VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ----------
ĐOÀN TRỌNG ĐÀN
CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ
THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
ĐOÀN TRỌNG ĐÀN
CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ
THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM THỊ THÚY NGA
Hà Nội, năm 2021
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống an sinh xã hội (Sau đây được viết tắt là ASXH) là sự bảo vệ của xã
hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng để chống
lại những khó khăn trong cuộc sống như tai nạn nghề nghiệp, ốm đau bệnh tật, thu
nhập bị giảm sút,… qua đó góp phần bảo đảm an toàn, ổn định cho sự phát triển
kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Trong hệ thống này, Bảo hiểm xã hội luôn giữ vai
trò trụ cột, bền vững nhất, tạo tiền đề để thực hiện tốt các chính sách an sinh, có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người lao động và Nhà nước.
Đối với những người vượt quá độ tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào
quan hệ lao động, áp lực về tài chính luôn là một trong các mối quan tâm hàng đầu
trong cuộc sống khi mà thu nhập của họ đã bị suy giảm. Đây luôn là các đối tượng
yếu thế được pháp luật quan tâm bảo vệ một cách đặc biệt. Chế độ hưu trí ra đời
nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho người tham gia Bảo hiểm xã hội (Sau đây được
viết tắt là BHXH) khi hết độ tuổi lao động để họ không phải phụ thuộc vào gia đình,
người thân, xã hội nếu như không có một nguồn thu nhập nào khác và phải đi làm ở
cái tuổi đáng lẽ phải được nghỉ ngơi. Nhận thức được vấn đề này, ngay những năm
đầu thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng công tác xây dựng các văn bản
pháp lý điều chỉnh các vấn đề về BHXH, trong đó một nhóm đối tượng phải tham
gia BHXH bắt buộc sẽ được hưởng chế độ hưu trí, sự phát triển của pháp luật
BHXH luôn hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, bảo đảm phát huy tối đa quyền con người trong xã hội. Ngày nay, với bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, chính sách ASXH ngày càng được
coi trọng, đây được xem là một trong những nhân tố hàng đầu bảo đảm cho sự phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế,
góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Điều 34 và Điều 59 Hiến pháp năm 2013 của nước đã ghi nhận công dân có
quyền được bảo đảm ASXH, được Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để thụ hưởng
phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống ASXH. Do đó, sự ra đời của chế độ hưu trí theo
1
pháp luật BHXH bắt buộc ở Việt Nam là một tất yếu, đáp ứng nguyện vọng của
Người lao động (sau đây viết tắt là NLĐ) trong xã hội, thông qua đó quyền lợi của
NLĐ vẫn được bảo vệ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động với cộng đồng bằng
việc thực hiện những chính sách ưu đãi, trợ giúp NLĐ khi về hưu có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc ngày càng được chú trọng hoàn thiện, hướng tới mục tiêu bảo đảm
tốt nhất về quyền con người, xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, tăng năng
suất lao động để tạo ra nhiều của cải vật chất, đóng góp to lớn vào quá trình vận
động và phát triển kinh tế thị trường, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu, qua đó
thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng
đồng nước ta.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tuổi thọ trung bình của người dân ở
nước ngày một tăng cao, tỷ lệ sinh ngày càng giảm dẫn đến tình trạng già hóa dân
số gây ra các tác động không nhỏ đến ngân sách của nhà nước, kinh tế - xã hội và
an ninh quốc phòng. Việc xây dựng, sủa đổi và thực thi chế độ hưu trí theo pháp
luật BHXH bắt buộc trên địa bàn cả nước nói chung cũng như tại huyện Thái Thụy,
tỉnh Thái Bình nói riêng vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định. Nhiều quy định
được ban hành nhưng chưa được hướng dẫn cụ thể, không có sự đồng nhất giữa văn
bản luật và thực tiễn thực hiện, một số quy định không phát huy tác dụng trong thực
tế v.v.. Bên cạnh đó, độ tuổi hưởng chế độ hưu trí giữa các ngành nghề, mỗi giới
tính còn chưa đồng nhất dẫn đến có sự chênh lệch nhất định về mức hưởng, tuổi
hưởng chế độ hưu trí trong khi mức đóng là gần như nhau.
Trên cơ đó, việc hoàn thiện và thực hiện các quy định về chế độ hưu trí theo
pháp luật BHXH bắt buộc là một vấn đề cấp thiết, phù hợp với nguyện vọng của
nhiều đối tượng trong xã hội, là vấn đề cần được Nhà nước và xã hội quan tâm, có
như vậy hệ thống ASXH mới được phát triển một cách bền vững. Vì vậy, tác giả
chọn đề tài: “Chế độ hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc từ thực tiễn
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” để làm Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế nhằm
góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ hưu trí, nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, góp phần duy trì và thực hiện tốt
chính sách ASXH của quốc gia.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu về chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc được cụ thể
hóa ở các luật chuyên ngành như Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ luật Lao động, Luật
Công an nhân dân, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân, Luật Quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân và viên chức Quốc phòng,… có thể thấy đây không phải là một
đề tài mới nhưng nó đang trở thành mối quan tâm của Đảng, Nhà nước và các nhà
nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn. Trong thời gian gần đây, đã có nhiều bài viết,
công trình nghiên cứu khoa học nhằm đóng góp ý kiến xây dựng, hoàn thiện pháp
luật về hệ thống BHXH nói chung cũng như về chế độ hưu trí nói riêng, trong đó,
tác giả được biết đến một số đề án, đề tài như:
Thứ nhất, về các công trình nghiên cứu chung các chế độ trong lĩnh vực
BHXH bắt buộc:
- Đề án nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phòng chống
lạm dụng quỹ bảo hiểm xã hội” do Thạc sỹ Điều Bá Được, Trưởng ban thực hiện
chính sách BHXH, BHXH Việt Nam làm chủ nhiệm (năm 2012);
- Đảng Bộ cơ quan BHXH Việt Nam (2018) “Giải pháp và nâng cao chất lượng
công tác, kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam”, do
Nguyễn Thị Nga, Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan BHXH Việt Nam làm chủ nhiệm;
- Đề án cải cách chính sách BHXH do Chính phủ giao Bộ LĐTBXH chủ trì
phối hợp với các Bộ, ngành và các chuyên gia xây dựng chương trình Hội nghị
Trung ương 7, khóa XII tháng 05/2018. Thông qua hội nghị này, Ban chấp hành
Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW với nhiều nội dung mang
tính đột phá, trong đó có việc cải cách chính sách tiền lương, BHXH để phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
- Nguyễn Quang Trường (2016)“Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở
nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương;
- Bùi Thị Thanh Hương (2017) “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt
Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội;
3
- Nguyễn Thị Hương (2018) “Pháp luật xây dựng Bảo hiểm xã hội bắt buộc
qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Trị”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường đại
học Luật – Đại học huế;
- Nguyễn Thùy Dung (2019) “Vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội và thực
tiễn giải quyết tại thành phố Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sĩ Luật Học, Đại học Luật
Hà Nội;
Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực chế độ hưu trí theo pháp
luật BHXH bắt buộc có thể kể đến đó là:
- Đề án nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Chế độ hưu trí, tử tuất theo quy định
của Luật bảo hiểm xã hội – Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện” do Hoàng Kim
Dung, Phó trưởng ban thực hiện chính sách BHXH, BHXH Việt Nam làm chủ
nhiệm (năm 2014);
- Hà Thị Hiền (2018) “Chế độ hưu trí theo pháp luật Bảo hiểm xã hội 2014 ở
Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội;
- Nguyễn Thị Thu Thủy (2019) “Chế độ hưu trí theo pháp luật Bảo hiểm xã
hội Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học
viện Khoa học xã hội;
- Nguyễn Thị Phương Thảo (2019) “Pháp luật về bảo hiểm hưu trí và thực
tiễn tại tỉnh Ninh Bình”, Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội;
- Đào Tiểu Ngọc (2020) “Bảo hiểm hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội
Việt Nam từ thực tiễn Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Luật
Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề sau:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về BHXH và các chế độ của
BHXH như: khái niệm, đặc trưng, lịch sử hình thành, phát triển của BHXH và
những vấn đề lý luận cơ bản khác.
Hai là, nghiên cứu những quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật
về BHXH, trong đó có chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH.
Ba là, đề xuất những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu
trí theo pháp luật BHXH, các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
BHXH.
4
Tuy nhiên, trong hệ thống quy định hiện hành điều chỉnh quan hệ hưu trí
bắt buộc, Bộ luật Lao động năm 2019 được ban hành với hiệu lực áp dụng từ
ngày 01/01/2021 đã có thay đổi một số nội dung liên quan đến chế độ hưu trí,
đặc biệt lộ trình điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu và các điều khoản sửa đổi Luật
BHXH năm 2014, đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu pháp luật về chế độ hưu trí bắt
buộc ở Việt Nam hiện nay, góp phần làm rõ các quy định đã ban hành, thực tiễn
thực hiện và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Bên cạnh đó,
các công trình được đề cập ở trên chưa từng nghiên cứu đến thực tiễn thực hiện
chế độ hưu trí bắt buộc tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Chính vì vậy, Luận
văn kế thừa các nội dung nghiên cứu trên, đồng thời làm rõ các vấn đề còn bỏ
ngỏ về chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc và đánh giá thực tiễn áp
dụng những quy định này từ thực tiễn tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về
chế độ hưu trí theo chính sách BHXH bắt buộc trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn
diện thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện tại huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình. Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về chế độ hưu trí theo
pháp luật BHXH bắt buộc tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đảm bảo mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện và hoàn thành các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Kế thừa, tiếp nối các lý thuyết về BHXH bắt buộc, chế độ hưu trí theo pháp
luật BHXH bắt buộc để làm rõ khái niệm pháp luật BHHT bắt buộc, nguyên tắc của
chế độ hưu trí bắt buộc, nội dung cơ bản của chế độ hưu trí bắt buộc.
- Phân tích các quy định hiện hành điều chỉnh chế độ hưu trí theo BHXH bắt
buộc ở Việt Nam để xác định được các đối tượng tham gia, chế độ hưởng, thủ tục
hưởng chế độ hưu trí bắt buộc và quỹ bảo hiểm hưu trí.
5
- Nghiên cứu pháp luật về BHXH của một số nước như Đức, Nhật Bản và
Trung Quốc từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Thông qua phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh để khảo sát thực
tiễn và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ hưu trí ở huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình để làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của
hạn chế còn tồn đọng.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí
theo pháp luật BHXH bắt buộc và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí bắt
buộc từ kinh nghiệm của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định hiện hành của pháp luật
Việt Nam về chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc.
Luận văn đánh giá thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt
buộc tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật Việt Nam về chế
độ hưu tí theo pháp luật BHXH bắt buộc. Do điều kiện nghiên cứu hạn chế, Luận
văn không nghiên cứu về các nội dung sau: lịch sử hình thành và quá trình phát
triển của pháp luật về BHHT bắt buộc ở nước ta, vai trò chế độ hưu trí bắt buộc, xử
lý vi phạm, giải quyết tranh chấp về BHHT, cũng như giải quyết chế độ hưu trí cho
NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài một cách hiệu quả, tác giả đã sử dụng phương
pháp duy vật biện chứng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước trong từng thời kỳ để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
Tác giả đã sử dụng đồng bộ một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích các quy phạm của luật thực định có liên quan đến tên
đề tài của Luận văn.
6
- Phương pháp tổng hợp các quan điểm khác nhau về nhận thức khoa học xung
quanh các khái niệm, quy phạm pháp luật liên quan đến pháp luật về BHXH bắt
buộc.
- Phương pháp lịch sử khảo cứu các nguồn tư liệu, đặc biệt là các tư liệu về
chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc; các báo cáo tổng kết của cơ quan
BHXH huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Ủy ban nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình…
- Dùng những lập luận, cơ sở pháp lý, số liệu cụ thể để chứng minh thực trạng
quy định pháp luật về chế độ hưu trí bắt buộc ở nước ta và thực trạng áp dụng ở địa
bàn huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình nói riêng.
- Phương pháp so sánh luật học nhằm đối chiếu các quy định pháp luật về chế
độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc qua các giai đoạn thay đổi và phát triển
kinh tế - xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thứ nhất, Luận văn đã phân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về BHXH
nói chung cũng như về chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc nói riêng.
Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng pháp luật về pháp luật BHXH bắt buộc; chế
độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình.
Thứ ba, chỉ ra được những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của từng hạn chế
trong thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc tại huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Thứ tư, đề ra những giải pháp quan trọng nhằm hoàn thiện các quy định pháp
luật về chế độ hưu trí bắt buộc, đồng thời nâng cao hiệu quả việc thực hiện chế độ
hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Thứ năm, đề tài có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu, học tập của các sinh
viên chuyên ngành luật và các chuyên ngành khác có liên quan. Đề tài cũng có thể
dùng tham khảo trong quá trình xây dựng chính sách về chế độ hưu trí và nâng cao
hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
7. Kết cấu của Luận văn
7
Luận văn được thiết kế gồm 3 phần lớn: Phần mở đầu, phần nội dung và phần
kết luận. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: Danh mục từ viết tắt, mục lục,
danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu,…
Trong đó, phần nội dung được thiết kế thành 03 chương, cụ thể:
Chương 1: Khái quát chung về chế độ hưu trí và quy định pháp luật bảo hiểm
xã hội bắt buộc về chế độ hưu trí ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội
bắt buộc tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện chế độ hưu trí bắt buộc và nâng
cao hiệu quả thực hiện từ kinh nghiệm của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
8
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
1.1. Khái quát chung về pháp luật bảo hiểm hưu trí bắt buộc và chế độ
hưu trí bắt buộc
1.1.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm hưu trí bắt buộc, chế độ hưu trí bắt buộc
BHXH là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro, biến cố
làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động,
chết gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH. BHXH được lập ra là sự
bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần cho NLĐ. BHXH thực chất có thể hiểu
chính là quá trình tổ chức sử dụng quỹ tiền tệ tập trung được tích dồn do sự đóng
góp của NLĐ và người sử dụng lao động dưới sự quản lý điều tiết của Nhà nước.
NLĐ được bảo hiểm với những mất mát do rủi ro gây ra sau khi nhận được một
khoản phí bảo hiểm, các sự kiện được xác định thuộc phạm vi rủi ro đều xảy ra một
cách bất ngờ và bất lợi, tác động trực tiếp đến lợi ích của người tham gia. NLĐ là
một nhân tố quan trọng trong lực lượng sản xuất để cấu thành phương thức sản
xuất, do đó khi thu nhập của NLĐ bị mất hoặc giảm sút bởi các rủi ro ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết sẽ được bảo
đảm thay thế hay bù đắp một phần trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH.
Ở nước ta, do ảnh hưởng của chế độ phong kiến kéo dài và những cuộc kháng
chiến giải phóng dân tộc đã làm chậm sự ra đời của chế độ hưu trí bắt buộc, tuy
nhiên Đảng và Nhà nước luôn dành cho các đối tượng vượt quá độ tuổi lao động sự
quan tâm và bảo vệ một cách sâu sắc mặc dù hoàn cảnh đấu tranh gian khổ dẫn đến
điều kiện thực hiện pháp luật BHXH bắt buộc còn rất hạn chế. Sau khi nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, những chính sách về ASXH bắt đầu từng bước được
định hình, củng cố và phát triển. Đối với chế độ hưu trí, Sắc lệnh số 54 năm 1945 là
chính sách đầu tiên về việc ấn định những điều kiện cho công chức về hưu, bên
9
cạnh đó, Điều 14 Hiến pháp năm 1946 của nước ta đã ghi nhận: “Những người công
dân già cả hoặc tàn tật không được làm việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc
về mặt giáo dưỡng.” Đây là tiền đề cho sự ra đời của pháp luật về BHHT của
những năm sau này. Trên cơ sở kế thừa và phát huy dựa trên nền tảng có sẵn, các
Sắc lệnh số 76 và số 77 năm 1950 quy định thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ công nhân viên chức và Nghị định số 218 – CP
ban hành ngày 27/12/1961 về Bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức nhà
nước đã bước đầu đánh dấu sự ra đời của chế độ hưu trí ở Việt Nam, trong đó
những đối tượng đầu tiên được pháp luật quy định bắt buộc phải tham gia là cán bộ,
công nhân viên chức, bởi lẽ đây là những ưu ái dành cho các lao động tuyến đầu
cống hiến sức mình trong quá trình vận hành, xây dựng đất nước, có nguồn thu
nhập ổn định và do Nhà nước trực tiếp quản lý, tạo điều kiện thuận lợi mang lại
hiệu quả cao trong công tác triển khai các hoạt động BHXH, là tiền đề thu hút được
sự quan tâm của nhiều đối tượng khác trong xã hội.
Trong nhiều thập kỷ liền kề, các sắc lệnh, văn bản pháp luật điều chỉnh các
chế độ trong hệ thống an sinh liên tiếp được ban hành, những quy định về Bảo hiểm
hưu trí (sau đây viết tắt là BHHT) bắt buộc cũng dần được hình thành và củng cố
hoàn thiện nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người dân khi không còn tham gia
vào quan hệ lao động. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 ra đời đánh dấu sự phát triển
của khung pháp lý điều chỉnh quan hệ BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng,
tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ ASXH và quá trình chuyển
đổi của nền kinh tế cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế sâu rộng. Ngày 20/11/2014, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung những quy định cũ
nhằm đáp ứng những biến chuyển trong cơ cấu kinh tế - xã hội, phù hợp với sự
chuyển dịch của tháp dân số, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã từng bước hoàn
thiện các bất cập và ngày càng bảo vệ tối ưu quyền lợi của NLĐ trong mọi thành
phần kinh tế khi họ đối diện trước các khó khăn của tuổi già.
Hiện nay, với tư cách là một loại hình BHXH, mang những đặc trưng chung
về vai trò tài chính và an sinh, BHHT là cách thức NLĐ sẽ tự trả lương cho chính
mình khi hết độ tuổi lao động bằng những tích lũy, đóng góp theo quy định pháp
10
luật vào quỹ BHXH ngay từ khi tham gia quan hệ lao động, được nhà nước hỗ trợ
tùy theo đối tượng tham gia và cơ sở đóng phí mà thực hiện một trong hai hình
thức: BHHT bắt buộc và BHHT tự nguyện. Như vậy, có thể định nghĩa: BHHT bắt
buộc là một loại hình BHXH do Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm bù đắp một phần
thu nhập bị mất hoặc giảm sút của NLĐ do hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia
vào quan hệ lao động trên cơ sở NLĐ và NSDLĐ đóng góp hàng tháng vào quỹ
BHXH. Từ đó, pháp luật về BHHT bắt buộc được xác định: là tổng thể các quy định
pháp luật điều chỉnh các hoạt động phát sinh trong quan hệ BHHT bắt buộc như đối
tượng tham gia, mức đóng góp, thời gian đóng góp, cơ sở đóng góp,… mang tính chất
bắt buộc, nhằm mục đích chia sẻ, bảo vệ những lao động yếu thế trong cộng.
Để thực hiện hiệu quả các chính sách BHHT bắt buộc, những quy định về chế
độ hưu trí dần được củng cố, hình thành và phát triển. Nói một cách khác, chế độ hưu
trí theo pháp luật BHXH bắt buộc là một phương thức triển khai BHHT bắt buộc, do
đó quy định pháp luật về chế độ hưu bắt buộc là một phần quy định thuộc BHHT bắt
buộc, nhằm khắc phục khó khăn cho NLĐ khi bị giảm sút thu nhập khi hết tuổi lao
động, củng cố, hoàn thiện pháp luật, phù hợp với nền kinh tế thị trường, góp phần đưa
chính sách BHXH phát huy đúng vai trò trụ cột trong hệ thống ASXH.
Bàn về chế độ hưu trí, theo Tổ chức Lao động Quốc tế thì chế độ hưu trí còn
được gọi là bảo hiểm tuổi già, là một trong các nhánh quan trọng của an toàn xã hội,
do đó hầu hết các quốc gia trên thế giới trong các hoạt động xây dựng phát triển
kinh tế xã hội và quy định chính sách BHXH bắt buộc đều phải có chế độ hưu trí, ở
Việt Nam chế độ hưu trí cũng được chú trọng củng cố và hoàn thiện với các chế
định của pháp luật. Hưu trí là cách gọi chung cho những người đã về hưu, họ
thường là người già và có thâm niên công tác trong một số lĩnh vực nhất định.
Trên những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về chế độ hưu trí bắt buộc:
là những ưu đãi xã hội dành cho NLĐ có đủ các điều kiện về thời gian đóng BHXH
bắt buộc và tuổi đời được nghỉ việc hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động
được ghi nhận bởi hệ thống các quy định pháp luật, yêu cầu các đối tượng tham gia
phải tuân thủ chấp hành. Suy rộng ra, pháp luật về chế độ hưu trí theo BHXH bắt
buộc được định nghĩa: là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan
11
hệ phát sinh giữa các chủ thể phải tham gia quan hệ chế độ hưu trí theo quy định
của pháp luật, quy định cụ thể về điều kiện hưởng chế độ hưu trí, mức trợ cấp
lương hưu và các thủ tục cần triển khai liên quan đến việc thực hiện chế độ hưu trí
khi NLĐ hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động.
1.1.2. Nguyên tắc của chế độ hưu trí bắt buộc
Với tư cách là một chế độ trong chính sách BHXH, nên quá trình triển khai
BHHT phải đáp ứng các nguyên tắc chung của BHXH, đó là: Mức đóng BHXH bắt
buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của NLĐ; Mức hưởng BHXH được tính
trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham
gia BHXH; NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng
BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian
đã đóng BHXH; Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành
phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế
độ tiền lương do NSDLĐ quyết định; Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng,
thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH. Bên
cạnh đó, chế độ hưu trí bắt buộc hướng đến bảo vệ người tham gia BHXH bắt buộc
đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động, đây là những
đối tượng có nét riêng biệt trong lĩnh vực BHXH, vì vậy chế độ này còn được thực
hiện dựa trên một số nguyên tắc đặc thù sau:
Thứ nhất, chế độ hưu trí bắt buộc được xây dựng trên cơ sở cân bằng xã hội,
cơ cấu nhân lực và đảm bảo mức sống của NLĐ.
Theo Thông cáo báo chí kết quả nghiên cứu chuyên sâu tổng điều tra dân số
và nhà ở năm 2019 của Tổng cục thống kê thì dự báo giai đoạn từ năm 2026-2039,
tỷ trọng dân số từ 65 tuổi sẽ đạt mức 10% vào năm 2026 và vào năm 2039 sẽ vượt
mức 15% tổng dân số, năm 2026 dự đoán nước ta sẽ bước vào thời kỳ dân số già,
thời kỳ cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam sẽ chính thức chấm dứt vào năm 2039. Qua
đó, sự thay đổi về cơ cấu dân số đã phản ánh thực trạng của hệ thống ASXH ở nước
ta hiện nay và diễn biến phức tạp có thể đối mặt trong các thập niên sắp tới, đây
không chỉ là những thách thức cho những nhà lãnh đạo, người làm luật mà còn khó
12
khăn cho cả cộng đồng nếu không có một biện pháp hữu hiệu kịp thời ngăn chặn và
giải quyết các hệ quả trong tương lai.
Chế độ hưu trí trong chính sách BHXH bắt buộc được thực hiện trên cơ sở
dùng phần đóng góp ở thời điểm hiện tại chi trả cho người được hưởng lợi ích. Bởi
vậy, theo tốc độ già hóa dân số đang diễn ra, tỷ lệ người già vượt quá độ tuổi lao
động ngày càng tăng lên trong khi tỷ lệ sinh giảm. Tuổi thọ ngày càng tăng, đồng
nghĩa với việc số người được hưởng càng nhiều và gia tăng các khoản chi cho chế
độ hưu trí, chăm sóc ý tế,… nhưng ngược lại số đối tượng đóng góp trong tương lai
có nguy cơ sụt giảm, gây mất cân bằng giữa các lực lượng xã hội. Vậy nên, thực
hiện chế độ hưu trí ngoài việc triển khai kịp thời và đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho
NLĐ khi về hưu còn phải thực hiện quy tắc cân bằng và ổn định xã hội, đảm bảo
các chế độ phù hợp với tuổi thọ của dân số và mức sống của NLĐ, góp phần cân đối
tỷ lệ người đóng và người hưởng, tạo ra sự tăng trưởng bền vững của quỹ hưu trí.
Thứ hai, có điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trong một số ngành, nghề nhất định.
Với sự đa dạng ngành, nghề của nền kinh tế, không phải tất cả NLĐ đều tiến
hành làm việc trong một môi trường nghề giống nhau. Những công việc nặng nhọc,
độc hại, ở những nơi xa xôi hẻo lánh, lĩnh vực an ninh quốc phòng đòi hỏi NLĐ
phải kiên trì đối mặt với nhiều vất vả, công sức bỏ ra nhiều hơn so với các lao động
trong điều kiện làm việc bình thường. Việc giảm tuổi nghỉ hưu mà không giảm trừ
mức hưởng nhằm bù đắp lại những thiệt thòi, khó khăn họ đã đối mặt và vượt qua
để thực hiện tốt công việc đảm nhận, khuyến khích, thu hút nhiều NLĐ tích cực
tham gia vào các ngành nghề, lĩnh vực này, tạo ra sự công bằng về giá trị sức lao
động và thời gian làm việc của tất cả NLĐ, cân đối phân bổ lao động ở các vùng,
các ngành nghề kinh tế với nhau.
Thứ ba, thực hiện điều chỉnh hợp lý giữa lao động nam và lao động nữ.
Trong cuộc sống hiện đại, sự bình đẳng giữa nam, nữ trước pháp luật được ghi
nhận và luôn thực thi trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Tuy nhiên, ở phương diện
khác, ngoài tư cách là NLĐ, phụ nữ còn phải thực hiện tốt vai trò một người mẹ,
một người vợ, một người con với nhiệm vụ chăm lo cho gia đình mà không có thời
gian để bản thân nghỉ ngơi. Dưới góc độ sinh học, tốc độ lão hóa của phụ nữ diễn ra
13
nhanh hơn nam giới đã dẫn đến sự khác biệt to lớn về thể lực, sức khỏe và tâm lý.
Nên để đảm bảo tính nhân văn, công bằng của pháp luật, không thể xác định và áp
dụng chung một độ tuổi nghỉ hưu cho cùng lao động giữa nam và nữ.
Bên cạnh đó, NLĐ khi làm việc phải đáp ứng sức khỏe tốt để mang lại hiệu
quả cao trong công việc, hoàn thành các nhiệm vụ được giao, tạo ra các giá trị nhất
định về mặt vật chất lẫn tinh thần. Nên pháp luật đã có sự ưu tiên cho lao động nữ
trong chính sách BHXH bắt buộc, không chỉ được hưởng chế độ thai sản, các căn
cứ để xác định áp dụng BHHT về độ tuổi được nghỉ hưu và thời gian tham gia đóng
BHXH của nữ giới đều được điều chỉnh và có sự khác biệt đối với nam giới. Theo
quy định của pháp luật lao động hiện hành, trong điều kiện làm việc bình thường, từ
năm 2021 trở đi độ tuổi nghỉ hưu đã được điều chỉnh là 60 tuổi đủ 03 tháng đối với
lao động nam và 55 tuổi đủ 04 tháng đối với lao động nữ sau đó tuổi nghỉ hưu này
được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam và đủ 60
tuổi đối với lao động nữ. Khoảng cách này đã được thu hẹp so với quy định cũ
trong BLLĐ năm 2012 và Luật BHXH năm 2014, cụ thể theo các văn bản này với
điều kiện làm việc như trên thì độ tuổi nghỉ hưu là 60 tuổi đối với lao động nam và
55 tuổi đối với lao động nữ. Có thể thấy sự thu hẹp khoảng cách về độ tuổi nghỉ hưu
theo giới tính cần được thực hiện qua một lộ trình nhiều năm, tuy nhiên việc rút
ngắn khác biệt là 3 năm đã phần nào giúp xã hội đối diện với tình trạng già hóa
bằng việc tận dụng các nguồn lực có sẵn, có bề dày kinh nghiệm và tay nghề làm
việc cao, tạo ra nhiều của cải, vật chất có giá trị đóng góp cao hơn, đáp ứng nhu cầu
sử dụng lao động của các tổ chức kinh tế, đảm bảo cho sự phát phát triển bền vững
của thị trường theo từng thời kỳ.
1.1.3. Nội dung của chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc
Các chính sách về BHHT bắt buộc được triển khai với sự phối hợp của nhiều
chủ thể tham gia, thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp
luật BHXH bắt buộc nói chung và BHHT bắt buộc nói riêng với một số nội dung cơ
bản như sau:
Thứ nhất, đối tượng tham gia BHHT bắt buộc.
Thông qua quá trình làm việc, đóng góp sức lao động để tạo ra của cải vật chất
cho xã hội, chính sách BHXH bắt buộc được pháp luật áp dụng nhằm đảm bảo thu
14
nhập của NLĐ khi họ rơi vào các khó khăn của cuộc sống, trong đó, chế độ hưu trí
là một trong các cách thức để xã hội bảo vệ các thành viên của mình khi họ đối diện
với tuổi già. Bởi vậy, NLĐ là chủ thể đầu tiên, cần thiết phải tham gia BHHT bắt
buộc, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thiết yếu và hưởng những đãi ngộ, quyền lợi
chính đáng được pháp luật công nhận, bảo vệ. Bên cạnh đó, để duy trì và tạo lập
nên mối quan hệ về BHHT, cũng như thực hiện trách nhiệm quản lý, sử dụng lao
động làm việc cho mình, điều tiết các hoạt động xã hội, NSDLĐ và cơ quan quản lý
nhà nước cũng là các chủ thể được pháp luật quy định phải tham gia chế độ hưu trí
bắt buộc.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào trong quan hệ lao động
cũng được được phép tham gia chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc, Luật
BHXH năm 2014 chỉ giới hạn một nhóm đối tượng cụ thể có trách nhiệm phải tham
gia theo quy định tại Điều 2 của Luật này, đây đều là các mối quan hệ lao động phổ
biến có tính ổn định, góp phần tạo ra các giá trị thặng dư cho xã hội.
Thứ hai, điều kiện được hưởng chế độ hưu trí bắt buộc.
Để được hưởng chế độ hưu trí, NLĐ phải đáp ứng được các điều kiện về độ
tuổi nghỉ hưu và thời gian tham gia BHXH bắt buộc.
- Về độ tuổi nghỉ hưu. Theo lý luận pháp luật lao động, độ tuổi của một người
được chia ra làm ba giai đoạn: chưa đến tuổi lao động, độ tuổi lao động và tuổi
nghỉ hưu. Do đó, để được hưởng chế độ hưu trí, độ tuổi là một trong các điều kiện
quan trọng xác định quyền được nghỉ hưu của một người. Độ tuổi nghỉ hưu được
pháp luật xác định, đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe pháp lý, về
đời sống xã hội, trong đó, tuổi thọ bình quân và cơ cấu dân số là hai yếu tố then
chốt quyết định đến độ tuổi nghỉ hưu của một NLĐ.
Việc quyết định độ tuổi lao động không chỉ nhằm đảm bảo cân bằng nguồn
thu chi của xã hội mà còn nhằm góp phần tạo ra sự bình đẳng, công bằng của các
thành viên tham gia quan hệ lao động sản xuất, đây cũng là cơ sở để xác định mốc
thời gian một cá nhân thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH để tính mức
lương hưu và các ưu đãi khác cho người được thụ hưởng. Do đó, đối với một số
ngành nghề, điều kiện làm việc đặc biệt hoặc do sự suy giảm về khả năng lao động,
15
độ tuổi nghỉ hưu sẽ được điều chỉnh áp dụng phù hợp để sự cống hiến của NLĐ
được xã hội, Nhà nước ghi nhận một cách thỏa đáng và bù đắp bằng quãng thời gian
được nghỉ ngơi, chăm sóc bản thân và bình yên bên người thân.
- Về thời gian tham gia BHXH bắt buộc. Bản chất của bảo hiểm là sự tham gia
của cộng đồng, do đó NLĐ với tư cách là một trong các thành viên cần phải có sự
đóng góp vào quá trình phát triển của cộng đồng, xã hội. Sự đóng góp này được thể
hiện cụ thể qua “thước đo” thời gian tham gia đóng BHXH bắt buộc. Đây là khoảng
thời gian được tính từ khi NLĐ bắt đầu đóng BHXH cho đến khi ngừng đóng, trong
trường hợp việc có sự gián đoạn về quá trình tham gia BHXH thì thời gian tham gia
đóng BHXH bắt buộc được xác định là tổng thời gian đã đóng BHXH. Hoạt động
đóng BHXH được thực hiện trong quá trình một người làm việc, do đó đây là điều
kiện gắn liền với độ tuổi lao động và chịu sự tác động trực tiếp của tuổi thọ, môi
trường làm việc của NLĐ. Thông qua điều kiện về thời gian tham gia BHXH bắt
buộc, người về hưu có thể xác định được các hình thức trợ cấp của chế độ hưu trí
bắt buộc mà mình được hưởng để bảo vệ lợi ích chính đáng theo pháp luật và quyền
được bảo đảm về ASXH nói chung.
Thứ ba, thời gian được hưởng chế độ hưu trí.
Đây là khoảng thời gian vô định, được xác định thời điểm bắt đầu là kể từ khi
NLĐ được hưởng lương hưu nhưng không thể nói trước được thời điểm kết thúc,
bởi lẽ lương hưu sẽ được chi trả hàng tháng cho NLĐ đủ điều kiện hưởng chế độ
hưu trí, quyền lợi này được kéo dài trong suốt quãng thời gian từ khi họ bắt đầu về
hưu cho đến khi chết. Như vậy, đây là khoảng thời gian mang tính tương đối liên
tục và phụ thuộc vào tuổi thọ của người thụ hưởng. Bên cạnh đó, thời gian hưởng
lương hưu của NLĐ cũng góp phần thể hiện tuổi thọ trung bình của dân số ở một
quốc gia, đây là cơ sở để giúp cơ quan quản lý nhà nước tính toán các khoản chi trả
trợ cấp hưu trí bắt buộc, cân đối thu chi của hoạt động quản lý quỹ hưu trí, tạo ra sự
phát triển ổn định trong hệ thống ASXH của nước ta.
Thứ tư, mức hưởng chế độ hưu trí bắt buộc.
Mức hưởng là vấn đề thu hút đa số sự quan tâm của mọi người tham gia
BHHT bắt buộc, bởi lẽ đây chính là mục tiêu mà NLĐ mong muốn đạt được khi hết
16
tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động. Bên cạnh đó, tùy
thuộc vào độ tuổi và thời gian tham gia BHXH mà NLĐ khi nghỉ hưu sẽ được nhận
các mức hưởng khác nhau, ngoài khoản tiền lương hưu hàng tháng họ còn có thể
được nhận thêm khoản trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, ngược lại nếu như không đủ
điều kiện được hưởng lương hưu, NLĐ sẽ được nhận mức BHXH một lần tương
ứng từng trường hợp cụ thể. Ngoài ra, mức hưởng trong chế độ hưu trí bắt buộc
không chỉ dừng lại ở các khoản tiền hưu trí mà còn được thể hiện ở các chính sách
khác như: hỗ trợ tham gia BHYT, chế độ tử tuất khi người hưởng hưu trí chết. Như
vậy, mức hưởng của chế độ hưu trí đã phần nào phản ánh sự quan tâm của Nhà
nước và cộng đồng đối với NLĐ khi về hưu để họ có thể có được một cuộc sống
đầy đủ, an bình trong tháng ngày còn lại.
1.2. Quy định chế độ hưu trí theo quy định pháp luật bảo hiểm xã hội bắt
buộc ở Việt Nam hiện nay
1.2.1. Đối tượng tham gia
Sự hỗ trợ từ chế độ hưu trí bắt buộc dành cho NLĐ khi nghỉ hưu chính là kết
quả của quá trình đóng góp vào BHXH bắt buộc của các chủ thể theo quy định tại
Điều 2 Luật BHXH, trong đó NLĐ và Người sử dụng lao động ( sau đây viết tắc là
NSDLĐ) là hai đối tượng chính bắt buộc phải tham gia đóng góp vào quỹ BHXH.
Thứ nhất, NLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng
lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công
việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao
động được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15
tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
- Cán bộ, công nhân, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong
các tổ chức cơ yếu;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ nghiệp
vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác
cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
17
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân
phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng
sinh hoạt phí;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật Người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động;
- Người quản lý doanh ngiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng
tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn;
- NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao
động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của Việt Nam cấp và làm việc theo hợp đồng lao động không xác định
thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 năm trở lên với
NSDLĐ tại Việt Nam.
Thứ hai, NSDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ
quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã
hội khác; cơ quan nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;
doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân
có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
Như vậy, chủ thể chính tham gia quan hệ chế độ hưu trí bắt buộc là NSDLĐ
và NLĐ, trong đó không chỉ công dân Việt Nam mà những lao động nước ngoài
làm việc hợp pháp ở nước ta đều được hưởng sự ưu đãi của các chính sách ASXH
sau quá trình cống hiến tại Việt Nam. Sự mở rộng các nhóm đối tượng tham gia chế
độ hưu trí bắt buộc trên cơ sở xóa bỏ sự phân biệt địa vị, công việc, giới tính, quốc
tịch đã thu hẹp khoảng cách phân biệt các tầng lớp, đảm bảo sự cân bằng lợi ích và
tạo điều kiện phát huy quyền con người cho tất cả thành viên trong xã hội.
1.2.2. Chế độ hưởng
Chế độ hưu trí bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng là NLĐ đã
hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động với từng điều kiện
áp dụng và mức hưởng khác nhau. Căn cứ theo pháp luật BHXH hiện hành, chế độ
hưởng trong chính sách hưu trí bắt buộc được xác định như sau:
18
1.2.2.1. Chế độ hưu trí hàng tháng đầy đủ
NLĐ khi nghỉ việc sẽ được hưởng một khoản lương hưu hàng tháng phải đảm
bảo đủ thời gian tham gia BHXH bắt buộc và đủ độ tuổi nghỉ hưu theo quy định của
pháp luật, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về điều kiện hưởng.
- NLĐ không công tác trực tiếp trong lực lượng vũ trang nhân dân, công tác cơ
yếu được hưởng chế độ hưu trí bắt buộc khi thuộc các trường hợp sau:
Một là, NLĐ trong điều kiện làm việc bình thường và khi nghỉ việc có đủ 20
năm đóng BHXH trở lên và đủ tuổi nghỉ hưu thì được hưởng lương hưu. Căn cứ
Điều 169 của BLLĐ năm 2019, kể từ năm 2021 trở đi độ tuổi nghỉ hưu đối với lao
động nam 60 tuổi đủ 03 tháng, sau đó cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi
đủ 62 tuổi và đối với lao động nữ có độ tuổi nghỉ hưu là 55 tuổi đủ 04 tháng, sau đó
mỗi năm tăng thêm 04 tháng cho đến khi đủ 60 tuổi. Như vậy, tuổi nghỉ hưu của
NLĐ theo quy định pháp luật hiện hành được điều chỉnh qua một lộ trình thực hiện
cụ thể trong từng giai đoạn, được minh họa bởi các bảng sau:
Bảng 1.1. Độ tuổi nghỉ hưu đối với lao động nam từ năm 2021
Năm
Lao động nam
Năm
Lao động nam
60 tuổi 3 tháng 60 tuổi 6 tháng 60 tuổi 9 tháng 61 tuổi
2025 2026 2027 Từ 2028 trở đi
61 tuổi 3 tháng 61 tuổi 6 tháng 61 tuổi 9 tháng 62 tuổi
2021 2022 2023 2024 Nguồn: Bộ luật Lao động năm 2019.
Bảng 1.2. Độ tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ từ năm 2021
Năm
Lao động nữ
Năm
Lao động nữ
55 tuổi 4 tháng 55 tuổi 8 tháng 56 tuổi 56 tuổi 4 tháng 56 tuổi 8 tháng 57 tuổi 57 tuổi 4 tháng 57 tuổi 8 tháng
2029 2030 2031 2032 2033 2034 Từ 2035 trở đi
58 tuổi 58 tuổi 4 tháng 58 tuổi 8 tháng 59 tuổi 59 tuổi 4 tháng 59 tuổi 8 tháng 60 tuổi
2021 2022 2023 2024 2025 2026 2027 2028 Nguồn: Bộ luật Lao động năm 2019.
Có thể thấy, như bất cứ quốc gia nào, Việt Nam khi điều chỉnh tăng tuổi nghỉ
hưu cũng phải xem xét, đánh giá toàn diện các yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội để
đảm bảo tính khả thi của quy phạm trong thực tiễn áp dụng. Trên thực tế, tuổi thọ
19
bình quân của người Việt Nam gần đây đã tăng nhiều so với giai đoạn trước đây,
dân số nước ta đang chuyển từ thời kỳ dân số vàng sang giai đoạn già hóa dân số,
trong tương lai, lực lượng lao động trẻ sẽ thiếu hụt, dẫn đến tình trạng tỷ lệ người
trong độ tuổi lao động ngày càng thấp trong khi tỷ lệ người phụ thuộc ngày càng
cao, vì vậy các nguy cơ về mất cân đối quỹ hưu trí cũng ngày càng gia tăng, đây là
các thách thức lớn không chỉ cho nhà lãnh đạo mà là bài toán nan giải cho toàn xã
hội. Chính vì thế, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của NLĐ đã được điều chỉnh từ 60
tuổi đối với lao động nam và 55 tuổi đối với lao động nữ (căn cứ BLLĐ năm 2012)
sang 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ từ năm 2035 trở đi đã
thu hẹp khoảng cách tuổi nghỉ hưu theo giới tính nhằm đảm bảo cân bằng sự đóng
góp của các thành phần lao động trong xã hội, tạo điều kiện cho mọi người được
làm việc như nhau. Bên cạnh đó, sự điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu bằng một lộ trình
nhiều năm đã tạo ra một khoảng thời gian thích ứng cho NLĐ đối với các thay đổi
của quy định pháp luật, đồng thời góp phần giảm bớt áp lực về cơ cấu dân số khi
Việt Nam phải đối diện với tình trạng chấm dứt thời kỳ cơ cấu dân số vàng vào năm
2039 và bước sang một giai đoạn đầy thử thách khi tốc độ già hóa dân số ngày càng
tăng nhanh. Mặt khác, việc cải cách độ tuổi nghỉ hưu đã phần nào tạo cơ hội tận
dụng các nguồn lực lao động có sẵn với kinh nghiệm và tay nghề làm việc cao tạo
ra nhiều của cải, vật chất có giá trị làm động lực để phát triển kinh tế, đảm bảo cho
sự cân bằng xã hội, cơ cấu nhân lực, giữ vững hoạt động quỹ BHXH, tránh tình
trạng bội chi khi các khoản thu ngày càng ít dần và không ổn định.
Hai là, NLĐ bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không được quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu
của NLĐ làm việc ở điều kiện bình thường nếu có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên
và đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐTBXH, Bộ Y tế ban hành
hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả
thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày
01/01/2021.
20
Ba là, NLĐ được nghỉ hưu khi có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên có tuổi thấp
hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu của NLĐ làm việc ở điều kiện bình thường
và có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò.
Bốn là, NLĐ bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp thì được
hưởng lương hưu khi có đủ đủ 20 năm đóng BHXH trở lên tại thời điểm nghỉ việc
mà không phải xem xét yếu tố về tuổi đời nghỉ hưu.
- Đối với NLĐ là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ
quan, hạ sĩ nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; hạ sĩ quan, chiến sĩ
quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học
viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí thì khi nghỉ
việc có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc các trường
hợp sau:
Một là, có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu đối với NLĐ trong
điều kiện lao động bình thường.
Hai là, thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi hưởng chế độ hưu trí trong điều kiện
làm việc bình thường khi bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn theo quy định của BLLĐ và có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ
LĐTBXH ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số
0,7 trở lên trước ngày 01/01/2021.
Ba là, NLĐ là người bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi
thực hiện nhiệm vụ được giao. Trường hợp này người được nghỉ hưu không xem
xét yếu tố về tuổi.
Bốn là, NLĐ có 20 năm tham gia BHXH bắt buộc, chưa đủ tuổi nghỉ hưu theo
quy định nhưng tại đơn vị lực lượng vũ trang, công tác cơ yếu không còn nhu cầu
bố trí sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, sĩ quan công an,
người làm công tác cơ yếu hoặc không chuyển ngành được thì lao động nam phải có
21
đủ 25 năm và lao động nữ có đủ 20 năm phục vụ trong quân đội trở lên được nghỉ
hưu trước hạn tuổi mà không giới hạn độ tuổi khi nghỉ việc.
- Đối với NLĐ là những nữ cán bộ, nữ công chức cấp xã hoặc là người hoạt
động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH khi nghỉ việc có từ
đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH và đủ tuổi nghỉ hưu đối với NLĐ làm việc
ở điều kiện bình thường thì được hưởng chế độ hưu trí.
Thứ hai, mức hưởng lương hưu hàng tháng.
Trong chế độ hưu trí theo BHXH bắt buộc, mức hưởng hàng tháng của NLĐ
được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng và bình quân tiền lương tháng
đóng BHXH. Đồng thời, tùy theo điều kiện làm việc, thời gian nghỉ hưu, giới tính,
thời gian tham gia BHXH mà mức lương hưu hằng tháng được tính khác nhau:
- Từ ngày 01/01/2016 cho đến trước ngày 01/01/2018, mức lương hưu hằng
tháng của NLĐ đủ điều kiện quy định hưởng lương hưu của Luật BHXH được tính
bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm
đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với
nữ, mức tối đa bằng 75%. Do đó để được hưởng lương hưu tối đa bằng 75% mức
bình quân tiền lương tháng đóng BHXH, NLĐ nghỉ hưu trong khoảng thời gian này
phải đóng BHXH đủ ít nhất 25 năm đối với lao động nữ và đủ ít nhất 30 năm đối
với lao động nam.
- Từ ngày 01/01/2018, mức lương hưu hằng tháng của NLĐ đủ điều kiện
hưởng chế độ hưu trí bắt buộc được quy định như sau:
Lao động nam: khi nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm,
năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, năm 2020 trở đi là 20 năm tính bằng
45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm người
lao động được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.
Ví dụ: Năm 2019, ông A nghỉ hưu, ông có 26 năm tham gia BHXH, như vậy
mức lương hưu của ông A được tính như sau:
• Nghỉ hưu vào năm 2019 do đó:17 năm đầu đóng BHXH tính bằng 45%.
• 9 năm đóng BHXH còn lại tương ứng 9 x 2% = 18%.
22
Vậy lương hưu hằng tháng của ông A sẽ bằng 45% + 18% = 63% mức bình
quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Lao động nữ: nghỉ từ năm 2018 trở đi là 15 năm tính bằng 45% mức bình
quân tiền lương tháng đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được
tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%. Tuy nhiên, lao động nữ bắt đầu hưởng lương
hưu giai đoạn từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2021 có thời gian đóng BHXH từ
đủ 20 năm cho đến 29 năm 6 tháng, bị tác động bất lợi hơn so với lao động nam do
thay đổi cách tính lương thì mức lương hưu thực tế được nhận ngoài khoản tiền
lương hưu theo quy định của Luật BHXH còn được hưởng một mức điều chỉnh để
đảm bảo cân bằng giữa mức lương hưu giữa lao động nam và nữ, trong đó nếu nghỉ
hưu vào năm 2021, tùy theo thời gian đã đóng BHXH mà lao động nữ có thể được
hưởng tỷ lệ điều chỉnh thấp nhất là 0,27% và cao nhất là 3,08%.
Như vậy, từ năm 2021 để được hưởng lương hưu tối đa bằng 75% mức bình
quân tiền lương tháng đóng BHXH thì lao động nữ phải có ít nhất đủ 30 năm và lao
động nam phải đủ ít nhất 34 năm đóng BHXH. Qua đó, cùng với sự điều chỉnh về
tuổi lao động, thời gian tham gia BHXH để xác định tỷ lệ được hưởng mức lương
hưu hàng tháng cũng có sự thay đổi đáng kể.
Bên cạnh đó, mức lương hưu hằng tháng thấp nhất của NLĐ tham gia BHXH
bắt buộc đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của Luật BHXH bằng mức
lương cơ sở, hiện tại mức lương cơ sở từ ngày 01/07/2019 cho đến nay là 1.490.000
đồng/tháng. Tuy nhiên, lao động nữ là cán bộ, nữ công chức cấp xã hoặc là người
hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc với
mức đóng hằng tháng là 8% mức lương cơ sở do đó những đối tượng này không
được áp dụng mức trợ cấp hưu trí bắt buộc tối thiểu bằng lương cơ sở mà được tính
theo số năm đóng và mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc khi có
đủ 15 năm đóng BHXH với mức hưởng tính bằng 45% mức bình quân tiền lương
tháng đóng BHXH (mức lương cơ sở hàng tháng); từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm
đóng BHXH cứ mỗi năm đóng tính thêm 2%, do đó đây là đối tượng có mức hưởng
lương hưu hàng tháng thấp nhất theo quy định của Luật BHXH.
23
1.2.2.2. Chế độ hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn
Đối với NLĐ bị suy giảm khả năng lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng
BHXH trở lên được hưởng lương hưu thấp hơn so với người được hưởng chế độ
hưu trí đầy đủ hàng tháng khi thuộc các trường hợp sau đây:
- Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu NLĐ ở điều kiện bình
thường khi bị suy giảm từ 61 đến 81%.
- Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu NLĐ ở điều kiện bình
thường khi bị suy giảm từ 81% trở lên.
- Có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐTBXH ban hành và bị suy giảm khả năng lao động
từ 61% trở lên.
Có thể thấy NLĐ bị suy giảm khả năng lao động có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp
hơn người làm việc ở điều kiện bình thường có độ tuổi tối thiểu là:
Bảng 1.3. Độ tuổi nghỉ hưu thấp nhất từ năm 2021
Lao động nam Lao động nữ
Năm Tuổi Năm Tuổi Tuổi Năm
2021 55 tuổi 3 tháng 2021 50 tuổi 4 tháng 58 tuổi 2029
2022 55 tuổi 6 tháng 2022 50 tuổi 8 tháng 2030 58 tuổi 4 tháng
2023 55 tuổi 9 tháng 2023 51 tuổi 58 tuổi 8 tháng 2031
2024 56 tuổi 2024 51 tuổi 4 tháng 59 tuổi 2032
2025 56 tuổi 3 tháng 2025 51 tuổi 8 tháng 59 tuổi 4 tháng 2033
2026 56 tuổi 6 tháng 2026 52 tuổi 59 tuổi 8 tháng 2034
2027 56 tuổi 9 tháng 2027 52 tuổi 4 tháng Từ 2035 60 tuổi
Từ 2028 57 tuổi 2028 52 tuổi 8 tháng
Nguồn: Bộ luật Lao động năm 2019.
Mức lương hưu hằng tháng của người do suy giảm khả năng lao động nên
nghỉ hưu trước tuổi được tính như thông thường, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước
tuổi quy định thì giảm 2%. Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06
tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ
hưu trước tuổi.
24
1.2.2.3. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
Mức trợ cấp lương hưu trong chế độ hưu trí dành cho người thụ hưởng được
xác định dựa trên cơ sở thời gian tham gia BHXH với mức trung bình thời gian là
20 năm nên đối với những chủ thể có thâm niên đóng góp vào quỹ BHXH ngoài
mức hưởng lương hưu hàng tháng còn được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu.
Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được áp dụng khi NLĐ có thời gian đóng BHXH
cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, theo đó ngoài lương
hưu hàng tháng còn được hưởng trợ cấp một lần, tính theo số năm đóng BHXH cao
hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng BHXH thì
được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Bên cạnh
đó, thời điểm tính hưởng BHXH một lần được xác định bằng thời điểm ghi trong
quyết định của cơ quan BHXH.
Như tác giả đã đề cập ở trên, từ năm 2021 để được hưởng lương hưu tối đa
bằng 75% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH thì lao động nữ phải có ít
nhất đủ 30 năm và lao động nam phải đủ ít nhất 34 năm đóng BHXH, sự thay đổi
của pháp luật về ấn định thời gian đóng BHXH áp dụng từ ngày 01/01/2018 đã dẫn
đến tình trạng thu hẹp số lượng người được nhận khi điều kiện về thời gian được
hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được tăng lên, bởi lẽ những chính sách về tham
gia BHHT bắt buộc chỉ mới được mở rộng đối tượng áp dụng từ những năm 1995
sau đó được tiếp tục sửa đổi bằng Luật BHXH năm 2006 và dần hoàn thiện bởi Luật
BHXH năm 2014. Qua đó có thể thấy, pháp luật quy định cụ thể về mức hưởng trợ
cấp một lần khi nghỉ hưu là một quy định khuyến khích NLĐ tham gia đóng góp lâu
dài vào quỹ BHXH, nhằm tạo ra các nguồn thu để cân đối hoạt động của quỹ và góp
phần bảo đảm việc chi trả lương hưu cho các đối tượng được thụ hưởng.
1.2.2.4. Bảo hiểm xã hội một lần và bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội
Mỗi một người trong xã hội đều có một hoàn cảnh và chịu nhiều tác động
khác nhau trong cuộc sống, do đó không phải NLĐ nào cũng có đủ tuổi đời và quá
trình tham gia BHXH đủ để được hưởng chế độ hưu trí bắt buộc. Xuất phát từ các
thực tiễn trong đời sống xã hội, pháp luật đã đặt ra mức hưởng BHXH một lần khi
25
nghỉ việc đối với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhưng không đủ điều kiện để
áp dụng chế độ hưu trí hằng tháng.
Theo quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hưu trí bắt buộc, mức hưởng
BHXH một lần được áp dụng không chỉ phụ thuộc vào tuổi đời và thời gian đóng
góp vào quỹ BHXH mà còn tùy theo yêu cầu của NLĐ, được thực hiện khi thuộc
một trong các trường hợp sau:
- Đủ tuổi về hưu theo quy định nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc chưa
đủ 15 năm đóng BHXH mà không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện;
- Ra nước ngoài để định cư;
- Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung
thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai
đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế;
- Quân nhân khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để
hưởng lương hưu.
Khi NLĐ có yêu cầu hưởng BHXH một lần, mức hưởng được xác định trên cơ
sở số năm đóng BHXH với mức bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng
đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014 và 2 tháng mức bình quân tiền
lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi. Trường hợp thời
gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng BHXH một lần bằng 22% của
các mức tiền lương tháng đã đóng BHXH với mức tối đa bằng 02 tháng mức bình
quân tiền lương đóng BHXH. Khoản trợ cấp một lần này không bao gồm số tiền
nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ trường hợp họ đang bị mắc một trong
những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng,
phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác
theo quy định của Bộ Y tế.
Có thể thấy, việc nhận BHXH một lần, NLĐ sẽ không còn được hưởng các
chính sách ưu đãi về chế độ hưu trí nói riêng và chính sách BHXH bắt buộc nói
chung trong thời gian đã tham gia đóng góp, điều này đồng nghĩa với việc NLĐ đã
tự hạn chế quyền lợi của mình và gây ra những khó khăn trong quá trình nỗ lực ổn
định hệ thống ASXH của Đảng và Nhà nước, do đó để góp phần nâng cao nhận
26
thức của người dân cũng như hạn chế các trường hợp nhận BHXH một lần, những
quy định pháp luật về quyền lợi của người nhận BHXH một lần cũng bị hạn chế
hơn các chủ thể khác khi có thời gian tham gia BHXH dài hạn.
Theo Thống kê của BHXH Việt Nam, khoảng từ năm 2015 đến năm 2020,
trong cả nước đã có khoảng 2,5 triệu NLĐ lĩnh BHXH một lần. Hiện, bình quân
mỗi năm có khoảng 700.000 lượt người hưởng chế độ này. Trên thực tế, số người
hưởng BHXH một lần tăng nhanh làm cho quỹ hưu trí – tử tuất có nguy cơ mất cân
đối trong dài hạn, bởi vậy, trong công cuộc xây dựng pháp luật, những quy định ban
hành phải phù hợp để giảm tình trạng hưởng BHXH một lần theo hướng tăng quyền
lợi nếu bảo lưu thời gian tham gia BHXH để hưởng chế độ hưu trí để khuyến khích
NLĐ tham gia BHXH thời gian dài hơn. Do đó theo quy định tại Điều 61 Luật
BHXH thì NLĐ khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu về tuổi đời
nghỉ hưu hoặc thời gian tham gia BHXH bắt buộc hoặc chưa hưởng BHXH một lần
thì được bảo lưu thời gian đóng BHXH. Việc bảo lưu thời gian tham gia BHXH
không chỉ giúp NLĐ có một quá trình tích lũy dài hạn mà còn tạo điều kiện để họ
được hưởng chế độ hưu trí, được xã hội ghi nhận công sức đóng góp và bảo vệ sau
những năm tháng lao động miệt mài.
1.2.2.5. Một số quy định khác khi hưởng lương hưu
Ngoài những nội dung cơ bản đã đề cập, để mang lại hiệu quả thực thi pháp
luật, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của người dân và xã hội, chế độ hưu trí bắt buộc
còn được thực hiện dựa trên các quy định khác như:
Thứ nhất, về thời điểm hưởng chế độ hưu trí bắt buộc.
Thời điểm hưởng chế độ hưu trí bắt buộc được tính từ khi NLĐ hết tuổi lao
động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động, nói một cách khác, thời điểm
này được tính khi NLĐ không còn lao động và bắt đầu ngày đầu tiên của tháng liền
kề sau thời điểm nghỉ hưu. Thời điểm nghỉ hưu là kết thúc ngày cuối cùng của
tháng đủ tuổi theo quy định, đối với trường hợp NLĐ tiếp tục làm việc sau khi đã
đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định thì thời điểm nghỉ hưu là thời điểm chấm dứt hợp
đồng lao động. Trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ có năm
sinh của NLĐ thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh để làm căn cứ xác định thời
27
điểm nghỉ hưu và thời điểm hưởng chế độ hưu trí. Do có sự thay đổi về độ tuổi nghỉ
hưu từ ngày 01/01/2021 (ngày BLLĐ năm 2019 có hiệu lực), đối với lao động nam
sinh tháng 12 năm 1960 và lao động nữ sinh tháng 12 năm 1965 làm việc trong điều
kiện bình thường thì thời điểm nghỉ hưu kết thúc là ngày 31/12/2020, thời điểm
hưởng lương hưu là bắt đầu từ ngày 01/01/2021.
Thứ hai, về điều chỉnh lương hưu.
Việc điều chỉnh lương hưu do Chính phủ quy định và thực hiện điều chỉnh
trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với
ngân sách nhà nước và quỹ BHXH. Trong Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành
Trung ương Đảng, chương trình cải cách chính sách BHXH được đề ra trong giai
đoạn mới là việc điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối trong mối tương quan với
tiền lương của người đang làm việc, thay đổi các thức điều chỉnh tiền lương theo
hướng chia sẻ. Bên cạnh đó, sự phát triển qua từng thời kỳ của đất nước đã dẫn đến
sự thay đổi về thu nhập và mức sống của người dân trong từng giai đoạn, do đó cần
có quan tâm điều chỉnh thỏa đáng đối với nhóm đối tượng có mức lương hưu thấp
và nghỉ hưu trước năm 1995 nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa
người nghỉ hưu ở các thời kỳ.
Thứ ba, về việc tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu hằng tháng.
Thời gian hưởng lương hưu mang bản chất là quá trình liên tục, phụ thuộc vào
tuổi thọ của người được bảo hiểm, tuy nhiên để đảm bảo tính công bằng và nghiêm
minh của pháp luật, người đang được hưởng lương hưu hằng tháng bị tạm ngừng trợ
cấp khi thuộc một trong các trường hợp: xuất cảnh trái phép; bị Tòa án tuyên bố mất
tích; có căn cứ xác định việc hưởng BHXH không đúng quy định của pháp luật.
Thời gian hưởng lương hưu hàng tháng sẽ được tiếp tục khi người xuất cảnh trở về
định cư hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú. Đối với trường hợp quyết
định tuyên bố một người mất tích bị hủy bỏ bởi quyết định có hiệu lực của Tòa án,
thì ngoài việc tiếp tục được hưởng lương hưu, trợ cấp đối tượng này còn được truy
lĩnh tiền lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng kể từ thời điểm dừng hưởng.
28
Thứ tư, thực hiện chế độ BHXH đối với người đang hưởng lương hưu ra
nước ngoài để định cư.
Người đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư được giải quyết
hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu
được tính theo thời gian đã đóng BHXH trong đó mỗi năm đóng BHXH trước năm
2014 trở đi được tính bằng 02 tháng lương hưu đang được hưởng, sau đó mỗi tháng
đã hưởng lương hưu thì mức trợ cấp một lần trừ 0,5 tháng lương hưu. Mức thấp
nhất bằng 03 tháng lương hưu đang hưởng. Mức trợ cấp một lần đối với người đang
hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng bằng 03 tháng trợ cấp đang hưởng.
1.2.3. Thủ tục hưởng chế độ hưu trí bắt buộc
Hồ sơ được hưởng chế độ hưu trí được giải quyết theo quy định tại Luật
BHXH hiện hành và Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/01/2019 của BHXH
Việt Nam, cụ thể trong từng mức hưởng, NLĐ cần phải chuẩn bị một bộ hồ sơ đầy
đủ trong quá trình thực hiện các thủ tục đảm bảo quyền lợi của mình.
1.2.3.1. Hồ sơ hưởng chế độ hưu trí bắt buộc
Để được hưởng chế độ hưu trí theo BHXH bắt buộc, người yêu cầu cần phải
chuẩn bị một bộ hồ sơ bao gồm:
- Sổ Bảo hiểm xã hội;
- Quyết định nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí (theo mẫu) hoặc văn bản chấm
dứt hợp đồng lao động hưởng chế độ hưu trí;
- Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám
định y khoa (bản chính, trường hợp NLĐ đã có biên bản giám định y khoa để hưởng
các chính sách khác trước đó mà đủ điều kiện hưởng thì có thể thay thế bằng bản
sao) đối với người nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động hoặc bản sao giấy
chứng nhận bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (tương đương mức
suy giảm khả năng lao động 61%) đối với người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi
ro nghề nghiệp;
- Bản khai cá nhân về thời gian, địa bàn phục vụ trong quân đội có hưởng phụ
cấp khu vực theo mẫu số 04B-HBKV (ban hành kèm theo Thông tư số
181/2016/TT-BQP đối với người có thời gian phục vụ trong quân đội trước ngày
29
01/01/2007 tại địa bàn có hưởng phụ cấp khu vực mà sổ BHXH không thể hiện đầy
đủ thông tin làm căn cứ tính phụ cấp khu vực.)
1.2.3.2. Giải quyết lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần
Đối với trường hợp hưởng BHXH một lần, người yêu cầu cần chuẩn bị một bộ
hồ sơ theo quy định, bao gồm:
- Sổ Bảo hiểm xã hội.
- Đơn đề nghị theo mẫu số 14-HSB.
- Đối với người ra nước ngoài để định cư phải nộp thêm bản sao giấy xác nhận
của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng
Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau đây:
• Hộ chiếu do nước ngoài cấp;
• Thị thực của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp xác nhận việc cho phép
nhập cảnh với lý do định cư ở nước ngoài;
• Giấy tờ xác nhận về việc đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài;
• Giấy tờ xác nhận hoặc thẻ thường trú, cư trú có thời hạn 05 năm trở lên của
cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp.
- Trường hợp bị mắc những bệnh hiểm nghèo nguy hiểm đến tính mạng như:
ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang
giai đoạn AIDS thì có thêm trích sao/tóm tắt hồ sơ bệnh án thể hiện tình trạng
không tự phục vụ được; nếu bị mắc các bệnh khác thì thay thế bằng Biên bản giám
định mức suy giảm khả năng lao động của hội đồng giám định y khoa thể hiện tình
trạng suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và không tự phục vụ được.
- Nếu thanh toán chi phí giám định y khoa thì có thêm hóa đơn, chứng từ thu phí
giám định, bảng kê các nội dung giám định của cơ sở thực hiện giám định y khoa.
- Bản khai cá nhân về thời gian, địa bàn phục vụ trong quân đội có hưởng phụ
cấp khu vực theo mẫu số 04B-HBKV.
1.2.4. Quỹ bảo hiểm hưu trí
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước và được chia
thành nhiều quỹ thành phần, trong đó chế độ hưu trí được đảm bảo thực hiện thông
30
qua quỹ hưu trí – tử tuất, một trong các quỹ thành phần của quỹ BHXH, được hình
thành từ các nguồn sau:
- Sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ. Đây là nguồn đóng góp đều đặn và chủ
yếu để tạo lập và duy trì sự tăng trưởng ổn định của quỹ hưu trí ở nước ta.
Khi tham gia BHXH bắt buộc, mức đóng góp vào quỹ hưu trí – tử tuất được
quy định đối với NLĐ làm việc trong nước là 8% tiền lương tháng và NSDLĐ là
14% tiền lương đóng BHXH. Đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân, hạ sĩ
quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn, học viên quân đội, công an, cơ
yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí nhưng hằng tháng không phải đóng
góp vào quỹ hưu trí. Đối với NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động
quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
năm 2006 thì mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí - tử tuất bằng 22% mức tiền
lương tháng đóng BHXH của họ trước khi đi làm việc ở nước ngoài đối với NLĐ đã
có quá trình tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối
với NLĐ chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng
đã hưởng BHXH một lần.
Nhìn một cách tổng quan, NSDLĐ và NLĐ mỗi tháng đều duy trì mức đóng
góp tổng cộng vào quỹ hưu trí – tử tuất tổng cộng là 22%, vậy nên hoạt động chính
của quỹ hưu trí luôn được sử dụng để nhằm chi trả tiền lương hưu và thực hiện các
công tác khác để thực hiện chế độ hưu trí nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ.
- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
Việc thu hút nhiều người tham gia vào quỹ hưu trí đã huy động được một
nguồn tích lũy trong nhân dân, công tác chi trả dành cho người nghỉ hưu được thực
hiện trên cơ sở tình hình của quỹ hưu trí, nói một cách khác, sự đóng góp của NLĐ
thông qua khoản phí BHHT hằng tháng được sử dụng cho công tác chi trả của
những người về hưu tại thời điểm tương ứng. Sự tương quan giữa người đóng góp
và người thụ hưởng tạo nên một khoản vốn nhàn rỗi được cơ quan quản lý quỹ sử
dụng vào các hoạt động đầu tư để sinh lợi, các hoạt động đầu tư này phải đảm bảo
an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốn đầu tư để góp phần đảm bảo cho sự tăng
trưởng ổn định của quỹ hưu trí và hỗ trợ được nhiều hơn hoàn cảnh khó khăn của
các thành viên trong xã hội.
31
- Sự hỗ trợ của Nhà nước.
Hằng năm, Nhà nước chuyển từ ngân sách nhà nước một khoản kinh phí vào
quỹ BHXH để đảm bảo trả đủ lương, trợ cấp BHXH đối với người hưởng lương
hưu trước ngày 01/01/1995; đóng BHXH cho người làm việc trong khu vực nhà
nước sau ngày 01/01/1995. Với tư cách là một quỹ thành phần của quỹ BHXH do
do quỹ hưu trí được đặt dưới sự bảo hộ của Nhà nước và có áp dụng biện pháp bảo
đảm an toàn, tăng trưởng quỹ, phát triển hệ thống ASXH quốc gia và tình hình kinh
tế chính trị của đất nước.
- Các nguồn thu hợp pháp khác như: tiền ủng hộ của các cá nhân, tổ chức
trong và ngoài nước, tiền chậm nộp phạt từ các đơn vị đóng BHXH, tiền phạt từ các
cá nhân, tổ chức vi phạm luật BHXH...
Cơ sở để thành lập và tăng trưởng quỹ BHXH chủ yếu là dựa trên sự đóng góp
của các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động, đồng nghĩa với việc đây là tài sản
thuộc sở hữu của cộng đồng do cơ quan, tổ chức được cộng đồng trao quyền quản
lý, thực hiện các hoạt động chi trả tiền bảo hiểm dựa trên sự giám sát của các cá
nhân, tổ chức có thẩm quyền nên công tác quản lý quỹ rất đa dạng và phức tạp. Do
đó mọi hoạt động liên quan đến quỹ hưu phải được tiến hành một cách minh bạch,
công khai, hoạch toán rõ ràng và đặt dưới sự bảo hộ của Nhà nước sử dụng đúng
mục đích nhằm bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của NLĐ, phát huy vai trò ASXH,
từ đó tạo được lòng tin của NLĐ, thu hút nhiều hơn sự tham gia của cộng đồng
trong chế độ BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng, nhằm góp phần ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội.
1.3. Chế độ hưu trí trong pháp luật của một số nước trên thế giới và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1. Chế độ hưu trí trong pháp luật một số nước trên thế giới
Mỗi quốc gia đều có một đặc điểm riêng biệt về dân số, kinh tế - xã hội, do đó
hệ thống pháp luật điều chỉnh chế độ hưu trí ở mỗi nước đều được xây dựng để phù
hợp với tình hình thực tiễn, tạo ra nhiều điểm khác biệt.
32
1.3.1.1. Chế độ hưu trí bắt buộc ở Đức[43]
Chế độ hưu trí được áp dụng ở Đức từ năm 1889 với tên gọi ban đầu là bảo
hiểm thương tật và tuổi già, được củng cố hoàn thiện qua từng thời kỳ, đến nay hệ
thống BHXH ở Đức bao gồm năm lĩnh vực, được gọi là “Năm trụ cột bảo hiểm xã
hội” và được đánh giá là một trong các nước có chế độ phúc lợi xã hội tốt nhất trên
thế giới. Theo đó, chế độ hưu trí theo luật định là một loại hình BHXH bắt buộc và
được dùng để trả lương cho NLĐ sau khi họ nghỉ hưu nên mức hưởng phụ thuộc vào
thu nhập và số năm làm việc tại Đức. Tuy nhiên, đơn vị chủ quản của BHXH ở quốc
gia này không phải là cơ quan nhà nước mà được chính là các tổ chức công cộng.
- Về điều kiện được nghỉ hưu:
Thứ nhất, đủ độ tuổi nghỉ hưu. Tuổi nghỉ hưu ở Đức không phân biệt về giới
tính mà tùy thuộc vào số năm sinh. Theo đó những người sinh trước năm 1947 được
nghỉ hưu ở tuổi 65, người sinh từ năm 1947 đến năm 1958 thì mỗi năm phải cộng
thêm 1 tháng, sinh từ năm 1959 đến năm 1964 thì mỗi năm tuổi nghỉ hưu phải tăng
lên thêm 2 tháng, đối với người sinh sau năm 1964 tuổi nghỉ hưu là 67 tuổi. Mặc dù
là một quốc gia phát triển, tuy nhiên nước Đức vẫn phải đối diện với nhiều khó
khăn về tình trạng dân số già, khi mà tuổi thọ bình quân của nước này là 80,9, tốc
độ già hóa dân số ngày càng cao và tỷ lệ sinh ngày càng thấp hơn tỷ lệ tử, tình trạng
này đã kéo dài từ năm 1972. Nên biện pháp nâng độ tuổi nghỉ hưu được đưa ra
nhằm kéo dài thời gian làm việc của NLĐ và khắc phục tình trạng dân số già ở Đức,
tạo ra sự cân bằng giữa nguồn thu và khoản chi từ quỹ hưu trí, đảm bảo cân bằng
ASXH.
Thứ hai, NLĐ được nghỉ hưu khi thu nhập cũng như tài sản của họ không đủ
chi trả mọi nhu cầu tối thiểu nhất (ví dụ: thực phẩm, áo quần, nước nóng và tiền
nhà) và tài sản của người bạn đời, được tính kể cả hai người không đăng ký kết hôn
trên pháp luật, cũng không đủ để vừa tự lo cho bản thân và tự lo cho thêm người
còn lại. Trợ cấp hưu trí ở Đức là được dành cho những người có khó khăn về tài
chính, nên nếu như người về hưu có khối tài sản riêng thì trước hết phải sử dụng số
tài sản đó để trả cho cuộc sống. Ngoài ra, khi nộp đơn xin hưởng lương hưu, người
yêu cầu chỉ được sở hữu một căn nhà với giá trị ở mức vừa phải (đây là nơi sinh
33
sống duy nhất của họ) và được phép giữ lại tài sản phòng thân, số tài sản này phải
được quy đổi ra bằng tiền với mức tối đa là 5.000 Euro, Sở xã hội sẽ kiểm tra các tài
sản để xác định tài sản có thể bán thành tiền để sử dụng và tài sản nào thuộc về tài
sản phòng thân.
- Về mức đóng góp cho quỹ hưu trí: Số tiền NLĐ phải đóng góp cho nhà nước
Đức được tính trên tiền lương tháng trước khi đóng thuế của họ với tỷ lệ đóng được
chia đều giữa NLĐ và NSDLĐ. Mức đóng góp tối đa vào năm 2018 là 19,5% tổng
lương, tương đương NLĐ và NSDLĐ mỗi bên phải đóng 9,75%. Tuy nhiên, người
làm việc trong các tổ chức, cơ quan hay đoàn thể thuộc nhà nước sẽ không phải tự
chi trả vào quỹ hưu trí nhưng đổi lại mức lương của họ sẽ được tính toán thấp hơn
một chút để bù đắp vào phần thiếu hụt.
- Về thời gian đóng góp để được hưởng lương hưu: một người nghỉ hưu sẽ
được hưởng khoản trợ cấp hưu trí ở tiểu bang khi có thời gian làm việc tối thiểu là
05 năm đóng góp thuế cho ASXH ở Đức. Trong một số trường hợp đặc biệt, điều
kiện về thời gian đóng góp được điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng được hưởng,
cụ thể: nếu vì lý do sức khỏe mà không tiếp tục đi làm được thì trong 5 năm qua
NLĐ phải đóng ít nhất 03 năm BHHT; nếu bị tai nạn nghề nghiệp trong vòng 6 năm
sau khi tốt nghiệp ngành nghề thì không phải thỏa mãn điều kiện này mà vẫn được
hưởng lương hưu.
Hằng năm, NLĐ sẽ được cơ quan quản lý về BHXH gửi thư tường trình dự
báo về lương hưu trong tương lai, được tính toán theo công thức quy định của nhà
nước. Do đó, họ có thể kiểm tra lại quá trình đóng, kịp thời nộp đơn xin tra cứu nếu
có các sai sót cần điều chỉnh, tránh trường hợp lương hưu được nhận bị hao hụt.
- Mức hưởng trợ cấp hưu trí: lương hưu hàng năm của giới công chức nhà
nước bằng 68,1% của tổng mức lương mà họ đã nhận trong khoảng thời gian 2 năm
trước khi nghỉ hưu. Trong khi đó, NLĐ khối ngoài nhà nước nhận lương hưu của
tiểu bang với mức trung bình là 48% tổng thu nhập được trả trong khoảng thời gian
2 năm trước thời điểm nghỉ hưu. Bên cạnh đó, người Đức có thể chọn nghỉ hưu sớm
trước tuổi 67, nhưng mỗi tháng cứ trước thời điểm được phép nghỉ hưu thì tổng số
tiền cấp dưỡng sẽ bị khấu trừ 0,3%.
34
Ngoài ra, một số NLĐ đến tuổi hưu trí nhưng không đủ lương hưu căn bản hay
vì lý do sức khỏe mà hạn chế khả năng làm việc hoặc không thể tiếp tục làm được
nữa, ảnh hưởng đến thu nhập và cuộc sống hàng ngày, sẽ được Nhà nước hỗ trợ
bằng các khoản trợ cấp xã hội cơ bản bao gồm các khoản: Chi phí cho nhu cầu sống
(ăn, ở, lò sưởi), bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm về chăm sóc điều dưỡng, các khoản
tiền đóng góp thêm cho lương hưu… để người dân có được một cuộc sống ổn định,
đảm bảo được các nhu cầu cơ bản, thiết yếu.
1.3.1.2. Chế độ hưu trí bắt buộc ở Nhật Bản [51]
Với vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, hệ thống
ASXH của quốc gia này ra đời từ những năm 1950, được Nhà nước chú trọng, từng
bước hoàn thiện với ba bộ phận chính: chăm sóc y tế, hưu trí và phúc lợi xã hội
khác. Trong đó, chế độ hưu trí là bộ phận chiếm tỷ lệ cao nhất của cả hệ thống.
Nhật Bản là quốc gia có tuổi thọ trung bình thuộc hàng cao nhất thế giới với mức
83,7 tuổi (theo số liệu thống kê của Liên Hợp quốc năm 2016) nên để tận dụng các
nguồn lực lao động, người già vẫn chăm chỉ làm việc và được hưởng sự ưu tiên theo
ngành nghề.
Theo Luật Hưu trí của nước này, NLĐ có quyền nghỉ hưu từ độ tuổi 60 đến 70
tuổi, tuy nhiên đối với người nghỉ hưu từ sau tuổi 65 thì mức lương hưu được nhận
sẽ cao hơn so với người cùng hoàn cảnh nhưng nghỉ hưu sớm hơn. Theo dự luật
mới thông qua trong tương lai độ tuổi có quyền nghỉ hưu và nhận trợ cấp hưu trí của
nước này sẽ là 75 tuổi cho cả nam và nữ.
Khác với các quốc gia khác, lương hưu mà NLĐ được hưởng phụ thuộc vào
loại hợp đồng mà họ ký kết, do đó chế độ lương hưu được chia thành hai loại: bảo
hiểm hưu trí quốc dân và bảo hiểm hưu trí phúc lợi.
Thứ nhất, bảo hiểm hưu trí quốc dân.
- Về đối tượng tham gia: chế độ hưu trí là chế độ bắt buộc mà tất cả mọi người
sống ở Nhật Bản, kể cả người ngoại quốc, trong độ tuổi từ 20 đến 60 tuổi đều có
nghĩa vụ đóng một khoảng tiền hàng tháng để được đảm bảo cuộc sống của bản
thân khi về hưu.
35
- Về mức đóng: tùy thuộc vào đối tượng tham gia mà pháp luật quy định mức
đóng góp khác nhau, trong đó: sinh viên, người làm nông lâm ngư nghiệp, làm tự do
hoặc không có nghề nghiệp (nhóm 1) phải đóng góp hàng tháng cố định với mức
16.340 Yên; người đang làm việc tại công ty có tham gia quỹ lương hưu (nhóm 2)
thì khoản phí này không cố định mà được tính theo tỷ lệ với thu nhập của người
đóng với mức cố định 18,3% nhưng công ty sẽ hỗ trợ 50% và phần còn lại sẽ được
trừ trực tiếp vào lương của họ; người phụ thuộc vào nhóm 2 không phải đóng phí
bảo hiểm hưu trí hằng tháng nhưng vẫn được hưởng lương hưu khi về già, tuy nhiên
nếu thu nhập của họ vượt quá 130 vạn Yên trong 1 năm sẽ không được xem là đối
tượng phụ thuộc mà phải đóng phí giống như nhóm 1.
- Về mức hưởng: nếu đóng đủ 40 năm (khoảng 480 tháng) thì tiền phí lương
hưu hằng năm được nhận sau khi đủ 65 tuổi theo quy định hiện hành là khoảng 78
man/năm. Nếu NLĐ có thời gian đóng góp dưới 40 năm thì số tiền này sẽ thay đổi
theo tỷ lệ:
Tiền lương hưu nhận được = Số tháng đã đóng x 78 man / 480 tháng
Thứ hai, bảo hiểm hưu trí phúc lợi. Đây là chế độ BHXH bắt buộc mà bên
cạnh tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí quốc dân, người thuộc nhóm 2 còn đồng
thời tham gia bảo hiểm hưu trí phúc lợi, do đó hằng tháng khoản chi phí phải chi trả
cho cho chế độ bảo hiểm này đã được tính tổng cộng trong mức đóng góp bảo hiểm
hàng tháng. Với mức đóng lớn hơn các nhóm còn lại, nên nhóm này sẽ được nhận
một khoản trợ cấp hưu trí tốt hơn trong tương lai, phụ thuộc vào số năm và thu nhập
trung bình của người tham gia.
Khi tham gia vào các chế độ hưu trí, NLĐ được nhận một sổ tay lương hưu có
giá trị sử dụng cả đời nên cần được giữ gìn cẩn thận. Đây là cuốn sổ theo dõi tình
trạng đóng BH lương hưu của NLĐ và có vai trò quan trọng trong việc xác định
nhân thân, tư vấn quyền lợi bảo hiểm.
Ở Nhật Bản, việc chi trả lương hưu được thực hiện từ kinh phí của quỹ hưu trí,
quỹ này được quản lý bởi một số tổ chức thuộc Chính phủ lập, do Bộ Y Tế, Lao
động và Phúc lợi điều hành. Qũy hưu trí được hình thành từ sự đóng góp của NLĐ,
NSDLĐ và một khoản hỗ trợ trích từ ngân sách nhà nước
36
1.3.1.3. Chế độ hưu trí bắt buộc ở Trung Quốc [49]
Cùng với quá trình hình thành và phát triển, bên cạnh các chế độ y tế, thất
nghiệp, thai sản, tai nạn lao động cùng các trợ giúp và phúc lợi xã hội, BHHT đóng
vai trò là hạt nhân của trong các chính sách ASXH ở Trung Quốc, được chia thành
nhiều loại hình để mở rộng mức độ bao phủ tới mọi đối tượng dân cư.
Hiện nay, chế độ hưu trí bắt buộc ở nước này được xác định cụ thể như sau:
- Về đối tượng tham gia BHHT: Ở Trung Quốc, chương trình lương hưu cơ
bản bắt buộc dành cho các doanh nghiệp cũng như các tổ chức sự nghiệp công mà
không được hoặc chỉ được hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách.
- Về tuổi đời nghỉ hưu: Độ tuổi nghỉ hưu đối với lao động trí óc ở quốc gia này
là 55 tuổi đối với nữ giới và 60 tuổi đối với nam giới. Trung Quốc là nước có số dân
đông nhất trên thế giới với hơn 1,4 tỷ người do đó nhà cầm quyền của nước này
đang chuẩn bị kế hoạch điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu để nhằm cân đối quỹ hưu trí
cũng như giải quyết các khó khăn của tình trạng già hóa dân số, tuy nhiên những
chính sách đổi mới này vẫn chưa được thực hiện vì vấp phải sự phản đối gay gắt
của quần chúng nhân dân.
- Về mức đóng góp: Tỷ lệ đóng góp BHXH ở mức 28%, trong đó NSDLĐ
đóng 20% được đưa vào quỹ hưu trí chung và NLĐ đóng 8% đưa vào tài khoản
BHXH của cá nhân. Tỷ lệ đóng góp cụ thể có sự khác nhau giữa các địa phương và
các vùng tùy thuộc quyết định của chính quyền địa phương.
- Về điều kiện thời gian đóng góp để được hưởng chế độ hưu trí: Theo quy
định hiện hành của pháp luật hưu trí ở Trung Quốc, để dược hưởng chế độ hưu trí
khi đủ tuổi nghỉ hưu, vào thời điểm nghỉ NLĐ phải có ít nhất 15 năm công tác.
- Về mức hưởng: Mức hưởng dành cho một cá nhân có 35 năm đóng góp là
59,2%, bao gồm 35% từ quỹ hưu trí chung và 24,2% từ tài khoản BHXH của cá
nhân. Khi người được hưởng lương hưu qua đời, gia đình sẽ nhận được tổng cộng 6
-12 tháng lương, phụ thuộc vào số người phụ thuộc trong gia đình. Số tiền đã đóng
góp nằm trong tài khoản cá nhân, cộng với lãi, sẽ được thừa kế cho người được thừa
kế hợp pháp.
37
- Về nguồn chi trả lương hưu: NLĐ sẽ được hưởng lương hưu từ hai nguồn:
nguồn quỹ hưu trí chung và tài khoản BHXH của cá nhân. Trong trường hợp thiếu
hụt quỹ, ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ quỹ hưu trí.
Để mở rộng phạm vi bao phủ của BHHT tới NLĐ tự làm chủ hoặc người có
công việc linh hoạt, Chính phủ áp dụng tỷ lệ đóng góp 20 % lương bình quân của
địa phương, trong đó 8% được đưa vào tài khoản hưu trí cá nhân và 12% còn lại
đưa vào quỹ hưu trí ở địa phương. Khi đến tuổi nghỉ hưu hoặc ít nhất 15 năm làm
việc, NLĐ cũng được nhận 2 khoản lương hưu. Ở một số địa phương, NLĐ được
phép lựa chọn lương làm cơ sở để đóng góp từ 40 đến 300% mức lương bình quân
của địa phương và có thể chọn đóng theo tháng, theo quý, theo 6 tháng hoặc 1 năm.
Ngoài ra, chương trình hưu trí do ngân sách nhà nước hỗ trợ toàn bộ dành cho
công chức và những người hưởng lương từ ngân sách, đây là chương trình với quy
mô bao phủ rộng lớn với khoản 40 triệu người, bao gồm 7 triệu công chức và hơn
30 triệu người làm việc trong các đơn vị công lập. Mức hưởng được tính dựa trên
mức lương của mỗi người và theo số năm công tác, thường ở mức 70 – 90% lương
trước khi nghỉ hưu.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thông qua việc nghiên cứu về chế độ hưu trí ở Đức, Nhật Bản, Trung Quốc có
thể thấy mặc dù phải đối diện trước các thách thức về kinh tế, văn hóa, xã hội, tuy
nhiên các đất nước này vẫn có có hệ thống ASXH được đánh giá cao. Qua đó, ta có
thể so sánh đối chiếu và đúc kết được một số bài học kinh nghiệm trong quá trình
xây dựng, điều chỉnh và hoàn thiện chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc ở
Việt Nam như:
Thứ nhất, về kinh nghiệm điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phù hợp với đặc điểm về
cơ cấu dân số, kinh tế của đất nước. Nhật Bản và Đức là các quốc gia có tuổi thọ
trung bình cao, cơ cấu dân số già nên độ tuổi nghỉ hưu của NLĐ cũng “muộn hơn”
so với một số quốc gia khác trên thế giới. Việc tăng tuổi nghỉ hưu để nhằm tạo ra sự
cân bằng của quỹ BHXH, khai thác nguồn lao động lành nghề sẵn có, bù đắp sự
thiếu hụt nhân công trong một số ngành nghề. Việt Nam đang có nguy cơ đối diện
với tác động tiêu cực của sự già hóa dân số do đó nếu không nhanh chóng tận dụng
38
nguồn nhân lực ở thời điểm hiện tại và có sự điều chỉnh thích hợp cho kế hoạch
tương lai dài hạn, có thể sẽ gây ra những tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh
tế - xã hội, hao phí nguồn lực quốc gia.
Thứ hai, thời gian đóng BHXH bắt buộc cần có sự điều chỉnh thích hợp. Thời
gian được hưởng chế độ hưu trí ở một số nước được tính trên cơ sở khoảng thời
gian đóng góp vào quỹ ASXH quốc gia, tùy theo độ dài của quá trình đóng góp mà
xác định mức hưởng chế độ hưu trí cho toàn bộ thời gian nghỉ hưu, nhằm đảm bảo
công bằng, phù hợp cho NLĐ, đảm bảo sự cân bằng giữa quá trình đóng góp và sự
thụ hưởng.
Thứ ba, mở rộng đối tượng được hưởng chế độ hưu trí để đảm bảo mọi người
đều được hưởng sự bình đẳng, công bằng đối với các chính ASXH. Bên cạnh đó,
càng nhiều đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tạo ra sự tăng trưởng của quỹ bảo
hiểm và hệ thống ASXH quốc gia, đảm bảo sức mạnh chia sẻ.
Thứ tư, đưa ra dự đoán về mức hưởng lương hưu ở tương lai. Thông qua việc
quá trình đóng góp vào quỹ hưu trí, cơ quan quản lý nhà nước về BHXH có thể đưa
ra các thông báo thường niên về mức trợ cấp hưu trí NLĐ có thể nhận được trong
tương lai, khuyến khích NLĐ tham gia chế độ hưu trí và đưa ra kế hoạch chuẩn bị
dài hạn để đảm bảo cuộc sống khi về già.
Như vậy, một số nước trên thế giới cũng có những quy định khá tương đồng
về chế độ hưu trí trong hệ thống pháp luật BHXH bắt buộc ở nước ta. Trên cơ sở
các quy định này, các nhà nghiên cứu, nhà phân tích có thể so sánh, đối chiếu để
đưa ra các bài học kinh nghiệm, kiến nghị về phương pháp áp dụng hiệu quả chế độ
hưu trí nói riêng và hệ thống BHXH bắt buộc ở Việt Nam nói chung, từng bước
củng cố kiện toàn hệ thống pháp luật, phù hợp với những chuẩn mực quốc tế trong
công cuộc phát triển và hội nhập sâu rộng.
39
Tiểu kết chương 1
Trong phạm vi Chương 1, tác giả đã tập trung phân tích, trình bày khái quát
các vấn đề lý luận chung về pháp luật BHHT bắt buộc và chế độ hưu trí bắt buộc,
đó là: khái niệm pháp luật BHHT bắt buộc, chế độ hưu trí bắt buộc và hệ thống quy
định về đối tượng tham gia, chế độ hưởng, thủ tục hưởng chế độ hưu trí bắt buộc,
quỹ BHHT theo pháp luật BHXH bắt buộc ở Việt Nam hiện nay.
Quy định điều chỉnh chế độ hưu trí bắt buộc được Nhà nước ban hành dựa trên
nguyên tắc cơ bản của pháp luật BHXH, tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng về đối
tượng hướng đến bảo vệ mà chế độ hưu trí bắt buộc còn phải đảm bảo một số
nguyên tắc đặc thù như: đảm bảo sự cân bằng xã hội, cơ cấu nhân lực và mức sống
của NLĐ; có sự điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trong một số ngành, nghề nhất định; thực
hiện điều chỉnh hợp lý giữa lao động nam và lao động nữ.
Bên cạnh đó, qua việc nghiên cứu quy định pháp luật hưu trí ở các nước Đức,
Nhật Bản, Trung Quốc, Luận văn đã đúc kết được một số bài học kinh nghiệm trong
quá trình xây dựng, điều chỉnh và hoàn thiện chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH
bắt buộc ở Việt Nam như: kinh nghiệm điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phù hợp với đặc
điểm về cơ cấu dân số, kinh tế của đất nước; thời gian đóng BHXH bắt buộc cần có
sự điều chỉnh thích hợp; mở rộng đối tượng được hưởng chế độ hưu trí để đảm bảo
mọi người đều được hưởng sự bình đẳng, công bằng đối với các chính ASXH; đưa
ra dự đoán về mức hưởng lương hưu ở tương lai. Đây là các kinh nghiệm góp phần
hoàn thiện, nâng cao chất lượng thực thi chế định về hưu trí trong BHXH bắt buộc
tại Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế.
Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật BHHT
bắt buộc và chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc ở Việt Nam hiện nay, có
thể thấy rằng chế độ hưu trí bắt buộc ở nước ta về cơ bản đã hoàn thiện và hình
thành một hành lang pháp luật khá đầy đủ nhằm đảm bảo bù đắp một phần thu nhập
của một người khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao
động, điều tiết thu nhập và cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội, đảm bảo
mối liên hệ giữa sự đóng góp và mức hưởng thụ, chế độ này là một bộ phận quan
trọng của hệ thống ASXH. Tuy nhiên, vẫn còn một số vướng mắc về khoảng cách
40
tuổi tác và vị trí nghề nghiệp của các đối tượng được hưởng chế độ hưu trí, các
chính sách nhằm hạn chế tỷ lệ yêu cầu hưởng chế độ BHXH một lần chưa thực sự
hiệu quả, nguy cơ mất cân bằng quỹ hưu trí,… đặt ra yêu cầu cần phải lắp đầy các
khoảng trống của pháp luật nói chung và hệ thống quy định điều chỉnh chế độ hưu
trí nói riêng, giúp cân bằng giữa các lực lượng lao động trong xã hội, bảo đảm ổn
định hệ thống ASXH quốc gia và sự phát triển bền vững của đất nước.
41
Chương 2
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ THEO PHÁP LUẬT BẢO
HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc tại
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
2.1.1 Sự chỉ đạo của tỉnh Thái Bình về thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ASXH, ngày 16/5/1995 của
Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đã ban hành Quyết định số 03/QĐ-TCCB về việc
thành lập BHXH tỉnh Thái Bình, đây là cơ quan chịu trách thực hiện các chế độ,
chính sách của BHXH, tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH trên địa bàn tỉnh, là
bộ phận quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của NLĐ theo quy định pháp luật
và đưa chính sách pháp luật về ASXH đến gần hơn với người dân.
Bên cạnh đó, quá trình thực hiện chế độ hưu trí dựa trên tinh thần nội dung
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012–2020 và Nghị quyết
số 28-NQ/TW ngày 23/05/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về cải cách
chính sách BHXH, UBND, HĐND tỉnh Thái Bình cùng các Sở, Ban, ngành đã cùng
nhau phối hợp, triển khai công tác thực hiện, cụ thể hóa các chỉ đạo của trung ương.
Đồng thời, với sự tham mưu của BHXH tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành
chương trình hành động số 26/CTr/TU ngày 08/05/2013 và Quyết định số
1950/QĐ-BHXH về Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 26-CTr/TU do
UBND tỉnh ban hành ngày 05/9/2013 để từng bước triển khai, tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng, đổi mới công tác BHXH tương ứng với từng giai đoạn phát triển đất
nước. Trong các nội dung xây dựng cơ chế quản lý trật tự xã hội, đảm bảo đời sống
của người dân địa phương, giai đoạn 2013–2017 đã có trên 120 văn bản chỉ đạo của
tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác BHXH, BHYT, trong đó các nội dung về chế độ
hưu trí luôn được lãnh đạo tỉnh Thái Bình quan tâm, chú trọng.
Hoạt động thực hiện chế độ hưu trí đã thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo của
BHXH Việt Nam, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương cùng sự phối hợp của
42
các sở, ban, ngành để triển khai các quy định pháp luật. sự chỉ đạo thực hiện chế độ
hưu trí trên địa bàn tỉnh Thái Bình được xây dựng, triển khai đồng bộ nhiều giải
pháp giải quyết chế độ và chi trả đảm bảo an toàn đầy đủ đến đối tượng thụ hưởng,
hạn chế tình trạng bội chi của quỹ, kiểm tra, giám sát 100% các đơn vị được UBND
tỉnh giao. Bởi vậy, trong thời gian tới để thực hiện tốt hơn nữa chế độ hưu trí nói
chung và chính sách BHXH nói riêng, tỉnh Thái Bình đã xây dựng kế hoạch và thực
hiện các chỉ đạo về hoàn thiện các chỉ tiêu, kế hoạch được giao qua các năm, rà soát
lại quy định quản lý thu – chi; tăng cường kỷ luật, nâng cao công tác thông tin,
tuyên truyền, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ, từng bước triển khai cung cấp các
dịch vụ công trực tuyến, tiết kiệm thời gian, công sức, tạo thuận lợi cho các tổ chức,
cá nhân thực hiện thủ tục tham gia và hưởng các ưu đãi trong chế độ hưu trí, kịp
thời báo cáo với tỉnh về tình hình phố hợp giữa ngành với các sở, ngành, địa
phương trong tỉnh và thực hiện trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong thực hiện công
tác chăm lo sức khỏe nhân dân, đảm bảo ASXH; thực hiện tham mưu với tỉnh xây
dựng chính sách, từng bước gia tăng tỷ lệ bao phủ BHXH nói chung và chế độ hưu
trí nói riêng trên địa bàn huyện Thái Thụy. Từ đó nâng cao ý thức thực thi công vụ
của công chức, viên chức, NLĐ, NSDLĐ và củng cố niềm tin trong nhân dân, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, khẳng định được trụ cột của chế độ hưu trí
trong hệ thống ASXH.
2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội của huyện Thái Thụy,
tỉnh Thái Bình
Thái Thụy là một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình, được thành lập bởi 2
huyện cũ là Thụy Anh và Thái Ninh (tên cũ là huyện Thanh Quan), có 1 thị trấn và
35 xã với tổng diện tích tự nhiên là 256,83km2, dân số trên toàn tỉnh khoảng
255.460 người với mật độ dân cư 1040 người/km2[52]. Huyện Thái Thụy nằm ở
phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình; phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp các huyện
Đông Hưng, Kiến Xương và Quỳnh Phụ; phía Bắc giáp với thành phố Hải Phòng,
phía Nam giáp sông Trà Lý; chính giữa huyện có con sông Diêm Hộ chảy qua theo
hướng Tây – Đông đổ ra cửa Diêm Hộ chia huyện thành hai nửa gần tương đương
về diện tích.
43
Đây là địa phương có đầy đủ các điều kiện phát triển ngành nghề du lịch và
kinh tế biển với 1.552,3 ha rừng ngập mặn tập trung tại các xã ven biển không chỉ
có tác dụng lớn trong rừng phòng hộ đê biển, điều hòa khí hậu mà còn mang giá trị
lớn về cảnh quan môi trường, bảo tồn hệ sinh thái ngập nước. Ngoài ra, với lợi thế
đường bờ biển dài 27km và hàng chục nghìn km2 lãnh hải, có 3 cửa sông lớn hàng
năm đổ ra biển một lượng lớn phù sa, vùng biển Thái Thụy có một tiềm năng hải
sản phong phú, theo số liệu điều tra của Viện nghiên cứu Hải sản 1, trong vừng biển
Thái Thụy có ít nhất 46 loài cá có giá trị kinh tế cao, 10 loài tôm, 5 loài mực,…
Bên cạnh đó, cụm công nghiệp Thái Dương, Khu công nghiệp Diêm Điền là
các điểm công nghiệp quan trọng của huyện Thái Thụy. Khu công nghiệp Liên Hà
Thái (Green iP-1) với quy mô 588,84ha với tổng vốn đầu tư 3.885 tỷ đồng mới
được khởi công vào ngày 13/12/2020 dự kiến là một trọng điểm thu hút đầu tư, đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, tăng ngân sách tỉnh và tạo cơ hội
việc làm cho hàng chục ngàn lao động trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Tận dụng các lợi
thế và tiềm năng để phát triển kinh tế, trong suốt những năm qua, huyện ủy, HĐND
và UBND huyện Thái Thụy luôn phát huy tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo
thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và đạt kết quả
toàn diện trên các lĩnh vực, đặc biệt trong việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp đã
góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội địa phương theo hướng tích
cực. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 ước đạt 45,9 triệu đồng/năm, đến
tháng 8/2019 tỷ lệ hộ nghèo là 1,36%, tỷ lệ lao động có việc làm đạt 98%. Trong
Đại hội đại biểu lần thứ XVI của Đảng bộ huyện Thái Thụy đã đặt mục tiêu cơ cấu
kinh tế đến năm 2025 chuyển dịch mạnh mẽ với tỷ trọng công nghiệp, xây dựng cơ
bản và thương mại – dịch vụ chiếm trên 91% [41].
Ngoài ra, Thái Thụy là nơi sở hữu nhiều địa điểm du lịch nghỉ mát như bãi
biển Cồn Đen, rừng ngập mặn ven biển xã Thái Thượng – Thái Đô trong phạm vi
khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng với rất nhiều loài chim quý hiếm như sếu
đầu đỏ, cò,… và các loại thủy hải sản quý như ngao, tôm sú, cua,… Đây cũng là địa
phương có rất nhiều khu du lịch văn hóa với nhiều nét đẹp về truyền thống, đạo
đức, lịch sử có nhiều chiến công trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ nổi tiếng của
44
tỉnh Thái Bình như lễ hội chùa Bảo Linh, Đền Hệ, Đền Hét,… Đình Từ và Đình
Đông xã Thái Xuyên là những nơi thờ các vị anh hùng của dân tộc như Phạm Ngũ
Lão, Trần Hưng Đạo, là căn cứ cách mạng thời chống Pháp.
Không chỉ được thiên nhiên ưu ái, có nhiều tiềm năng về du lịch biển và đánh
bắt thủy hải sản, Thái Thụy còn là nơi có cảng biển sâu tạo điều kiện hỗ trợ cho sự
phát triển đa dạng của ngành nghề kinh tế, vậy nên, nhu cầu về lao động và ổn định
trật tự xã hội, an sinh cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, vì vậy các
chính sách BHXH bắt buộc luôn là mối quan tâm hàng đầu của toàn thể người dân
trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Trên cơ sở đó, việc phát huy vai trò
của chế độ hưu trí bắt buộc là hết sức cần thiết, thể hiện sự quan tâm của cộng đồng
đối với người dân sau một quá trình lao động lâu dài miệt mài, khuyến khích NLĐ
hưởng ứng các chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước đã đề ra, nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật.
2.1.3. Đặc điểm quan hệ lao động ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Thái Thụy có 36 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc bao gồm một thị trấn và
35 xã. Theo quyết định số 09/2020/QĐ –UBND của ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình
ngày 27 tháng 5 năm 2020 về bố trí số lượng cán bộ, công chức xã phường, thị trấn
trên địa bàn tỉnh thái bình thì bố trí số lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
loại 1 tối đa không quá 22 người; loại 2 không quá 21 người; loại 3 không quá 18
người. Về ngành giáo dục và đào tạo, theo số liệu thống kê tính đến tháng 5 năm
2020 ngành giáo dục và đào tạo huyện Thái Thụy có 104 trường bao gồm Mầm
non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học và trung học cơ sở với tổng số lượng
giáo viên là 3.212 người, đây là những lực lượng trong lĩnh vực hành chính sự
nghiệp tham gia bắt buộc vào BHXH huyện.
Bên cạnh đó với nhiều làng nghề truyền thống phát triển hoạt động sản xuất
hiệu quả như làng nghề làm hương Lai Triều (xã Thụy Dương), làng rèn An Tiêm
(xã Thụy Dân), làng nghề mộc An Định (xã Thụy Văn), làng nghề chế biến thủy sản
Quang Lang (xã Thụy Hải), các cơ sở đóng thuyền gỗ Tân Sơn (Diêm Điền), Bạch
Đằng (Thái Thượng),… trong đó doanh nghiệp nổi bật duy trì sản xuất ổn định có
thể kể đến là cơ sở mây tre đan Thanh Bình (xã Thái Xuyên). Thái Thụy là địa
45
phương có các làng nghề hoạt động đa dạng, phổ biến, mang lại nguồn thu nhập
chính cho lao động ở địa phương. Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh có 3568 cơ
sở, trong đó đã có GCN ĐKKD là 559, chưa có GCNĐKKD 2079, đã đăng ký
nhưng chưa được cấp GCNĐKKD 26, không phải đăng ký kinh doanh 904. Theo
thống kê của Cục thống kê tỉnh Thái Bình, đa phần các cơ sở kinh doanh đều ái ngại
việc thành lập doanh nghiệp, phải nộp thuế cao hơn, phải báo cáo tài chính và thuế
với cơ quan thuế, ngại giải trình với cơ quan chức năng và thực hiện thủ tục đăng
ký, ngoài ra đa phần các cơ sở này không muốn đăng ký thay đổi loại hình kinh
doanh nên dẫn đến các khó khăn trong công tác quản lý của chính quyền địa
phương [37].
Cũng theo “Thực trạng làng nghề ở tỉnh Thái Bình năm 2017” của Cục Thống
kê tỉnh Thái Bình, tính đến tháng 01/2017, các làng nghề ở Thái Thụy có tổng số
5693 lao động, trong đó số lượng chưa qua đào tạo: 2635 người, đào tạo dưới 3
tháng: 643 người, sơ cấp: 274 người, trung cấp: 240 người, cao đẳng: 83 người, đại
học trở lên: 46 người, trình độ khác: 2042 người; số lượng lao động thuê ngoài là
1007, lao động không phải trả công là 4604; phân loại lao động theo độ tuổi thì số
lượng lao động ở độ tuổi từ 16 - 30 tuổi là 399, từ 31 – 45 tuổi là 2109, từ 46 – 55
tuổi là 1702, từ 56 – 60 tuổi là 750, trên 60 tuổi là 733. Qua đó, phản ánh thực trạng
trong tổng số lao động ở Thái Thụy có số ít là lao động thuê ngoài, còn lại chủ yếu
là lao động của các hộ gia đình tự làm, tuy nhiên đây đều là các lao động chưa qua
đào tạo và có trình độ chưa cao vì vậy nhận thức của NLĐ, NSDLĐ đối với các
chính sách pháp luật, đặc biệt là BHXH chưa cao.
Nhìn một cách tổng quan, Thái Bình hiện có trên 1,1 triệu người trong độ tuổi
lao động, trong đó chủ yếu lao động là ở nông thôn, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo
cao, vì vậy nhu cầu giải quyết việc làm cho NLĐ là vô cùng cấp thiết. Cho nên, với
lợi thế là một trong 2 địa phương nằm trong khu kinh tế Thái Bình, nguồn lực lao
động ở huyện Thái Thụy cần được chú trọng đào tạo, nâng cao tay nghề và đảm bảo
các chính sách phúc lợi để khuyến khích NLĐ tích cực tham gia sản xuất, tạo ra
nhiều hơn các giá trị vật chất đóng góp vào quá trình phát triển của địa phương và
công cuộc xây dựng đổi mới của đất nước.
46
Tính đến năm 2018, toàn huyện Thái Thụy có 450 doanh nghiệp, 17.363 cơ sở
sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, giải quyết việc làm cho khoảng 42.015 lao
động. Trong đó, ngành công nghiệp có 68 doanh nghiệp, 5.320 cơ sở sản xuất công
nghiệp với 15.446 lao động, tập trung ở các xã Thụy Tân, Thụy Hải, Thụy Dân,
Thái Xuyên, Diêm Điền,… Theo đó, ngành công nghiệp chế biến thủy sản của
huyện tăng trưởng khá tốt, điển hình với một số doanh nghiệp nổi bật như công ty
TNHH Chế biến thủy sản Thụy Hải (cụm công nghiệp Thụy Tân) chuyên chế biến
bột cá, công ty TNHH Thực phẩm Rich baety Việt Nam chuyên chế biến tôm cá
xuất khẩu (cụm công nghiệp Thụy Hải) [38].
Hằng năm, huyện ủy, HĐND, UBND huyện đã chủ động xây dựng kế hoạch,
tổ chức đối thoại giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước để cùng nhau
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, chỉ đạo thực hiện quyết liệt,
đồng bộ các giải pháp cải cách hành chính, hoàn thiện môi trường đầu tư kinh
doanh nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư sản xuất công nghiệp, tạo việc làm cho
NLĐ. Điển hình trong công cuộc giải quyết nhu cầu việc làm cho NLĐ cũng như
tạo đòn bẩy tăng trưởng đột phá cho ngành công nghiệp Thái Thụy, nhà máy sản
xuất Amonitrat (cụm công nghiệp Thái Thọ) đi vào hoạt động từ năm 2015 với
công suất thiết kế 200.000 tấn/năm, nhà máy đi vào sản xuất đã tạo việc làm cho
gần 300 lao động. Nhà máy sản xuất Amonitrat là 1 trong 2 dự án trọng điểm đang
tạo bước đột phá cho phát triển công nghiệp của huyện Thái Thụy.
Mặc dù các khó khăn, thách thức trước mắt còn nhiều song phát huy truyền
thống cách mạng vẻ vang, lao động cần cù, sáng tạo và sức mạnh khối đại đoàn kết
dân tộc, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quyết tâm vượt qua khó khăn, thực hiện
thắng lợi các mục tiêu trước mắt, xây dựng Thái Thụy ngày càng giàu mạnh, ổn
định phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần xây dựng
phát huy sự tăng trưởng bền vững của hệ thống ASXH quốc gia.
2.1.4. Hệ thống các cơ quan thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc ở huyện
Thái Thụy tỉnh Thái Bình
Cùng với sự hình thành hệ thống BHXH của cả nước, BHXH huyện Thái
Thụy được thành lập theo Quyết định số 08/QĐ-TCCB ngày 12/7/1995 của Giám
47
đốc BHXH tỉnh Thái Bình, trên cơ sở sáp nhập hai bộ phận từ Liên đoàn lao động
và Phòng TĐTBXH huyện Thái Thụy, với nhiệm vụ thực hiện công tác BHXH theo
quy định của BLLĐ trên cơ sở Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số
12/NĐ-CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ.
Khi mới được thành lập, BHXH huyện Thái Thụy có cơ cấu 3 bộ phận chức
năng với 7 cán bộ, viên chức chuyển từ Liên đoàn Lao động và Phòng LĐTBXH
chuyển sang. Tuy nhiên thời gian đầu làm việc, BHXH huyện vẫn chưa có trụ sở
làm việc mà phải chung địa điểm với Phòng LĐTBXH huyện Thái Thụy, bên cạnh
đó các trang thiết bị, máy móc cần thiết để phục vụ công tác chuyên môn còn chưa
được trang bị đầy đủ do đó ở những năm mới thành lập, công tác triển khai các
chính sách BHXH còn nhiều khó khăn nhưng các các bộ, viên chức vẫn cố gắng
hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đến năm 2001, được sự quan tâm của BHXH Việt
Nam, BHXH tỉnh Thái Bình, huyện ủy, UBND huyện Thái Thụy và các cơ quan
chức năng khác tiến hành đầu tư xây dựng trụ sở làm việc mới với 2 tầng cho
BHXH huyện Thái Thụy với diện tích 250m2 tại thị trấn Diêm Điền, huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình.
Cơ quan BHXH huyện Thái Thụy được phân thành 4 tổ chuyên môn, chịu sự
quản lý trực tiếp và thống nhất của Ban giám đốc gồm 01 Giám đốc và 03 Phó giám
đốc, cơ cấu tổ chức được minh họa qua sơ đồ sau:
Sơ đồ bộ máy tổ chức của BHXH huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phó Giám đốc
Phó Giám đốc
Tổ tiếp nhận và trả kết quả TTHC
Tổ thực hiện chính sách BHXH
Tổ thu, cấp sổ thẻ và kiểm tra BHTN
Tổ kế toán chi trả và giám định BHYT
48
Qua 25 năm hoạt động, BHXH huyện Thái Thụy đã từng bước thực hiện các
chính sách BHXH theo pháp luật, giải quyết kịp thời các chế độ cho người thụ
hưởng, khẳng định vị thế vững chắc, đồng hành cùng sự nghiệp ASXH trong công
cuộc đổi mới của đất nước, góp phần ổn định chính trị xã hội trên địa bàn huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh.
2.2. Những thành tựu và hạn chế trong thực hiện chế độ hưu trí theo pháp
luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
2.2.1. Những kết quả đạt được
Với vai trò là một trong các chính sách trụ cột của hệ thống ASXH, chế độ
hưu trí bắt buộc được đặc biệt quan tâm nhằm đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của
người dân ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình và đạt được một số thành tựu sau:
Thứ nhất, về đối tượng tham gia hưu trí bắt buộc và số thu vào quỹ hưu trí.
Trong thời gian qua, BHXH huyện Thái Thụy đã tích cực triển khai các
nghiệp vụ chuyên môn, phổ biến pháp luật, khuyến khích động viên người dân tham
gia BHXH để hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước, nâng cao chất lượng cuộc
sống. Do đó, số người tham gia vào BHXH bắt buộc tăng đều qua các năm, chế độ
hưu trí bắt buộc cũng nhận được sự quan tâm, hưởng ứng của người dân địa phương
và đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng quỹ hưu trí. Số lượng người tham gia
BHXH giai đoạn 2015 – 2020 được minh họa bằng biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1. Thống kê số lượng đối tượng tham gia BHXH
tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015 – 2020
49
13,040
12,051
10,720
9,743
9,682
8,643
4,317
3,097
1.812
1.775
1,547
1,410
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2019
Năm 2020
BHXH bắt buộc
Năm 2018 BHXH tự nguyện
Đơn vị tính: Người
Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác BHXH huyện Thái Thụy từ 2015 – 2020.
Trong những năm đầu áp dụng quy định của Luật BHXH năm 2014 (có hiệu
lực từ ngày 01/01/2016), số lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc từ 8.643
người vào năm 2015 đã đạt 9.682 vào năm 2016 (tăng 12%) và đạt mốc 13.040 vào
năm 2020 (tăng 50,87%) so với thời điểm triển khai các chính sách cũ của Luật
BHXH năm 2006, trung bình mỗi năm có thêm khoảng 879 người tham gia BHXH.
Ngoài ra, năm 2018, mặc dù BHXH tự nguyện có sự sụt giảm về số lượng người
tham gia, tuy nhiên BHXH bắt buộc vẫn duy trì mức tăng trưởng đều qua các năm,
từ 9.743 người vào năm 2017 tăng 977 người và đạt 10.720 người theo thống kê của
cho đến ngày 31/12/2018.
Bên cạnh đó, hòa chung với công tác thực hiện các chính sách BHXH bắt
buộc trên toàn tỉnh, BHXH huyện Thái Thụy đã góp phần không nhỏ vào sự tăng
trưởng số người tham gia BHXH vào năm 2020 trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Theo
báo cáo thống kê trong 8 tháng đầu năm 2020 triển khai các chính sách BHXH,
BHXH tỉnh đã có 186.200 lao động tham gia BHXH bắt buộc.
50
Có thể thấy trong suốt thời gian qua, BHXH huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình
đã hoàn thành tốt chỉ tiêu, kế hoạch được giao, tạo ra một nguồn thu ổn định đóng
góp và hoạt động của Quỹ BHXH nói chung, quỹ hưu trí – tử tuất nói riêng.
Bảng 2.1. Kết quả thu BHXH bắt buộc của huyện Thái Thụy 2015 - 2020
Năm 2015 2016 2017 2018 2019 2020
Số tiền thu (tỷ đồng) 97,320 114,242 125,993 144,345 158,621 174,353
Nguồn: BHXH huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Từ số liệu được thể hiện trong bảng trên cho thấy, số thu của quỹ BHXH bắt
buộc từ 97,320 tỷ đồng vào năm 2015 đã đạt 144,345 vào năm 2018 tăng 47,025 tỷ
đồng. Ngoài ra, theo thống kê của BHXH huyện Thái Thụy năm 2019, toàn huyện
thu được 356,650 tỷ đồng trong cả khối BHXH, đến năm 2020 nâng số thu 410,303
tỷ đồng (trong đó BHXH bắt buộc là 174,353 tỷ đồng) [19]. Số lượng người tham
gia BHXH bắt buộc tăng đã đóng góp to lớn vào nguồn quỹ BHXH nói chung và
quỹ hưu trí nói riêng, từ đó quá trình thực hiện công tác chi trả chế độ hưu trí bắt
buộc ở địa phương được đảm bảo triển khai để bảo vệ kịp thời quyền lợi của chủ thể
được thụ hưởng.
Như vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn trong công tác triển khai chính sách
BHXH bắt buộc ở huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình, tuy nhiên bằng sự nỗ lực cố
gắng và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, những thay đổi của quy định pháp luật đã
được chính quyền địa phương phổ biến, triển khai để người dân củng cố nhận thức
về pháp lý, tích cực hưởng ứng các chính sách do Nhà nước ban hành, nâng cao ý
thức bảo vệ quyền lợi của mình khi NSDLĐ không đóng BHXH cho họ. Thông qua
hoạt động thực hiện chế độ hưu trí, các kết quả đạt được đã thể hiện sự quan tâm,
chỉ đạo của BHXH Việt Nam, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, sự phối
hợp của các sở, ban, ngành.
Thứ hai, về đối tượng hưởng chế độ hưu trí bắt buộc.
Với đặc trưng là một huyện có các làng nghề truyền thống nổi tiếng với hoạt
động của các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, nên đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc và hưởng chế độ hưu trí bắt buộc hầu như là những lao động thuộc khối hành
chính sự nghiệp, doanh nghiệp trong các cụm công nghiệp, khu công nghiệp. Tuy
51
nhiên, sau khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực, sự mở rộng đối tượng và các
chính sách ưu đãi khi tham gia BHXH đã ngày càng thu hút sự tham gia của đông
đảo NLĐ được minh họa cụ thể qua Biểu đồ 2.1. Thống kê số lượng đối tượng tham
gia BHXH tại huyện Thái Thụy giai đoạn 2015 – 2020. Trong đó, đối tượng được
hưởng chế độ hưu trí bắt buộc trên địa bàn huyện Thái Thụy chủ yếu là cán bộ,
công nhân viên chức, quân nhân và NLĐ không thực hiện các nhiệm vụ cơ yếu đã
hết tuổi lao động được nghỉ hưu.
Thứ ba, về chi trả chế độ hưu trí bắt buộc.
Chi trả chế độ hưu trí bắt buộc là quá trình cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ quyền lợi của người được thụ hưởng sau quá trình lao động, đóng góp
cho xã hội, tham gia BHHT bắt buộc. Để nâng cao hiệu quả thực hiện công tác chi
trả lương hưu cho đối tượng đủ điều kiện hưởng, Bưu điện và UBND các phường,
xã, thị trấn đã phối hợp giải quyết đầy đủ các chế độ, làm tốt công tác quản lý đối
tượng hưu trí, cán bộ xã phường mất sức lao động để đảm bảo công tác chi lương
hưu một cách kịp thời, phù hợp với quy định pháp luật.
Năm 2020 với sự bùng phát của dịch bệnh đã gây ra nhiều ảnh hưởng không
nhỏ đến đời sống của người dân thời gian vừa qua, do đó thực hiện chỉ đạo của Thủ
tưởng Chính phủ, của UBND tỉnh về việc đảm bảo sự an toàn cho người hưởng
lương hưu, trợ cấp BHXH, Bưu điện huyện Thái Thụy đã tổ chức phương án hoạt
động chi trả gộp một lần lương hưu kỳ tháng 4, 5/2020, đối với người hưởng đã
đăng ký nhận tiền mặt hàng tháng qua Bưu điện, trong kỳ này nhân viên bưu điện sẽ
tới từng nhà để chi trả, thời gian thực hiện bắt đầu từ ngày 16/4 đến ngày 25/5/2020,
lịch chi trả sẽ được thông báo đến từng xã, phường để tuân thủ các quy định về an
toàn, phòng chống dịch Covid-19.
Mỗi năm, số người được hưởng chế độ hưu trí đều có sự biến động nhất định,
đồng thời thời gian thực hiện nhiệm vụ chi trả lương hưu cho người được hưởng lại
thực hiện đều đặn hằng tháng, lặp đi lặp lại với những khoản chi trong chu kì dài
hạn, tuy nhiên cơ quan BHXH luôn tích cực phấn đấu, nâng cao hiệu quả làm việc
để hồ sơ chế độ hưu trí bắt buộc vẫn được giải quyết kịp thời, bảo vệ tối đa quyền
52
lợi của người dân giai đoạn 2016 – 2020, BHXH Thái Thụy đã giải quyết số lượng
hồ sơ chế độ hưu trí được thể hiện bằng bảng sau:
Bảng 2.2. Số lượng hồ sơ chế độ hưu trí BHXH Thái Thụy 2016 – 2020.
Năm 2016 2017 2018 2019 2020
Số hồ sơ giải quyết 468 337 507 605 134
Nguồn: Báo cáo thống kê của BHXH huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Ngoài các phương thức nhận lương hưu truyền thống, BHXH huyện đã tiến
hành giải quyết chế độ hưu trí cho người được hưởng qua các phương thức mới,
như thanh toán qua thẻ ngân hàng. Tính đến năm 2019, BHXH huyện Thái Thụy đã
thống kê trên địa bàn huyện đang quản lý và chi trả 13.298 người hưởng lương hưu
với tổng số tiền 569, 864 tỷ đồng, trợ cấp BHXH, trong đó có 717 người nhận qua
tài khoản ATM với số tiền 3,783 tỷ đồng. Bên cạnh đó, BHXH huyện đã triển khai
hiệu quả hệ thống liên thông dữ liệu tập trung các phần mềm nghiệp vụ, đảm bảo an
toàn, an ninh thông tin dữ liệu, duy trì ổn định hệ thống mạng, quản lý thiết bị công
nghệ thông tin đảm bảo phục vụ tốt công tác nghiệp vụ ngành.
Chi trả quỹ bảo hiểm là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát
huy vai trò của cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý BHXH, phát triển hệ
thống ASXH, không chỉ ảnh hưởng lớn đến lợi ích của cá nhân người được hưởng
mà còn tác động đến sự ổn định của quỹ BHXH, lợi ích chung của cộng đồng.
Chính vì vậy, công tác chi trả chế độ hưu trí hàng tháng còn đòi hỏi sự an toàn cao
và tránh xảy ra thất thoát.
Thứ tư, về quỹ hưu trí.
Quỹ hưu trí do BHXH huyện Thái Thụy quản lý theo sự phân công của BHXH
tỉnh Thái Bình, chỉ đạo của HĐND, UBND các cấp lãnh đạo. Nguồn thu của quỹ
được duy trì và tăng trưởng chủ yếu là do sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ trên địa
bàn huyện, sự hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước.
Theo số liệu tại bảng 2.1 về kết quả thu BHXH bắt buộc của huyện Thái Thụy
từ năm 2015 đến năm 2020 nguồn thu của quỹ tăng trung bình 15,407 tỷ mỗi năm,
có thể thấy thông qua những cải cách của quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ
hưu trí bắt buộc nói riêng và pháp luật BHXH bắt buộc nói chung đã làm quỹ
53
BHXH bắt buộc có sự tăng trưởng nổi bật. Trước đây, quy định tại Điều 91 và Điều
92 Luật BHXH năm 2006 mức đóng góp vào quỹ hưu trí của NLĐ là 5% mức tiền
lương, từ năm 2010 trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức
đóng là 8%; NSDLĐ hằng tháng đóng 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm 2010
trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%. Tuy
nhiên, căn cứ Điều 85, Điều 86 Luật BHXH năm 2014 lại quy định mức đóng vào
quỹ BHXH bắt buộc của NLĐ cố định là 8%, NSDLĐ đóng 11% mức tiền lương
tháng đóng BHXH, do đó, nguồn thu của quỹ đã tăng trưởng một cách ổn định theo
mức đóng góp được luật ấn định. Bên cạnh đó, với tư cách là người đại diện cho
NSDLĐ đặc biệt, toàn thể nhân dân, hằng năm Nhà nước đều chuyển từ ngân sách
một khoản kinh phí vào quỹ BHXH để thực hiện trả lương hưu, trợ cấp BHXH đối
với người được hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH trước ngày 01/01/1995, đóng
BHXH cho người làm việc trong khối nhà nước từ ngày 01/01/1995. Tuy nhiên,
thời gian hưởng chế độ hưu trí bắt buộc phụ thuộc vào tuổi đời của người được
hưởng, do đó số lượng người được hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH trước ngày
01/01/1995 ngày càng ít dẫn đến các khoản chi chế độ hưu trí cho những đối tượng
này giảm dần qua thời gian trong khi số lượng người đang trong độ tuổi lao động
đóng góp vào quỹ BHXH ngày càng tăng. Bởi vậy, kết quả thu và hoạt động chi của
quỹ hưu trí tại huyện Thái Thụy được đặt dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, đảm bảo công tác chi trả cho đối tượng đủ diều kiện được hưởng.
Thông qua quỹ hưu trí, BHXH huyện Thái Thụy đã tăng cường công tác quản
lý tài chính, tài sản, thực hiện hiệu quả quy định pháp luật, thực hành tiết kiệm
chống lãng phí trong lĩnh vực thu, chi BHXH, tiết kiệm triệt để trong sử dụng
nguồn kinh phí chỉ quản lý, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, an toàn.
2.2.2. Một số hạn chế tồn tại
Bên cạnh một số thành tựu đã đạt được, thực tiễn hoạt động triển khai chế độ
hưu trí bắt buộc theo quy định của pháp luật BHXH tại huyện Thái Thụy vẫn còn
tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, phạm vi đối tượng tham gia BHXH bắt buộc còn hạn chế. Mặc dù
số lượng người tham gia BHXH bắt buộc qua các năm đều có sự tăng trưởng, tuy
nhiên so với số lượng NLĐ trên địa bàn huyện, tỷ lệ lao động tham gia BHXH bắt
54
buộc còn tương đối thấp, do đó chế độ hưu trí chưa được thực sự bao phủ rộng lớn
trong lực lượng lao động tại huyện Thái Thụy. Qua các số liệu dẫn chứng ở tiểu
mục 2.1.3 của Luận văn này, các doanh nghiệp ở huyện Thái Thụy có khoảng
42.015 lao động trong khi số người tham gia BHXH năm 2019 là 12.051 người,
chiếm 28,7% tổng số lao động. Từ đó có thể thấy rằng, tỷ lệ bao phủ của BHXH tại
địa phương này còn tăng chậm mặc dù tốc độ già hóa dân số ở nước ta ngày càng
cao. Trên cơ sở đó, áp lực tài chính đối với quỹ hưu trí càng gia tăng khi sự tương
quan giữa số người đóng và người được thụ hưởng ngày càng lớn, có khả năng gây
ra tình trạng mất cân đối cho quỹ hưu trí nói riêng và quỹ BHXH nói chung.
Thứ hai, việc triển khai các chương trình tuyên truyền, phổ biến, vận động
tham gia BHXH tại địa phương gặp nhiều khó khăn. Trong năm 2019 đã phối hợp
với Liên đoàn lao động huyện, Phòng LĐTBXH huyện đến trực tiếp các đơn vị
tuyên truyền vận động tham gia BHXH, BHYT tuy nhiên một số đơn vị không thể
tìm được trụ sở, không có hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa có lao động hoặc ký
hợp đồng lao động mùa vụ.
Thứ ba, tình trạng nợ tiền BHXH của nhiều cá nhân, tổ chức chưa được khắc
phục. Đây là một vấn nạn nhức nhối gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các chế độ
của pháp luật BHXH bắt buộc trong nhiều năm. Theo Báo cáo thống kê năm 2020
của BHXH huyện Thái Thuỵ, tính đến ngày 31/12/2020 tổng số nợ BHXH, BHYT,
BHTN (bao gồm cả số nợ NSNN chậm đóng) là 9,853 tỷ đồng; trong đó NSNN nợ
1,792 tỷ đồng; 05 công ty nợ 579 triệu đồng, lãi chậm đóng của công ty đóng tàu là
1,876 tỷ đồng, các đơn vị khác nợ 5,426 tỷ đồng. Việc nợ tiền đóng BHXH bắt buộc
đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động chi trả chế độ hưu trí, trợ cấp
BHXH cho các đối tượng đủ điều kiện hưởng thụ, xâm phạm đến quyền là lợi ích
hợp pháp của NLĐ.
Thứ tư, công tác chi trả chế độ hưu trí gặp nhiều khó khăn, chưa đúng đối
tượng, còn nhiều thiếu sót gây thất thoát quỹ BHXH.
Tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội, Ban dân nguyện đã đề cập đề vấn đề chi sai
lương hưu cho 974 giáo viên mầm non ở tỉnh Thái Bình với số tiền hơn 7,58 tỷ
đồng, từ năm 2018 cho đến nay BHXH tỉnh chỉ mới thu hồi được gần 3,39 tỷ đồng
55
(44,7%). Liên quan đến sự việc này, BHXH huyện Thái Thụy có trách nhiệm phối
hợp với bưu điện thu hồi lương hưu đối với giáo viên mầm non ngoài biên chế Nhà
nước trong phạm vi huyện với số tiền 513.442.421 đồng. Theo đó, tính đến tháng
12/2019 đã có 49/160 đối tượng đã nộp xong tiền thu hồi là 92.074.892 đồng và đã
lập danh sách thu hồi 9 đối tượng lĩnh qua thẻ ATM để thu hồi với số tiền là
21.330.000 đồng [18]. BHXH huyện Thái Thụy đang tiến hành làm rõ trách nhiệm
trong công tác quản lý cắt giảm đối tượng với Bưu điện huyện và tăng cường công
tác kiểm tra, quản lý chặt chẽ đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH.
Ngoài ra, một số trường hợp người hưởng lương hưu đã chết nhưng chưa báo
giảm dẫn đến công tác thu hồi số tiền đã chi gặp nhiều khó khăn. Có thể thấy, hoạt
động thực hiện chế độ hưu trí tại địa bàn tỉnh chưa thực hiện tốt theo công văn
2888/BHXH-BT ngày 03/08/2018 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, công tác quản lý
quỹ BHXH và chi trả chế độ hưu trí còn xảy ra nhiều sai sót dẫn đến tình trạng thu
hồi khó khăn, dẫn đến tình trạng mất cân đối của quỹ, ảnh hưởng đến việc chi trả
lương hưu cho các đối tượng khác, xâm phạm quyền lợi chung của cộng đồng.
Thứ năm, việc nghỉ hưu trước tuổi đã lãng phí một nguồn lao động tiềm năng.
Trước ngày 01/01/2021 (thời điểm BLLĐ năm 2019 có hiệu lực), độ tuổi nghỉ hưu
của NLĐ là 55 tuổi đối với lao động nữ và 60 tuổi đối với lao động nam, đối với
một số trường hợp đặc biệt, NLĐ được phép nghỉ hưu trước tuổi, nói một cách
khác, đang trong độ tuổi lao động, một người vẫn có thể được nghỉ hưu. Trong đó
các đối tượng là quân nhân, người hoạt động trong lực lượng vũ trang và công tác
cơ yếu nếu đủ 20 năm đóng BHXH nhưng trong lực lượng vũ trang và công tác cơ
yếu không còn nhu cầu bố trí hoặc không chuyển ngành được thì khi lao động nam
có đủ 25 năm và lao động nữ có đủ 20 năm phục vụ trong các lĩnh vực này được
nghỉ hưu trước hạn tuổi mà không phụ thuộc vào độ tuổi khi nghỉ hưu. Đây là các
lực lượng đang trong độ tuổi lao động, có sức khỏe và trình độ, do đó việc để các
đối tượng này về hưu khi ở tuổi đời còn trẻ và dồi dào sức lao động đã làm hoang
phí một nguồn nhân lực tiềm năng trong khi đó, theo số liệu thống kê, dân số Thái
Bình có trên 280.000 người cao tuổi, chiếm 15% dân số, tuổi thọ trung bình của
người tỉnh này là 75 tuổi (cao hơn bình quân chung của cả nước là 73,6 tuổi).
56
Thứ sáu, số lượng người yêu cầu hưởng chế độ BHXH một lần tăng đều qua
các năm. Theo Báo cáo tổng kết công tác BHXH, BHYT các năm 2017, 2018, 2019
của BHXH huyện Thái Thụy thì năm 2017 quỹ BHXH đã chi trả cho chế độ BHXH
một lần 20,056 tỷ đồng, số chi này vào năm 2018 đã tăng là 23,235 tỷ đồng và đạt
mức 28,178 tỷ đồng vào năm 2019. Như vậy, các khoản chi cho chế độ BHXH một
lần trong 03 năm đã tăng 8,122 tỷ đồng, qua đó thể hiện số lượng người yêu cầu
hưởng chế độ BHXH một lần tăng đều qua các năm đã tác động không nhỏ đến số
lượng người có thể hưởng chế độ hưu trí, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân
trước các rủi ro trong cuộc sống và công tác triển khai các chính sách ASXH do
Nhà nước ban hành.
Thứ bảy, mức hưởng lương hưu của người từng là nữ cán bộ, nữ công chức
cấp xã hoặc là người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên địa
bàn huyện Thái Thụy còn thấp. Theo quy định của pháp luật, các đối tượng lao
động này sẽ đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc với mức đóng hằng tháng là 8%
mức lương cơ sở (tính đến nay, mức lương cơ sở được áp dụng là 1.490.000
đồng/tháng) và nếu đủ điều kiện được hưởng lương hưu hằng tháng, mức hưởng sẽ
được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH; từ đủ 16 năm
đến dưới 20 năm đóng BHXH cứ mỗi năm đóng tính thêm 2%, tuy nhiên mức
hưởng lương hưu tối đa vẫn là 75%. Như vậy, tính theo mức lương cơ sở hiện tại,
lương hưu tối đa của nhóm đối tượng này là 1.117.500 đồng/tháng trong khi đó thu
nhập bình quân đầu người của huyện vào năm 2019 ước đạt 45,9 triệu đồng/năm,
đây là một cách chênh lệch rất lớn giữa mức lương hưu và thu nhập của xã hội.
Ngoài ra, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg đã quy định thu nhập để xác định tiêu
chuẩn hộ cận nghèo là 700.000 đến 1.000.000 đồng/tháng ở nông thôn và 9.000.000
đến 1.300.000 đồng/tháng ở khu vực thành thị. Do đó, mức hưởng lương hưu của
những đối tượng này vẫn còn nằm ở mức thấp, khó có thể đảm bảo một phần cuộc
sống cho NLĐ khi về hưu.
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, sự thay đổi của pháp luật về độ tuổi nghỉ hưu đã ảnh hưởng đến
hiệu quả công tác triển khai chế độ hưu trí bắt buộc. BLLĐ năm 2019 được ban
57
hành ngày 20/11/2019, có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/2021 đã điều chỉnh tăng
tuổi nghỉ hưu đối với cả lao động nam và lao động nữ, trong khi đó điều kiện về số
năm tham gia BHXH bắt buộc để được hưởng chế độ hưu trí vẫn được giữ ở mức
20 năm, đây là một khoảng thời gian tương đối dài đối với NLĐ có thể đáp ứng đủ
để được hưởng chế hưu trí, do đó đã tạo tâm lý chán nản, sự thiếu kiên trì trong việc
chờ đợi để có quá trình đóng góp dài hạn vào quỹ BHXH, vì vậy số lượng NLĐ yêu
cầu được hưởng chế độ BHXH một lần ngày càng tăng bởi tâm lý muốn giải quyết
những khó khăn trước mắt của người dân, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của
quỹ hưu trí.
Thứ hai, nhận thức của NLĐ. NSDLĐ về các chính sách BHXH chưa cao.
Đây là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ bao phủ của chính sách
BHXH bắt buộc còn thấp, ảnh hưởng đến hoạt động tuyên truyền, phổ biến, triển
khai các chính sách của Nhà nước về ASXH. Nhiều cá nhân, tổ chức chưa thực sự
hiểu về những lợi ích khi tham gia chế độ hưu trí bắt buộc, do đó họ không hào
hứng đối với các quy định pháp luật, không chủ động tham gia các chính sách
ASXH được ban hành dẫn đến tình trạng tỷ lệ đối tượng tham gia chế độ hưu trí
chưa được cao trong tổng số lao động trên toàn huyện. Đồng thời, ý thức chấp hành
pháp luật của NSDLĐ chưa cao, một số chủ sử dụng lao động còn lợi dụng số tiền
đóng BHXH bắt buộc để đầu tư, kinh doanh dẫn đến tình trạng nợ, chậm đóng
BHXH kéo dài, không tuân thủ quy định của pháp luật.
Thứ ba, ảnh hưởng bởi đặc điểm kinh tế, cơ cấu lao động ở địa phương. Thái
Thụy là địa phương có nhiều làng nghề hoạt động dưới hình thức cơ sở sản xuất, tuy
nhiên đa phần hoạt động ở quy mô nhỏ lẻ với các lao động có trình độ chưa cao,
hoạt động không ổn định, không đúng địa điểm đăng ký hoặc không thuê mướn lao
động nên cơ quan nhà nước ở địa phương khó kiểm soát các cơ sở kinh doanh và
các lao động này.
Thứ tư, năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ chưa cao, thiếu sự phối hợp
giữa các cơ quan, ban, ngành trong công tác quản lý, giám sát, thực hiện chế độ
BHXH chưa hiệu quả. Số lượng đối tượng tham gia và hưởng các chế độ theo pháp
luật BHXH bắt buộc qua các năm đều có sự thay đổi, thời gian hưởng chế độ hưu trí
58
bắt buộc phụ thuộc vào tuổi đời của người được hưởng, tuy nhiên khi các đối tượng
này chết nhưng thân nhân lại chậm trễ khai báo với cơ quan BHXH để tiếp tục trục
lợi bảo hiểm, trong khi đó việc quản lý các đối tượng này ở các địa phương còn có
sự tham gia phối hợp của UBND xã, phường, thị trấn nơi họ sinh sống lại không hề
thông báo với cơ quan BHXH. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ BHXH chỉ có số ít
người có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực BHXH, ứng dụng công nghệ thông
tin, các kỹ năng tin học, văn phòng chưa cao khi xử lý các hồ sơ yêu cầu được
hưởng chế độ hưu trí nên chậm trễ trong công tác xét duyệt và chi trả cho đối tượng.
59
Tiểu kết chương 2
Thái Thụy là một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình, phát triển chính là ngành
nông nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu tập trung ở nhiều làng nghề
truyền thống phát triển với hình thức hộ gia đình, hoạt động sản xuất hiệu quả, tuy
nhiên lực lượng lao động ở địa phương này chủ yếu là những lao động chưa qua đào
tạo và trong độ tuổi từ 31 – 55 tuổi, có số ít là lao động thuê ngoài, còn lại chủ yếu
là lao động của các hộ gia đình tự làm. Bên cạnh đó, cụm công nghiệp Thái Dương,
khu công nghiệp Diêm Điền với nhiều doanh nghiệp tiềm năng, giải quyết nhu cầu
việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần ổn định trật tự xã hội trên phạm vi toàn
huyện.
Cùng với nhiều địa phương khác trên cả nước, phối hợp triển khai đồng bộ các
chính sách, chỉ đạo về xây dựng và phát triển hệ thống ASXH, việc thực hiện chế
độ hưu trí bắt buộc tại huyện Thái Thụy đã đạt được nhiều thuận lợi do sự chỉ đạo
của tỉnh Thái Bình, sự thành lập và hoạt động hiệu quả của cơ quan BHXH, sự phối
hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong công tác tổ chức thực hiện chế độ hưu trí,
tinh thần chấp hành pháp luật của người dân địa phương,… Chính vì vậy, thực tiễn
thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc tại huyện Thái Thụy đã đạt được nhiều thành tựu
nổi bật như duy trì ổn định sự tăng trưởng về số lượng người tham gia, số thu vào
quỹ hưu trí, đối tượng được hưởng và nâng cao hiệu quả công tác chi trả chế độ hưu
trí, hoạt động của quỹ hưu trí.
Mặc dù vậy, việc thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc tại huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình còn có một số hạn chế về: phạm vi đối tượng tham gia BHXH bắt buộc;
việc triển khai các chương trình tuyên truyền, phổ biến, vận động tham gia BHXH
tại địa phương gặp nhiều khó khăn; tình trạng nợ tiền BHXH của nhiều cá nhân, tổ
chức chưa được khắc phục; công tác chi trả chế độ hưu trí gặp nhiều khó khăn, chưa
đúng đối tượng, còn nhiều thiếu sót gây thất thoát quỹ BHXH; số lượng người yêu
cầu hưởng chế độ BHXH một lần tăng đều qua các năm; việc nghỉ hưu trước tuổi đã
lãng phí một nguồn lao động tiềm năng; mức hưởng lương hưu của người từng là
nữ cán bộ, nữ công chức cấp xã hoặc là người hoạt động không chuyên trách ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn huyện Thái Thụy còn thấp.
60
Nguyên nhân của các hạn chế đó chủ yếu là do ảnh hưởng bởi đặc điểm kinh
tế, cơ cấu lao động ở địa phương; nhận thức của NLĐ, NSDLĐ về các chính sách
BHXH chưa cao; sự thay đổi của pháp luật về độ tuổi nghỉ hưu đã ảnh hưởng đến
hiệu quả công tác triển khai chế độ hưu trí bắt buộc; năng lực làm việc của đội ngũ
cán bộ chưa cao; thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong công tác
quản lý, giám sát, thực hiện chế độ BHXH đã dẫn đến hiệu quả thực thi pháp luật về
chế độ hưu trí bắt buộc chưa cao. Chính vì vậy, đặt ra các yêu cầu về định hướng,
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật BHXH bắt buộc nói chung
và chế độ hưu trí nói riêng, góp phần phát triển bền vững hệ thống ASXH quốc gia.
61
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ BẮT BUỘC
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TỪ KINH NGHIỆM
CỦA HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Ngày 19/5/2018, tại Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng Sản Việt Nam khóa 12 đã ban hành Nghị quyết số 28 – NQ/TW về cải cách
chính sách BHXH, đề cao sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong công
cuộc xây dựng và thực hiện chính sách ASXH, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã
hội, coi đó đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, thể
hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các kết
quả quan trọng đã đạt được, việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách
BHXH nói chung và chế độ hưu trí bắt buộc nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập,
đây cũng là đề tài được các nhà khoa học, nhà thực tiễn quan tâm trong suốt thời
gian qua, do đó trên tinh thần học tập, nghiên cứu và đóng góp sức mình trong lĩnh
vực nghiên cứu về chế độ hưu trí bắt buộc ở Việt Nam, với phạm vi đề tài này, tác
giả xin đề cập một số định hướng, giải pháp hoàn thiện chế độ hưu trí bắt buộc
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện từ kinh nghiệm của huyện Thái Thụy
tỉnh Thái Bình như sau:
3.1. Định hướng hoàn thiện chế độ hưu trí bắt buộc và nâng cao hiệu quả
thực hiện
Thứ nhất, khắc phục những bất cập của pháp luật BHHT bắt buộc hiện hành,
đảm bảo tính khả thi trong tổ chức thực hiện.
Trước hết, để thực hiện tốt các ưu đãi cho đối tượng đủ điều kiện được hưởng
chế độ hưu trí bắt buộc, nguồn thu của quỹ hưu trí nói riêng và quỹ BHXH nói
chung cần được đảm bảo ổn định, hay nói một cách khác, cả NLĐ và NSDLĐ phải
nghiêm túc chấp hành nghĩa vụ đóng tiền BHXH theo đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, tình trạng trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH, nợ BHXH của các doanh
nghiệp đang diễn ra ngày một phổ biến và phức tạp hơn. Ở Thành phố Hồ Chí
Minh, tính đến tháng 11/2020, BHXH thành phố đã chuyển cơ quan công an đề
nghị xử lý hình sự 76 đơn vị với số tiền 153,7 tỷ đồng về tội danh trốn đóng BHXH,
62
BHYT, BHTN theo quy định tại Điều 216 BLHS nhưng việc thực thi rất chậm,
chưa có doanh nghiệp nào bị truy tố, xét xử [42]. Có thể thấy, các yêu cầu về hạn
chế tình trạng trốn đóng, nợ BHXH của các doanh nghiệp là vấn đề cấp thiết cần
được chú trọng, xử lý nghiêm minh trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện được vấn
đề này cần có sự phối hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan hành
chính và cơ quan tư pháp).
Bên cạnh đó, các định hướng về hoàn thiện cơ chế quản lý các đối tượng được
hưởng lương hưu cũng là mối quan tâm hàng đầu của những nhà làm luật. Trách
nhiệm thực hiện tốt chính sách BHXH là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là
trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, doanh nghiệp và của mỗi người dân.
Tuy nhiên, các cơ chế quản lý các đối tượng hưởng lương hưu chưa được quy định
rõ ràng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh chế độ hưu trí bắt buộc. Ở địa phương,
hoạt động quản lý nhân khẩu được thực hiện bởi UBND xã và các bộ phận trực
thuộc, thêm vào đó một số tổ chức xã hội như Hội người cao tuổi, Hội Phụ nữ,… đã
góp phần kết nối cộng đồng, thể hiện sự quan tâm giữa các thành viên với nhau qua
các hoạt động vận động, thăm hỏi,… Do đó, công tác chi trả lương hưu hàng tháng
không chỉ dựa trên sự khai báo của người được hưởng và người nhà (trường hợp
người được hưởng chết) mà còn cần có sự phối hợp giữa các tổ chức chính trị - xã
hội và chính quyền địa phương thực hiện hoạt động quản lý, giám sát các đối tượng
được này và báo cáo kịp thời các biến động để điều chỉnh công tác chi trả cho phù
hợp, đúng đối tượng, giảm thiểu xảy ra tình trạng người hưởng đã chết hoặc không
còn ở địa phương nhưng thân nhân không kịp thời khai báo, đảm bảo tính trung
thực chấp hành quy định pháp luật. Chính vì vậy, để góp phần hoàn thiện quy định
pháp luật chế độ hưu trí và đảm bảo ổn định các hoạt động của quỹ BHXH, đây là
một định hướng cần triển khai trong công cuộc cải cách chính sách BHXH và chế
độ hưu trí bắt buộc.
Thứ hai, hoàn thiện điều kiện được hưởng chế độ hưu trí nhằm đảm bảo tận
dụng nguồn nhân lực của quốc gia.
Theo kết quả của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019, tuổi thọ trung bình
của người Việt Nam là 73,6 tuổi, trong đó tuổi thọ của nam giới là 71 tuổi và ở nữ
63
giới là 76,3 tuổi. Từ năm 1989 đến nay, tuổi thọ trung bình của Việt Nam liên tục
tăng, từ 65,2 tuổi vào năm 1989 lên 73,6 tuổi vào năm 2019. Trong khi đó, những
quy định về tuổi nghỉ hưu có hiệu lực áp dụng từ năm 2021 (căn cứ Điều 169 BLLĐ
năm 2019) đã có sự điều chỉnh để hướng đến mục tiêu độ tuổi nghỉ hưu của lao
động nam sẽ là 62 tuổi (vào năm 2028) và lao động nữ nghỉ hưu ở tuổi 60 (vào năm
2035) để khắc phục tình trạng già hóa dân số có nguy cơ diễn ra ở nước ta trong các
thập kỷ tới. Tuy nhiên, những quy định về điều kiện nghỉ hưu hiện hành lại chưa có
sự đồng bộ, nhất quán giữa các nhóm lao động trong xã hội. Cụ thể, đối với các lao
động là quân nhân chuyên nghiệp, căn cứ Điều 36 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân
Việt Nam năm 1999 và Điều 54 Luật BHXH năm 2014 (được sửa đổi bởi Khoản 1
Điều 219 BLLĐ năm 2019) thì các đối tượng này sẽ được nghỉ hưu mà không áp
dụng điều kiện về tuổi đời nghỉ hưu khi có đủ 20 năm đóng BHXH và quân đội
không còn nhu cầu bố trí sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng
hoặc không chuyển ngành được, đồng thời phải có đủ từ 25 năm phục vụ trong quân
đội đối với nam hoặc 20 năm phục vụ trong quân đội đối với nữ. Suy rộng ra, đây là
các đối tượng không bị suy giảm khả năng lao động, sức khỏe vẫn được đảm bảo
nhưng tại thời điểm nghỉ hưu lại có khoảng cách khá lớn so với tuổi đời nghỉ hưu
trong điều kiện lao động bình thường và quy định về người nghỉ hưu khi có đủ 15
năm làm công việc khai thác than trong hầm lò (tuổi nghỉ hưu thấp hơn tối đa 10
tuổi so với người làm việc trong điều kiện bình thường). Như vậy, thay vì tiếp tục
làm việc, cống hiến cho xã hội trong các ngành nghề, lĩnh vực khác, NLĐ thuộc
trường hợp này lại được nghỉ hưu sớm hơn thông thường, gây ra lãng phí một
nguồn lao động có nhiều tiềm năng trong khi đất nước đang đứng trước những
thách thức của sự chuyển dịch cơ cấu dân số và quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở, hoàn thiện điều kiện được hưởng chế độ hưu trí góp phần đảm bảo tận
dụng nguồn nhân lực của quốc gia, đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích mọi
người tích cực hưởng ứng các chính sách BHXH do Nhà nước ban hành.
Thứ ba, đảm bảo sự phát triển bền vững của quỹ BHXH.
BHXH là một trụ cột chính của hệ thống ASXH trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã
64
hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất
nước do đó quỹ BHXH, một trong các động lực để thực hiện chính sách BHXH, cần
được đảm bảo cân đối và ổn định trong mọi giai đoạn phát triển.
Theo Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV năm 2020 của
Tổng cục Thống kê Việt Nam, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ở Việt
Nam tính đến quý IV năm 2020 là 48,8 triệu người, tăng 285,7 nghìn người so với
quý trước và giảm 430,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời, theo
báo cáo của BHXH Việt Nam trong Hội nghị trực tuyết triển khai nhiệm vụ năm
2021 thì cho đến hết năm 2020, số người tham gia BHXH là 16,1 triệu người, đạt
32,6% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó số người tham gia BHXH tự
nguyện khoảng 1,1 triệu người, mặt khác trên cả nước đang có khoảng 3,2 triệu
người được hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng. Qua các số liệu này, có
thể thấy rằng số người trong độ tuổi lao động qua các năm giảm dần, tỷ lệ đối tượng
tham gia BHXH bắt buộc còn ở mức thấp trong khi lượng người hưởng lương hưu
và trợ cấp BHXH hàng tháng ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với tốc độ già hóa dân
số ở nước ta. Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong xã hội
trước các rủi ro, cần phải bảm đảo quỹ BHXH được phát triển một cách bền vững.
Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng nợ, chậm đóng và trục lợi BHXH đang là vấn nạn
nhức nhối diễn ra ngày càng phổ biến ở nước ta trong khi chế tài xử lý vi phạm đã
được ban hành nhưng hiệu quả thực thi lại chưa như mong đợi, đặt ra yêu cầu nâng
cao công tác thực hiện quy định pháp luật về xử lý các vi phạm xảy ra.
Thêm vào đó, để bổ sung một khoản tiền tạo ra sự tăng trưởng của quỹ
BHXH, các hoạt động đầu tư từ quỹ cần phải tuân thủ nguyên tắc an toàn, hiệu quả
và hướng đến xu hướng đa dạng hóa các danh mục, cơ cấu đầu tư để vừa giữ vững
mức tài chính có sẵn vừa thu về một khoản lợi bù đắp các khoản nợ xấu và cân đối
mọi hoạt động của quỹ BHXH.
Thứ tư, xây dựng chế độ hưu trí bắt buộc phù hợp với thông lệ quốc tế và xu
thế hội nhập.
Như Luận văn đã đề cập, quyền được đảm bảo ASXH là quyền của mỗi công
dân, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, đồng thời, Nghị quyết số 28-
65
NQ/TW về cải cách chính sách BHXH được thông qua tại Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương lần thứ 7 (khóa XII) đã đề ra chủ trương từng bước mở rộng vững chắc
diện bao phủ, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân. Đối với chế độ hưu trí, Nghị
quyết số 28-NQ/TW đã chủ trương thực hiện bổ sung thêm tầng “trợ cấp hưu trí xã
hội” tích hợp vào hệ thống BHXH có đóng góp, cụ thể NSNN cung cấp một khoản
trợ cấp cho người cao tuổi không có lương hưu hoặc BHXH hàng tháng nhằm cụ
thể hóa một bước quy định tại Khoản 2 Điều 59 Hiến pháp 2013 về việc Nhà nước
tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống
ASXH, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và
người có hoàn cảnh khó khăn khác. Những chính sách này đã và đang được xây
dựng, củng cố, hoàn thiện để mang lại hiệu quả thực thi trong từng giai đoạn phát
triển của đất nước. Có thể thấy, mô hình bảo hiểm hưu trí đa tầng lần đầu tiên được
thực hiện tại Việt Nam là một bước đột phá trong việc cải cách chính sách nhằm
đảm bảo cho người già đều có thu nhập tối thiểu đủ sống, hướng tới mục tiêu
BHXH toàn dân.
Việc áp dụng bảo hiểm hưu trí đa tầng hoàn toàn phù hợp với khuyến nghị
ASXH của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), 2012 (R202). Trên thế giới, mô hình
bảo hiểm hưu trí đa tầng được áp dụng và mang lại nhiều hiệu quả thực thi ở một số
nước trên thế giới, trong đó phải kể đến các quốc gia như Đức, Nhật Bản, Trung
Quốc. Đa phần đây là các quốc gia phát triển, tuy nhiên đều đang phải đối diện với
các khó khăn mà bài toán dân số đang đặt ra, tình trạng dân số già, để ổn định trật tự
và an toàn xã hội. Hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số với tốc
độ nhanh nhất thế giới. Theo tính toán của ILO, năm 2017, Việt Nam có khoảng
10,1 triệu người từ đủ 60 tuổi trở lên, trong đó có tới 8,3 triệu người không được
nhận hưu trí, chiếm khoảng 83% số người cao tuổi. Cũng theo tính toán của ILO,
năm 2015, Việt Nam có 6,6 người trong độ tuổi lao động (15 – 59 tuổi) trên một
người già trên 60 tuổi, dự kiến đến năm 2055 sẽ còn 2,1 người trong độ tuổi lao
động trên một người già là một thách thức rất lớn đối với hệ thống bảo hiểm hưu trí
của Việt Nam [40]. Chính vì vậy, để đảm bảo được hiệu quả thực thi các quy định,
chính sách điều chỉnh chế độ hưu trí bắt buộc, việc cải cách chính sách BHXH theo
66
hướng đa tầng vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, cần có sự kết hợp hài
hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển, học hỏi kinh nghiệm một số nước
trên thế giới, xây dựng hệ thống pháp luật không chỉ giải quyết được các khó khăn,
phù hợp với hoàn cảnh trong nước mà còn cần phải phù hợp với thông lệ quốc tế và
xu thế hội nhập.
3.2. Giải pháp hoàn thiện chế độ hưu trí bắt buộc ở Việt Nam hiện nay
Để hoàn thiện quy định pháp luật về chế dộ hưu trí bắt buộc cũng như tăng
cường hiệu quả trong việc áp dụng các quy định này ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh
việc xây dựng các khuôn khổ pháp lý phù hợp, đầy đủ còn đòi hỏi phải có sự kết
hợp hài hòa với nhiều giải pháp khác nhau.
Thứ nhất, xây dựng phương án chia sẻ giữa những người đang hưởng chế độ
hưu trí bắt buộc.
Một trong các quan điểm chỉ đạo cải cách chính sách BHXH trong Nghị quyết
số 28 – NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa 12
đó là cải cách chính sách BHXH vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; kết
hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối
tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền
lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm ASXH. Trên
cơ sở cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng, việc điều chỉnh cách xác định thu
nhập làm cơ sở tính mức đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc và điều kiện được
hưởng chế độ hưu trí nhằm đảm bảo tận dụng nguồn nhân lực của quốc gia, đảm
bảo cân bằng lợi ích và thu nhập của các thành viên trong xã hội.
Đối với nhóm lao động là nữ cán bộ, nữ công chức cấp xã hoặc là người hoạt
động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn được tính dựa trên mức lương cơ sở
dẫn đến việc mức hưởng lương hưu hàng tháng (khi đủ điều kiện hưởng) dẫn đến sự
mâu thuẫn trong quan điểm phát triển các chính sách xã hội, nhất là chế độ tiền
lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm ASXH vì đây
là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội thấp nhất theo quy định pháp luật và cơ sở
xác định mức đóng góp vào quỹ BHXH cũng khác biệt so với các đối tượng khác
phải tham gia BHXH bắt buộc. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Đào Ngọc
67
Dung cho biết hiện nay có khoảng 400.000 người về hưu trước năm 1993 đang
hưởng lương hưu với mức rất thấp [47]. Ngoài ra, theo thống kê Theo báo cáo của
BHXH Việt Nam, tới hết tháng 10/2019, trên cả nước, mức lương hưu thấp nhất là
346.700 đồng/tháng, mức lương hưu cao nhất là 116 triệu đồng/tháng, mức lương
hưu bình quân là 4,9 triệu đồng/tháng, số người hưởng lương hưu dưới mức bình
quân là 1,6 triệu người, số người hưởng lương hưu trên mức bình quân là 928.000
người [50].
Do đó, khoảng cách chênh lệch giữa mức lương hưu giữa các đối tượng trong
xã hội đã góp phần tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, khuyến khích đông
đảo sự tham gia vào chế độ hưu trí, giảm thiểu tình trạng BHXH một lần. Việc áp
dụng các biện pháp chia sẻ trong các đối tượng hưởng lương hưu giữa người có
mức hưởng cao chia sẻ cho người có mức hưởng thấp góp phần thể hiện tinh thần
tương thân tương ái của dân tộc, phát huy các giá trị nhân văn cao đẹp và phát huy
vai trò gắn kết xã hội của hệ thống ASXH.
Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương thực hiện quản
lý các đối tượng được hưởng chế độ hưu trí.
Một trong các vấn nạn nhức nhối hiện nay trong quá trình thực hiện các quy
định về chế độ hưu trí ở Việt Nam là thực trạng không báo cáo về sự thay đổi về số
lượng người nhận chế độ hưu trí (trong trường hợp người hưởng đã mất, chuyển đi
nơi khác, bị tạm ngừng hưởng lương hưu) đã dẫn ra nhiều hệ lụy không mong
muốn. Để hoàn thiện cơ chế quản lý các đối tượng được hưởng lương hưu, cần đặt
ra các quy định trách nhiệm của UBND các cấp xã, phường, thị trấn cùng các
trưởng thôn, ấp, xóm là những người gần gũi, tiếp xúc với người dân hằng ngày,
quản lý ở địa phương và biết rõ sự thay đổi nhân khẩu phát sinh. Do đó, pháp luật
cần quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể này khi phát sinh các sự kiện có thể
làm ảnh hưởng đến quá trình hưởng chế độ hưu trí, cần phải báo kịp thời với cơ
quan BHXH để thực hiện quá trình điều chỉnh danh sách các đối tượng được hưởng.
Qua những quy định ràng buộc trách nhiệm của chính quyền địa phương, cơ chế
phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện tốt hơn, tăng
cường tinh thần đoàn kết giữa các cơ quan, ban ngành có liên quan, phát huy tốt
68
trách nhiệm được Đảng và Nhà nước giao phó, giảm thiểu các tình trạng chi sai đối
tượng, góp phần ổn định quỹ BHXH.
Thứ ba, thực hiện các chính sách rà soát, cơ chế kiểm soát thu nhập để mở
rộng các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Một trong các nội dung cải cách chính sách BHXH nêu tại Nghị quyết số 28-
NQ/TW là đẩy mạnh công tác thay đổi nhận thức về việc bắt buộc tham gia BHXH
theo hợp đồng lao động “hướng tới chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với
toàn bộ người lao động có việc làm, có thu nhập và tiền lương khi có đủ điều kiện
cần thiết”. Tuy nhiên, trên thực tế, những nội dung này chưa được áp dụng một cách
hiệu quả. Cho nên, để cụ thể hóa các chính sách cải cách này thành pháp luật cần
tiến hành nghiên cứu xây dựng cơ chế kiểm soát thu nhập, kiểm soát được thu nhập,
cải cách mạnh mẽ chế độ BHHT theo hướng linh hoạt sẽ huy động được nhiều lực
lượng lao động tham gia BHXH, mục tiêu BHXH toàn dân sẽ được thực hiện.
Bên cạnh đó, như Luận văn đã đề cập khoảng cách lương hưu giữa các đối
tượng được hưởng xuất phát từ mức thu nhập dùng làm căn cứ tính mức đóng góp
vào quỹ BHXH khi tham gia vào quan hệ lao động, khoảng cách này càng lớn càng
dễ dẫn đến sự phân tầng trong xã hội, tăng khoảng cách thu nhập giữa lực lượng lao
động. Cho nên, cần phải tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện cách tính lương hưu,
đảm bảo công bằng giữa nam và nữ, giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà
nước, kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc đóng – hưởng để thu hẹp khoảng cách về thu
nhập trong các đối tượng hưởng chế độ hưu trí. Đồng thời, cần tích cực tiến hành rà
soát, mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với các nhóm chủ hộ kinh
doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hợp tác xã không
hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt.
Việc triển khai đồng bộ các chính sách xác định thu nhập, rà soát, cơ chế kiểm
soát thu nhập còn góp phần giảm thiểu tình trạng trốn đóng BHXH, nợ BHXH, một
vấn nạn nhức nhối của cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, góp phần đảm bảo sự
cân bằng của quỹ BHXH nói chung và quỹ hưu trí nói riêng, giúp thay đổi nhận
thức của người dân và mở rộng được các đối tượng tham gia BHXH, nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật.
69
Thứ tư, sửa đổi quy định về thời gian tham gia đóng BHXH tối thiểu nhằm có
thể hưởng chế độ hưu trí một cách linh hoạt.
Như tác giả đã phân tích, hiện nay quy định về thời gian đóng BHXH tối thiểu
để được hưởng chế độ hưu trí ở nước ta là khá dài, đến 20 năm dẫn đến một số bộ
phận không đủ điều kiện tích lũy do tham gia đóng BHXH lúc tuổi đã cao, hoặc một
số bộ phận có tâm lý chờ lâu nên muốn hưởng chế độ BHXH một lần, điều này dẫn
đến họ rời hệ thống và làm giảm diện bao phủ của BHXH, ảnh hưởng đến sự bền
vững hệ thống ASXH vì vậy cần thiết phải xem xét giảm điều kiện tối thiểu về thời
gian đóng BHXH để hưởng chế độ hưu trí theo hướng thấp hơn theo lộ trình hướng
từ 20 năm xuống còn 15 năm tiến tới còn 10 năm theo tinh thần Nghị quyết 28 –
NQ/TW đã đưa ra định hướng cải cách về điều kiện hưởng chế độ hưu trí.
Thứ năm, sửa đổi quy định điều kiện mức hưởng BHXH một lần theo hướng
chặt chẽ hơn.
Hiện nay quy định mức hưởng BHXH một lần đối với NLĐ tham gia đóng
BHXH bắt buộc trước năm 2014 là 1,5 tháng lương bình quân đóng BHXH và 2
tháng lương bình quân đóng BHXH đối với NLĐ đóng BHXH bắt buộc sau năm
2014, mức hưởng BHXH một lần là khá cao. Điều này dẫn đến NLĐ muốn được
hưởng BHXH một lần rất nhiều gây nên mất cân đối quỹ BHXH, không đạt được
mục tiêu hưởng hưu trí toàn dân. Vì vậy cần sửa đổi theo hướng một số trường hợp
NLĐ tham gia BHXH bắt buộc nếu muốn nhận BHXH một lần chỉ được nhận được
phần đóng góp của mình vào quỹ BHXH (8% mức đóng của NLĐ tham BHXH bắt
buộc) thay cho việc tính bình quân lương tháng đóng BHXH như hiện nay là bao
gồm cả NSDLĐ và NLĐ nhằm hạn chế tối đa NLĐ xin nhận BHXH một lần tránh
gây vỡ quỹ BHXH gióp phần xây dựng mục tiêu của Đảng nhà nước về giữ vững hệ
thống ASXH quốc gia.
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí từ kinh nghiệm
của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Từ những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế còn tồn đọng được đề cập ở
chương 2, để đảm bảo triển khai các định hướng hoàn thiện pháp luật, tác giả xin
70
đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí qua thực
tiễn thực thi tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình như sau:
Thứ nhất, tăng cường hoạt động tuyên truyền, vận động để nâng cao ý thức
của người dân.
Qua thực tiễn áp dụng chế độ hưu trí bắt buộc tại huyện Thại Thụy, tỉnh Thái
Bình, có thể thấy số lượng người tham gia BHXH bắt buộc còn chiếm tỷ lệ thấp
trong tổng số lao động ở địa phương. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội,
các chính sách pháp luật cũng được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh của từng
thời kỳ, cho nên công tác tuyên truyền, vận động là nhiệm vụ chính của cơ quan
BHXH cùng phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội
thực hiện để phổ biến cho người dân về nội dung các chính sách được ban hành,
đưa pháp luật BHXH đi sâu vào nhận thức trong đời sống của người lao động.
Chế độ hưu trí bắt buộc là một chế độ phức tạp với nhiều nhóm đối tượng áp
dụng với mức hưởng khác nhau, liên quan đến nhiều luật chuyên ngành khác nhau,
nếu không tìm hiểu rõ rất dễ gây nhầm lẫn trong quá trình áp dụng pháp luật. Với
đặc trưng lao động ở huyện Thái Thụy là bộ phận lao động ở nông thôn mang nhiều
tiềm năng, do đó trong quá trình truyền tải thông tin tuyên truyền cần được thực
hiện một cách gần gũi, thân tình nhưng phải đảm bảo đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu
nhưng có nội dung trọng tâm và phù hợp với nhóm đối tượng cần phổ biến, để NLĐ
có thể hiểu được những lợi ích khi tham gia BHHT.
Bên cạnh đó, các cơ quan BHXH cần tích cực đẩy mạnh hoạt động tuyên
truyền dưới nhiều hình thức khác nhau, như: các hội thảo phổ biến quy định và khảo
sát ý kiến của người dân, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tổ chức thi viết các câu
chuyện về hưu trí, các chương trình vận động qua đài phát thanh, đài truyền hình,
phát tờ rơi, dán khẩu hiệu tại các nơi công cộng,… để dàng thu hút sự chú ý của
NLĐ. Thường xuyên kết hợp cùng các tổ chức xã hội và chính quyền thôn, xã đến
tận nhà thăm hỏi, vận động các hộ gia đình, cơ sở sản xuất, thể hiện sự quan tâm
của Nhà nước trong quá trình chăm lo, cải thiện đời sống của người dân.
Tuyên truyền, vận động là các hoạt động quan trọng, mang lại hiệu quả cao
trong quá trình thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc. Thông qua quá trình truyền tải
71
thông tin một cách trực tiếp, nâng cao nhận thức của NLĐ, giúp họ có thể trang bị
cho mình những kiến thức cần thiết tự bảo vệ được các quyền lợi chính đáng theo
quy định pháp luật, tích cực hưởng ứng chế độ hưu trí bắt buộc, mở rộng các đối
tượng tham gia BHXH, góp phần tạo ra tăng trưởng ổn định cho quỹ BHXH.
Thứ hai, tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa các cấp, ban, ngành có liên
quan để thực hiện tốt công tác chi trả lương hưu và quản lý các đối tượng được
hưởng.
Công tác chi trả lương hưu cho các đối tượng được hưởng trên địa bàn huyện
Thái Thụy được thực hiện đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau như lĩnh trực
tiếp, nhận lương qua ATM, nhận qua bưu điện. Đây cũng là mô hình chi trả lương
hưu quen thuộc ở nhiều địa phương khác trên cả nước, nên rất cần có sự phối hợp
chặt chẽ giữa tổ chức BHXH, các trụ sở bưu điện và ngân hàng liên kết để thực hiện
công tác chi trả lương hưu một cách nhanh chóng, đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho
các đối tượng đủ điều kiện hưởng. Ngoài ra, trong những năm gần đây tình trạng
giải quyết chế độ hưu trí chưa đúng đối tượng, công tác thu hồi số tiền đã chi trả
gặp nhiều khó khăn, gây thất thoát quỹ BHXH diễn ra ngày càng phổ biến. Trên
thực tế, hoạt động chi trả cơ bản được thực hiện dựa trên tình trạng hồ sơ xét duyệt
hưởng chế độ hưu trí ban đầu, tuy nhiên quá trình hưởng lương hưu đôi khi xảy ra
các biến động làm gián đoạn sự thụ hưởng. Vì vậy, để đảm bảo tính trung thực,
chính xác, chi trả đúng đối tượng, đúng pháp luật, các yêu cầu kết nối giữa bộ phận
quản lý các đối tượng tại nơi cư trú và cơ quan thực hiện công tác chi trả để cập
nhật lại điều kiện được hưởng và rà soát các trường hợp tạm ngừng hoặc không
được tiếp tục hưởng lương hưu, đảm bảo thu đúng, chi trả kịp thời và an toàn cho
các đối tượng là thực sự cần thiết. Sự tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa các cấp,
phòng, ban, ngành có liên quan còn góp phần tăng cường sự đoàn kết, hợp tác giữa
các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương và cơ quan BHXH, thực hiện tốt các
nhiệm vụ đảm nhận, khắc phục sai sót, tâm lý ỷ lại, chủ quan của người được giao
nhiệm vụ.
Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách
BHXH bắt buộc.
72
Với vai trò cần thiết và tính chất phức tạp của chế độ hưu trí, công tác thanh
tra, kiểm tra cần được tổ chức một cách thường xuyên, đúng trình tự, có sự phối hợp
giữa cán bộ thanh tra BHXH, UBND các cấp và các phòng, ban liên quan để các
bên cùng nhau trao đổi, xây dựng kế hoạch thực hiện, tìm hiểu rõ tình hình về đối
tượng được thanh tra, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật. Các quy định về chế độ
hưu trí bắt buộc yêu cầu các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng phải nghiêm chỉnh
chấp hành, nếu xảy ra vi phạm sẽ được cá nhân, tổ chức có thẩm quyền áp dụng các
chế tài xử lý thích hợp. Thông qua các công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện
các chính sách BHXH bắt buộc trên địa bàn quản lý, tiến hành đánh giá hiệu quả áp
dụng pháp luật tại địa phương, kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý các sai phạm
để khắc phục, phòng ngừa các hậu quả có thể xảy ra, góp phần nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật tất cả mọi người, đặc biệt là giảm thiểu tình trạng các doanh nghiệp
nợ, chậm đóng tiền BHXH, góp phần ổn định và cân đối tài chính của quỹ BHXH.
Bên cạnh đó, biện pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tạo cơ hội nâng cao
trình độ nghiệp vụ của đội ngũ các bộ, tiết kiệm chi phí đào tạo nhân lực cho các cơ
quan nhà nước.
Thứ tư, xây dựng các chính sách đào tạo, nâng cao trình độ lao động và quy
mô hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa phương.
Thái Thụy là địa phương có nhiều làng nghề hoạt động dưới hình thức các cơ
sở sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ với các lao động có trình độ chưa cao, hoạt động không
ổn định, không đúng địa điểm đăng ký hoặc không ký kết hợp đồng lao động nên
chính quyền địa phương khó kiểm soát các cơ sở kinh doanh và những lao động
này. Ngoài ra, đây là hoạt động tạo ra việc làm và thu nhập chính cho người dân ở
huyện Thái Thụy nhưng lại không cần sử dụng lao động được qua đào tạo, có trình
độ chuyên môn cao, quan hệ lao động này thường mang tính mùa vụ, thất thường,
gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý và tuyên truyền. Từ kinh nghiệm áp
dụng chế độ hưu trí bắt buộc tại địa bàn huyện Thái Thụy, có thể thấy rằng, thông
qua việc xây dựng các chính sách đào tạo, nâng cao trình độ lao động, các kiến thức
về chuyên môn và pháp luật được lồng ghép, phổ biến đến NLĐ là một trong các
giải pháp hữu hiệu góp phần tạo ra một lao động không chỉ giỏi về kỹ năng nghề
73
nghiệp mà còn được trang bị đầy đủ các kiến thức pháp luật, xã hội để có thể tự bảo
vệ mình trong quá trình lao động.
Đồng thời, sự thay đổi về quy mô hoạt động đặt ra các yêu cầu về khai báo với
cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý thuế, các cơ sở sản xuất kinh doanh
này phải có một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hoạt động rõ ràng. Qua các thông tin khai
báo, cơ quan BHXH có thể truy xuất được thông tin của các cơ sở này, tạo điều kiện
thuận lợi trong công tác quản lý, tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra hiệu quả thực hiện
chính sách BHXH. Do đó, các chính sách khuyến khích thay đổi quy mô hoạt động
của các cơ sở sản xuất kinh doanh truyền thống có thể khắc phục được một số hạn
chế thực thi pháp luật, thúc đẩy quá trình thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc trên quy
mô quản lý.
Thứ năm, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ
được giao nhiệm vụ thực thi chế độ hưu trí bắt buộc là bộ phận nòng cốt, giữ vai trò
trung tâm giữa mối quan hệ NLĐ và Nhà nước trong các chính sách BHHT bắt
buộc nói riêng và hệ thống ASXH nói chung, tác động trực tiếp đến hiệu quả áp
dụng pháp luật. Hiện nay, số lượng đối tượng tham gia BHXH và số người hưởng
chế độ hưu trí ngày càng tăng, đòi hỏi cán bộ giải quyết phải đủ trình độ chuyên
môn và kỹ năng nghề nghiệp để giải quyết kịp thời những hồ sơ yêu cầu, linh động
trong công tác xử lý, chịu được áp lực và đảm bảo năng suất làm việc. Chương trình
nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, viên chức, lao động của cơ quan
BHXH có thể được thực hiện qua các buổi học nghiệp vụ, bồi dưỡng, tập huấn, hội
thi,… Qua đó khuyến khích tinh thần học hỏi, rèn luyện tiến bộ để có đủ chuyên
môn theo yêu cầu công việc, yêu cầu về kỹ năng tin học và ngoại ngữ để hoàn thành
tốt công việc được giao, tiếp thu, học hỏi quy định về chế độ hưu trí của các nước
trên thế giới đáp ứng xu thế hội nhập quốc tế cùng với những tiến bộ nổi trội về
pháp lý, về công nghệ thông tin ở các nước.
Thứ sáu, thường xuyên cập nhật phần mềm, khắc phục lỗi, tốc độ xử lý
mạng điện tử và phần mềm nghiệp vụ chất lượng để giảm thời gian chờ thao tác
nghiệp vụ do lỗi phần mềm hệ thống và mạng internet nâng cao hiệu suất làm việc,
giảm giờ công và thời gian chờ đợi của người tham gia. Đồng thời, đẩy mạnh công
74
tác thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết các hồ sơ yêu cầu
hưởng chế độ hưu trí. Thông qua những tiến bộ của công nghệ thông tin, tích cực
phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách BHXH bảo đảm tinh gọn, chuyên
nghiệp, hiệu quả, hiện đại, nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng
của người dân cũng như các chủ thể tham gia BHXH.
75
Tiểu kết chương 3
Từ kinh nghiệm thực hiện chế độ hưu trí bắt buộc của huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình, nội dung Chương 3 Luận văn đã đề xuất một số định hướng góp phần
hoàn thiện chế độ hưu trí, đó là: khắc phục những bất cập của pháp luật BHHT bắt
buộc hiện hành; đảm bảo tính khả thi trong tổ chức thực hiện; xây dựng chế độ hưu
trí bắt buộc phù hợp với thông lệ quốc tế và xu thế hội nhập; đảm bảo sự phát triển
bền vững của quỹ BHXH. Để thực hiện được các định hướng này, tác giả đã đề xuất
một số giải pháp hoàn thiện chế độ hưu trí bắt buộc, trong đó nhấn mạnh xây dựng
phương án chia sẻ giữa những người đang hưởng chế độ hưu trí bắt buộc, đồng thời
đưa ra đề xuất quy định trách nhiệm của chính quyền địa phương thực hiện quản lý
các đối tượng được hưởng và thực hiện các chính sách rà soát, cơ chế kiểm soát thu
nhập để mở rộng các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Luận văn đã xây dựng các giải pháp về nâng cao trình độ chuyên môn của đội
ngũ cán bộ; xây dựng các chính sách đào tạo, nâng cao trình độ lao động và quy mô
hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa phương; tăng cường công tác
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách BHXH bắt buộc; tăng cường mối
liên kết chặt chẽ giữa các cấp, phòng, ban, ngành để thực hiện tốt công tác chi trả
lương hưu và quản lý các đối tượng được hưởng; tăng cường hoạt động tuyên
truyền, vận động để nâng cao ý thức của người dân. Đây đều là các giải pháp không
chỉ phù hợp với quá trình thực hiện chế độ hưu trí tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái
Bình mà còn đáp ứng được các yêu cầu chung của xã hội và phù hợp trên phạm vi
cả nước.
76
KẾT LUẬN
Hưu trí bắt buộc là một chế độ quan trọng của hệ thống ASXH, do đó hầu
hết các quốc gia trên thế giới trong các hoạt động xây dựng phát triển kinh tế xã hội
và quy định chính sách BHXH bắt buộc đều phải có BHHT.
Để nghiên cứu về chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt buộc, cũng như sự
thay đổi của các chính sách pháp luật về lao động, Chương 1 của Luận văn đã trình
bày các vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm pháp luật BHHT bắt buộc, nguyên tắc
của chế độ hưu trí bắt buộc, đặc biệt làm rõ nội dung các quy định chế độ hưu trí
theo quy định pháp luật BHXH bắt buộc ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó,
Chương 1 cũng đã tham khảo kinh nghiệm của các nước Đức, Nhật, Trung Quốc,
đây đều là các quốc gia phát triển và đối diện với tình trạng dân số già, để từ đó rút
ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở cho quá trình xây dựng chế độ hưu trí ở Việt
Nam không chỉ đáp ứng với hoàn cảnh trong nước mà còn phải phù hợp với tiêu
chuẩn pháp luật quốc tế.
Từ thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH bắt buộc tại huyện Thái Thụy,
Chương 2 đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ hưu trí bắt
buộc tại địa phương này để làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên
nhân cần khắc phục cũng là một trong các nội dung cần chú trọng nhằm nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật BHXH tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Có thể thấy
rằng, thực hiện BHHT bắt buộc không chỉ là nhiệm vụ của một cá nhân, tổ chức nào
mà cần có sự phối hợp của tổng thể các thành viên trong xã hội, qua đó góp phần
xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ văn minh, tạo ra động lực cốt lõi cho sự
phát triển bền vững của đất nước.
Từ kinh nghiệm của huyện Thái Thụy, nhằm tạo ra một khung pháp lý kiện
toàn điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tham gia chế độ hưu trí bắt
buộc, trong Chương 3, Luận văn đã đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí ở địa bàn huyện Thái Thụy
nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung./.