? Trời cho mình bút, cũng nên trân trọng
mới phải. Lẽ nào cái chỗ chỉ chứa thuốc lậu mà cũng chọc nó vào được”.
Ngôn ngữ của Ngô Tất Tố không có tính ám chỉ, mà đã chửi ai, đánh ai
là…đánh trực diện, đánh đích danh. Đây không đơn thuần chỉ là một cách diễn
đạt, mà ngôn ngữ sử dụng đã thể hiện bản lĩnh, chất kiêu hùng của người làm
báo. Và theo cách này thì ngôn ngữ đã là một phần không thể thiếu góp phần
quan trọng kiến tạo nên chất tiểu phẩm, tính chiến đấu trong nội dung tiểu
phẩm báo chí Ngô Tất Tố.
Trên bình diện đặc trưng, cấu trúc và nghệ thuật viết tiểu phẩm của nhà
báo Ngô Tất Tố chúng ta còn thấy ông sử dụng các thủ pháp đặc trưng khác
như tính tự sự của văn học. Mỗi một tiểu phẩm có cấu trúc chặt chẽ, có nhân
vật, có hình tuyến, có cả hoàn cảnh điển hình trong một không gian và thời
gian thực và ảo. Điều này không khó lý giải vì cũng như Nguyễn Ái Quốc,
Ngô Tất Tố là một nhà văn nên sử dụng các thủ pháp văn học trong viết tiểu
48
phẩm là điều dễ nhận thấy. Ngoài ra khái niệm “xâm lấn thể loại” như
PSG.TS Phạm Thành Hưng đưa ra cũng nhận thấy trong các tác phẩm tiểu
phẩm của Ngô Tất Tố. Tất cả những điều nói trên đã tạo thành một phong cách
tiểu phẩm khó lẫn vào ai và tạo dựng nên một tên tuổi Ngô Tất Tố trong dòng
chảy của lịch sử báo chí Việt Nam. Một tên tuổi tiểu phẩm hàng đầu của thế kỷ
XX không dễ gì có sự thay thế…
Tiểu kết chƣơng 2
Tiểu phẩm báo chí của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố trong thế kỷ
XX, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ có thể nói là một bộ phận chuẩn mực về
thể loại của nền báo chí Việt Nam. Đây là những quả bom tấn trên mặt trận
văn hóa tư tưởng tấn công trực diện và có hiệu quả vào chủ nghĩa thực dân, đế
quốc và bè lũ tay sai bán nước. Cùng với đó là tiếng nói đấu tranh cho những
bất công ngang trái trong xã hội để bảo vệ và đứng về những người dân lương
thiện bị áp bức bót lột.
Không chỉ chuẩn mực trên bình diện nội dung mà hình thức tác phẩm và
nghệ thuật viết tiểu phẩm của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố cũng đạt đến
độ chuẩn mực bằng tất cả sự độc đáo từ kết cấu, nghệ thuật đặt tít, dùng từ đến
việc vận dụng nhuần nhuyễn các thủ pháp văn học khác trong sáng tạo tiểu
phẩm báo chí.
Cả hai tên tuổi lớn Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố có những nét chung
từ vốn kiến thức phong phú trong học thuật và văn hóa, và đặc biệt đều là
những người viết văn nên sự ảnh hưởng qua lại giữa văn chương và tiểu phẩm
báo chí tạo nên những phong cách độc đáo trong sáng tạo tác phẩm tiểu phẩm.
Nghiên cứu sự vận động và phát triển của tiểu phẩm trong lịch sử đến
thực tiễn hoạt động báo chí đương đại sẽ là một thiếu sót nếu không nghiên
cứu đến hai tên tuổi này. Họ là những đại diện xuất sắc nhất cho tiểu phẩm báo
chí trong thế kỷ XX để soi vào đó chúng ta có những nhận định, so sánh các
49
bước phát triển tiếp theo của tiểu phẩm và các biến thể của nó trong hoạt động
thực tiễn và cả lý luận về báo chí học sau này.
Chƣơng III.
BIẾN THỂ CỦA TIỂU PHẨM TRÊN BÁO CHÍ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
I. Diện mạo báo chí Việt Nam đƣơng đại.
Báo chí Việt Nam hiện tại có thể nói có những bước phát triển mạnh mẽ và
vượt bậc trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức trình bày. Sự đa dạng và
thành công của các loại hình báo chí cũng như sự phát triển vượt bậc và
trưởng thành của đội ngũ những người làm báo cũng đã để lại những dấu ấn
cho báo chí Việt Nam hiện đại sau hơn 20 năm đổi mới. Báo chí ngày càng
khẳng định là phương tiện thiết yếu của đời sống xã hội, không chỉ là công cụ
phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà còn thực sự là diễn đàn
của các tầng lớp nhân dân. Hoạt động thông tin ngày càng đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của nhân dân trong việc nắm bắt tình hình thời sự chính trị trong nước
và quốc tế, những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa
học, công nghệ và mọi mặt của cuộc sống. Tính hai chiều, tính công khai,
minh bạch, dân chủ trong hoạt động thông tin ngày càng được coi trọng. Các
loại hình thông tin phát triển phong phú, đa dạng.
Riêng hệ thống báo in ở nước ta hiện nay đã có 553 cơ quan báo, tạp chí
với 713 ấn phẩm báo chí và hơn 1.000 bản tin. Ngoài hai thành phố lớn là Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều cơ quan báo chí Trung ương,
tất cả các tỉnh, thành phố còn lại đều có báo, tạp chí riêng. Hàng năm số lượng
bản báo được phát hành ở nước ta khoảng 600 triệu bản. Bình quân có 7,5 bản
báo/người/năm. Hầu hết các trung tâm tỉnh lỵ đều được đọc báo phát hành
trong ngày.
Bên cạnh sự phát triển của báo in thì báo nói cũng phát triển mạnh mẽ.
Hệ thống phát thanh của nước ta hiện nay gồm hàng trăm đài phát sóng, trong
đó riêng Đài Tiếng nói Việt Nam trực tiếp quản lý 11 đài phát sóng với công
50
suất hơn 8.000KW. Tín hiệu của Đài Tiếng nói Việt Nam đã được truyền dẫn
qua vệ tinh. Hệ thống phát thanh địa phương gồm 64 đài ở các tỉnh, thành phố;
606 đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện, trong đó có 288 đài phát sóng FM.
Đài Tiếng nói Việt Nam hiện có 6 hệ chương trình gồm 4 hệ chương trình đối
nội, 2 hệ chương trình đối ngoại với tổng thời lượng hiện nay là 151 giờ phát
sóng mỗi ngày; phủ sóng 97% địa bàn dân cư. Thời lượng và nội dung chương
trình của các đài phát thanh địa phương cũng ngày càng được nâng cao. Mới
đây nhất là đài Tiếng nói Việt Nam đã đưa chương trình phát thanh có hình
vào phát song thử nghiệm và bước đầu cũng tạo những sức hấp dẫn nhất định.
Cùng với báo nói và báo in, báo hình cũng giữ được thế mạnh của mình.
Hiện nay, Đài Truyền hình Việt Nam đã phát sóng trên 5 kênh: VTV1 (chính
trị, tổng hợp), VTV2 (khoa học - giáo dục), VTV3 (thể thao, văn hoá, thông tin
kinh tế, giải trí), VTV4 (thông tin đối ngoại và phục vụ cho người Việt Nam ở
nước ngoài) và VTV5 (chương trình tiếng dân tộc). Cả nước có khoảng 10
triệu máy thu hình với gần 85% số hộ gia đình được xem truyền hình. Ngoài
đài truyền hình quốc gia, còn có 4 trung tâm truyền hình khu vực của đài quốc
gia và ở 64 tỉnh, thành phố đều có đài truyền hình hoặc đài phát thanh - truyền
hình.
Một loại hình báo chí đang phát triển mạnh ở nước ta là báo điện tử phát
trên mạng Internet. Theo nghiên cứu của giới chuyên môn, trong những năm
qua, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng viễn thông Internet cao nhất
trong khu vực ASEAN với tốc độ bình quân là 32,5%năm. Hiện đã có 6 nhà
cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP), khoảng 20 nhà cung cấp dịch vụ
Internet (ISP), hơn 50 nhà cung cấp thông tin (ICP) và báo điện tử trên
Internet, có khoảng 2.500 trang tin điện tử (website) đang hoạt động. Người sử
dụng có thể truy cập Internet gián tiếp qua mạng điện thoại cố định tại tất cả
64 tỉnh, thành phố trong cả nước với hình thức dịch vụ rất đa dạng: Internet trả
trước, Internet trả sau, các dịch vụ truy cập Internet qua mạng điện thoại di
51
động. Đến cuối năm 2004, ở nước ta đã có hàng triệu thuê bao sử dụng
Internet với số người sử dụng chiếm gần 5% dân số. Thông tin trên mạng
Internet ngày càng phong phú, đa dạng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thông
tin của công chúng trong nước và trên thế giới; tạo cơ hội thuận lợi cho việc
mở rộng quan hệ giao lưu, hội nhập quốc tế, tăng cường sự hợp tác và hiểu
biết lẫn nhau giữa Việt Nam và bạn bè trên thế giới.
Qua bức tranh toàn cảnh này cho thấy báo chí Việt Nam hiện đại đang
có những bước tiến vững mạnh và đang tạo ra những hiệu quả truyên thông rõ
nét, trở thành một phương tiện tinh thần quan trọng không thể thiếu được trong
đời sống xã hội.
II. Biến thể của tiểu phẩm và hiệu quả của nó trong quá trình tạo
lập và định hƣớng dƣ luận xã hội.
Thử tìm một khái niệm.
Như đã trình bày trong chương lý luận, biến thể nghĩa là thể đã biến đổi đi
ít nhiều so với thể gốc. Theo nghĩa này, trong sự vận động và phát triển của thể
loại, việc xuất hiện những biến thể mới phù hợp với báo chí hiện đại là một
quy luật có tính tất yếu. Tiểu phẩm báo chí và việc xuất hiện các biến thể của
nó không là ngoại lệ. Nh vËy vÒ mÆt lÞch sö thÓ lo¹i, tiÓu phÈm ®· thùc sù
biÕn ®æi. ViÖc dïng tõ BiÕn thÓ lµ hoµn toµn phï hîp, ph¶n ¸nh ®óng thùc tiÔn
b¸o chÝ thÕ giíi còng nh ho¹t ®éng cña b¸o chÝ ViÖt Nam hiÖn nay.
Vậy biến thể tiểu phẩm là gì?
Truy về tiểu phẩm nguyên gốc, với các đặc điểm hình thức và nội dung
phản ánh của nó chủ yếu bó hẹp trong một số những dạng thức nhất định.
Trong đó tiểu phẩm nặng tính văn học và những đặc trưng về kết cấu ít linh
động và còn dài dòng trong sử dụng ngôn từ. Đề tài của tiểu phẩm trong thế kỷ
XX, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ cũng bó hẹp trong những nội dung do tính quy
định đặc thù của xã hội. Đó là xã hội thực dân nửa phong kiến, chế độ nô lệ và
52
sự đàn áp của kẻ thù Pháp và Mỹ. Vận động xã hội xung quanh trục lịch sử
này nên nội dung của tiểu phẩm cũng quay quanh đó như một quy luật.
Xã hội phát triển, đất nước đi qua cuộc chiến và tiến hành kiến thiết rồi đổi
mới. Hơn 30 năm kết thúc chiến tranh và hơn 20 năm đổi mới, diện mạo đất
nước đã khác. Kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí phát triển
mạnh mẽ. Tất yếu báo chí truyền thông cũng phát triển rực rõ với một diện
mạo mới như đã trình bày trên.
Hiện đại hoá báo chí để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công
chúng là một yêu cầu mang tính sống còn. Trong câu chuyện hiện đại hoá báo
chí ngoài việc hiện đại kỹ thuật làm báo, in ấn và trình bày thì hiện đại hoá
cách thức thể hiện, hiện đại hoá và sáng tạo thể loại cũng là một tất yếu trong
thực tiễn hoạt động báo chí. Công chúng khó tính hơn, ít thời gian vật chất hơn
và trình độ tiếp nhận thông tin cao hơn, đối tượng công chúng đa dạng hơn vì
lẽ đó việc cách tân thể loại, sáng tạo và hiện đại hoá phương thức thể hiện nội
dung tác phẩm trở thành công việc hàng ngày của những người làm báo và các
cơ quan báo chí.
Tiểu phẩm báo chí cũng vậy, chính sự vận động có tính quy luật nói trên
buộc thể loại này cũng phải “vận động” để tạo ra những biến thể mới hẫp dẫn,
sinh động hơn cả về nội dung lẫn hình thức để đáp ứng được yêu cầu thông tin
của bạn đọc.
Biến thể tiểu phẩm báo chí theo cách này có thể hiểu là phái sinh của tiểu
phẩm với những bước phát triển đa dạng và cao hơn về cả đề tài, nội dung và
cách thức thể hiện. Biến thể của tiểu phẩm mang tính chính luận rõ nét với tư
duy lý lẽ chặt chẽ, lập luận logic phản ánh góc cạnh về mọi mặt trái của xã hội
hiện tại với tính chiến đấu cao trong một dung lượng hình thức ngắn nhất có
thể.
Tình hình sử dụng biến thể tiểu phẩm trên báo in hiện đại.
53
Có thể nói báo in hiện đại là mảnh đất màu mỡ cho thể loại này phát triển.
Hầu hết các báo đều sử dụng thể loại này và dành cho nó một vị trí trang trọng
trên mặt báo. Nói cách khác, sự phổ quát là hiện tượng thường thấy của tiểu
phẩm trên báo in hiện nay. Nói là sự phổ quát vì tiểu phẩm biến thể không
những xuất hiện trên nhiều báo mà ngay trong bản thân mỗi tờ báo, nhất là các
tờ báo lớn có uy tín thì nó xuất hiện đều đặn, định kỳ như một chuyên mục
nhất thiết phải có. Báo phát hành bao nhiêu kỳ trong tuần thì chừng ấy kỳ xuất
hiện tiểu phẩm biến thể. Đây là một thế mạnh mà không phải thể loại nào cũng
xuất hiện với tần suất cao như vậy.
Tiểu phẩm biến thể xuất hiện chủ yếu trên trang 1 và trang 2 của các báo.
Một số tờ mục này nằm ở trang giữa. Đáng chú ý, xã luận là một thể loại báo
chí xuất hiện mạnh một thời gian dài, là tiếng nói chính thống bày tỏ quan
điểm, chính kiến của tòa soạn trước một vấn đề thời sự lớn. Nhưng càng về
sau chỉ còn lại những tờ báo Đảng, Quân đội Nhân dân…tiếp tục sử dụng thể
tài xã luận. Trên các báo khác, xã luận thay bị thay dần bởi các mục như
“Chuyện thời cuộc”, “Thời cuộc suy ngẫm”, “chào buổi sáng”, “Thời
luận”…với một cách viết và kết cấu linh động, mềm mại và rất văn chương.
Nó mà một dạng của biến thể của tiểu phẩm mà chúng tôi tạm gọi là tiểu phẩm
chính luận khi nghiên cứu trong luận văn này.
Như đã nói, tiểu phẩm biến thể xuất hiện dày đặc trên báo in hiện đại và
xuất hiện trên hàng loạt các báo ngày và báo tuần. Đó là “Nói hay đừng” trên
báo Lao động, là “Chuyện thường ngày” trên báo Tuổi trẻ, là “Giữa đường
thấy chuyện” trên báo Pháp luật Việt Nam, là “Cà phê sáng” trên báo Pháp luật
TP.Hồ Chí Minh, là “Lai rai kỳ này” trên báo Sức khỏe và đời sống, là
“Chuyện làng giáo” trên Giáo dục và Thời đại, là “Mõ” trên báo Nông thôn
ngày nay, là “Tôi xem,đọc,thấy và nghe” trên báo Thể thao Văn hóa…
54
Cũng từ dạng thức của tiểu phẩm biến thể, đã tạo ra những tên tuổi đáng
chú ý gắn với các bút danh: Lý Sinh Sự, Ba Thợ Tiện,Thảo Hảo, Lê Thị Liên
Hoan, Mõ, Bút Bi, Remote…
Những tiểu phẩm phái sinh này đã làm cho hơi thở báo chí hiện đại thêm
sinh động, duyên dáng trên phương thức thể hiện tác phẩm. Và cũng làm cho
tính chiến đấu của báo chí thêm sức nặng không thể chối cãi trên bình diện nội
dung.
Sự đa dạng về đề tài, nội dung phản ánh của biến thể tiểu phẩm.
Báo chí ngày càng có những đóng góp to lớn trên các phương diện khác
nhau của đời sống xã hội. Nếu như trong nửa đầu thế kỷ XX, nội dung của tiểu
phẩm chủ yếu tập trung xoay quanh hai trục chính là chống kẻ thù xâm lược và
bè lũ tay sai và và bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền còn non trẻ. Nhiệm vụ cách mạng giai đoạn này là vậy nên báo
chí cũng tập trung vào mảng đề tài này. Tiểu phẩm cũng không nằm ngoài
những dòng chảy thông tin mang tính quy luật đó.
Đất nước đổi mới và phát triển, hàng loạt vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa,
quan hệ quốc tế…nảy sinh làm cho báo chí tham gia một cách sâu rộng hơn
vào việc giám sát và quản lý xã hội. Chức năng của báo chí thay đổi mạnh mẽ
và tính phản biện cũng như chức năng giám sát ngày càng được coi trọng.
Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao hoạt động báo chí và tạo cho nó một
hành lang pháp lý rộng để hoạt động và giúp Đảng, Nhà nước trong công tác
quản lý, điều hành xã hội của mình.
Báo chí trở thành cầu nối chính sách giữa Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã
hội với người dân và ngược lại. Đất nước đổi mới và diện mạo xã hội thay đổi
từng ngày trên tất cả các phương diện: Xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, các
chính sách xã hội, các vấn đề văn hóa, quan hệ quốc tế…Mặt khác nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trường nên mặt trái của nó cũng bộc lộ rõ nét cùng sự
phát triển xã hội. Đó là nạn tham ô tham nhũng, lãng phí, là phát sinh các loại
55
tội phạm, tệ nạn xã hội, những mặt trái trong các lĩnh vực khác nhau…và báo
chí không đứng ngoài cuộc những vấn đề này.
Báo chí nói chung đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả trong công
tác phòng chống tham nhũng, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Tiểu
phẩm phái sinh, các biến thể của nó tỏ ra vô cùng đắc dụng trong việc phê
phán, đả kích những mặt trái này trong xã hội.
Tiểu phẩm trong quá khứ nặng tính văn học, nhiều lúc tính “văn nghệ” giải
trí nặng hơn tính chính luận, còn biến thể tiểu phẩm trên báo chí hiện đại thì
nặng tính chính luận hơn. Cũng vậy mà tiểu phẩm biến thể gần như gánh vác
hộ vai trò “xã luận” trên mặt báo và theo đó phạm vi đề tài gần như mở rộng
hết “biên độ”, từ những vấn đề quốc kế dân sinh đến các vấn đề bình dị trong
cuộc sống. Đề tài tiểu phẩm biến thể rộng lớn như vậy nên từ phương diện nội
dung tác phẩm đến hình thức phản ánh của tiểu phẩm biến thể cũng sinh động,
đa dạng, vượt ra ngoài khuôn thước lý luận báo chí học về thể loại tiểu phẩm
bởi những biến thế hấp dẫn, đa dạng và sinh động của nó.
Từ chống tham nhũng, giáo dục, y tế, môi trường đến văn học, điện ảnh,văn
hóa, lối sống, đạo lý và hằng ha sa số các vấn đề của xã hội hiện đại đều là đề
tài phản ánh của biến thể tiểu phẩm…
Hiệu quả truyền thông của tiểu phẩm biến thể.
Thứ nhất phải khẳng định một điều rõ ràng rằng tiểu phẩm biến thể không
dành cho những người viết báo thích “ve vuốt”, viết những bài báo kiểu “dĩ
hòa vi quý”. Tiểu phẩm biến thể là những “quả bom tấn” về thông tin, vậy nên
tính chiến đấu của nó là một nét đặc thù. Tiểu phẩm biến thể chỉ có “chê” và
“đánh” mà không có khen. Nó như một đặc tính bất di bất dịch, bởi khen thì dễ
lẫn sang với thể loại khác kiểu như “người tốt việc tốt”. Nhưng cái “mắng” và
“đánh” trong tiểu phẩm không phải là kiểu “đánh” cho chết, đánh cho đổ mà là
đánh trên tinh thần xây dựng. Chỉ ra cái xấu, mặt trái mà hướng đến việc cải
56
thiện những mặt trái thành cái có ích. Bởi đặc tính chiến đấu với tinh thần xây
dựng cao đã tạo nên hiệu quả truyền thông rất đặc biệt của tiểu phẩm biến thể.
Tiểu phẩm biến thể đang thu hút được sự quan tâm một cách sâu rộng của
bạn đọc. Cạnh đó nó đang là “đối tượng” chú ý của nhiều nhà nghiên cứu về lý
luận báo chí. Điều này thêm khẳng định thế mạnh và hiệu quả truyền thông mà
nó mang lại.
Vì là một thể loại có kết cấu ngắn gọn và linh động, lại đứng trên lập
trường của đại đa số người dân, đứng về lẽ phải và sự công bằng, cộng với một
thái độ phê phán trực diện vào cái xấu nên tiểu phẩm biến thể nhanh chóng đáp
ứng được những yêu cầu thông tin thời hiện đại của độc giả. Đó là đánh đúng,
đánh trúng, đánh không khoan nhượng, đánh có trí tuệ mà lại tiết kiệm được
thời gian của bạn đọc.
Đối tượng bị đánh theo cách “mỉa mai” và “chửi sương sưong” của tiểu
phẩm biến thể luôn cảm thấy “đau hơn hoạn” mà cũng đành chịu trận. Đôi lúc
tiểu phẩm biến thể “đánh” ai, “đánh” cái gì thì đối tượng bị “đánh” mười mươi
biết là “đánh” mình nhưng cũng đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đó cũng là cái
tài của người viết tiểu phẩm và các phái sinh của nó.
Một điều rất đáng chú ý là đối với các thể loại khác như tin, phóng sự,
phóng sự điều tra…việc phản hồi và “phản đòn” về những mặt trái, tổ chức, cá
nhân được đề cập là điều thường xảy ra. Các cơ quan báo chí và nhà báo luôn
phải chuẩn bị “nghênh chiến” với những phản hồi dạng này. Còn tiểu phẩm
biến thể rất ít khi bị phản hồi vì muốn phản hồi cũng không phải dễ dàng. Trừ
những trường hợp giới cầm bút mượn tiểu phẩm biến thể “choảng” nhau thì có
thông tin qua lại như một kiểu bút chiến trên báo bằng…tiểu phẩm. Chẳng
hạn trong tiểu phẩm biến thể “Hội chứng huyễn tưởng” ở chuyên mục “Giữa
đường thấy chuyện” của Ong Bò Vẽ trên Báo Pháp luật Việt Nam là một ví dụ.
Chúng ta hãy chú ý đến đoạn đối đáp giữa hai nhân vật “tui” và “ông” trong
tiểu phẩm biến thể này”
57
“-Chẳng hiểu sao càng ngày tui càng thấy lắm người huyễn tưởng mình
kinh khủng ông ạ.
-Ừ, nhất là các “nhà” phải không?
- Đúng rồi, đôi lúc mới “lều” thôi mà trên thì chỉ có trời, dưới có đất và ở
giữa chỉ có mình. Mới làm được dăm bài thơ đăng báo,viết được vài cái
truyện, dăm bảy bài báo đã “nổ” tận trời.
- Giới trẻ mắc bệnh này đã thấy thương, nhưng thương hơn là những người
đã có danh mà vẫn khát danh kinh khủng ông ạ.
- Cái này nó không có điểm dừng hả ông?
- Chắc vậy, ông đã thấy ai một lúc giỏi cả “cầm, kỳ, thi,họa” chưa?
- Rồi!
-Ai?
- Thúy Kiều chớ ai!
- Không, tui nói thời bây giờ!
- À, thời nay thì tui thấy có người vẽ nhăng cuội mấy bức tranh, làm nhăng
cuội mấy bài thơ, viết nhăng cuội mấy bài hát, rồi cho đăng trên chính báo
nhà mình thì có, còn tài năng thực thì…không thấy.
- Không có tài sao vẽ được, viết nhạc được và làm thơ được.Ông rõ là đố
kỵ!
- Tui có là nhà gì đâu mà đố kỵ, vả lại tui đâu có mắc bệnh huyễn tưởng!
- Cũng lạ,có người còn hùa vào bốc những “tác phẩm” ấy tận mây xanh,
cũng trên báo…nhà mình trồng được.
- À, cũng là một thứ bệnh ấy mà!
- Huyễn tưởng á?
- Vừa huyễn tưởng vừa…méo mó nhân cách viết lách!”.
Rõ ràng không gọi đích danh ai trong tiểu phẩm biến thể này, nhưng bạn
đọc, nhất là giới báo chí, văn nghệ sỹ thừa biết người bị mắng vì thói “háo
danh” và “huyễn tưởng” ấy là ai. Một người vừa vẽ tranh, viết nhạc, làm thơ
58
đăng trên “báo của mình trồng được” lại gọi những tay nịnh đầm tung mình
lên mây cũng trên chính báo mình thì chỉ có duy nhất một người mà…không
nói cũng biết ấy thôi. Vậy nhưng người bị “mỉa”, dẫu biết mười mươi “nó”
mỉa mình cũng chỉ biết “ngậm bồ hòn làm ngọt”, chẳng nhẽ lại đi “phản đòn”
để rồi nhận đấy là mình?
Hiệu quả truyền thông, sức mạnh của tiểu phẩm biến thể trên báo chí hiện
đại nằm ở những đặc trưng thể loại rất chuyên biệt này, đặc trưng mà các thể
loại báo chí khác khó có thể có được.
III. Một số tác giả tiêu biểu về phong cách sử dụng tiểu phẩm biến
thể.
Trên báo in giai đoạn hiện tại xuất hiện nhiều cây bút tiểu phẩm và sử dụng
các biến thể tiểu phẩm một cách duyên dáng, nhuần nhuyễn, để lại ấn tượng
sâu sắc trong lòng ban đọc. Chúng tôi khảo sát nhiều tác giả để thấy sự đa
phong cách và những sáng tạo trong cách viết để tạo ra những dạng thức tiểu
phẩm phái sinh mới trong tương quan chung so sánh với thể loại tiểu phẩm đã
từng xuất hiện trong quá khứ. Các cây bút tiểu phẩm như Hữu Thọ gắn với báo
Nhân dân, Ba Thợ Tiện, Lý Sính Sự gắn với báo Lao động và một số báo khác,
Thảo Hảo gắn với báo Thể thao Văn hóa, Bút Bi gắn với báo Tuổi trẻ…
Họ là những người tiên phong trong việc sáng tạo, cách tân tiểu phẩm để có
những dạng thức hết sức đặc biệt, hấp dẫn bạn đọc và tạo nên một phong cách
tiểu phẩm biến thể không lẫn vào đâu được.
3.1. Nhà báo Hữu Thọ.
Báo giới vẫn gọi Hữu Thọ là một cây bút tiểu phẩm bậc thầy trong thời kỳ
đổi mới. Sự suy tôn này có cơ sở của nó bởi chính những tiểu phẩm sắc sảo,
góc cạnh và thể hiện một trách nhiệm với thời cuộc của ông đã nói lên điều đó.
Sự trải nghiệm cuộc sống và kinh qua nhiều vị trí công tác quan trọng nên tiểu
phẩm của Hữu Thọ đa dạng và sâu sắc như chính vốn sống, tri thức văn hóa và
sự trải nghiệm của ông. Nhà báo Hữu Thọ nguyên Tổng biên tập báo Nhân
59
Dân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, từng là Trợ lý Tổng
Bí thư BCH T.Ư Ðảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm khoa báo viết, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh. Trên bình diện là một cây bút tiểu phẩm xuất sắc, những tuyển tập của
ông được xuất bản trong thời gian qua đã để lại một kho tàng độ sộ các tác
phẩm tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể đủ để chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu
những đặc trưng của tiểu phẩm báo chí hiện đại và những phái sinh của nó.
Nhà báo Hữu Thọ đã xuất bản sáu tập tiểu phẩm, mỗi tập gần tới 300 trang.
Ðó là Người hay cãi, viết trong thời kỳ từ 1987 - 1991; 99 chuyện đời (1993 -
1995); Sông đỏ, sông đen (1992-1995); Của chùa (1996 - 1999); Chạy... (2001
- 2003); Ô, dù, "lọng" (2004-2006, NXB Chính trị quốc gia, 2006).
Vậy đặc điểm về phong cách tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của nhà báo
Hữu Thọ là gì?
Trên phương diện nội dung và phạm vi đề tài, tiểu phẩm của Hữu Thọ đa
phần là tiểu phẩm chính luận với nội dung chủ yếu đề cập đến vấn đề xây dựng
con người mới, xây dựng Đảng và một mảng quan trọng nữa là đấu tranh với
cái xấu mà đối tượng bị phê phán chủ yếu là những quan chức biến chất tham
ô tham nhũng, cộng với nạn chạy chọt, ô dù làm tha hóa nhân cách con người
và nhân cách người làm công tác quản lý lãnh đạo. Có những người từng là
cán bộ trung kiên, có nhiều hy sinh, đóng góp cho cách mạng trong kháng
chiến nhưng đã không đứng vững trước cám dỗ vật chất của thời kinh tế thị
trường. Có những cây bút, những thuyết giảng hôm nay nói thế này, ngày mai
trở chiều nói theo cách khác. Đó chính là sự sa ngã, dao động , là thiếu một
niềm tin ở cái thiện, ở chiều hướng phát triển tốt đẹp của xã hội, ở lý tưởng mà
Ðảng và đại đa số nhân dân ta đang theo đuổi. Những người đó bằng mọi mưu
mô, bất chấp thủ đoạn để đạt được một "danh vị" nào đó trong xã hội, có ních
đầy túi của mà không cần giọt mồ hôi lao động chân chính nào - thì rốt cuộc
cũng tự biến mình thành những kẻ tầm thường, ích kỷ và đồi bại. Đó là đối
60
tượng để tiểu phẩm của Hữu Thọ chỉa mũi nhọn một cách sâu cay và không
khoan nhượng vào đó. Hàng loạt những tiểu phẩm về ô, dù, lọng, nạn ăn đất,
về vụ Lã Thị Kim Oanh…là những dẫn chứng cho mảng đề tài nóng hổi có
tính thời sự trong thời điểm xảy ra sự việc.
Một đặc trưng khác dễ thấy trong tiểu phẩm hay tiểu phẩm biến thể của
Hữu Thọ là nói thẳng, nói thật, nói không e dè, với một tư duy phản biện xã
hội rõ nét. Những đặc điểm về nội dung này tạo nên tính chính luận cao trong
tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của ông.
Về đặc trưng thể loại, tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ về sự sắc sảo và tài
hoa trong sử dụng ngôn từ, đặt tít, lập luận thì xứng đáng được xem là một cây
bút bậc thầy. Tuy nhiên nếu đặt nó trong dòng chảy chung của thể loại thì mô
típ tiểu phẩm của ông vẫn trung thành với tiểu phẩm truyền thống về mặt thể
loại. Có nghĩa là trên bề mặt cấu trúc tác phẩm, tiểu phẩm vẫn là những giọng
điệu đã từng xuất hiện. Đó là giọng điệu mỉa mai trong một bài viết đầy tính tư
duy và kết hợp của những cái cười thâm thúy. Vì vậy hầu như tiểu phẩm của
nhà báo Hữu Thọ ít thấy những “phái sinh” hay những biến thể rõ nét trong
sáng tạo về cấu trúc của tiểu phẩm biến thể. Chúng tôi sẽ có những sự so sánh
khi phân tích đặc trưng kết cấu của tiểu phẩm biến thể với các tác giả khác ở
phần sau của luận văn.
Tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ là những bài viết với dung lượng từ từ
500 đến 1000 chữ, trung bình là 600 đến 800 chữ. Rất hiếm thấy các bài viết
dưới 500 chữ và trên 1000 chữ ở các tiểu phẩm báo chí. Dung lượng chữ
trong một tiểu phẩm như vậy cũng gần với cấu trúc tiểu phẩm trước đó của
Ngô Tất Tố hay của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Về nghệ thuật đặt tít, qua khảo sát 479 tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ
được tập hợp lại trong cuốn 3 cuốn in chung một tập “Người hay cãi”, “99
chuyện đời” và “Của chùa” của NXB Thanh niên năm 1999 thì tít tiểu phẩm
61
có từ 1 đến 13 âm tiết. Trong đó sử dụng với tần suất cao hơn cả là là từ 2 đến
6 âm tiết.
Cụ thể trong tỷ lệ khảo sát về độ dài của tít bài được cụ thể hóa trong
bảng sau. (Khảo sát trên 479 tiểu phẩm)
Số âm tiết Số Tít tiểu phẩm Tỷ lệ phần trăm
1 22 4.64%
2 100 21,10%
3 66 13,92%
4 114 24,05%
5 62 13,08%
6 48 10.13%
7 24 5,07%
8 13 2,74%
9 9 1,50%
10 12 2,54%
11 2 0,41%
12 2 0,41%
13 2 0,41%
Bảng thống kê này cho thấy, tít có độ dài 4 âm tiết (24,5%) là sự lựa chọn
số 1 của tác giả, tiếp đến là 2 âm tiết (21,10%), rồi 5 âm tiết và 6 âm tiết. Việc
sử dụng tít ít chữ nhưng hàm súc gần như là một yêu cầu quan trọng của tiểu
phẩm và biến thể tiểu phẩm. Các tít có độ dài từ 8 đến 13 âm tiết chỉ chiếm
một số lượng rất nhỏ.
Về ngôn từ trong tiểu phẩm báo chí của Hữu Thọ, chúng ta thấy hầu hết là
ngôn ngữ của tư duy và lập luận. Vậy nên đây là vẻ đẹp của sự sắc sảo về ngôn
ngữ tư duy và chính luận. Ngôn ngữ tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ tỉnh táo,
62
sắc lẹm và mai mỉa. Cũng chính yếu tố này mà chúng tôi xếp tiểu phẩm và tiểu
phẩm của ông vào nhóm tiểu phẩm chính luận.
Cũng chính chất chính luận này nên ngôn ngữ trong tiểu phẩm của nhà báo
Hữu Thọ gần như thiếu một cái gì đó hình ảnh, mềm mại và mượt mà trau
chuốt trong ngôn ngữ và hình ảnh so sánh có tính ẩn dụ cao trong tác phẩm
nên tiểu phẩm “thực” và “đanh” quá, đôi lúc giảm đi ít nhiều tính hấp dẫn của
thể loại này. Hay như nhận xét của TS Nguyễn Sỹ Đại trong một bài báo in
trên báo Nhân dân ngày 09/08/2006 thì: “Nếu nói về nhược điểm, hay nói đúng
hơn là điều tôi lấy làm tiếc, là tác phẩm của Hữu Thọ tuy sắc sảo, chặt chẽ
trong cấu tứ và lập lý nhưng thiếu sự mượt mà trau chuốt của ngôn từ và hình
ảnh, có không nhiều hình tượng và biểu tượng nên bớt đi độ sâu và sự lấp lánh
của tác phẩm”.
Tóm lại với nhà báo Hữu Thọ, tiểu phẩm và phái sinh của nó có thể xếp
vào nhóm tiểu phẩm chính luận. Ông trung thành với dạng thức truyền thống
của thể loại. Khảo sát phong cách tác giả của ông để thấy trong thời kỳ đổi
mới, tiểu phẩm đã đi một bước xa hơn trên phương diện nội dung và độ rộng
của đề tài. Cùng với đó là một minh chứng cho sức mạnh của thể loại cũng
như vẻ đẹp của tính chính luận và tư duy phản biện trong tác phẩm tiểu phẩm.
Đây là một sự vận động rõ nét so với tiểu phẩm báo chí trong thế kỷ thứ XIX.
3.2 Biến thể trong tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện.
Ba Thợ Tiện là bút danh nổi tiếng của nhà thơ, nhà báo Hoàng Thoại Châu.
Tác giả sinh ngày 17 tháng 7 năm 1947 tại làng Giáp Ba xã Điện An- Điện
Bàn- Quảng Nam. Hoàng Thoại Châu trở thành Ba Thợ Tiện đầu những năm
90 của thế kỷ 20. Bút danh này xuất hiện cùng chuyên mục “Nói hay đừng”
trên báo Lao động chủ nhật. Sau 5 năm gắn bó với báo Lao động với chyên
mục này, cái tên Ba Thợ Tiện vẫn xuất hiện nhưng ở các chuyên mục khác của
các báo khác như Nói sương sương, Cực chẳng đã, Nghịch lý, Tréo cẳng
63
ngỗng…Trên các báo Thanh niên thời đại, Nhà báo và công luận, Nông thôn
ngày nay…
Ba Thợ Tiện gọi những bài báo ngắn dạng này là Tạp văn, và như chính tác
giả nói tạp văn của mình đề cập nhiều đến “những vấn đề kinh tế chuyên
ngành”. Đây có thể xem như một đặc trưng về nội dung trong tiểu phẩm của
Ba Thợ Tiện bên cạnh nhiều nội dung gai góc khác. Ba Thợ Tiện gọi tiểu
phẩm của mình là “Tạp văn” nhưng chúng tôi xem đây thực sự là những biến
thể của tiểu phẩm, bởi so với những dạng thức ban đầu, đến Ba Thợ Tiện đã có
những sự thay đối rất sáng tạo trong hình thức thể hiện tác phẩm của mình. Sự
sáng tạo hình thức tiểu phẩm mới là những phái sinh của tiểu phẩm, chúng tôi
gọi là những tiểu phẩm biến thể.
Trước hết hãy quan tâm đến nội dung và phạm vi đề tài xuyên suốt trong
tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện. Như đã nói, chính tác giả tự bạch là nội
dung tạp văn đa phần đề cập đến những vấn đề kinh tế chuyên ngành. Vậy nên
ngòi bút Ba Thợ Tiện bị lực hấp dẫn của thời sự kinh tế xã hội cuốn hút để viết
những "chuyện hạ cánh an toàn", "chuyện từ cái đùi gà", "chuyện từ cái cần
câu", những "chuyện buồn vui", "chuyện cũ", "chuyện nhỏ", đại khái đủ các
chuyện đúc kết lại, đan chéo nhau, đôi khi dưới các ẩn dụ hóm hỉnh như: Con
voi Nha Trang đã chui qua lỗ kim, Vụ buôn lậu dưới nách, Ép chính quyền, To
đến mấy cũng là... chuột. Tiểu phẩm biến thể "nghệ thuật ăn" là một ví dụ:
“Đã lâu lắm rồi, cơ quan của anh bạn mơ ước có được một số tiền chừng năm
bảy trăm triệu để làm ăn và mở mang sự nghiệp. Niềm mơ ước ấy, cuối cùng
đã thành sự thật. Số tiền đến không phải năm bảy trăm triệu mà là hai tỉ (...)
nhưng lãnh đạo cơ quan lại chẳng biết sử dụng như thế nào (...) kế hoạch chi
tiêu khẩn cấp được triển khai (...) nâng cấp tất cả các phòng tiếp khách của
giám đốc, các phó giám đốc, bí thư đảng ủy theo tiêu chuẩn quốc tế (...) hàng
loạt các phòng ốc được đập khẩn trương để xây lại trong đó có cái hội trường,
cái căn-tin, cái nhà để xe, cái cổng ra vào... Chưa nghe ai đả động gì đến
64
chuyện làm ăn, chuyện mở mang như niềm mơ ước ban đầu". Đoạn này Ba
Thợ Tiện viết kể đã hơn chục năm song đến nay "nghệ thuật ăn" ấy vẫn còn,
với nhiều biến tướng và mức độ cao ngất trời, và tinh vi hơn nữa đối với
những “cách ăn”, kiểu ăn của những quan tham chỉ lo tư túi.
Tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện dung lượng ngắn gọn nhưng nội hàm
nội dung lại chứa đựng những khái quát về thực trạng kinh tế, xã hội trong cả
một giai đoạn dài của đất nước thời kỳ đổi mới.
Những đặc trưng trên phương diện hình thức tác phẩm của tiểu phẩm Ba
Thợ Tiện đã có những phái sinh hấp dẫn, mới lạ trên cả phưong diện kết cấu,
từ ngữ, độ dài, cách đặt tít và cả nghệ thuật tạo tình huống, và lô gíc trong tư
duy, lập luận.
Ba Thợ Tiện vốn là một nhà thơ, vậy nên tư duy hình ảnh và chất văn khiến
tiểu phẩm của tác giả có duyên, gần gũi, vừa sâu sắc mà cũng rất ý nhị. Ngay
cả cái tên chọn làm bút danh cho mình cũng có một hàm ý sâu sắc. Được phân
công phụ trách và viết cho chuyên mục “Nói hay đừng” vốn để phản ánh
những sự đời nhố nhăng và lộn xộn, Ba Thợ Tiện chính là công cụ để “cắt gọt”
lại cho gọn gàng những thứ mất trật tự và nhí nhố ấy. Ngòi bút tiểu phẩm này
quả thực đã xử lý được nhiều hiện tượng xã hội một cách “gọn gàng” và thuyết
phục.
Ba Thợ Tiện cứ đi giữa cuộc sống, ngắm nhìn và phát hiện bao nhiêu điều
vô lý, nghịch lý, bao nhiêu chuyện trái khoáy, bao nhiêu con người có quyền
có chức mà lòng dạ xấu có, ngu dốt có đã làm hại nước hại dân...Với một
giọng điệu riêng, lúc thì cười cười cợt cợt mà thấm bên trong là nước mắt
buồn, lúc thì ngọt ngọt ngào ngào mà lấp ló đâu đó là chua cay, là đắng chát,
lúc thì tỉnh tỉnh, cà khịa mà âm vang xa xa, gần gần sự phẫn nộ, giận căm...
Cuộc sống với những nghịch lý như thế đã được phản ánh một cách đủ đầy
trong tiểu phẩm biến thể của tác giả, để rồi tác giả đã nói thay được nỗi lòng
65
của người dân trước một hiện thực xã hội không ít những trái ngang trong
vòng xoáy danh lợi, tiền tài thời cơ chế thị trường.
Với nhãn quan tinh tế và bộ óc phân tích sắc sảo kết hợp với trái tim mẫn
cảm của một nhà thơ như đã nói, nên tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện là
một sự giao thoa mạnh mẽ giữa tính chiến đấu và khả năng cảm hóa chinh
phục độc giả. Bên cạnh cái lý sự thì cái tình đã làm nên sự gần gũi, đồng cảm
và cái hài làm nên một nụ cười thâm thúy, mai mỉa. Hai khía cạnh hóm hỉnh,
biểu hiện sự thông minh và lòng trắc ẩn như một khía cạnh đạo đức nghề
nghiệp của người làm báo đã tạo nên một nét riêng trong phong cách tiểu
phẩm của Ba Thợ Tiện.
Báo Lao động số ra ngày 28 tháng 7 năm 1991 có tiểu phẩm “Cái đầu”.
Năm ấy, Ba Thợ Tiện đi thăm một cơ sở. Nhìn thấy cảnh hoang hoá trên một
mảnh đất "thấy mà thèm muốn chảy nước miếng", Ba Thợ Tiện góp chuyện:
"Theo chỗ hiểu biết của Ba tui, trước hết ở đây cần được đầu tư vào vài ba
“cái đầu". Một cán bộ chủ chốt nhanh nhảu: “Anh ba nói rất đúng, chúng tôi
đang lập dự án để đầu tư ở đây ba cái đầu…đa hệ. Dân ở đây thích xem phim
lắm". Khốn nỗi ở đây “Cái đầu” mà tác giả nói là cái đầu để tư duy, cái đầu
biết tính toán, biết làm ăn kinh tế, để biến miếng đất kia ra tiền. Vậy nhưng
“cái đầu” của vị cán bộ chủ chốt kia lại hiểu cái bộ óc tư duy thành mấy cái
đầu…video đa hệ! Sự mỉa mai sâu cay ở đây là những cái đầu “bã đậu” ở cơ
sở kiểu này còn nhiều, và chừng nào còn thì chừng đó địa phương và suy rộng
ra là đất nước chẳng thể khá lên được. Sức mạnh thông tin và giá trị phê phán,
“chửi bới” của tiểu phẩm biến thể hiện đại nằm chính ở chỗ này.
Nhiều người ví tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện như những chiếc kim
sắc nhọn. Đã châm là châm thấy xương thịt, ai bị châm thì chắc chắc sẽ phải
giật nảy và nhớ đời.
Kết cấu hình thức tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện đã có những bước phát triển
mới so với tiểu phẩm truyền thống. Về độ dài thì chưa có nhiều sự cách tân,
66
nghĩa là vẫn trong khoảng 600 đến 800 chữ và không vượt quá 1000 chữ. Tất
nhiên so với tiểu phẩm truyền thống thì cũng có những bước tiến đáng kể về
sự ngắn gọn, vì tiểu phẩm truyền thống độ dài nhiều tác phẩm vượt lên ngưỡng
1000 chữ, thậm chí dài hơn. Cách đặt tít trong tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ
Tiện cũng khá độc đáo và ấn tượng. Âm tiết cho tít tiểu phẩm ít âm tiết, chủ
yếu là 1 đến 4 âm tiết. Tít 1 và 2 âm tiết xem ra rất đắc dụng và được sử dụng
với tần suất rất cao. Chằng hạn như các tiểu phẩm biến thể: Cái đầu; Chất
lượng; Tới!; Dại…khôn; Thua; Ai?; Cái giá; Sợ mất: Đáp số; Phiền; Điếc;
Hiến kế; Tân trang; Chùi mép; Chụp mũ; Nhầm!; B…ã…o; Vàng; Bịnh; Đổi
mới; Cầu viện; Không đẹp; Giả; Ăn mắm; Lo xa; Lãng mạn; Cảnh giác; Kỷ
cương; Xuống cấp; Phép nước; Chuyện nhỏ; Chạy!; Thương; Lễ!; Lịch sự;
Nhất trí; Lót tay; Lo; 3C; Công chức; Kích cầu; Đồng chí; Dân giận; Cò kè;
Đất chịu; Nếu!; Sợ?; Nhớ!; Biến…
Sở dĩ tạp văn Ba Thợ Tiện chúng tôi xem là biến thể của tiểu phẩm vì nó có
những cách tân với dạng thức ban đầu của tiểu phẩm trên cả phương diện nội
dung và hình thức. Điểm khác biệt là trong tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ
Tiện không chỉ có mỗi nhân vật “tôi” cùng cái tôi chủ đạo của chính người viết
diễn đạt và bộc lộ chính kiến từ A đến Z như trong tiểu phẩm truyền thống mà
rất nhiều lúc trong tiểu phẩm xuất hiện một nhân vật thứ hai ngoài nhân vật
trần thuật “tôi”. Để nhân vật thứ hai này đối thoại với chính tác giả để bật lên
những ý tứ đả kích rất sâu sắc và sáng tạo.Tính khách quan khi đánh giá, nhìn
nhận cũng được đẩy lên cao hơn. Sự xuất hiện của nhân vật thứ hai ngoài tác
giả cũng làm cho cấu trúc thông thường của tiểu phẩm bị phá vỡ. Bởi vì nó
xuất hiện liên tục các đoạn hội thoại, các hỏi đáp, tranh luận trong cùng tác
phẩm. Điều này rất hiếm thấy trong các tiểu phẩm truyền thống. Hàng loạt các
tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện có sử dụng hình thức đối thoại giả tưởng
này như: Cái đầu; Chất lượng; Nghệ thuật ăn; Hạ cánh an toàn; Người nhà có
67
ra tòa?; Tới; Thành công…rồi!; Dại…khôn; …Phủ bênh ai?; Đưa chữ ký ra
tòa; Thua; Ai?; Cái giá; Nhót, teo và…nở; Đáp số…
Nhân vật thứ hai xuất hiện nhiều nhất để đối thoại cùng Ba Thợ Tiện là
“anh bạn”, hay một nhân vật do tác giả dựng lên và gán cho một cái tên ngồ
ngộ như “Sáu Kiên Nhẫn” hay một nhân vật có thực ngoài đời đối thoại với
tác giả để thành nhân vật bị “biếm” trong tiểu phẩm biến thể.Chẳng hạn tiểu
phẩm biến thể “Thua” là một trong những điển hình cho phong cách đối thoại
như thế.
“Sau năm lần bảy lượt đội đơn đến gõ cửa ông Công ty cấp nước, để xin
được sửa chữa cái đường ống đặng có nước xài qua ngày, một anh bạn ở
TP.Hồ Chí Minh đã buộc Ba Thợ Tiện “phải nói một bài để dưới dân được
nhờ”. Từ chối riết không xong, Ba này bèn nói nửa đùa, nửa trách:
- Đồng ý là chảy…lai rai nhưng xét cho cùng ông anh cũng được cấp nước rồi
cơ mà. Còn chuyện phải chi thì tất nhiên thôi. Ở đâu và việc gì lại chả thế.
Anh bạn phản pháo ngay:
- Không phải cấp mà là bán. Không phải bán giá thấp mà là bán giá cao cộng
thêm khoản phụ thu. Phải gọi các ông ấy là Công ty bán…nước giá cao mới
đúng chứ cấp cái giống gì.
Thấy anh bạn bắt đầu giận dữ và chỉ biết có mỗi mình mình, Ba Thợ Tiện bèn
đưa xấp thư của bà con ở Thủ đô Hà Nội, kêu trời về chuyện hệ thống đường
ống nước vừa mới được lắp đặt với chi phí bạc tỷ, nhưng nó cũng chỉ chảy
dưới mức…lai rai. Xem lướt qua một bận, anh bạn hỏi:
- Ba Thợ Tiện nghĩ thế nào về ý kiến của bà con Hà Nội?
- Khó thì đúng thôi. Nhưng, bảo vì những người an hem ăn nhiều quá nên
không còn chỗ cho nứoc nó chảy, thì Ba này xin được thủ khẩu.
- Nghĩa là…
- Vâng, nghĩa là…phải tiếp tục thông cảm…”
68
Hay trong tiểu phẩm Hiến kế trên báo Lao động ngày 14 tháng 1 năm
1994:
“ Ba Thợ Tiện có biết tại sao tệ nạn tham nhũng và buôn lậu, càng chống càng
có nhiều chuyện để chống?
- Vì chống không triệt để.
- Thế nào là không triệt để?
- Vì chúng ta cứ làm theo kiểu chiến dịch, phong trào và, ngay với kiểu ấy,
cũng không có cú dứt điểm.
- Dứt điểm bằng cách nào?
Đúng là câu hỏi ác quá nhưng dù gì thì gì, không thể quanh co, Ba này bèn nói
thật suy nghĩ từ lâu của mình:
- Phải bắn một số tay để đe.
- Ai quyết định chuyện đó?
- Luật
- Xin lỗi, hình như chúng ta chưa có luật cho phép làm chuyện đó.
- Thì bây giờ cho phép, nếu chúng ta cương quyết.
- Gian nan đấy.
Giải thích “một chút đắn đo” của mình trước đạo luật mới được ban theo kiểu
nghĩ của Ba Thợ Tiện nhằm giải quyết vấn đề thuộc về lịch sử, anh bạn cho
rằng, nếu cứ làm tới mà không nghĩ lui, thì e rằng chuyện đâu vẫn hoàn đấy
thôi. Vì, bắn, đúng rồi, nhưng biết bắn ai, ai bắn bây giờ. Khó lắm.Tế nhị vô
cùng. Ba Thợ Tiện hỏi:
- Nghĩa là chào thua?
- Không. Nếu Ba Thợ Tiện không ngại, tui xin đựoc hiến một kế, nhỏ thôi.
- Thì cứ nói.
- Chúng ta hãy đóng khung và gạch ngang những vụ tham nhũng và buôn lậu
từ hôm qua trở về trước rồi nói thẳng rằng- chuyện đó có thật, nhưng là
chuyện thuộc về lịch sử. Xin được bỏ qua. Còn từ hôm nay, nếu vi phạm, bất
69
cứ ai, bất cứ đâu và bất cứ cấp nào, đều phải được xử theo luật, đều bị bắn,
nếu tội đáng bắn.
- Bây giờ. Ba này xin được chào thua ông anh.
- Nghĩa là sao?
- Hay quá
- Không dám đâu…”
Rõ ràng sự xuất hiện nhân vật thứ hai ngoài tác giả, có thể là một “ông
bạn” hay “ông anh” hay một ông Sáu Kiên Nhẫn tưởng tượng nào đó hay là
của một nhân vật có thật đã làm cho tiểu phái sinh có sức hấp dẫn rõ nét vệ độ
thuyết phục trong lập luận và tính khách quan trong ngôn ngữ đối thoại. Cạnh
đó ngôn ngữ đối thoại có tính khẩu ngữ nên tạo ra sự gần gũi, tự nhiên và đôi
lúc “chửi sướng miệng” mà không bị gò bó như văn phong chính luận phi đối
thoại.
Những nét mới này chính là biến thể của tiểu phẩm, chệch ra những
chuẩn thông thuờng trong nội dung và cấu trúc. Để sau này nó dần phát triển
với những biến thể “cao cấp” hơn về cả phong cách đối thoại và độ dài của tác
phẩm, như một sự vận động, phát triển không ngừng của tiểu phẩm trong
phong cách một số tác giả mà luận văn tiếp tục đề cập.
Ba Thợ Tiện đã thành công trong thể loại mà tác giả gọi là tạp văn về
những “vấn đề kinh tế chuyên ngành”, nhưng chúng tôi xem đây là một sự
thành công vượt ra cả những vấn đề kinh tế như trong hầu hết các tiểu phẩm
biến thể của tác giả đề cập. Cả sự hấp dẫn, mới lạ trên bình diện nội dung, hình
thức thể hiện, để đưa thể loại tiểu phẩm phát triển lên một hình thái mới mà
chúng tôi gọi là những tiểu phẩm biến thể hay tiểu phẩm phái sinh.
3.3 Lý Sinh Sự và sự tiếp nối chuyên mục “Nói hay đừng” trên báo Lao
động.
70
Sở dĩ chúng tôi khảo sát phong cách tiểu phẩm Lý Sinh Sự là ví chính tác
giả là người tiếp nối để suy trì sức sống cho biến thể tiểu phẩm báo chí hiện
đại trên báo Lao động sau khi Ba Thợ Tiện chuyển công tác.
Lý Sinh Sự sinh năm 1944 tại Hà Nội, tên thật Trần Đức Chính, hiện ông
đã chuyển qua làm Tổng biên tập báo Nhà báo và công luận và vẫn xuất hiện ở
tờ báo này cùng với dạng thức tiểu phẩm quen thuộc ở mục Góc nhìn nhà báo.
Những tiểu phẩm biến thể của tác giả mà chúng tôi khảo sát chủ yếu trên mục
Nói hay đừng do Lý Sự Viết sau khi “tiếp quản” từ Ba Thợ Tiện trên báo Lao
động cho đến nay.
Cũng như Ba Thợ Tiện, nội dung tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của Lý
Sinh Sự đa dạng như chính sự phức tạp của cuộc sống. Mặt trái của cơ chế thị
trường càn quét qua đến đâu thì tiểu phẩm Lý Sinh Sự có mặt đến đó. Tác giả
viết nhiều, viết khỏe, viết một tuần 6 tiểu phẩm trên chuyên mục Nói hay đừng
mà vẫn không hề bị hụt hơi hay mất đi tính hấp dẫn của nó. Làm được điều
này nói gọn lại cũng bắt nguồn từ hai yếu tố cơ bản của hoạt động báo chí: Đó
là tính nóng hổi của những vấn đề thời sự và sự thể hiện khéo léo của một cây
bút tiểu phẩm có nghề. Nói là “cơ bản” trên phương diện lý thuyết nhưng để có
khả năng phát hiện vấn đề và thể hiện nó một cách hấp dẫn và thuyết phục ở
thể loại khó viết này thì phải có một đẳng cấp cao trong nghề và sự trải nghiệm
sâu sắc trong cuộc sống.
Cũng thế nên ai cũng thừa nhận Lý Sinh Sự là cây bút có khả năng tung
hoành mặt báo. Viết và nói cứ như nhà ảo thuật, hư - thực, thật - đùa, nghiêm
chỉnh - hài hước, giễu nhại - chân tình, mong manh như sợi tóc, độc giả gần
như chẳng biết mình sẽ bị dẫn dụ đến đâu. Có người xem ông là “bậc kỳ tài,
quái nhân trong làng viết”. Lạ nữa, Lý Sinh Sự còn có tài nhìn rõ, và có xu
hướng bóc trần sự việc một cách tinh tường với một lối diễn đạt không thể
thiếu tiểu phẩm biến thể. Đó là phức thể của những sắc thái khi ngoa ngoắt,
71
đanh đá, phóng dụ, lộng ngôn... đến ghê người mà vẫn mang tính xây dựng với
cái nhìn độ lượng thấu rõ thế thái nhân tình.
Nếu xếp loại lại thì thấy mảng đề tài trong tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh
Sự chủ yếu tập trung vào các mảng như: Phản biện, đề cập đến những chủ
trương, đường lối chính sách cảu Đảng, Nhà nước; mảng đề tài về các vấn đề
kinh tế; mảng đề tài về các vấn đề xã hội (dân số,y tế, giáo dục,môi trường);
mảng đề tài về chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí; mảng đề tài về văn
hóa, đạo đức, lối sống.
Lý Sinh Sự ngoài viết tiểu phẩm thì ông cũng nghiên cứu và viết tiểu luận
về tiểu phẩm. Trong đó có cuốn sách nhỏ “Hãy viết tiểu phẩm đi” do Nhà xuất
bản Thông tấn ấn hành. Lý Sinh Sự quan niệm “tiểu phẩm là một thể loại báo
chí gốc văn chương”, khi nó “nhập quốc tịch” vào địa hạt báo chí. Như vậy từ
văn chưong sang báo chi đã là một lần biến thể của tiểu phẩm. Để thể loại dần
hoàn thiện để ngày càng phát triển trong xu thế tất yếu của nhiều thể loại báo
chí khác nhau. Nhưng tác giả Lý Sinh Sự cũng mới dừng lại ở những nghiên
cứu biến thể từ “văn” sang “báo” để hình thành tiểu phẩm trong địa hạt của
báo chí. Nhưng tiểu phẩm chưa chịu dừng lại ở đó mà trong sự vận động của
mình chính tiểu phẩm có thêm những phái sinh mới để lột xác thành những
tiểu phẩm biến thể chưa từng xuất hiện với kết cấu hình thức và nội hàm nội
dung đề cập hết sức mới mẻ, tinh xảo và giàu tính chiến đấu.
Trong cách viết tiểu phẩm của mình, Lý Sinh Sự cũng đã có những sáng tạo
như vậy để những “tiểu phẩm gốc văn” dần dần nhạt đi để thay thế vào đó là
những “biến thể tiểu phẩm” có gốc từ…tiểu phẩm. Cái độc đáo của Lý Sinh
Sự cũng chính là điều làm nên bản sắc của Báo Lao động. Khi nhắc đến “thảo
dân họ Lý” thì độc giả nghĩ ngay đến báo Lao động và ai là độc giả của báo
Lao động đều biết đến Lý Sinh Sự.
Sáng tạo để làm nên điều khác biệt trong tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự
là kiểu viết không chỉ xuất phát từ “nguyên liệu” là thông tin mà là sự rút lõi
72
hồn cốt của vốn sống tích lũy và bề dày văn hoá. Sau mỗi một tiểu phẩm biến
thể là một khối kiến thức kim cổ, đông tây. Sự sáng tạo đó còn thể hiện ở chỗ
Lý Sinh Sự đã “thông tấn hoá” ngôn ngữ dân gian, vận dụng ngôn ngữ giân
gian và khẩu ngữ một cách tài tình. Tính thời sự của đề tài đi cạnh tính “thời
sự” của ngôn ngữ đời thường do người dân sáng tạo ra trong sinh hoạt và được
“chuyển hóa” hết sức nhuyễn trong tiểu phẩm biến thể của tiểu phẩm báo chí
hiện đại. Ngay cả cách liên tưởng để tạo ra sự đối lập hình ảnh trong tiểu phẩm
biến thể của Lý Sinh Sự cũng độc đáo và ấn tượng. Thật ra, đôi lúc thông tin
không mới, thông tin các báo khác đã đưa và bình luận nhiều nhưng qua cách
nhìn, cách so sánh, cánh diễn đạt hóm hỉnh của ông vẫn làm cho tiểu phẩm có
một sức sống riêng trong lúc tính thời sự có vẻ như đã qua đi. Sự sáng tạo
trong tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự có thể gọi là gợi mở một góc nhìn
mới về một sự kiện không mới. Chẳng hạn thông tin về bệnh sệ cánh (teo cơ
delta) ở trẻ em, Lý Sinh Sự không thông báo số lượng, địa phương xảy ra, cách
phòng chống hay chữa trị mà anh liên tưởng đến... những cuộc thi hoa hậu,
người đẹp đang diễn ra tràn lan gần đây với một lời bình nhẹ nhàng nhưng đau
xót, rằng người ta thi đùi dài, bụng nhỏ, ngực nở, dáng cao chứ ai thi cái đám
trẻ đói nghèo, tật bệnh lam lũ chốn làng quê. Cách viết châm biếm thói hư tật
xấu đồng thời gợi mở, thức tỉnh tính nhân bản đã khiến cho người đọc cảm
thấy “gai gai” và nhớ kỹ những tiểu phẩm của tác giả…
Với phong cách tiểu phẩm Lý Sinh Sự, sự vận động từ “tiểu phẩm gốc”
sang tiểu phẩm phái sinh tạo ra biến thể rõ nét nhất vẫn là vấn đề thể loại, nghệ
thuật và hình thức thể hiện tác phẩm. Nếu làm một phép so sánh giữa Ba Thợ
Tiện thì về mặt hình thức, tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự có độ dài gọn
hơn, nghĩa là số âm tiết ít hơn. Độ dài trung bình tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện
chừng 500 đến 700 chữ và không vượt quá 1000 chữ, thì Lý Sinh Sự có gọn
gàng hơn với độ dài trung bình của một tiểu phẩm biến thể là từ 300 đến 600
chữ và rất ít khi vượt quá 800 chữ. Như vậy về độ ngắn gọn và linh động của
73
tiểu phẩm Lý Sinh Sự đã có khác so với Ba Thợ Tiện và là một bước tiến dài
so với tiểu phẩm truyền thống về số lượng từ.
Hình thức đối thoại giả tưởng để dẫn chuyện cũng là một trong những đặc
trưng quan trọng trong tiểu phẩm Lý Sinh Sự, đây cũng những biểu hiện rõ nét
của tiểu phẩm biến thể. Khảo sát 143 tiểu phẩm tiêu biểu của Lý Sinh Sự đăng
trên báo Lao động từ năm 1997 đến 2007 và được tập hợp lại trong cuốn “Nói
hay đừng” của Nhà xuất bản Thông tấn 2008 thì chi có 36 tiểu phẩm luận giải
dưới hình thức diễn đạt thông thường, chỉ chiếm 25% tổng số tác phẩm. Còn
lại 107 tác phẩm đều được diễn đạt dưới hình thức đối thoại giả tưởng, chiếm
đến 75% tổng số tác phẩm. Và như vậy tiểu phẩm biến thể chiếm đa số và
chúng tôi tạm gọi dạng thức tiểu phẩm biến thể này là tiểu phẩm đối thoại giả
tưởng. Chính lợi thế thể loại biến thể của đối thoại giả tưởng đã làm cho người
viết tìm được nghịch lý qua sự liên tưởng biến ảo của đối thoại tạo những liên
tưởng bất ngờ đến vô lý tất yếu của lẽ mạnh yếu trong tranh luận về chính
những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Nhân vật đối đáp “bác”, “tôi” ở đây là
giữa Lý Sinh Sự và nhân vật có cái tên Gã đài phường…
Sự đối thoại với giọng văn giàu chất hài hước của ngôn ngữ “giân dan được
thông tấn hóa” cộng với ngôn ngữ đời thường đã làm bật lên ở người đọc tiếng
cười sảng khoái để rồi sau đó, là sự xót xa hoặc cảm thông, ăn năn hoặc tự vấn
và nỗi đau thế thái nhân tình.
Cũng do vậy mà tính chiến đấu trong tiểu phẩm Lý Sinh Sự mạnh mẽ và tác
giả nổi lên như một cây bút được mệnh danh là “ngưới chửi thuê cho nhân
dân”. Và cũng do vậy mà cũng nhiều người ghét cay ghét đắng Lý Sinh Sự
nhưng chính vì ông “chửi” hộ quần chúng, đứng trên lập trường của số đông
nên đây là điểm tựa an toàn và lớn nhất cho ông trên con đường…viết tiểu
phẩm. Ai đó đã rất có lý khi cho rằng viết tiểu phẩm dạng này nghĩa là đang
“đùa với lửa”. Bởi con người ta chẳng ai muốn người khác châm biếm mình.
Tiểu phẩm của Lý Sinh Sự chính là sự đùa với lửa một cách cố ý, nhưng là
74
cách đùa “đùa với lửa, không bị lửa thiêu”. Cái bảo vệ cho Lý Sinh Sự chính là
đứng trên cái đúng, nói lên tâm nguyện của nhiều người một cách tỉnh táo và
điềm đạm. Mặt khác, tác giả luôn tôn trọng dân chủ, trên cơ sở đạo lý và pháp
luật, và bao giờ cũng đứng trên tinh thần chống để xây như một yêu cầu số một
của những người viết thể loại này.
Như vậy với tác giả Lý Sinh Sự, một “người chửi thuê cho nhân dân” đã có
những sáng tạo, cách tân và tạo ra những biến thể tiểu phẩm rất rõ nét trên cả
phương diện nội dung lẫn hình thức thể hiện như đã trình bày trên. Nội dung
đề cập rộng khắp, phương thức thể hiện bằng các biến thể tiểu phẩm đối thoại
giả tưởng cộng với việc “thông tấn hóa” ngôn ngữ dân gian kết hợp với sử
dụng khéo léo ngôn ngữ hiện đại trong để phản ánh các vấn đề thời sự nóng
hổi là những nét riêng tạo nên tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự. Hay một
góc nhìn mới trước một sự kiện không mới với một kết cấu gọn gẽ từ 300 đến
600 chữ đã làm cho dạng thức tiểu phẩm có những phái sinh độc đáo mà chúng
tôi gọi là tiểu phẩm đối thoại giả tưởng. Tiểu phẩm biển thể Lý Sinh Sự là một
thể loại mới mà chính bản thân tác giả cũng chỉ gọi đó là những tiểu phẩm như
xưa nay vẫn thế, nhưng kỳ thực nó đã vượt ra những lý thuyết và cấu trúc của
thể loại tiểu phẩm truyền thống với những đặc trưng, đặc điểm được đề cập
xưa nay trong lý luận về báo chí học.
3.4 Nét độc đáo của Bút Bi và tiểu phẩm biến thể trên báo Tuổi trẻ.
Từ tiểu phẩm của Hữu Thọ, đến Ba Thợ Tiện, đến Lý Sinh Sự đã có những
sự vận động để tạo ra những biến thể độc đáo, nhưng rõ nét nhất của sự cách
tân và hiện đại hóa tiểu phẩm thì những tiểu phẩm biến thể của Bút Bi trên báo
Tuổi trẻ. Sở dĩ nói những tiểu phẩm phái sinh trong phong cách tiểu phẩm Bút
Bi thể hiện rõ nét nhất tính biến thể là vì những đặc trưng trên cả phương diện
nội dung mà đặc biệt là phương thức thể hiện của nó.
Bút Bi là bút danh của nhà báo Bùi Thanh, một nhà báo bản lĩnh và có dũng
khí đấu tranh chống tiêu cực ở Báo Tuổi trẻ. Ông không chỉ xuất sắc trong
75
những bài bình luận, điều tra mà trong lĩnh vực tiểu phẩm còn tỏ ra là một cây
bút có tài, có tâm và giàu nhiệt huyết chiến đấu. Chuyên mục Chuyện thường
ngày xuất hiện đều đặn 7 số/tuần trên trang 2 của báo Tuổi trẻ đã tạo ra một
Bút Bi đầy phong cách và bản sắc như Hữu Thọ của Nhân dân, Ba Thợ Tiện
và Lý Sinh Sự ở báo Lao động. Ở đây chúng tôi không so sánh tài năng cao
thấp của các cây bút tiểu phẩm này mà trên cơ sở phân tích văn bản để tìm ra
những phong cách, những đặc trưng, đặc điểm trong sáng tạo để tạo ra những
tiểu phẩm biến thể trong nghiên cứu vể thể loại của báo chí học.
Từ tiểu phẩm gốc đến những tiểu phẩm của Bút Bi có những sự hiện đại
hóa trong nhiều yếu tố: Nội dung, đặt tít, ngôn ngữ sử dụng, độ dài, các dạng
thức thể hiện và tính chiến đấu không khoan nhượng của tiếng cười trí tuệ xót
xa. Tiểu phẩm biến thể của Bút Bi có thể nói đáp ứng được rất nhiều yêu cầu
của công chúng báo chí thời hiện đại bởi tính thời sự và độ ngắn gọn…như
không thể ngắn hơn của nó. Qua khảo sát độ dài tác phẩm tiểu phẩm và so
sánh độ dài trung bình thì nhà báo Hữu Thọ từ 600 đến 800 chữ, có tiểu phẩm
lên đến 1000 chữ; tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện cũng nằm trong khoảng
600 đến 800 chữ nhưng không có tiểu phẩm vượt quá 1000 chữ. Đến Lý Sinh
Sự, độ dài tiểu phẩm biến thể còn gọn gàng hơn, với âm tiết trung bình là 500
đến 700 và ít khi vượt quá 800 chữ. Nhưng đến tiểu phẩm Bút Bi, khi khảo sát,
thống kê và phân tích văn bản thì tiểu phẩm biến thể đạt đến độ hàm súc, ngắn
gọn một cách đáng kinh ngạc. Độ dài tiểu phẩm biến thể của Bút bi dao động
từ 150 âm tiết đến 300 âm tiết và rất hiếm khi vượt qua 350 âm tiết. Khảo sát
trên báo tuổi trẻ hiện tại, cụ thể là trong hai năm gần đây, số tiểu phẩm biến thể
vựot quá ngưỡng 350 âm tiết là rất ít. Qua thống kê theo xác suất của chúng tôi
trên 100 tiểu phẩm rải rác lấy từ các tháng, từ thàng 1 đến tháng 7 năm 2008
thì độ dài trung bình tiểu phẩm biến thể của Bút Bi là 200 đến 250 âm tiết.
Với một dung lượng từ như vậy nhưng vẫn phản ánh, phê phán những mặt
trái có tính thời sự là một việc làm không hề đơn giản. Đó là chưa kể đến tính
76
hấp dẫn và thuyết phục cũng như những yêu cầu khắt khe của thể loại này.
Chẳng hạn trong tiểu phẩm biến thể “Hiện nguyên hình” trên Chuyện thường
ngày của Tuổi trẻ thứ 4(08/08/2008).
“Tháng trước là quả đấm của con rể một bà Tư làm chảy máu mũi một
nhà báo trước các em người đẹp hoàn vũ thế giới. Đận này là cú tát của một
nhân viên VFF cũng với một nhà báo trước mũi các quan chức bóng đá trong
nước và thế giới. Ông thấy sao?
- Thấy... đau!
- Có tát ông đâu mà đau?
- Không, đau là đau trước mặt người đời. Ai đời thời buổi văn minh thế này
mà hở ra là thượng cẳng chân hạ cẳng tay! Liệu người ta sẽ nghĩ gì về cách
hành xử của dân mình?
- Chỉ là hành xử của một hai cá nhân trong lúc bộc phát, chắc không đến nỗi
"quan điểm" như ông nói đâu...
- Đúng, bộc phát. Và chính vì bộc phát nên con người thật của anh mới hiện
nguyên hình”.
Tiểu phẩm biển thể này chỉ có 150 chữ, sử dụng hình thức đối thoại giả
tưởng để bày tỏ và bộc lộ chính kiến. Sự phản văn hóa một cách có hệ thống
trong ứng xử của giới trí thức, cụ thể là doanh nhân và quan chức thể thao đã
“hiện nguyên hình”. “Ai đời thời buổi văn minh thể này mà hở ra là thựong
cẳng chân hạ cẳng tay” mà sự vô học ấy lại diễn ra trong một môi trường văn
hóa và cao thượng (Thi hoa hậu quốc tế, Thể thao), lại còn có sự chứng kiến
của nhiều quan khách quốc tế đã nói lên cái đau đớn và nhục nhã thay cho
những kẻ không biết kìm chế, không có nền tảng văn hóa trong ứng xử. 150
77
chữ mà “chửi” cũng như lý giải căn nguyên sâu xa của sự “bột phát” của thói
vô học, phi văn hóa chính là cái tài của người viết tiểu phẩm.
Hay trong một tiểu phẩm biến thể khác có tên gọi “Chỉ số văn hóa” trên
Tuổi trẻ ngày 09/06/2008 với 170 từ nhưng một hiện trạng ứng xử văn hóa
khác cũng hiện hữu đến khó tin và khó chấp nhận trên sự kiện 100% sự thật.
Đây có thể xem là một tiểu phẩm biến thể điển hình cho phong cách tiểu phẩm
biến thể Bút Bi và cũng có thể xem là mực thước cho biến thể tiểu phẩm báo
chí hiện đại. Trong 170 từ, Bút Bi viết:
“Tết con heo vàng, người Sài Gòn đã phải đỏ mặt với hình ảnh nhiều bạn trẻ
cướp heo đất, cướp hoa xuân.
Tháng tư năm nay, người Hà Nội đã phải thẹn thùng khi nhiều nam thanh nữ
tú vặt trụi hoa anh đào ở lễ hội hoa anh đào.
Và mới nhất, người dân cố đô Huế vốn xưa nay nổi tiếng về chuyện "giấy rách
phải giữ lấy lề", "đói cho sạch, rách cho thơm" đã ngỡ ngàng trước chuyện
những người trẻ tấn công các tác phẩm nghệ thuật trưng bày ở Festival Huế.
Ôi thôi, thế thì câu chuyện văn hóa ứng xử nơi công cộng không còn là
"chuyện của riêng ai" nữa rồi!
Xem ra đã đến lúc "chỉ số văn hóa" cũng cần được chăm chút, chú ý như chỉ
số giá, chỉ số tăng trưởng. Không thể mãi chạy theo việc lo cho cái bao tử mà
sao nhãng việc chăm chút xây dựng "phần hồn"!
Ở tiểu phẩm biến thể này 3 sự kiện có thật xảy ra ở ba miền Bắc, Trung
Nam được đưa vào một cách nhẹ nhàng, tửng tưng trong mấy dòng tiểu phẩm
nhưng giá trị khái quát của nó lại mở ra một biên độ lớn đáng báo động ở cấp
Quốc gia. Đó là thái độ thiếu văn hóa trong ứng xử văn hóa nơi công cộng. Và
78
nó đã trở thành “quốc nạn” thành việc “không của riêng ai”. Và qua đó Bút Bi
đề cập đến một vấn đề có tính sống còn của một dân tộc, một quốc gia trong
quá trình phát triển. Đó là “Không thể chạy theo việc lo cho cái bao tử mà sao
nhãng việc chăm chút xây dựng phần hồn”. Nghĩa là không chỉ lo đến việc
phát triển kinh tế, thương mại mà bỏ qua việc bổi bổ, phát triển các chính sách
về văn hóa. Hay nói đúng hơn chính sách chăm lo và phát triển văn hóa đang
có vấn đề nên mới dẫn đến hệ lụy “chỉ số văn hóa” xuống cấp trầm trọng cả ba
miền như vậy. Thông điệp chính được đưa ra ở cấp vỹ mô là: Phát triển kinh tế
phải đi đôi với phát triển văn hóa, đó mới là cái gốc của sự phát triển bền
vững. 170 chữ, Bút Bi đã chỉ ra một hiện tượng xã hội vỹ mô, một chính sách
văn hóa của chúng ta đang có vấn đề. Sức thuyết phục của tư duy, của lập
luận, của các hình ảnh so sánh trong một cái vỏ tác phẩm hết sức ngắn gọn đã
chinh phục được cả những bạn đọc khó tính nhất. Nét hiện đại của tiểu phẩm
biến thể Bút Bi là vậy.
Phong cách tiểu phẩm biến thể của Bút Bi thể hiện ở nhiều dạng biến thể
khác nhau. Ngoài những tiểu phẩm có kết cấu tự luận thông thường thì tiểu
phẩm phái sinh của Bút Bi đa phần là những đối thoại giả tưởng, dạng thức
này chiếm đa số trong lối diễn đạt của tác giả. Bên cạnh đó, hình thức “mượn”
lời tâm sự của sự vật, hiện tượng qua thủ pháp nhân hóa để tự thân sự vật, hiện
tượng đó “bộc bạch” nỗi lòng hay sự hàm oan của mình. Thường thì dạng tiểu
phẩm nhân hóa có tính ngụ ngôn này được trình bày dưới dạng một lời tự sự,
tường trình hay một bức thư ngắn. Chẳn hạn trong tiểu phẩm biến thể: “Lời
của một dòng sông” trên Chuyện thường ngày, báo Tuổi trẻ thứ ba ngày
16/09/2008 là một trong nhiều ví dụ.
“Thế là tấm thân nhàu nhĩ vì bị giày vò, chà đạp bao nhiêu năm nay của
em cuối cùng cũng được các anh nhòm ngó tới. Một trong số những kẻ làm
79
cho đời em đang tươi xanh trở nên thân tàn ma dại đã được các anh bắt quả
tang. Đội ơn các anh lắm lắm dù em đã chịu đựng 14 năm qua.
Nhưng em hận. 14 năm chớ đâu phải một ngày một bữa mà em bị bỏ
quên, bỏ mặc. Em kêu cứu. Nhiều người kêu cứu. May mà trời bất dung gian.
Em hiểu, dù chậm nhưng ở đời vẫn còn công lý.
Nhưng đâu chỉ mình em tang tóc. Còn bao nhiêu dòng sông nữa cũng bị
đầu độc, thê thảm như em.
Làm gì các anh không biết phận những con sông như chúng em bị hành
hạ, trừ khi cái mũi, cái mắt các anh có vấn đề, không ngửi được, không thấy
được. Nhưng chẳng lẽ cái tai cũng hư, không nghe? Em không tin, em không
tin!
Một kẻ bị bắt quả tang nhưng vẫn còn rất nhiều kẻ giỏi phi tang. Hãy
cứu lấy chúng em. Nếu chúng em chết thì sau này các con anh sẽ hỏi: “Dòng
sông là gì hả bố?”. Lúc đó, tội nghiệp tụi nhỏ lắm mấy anh à.
Hãy cứu lấy chúng em, đừng để những kẻ gây ra tội lỗi này chỉ bị xử lý
nhẹ tựa lông hồng nha mấy anh.”
THỊ VẢI (Bút Bi ghi lại)
Chỉ 250 chữ, nhưng lời trần tình thống khổ của con sông Thị Vải này đã
cho thấy một cách thuyết phục và mai mỉa nhiều thực trạng xã hội. Đó là tình
trạng “bức tử” nhiều dòng sông do chất thải công nghiệp, môi trường bị xâm
hại nặng nề. Sâu xa hơn của vấn đề là là tình trạng bao che và năng lực kiểm
tra, giám sát quá kém của chính quyền sở tại, đặc biệt là Ngành Tài nguyên
Môi trường khi một sự việc nghiêm trọng đến vậy mà 14 năm sau mới bị phát
hiện. Tiểu phẩm phẩm biến thể này không chỉ phản ánh thực tế việc sông Thị
80
Vải bị ô nhiễm nặng mà còn tố cáo, vạch trần thói vô trách nhiệm của các cơ
quan chức năng bằng những lời lẽ hết sức mai mỉa mà đau đớn: “Làm gì các
anh không biết phận những con sông như chúng em bị hành hạ, trừ khi cái
mũi, cái mắt các anh có vấn đề, không ngửi được, không thấy được. Nhưng
chẳng lẽ cái tai cũng hư, không nghe? Em không tin, em không tin!”. Nghĩa là
chính quyền, các cơ quan chức năng biết cả, nhưng giả vờ điếc, giả vờ mù, giả
vờ câm. Người bị chửi ắt sẽ cảm thấy đau đớn những đành phải “ngậm bồ hòn
làm ngọt”. Sự câm lặng này không đơn thuần chỉ là vô cảm, mà biết đâu là
“ngậm miệng ăn tiền”. Cái đau của cách “chửi” trong tiểu phẩm biến thể hiện
đại là vậy. Chưa hết, tác giả còn tố cáo một thực trạng xưa nay vẫn diễn ra đối
với những sai phạm, thậm chí là tội phạm về môi trường ở nước ta, đấy là tình
trạng xử lý cho qua chuyện, xử theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”, kiểu “hòa cả
làng”, chẳng chết ai và cuối cùng là tội vạ đâu người dân chịu cả. Thực tế đau
lòng này làm cho tội phạm, những người vi phạm nhờn luật để sau khi bị “xử
phạt hành chính” để lại…tiếp tục vi phạm. Vậy nên Bút Bi mới thay lời con
sông Thị Vải mà có một câu hỏi, một sự liên tưởng bi hài và đau đớn: “Một kẻ
bị bắt quả tang nhưng vẫn còn rất nhiều kẻ giỏi phi tang. Hãy cứu lấy chúng
em. Nếu chúng em chết thì sau này các con anh sẽ hỏi: “Dòng sông là gì hả
bố?”. Lúc đó, tội nghiệp tụi nhỏ lắm mấy anh à.”.Tưởng là một câu hỏi đùa
ngây ngô của con trẻ “Dòng sông là gì hả bố?”, nhưng sự thể là một lời nhắc
nhở rằng đừng để những sai lầm thời nay có tội với hậu thế, một cái tội tày
đình không thể nào gột rửa. Mà muốn không đắc tội với hậu thế thì những
hành vi vi phạm pháp luật, phá hoại môi trường cần phải được xử lý một cách
triệt để, nghiêm túc mới có tính răn đe.Vậy nên sông Thị Vải mới khẩn thiểt
rằng: “Hãy cứu lấy chúng em, đừng để những kẻ gây ra tội lỗi này chỉ bị xử lý
nhẹ tựa lông hồng nha mấy anh”.
Đọc những lời trần tình của sông Thị Vải ban đầu sẽ bật ra một tiếng
cười bởi cách trần tình duyên dáng, hài hước, nhưng rồi sau cái cười ấy là cả
81
một nỗi đau và sự xót xa trước thực trạng buồn cho con người và thể chế trong
cách ứng xử với môi trường và tội phạm môi trường. Tiểu phẩm biến thể ngụ
ngôn có tính nhân hóa này là một sáng tạo và cũng là một tác phẩm mẫu mực
cho tiểu phẩm biến thể.
Ở Bút Bi còn có những lối thể hiện độc đáo khác trong các tiểu phẩm
biến thể. Đôi lúc là dưới dạng một bức thư gửi đến Bút Bi, đôi khi là những
truyện cổ tân trang lại hết sức ngắn gọn. Đôi khi lại là một tiểu phẩm chỉ ghi
lại lời kể của các nhân vật có thật trong những hoàn cảnh có thật. Tự thân
những lời thoại, những hoàn cảnh ấy bật lên thành tiếng cười đả kích. Có một
hính thức khác khá độc đáo và sáng tạo, tuy có hơi “mạo phạm” đến các bậc
tiến bối nhưng cũng tạo ra những hiệu quả thông tin bất ngờ và tính chiến,sự
mai mỉa cũng đạt hiệu quả rất cao. Đó là việc “chế” lại lời của những nhạc
phẩm, đoạn văn hay bài thơ nổi tiếng. Tất nhiên trước khi “chế”, Bút Bi đã
thành thật xin lỗi tác giả, và cũng chẳng ai “nỡ giận” Bút Bi với những biến
thể tiểu phẩm “chế” lời này. Chúng tôi tạm gọi đây là những tiểu phẩm biến
thể phóng tác. Chẳng hạn trong biến thể “Ngày tựu trường” trên Tuổi trẻ thứ 6
ngày 22/08/2008 vỏn vẹn 246 chữ:
“Mỗi năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có
những đám mây bàng bạc trôi, lòng tôi lại ngao ngán những kỷ niệm hoang
mang của buổi tựu trường.Tôi không thể nào quên được những cảm giác chán
ngán trong lòng tôi, dù xung quanh là tràn ngập những lẵng hoa mừng ngày
toàn dân đưa trẻ đến trường!Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy,
nhưng vẫn luôn nhớ rõ, bởi cũng chẳng cần ghi làm gì khi năm nào cũng như
năm ấy.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi
mệt mỏi chở tôi đi trên con đường nghẹt cứng vì “lô cốt”. Dọc đường tôi thấy
82
nhiều cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất nhưng mặt ủ mày chau, không
hiểu vì cái cặp nặng trĩu trên lưng hay vì khói xe và bụi (?!).
Sau những bài diễn văn dài ngoằng, chúng tôi lần lượt xếp hàng vào
lớp. Ngồi bên cửa sổ, tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo một cánh chim bay
ngang trời, và ước mong sao mình được tự do như nó. Nhưng những tiếng
phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tiếng thầy
dõng dạc: “Các em lật sách Tiếng Việt, trang 55”...
Vâng, không có gì lạ cả. Tôi đã đi học một tháng trước ngày tựu
trường!”
(Vô vàn xin lỗi cố nhà văn Thanh Tịnh, tác giả truyện ngắn nổi tiếng Tôi đi
học).
Sự hài hước nằm ở chố Bút Bi phóng tác một đoạn văn “đi học” của một
thời tuyệt đẹp và một thời đầy tréo ngoe của giáo dục và giao thông thời hiện
đại. Đó là những cặp sách nặng trĩu, là khói bụi và tắc đường, là các bài học đã
được học thêm trước đó.
Hay trong tiểu phẩm phóng tác khác, một sáng tác của nhạc sỹ Phạm
Duy mang tên “Con đường nào ta đi” cũng được Bút Bi “chế” lại sau khi xin
lỗi tác giả bài hát và khéo léo giả vờ cho một bạn đọc gửi đến E.mail cho Bút
Bi:
“Một ngày thứ bảy ồn ào, kẹt xe và khổ sở như bao ngày thường khác,
Bi tui vào đến tòa soạn mở "meo". Úy trời, có một bạn đọc Tuổi Trẻ cũng tâm
trạng như mình, tức khí sinh… nhại nhạc. Bi tui thấy ngồ ngộ, xin bày ra đây
cho bà con nhâm nhi.
(Xin nhạc sĩ Phạm Duy bỏ quá cho)
83
Con đường nào ta đi cũng đào lên đào xuống.
Con đường chiều thành đô, con đường bụi mịt mù...
Con đường giờ tan ca, công trình che bít lối
Xe kẹt dài lên hè - con đường nào ta đi???
Con đường mà khi mưa, nước tràn như dòng suối.
Ta dùng xuồng ta đi nên nhìn còn thẹn thùng.
Con đường nào ta đi - tới nhà hay vào lớp…
Con đường làm công trình, con đường đầy gian nan.
Thế rồi đường vào nhà cũng tìm hoài không ra.
Đi lạc vòng quanh phố, không đường vào.
Đứng ở ngoài đầu đườngGiống ở đầu con sông.
Trông về con đường cũ mênh mông, mênh mông...
Hỡi nhà thầu làm đường, hãy làm giùm mau mau!!!
Ít người làm như thế trên đường dài.
Có vài người càu nhàu, biết giờ nào cho xong?
Trả về con đường cũ như xưa, như xưa”.
Lối phóng tác hài hước trước những vấn nạn xã hội như sự lộn xộn, ẩu
tả của giao thông và công trình giao thông công cộng cũng như những bất cập
trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đã mang đến cho bạn đọc những
84
sự giải tỏa bức xúc một cách nhẹ nhàng. Qua lăng kính này sự phê phán trên
tình thần xây dựng cũng làm cho những người có trách nhiệm bị “châm chích”
cũng thấy được trách nhiệm xã hội của mình trước những lời đề nghị chính
đáng như tâm nguyện của đa phần người dân: “Hỡi nhà thầu làm đường, hãy
làm giùm mau mau!!!”
Tóm lại Bút Bi là một cây bút với những tiểu phẩm biến thể hiện đại đa
giọng điệu và đa hình thức thể hiện. Nội dung các vấn đề được để cập một
cách trực tiếp trong các tiểu phẩm biến thể mà không hề ngại động chạm. Đó
là dũng khí của một cây bút tiểu phẩm dám nói, dám đấu tranh cho trật tự và
công bằng xã hội. Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và những mặt trái của
đời sống kinh tê, văn hóa, xã hội…Biến thể tiểu phẩm của Bút Bi đạt đến độ
chuẩn mực của tiểu phẩm báo chí hiện đại. Đó là sự cô đọng, ngắn gọn và hàm
súc hết mức nhưng trong đó vẫn chứa đựng được sức mạnh của thông tin bởi
những luận giải bi hài mà logic về các hiện tượng khác nhau của đời sống xã
hội. Sự đa phong cách trong sáng tạo đã tạo nên những hình thức tiểu phẩm hết
sức mới mẻ như tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng, tiểu phẩm biến thể ngụ
ngôn nhân hóa, tiểu phẩm biến thể phóng tác…như đã trình bày. Tiểu phẩm
biến thể của Bút Bi- nhà báo Bùi Thanh đã đạt được những chuẩn để khái quát
hóa thành đặc điểm, đặc trưng của tiểu phẩm biến thể trên báo chí Việt Nam
hiện đại.
IV. Đặc điểm về phong cách, cấu trúc và kết cấu của tiểu phẩm biến
thể.
Bốn nhà báo, 4 phong cách tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể trên là những
lựa chọn khảo sát trong phạm vi hẹp của và giới hạn của luận văn này. Họ là
những đại diện khá tiêu biểu. Tất nhiên trong dòng chảy của thể loại không chỉ
duy nhất các tác giả này có những phong cách tiểu phẩm mới lạ bởi những
85
phát hiện và tìm tòi một phương pháp thể hiện hiện đại. Vẫn còn những tác giả
tiêu biểu mà chúng tôi chưa có điều kiện phân tích, khảo sát trong luận văn.
Chẳng hạn như Lê Thị Liên Hoan (Đạo diễn Lê Hoàng) với hàng loạt tiểu
phẩm với phong cách Phỏng vấn giả tưởng trên nhiều tờ báo, mà đặc biệt là
Báo An ninh thế giới cuối tháng. Rồi Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh) cũng là
những đối thoại và phỏng vấn giả tưởng với một sự hóa thân hoàn hảo trên
“Tôi xem, đọc, thấy và nghe” của Thể thao Văn hóa…Còn nhiều cây bút tiểu
phẩm khác cũng đang định hình những phong cách cho riêng mình.
Tuy nhiên việc khảo sát 4 tác giả tiểu phẩm nói trên cũng bước đầu thấy
được những đặc điểm về phong cách, đề tài, cấu trúc của những phái sinh hay
còn gọi là tiểu phẩm biến thể trong thực tiễn sử dụng thể loại này trên báo in
hiện đại.
4.1 Chủ đề, đề tài của tiểu phẩm biến thể.
Tiểu phẩm biến thể như đã nói là những dạng thức phái sinh từ tiểu phẩm
gốc. Cũng vậy mà mà đề tài và chủ đề phản ánh của nó vẫn là đả phá trên tinh
thần xây dựng những mặt trái của xã hội. Trong chiến tranh, tiểu phẩm xoay
quanh những chủ đề chính là đấu tranh vạch trần và tố cáo tội ác của chủ nghĩa
đề quốc, thực dân và bè lũ tai sai, đồng thời là tiếng nói bảo vệ Đảng, bảo vệ
chính quyền trong công cuộc đấu tranh và xây dựng đất nước.
Đất nước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì phạm vi đề tài, chủ đề của tiểu phẩm biến
thể trở nên đa dạng hơn bao giờ hết. Đặc biệt là những mặt trái của cơ chế thị
trường tác động vào xã hội làm nảy sinh những tiêu cực, nhũng nhiễu làm cản
trở sự phát triển lành mạnh của xã hội. Đó là nạn tham ô, tham nhũng, lãng
phí, là sự phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm. Hàng loạt
các căn bệnh xã hội nảy sinh ở nhiều ngành, cấp như bệnh thành tích, bệnh nói
86
suông hứa hão…Cạnh đó là sự gia tăng nhiều loại hình tội phạm mới về kinh
tế, môi trường và các loại tội phạm hình sự nguy hiểm khác. Thời đổi mới và
hội nhập, mặt trái của nó còn kéo theo những sự xuống cấp về văn hóa, đạo
đức, lối sống của một bộ phận dân chúng, tình trạng tiếp thu không chọn lọc
văn hóa làm cho đời sống tinh thần của người dân ít nhiều bị vẩn đục, biến
dạng.
Cạnh các vấn đề kinh tế, xã hội thì đời sống chính trị cũng có những biểu
hiện trái chiều. Tình trạng Đảng viên thoái hóa biến chất, đây đó tính chiến
đấu của Đảng bị giảm sút cũng là những lời cảnh báo hiện hữu. Đảng ta cảnh
báo về những biểu hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa” trong nhiều văn kiện
quan trọng và đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phát triển Đảng là
một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng song hành cùng với phát triển
kinh tế và văn hóa…
Tất cả những vấn đề rộng nêu trên đều là đề tài, chủ đề cho tiểu phẩm biến
thể hướng đến phản ánh và đấu tranh với các mặt trái một cách quyết liệt trên
tinh thần của thể loại tiểu phẩm: Chống để xây! Trên thực tế tiểu phẩm biến
thể đa phần là đề cập đến những nội dung xấu có tính phê phán để thể hiện tính
chiến đấu như một đặc trưng thể loại của mình. Rất hiếm khi có các tiểu phẩm
biến thể biểu dương ca, ngợi cái tốt, vì như đã phân tích nếu đề cập đến dạng
chủ đề này, rất dễ bị lẫn sang thể loại khác kiểu như “người tốt việc tốt” hay
những bài phản ánh thông thường.
Các chủ đề, đề tài nóng bỏng của tiểu phẩm biến thể nếu cụ thể hóa lại thì
thường thấy những “đường đi” như sau: Phản biện, phê phán những cái thiếu,
cái khiếm khuyết để bổ khuyết của các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà
nước; phê phán mặt trái của các ngành nổi cộm như Giáo dục, Y tế, Môi
trường, Công an, Nông nghiệp - nông thôn; Giao thông vận tải…; Chống tiêu
87
cực, tham nhũng,quan liêu, lãng phí ở tất cả các ngành các cấp; tham gia
phòng chống tội phạm và lên án các hành vi vi phạm pháp luật; phê phán
những thói hư, tật xấu của người Việt trong thời đổi mới; phê phán sự xuống
cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận dân chúng…Nghĩa là tiểu phẩm biến
thể đã tham gia vào hầu khắp các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa
để nói lên tiếng nói đấu tranh, phản biện vì công bằng và tiến bộ xã hội.
Cũng chính vì lẽ đó, tiểu phẩm và tiểu phẩm báo chí biến thể ngày càng thể
hiện sức hút, tính chiến đấu và vị trí đắc dụng của mình. Cũng vì thế mà ưu thế
thể loại một thời gần như ở mức độ bình thường thì nay được đa phần các tờ
báo in sử dụng với tần suất cao và trí trang trọng. Tiểu phẩm biến thể gần nhu
thay chỗ cho xã luận để nói lên chính kiến và quan điểm của tòa soạn trước
một vấn đề thời sự nóng mà xã hội quan tâm.
4.2 Phong cách ngôn ngữ của tiểu phẩm biến thể.
Tự thân báo chí đã rất phong phú về các thể loại như tin tức, phỏng vấn, ghi
nhanh, phản ánh, tường thuật, phóng sự, điều tra, bình luận, xã luận…Mỗi một
thể loại báo chí đều xác định cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng để đạt
được hiệu quả truyền thông cao nhất. Tiểu phẩm biến thể cũng vậy, nó cũng
xác định cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng rất đặc thù và sinh động.
Phong cách ngôn ngữ tiểu phẩm cũng là một trong những phong cách của
ngôn ngữ báo chí, vậy nên ngoài những nét dị biệt thì nó cũng mang những
chuẩn chung của ngôn ngữ báo chí. Đó chính là chức năng thông báo và tác
động của ngôn ngữ đến với đông đảo bạn đọc. Tính ngắn gọn, dễ hiểu và đại
chúng của ngôn ngữ báo chí phải là yêu cầu số một để đảm bảo các đặc trưng
về tính thời sự, tính chiến đấu và sức hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí. Ngoài
những chuẩn chung này thì phong cách ngôn ngữ của tiểu phẩm báo chí hiện
đại có những đặc trưng riêng để tạo nên phong cách thể loại của mình.
88
Phong cách ngôn ngữ tiểu phẩm biến thể là một sự pha trộn phức tạp nhưng
thú vị như chính những phạm vi đề tài rộng lớn mà nó phản ánh. Đó là ngôn
ngữ của tư duy chính luận với những lập luận sắc sảo, là tiếng cười trí tuệ mai
mỉa. Việc sử dụng các thành tố ngôn ngữ để đạt được hai yêu cầu nói trên buộc
người viết tiểu phẩm biến thể phải có một vốn từ vựng khổng lồ. Đó là ngôn
ngữ khẩu ngữ đối thoại hàng ngày, là ngôn ngữ bình dân đời thường, là ngôn
ngữ vận dụng trong kho tàng tục ngữ, ca dao của văn học dân gian…Tất cả để
tạo ra sự gẫn gũi, thân mật với cái cười ý nhị, bình dân nhưng sấu sắc. Một tiểu
phẩm biến thể thường gây ấn tượng và làm đọng lại trong ký ức độc giả bởi
những cách nói, cách dung từ dân gian, thông thái. Thiếu ngôn ngữ hàm súc, ý
vị thì xem như chưa thành công về hình thức biểu đạt.
Mỗi loại tiểu phẩm biến thể lại tạo cho mình một yêu cầu ngôn ngữ riêng.
Với tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng hay phỏng vấn giả tưởng thì ngôn
ngữ giữa hỏi và trả lời tuyệt nhiên không mang tính hàn lâm, học thuật và trau
chuốt mà là ngôn ngữ khẩu ngữ rất đời thường. Đôi lúc còn là những lớp từ
mới, từ lóng được người dân sử dụng cũng được vận dụng vào trong tiểu phẩm
biến thể một cách sáng tạo và hoàn tòan chấp nhận được. Cách vận dụng khẩu
ngữ tự nhiên này vừa tạo ra tiếng cười cho tác phẩm, vừa rất gần gũi, đại
chúng mà hiệu quả thông tin rất cao. Trong các tiểu phẩm ngụ ngôn, nhân hóa
thì lớp từ dân gian, các điển tích điển cố được áp dụng nhiều, trong đó ngôn
ngữ tự sự tâm tình cũng được vận dụng một cách triệt để. Hầu như các phong
cách ngôn ngữ khác nhau đều có thể vận dụng vào trong sáng tạo một tác
phẩm tiểu phẩm biến thể. Vấn đề là vận dụng một cách hợp lý, đúng nơi đúng
chỗ, đặt nó vào trong những bối cảnh cụ thể sẽ gây được những hiệu quả thẫm
mỹ và thông tin cao. Chẳng hạn văn phong khoa học, đặt vào lời nói của
những cá nhân “ngụy khoa học”, toàn “học giả”, mua bằng mua cấp nhưng hễ
mở miệng là “lý luận” với “thực tiễn”, hết phạm trù nọ đến phạm trù kia trong
một cái đầu rỗng tuếch.
89
Những thủ pháp văn học cũng có thể vận dụng triệt để trong các tiểu phẩm
biến thể để tạo cho nó một lối diễn đạt linh động, giàu hình ảnh. Các lối nói ví
von, ẩn dụ, thẩm xưng, ngoa dụ, giăng bẫy để tạo cho bạn đọc những bất ngờ
qua sự dẫn dắt ngôn ngữ để làm nổi bật sự kiện và nội dung vấn đề mà tiểu
phẩm biến thể đề cập. Trong cuốn sổ tay nghiệp vụ “Hãy viết tiểu phẩm đi”
của Lý Sinh Sự có đúc kết lại mấy yêu cầu về ngôn ngữ trong tiểu phẩm báo
chí hiện đại. Đó là:
“1.Dùng nhiều thành ngữ, ca dao và nói chung là ngôn ngữ mà nhân dân ta
hay dùng hằng ngày. Ngôn ngữ thường dùng của nhân dân là thứ tinh tuý của
tư duy thông qua cái vỏ ngôn từ được chắt lọc qua thời gian và có tác động
mạnh nhất đến tình cảm, tâm lý. Tiếng Việt của chúng ta có nhiều thành ngữ,
ca dao tục ngữ có tính khái quát cao cho những hành vi như "Ăn như rồng
cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa", "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn", "Lắm
thầy thối ma", "Đầu voi đuôi chuột"...Có hàng nghìn, hàng vạn câu từ như thế,
đã đủ thừa vốn liếng cho người viết tiểu phẩm "vận dụng" vào bài viết của
mình. Chỉ cần "nồi nào vung nấy", không dùng chữ gán ghép khiên cưỡng hay
ngớ ngẩn là được.
2. Có thể đưa vào tiểu phẩm những câu thơ đã được mọi người "thuộc như
ca dao" ví như những câu trong Truyện Kiều của Thi hào Nguyễn Du: "Trăm
năm trong cõi người ta ...", "Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình", "Một ngày lạ
thói sai nha - Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền", "Máu tham hễ thấy hơi
đồng thì mê"...
3. Dùng tích xưa để nói chuyện nay, ví người chống tham nhũng dũng cảm
như "Võ Tòng đả hổ", ví kẻ lừa đảo như "Sở Khanh", ví kẻ dâm đãng như "Yêu
tinh râu xanh"...
90
4. Có thể dùng cả từ nước ngoài để "gút bai" ông quan tham, hoặc khen
ông chơi đẹp là "pheblây" hoặc "lốpby" để nói việc lo lót, dùng mitxtơ" thay
cho từ ngài, dùng "hôligân" thay cho từ côn đồ…
Nói chung việc dùng từ trong bốn yêu cầu trên nhằm làm tăng thêm tính
hài hước, làm đậm thêm chất châm biếm của tiểu phẩm.
Yếu tố thứ nhất của văn học là ngôn ngữ. Văn hào Nga Macxim Goocki
nói ngôn ngữ là áo quần của mọi sự vật và tư tưởng. Ngôn ngữ tiểu phẩm cũng
cần như áo quần vậy. "Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân". Muốn tiểu phẩm hay
phải biết dùng ngôn ngữ đẹp. Tiểu phẩm mà không biết dùng ngôn ngữ sẽ nhạt
phèo như một bản tin thông thường. Nên nhớ, tin tức phản ảnh ngay lập tức sự
kiện. Tiểu phẩm có sau tin tức. Làm tin đi sau là cho độc giả ăn cơm nguội.
Tiểu phẩm đen côm nguội ra rang mỡ, cho gia giảm vào thành "cơm rang thập
cẩm" hay đặc sản như "Cơm chiên Dương Châu".”…”
Những đúc kết của một cây bút tiểu phẩm và có nhiều tiểu phẩm biến
thể trên của Lý Sinh Sự về ngôn ngữ của tiểu phẩm báo chí hiện đại cũng là
những nét chung của đặc trưng ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí biến thể. Nắm bắt
những đặc trưng này sẽ là cơ sở của sự sáng tạo để người viết tiểu phẩm thành
công trong hoạt động sáng tạo tác phẩm tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của
mình.
4.3 Đặc điểm về kết cấu, dung luợng và vị trí tiểu phẩm biến thể trên
mặt báo.
Trên phương diện hình thức tác phẩm, tiểu phẩm biến thể khác với tiểu
phẩm chính là ở sự linh động trong cấu trúc và kết cấu cũng như dung lượng
của tác phẩm. Tiểu phẩm biến thể không đóng khung trong một hình thức biểu
hiện, mà như phân tích, kết câú của nó rất phong phú.
91
Tiểu phẩm biến thể thông thường thường có cấu trúc tự luận và diễn giải
theo trình tự quen thuộc: Vào đề - Diễn giải và Kết luận. Hấu hết các nhà báo
viết tiểu phẩm đều sử dụng dạng thức này. Chẳng hạn như trường hợp của nhà
báo Hữu Thọ mà chúng tôi khảo sát trong luận văn này. Kết cấu này tương đối
đơn giản như một bài báo thông thường là gợi mở vấn đề cần bàn luận, gây sự
tò mò chú ý cho người đọc rồi phân tích, diễn giải đến nội dung chính của vấn
đề và sau đó là kết luận, khái quát lại vấn đề và bàn luận hoặc thể hiện chính
kiến. Cái khác để tác phẩm là tiểu phẩm hay tiểu phẩm biến thể chứ không
phải là thể loại báo chí khác chính là cách dẫn chuyện và lý giải vấn đề cũng
như nêu ra thông điệp một cách bất ngờ, dí dỏm, ngắn gọn với lối hành văn sử
dụng ngôn ngữ đặc dụng của tiểu phẩm.
Với tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng, cấu trúc của nó thông thường
được mở đề bằng việc tác giả nêu vấn đề về một sự kiện nào đó, tiếp đến là sự
xuất hiện của một nhân vật thứ hai- nhân vật giả tưởng để đối thoại với tác giả
về vấn đề được nêu ra để tranh luận một cách kịch tính. Nhân vật thứ hai này
thường là “anh bạn”, “ông bạn” hay “ông Sự”(trong tương quan với Lý tôi-Lý
Sinh Sự), rồi anh bạn “gã đài phường” hoặc một nhân vật ngẫu hứng nào đó
được tác giả “dựng” lên. Chẳng hạn trong tiểu phẩm biến thể “An non” của Lý
Sinh Sự trên Lao động ngày 28 tháng 7 năm 1999. Sự dẫn đề bắt đầu bằng: “Ở
ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh gần đây ngoài lá bắp non, lá mía non, bà
con nông dân còn đua nhau cắt lá lúa non xuất khẩu làm thức ăn gia súc…”.
Sau sự kiện nghe có vẻ trái khoáy được nêu ra là cuộc đối thoại giả tưởng bắt
đầu:
“- Tây “nó” sướng thật, gia súc cũng xài toàn đồ non thơm ngon. Ông Sự
nói vậy.
92
- Cái gì Tây, ta bây giờ cũng chén toàn món non: Bắp nhí, dưa chuột bao
tử, măng non, gà giò..thỉnh thoảng công an còn bắt cả mấy vụ “người non”(vị
thành niên) ở các nhà hàng nữa...”.
Cứ thế cuộc đối thoại giả tưởng này dẫn dắt người đọc khám phá vấn đề với
những tranh luận và các ý kiến bất ngờ, thú vị và sau đó là một câu “chốt hạ”
kết thúc tiểu phẩm biến thể với một thông điệp hết sức rõ ràng. Phần kết của
tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng thông thường là một câu cảm, giải quyết
những xung đột trong đối thoại mà cả hai nhân vật: Tác giả và người đối thoại
thống nhất một quan điểm giải quyết hay cùng suy nghĩ hoặc bàn luận về vấn
đề chính được đề cập trong tranh luận. Thường thường câu kết là câu lý
thú,gây cười và cũng là một sự bình luận hoặc đả kích sâu cay về vấn đề nêu
ra.
Tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng còn có một kết cấu phổ biến khác là
nêu vấn đề tranh luận ngay từ phần mở đầu bằng một câu hỏi, câu kể hay câu
cảm thán của một trong hai nhân vật đối thoại. Và cứ thế cuộc đối thoại cứ tiếp
diễn đến khi vấn đề châm biếm được khép lại bằng mộ thông điệp của một
trong hai nhân vật đối thoại. Dạng thức này còn trội hơn, được sử dụng nhiều
hơn trên mặt báo và là hình thức được các cây bút tiểu phẩm ưa chuộng sử
dụng hiện nay. Trong tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự, Bút
Bi…đều xuất hiện với tấn suất cao dạng thức này. Chẳng hạn trong tiểu phẩm
“Kẻ hư và của xấu” của Bút Bi trên Tuổi trẻ Thứ 5 ngày 15 tháng 5 năm 2008
được mở đầu bằng: “Chuyện ông bầu Đức tậu máy bay riêng thiệt là chấn
động! Nhiều người mừng vì người VN đã có máy bay riêng. Có người cằn
nhằn nói cả nước đang khổ, sao ổng chơi sang dữ vậy?...”. Và sau đó liên tục
là những câu hỏi đáp:
93
“-Tiền túi của ổng thì ổng xài, miễn sao làm ra thêm nhiều của cải nữa cho xã
hội chớ đừng mua để bay chơi trong khi bà con không có tiền mua xăng bơm
nước cho ruộng lúa.
- Có nhiều người giàu mới bớt được người nghèo chớ!
- Cũng tùy là giàu kiểu nào. Giàu kiểu nhờ đục khoét của công, cấu véo ngân
sách, vòi vĩnh sách nhiễu thì dân tình bệnh thêm thì có! Làm giàu kiểu đó mà
mua máy bay thì tui hổng ủng hộ chút nào...
- Tất nhiên tui không ủng hộ, ông không ủng hộ, bà con mình không ủng hộ.
Thế nhưng vẫn có người ủng hộ đó thôi!
- Bộ có người điên vậy hả?”.
Và tiểu phẩm biến thể này được kết thúc cũng bằng một câu trả lời cho
câu hỏi trong đối thoại một cách đáo để: “Không điên chút nào! Không có
những kẻ hư hỏng kiểu đó thì làm gì có cửa để kẻ xấu chạy chức chạy quyền
tìm cách trục lợi?”.
Tiếp đến hình thức đối thoại giả tưởng là tiểu phẩm biến thể ngụ ngôn
có tính nhân hoá. Dạng biến thể này có kết cấu khá đặc biệt mà thường có hai
dạng chính là:
1. Người kể- Sự kiện được nhân cách hóa
2. Điển cố, điển tích tân trang.
Với dạng người kể- sự kiện được nhân cách hóa, kết cấu thông thường
là một bức thư “trần tình” một cách đau khổ và hài hước về những nối bất
công, ngang trái của chính nhân vật được nhân hoá gửi đến tác giả. Mà thực
chất là tác giả tưởng tượng ra rồi “trần tình” lại với công chúng báo chí. Đó có
94
thể là lời của một dòng sông bị bức tử, của một con đường “khốn nạn” vì bị
đào lên xới xuống suốt ngày đêm…Dạng thứ hai là “chuyện cố tân trang”
thường được bắt đầu với những tích xưa, với những câu chuyện đã có trong
quá khứ được nhắc lại và so sánh với một sự kiện có tính thời sự để từ đó suy
ngẫm về sự đời. Dạng thức này đa phần rơi vào những mảng đề tài về đạo đức,
lối sống, ứng xử văn hoá và những câu chuyện pháp luật. Người viết tiểu phẩm
dạng này phải có một kiến thức văn hóa, lịch sử, văn học, triết học sâu sắc và
uyên bác mới có viết một cách trí tuệ và thuyết phục được bạn đọc.
Một dạng thức biến thể tiểu phẩm khác xuất hiện với tần suất khá cao là
phỏng vấn giả tưởng. Đối tượng được phỏng vấn ở đây là bất kỳ ai và bất kỳ
cái gì…có vấn đề. Kết cấu của tiểu phẩm dạng này như kết cấu của một tác
phẩm phỏng vấn. Có điều nó ngắn gọn, đối tượng không có thật, nhưng thông
qua đối tượng không có thật để đề cập đến một vấn đề thời sự có thật. Tác giả
có thể phỏng vấn một đạo diễn, một bác sỹ, một cây cầu, một làng nghề, một
quan chức, hay một củ khoai, cây lúa…miễn nội dung của cuộc phỏng vấn có
tính thời sự và cách phỏng vấn hài hước, duyên dáng nhưng lại đả kích sâu cay
những mặt trái của cuộc sống hiện tại.
Về dung lượng từ của tiểu phẩm biến thể trên báo chí hiện đại thì đặc
trưng này là yếu tố nhận diện quan trọng và cũng là yêu cầu khắt khe cho
những ai muốn thành công với thể loại này. Ngắn gọn và linh động một cách
tối đa mà vẫn chuyển tải được những thông tin có tính thời sự, qua đó thể hiện
tư duy phản biện và thái độ phê phán trên tinh thần xây dựng các mặt trái xã
hội. Đây là một yêu cầu khó nhưng buộc phải thực hiện nếu muốn thành công
với tiểu phẩm biến thể. Thực tế khảo sát đã chứng minh những tiểu phẩm biến
thể thành công dung lượng từ chỉ bằng một cái tin hoặc tin sâu. Có những tiểu
phẩm biến thể của Bút Bi chỉ vỏn vẹn 155 chữ (“Hiện nguyên hình”- Tuổi trẻ
Thứ 4 ngày 6 tháng 8 năm 2008). Nếu so sánh độ dài của tiểu phẩm biến thể từ
95
Nhà báo Hữu Thọ đến Ba Thợ Tiện, đến Lý Sinh Sự và rồi đến Bút Bi thì tiểu
phẩm biến thể của Bút Bi có kết cấu linh động và ngắn gọn hơn cả. Độ dài
trung bình của tiểu phẩm Bút Bi từ 150 âm tiết đến 300 âm tiết,và ít khi vượt
quá ngưỡng 350 âm tiết. Độ dài trung bình tiểu phẩm biến thể của Bút Bi là từ
200 đến 250 âm tiết. Có thể nói, đây là độ dài không thể ngắn hơn của một tiểu
phẩm biến thể. Sẽ là một yêu cầu khó cho những người viết tiểu phẩm với
dung lượng từ ít ỏi như vậy nhưng lại buộc phải chuyển tải một lượng thông
tin không hề nhỏ. Vậy nhưng đây vẫn sẽ là cái chuẩn cho những người viết
tiểu phẩm báo chí với một phong cách hoàn toàn mới mẻ và hiện đại. Cũng
chính vì lẽ đó mà theo chúng tôi, độ dài của một tiểu phẩm biến thể hợp lý và
trung bình cố gắng để không vượt quá ngưỡng 400 âm tiết. Và đây cũng là một
đặc trưng quan trọng để nhận diện biến thể tiểu phẩm trên báo in Việt Nam
hiện đại.
Một đặc điểm khác về vị trí của tiểu phẩm biến thể cũng rất dễ dàng
nhận thấy, là tiểu phẩm biến thể xuất hiện ở vị trí khá trang trọng trên mặt báo.
Phần lớn các báo có chuyên mục này như Lao động, Tuổi trẻ, Sức khỏe đời
sống, Pháp luật Việt Nam, Pháp luật TP.Hồ Chí Minh, Nhà báo và công
luận…đều dành “đất” ở vị trí “đắc địa” cho tiểu phẩm biến thể. Cụ thể là trên
trang 2 của báo, một số tờ thì tiểu phẩm biến thể nằm ở trang nối 8 và 9. Vị trí
trang trọng của tiểu phẩm biến thể phần nào phản ánh tầm quan trọng của thể
loại này trong hoạt động thông tin báo chí hiện đại hiện nay. Một số báo như
Thanh niên, Nhân dân, Tiền phong với các mục “Chào buổi sáng”, “Cùng suy
ngẫm”, “Thời luận” nhiều lúc cũng là những tiểu phẩm biến thể dạng chính
luận. Điều này một một lần nữa cho thấy tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể đang
là một thế mạnh thông tin, một thể loại báo chí mạnh đang chiếm ưu thế trên
báo in. Và đây cũng là một đặc điểm hình thức để phân định và nhận dạng tiểu
phẩm biến thể.
96
V. Định danh tiểu phẩm biến thể.
Định danh tiểu phẩm biến thể là một sự phân loại mang tính tương đối, tuy
nhiên đây là lần đầu nó được gọi tên trong lý luận báo chí học. Chúng tôi định
danh tiểu phẩm biến thể dựa trên những đặc trưng về cả về nội dung lẫn hình
thức thể hiện tác phẩm. Sẽ còn nhiều quan điểm khác nhau về sự định danh
này, nhưng việc gọi tên cho tiểu phẩm biến thể là hết sức cần thiết cho cả việc
nghiên cứu lý luận về tiểu phẩm cũng như giúp người viết có những ý niệm rõ
ràng để tiếp cận và vận dụng nó trong thực tiễn hoạt động báo chí của mình.
Trong việc lựa chọn các tác giả để khảo sát và phân tích, chúng tôi cũng đã
chọn những cây bút mà phong cách của họ có những dị biệt để tạo ra những
phong cách tiểu phẩm khác nhau, trên cơ sở đó việc định danh cho tiểu phẩm
cũng thuận lợi và có cơ sở khoa học hơn.
Trên những đặc điểm về nội dung, đề tài phản ánh, ngôn ngữ thể hiện, cấu
trúc, độ dài, lối dẫn chuyện và chính kiến của người viết, chúng tôi tạm phân
chia và định danh tiểu phẩm biến thể theo các dạng thức sau.
5.1 Tiểu phẩm chính luận-thời đàm.
Đây là dạng thức có cấu trúc ổn định và tương đối “nghiêm túc” của một
tác phẩm báo chí với kết cấu tự luận thông thường. Nghĩa là đặt vấn đề, giải
quyết vấn đề và kết thúc vấn đề trong một bài báo với những lập luận và tư
duy sắc sảo, có tính hài hước mang màu sắc trí tuệ. Cạnh đó, ngôn ngữ dùng
để đả kích và phản biện độ sắc sảo của trí tuệ và lập luận có tần suất nhiều hơn
những lớp từ có tính hài hước. Cách diễn đạt, so sánh, liên tưởng của tiểu
phẩm chính luận cũng mượt mà, giàu chất văn và thấm sâu vào tư duy, tình
cảm của người đọc với cái cười ý nhị, tinh tế. Dạng tiểu phẩm này chúng tôi
gọi là tiểu phẩm chính luận- thời đàm. Tiểu phẩm chính luận đôi lúc đóng vai
trò của một bài bình luận hay xã luận trên trang nhất của nhiều tờ báo như
97
“Chào buổi sáng” của Thanh niên, “Cùng suy ngẫm” trên báo Nhân dân, “Thời
luận” trên báo Tiền phong…
Tiểu phẩm chính luận đề cập trực tiếp đến các vấn đề chính trị, các chính
sách lớn của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, đối nội và đường hướng phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội…Tuy nhiên tiểu phẩm biến thể chính luận chỉ quan
tâm phản ánh để phản biện những mặt khiếm khuyết, cái chưa hoàn thiện trong
những vấn đề lớn có tính vỹ mô này. Tiểu phẩm biến thể chính luận được định
danh chủ yếu dựa vào nội dung và đề tài phản ánh của nó. Tiểu phẩm biến thể
chính luận còn là những dạng thức đàm luận về các vấn đề xã hội, cuộc sống
có tính thời sự với một lỗi diễn đạt uyển chuyển có tính văn học như đã phân
tích. Chính vì bám sát những vấn đề có tính thời sự, giải quyết vấn đề trên tinh
thần “đàm luận” hài hước như vậy, chúng tôi gọi dạng này là Tiểu phẩm Chính
luận- Thời đàm. Về dạng thức tiểu phẩm biến thể này thể hiện rất rõ nét trong
phong cách tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ.
5.2 Tiểu phẩm đối thoại giả tƣởng và phỏng vấn giả tƣởng.
Đây là một dạng thức được sử dụng rất phổ biến ở hầu hết các nhà báo viết
tiểu phẩm trên báo chí hiện đại hiện nay. Về những đặc trưng đặc điểm của
dạng tiểu phẩm biến thể này chúng tôi đã phân tích kỹ trong phong cách tiểu
phẩm của các tác giả khảo sát như Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự và Bút Bi. Không
chỉ có các tác giả này mà hiện nay nhiều cây bút tiểu phẩm khác cũng sử dụng
dạng thức tiểu phẩm biến thể này như Lê Thị Liên Hoan, Thảo Hảo, Ong Bò
Vẽ, Mõ, Cả Nghĩ…trên các báo An ninh thế giới cuối tháng, Văn hóa- Thể
thao, Pháp luật Việt Nam, Nông thôn ngày nay, Sức khỏe đời sống…
Sự định danh tiểu phẩm đối thoại giả tưởng và phỏng vấn giả tưởng chủ
yếu dựa vào những đặc điểm kết cấu và phong cách với sự xuất hiện của nhân
vật thứ hai ngoài tác giả. Với tiểu phẩm đối thoại giả tưởng giữa tác giả và một
98
nhân vật thứ hai cùng đối đáp, luận bàn, tranh luận một cách hài hước để phê
phán một vấn đề xã hội nào đó. Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự và Bút Bi là những
điển hình cho việc sử dụng dạng thức tiểu phẩm đối thoại giả tưởng này. Với
tiểu phẩm phỏng vấn giả tưởng, ta dễ nhận thấy kết cấu của nó như là một
cuộc trò chuyện giữa tác giả với bất kỳ ai, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào để làm
nổi bật một vấn đề có tính thời sự. Những câu phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
có yếu tố hài trong phong cách sử dụng ngôn ngữ như một đặc điểm riêng của
thể loại tiểu phẩm. Điển hình cho phỏng vấn giả tưởng là các cây bút như Bút
Bi, Lê Thị Liên Hoan,Thảo Hảo…
5.3 Tiểu phẩm ngụ ngôn.
Biến thể này cũng được sử dụng khá nhiều, nhưng đa phần là những cây
bút “giàu có” về kiến thức và vốn sống cũng như sự trải nghiệm. Đó là kho
tàng kiến thức về văn hóa, lịch sử đông tây kim cổ được khai thác, chế biến,
“tân trang” lại thành những tiểu phẩm thời nay một cách hấp dẫn và đầy sức
thuyết phục. Cách “mượn gió bẻ măng”, “ngẫm xưa nghĩ nay” trong tiểu phẩm
ngụ ngôn luôn phát huy được những hiệu quả thông tin trong việc phê phán
các mặt trái của xã hội, đặc biệt là trong cách ứng xử văn hóa và các vấn đề về
đạo đức, lối sống.
Tiểu phẩm ngụ ngôn còn có một dạng thức khác là dùng thủ pháp nhân hóa
của văn học để “thay lời muốn nói” của các sự vật, hiện tượng. Để cho tự thân
các sự vật, hiện tượng vô tri vô giác “trần tình” về nỗi thống khổ của mình qua
thái độ vô cảm, thiếu trách nhiệm của con người gây ra. Từ rừng núi, dòng
sông, con đường, cây cầu…đều có thể là đối tượng trong tiểu phẩm ngụ ngôn
để tác giả bày tỏ chính kiến, thái độ phản kháng trước những hiện tượng tiêu
cực của chính con người gây ra cho môi trường tự nhiên cũng như môi trường
xã hội. Lý Sinh Sự, Ba Thợ Tiện, Bút Bi là một trong những cây bút tiểu phẩm
99
sử dụng thành công tiểu phẩm ngụ ngôn dạng này. Tiểu phẩm ngụ ngôn thông
điệp rõ ràng luôn là những bài học rút ra từ chính bản thân cuộc sống với
những mặt trái của nó ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống hàng ngày.
5.4 Tiểu phẩm tiếu lâm
Tiểu phẩm tiếu lâm cũng là một dạng thức xuất hiện khá nhiều trên báo in
hiện nay. Dạng thức này gần gũi với văn học hơn cả, nhưng tính chiến đấu và
tính báo chí không mạnh mẽ như các dạnh tiểu phẩm biến thể được định danh
nói trên. Tiểu phẩm tiếu lâm đa phần là những tiếng cười giải trí nhẹ nhõm,
bông đùa. Đó là những chuyện tréo ngoe trong cuộc sống, trong sinh hoạt đời
thường, là những tình huống không thể không bật ra thành tiếng cười sảng
khoái. Tuy nhiên, dạng tiểu phẩm tiếu lâm này có giá trị giải trí nhiều hơn
hoặc phê phán nhẹ nhàng những chuyện trái khoáy thường nhật, những thói hư
tật xấu trong ứng xử. Tiểu phẩm tiếu lâm có giá trị “mua vui”hơn là các giá trị
về thông tin, tư tưởng. Tiểu phẩm tiếu lâm vì vậy chỉ nằm ở các trang giải trí,
văn hóa văn nghệ, góc hài hước… chứ không nằm ở các vị trí trang trọng như
các dạng thức tiểu phẩm biến thể khác.
Tiểu kết chƣơng 3
Rõ ràng trong sự vận động của xã hội truyền thông, các thể loại báo chí
nói chung đều có những bước phát triển để hiện đại hóa phong cách thể hiện
của mình để đưa nội dung và thông điệp thông tin đến với công chúng một
cách có hiệu quả nhất. Đây là sự vận động mang tính quy luật, hiện đại hóa
báo chí, đồng nghĩa với việc hiện đại hóa thể loại báo chí. Tiểu phẩm báo chí
không nằm ngoài quy luật này. Qua việc phân tích, khảo sát một số cây bút
tiểu phẩm tiêu biểu, cụ thể là Hữu Thọ, Ba Thợ Tiện, Lý Sinh sự và đối chiếu
với những tiểu phẩm gốc của các tác giả tiền bối đã cho thấy bản thân tiểu
phẩm có sự vận động rõ nét. Sự vận động ấy tạo ra những tiểu phẩm phái sinh
100
mà chúng tôi gọi là những tiểu phẩm biến thể. Đó là một thể loại có kết cấu
ngắn gọn, linh động, giàu tính chiến đấu và có sức hấp dẫn lớn đối với độc giả
bởi tính trí tuệ và hài hước của nó.
Việc phân tích các tiểu đặc trưng, đặc điểm, kết cấu, nội dung, chủ đề tư
tưởng…đã dẫn đến việc cần có một định danh cho các tiểu phẩm biến thể.
Chúng tôi tạm đưa ra bốn dạng thức cơ bản dễ nhận thấy là: Tiểu phẩm chính
luận- thời đàm; tiểu phẩm đối thoại và phỏng vấn giả tưởng; tiểu phẩm ngụ
ngôn và tiểu phẩm tiếu lâm.
KẾT LUẬN
Tiểu phẩm báo chí là một thể loại hấp dẫn và có tính chiến đấu cao. Ngay
từ khi xuất hiện trên báo in, nó nhanh chóng trở thành một thứ vũ khí tinh thần
độc đáo, dùng tiếng cười trí tuệ để đánh vào những bất công, ngang trái trong
xã hội đương thời. Báo chí thế giới, nhất là những nơi có nền báo chí phát triển
mạnh, đặc biệt là báo chí phương Tây đều sử có sử dụng thể loại tiểu phẩm, và
đây cũng chính nơi xuất hiện khái niệm tiểu phẩm- feuileton..
Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi báo chí manh nha xuất hiện và khi các tờ
báo chữ quốc ngữ đầu tiên xuất hiện ở ta, một hình thức thể loại xuất hiện sớm
và nhanh chóng được ưa chuộng chính là thể loại tiểu phẩm. Yếu tố trí tuệ
nhưng hài hước, tiếng cười mai mỉa, sâu cay nhanh chóng trở thành một thứ vũ
khí tinh thần lợi hại cho mặt trận tư tưởng trên báo chí.
Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, khi những bất công, áp bức và tội ác của
chủ nghĩa thực dân, đế quốc đè nén lên người dân Việt Nam thì cũng là lúc
bùng phát lên ngọn lửa đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền và tự do cho dân
tộc. Lúc này trên mặt trận tư tưởng cũng hình thành những mặt trận đối lập và
101
sử dụng vũ khí tinh thần làm phương tiện đấu tranh một cách hiệu quả. Tiểu
phẩm chính là một trong những thứ vũ khí hữu hiệu đó.
Khi dòng báo chí theo khuynh hướng yêu nước,báo chí công khai nhất là
báo chí cách mạng xuất hiện thì tiểu phẩm báo chí xuất hiện một cách mạnh
mẽ và tính đấu tranh cũng dữ dội hơn nhiều.Tiểu phẩm báo chí tố cáo và vạch
trần tội ác của chủ nghĩa thực dân một cách thuyết phục, mai mỉa và đau đớn.
Nhiều cây bút tiểu phẩm xuất hiện mà tên tuổi của họ gắn chặt với thể loại tiểu
phẩm. Đặc biệt ở giai đoạn đầu thế kỷ XX, hai phong cách, hai cây bút tiểu
phẩm bậc thầy không thể không nhắc đến là Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố.
Khối lượng khổng lồ các tiểu phẩm báo chí của hai cây bút này là một di sản
tinh thần quý báu để chúng ta nghiên cứu về những đặc trưng, đặc điểm của
thể loại tiểu phẩm và cũng là những nguồn cứ liệu để so sánh với sự vận động
và phát triển của thể loại báo chí sau này trên cả phương diện nội dung lẫn
hình thức thể hiện. Đây có thể xem là hai cây bút bậc thầy về thể loại tiểu
phẩm trong dòng chảy báo chí nước ta từ lúc bình minh cho đến nay.
Tuy vậy hoàn cảnh xã hội, lịch sử sẽ chi phối hoạt động truyền thông, báo
chí. Đây là một quy luật phổ biến, đồng thời phản ánh những nét đặc thù của
thực tiễn lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XX. Đất nước đang đấu tranh chống
giặc ngoại xâm, khi dành được chính quyền thì tiến hành kiến quốc trong một
điều kiện kịnh tế hết sức khó khăn, kế đến lại đấu tranh chống những kẻ thù
xâm lược khác. Hoàn cảnh lịch sử chi phối làm cho nội dung phản ảnh của tiểu
phẩm thời đó cũng xoay quanh những trục thông tin này để đấu tranh, phản
ảnh và xây dựng. Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố đều là những người có học
vấn và có kiến thức văn hóa, ngoại ngữ của Trung Hoa và Pháp nên tiểu phẩm
báo chí của hai tác giả này có ý nghĩa như một sự tiếp thu sáng tạo các nguyên
mẫu tiểu phẩm, nhờ vậy mà có một sức sống lâu bền bởi tính hiện đại của nó
cả trên phương diện nghệ thuật và phương pháp thể hiện. Tuy nhiên, sau khi
102
đất nước thống nhất, hoàn cảnh lịch sử, xã hội thay đổi, đặc biệt là sau hơn 20
năm đổi mới, khi đất nước vận hành theo cơ chế thị trường và định hướng xã
hội chủ nghĩa thì báo chí đã tạo cho mình một diện mạo hoàn toàn mới.
Báo chí thời kỳ đổi mới phát triển trong một kỷ nguyên đa truyền thông và
bùng nổ thông tin. Xã hội càng hiện đại, con người càng ngày càng thêm nhiều
mối quan tâm hơn thì báo chí buộc phải thay đổi và hiện đại hóa để đáp ứng
nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng. Việc hiện đại hóa báo chí,
kéo theo đó là hiện đại hóa thể loại được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết có
tính sống còn. Tiểu phẩm báo chí cũng có những sự vận động và phát triển
theo xu thế thời đại tất yếu này.
Vận động và phát triển, tất yếu trong quá trình đó sẽ làm nảy sinh cái mới,
cái tiến bộ. Sự vận động của tiểu phẩm trước hết là về nội dung, thể hiện ở sự
phong phú về đề tài phản ánh của tiểu phẩm. Mọi mặt trái của đời sống chính
trị, kinh tế, văn hóa…đều là địa hạt để tiểu phẩm đả kích, phê phán một cách
kịp thời trên tinh thần xây dựng. Theo đó, tính chính luận của tiểu phẩm ngày
càng được định hình và khẳng định như một nét trội của thể loại. Tính văn học
ngày càng thể hiện rõ chỉ là hình thức thể hiện, là cái vỏ mà báo chí vay mượn
để khoác vào tiểu phẩm. Và để tiểu phẩm đích thực là một thể loại báo chí chứ
không phải là một thể loại văn học hay là một thể loại có gốc từ văn học. Từ
chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, chống bệnh thành tích, phòng chống tội
phạm và tất cả những gì thuộc phần “mặt trái” của xã hội đều là đề tài “chống”
để “xây”của tiểu phẩm.
Sự vận động về nội dung dẫn đến hình thức tiểu phẩm cũng có những thay
đổi cho phù hợp với yêu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng cao và khó tính của
công chúng. Tiểu phẩm báo chí dần dần có những bước phát triển vượt trội so
với tiểu phẩm truyền thống, và nó tạo ra những biến thể mới so với caí gốc ban
103
đầu của nó. Và chính những biến thể này tạo ra một diện mạo hoàn toàn mới
cho tiểu phẩm, theo đó tính hấp dẫn của thể loại, tính chiến đấu của thể loại
cũng tăng lên nhiều lần khi được sự tiếp nhận từ công chúng để tạo ra những
sức mạnh của dư luận xã hội.
Biến thể trên phương diện hình thức rõ nét nhất là những thay đổi về cấu
trúc tác phẩm. Với những kết cấu thường thấy, tiểu phẩm có những phái sinh
thành những tiểu phẩm ngụ ngôn, tiểu phẩm đối thoại giả tưởng, phỏng vấn giả
tưởng, tiểu phẩm phóng tác…Tiểu phẩm báo chí ban đầu có độ dài đến có thể
đến 1000 chữ hoặc hơn, nhưng qua sự đúc rút và sáng tạo theo thời gian, các
tác giả với những phong cách tiểu phẩm biến thể rút ngắn xuống còn 150 đến
300 chữ mà vẫn đảm bảo hiệu quả thông tin của thể loại tiểu phẩm.
Từ đó cho thấy sự xuất hiện của những tiểu phẩm biến thể là một thực tiễn
hiển hiện trong hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí. Chúng tôi đã nỗ lực góp
phần nghiên cứu và tổng kết nó lần đầu trên phương diện lý luận. Vì đây là
những cố gắng ban đầu trên con đường khai phá vấn đề,chúng tôi cho rằng tiểu
phẩm biến thể chắc chắn sẽ còn là vấn đề hấp dẫn cần được tiếp tục nghiên
cứu để đúc kết thành lý luận thể loại trong báo chí học. Sự vận động của tiểu
phẩm để dẫn đến những tiểu phẩm biến thể.Những biến thể này được định
danh sẽ góp phần giúp ích cho công tác nghiên cứu tiểu phẩm biến thể cũng
như phần náo giúp ích cho những ai quan tâm và viết về thể loại này.
Tóm lại từ tiểu phẩm báo chí định hình trong lịch sử thể loại, qua sự vận
động và phát triển của xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của báo chí hiện
đại, tiểu phẩm phát triển lên thành những dạng thức mới cao hơn, đó là các
tiểu phẩm phái sinh hay còn gọi là tiểu phẩm biến thể. Thể loại hấp dẫn và linh
động đang chiếm ưu thế trên báo in hiện đại bởi tần suất sử dụng và hiệu quả
truyền thông mà nó mang lại. Trong thực tiễn hoạt động báo chí hiện nay, tiểu
104
phẩm biến thể sẽ còn tiếp tục là một thể loại mạnh và với những ưu thế của nó,
tiểu phẩm biến thể sẽ còn tiếp tục được nhiều tờ báo sử dụng. Và tất yếu các
tòa soạn sẽ rất cần những cây bút tiểu phẩm để tạo nên những cây bút có thẩm
quyền trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mình.
105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. VĂN KIỆN
1. Lê Nin nói về sách và báo- NXB Sách giáo khoa Mác- Lênin- Hà
Nội, 1998
2. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X-NXB Chính trị
Quốc gia- Hà Nội, 2006
3. Hồ Chí Minh toàn tập- tậpI, II, III, V, VI, VII- NXB Văn học-Hà
Nội, 1996.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng- Ban Tư tưởng Văn
hóa Trung ương-Hội Nhà báo Việt Nam- NXB Chính trị Quốc gia-
Hà Nội, 2004.
5. Nghị quyết TW 5(Khóa X) về công tác tư tưởng, Lý luận, Báo chí
trước yêu cầu mới- NXB Chính trị Quốc gia- Hà Nội, 2007
II. SÁCH
1. Hà Minh Đức tuyển tập- tập 1, 2, 3- NXB Giáo dục- Hà Nội, 2004
2. Hà Minh Đức(chủ biên)- Báo chí những vấn đề lý luận và thực
tiễn- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 1997
3. Hà Minh Đức- Thời gian và nhân chứng- NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1997
4. Hà Minh Đức- Cơ sở lý luận báo chí- Đặc tính chung và phong
cách- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2000
5. Thảo Hảo- Nhân trường hợp chị Thỏ Bông và những bài viết khác-
NXB Hội nhà văn- Hà Nội, 2006
6. Vũ Quang Hào- Ngôn ngữ báo chí- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2007
(tái bản)
7. Đỗ Quang Hưng- Lịch sử Báo chí Việt Nam 1865- 1945- NXB Đại
học Quốc gia- Hà Nội, 2001
8. Phạm Thành Hưng- Thuật ngữ báo chí Truyền thông- NXB Đại
học Quốc gia- Hà Nội, 2007
9. Vũ Châu Quán- Bác Hồ với báo Việt Nam độc lập- NXB Thanh
niên- Hà Nội, 2008
10. Trần Quang- Các thể loại báo chí chính luận- NXB Đại học Quốc
gia- Hà Nội, 2007 (tái bản)
11. Nguyễn Ái Quốc- Truyện và ký- NXB Văn học- Hà Nội, 1974
12. Bùi Hoài Sơn- Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi
Văn hóa- Xã hội ở Việt Nam- NXB Khoa học xã hội- Hà Nội, 2008
13. Dương Xuân Sơn- Các thể loại báo chí Chính luận nghệ thuật-
NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2004, (tái bản 2007)
14. Dương Xuân Sơn- Đinh Văn Hường- Trần Quang- Cơ sở lý luận
Báo chí Truyền thông- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2004
15. Lý Sinh Sự- Nói hay đừng- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2008
16. Lý Sinh Sự- Hãy viết Tiểu phẩm đi- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2007
17. Tạ Ngọc Tấn- Từ lý luận đến thực tiễn Báo chí- NXB Văn hóa
Thông tin- Hà Nội, 1999
18. Cao Ngọc Thắng- Hồ Chí Minh- nhà báo cách mạng, NXB Thanh
niên- Hà Nội, 2008
19. Nguyễn Thành- Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo nước
ngoài- NXB Công an nhân dân- Hà Nội, 2005
20. Nguyễn Thị Minh Thái- Phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật
trên báo chí- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2005
21. Ba Thợ Tiện- Tạp văn- NXB Đồng Nai, 2006
22. Ngô Tất Tố- Tiểu phẩm báo chí- NXB Hội nhà văn- Hà Nội, 2005
III. BÁO VÀ TẠP CHÍ
1. Báo Lao động năm 2005- 2006- 2007-2008
2. Báo Nhân dân năm 2005- 2006-2007-2008
3. Báo Tuổi trẻ năm 2007- 2008
4. Tạp chí Người làm báo năm 2006-2007-2008
IV. BÁO ĐIỆN TỬ VÀ WEBSITE
1. www.laodong.com.vn
2. www.nhandan.org.vn
3. www.tuoitre.com.vn
4. www.vietnamjournalism.com