TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG --------***--------- TRẦN NGỌC HÀ SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU PHẨM TRONG BÁO CHÍ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI.

CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC MÃ SỐ: 60 32 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM THÀNH HƯNG HÀ NỘI: 2008

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7. Cấu trúc của luận văn PHẦN NỘI DUNG Trang 1 1 2 3 4 5 5 6 7

Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỂU PHẨM VÀ BIẾN THỂ 7

CỦA NÓ

7 7

I. Quá trình hình thành và phát triển của tiểu phẩm báo chí 1.1 Sự xuất hiện của tiểu phẩm với tư cách là một thể loại trên báo chí 1.2 Vị trí của tiểu phẩm trong hoạt động báo chí hiện đại II. Khái niệm 9 10

2.1 Các quan niệm khác nhau về tiểu phẩm 2.2 Khái niệm về tiểu phẩm và tiểu phẩm báo chí 2.3 Những đặc trưng cơ bản của tiểu phẩm III. Biến thể của tiểu phẩm 3.1 Quan niệm về biến thể của tiểu phẩm 3.2 Sự xuất hiện của tiểu phẩm biến thể trên báo chí Việt Nam hiện 10 11 15 17 17 18

đại

Chƣơng II: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU 20

PHẨM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX QUA PHONG CÁCH CỦA

HAI TÁC GIẢ NGUYỄN AÍ QUỐC VÀ NGÔ TẤT TỐ

20

I. Đôi nét về diện mạo báo chí và tình hình sử dụng tiểu phẩm trên báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX II.Phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh 26

2.1 Về sự nghiệp báo chí cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh 26

2.2 Những nét độc đáo trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh 27

31

2.2.1 Vận dụng sáng tạo các thủ pháp của sáng tác văn học vào tiểu phẩm 2.2.2 Độc đáo trong sử dụng ngôn từ 2.2.3 Độc đáo trong cách rút tít cho tiểu phẩm III.Tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố 3.1 Sơ lược tiểu sử tác giả Ngô Tất Tố 3.2 Ngô Tất Tố nghề văn và nghiệp báo 3.3 Nội dung tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố 3.4 Những đặc trưng và sự sáng tạo trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố 3.4.1 Sử dụng có hiệu quả bút pháp trào phúng, châm biếm 3.4.2 Sự độc đáo về việc sử dụng giai thoại, điển tích trong tiểu 33 35 38 38 39 41 43 43 44

phẩm

3.4.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố 46

Chƣơng III: BIẾN THỂ CỦA TIỂU PHẨM TRÊN BÁO CHÍ 50

VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI

50 52

52 53 55 56 59

59 63 70

75 85

86 88 91

I. Diện mạo báo chí Việt Nam đương đại II Biến thể của tiểu phẩm và hiệu quả của nó trong quá trình tạo lập và định hướng dư luận xã hội 2.1 Thử tìm một khái niệm 2.2 Tình hình sử dụng biến thể tiểu phẩm trên báo in hiện đại 2.3 Sự đa dạng về đề tài, nội dung phản ánh của biến thể tiểu phẩm 2.4 Hiệu quả truyền thông của tiểu phẩm biến thể III. Một số tác giả tiêu biểu về phong cách sử dụng tiểu phẩm biến thể 3.1. Nhà báo Hữu Thọ 3.2 Biến thể trong tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện 3.3 Lý Sinh Sự và sự tiếp nối chuyên mục “Nói hay đừng” trên báo Lao động 3.4 Độc đáo tiểu phẩm biến thể của Bút Bi trên báo Tuổi trẻ IV. Đặc điểm về phong cách, cấu trúc và kết cấu của tiểu phẩm biến thể 4.1 Chủ đề, đề tài của tiểu phẩm biến thể 4.2 Phong cách ngôn ngữ của tiểu phẩm biến thể 4.3 Đặc điểm về kết cấu, dung luợng và vị trí tiểu phẩm biến thể trên mặt báo V. Định danh tiểu phẩm biến thể 97

5.1 Tiểu phẩm chính luận-thời đàm 5.2 Tiểu phẩm đối thoại giả tưởng và phỏng vấn giả tưởng 5.3 Tiểu phẩm ngụ ngôn 5.4 Tiểu phẩm tiếu lâm 97 98 99 100

101 KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU.

1. Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài.

Báo chí Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ trên tất cả các phương

diện, từ kỹ thuật làm báo, công nghệ làm báo, công tác đào tạo báo chí lẫn

khoa học và lý luận về báo chí.

Sự đa dạng của bức tranh báo chí có sự đa dạng của các loại hình báo

chí cũng như tính phong phú của các thể loại báo chí. Báo chí hiện đại không

đóng khung trong các dạng thức thể loại đã từng phôi thai xuất hiện và định

hình trong lịch sử. Thực tiễn nghề báo cho thấy xuất hiện ngày càng nhiều thể

loại mới hoặc những thể loại cũ được cách tân tạo nên những biến thể mới mà

khoa học báo chí chưa thực sự khảo sát và tổng kết hết. Tiểu phẩm báo chí là

một trong những dạng thức hết sức thú vị và đặc biệt đó.

Tiểu phẩm báo chí đã xuất hiện khá lâu trong lịch sử báo chí thế giới lẫn

báo chí Việt Nam. Nhiều cây bút đã thành danh và gắn tên tuổi của mình với

thể loại vừa có tính trào lộng, vừa có tính chiến đấu này. Một mặt đặc trưng

với lối viết giàu chất văn trên cái nền của sự kiện và thông tin mang tính báo

chí đã làm cho tiểu phẩm ngày càng phát triển mạnh mẽ và có một chỗ đứng

xứng đáng qua tất cả các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử báo chí.

Tất nhiên hoàn cảnh xã hội thay đổi, thông tin báo chí theo đó cũng thay đổi.

Sự vận động, đổi mới của tiểu phẩm cho phù hợp với tâm lý bạn đọc đang là

một xu thế tất yếu. Trên báo in, đa phần các báo lớn, nhỏ, kể cả báo địa

phương đều xuất hiện tiểu phẩm với tư cách là một bài viết trội có thế mạnh.

Tiểu phẩm trên báo chí ngày nay tiết kiệm thời gian cho bạn đọc nên kết cấu

vô cùng ngắn gọn, linh động và không kém phần sâu sắc.

Tuy tiểu phẩm xuất hiện đã lâu trên báo chí nhưng hệ thống lý luận về

nó vẫn chưa thực sự phong phú, có tính hệ thống và đầy đủ. Đặc biệt những

biến thể của nó trên báo chí Việt Nam hiện đại thì càng không thấy đề cập đến

từ góc độ lý luận, với những đặc trưng, đặc điểm trên phương diện cấu trúc tác

1

phẩm, đồng thời cũng chưa thấy có những nghiên cứu về hiệu quả báo chí,

hiệu quả thông tin trên phương diện nội dung. Chính vì vậy, luận văn này sẽ

góp phần nghiên cứu thêm tiểu phẩm và biến thể của nó để góp thêm một góc

nhìn lý luận và thực tiễn đầy đủ và toàn diện hơn về tiểu phẩm và những biến

thể của nó. Trong lĩnh vực báo chí học xuất phát từ sự thiếu vắng, mỏng manh

của lý luận thể loại, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này với chút hy vọng

góp phần hoàn thiện hơn lý luận về tiểu phẩm báo chí cả trong lịch đại và đồng

đại.

Chính vì những đòi hỏi từ thực tiễn nghiên cứu về tiểu phẩm và các biến

thể của nó trong sự vận động đi lên, xuất hiện nhiều điểm mới mẻ như vậy nên

mặc dầu biết sẽ gặp nhiều khó khăn trong nghiên cứu, chúng tôi vẫn cố gắng lý

giải xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện tại có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu nào dày dặn hoặc

có những giáo trình, cuốn sách nào về lý luận cũng như thực tiễn riêng về thể

loại tiểu phẩm cũng như sự vận động của nó để dẫn đến sự ra đời của các biến

thể trên báo chí Việt Nam hiện đại. Nếu như các thể loại khác như tin tức,

phóng sự, phỏng vấn, điều tra…đã có nhiều công trình nghiên cứu, các giáo

trình và cả sách công cụ, kỹ năng thì tiểu phẩm báo chí và các biến thể của nó

có thể nói chưa có một công trình hoàn chỉnh nào.

Nghiên cứu về tiểu phẩm trong lịch sử báo chí, đa phần các tác giả đi sâu

vào nghiên cứu phong cách tiểu phẩm của các nhà báo cụ thể. Chẳng hạn như

phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh, phong cách tiểu phẩm Ngô Tất Tố, Hữu

Thọ, Lý Sinh Sự...Tiêu biểu như TS Phạm Thành Hưng với: “Ảnh hưởng qua

lại giữa văn học và báo chí qua tiểu phẩm của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất

Tố”; thạc sỹ Đỗ Chỉnh với tiểu luận: “Vài suy nghĩ về tiểu phẩm trên báo chí

của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố”; Luận văn thạc sỹ của Trần Xuân Thân

với: “Phong cách hài trong các tiểu phẩm báo chí hiện đại qua ba nhà báo Lý

2

Sinh Sự, Lê Thị Liên Hoan, Thảo Hảo”. Khóa luận cử nhân của Phan Giang

Liên với : “Tìm hiểu thể loại tiểu phẩm trong di sản báo chí của Hồ Chủ

Tịch”…

Những nghiên cứu chung về tiểu phẩm báo chí có tiểu luận của PGS.TS Tạ

Ngọc Tấn với : “Tiểu phẩm báo chí (từ khái quát đến tác giả tiêu biểu- Hồ Chí

Minh) PGS. TS Dương Xuân Sơn có một chương về tiểu phẩm trong giáo trình

“Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật”.Trong một số giáo trình của Phân

viện báo chí tuyên truyền phần thể loại cũng có đề cập đến tiểu phẩm báo

chí…

Như vậy, việc nghiên cứu tiểu phẩm báo chí đã có những nền móng nhất

định, song để nghiên cứu và gọi tên biến thể của tiểu phẩm thì chưa thấy đề

cập nhiều.Các tài liệu nói về biến thể của tiểu phẩm báo chí hiện đại đặt trong

sự vận động và phát triển của nó cho tới nay vẫn chưa có được một công trình

nghiên cứu hoàn chỉnh.

Thừa hưởng những kết quả nghiên cứu quan trọng nói trên, chúng tôi xem

đây như là những nền móng vô cùng quan trọng để tiếp tục nghiên cứu thêm,

làm sâu sắc và phong phú hơn kho tang lý luận về thể loại tiểu phẩm cũng như

các biến thể của nó trong khoa học về báo chí nói chung trong đề tài luận văn

thạc sỹ khoa học báo chí “Sự vận động và phát triển của thể loại tiiểu phẩm

trong báo chí Việt Nam hiện đại”.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.

Như đã trình bày, tiểu phẩm báo chí trong sự vận động và phát triển của nó

rất cần một sự nghiên cứu và tổng kết từ thực tiễn cho đến lý luận một cách

đầy đủ để bổ sung vào hệ thống lý luận về thể loại trong báo chí học. Vì lẽ đó,

mục đích và nhiệm vụ của Luận văn này sẽ góp phần vào việc tập trung khái

quát và hệ thống hoá một cách tương đối đầy đủ các vấn đề lý luận chung về

tiểu phẩm. Trên cơ sở đó, luận văn cũng sẽ đi tìm và “giải mã” những bí ẩn

của thể loại, cũng như chỉ ra những vấn đề lý luận mới về Biến thể của tiểu

3

phẩm trên báo chí Việt Nam hiện đại. Từ kết quả của sự tập hợp và phân tích

thực tiễn thể loại,chúng tôi cố gắng chỉ ra những đặc trưng, kết cấu cũng như ý

nghĩa nội dung của biến thể tiểu phẩm để vận dụng nó trong đời sống báo chí

đương đại. Không chỉ trên phương diện lý luận, luận văn cũng sẽ tiếp cận trên

cả những kỹ năng, phương pháp sáng tạo của tiểu phẩm và biến thể của nó với

mong muốn không chỉ trang bị kiến thức lý luận mà cả kỹ năng cho tất cả

những ai quan tâm đến thể loại báo chí sinh động mà hấp dẫn này. Cùng với ý

tưởng đó, trên cơ sở nhận diện những đặc trưng cơ bản và những nét mới của

tiểu phẩm trên báo chí Việt Nam hiện đại, mục tiêu của luận văn còn là sử thử

nghiệm chính danh hóa các loại tiểu phẩm, phân loại và “đặt tên” cho biến thể

tiểu phẩm.

Dẫu biết đây là một công việc khó khăn và chắc chắn sẽ còn nhiều bàn cãi,

song luận văn đã đặt ra một nhiệm vụ như vậy. Chúng tôi sẽ cố gắng giải quyết

trong tầm nhận thức và kiến thức của một học viên cao học và trong khuôn

khổ cho phép của một luận văn thạc sỹ khoa học báo chí.

4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu.

Lịch sử báo chí Việt Nam đã để lại nhiều cây bút tiểu phẩm tên tuổi, nhưng

trong phạm vi và như tên gọi của luận văn là “Sự vận động và phát triển của

tiểu phẩm trong báo chí Việt Nam hiện đại” thì sẽ là một “sân chơi” quá rộng

mà tác giả luận văn không thể nào khái quát và kham nổi. Vậy nhưng để thấy

được sự vận động của nó luận văn phải đặt tiểu phẩm trong dòng chảy chung

từ khi báo chí Việt Nam ra đời. Nói cách khác sẽ quy chiếu vấn đề nghiên cứu

trong cả cách nhìn lịch đại lẫn đồng đại. Cũng do phạm vi rộng lớn như vậy

nên luận văn lựa chọn khảo sát phong cách của các tác giả tiêu biểu trong quá

khứ, mà cụ thể là hai tên tuổi không thể không nhắc đến là Nguyễn Ái Quốc và

Ngô Tất Tố. Từ sự khảo sát này để dẫn đến sự so sánh diện mạo tiểu phẩm báo

chí một thời để thấy sự “vận động” và thay đổi những phong cách tiểu phẩm

của một số cây bút hiện tại như Hữu Thọ, Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự, Bút Bi

4

trên các tờ báo xuất hiện nhiều thể loại này như Lao Động, Nhân dân, Tuổi trẻ,

Thể thao Văn hóa, Pháp luật Việt Nam…

Như vậy Phạm vi nghiên cứu của Luận văn chủ yếu tập trung vào hai giai

đoạn. Một là trên diện mạo báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX trên

cơ sở khảo sát các tác giả tiêu biểu, cụ thể, luận văn sẽ tập trung vào các nhà

báo Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố. Giai đoạn thứ hai, luận văn khảo sát về những

biến thể của tiểu phẩm trên báo chí hiện đại, cũng tập trung vào một số tác giả

tiêu biểu như Hữu Thọ, Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự, Bút Bi... Đối tượng mà luận

văn tập trung nghiên cứu là tiểu phẩm báo chí và các biến thể của nó, thông

qua khảo sát các tác phẩm của các nhà báo kể trên để nhận diện đặc trưng rồi

chỉ ra các biến thể của tiểu phẩm báo chí là gì.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu.

- Đề tài được nghiên cứu dựa trên nền tảng và cơ sở lý luận của Chủ nghĩa

duy vật biện chứng Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Báo chí cách

mạng và nhiệm vụ của báo chí cách mạng.

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh các tác phẩm báo chí và các tác

giả liên quan đến phạm vi, đối tượng và đề tài nghiên cứu qua việc hệ thống

hóa tài liệu và các tác phẩm báo chí.

- Nghiên cứu văn bản, cụ thể là tiếp cận văn bản tiểu phẩm của các tác giả

liên quan trong hoàn cảnh xã hội xuất hiện tiểu phẩm

- Lấy mẫu và số liệu để khảo sát tần suất xuất hiện của tiểu phẩm cũng như

có những nghiên cứu nhỏ bằng phương pháp điều tra xã hội học về tâm lý, thái

độ từ thực tiễn công chúng trong việc tiếp nhận thể loại tiểu phẩm và các biến

thể của tiểu phẩm báo chí.

- Dựa trên nền tảng lý luận, các sách vở, giáo trình có đề cập đến vấn đề mà

luận văn quan tâm nghiên cứu.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.

5

Về ý nghĩa lý luận, luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm và hệ thống hoá lại

những kiến thức về thể loại tiểu phẩm báo chí. Đặc biệt sẽ bổ sung những

thông tin lý luận ít nhiều mới mẻ về các biến thể của nó vào hệ thống lý luận

tiểu phẩm nói chung. Cùng với mục tiêu đó luận văn triển khai theo hướng

khẳng định lại vai trò, vị trí và hiệu qủa thông tin của tiểu phẩm báo chí và

những biến thể của nó mang lại trong hoạt động báo chí hiện nay.

Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn sẽ là tài liệu góp phần để các bạn sinh viên,

học viên cao học và những ai quan tâm đến tiểu phẩm và các biến thể của tiểu

phẩm tìm hiểu để phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu và hoạt động

chuyên môn của mình.

Mặt khác, luận văn cũng sẽ gọi tên, chỉ ra đặc điểm, cách viết, cấu

trúc...của các biến thể tiểu phẩm để những người làm báo có thể vận dụng nó

vào trong hoạt động chuyên môn cho nghề báo.

7. Cấu trúc của luận văn.

Luận văn được cấu trúc như sau

+ Phần mở đầu

+ Phần nội dung: Bao gồm 3 chương

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tiểu phẩm và những biến thể của nó

Chƣơng 2: Sự hình thành và phát triển của tiểu phẩm nửa đầu thế kỷ XX

qua phong cách hai tác giả: Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố.

Chƣơng3: Biến thể của tiểu phẩm trên báo chí Việt Nam đương đại.

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục.

6

PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng I.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỂU PHẨM VÀ BIẾN THỂ CỦA NÓ

I. Quá trình hình thành và phát triển của tiểu phẩm báo chí.

Sự xuất hiện của tiểu phẩm với tƣ cách là một thể loại trên báo chí.

Khá nhiều các tài liệu đều cho rằng tiểu phẩm báo chí xuất hiện vào khoảng

thế kỷ XVIII. Và như vậy nó đã xuất hiện được hơn 200 năm có lẻ. Nhiều nhà

nghiên cứu báo chí cho rằng: Tiểu phẩm xuất hiện trong cuộc cách mạng tư

sản Pháp lần thứ nhất cuối thế kỷ 18. Báo chí Pháp gọi thể loại này là

Feuilleton. Ban đầu đa phần các nhà văn dùng dạng thức này như một thứ vũ

khí có tính chiến đấu cao để đả kích và công phá vào mặt trận tư tưởng của

những thế lực thù địch. Một số tài liệu báo chí Xô Viết lại cho rằng tiểu phẩm

ra đời vào những năm 60- 70 của thế kỷ XVIII với sự xuất hiện của các bài

viết có tính châm biếm của Nôvicốp và Giécxen trên báo chí Nga. Quan điểm

này thì cho rằng ở Pháp tiểu phẩm xuất hiện muộn hơn, nghĩa là đến đầu thế

kỷ XIX mới xuất hiện gắn với các bài viết của Cha đạo Julien Geoffroy

Các bài báo dạng này đều gắn với tên tuổi các nhà văn, nhà báo nổi tiếng và

đều nhằm theo mục tiêu chung là phê phán hiện thực xã hội thối nát đương

thời. Các cây bút tiểu phẩm nổi tiếng được nhắc đến nhiều trong lịch sử báo

chí là Tuốc-ghi-nhê-ép; Sê-đrin; Ghéc- xen; Goóc- ky; Đéc-mu- lanh; Brít-sot;

An-na-tôn Frăng; Lỗ Tấn…Nhiều nhà hoạt động cách mạng và là những lãnh

tụ của giai cấp công nhân thế giới cũng đã sử dụng tiểu phẩm như một thứ vũ

khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh với những thế lực, giai cấp thống trị

phản động.

Dẫn chứng là C.Mác đã từng ra báo và đã từng bị cấm hoạt động báo chí,

thậm chí còn bị giai cấp tư sản đàn áp hoạt động báo chí của mình. Lịch sử còn

ghi lại sự kiện trước phiên tòa bồi thẩm ngày 7 tháng 2 năm 1848 xử những

người chịu trách nhiệm chính ở tờ báo Neue Rheinnische Zeitung (Báo Ranh

7

Mới) thì từ hàng ghế bị cáo, C.Mác đã nói rằng: “Báo chí phải chống lại một

hiến binh nhất định, một viên công tố nhất định”. Và trong suốt thời gian tồn

tại của tờ Ranh Mới. C. Mác và F.Ăng ghen đã viết rất nhiều tiểu phẩm phê

phán và đả kích sâu cay vào kẻ thù của cách mạng.

Còn ở Việt Nam, do các điều kiện lịch sử xã hội chi phối nên báo chí ra đời

khá muộn. Những tờ báo đầu tiên của Việt Nam xuất hiện vào khoảng giữa thế

kỷ XIX. Tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam là Gia Định Báo

cũng mãi đến ngày 15 tháng 4 năm 1865 mới ra đời. Cũng chính vì vậy mà

tiều phẩm báo chí cũng xuất hiện khá muộn màng so với lịch sử của thể loại

này trong báo chí thế giới. Các tài liệu nghiên cứu cho thấy các dạng thức bài

viết mang tính trào phúng, ban đầu chỉ mang tính “hài” đơn thuần, về sau phát

triển thành dạng thức tiểu phẩm và xuất hiện trên báo vào những năm đầu của

thế kỷ XX. Các tờ báo thời kỳ này như Đông Dương tạp chí, Đông Tây, Duy

Tân, Phong hóa, Vịt đực…Nhưng tiểu phẩm chỉ thực sự xuất hiện rầm rộ và

trở thành một thể loại mạnh trên báo chí Việt Nam với đầy đủ các đặc trưng cơ

bản nhất và mặt thể loại của nó là thời kỳ Mặt trận dân chủ giai đoạn 1936-

1939. Đây là giai đoạn mà báo chí cách mạng có điều kiện phát triển mạnh nên

theo đó cũng là một mảnh đất tốt cho tiểu phẩm phát triển và phát huy lợi thế

tuyên truyền của mình.Cũng từ đây những cây bút tiểu phẩm xuất hiện và để

lại nhiều dấu ấn sáng tạo mà đặc biệt là tên tuổi của Ngô Tất Tố dưới rất nhiều

các bút danh khác nhau.

Một tên tuổi hay một hiện tượng tiểu phẩm khác xuất hiện ở nước ngoài

đầu những năm 20 chính là Nguyễn Ái Quốc với rất nhiều tiểu phẩm đăng tải

trên những tờ báo bằng tiếng Pháp như Le Paria (Người cùng khổ) do chính

Nguyễn Ái Quốc sáng lập hay L’Humanité (Nhân đạo).

Sau giai đoạn 1936- 1939, tiểu phẩm báo chí tiếp tục phát triển cùng sự

phát triển của báo chí cách mạng. Trên mặt báo, những người viết tiểu phẩm

8

ngày càng nhiều và những tên tuổi gắn với thể loại này ngày càng dài thêm

như Xích Điểu, Lê Kim, Lã Vọng, Thợ Rèn….

Cho đến báo chí hiện đại ngày nay, hầu hết trên các mặt báo tiểu phẩm vẫn

xuất hiện như một thể loại mạnh. Từ báo chí giải trí đến chính trị xã hội, báo

giới, ngành…đều thấy xuất hiện dày đặc thể loại này với những biến thể hết

sức đa dạng.

Điều này cho thấy Tiểu phẩm trên báo chí nước ta có sự phát triển liên tục,

không đứt đoạn. Trong dòng chảy của lịch sử báo chí, cả báo chí không cách

mạng và báo chí cách mạng đều sử dụng tiểu phẩm như một món ăn tinh thần

không thể thiếu của mình.

Vị trí của tiểu phẩm trong hoạt động báo chí hiện đại.

Chúng ta biết rằng tiểu phẩm xuất hiện trên báo chí cũng có những cơ sở xã

hội của nó. Mà một trong những nhân tố có tính tâm lý xã hội xuất phát từ văn

hóa và truyền thống Việt, đó là bản lĩnh đấu tranh và tinh thần lạc quan trong

lối sống của con người Việt Nam được hun đúc qua đấu tranh dân tộc và đấu

tranh xã hội. Một mặt truyền thống tiếu lâm trong văn nghệ dân gian với quan

niệm thẩm mỹ: Tiếng cười là vũ khí của kẻ mạnh, văn học là vũ khí đấu tranh

nên tiểu phẩm luôn phát huy được lợi thế sắc bén của nó trong mọi gian đoạn

phát triển của báo chí Việt Nam hiện đại như đã trình bày. Mặt khác, khi xã

hội có những bất công, ngang trái, có những mâu thuẫn giai cấp rõ nét, đặc biệt

là trong xã hội phong kiến thuộc Pháp nửa sau thế kỉ XIX thì thứ vũ khí sắc

bén có tên gọi là tiểu phẩm để đả kích sâu cay vào tư tưởng của chủ nghĩa thực

dân nửa phong kiến lẫn bè lũ xâm lược Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ

cho đến thời bình, tiểu phẩm cũng luôn phát huy được sức mạnh đấu tranh của

mình.

Vì các lẽ đó mà tiểu phẩm báo chí có một vị trì đặc biệt và ngày càng trở

thành một thể loại xung kích với tần số xuất hiện đậm đặc trong các trang báo

in. Tiểu phẩm được nghiên cứu và đúc kết lý luận như một đối tượng hấp dẫn

9

và có tính đặc thù cao. Nó được xếp vào nhóm Chính luận nghệ thuật và ngày

càng được chú ý nghiên cứu.

Tiểu phẩm và các biến thể của nó trong báo chí hiện đại không đơn thuần là

những bài báo giải trí gây cười thông thường. Càng ngày tính chính luận của

nó càng được khẳng định mạnh mẽ. Cũng vậy mà thay vì những vị trí khiêm

nhường của một góc trang Văn hóa- Văn nghệ, tiểu phẩm có sự “dời đô”

ngoạn mục lên trang 2 của mặt báo và nhiều tờ báo đã dành hẳn một diện tích

trang 1 cho tiểu phẩm và biến thể của nó. Đó là một vị trí xứng đáng, bởi vì

nội dung mà tiểu phẩm hướng đến luôn có tính thời sự, tính chiến đấu cao và

nhiều lúc còn là một phương tiện truyền phát chính kiến của cơ quan báo chí.

Từ lý luận báo chí đến thực tiễn hoạt động báo chí, đã khẳng định tính độc

đáo, sự độc lập và nét trội của tiểu phẩm bên cạnh các thể loại báo chí khác.

Và tiểu phẩm đang khẳng định vị thế chính luận, chức năng giải trí, và do vậy

khẳng định luôn hiệu quả kinh tế của nó, trên thương trường báo chí hiện đại.

II. Khái niệm

Các quan niệm khác nhau về tiểu phẩm.

Có thể nói rằng có rất nhiều các quan niệm khác nhau về tiểu phẩm. Về mặt

từ vựng học với nội hàm rộng, thuật ngữ “tiểu phẩm” xuất hiện trong nhiều

lĩnh vực nghệ thuật. Trong văn học, trong sân khấu, trong điện ảnh…Theo

nghĩa này, tiểu phẩm không chỉ là địa hạt của riêng lĩnh vực báo chí. Và như

vậy quan niệm rộng rãi và cách dùng phổ thông thì tiểu phẩm là tất cả các sáng

tác văn nghệ (văn chương, điện ảnh, sân khấu…) có dung lượng nhỏ, ngắn

gọn.

Một góc độ khác, các câu chuyện tiếu lâm có tính trào phúng và được sử

dụng các hình ảnh, thủ pháp của văn học cũng được gọi là tiểu phẩm. Như vậy,

từ góc độ này, tiểu phẩm bị đồng nhất với một thể loại của văn học là tiếu lâm.

Trong sự linh động về mặt kết cấu, cả trong văn học lẫn báo chí, có một số

thể văn, bài viết ngắn, có sự gần gũi về bút pháp và đặc điểm thẩm mỹ, chằng

10

hạn như tạp văn, tản văn, phiếm luận…Cũng đã có những quan điểm đồng

nhất những dạng thức kể trên với tiểu phẩm.

Còn từ góc độ báo chí học, khái niệm tiểu phẩm có thể xuất phát tự việc

phân tích thuật ngữ từ Hán-Việt “tiểu phẩm” với thuật ngữ tiếng nước ngoài –

feuilleton, newspaper satire, /feleton/, để định dạng và nhận biết thể loại này.

N»m trong hÖ thèng thuËt ng÷ ghi b»ng ©m H¸n ViÖt, thuËt ng÷ “tiÓu phÈm”

®«i khi g©y ra sù hiÓu nhÇm vÒ néi hµm cña nã, còng t ¬ng tù nh c¸c thuËt

ng÷ “ tiÓu thuyÕt”, “tiÓu” trong “tiÓu thuyÕt” l¹i kh«ng biÓu hiÖn dung l­îng sè

trang, ng­îc l¹i “tiÓu “ trong “tiÓu phÈm” l¹i g©y Ên t­îng ngay l¯ nhá bÐ,

ng¾n ngñi; Gäi l¯ “t¹p v¨n” nh­ng tiÒn tè “t¹p” ë ®©y kh«ng ®ång nghÜa v¬Ý

tÝnh chÊt tÇm th êng, vôn vÆt vÒ ph ¬ng diÖn ®Ò tµi.

Từ những quan niệm này, dựa trên những nét đặc trưng chung nhất của tiểu

phẩm trên cả phương diện nội dung, kết cấu, các phương pháp và thủ pháp

biểu hiện chúng, ta sẽ đi đến tìm hiểu và ghi nhận một khái niệm khoa học hơn

cả về tiểu phẩm..

Khái niệm về tiểu phẩm và tiểu phẩm báo chí.

Nh ®· tr×nh bµy trong phÇn c¸c quan niÖm kh¸c nhau vÒ tiÓu phÈm, mét sù

tiÕp cËn b¾t ®Çu tõ tªn gäi lµ sù hÐ lé mét phÇn cña kh¸i niÖm. Trong tiÕng

Anh, thÓ lo¹i nµy ® îc gäi lµ Feuilleton, Newspaper satire. Thùc ra thuËt ng÷

nµy xuÊt ph¸t tõ nguyªn gèc tiÕng Ph¸p: Feuillton cã nghÜa lµ tê giÊy, chiÕc l¸.

Do sö dông thuËt ng÷ bºng tõ H¸n ViÖt, “tiÓu phÈm” ®­îc hiÓu mét c¸ch th«ng

dông nh mét t¸c phÈm ng¾n gän, nhá lÎ, cã dung l îng khiªm tèn, chØ l u ý

tíi “l­îng” chø kh«ng tíi “chÊt” cña t¸c phÈm. Trong lÜnh vùc truyÒn th«ng,

®Æc biÖt lµ b¸o in, tiÓu phÈm lµ thÓ lo¹i cã vÞ thÕ t ¬ng ®èi cæ ®iÓn. Thêi kú ®Çu

xuÊt hiÖn, tiÓu phÈm cßn n»m lÉn trong c¸c trang phô tr ¬ng qu¶ng c¸o g¾n

kÌm víi néi dung chÝnh cña tê b¸o. Næi tiÕng nhÊt trong sè c¸c trang phô

tr ¬ng tiÓu phÈm vµ qu¶ng c¸o nµy lµ phô tr ¬ng cña nhµ v¨n Lessing cho tê

b¸o §øc Vossische Zeitung, xuÊt b¶n tõ n¨m 1751 ®Õn n¨m 1751. V× cã néi

dung ch©m biÕm, hµi h íc vÒ nh÷ng chuyÖn sinh ho¹t ®êi sèng, cã chøc n¨ng

11

gi¶i trÝ lµ chñ yÕu, tiÓu phÈm ® îc phÐp ph¸t triÓn n»m ngoµi sù quan t©m cña

bé m¸y kiÓm duyÖt chÝnh thèng. Sù nhËn biÕt v¯ “khai tr­¬ng” thÓ lo¹i chÝnh

thøc diÔn ra vµo n¨m 1800, khi chñ bót tê b¸o Ph¸p Journal des DÐbats lµ J.

Geoffroy quyÕt ®Þnh di chuyÓn tiÓu phÈm cïng môc qu¶ng c¸o tõ c¸c trang phô

tr ¬ng vµo nöa d íi trang nhÊt cña mçi sè b¸o. Nh÷ng sè b¸o ®Çu tiªn, «ng in

c¸c bµi phª b×nh s©n khÊu cña m×nh. Nöa d íi trang b¸o ® îc ng¨n víi nöa

trªn b»ng mét v¹ch kÎ ngang, mùc ®Ëm, víi môc ®Ých l u ý ®éc gi¶ r»ng ®©y lµ

phÇn ® îc miÔn kiÓm duyÖt. VÒ mÆt ®å ho¹ kü thuËt, bµi tiÓu phÈm th êng

® îc in b»ng kiÓu ch÷ nghiªng vµ ® îc ®ãng khung. § îc s¸p nhËp vµo trang

b¸o chÝnh thøc, thÓ tiÓu phÈm b¾t ®Çu mét lÞch sö ph¸t triÓn cña nã. NhiÒu ký

gi¶ vµ nhµ v¨n næi tiÕng nh Th. Gautier, Ch. A. Sainte-Beuve (Ph¸p), I.S.

Puskin (Nga), H. Heine (§øc), K. Capek (SÐc), ®Òu tham gia viÕt tiÓu phÈm.

Mét sè n­íc cßn gäi tiÓu phÈm bºng c¸i tªn n«m na l¯ “b¯i d­íi v¹ch”

(podcara – SÐc), tøc l¯ d­íi v¹ch cÊm, hay khu vùc “phi kiÓm duyÖt”. C¸c b¯i

tiÓu phÈm cµng ngµy cµng hÊp dÉn ®éc gi¶ vµ ¶nh h ëng s©u réng tíi ®«ng ®¶o

c«ng chóng. §Ò tµi cña tiÓu phÈm më réng dÇn trªn c¸c mÆt cña ®êi sèng v¨n

ho¸-x· héi vµ nghÖ thuËt. V× bÞ giíi h¹n vÒ dung l îng ch÷, tiÓu phÈm ph¸t

triÓn theo xu h íng dån nÐn thÈm mü vµ b¾t ®Çu mét lÞch tr×nh giao thoa lo¹i

h×nh. B»ng lèi viÕt nhÑ nhµng, hãm hØnh, ph©n tÝch, b×nh luËn mét c¸ch hµi

h íc, c¸c c©y bót tiÓu phÈm ®· ® a thÓ lo¹i nµy xÝch l¹i gÇn v¨n häc, tíi møc

cã nhµ nghiªn cøu (J. T¸borsk¸) cho r»ng ®©y chØ lµ mét thÓ lo¹i v¨n häc xuÊt

hiÖn v¯ ph¸t triÓn n­¬ng nhê trªn “®Êt b¸o”.

Tuy vËy, thùc tiÔn vµ sù kh¸i qu¸t lý thuyÕt vÒ tiÓu phÈm kh«ng ph¶i cã sù

thèng nhÊt ë tÊt c° mäi n­íc. HiÖn t¹i, ë §øc, kh¸i niÖm “feuilleton” ®­îc

dïng ®Ó chØ tÊt c¶ c¸c bµi b¸o ng¾n in trªn c¸c trang phô tr ¬ng, viÕt vÒ v¨n

hãa, x· héi, giíi thiÖu vµ phª b×nh v¨n häc nghÖ thuËt, kÓ c¶ nh÷ng bµi b×nh

luËn chÝnh trÞ vµ kh«ng tÝnh tíi chÊt hµi h íc, ch©m biÕm ë ®ã cã hay kh«ng.

ë ViÖt Nam, tiÕp nhËn nh÷ng ¶nh h ëng tinh hoa cña hai nÒn v¨n ho¸ lín

lµ Ph¸p vµ Trung Quèc, c¸c nhµ b¸o NguyÔn ¸i Quèc, Ng« TÊt Tè thùc sù lµ

12

nh÷ng c©y bót tiÓu phÈm tiªn phong cña b¸o chÝ ViÖt Nam hiÖn ®¹i. Di s¶n tiÓu

phÈm cña hai t¸c gi¶ ngay tõ ®Çu ®· héi ®ñ kh«ng chØ nh÷ng thuéc tÝnh phæ

qu¸t cña thÓ lo¹i feuilleton ph ¬ng T©y mµ cßn cã sù bæ sung c¸c ®Æc ®iÓm

míi: TÝnh chiÕn ®Êu vµ sù can dù s©u réng vµo ®Þa h¹t chÝnh trÞ. TiÓu phÈm cña

b¸o chÝ ®Çu thÕ kû nµy ë ViÖt Nam th êng xuÊt hiÖn trong c¸c chuyªn môc nh

“Nãi m¯ ch¬i”, “Thêi ®¯m”, “Mua vui còng ®­îc mét v¯i trèng canh”, “Nãi

hay ®õng” v.v.

Đại từ điển tiếng Việt có đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, tiểu phẩm là bài

báo ngắn nói về đề tài thời sự có tính chất châm biếm và là một vở kịch ngắn

mang tính chất hài hước, châm biếm. Một số giáo trình báo chí cũng đã đưa ra

những khái niệm về tiểu phẩm báo chí. Chẳng hạn như trong Giáo trình “Các

thể loại báo chí Chính luận nghệ thuật” của PGS.TS Dương Xuân Sơn, trong

chương 8- Chương Tiểu phẩm có đưa ra khái niệm: “Tiểu phẩm là một thể loại

báo chí ở nhóm chính luận-nghệ thuật, mang tính văn học, được diễn đạt bằng

ngôn ngữ châm biếm, đả kích hoặc hài hước về một sự kiện, sự việc, hiện

tượng có thực, cụ thể hoặc khái quát, qua đó tác giả thể hiện quan điểm của

mình về sự kiện, hiện tượng đó”. Trong cuốn Nghề nghiệp và công việc của

nhà báo, tác giả Trịnh Đình Khôi cho rằng: “Tiểu phẩm là một thể loại tác

phẩm báo chí ngắn gọn, mang tính văn học, được diễn đạt bằng ngôn ngữ

châm biếm hoặc hài hước về một sự việc có thực, cụ thể hoặc khái quát, mà

thông qua đó tác giả biểu hiện quan điểm của mình trước những sự việc, hiện

tượng đó”. Thực chất hai quan điểm này có những nét tương đồng, khác chăng

trong khái niệm được PGS.TS Dương Xuân Sơn đưa ra đã xác định tính khu

biệt của tiểu phẩm trong địa hạt của nó khi xếp nó vào nhóm Chính luận- nghệ

thuật.

Còn từ góc độ của người làm báo, nhà báo đồng thời cũng là một cây bút

tiểu phẩm, Xích Điểu cho rằng : Tiểu phẩm “Là thể loại vừa cho phép phát

triển tính chất điển hình của văn học, vừa mang tính chân thật, khoa học và kịp

13

thời của báo chí, tiểu phẩm vốn mang một tính chiến đấu cao, có khả năng

vạch bản chất tàn bạo của kẻ thù một cách trực tiếp, sâu cay và châm biếm làm

cho người đọc vừa căm thù, vừa khinh ghét vừa cười vào mũi chúng”.

Những khái niệm được nêu trên đã cơ bản đề cập được những nét chính yếu

dựa trên những đặc điểm, đặc trưng chung nhất của tiểu phẩm. Tuy nhiên các

vấn đề lý luận, các quan niệm khoa học không dừng lại mà nó vận động theo

thực tiễn của hoàn cảnh xã hội và thực tiễn của hoạt động báo chí. Cách nhìn

lịch đại và cách nhìn đồng đại sẽ có những thay đổi như một tất yếu khách

quan khi chính chủ thể, vấn đề nghiên cứu không cố định mà phát triển theo

nhu cầu thông tin, cách thông tin trong từng hoàn cảnh lịch sử xã hội. Cũng

chính vì lẽ đó và dựa trên những nền tảng lý luận cũng như những cứ liệu phân

tích trên, chúng tôi đề xuất một khái niệm như sau về tiểu phẩm báo chí hiện

đại:

Tiểu phẩm báo chí là những tác phẩm thuộc nhóm chính luận nghệ

thuật với kết cấu ngắn gọn và linh động có nội dung phê phán, bằng tư duy

lý luận đả kích sâu cay những mặt trái cuộc sống đương đại mang hơi thở

thời sự, dưới một thủ pháp uyển chuyển và hình tượng, gần với văn học.

Ở đây sở dĩ chúng tôi đưa ra khái niệm này là vì: Tự thân tiểu phẩm báo

chí, nhất là qua khảo sát, nghiên cứu trên báo chí hiện đại thì phải khẳng định

tiểu phẩm báo chí là một dòng riêng, không thể đồng nhất với tiểu phẩm trong

văn học nghệ thuật từ phương diện đề tài, đối tượng, cách thức và phương

pháp phản ánh. Theo đó “chất” hay “nội dung” của tiểu phẩm báo chí là những

mặt trái của các vấn đề thời sự trong xã hội đương đại. Tính lý luận, lập luận

sắc bén của tư duy là yếu tố thuyết phục người đọc, cũng là yếu tố tạo nên bản

lĩnh, chính kiến của người viết tiểu phẩm cũng như của cơ quan báo chí. Còn

tính châm biếm, tính hài và một số thủ pháp vay mượn của văn học chỉ là cái

“vỏ”, là phạm trù “hình thức” của tác phẩm để tăng tính hấp dẫn, sự sáng tạo

phù hợp với kết cấu của tác phẩm. Nói tóm lại, tư duy lý luận, tính chính luận

14

trong nội dung thông tin phản ánh của tiểu phẩm báo chí hiện đại vẫn là tính

trội. Bởi vì nó có cái vỏ hình thức gần gũi với văn chương nên chúng tôi gọi

tiểu phẩm có “thủ pháp uyển chuyển và hình tượng gần với văn học”. Vậy nên

việc xếp nó vào nhóm chính luận nghệ thuật là hợp lý, nhưng tính trội về chính

luận trong tiểu phẩm báo chí vẫn là yếu tố tiên quyết chứ không phải cái vỏ

“nghệ thuật” của tác phẩm tiểu phẩm.

Đây cũng là một sự “khắc phục” các khái niệm được nêu ra trước đó, khi

cho rằng tiểu phẩm báo chí “mang tính văn học”. Tính văn học có chăng, như

chúng tôi trình bày, nó chỉ là cái vỏ hình thức của tác phẩm, vậy nên tiểu phẩm

của báo chí hiện đại và những biến thể của nó trong quá trình vận động và phát

triển thì tính tư duy lý lẽ sắc bén mang “tính báo chí” mới là đặc điểm số một

của nó.

2.3 Những đặc trƣng cơ bản của tiểu phẩm.

Hệ thống lý luận nghiên cứu về tiểu phẩm trước đây cũng đã chỉ ra những

đặc trưng, đặc điểm cơ bản của tiểu phẩm. Trong luận văn này, qua nghiên

cứu, khảo sát tiểu phẩm trên báo chí hiện đại và các biến thể của nó, chúng tôi

bổ sung thêm một số đặc trưng và sắp xếp chúng lại theo trình tự tăng dần mức

độ quan trọng của các đặc trưng cơ bản của một tiểu phẩm báo chí.

 Tiểu phẩm báo chí hiện đại có kết cấu ngắn gọn và linh động:

Trong lý luận báo chí về thể loại tiểu phấm đã từng xuất hiện khái

niệm “tiểu phẩm dài”, chẳng hạn như các tác phẩm của Nguyễn Ái

Quốc. Một số giáo trình như Giáo trình Các thể loại chính luận nghệ

thuật của khoa báo chí Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn-

Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Độ dài của tiểu phẩm từ 300 đến

1500 chữ. Thực chất trong quá khứ dung lượng dài đến 1500 chữ là có

thật nhưng qua khảo sát trên báo chí hiện đại hiện nay, độ chữ của tiểu

phẩm rất ít khi vượt quá ngưỡng 700 chữ. Cạnh đó có những tiểu

phẩm ngắn gọn, dạng hội thoại, chưa đến 200 chữ. Độ dài trung bình

15

của tiểu phẩm báo chí hiện nay chỉ dao động từ 200 đến 600 chữ. Có

thể khẳng định không còn xuất hiện tiểu phẩm báo chí nào có độ dài

đến 1500 chữ. Sự linh động của tiểu phẩm thể hiện ở kết cấu văn bản

của nó, lúc là những câu chuyện, lúc là những phỏng vấn, lúc là những

đối thoại, lúc là dạng ôn cố tri tân, rất biến hóa.

 Tiểu phẩm báo chí hiện đại mang tính chính luận với hệ thống tƣ

duy lý lẽ sắc sảo đặt dƣới cái vỏ hình thức tác phẩm gần với văn

học: Đặc trưng này gắn với việc tiểu phẩm trên báo chí hiện đại

thường phản ánh, đề cập và phản biện những vấn đề lớn có tính chính

trị xã hội, được dư luận quan tâm. Hệ thống tư duy lý luận có tính đả

kích nhưng là đả kích sâu cay, mềm mại và hóm hỉnh bằng cách sử

dụng nhiều thủ pháp gần với văn học. Cũng là một vấn đề chính trị xã

hội nhưng tư duy lý luận cộng với cách viết lý luận và cứng nhắc thì

sẽ trở thành một tác phẩm xã luận, bình luận hay chuyên luận.

 Tiểu phẩm báo chí hiện đại quan tâm đến các vấn đề có tính thời

sự và rất khắt khe về tính thời gian của sự kiện: Điều này cho thấy

thông tin trong tiểu phẩm nóng hổi như tin tức, hay nói chính xác hơn

là các sự kiện thời sự đã được chuyển đến độc giả dưới một dạng thức

hấp dẫn, trí tuệ hơn và bộc lộ chính kiến của người viết một cách rõ

nét. Tiểu phẩm báo chí không viết, không bình luận, không đả kích cái

đã cũ, đã lỗi thời, trừ phi cái cũ lại…có tính thời sự. Hay cái cũ được

lấy lại để làm nền cho cái mới tương tự. Không ai đi viết tiểu phẩm về

một sự kiện, vấn đề không có tính thời sự. Các dạng “ôn cố”, lấy cái

cũ để nói cũng là một cái cớ về mặt thủ pháp để nói về những bất cập

đương thời.

 Cũng nhƣ các dạng nhiều thể loại báo chí khác, tiểu phẩm có tính

chiến đấu cao: Báo chí nói chung là vũ khí trên mặt trận văn hóa tư

tưởng, đặc biệt riêng với tiểu phẩm thì đây là thứ vũ khí sắc bén với

16

tính chiến đấu cao. Tiểu phẩm đả kích sâu cay, “đánh” vào những bất

công, bất cập của những mặt trái đời sồng xã hội và nó gây ra những

hiệu ứng xã hội, tạo dư luận và cảm xúc cho người đọc để lên án gay

gắt các hiện tượng, vấn đề, sự kiện…phản tiến bộ. Tiểu phẩm “bé”,

nhưng là “bé hạt tiêu”, một thứ vũ khí mà ai đó bị đả kích thì không

thể không cảm thấy bị… “chạm nọc”!.

 Khác với các thể loại báo chí khác, tiểu phẩm có tính hài, chất

châm biếm trào phúng nhƣng không phải với mục đích gây cƣời:

Đây là một nét khu biệt rất riêng của tiểu phẩm báo chí. Nhiều người

đã nhầm lẫn khi cho rằng cái chính của tiểu phẩm là gây cười, và một

số nghiên cứu đã nghiêng về tính giải trí đơn thuần của tiểu phẩm để

xếp dạng thức này là tiểu phẩm văn học. Thực chất cái cười, cái hài

trong tiểu phẩm chính là để hướng đến cái bi, cái cay đắng và bất công

trong xã hội mà thôi. Theo đó tiểu phẩm gợi nên những căm phẫn,

những phản biện chứ không phải để…cười.

Nắm bắt được những nét đặc trưng cơ bản này sẽ giúp tiếp cận việc nghiên

cứu tiểu phẩm báo chí hiện đại đi đúng hướng với tư cách là một thể loại báo

chí giàu tính chính luận có những thủ pháp biểu hiện gần với văn học như

chúng tôi đã trình bày.

III. Biến thể của tiểu phẩm.

Quan niệm về biến thể của tiểu phẩm.

Biến thể, theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt nghĩa là thể đã biến

đổi đi ít nhiều so với thể gốc. Theo nghĩa này, trong sự vận động và phát triển

của thể loại, việc xuất hiện những biến thể mới phù hợp với truyền thông hiện

đại là một quy luật có tính tất yếu. Tiểu phẩm báo chí và việc xuất hiện các

biến thể của nó không là ngoại lệ. Việc nghiên cứu tiểu phẩm biến thể là rất

cần thiết cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn của hoạt động báo chí.

17

Về phần này, chúng tôi sẽ trình bày kỹ trong chương III của luận văn, ở

đây chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề có tính chất lý luận sơ lược về biến

thể của tiểu phẩm.

Kh¸i niÖm biÕn thÓ ë ®©y ® îc dïng trong tÝnh t ¬ng ®èi cña ng÷ nghÜa.

BiÕn thÓ chØ cã khi chung mét gèc xuÊt ph¸t, khëi ®Çu. BiÕn thÓ cña tiÓu phÈm

b¸o chÝ ViÖt Nam h×nh thà nh vµ ph¸t triÓn trªn c¬ së:

1 -KÕ thõa truyÒn thèng tiÕu l©m vµ v¨n ch ¬ng trµo phóng d©n gian.

2- TiÕp thu vµ ph¸t triÓn c¸c thµnh tùu cña tiÓu phÈm, cña thÓ v¨n giai tho¹i

trong b¸o chÝ vµ v¨n häc Trung Quèc. Ng« TÊt Tè lµ c©y bót tiÓu phÈm tiªu

biÓu cho sù ¶nh h ëng vµ chñ ®éng tiÕp thu ®ã.

3 – TiÕp thu vµ ph¸t triÓn kinh nghiÖm tiÓu phÈm ¢u ch©u, tr íc hÕt lµ tõ

b¸o chÝ, v¨n häc Ph¸p. NguyÔn Ái Quèc vµ nhiÒu ký gi¶ T©y häc tr íc CM

th¸ng T¸m ®· chñ ®éng tiÕp nhËn.

Do vËy kh¸i niÖm “BiÕn thÓ” ë ®©y nh ®· nãi lµ ® îc dïng víi nghÜa nh

nh÷ng d¹ng thøc ph¸t triÓn phong phó trong ®êi sèng b¸o chÝ ViÖt Nam. MÆt

kh¸c, nÕu tÝnh tõ khi tiÓu phÈm xuÊt hiÖn trªn mÆt b¸o ch©u ¢u, khi tiÓu phÈm

cßn chung ®Êt víi Qu¶ng c¸o, víi c¸c Tê r¬i, TruyÒn ®¬n, n»m ngoµi sù kiÓm

so¸t cña bé m¸y kiÓm duyÖt, sau h¬n 200 n¨m ph¸t triÓn (nÕu lÊy mèc íc lÖ lµ

n¨m 1800) tiÓu phÈm ®· thùc sù v ît rµo, can dù vµo nhiÒu lÜnh vùc ®Ò tµi, hiÖn

diÖn trªn trang b¸o nh mét thÓ lo¹i võa cã tÝnh chiÕn ®Êu cao, võa cã bé c¸nh

cña mét thÓ lo¹i gi¶i trÝ, th gi·n, lµm dÞu kh«ng khÝ thêi sù nãng báng hµng

ngµy. Nh vËy vÒ mÆt lÞch sö thÓ lo¹i, tiÓu phÈm ®· thùc sù biÕn ®æi. ViÖc dïng

tõ BiÕn thÓ lµ hoµn toµn phï hîp, ph¶n ¸nh ®óng thùc tiÔn b¸o chÝ thÕ giíi

còng nh ho¹t ®éng cña b¸o chÝ ViÖt Nam hiÖn nay.

Sự xuất hiện của tiểu phẩm biến thể trên báo chí Việt Nam hiện đại

B¸o chÝ thêi kú ®Êu tranh Gi¶i phãng d©n téc ®· sö dông tiÓu phÈm chñ yÕu

v× môc tiªu ®Êu tranh chèng kÎ thï x©m l îc. Sù tËp trung vµo mét ®èi t îng

duy nhÊt tÊt yÕu dÉn tíi sù ®¬n ®iÖu vÒ h×nh thøc, bót ph¸p. C¸c tiÓu phÈm ®¶

18

kÝch, lªn ¸n bän x©m l îc Mü cã hiÖu qu¶ t t ëng râ rÖt, nh ng kh«ng tr¸nh

khái sù trïng lÆp nhÊt ®Þnh vÒ c¶ néi dung lÉn h×nh thøc.

Sù ®a d¹ng, phong phó cña h×nh thøc thÓ lo¹i tiÓu phÈm h«m nay ph¶n ¸nh

nh÷ng yªu cÇu ®a d¹ng, phong phó cña ®êi sèng x· héi. Tõ chøc n¨ng mét vò

khÝ ®Êu tranh d©n téc, tiÓu phÈm trë l¹i víi chøc n¨ng c¶i t¹o ®êi sèng vµ x©y

dùng ®êi sèng thêi b×nh. TiÓu phÈm ®· vËn ®éng ®Ó råi xuÊt hiÖn c¸c biÕn thÓ

cña nã ®Ó tham gia vµo cuéc ®Êu tranh chung, bÒn bØ, l©u dµi vµ réng r·i, v× sù

c«ng b»ng x· héi, v× tù do, d©n chñ, v¨n minh vµ h¹nh phóc thùc sù cho mçi

con ng êi. Cã bao nhiªu lÜnh vùc ho¹t ®éng ®êi sèng, cã chõng Êy m¶ng ®Ò tµi

cho c¸c c©y bót tiÓu phÈm khai chiÕn vµ cèng hiÕn. C«ng cuéc ®æi míi x· héi

toµn diÖn, trong ®ã cã ®æi míi t duy, cô thÓ lµ t duy b¸o chÝ ®· t¹o ®iÒu kiÖn

cho c¸c nhµ b¸o tù tin, tù do s¸ng t¹o, ph¸t huy tÝnh n¨ng ®éng trong ®æi míi,

c¸ch t©n h×nh thøc, bót ph¸p thÓ hiÖn. Mét qu¸ tr×nh biÕn ®æi tiÓu phÈm ®· diÔn

ra, nhiÒu khi v ît xa tÇm tay n¾m b¾t cña lý luËn b¸o chÝ häc vµ chÝnh sù biÕn

®æi Êy rÊt cÇn ® îc nghiªn cøu mét c¸ch ®Çy ®ñ, toµn diÖn ®Ó ®¸p øng c¶ c«ng

t¸c nghiªn cøu vÒ b¸o chÝ lÉn viÖc ®Þnh d¹ng, t×m ®Æc tr ng, thñ ph¸p thÓ cña

tiÓu phÈm ®Ó gióp nh÷ng ng êi lµm b¸o cã thÓ tiÕp cËn vµ thùc hµnh trong qu¸

tr×nh s¸ng t¹o t¸c phÈm b¸o chÝ cña m×nh.

TiÓu kÕt ch ¬ng 1

Tãm l¹i tiÓu phÈm b¸o chÝ hiÖn ®¹i ®· cã nh÷ng sù vËn ®éng vµ ph¸t triÓn

theo thêi gian ®Ó råi tõ thÓ gèc cña tiÓu phÈm ban ®Çu xuÊt hiÖn nh÷ng biÕn thÓ

víi nh÷ng ®Æc tr ng, kÕt cÊu hÕt søc linh ®éng vµ hÊp dÉn. Søc chiÕn ®Êu cña

tiÓu phÈm vµ tiÓu phÈm biÕn thÓ më réng ra trªn mäi mÆt cña ®êi sèng x· héi

khiÕn thÓ lo¹i nµy chiÕm mét vÞ trÝ xøng ®¸ng víi tÇn suÊt xuÊt hiÖn kh¸ dµy

®Æc trong ho¹t ®éng b¸o chÝ hiÖn nay. Còng chÝnh tõ sù ®a d¹ng cña ®Ò tµi, vÊn

®Ò ph¶n ¸nh céng víi sù s¸ng t¹o cña ng êi viÕt trªn viÖc n¾m b¾t nhu cÇu, t©m

lý cña ®éc gi¶, tiÓu phÈm biÕn thÓ xuÊt hiÖn víi nhiÒu d¹ng thøc, lµm sinh ®éng

vµ phong phó thªm cho c¶ ho¹t ®éng lý luËn lÉn thùc tiÔn cña nghÒ b¸o. Tuy

19

nhiªn còng ®Æt ra nh÷ng th¸ch thøc cho nh÷ng ng êi lµm c«ng t¸c nghiªn cøu

lý luËn b¸o chÝ khi nghiªn cøu vµ ®Þnh danh nã mét c¸ch khoa häc.

Chƣơng 2

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU PHẨM NỬA ĐẦU

THẾ KỶ XX QUA PHONG CÁCH CỦA HAI TÁC GIẢ NGUYỄN AÍ

QUỐC VÀ NGÔ TẤT TỐ.

I. Đôi nét về diện mạo báo chí và tình hình sử dụng tiểu phẩm trên

báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Những năm đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử Việt Nam đầy rẫy những

biến động phức tạp. Đặc biệt năm 1914 thế chiến I bùng nổ cũng đã ảnh hưởng

mạnh mẽ đến các nước thuộc địa. Chính sách bóc lột thuộc địa của Pháp ở

Đông Dương được đẩy mạnh để bòn rút của cải mang về mẫu quốc. Cạnh đó

trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, một “chính sách thực dân” bằng sách vở

cũng được thực hiện một cách ráo riết. Và lẽ tất nhiên nằm trong các chính

sách về văn hóa tư tưởng, báo chí đã được bọn thực dân lợi dụng như một thứ

vũ khí tư tưởng lợi hại.

Bước vào thế kỷ XX, Việt Nam có khoảng 10 tờ báo cả tiếng Việt lẫn

tiếng Pháp và chữ Hán. Trong những năm đầu thế kỷ, như đã nói, báo chí do

người Pháp làm chủ bởi luật pháp thời thuộc địa bấy giờ không cho người bản

xứ làm báo. Tuy nhiên như quy luật phát triển, dần dà cũng có những tờ báo

“lách luật” để có những cú lội ngược dòng trong sự “bóp cổ” báo chí bản địa

của chính quyền thực dân. Đến đầu những năm 20 của thế kỷ, đã dần định

hình một nền Báo chí Việt Nam. Bên cạnh những tờ báo thời sự chính trị xã

hội, đã có báo chí văn hóa văn nghệ, báo chí kinh tế, báo chuyên ngành,

chuyên giới. Ngoài các trung tâm lớn là Sài Gòn và Hà Nội, lẻ tẻ một vài địa

phương khác như Hải Phòng, Cần Thơ, Huế cũng đều xuất bản báo.

20

Chiếm dòng chủ lưu trong báo chí thời gian này là những cơ quan

chuyên lo việc tuyên truyền, tô điểm cho chế độ thực dân, kêu gọi nhân dân

hợp tác với nhà cầm quyền. Những tiếng nói phản kháng tuy đã có cất lên song

vẫn còn rất yếu ớt và luôn luôn bị bóp nghẹt. Tuy nhiên những tiếng nói này

lại biểu thị một ý thức dân tộc đang tự khẳng định qua những khuynh hướng

yêu nước thương nòi, đòi quyền dân chủ, lên án chế độ cai trị hà khắc và bất

công xã hội... Đó là tín hiệu báo trước sự xuất hiện tất yếu của một nền báo chí

cách mạng.

Sự phát triển cho dù chật vật của báo chí Việt Nam dưới chế độ cũ vẫn

từng bước tạo nên một đội ngũ những người làm báo chuyên nghiệp. Trừ một

số rất ít, người làm báo lúc này không còn là viên chức hoặc là kẻ cúc cung tận

tụy phục vụ quyền lợi thực dân. Gia nhập đội ngũ làm báo có những nhà hoạt

động chính trị như Trần Huy Liệu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng..., những

người làm chính trị dưới dạng nghiên cứu học thuật như Phạm Quỳnh, Nguyễn

Văn Vĩnh..., những nhà dịch thuật như Trần Chánh Chiếu, Phan Kế Bính,

Nguyễn Đỗ Mục..., những trí thức du học từ nước ngoài về như Nguyễn An

Ninh, Hoàng Tích Chu..., Chính họ chứ không phải nhà cầm quyền, là những

người quyết định nội dung báo chí tất nhiên theo quan điểm riêng của mỗi

người cùng với tất cả ràng buộc khắt khe dưới chế độ thuộc địa. Với việc

người Pháp đẩy mạnh việc khai thác Đông Dương để bù đắp cho nền kinh tế

chính quốc bị kiệt quệ bởi chiến tranh thế giới thứ nhất đi đôi với sự gia tăng

đàn áp về chính trị, xã hội nông nghiệp Việt Nam càng bị bần cùng hóa. Giai

cấp tư sản bản xứ hình thành và cùng với nó là sự xuất hiện và lớn mạnh của

giai cấp công nhân. Trên thế giới, Cách mạng Tháng Mười đã thành công ở

Nga. Đảng Cộng sản Pháp đã thành lập với chính sách đúng đắn đối với vấn đề

thuộc địa. Ở Việt Nam, dần dần hội tụ những điều kiện khách quan cho sự ra

đời của một phong trào yêu nước, dân chủ được chỉ đạo bởi tư tưởng của giai

cấp công nhân. Hoàn cảnh trong nước cũng như bối cảnh quốc tế đã chín muồi

21

cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thành lập tổ chức tiên phong của

giai cấp công nhân, vận động nhân dân đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, dành độc

lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những phương tiện không thể

thiếu để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược ấy là xuất bản báo chí

Nhưng thực tiễn cho thấy, trong một nước Việt Nam đang bị cùm kẹp

dưới chế độ thống trị hà khắc của nước ngoài, báo chí cách mạng không thể

công khai ra đời. Ngay đến những người trong cuộc như Lê Thành Lư, chủ bút

tờ báo mang cái tên hẳn có dụng ý là Pháp Việt nhất gia (!) cũng đã phải chua

chát thốt lên khi tờ báo của ông bị đóng cửa: "... Có miệng không được nói, có

tư tưởng không thể giải bày, đó là cái số kiếp của 25 triệu đồng bào ta, mà

cũng là cái đặc ân của chính phủ Pháp ban cho 25 triệu đồng bào ta. Lịch sử

báo giới trải qua mấy chục năm nay, những người làm báo toàn là những

người miệng câm tai điếc...".

Nói cách khác, lịch sử đòi hỏi và đã hội đủ những tiền đề cho sự ra đời

một tờ báo cách mạng. Nhưng tờ báo ấy chỉ có thể thực hiện và lưu hành bí

mật. Đó chính là điều Nguyễn Ái Quốc đã rút ra khi Người sáng lập báo Thanh

Niên, số 1 ra ngày 21-6-1925 và từ nước ngoài đưa về lưu hành bí mật trong

nước. Qua 90 số báo do Người trực tiếp chỉ đạo, xuất bản đều đặn hằng tuần

trong gần hai năm, báo Thanh Niên đã làm một sứ mệnh trọng đại là vạch rõ

đường lối, thức tỉnh quần chúng, tập hợp đội ngũ, đào tạo cán bộ, chuẩn bị về

lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản.

Từ ngày tờ báo đầu tiên xuất bản số đầu cho đến tháng tám 1945, trong

vòng hai mươi năm, báo chí cách mạng gắn liền số phận của mình với cuộc

vận động cách mạng của nhân dân, khi phát triển mạnh trong cao trào, khi tạm

thời co lại do thoái trào, nhưng không lúc nào từ bỏ vai trò là những phương

tiện vận động chính trị của Đảng lãnh đạo hoặc của các đoàn thể nhân dân.

Qua hai mươi năm, có thể ghi nhận mấy thời kỳ báo chí hoạt động sôi

nổi nhất. Tiếp ngay sau khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, một loạt

22

báo chí được xuất bản và lưu hành, ở trung ương, ở nhiều địa phương và ngay

cả trong nhà tù, với nội dung chủ yếu là giáo dục cán bộ về con đường cách

mạng và đấu tranh chống những khuynh hướng chính trị sai lầm. Sự nở rộ này

về khách quan có lẽ phần nào do được khích lệ bởi kinh nghiệm thành công

của báo Thanh Niên song không phải là sự tự phát. Nghị quyết Hội nghị lần

thứ nhất của Trung ương (10-1930) đã nói rõ Đảng cần ra báo để phổ biến tôn

chỉ, mục đích của mình và bày tỏ thái độ đối với những vấn đề thời cuộc.

Những năm 1936 - 1939 là một thời kỳ hoạt động đặc sắc. Cuộc đấu

tranh sâu rộng của nhân dân thế giới chống hiểm họa phát-xít và thắng lợi của

Mặt trận Nhân dân Pháp ở chính quốc buộc nhà cầm quyền thực dân phải trả

lại tự do cho một số tù chính trị và nới lỏng chính sách ở Đông Dương. Những

người cách mạng tranh thủ thời cơ nhanh chóng vào cuộc, hoạt động báo chí

công khai với nhiều hình thức đầy sáng tạo. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian

ngắn, báo chí cách mạng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong nhân dân trước khi bị

nhà cầm quyền nhân danh chiến tranh bắt phải trở lại con đường đấu tranh

ngoài vòng pháp luật.

Trở về nước để chỉ đạo cách mạng sau bao nhiêu năm bôn ba ở nước

ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập tờ Việt Nam Độc lập với mục đích Kêu

gọi nhân dân trẻ với già - Đoàn kết vững bền như khối sắt - Để cùng nhau cứu

nước Nam ta.

Với sự ra đời của báo Cứu Quốc, cơ quan của Tổng bộViệt Minh (số 1

ra ngày 25-1-1942) của tờ Cờ Giải Phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động của

Đảng (ngày 10-10-1942), của Tạp chí Cộng sản chuyên về lý luận cùng với

nhiều tờ báo khác ở các địa phương hoặc của các đoàn thể, báo chí càng mạnh

mẽ dấn thân vào tiến trình cách mạng. Báo chí đã góp phần quán triệt đường

lối cứu nước trong cán bộ và nhân dân, thống nhất nhận thức, thống nhất hành

động và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị và tiến hành thành

công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

23

Trong thời gian ấy, do bầu không khí ngột ngạt giữa hai cuộc chiến

tranh thế giới và đặc biệt là sau khi phát-xít Nhật phát động chiến tranh Thái

Bình Dương, báo chí công khai tuy có tăng về số lượng và cải tiến nhất định

về hình thức, vẫn lâm vào bế tắc. Các nhà báo yêu nước và có lương tâm né

tránh thời cuộc; một số người đi vào con đường văn học, biên khảo hoặc tìm

về cội nguồn qua các đề tài lịch sử.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, đặt lên vai báo chí cách

mạng trách nhiệm chủ lưu trong đời sống báo chí cả nước. Mặc dù còn nhiều

khó khăn, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm tạo điều kiện phát triển

các phương tiện thông tin đại chúng. Từ những kinh nghiệm quý báu tích lũy

được sau mấy chục năm đấu tranh, báo chí đã làm tốt chức năng của mình

trong hai cuộc kháng chiến. Báo chí có mặt ở hàng đầu trên mọi trận tuyến: tại

miền bắc, hậu phương lớn của cả nước, ở vùng giải phóng miền Nam và ở

ngay các đô thị do đối phương kiểm soát. Gần bốn trăm nhà báo liệt sĩ đã ngã

xuống ở các mặt trận vì bom đạn trong khi đang hành nghề.

Qua việc cung cấp thực tế và chuẩn bị dư luận xã hội, báo chí đã đống

góp thêm tiếng nói cho Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo

công cuộc đổi mới. Ngày nay, báo chí đã thật sự trở thành một nhu cầu thiết

yếu trong đời sống xã hội, một sinh hoạt văn hóa và tinh thần phong phú, một

phương tiện thực thi dân chủ và đấu tranh cho công bằng xã hội; tóm lại báo

chí tham gia mọi lĩnh vực hoạt động nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt

Nam

Từ khoảng mươi ấn phẩm định kỳ với số lượng phát hành không đáng

kể hồi đầu thế kỷ đến nay trên dải đất Việt Nam đã hình thành một hệ thống

thông tin đại chúng hùng hậu và từng bước hiện đại. Đến nay chúng ta có 553

cơ quan báo, tạp chí với 713 ấn phẩm định kỳ. Ngoài báo viết thì Đài phát

thanh, Truyền hình, Báo điện tử, hãng tin Thông tấn xã Việt Nam cũng có

những bước tiến dài, làm cho diện mạo báo chí Việt Nam ngày càng sinh

24

động, hiện đại và phục vụ công chúng, phục vụ công cuộc đổi mới của Đảng,

Nhà nước và nhân dân ta ngày càng tốt hơn.

Báo chí Việt Nam đầu thế kỷ với tình hình quản lý báo chí cũng như

những hoàn cảnh xã hội đặc trưng của nó cũng đã làm cho thể loại “bóng gió”

mà “sâu cay” này có đất để phát triển. Mặc dầu tần suất xuất hiện của nó ít hơn

các thể loại như tin tức, phóng sự nhưng Tiểu phẩm đã khẳng định một chỗ

đứng của mình. Thể hiện rõ nét là nhiều tờ báo xuất hiện các chuyên mục chỉ

dành cho tiểu phẩm.

Nhìn vào hệ thống các tên gọi chuyên mục thì chúng ta có thể nhận thấy

“đất” dành cho tiểu phẩm. Chẳng hạn như Thời đàm, Nói hay đừng, Guồng

trần xoay máy, Câu chuyện hàng ngày, Câu chuyện hàng tuần, Nói sương

sương, Nói hay đừng, Cực chẳng đã, Giữa đường thấy chuyện...

Hoàn cảnh xã hội nào cũng có những mặt trái, có những mặt trái mà báo

giới khó đề cập một cách trực diện, vì đặc tính này mà “đất” cho tiểu phẩm

thời nào cũng có cơ hội để phát triển. Hay như nhận xét của TS Tạ Ngọc Tấn

trong thì : “Thay vì phần ngẫu hứng có chút thù tạc kiểu văn chương, tiểu

phẩm báo chí giờ đây đã nóng bỏng một ý thức xã hội và tính mục đích của nó

luôn luôn được xác định như một lý do tồn tại của mỗi tác phẩm. "Trong báo

chí, tiểu phẩm có dung lượng nhỏ và tần số xuất hiện ít hơn so với các thể

loại: tin tức, phóng sự, bình luận v.v...", nhưng "tiểu phẩm khẳng định vai trò

là một vũ khí sắc bén". (Tạ Ngọc Tấn- Từ lý luận đến thực tiễn Báo chí- NXB

VHTT 1999)

Ngay những tờ báo đầu tiên đầu thế kỷ XX như Đông Dương tạp chí,

Vịt Đực, Đông Tây, Duy Tân, Phong Hóa, Con ong…đã xuất hiện những bài

viết có tính châm biếm, manh nha của tiểu phẩm và dần dà phát triển rầm rộ

thành một thể loại đã làm nên tên tuổi của nhiều người làm báo thời bấy giờ.

Đến giai đoạn Cách mạng dân chủ, khi báo chí tiến bộ và cách mạng có điều

kiện thuận lợi, tự do, tiểu phẩm được phát triển lên một tầm cao mới, trở thành

25

một tiếng nói đấu tranh như một thứ vũ khí tư tưởng sắc lẹm với những cái tên

như Ngô Tất Tố, Tam Lang, Thông Reo, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công

Hoan…Mục đích hướng đến của tiểu phẩm trong giai đoạn này không nằm

ngoài sự đả kích và “đánh” vào bản chất xấu xa của chế độ thực dân nửa

phong kiến, chế độ thực dân và những “căn bệnh” mà chúng tạo dựng nên

trong xã hội bấy giờ. Đó là sự đớn hèn của những kẻ bán nước cầu vinh, thói

Âu hóa mà coi rẻ truyền thống dân tộc…

Đến thời kỳ Báo chí cách mạng phát triển mạnh và xuất hiện một dòng

báo cách mạnh, được đánh dấu bằng tờ Thanh niên ngày 21 tháng 6 năm 1925

do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập thì tiểu phẩm cũng có “đất” để thể hiện sức

mạnh thông tin của mình trên các mặt báo. Tiểu phẩm có sự hoàn thiện hơn về

đặc trưng thể loại và tính chiến đấu của báo chí cách mạnh cũng rõ nét hơn.

Đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ tiểu phẩm cũng mang tính…bút

chiến. Đó là những tác phẩm vạch trần những âm mưu, tội ác của đế quốc Mỹ

và bè lũ tai sai. Theo đó thời gian này xuất hiện một số cây bút tiểu phẩm tên

tuổi như Xích Điểu, Lê Kim, Lã Vọng, Tú Mỡ…mà đặc biệt là Hồ Chủ Tịch

với hàng loạt tiểu phẩm nổi tiếng mà chúng tôi sẽ đề cập và phân tích trong

chương này.

Và trong những tên tuổi tiểu phẩm nổi bật như chúng tôi đề cập, tiểu

phẩm báo chí Ngô Tất Tố và Hồ Chí Minh là gần với tiểu phẩm nguyên gốc

hơn cả nên sẽ là cơ sở quan trọng để từ đó cho thấy những dạng thức biến thể

của nó sau này.

II. Phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh

Về sự nghiệp báo chí cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự nghiệp báo chí Hồ Chí Minh có thể nói gắn chặt với sự nghiệp cách

mạng của Người. Hoạt động báo chí không tách rời hoạt động cách mạng và

hầu hết các tác phẩm báo chí, hoạt động báo chí của chủ tịch Hồ Chí Minh

26

không ngoài mục đích phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Chính Người đã khai

sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên “Quyền các dân tộc thuộc địa” đăng trên tờ

L’humanité ngày 18 tháng 6 năm 1919 đến tác phẩm cuối cùng “Thư trả lời

tổng thống Mỹ” đăng trên báo Nhân dân ngày 25 tháng 8 năm 1969 thì trọn

cuộc đời làm báo của chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một số lượng khổng lồ

với hơn 2000 bài báo các loại. Không chỉ là người viết báo, Hồ Chí Minh còn

là người sáng lập ra 9 tờ báo: Le Paria (Người cùng khổ năm 1922); Quốc tế

nông dân (1924); Thanh niên (1925); Công nông (1925); Lính Kách Mệnh

(1925); Thân Ái (1928); Đỏ (1929); Việt Nam Độc Lập (1941); Cứu Quốc

(1942). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khoảng 150 bút danh để viết lên

hàng ngàn tác phẩm báo chí bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp,

Nga, Hán, Việt… Người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam bằng

việc sáng lập ra tờ Thanh niên, số đầu tiên ra ngày 21/6/1925 như đã nói.

Chiếm vị trí nổi bật trong các tác phẩm của Người là những bài báo thể hiện

quan điểm chỉ đạo kịp thời đối với những vấn đề thời sự, những lĩnh vực liên

quan đến công cuộc kháng chiến và cứu quốc. Ngòi bút của Người bao quát

một cách rộng lớn các vấn đề của đất nước, phân tích bình luận một cách sắc

sảo, cụ thể cũng như đưa ra những đánh giá xác đáng và những giải pháp thiết

thực trong hoạt động thực tiễn.

Có thể nói các tác phẩm báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kho tàng

đồ sộ, phong phú với nhiều thể loại khác nhau như chính luận, tiểu phẩm,

truyện, ký và thơ… và ở thể loại nào Người cũng thể hiện bản lĩnh của một cây

bút hàng đầu.

2.2 Những nét độc đáo trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh

Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhận mình là một cây

bút tiểu phẩm. Khi tiếp một đoàn nhà văn Liên Xô năm 1957 Hồ Chí Minh

nói: “Tôi là cây bút tiểu phẩm, nhà chính luận. Gọi là nhà tuyên truyền tôi

27

cũng không tranh cãi, nhà cách mạng chuyên nghiệp là đúng nhất”. Như vậy,

ngay từ vế đầu tiên Người đã nhận, đã khẳng định mình là một nhà báo chuyên

viết về tiểu phẩm. Thật vậy, trong kho tàng báo chí đồ sộ của Người, thể loại

tiểu phẩm chiếm số lượng nhiều hơn cả. Chỉ riêng trên báo Nhân dân từ năm

1950 đến năm 1969 đã có 1200 tác phẩm báo chí thuộc thể loại tiểu phẩm.

Tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh từ những tác phẩm đầu tiên là bằng tiếng

Pháp và tiếng Trung Quốc cho đến hàng loạt tiểu phẩm tiếng Việt sau này.

Trong các tiểu phẩm của mình Người chủ yếu tập trung vào chủ đề vạch rõ tội

ác của bọn thực dân. Qua ngòi bút linh động của Người, bộ mặt chủ nghĩa thực

dân đế quốc và chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn chủ nghĩa đế quốc đã hiện lên với

tất cả tội ác, sự dã man đối với xứ thuộc địa nói chung và nhân dân Việt Nam

nói riêng. Cạnh chủ đề tố cáo tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tiểu

phẩm Hồ Chí Minh còn đề cập đến hàng loạt các chủ đề về chiến lược, chiến

thuật quân sự, về nghiệp vụ tuyên truyền và nội dung tuyên truyền giáo dục

trong từng thời kỳ, về thi đua, về đời sống mới, về biểu dương người tốt việc

tốt… Đặc biệt mảng đề tài về chống quan liêu, tham nhũng cũng đã được đề

cập một cách quyết liệt trong nhiều tác phẩm tiểu phẩm cả ở dưới chế độ ta lẫn

dưới chế độ thực dân, đế quốc.

Trong các tiểu phẩm của Người, tiếng cười đả kích châm biếm bao giờ

cũng thanh nhã, dí dỏm nhưng vẫn rất mạnh mẽ, sâu cay. Với con mắt tinh

tường, phân biệt rạch ròi hình thức và nội dung, bản chất và hiện tượng của thế

giới xung quanh, Người đi sâu vào phát hiện và lý giải những mâu thuẫn nội

tại của sự vật cũng như các quan hệ xã hội. Trong đó Người quan tâm đến

những mâu thuẫn giữa áp bức bóc lột và bị áp bức bóc lột, giữa xiềng xích nô

lệ và độc lập tự do, giữa sự giảo trá và hiện thực xã hội. Chính những mâu

thuẫn này là cơ sở trong tiếng cười châm biếm, đả kích trong tác phẩm, tiểu

phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và từ đó ta có thể khẳng định chủ đề quán

xuyến trong tiểu phẩm Hồ Chí Minh là những tiểu phẩm có tính chính trị để đả

28

kích, châm biếm bọn thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai bán nước. Cây bút tiểu

phẩm Hồ Chí Minh trên mạch nguồn sáng tạo đó đã làm việc không ngơi nghỉ.

Ngoài là một nhà hoạt động chính trị, một nhà báo thì Người còn là một nhà

văn, nhà thơ và là nhà văn hóa lớn, nên sự độc đáo hấp dẫn cũng như tính trí

tuệ trong các tác phẩm tiểu phẩm của Người luôn có sức hút và sự thuyết phục

tuyệt đối cho mọi đối tượng công chúng. Cùng với đó, tiểu phẩm của Người về

dung lượng đều ngắn gọn, súc tích, sắc sảo trong lập luận nhưng văn phong lại

rất giản dị, gần gũi.

Trên bình diện nội dung của các tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh, chúng ta

có thể chia ra làm hai giai đoạn khác nhau là giai đoạn trước cách mạng Tháng

Tám năm 1945 và giai đoạn sau Cách mạng. Việc phân chia này sẽ làm rõ hơn

chủ đề tư tưởng tác phẩm và định vị đề tài phản ánh theo hoàn cảnh lịch sử xã

hội để nghiên cứu sự vận động tư tưởng cũng như thủ pháp và đặc trưng phong

cách trong việc viết tiểu phẩm.

Một điều đáng chú ý trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám là giai

đoạn Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Pháp. Sự thâm nhập của ngôn ngữ và văn

hóa Pháp đã tạo nên tính hài, tính châm biếm trí tuệ như một nét đặc thù của

tính cách Pháp. Cũng do vậy mà các tiểu phẩm của Người trong giai đoạn này

rất đáng được nghiên cứu. Ngay từ tác phẩm “Động vật học” đăng trên báo

“Người cùng khổ” số 2 ra ngày mùng 1 tháng 5 năm 1922 tác giả viết về một

loài động vật “đi bằng hai chân, cũng có khi trở thành loài đi bốn chân, lông

lá lại mọc trên đầu.” Loài “động vật” này còn có những đặc tính là “nó ăn thịt,

ăn cỏ, ăn gạo và ăn cả tiền nữa.” Chỉ cần hình ảnh ngoài những thức ăn thông

thường thì loài “động vật” này còn biết ăn một thức ăn đặc biệt: “ăn tiền” đã

cho thấy sự mỉa mai, đả kích sâu cay về thói ăn bẩn của bọn quan lại bản xứ

bám gót bọn thực dân đế quốc. Cũng vậy, trong tiểu phẩm này Bác còn viết:

“cần chú ý rằng khi một con vật cá biệt đã đến trình độ ăn cả tiền nữa thì

thường bị coi là thoái hóa vì nó đã mất hết đặc tính tinh thần giống nòi rồi”.

29

Nghĩa là qua hình ảnh này là sự ám chỉ bọn quan lại mất hết lương tri loài

người không còn tinh thần dân tộc, giống nòi nữa. Một tiểu phẩm ngắn nhưng

chỉ cần ngần ấy hình ảnh đã vạch trần chân tướng của bọn quan lại bán nước.

Ở một tiểu phẩm khác bàn về tội ác của bọn thực dân đối với người bản xứ,

tiểu phẩm “Thù ghét chủng tộc”, Nguyễn Ái Quốc viết: “Mọi người đều biết rõ

những thành tích “lớn lao” của tên quan cai trị sát nhân Đác-lơ. Tuy nhiên

đâu có phải chỉ mình hắn mới có những thủ đoạn tàn ác với người bản xứ như

thế. Một gã tên là Puốc-xi-nhông đã hùng hổ nhẩy ra đánh một người Việt

Nam chỉ vì người này dám tò mò và cả gan nhìn ngôi nhà của người Âu trong

mấy tiếng đồng hồ. Hắn đánh anh và cuối cùng bắn một nhát vào đầu anh”…

“Ông Béc đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông thầu khóan Bơ-rét, sau khi cho chó cắn một người Việt Nam đã trói

tay người này lại đá cho đến chết…

Một người Pháp buộc ngựa của mình vào một cái chuồng trong đó đã có sẵn

con ngựa cái của một người bản xứ. Con ngựa đực nhảy chồm lên, làm cho

người Pháp tức điên ruột. Ông ta đánh người bản xứ hộc cả máu mồm máu

mũi, rồi đem trói lại, treo lên cầu thang”.

Tất cả những sự kiện trên với thời gian và con người cụ thể được kể ra

một cách tự nhiên, “tưng tửng” lặp đi lặp lại cho thấy như chính sự hung hãn

vô lương âm của bọn thực dân Pháp mặc sức giết người, hành hạ con người mà

không cần biết họ có tội hay không có tội. Qua tiểu phẩm này cho thấy người

xứ thuộc địa bị đối xử như những con vật không hơn không kém. Giá trị tố cáo

mạnh mẽ cũng nằm ở đây.

Sau cách mạng tháng Tám, Người vẫn tiếp tục quan tâm tới công tác

báo chí, cả viết báo lẫn quản lý báo chí. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đều đặn

viết cho các báo Sự thật, Nhân dân, Cứu quốc… Nội dung tiểu phẩm trong giai

đoạn này chủ yếu tập trung vào giáo dục đạo đức cán bộ, phê phán những thói

hư tật xấu vẫn còn tồn tại ở một bộ phận cán bộ. Cạnh đó, tiểu phẩm Hồ Chí

30

Minh tiếp tục vạch trần âm mưu, tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, đế quốc

Mỹ và bè lũ tay sai của chúng. Sau Cách mạng Tháng Tám tiểu phẩm báo chí

Hồ Chí Minh có thể nói tập trung vào hai mảng chính là tiểu phẩm tuyên

truyền giáo dục và tiểu phẩm chính trị. Có thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh viết

rất nhiều tiểu phẩm. Năm 1952 có 28 tác phẩm tiểu phẩm đăng trên các báo

Nhân dân, Cứu quốc, riêng tháng 7 năm 1951 Người đã viết 8 tiểu phẩm. Có

những tác phẩm tiểu phẩm gần như trở thành sự mẫu mực của thể loại báo chí

độc đáo này. Ví dụ tiểu phẩm “Tu ma đầu bò”, được bắt đầu bằng một câu

giao tiếp thật giản dị và gần gũi: “Nhiều bạn đọc bảo: D.X. nói chính trị nhiều

rồi, hôm nay hãy nói một chuyện gì hay hay, tức cười cho bà con nghe”. Và

sau đó đúng là một câu chuyện “hay hay, tức cười”. Chuyện kể về hai người

lính, một là lính Nga, một là lính Mỹ, cùng đứng gác ở hai bên đường phân

giới Đông và Tây Berlin. Họ cùng khoe và chứng minh về sự tự do, dân chủ ở

đất nước mình. Người lĩnh Mỹ khoe rằng, anh ta có thể nói với tổng thống Tu

ma rằng ông ta là “đầu bò”. Người lính Nga khoe rằng, anh ta có thể về nước

nói với đồng chí Stalin rằng, “Tu ma là đầu bò” mà vẫn không bị phạt. Logic

vận động của tiểu phẩm đơn giản đến bất ngờ và chính sự đơn giản đến bất

ngờ ấy đã tạo nên sự dí dỏm và đặc sắc của nó. Tiểu phẩm rất ngắn gọn, cô

đọng chỉ với 183 âm tiết. Cách viết tự nhiên, nhẹ nhàng, không một chút làm

duyên nhưng lại tạo ra sự gần gũi, đồng cảm với người đọc, từ đó làm nên sức

cuốn hút của tác phẩm tiểu phẩm. Có thể coi đây là một trong những tác phẩm

báo chí mẫu mực của Bác trên cả nội dung lẫn nghệ thuật thể hiện.

Vậy sự độc đáo trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh thể hiện trên những

phương diện nào? Chúng tôi sẽ lần lượt đề cập các giác độ này.

2.2.1 Vận dụng sáng tạo các thủ pháp của sáng tác văn học vào tiểu

phẩm.

Như đã nói chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nghệ sỹ lớn với những tố chất

và thiên tính của một nhà thơ, nhà văn vừa hiện thực, vừa lãng mạn và giàu

31

tính sáng tạo. Và cũng vì vậy khi làm văn hay viết tiểu phẩm báo chí Bác

không bị ràng buộc bởi những quan niệm lý thuyết thông thường, nhất là

những quy định có tính khuôn mẫu của thể loại. Bước ra khỏi những khuôn

mẫu để có những sự phá cách, “xé rào” là những điều làm nên sự sáng tạo

trong viết tiểu phẩm. Sự sáng tạo ấy lại đuợc chắp cánh khi tìm ra một hình

thức thể hiện hiệu quả nhất dù nó là văn học hay báo chí chính luận.

Nguyễn Ái Quốc trong tiểu phẩm đã vận dụng một cách sáng tạo các thủ

pháp và phương tiện nghệ thuật của sáng tác văn học. Điều này bộc lộ rõ ở hai

khía cạnh chính, đó là mạch nguồn và của văn học dân gian và sự “xâm lấn thể

loại” theo cách gọi của PGS.TS Phạm Thành Hưng. Chúng ta dễ dàng tìm thấy

tính chất điển tích, điển cố- một tập quán của văn học Việt Nam trong sáng tạo

tiểu phẩm của Người. Vậy nên tiếng cười của tiểu phẩm Hồ Chí Minh rất khỏe

khoắn, lạc quan, dân dã, bắt nguồn từ tiếng cười yêu đời trong văn học và văn

hóa dân gian.

Trong tiểu phẩm vè “Chết vì ốm đòn”(Báo Nhân dân, số 42 ngày

24.1.1952) là một ví dụ về sự sáng tạo trong vận dụng văn học vào tiểu phẩm.

“Tướng giặc Tátxinhi

Tháng trước về Pari

Rồi thì nó khai ốm

Không biết ốm bệnh chi?

Chắc là nó ốm đòn

Chiến dịch Quang Trung

Tát thua lung tung,

Chiến dịch Đề Thám

Tát thua mặt xám

Trận Lý Thường Kiệt

Tát thua tê liệt…?

32

Ở đây chất đồng dao, cách nói dân dã đã được triệt để vận dụng để có một tiểu

phẩm dạng vè thú vị mà hào sảng.

Riêng về cái gọi là “xâm lấn thể loại” không chỉ thấy ở những tiểu phẩm vè

mà đặc biệt là xuất hiện nhiều ở các tiểu phẩm tự sự có dáng dấp của một

truyện ngắn. Tác phẩm “Con rùa” là một tranh cãi thú vị giữa các nhà nghiên

cứu rằng nó là truyện ngắn hay tiểu phẩm, hay là một dạng “xâm lấn thể loại”

từ truyện ngắn sang tiểu phẩm tự sự. Kỳ thực khi phân tích kỹ tác phẩm sáng

tạo này từ ý đồ tư tưởng tác phẩm, phạm vi và tính thời sự của đề tài thì nó có

tính báo chí hơn là tính văn học. Hay nói cách khác là một sự sáng tạo độc đáo

về tiểu phẩm trên cái nền tự sự mang dáng dấp của một truyện ngắn.

Sự vận dụng tài hoa này đáng được xem là sáng tạo độc đáo trong phong

cách tiểu phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh.

.2 Độc đáo trong sử dụng ngôn từ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là một nhà văn hóa và là một con người có tri

thức uyên thâm, cả về Hán học và tri thức Tây học. Vậy nhưng trong nghệ

thuật sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm tiểu phẩm thì ngôn ngữ không

được dùng như một sự “khoe mẽ” kiến thức, mà nó đã được chuyển hóa thành

“Ngôn ngữ bình dân” một cách giản dị, dễ hiểu với vốn từ Việt nôm na được

dùng đúng hoàn cảnh. Sử dụng ngôn ngữ bình dân là một trong những đặc

điểm dễ nhận thấy trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh. Nếu làm một

phép thống kê thông thường thì trong hầu hết các tiểu phẩm của Bác, tần suất

xuất hiện lớp ngôn ngữ “nôm na, dân giã” này rất cao, kể cả trong những tiểu

phẩm chính trị.

Chẳng hạn trong các trích đoạn tiểu phẩm sau:

“Về chính trị, cần phải vạch rõ mưu mô xỏ lá của đại bợm Giôn. Càng thua

Giôn càng dãy dụa, càng đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam càng rêu rao cái

món hòa bình giả dối. Từ tháng 4 năm 1965, y đưa cái gọi là “đàm phán

không điều kiện” hòng bịp thiên hạ”.

33

Hay: “Chợt thấy mình hớ hênh lỡ miệng, hôm 15/3/1964 tổng Giôn đã thề

hết thành hoàng thổ công rằng y tuyệt đối “không có âm mưu Bắc tiến”.

(Chiến sỹ, nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ- Nhân dân 7/5/1964)

Rõ ràng hàng loạt các từ như “xỏ lá”, “đại bợm”, “bịp”, “hớ hênh lỡ

miệng”, “thề thành hoàng thổ công” hay các từ đệm như “cái món”…vốn dĩ là

những từ nôm na trong hệ thống ngôn ngữ bình dân. Nhưng việc sử dụng nó

đúng hoàn cảnh đã tăng sức thuyết phục và hiệu quả thông tin, tuyên truyền

cho tác phẩm. Lớp từ đó còn có hiệu quả lên án và vạch trần những thói “bịp

bợm” của chính quyền thực dân, đế quốc đối với các chính sách đánh chiếm và

cai trị cũng như những tội ác mà chúng gây ra cho dân tộc và nhân dân Việt

Nam.

Cạnh đó, ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ khẩu ngữ không chỉ được sử dụng ở

tần suất cao mà sử dụng một cách hết sức sáng tạo với những kết nối ngôn từ

linh động, thông minh và vô cùng bất ngờ. Sự xuất hiện các động từ như “láo”

kết hợp với các tính từ để nâng mức độ, cấp độ bản chất lên nhiều lần như “láo

toét”, “láo xược”…để vạch trần những âm mưu của kẻ thù. Không chỉ vậy việc

dùng ngôn ngữ theo cách này còn là một sự mỉa mai sâu cay và “chửi” vỗ mặt

vào bản chất dối trá của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chẳng hạn như Bác gọi

: “Bộ trưởng quốc Mỹ Mắc na ma ra là trạng nói láo” (ND 4.1.1966); “Bài

diễn văn láo xược của Đa lét không dọa nổi nhân dân châu Á”(ND 13.3.1955);

“Tổng Giôn luôn cho rằng mục đích của Mỹ là hòa bình…thực ra là láo toét”

(ND 20.7.1964).

Việc phiên âm tiếng nước ngoài, đặc biệt là phiên âm tên người, nhất là tên

giới cầm quyền một cách cố ý theo dụng ý châm biếm cũng là một đặc điểm

sáng tạo trong ngôn ngữ tiểu phẩm của Hồ Chí Minh. Chẳng hạn tổng thống

Mỹ Ai- xen- hao được Bác rút gọn lại là “Tổng Ai”, rất ít khi Bác gọi đầy đủ là

Tổng thống, mà chỉ gọi là “tổng” với cái tên phiên âm mai mỉa phía sau như

một bổ ngữ. Chẳng hạn “Mấy lời thành thật ngỏ cùng tổng Ai”. Ai ở đây chính

34

là Ai-xen- hao nhưng bởi tính đa nghĩa của từ tiếng Việt sau khi phiên âm,

“Ai” cũng có thể hiểu “xiên xẹo” là “bi ai” buồn phiền, khổ não, và “Ai” cũng

là một đại từ nghi vẫn hỏi người…Nixơn phó tổng thống Mỹ thì bị lược lại

thành “Nix” trong tiểu phẩm “Gửi Mr. Nixơn, phó tổng thống Mỹ”. Dòng mở

đầu là một câu văn “dở tây dở ta” rất gây ấn tượng: “Alo.Mr Nix! You đến Sài

Gòn với mục đích gì?”..

Một loạt các tướng tá Mỹ cũng đều “bị” phiên âm tên ra tiếng Việt một

cách dụng ý để cố tình châm biếm. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mắc-na- ma

ma - ra lúc thì “bị” gọi là “Mặt- nạ”, lúc thì “Mặt- nạ- ma-ra” để hai từ “mặt

nạ” và “ma” cạnh nhau như một hàm ý ám chí một tên ma mãnh, quỷ quyệt,dả

dối đeo mặt nạ. Sự phiên âm có chủ đích này như một sở trường đặc biệt và

lần đầu chỉ thấy trong tiểu phẩm của Bác Hồ. Ngoài ra một loạt quan

chức,tướng tá khác cũng được “phiên” cho những cái tên ấn tượng. Đing-rát-

Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ thì được gọi là “Đinh-rút”; tướng Ca-bô-lốt được

phiên là “Cá bỏ lọt” hay “Cá bột lót”; Tướng Mắc- a-tơ được phiên thành một

cái tên như chính bản chất độc ác của hắn “Mặt ác tệ”; Oét-mơ-len được gọi

là… “Vét mỡ lợn”…

Và việc “cố tình” phiên âm theo cách này, Bác không chú trọng đến việc

phiên âm chuẩn mà cố tính gán cho nó những âm tiếng Việt mang hàm ý xấu,

“bôi nhếch” để chế nhạo và dễu cợt một cách hài hước, dễ nhớ mà sâu sắc, như

chính bản chất xấu xa của chúng. Đây lại là một nét tài hoa, độc đáo trong

phong cách ngôn ngữ tiểu phẩm của Hồ Chí Minh.

Nghệ thuật chơi chữ cũng là một nét tài hoa trong phong cách tiểu phẩm Hồ

Chí Minh. Đó là việc tạo ra sự tương phản giữa các từ đồng âm khác nghĩa, là

sự kết hợp các tổ hợp từ, là việc phiên âm tiếng nước ngoài…tất cả đều xuất

hiện một cách cố ý, dày đặc trong khối lượng tiểu phẩm độ sộ của Người.

2.2.3 Độc đáo trong cách rút tít cho tiểu phẩm.

35

Ai cũng biết tít báo là yếu tố đầu tiên gây ấn tượng với độc giả. Một tác

phẩm báo chí thành công và thu hút người đọc chính là bắt đầu từ tít báo. Vậy

nên rút tít vừa là một khâu kỹ thuật và là cả một nghệ thuật đối với những nhà

báo có tài. Bởi đây là yếu tố đầu tiên để thông báo nội dung, chủ đề để thu hút

và định hướng tình cảm, cảm xúc và tư duy của người đọc. Và chính vì lẽ đó

không một người làm báo nào lại không “dằn vặt” để tìm ra một tít báo ấn

tượng.

Sự lao động sáng tạo này càng thể hiện rõ trong quá trình viết báo của chủ

tịch Hồ Chí Minh. Với một trình độ điêu luyện Người đã rất chú ý đến nghệ

thuật đặt tít cho các tác phẩm tiểu phẩm của mình. Đa phần những tít báo của

Bác ở thể loại tiểu phẩm đều rất ngắn gọn súc tích chứa đựng một lượng thông

tin tối đa mà vẫn hấp dẫn bạn đọc bởi sự bất ngờ, duyên dáng của nó. Nhiều

nhà nghiên cứu thống kê trung bình tít mỗi bài tiểu phẩm của Bác chỉ bao gồm

bốn từ, có tít chỉ vọn vẹn một từ, cá biệt có trường hợp bẩy đến tám từ. Chủ

tịch Hồ Chí Minh khi giật tít thường tìm những phương tiện từ vựng, ngữ pháp

thích hợp nhất nhằm tiết kiệm lời và tăng lượng thông tin cho bài.

Đó là tạo sự cân xứng, đối lập trong mệnh đề. Chẳng hạn có tít bài Người

viết: “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn” (Nhân dân số 194 từ ngày 13 đến

15/6/1954); “Mỹ thú Mỹ thua” (Nhân dân mùng 1 tháng 2 năm 1956). Đôi khi

Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng cả nối nói tắt trong hội thoại: “Mỹ thua to, Xô

thắng lợi”, “Tổng Ken dại dột”… Trong nhiều trường hợp giật tít khác Người

lược bớt quan hệ từ, chẳng hạn không dùng từ “của” làm cho từ biểu thị người

có quyền sở hữu chuyển thành từ biểu thị tính chất. Cách này mang lại cho tên

bài sắc thái ý nghĩa tế nhị ví dụ tiểu phẩm “Lại chuyện chó Mỹ”, lý ra phải viết

“chó của Mỹ” nhưng sự lược từ này là có chủ ý ám chỉ lũ Người lòng lang dạ

thú đã mất gốc gắn mình với bọn thực dân.

Một sự sáng tạo khác trong cách giật tít của Bác là sự chơi chữ tương phản

trong cùng một tít báo. Hình thức đặt hai từ điệp âm, láy âm gần nhau cũng là

36

một trong những ví dụ đáng quan tâm. Chẳng hạn như: “Xa lăng xa lù” (Nhân

dân 20/3/1952)- “xa lù” là phiên âm tiếng Pháp có hàm nghĩa mắng chửi. “Đế

quốc Mỹ bi và bí” (Nhân dân 29/12/1957).

Nguồn tít báo của tiểu phẩm Hồ Chí Minh rất đa dạng, trong đó thành ngữ,

tục ngữ, ca dao, văn học cổ điển trong và ngoài nước được vận dụng và khai

thác triệt để, từ đó sáng tạo ra một loạt các tít báo sinh động, muôn hình muôn

vẻ và rất…Hồ Chí Minh. Một số thành ngữ, tục ngữ được dùng nguyên dạng

như “Mồ cha không khóc, khóc mố mối”(Cứu quốc 12/10/1951); “Vỏ quýt dày

có móng tay nhọn” (Nhân dân 29/1/1955); “Treo đầu dê bán thịt chó”…Do

nghĩa của tục ngữ, thành ngữ là nghĩa bóng, ở phần mở đầu tiểu phẩm, Bác

giới thiệu ngay nội dung câu chuyện để người đọc nắm bắt ngay được vấn đề,

chẳng hạn bài “Mồ cha không khóc, khóc mồ mối” được mở đầu bằng câu:

“Mỹ đưa tiền, đưa thuốc đi giúp các nước khác, trong lúc đó, nhân dân Mỹ

sống thế nào?”.

Khi viết về thái độ chán ngán của dân chúng và phụ nữ Pháp vì cuộc chiến

tranh phi nghĩa, hao người tốn của ở Đông Dương, Người đã lẩy “Chinh phụ

ngâm”: “Vì ai nên nỗi nước này” (Nhân dân 13/3/1952) hoặc lấy ngay tên tác

phẩm làm tên tiểu phẩm: “Chinh phụ ngâm mới”(Nhân dân tháng 5/1954).

Có khi tít tiểu phẩm là những câu do chính miệng kẻ thù nói ra: “Từ Hoa

Thịnh Đốn đến hòa bình hay là mất cả áo lẫn da” (Nhân dân 3/3/1952), lấy ý ở

câu của Tát xi nhi kêu với Mỹ: “Người Pháp đã hy sinh áo lót và đang hy sinh

cả da thịt”. Những câu huênh hoang bịp bợm của kẻ địch đều được để trong

ngoặc kép: “Đạo đức của Mỹ”, “Văn minh kiểu Mỹ”, “Sinh hoạt kiểu Mỹ”…

Tít tiểu phẩm Hồ Chí Minh có sức hấp dẫn công chúng một cách đặc biệt vì

các lẽ: Về nội dung, nó phản ánh quan điểm, tư duy và sự minh triết trong tư

tưởng của Bác cũng như là sự thể hiện đường lối của một lãnh tụ đứng đầu với

các vấn đề thời sự cách mạng trong và ngoài nước. Đáp ứng được yêu cầu về

nhận thức tư tưởng, tình cảm và hành động của quảng đại quần chúng nhân

37

dân. Trên bình diện hình thức, tiểu phẩm của bác có lối diễn đạt rất dễ hiểu

ngắn gọn, cô đọng, rất dí dỏm và đa dạng. Đây là kết tinh của sự lao động sáng

tạo, trải nghiệm và học tập không ngừng trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách

mạng và hoạt động báo chí của Bác.

Nghiên cứu về tiểu phẩm Hồ Chí Minh trong sự tìm hiểu sự vận động và

phát triển đi lên nói chung của thể loại tiểu phẩm để có những so sánh trên cả

mặt nội dung và hình thức tác phẩm là rất cần thiết. Bởi lẽ những tác phẩm báo

chí tiểu phẩm của Người đã đạt đến độ chuẩn mực để đúc kết lại thành những

nét đặc trưng cơ bản của tiểu phẩm trong một thời kỳ và cả những ảnh hưởng

sau này trong quá trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn về thể loại tiểu phẩm và

biến thể của nó trong báo chí học.

III.Tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố.

3.1 Sơ lƣợc tiểu sử tác giả Ngô Tất Tố.

Ngô Tất Tố, sinh năm 1894, quê gốc là làng Lộc Hà, Từ Sơn, Bắc Ninh

(nay là xã Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt

Nam. Trước cách mạng, Ngô Tất Tố làm nhiều nghề: Dạy học, bốc thuốc, làm

báo, viết văn; từng công tác với nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời

báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo,

Hà Nội Tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt Nữ, Tiểu

thuyết thứ ba...

Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia ủy ban Giải phóng xã (Lộc Hà).

Năm 1946 Ngô Tất Tố gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc và lên chiến khu Việt

Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Nhà văn đã từng là: Chi hội trưởng Chi

hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các

báo: Cứu quốc khu XII, Thông tin khu XII, Tạp chí Văn nghệ và báo Cứu

quốc Trung ương... và viết văn. Ông đã là ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn

nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ I - 1948). Ngô Tất

38

Tố mất ngày 20 tháng 4 năm 1954 (tức 18-3 năm Giáp Ngọ) tại Yên Thế, Bắc

Giang.

Ngô Tất Tố có một khối lượng các tác phẩm khá đồ sộ bao gồm các tác

phẩm đã xuất bản: Ngô Việt Xuân Thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch,

1929); Vua Hàm Nghi với việc Kinh thành thất thủ (truyện ký lịch sử, 1935);

Đề Thám (truyện ký lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết, 1937 (báo

Việt Nữ), 1939 (Mai Lĩnh xuất bản); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1939

(đăng báo Thời vụ), 1941 (Mai Lĩnh xuất bản) 1952); Thơ và tình (dịch thơ

Trung Quốc, 1940); Đường Thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng

(phóng sự, 1940 (báo Hà Nội Tân văn); 1941 (Mai Lĩnh xuất bản); Thi văn

bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lý (tập I) và Văn học đời

Trần (tập II) (trong bộ Việt Nam văn học) (nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão

Tử (soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí

(dịch, tiểu thuyết lịch sử, 1942 (báo Đông Pháp), 1956); Kinh dịch (chú giải,

1953); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện

vừa, 1946); Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện

ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946, 1954); Nữ chiến sĩ

Bùi Thị Phác (chèo, 1951).

Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949-

1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: "Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến

đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác). Giải thưởng Hồ

Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt I, 1996).

3.2 Ngô Tất Tố nghề văn và nghiệp báo.

Một số người làm công tác nghiên cứu cứ đi giải mã một câu hỏi không đâu

là Ngô Tất Tố là nhà văn hay nhà báo? Bởi thực tế các tác phẩm văn học và

báo chí của ông cũng như hành trình chữ nghĩa của mình qua các giai đoạn

lịch sử khác nhau đều đương nhiên khẳng định ông là cả hai nhà. Cả nghề văn

39

lẫn nghiệp báo đều để lại những dấu ấn sáng tạo sâu sắc và sức làm việc hết

mình cho nghiệp cầm bút của mình.

Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tập trung vào phân tích và nghiên cứu

con người báo chí Ngô Tất Tố, và trong hàng loạt các tác phẩm báo chí của

ông, chúng tôi cũng chỉ một phần đề cập đến mảng tiểu phẩm như một thế

mạnh số một của cây bút tiểu phẩm xuất chúng này. Với những phát hiện mới

đây và những khảo cứu chưa đầy đủ thì lượng tác phẩm báo chí của Ngô Tất

Tố đã lên đến con số ngàn. Trong gần 1500 tác phẩm báo chí, ấy đa phần là

những tiểu phẩm báo chí có gía trị thời sự với những hình thức chuyển tải hết

sức độc đáo và sắc sảo. Và từ đó đã có rất nhiều những đề tài đề cập, nghiên

cứu về tiểu phẩm của Ngô Tất Tố.

Đánh giá về nội dung báo chí của Ngô Tất Tố, nhiều nhà nghiên cứu gần

như cùng quan điểm khi nhìn nhận những tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố

như vũ khí lợi hại đánh thẳng vào bọn cướp nước và lũ bán nước. Nội dung

báo chí của Ngô Tất Tố còn như “bản tố khổ chan hòa nước mắt và lòng căm

phẫn của nông dân” Việt Nam dưới chế độ đế quốc, phong kiến.

Đặc điểm nổi bật trong sự nghiệp báo chí của Ngô Tất Tố là ông viết nhiều

thể loại, trong đó tiểu phẩm báo chí và phóng sự là hai thể loại nổi tiếng nhất

của ông. Ông phụ trách nhiều chuyên mục của nhiều tờ báo hằng ngày và hằng

tuần. Chuyên mục nào ông cũng nêu rõ chủ trương về nội dung và hình thức

để các cộng tác viên theo đó mà tham gia viết bài cho chuyên mục. Nhà báo

Ngô Tất Tố đặc biệt lưu ý các đồng nghiệp ở các báo nên chú ý chọn lọc chữ

cho kỹ để đặt tên chuyên mục (tức “đề mục”) cho dễ hiểu và gây ấn tượng tốt,

không nên đặt đề mục một cách tùy tiện. Ông khuyên đồng nghiệp: “Đề mục

nếu đặt bằng chữ lố lăng, thì có khác gì cái mắt có rạp (bụi) mà không rửa”.

Về tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, nhiều đề tài nghiên cứu đã đúc kết thành các

chuyên đề như: Sức thuyết phục logic của văn tiểu phẩm Ngô Tất Tố; về sức

truyền cảm bằng hình tượng thẩm mỹ, về điển hình hóa mà không hư cấu; về

40

nghệ thuật trào lộng, đả kích và về phong cách đậm đà bản sắc dân tộc…Các

nhà nghiên cứu đã dày công sưu tầm và đã sao y bản gốc số lượng 1350 tác

phẩm đăng báo và thẩm định được 26 bút danh khác nhau của Ngô Tất Tố. Số

lượng mới tìm thấy chưa in thành sách chiếm 90% (ước khoảng 4000 trang).

Các nhà nghiên cứu cũng đã tìm và xác định được chính xác 13 bút danh đã

tìm thêm. Đây là kho tàng tư liệu phong phú, phản ánh toàn diện, trung thực xã

hội ta dưới ách nô lệ của thực dân Pháp nửa đầu thế kỷ XX và cũng là một

nguồn tư liệu vô tận để nghiên cứu vể đặc trưng phong cách tiểu phẩm báo chí

của Ngô Tất Tố.

Là một nhà văn, một người có vốn Hán học uyên thâm và cũng biết chữ

Pháp cũng như uyên thâm về văn hóa nên tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố

cũng rất giàu tính văn học và sử dụng các thủ pháp văn học một cách nhuần

nhuyễn để tạo tính hấp dẫn và sức thuyết phục cho các tác phẩm tiểu phẩm.

3.3 Nội dung tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố

Tiểu phẩm Ngô Tất Tố nội dung cũng có tính phân kỳ theo từng niên

biểu hoạt động báo chí của ông. Đó là giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám,

giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1954, thời điểm mà

ông gắn với các hoạt động ở chiến khu Việt Bắc và giai đoạn 1954 đến sau

này.

Dù ở giai đoạn nào thì tiểu phẩm Ngô Tất Tố cũng là một bức trang tổng

thể, rộng lớn phản ánh chân thực cảnh sống khốn cùng của những người nông

dân ở các vùng nông thôn, vạch rõ những tai ương, những bất công ngang trái

của chế độ thực dân phong kiến ở nước ta những năm trước cách mạng tháng

8. Ngòi bút chống thực dân phong kiến mạnh mẽ của ông đã tập trung lột tả

bản chất của giai cấp thống trị với những kiểu người điển hình trong xã hội cũ

qua các bức chân dung biếm họa hết sức tài tình. Đó là bộ mặt của những tên

như Pagie (Pages) Thống đốc Nam Kỳ, “Tôlăngxơ (Tholange) đại nhân” Thủ

yến Bắc Kỳ… Đó là những tên quan lại công chức người Pháp sống giàu có,

41

phè phỡn trên mồ hôi xương máu của người dân thuộc địa. Ngô Tất Tố đã chỉ

tên vạch mạch từng loại quan tham, khắc lên bộ mặt nham nhở của chúng

những dấu ấn không thể phai mờ, để người dân nô lệ muôn đời nguyền rủa

chúng. Ngô Tất Tố ngay từ đầu những năm 30 đã đứng vững trên lập trường

chủ nghĩa hiện thực phê phán để phản ánh thực trạng cuộc sống nên tiểu phẩm

của ông giàu tính hiện thực, luôn gắn bó với quần chúng nhân dân lao động.

Đặc biệt ông là người đã từng chứng kiến sự thối nát của chính quyền đương

thời và sự hèn hạ của bọn phản động đầu hàng thực dân cũng như chứng kiến

nhiều phong trào yêu nước bị đàn áp nên tinh thần yêu nước đã hun đúc và

khắc sâu trong tâm khảm của ông. Đáng chú ý nhân tố có ý nghĩa quyết định

nhất đối với ông là những ảnh hưởng của các phong trào cách mạng trong

nước và báo chí công khai của Đảng Cộng sản trong thời kỳ mặt trận dân chủ.

Sự tác động này làm ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần yêu nước của Ngô Tất

Tố và làm cho ngòi bút trong các tác phẩm tiểu phẩm trở nên sắc bén và lợi hại

hơn.

Đấu tranh trực diện với kẻ thù là một việc làm khó khăn phức tạp và

nguy hiểm nhưng với dũng khí của một ngòi bút chân chính đấu tranh cho

công bằng xã hội đã tạo nên sự thành công trong các tác phẩm tiểu phẩm của

Ngô Tất Tố. Trước hết, ông phê phán những tổ chức mị dân, núp dưới chiêu

bài dân cử như Viện Dân biểu Bắc Kỳ được Ngô Tất Tố giới thiệu một cách

hài hước: “Ông Lục đã hiến trái tim cho dân mà vẫn mạnh khỏe như thường”,

“không phải bênh vực quyền lợi cho dân mà cứ làm phó hội trưởng hội nhân

quyền” những người như Phan Huy Lục rõ ràng không thể đại diện cho quyền

lực của người dân. Trong tiểu phẩm “Còn chờ gì nữa mà không giải tán Viên

dân biểu” Ngô Tất Tố đã phê phán cách gay gắt tổ chức mỵ dân vô tích sự này.

Ông viết: “Chưa có dân viện tình cảnh dân chúng đã thế này. Từ khi có dân

viện tình cảnh dân chúng vẫn thế này. Dân chúng không thể mong chờ gì vào

thứ đồ chơi ấy. Giải tán đi là phải”. Không chỉ tố cáo những thủ đoạn ngu dân,

42

mỵ dân của bọn thực dân phong kiến, Ngô Tất Tố còn vạch ra những âm mưu

đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện, nhà xăm… nhằm ru ngủ và làm tê liệt

tinh thần đấu tranh, ý chí phản kháng của người dân đặc biệt là tầng lớp thanh

niên để đẩy họ vào con đường trụy lạc, làm đất nước đến bờ vực của diệt vong.

Bên cạnh việc lên án một cách mạnh mẽ, kết tội bè lũ thực dân cướp

nước cùng bọn vua quan phong kiến bán nước, Ngô Tất Tố còn dành nhiều

tâm huyết trong các tiểu phẩm phản ánh về nối thống khổ của các tầng lớp

nông dân lao động ở thôn quê đang bị bao vây bởi những hủ tục lạc hậu cùng

với các thủ đoạn bóc lột tàn ác của giai cấp thống trị. Từ đó ông lên tiếng

mạnh mẽ và tìm cách bênh vực quyền lợi cho họ.

Trên bình diện nội dung, tiểu phẩm của Ngô Tất Tố là những bài báo có

tính chiến đấu như một thứ vũ khí tinh thần sắc bén đấu tranh chống lại bất

công ngang trái và những thói bịp bợm rởm đời dưới chế độ cũ và là tiếng nói

vì công bằng xã hội trong quyền sống của con người. Trên nền nội dung ấy,

cách thức chuyển tải nội dung qua các tác phẩm tiểu phẩm cũng thể hiện

những sáng tạo mang dấu ấn riêng của tác giả, như nhận xét cảu Vũ Trọng

Phụng là “Một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho”.

3.4 Những đặc trƣng và sự sáng tạo trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố.

3.4.1 Sử dụng có hiệu quả bút pháp trào phúng, châm biếm.

Cùng thời với Ngô Tất Tố, các nhà văn hiện thực như Vũ Trọng Phụng,

Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đều là những cây bút bậc thầy về nghệ thuật

trào phúng, nhưng phân tích kỹ từ bút pháp, giọng điệu thì sẽ nhận thấy “chất”

riêng của Ngô Tất Tố. Với Ngô Tất Tố là giọng điệu trào phúng thâm thúy, sâu

cay, vừa có tính triết lý, vừa là những suy nghĩ về thói đời ngang trái và chỉ ra

hàng chục, hàng trăm thứ rởm đời khôi hài ở bọn cầm quyền, lừa đảo, trọc

phú. Có khi mọi việc được bắt đầu từ một từ ngữ nhưng đằng sau nó là một

tấm hài kịch. Ngay từ đầu thế kỷ, bọn thực dân Pháp đã dựng lên chiêu bài

nước Pháp văn minh đi khai hóa các dân tộc thuộc địa. Hai chữ khai hóa mang

43

nghĩa tiến bộ, thiện chí nhưng thực chất là ngụy tạo cho hai từ xâm chiếm. Ngô

Tất Tố đã vạch trần chiêu bài này trong văn phong châm biếm sâu cay của

mình: “Chẳng ai dùng đến chữ “đánh chiếm”, người ta bảo đó là công cuộc

rất nhân đạo của mấy nước văn minh vì thiên chức khai hóa cho những dân

tộc dã man… Hễ mà mở miệng trước mặt lũ dân bị chinh phục, mấy ông văn

minh không bao giờ quên cái giọng chứa chan nhân nghĩa ấy. Tôi đương

thành tâm kính phục cái nhân đạo của mấy ông đó và muốn tin rằng ở trên đời

này chỉ có cuộc khai hóa, không bao giờ có cuộc đánh chiếm thế nhưng tôi vẫn

còn tự phân vân và tự hỏi thầm “nếu quả như vậy thì cái Âu châu đại chiến

1914 cũng do mấy ông Nhật Nhĩ Man định khai hóa nước Pháp à?” Sự trào

lộng, mỉa mai thể hiện trong sự phân tích những mâu thuẫn, nghịch lý nội tại

trong chính sự xâm lược được che đậy dưới mỹ từ khai hóa này.

Ngòi bút châm biếm của Ngô Tất Tố còn có nhiều giọng điệu khác

nhau. Lúc thì tấn công trực diện, lúc thì vận dụng cách nói gián tiếp mỉa mai

sây cay những mặt trái, bất công trong đời sống xã hội.

3.4.2 Sự độc đáo về việc sử dụng giai thoại, điển tích trong tiểu

phẩm

Một trong những yếu tố tiếp nhận ảnh hưởng từ văn học vào các tác

phẩm báo chí của Ngô Tất Tố là tính chất giai thoại, điển tích trong các tiểu

phẩm. Ngô Tất Tố thường sử dụng điển tích từ kho tàng tri thức Hán học để

vận dụng một cách linh động vào các trường hợp, hoàn cảnh khác nhau để qua

đó làm sáng tỏ các sự kiện và tăng tính hấp dẫn, thuyết phục cho sự kiện. Tiểu

phẩm “Bộ thuộc địa và chàng Đặng Bá Đạo” là một trong những ví dụ tiêu

biểu, chứng minh điều này. Mục tiêu đả phá, lên án của tiểu phẩm này là Bộ

Thuộc địa Pháp với chủ trưong quái đản là chuyển người Việt Nam sang châu

Phi và 5 vạn dân Do Thái sang Đông Dương. Sự thật, đây là một trò lố núp

dưới cái vỏ nhân đạo của Bộ Thuộc địa Pháp nhằm lấy tiếng với thế giới trong

việc cưu mang người Do Thái vốn đang bị đe dọa bởi chủ nghĩa Apácthai phát

44

xít trong thời kỳ chuẩn bị chiến tranh thế giới thứ 2. Bất bình và muốn vạch

trần sự dối trá này, Ngô Tất Tố đã lấy giai thoại của người Trung Hoa cổ đại

để so sánh. Đó là giai thoại “Bỏ con lấy cháu” trong câu chuyện của Đặng Bá

Đạo.

Có thể kể lại vắn tắt chuyện này như sau: Hai vợ chồng Bá Đạo đưa một

người con và một đứa cháu (gọi bằng Bác) đi chạy loạn. Giữa đường thấy tình

thế nguy cấp, khó lòng giữ nổi cả con lẫn cháu. Bá Đạo bàn với vợ và quyết

định trói con để lại, không cho theo, chỉ đem đứa cháu đi, với lập luận: Cháu là

giọt máu duy nhất của người em xấu số để lại. Vợ chồng Bá Đạo còn trẻ vẫn

còn có thể đẻ tiếp. Vợ Bá Đạo vô cùng đau khổ nhưng phải nghe theo. Hết thời

loạn lạc, Bá Đạo muốn có con nối dõi tông đường nhưng dường như hắn bị

trời phạt, đã không có nổi. Thậm chí, có lần thấy vợ già, hắn tìm người trẻ, lấy

làm lẽ, hi vọng sẽ đẻ được con. Trớ trêu thay, cưới xong hắn mới biết mình lấy

nhầm phải một đứa cháu, bèn đuổi đi… Đó là một câu chuyện tàn nhẫn, một bi

kịch cay đắng trong quan hệ ứng xử và tình thế lựa chọn của con người. Nhà

văn Lỗ Tấn trong một tạp văn của mình đã từng lên án giai thoại đó. Trước các

chi tiết: Bá đạo trói con vào cây, không theo kịp mới bỏ tay ra, Lỗ Tấn lên án

là: “Lấy chuyện ghê tởm làm điều thú vị, lấy chuyện không có tình nghĩa làm

luân lý, kỷ cương, vu khống miệt thị cổ nhân dậy làm điều bậy cho hậu thế”.

Ngô Tất Tố khai thác triệt để ý nghĩa của giai thoại này để lên án mưu đồ xảo

trá của chính phủ Pháp. Tác giả đã phân tích một cách mỉa mai: “Với Đông

Dương nước Pháp là một mẫu quốc, lẽ tất nhiên Đông Dương cũng như con

của nước Pháp rồi. Còn dân Do Thái, ngoài cái nghĩa đồng tông với quan cựu

thủ tướng Blum, chính phủ Balê không có tình gì với họ. Vậy thì dân Do Thái

cũng như cháu của nước Pháp chứ gì?”. Không dừng lại ở đó, tác giả còn tiếp

tục vạch trần bộ mặt bịp bợm của Bộ thuộc địa Pháp trong chủ trương nêu

trên: “Nhưng có người khác lại nói trong cuốn “Ấu học tầm nguyên” rằng: lúc

chạy loạn Bá Đạo vẫn có thể chạy cả con lẫn cháu. Vì muốn lấy tiếng nên anh

45

ta mới trói thằng con vào gốc cây để nó khỏi theo mình đi, dù nó có kêu van

mặc kệ”.

Trong tiểu phẩm trên, giai thoại được dẫn ra từ hai nguồn sách cổ: Tấn

thư và Ấu học tầm nguyên. Yếu tố điển tích giai thoại này còn xuất hiện trong

rất nhiều tiểu phẩm khác của Ngô Tất Tố chẳng hạn như “Quan tham biện chợ

lớn với ông Khổng Tử?” sử dụng một trích dẫn trong luận ngữ. Hay ông Pagés

chắc có đọc qua Trang Tử sử dụng điển tích Thư Công nước Tống lừa đàn khỉ

trong chuyện chia hạt dẻ. Hay tiểu phẩm “Ông thống sứ với trận mưa hôm nọ”

sử dụng điển tích Vua Thang sám hối, cầu đảo trong Thương thư và quan phủ

Trịnh Hoằng giảm thuế cứu dân, xe đi đến đâu trời mưa đến đó trong sách Hậu

Hán thư… Để vận dụng được những điển tích, điển cố này trong hoạt động

sáng tạo tác phẩm tiểu phẩm của mình, Ngô Tất Tố đã bộc lộ những khả năng

khai thác một tri thức Hán học khổng lồ.

Không chỉ vận dụng các điển tích, điển cố trong kho tri thức Hán học,

ông còn sử dụng từ nguồn văn học Việt Nam. Trong tiểu phẩm “Khổ cho ông

thần Bạch Mã” tác giả dẫn ra tích thần Bạch Mã trong “Việt điện u linh” và sự

tích Tô Hiến Thành trong “Tang thương ngẫu lục”.

3.4.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố

Đọc tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, hầu hết công chúng đều bị thuyết phục,

lôi cuốn vào cách dẫn chuyện, tình huống, hoàn cảnh bởi cách sử dụng từ ngữ

trong tiểu phẩm hết sức linh hoạt. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tiểu phẩm

Ngô Tất Tố là yếu tố quan trọng tạo ra sức hấp dẫn, độ lan tỏa đối với bạn đọc.

Đầu tiên phải kể đến sự khéo léo, tài tình trong nghệ thuật đặt tít. Hàng loạt

những tít cho tiểu phẩm như “Đã dại thì thôi định hùn ai”, “Vừa chạy vừa quay

cổ lại, vừa quay cổ lại”, “Mạ lại tin tức”, “Ai bảo quan sĩ xứ mình không gan”,

“Đại hiền nói dối”, “Có mà kiện lên thiên đình”, “Đen đỏ đỏ đen”, “Ngắn hai

dài một”, “Hitle và con gà mái Biên Hà”, “Còn chờ gì nữa mà chưa giải tán

Hội dân biểu, trò nhố nhăng” …

46

Ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố đã kết hợp được nét sắc

nhọn mạnh mẽ của ngôn ngữ báo chí với chất thâm thúy, nhuần nhị, hàm súc

của ngôn ngữ văn chương. Hầu hết các tác phẩm tiểu phẩm của Ngô Tất Tố

người đọc đều cảm thấy tác giả đã rất dụng công trong việc tìm tòi cách thức

thể hiện để ngôn ngữ sử dụng trong tiểu phẩm đạt được hiệu quả thông tin cao

nhất. Ngôn ngữ tiểu phẩm Ngô Tất Tố không chỉ biểu đạt những ý tưởng một

cách thông thường mà còn tham gia trực tiếp vào việc xây dựng và kiến trúc

nội dung trong tiểu phẩm.

Ngôn ngữ tiểu phẩm Ngô Tất Tố là một sự kết hợp ngẫu hứng của một

con người đầy trải nghiệm vốn kiến thức phong phú của Hán học, văn học dân

gian và cả ngôn ngữ hiện đại. Vậy nên sự diễn đạt trong các tiểu phẩm gần như

không có sự lặp lại của một cấu trúc văn bản và ngôn từ có tính khuôn mẫu.

Chỉ có điều trong cách giật tít, mặc dầu hấp dẫn, nhưng các âm tiết hơi nhiều.

Tít tiểu phẩm của Ngô Tất Tố chủ yếu từ 4 tâm tiết trở lên, có tiểu phẩm dài

đến 12 âm tiết như : “Nếu vậy thì Ích hữu ái quốc thư xã lâu rồi” in trên báo

Đông phương năm 1931.

Trong việc sử dụng từ ngữ, ngoài sự điềm đạm của một người có kiến

thức và văn hóa, đôi lúc ta còn thấy Ngô Tất Tố còn sử dụng “ngoa ngôn” theo

đúng nghĩa đen để bày tỏ những cung bậc tình cảm qúa sức chịu đựng trước

những thói đời giả dối. Lúc này sự “điềm đạm” tạm nhường chỗ cho những

ngôn từ hơi “cay độc” , “ngoa ngoắt” nhưng rất “đáng đồng tiền bát gạo” khi

“vận” vào những tình huống buộc phải chửi như thế mới đau.

Tiểu phẩm “Một người oan, một người không oan” là một trong những

ví dụ điển hình cho việc sử dụng ngôn ngữ có tính “ngoa ngôn” này. Tháng

giêng năm 1939,vì một bức biếm họa của tờ Quốc gia tuần báo, cả ba người là

Trương Tửu, họa sỹ Nguyễn Đỗ C, và bà quản lý báo (vợ một người làm thuốc

chữa bệnh giang mai là Lê Ngọc Thiều), đều bị chịu phạt tiền. Vốn không ưa

tính cách Trương Tửu, lại căm ghét thói hợm mình của tên chủ thuốc lậu, Ngô

47

Tất Tố đã viết tiểu phẩm nổi tiếng nói trên. Trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố

“chửi” một cách cay nghiệt: “Không biết từ trước tới giờ có ai uống thuốc nhà

ấy mà khỏi được bệnh. Người ta chỉ biết về đường học vấn, Thiều thì cũng như

Phách mà Phách thì cũng như Vụ, cả ba đều xứng đáng treo làm câu đối hai

câu “Hán tự đếch biết Hán, Tây tự đếch biết Tây” của ông Tú Xương…

Hắn là hắn cũng tưởng rằng: nhà mình nhà mình đã có đất phát về nghê

bán thuốc lậu, thì cũng có đất phát về nghề báo chứ gì? Nhưng, hình như mả

tổ nhà hắn chỉ có ống thụt, không có quản bút”

Ở đây tác giả đã mỉa mai hai anh em nhà Lê Ngọc Thiều và Lê Huy

Phách cứ cho rằng mình có tài kinh doanh thuốc lậu thì cũng có tài…làm báo.

Những câu chửi “chết người” này chắc làm cho đối tượng bị chửi phải muối

mặt mà không dám ngẩng đầu lên với thiên hạ. Chưa hết, Ngô Tất Tố khi chửi

Trương Tửu thì càng ngoa ngoắt hơn, cũng trong tiểu phẩm này ông viết:

“Nhưng ông Trương Tửu thì không oan một chút nào. Ai bảo ông ấy “thí

nghiệm ngòi bút” với hạng người ấy? Trời cho mình bút, cũng nên trân trọng

mới phải. Lẽ nào cái chỗ chỉ chứa thuốc lậu mà cũng chọc nó vào được”.

Ngôn ngữ của Ngô Tất Tố không có tính ám chỉ, mà đã chửi ai, đánh ai

là…đánh trực diện, đánh đích danh. Đây không đơn thuần chỉ là một cách diễn

đạt, mà ngôn ngữ sử dụng đã thể hiện bản lĩnh, chất kiêu hùng của người làm

báo. Và theo cách này thì ngôn ngữ đã là một phần không thể thiếu góp phần

quan trọng kiến tạo nên chất tiểu phẩm, tính chiến đấu trong nội dung tiểu

phẩm báo chí Ngô Tất Tố.

Trên bình diện đặc trưng, cấu trúc và nghệ thuật viết tiểu phẩm của nhà

báo Ngô Tất Tố chúng ta còn thấy ông sử dụng các thủ pháp đặc trưng khác

như tính tự sự của văn học. Mỗi một tiểu phẩm có cấu trúc chặt chẽ, có nhân

vật, có hình tuyến, có cả hoàn cảnh điển hình trong một không gian và thời

gian thực và ảo. Điều này không khó lý giải vì cũng như Nguyễn Ái Quốc,

Ngô Tất Tố là một nhà văn nên sử dụng các thủ pháp văn học trong viết tiểu

48

phẩm là điều dễ nhận thấy. Ngoài ra khái niệm “xâm lấn thể loại” như

PSG.TS Phạm Thành Hưng đưa ra cũng nhận thấy trong các tác phẩm tiểu

phẩm của Ngô Tất Tố. Tất cả những điều nói trên đã tạo thành một phong cách

tiểu phẩm khó lẫn vào ai và tạo dựng nên một tên tuổi Ngô Tất Tố trong dòng

chảy của lịch sử báo chí Việt Nam. Một tên tuổi tiểu phẩm hàng đầu của thế kỷ

XX không dễ gì có sự thay thế…

Tiểu kết chƣơng 2

Tiểu phẩm báo chí của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố trong thế kỷ

XX, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ có thể nói là một bộ phận chuẩn mực về

thể loại của nền báo chí Việt Nam. Đây là những quả bom tấn trên mặt trận

văn hóa tư tưởng tấn công trực diện và có hiệu quả vào chủ nghĩa thực dân, đế

quốc và bè lũ tay sai bán nước. Cùng với đó là tiếng nói đấu tranh cho những

bất công ngang trái trong xã hội để bảo vệ và đứng về những người dân lương

thiện bị áp bức bót lột.

Không chỉ chuẩn mực trên bình diện nội dung mà hình thức tác phẩm và

nghệ thuật viết tiểu phẩm của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố cũng đạt đến

độ chuẩn mực bằng tất cả sự độc đáo từ kết cấu, nghệ thuật đặt tít, dùng từ đến

việc vận dụng nhuần nhuyễn các thủ pháp văn học khác trong sáng tạo tiểu

phẩm báo chí.

Cả hai tên tuổi lớn Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố có những nét chung

từ vốn kiến thức phong phú trong học thuật và văn hóa, và đặc biệt đều là

những người viết văn nên sự ảnh hưởng qua lại giữa văn chương và tiểu phẩm

báo chí tạo nên những phong cách độc đáo trong sáng tạo tác phẩm tiểu phẩm.

Nghiên cứu sự vận động và phát triển của tiểu phẩm trong lịch sử đến

thực tiễn hoạt động báo chí đương đại sẽ là một thiếu sót nếu không nghiên

cứu đến hai tên tuổi này. Họ là những đại diện xuất sắc nhất cho tiểu phẩm báo

chí trong thế kỷ XX để soi vào đó chúng ta có những nhận định, so sánh các

49

bước phát triển tiếp theo của tiểu phẩm và các biến thể của nó trong hoạt động

thực tiễn và cả lý luận về báo chí học sau này.

Chƣơng III.

BIẾN THỂ CỦA TIỂU PHẨM TRÊN BÁO CHÍ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI

I. Diện mạo báo chí Việt Nam đƣơng đại.

Báo chí Việt Nam hiện tại có thể nói có những bước phát triển mạnh mẽ và

vượt bậc trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức trình bày. Sự đa dạng và

thành công của các loại hình báo chí cũng như sự phát triển vượt bậc và

trưởng thành của đội ngũ những người làm báo cũng đã để lại những dấu ấn

cho báo chí Việt Nam hiện đại sau hơn 20 năm đổi mới. Báo chí ngày càng

khẳng định là phương tiện thiết yếu của đời sống xã hội, không chỉ là công cụ

phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà còn thực sự là diễn đàn

của các tầng lớp nhân dân. Hoạt động thông tin ngày càng đáp ứng tốt hơn

nhu cầu của nhân dân trong việc nắm bắt tình hình thời sự chính trị trong nước

và quốc tế, những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa

học, công nghệ và mọi mặt của cuộc sống. Tính hai chiều, tính công khai,

minh bạch, dân chủ trong hoạt động thông tin ngày càng được coi trọng. Các

loại hình thông tin phát triển phong phú, đa dạng.

Riêng hệ thống báo in ở nước ta hiện nay đã có 553 cơ quan báo, tạp chí

với 713 ấn phẩm báo chí và hơn 1.000 bản tin. Ngoài hai thành phố lớn là Hà

Nội và thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều cơ quan báo chí Trung ương,

tất cả các tỉnh, thành phố còn lại đều có báo, tạp chí riêng. Hàng năm số lượng

bản báo được phát hành ở nước ta khoảng 600 triệu bản. Bình quân có 7,5 bản

báo/người/năm. Hầu hết các trung tâm tỉnh lỵ đều được đọc báo phát hành

trong ngày.

Bên cạnh sự phát triển của báo in thì báo nói cũng phát triển mạnh mẽ.

Hệ thống phát thanh của nước ta hiện nay gồm hàng trăm đài phát sóng, trong

đó riêng Đài Tiếng nói Việt Nam trực tiếp quản lý 11 đài phát sóng với công

50

suất hơn 8.000KW. Tín hiệu của Đài Tiếng nói Việt Nam đã được truyền dẫn

qua vệ tinh. Hệ thống phát thanh địa phương gồm 64 đài ở các tỉnh, thành phố;

606 đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện, trong đó có 288 đài phát sóng FM.

Đài Tiếng nói Việt Nam hiện có 6 hệ chương trình gồm 4 hệ chương trình đối

nội, 2 hệ chương trình đối ngoại với tổng thời lượng hiện nay là 151 giờ phát

sóng mỗi ngày; phủ sóng 97% địa bàn dân cư. Thời lượng và nội dung chương

trình của các đài phát thanh địa phương cũng ngày càng được nâng cao. Mới

đây nhất là đài Tiếng nói Việt Nam đã đưa chương trình phát thanh có hình

vào phát song thử nghiệm và bước đầu cũng tạo những sức hấp dẫn nhất định.

Cùng với báo nói và báo in, báo hình cũng giữ được thế mạnh của mình.

Hiện nay, Đài Truyền hình Việt Nam đã phát sóng trên 5 kênh: VTV1 (chính

trị, tổng hợp), VTV2 (khoa học - giáo dục), VTV3 (thể thao, văn hoá, thông tin

kinh tế, giải trí), VTV4 (thông tin đối ngoại và phục vụ cho người Việt Nam ở

nước ngoài) và VTV5 (chương trình tiếng dân tộc). Cả nước có khoảng 10

triệu máy thu hình với gần 85% số hộ gia đình được xem truyền hình. Ngoài

đài truyền hình quốc gia, còn có 4 trung tâm truyền hình khu vực của đài quốc

gia và ở 64 tỉnh, thành phố đều có đài truyền hình hoặc đài phát thanh - truyền

hình.

Một loại hình báo chí đang phát triển mạnh ở nước ta là báo điện tử phát

trên mạng Internet. Theo nghiên cứu của giới chuyên môn, trong những năm

qua, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng viễn thông Internet cao nhất

trong khu vực ASEAN với tốc độ bình quân là 32,5%năm. Hiện đã có 6 nhà

cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP), khoảng 20 nhà cung cấp dịch vụ

Internet (ISP), hơn 50 nhà cung cấp thông tin (ICP) và báo điện tử trên

Internet, có khoảng 2.500 trang tin điện tử (website) đang hoạt động. Người sử

dụng có thể truy cập Internet gián tiếp qua mạng điện thoại cố định tại tất cả

64 tỉnh, thành phố trong cả nước với hình thức dịch vụ rất đa dạng: Internet trả

trước, Internet trả sau, các dịch vụ truy cập Internet qua mạng điện thoại di

51

động. Đến cuối năm 2004, ở nước ta đã có hàng triệu thuê bao sử dụng

Internet với số người sử dụng chiếm gần 5% dân số. Thông tin trên mạng

Internet ngày càng phong phú, đa dạng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thông

tin của công chúng trong nước và trên thế giới; tạo cơ hội thuận lợi cho việc

mở rộng quan hệ giao lưu, hội nhập quốc tế, tăng cường sự hợp tác và hiểu

biết lẫn nhau giữa Việt Nam và bạn bè trên thế giới.

Qua bức tranh toàn cảnh này cho thấy báo chí Việt Nam hiện đại đang

có những bước tiến vững mạnh và đang tạo ra những hiệu quả truyên thông rõ

nét, trở thành một phương tiện tinh thần quan trọng không thể thiếu được trong

đời sống xã hội.

II. Biến thể của tiểu phẩm và hiệu quả của nó trong quá trình tạo

lập và định hƣớng dƣ luận xã hội.

Thử tìm một khái niệm.

Như đã trình bày trong chương lý luận, biến thể nghĩa là thể đã biến đổi đi

ít nhiều so với thể gốc. Theo nghĩa này, trong sự vận động và phát triển của thể

loại, việc xuất hiện những biến thể mới phù hợp với báo chí hiện đại là một

quy luật có tính tất yếu. Tiểu phẩm báo chí và việc xuất hiện các biến thể của

nó không là ngoại lệ. Nh vËy vÒ mÆt lÞch sö thÓ lo¹i, tiÓu phÈm ®· thùc sù

biÕn ®æi. ViÖc dïng tõ BiÕn thÓ lµ hoµn toµn phï hîp, ph¶n ¸nh ®óng thùc tiÔn

b¸o chÝ thÕ giíi còng nh ho¹t ®éng cña b¸o chÝ ViÖt Nam hiÖn nay.

Vậy biến thể tiểu phẩm là gì?

Truy về tiểu phẩm nguyên gốc, với các đặc điểm hình thức và nội dung

phản ánh của nó chủ yếu bó hẹp trong một số những dạng thức nhất định.

Trong đó tiểu phẩm nặng tính văn học và những đặc trưng về kết cấu ít linh

động và còn dài dòng trong sử dụng ngôn từ. Đề tài của tiểu phẩm trong thế kỷ

XX, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ cũng bó hẹp trong những nội dung do tính quy

định đặc thù của xã hội. Đó là xã hội thực dân nửa phong kiến, chế độ nô lệ và

52

sự đàn áp của kẻ thù Pháp và Mỹ. Vận động xã hội xung quanh trục lịch sử

này nên nội dung của tiểu phẩm cũng quay quanh đó như một quy luật.

Xã hội phát triển, đất nước đi qua cuộc chiến và tiến hành kiến thiết rồi đổi

mới. Hơn 30 năm kết thúc chiến tranh và hơn 20 năm đổi mới, diện mạo đất

nước đã khác. Kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí phát triển

mạnh mẽ. Tất yếu báo chí truyền thông cũng phát triển rực rõ với một diện

mạo mới như đã trình bày trên.

Hiện đại hoá báo chí để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công

chúng là một yêu cầu mang tính sống còn. Trong câu chuyện hiện đại hoá báo

chí ngoài việc hiện đại kỹ thuật làm báo, in ấn và trình bày thì hiện đại hoá

cách thức thể hiện, hiện đại hoá và sáng tạo thể loại cũng là một tất yếu trong

thực tiễn hoạt động báo chí. Công chúng khó tính hơn, ít thời gian vật chất hơn

và trình độ tiếp nhận thông tin cao hơn, đối tượng công chúng đa dạng hơn vì

lẽ đó việc cách tân thể loại, sáng tạo và hiện đại hoá phương thức thể hiện nội

dung tác phẩm trở thành công việc hàng ngày của những người làm báo và các

cơ quan báo chí.

Tiểu phẩm báo chí cũng vậy, chính sự vận động có tính quy luật nói trên

buộc thể loại này cũng phải “vận động” để tạo ra những biến thể mới hẫp dẫn,

sinh động hơn cả về nội dung lẫn hình thức để đáp ứng được yêu cầu thông tin

của bạn đọc.

Biến thể tiểu phẩm báo chí theo cách này có thể hiểu là phái sinh của tiểu

phẩm với những bước phát triển đa dạng và cao hơn về cả đề tài, nội dung và

cách thức thể hiện. Biến thể của tiểu phẩm mang tính chính luận rõ nét với tư

duy lý lẽ chặt chẽ, lập luận logic phản ánh góc cạnh về mọi mặt trái của xã hội

hiện tại với tính chiến đấu cao trong một dung lượng hình thức ngắn nhất có

thể.

Tình hình sử dụng biến thể tiểu phẩm trên báo in hiện đại.

53

Có thể nói báo in hiện đại là mảnh đất màu mỡ cho thể loại này phát triển.

Hầu hết các báo đều sử dụng thể loại này và dành cho nó một vị trí trang trọng

trên mặt báo. Nói cách khác, sự phổ quát là hiện tượng thường thấy của tiểu

phẩm trên báo in hiện nay. Nói là sự phổ quát vì tiểu phẩm biến thể không

những xuất hiện trên nhiều báo mà ngay trong bản thân mỗi tờ báo, nhất là các

tờ báo lớn có uy tín thì nó xuất hiện đều đặn, định kỳ như một chuyên mục

nhất thiết phải có. Báo phát hành bao nhiêu kỳ trong tuần thì chừng ấy kỳ xuất

hiện tiểu phẩm biến thể. Đây là một thế mạnh mà không phải thể loại nào cũng

xuất hiện với tần suất cao như vậy.

Tiểu phẩm biến thể xuất hiện chủ yếu trên trang 1 và trang 2 của các báo.

Một số tờ mục này nằm ở trang giữa. Đáng chú ý, xã luận là một thể loại báo

chí xuất hiện mạnh một thời gian dài, là tiếng nói chính thống bày tỏ quan

điểm, chính kiến của tòa soạn trước một vấn đề thời sự lớn. Nhưng càng về

sau chỉ còn lại những tờ báo Đảng, Quân đội Nhân dân…tiếp tục sử dụng thể

tài xã luận. Trên các báo khác, xã luận thay bị thay dần bởi các mục như

“Chuyện thời cuộc”, “Thời cuộc suy ngẫm”, “chào buổi sáng”, “Thời

luận”…với một cách viết và kết cấu linh động, mềm mại và rất văn chương.

Nó mà một dạng của biến thể của tiểu phẩm mà chúng tôi tạm gọi là tiểu phẩm

chính luận khi nghiên cứu trong luận văn này.

Như đã nói, tiểu phẩm biến thể xuất hiện dày đặc trên báo in hiện đại và

xuất hiện trên hàng loạt các báo ngày và báo tuần. Đó là “Nói hay đừng” trên

báo Lao động, là “Chuyện thường ngày” trên báo Tuổi trẻ, là “Giữa đường

thấy chuyện” trên báo Pháp luật Việt Nam, là “Cà phê sáng” trên báo Pháp luật

TP.Hồ Chí Minh, là “Lai rai kỳ này” trên báo Sức khỏe và đời sống, là

“Chuyện làng giáo” trên Giáo dục và Thời đại, là “Mõ” trên báo Nông thôn

ngày nay, là “Tôi xem,đọc,thấy và nghe” trên báo Thể thao Văn hóa…

54

Cũng từ dạng thức của tiểu phẩm biến thể, đã tạo ra những tên tuổi đáng

chú ý gắn với các bút danh: Lý Sinh Sự, Ba Thợ Tiện,Thảo Hảo, Lê Thị Liên

Hoan, Mõ, Bút Bi, Remote…

Những tiểu phẩm phái sinh này đã làm cho hơi thở báo chí hiện đại thêm

sinh động, duyên dáng trên phương thức thể hiện tác phẩm. Và cũng làm cho

tính chiến đấu của báo chí thêm sức nặng không thể chối cãi trên bình diện nội

dung.

Sự đa dạng về đề tài, nội dung phản ánh của biến thể tiểu phẩm.

Báo chí ngày càng có những đóng góp to lớn trên các phương diện khác

nhau của đời sống xã hội. Nếu như trong nửa đầu thế kỷ XX, nội dung của tiểu

phẩm chủ yếu tập trung xoay quanh hai trục chính là chống kẻ thù xâm lược và

bè lũ tay sai và và bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng Đảng, xây dựng

chính quyền còn non trẻ. Nhiệm vụ cách mạng giai đoạn này là vậy nên báo

chí cũng tập trung vào mảng đề tài này. Tiểu phẩm cũng không nằm ngoài

những dòng chảy thông tin mang tính quy luật đó.

Đất nước đổi mới và phát triển, hàng loạt vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa,

quan hệ quốc tế…nảy sinh làm cho báo chí tham gia một cách sâu rộng hơn

vào việc giám sát và quản lý xã hội. Chức năng của báo chí thay đổi mạnh mẽ

và tính phản biện cũng như chức năng giám sát ngày càng được coi trọng.

Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao hoạt động báo chí và tạo cho nó một

hành lang pháp lý rộng để hoạt động và giúp Đảng, Nhà nước trong công tác

quản lý, điều hành xã hội của mình.

Báo chí trở thành cầu nối chính sách giữa Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã

hội với người dân và ngược lại. Đất nước đổi mới và diện mạo xã hội thay đổi

từng ngày trên tất cả các phương diện: Xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, các

chính sách xã hội, các vấn đề văn hóa, quan hệ quốc tế…Mặt khác nền kinh tế

vận hành theo cơ chế thị trường nên mặt trái của nó cũng bộc lộ rõ nét cùng sự

phát triển xã hội. Đó là nạn tham ô tham nhũng, lãng phí, là phát sinh các loại

55

tội phạm, tệ nạn xã hội, những mặt trái trong các lĩnh vực khác nhau…và báo

chí không đứng ngoài cuộc những vấn đề này.

Báo chí nói chung đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả trong công

tác phòng chống tham nhũng, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Tiểu

phẩm phái sinh, các biến thể của nó tỏ ra vô cùng đắc dụng trong việc phê

phán, đả kích những mặt trái này trong xã hội.

Tiểu phẩm trong quá khứ nặng tính văn học, nhiều lúc tính “văn nghệ” giải

trí nặng hơn tính chính luận, còn biến thể tiểu phẩm trên báo chí hiện đại thì

nặng tính chính luận hơn. Cũng vậy mà tiểu phẩm biến thể gần như gánh vác

hộ vai trò “xã luận” trên mặt báo và theo đó phạm vi đề tài gần như mở rộng

hết “biên độ”, từ những vấn đề quốc kế dân sinh đến các vấn đề bình dị trong

cuộc sống. Đề tài tiểu phẩm biến thể rộng lớn như vậy nên từ phương diện nội

dung tác phẩm đến hình thức phản ánh của tiểu phẩm biến thể cũng sinh động,

đa dạng, vượt ra ngoài khuôn thước lý luận báo chí học về thể loại tiểu phẩm

bởi những biến thế hấp dẫn, đa dạng và sinh động của nó.

Từ chống tham nhũng, giáo dục, y tế, môi trường đến văn học, điện ảnh,văn

hóa, lối sống, đạo lý và hằng ha sa số các vấn đề của xã hội hiện đại đều là đề

tài phản ánh của biến thể tiểu phẩm…

Hiệu quả truyền thông của tiểu phẩm biến thể.

Thứ nhất phải khẳng định một điều rõ ràng rằng tiểu phẩm biến thể không

dành cho những người viết báo thích “ve vuốt”, viết những bài báo kiểu “dĩ

hòa vi quý”. Tiểu phẩm biến thể là những “quả bom tấn” về thông tin, vậy nên

tính chiến đấu của nó là một nét đặc thù. Tiểu phẩm biến thể chỉ có “chê” và

“đánh” mà không có khen. Nó như một đặc tính bất di bất dịch, bởi khen thì dễ

lẫn sang với thể loại khác kiểu như “người tốt việc tốt”. Nhưng cái “mắng” và

“đánh” trong tiểu phẩm không phải là kiểu “đánh” cho chết, đánh cho đổ mà là

đánh trên tinh thần xây dựng. Chỉ ra cái xấu, mặt trái mà hướng đến việc cải

56

thiện những mặt trái thành cái có ích. Bởi đặc tính chiến đấu với tinh thần xây

dựng cao đã tạo nên hiệu quả truyền thông rất đặc biệt của tiểu phẩm biến thể.

Tiểu phẩm biến thể đang thu hút được sự quan tâm một cách sâu rộng của

bạn đọc. Cạnh đó nó đang là “đối tượng” chú ý của nhiều nhà nghiên cứu về lý

luận báo chí. Điều này thêm khẳng định thế mạnh và hiệu quả truyền thông mà

nó mang lại.

Vì là một thể loại có kết cấu ngắn gọn và linh động, lại đứng trên lập

trường của đại đa số người dân, đứng về lẽ phải và sự công bằng, cộng với một

thái độ phê phán trực diện vào cái xấu nên tiểu phẩm biến thể nhanh chóng đáp

ứng được những yêu cầu thông tin thời hiện đại của độc giả. Đó là đánh đúng,

đánh trúng, đánh không khoan nhượng, đánh có trí tuệ mà lại tiết kiệm được

thời gian của bạn đọc.

Đối tượng bị đánh theo cách “mỉa mai” và “chửi sương sưong” của tiểu

phẩm biến thể luôn cảm thấy “đau hơn hoạn” mà cũng đành chịu trận. Đôi lúc

tiểu phẩm biến thể “đánh” ai, “đánh” cái gì thì đối tượng bị “đánh” mười mươi

biết là “đánh” mình nhưng cũng đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đó cũng là cái

tài của người viết tiểu phẩm và các phái sinh của nó.

Một điều rất đáng chú ý là đối với các thể loại khác như tin, phóng sự,

phóng sự điều tra…việc phản hồi và “phản đòn” về những mặt trái, tổ chức, cá

nhân được đề cập là điều thường xảy ra. Các cơ quan báo chí và nhà báo luôn

phải chuẩn bị “nghênh chiến” với những phản hồi dạng này. Còn tiểu phẩm

biến thể rất ít khi bị phản hồi vì muốn phản hồi cũng không phải dễ dàng. Trừ

những trường hợp giới cầm bút mượn tiểu phẩm biến thể “choảng” nhau thì có

thông tin qua lại như một kiểu bút chiến trên báo bằng…tiểu phẩm. Chẳng

hạn trong tiểu phẩm biến thể “Hội chứng huyễn tưởng” ở chuyên mục “Giữa

đường thấy chuyện” của Ong Bò Vẽ trên Báo Pháp luật Việt Nam là một ví dụ.

Chúng ta hãy chú ý đến đoạn đối đáp giữa hai nhân vật “tui” và “ông” trong

tiểu phẩm biến thể này”

57

“-Chẳng hiểu sao càng ngày tui càng thấy lắm người huyễn tưởng mình

kinh khủng ông ạ.

-Ừ, nhất là các “nhà” phải không?

- Đúng rồi, đôi lúc mới “lều” thôi mà trên thì chỉ có trời, dưới có đất và ở

giữa chỉ có mình. Mới làm được dăm bài thơ đăng báo,viết được vài cái

truyện, dăm bảy bài báo đã “nổ” tận trời.

- Giới trẻ mắc bệnh này đã thấy thương, nhưng thương hơn là những người

đã có danh mà vẫn khát danh kinh khủng ông ạ.

- Cái này nó không có điểm dừng hả ông?

- Chắc vậy, ông đã thấy ai một lúc giỏi cả “cầm, kỳ, thi,họa” chưa?

- Rồi!

-Ai?

- Thúy Kiều chớ ai!

- Không, tui nói thời bây giờ!

- À, thời nay thì tui thấy có người vẽ nhăng cuội mấy bức tranh, làm nhăng

cuội mấy bài thơ, viết nhăng cuội mấy bài hát, rồi cho đăng trên chính báo

nhà mình thì có, còn tài năng thực thì…không thấy.

- Không có tài sao vẽ được, viết nhạc được và làm thơ được.Ông rõ là đố

kỵ!

- Tui có là nhà gì đâu mà đố kỵ, vả lại tui đâu có mắc bệnh huyễn tưởng!

- Cũng lạ,có người còn hùa vào bốc những “tác phẩm” ấy tận mây xanh,

cũng trên báo…nhà mình trồng được.

- À, cũng là một thứ bệnh ấy mà!

- Huyễn tưởng á?

- Vừa huyễn tưởng vừa…méo mó nhân cách viết lách!”.

Rõ ràng không gọi đích danh ai trong tiểu phẩm biến thể này, nhưng bạn

đọc, nhất là giới báo chí, văn nghệ sỹ thừa biết người bị mắng vì thói “háo

danh” và “huyễn tưởng” ấy là ai. Một người vừa vẽ tranh, viết nhạc, làm thơ

58

đăng trên “báo của mình trồng được” lại gọi những tay nịnh đầm tung mình

lên mây cũng trên chính báo mình thì chỉ có duy nhất một người mà…không

nói cũng biết ấy thôi. Vậy nhưng người bị “mỉa”, dẫu biết mười mươi “nó”

mỉa mình cũng chỉ biết “ngậm bồ hòn làm ngọt”, chẳng nhẽ lại đi “phản đòn”

để rồi nhận đấy là mình?

Hiệu quả truyền thông, sức mạnh của tiểu phẩm biến thể trên báo chí hiện

đại nằm ở những đặc trưng thể loại rất chuyên biệt này, đặc trưng mà các thể

loại báo chí khác khó có thể có được.

III. Một số tác giả tiêu biểu về phong cách sử dụng tiểu phẩm biến

thể.

Trên báo in giai đoạn hiện tại xuất hiện nhiều cây bút tiểu phẩm và sử dụng

các biến thể tiểu phẩm một cách duyên dáng, nhuần nhuyễn, để lại ấn tượng

sâu sắc trong lòng ban đọc. Chúng tôi khảo sát nhiều tác giả để thấy sự đa

phong cách và những sáng tạo trong cách viết để tạo ra những dạng thức tiểu

phẩm phái sinh mới trong tương quan chung so sánh với thể loại tiểu phẩm đã

từng xuất hiện trong quá khứ. Các cây bút tiểu phẩm như Hữu Thọ gắn với báo

Nhân dân, Ba Thợ Tiện, Lý Sính Sự gắn với báo Lao động và một số báo khác,

Thảo Hảo gắn với báo Thể thao Văn hóa, Bút Bi gắn với báo Tuổi trẻ…

Họ là những người tiên phong trong việc sáng tạo, cách tân tiểu phẩm để có

những dạng thức hết sức đặc biệt, hấp dẫn bạn đọc và tạo nên một phong cách

tiểu phẩm biến thể không lẫn vào đâu được.

3.1. Nhà báo Hữu Thọ.

Báo giới vẫn gọi Hữu Thọ là một cây bút tiểu phẩm bậc thầy trong thời kỳ

đổi mới. Sự suy tôn này có cơ sở của nó bởi chính những tiểu phẩm sắc sảo,

góc cạnh và thể hiện một trách nhiệm với thời cuộc của ông đã nói lên điều đó.

Sự trải nghiệm cuộc sống và kinh qua nhiều vị trí công tác quan trọng nên tiểu

phẩm của Hữu Thọ đa dạng và sâu sắc như chính vốn sống, tri thức văn hóa và

sự trải nghiệm của ông. Nhà báo Hữu Thọ nguyên Tổng biên tập báo Nhân

59

Dân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, từng là Trợ lý Tổng

Bí thư BCH T.Ư Ðảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm khoa báo viết, Học

viện Báo chí và Tuyên truyền, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh. Trên bình diện là một cây bút tiểu phẩm xuất sắc, những tuyển tập của

ông được xuất bản trong thời gian qua đã để lại một kho tàng độ sộ các tác

phẩm tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể đủ để chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu

những đặc trưng của tiểu phẩm báo chí hiện đại và những phái sinh của nó.

Nhà báo Hữu Thọ đã xuất bản sáu tập tiểu phẩm, mỗi tập gần tới 300 trang.

Ðó là Người hay cãi, viết trong thời kỳ từ 1987 - 1991; 99 chuyện đời (1993 -

1995); Sông đỏ, sông đen (1992-1995); Của chùa (1996 - 1999); Chạy... (2001

- 2003); Ô, dù, "lọng" (2004-2006, NXB Chính trị quốc gia, 2006).

Vậy đặc điểm về phong cách tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của nhà báo

Hữu Thọ là gì?

Trên phương diện nội dung và phạm vi đề tài, tiểu phẩm của Hữu Thọ đa

phần là tiểu phẩm chính luận với nội dung chủ yếu đề cập đến vấn đề xây dựng

con người mới, xây dựng Đảng và một mảng quan trọng nữa là đấu tranh với

cái xấu mà đối tượng bị phê phán chủ yếu là những quan chức biến chất tham

ô tham nhũng, cộng với nạn chạy chọt, ô dù làm tha hóa nhân cách con người

và nhân cách người làm công tác quản lý lãnh đạo. Có những người từng là

cán bộ trung kiên, có nhiều hy sinh, đóng góp cho cách mạng trong kháng

chiến nhưng đã không đứng vững trước cám dỗ vật chất của thời kinh tế thị

trường. Có những cây bút, những thuyết giảng hôm nay nói thế này, ngày mai

trở chiều nói theo cách khác. Đó chính là sự sa ngã, dao động , là thiếu một

niềm tin ở cái thiện, ở chiều hướng phát triển tốt đẹp của xã hội, ở lý tưởng mà

Ðảng và đại đa số nhân dân ta đang theo đuổi. Những người đó bằng mọi mưu

mô, bất chấp thủ đoạn để đạt được một "danh vị" nào đó trong xã hội, có ních

đầy túi của mà không cần giọt mồ hôi lao động chân chính nào - thì rốt cuộc

cũng tự biến mình thành những kẻ tầm thường, ích kỷ và đồi bại. Đó là đối

60

tượng để tiểu phẩm của Hữu Thọ chỉa mũi nhọn một cách sâu cay và không

khoan nhượng vào đó. Hàng loạt những tiểu phẩm về ô, dù, lọng, nạn ăn đất,

về vụ Lã Thị Kim Oanh…là những dẫn chứng cho mảng đề tài nóng hổi có

tính thời sự trong thời điểm xảy ra sự việc.

Một đặc trưng khác dễ thấy trong tiểu phẩm hay tiểu phẩm biến thể của

Hữu Thọ là nói thẳng, nói thật, nói không e dè, với một tư duy phản biện xã

hội rõ nét. Những đặc điểm về nội dung này tạo nên tính chính luận cao trong

tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của ông.

Về đặc trưng thể loại, tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ về sự sắc sảo và tài

hoa trong sử dụng ngôn từ, đặt tít, lập luận thì xứng đáng được xem là một cây

bút bậc thầy. Tuy nhiên nếu đặt nó trong dòng chảy chung của thể loại thì mô

típ tiểu phẩm của ông vẫn trung thành với tiểu phẩm truyền thống về mặt thể

loại. Có nghĩa là trên bề mặt cấu trúc tác phẩm, tiểu phẩm vẫn là những giọng

điệu đã từng xuất hiện. Đó là giọng điệu mỉa mai trong một bài viết đầy tính tư

duy và kết hợp của những cái cười thâm thúy. Vì vậy hầu như tiểu phẩm của

nhà báo Hữu Thọ ít thấy những “phái sinh” hay những biến thể rõ nét trong

sáng tạo về cấu trúc của tiểu phẩm biến thể. Chúng tôi sẽ có những sự so sánh

khi phân tích đặc trưng kết cấu của tiểu phẩm biến thể với các tác giả khác ở

phần sau của luận văn.

Tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ là những bài viết với dung lượng từ từ

500 đến 1000 chữ, trung bình là 600 đến 800 chữ. Rất hiếm thấy các bài viết

dưới 500 chữ và trên 1000 chữ ở các tiểu phẩm báo chí. Dung lượng chữ

trong một tiểu phẩm như vậy cũng gần với cấu trúc tiểu phẩm trước đó của

Ngô Tất Tố hay của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Về nghệ thuật đặt tít, qua khảo sát 479 tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ

được tập hợp lại trong cuốn 3 cuốn in chung một tập “Người hay cãi”, “99

chuyện đời” và “Của chùa” của NXB Thanh niên năm 1999 thì tít tiểu phẩm

61

có từ 1 đến 13 âm tiết. Trong đó sử dụng với tần suất cao hơn cả là là từ 2 đến

6 âm tiết.

Cụ thể trong tỷ lệ khảo sát về độ dài của tít bài được cụ thể hóa trong

bảng sau. (Khảo sát trên 479 tiểu phẩm)

Số âm tiết Số Tít tiểu phẩm Tỷ lệ phần trăm

1 22 4.64%

2 100 21,10%

3 66 13,92%

4 114 24,05%

5 62 13,08%

6 48 10.13%

7 24 5,07%

8 13 2,74%

9 9 1,50%

10 12 2,54%

11 2 0,41%

12 2 0,41%

13 2 0,41%

Bảng thống kê này cho thấy, tít có độ dài 4 âm tiết (24,5%) là sự lựa chọn

số 1 của tác giả, tiếp đến là 2 âm tiết (21,10%), rồi 5 âm tiết và 6 âm tiết. Việc

sử dụng tít ít chữ nhưng hàm súc gần như là một yêu cầu quan trọng của tiểu

phẩm và biến thể tiểu phẩm. Các tít có độ dài từ 8 đến 13 âm tiết chỉ chiếm

một số lượng rất nhỏ.

Về ngôn từ trong tiểu phẩm báo chí của Hữu Thọ, chúng ta thấy hầu hết là

ngôn ngữ của tư duy và lập luận. Vậy nên đây là vẻ đẹp của sự sắc sảo về ngôn

ngữ tư duy và chính luận. Ngôn ngữ tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ tỉnh táo,

62

sắc lẹm và mai mỉa. Cũng chính yếu tố này mà chúng tôi xếp tiểu phẩm và tiểu

phẩm của ông vào nhóm tiểu phẩm chính luận.

Cũng chính chất chính luận này nên ngôn ngữ trong tiểu phẩm của nhà báo

Hữu Thọ gần như thiếu một cái gì đó hình ảnh, mềm mại và mượt mà trau

chuốt trong ngôn ngữ và hình ảnh so sánh có tính ẩn dụ cao trong tác phẩm

nên tiểu phẩm “thực” và “đanh” quá, đôi lúc giảm đi ít nhiều tính hấp dẫn của

thể loại này. Hay như nhận xét của TS Nguyễn Sỹ Đại trong một bài báo in

trên báo Nhân dân ngày 09/08/2006 thì: “Nếu nói về nhược điểm, hay nói đúng

hơn là điều tôi lấy làm tiếc, là tác phẩm của Hữu Thọ tuy sắc sảo, chặt chẽ

trong cấu tứ và lập lý nhưng thiếu sự mượt mà trau chuốt của ngôn từ và hình

ảnh, có không nhiều hình tượng và biểu tượng nên bớt đi độ sâu và sự lấp lánh

của tác phẩm”.

Tóm lại với nhà báo Hữu Thọ, tiểu phẩm và phái sinh của nó có thể xếp

vào nhóm tiểu phẩm chính luận. Ông trung thành với dạng thức truyền thống

của thể loại. Khảo sát phong cách tác giả của ông để thấy trong thời kỳ đổi

mới, tiểu phẩm đã đi một bước xa hơn trên phương diện nội dung và độ rộng

của đề tài. Cùng với đó là một minh chứng cho sức mạnh của thể loại cũng

như vẻ đẹp của tính chính luận và tư duy phản biện trong tác phẩm tiểu phẩm.

Đây là một sự vận động rõ nét so với tiểu phẩm báo chí trong thế kỷ thứ XIX.

3.2 Biến thể trong tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện.

Ba Thợ Tiện là bút danh nổi tiếng của nhà thơ, nhà báo Hoàng Thoại Châu.

Tác giả sinh ngày 17 tháng 7 năm 1947 tại làng Giáp Ba xã Điện An- Điện

Bàn- Quảng Nam. Hoàng Thoại Châu trở thành Ba Thợ Tiện đầu những năm

90 của thế kỷ 20. Bút danh này xuất hiện cùng chuyên mục “Nói hay đừng”

trên báo Lao động chủ nhật. Sau 5 năm gắn bó với báo Lao động với chyên

mục này, cái tên Ba Thợ Tiện vẫn xuất hiện nhưng ở các chuyên mục khác của

các báo khác như Nói sương sương, Cực chẳng đã, Nghịch lý, Tréo cẳng

63

ngỗng…Trên các báo Thanh niên thời đại, Nhà báo và công luận, Nông thôn

ngày nay…

Ba Thợ Tiện gọi những bài báo ngắn dạng này là Tạp văn, và như chính tác

giả nói tạp văn của mình đề cập nhiều đến “những vấn đề kinh tế chuyên

ngành”. Đây có thể xem như một đặc trưng về nội dung trong tiểu phẩm của

Ba Thợ Tiện bên cạnh nhiều nội dung gai góc khác. Ba Thợ Tiện gọi tiểu

phẩm của mình là “Tạp văn” nhưng chúng tôi xem đây thực sự là những biến

thể của tiểu phẩm, bởi so với những dạng thức ban đầu, đến Ba Thợ Tiện đã có

những sự thay đối rất sáng tạo trong hình thức thể hiện tác phẩm của mình. Sự

sáng tạo hình thức tiểu phẩm mới là những phái sinh của tiểu phẩm, chúng tôi

gọi là những tiểu phẩm biến thể.

Trước hết hãy quan tâm đến nội dung và phạm vi đề tài xuyên suốt trong

tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện. Như đã nói, chính tác giả tự bạch là nội

dung tạp văn đa phần đề cập đến những vấn đề kinh tế chuyên ngành. Vậy nên

ngòi bút Ba Thợ Tiện bị lực hấp dẫn của thời sự kinh tế xã hội cuốn hút để viết

những "chuyện hạ cánh an toàn", "chuyện từ cái đùi gà", "chuyện từ cái cần

câu", những "chuyện buồn vui", "chuyện cũ", "chuyện nhỏ", đại khái đủ các

chuyện đúc kết lại, đan chéo nhau, đôi khi dưới các ẩn dụ hóm hỉnh như: Con

voi Nha Trang đã chui qua lỗ kim, Vụ buôn lậu dưới nách, Ép chính quyền, To

đến mấy cũng là... chuột. Tiểu phẩm biến thể "nghệ thuật ăn" là một ví dụ:

“Đã lâu lắm rồi, cơ quan của anh bạn mơ ước có được một số tiền chừng năm

bảy trăm triệu để làm ăn và mở mang sự nghiệp. Niềm mơ ước ấy, cuối cùng

đã thành sự thật. Số tiền đến không phải năm bảy trăm triệu mà là hai tỉ (...)

nhưng lãnh đạo cơ quan lại chẳng biết sử dụng như thế nào (...) kế hoạch chi

tiêu khẩn cấp được triển khai (...) nâng cấp tất cả các phòng tiếp khách của

giám đốc, các phó giám đốc, bí thư đảng ủy theo tiêu chuẩn quốc tế (...) hàng

loạt các phòng ốc được đập khẩn trương để xây lại trong đó có cái hội trường,

cái căn-tin, cái nhà để xe, cái cổng ra vào... Chưa nghe ai đả động gì đến

64

chuyện làm ăn, chuyện mở mang như niềm mơ ước ban đầu". Đoạn này Ba

Thợ Tiện viết kể đã hơn chục năm song đến nay "nghệ thuật ăn" ấy vẫn còn,

với nhiều biến tướng và mức độ cao ngất trời, và tinh vi hơn nữa đối với

những “cách ăn”, kiểu ăn của những quan tham chỉ lo tư túi.

Tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện dung lượng ngắn gọn nhưng nội hàm

nội dung lại chứa đựng những khái quát về thực trạng kinh tế, xã hội trong cả

một giai đoạn dài của đất nước thời kỳ đổi mới.

Những đặc trưng trên phương diện hình thức tác phẩm của tiểu phẩm Ba

Thợ Tiện đã có những phái sinh hấp dẫn, mới lạ trên cả phưong diện kết cấu,

từ ngữ, độ dài, cách đặt tít và cả nghệ thuật tạo tình huống, và lô gíc trong tư

duy, lập luận.

Ba Thợ Tiện vốn là một nhà thơ, vậy nên tư duy hình ảnh và chất văn khiến

tiểu phẩm của tác giả có duyên, gần gũi, vừa sâu sắc mà cũng rất ý nhị. Ngay

cả cái tên chọn làm bút danh cho mình cũng có một hàm ý sâu sắc. Được phân

công phụ trách và viết cho chuyên mục “Nói hay đừng” vốn để phản ánh

những sự đời nhố nhăng và lộn xộn, Ba Thợ Tiện chính là công cụ để “cắt gọt”

lại cho gọn gàng những thứ mất trật tự và nhí nhố ấy. Ngòi bút tiểu phẩm này

quả thực đã xử lý được nhiều hiện tượng xã hội một cách “gọn gàng” và thuyết

phục.

Ba Thợ Tiện cứ đi giữa cuộc sống, ngắm nhìn và phát hiện bao nhiêu điều

vô lý, nghịch lý, bao nhiêu chuyện trái khoáy, bao nhiêu con người có quyền

có chức mà lòng dạ xấu có, ngu dốt có đã làm hại nước hại dân...Với một

giọng điệu riêng, lúc thì cười cười cợt cợt mà thấm bên trong là nước mắt

buồn, lúc thì ngọt ngọt ngào ngào mà lấp ló đâu đó là chua cay, là đắng chát,

lúc thì tỉnh tỉnh, cà khịa mà âm vang xa xa, gần gần sự phẫn nộ, giận căm...

Cuộc sống với những nghịch lý như thế đã được phản ánh một cách đủ đầy

trong tiểu phẩm biến thể của tác giả, để rồi tác giả đã nói thay được nỗi lòng

65

của người dân trước một hiện thực xã hội không ít những trái ngang trong

vòng xoáy danh lợi, tiền tài thời cơ chế thị trường.

Với nhãn quan tinh tế và bộ óc phân tích sắc sảo kết hợp với trái tim mẫn

cảm của một nhà thơ như đã nói, nên tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện là

một sự giao thoa mạnh mẽ giữa tính chiến đấu và khả năng cảm hóa chinh

phục độc giả. Bên cạnh cái lý sự thì cái tình đã làm nên sự gần gũi, đồng cảm

và cái hài làm nên một nụ cười thâm thúy, mai mỉa. Hai khía cạnh hóm hỉnh,

biểu hiện sự thông minh và lòng trắc ẩn như một khía cạnh đạo đức nghề

nghiệp của người làm báo đã tạo nên một nét riêng trong phong cách tiểu

phẩm của Ba Thợ Tiện.

Báo Lao động số ra ngày 28 tháng 7 năm 1991 có tiểu phẩm “Cái đầu”.

Năm ấy, Ba Thợ Tiện đi thăm một cơ sở. Nhìn thấy cảnh hoang hoá trên một

mảnh đất "thấy mà thèm muốn chảy nước miếng", Ba Thợ Tiện góp chuyện:

"Theo chỗ hiểu biết của Ba tui, trước hết ở đây cần được đầu tư vào vài ba

“cái đầu". Một cán bộ chủ chốt nhanh nhảu: “Anh ba nói rất đúng, chúng tôi

đang lập dự án để đầu tư ở đây ba cái đầu…đa hệ. Dân ở đây thích xem phim

lắm". Khốn nỗi ở đây “Cái đầu” mà tác giả nói là cái đầu để tư duy, cái đầu

biết tính toán, biết làm ăn kinh tế, để biến miếng đất kia ra tiền. Vậy nhưng

“cái đầu” của vị cán bộ chủ chốt kia lại hiểu cái bộ óc tư duy thành mấy cái

đầu…video đa hệ! Sự mỉa mai sâu cay ở đây là những cái đầu “bã đậu” ở cơ

sở kiểu này còn nhiều, và chừng nào còn thì chừng đó địa phương và suy rộng

ra là đất nước chẳng thể khá lên được. Sức mạnh thông tin và giá trị phê phán,

“chửi bới” của tiểu phẩm biến thể hiện đại nằm chính ở chỗ này.

Nhiều người ví tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện như những chiếc kim

sắc nhọn. Đã châm là châm thấy xương thịt, ai bị châm thì chắc chắc sẽ phải

giật nảy và nhớ đời.

Kết cấu hình thức tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện đã có những bước phát triển

mới so với tiểu phẩm truyền thống. Về độ dài thì chưa có nhiều sự cách tân,

66

nghĩa là vẫn trong khoảng 600 đến 800 chữ và không vượt quá 1000 chữ. Tất

nhiên so với tiểu phẩm truyền thống thì cũng có những bước tiến đáng kể về

sự ngắn gọn, vì tiểu phẩm truyền thống độ dài nhiều tác phẩm vượt lên ngưỡng

1000 chữ, thậm chí dài hơn. Cách đặt tít trong tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ

Tiện cũng khá độc đáo và ấn tượng. Âm tiết cho tít tiểu phẩm ít âm tiết, chủ

yếu là 1 đến 4 âm tiết. Tít 1 và 2 âm tiết xem ra rất đắc dụng và được sử dụng

với tần suất rất cao. Chằng hạn như các tiểu phẩm biến thể: Cái đầu; Chất

lượng; Tới!; Dại…khôn; Thua; Ai?; Cái giá; Sợ mất: Đáp số; Phiền; Điếc;

Hiến kế; Tân trang; Chùi mép; Chụp mũ; Nhầm!; B…ã…o; Vàng; Bịnh; Đổi

mới; Cầu viện; Không đẹp; Giả; Ăn mắm; Lo xa; Lãng mạn; Cảnh giác; Kỷ

cương; Xuống cấp; Phép nước; Chuyện nhỏ; Chạy!; Thương; Lễ!; Lịch sự;

Nhất trí; Lót tay; Lo; 3C; Công chức; Kích cầu; Đồng chí; Dân giận; Cò kè;

Đất chịu; Nếu!; Sợ?; Nhớ!; Biến…

Sở dĩ tạp văn Ba Thợ Tiện chúng tôi xem là biến thể của tiểu phẩm vì nó có

những cách tân với dạng thức ban đầu của tiểu phẩm trên cả phương diện nội

dung và hình thức. Điểm khác biệt là trong tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ

Tiện không chỉ có mỗi nhân vật “tôi” cùng cái tôi chủ đạo của chính người viết

diễn đạt và bộc lộ chính kiến từ A đến Z như trong tiểu phẩm truyền thống mà

rất nhiều lúc trong tiểu phẩm xuất hiện một nhân vật thứ hai ngoài nhân vật

trần thuật “tôi”. Để nhân vật thứ hai này đối thoại với chính tác giả để bật lên

những ý tứ đả kích rất sâu sắc và sáng tạo.Tính khách quan khi đánh giá, nhìn

nhận cũng được đẩy lên cao hơn. Sự xuất hiện của nhân vật thứ hai ngoài tác

giả cũng làm cho cấu trúc thông thường của tiểu phẩm bị phá vỡ. Bởi vì nó

xuất hiện liên tục các đoạn hội thoại, các hỏi đáp, tranh luận trong cùng tác

phẩm. Điều này rất hiếm thấy trong các tiểu phẩm truyền thống. Hàng loạt các

tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện có sử dụng hình thức đối thoại giả tưởng

này như: Cái đầu; Chất lượng; Nghệ thuật ăn; Hạ cánh an toàn; Người nhà có

67

ra tòa?; Tới; Thành công…rồi!; Dại…khôn; …Phủ bênh ai?; Đưa chữ ký ra

tòa; Thua; Ai?; Cái giá; Nhót, teo và…nở; Đáp số…

Nhân vật thứ hai xuất hiện nhiều nhất để đối thoại cùng Ba Thợ Tiện là

“anh bạn”, hay một nhân vật do tác giả dựng lên và gán cho một cái tên ngồ

ngộ như “Sáu Kiên Nhẫn” hay một nhân vật có thực ngoài đời đối thoại với

tác giả để thành nhân vật bị “biếm” trong tiểu phẩm biến thể.Chẳng hạn tiểu

phẩm biến thể “Thua” là một trong những điển hình cho phong cách đối thoại

như thế.

“Sau năm lần bảy lượt đội đơn đến gõ cửa ông Công ty cấp nước, để xin

được sửa chữa cái đường ống đặng có nước xài qua ngày, một anh bạn ở

TP.Hồ Chí Minh đã buộc Ba Thợ Tiện “phải nói một bài để dưới dân được

nhờ”. Từ chối riết không xong, Ba này bèn nói nửa đùa, nửa trách:

- Đồng ý là chảy…lai rai nhưng xét cho cùng ông anh cũng được cấp nước rồi

cơ mà. Còn chuyện phải chi thì tất nhiên thôi. Ở đâu và việc gì lại chả thế.

Anh bạn phản pháo ngay:

- Không phải cấp mà là bán. Không phải bán giá thấp mà là bán giá cao cộng

thêm khoản phụ thu. Phải gọi các ông ấy là Công ty bán…nước giá cao mới

đúng chứ cấp cái giống gì.

Thấy anh bạn bắt đầu giận dữ và chỉ biết có mỗi mình mình, Ba Thợ Tiện bèn

đưa xấp thư của bà con ở Thủ đô Hà Nội, kêu trời về chuyện hệ thống đường

ống nước vừa mới được lắp đặt với chi phí bạc tỷ, nhưng nó cũng chỉ chảy

dưới mức…lai rai. Xem lướt qua một bận, anh bạn hỏi:

- Ba Thợ Tiện nghĩ thế nào về ý kiến của bà con Hà Nội?

- Khó thì đúng thôi. Nhưng, bảo vì những người an hem ăn nhiều quá nên

không còn chỗ cho nứoc nó chảy, thì Ba này xin được thủ khẩu.

- Nghĩa là…

- Vâng, nghĩa là…phải tiếp tục thông cảm…”

68

Hay trong tiểu phẩm Hiến kế trên báo Lao động ngày 14 tháng 1 năm

1994:

“ Ba Thợ Tiện có biết tại sao tệ nạn tham nhũng và buôn lậu, càng chống càng

có nhiều chuyện để chống?

- Vì chống không triệt để.

- Thế nào là không triệt để?

- Vì chúng ta cứ làm theo kiểu chiến dịch, phong trào và, ngay với kiểu ấy,

cũng không có cú dứt điểm.

- Dứt điểm bằng cách nào?

Đúng là câu hỏi ác quá nhưng dù gì thì gì, không thể quanh co, Ba này bèn nói

thật suy nghĩ từ lâu của mình:

- Phải bắn một số tay để đe.

- Ai quyết định chuyện đó?

- Luật

- Xin lỗi, hình như chúng ta chưa có luật cho phép làm chuyện đó.

- Thì bây giờ cho phép, nếu chúng ta cương quyết.

- Gian nan đấy.

Giải thích “một chút đắn đo” của mình trước đạo luật mới được ban theo kiểu

nghĩ của Ba Thợ Tiện nhằm giải quyết vấn đề thuộc về lịch sử, anh bạn cho

rằng, nếu cứ làm tới mà không nghĩ lui, thì e rằng chuyện đâu vẫn hoàn đấy

thôi. Vì, bắn, đúng rồi, nhưng biết bắn ai, ai bắn bây giờ. Khó lắm.Tế nhị vô

cùng. Ba Thợ Tiện hỏi:

- Nghĩa là chào thua?

- Không. Nếu Ba Thợ Tiện không ngại, tui xin đựoc hiến một kế, nhỏ thôi.

- Thì cứ nói.

- Chúng ta hãy đóng khung và gạch ngang những vụ tham nhũng và buôn lậu

từ hôm qua trở về trước rồi nói thẳng rằng- chuyện đó có thật, nhưng là

chuyện thuộc về lịch sử. Xin được bỏ qua. Còn từ hôm nay, nếu vi phạm, bất

69

cứ ai, bất cứ đâu và bất cứ cấp nào, đều phải được xử theo luật, đều bị bắn,

nếu tội đáng bắn.

- Bây giờ. Ba này xin được chào thua ông anh.

- Nghĩa là sao?

- Hay quá

- Không dám đâu…”

Rõ ràng sự xuất hiện nhân vật thứ hai ngoài tác giả, có thể là một “ông

bạn” hay “ông anh” hay một ông Sáu Kiên Nhẫn tưởng tượng nào đó hay là

của một nhân vật có thật đã làm cho tiểu phái sinh có sức hấp dẫn rõ nét vệ độ

thuyết phục trong lập luận và tính khách quan trong ngôn ngữ đối thoại. Cạnh

đó ngôn ngữ đối thoại có tính khẩu ngữ nên tạo ra sự gần gũi, tự nhiên và đôi

lúc “chửi sướng miệng” mà không bị gò bó như văn phong chính luận phi đối

thoại.

Những nét mới này chính là biến thể của tiểu phẩm, chệch ra những

chuẩn thông thuờng trong nội dung và cấu trúc. Để sau này nó dần phát triển

với những biến thể “cao cấp” hơn về cả phong cách đối thoại và độ dài của tác

phẩm, như một sự vận động, phát triển không ngừng của tiểu phẩm trong

phong cách một số tác giả mà luận văn tiếp tục đề cập.

Ba Thợ Tiện đã thành công trong thể loại mà tác giả gọi là tạp văn về

những “vấn đề kinh tế chuyên ngành”, nhưng chúng tôi xem đây là một sự

thành công vượt ra cả những vấn đề kinh tế như trong hầu hết các tiểu phẩm

biến thể của tác giả đề cập. Cả sự hấp dẫn, mới lạ trên bình diện nội dung, hình

thức thể hiện, để đưa thể loại tiểu phẩm phát triển lên một hình thái mới mà

chúng tôi gọi là những tiểu phẩm biến thể hay tiểu phẩm phái sinh.

3.3 Lý Sinh Sự và sự tiếp nối chuyên mục “Nói hay đừng” trên báo Lao

động.

70

Sở dĩ chúng tôi khảo sát phong cách tiểu phẩm Lý Sinh Sự là ví chính tác

giả là người tiếp nối để suy trì sức sống cho biến thể tiểu phẩm báo chí hiện

đại trên báo Lao động sau khi Ba Thợ Tiện chuyển công tác.

Lý Sinh Sự sinh năm 1944 tại Hà Nội, tên thật Trần Đức Chính, hiện ông

đã chuyển qua làm Tổng biên tập báo Nhà báo và công luận và vẫn xuất hiện ở

tờ báo này cùng với dạng thức tiểu phẩm quen thuộc ở mục Góc nhìn nhà báo.

Những tiểu phẩm biến thể của tác giả mà chúng tôi khảo sát chủ yếu trên mục

Nói hay đừng do Lý Sự Viết sau khi “tiếp quản” từ Ba Thợ Tiện trên báo Lao

động cho đến nay.

Cũng như Ba Thợ Tiện, nội dung tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của Lý

Sinh Sự đa dạng như chính sự phức tạp của cuộc sống. Mặt trái của cơ chế thị

trường càn quét qua đến đâu thì tiểu phẩm Lý Sinh Sự có mặt đến đó. Tác giả

viết nhiều, viết khỏe, viết một tuần 6 tiểu phẩm trên chuyên mục Nói hay đừng

mà vẫn không hề bị hụt hơi hay mất đi tính hấp dẫn của nó. Làm được điều

này nói gọn lại cũng bắt nguồn từ hai yếu tố cơ bản của hoạt động báo chí: Đó

là tính nóng hổi của những vấn đề thời sự và sự thể hiện khéo léo của một cây

bút tiểu phẩm có nghề. Nói là “cơ bản” trên phương diện lý thuyết nhưng để có

khả năng phát hiện vấn đề và thể hiện nó một cách hấp dẫn và thuyết phục ở

thể loại khó viết này thì phải có một đẳng cấp cao trong nghề và sự trải nghiệm

sâu sắc trong cuộc sống.

Cũng thế nên ai cũng thừa nhận Lý Sinh Sự là cây bút có khả năng tung

hoành mặt báo. Viết và nói cứ như nhà ảo thuật, hư - thực, thật - đùa, nghiêm

chỉnh - hài hước, giễu nhại - chân tình, mong manh như sợi tóc, độc giả gần

như chẳng biết mình sẽ bị dẫn dụ đến đâu. Có người xem ông là “bậc kỳ tài,

quái nhân trong làng viết”. Lạ nữa, Lý Sinh Sự còn có tài nhìn rõ, và có xu

hướng bóc trần sự việc một cách tinh tường với một lối diễn đạt không thể

thiếu tiểu phẩm biến thể. Đó là phức thể của những sắc thái khi ngoa ngoắt,

71

đanh đá, phóng dụ, lộng ngôn... đến ghê người mà vẫn mang tính xây dựng với

cái nhìn độ lượng thấu rõ thế thái nhân tình.

Nếu xếp loại lại thì thấy mảng đề tài trong tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh

Sự chủ yếu tập trung vào các mảng như: Phản biện, đề cập đến những chủ

trương, đường lối chính sách cảu Đảng, Nhà nước; mảng đề tài về các vấn đề

kinh tế; mảng đề tài về các vấn đề xã hội (dân số,y tế, giáo dục,môi trường);

mảng đề tài về chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí; mảng đề tài về văn

hóa, đạo đức, lối sống.

Lý Sinh Sự ngoài viết tiểu phẩm thì ông cũng nghiên cứu và viết tiểu luận

về tiểu phẩm. Trong đó có cuốn sách nhỏ “Hãy viết tiểu phẩm đi” do Nhà xuất

bản Thông tấn ấn hành. Lý Sinh Sự quan niệm “tiểu phẩm là một thể loại báo

chí gốc văn chương”, khi nó “nhập quốc tịch” vào địa hạt báo chí. Như vậy từ

văn chưong sang báo chi đã là một lần biến thể của tiểu phẩm. Để thể loại dần

hoàn thiện để ngày càng phát triển trong xu thế tất yếu của nhiều thể loại báo

chí khác nhau. Nhưng tác giả Lý Sinh Sự cũng mới dừng lại ở những nghiên

cứu biến thể từ “văn” sang “báo” để hình thành tiểu phẩm trong địa hạt của

báo chí. Nhưng tiểu phẩm chưa chịu dừng lại ở đó mà trong sự vận động của

mình chính tiểu phẩm có thêm những phái sinh mới để lột xác thành những

tiểu phẩm biến thể chưa từng xuất hiện với kết cấu hình thức và nội hàm nội

dung đề cập hết sức mới mẻ, tinh xảo và giàu tính chiến đấu.

Trong cách viết tiểu phẩm của mình, Lý Sinh Sự cũng đã có những sáng tạo

như vậy để những “tiểu phẩm gốc văn” dần dần nhạt đi để thay thế vào đó là

những “biến thể tiểu phẩm” có gốc từ…tiểu phẩm. Cái độc đáo của Lý Sinh

Sự cũng chính là điều làm nên bản sắc của Báo Lao động. Khi nhắc đến “thảo

dân họ Lý” thì độc giả nghĩ ngay đến báo Lao động và ai là độc giả của báo

Lao động đều biết đến Lý Sinh Sự.

Sáng tạo để làm nên điều khác biệt trong tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự

là kiểu viết không chỉ xuất phát từ “nguyên liệu” là thông tin mà là sự rút lõi

72

hồn cốt của vốn sống tích lũy và bề dày văn hoá. Sau mỗi một tiểu phẩm biến

thể là một khối kiến thức kim cổ, đông tây. Sự sáng tạo đó còn thể hiện ở chỗ

Lý Sinh Sự đã “thông tấn hoá” ngôn ngữ dân gian, vận dụng ngôn ngữ giân

gian và khẩu ngữ một cách tài tình. Tính thời sự của đề tài đi cạnh tính “thời

sự” của ngôn ngữ đời thường do người dân sáng tạo ra trong sinh hoạt và được

“chuyển hóa” hết sức nhuyễn trong tiểu phẩm biến thể của tiểu phẩm báo chí

hiện đại. Ngay cả cách liên tưởng để tạo ra sự đối lập hình ảnh trong tiểu phẩm

biến thể của Lý Sinh Sự cũng độc đáo và ấn tượng. Thật ra, đôi lúc thông tin

không mới, thông tin các báo khác đã đưa và bình luận nhiều nhưng qua cách

nhìn, cách so sánh, cánh diễn đạt hóm hỉnh của ông vẫn làm cho tiểu phẩm có

một sức sống riêng trong lúc tính thời sự có vẻ như đã qua đi. Sự sáng tạo

trong tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự có thể gọi là gợi mở một góc nhìn

mới về một sự kiện không mới. Chẳng hạn thông tin về bệnh sệ cánh (teo cơ

delta) ở trẻ em, Lý Sinh Sự không thông báo số lượng, địa phương xảy ra, cách

phòng chống hay chữa trị mà anh liên tưởng đến... những cuộc thi hoa hậu,

người đẹp đang diễn ra tràn lan gần đây với một lời bình nhẹ nhàng nhưng đau

xót, rằng người ta thi đùi dài, bụng nhỏ, ngực nở, dáng cao chứ ai thi cái đám

trẻ đói nghèo, tật bệnh lam lũ chốn làng quê. Cách viết châm biếm thói hư tật

xấu đồng thời gợi mở, thức tỉnh tính nhân bản đã khiến cho người đọc cảm

thấy “gai gai” và nhớ kỹ những tiểu phẩm của tác giả…

Với phong cách tiểu phẩm Lý Sinh Sự, sự vận động từ “tiểu phẩm gốc”

sang tiểu phẩm phái sinh tạo ra biến thể rõ nét nhất vẫn là vấn đề thể loại, nghệ

thuật và hình thức thể hiện tác phẩm. Nếu làm một phép so sánh giữa Ba Thợ

Tiện thì về mặt hình thức, tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự có độ dài gọn

hơn, nghĩa là số âm tiết ít hơn. Độ dài trung bình tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện

chừng 500 đến 700 chữ và không vượt quá 1000 chữ, thì Lý Sinh Sự có gọn

gàng hơn với độ dài trung bình của một tiểu phẩm biến thể là từ 300 đến 600

chữ và rất ít khi vượt quá 800 chữ. Như vậy về độ ngắn gọn và linh động của

73

tiểu phẩm Lý Sinh Sự đã có khác so với Ba Thợ Tiện và là một bước tiến dài

so với tiểu phẩm truyền thống về số lượng từ.

Hình thức đối thoại giả tưởng để dẫn chuyện cũng là một trong những đặc

trưng quan trọng trong tiểu phẩm Lý Sinh Sự, đây cũng những biểu hiện rõ nét

của tiểu phẩm biến thể. Khảo sát 143 tiểu phẩm tiêu biểu của Lý Sinh Sự đăng

trên báo Lao động từ năm 1997 đến 2007 và được tập hợp lại trong cuốn “Nói

hay đừng” của Nhà xuất bản Thông tấn 2008 thì chi có 36 tiểu phẩm luận giải

dưới hình thức diễn đạt thông thường, chỉ chiếm 25% tổng số tác phẩm. Còn

lại 107 tác phẩm đều được diễn đạt dưới hình thức đối thoại giả tưởng, chiếm

đến 75% tổng số tác phẩm. Và như vậy tiểu phẩm biến thể chiếm đa số và

chúng tôi tạm gọi dạng thức tiểu phẩm biến thể này là tiểu phẩm đối thoại giả

tưởng. Chính lợi thế thể loại biến thể của đối thoại giả tưởng đã làm cho người

viết tìm được nghịch lý qua sự liên tưởng biến ảo của đối thoại tạo những liên

tưởng bất ngờ đến vô lý tất yếu của lẽ mạnh yếu trong tranh luận về chính

những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Nhân vật đối đáp “bác”, “tôi” ở đây là

giữa Lý Sinh Sự và nhân vật có cái tên Gã đài phường…

Sự đối thoại với giọng văn giàu chất hài hước của ngôn ngữ “giân dan được

thông tấn hóa” cộng với ngôn ngữ đời thường đã làm bật lên ở người đọc tiếng

cười sảng khoái để rồi sau đó, là sự xót xa hoặc cảm thông, ăn năn hoặc tự vấn

và nỗi đau thế thái nhân tình.

Cũng do vậy mà tính chiến đấu trong tiểu phẩm Lý Sinh Sự mạnh mẽ và tác

giả nổi lên như một cây bút được mệnh danh là “ngưới chửi thuê cho nhân

dân”. Và cũng do vậy mà cũng nhiều người ghét cay ghét đắng Lý Sinh Sự

nhưng chính vì ông “chửi” hộ quần chúng, đứng trên lập trường của số đông

nên đây là điểm tựa an toàn và lớn nhất cho ông trên con đường…viết tiểu

phẩm. Ai đó đã rất có lý khi cho rằng viết tiểu phẩm dạng này nghĩa là đang

“đùa với lửa”. Bởi con người ta chẳng ai muốn người khác châm biếm mình.

Tiểu phẩm của Lý Sinh Sự chính là sự đùa với lửa một cách cố ý, nhưng là

74

cách đùa “đùa với lửa, không bị lửa thiêu”. Cái bảo vệ cho Lý Sinh Sự chính là

đứng trên cái đúng, nói lên tâm nguyện của nhiều người một cách tỉnh táo và

điềm đạm. Mặt khác, tác giả luôn tôn trọng dân chủ, trên cơ sở đạo lý và pháp

luật, và bao giờ cũng đứng trên tinh thần chống để xây như một yêu cầu số một

của những người viết thể loại này.

Như vậy với tác giả Lý Sinh Sự, một “người chửi thuê cho nhân dân” đã có

những sáng tạo, cách tân và tạo ra những biến thể tiểu phẩm rất rõ nét trên cả

phương diện nội dung lẫn hình thức thể hiện như đã trình bày trên. Nội dung

đề cập rộng khắp, phương thức thể hiện bằng các biến thể tiểu phẩm đối thoại

giả tưởng cộng với việc “thông tấn hóa” ngôn ngữ dân gian kết hợp với sử

dụng khéo léo ngôn ngữ hiện đại trong để phản ánh các vấn đề thời sự nóng

hổi là những nét riêng tạo nên tiểu phẩm biến thể của Lý Sinh Sự. Hay một

góc nhìn mới trước một sự kiện không mới với một kết cấu gọn gẽ từ 300 đến

600 chữ đã làm cho dạng thức tiểu phẩm có những phái sinh độc đáo mà chúng

tôi gọi là tiểu phẩm đối thoại giả tưởng. Tiểu phẩm biển thể Lý Sinh Sự là một

thể loại mới mà chính bản thân tác giả cũng chỉ gọi đó là những tiểu phẩm như

xưa nay vẫn thế, nhưng kỳ thực nó đã vượt ra những lý thuyết và cấu trúc của

thể loại tiểu phẩm truyền thống với những đặc trưng, đặc điểm được đề cập

xưa nay trong lý luận về báo chí học.

3.4 Nét độc đáo của Bút Bi và tiểu phẩm biến thể trên báo Tuổi trẻ.

Từ tiểu phẩm của Hữu Thọ, đến Ba Thợ Tiện, đến Lý Sinh Sự đã có những

sự vận động để tạo ra những biến thể độc đáo, nhưng rõ nét nhất của sự cách

tân và hiện đại hóa tiểu phẩm thì những tiểu phẩm biến thể của Bút Bi trên báo

Tuổi trẻ. Sở dĩ nói những tiểu phẩm phái sinh trong phong cách tiểu phẩm Bút

Bi thể hiện rõ nét nhất tính biến thể là vì những đặc trưng trên cả phương diện

nội dung mà đặc biệt là phương thức thể hiện của nó.

Bút Bi là bút danh của nhà báo Bùi Thanh, một nhà báo bản lĩnh và có dũng

khí đấu tranh chống tiêu cực ở Báo Tuổi trẻ. Ông không chỉ xuất sắc trong

75

những bài bình luận, điều tra mà trong lĩnh vực tiểu phẩm còn tỏ ra là một cây

bút có tài, có tâm và giàu nhiệt huyết chiến đấu. Chuyên mục Chuyện thường

ngày xuất hiện đều đặn 7 số/tuần trên trang 2 của báo Tuổi trẻ đã tạo ra một

Bút Bi đầy phong cách và bản sắc như Hữu Thọ của Nhân dân, Ba Thợ Tiện

và Lý Sinh Sự ở báo Lao động. Ở đây chúng tôi không so sánh tài năng cao

thấp của các cây bút tiểu phẩm này mà trên cơ sở phân tích văn bản để tìm ra

những phong cách, những đặc trưng, đặc điểm trong sáng tạo để tạo ra những

tiểu phẩm biến thể trong nghiên cứu vể thể loại của báo chí học.

Từ tiểu phẩm gốc đến những tiểu phẩm của Bút Bi có những sự hiện đại

hóa trong nhiều yếu tố: Nội dung, đặt tít, ngôn ngữ sử dụng, độ dài, các dạng

thức thể hiện và tính chiến đấu không khoan nhượng của tiếng cười trí tuệ xót

xa. Tiểu phẩm biến thể của Bút Bi có thể nói đáp ứng được rất nhiều yêu cầu

của công chúng báo chí thời hiện đại bởi tính thời sự và độ ngắn gọn…như

không thể ngắn hơn của nó. Qua khảo sát độ dài tác phẩm tiểu phẩm và so

sánh độ dài trung bình thì nhà báo Hữu Thọ từ 600 đến 800 chữ, có tiểu phẩm

lên đến 1000 chữ; tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện cũng nằm trong khoảng

600 đến 800 chữ nhưng không có tiểu phẩm vượt quá 1000 chữ. Đến Lý Sinh

Sự, độ dài tiểu phẩm biến thể còn gọn gàng hơn, với âm tiết trung bình là 500

đến 700 và ít khi vượt quá 800 chữ. Nhưng đến tiểu phẩm Bút Bi, khi khảo sát,

thống kê và phân tích văn bản thì tiểu phẩm biến thể đạt đến độ hàm súc, ngắn

gọn một cách đáng kinh ngạc. Độ dài tiểu phẩm biến thể của Bút bi dao động

từ 150 âm tiết đến 300 âm tiết và rất hiếm khi vượt qua 350 âm tiết. Khảo sát

trên báo tuổi trẻ hiện tại, cụ thể là trong hai năm gần đây, số tiểu phẩm biến thể

vựot quá ngưỡng 350 âm tiết là rất ít. Qua thống kê theo xác suất của chúng tôi

trên 100 tiểu phẩm rải rác lấy từ các tháng, từ thàng 1 đến tháng 7 năm 2008

thì độ dài trung bình tiểu phẩm biến thể của Bút Bi là 200 đến 250 âm tiết.

Với một dung lượng từ như vậy nhưng vẫn phản ánh, phê phán những mặt

trái có tính thời sự là một việc làm không hề đơn giản. Đó là chưa kể đến tính

76

hấp dẫn và thuyết phục cũng như những yêu cầu khắt khe của thể loại này.

Chẳng hạn trong tiểu phẩm biến thể “Hiện nguyên hình” trên Chuyện thường

ngày của Tuổi trẻ thứ 4(08/08/2008).

“Tháng trước là quả đấm của con rể một bà Tư làm chảy máu mũi một

nhà báo trước các em người đẹp hoàn vũ thế giới. Đận này là cú tát của một

nhân viên VFF cũng với một nhà báo trước mũi các quan chức bóng đá trong

nước và thế giới. Ông thấy sao?

- Thấy... đau!

- Có tát ông đâu mà đau?

- Không, đau là đau trước mặt người đời. Ai đời thời buổi văn minh thế này

mà hở ra là thượng cẳng chân hạ cẳng tay! Liệu người ta sẽ nghĩ gì về cách

hành xử của dân mình?

- Chỉ là hành xử của một hai cá nhân trong lúc bộc phát, chắc không đến nỗi

"quan điểm" như ông nói đâu...

- Đúng, bộc phát. Và chính vì bộc phát nên con người thật của anh mới hiện

nguyên hình”.

Tiểu phẩm biển thể này chỉ có 150 chữ, sử dụng hình thức đối thoại giả

tưởng để bày tỏ và bộc lộ chính kiến. Sự phản văn hóa một cách có hệ thống

trong ứng xử của giới trí thức, cụ thể là doanh nhân và quan chức thể thao đã

“hiện nguyên hình”. “Ai đời thời buổi văn minh thể này mà hở ra là thựong

cẳng chân hạ cẳng tay” mà sự vô học ấy lại diễn ra trong một môi trường văn

hóa và cao thượng (Thi hoa hậu quốc tế, Thể thao), lại còn có sự chứng kiến

của nhiều quan khách quốc tế đã nói lên cái đau đớn và nhục nhã thay cho

những kẻ không biết kìm chế, không có nền tảng văn hóa trong ứng xử. 150

77

chữ mà “chửi” cũng như lý giải căn nguyên sâu xa của sự “bột phát” của thói

vô học, phi văn hóa chính là cái tài của người viết tiểu phẩm.

Hay trong một tiểu phẩm biến thể khác có tên gọi “Chỉ số văn hóa” trên

Tuổi trẻ ngày 09/06/2008 với 170 từ nhưng một hiện trạng ứng xử văn hóa

khác cũng hiện hữu đến khó tin và khó chấp nhận trên sự kiện 100% sự thật.

Đây có thể xem là một tiểu phẩm biến thể điển hình cho phong cách tiểu phẩm

biến thể Bút Bi và cũng có thể xem là mực thước cho biến thể tiểu phẩm báo

chí hiện đại. Trong 170 từ, Bút Bi viết:

“Tết con heo vàng, người Sài Gòn đã phải đỏ mặt với hình ảnh nhiều bạn trẻ

cướp heo đất, cướp hoa xuân.

Tháng tư năm nay, người Hà Nội đã phải thẹn thùng khi nhiều nam thanh nữ

tú vặt trụi hoa anh đào ở lễ hội hoa anh đào.

Và mới nhất, người dân cố đô Huế vốn xưa nay nổi tiếng về chuyện "giấy rách

phải giữ lấy lề", "đói cho sạch, rách cho thơm" đã ngỡ ngàng trước chuyện

những người trẻ tấn công các tác phẩm nghệ thuật trưng bày ở Festival Huế.

Ôi thôi, thế thì câu chuyện văn hóa ứng xử nơi công cộng không còn là

"chuyện của riêng ai" nữa rồi!

Xem ra đã đến lúc "chỉ số văn hóa" cũng cần được chăm chút, chú ý như chỉ

số giá, chỉ số tăng trưởng. Không thể mãi chạy theo việc lo cho cái bao tử mà

sao nhãng việc chăm chút xây dựng "phần hồn"!

Ở tiểu phẩm biến thể này 3 sự kiện có thật xảy ra ở ba miền Bắc, Trung

Nam được đưa vào một cách nhẹ nhàng, tửng tưng trong mấy dòng tiểu phẩm

nhưng giá trị khái quát của nó lại mở ra một biên độ lớn đáng báo động ở cấp

Quốc gia. Đó là thái độ thiếu văn hóa trong ứng xử văn hóa nơi công cộng. Và

78

nó đã trở thành “quốc nạn” thành việc “không của riêng ai”. Và qua đó Bút Bi

đề cập đến một vấn đề có tính sống còn của một dân tộc, một quốc gia trong

quá trình phát triển. Đó là “Không thể chạy theo việc lo cho cái bao tử mà sao

nhãng việc chăm chút xây dựng phần hồn”. Nghĩa là không chỉ lo đến việc

phát triển kinh tế, thương mại mà bỏ qua việc bổi bổ, phát triển các chính sách

về văn hóa. Hay nói đúng hơn chính sách chăm lo và phát triển văn hóa đang

có vấn đề nên mới dẫn đến hệ lụy “chỉ số văn hóa” xuống cấp trầm trọng cả ba

miền như vậy. Thông điệp chính được đưa ra ở cấp vỹ mô là: Phát triển kinh tế

phải đi đôi với phát triển văn hóa, đó mới là cái gốc của sự phát triển bền

vững. 170 chữ, Bút Bi đã chỉ ra một hiện tượng xã hội vỹ mô, một chính sách

văn hóa của chúng ta đang có vấn đề. Sức thuyết phục của tư duy, của lập

luận, của các hình ảnh so sánh trong một cái vỏ tác phẩm hết sức ngắn gọn đã

chinh phục được cả những bạn đọc khó tính nhất. Nét hiện đại của tiểu phẩm

biến thể Bút Bi là vậy.

Phong cách tiểu phẩm biến thể của Bút Bi thể hiện ở nhiều dạng biến thể

khác nhau. Ngoài những tiểu phẩm có kết cấu tự luận thông thường thì tiểu

phẩm phái sinh của Bút Bi đa phần là những đối thoại giả tưởng, dạng thức

này chiếm đa số trong lối diễn đạt của tác giả. Bên cạnh đó, hình thức “mượn”

lời tâm sự của sự vật, hiện tượng qua thủ pháp nhân hóa để tự thân sự vật, hiện

tượng đó “bộc bạch” nỗi lòng hay sự hàm oan của mình. Thường thì dạng tiểu

phẩm nhân hóa có tính ngụ ngôn này được trình bày dưới dạng một lời tự sự,

tường trình hay một bức thư ngắn. Chẳn hạn trong tiểu phẩm biến thể: “Lời

của một dòng sông” trên Chuyện thường ngày, báo Tuổi trẻ thứ ba ngày

16/09/2008 là một trong nhiều ví dụ.

“Thế là tấm thân nhàu nhĩ vì bị giày vò, chà đạp bao nhiêu năm nay của

em cuối cùng cũng được các anh nhòm ngó tới. Một trong số những kẻ làm

79

cho đời em đang tươi xanh trở nên thân tàn ma dại đã được các anh bắt quả

tang. Đội ơn các anh lắm lắm dù em đã chịu đựng 14 năm qua.

Nhưng em hận. 14 năm chớ đâu phải một ngày một bữa mà em bị bỏ

quên, bỏ mặc. Em kêu cứu. Nhiều người kêu cứu. May mà trời bất dung gian.

Em hiểu, dù chậm nhưng ở đời vẫn còn công lý.

Nhưng đâu chỉ mình em tang tóc. Còn bao nhiêu dòng sông nữa cũng bị

đầu độc, thê thảm như em.

Làm gì các anh không biết phận những con sông như chúng em bị hành

hạ, trừ khi cái mũi, cái mắt các anh có vấn đề, không ngửi được, không thấy

được. Nhưng chẳng lẽ cái tai cũng hư, không nghe? Em không tin, em không

tin!

Một kẻ bị bắt quả tang nhưng vẫn còn rất nhiều kẻ giỏi phi tang. Hãy

cứu lấy chúng em. Nếu chúng em chết thì sau này các con anh sẽ hỏi: “Dòng

sông là gì hả bố?”. Lúc đó, tội nghiệp tụi nhỏ lắm mấy anh à.

Hãy cứu lấy chúng em, đừng để những kẻ gây ra tội lỗi này chỉ bị xử lý

nhẹ tựa lông hồng nha mấy anh.”

THỊ VẢI (Bút Bi ghi lại)

Chỉ 250 chữ, nhưng lời trần tình thống khổ của con sông Thị Vải này đã

cho thấy một cách thuyết phục và mai mỉa nhiều thực trạng xã hội. Đó là tình

trạng “bức tử” nhiều dòng sông do chất thải công nghiệp, môi trường bị xâm

hại nặng nề. Sâu xa hơn của vấn đề là là tình trạng bao che và năng lực kiểm

tra, giám sát quá kém của chính quyền sở tại, đặc biệt là Ngành Tài nguyên

Môi trường khi một sự việc nghiêm trọng đến vậy mà 14 năm sau mới bị phát

hiện. Tiểu phẩm phẩm biến thể này không chỉ phản ánh thực tế việc sông Thị

80

Vải bị ô nhiễm nặng mà còn tố cáo, vạch trần thói vô trách nhiệm của các cơ

quan chức năng bằng những lời lẽ hết sức mai mỉa mà đau đớn: “Làm gì các

anh không biết phận những con sông như chúng em bị hành hạ, trừ khi cái

mũi, cái mắt các anh có vấn đề, không ngửi được, không thấy được. Nhưng

chẳng lẽ cái tai cũng hư, không nghe? Em không tin, em không tin!”. Nghĩa là

chính quyền, các cơ quan chức năng biết cả, nhưng giả vờ điếc, giả vờ mù, giả

vờ câm. Người bị chửi ắt sẽ cảm thấy đau đớn những đành phải “ngậm bồ hòn

làm ngọt”. Sự câm lặng này không đơn thuần chỉ là vô cảm, mà biết đâu là

“ngậm miệng ăn tiền”. Cái đau của cách “chửi” trong tiểu phẩm biến thể hiện

đại là vậy. Chưa hết, tác giả còn tố cáo một thực trạng xưa nay vẫn diễn ra đối

với những sai phạm, thậm chí là tội phạm về môi trường ở nước ta, đấy là tình

trạng xử lý cho qua chuyện, xử theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”, kiểu “hòa cả

làng”, chẳng chết ai và cuối cùng là tội vạ đâu người dân chịu cả. Thực tế đau

lòng này làm cho tội phạm, những người vi phạm nhờn luật để sau khi bị “xử

phạt hành chính” để lại…tiếp tục vi phạm. Vậy nên Bút Bi mới thay lời con

sông Thị Vải mà có một câu hỏi, một sự liên tưởng bi hài và đau đớn: “Một kẻ

bị bắt quả tang nhưng vẫn còn rất nhiều kẻ giỏi phi tang. Hãy cứu lấy chúng

em. Nếu chúng em chết thì sau này các con anh sẽ hỏi: “Dòng sông là gì hả

bố?”. Lúc đó, tội nghiệp tụi nhỏ lắm mấy anh à.”.Tưởng là một câu hỏi đùa

ngây ngô của con trẻ “Dòng sông là gì hả bố?”, nhưng sự thể là một lời nhắc

nhở rằng đừng để những sai lầm thời nay có tội với hậu thế, một cái tội tày

đình không thể nào gột rửa. Mà muốn không đắc tội với hậu thế thì những

hành vi vi phạm pháp luật, phá hoại môi trường cần phải được xử lý một cách

triệt để, nghiêm túc mới có tính răn đe.Vậy nên sông Thị Vải mới khẩn thiểt

rằng: “Hãy cứu lấy chúng em, đừng để những kẻ gây ra tội lỗi này chỉ bị xử lý

nhẹ tựa lông hồng nha mấy anh”.

Đọc những lời trần tình của sông Thị Vải ban đầu sẽ bật ra một tiếng

cười bởi cách trần tình duyên dáng, hài hước, nhưng rồi sau cái cười ấy là cả

81

một nỗi đau và sự xót xa trước thực trạng buồn cho con người và thể chế trong

cách ứng xử với môi trường và tội phạm môi trường. Tiểu phẩm biến thể ngụ

ngôn có tính nhân hóa này là một sáng tạo và cũng là một tác phẩm mẫu mực

cho tiểu phẩm biến thể.

Ở Bút Bi còn có những lối thể hiện độc đáo khác trong các tiểu phẩm

biến thể. Đôi lúc là dưới dạng một bức thư gửi đến Bút Bi, đôi khi là những

truyện cổ tân trang lại hết sức ngắn gọn. Đôi khi lại là một tiểu phẩm chỉ ghi

lại lời kể của các nhân vật có thật trong những hoàn cảnh có thật. Tự thân

những lời thoại, những hoàn cảnh ấy bật lên thành tiếng cười đả kích. Có một

hính thức khác khá độc đáo và sáng tạo, tuy có hơi “mạo phạm” đến các bậc

tiến bối nhưng cũng tạo ra những hiệu quả thông tin bất ngờ và tính chiến,sự

mai mỉa cũng đạt hiệu quả rất cao. Đó là việc “chế” lại lời của những nhạc

phẩm, đoạn văn hay bài thơ nổi tiếng. Tất nhiên trước khi “chế”, Bút Bi đã

thành thật xin lỗi tác giả, và cũng chẳng ai “nỡ giận” Bút Bi với những biến

thể tiểu phẩm “chế” lời này. Chúng tôi tạm gọi đây là những tiểu phẩm biến

thể phóng tác. Chẳng hạn trong biến thể “Ngày tựu trường” trên Tuổi trẻ thứ 6

ngày 22/08/2008 vỏn vẹn 246 chữ:

“Mỗi năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có

những đám mây bàng bạc trôi, lòng tôi lại ngao ngán những kỷ niệm hoang

mang của buổi tựu trường.Tôi không thể nào quên được những cảm giác chán

ngán trong lòng tôi, dù xung quanh là tràn ngập những lẵng hoa mừng ngày

toàn dân đưa trẻ đến trường!Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy,

nhưng vẫn luôn nhớ rõ, bởi cũng chẳng cần ghi làm gì khi năm nào cũng như

năm ấy.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi

mệt mỏi chở tôi đi trên con đường nghẹt cứng vì “lô cốt”. Dọc đường tôi thấy

82

nhiều cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất nhưng mặt ủ mày chau, không

hiểu vì cái cặp nặng trĩu trên lưng hay vì khói xe và bụi (?!).

Sau những bài diễn văn dài ngoằng, chúng tôi lần lượt xếp hàng vào

lớp. Ngồi bên cửa sổ, tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo một cánh chim bay

ngang trời, và ước mong sao mình được tự do như nó. Nhưng những tiếng

phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tiếng thầy

dõng dạc: “Các em lật sách Tiếng Việt, trang 55”...

Vâng, không có gì lạ cả. Tôi đã đi học một tháng trước ngày tựu

trường!”

(Vô vàn xin lỗi cố nhà văn Thanh Tịnh, tác giả truyện ngắn nổi tiếng Tôi đi

học).

Sự hài hước nằm ở chố Bút Bi phóng tác một đoạn văn “đi học” của một

thời tuyệt đẹp và một thời đầy tréo ngoe của giáo dục và giao thông thời hiện

đại. Đó là những cặp sách nặng trĩu, là khói bụi và tắc đường, là các bài học đã

được học thêm trước đó.

Hay trong tiểu phẩm phóng tác khác, một sáng tác của nhạc sỹ Phạm

Duy mang tên “Con đường nào ta đi” cũng được Bút Bi “chế” lại sau khi xin

lỗi tác giả bài hát và khéo léo giả vờ cho một bạn đọc gửi đến E.mail cho Bút

Bi:

“Một ngày thứ bảy ồn ào, kẹt xe và khổ sở như bao ngày thường khác,

Bi tui vào đến tòa soạn mở "meo". Úy trời, có một bạn đọc Tuổi Trẻ cũng tâm

trạng như mình, tức khí sinh… nhại nhạc. Bi tui thấy ngồ ngộ, xin bày ra đây

cho bà con nhâm nhi.

(Xin nhạc sĩ Phạm Duy bỏ quá cho)

83

Con đường nào ta đi cũng đào lên đào xuống.

Con đường chiều thành đô, con đường bụi mịt mù...

Con đường giờ tan ca, công trình che bít lối

Xe kẹt dài lên hè - con đường nào ta đi???

Con đường mà khi mưa, nước tràn như dòng suối.

Ta dùng xuồng ta đi nên nhìn còn thẹn thùng.

Con đường nào ta đi - tới nhà hay vào lớp…

Con đường làm công trình, con đường đầy gian nan.

Thế rồi đường vào nhà cũng tìm hoài không ra.

Đi lạc vòng quanh phố, không đường vào.

Đứng ở ngoài đầu đườngGiống ở đầu con sông.

Trông về con đường cũ mênh mông, mênh mông...

Hỡi nhà thầu làm đường, hãy làm giùm mau mau!!!

Ít người làm như thế trên đường dài.

Có vài người càu nhàu, biết giờ nào cho xong?

Trả về con đường cũ như xưa, như xưa”.

Lối phóng tác hài hước trước những vấn nạn xã hội như sự lộn xộn, ẩu

tả của giao thông và công trình giao thông công cộng cũng như những bất cập

trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đã mang đến cho bạn đọc những

84

sự giải tỏa bức xúc một cách nhẹ nhàng. Qua lăng kính này sự phê phán trên

tình thần xây dựng cũng làm cho những người có trách nhiệm bị “châm chích”

cũng thấy được trách nhiệm xã hội của mình trước những lời đề nghị chính

đáng như tâm nguyện của đa phần người dân: “Hỡi nhà thầu làm đường, hãy

làm giùm mau mau!!!”

Tóm lại Bút Bi là một cây bút với những tiểu phẩm biến thể hiện đại đa

giọng điệu và đa hình thức thể hiện. Nội dung các vấn đề được để cập một

cách trực tiếp trong các tiểu phẩm biến thể mà không hề ngại động chạm. Đó

là dũng khí của một cây bút tiểu phẩm dám nói, dám đấu tranh cho trật tự và

công bằng xã hội. Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và những mặt trái của

đời sống kinh tê, văn hóa, xã hội…Biến thể tiểu phẩm của Bút Bi đạt đến độ

chuẩn mực của tiểu phẩm báo chí hiện đại. Đó là sự cô đọng, ngắn gọn và hàm

súc hết mức nhưng trong đó vẫn chứa đựng được sức mạnh của thông tin bởi

những luận giải bi hài mà logic về các hiện tượng khác nhau của đời sống xã

hội. Sự đa phong cách trong sáng tạo đã tạo nên những hình thức tiểu phẩm hết

sức mới mẻ như tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng, tiểu phẩm biến thể ngụ

ngôn nhân hóa, tiểu phẩm biến thể phóng tác…như đã trình bày. Tiểu phẩm

biến thể của Bút Bi- nhà báo Bùi Thanh đã đạt được những chuẩn để khái quát

hóa thành đặc điểm, đặc trưng của tiểu phẩm biến thể trên báo chí Việt Nam

hiện đại.

IV. Đặc điểm về phong cách, cấu trúc và kết cấu của tiểu phẩm biến

thể.

Bốn nhà báo, 4 phong cách tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể trên là những

lựa chọn khảo sát trong phạm vi hẹp của và giới hạn của luận văn này. Họ là

những đại diện khá tiêu biểu. Tất nhiên trong dòng chảy của thể loại không chỉ

duy nhất các tác giả này có những phong cách tiểu phẩm mới lạ bởi những

85

phát hiện và tìm tòi một phương pháp thể hiện hiện đại. Vẫn còn những tác giả

tiêu biểu mà chúng tôi chưa có điều kiện phân tích, khảo sát trong luận văn.

Chẳng hạn như Lê Thị Liên Hoan (Đạo diễn Lê Hoàng) với hàng loạt tiểu

phẩm với phong cách Phỏng vấn giả tưởng trên nhiều tờ báo, mà đặc biệt là

Báo An ninh thế giới cuối tháng. Rồi Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh) cũng là

những đối thoại và phỏng vấn giả tưởng với một sự hóa thân hoàn hảo trên

“Tôi xem, đọc, thấy và nghe” của Thể thao Văn hóa…Còn nhiều cây bút tiểu

phẩm khác cũng đang định hình những phong cách cho riêng mình.

Tuy nhiên việc khảo sát 4 tác giả tiểu phẩm nói trên cũng bước đầu thấy

được những đặc điểm về phong cách, đề tài, cấu trúc của những phái sinh hay

còn gọi là tiểu phẩm biến thể trong thực tiễn sử dụng thể loại này trên báo in

hiện đại.

4.1 Chủ đề, đề tài của tiểu phẩm biến thể.

Tiểu phẩm biến thể như đã nói là những dạng thức phái sinh từ tiểu phẩm

gốc. Cũng vậy mà mà đề tài và chủ đề phản ánh của nó vẫn là đả phá trên tinh

thần xây dựng những mặt trái của xã hội. Trong chiến tranh, tiểu phẩm xoay

quanh những chủ đề chính là đấu tranh vạch trần và tố cáo tội ác của chủ nghĩa

đề quốc, thực dân và bè lũ tai sai, đồng thời là tiếng nói bảo vệ Đảng, bảo vệ

chính quyền trong công cuộc đấu tranh và xây dựng đất nước.

Đất nước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường

theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì phạm vi đề tài, chủ đề của tiểu phẩm biến

thể trở nên đa dạng hơn bao giờ hết. Đặc biệt là những mặt trái của cơ chế thị

trường tác động vào xã hội làm nảy sinh những tiêu cực, nhũng nhiễu làm cản

trở sự phát triển lành mạnh của xã hội. Đó là nạn tham ô, tham nhũng, lãng

phí, là sự phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm. Hàng loạt

các căn bệnh xã hội nảy sinh ở nhiều ngành, cấp như bệnh thành tích, bệnh nói

86

suông hứa hão…Cạnh đó là sự gia tăng nhiều loại hình tội phạm mới về kinh

tế, môi trường và các loại tội phạm hình sự nguy hiểm khác. Thời đổi mới và

hội nhập, mặt trái của nó còn kéo theo những sự xuống cấp về văn hóa, đạo

đức, lối sống của một bộ phận dân chúng, tình trạng tiếp thu không chọn lọc

văn hóa làm cho đời sống tinh thần của người dân ít nhiều bị vẩn đục, biến

dạng.

Cạnh các vấn đề kinh tế, xã hội thì đời sống chính trị cũng có những biểu

hiện trái chiều. Tình trạng Đảng viên thoái hóa biến chất, đây đó tính chiến

đấu của Đảng bị giảm sút cũng là những lời cảnh báo hiện hữu. Đảng ta cảnh

báo về những biểu hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa” trong nhiều văn kiện

quan trọng và đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phát triển Đảng là

một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng song hành cùng với phát triển

kinh tế và văn hóa…

Tất cả những vấn đề rộng nêu trên đều là đề tài, chủ đề cho tiểu phẩm biến

thể hướng đến phản ánh và đấu tranh với các mặt trái một cách quyết liệt trên

tinh thần của thể loại tiểu phẩm: Chống để xây! Trên thực tế tiểu phẩm biến

thể đa phần là đề cập đến những nội dung xấu có tính phê phán để thể hiện tính

chiến đấu như một đặc trưng thể loại của mình. Rất hiếm khi có các tiểu phẩm

biến thể biểu dương ca, ngợi cái tốt, vì như đã phân tích nếu đề cập đến dạng

chủ đề này, rất dễ bị lẫn sang thể loại khác kiểu như “người tốt việc tốt” hay

những bài phản ánh thông thường.

Các chủ đề, đề tài nóng bỏng của tiểu phẩm biến thể nếu cụ thể hóa lại thì

thường thấy những “đường đi” như sau: Phản biện, phê phán những cái thiếu,

cái khiếm khuyết để bổ khuyết của các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà

nước; phê phán mặt trái của các ngành nổi cộm như Giáo dục, Y tế, Môi

trường, Công an, Nông nghiệp - nông thôn; Giao thông vận tải…; Chống tiêu

87

cực, tham nhũng,quan liêu, lãng phí ở tất cả các ngành các cấp; tham gia

phòng chống tội phạm và lên án các hành vi vi phạm pháp luật; phê phán

những thói hư, tật xấu của người Việt trong thời đổi mới; phê phán sự xuống

cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận dân chúng…Nghĩa là tiểu phẩm biến

thể đã tham gia vào hầu khắp các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa

để nói lên tiếng nói đấu tranh, phản biện vì công bằng và tiến bộ xã hội.

Cũng chính vì lẽ đó, tiểu phẩm và tiểu phẩm báo chí biến thể ngày càng thể

hiện sức hút, tính chiến đấu và vị trí đắc dụng của mình. Cũng vì thế mà ưu thế

thể loại một thời gần như ở mức độ bình thường thì nay được đa phần các tờ

báo in sử dụng với tần suất cao và trí trang trọng. Tiểu phẩm biến thể gần nhu

thay chỗ cho xã luận để nói lên chính kiến và quan điểm của tòa soạn trước

một vấn đề thời sự nóng mà xã hội quan tâm.

4.2 Phong cách ngôn ngữ của tiểu phẩm biến thể.

Tự thân báo chí đã rất phong phú về các thể loại như tin tức, phỏng vấn, ghi

nhanh, phản ánh, tường thuật, phóng sự, điều tra, bình luận, xã luận…Mỗi một

thể loại báo chí đều xác định cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng để đạt

được hiệu quả truyền thông cao nhất. Tiểu phẩm biến thể cũng vậy, nó cũng

xác định cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng rất đặc thù và sinh động.

Phong cách ngôn ngữ tiểu phẩm cũng là một trong những phong cách của

ngôn ngữ báo chí, vậy nên ngoài những nét dị biệt thì nó cũng mang những

chuẩn chung của ngôn ngữ báo chí. Đó chính là chức năng thông báo và tác

động của ngôn ngữ đến với đông đảo bạn đọc. Tính ngắn gọn, dễ hiểu và đại

chúng của ngôn ngữ báo chí phải là yêu cầu số một để đảm bảo các đặc trưng

về tính thời sự, tính chiến đấu và sức hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí. Ngoài

những chuẩn chung này thì phong cách ngôn ngữ của tiểu phẩm báo chí hiện

đại có những đặc trưng riêng để tạo nên phong cách thể loại của mình.

88

Phong cách ngôn ngữ tiểu phẩm biến thể là một sự pha trộn phức tạp nhưng

thú vị như chính những phạm vi đề tài rộng lớn mà nó phản ánh. Đó là ngôn

ngữ của tư duy chính luận với những lập luận sắc sảo, là tiếng cười trí tuệ mai

mỉa. Việc sử dụng các thành tố ngôn ngữ để đạt được hai yêu cầu nói trên buộc

người viết tiểu phẩm biến thể phải có một vốn từ vựng khổng lồ. Đó là ngôn

ngữ khẩu ngữ đối thoại hàng ngày, là ngôn ngữ bình dân đời thường, là ngôn

ngữ vận dụng trong kho tàng tục ngữ, ca dao của văn học dân gian…Tất cả để

tạo ra sự gẫn gũi, thân mật với cái cười ý nhị, bình dân nhưng sấu sắc. Một tiểu

phẩm biến thể thường gây ấn tượng và làm đọng lại trong ký ức độc giả bởi

những cách nói, cách dung từ dân gian, thông thái. Thiếu ngôn ngữ hàm súc, ý

vị thì xem như chưa thành công về hình thức biểu đạt.

Mỗi loại tiểu phẩm biến thể lại tạo cho mình một yêu cầu ngôn ngữ riêng.

Với tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng hay phỏng vấn giả tưởng thì ngôn

ngữ giữa hỏi và trả lời tuyệt nhiên không mang tính hàn lâm, học thuật và trau

chuốt mà là ngôn ngữ khẩu ngữ rất đời thường. Đôi lúc còn là những lớp từ

mới, từ lóng được người dân sử dụng cũng được vận dụng vào trong tiểu phẩm

biến thể một cách sáng tạo và hoàn tòan chấp nhận được. Cách vận dụng khẩu

ngữ tự nhiên này vừa tạo ra tiếng cười cho tác phẩm, vừa rất gần gũi, đại

chúng mà hiệu quả thông tin rất cao. Trong các tiểu phẩm ngụ ngôn, nhân hóa

thì lớp từ dân gian, các điển tích điển cố được áp dụng nhiều, trong đó ngôn

ngữ tự sự tâm tình cũng được vận dụng một cách triệt để. Hầu như các phong

cách ngôn ngữ khác nhau đều có thể vận dụng vào trong sáng tạo một tác

phẩm tiểu phẩm biến thể. Vấn đề là vận dụng một cách hợp lý, đúng nơi đúng

chỗ, đặt nó vào trong những bối cảnh cụ thể sẽ gây được những hiệu quả thẫm

mỹ và thông tin cao. Chẳng hạn văn phong khoa học, đặt vào lời nói của

những cá nhân “ngụy khoa học”, toàn “học giả”, mua bằng mua cấp nhưng hễ

mở miệng là “lý luận” với “thực tiễn”, hết phạm trù nọ đến phạm trù kia trong

một cái đầu rỗng tuếch.

89

Những thủ pháp văn học cũng có thể vận dụng triệt để trong các tiểu phẩm

biến thể để tạo cho nó một lối diễn đạt linh động, giàu hình ảnh. Các lối nói ví

von, ẩn dụ, thẩm xưng, ngoa dụ, giăng bẫy để tạo cho bạn đọc những bất ngờ

qua sự dẫn dắt ngôn ngữ để làm nổi bật sự kiện và nội dung vấn đề mà tiểu

phẩm biến thể đề cập. Trong cuốn sổ tay nghiệp vụ “Hãy viết tiểu phẩm đi”

của Lý Sinh Sự có đúc kết lại mấy yêu cầu về ngôn ngữ trong tiểu phẩm báo

chí hiện đại. Đó là:

“1.Dùng nhiều thành ngữ, ca dao và nói chung là ngôn ngữ mà nhân dân ta

hay dùng hằng ngày. Ngôn ngữ thường dùng của nhân dân là thứ tinh tuý của

tư duy thông qua cái vỏ ngôn từ được chắt lọc qua thời gian và có tác động

mạnh nhất đến tình cảm, tâm lý. Tiếng Việt của chúng ta có nhiều thành ngữ,

ca dao tục ngữ có tính khái quát cao cho những hành vi như "Ăn như rồng

cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa", "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn", "Lắm

thầy thối ma", "Đầu voi đuôi chuột"...Có hàng nghìn, hàng vạn câu từ như thế,

đã đủ thừa vốn liếng cho người viết tiểu phẩm "vận dụng" vào bài viết của

mình. Chỉ cần "nồi nào vung nấy", không dùng chữ gán ghép khiên cưỡng hay

ngớ ngẩn là được.

2. Có thể đưa vào tiểu phẩm những câu thơ đã được mọi người "thuộc như

ca dao" ví như những câu trong Truyện Kiều của Thi hào Nguyễn Du: "Trăm

năm trong cõi người ta ...", "Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình", "Một ngày lạ

thói sai nha - Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền", "Máu tham hễ thấy hơi

đồng thì mê"...

3. Dùng tích xưa để nói chuyện nay, ví người chống tham nhũng dũng cảm

như "Võ Tòng đả hổ", ví kẻ lừa đảo như "Sở Khanh", ví kẻ dâm đãng như "Yêu

tinh râu xanh"...

90

4. Có thể dùng cả từ nước ngoài để "gút bai" ông quan tham, hoặc khen

ông chơi đẹp là "pheblây" hoặc "lốpby" để nói việc lo lót, dùng mitxtơ" thay

cho từ ngài, dùng "hôligân" thay cho từ côn đồ…

Nói chung việc dùng từ trong bốn yêu cầu trên nhằm làm tăng thêm tính

hài hước, làm đậm thêm chất châm biếm của tiểu phẩm.

Yếu tố thứ nhất của văn học là ngôn ngữ. Văn hào Nga Macxim Goocki

nói ngôn ngữ là áo quần của mọi sự vật và tư tưởng. Ngôn ngữ tiểu phẩm cũng

cần như áo quần vậy. "Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân". Muốn tiểu phẩm hay

phải biết dùng ngôn ngữ đẹp. Tiểu phẩm mà không biết dùng ngôn ngữ sẽ nhạt

phèo như một bản tin thông thường. Nên nhớ, tin tức phản ảnh ngay lập tức sự

kiện. Tiểu phẩm có sau tin tức. Làm tin đi sau là cho độc giả ăn cơm nguội.

Tiểu phẩm đen côm nguội ra rang mỡ, cho gia giảm vào thành "cơm rang thập

cẩm" hay đặc sản như "Cơm chiên Dương Châu".”…”

Những đúc kết của một cây bút tiểu phẩm và có nhiều tiểu phẩm biến

thể trên của Lý Sinh Sự về ngôn ngữ của tiểu phẩm báo chí hiện đại cũng là

những nét chung của đặc trưng ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí biến thể. Nắm bắt

những đặc trưng này sẽ là cơ sở của sự sáng tạo để người viết tiểu phẩm thành

công trong hoạt động sáng tạo tác phẩm tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể của

mình.

4.3 Đặc điểm về kết cấu, dung luợng và vị trí tiểu phẩm biến thể trên

mặt báo.

Trên phương diện hình thức tác phẩm, tiểu phẩm biến thể khác với tiểu

phẩm chính là ở sự linh động trong cấu trúc và kết cấu cũng như dung lượng

của tác phẩm. Tiểu phẩm biến thể không đóng khung trong một hình thức biểu

hiện, mà như phân tích, kết câú của nó rất phong phú.

91

Tiểu phẩm biến thể thông thường thường có cấu trúc tự luận và diễn giải

theo trình tự quen thuộc: Vào đề - Diễn giải và Kết luận. Hấu hết các nhà báo

viết tiểu phẩm đều sử dụng dạng thức này. Chẳng hạn như trường hợp của nhà

báo Hữu Thọ mà chúng tôi khảo sát trong luận văn này. Kết cấu này tương đối

đơn giản như một bài báo thông thường là gợi mở vấn đề cần bàn luận, gây sự

tò mò chú ý cho người đọc rồi phân tích, diễn giải đến nội dung chính của vấn

đề và sau đó là kết luận, khái quát lại vấn đề và bàn luận hoặc thể hiện chính

kiến. Cái khác để tác phẩm là tiểu phẩm hay tiểu phẩm biến thể chứ không

phải là thể loại báo chí khác chính là cách dẫn chuyện và lý giải vấn đề cũng

như nêu ra thông điệp một cách bất ngờ, dí dỏm, ngắn gọn với lối hành văn sử

dụng ngôn ngữ đặc dụng của tiểu phẩm.

Với tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng, cấu trúc của nó thông thường

được mở đề bằng việc tác giả nêu vấn đề về một sự kiện nào đó, tiếp đến là sự

xuất hiện của một nhân vật thứ hai- nhân vật giả tưởng để đối thoại với tác giả

về vấn đề được nêu ra để tranh luận một cách kịch tính. Nhân vật thứ hai này

thường là “anh bạn”, “ông bạn” hay “ông Sự”(trong tương quan với Lý tôi-Lý

Sinh Sự), rồi anh bạn “gã đài phường” hoặc một nhân vật ngẫu hứng nào đó

được tác giả “dựng” lên. Chẳng hạn trong tiểu phẩm biến thể “An non” của Lý

Sinh Sự trên Lao động ngày 28 tháng 7 năm 1999. Sự dẫn đề bắt đầu bằng: “Ở

ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh gần đây ngoài lá bắp non, lá mía non, bà

con nông dân còn đua nhau cắt lá lúa non xuất khẩu làm thức ăn gia súc…”.

Sau sự kiện nghe có vẻ trái khoáy được nêu ra là cuộc đối thoại giả tưởng bắt

đầu:

“- Tây “nó” sướng thật, gia súc cũng xài toàn đồ non thơm ngon. Ông Sự

nói vậy.

92

- Cái gì Tây, ta bây giờ cũng chén toàn món non: Bắp nhí, dưa chuột bao

tử, măng non, gà giò..thỉnh thoảng công an còn bắt cả mấy vụ “người non”(vị

thành niên) ở các nhà hàng nữa...”.

Cứ thế cuộc đối thoại giả tưởng này dẫn dắt người đọc khám phá vấn đề với

những tranh luận và các ý kiến bất ngờ, thú vị và sau đó là một câu “chốt hạ”

kết thúc tiểu phẩm biến thể với một thông điệp hết sức rõ ràng. Phần kết của

tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng thông thường là một câu cảm, giải quyết

những xung đột trong đối thoại mà cả hai nhân vật: Tác giả và người đối thoại

thống nhất một quan điểm giải quyết hay cùng suy nghĩ hoặc bàn luận về vấn

đề chính được đề cập trong tranh luận. Thường thường câu kết là câu lý

thú,gây cười và cũng là một sự bình luận hoặc đả kích sâu cay về vấn đề nêu

ra.

Tiểu phẩm biến thể đối thoại giả tưởng còn có một kết cấu phổ biến khác là

nêu vấn đề tranh luận ngay từ phần mở đầu bằng một câu hỏi, câu kể hay câu

cảm thán của một trong hai nhân vật đối thoại. Và cứ thế cuộc đối thoại cứ tiếp

diễn đến khi vấn đề châm biếm được khép lại bằng mộ thông điệp của một

trong hai nhân vật đối thoại. Dạng thức này còn trội hơn, được sử dụng nhiều

hơn trên mặt báo và là hình thức được các cây bút tiểu phẩm ưa chuộng sử

dụng hiện nay. Trong tiểu phẩm biến thể của Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự, Bút

Bi…đều xuất hiện với tấn suất cao dạng thức này. Chẳng hạn trong tiểu phẩm

“Kẻ hư và của xấu” của Bút Bi trên Tuổi trẻ Thứ 5 ngày 15 tháng 5 năm 2008

được mở đầu bằng: “Chuyện ông bầu Đức tậu máy bay riêng thiệt là chấn

động! Nhiều người mừng vì người VN đã có máy bay riêng. Có người cằn

nhằn nói cả nước đang khổ, sao ổng chơi sang dữ vậy?...”. Và sau đó liên tục

là những câu hỏi đáp:

93

“-Tiền túi của ổng thì ổng xài, miễn sao làm ra thêm nhiều của cải nữa cho xã

hội chớ đừng mua để bay chơi trong khi bà con không có tiền mua xăng bơm

nước cho ruộng lúa.

- Có nhiều người giàu mới bớt được người nghèo chớ!

- Cũng tùy là giàu kiểu nào. Giàu kiểu nhờ đục khoét của công, cấu véo ngân

sách, vòi vĩnh sách nhiễu thì dân tình bệnh thêm thì có! Làm giàu kiểu đó mà

mua máy bay thì tui hổng ủng hộ chút nào...

- Tất nhiên tui không ủng hộ, ông không ủng hộ, bà con mình không ủng hộ.

Thế nhưng vẫn có người ủng hộ đó thôi!

- Bộ có người điên vậy hả?”.

Và tiểu phẩm biến thể này được kết thúc cũng bằng một câu trả lời cho

câu hỏi trong đối thoại một cách đáo để: “Không điên chút nào! Không có

những kẻ hư hỏng kiểu đó thì làm gì có cửa để kẻ xấu chạy chức chạy quyền

tìm cách trục lợi?”.

Tiếp đến hình thức đối thoại giả tưởng là tiểu phẩm biến thể ngụ ngôn

có tính nhân hoá. Dạng biến thể này có kết cấu khá đặc biệt mà thường có hai

dạng chính là:

1. Người kể- Sự kiện được nhân cách hóa

2. Điển cố, điển tích tân trang.

Với dạng người kể- sự kiện được nhân cách hóa, kết cấu thông thường

là một bức thư “trần tình” một cách đau khổ và hài hước về những nối bất

công, ngang trái của chính nhân vật được nhân hoá gửi đến tác giả. Mà thực

chất là tác giả tưởng tượng ra rồi “trần tình” lại với công chúng báo chí. Đó có

94

thể là lời của một dòng sông bị bức tử, của một con đường “khốn nạn” vì bị

đào lên xới xuống suốt ngày đêm…Dạng thứ hai là “chuyện cố tân trang”

thường được bắt đầu với những tích xưa, với những câu chuyện đã có trong

quá khứ được nhắc lại và so sánh với một sự kiện có tính thời sự để từ đó suy

ngẫm về sự đời. Dạng thức này đa phần rơi vào những mảng đề tài về đạo đức,

lối sống, ứng xử văn hoá và những câu chuyện pháp luật. Người viết tiểu phẩm

dạng này phải có một kiến thức văn hóa, lịch sử, văn học, triết học sâu sắc và

uyên bác mới có viết một cách trí tuệ và thuyết phục được bạn đọc.

Một dạng thức biến thể tiểu phẩm khác xuất hiện với tần suất khá cao là

phỏng vấn giả tưởng. Đối tượng được phỏng vấn ở đây là bất kỳ ai và bất kỳ

cái gì…có vấn đề. Kết cấu của tiểu phẩm dạng này như kết cấu của một tác

phẩm phỏng vấn. Có điều nó ngắn gọn, đối tượng không có thật, nhưng thông

qua đối tượng không có thật để đề cập đến một vấn đề thời sự có thật. Tác giả

có thể phỏng vấn một đạo diễn, một bác sỹ, một cây cầu, một làng nghề, một

quan chức, hay một củ khoai, cây lúa…miễn nội dung của cuộc phỏng vấn có

tính thời sự và cách phỏng vấn hài hước, duyên dáng nhưng lại đả kích sâu cay

những mặt trái của cuộc sống hiện tại.

Về dung lượng từ của tiểu phẩm biến thể trên báo chí hiện đại thì đặc

trưng này là yếu tố nhận diện quan trọng và cũng là yêu cầu khắt khe cho

những ai muốn thành công với thể loại này. Ngắn gọn và linh động một cách

tối đa mà vẫn chuyển tải được những thông tin có tính thời sự, qua đó thể hiện

tư duy phản biện và thái độ phê phán trên tinh thần xây dựng các mặt trái xã

hội. Đây là một yêu cầu khó nhưng buộc phải thực hiện nếu muốn thành công

với tiểu phẩm biến thể. Thực tế khảo sát đã chứng minh những tiểu phẩm biến

thể thành công dung lượng từ chỉ bằng một cái tin hoặc tin sâu. Có những tiểu

phẩm biến thể của Bút Bi chỉ vỏn vẹn 155 chữ (“Hiện nguyên hình”- Tuổi trẻ

Thứ 4 ngày 6 tháng 8 năm 2008). Nếu so sánh độ dài của tiểu phẩm biến thể từ

95

Nhà báo Hữu Thọ đến Ba Thợ Tiện, đến Lý Sinh Sự và rồi đến Bút Bi thì tiểu

phẩm biến thể của Bút Bi có kết cấu linh động và ngắn gọn hơn cả. Độ dài

trung bình của tiểu phẩm Bút Bi từ 150 âm tiết đến 300 âm tiết,và ít khi vượt

quá ngưỡng 350 âm tiết. Độ dài trung bình tiểu phẩm biến thể của Bút Bi là từ

200 đến 250 âm tiết. Có thể nói, đây là độ dài không thể ngắn hơn của một tiểu

phẩm biến thể. Sẽ là một yêu cầu khó cho những người viết tiểu phẩm với

dung lượng từ ít ỏi như vậy nhưng lại buộc phải chuyển tải một lượng thông

tin không hề nhỏ. Vậy nhưng đây vẫn sẽ là cái chuẩn cho những người viết

tiểu phẩm báo chí với một phong cách hoàn toàn mới mẻ và hiện đại. Cũng

chính vì lẽ đó mà theo chúng tôi, độ dài của một tiểu phẩm biến thể hợp lý và

trung bình cố gắng để không vượt quá ngưỡng 400 âm tiết. Và đây cũng là một

đặc trưng quan trọng để nhận diện biến thể tiểu phẩm trên báo in Việt Nam

hiện đại.

Một đặc điểm khác về vị trí của tiểu phẩm biến thể cũng rất dễ dàng

nhận thấy, là tiểu phẩm biến thể xuất hiện ở vị trí khá trang trọng trên mặt báo.

Phần lớn các báo có chuyên mục này như Lao động, Tuổi trẻ, Sức khỏe đời

sống, Pháp luật Việt Nam, Pháp luật TP.Hồ Chí Minh, Nhà báo và công

luận…đều dành “đất” ở vị trí “đắc địa” cho tiểu phẩm biến thể. Cụ thể là trên

trang 2 của báo, một số tờ thì tiểu phẩm biến thể nằm ở trang nối 8 và 9. Vị trí

trang trọng của tiểu phẩm biến thể phần nào phản ánh tầm quan trọng của thể

loại này trong hoạt động thông tin báo chí hiện đại hiện nay. Một số báo như

Thanh niên, Nhân dân, Tiền phong với các mục “Chào buổi sáng”, “Cùng suy

ngẫm”, “Thời luận” nhiều lúc cũng là những tiểu phẩm biến thể dạng chính

luận. Điều này một một lần nữa cho thấy tiểu phẩm và tiểu phẩm biến thể đang

là một thế mạnh thông tin, một thể loại báo chí mạnh đang chiếm ưu thế trên

báo in. Và đây cũng là một đặc điểm hình thức để phân định và nhận dạng tiểu

phẩm biến thể.

96

V. Định danh tiểu phẩm biến thể.

Định danh tiểu phẩm biến thể là một sự phân loại mang tính tương đối, tuy

nhiên đây là lần đầu nó được gọi tên trong lý luận báo chí học. Chúng tôi định

danh tiểu phẩm biến thể dựa trên những đặc trưng về cả về nội dung lẫn hình

thức thể hiện tác phẩm. Sẽ còn nhiều quan điểm khác nhau về sự định danh

này, nhưng việc gọi tên cho tiểu phẩm biến thể là hết sức cần thiết cho cả việc

nghiên cứu lý luận về tiểu phẩm cũng như giúp người viết có những ý niệm rõ

ràng để tiếp cận và vận dụng nó trong thực tiễn hoạt động báo chí của mình.

Trong việc lựa chọn các tác giả để khảo sát và phân tích, chúng tôi cũng đã

chọn những cây bút mà phong cách của họ có những dị biệt để tạo ra những

phong cách tiểu phẩm khác nhau, trên cơ sở đó việc định danh cho tiểu phẩm

cũng thuận lợi và có cơ sở khoa học hơn.

Trên những đặc điểm về nội dung, đề tài phản ánh, ngôn ngữ thể hiện, cấu

trúc, độ dài, lối dẫn chuyện và chính kiến của người viết, chúng tôi tạm phân

chia và định danh tiểu phẩm biến thể theo các dạng thức sau.

5.1 Tiểu phẩm chính luận-thời đàm.

Đây là dạng thức có cấu trúc ổn định và tương đối “nghiêm túc” của một

tác phẩm báo chí với kết cấu tự luận thông thường. Nghĩa là đặt vấn đề, giải

quyết vấn đề và kết thúc vấn đề trong một bài báo với những lập luận và tư

duy sắc sảo, có tính hài hước mang màu sắc trí tuệ. Cạnh đó, ngôn ngữ dùng

để đả kích và phản biện độ sắc sảo của trí tuệ và lập luận có tần suất nhiều hơn

những lớp từ có tính hài hước. Cách diễn đạt, so sánh, liên tưởng của tiểu

phẩm chính luận cũng mượt mà, giàu chất văn và thấm sâu vào tư duy, tình

cảm của người đọc với cái cười ý nhị, tinh tế. Dạng tiểu phẩm này chúng tôi

gọi là tiểu phẩm chính luận- thời đàm. Tiểu phẩm chính luận đôi lúc đóng vai

trò của một bài bình luận hay xã luận trên trang nhất của nhiều tờ báo như

97

“Chào buổi sáng” của Thanh niên, “Cùng suy ngẫm” trên báo Nhân dân, “Thời

luận” trên báo Tiền phong…

Tiểu phẩm chính luận đề cập trực tiếp đến các vấn đề chính trị, các chính

sách lớn của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, đối nội và đường hướng phát triển

kinh tế, văn hóa, xã hội…Tuy nhiên tiểu phẩm biến thể chính luận chỉ quan

tâm phản ánh để phản biện những mặt khiếm khuyết, cái chưa hoàn thiện trong

những vấn đề lớn có tính vỹ mô này. Tiểu phẩm biến thể chính luận được định

danh chủ yếu dựa vào nội dung và đề tài phản ánh của nó. Tiểu phẩm biến thể

chính luận còn là những dạng thức đàm luận về các vấn đề xã hội, cuộc sống

có tính thời sự với một lỗi diễn đạt uyển chuyển có tính văn học như đã phân

tích. Chính vì bám sát những vấn đề có tính thời sự, giải quyết vấn đề trên tinh

thần “đàm luận” hài hước như vậy, chúng tôi gọi dạng này là Tiểu phẩm Chính

luận- Thời đàm. Về dạng thức tiểu phẩm biến thể này thể hiện rất rõ nét trong

phong cách tiểu phẩm của nhà báo Hữu Thọ.

5.2 Tiểu phẩm đối thoại giả tƣởng và phỏng vấn giả tƣởng.

Đây là một dạng thức được sử dụng rất phổ biến ở hầu hết các nhà báo viết

tiểu phẩm trên báo chí hiện đại hiện nay. Về những đặc trưng đặc điểm của

dạng tiểu phẩm biến thể này chúng tôi đã phân tích kỹ trong phong cách tiểu

phẩm của các tác giả khảo sát như Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự và Bút Bi. Không

chỉ có các tác giả này mà hiện nay nhiều cây bút tiểu phẩm khác cũng sử dụng

dạng thức tiểu phẩm biến thể này như Lê Thị Liên Hoan, Thảo Hảo, Ong Bò

Vẽ, Mõ, Cả Nghĩ…trên các báo An ninh thế giới cuối tháng, Văn hóa- Thể

thao, Pháp luật Việt Nam, Nông thôn ngày nay, Sức khỏe đời sống…

Sự định danh tiểu phẩm đối thoại giả tưởng và phỏng vấn giả tưởng chủ

yếu dựa vào những đặc điểm kết cấu và phong cách với sự xuất hiện của nhân

vật thứ hai ngoài tác giả. Với tiểu phẩm đối thoại giả tưởng giữa tác giả và một

98

nhân vật thứ hai cùng đối đáp, luận bàn, tranh luận một cách hài hước để phê

phán một vấn đề xã hội nào đó. Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự và Bút Bi là những

điển hình cho việc sử dụng dạng thức tiểu phẩm đối thoại giả tưởng này. Với

tiểu phẩm phỏng vấn giả tưởng, ta dễ nhận thấy kết cấu của nó như là một

cuộc trò chuyện giữa tác giả với bất kỳ ai, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào để làm

nổi bật một vấn đề có tính thời sự. Những câu phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

có yếu tố hài trong phong cách sử dụng ngôn ngữ như một đặc điểm riêng của

thể loại tiểu phẩm. Điển hình cho phỏng vấn giả tưởng là các cây bút như Bút

Bi, Lê Thị Liên Hoan,Thảo Hảo…

5.3 Tiểu phẩm ngụ ngôn.

Biến thể này cũng được sử dụng khá nhiều, nhưng đa phần là những cây

bút “giàu có” về kiến thức và vốn sống cũng như sự trải nghiệm. Đó là kho

tàng kiến thức về văn hóa, lịch sử đông tây kim cổ được khai thác, chế biến,

“tân trang” lại thành những tiểu phẩm thời nay một cách hấp dẫn và đầy sức

thuyết phục. Cách “mượn gió bẻ măng”, “ngẫm xưa nghĩ nay” trong tiểu phẩm

ngụ ngôn luôn phát huy được những hiệu quả thông tin trong việc phê phán

các mặt trái của xã hội, đặc biệt là trong cách ứng xử văn hóa và các vấn đề về

đạo đức, lối sống.

Tiểu phẩm ngụ ngôn còn có một dạng thức khác là dùng thủ pháp nhân hóa

của văn học để “thay lời muốn nói” của các sự vật, hiện tượng. Để cho tự thân

các sự vật, hiện tượng vô tri vô giác “trần tình” về nỗi thống khổ của mình qua

thái độ vô cảm, thiếu trách nhiệm của con người gây ra. Từ rừng núi, dòng

sông, con đường, cây cầu…đều có thể là đối tượng trong tiểu phẩm ngụ ngôn

để tác giả bày tỏ chính kiến, thái độ phản kháng trước những hiện tượng tiêu

cực của chính con người gây ra cho môi trường tự nhiên cũng như môi trường

xã hội. Lý Sinh Sự, Ba Thợ Tiện, Bút Bi là một trong những cây bút tiểu phẩm

99

sử dụng thành công tiểu phẩm ngụ ngôn dạng này. Tiểu phẩm ngụ ngôn thông

điệp rõ ràng luôn là những bài học rút ra từ chính bản thân cuộc sống với

những mặt trái của nó ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống hàng ngày.

5.4 Tiểu phẩm tiếu lâm

Tiểu phẩm tiếu lâm cũng là một dạng thức xuất hiện khá nhiều trên báo in

hiện nay. Dạng thức này gần gũi với văn học hơn cả, nhưng tính chiến đấu và

tính báo chí không mạnh mẽ như các dạnh tiểu phẩm biến thể được định danh

nói trên. Tiểu phẩm tiếu lâm đa phần là những tiếng cười giải trí nhẹ nhõm,

bông đùa. Đó là những chuyện tréo ngoe trong cuộc sống, trong sinh hoạt đời

thường, là những tình huống không thể không bật ra thành tiếng cười sảng

khoái. Tuy nhiên, dạng tiểu phẩm tiếu lâm này có giá trị giải trí nhiều hơn

hoặc phê phán nhẹ nhàng những chuyện trái khoáy thường nhật, những thói hư

tật xấu trong ứng xử. Tiểu phẩm tiếu lâm có giá trị “mua vui”hơn là các giá trị

về thông tin, tư tưởng. Tiểu phẩm tiếu lâm vì vậy chỉ nằm ở các trang giải trí,

văn hóa văn nghệ, góc hài hước… chứ không nằm ở các vị trí trang trọng như

các dạng thức tiểu phẩm biến thể khác.

Tiểu kết chƣơng 3

Rõ ràng trong sự vận động của xã hội truyền thông, các thể loại báo chí

nói chung đều có những bước phát triển để hiện đại hóa phong cách thể hiện

của mình để đưa nội dung và thông điệp thông tin đến với công chúng một

cách có hiệu quả nhất. Đây là sự vận động mang tính quy luật, hiện đại hóa

báo chí, đồng nghĩa với việc hiện đại hóa thể loại báo chí. Tiểu phẩm báo chí

không nằm ngoài quy luật này. Qua việc phân tích, khảo sát một số cây bút

tiểu phẩm tiêu biểu, cụ thể là Hữu Thọ, Ba Thợ Tiện, Lý Sinh sự và đối chiếu

với những tiểu phẩm gốc của các tác giả tiền bối đã cho thấy bản thân tiểu

phẩm có sự vận động rõ nét. Sự vận động ấy tạo ra những tiểu phẩm phái sinh

100

mà chúng tôi gọi là những tiểu phẩm biến thể. Đó là một thể loại có kết cấu

ngắn gọn, linh động, giàu tính chiến đấu và có sức hấp dẫn lớn đối với độc giả

bởi tính trí tuệ và hài hước của nó.

Việc phân tích các tiểu đặc trưng, đặc điểm, kết cấu, nội dung, chủ đề tư

tưởng…đã dẫn đến việc cần có một định danh cho các tiểu phẩm biến thể.

Chúng tôi tạm đưa ra bốn dạng thức cơ bản dễ nhận thấy là: Tiểu phẩm chính

luận- thời đàm; tiểu phẩm đối thoại và phỏng vấn giả tưởng; tiểu phẩm ngụ

ngôn và tiểu phẩm tiếu lâm.

KẾT LUẬN

Tiểu phẩm báo chí là một thể loại hấp dẫn và có tính chiến đấu cao. Ngay

từ khi xuất hiện trên báo in, nó nhanh chóng trở thành một thứ vũ khí tinh thần

độc đáo, dùng tiếng cười trí tuệ để đánh vào những bất công, ngang trái trong

xã hội đương thời. Báo chí thế giới, nhất là những nơi có nền báo chí phát triển

mạnh, đặc biệt là báo chí phương Tây đều sử có sử dụng thể loại tiểu phẩm, và

đây cũng chính nơi xuất hiện khái niệm tiểu phẩm- feuileton..

Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi báo chí manh nha xuất hiện và khi các tờ

báo chữ quốc ngữ đầu tiên xuất hiện ở ta, một hình thức thể loại xuất hiện sớm

và nhanh chóng được ưa chuộng chính là thể loại tiểu phẩm. Yếu tố trí tuệ

nhưng hài hước, tiếng cười mai mỉa, sâu cay nhanh chóng trở thành một thứ vũ

khí tinh thần lợi hại cho mặt trận tư tưởng trên báo chí.

Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, khi những bất công, áp bức và tội ác của

chủ nghĩa thực dân, đế quốc đè nén lên người dân Việt Nam thì cũng là lúc

bùng phát lên ngọn lửa đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền và tự do cho dân

tộc. Lúc này trên mặt trận tư tưởng cũng hình thành những mặt trận đối lập và

101

sử dụng vũ khí tinh thần làm phương tiện đấu tranh một cách hiệu quả. Tiểu

phẩm chính là một trong những thứ vũ khí hữu hiệu đó.

Khi dòng báo chí theo khuynh hướng yêu nước,báo chí công khai nhất là

báo chí cách mạng xuất hiện thì tiểu phẩm báo chí xuất hiện một cách mạnh

mẽ và tính đấu tranh cũng dữ dội hơn nhiều.Tiểu phẩm báo chí tố cáo và vạch

trần tội ác của chủ nghĩa thực dân một cách thuyết phục, mai mỉa và đau đớn.

Nhiều cây bút tiểu phẩm xuất hiện mà tên tuổi của họ gắn chặt với thể loại tiểu

phẩm. Đặc biệt ở giai đoạn đầu thế kỷ XX, hai phong cách, hai cây bút tiểu

phẩm bậc thầy không thể không nhắc đến là Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố.

Khối lượng khổng lồ các tiểu phẩm báo chí của hai cây bút này là một di sản

tinh thần quý báu để chúng ta nghiên cứu về những đặc trưng, đặc điểm của

thể loại tiểu phẩm và cũng là những nguồn cứ liệu để so sánh với sự vận động

và phát triển của thể loại báo chí sau này trên cả phương diện nội dung lẫn

hình thức thể hiện. Đây có thể xem là hai cây bút bậc thầy về thể loại tiểu

phẩm trong dòng chảy báo chí nước ta từ lúc bình minh cho đến nay.

Tuy vậy hoàn cảnh xã hội, lịch sử sẽ chi phối hoạt động truyền thông, báo

chí. Đây là một quy luật phổ biến, đồng thời phản ánh những nét đặc thù của

thực tiễn lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XX. Đất nước đang đấu tranh chống

giặc ngoại xâm, khi dành được chính quyền thì tiến hành kiến quốc trong một

điều kiện kịnh tế hết sức khó khăn, kế đến lại đấu tranh chống những kẻ thù

xâm lược khác. Hoàn cảnh lịch sử chi phối làm cho nội dung phản ảnh của tiểu

phẩm thời đó cũng xoay quanh những trục thông tin này để đấu tranh, phản

ảnh và xây dựng. Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố đều là những người có học

vấn và có kiến thức văn hóa, ngoại ngữ của Trung Hoa và Pháp nên tiểu phẩm

báo chí của hai tác giả này có ý nghĩa như một sự tiếp thu sáng tạo các nguyên

mẫu tiểu phẩm, nhờ vậy mà có một sức sống lâu bền bởi tính hiện đại của nó

cả trên phương diện nghệ thuật và phương pháp thể hiện. Tuy nhiên, sau khi

102

đất nước thống nhất, hoàn cảnh lịch sử, xã hội thay đổi, đặc biệt là sau hơn 20

năm đổi mới, khi đất nước vận hành theo cơ chế thị trường và định hướng xã

hội chủ nghĩa thì báo chí đã tạo cho mình một diện mạo hoàn toàn mới.

Báo chí thời kỳ đổi mới phát triển trong một kỷ nguyên đa truyền thông và

bùng nổ thông tin. Xã hội càng hiện đại, con người càng ngày càng thêm nhiều

mối quan tâm hơn thì báo chí buộc phải thay đổi và hiện đại hóa để đáp ứng

nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng. Việc hiện đại hóa báo chí,

kéo theo đó là hiện đại hóa thể loại được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết có

tính sống còn. Tiểu phẩm báo chí cũng có những sự vận động và phát triển

theo xu thế thời đại tất yếu này.

Vận động và phát triển, tất yếu trong quá trình đó sẽ làm nảy sinh cái mới,

cái tiến bộ. Sự vận động của tiểu phẩm trước hết là về nội dung, thể hiện ở sự

phong phú về đề tài phản ánh của tiểu phẩm. Mọi mặt trái của đời sống chính

trị, kinh tế, văn hóa…đều là địa hạt để tiểu phẩm đả kích, phê phán một cách

kịp thời trên tinh thần xây dựng. Theo đó, tính chính luận của tiểu phẩm ngày

càng được định hình và khẳng định như một nét trội của thể loại. Tính văn học

ngày càng thể hiện rõ chỉ là hình thức thể hiện, là cái vỏ mà báo chí vay mượn

để khoác vào tiểu phẩm. Và để tiểu phẩm đích thực là một thể loại báo chí chứ

không phải là một thể loại văn học hay là một thể loại có gốc từ văn học. Từ

chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, chống bệnh thành tích, phòng chống tội

phạm và tất cả những gì thuộc phần “mặt trái” của xã hội đều là đề tài “chống”

để “xây”của tiểu phẩm.

Sự vận động về nội dung dẫn đến hình thức tiểu phẩm cũng có những thay

đổi cho phù hợp với yêu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng cao và khó tính của

công chúng. Tiểu phẩm báo chí dần dần có những bước phát triển vượt trội so

với tiểu phẩm truyền thống, và nó tạo ra những biến thể mới so với caí gốc ban

103

đầu của nó. Và chính những biến thể này tạo ra một diện mạo hoàn toàn mới

cho tiểu phẩm, theo đó tính hấp dẫn của thể loại, tính chiến đấu của thể loại

cũng tăng lên nhiều lần khi được sự tiếp nhận từ công chúng để tạo ra những

sức mạnh của dư luận xã hội.

Biến thể trên phương diện hình thức rõ nét nhất là những thay đổi về cấu

trúc tác phẩm. Với những kết cấu thường thấy, tiểu phẩm có những phái sinh

thành những tiểu phẩm ngụ ngôn, tiểu phẩm đối thoại giả tưởng, phỏng vấn giả

tưởng, tiểu phẩm phóng tác…Tiểu phẩm báo chí ban đầu có độ dài đến có thể

đến 1000 chữ hoặc hơn, nhưng qua sự đúc rút và sáng tạo theo thời gian, các

tác giả với những phong cách tiểu phẩm biến thể rút ngắn xuống còn 150 đến

300 chữ mà vẫn đảm bảo hiệu quả thông tin của thể loại tiểu phẩm.

Từ đó cho thấy sự xuất hiện của những tiểu phẩm biến thể là một thực tiễn

hiển hiện trong hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí. Chúng tôi đã nỗ lực góp

phần nghiên cứu và tổng kết nó lần đầu trên phương diện lý luận. Vì đây là

những cố gắng ban đầu trên con đường khai phá vấn đề,chúng tôi cho rằng tiểu

phẩm biến thể chắc chắn sẽ còn là vấn đề hấp dẫn cần được tiếp tục nghiên

cứu để đúc kết thành lý luận thể loại trong báo chí học. Sự vận động của tiểu

phẩm để dẫn đến những tiểu phẩm biến thể.Những biến thể này được định

danh sẽ góp phần giúp ích cho công tác nghiên cứu tiểu phẩm biến thể cũng

như phần náo giúp ích cho những ai quan tâm và viết về thể loại này.

Tóm lại từ tiểu phẩm báo chí định hình trong lịch sử thể loại, qua sự vận

động và phát triển của xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của báo chí hiện

đại, tiểu phẩm phát triển lên thành những dạng thức mới cao hơn, đó là các

tiểu phẩm phái sinh hay còn gọi là tiểu phẩm biến thể. Thể loại hấp dẫn và linh

động đang chiếm ưu thế trên báo in hiện đại bởi tần suất sử dụng và hiệu quả

truyền thông mà nó mang lại. Trong thực tiễn hoạt động báo chí hiện nay, tiểu

104

phẩm biến thể sẽ còn tiếp tục là một thể loại mạnh và với những ưu thế của nó,

tiểu phẩm biến thể sẽ còn tiếp tục được nhiều tờ báo sử dụng. Và tất yếu các

tòa soạn sẽ rất cần những cây bút tiểu phẩm để tạo nên những cây bút có thẩm

quyền trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mình.

105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. VĂN KIỆN

1. Lê Nin nói về sách và báo- NXB Sách giáo khoa Mác- Lênin- Hà

Nội, 1998

2. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X-NXB Chính trị

Quốc gia- Hà Nội, 2006

3. Hồ Chí Minh toàn tập- tậpI, II, III, V, VI, VII- NXB Văn học-Hà

Nội, 1996.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng- Ban Tư tưởng Văn

hóa Trung ương-Hội Nhà báo Việt Nam- NXB Chính trị Quốc gia-

Hà Nội, 2004.

5. Nghị quyết TW 5(Khóa X) về công tác tư tưởng, Lý luận, Báo chí

trước yêu cầu mới- NXB Chính trị Quốc gia- Hà Nội, 2007

II. SÁCH

1. Hà Minh Đức tuyển tập- tập 1, 2, 3- NXB Giáo dục- Hà Nội, 2004

2. Hà Minh Đức(chủ biên)- Báo chí những vấn đề lý luận và thực

tiễn- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 1997

3. Hà Minh Đức- Thời gian và nhân chứng- NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 1997

4. Hà Minh Đức- Cơ sở lý luận báo chí- Đặc tính chung và phong

cách- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2000

5. Thảo Hảo- Nhân trường hợp chị Thỏ Bông và những bài viết khác-

NXB Hội nhà văn- Hà Nội, 2006

6. Vũ Quang Hào- Ngôn ngữ báo chí- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2007

(tái bản)

7. Đỗ Quang Hưng- Lịch sử Báo chí Việt Nam 1865- 1945- NXB Đại

học Quốc gia- Hà Nội, 2001

8. Phạm Thành Hưng- Thuật ngữ báo chí Truyền thông- NXB Đại

học Quốc gia- Hà Nội, 2007

9. Vũ Châu Quán- Bác Hồ với báo Việt Nam độc lập- NXB Thanh

niên- Hà Nội, 2008

10. Trần Quang- Các thể loại báo chí chính luận- NXB Đại học Quốc

gia- Hà Nội, 2007 (tái bản)

11. Nguyễn Ái Quốc- Truyện và ký- NXB Văn học- Hà Nội, 1974

12. Bùi Hoài Sơn- Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi

Văn hóa- Xã hội ở Việt Nam- NXB Khoa học xã hội- Hà Nội, 2008

13. Dương Xuân Sơn- Các thể loại báo chí Chính luận nghệ thuật-

NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2004, (tái bản 2007)

14. Dương Xuân Sơn- Đinh Văn Hường- Trần Quang- Cơ sở lý luận

Báo chí Truyền thông- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2004

15. Lý Sinh Sự- Nói hay đừng- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2008

16. Lý Sinh Sự- Hãy viết Tiểu phẩm đi- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2007

17. Tạ Ngọc Tấn- Từ lý luận đến thực tiễn Báo chí- NXB Văn hóa

Thông tin- Hà Nội, 1999

18. Cao Ngọc Thắng- Hồ Chí Minh- nhà báo cách mạng, NXB Thanh

niên- Hà Nội, 2008

19. Nguyễn Thành- Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo nước

ngoài- NXB Công an nhân dân- Hà Nội, 2005

20. Nguyễn Thị Minh Thái- Phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật

trên báo chí- NXB Đại học Quốc gia- Hà Nội, 2005

21. Ba Thợ Tiện- Tạp văn- NXB Đồng Nai, 2006

22. Ngô Tất Tố- Tiểu phẩm báo chí- NXB Hội nhà văn- Hà Nội, 2005

III. BÁO VÀ TẠP CHÍ

1. Báo Lao động năm 2005- 2006- 2007-2008

2. Báo Nhân dân năm 2005- 2006-2007-2008

3. Báo Tuổi trẻ năm 2007- 2008

4. Tạp chí Người làm báo năm 2006-2007-2008

IV. BÁO ĐIỆN TỬ VÀ WEBSITE

1. www.laodong.com.vn

2. www.nhandan.org.vn

3. www.tuoitre.com.vn

4. www.vietnamjournalism.com