BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

........../..........

......../.......

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TUẤN ANH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ TẠI

QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI - 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

........../..........

......../.......

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TUẤN ANH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ TẠI

QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 8380102

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THỊ ANH THƢ

HÀ NỘI - 2019

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng

tôi.Các số liệu nêu trong luận văn này là trung thực.Những kết luận khoa học

của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN TUẤN ANH

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các

đồng nghiệp là các cán bộ, chiến sỹ, công an quận Ngô Quyền, các bạn học

tại khoa Lớp cao học: LH4B1 - Niên khóa: 2017 -2019 cùng các thầy, cô tại

Học viện hành chính Quốc Gia, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cán bộ,

chiến sỹ, công an quận Ngô Quyền, các bạn học, thầy cô giáo giảng dạy, giúp

đỡ cung cấp cho tôi nhiều kiến thức, số liệu để hoàn thiện luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới cô giáo: Tiến sĩ

Nguyễn Thị Anh Thư đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong quá

trình hoàn thiện Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN TUẤN ANH

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ ........................................................................................................... 9

1.1. Cƣ trú và pháp luật về cƣ trú ............................................................. 9

1.1.1. Quan niệm về cư trú ........................................................................ 9

1.1.2. Quan niệm pháp luật về cư trú .................................................... 10

1.2. Thực hiện pháp luật về cƣ trú ........................................................... 16

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về cư trú .................. 16

1.2.2. Hình thức thực hiện pháp luật về cư trú ........................................ 17

1.2.3. Nội dung thực hiện pháp luật về cư trú ......................................... 19

1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện pháp luật về cƣ trú .............. 25

1.3.1. Yếu tố chính trị .............................................................................. 25

1.3.2. Yếu tố kinh tế ................................................................................ 27

1.3.3. Yếu tố văn hóa .............................................................................. 29

1.3.4. Yếu tố pháp luật ............................................................................ 32

1.3.5. Yếu tố quốc tế ............................................................................... 34

Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 35

Chƣơng 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ .... 36

TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ...................... 36

2.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng .............................................. 36

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng .......... 36

2.1.2. Tình hình công dân cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng 37

2.1.3. Tình hình kinh tế xã hội, TTATXH tại quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng ................................................................................................ 39

2.2. Thực trạng việc thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng ............................................................................... 43

2.2.1. Việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng .. 43

2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về cư trú tại địa bàn quận Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng: ........................................................................... 46

2.2.3. Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, kiểm tra lưu trú tại công an quận Ngô Quyền – TP Hải Phòng. ............................................ 51

2.3. Nhận xét, đánh giá ............................................................................. 57

2.3.1. Ưu điểm ......................................................................................... 57

2.3.2. Hạn chế .......................................................................................... 59

2.3.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế: ......................................... 68

Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 70

Chƣơng 3 ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CƢ TRÚ TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ........................................................................ 72

3.1. Định hƣớng thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ........................................................................................... 72

3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ................................................................... 75

3.2.1. Giải pháp trong nội dung thực hiện pháp luật về cư trú ............... 75

3.2.2. Các giải pháp trên từng lĩnh vực cụ thể ........................................ 81

Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 88

KẾT LUẬN .................................................................................................... 90

DANH MỤC, TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 92

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Ý nghĩa

An ninh trật tự ANTT 1

Công an nhân dân CAND 2

Chính quyền địa phương CQĐP 3

Cánh sát khu vực CSKV 4

Quản lý hành chính QLHC 5

Thủ tục hành chính TTHC 6

Trật tự xã hội TTXH 7

Uỷ ban nhân dân UBND 8

TTATXH Trật tự an toàn xã hội 9

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã

viết lên những trang sử vẻ vang với bao chiến công hiển hách chống xâm lược

và ách thống trị của ngoại bang. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một

trong những mốc son chói lọi nhất, là thành quả đấu tranh kiên cường, bất

khuất của nhân dân Việt Nam về khát vọng hòa bình, độc lập, tự do. Dưới sự

lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lập

nên nhà nước dân chủ nhân dân vào ngày 2/9/1945.

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói

chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ, vì vậy cho nên Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã ký sắc lệnh lập ủy ban dự thảo Hiến pháp để trình quốc hội. Bản

Hiến pháp năm 1946 ra đời tuân thủ theo nguyên tắc “ đảm bảo các quyền tự

do dân chủ”; lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam được đảm bảo các

quyền tự do, dân chủ được quy định tại Điều 10 : “ Công dân Việt Nam có

quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín

ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Xuyên suốt quá trình thay đổi các bản hiến pháp từ bản Hiến pháp đầu

tiên năm 1946 ( Điều 10), Hiến pháp năm 1959 (Điều 28), Hiến pháp năm

1980 (Điều 71), Hiến pháp năm 1992 (Điều 68), Hiến pháp năm 2013 (Điều

23), tự do cư trú luôn là một trong những quyền cơ bản của con người Việt

Nam. Không những vậy, trong các nhánh luật như Bộ luật dân sự, Luật cư trú

và các văn bản quy phạm pháp luật khác đều quy định rõ quyền tự do cư trú

của công dân Việt Nam. Trước sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhất

là yêu cầu hội nhập kinh tế, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Ngày 29

tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã

ban hành Luật cư trú (Sửa đổi, bổ sung năm 2013) nhằm đáp ứng các đòi hỏi

1

khách quan, để công dân Việt Nam thực hiện quyền tự do cư trú ở trong nước

của mình theo quy định của Hiến pháp 2013 và đáp ứng yêu cầu đăng ký

thường trú, tạm trú , lưu trú trong tình hình mới, trong điều kiện Việt Nam hội

nhập kinh tế và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế. Thực hiện pháp luật về cư

trú là đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ

nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phục vụ đắc lực cho công

cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và phát triển đất nước.

Từ khi Luật Cư trú ra đời vào ngày 25/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc

hội khóa XI cho đến khi sửa đổi bổ sung ngày 20/6/2013 và có hiệu lực thi

hành từ ngày 1/1/2014 cho thấy nhiều quy định của pháp luật về cư trú chưa

hợp lý, việc đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú chưa đúng với quy

định, mang nặng cơ chế “xin- cho”, trình tự thủ tục giải quyết còn rườm rà,

phức tạp, chưa thực sự dân chủ, thống nhất dẫn đến tình trạng vận dụng tuỳ

tiện, gây khó khăn, phiền hà cho công dân.

Ngoài ra, trong thực tế một bộ phận nhân dân chưa thực hiện tốt quy

định của pháp luật về đăng ký thường trú, tạm trú, làm cho việc thực hiện

pháp luật về cư trú đạt kết quả chưa cao, tạo ra kẽ hở để các phần tử xấu lợi

dụng tiến hành hoạt động xâm phạm đến ANCT - TTATXH. Với mục đích

xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú phù hợp với chủ trương cải

cách hành chính; phù hợp với tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác

quốc tế, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo đảm

quốc phòng, an ninh, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa. Tạo khuôn khổ pháp lý hữu hiệu để bảo đảm quyền,

lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi tối đa cho công

dân Việt Nam làm ăn, sinh sống, chống phiền hà, tiêu cực; đồng thời, bảo

đảm cho công tác thực hiện pháp luật về cư trú có hiệu quả trong giai đoạn

hiện nay và những năm tiếp theo. Tạo cơ sở để củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ

2

máy, cán bộ làm công tác đăng ký thường trú, tạm trú, đổi mới phương pháp,

ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học, công nghệ trong việc thực hiện

pháp luật về cư trú đạt được những kết quả nhất định. Nhưng đánh giá một

cách tổng quát về việc thực hiện pháp luật cư trú vẫn còn những khó khăn,

vướng mắc nguyên nhân đến từ rất nhiều phía: Các quy định pháp luật; Các

quy trình thực hiện pháp luật, cán bộ làm công tác thực hiện pháp luật; sự

hiểu biết của người dân đối với pháp luật về cư trú và ý thức chấp hành pháp

luật.[29]

Đối với thành phố Hải Phòng nói chung và quận Ngô Quyền nói riêng

đã được Chính phủ quan tâm xây dựng tuyến đường mới kết nối hai trung tâm

chính trị Quận Ngô Quyền – Quận Hải An; Kết nối trung tâm hành chính

thành phố với sân bay Cát Bi, đó là đường Lê Hồng Phong ( Ngã năm – sân

bay Cát Bi ). Đường Lê Hồng Phong được khởi công năm 1997 có chiều dài

5,2 km và 6 làn đường xe chạy, trong quá trình xây dựng con đường trên;

Quận Ngô Quyền đã phải di dời; đền bù nhà, đất cho khoảng hơn 2.300 hộ

dân thuộc các phường Gia Viên, Lạc Viên, Đông Khê, Đằng Giang. Năm

2004, con đường Lê Hồng Phong đã được thông tuyến khánh thành nhưng

những hệ lụy liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú vẫn còn phải

giải quyết sau nhiều năm.

Vì vậy đề tài “Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền,

thành phố Hải Phòng”đã được học viên lựa chọn cho luận văn thạc sỹ.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn

Vấn đề đăng ký cư trú và thực hiện pháp luật về cư trú gần đây đã thu

hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học, giảng viên các học viện,

trường đại học cũng như đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước

về cư trú. Có thể nêu một số công trình như sau:

3

Giáo trình: “Luật Cư trú và công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư

trú”, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2008 [25]. Đây là tài liệu chính thống được

sử dụng trong công tác nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện Cảnh sát nhân dân.

Tài liệu gồm 03 chương: chương 1, những vấn đề cơ bản về Luật Cư trú;

chương 2, Công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú; chương 3, Cơ sở dữ

liệu về cư trú. Tại chương 2, Giáo trình đã cung cấp những kiến thức lý luận

cơ bản có tính chất tác nghiệp cho sinh viên chuyên ngành quản lý hành chính

về trật tự xã hội trong thực hiện quản lý nhà nước về cư trú.

Sách tham khảo: “Quy trình công tác của Cảnh sát khu vực”, PGS, TS

Trần Hải Âu, Ths Cù Ngọc Trang, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm

2014[39].Trong chương 4, nhóm tác giả đã chỉ dẫn một số nhóm quy trình

đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú cụ thể như: quy trình rà soát, lập danh

sách nhân, hộ khẩu; quy trình nắm tình hình về nhân, hộ khẩu, quy trình

hướng dẫn bản khai nhân khẩu; quy trình công tác phân loại nhân khẩu; quy

trình công tác kiểm tra hộ khẩu định kỳ; quy trình kiểm tra tạm trú, tạm vắng;

quy trình giải quyết đăng ký tạm trú; quy trình tiếp nhận tạm vắng; quy trình

quản lý học sinh, sinh viên tạm trú trong địa bàn; quy trình xác lập và quản lý

các loại trong hộ,...

Sách tham khảo: “Cẩm nang công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư

trú”, TS Vũ Xuân Trường, Cù Ngọc Trang, Nhà xuất bản Công an nhân dân,

2008 [42] .Cuốn sách giải quyết các nội dung cơ bản của Luật Cư trú và các

văn bản pháp luật có liên quan; hệ thống các văn bản của Nhà nước và ngành

Công an điều chỉnh hoạt động đăng ký quản lý cư trú. Cuốn sách trang bị các

kiến thức về công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú, cung cấp thông tin

phục vụ các ngành, các cấp trên lĩnh vực quản lý nhà nước, cho mọi công dân

trong xã hội để thực hiện quyền tự do cư trú của mình. Đồng thời, còn là tài

4

liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu giảng dạy trong các

trường Công an nhân dân về vấn đề đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú.

Sách tham khảo: “Luật cư trú, hỏi đáp về luật cư trú dành cho cán bộ

quản lý hành chính”, TS. Đinh Thế Cát, Nhà xuất bản Công an nhân dân,

2017 [18]. Là cuốn sách có hàm lượng thông tin phong phú, đa dạng. Trên cơ

sở những câu hỏi, tình huống được khái quát từ cả góc độ lý luận và thực tiễn

công tác đăng ký và quản lý cư trú đối với công dân, kết hợp và vận dụng

nhuần nhuyễn kiến thức với kinh nghiệm lâu năm của các giảng viên chuyên

ngành Cảnh sát quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội của Học viện Cảnh

sát nhân dân, tác giả đã khái quát Luật cư trú và các văn bản liên quan, đặc

biệt là những văn bản mới nhất của Luật cư trú. những câu hỏi lý thuyết, tình

huống thực tiễn được rút ra từ quá trình giảng dạy, và thâm nhập thực tế.

Cuốn sách đã giải quyết những vấn đề phức tạp như xác định về chổ ở hợp

pháp để đăng ký cư trú, đăng ký cư trú cho một số đối tượng đặc biệt như

chức sắc tôn giáo, các hộ mặt nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,

quản lý đối tượng tạm trú, tạm vắng ... Cuốn sách đã vận dụng lý luận để giải

quyết những tình huống phức tạp phát sinh trong thực tiễn công tác quản lý cư

trú. Là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu và áp dụng vào thực tế.

Sách tham khảo: “Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật cư trú được sửa

đổi, bổ sung năm 2013” tập thể tác giả do Thiếu tướng GS.TS. Nguyễn Ngọc

Anh chủ biên nhà xuất bản Giao thông vận tải năm 2014 [38]. Các cuốn sách

trên gồm 02 phần, phần 1 tác giả đã giới thiệu nội dung cơ bản của Luật cư trú,

các Nghị định, Thông tư liên quan đến cư trú và những vấn đề lưu ý khi áp dụng.

Phần 2 là toàn văn Luật cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cuốn sách là

tài liệu tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp luật về quản lý

cư trú cho cán bộ, chiến sỷ công an để thực hiện tốt quyền tự do cư trú của công

dân và hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về cư trú.

5

Đề tài khoa học cấp Bộ „„Các giải pháp tăng cường công tác đăng ký,

quản lý hộ khẩu và xây dựng Luật Cư trú”, Lê Thành, 2004 [22]. Đề tài đã tập

trung phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về cư trú và quản lý nhà nước về

cư trú. Qua đó, tập trung vào các quyền cư trú của công dân, quản lý nhà

nước, tăng cường quản lý nhà nước về cư trú; các văn bản quy phạm pháp luật

quy định về cư trú của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Về thực

trạng cư trú, tác giả đã đánh giá khái quát đặc điểm dân số và cư trú của một

số vùng, miền trong toàn quốc; tình hình biến động của các dạng nhân khẩu ở

Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của tác giả nhằm đưa ra giải pháp

tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về cư trú nói trên.

Các đề tài khoa học trên đã nêu được một số vấn đề cơ bản của quản lý

nhà nước về cư trú. Nhưng hiện nay chưa có riêng một đề tài nào liên quan

đến công tác thực hiện pháp luật về cư trú, tại một địa bàn cụ thể là Quận Ngô

Quyền, thành phố Hải Phòng. Các đề tài khoa học trên sẽ là nền tảng quan

trọng trong quá trình thực hiện luận văn này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cư trú tại

quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận

về thực hiện pháp luật về cư trú và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về

cư trú tại quận Ngô Quyền.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về cư

trú thông qua khái niệm, phân tích đặc điểm, vai trò cũng như các yếu tố bảo

đảmthực hiện pháp luật về cư trú.

- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về cư trú của

quận Ngô Quyền; tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.

6

- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cư trú tại

quận Ngô Quyền.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận thực hiện

pháp luật về cư trú và thực trạng công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại

quận Ngô Quyền.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung:Các hoạt động liên quan đến thực hiện pháp luật về

cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Phạm vi không gian: Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Phạm vi thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác thực hiện

pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền từ năm 2013 (năm ban hành Luật Cư

trú sửa đổi, bổ sung) cho đến nay.

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Để đạt được những mục tiêu phương hướng đã đề ra,

trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tác giả đã sử dụng phương pháp luận

duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; kết hợp với

nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cương lĩnh của Đảng Cộng sản

Việt Nam, Hiến pháp pháp luật của Nhà nước, nguyên tắc, điều lệnh CSKV

của ngành Công an trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú [2].

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả đã sử dụng các phương pháp: phân

tích - tổng hợp, đối chiếu so sánh, thống kê, chứng minh biện luận, hệ thống.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận

nhà nước: Trong công tác đảm bảo ANTT – TTATXH, phòng ngừa, đấu tranh

chống tội phạm và xây dựng hệ thống tài liệu tham khảo phục vụ học tập,

7

nghiên cứu. Những kết luận khoa học trong luận văn và các nội dung giải

pháp được đề xuất góp phần rất lớn cho việc nâng cao hiệu quả công tác thực

hiện pháp luật về cư trú góp phần giữ vững ANTT và TTATXH trên địa bàn

quận Ngô Quyền nói riêng và trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung.

Đề tài nghiên cứu được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác

nghiên cứu học tập cho cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện công tác thực

hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

luận văn được cấu trúc thành 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về cư trú.

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô

Quyền, Thành phố Hải Phòng.

Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật cư trú

tại quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng.

8

Chƣơng 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ

1.1. Cƣ trú và pháp luật về cƣ trú

1.1.1. Quan niệm về cư trú

Đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú có vai trò quan trọng đối với quản

lý xã hội của nhà nước. Đối với hoạt động quản lý xã hội của đất nước, công

tác đăng ký cư trú là nhằm xác định việc cư trú và những thông tin cơ bản

nhất về nhân thân của công dân để phục vụ, thực hiện chính sách phát triển

kinh tế, xã hội, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời

phục vụ cho công tác giữ gìn an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội

phạm. Quản lý xã hội thực chất là quản lý con người trong tất cả các lĩnh vực

của đời sống xã hội. Con người luôn luôn là chủ thể của mọi hoạt động xã hội

và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của

đời sống xã hội, vì vậy đăng ký, quản lý cư trú được hình thành, phát triển rất

lâu và nó diễn ra hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Từ đó cho thấy

đăng ký quản lý cư trú là một tất yếu khách quan vì trong xã hội có giai cấp,

phải có quản lý xã hội, đồng thời nó đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phải quản

lý con người, mà trước hết là qua hoạt động cư trú. Vì thế có thể khẳng định:

Trên thế giới vấn đề đăng ký quản lý cư trú của con người đã có từ rất lâu, do

bản chất của từng nhà nước khác nhau mà mục đích, hình thức, biện pháp

đăng ký quản lý cư trú khác nhau.

Luật cư trú ở Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã làm

rõ các khái niệm về cư trú, đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. “Cư trú là

việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc phường, xã, thị trấn dưới hình

thức thường trú hoặc tạm trú” (Điều 1) “Đăng ký thường trú là việc công dân

đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và

9

được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ”

(Điều 18) “Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình

với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng

ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ”.

Đăng ký thường trú, tạm trú là quá trình cơ quan Công an dựa vào các

văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước để tiến hành đăng ký hộ khẩu

thường trú, tạm trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và

nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Phục vụ cho công tác quản lý xã hội

của nhà nước; công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các phạm

pháp về an ninh, trật tự.

Đăng ký thường trú là việc đăng ký ghi nhận vào sổ hộ khẩu và áp

dụng các biện pháp để quản lý đối với những người thường xuyên cư trú trên

một địa bàn nhất định theo đơn vị hành chính.

Đăng ký tạm trú là quản lý những người thường trú ở một nơi nhưng

do nhiều lý do khác nhau họ đến ở lại một địa phương khác trong thời gian

nhất định.

Tóm lại, có thể hiểu: Cư trú là việc công dân sinh sống thường xuyên

tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn hoặc huyện đảo nơi chưa tổ chức

đơn vị hành chính cấp xã được nhà nước quản lý thông qua hình thức đăng ký

thường trú hoặc tạm trú.[37]

1.1.2. Quan niệm pháp luật về cư trú

Ở Việt Nam: Thời kỳ cổ và trung đại, theo sách sử để lại thì các quy

định về quản lý con người đã xuất hiện trước công nguyên đến thế kỷ thứ 7.

Hình thức quản lý đơn giản, theo trình độ phát triển, trong giai đoạn cổ đại và

Nhà nước phong kiến vấn đề quản lý cư trú của con người nhằm mục đích áp

đặt sự thống trị giai cấp của nhà nước đó.

10

Thời kỳ thống trị của thực dân Pháp (từ năm 1858 - 1945): Thực dân

Pháp thực hiện các hình thức quản lý chặt chẽ, tỷ mỷ ở thành phố, thị xã.

Quản lý từng người, từng gia đình, có sổ theo dõi quản lý, đối với những

người từ 15 tuổi trở lên đều có danh chỉ bản. Mục đích: nộp tô, thuế, bắt lính,

bắt phu… phục vụ cho hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác thuộc địa. Thời

kỳ đấu tranh chống Đế quốc Mỹ: Ở miền Nam, dưới chế độ Mỹ, Ngụy chính

sách quản lý cư trú chặt chẽ và có hệ thống, bao gồm vùng nội thành và vùng

giáp ranh với vùng tự do. Thể hiện các quy định về lập hồ sơ, sổ sách từng

người, từng gia đình, có dán ảnh được bảo quản và khai thác một cách quy

mô và hệ thống. Mục đích: Phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các chính

sách chống cộng; Ở miền Bắc, sau hòa bình lập lại (1954) Nhà nước nghiên

cứu, tổ chức chỉ đạo đăng ký quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội,

củng cố chính quyền cách mạng (năm 1955 công tác đăng ký hộ khẩu được

tiến hành một số nơi như: Thành phố Nam Định, thị xã Bắc Ninh, thị xã Sơn

Tây, Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Đông, năm 1956 mở rộng công tác này đến

Hải Phòng, Đồng Hới, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Việt Trì, năm 1959 cơ

bản hoàn thành trên phạm vi toàn miền Bắc). Các quy định cụ thể về quản lý

hộ khẩu trong giai đoạn này: Năm 1954 Ủy ban hành chính từng tỉnh, thành

phố công bố quy định tạm thời trên địa phương mình; năm 1957 Bản điều lệ

tạm thời về đăng ký hộ khẩu được điều chỉnh, bổ sung; năm 1965 Hội đồng

Chính phủ chính thức ban hành Bản điều lệ đăng ký hộ khẩu bằng Nghị định

104/CP ngày 27/6/1964 và thực hiện thống nhất trên toàn miền Bắc; Năm

1968 đáp ứng yêu cầu chống cuộc chiến tranh phá hoại của địch, chống hoạt

động tình báo, xâm nhập, hoạt động gián điệp… lấy số liệu dân số chuẩn bị

bầu cử toàn quốc, nên yêu cầu kết hợp quản lý dân số, quản lý cư trú với quản

lý đi lại. Vì thế, ngày 29/02/1968 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định

32/CP thống nhất công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu với thống kê dân số và

11

công tác hộ tịch. (Kết hợp hộ tịch Nghị Định 04/CP (Bộ nội vụ) và hộ khẩu

Nghị Định 104/CP (Bộ công an) = Nghị Định 32/CP). Năm 1975, khi miền

Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ ban hành Quyết định 54/CP ngày

17/8/1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu trên phạm vi toàn

miền Nam. Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976 hướng dẫn, bổ sung và chỉ

đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với tình hình miền Nam. Sau

nhiều năm thực hiện các quy định về đăng ký hộ khẩu xuất hiện nhiều vấn đề

mới, nhất là cần phân tách công tác hộ tịch và hộ khẩu vì về bản chất là 2 mặt

công tác khác nhau và do 2 cơ quan Nhà nước khác nhau tiến hành. Vì thế,

ngày 07/01/1988 Chính phủ ban hành Nghị định 04/CP ban hành Điều lệ đăng

ký, quản lý hộ khẩu. Trong đó ngoài đăng ký, quản lý Bộ Công an thực hiện

khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn… Bộ Tư pháp thực hiện các cải chính về

họ tên, ngày tháng năm sinh…(theo Nghị định 219/HĐBT ngày 20-11-1987);

năm 1997, qua 10 năm thực hiện Nghị Định 04/CP ngày 07/01/1988 đã bộc lộ

những hạn chế, không đáp ứng được tình hình trong xu thế đổi mới, nhất là

quản lý tình hình di dân tự do và yêu cầu dịch chuyển lao động trong nền kinh

tế thị trường … vì thế đòi hỏi phải có một quy định mới phù hợp. Ngày

10/5/1997 Chính phủ ban hành Nghị định 51/CP quy định đăng ký, quản lý hộ

khẩu thay thế các quy định trước đây và được thực hiện thống nhất trên phạm

vi toàn quốc. Sau hơn 7 năm thực hiện một số nội dung của Nghị định 51/CP

không đáp ứng được yêu cầu, chủ yếu là các quy định về nhà ở hợp pháp; quy

định điều kiện đăng ký hộ khẩu vào thành phố, thị xã. Do đó, Bộ Công an đã

tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 108/2005/NĐ-CP ngày

19/8/2005. Để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, ngày

29/11/2006 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua

Luật cư trú, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định về quyền tự do

cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

12

trình tự, thủ tục đăng ký thường trú hoặc tạm trú, quyền, trách nhiệm của công

dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú. Quá trình thực

hiện Luật cư trú năm 2006 còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi

để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới. Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp

thứ 5, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật cư trú. Chính phủ ban hành Nghị định 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết

một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú. Như vậy quản lý cư trú thông

qua đăng ký hộ khẩu được xác định là một nội dung cơ bản của công tác quản

lý hành chính về an ninh, trật tự. Thực chất là quá trình đăng ký, quản lý hoạt

động cư trú của con người, có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu. Điều 1

Nghị định 51/CP Ngày 10/5/1997 của Chính phủ xác định rõ: “ Đăng ký,

quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác

định việc cư trú của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững An ninh

chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ

Công an) phụ trách việc đăng ký, quản lý hộ khẩu ”.

Theo quy định của Luật cư trú hiện hành thì cư trú là việc công dân

sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường

trú hoặc tạm trú.(Điều 1); Nơi cư trú của công dân là chổ ở hợp pháp mà

người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú

hoặc tạm trú. Chổ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công

dân sử dụng để cư trú. Chổ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công

dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo

quy định của pháp luật (Điều 12).[31]

Ở nước ta, tự do cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân

được ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đến nay, quyền này

vẫn tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013, trong Bộ Luật dân sự,

Luật cư trú và các luật khác có liên quan.

13

Theo quy định, tại Điều 23 Hiến pháp năm 2013 thì công dân có quyền

tự do cư trú trong nước, việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy

định[32]. Tại Mục 3, các điều 40, 41, 42, 43, 44, và 45 của Bộ luật dân sự

hiện hành có quy định cụ thể về nơi cư trú của mọi người nói chung, của

người chưa thành niên, của người được giám hộ, của vợ chồng, của quân

nhân, của người làm nghề lưu động.

Những quy định chung về quyền cư trú của công dân được ghi trong

các Điều 3, 5 và Điều 9 Luật cư trú hiện hành là:

Điều 3 quy định: Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của

pháp luật cư trú và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có

đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà

nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú.

Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ

quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. [45]

Điều 5 quy định: Nhà nước đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tự do cư trú của công dân phải bị

xử lý nghiêm minh. Nhà nước có chính sách và biện pháp đồng bộ để đảm

bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do cư trú của công dân.[31]

Điều 9 Luật cư trú hiện hành quy định cụ thể quyền của công dân về

cư trú theo đó, công dân có quyền:

Lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy

định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Được cấp, cấp lại, đổi hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến

nơi cư trú. Được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện

quyền cư trú.

Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ

quyền cư trú của mình.

14

Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư

trú theo quy định của pháp luật.[31]

Tuy nhiên Điều 10 Luật cư trú hiện hành cũng quy định các trường hợp

bị hạn chế quyền tự do cư trú, bao gồm:

Người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp

cấm đi khỏi nơi cư trú;

Người bị tòa án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù

nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được

hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế;

Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo

dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.[31]

Điều 11 Luật Cư trú quy định trách nhiệm của công dân về cư trú:

Chấp hành các quy định của pháp luật về cư trú.

Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu về cư trú của mình cho

cơ quan, người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu đã

cung cấp.

Nộp lệ phí đăng ký cư trú.

Xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú khi

cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu.

Báo ngay với cơ quan đã đăng ký cư trú khi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú,

giấy tờ khác liên quan đến cư trú bị mất hoặc bị hư hỏng.[45]

Như vậy, pháp luật về cư trú là một chế định pháp luật thuộc ngành

Luật hành chính là cơ sở để quản lý hành chính nhà nước về cư trú.

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Pháp luật về cư trú là tổng thể các

quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình

quản lý nhà nước về cư trú, bao gồm quyền, trách nhiệm của công dân về cư

15

trú, đăng ký thường trú, tạm trú, tạm vắng, khai báo lưu trú, trách nhiệm

quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.

1.2. Thực hiện pháp luật về cƣ trú

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về cư trú

Nhà nước ban hành pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, xác

định khả năng xử sự của mọi cá nhân, tổ chức. Khả năng đó chỉ trở thành hiện

thực trong đời sống xã hội khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh

các quy phạm pháp luật.

Pháp luật chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện, các quy định của

pháp luật trở thành hành vi và hoạt động của các chủ thể pháp luật. Vì vậy,

xây dựng, ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan

hệ mật thiết với nhau, là tiền đề của nhau, là hai giai đoạn của quá trình mô

hình hóa hành vi thành các quy tắc và từ quy tắc đến hành vi thực tế của các

chủ thể pháp luật.

Như vậy, “Thực hiện pháp luật là hoạt động của các chủ thể pháp luật

làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ

thể pháp luật” .

Hay nói cách khác: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục

đích mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định

pháp luật trong thực tế đời sống.

Từ những vấn đề nêu trên có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về cư trú là

quá trình, mà các chủ thể pháp luật về cư trú bằng hành vi của mình thực

hiện các quy định của pháp luật về cư trú.[40]

Thực hiện pháp luật về cư trú có các đặc điểm sau đây:

- Thực hiện pháp luật về cư trúlà thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhân

dân đối với hoạt động đăng ký cư trú và là trách nhiệm của các cơ quan nhà

nước khi đăng ký quản lý cư trú, khác với thực hiện pháp luật trong các lĩnh

16

vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung và các hình thức

thực hiện.

- Chủ thể thực hiện pháp luật về cư trútrước hết là các cơ quan nhà

nước có thẩm quyền liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trúgồm có:

Chính phủ, Bộ Công an, UBND các cấp, cơ quan đăng ký, quản lý lưu trú...

- Phạm vi thực hiện pháp luật về cư trúdiễn ra giữa các chủ thể mà một

bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ.

- Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật

về cư trúvừa mang tính chất quản lý hành chính vừa mang tính chất tự quản.

- Nội dung thực hiện pháp luật về cư trúkhá rộng lớn, có liên quan trực

tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú.

1.2.2. Hình thức thực hiện pháp luật về cư trú

Trong khoa học luật ở trong nước, cũng như ngoài nước các nhà khoa

học đều quan niệm thực hiện pháp luật bao gồm 4 hình thức: Tuân thủ pháp

luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Việc phân chia

thành các hình thức thực hiện pháp luật là nhằm phân biệt, thấy được đặc

điểm, đặc thù của từng hoạt động, còn trong thực tiễn đôi khi những hành

thức này lại đan xen, “lồng chứa” vào nhau. Trong hình thức này lại có hình

thức khác, ví dụ trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước, chứa luôn cả

tuân thủ và thi hành pháp luật .

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật về cư trú, trên cơ

sở nhận thức chung về các hình thức thực hiện pháp luật về cư trú, có thể xác

định những hình thức thực hiện pháp luật về cư trú bao gồm các hình thức sau:

Tuân thủ pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật về

cư trú trong đó các chủ thể pháp luật về cư trú kiềm chế không tiến hành

những hoạt động mà pháp luật cấm. Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể

thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới

17

dạng không hành động. Như việc nhân dân phải chấp hành các quy định của

pháp luật về sử dụng sổ hộ khẩu, không được dùng sổ hộ khẩu đề thực hiện

các hành vi vi phạm pháp luật như cho thuê, mượn sổ hộ khẩu ...

Thi hành pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành

động tích cực. Như việc mọi người dân phải chấp hành các quy định của pháp

luật về trình tự, thủ tục đăng ký thường trú. Khác với tuân thủ pháp luật, trong

hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý

dưới dạng hành động tích cực, ví dụ cá nhân phải tự giác đến cơ quan nhà

nước để đăng ký nơi cư trú, tạm trú, khai báo khi vắng mặt.

Sử dụng pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật về

cư trú, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực

hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Sử dụng pháp luật trong cư trú đó

là việc cơ quan nhà nước sử dụng các quyền của mình để thực hiện các công

việc được quy định trong luật. Như việc cơ quan công an đăng ký tạm trú cho

công dân đến tạm trú trên địa bàn mình quản lý.

Áp dụng pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà

chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của

pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra

các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ

pháp luật cụ thể. Trong áp dụng pháp luật về cư trú, có thể hiểu đó là việc áp

dụng các quy định của pháp luật để đăng ký thường trú, hoặc không đăng ký

thường trú cho công dân.Áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi

phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc người có có thẩm quyền.

18

1.2.3. Nội dung thực hiện pháp luật về cư trú

Để pháp luật đi vào cuộc sống đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cá nhân

phải thực hiện các hoạt động cụ thể khác nhau, bao gồm:

- Tuyên truyền pháp luật về cư trú: Tuyên truyền, phổ biến giáo dục

pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú nói riêng là nhiệm vụ của các cấp,

các ngành. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và không

ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp

luật về cư trú trong đăng ký thường trú, đăng ký tạm vắng, tạm trú cho cán bộ,

công chức, viên chức và nhân dân là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu; bảo

đảm bảo tạo sự thống nhất quản lý Nhà nước về cư trú ở các cấp chính quyền,

tạo sự chuyển biến rõ nét cả về nhận thức và hành động của các cấp, các

ngành và nhân dân trong thực hiện Luật Cư trú, qua đó đảm bảo giữ gìn trật tự

an ninh có hiệu quả.

Công tác tuyên truyền đã được thực hiện thông qua nhiều hình thức

như tổ chức hội nghị giới thiệu, tập huấn chuyên sâu về Luật Cư trú; mở các

chuyên trang, chuyên mục trên ấn phẩm của ngành, địa phương, in ấn tài liệu

hỏi đáp, hướng dẫn pháp luật về cư trú, cấp phát tờ gấp pháp luật, treo panô,

áp phích….

- Triển khai thực hiện pháp luật về cư trú: Công tác triển khai, thực

hiện pháp luật trong cuộc sống nói chung và triển khai thực hiện pháp luật về

cư trú nói riêng chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan

hành pháp. Đó là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (Con người, tổ

chức bộ máy, cơ sở vật chất để triển khai thực hiện luật cư trú) bảo đảm sẵn

sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành

vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.

Luật cư trú được Quốc hội Nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007, được sửa đổi năm

19

2013. Sau khi Luật cư trú được thông qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành

Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 29/3/2007 về việc triển khai luật cư trú, quy định

cụ thể trách nhiệm của Bộ Công An, các Bộ ngành có liên quan, và Uỷ ban

nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong tổ chức thực hiện

Luật cư trú. Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an, các Bộ,

ngành và địa phương đã triển khai thực hiện đúng chức năng có hiệu quả các

quy định về thực hiện Luật cư trú.

1.2.4. Chủ thể thực hiện pháp luật về cư trú:

- Chính phủ: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy

định tại điều 96, chương VII Hiến Pháp năm 2013. Chính phủ ban hành các

Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật cư trú.

Thủ tướng Chính Phủ ban hành các Chỉ thị về việc triển khai Luật cư trú, quy

định cụ thể trách nhiệm của Bộ Công An, các Bộ ngành có liên quan, và Uỷ

ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong tổ chức thực

hiện Luật cư trú.

- Bộ Công an: Các hoạt động của Bộ Công an được quy định tại điều

33 Luật cư trú gồm:

1. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm

quyền văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.

2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.

3. Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền

bãi bỏ những quy định về quản lý cư trú trái với quy định của Luật này.

4. Ban hành các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về cư trú.

5. Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý cư trú.

6. Thống kê nhà nước về cư trú, tổng kết, nghiên cứu khoa học về quản

lý cư trú, tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú.

20

7. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm

pháp luật về cư trú.

8. Hợp tác quốc tế về quản lý cư trú. [31]

- Uỷ ban nhân dân: Uỷ ban nhân dân các cấp trong thực hiện pháp luật

về cư trú được quy định tại điều 34 gồm các hoạt động cụ thể sau:

1. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú tại địa

phương.

2. Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương về

quản lý cư trú.

3. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú.

4. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm

pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật. [31]

- Cơ quan đăng ký, quản lý lưu trú:Các cơ quan đăng ký, quản lý cư

trú thực hiện các hoạt động được quy định tại điều 35 Luật cư trú gồm:

1. Niêm yết công khai, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia

đình trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú.

2. Bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt làm công tác đăng

ký, quản lý cư trú.

3. Cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú đúng

thời hạn cho công dân theo quy định của Luật này.

4. Quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về đăng ký, quản lý cư trú.

5. Giải quyết kịp thời kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân liên

quan đến cư trú, quản lý cư trú. [31]

- Người trực tiếp làm công tác đăng ký, quản lý cư trú: Người làm

công tác đăng ký, quản lý cư trú được quy định thực hiện các hoạt động tại

Điều 36 Luật cư trú gồm:

21

1. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú phải được đào tạo, bồi

dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao.

2. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú trong khi thực hiện

nhiệm vụ phải có thái độ, lời nói, cử chỉ nghiêm túc, khiêm tốn, hoà nhã; tiếp

nhận, kiểm tra hồ sơ, tài liệu có liên quan, viết biên nhận, hẹn ngày trả kết quả

và giải quyết đúng thời hạn theo quy định của Luật này; trường hợp hồ sơ còn

thiếu hoặc chưa đúng thì hướng dẫn cụ thể, đầy đủ bằng văn bản và chịu trách

nhiệm trước pháp luật về việc hướng dẫn đó[45].

1.2.5. Vai trò của việc thực hiện pháp luật cư trú

Thứ nhất, góp phần đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân

Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền tự do cư trú, đi lại, giao dịch,

quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật

gia đình là quyền con người, quyền công dân được nhà nước công nhận, tôn

trọng và bảo vệ. Luật cư trú ra đời vào ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10,

Quốc hội khóa XI và được sửa đổi bổ sung vào ngày 20/6/2013 tại kỳ họp thứ

5 Quốc hội khóa XIII là đạo luật được xây dựng trên cơ cở quán triệt và cụ

thể hóa quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng về việc xây dựng, hoàn

thiện hệ thống pháp luật về cư trú, phù hợp với chủ trương cải cách hành

chính. Luật cư trú đã tạo bước tiến mới trong công cuộc tiếp tục hoàn thiện hệ

thống pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú của Nhà nước ta nói riêng.

Phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội,đảm bảo quyền tự

do cư trú của con người Việt Nam.

Thứ hai, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp

được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Song theo quan điểm

chung nhất, đó là nhà nước thượng tôn pháp luật : nhà nước được tổ chức,

22

hoạt động theo pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Pháp luật trong

nhà nước pháp quyền được các chủ thể thực hiện một cách tự giác chứ không

ép buộc, bởi pháp luật xuất phát từ con người và về con người, là pháp luật

của dân chủ, bình đẳng và văn minh.

Thực hiện pháp luật về cư trú là khẳng định được quyền tự do cư trú

(lựa chọn địa điểm tại thôn, xóm,phố trong xã phường, thị trấn làm nơi ở và

sinh hoạt lâu dài ). Đây là một quyền cơ bản trong quyền con người được

Hiến pháp ghi nhận trong rất nhiều điều. Quyền tự do cư trú được luật cư trú

quy định theo các điều,là công dân Việt Nam được cơ quan nhà nước cho

đăng ký thường trú tại địa điểm sinh sống ăn ở sinh hoạt lâu dài; đăng ký tạm

trú tại nơi ở mới không phải là nơi đăng ký thường trú. Mở rộng quyền tự do

cư trú chính là quyền tự do đi lại trên lãnh thổ đất nước Việt Nam của người

dân Việt Nam. Không có một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức xã hội,

doanh nghiệp, cá nhân nào được hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do đi lại của

người dân Việt Nam.[1]

Trong nhà nước pháp quyền, việc thượng tôn pháp luật, xem pháp luật

là nguyên tắc tối thượng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh hoặc đang

diễn ra là một điều kiện khách quan toàn diện. Tuy nhiên cần phải có những

cơ chế kiếm chế xu hướng lợi ích “nhóm” tha hóa, lạm dụng quyền lực nhà

nước của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào – công chức và quan chức nhà nước – là

những người đại diện cho nhân dân. Thực hiện pháp luật về cư trú là các hoạt

động của cơ quan nhà nước đảm bảo điều kiện cho người dân Việt Nam thực

hiện quyền tự do cư trú, đi lại, ăn ở, sinh hoạt, học tập, lao động...theo đúng

quy định của pháp luật. Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và

một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng. Bản chất của nhà nước pháp

quyền là nhà nước tôn trọng giá trị nhân quyền và đảm bảo cho các giá trị đó

được thực thi trong thực tế, đánh giá một cách khách quan từ khi luật cư trú đi

23

vào đời sống nhân dân đã góp đảm bảo quyền cư trú, tự do đi lại của người

dân cũng như tháo gỡ những thủ tục hành chính gắn với công tác đăng ký hộ

khẩu thường trú, tạm trú của người dân mà trước đây các văn bản quy phạm

pháp luật còn có nhiêu ràng buộc gây khó khăn cho người dân khi thực hiện

quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên đất nước Việt Nam.

Thứ ba, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà

nước về an ninh, trật tự trong tình hình mới

Tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực có những diễn biến đa

dạng, phức tạp, khó lường, xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố

quốc tế tiếp tục gia tăng. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chủ nghĩa

dân tộc thực dụng, cực đoan, bảo hộ mậu dịch ngày càng lan rộng. Thế giới

đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức lớn về an ninh phi truyền thống, nhất là

tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương

thực, khủng hoảng di cư, biến đổi khí hậu, dịch bệnh... Ở trong nước, các thế

lực thù địch tiếp tục gây sức ép với Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền,

công khai tiếp xúc, hỗ trợ số đối tượng chống đối, gia tăng các hoạt động

thâm nhập, tác động chuyển hóa nội bộ, tuyên truyền chống Việt Nam, kích

động gây rối, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội ở nước ta.

Bên cạnh đó, tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp, tính chất tinh vi, táo

bạo, sử dụng vũ khí nóng gây nhiều vụ án nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm

trọng. Các loại tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu xã hội đen, giết

người, cờ bạc, buôn lậu, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mua bán phụ

nữ, trẻ em, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê,

buôn bán ma túy, bắt cóc tống tiền, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm

sử dụng công nghệ cao, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện còn xảy

ra ở nhiều nơi, hoạt động với tính chất côn đồ, hung hãn gây ra những hậu quả

24

nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe người dân, gây lo

lắng trong nhân dân.

Tại Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội khóa

XIII về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm đã đề ra nhiệm vụ:

Thực hiện tốt công tác phòng ngừa xã hội, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn

các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tạo chuyển biến rõ rệt về an ninh,

trật tự,an toàn xã hội. Do đó, để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được Quốc

hội giao thì cần phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về cư trú,

góp phần tích cực, có hiệu quả trong việc phòng ngừa, đấu tranh chống tội

phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.

Vì vậy, trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia,

bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, Đảng ủy Công an Trung

ương đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/ĐUCA ngày 08/01/2018 về nhiệm vụ

bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng

Công an nhân dân năm 2018 và những năm tiếp theo; theo đó, Nghị quyết đã đặt

ra nhiệm vụ: Tăng cường quản lý cư trú, quản lý dân cư, góp phần tăng cường

hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong tình hình mới.

1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện pháp luật về cƣ trú

1.3.1. Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị là toàn bộ yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội

ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các

chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình

tổ chức, thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị, hoạt động

của hệ thống chính trị. Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu qủa

của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá

nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật. Một đất nước có

môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực

25

hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo

Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang,

lo lắng, dao động…và dẫn đến việc thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy

đây là một trong những yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu

quả, chính xác. Hiện nay Đảng ta luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với việc

tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như

hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên và đã đạt được kết quả tốt đẹp, để các

Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp luật, từ

đó tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân.

Ý thức chính trị cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thực hiện

pháp luật. Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp,

các dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền

lực Nhà nước, thể hiện trực tiếp và tập trung nhất lợi ích giai cấp. Ở nước ta,

hệ thống chính trị được thể hiện trong cương lĩnh, đường lối chính trị của

Đảng cũng như trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước dựa trên nền

tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vai trò chủ đạo

trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện và vì lợi ích của đông đảo các

giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động. Trong hoạt động thực hiện pháp luật về

cư trú, ý thức chính trị thể hiện trước hết ở việc các chủ thể có chức năng áp

dụng pháp luật như Chính phủ, Bộ Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp ... quán

triệt, thấm nhuần nhiệm vụ chính trị của mình, lãnh đạo, chỉ đạo thường

xuyên, sâu sát quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương,

phép nước. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật về cư trú thực

sự đạt được chất lượng, hiệu quả cao, khơi dậy ý thức, trách nhiệm chính trị

của các chủ thể khác trong thực hiện pháp luật.

Quá trình thực hiện pháp luật về cư trú, có thể thấy được ở địa phương

nào công khai, minh bạch được các thủ tục hành chính, cán bộ hướng dẫn tận

26

tình, chu đáo, ở địa phương đó nhân dân sẻ tin tưởng vào sự lãnh đạo của

Đảng, tin tưởng vào sự điều hành của chính quyền, đem lại cuộc sống ấm no,

tự do, hạnh phúc cho nhân dân.[37]

1.3.2. Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế xã hội bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về

kinh tế - xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc

triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực tế xã hội. Nền kinh tế - xã hội

phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực

hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức

pháp luật của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, nền kinh tế - xã hội chậm phát

triển, kém năng động và hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực

hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật. Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự

nhận thức, hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh

mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật.

Quá trình thực hiện pháp luật về cư trú chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của

sự phát triển kinh tế - xã hội. Nước ta là một nước đang phát triển, trình độ

kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau, do đó nó cũng ảnh hưởng nhất

định đến việc thực hiện pháp luật về cư trú ở nước ta. Kinh tế có phát triển,

đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được

đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính

sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của

Nhà nước. Khi đó, nhân dân sẻ tự giác chấp hành các quy định của pháp luật

về cư trú như đang ký thường trú, tạm trú, lưu trú... để được hưởng các quyền

lợi của bản thân và phù hợp với chuẩn mực pháp luật hiện hành.[37]

Khi kinh tế phát triển, đời sống tinh thần, vật chất đươc cải thiện, các

cán bộ, công chức Nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các

phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thõa mãn các nhu cầu thông tin pháp

27

luật đa dạng và cập nhật các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ

dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị

thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy

nghĩ và hành động của họ. Điều đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật

của các chủ thể mang tính tự giác, tích cực. Còn khi kinh tế chậm phát triển,

thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm

bảo, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến

phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp

luật về cư trú.

Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về cư

trú. Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ

lại. Do đó nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật thường mang

tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – phục tùng. Cơ chế kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của

nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả

của hoạt động kinh tế. Từ đó tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và

hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể trong các hoạt động sản xuất, kinh

doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. Nhưng mặt trái của cơ chế thị trường sẽ tạo ra

tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp

luật đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện

pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo đánh giá các quan hệ giữa người với

người. Đây là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường

cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển.

Việc thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công

bằng xã hội là điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp

chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; củng cố ý thức của con

người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của họ, khơi dậy thái độ tích

28

cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội

bằng pháp luật; nhờ đó ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng

lên một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và

chủ động hơn.

1.3.3. Yếu tố văn hóa

Các yếu tố văn hóa - đời sống bao giờ cũng thuộc về một môi trường

văn hóa xã hội nhất định gắn liền với một phạm vi không gian xã hội nhất

định, nơi các cá nhân và cộng đồng người tổ chức các hoạt động sống, sinh

hoạt cùng nhau, tạo dựng, thừa nhận và chia sẻ các giá trị văn hóa, lối sống,

phong tục tập quán, lễ nghi… Với những mặt, những khía cạnh biểu hiện của

mình, các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện

pháp luật, thể hiện trên các điểm sau:

Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định

tới hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân, thể hiện đặc biệt

rõ nét ở khu vực nông thôn. Bên cạnh những ưu điểm rất căn bản, các phong

tục tập quán ở nông thôn cũng đang bộc lộ những nhược điểm nhất định như

việc tổ chức hội hè, đình đám, ma chay, giỗ chạp nhiều lúc nhiều nơi còn

cồng kềnh, tốn kém và lãng phí; những hủ tục lạc hậu, lỗi thời còn tồn tại;

trình độ dân trí còn thấp; thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội phát sinh; tính tích

cực chính trị - xã hội của người dân còn hạn chế… Tại một số làng xã, chính

quyền và người dân đứng ra tổ chức lễ hội ồn ào, kéo dài, ảnh hưởng đến sản

xuất và sinh hoạt, sự chỉ đạo thiếu sâu sát, để cho một số người lợi dụng lễ hội

để hành nghề mê tín dị đoan. Trong khi một số thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội

như nạn cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan, mại dâm…đang xâm nhập vào nông

thôn, thì có những người, thay vì tích cực đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa

lại tiếp tay hoặc trực tiếp tham gia vào những thói xấu đó. Những hiện tượng

trên đây gây khó khăn cho việc thực hiện đúng đắn pháp luật, đồng thời là

29

những hành vi vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, cần phải

có biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng.[35]

Lối sống đô thị và lối sống nông thôn có ảnh hưởng khác nhau tới hoạt

động thực hiện pháp luật. Đặc trưng nổi bật của lối sống đô thị là tích cực

chính trị - xã hội ở đô thị cao. Cư dân đô thị có nhiều điều kiện tiếp xúc với

các thông tin chính trị - xã hội và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội

lớn mà phần nhiều được tổ chức tại các đô thị. Các phong trào có sức huy

động quần chúng ở các đô thị thường diễn ra nhanh hơn so với ở nông thôn.

Đây cũng là điều dễ hiểu vì đô thị thường là nơi tập trung nhiều thành phần xã

hội có trình độ học vấn tương đối cao. Tại các thành phố, phạm vi giao tiếp về

xã hội cơ bản tương đối rộng, cường độ giao tiếp cao và mang tính ẩn danh

trong giao tiếp. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý

thức pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật. Mặt khác, đô thị là nơi

tập trung phần lớn bộ phận không thể thiếu trong dân cư đô thị thường được

gọi dưới cái tên “những phần tử ngoài lề xã hội”. Về phương diện xã hội, đây

là môi trường phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm nhiều tới mức

đáng báo động, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và hoạt động thực

thi, bảo vệ pháp luât.

Lối sống nông thôn là lối sống mang tính cộng đồng rất cao và rất chặt

chẽ, liên kết cả thành viên trong làng xã lại với nhau, mỗi người đều hướng

tới những người khác. Điều đó thể hiện ở mối quan hệ gắn bó, sự quan tâm

giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, lối xóm ở nông

thôn. Người dân nông thôn thường sống đoàn kết gắn bó với quê hương làng

xóm, rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Đây là một biểu hiện rất riêng, rất đặc

thù của lối sống nông thôn Việt.

Tính cộng đồng được coi là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực

hiện pháp luật. Bằng ý thức cộng đồng, nó giúp cho các cán bộ pháp luật dễ

30

dàng hơn trong việc phổ biến, tuyên truyền và thực hiện các chủ trương,

đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đông đảo

người dân. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp cho các cơ quan hành chính,

tư pháp hoàn thành tốt các nhiệm vụ thực thi và bảo vệ pháp luật. Khi truyền

thống làng xã được phát huy, người dân cởi mở, thẳng thắn tham gia ý kiến về

những cái được và cái chưa được trong hoạt động thực hiện pháp luật.

Sự đề cao tính cộng đồng và chủ nghĩa tập thể dễ dẫn cán bộ làm công

tác thực thi và bảo vệ pháp luật đến việc đánh mất ý thức về con người cá

nhân, cái tôi bị triệt tiêu, ý thức cá nhân và hành vi cá nhân cũng bị đặt vào lối

xử thế hòa cả làng. Tình trạng này khiến cho cán bộ cả nước khi phải đối mặt

với những việc làm sai trái, khuyết điểm, thậm chí vi phạm pháp luật, thì họ

thường tìm cách né tránh trách nhiệm cá nhân và muốn đó là trách nhiệm tập

thể. Bên cạnh đó tính cộng đồng thường là cái cớ được cán bộ làm công tác

thực thi và bảo vệ pháp luật dùng để biện minh cho thói quen ỷ lại vào tập thể

và tâm lý an phận thủ thường. Chính điều này làm hạn chế năng lực sáng tạo,

sự chủ động và quyết đoán của họ trong điều hành, giải quyết các công việc

chung từ đó ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật.

Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đăng tải các thông tin

về các sự kiện pháp luật hiện tượng xảy ra trong xã hội, hoạt động thực hiện

pháp luật của các tầng lớp xã hội. và của các cơ quan chức năng, nêu lên những

tấm gương điển hình người tốt việc tốt trong việc thực hiện pháp luật… Những

thông tin đó ở chừng mực khác nhau tác động đến suy nghĩ, nhận thức và hành

vi của mỗi con người, khiến cho họ thực hiện pháp luật tốt hơn.

Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp

luật. Dư luận xã hội gắn liền với ý chí cộng đồng của nhóm xã hội mà nó tác

động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của các cá nhân. Trong một chừng

mực nhất định người ta có thể không sợ sự trừng phạt của pháp luật khi thực

31

hiện những hành vi sai trái, phạm pháp nhưng chúng lại sợ sự phê phán lên án

của dư luận xã hội - một thứ bất thành văn. Trong điều kiện xã hội có nền dân

chủ rộng rãi, dư luận xã hội được coi là phương tiện kiểm tra xã hội đối với ý

thức pháp luật và hành vi pháp luật của mỗi người. Dưới áp lực của dư luận

xã hội, mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ, kiểm định trước khi thực hiện

một hành vi pháp luật nào đó. Những câu hỏi phải được đặt ra về cái đúng, cái

sai, nên hay không nên… Nhờ đó, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật trong

mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước.

1.3.4. Yếu tố pháp luật

Yếu tố pháp luật là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của

xã hội ở từng giai đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ

pháp luật… Bản thân pháp luật được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã

hội là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật. Song chính các mặt, khía cạnh

khác nhau của các chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến

hoạt động thực hiện pháp luật.

Văn hóa pháp luật được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội –

pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, văn hóa pháp luật là hệ

thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, tình

cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật; có ảnh hưởng sâu rộng

tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ chấp hành sử dụng cho tới áp dụng

pháp luật. Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông

qua quá trình thực hiện pháp luật. Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực

hiện pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở,

nền tảng, khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện

pháp luật, có định hướng đúng đắn. Ngược lại, hoạt động thực hiện pháp luật

có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm cho các giá trị chuẩn mực của văn

hóa pháp luật. Các yếu tố truyền thống cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với

32

hoạt động thực hiện pháp luật trong giai đoạn hiện tại. Sự quản lý Nhà nước

bằng pháp luật là nhằm khắc phục tính thiển cận, cục bộ trong quá trình phát

triển, sản xuất, xây dựng làng xã trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Thông qua

pháp luật, Nhà nước nhắc nhở, duy trì mọi nghĩa vụ của người dân và làng xã

đối với Nhà nước và xã hội. Trong quá trình phát triển Nhà nước thừa nhận

làng có lệ riêng của mình sao cho không trái với nguyên tắc quy định của

pháp luật. Hệ thống tự quản chủ yếu dựa vào dư luận xã hội, uy tín của các vị

chức sắc và đặc biệt vai trò của lệ làng. Cần kết hợp cả hai hình thức quản lý

này trong hoạt động thực hiện pháp luật.

Sự tồn tại dai dẳng của pháp luật do các chế độ cũ để lại có ảnh hưởng

nhất định tới hoạt động thực hiện pháp luật. Một số người có quan niệm sai

lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết

họ có tâm lý sợ hãi pháp luật. Tâm lý lo sợ đó khiến cho hành vi của con

người thiếu ổn định do đó khó có thẻ dẫn đến hành vi xử sự tích cực trước

pháp luật và đối với pháp luật.

Tình trạng thờ ơ trước pháp luật hoặc coi thường pháp luật ở một số

người tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác.

Vẫn còn tồn tại tình trạng không tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp

luật. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện pháp luật mà còn

có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng. Ý thức, niềm tin đối với pháp

luật của con người có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực hiện pháp luật. Bởi

lẽ, nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không có niềm tin vững chắc vào tính

công bằng và nghiêm minh của pháp luật…thì việc thực hiện pháp luật không

thể tốt và chặt chẽ được.

Sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện pháp luật

có tác động quan trọng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật. Sự can thiệp

33

của các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và

thực hiện mỗi khi xảy ra vi phạm pháp luật, tranh chấp là cần thiết, đúng đắn.

1.3.5. Yếu tố quốc tế

Công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt

được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, phát triển kinh tế, chính

trị, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện cho nước ta mở của

hội nhập sâu sộng với cộng đồng quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam

đang nổ lực hội nhập sâu rộng vào cộng đồng Quốc tế, do đó sẻ gia tăng

người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam để du lịch, công tác, đầu tư làm ăn

... tại Việt Nam. Để thu hút đầu tư, tạo công ăn, việc làm, phát triển kinh tế -

xã hội, Việt nam phải có các chính sách đổi mới, thuận tiện cho người nước

ngoài đến Việt Nam trong đó có các quy định của pháp luật về cư trú. Khi các

quy định của pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật về cư trú nói

riêng tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, phù hợp với thông lệ, quy

định của luật quốc tế, sẻ tạo được sự tin tưởng của các nước khi hội nhập, đầu

tự, du lịch vào Việt nam.[3]

Để thực hiện tốt các quy định của pháp luật về cứ trú trong quá trình

hội nhập, đòi hỏi chúng ta phải có các điều chỉnh các quy định của pháp luật

về cư trú, có các chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khách du lịch vào Việt

Nam. Cần tăng cương giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý cư trú của

công dân với với các quốc gia trên thế giới để học hỏi các kinh nghiệm của

các nước trên thế giới và áp dụng vào Việt Nam. Ứng dụng mạnh mẻ công

nghệ thông tin, tạo bước đột phá trong quá trình tiếp nhận, đăng ký, quản lý

cư trú đối với công dân và hoàn thiện chất lượng văn bản pháp luật về cư trú

phù hợp với yêu cầu thực tiễn quản lý củng như phù hợp với xu thế hội nhập.

34

Tiểu kết chƣơng 1

Cư trú là một quyền hiến định của công dân, đăng ký thường trú, tạm

trú, khai báo tạm vắng, lưu trú là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của của công

dân. Quản lý nhà nước về cư trú là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước,

người có thẩm quyền nhằm bảo đảm an ninh cho công dân, nhà nước, xã hội,

được pháp luật quy định. Pháp luật về cư trú là một chế định thuộc ngành

Luật Hành chính, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về cư trú. Pháp

luật về cư trú chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện. Thực hiện pháp

luật về cư trú thực chất là biến các quy định của pháp luật về cư trú thành các

hoạt động của các chủ thể pháp luật về cư trú, bao gồm các hình thức: tuân

thủ, thi hành và áp dụng. Thực hiện pháp luật về cư trú chịu ảnh hưởng của

nhiều yếu tố khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, pháp luật.

35

Chƣơng 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ

TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận

Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng

Quận Ngô Quyền nằm ở vị trí trung tâm thành phố Hải Phòng với diện

tích 11,1 km2, có 161.086 nhân khẩu, mật độ dân số là 14,512 người/km2

được chia làm 13 phường với 328 tổ dân phố. Phía đông giáp với bờ sông

Cấm, phía nam giáp với Quận Hải An, phía tây giáp với quận Lê Chân và

phía bắc giáp với Quận Hồng Bàng. Là một địa bàn tập trung nhiều cơ quan,

đơn vị doanh nghiệp lớn của trung ương và địa phương; có hệ thống Cảng,

bến tàu, bến xe, có các trung tâm thương mại Big C, Thùy Dương Plaza,

ngoài ra trên địa bàn quận còn có làng văn hóa Sunflower chuyên cho các

chuyên gia người nước ngoài đến thuê ở lưu trú. .... hệ thống chợ, các trường

đại học ( đại học Hằng Hải, đại học Y dược Hải Phòng). Đặc biệt là có khu

quần thể văn hóa thể thao Lạch Tray ( Cung thanh niên, cung thiếu nhi; nhà

văn hóa hưu nghị Việt Tiệp; sân vặn động Lạch Tray, công viên An Biên...)

Đây là nơi thường xuyên diễn ra các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa thể

thao của cả nước,thành phố và của quận.Chính nhờ vị trí địa lý là đầu mối của

giao thông đường thủy, đường bộ, đường hàng không, hoạt động kinh tế xã

hội của quận Ngô Quyền trong nhiều năm qua phát triển mạnh mẽ theo định

hướng thương mại dịch vụ cảng biển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa các

ngành nghề khác trên địa bàn. Sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng trên

địa quận cũng như kinh tế đã thu hút lực lượng lao động lớn thuộc các khu

vực trong, ngoài thành phố Hải Phòng về lao động thuộc các khu vực nông

36

thôn của các tỉnh, thành phố khác đến làm việc theo nhu cầu của các doanh

nghiệp đóng trên địa bàn quận Ngô Quyền. Điều này đã dẫn đến tình trạng

nhập cư lớn, biến động liên tục, công tác thực hiện pháp luật về cư trú của

công an quận Ngô Quyền gặp nhiều khó khăn.

2.1.2. Tình hình công dân cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải

Phòng

Quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng được chia làm 13 phường trong đó:

Phường Cầu Đất có: 8164 số nhân khẩu.

Phường Lương Khánh Thiện có: 7334 số nhân khẩu.

Phường Lê Lợi có: 10513 số nhân khẩu.

Phường Lạch Tray có: 9815 số nhân khẩu.

Phường Máy Tơ có: 11050 số nhân khẩu.

Phường Đổng Quốc Bình có: 8730 số nhân khẩu.

Phường Đằng Giang có: 16640 số nhân khẩu.

Phường Đông Khê có: 14138 số nhân khẩu.

Phường Lạc Viên có: 11216 số nhân khẩu.

Phường Cầu Tre có: 16427 số nhân khẩu.

Phường Vạn Mỹ có: 17522 số nhân khẩu.

Phường Máy Chai có: 19831 số nhân khẩu.

Phường Gia Viên có: 10128 số nhân khẩu.

Căn cứ vào số liệu thu thập nêu trên thì dân số của quận Ngô Quyền tập

trung đông tại các phường Đằng Giang, Đông Khê, Máy Chai, Cầu Tre, Vạn

Mỹ mức độ tập trung dân số là do điều kiện hoàn cảnh tự nhiên các phường

trên có diện tích lớn khi hình thành đô thị quận Ngô Quyền trong thời kỳ mới

thì các phường trên cũng có cơ sở hạ tầng tốt, tập trung nhiều cơ quan doanh

nghiệp nên thu hút được dân cư đến sinh sống làm việc và lao động. Tuy

nhiên trong quá trình khảo sát, đánh giá các số liệu nêu trên cũng chưa thể

37

hiện được bức tranh toàn cảnh về sự phân bố của nhân dân trên 13 phường

của quận Ngô Quyền.

Một là: số người lao động tự do ngoại tỉnh đến lao động, tìm việc làm

thuê nhà trọ, nhà nghỉ tại địa bàn phường Đằng Giang có lúc lên đến 4000 –

5000 người, số người trên còn ở trong các khu xây dựng chưa hoàn thiện trên

địa bàn. Một thời gian sau công việc lao động phổ thông đã hết không tìm

được việc mới số người lao động trên đã rời khỏi địa bàn mà chưa kịp làm thủ

tục tạm trú.

Hai là: số người đăng ký thường trú tại một địa chỉ nhưng lại thường

xuyên vắng mặt đi làm ăn nơi xa, cá biệt có người còn bán cả nhà, tập trung

chủ yếu ở các phường Cầu Đất, Lương Khánh Thiện, Lê Lợi, Lạch Tray.

Ba là: số người được các cơ sở kinh doanh thuê đến lao động theo diện

lao động tự do nhưng chỉ làm ban ngày, không ngủ đêm, số lượng người này

cũng rất lớn, tập trung chủ yếu ở khu vực phường Máy Chai, Máy Tơ

Thực trạng phân bố dân cư theo các nhu cầu sử dụng lao động của xã

hội có người khai báo tạm trú, lưu trú nhưng có nguời không khai báo.

Trường hợp đáp ứng được các yêu cầu thực hiện pháp luật về cư trú như

người ngủ qua đêm ở một địa chỉ cụ thể thì dễ dàng khai báo lưu trú, nhưng

có những trường hợp không đáp ứng được khai báo lưu trú như người lao

động đến làm việc nhưng không ngủ qua đêm hoặc người đi khỏi địa phương,

bán nhà nhưng không làm thủ tục chuyển đăng ký hộ khẩu đến nơi mới. Tất

cả những vấn đề nêu trên là những thách thức, khó khăn đối với công tác thực

hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền.[17]

38

2.1.3. Tình hình kinh tế xã hội, TTATXH tại quận Ngô Quyền thành phố

Hải Phòng

*Lĩnh vực kinh tế xã hội

Quận Ngô Quyền là nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng

nối Hải Phòng với các địa phương khác trong cả nước, giữa Việt Nam với các

nước trên thế giới bằng hệ thống giao thông đường biển, đường sông có năng

lực xếp dỡ trên 10 triệu tấn hàng hóa/năm, cùng hệ thống nhà ga sân bay, nhà

ga đường sắt và quốc lộ 5 đi qua. Trong đó hoạt động của hệ thống cảng biển

là yếu tố quyết định sự hình thành cơ cấu kinh tế của thành phố Hải Phòng nói

chung và quận Ngô Quyền nói riêng.

Quận Ngô Quyền có vị trí quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế

- xã hội, quốc phòng an ninh của Hải Phòng. Nhiều dự án lớn được triển khai

tại quận như dự án xây dựng khu đô thị mới ngã 5 sân bay Cát Bi, xây dựng

khu đô thị TD Lakeside, xây dựng Công viên An Biên ( đã hoàn thành ).

Chín tháng đầu năm 2019, thu ngân sách trên địa bàn quận đạt hơn 887

tỷ đồng bằng 76,84% dự toán và 126,67% so với cùng kỳ. So với năm 2018,

quận phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng trên 4,5% , tổng mức bán lẻ

hàng hóa tăng trên 14%, thu ngân sách nhà nước tăng trên 13%, xây mới và

sửa chữa 40 ngôi nhà chính sách, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,31%, giải quyết

việc làm cho trên 6.000 lượt người...

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại một số khu vực trên địa bàn quận, cụ thể

hàng loạt cơ sở công nghiệp trên đường Lạch Tray, An Đà, Điện Biên Phủ…

đang dần di chuyển ra ngoài đô thị, thay vào đó là các tổ hợp thương mại, văn

phòng giao dịch. Điển hình là hai doanh nghiệp có thâm niên là Công ty Cổ

phần Sơn Hải Phòng và Công ty Nhựa Thiếu niên tiền phong với mặt bằng

sản xuất đã dần thay bằng các tòa nhà phức hợp văn phòng, căn hộ cao cấp và

trung tâm thương mại. Tuyến đường Lạch Tray đến nút giao thông Quán Mau

39

được kết nối và trở thành trung tâm văn hóa, thể thao, du lịch, dịch vụ vui

chơi giải trí của thành phố.

Ngoài ra, các trung tâm thương mại – dịch vụ, văn phòng cao cấp của

các đơn vị lớn đầu tư như: Tập đoàn Vingroup (trên đường Lê Thánh Tông);

Trung tâm Thương mại Nguyễn Kim (trên Đường Lương Khánh Thiện); các

tòa nhà văn phòng và các trung tâm dịch vụ sau cảng dọc tuyến đường Lê

Thánh Tông, hệ thống các ngân hàng…cũng đang được gấp rút xây dựng. Đó

là những minh chứng rõ nét cho thấy Ngô Quyền trở thành trung tâm dịch vụ,

thương mại, tài chính mang tính đồng bộ, thể hiện sự sáng suốt của lãnh đạo

quận trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quy hoạch đô thị

mang tính chiến lược, một điểm nổi bật khác biệt của Quận Ngô Quyền với

các địa phương khác.

Thương mại – dịch vụ trên địa bàn tăng trưởng khá, chuyển dịch đúng

hướng và phù hợp với tiềm năng, lợi thế của quận. Hạ tầng kỹ thuật các ngành

thương mại – dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại bắt đầu được hình thành,

góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một số ngành dịch vụ thế mạnh duy trì

tốc độ phát triển như: ngân hàng, cho thuê văn phòng, khách sạn, nhà hàng.

Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Quận Ngô Quyền tập trung cao

cho phát triển đô thị gắn với dịch vụ thương mại theo hướng đô thị xanh, văn

minh, hiện đại. Trong đó điển hình là khu đô thị mới Ngã năm – Sân bay Cát

Bi cùng với đường Lê Hồng Phong trở thành điểm nhấn và một cửa ô của

thành phố. Hiện Quận Ngô Quyền tiếp tục triển khai khu đô thị mới văn minh

hiện đại khác, đó là khu đô thị đường Đông Khê 2 do UBND quận là chủ đầu

tư. Tính riêng trong giai đoạn 1, khu đô thị này có quy mô hơn 20ha, với định

hướng phát triển đồng bộ, hiện đại hóa, bền vững theo tiêu chí đô thị loại 1

cấp quốc gia, hài hòa với quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng

đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt. Tuyến đường

40

Đông Khê 2 cũng được xây dựng trở thành kiểu mẫu về kiến trúc hạ tầng,

kiến trúc cảnh quan thu hút các dịch vụ, thương mại.

Việc các tập đoàn lớn trong và ngoài nước chọn Hải Phòng là nơi đầu

tư xây dựng đã tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển các khu công

nghiệp lớn như KCN Numora, Vship, Tràng Duệ... tính đến quý I năm 2019,

Hải Phòng có 11 khu công nghiệp. Theo quy hoạch phát triển cụm công

nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025, Hải Phòng sẽ có 12 cụm

công nghiệp mới vào năm 2020. Trong tương lai, nếu toàn bộ khu kinh tế,

khu, cụm công nghiệp được “ lấp đầy” sẽ thu hút khoảng 250.000 lao động;

trong đó có các chuyên gia nước ngoài cũng như một số lượng không nhỏ

công nhân ngoại thành, ngoại tỉnh. Điều này đưa ra nhiều vấn đề trong việc

thực hiện pháp luật về cư trú.

Bên cạnh phát triển kinh tế, việc phát triển văn hóa, con người, bảo

đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng đời sống nhân

dân luôn được được đặt lên hàng đầu. Chú trọng đẩy mạnh cải cách hành

chính, vận hành và khai thác hiệu quả Chính quyền điện tử quận Ngô Quyền,

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện

môi trường đầu tư kinh doanh, tích cực phòng, chống tham nhũng, giữ vững

an ninh chính trị, TTATXH.[18]

Quận Ngô Quyền là trung tâm văn hóa thể thao của thành phố, do vậy

nơi đây thường xuyên diễn ra các hoạt động chính trị, văn hóa thể thao quan

trọng của đất nước và thành phố; cũng như tổ chức tốt các hoạt động thông

tin, tuyên truyền, cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ, thể thao kỷ niệm các

ngày Lễ, Tết và phục vụ nhiệm vụ chính trị; kỷ niệm 64 năm ngày giải phóng

Hải Phòng, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ 2019.

41

* Tình hình ANCT và TTATXH trên địa bàn quận

- Tình hình ANCT tiếp tục được giữ vững. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các

đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thành phố đến thăm và làm việc cũng như các

hoạt động trong các ngày lễ, Tết, các sự kiện.

- Tình hình trật tự an toàn xã hội:

Hoạt động của tội phạm hình sự được kiềm chế, số vụ phạm pháp hình

sự giảm, tỷ lệ điều tra khám phá cao, các bang nhóm tội phạm hoạt động theo

kiểu xã hội đen chưa phát hiện được, không xảy ra tội phạm giết người, cướp

tài sản. Tuy nhiên, hoạt động của tội phạm hình sự trên địa bàn quận vẫn còn

những vấn đề sau : một số nhóm thanh niên sử dụng vũ khí thô sơ để giải

quyết mâu thuẫn, cố ý gây thương tích, đòi nợ thuê…tội phạm cướp giật, trộm

cắp tài sản vẫn còn diễn biến phức tạp. Đến hết tháng 11/2019, phạm pháp

hình sự xảy ra 107 vụ, giảm 5 vụ = 5,47% so với cùng kỳ năm 2018. Điều tra

khám phá 97 vụ, đạt tỷ lệ 90,6%, bắt 116 đối tượng.

Tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn cơ bản không phát

sinh mới các tụ điểm và điểm phức tạp mới về tội phạm ma túy. Tuy nhiên

trên địa bàn quận có một số sàn nhảy, khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ còn tiềm

ẩn những biểu hiện hoạt động của tội phạm và tệ nạn ma túy, đáng chú ý là số

đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp vẫn có chiều hướng gia tăng.

Về tội phạm kinh tế : năm 2019, công an quận đã phát hiện, bắt giữ 12

vụ vi phạm về gian lận thương mại, buôn bán hàng cấm và các hang hóa khác,

trị giá gần 1 tỷ đồng gồm : bóng đèn, đồ gia dụng, loa đài, xe máy cũ, xe ô

tô…Ngoài ra, do chính sách thuế thông thoáng của nhà nước nhưng việc kiểm

tra, quản lý, giám sát thực hiện chưa tốt dẫn đến tình trạng một số cá nhân, tổ

chức thành lập “doanh nghiệp ma” để mua bán hóa đơn bất chính đã ảnh

hưởng lớn tới công tác quản lý kinh tế.

- Công tác thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu tố :

42

Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của

công an quận Ngô Quyền có nhiều chuyển biến tích cực. Qua công tác thanh

tra, kiểm tra đã góp phần ổn định nội bộ, củng cố xây dựng lực lượng, phát

huy nhân tố tích cực, chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện và xử lý sai

phạm. Kiến nghị đề xuất các biện pháp khắc phục , chấn chỉnh quản lý, tăng

cường hiệu lực, hiệu quả các mặt công tác công an.

2.2. Thực trạng việc thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền –

Thành phố Hải Phòng

2.2.1. Việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về thực

hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng

Việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về thực hiện

pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng trước hết

luôn được thực hiện dựa trên Hiến pháp và pháp luật của nhà nước, cũng như

các điều luật trong luật cư trú. Trong thực tế ,những năm qua lực lượng công

an quận Ngô Quyền đã tham mưu cho UBND quận những văn bản quy phạm

pháp luật, đó là : những nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Chính phủ, Đảng

ủy Công an TW về công tác tăng cường quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện

pháp luật về cư trú như sau:

- Ngày 25/10/2013, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương

Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về chiến lược bảo vệ Tổ

quốc trong tình hình mới; trong đó, nêu lên nhiệm vụ, giải pháp: Chủ động

nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể

xảy ra. Phát hiện kịp thời các âm mưu, hành động của các thế lực thù địch để

chủ động có phương án ứng phó, ngăn chặn, đẩy lùi từ xa và tích cực chuẩn bị

lực lượng bảo đảm giành thắng lợi khi tình huống xấu xảy ra, không để bị

động bất ngờ;

43

- Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy

mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển

bền vững và hội nhập quốc tế đề ra giải pháp: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ

thông tin trong quốc phòng, an ninh;

- Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung

ương Đảng khóa XII đề ra mục tiêu đến năm 2030 toàn bộ dân số Việt Nam

được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên

quy mô toàn quốc;

- Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình

mới đề ra nhiệm vụ: Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự,

nhất là quản lý xuất, nhập cảnh, quản lý cư trú…;

- Điều 23 Hiến Pháp năm 2013 quy định: Công dân có quyền tự do đi

lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước.

Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định;

- Nghị quyết số 112/NQ-CP ngày 30/10/2017 của Chính phủ về phương

án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân

cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công an xác định đơn

giản hóa thủ tục hành chính liên quan tới công tác đăng ký, quản lý cư trú;

- Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 08/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hànhchínhgiấy tờ công dân

và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 – 2020 (đã được

sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 524/QĐ-TTg ngày 19/4/2017 của Thủ

tướng Chính phủ);

- Nghị quyết số 10-NQ/ĐUCA ngày 08/01/2018 của Đảng ủy Công an

Trung ương về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã

hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân năm 2018 và những năm tiếp theo

44

đề ra nhiệm vụ, giải pháp: Tăng cường quản lý cư trú, quản lý dân cư góp

phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự.

- Ngày 11/10/2013, UBND quận Ngô Quyền đã ban hành kế hoạch số

986/KH-UBND về việc triển khai thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của luật cư trú. Với mục đích tổ chức việc phối kết hợp giữa các ban ngành

đoàn thể trên toàn quận trong công tác tuyên truyền pháp luật về cư trú đến

các tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Tổ

chức tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng cán bộ cơ sở ( tổ trưởng

tổ dân phố, bảo vệ dân phố, dân phòng, thanh niên ) cũng như làm tốt công

tác tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng công an trực tiếp làm công tác thực hiện

pháp luật về cư trú ( cán bộ các đội : An ninh nhân dân, quản lý hành chính;

lực lượng cảnh sát khu vực tại 13 phường ).

- Ngày 5/12/2013, UBND quận Ngô Quyền ban hành công văn số

451/UBND về việc xây dựng kế hoạch triển khai thi hành luật sửa đổi bổ

sung một số điều của luật cư trú, giao cho công an quận Ngô Quyền triển

khai thực hiện.

Trên cơ sở đó,ngày 20/12/2013 Công an quận Ngô Quyền đã ban hành

công văn số 1021/CANQ về việc triển khai thi hành luật sửa đổi bổ sung một

số điều của luật cư trú, chỉ đạo Công an 13 phường thực hiện cho đến nay.

Tóm lại, các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú trên địa bàn quận

Ngô Quyền đã quy định cụ thể trình tự thủ tục, thẩm quyền cũng như cách

thức tiến hành đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú, thông báo lưu

trú, khai báo tạm vắng. Đây là cơ sở pháp lý để nâng cao vai trò trách nhiệm

của lực lượng Công an quận Ngô Quyền trong việc phối kết hợp với các ban

ngành đoàn thể của quận, phường về việc tạo mọi điều kiện thuận lợi cho

nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong đăng ký hộ khẩu

45

thường trú, đăng ký tạm trú, thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng trên địa bàn

13 phường.[19]

Các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quân công an cấp trên, của

UBND thành phố Hải Phòng cũng như các kế hoạch, công văn của UBND

quận Ngô Quyền, Công an quận Ngô Quyền đã thực sự quy định cụ thể các

trình tự, thủ tục thẩm quyền cũng như cách thức tiến hành đăng ký hộ khẩu

thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo tạm vắng và thông báo lưu trú. Đồng

thời các văn bản quy phạm trên cũng là cơ sở để cán bộ làm công tác thực

hiện pháp luật về cư trú trong lực lượng công an cũng như các ban ngành

đoàn thể, nâng cao vai trò trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật về cư trú

tại địa phương, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân khi thực hiện các

quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến cư trú.

2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về cư trú tại địa bàn quận Ngô Quyền –

thành phố Hải Phòng:

Tổ chức thực hiện luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú:

Kế hoạch số 986/KH-UBND ngày 11/10/2013 của UBND quận Ngô

Quyền về triển khai thực hiệnluật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú,

Chủ tịch UBND quận Ngô Quyền đã phân công nhiệm vụ cụ thể cũng như

trách nhiệm của các phòng nghiệp vụ đối với việc thi hành luật cư trú đảm

bảo kịp thời, thống nhất, hiệu quả đáp ứng nhu cầu thực tiễn của nhân dân. Từ

khi thực hiện kế hoạch cho đến nay, các phòng nghiệp vụ đã phối kết hợp với

công an quận Ngô Quyền nói chung, UBND 13 phường thuộc quận, lực lượng

cảnh sát khu vực tại 13 phường thường xuyên tuyên truyền pháp luật đối với

nhân dân, kịp thời tháo gỡ những khó khăn về thủ tục hành chính trong công

tác thực hiện pháp luật về cư trú, đảm bảo tiến độ hiệu quả trong việc triển

khai thực hiện thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú.[20]

46

Một là: hoạt động phổ biến pháp luật về cư trú được UBND quận Ngô

Quyền quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Công tác tuyên truyền, phổ biến

pháp luật được gắn với các phong trào khác tại địa phương sao cho pháp luật

về cư trú đi vào đời sống nhân dân để người dân nắm, hiểu được quyền và lợi

ích hợp pháp của mình trong quá trình thực hiện pháp luật về cư trú. Tại trụ

sở của UBND, công an 13 phường, phòng tiếp dân đều được niêm yết công

khai các nội dung liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú (Các biểu

mẫu khai báo, các trình tự thủ tục hành chính, lệ phí, thời gian,...). Cán bộ

trực tiếp dân phải niềm nở, hướng dẫn cho nhân dân tìm hiểu và thực hiện

đúng các quy định của pháp luật về cư trú.

Hai là: công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, đăng ký hộ khẩu

thường trú, tạm trú được lãnh đạo UBND quận Ngô Quyền chỉ đạo Công an

quận Ngô Quyền xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai các buổi tập huấn

pháp luật rộng rãi cho nhiều đối tượng học tập (lực lượng công an quận nói

chung, lực lượng làm công tác thực hiện pháp luật về cư trú, cảnh sát khu vực,

cán bộ cơ sở, nhân dân có nhu cầu).

Ba là: phòng tư pháp, UBND quận rà soát, xử lý các văn bản trái với

quy định của luật sửa đổi bổ sung của luật cư trú, các quy trình công tác liên

quân đến việc thực hiện pháp luật về cư trú như công tác đăng ký hộ khẩu

thường trú, tạm trú, lưu trú, thủ tục khai báo đối với người nước ngoài.

Bốn là: Đảm bảo các cơ sở vật chất phục vụ cho việc thực hiện pháp

luật về cư trú tại địa phương (phòng tiếp dân tại công an quận, UBND, công

an 13 phường luôn luôn sạch sẽ, thoáng mát, đảm bảo đủ ánh sáng, niêm yết

công khai các thủ tục hành chính theo hướng chính xác, công khai, minh

bạch). Tăng cường công tác giải quyết các kiến nghị hoặc tố cáo của nhân dân

liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú tại địa phương theo hướng

tháo gỡ các khó khăn trong thủ tục hành chính cho người dân khi thực hiện

47

pháp luật về cư trú. Kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ làm công tác thực

hiện pháp luật về cư trú có cử chỉ, lời nói, thái độ thiếu nghiêm túc hoặc sách

nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú

tại địa phương.

Cải cách hành chính trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú:

Đối với UBND 13 phường bố trí cán bộ tư pháp hộ tịch trực tiếp dân tại

bộ phận một cửa ở UBND phường các cán bộ tư pháp hộ tịch trên thực hiện

các nhiệm vụ theo luật hộ tịch năm 2014 đăng ký khai sinh, kết hôn nhận cha,

mẹ, con: giám hộ. Căn cứ vào quyết định 1299/QĐ-TTg ngày 04/8/2014 của

thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án thực hiện liên thông các TTHC;

đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ

em dưới 6 tuổi. Công tác thực hiện tư pháp liên thông trên đã đảm bảo được

những quyền cơ bản của trẻ em; quyền được khai sinh, quyền được cư trú,

quyền được chăm sóc y tế, trong đó mỗi trẻ em khi sinh ra đều bắt đầu bằng

thủ tục đăng ký khai sinh. Trên cở sở đăng ký giấy khai sinh sẽ được thực

hiện hai thủ tục tiếp theo, thủ tục đăng ký thường trú và thủ tục cấp thẻ bảo

hiểm y tế với việc thực hiện đề án trên đã góp phần giảm được thời gian đi lại

hồ sơ giấy tờ cho công dân trong việc giải quyết ba TTHC liên quan đến ba

lĩnh vực khác nhau.

Lãnh đạo công an quận Ngô Quyền phân công cán bộ làm công tác

chuyên trách tiếp dân tại bộ phận một cửa tiếp dân của công an quận. Cán bộ

tiếp dân tiếp nhận các loại hồ sơ yêu cầu của nhân dân về việc thực hiện luật

cư trú số cán bộ trên có nhiệm vụ: kiểm duyệt hồ sơ đối với việc đăng ký hộ

khẩu thường trú chuyển đến; chuyển đăng ký hộ khẩu thường trú đi nơi khác;

Tách hộ thành lập hộ mới trả lời xác minh nhân khẩu hộ khẩu tất các hồ sơ

thực hiện pháp luật về cư trú khi đầy đủ thủ tục thì trình lãnh đạo công an

quận ký duyệt sau đó chuyển trả lại cho người dân. Ngoài ra còn đội ngũ cán

48

bộ làm công tác tiếp nhận thông báo lưu trú; đội ngũ cán bộ làm công tác lưu

trữ hồ sơ hộ khẩu, đội ngũ cán bộ tham mưu thông kê đồng thời thực hiện

việc kiểm tra các cơ sở lưu trú; khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà cho người

nước ngoài thuê; khu vực nhà hàng, khu vui chơi giải trí...

Tổ chức tuyền truyền, giáo dục pháp luật về cư trú:

Trên cơ sở luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú và các văn

bản hướng dẫn thi hành các chương trình, kế hoạch chỉ đạo của cấp trên,

UBND quận Ngô Quyền luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp

luật về cư trú là một phần của chương trình hành động pháp luật trong nhiệm

vụ thực thi pháp luật của năm. Tuyên truyền pháp luật về cư trú là công tác

thường xuyên, liên tục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ công

chức, viên chức, lực lượng vũ trang, nhân dân trong toàn quận góp phần đưa

pháp luật vào đời sống nhân dân, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp

luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong việc thực thi

pháp luật góp phần nâng cao đời sống kinh tế xã hội, giữ vững tình hình an

ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Việc phân công trách nhiệm trong phổ

biến pháp luật về cư trú được chủ tịch UBND quận giao cho phòng tư pháp

chủ trì, phối kết hợp với công an quận Ngô Quyền, UBND, công an 13

phường triển khai, tuyên truyền pháp luật với nội dung và hình thức phù hợp

găn với phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ ở từng phường. Hằng quý phải tổ

chức những hội nghị phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật về cư trú nói

riêng tại các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, chợ, những tổ dân phố là

điểm nóng về tình hình ANCT và TTXH.[15]

Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm:

Công tác kiểm tra giám sát thanh tra và xử lý vi phạm là một nhân tố

quan trọng đảm bảo cho cương lĩnh chính trị, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị quy

định của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước được thực hiện nghiêm

49

túc, có hiệu quả. Đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

Đảng: giữ gìn sự trong sạch về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội

ngũ cán bộ Đảng viên, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái tiêu

cực,củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đảng ta đã

khẳng định: lãnh đạo phải có kiểm tra giám sát: lãnh đạo mà không có kiểm

tra, giám sát thì coi như không lãnh đạo. Thực hiện quan điểm này trong

nhiều năm qua lãnh đạo chỉ huy công an quận Ngô Quyền luôn tập trung vào

công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện nhiệm vụ đối với từng cán bộ chiến

sỹ trong công an Quận. Đặc biệt tập trung vào khu vực tiếp dân một cửa vì

nơi đây là nơi tiếp dân liên quan đến các việc nhậy cảm dễ dẫn đến tiêu cực

đối với đội ngũ cán bộ, làm công tác tiếp dân, cụ thể: Công an quận Ngô

Quyền thành lập một tổ kiểm tra điều lệnh không chuyên trách ( tổ này hàng

tuần được lãnh đạo chỉ huy công an quận đội trưởng, đội phó trực làm công

tác trên) tổ điều lệnh bán chuyên trách có nhiệm vụ chức năng kiểm tra các

cán bộ tại công an quận nói chung cũng như khu vực một cửa tiếp dân nói

riêng, kiểm tra về việc chấp hành giờ giấc làm việc, việc cán bộ đi làm muộn,

về sớm, việc chấp hành điểu lệnh về trang phục, tư thế tác phong, giao tiếp

trong công tác tiếp dân, giám sát chặt chẽ quy trình đăng ký thường trú tạm

trú, lưu trú tại bộ phận tiếp dân một cửa. Khi phát hiện các sai phạm của các

cán bộ chiến sỹ của công an quận nói chung, bộ phận tiếp dân một cửa nói

riêng đều được tổ điều lệnh bán chuyên trách lập biên bản, trong biên bản vi

phạm đều ghi rõ thời gian địa điểm nội dung vi phạm của các cán bộ chiến sỹ

sau đó báo cáo lãnh đạo chỉ huy Công an Quận. Ngoài việc kiểm tra giám sát

tại công an quận, tổ điều lệnh bất ngờ, đột xuất kiểm tra công an 13 phường

với những nội dung đã nêu trên. Cuối tuần đội tổ chức chính trị hậu cần sẽ

tập hợp biên bản vi phạm của cán bộ chiến sỹ tìm ra những lỗi chung và

những vi phạm cá biệt từ đó đưa ra các đề xuất cho công tác tham mưu, báo

50

cáo cho lãnh đạo chỉ huy công an quận để thi hành việc đôn đốc, nhắc nhở

kiểm điểm thậm chí đề xuất biện pháp kỷ luật đối với các đồng chí vi phạm

nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Tăng cường công tác kiểm tra giám

sát thanh tra và xử lý vi phạm chính là nâng cao hiệu quả về công tác phòng

chống tham nhũng lãng phí đồng thời tạo sự đồng thuận của các cán bộ chiến sỹ,

trong toàn công an quận. Việc nghiêm túc chấp hành điều lệnh CAND, quy chế

làm việc, quy trình làm việc đã phát huy tính dân chủ, khơi dậy ý thức tự giác về

việc chấp hành kỷ cương lao động, thúc đẩy ý thức phê và tự phê của mỗi Đảng

viên trong lực lượng CAND, cũng như tính thẳng thắn trung thực,tự giác đối với

công việc của cán bộ chiến sỹ công an quận Ngô Quyền.

2.2.3. Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, kiểm tra lưu trú tại

công an quận Ngô Quyền – TP Hải Phòng.

2.2.3.1. Số liệu đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, thông báo lưu trú:

Theo số liệu của cơ quan công an quận Ngô Quyền cung cấp Công tác

đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, lưu trú trong những năm từ năm 2013

đến hết năm 2018 đã đạt được những kết quả như sau:

51

Bảng 2.1. Đăng ký thƣờng trú giai đoạn 2013 – 2018

Năm Đăng ký thƣờng trú

Số hộ chuyển đi Số hộ chuyển đến Đăng ký sinh Bổ sung tài liệu Số nhân khẩu chết Đính chính nhân khẩu Cấp lại số hộ khẩu Trao đổi hồ sơ hộ khẩu Số nhân khẩu chuyển đi Số nhân khẩu chuyển đến

2013 468 1782 89 508 1551 1351 1530 345 857 2350

2014 513 1905 104 476 1433 1257 1650 415 759 2547

2015 495 1881 67 671 2057 1457 2015 477 807 2415

2016 571 2098 71 715 2049 1197 1867 603 797 3087

2017 591 2346 95 665 2025 1536 1773 582 645 3255

2018 637 2508 93 805 2387 1673 1986 721 879 3417

Bảng 2.2. Đăng ký tạm trú và Thông báo lƣu trú giai đoạn 2013 – 2018

Số hộ Năm Đăng ký tạm trú Thông báo lƣu trú

2013 18556 325

2014 17946 340

2015 18412 370

2016 16533 415

2017 18750 535

2018 19105 519

52

2.2.3.2. Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo lưu

trú của người nước ngoài, khai báo tạm vắng tại quận Ngô Quyền – Hải

Phòng

Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú

1. Đối với cán bộ đăng ký:

a. Trường hợp đăng ký tạm trú, điều chỉnh những thay đổi trong sổ tạm

trú trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cán bộ đăng ký

phải đề xuất văn bản và chuyển toàn bộ hồ sơ lên Trưởng công an phường

xem xét, quyết định;

b. Trường hợp cấp đổi, cấp lại sổ tạm trú, gia hạn tạm trú thì trong thời hạn

01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cán bộ đăng ký phải đề xuất văn bản

và chuyển toàn bộ hồ sơ lên Trưởng công an phường xem xét, quyết định;

c. Trường hợp thay đổi nơi tạm trú ngoài phạm vi phường thì cán bộ

đăng ký yêu cầu công dân xuất trình sổ tạm trú tại nơi tạm trú trước đây (nếu

có) để ghi thời gian đã tạm trú liên tục tại thành phố.

2. Đối với Trưởng công an phường:

Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ và đề xuất

của cán bộ đăng ký thì Trưởng công an phường phải duyệt hồ sơ đăng ký tạm

trú, cấp đổi, cấp lại, gia hạn tạm trú hoặc điều chỉnh thay đổi trong sổ tạm trú,

ghi rõ thời gian, nội dung (đồng ý hay không đồng ý) vào văn bản đề xuất của

cán bộ đăng ký, ký sổ tạm trú.

3. Trường hợp không đủ điều kiện đăng ký tạm trú, cấp đổi, cấp lại, gia

hạn tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ tạm trú thì Trưởng công

an phường phải trả lời công dân bằng văn bản.

4. Hồ sơ đăng ký tạm trú, cấp đổi, cấp lại, gia hạn tạm trú hoặc điều

chỉnh những thay đổi trong sổ tạm trú phải lưu trữ, bảo quản tại Công an

phường và sắp xếp theo thứ tự sau đây:

53

a. Văn bản đề xuất giải quyết hồ sơ;

b. Phiếu báo thay đổi nhân khẩu, hộ khẩu;

c. Bản khai nhân khẩu (nếu có);

d. Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp (nếu có);

đ. Phiếu xác minh hộ khẩu, nhân khẩu (nếu có);

e. Sổ tạm trú (nếu có);

g. Giấy tờ, tài liệu khác (nếu có).

Công tác khai báo lưu trú của người nước ngoài

Ngày 16/6/2014 tại kỳ họp thứ VII Quốc hội khóa XIII đã thông qua

luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

gồm 9 chương và 55 điều quy định về nguyên tắc điều kiện, trình tự thủ tục

quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cư

trú tại Việt Nam, của cơ quan tổ chức và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà

nước Việt Nam: Người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam, phải thông qua

người trực tiếp quản lý điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú để khai báo tạm

trú với cơ quan công an xã phường thị trấn, ở nơi nào có đồn công an khu

công nghiệp thì phải khai báo với đồn công an. Người trực tiếp quản lý hoạt

động tại cơ sở lưu trú có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin vào mẫu khai báo

tạm trú cho người nước ngoài và chuyển đến cơ quan công an địa phương

trong thời gian 12 tiếng cơ quan công an địa phương (xã phường,thị trấn, đồn)

thống kê báo cáo chuyển thông tin khai báo của người nước ngoài đến đội an

ninh nhân dân đồng thời báo gửi đội QLHC về TTXH và chuyển đến phòng

PA 72 và PC 06.

Thủ tục khai báo tạm trú của người nước ngoài: Xuất trình giấy tờ xác

định quốc tịch nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế cụ thể:

54

Giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài: là loại giấy tờ do cơ quan có

thẩm quyền của nước ngoài hoặc liên hợp quốc cấp, gồm hộ chiếu hoặc giấy

tờ có giá trị thay hộ chiếu

Giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế: là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm

quyền của một nước cấp cho người không quốc tịch đang cư trú tại nước đó

và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận

Mẫu khai báo tạm trú cho người nước ngoài được bộ công an ban hành

theo thông tư số 04/2015/TT-BCA ngày 05/1/2015. Đó là phiếu khai báo tạm

trú của người nước ngoài( NA 17) danh sách người nước ngoài khai báo tạm

trú ( NA 18). Phiếu khai báo cho người nước ngoài dùng để các cơ sở lưu trú

du lịch, khu nhà ở cho người nước ngoài làm việc, lao động, học tập,thực tập

cơ sở khám chữa bệnh, nhà riêng hoặc các cơ sở lưu trú khác theo quy định

của pháp luật, khai báo tạm trú cho người nước ngoài với cơ quan công an có

thẩm quyền.

Công tác khai báo tạm vắng

1. Cán bộ làm công tác tiếp nhận khai báo tạm vắng phải yêu cầu công

dân đến khai báo tạm vắng xuất trình giấy từ tùy thân, văn bản đồng ý cho

tạm vắng của cơ quan có thẩm quyền (đối với trường hợp thuộc khoản 1 Điều

32 Luật cư trú) và có trách nhiệm hướng dẫn công dân ghi đầy đủ thông tin

vào phiếu khai báo tạm vắng.

2. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của

công dân, Công an phường cấp phiếu khai báo tạm vắng cho công dân (trường

hợp đặc biệt thì kéo dài thời gian giải quyết nhưng không quá 02 ngày làm việc).

2.2.3.3. Công tác xử lý vi phạm pháp luật trong thực hiện pháp luật về cư trú:

Trong những năm qua, công an quận Ngô Quyền thường xuyên tham

mưu cho UBND quận Ngô Quyền chỉ đạo UBND 13 phường trong công tác

kiểm tra việc thực hiện pháp luật về cư trú đối với người dân trên địa bàn

55

quận. Thực hiện kế hoạch chỉ đạo của UBND quận Ngô Quyền, UBND 13

phường đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện với nhiều nội dung cụ thể,

chi tiết, có sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể trong phường, sự vào

cuộc của các hội: hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, hội khuyến học trong công

tác kiểm tra, xử lý pháp luật về cư trú, đảm bảo yêu cầu phòng ngừa, đấu

tranh tội phạm giữ gìn ANCT và TTXH trên địa bàn.

Kiểm tra định kỳ: Hoạt động này được tiến hành theo kế hoạch của

UBND quận Ngô Quyền với sự tham gia phối kết hợp của các ban ngành,

đoàn thể, các hội, lực lượng cảnh sát khu vực trong 13 phường đã tổ chức các

buổi kiểm tra tại các cơ quan, doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh lưu trú, hộ

gia đình. Công tác kiểm tra lưu trú được kết hợp với công tác tuyên truyền,

phổ biến pháp luật về cư trú, vận động quần chúng nhân dân tố giác tội phạm.

Quá trình kiểm tra tại các cơ sở nêu trên đã phát hiện nhiều nhân khẩu không

khai báo tạm trú, lưu trú với những nguyên nhân do trình độ hiểu biết pháp

luật về cư trú, thiếu các giấy tờ liên quan đến nhân thân như chứng minh nhân

dân, thẻ căn cước công dân. Một số nhân khẩu lưu trú đến sinh sống, làm việc

trên địa bàn có tính chất thời vụ vài ba ngày, hết việc lại chuyển đi nơi khác.

Qua công tác kiểm tra, lực lượng cảnh sát khu vực 13 phường đã rà soát các

hộ gia đình thuộc diện khai báo tạm trú nhưng chưa làm thủ tục khai báo tạm

trú thì lập danh sách, báo cáo chỉ huy công an phường có kế hoạch hướng dẫn

các hộ gia đình trên từng bước hoàn thiện thủ tục khai báo tạm trú. Đối với số

nhân khẩu không đủ điều kiện tạm trú do không có chứng minh nhân dân, thẻ

căn cước công dân, lực lượng cảnh sát khu vực đã chủ động cho nhân khẩu

trên khai phiếu thu thập thông tin dân cư, bản khai NK1, sau đó chụp ảnh lập

phiếu xác minh gửi cơ quan công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của các

nhân khẩu nêu trên.

56

Kiểm tra đột xuất: Thông qua công tác nắm tình hình, vận động quần

chúng nhân dân tố giác tội phạm, lực lượng cảnh sát khu vực đã nắm bắt được

các cơ sở kinh doanh lưu trú, các hộ gia đình kinh doanh các ngành nghề kinh

doanh có điều kiện có các đối tượng có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội

nhưng không khai báo lưu trú. Lực lượng cảnh sát khu vực đã phối hợp với

lực lượng quần chúng nòng cốt trên địa bàn kiểm tra đột xuất, bất ngờ các địa

điểm trên, các trường hợp nhân khẩu vi phạm việc khai báo lưu trú đều được

mời về trụ sở công an phường lập biên bản để xử lý vi phạm trên. Việc xử lý

vi phạm không dừng ở nhân khẩu vi phạm mà còn xử lý các chủ kinh doanh

có những vi phạm trên. Cá biệt lực lượng cảnh sát khu vực báo cáo chỉ huy

phường đề xuất UBND phường dừng việc cấp giấy kinh doanh, trong quá

trình kiểm tra đột xuất các cơ sở kinh doanh còn phát hiện các vi phạm pháp

luật khác như việc xả nước thải công nghiệp vào hệ thống thoát nước chung

của dân cư mà chưa qua xử lý

2.3. Nhận xét, đánh giá

2.3.1. Ưu điểm

Từ năm 2013 cho đến nay, công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên

địa bàn quận Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng đã được UBND, công an

quận Ngô Quyền quan tâm chỉ đạo lực lượng công an cơ sở luôn phối kết hợp

với các ban ngành, đoàn thể địa phương triển khai thực hiện các quy định

pháp luật về cư trú bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt vào mỗi buổi

sáng, cán bộ văn hóa UBND phường có buổi phát thanh trên loa phát thanh

của phường về việc đôn đốc nhắc nhở nhân dân thực hiện việc đăng ký hộ

khẩu thường trú, tạm trú, lưu trú. Đối với cán bộ làm công tác giải quyết đăng

ký hộ khẩu thường trú tại công an quận đã tham mưu với lãnh đạo công an

quận chủ động rút ngắn thời gian giải quyết, trả kết quả giải quyết về cư trú

cho công dân, nhất là đối với trường hợp đăng ký đơn giản, không cần xác

57

minh như điều chỉnh các thay đổi trong sổ hộ khẩu, vợ về với chồng, chồng

về với vợ, con về với bố mẹ,...

Qua công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, công an quận Ngô

Quyền đã kịp thời cung cấp số liệu về nhân khẩu, hộ khẩu giúp cho cấp ủy

chính quyền địa phương và các ngành có liên quan xây dựng các kế hoạch,

chỉ tiêu kinh tế xã hội và đề ra các chủ trương, giải pháp thực hiện chính sách

phát triển kinh tế xã hội: chính sách xóa đối giảm nghèo, giải quyết việc làm,..

tăng cường công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại cơ sở cũng góp phần tích

cực vào việc thực hiện các quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ

trợ: quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành có điều kiện:

về đăng ký quản lý, sử dụng con dấu: về việc nghiêm cấm sản xuất,buôn bán

hàng giả, hàng nhái...[16]. Qua công tác thực hiện pháp luật về cư trú, lực

lượng cảnh sát khu vực 13 phường cũng nắm được những cá nhân điển hình,

tích cực, có điều kiện tham gia vào các tổ chức bảo vệ an ninh, trật tự tại địa

bàn cơ sở, góp phần tích cực trong công tác phát động quần chúng nhân dân

tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Trong

những năm qua, các tổ chức bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở đã phối hợp tuyên

truyền, vận động, nhân dân giao nộp nhiều vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ

và pháo các loại, tự giác di chuyển hàng quán lấn chiếm vỉa hè; phối hợp cùng

lực lượng Công an tại cơ sở tuần tra, phát hiện, đề nghị xử lý các trường hợp

vi phạm các quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng và các vi phạm

khác về quản lý hành chính về trật tự xã hội; tham mưu xây dựng các quy tắc,

nội quy, quy ước bảo vệ an ninh, trật tự tại địa bàn dân cư; tham mưu giải

quyết nhiều vụ việc có liên quan đến an ninh, trật tự, hòa giải các tranh chấp

trong nội bộ nhân dân; xây dựng nhiều phong trào toàn dân tham gia tố giác

tội phạm, quản lý, giáo dục, cảm hóa người lầm lỗi tại gia đình và cộng đồng

dân cư góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội.

58

2.3.2. Hạn chế

Một là: công tác xây dựng và ban hành các văn bản thực hiện pháp luật

về cư trú tại quận Ngô Quyền còn mang tính chủ quan của cơ quan tham mưu

là công an quận Ngô Quyền đơn vị trực tiếp thực hiện pháp luật về cư trú.

Hai là: việc tổ chức thực hiện các văn bản trên trong công tác quản lý

tạm trú, lưu trú còn nhiều thiếu sót, có nhiều hộ gia đình thuộc diện tạm trú

nhưng chưa làm thủ tục đăng ký tạm trú dẫn đến việc nắm bắt số người tạm

trú chưa kịp thời, thiếu thông tin gây khó khăn trong việc hoạch định các chỉ

tiêu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

Ba là: công tác tuyên truyền pháp luật về cư trú đã đạt được những hiệu

quả song vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời với tình hình phát triển về dân cư tại

địa phương. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân chưa cao

dẫn đến những khó khăn nhất định cho lực lượng cán bộ làm công tác thực

hiện pháp luật về cư trú. Việc xử lý các vi phạm pháp luật về cư trú còn nặng

tính răn đe, giáo dục trong quá trình thực hiện còn có nhiều nhân khẩu chống

đối, gây khó khăn cho lực lượng công an cơ sở. Nội dung tuyên truyền, phổ

biến giáo dục pháp luật về cư trú còn cứng nhắc, khô khan, dập khuôn nguyên

trạng nội dung văn bản, việc vận động người dân tham gia các buổi sinh hoạt

phổ biến pháp luật còn ít, thành phần tham gia còn mang tính đại diện.

Bốn là: Quản lý bằng sổ hộ khẩu còn nhiều bất cập [26]. Luật Cư trú

quy định việc quản lý cư trú được thực hiện bằng hình thức quản lý thông qua

sổ hộ khẩu, sổ tạm trú. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện cho thấy hình thức

quản lý cư trú bằng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú còn nhiều hạn chế, có rất nhiều thủ

tục hành chính khác nhau, có thể kể đến các thủ tục liên quan đến sổ hộ khẩu,

sổ tạm trú như quy định về tách, cấp đổi, cấp lại, điều chỉnh thay đổi trong sổ

hộ khẩu; xóa đăng ký thường trú, xác nhận việc trước đây đã đăng ký thường

trú; hủy bỏ kết quả đăng ký thường trú trái pháp luật; cấp giấy chuyển hộ

59

khẩu (thực hiện tại cấp huyện, cấp xã); cấp đổi, cấp lại sổ tạm trú, điều chỉnh

những thay đổi trong sổ tạm trú, gia hạn tạm trú, hủy bỏ đăng ký tạm trú trái

pháp luật tại Công an cấp xã. Với phương thức quản lý cư trú sử dụng sổ hộ

khẩu, sổ tạm trú như hiện nay cho thấy nhiều hạn chế, việc giải quyết thủ tục

hành chính cần nhiều thời gian, công sức của lực lượng chức năng và công

dân. Do vậy, cần có biện pháp sửa đổi quy định hiện hành để cải cách, hiện

đại hóa phương thức quản lý cư trú, có thể thay thế bằng hình thức quản lý

mới tiên tiến, hiệu quả hơn để nâng cao hiệu quả, tiến trình thực hiện đăng ký

thường trú, tạm trú.

Năm là: Quy định nhập khẩu gây khó khăn cho người dân [40]. Luật

Cư trú đã có tác dụng hạn chế người nhập hộ khẩu vào nội thành, thành phố

trực thuộc trung ương bằng quy định về thời hạn tạm trú và các điều kiện

khác có liên quan tại Điều 20 Luật Cư trú, nhưng thực tế cho thấy quy định

này chỉ hạn chế nhập hộ khẩu chứ không hạn chế được tình trạng nhập cư. Số

lượng người dân cư trú từ các tỉnh đến làm ăn, sinh sống ở các thành phố lớn

là xu hướng tất yếu; điều này cũng đồng nghĩa nhu cầu nhập hộ khẩu vào

thành phố hiện nay rất lớn. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về nhập hộ

khẩu đã gây khó khăn cho người dân, đặc biệt là đối tượng nhập cư, lao động

có thu nhập thấp dẫn tới có một tỷ lệ lớn người dân phải tạm trú, gây khó

khăn trong quản lý cư trú và bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương. Hơn thế

nữa, việc khó khăn trong nhập hộ khẩu còn ảnh hưởng đến quyền lợi của

người dân trong một số hoạt động như học tập, chăm sóc y tế… gây khó khăn

cho công dân trong việc thực hiện quyền tự do cư trú của mình. Việc quy định

tăng thời hạn tạm trú theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật Cư trú (năm 2013) đối với các quận nội thành chưa phải là giải pháp tối

ưu để tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước về dân cư và giải quyết

60

được vấn đề nhập cư ở các thành phố lớn. Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ

sung quy định này cho phù hợp hơn.

Sáu là: Phân cấp thẩm quyền đăng ký thường trú chưa hợp lý. Bất cập

trong phân cấp thẩm quyền đăng ký thường trú tại các địa phương. Theo quy

định tại Khoản 1 Điều 21 Luật Cư trú thì người đăng ký thường trú nộp hồ sơ

đăng ký thường trú tại cơ quan Công an sau đây:

“a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an

huyện, quận, thị xã;

b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công

an thị xã, thành phố thuộc tỉnh”.

Theo đó, thẩm quyền giải quyết việc đăng ký thường trú của công dân

được quy định tại Điều 9 Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 09/9/2014 của

Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú

và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy định chi tiết một số điều

và biện pháp thi hành Luật Cư trú như sau:

“- Công an quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương

có thẩm quyền đăng ký thường trú tại quận, huyện, thị xã thuộc thành phố

trực thuộc Trung ương.

– Công an xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký

thường trú tại các xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh. Công an thị xã, thành phố

thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký thường trú tại thị xã, thành phố thuộc tỉnh”.

Công an xã là lực lượng bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của

Công an nhân dân và theo quy định tại Khoản 5 Điều 9 Pháp lệnh Công an

xã năm 2008 thì Trưởng Công an xã có nhiệm vụ thực hiện các quy định của

pháp luật về quản lý cư trú, chứng minh nhân dân và các giấy tờ đi lại khác…

Trong khi đó, tại quận, huyện, thị xã, thuộc thành phố trực thuộc trung ương,

đặc biệt tại các quận nội thành, Cảnh sát khu vực, Trưởng Công an phường,

61

thậm chí là Đội trưởng đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội là

lực lượng Công an chính quy nhưng lại không được giao thẩm quyền đăng ký

thường trú, mà thẩm quyền này thuộc về Trưởng Công an quận, huyện, thị xã

thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Có thể thấy, địa bàn tại thành phố lớn

là khu đông dân cư, tính chất cư trú phức tạp, có địa bàn lên đến hàng vạn

nhân khẩu nên việc chỉ giao thẩm quyền đăng ký thường trú cho Trưởng

Công an quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thực hiện

công tác quản lý thường trú của công dân trên địa bàn là chưa thật sự phù hợp

với thực tiễn. Do đó, nên phân cấp thẩm quyền quản lý đăng ký thường trú về

cơ sở, mà cụ thể là trao cho trưởng Công an cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn)

để tăng cường hiệu quả và bảo đảm chặt chẽ trong công tác quản lý cư trú.

Bảy là: Bất cập khi xóa đăng ký thường trú. Bất cập trong một số

trường hợp xóa đăng ký thường trú theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Luật

Cư trú

Tại Điểm a Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người

bị xóa đăng ký thường trú khi chết, bị Tòa án tuyên bố là mất tích hoặc đã

chết, tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào quy định về việc thỏa thuận

giữa những người trong hộ về việc cử người là chủ hộ mới khi chủ hộ cũ

chuyển di, chết hoặc trường hợp những người còn lại trong hộ gia đình không

tự thỏa thuận được ai làm chủ hộ thì chưa thể xem xét giải quyết.

Tại Điểm b Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người bị

xóa đăng ký thường trú khi được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an

nhân dân ở tập trung trong doanh trại; tuy nhiên, có trường hợp khi công dân

được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong

doanh trại lại không đến để thực hiện việc xóa đăng ký thường trú tại nơi ở

cũ, dẫn đến nhiều trường hợp còn có hai nơi đăng ký thường trú khác nhau.

62

Tại Điểm d Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người bị

xóa đăng ký thường trú khi ra nước ngoài để định cư; tuy nhiên, có trường

hợp công dân đã đăng ký thường trú mà nay lại ra nước ngoài để định cư

nhưng không có cơ quan nào thông báo cho lực lượng làm công tác đăng ký

cư trú là công dân đó đã được định cư ở nước ngoài để xóa đăng ký thường

trú trong nước. Bên cạnh đó, Luật Cư trú hiện hành cũng không quy định cơ

chế phối hợp giữa cơ quan quản lý xuất nhập cảnh với lực lượng Cảnh sát

quản lý hành chính về trật tự xã hội; do đó, cơ quan quản lý đăng ký thường

trú không có cơ sở để làm thủ tục xóa đăng ký thường trú; dẫn tới việc hồ sơ

quản lý thường trú công dân vẫn có, song thực tế, công dân lại không sinh

sống tại Việt Nam. Cũng tương tự như vậy, đối với trường hợp công dân

chuyển đi nơi khác nhưng không làm thủ tục chuyển hộ khẩu hoặc người

đang chấp hành án phạt tù giam có thời hạn từ 12 tháng trở lên, tù chung thân

tại các trại giam cũng không thuộc diện xóa đăng ký thường trú, dù theo quy

định về việc giảm án tha tù, những người đang chấp hành án chung thân vẫn

có cơ hội trở về tái hòa nhập với cộng đồng nhưng thực tế họ phải bảo đảm

chấp hành án trong thời gian rất lâu; trong suốt thời gian phải chấp hành án,

họ không có mặt tại địa phương nơi đã đăng ký thường trú, điều này dẫn tới

sự khác biệt giữa quản lý hồ sơ và quản lý thực tế việc công dân cư trú.

Tại Điểm đ Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người bị

xóa đăng ký thường trú khi “đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong

trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở

nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy

chuyển hộ khẩu để xóa đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ”; tuy nhiên, trên

thực tế nhiều trường hợp chuyển đến nơi ở mới nhưng Công an nơi cấp giấy

chuyển hộ khẩu không nhận được thông báo của Công an nơi đến, gây khó

khăn trong việc quản lý, có khả năng công dân đăng ký thường trú tại 02 nơi;

63

nhất là đối với lực lượng Công an cấp xã hiện nay không có kinh phí để gửi

thông báo trao đổi với các địa phương khác. Bên cạnh đó, trường hợp khi

nhận được thông báo của Công an nơi đến thì Công an nơi cấp giấy chuyển

hộ khẩu phải mời chủ hộ đến để tiến hành làm thủ tục xóa đăng ký thường trú

cho thành viên đã chuyển hộ khẩu đi, như vậy chủ hộ phải đi đến cơ quan

Công an ít nhất 02 lần, tốn nhiều thời gian, có trường hợp chủ hộ không đến

để xóa đăng ký thường trú.

Bên cạnh đó, Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành không

quy định xóa đăng ký thường trú đối với các trường hợp công dân không còn

đảm bảo điều kiện về chỗ ở hợp pháp như nhà ở thực tế không còn do di dời,

đền bù, giải tỏa hay đã bán nhà cho người khác, trường hợp hết hợp đồng thuê

nhà, mượn nhà hoặc không còn được ở nhờ… nên gây khó khăn trong công

tác quản lý cư trú; nhiều trường hợp hộ gia đình có nhà bị giải tỏa hoặc bán

nhà chuyển đi nơi khác sinh sống, có nhiều trường hợp sau khi đã được đăng

ký thường trú ở nơi cư trú mới thì không quay lại để xóa tên trong sổ hộ khẩu

dẫn đến việc quản lý số lượng người thường trú thực tế tại địa phương còn

chưa được sát, đúng với thực tế.

Tám là: Đăng ký tạm trú còn nhiều vướng mắc. Một số bất cập trong

việc đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú [29].

Tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày

09/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật

Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện

pháp thi hành Luật Cư trú quy định người chưa thành niên nếu không đăng ký

thường trú cùng cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ mà đăng ký thường trú cùng với

người khác thì phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc cha hoặc

mẹ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng trong thực tế nhiều

trường hợp cha, mẹ trẻ đã lỵ hôn và bỏ địa phương đi, trẻ em được ông, bà,

64

người khác nhận nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế, đến khi đăng ký thường trú

cho các em thì không tìm được cha, mẹ để lấy ý kiến nên gây khó khăn trong

giải quyết đăng ký thường trú.

Tương tự như vậy, việc đăng ký thường trú vào các cơ sở tôn giáo chỉ

áp dụng đối với đối tượng là “chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác

chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn

giáo”, trong khi thực tế hiện nay số người tự nguyện xin đi tu và sinh sống tại

các cơ sở tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo rất nhiều, trong đó có nhiều trường

hợp trẻ em mồ côi, không cha không mẹ… tuy nhiên các em này chưa đảm

bảo điều kiện là chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt

động tôn giáo do đó không thể đăng ký thường trú theo quy định. Từ đó, gây

rất nhiều khó khăn cho các em trong các quan hệ giao dịch, kể cả làm giấy tờ

về căn cước công dân (bắt buộc phải có sổ hộ khẩu). Do đó, cần điều chỉnh,

sửa đổi Luật Cư trú phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong

trường hợp này.

Tại Điều 13 Luật Cư trú quy định nơi cư trú của người chưa thành niên

là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú

của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành

niên thường xuyên chung sống. Thực tế, công tác đăng ký, quản lý cư trú cho

thấy có trường hợp cha, mẹ có nơi đăng ký thường trú khác nhau, nên cha, mẹ

đã lợi dụng để đăng ký thường trú tại 02 nơi cho trẻ em.

Tại Điều 30 Luật Cư trú về đăng ký tạm trú có quy định việc cấp sổ tạm

trú cho công dân, tuy nhiên trên thực tế có trường hợp công dân đã được cấp sổ

tạm trú tại một địa chỉ nhưng sau đó lại di chuyển đến chỗ ở khác, đăng ký tạm

trú tiếp và lại được cấp một sổ tạm trú khác trong khi sổ tạm trú cũ vẫn chưa hết

hạn sử dụng; dẫn đến một người có thể có hai sổ tạm trú vẫn còn thời hạn sử

dụng, gây khó khăn cho công tác quản lý nhân, hộ khẩu tạm trú.

65

Chín là: một số bất cập khác liên quan đến quy định của Luật Cư trú

Tại Khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú quy định nơi cư trú của công dân là

chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống; nơi cư trú của công dân

là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Tuy nhiên Luật Cư trú và các văn bản

hướng dẫn thi hành chưa quy định rõ ràng thể nào là “thường xuyên sinh

sống” nên nhiều địa phương gặp lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP thì “Mỗi

công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi

thường xuyên sinh sống” thì phải đáp ứng được hai điều kiện “một chỗ ở hợp

pháp” và “là nơi ở thường xuyên sinh sống” thì mới được đăng ký thường trú.

Cách hiểu và sử dụng cụm từ “thường xuyên sinh sống” trong thực tế không

có sự thống nhất, chưa được giải thích cụ thể và chỉ là yếu tố định tính dẫn

đến cách hiểu và áp dụng ở mỗi địa phương không giống nhau. Có nơi coi

việc công dân mỗi tháng cư trú từ 02 đến 04 tuần là thỏa mãn quy định

“thường xuyên sinh sống”, nhưng cũng có nơi lại quy định công dân phải cư

trú tuy không liên tục nhưng ít nhất từ 09 tháng trở lên trong một năm mới

được coi là “thường xuyên sinh sống”.

Bên cạnh đó, việc áp dụng quy định về “chỗ ở hợp pháp” cũng còn

vướng mắc phát sinh là nhiều trường hợp giấy tờ chứng minh về chỗ ở hợp

pháp lại không hợp lệ như nhà ở đã qua mua bán nhiều lần mà không sang

tên, đổi chủ hợp pháp hoặc nhà đất tự cơi nới, tôn tạo, nhà đất được cơ quan,

tổ chức tạm giao, tạm phân… trong khi các đơn vị chủ quản hoặc Ủy ban

nhân dân cấp xã lại không xác nhận tính hợp pháp về nhà ở nên đã gây khó

khăn trong giải quyết đăng ký cư trú cho công dân.

Tại Khoản 1 Điều 16 Luật Cư trú quy định nơi cư trú của cán bộ, chiến

sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân: “Nơi cư trú của người đang làm

nghĩa vụ quân sự hoặc đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân là

66

nơi đơn vị của người đó đóng quân”, tuy nhiên, hiện nay rất nhiều trường hợp

cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có hai nơi thường

trú, khi đi nghĩa vụ quân sự hoặc phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân

nhưng không thực hiện xóa đăng ký hộ khẩu thường trú cũ khi chuyển đến

đơn vị đóng quân.

Tại Điều 24 Luật Cư trú quy định về sổ hộ khẩu, trong đó có trường

hợp cấp lại sổ hộ khẩu, việc cấp lại sổ hộ khẩu là dựa trên đơn trình báo của

công dân; tuy nhiên, trên thực tế đã xảy ra một số trường hợp công dân báo

mất sổ hộ khẩu nhưng là giữ lại sổ hộ khẩu này, sau khi được cấp sổ mới thì

lại chuyển nơi đăng ký thường trú khác dẫn đến việc có 02 sổ hộ khẩu ở hai

nơi khác nhau gây khó khăn cho công tác quản lý cư trú.

Theo quy định hiện nay của một số ngành đã lấy tiêu chí sổ hộ khẩu là

điều kiện để giải quyết chế độ chính sách, quyền lợi của công dân như: cấp

đất xây dựng nhà ở, xác lập hộ nghèo, ký hợp đồng cung cấp điện, nước sinh

hoạt, tuyển chọn học sinh các bậc học… nên nảy sinh hiện tượng tách hộ

khẩu hoặc chuyển hộ khẩu đến các địa bàn khác có điều kiện hưởng ưu tiên

hơn nhưng thực tế vẫn cư trú tại nơi ở cũ đã gây xáo trộn về nhân khẩu, khó

khăn cho công tác quản lý cư trú của nhiều địa phương. Do vậy, có thể nghiên

cứu, điều chỉnh quy định về tách sổ hộ khẩu theo quy định tại Điều 27 Luật

Cư trú cho phù hợp hơn.

Việc giải quyết điều chỉnh, thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu căn cứ

vào giấy khai sinh do ngành tư pháp cấp qua theo dõi còn nhiều vấn đề vướng

mắc như trong tàng thư hộ khẩu lưu trữ giấy khai sinh ban đầu có thông tin

không đúng với trích lục khai sinh do công dân cung cấp khi yêu cầu điều

chỉnh thông tin trong sổ hộ khẩu, có trường hợp trích lục cải chính hộ tịch do

tư pháp xã ký nhưng qua xác minh làm rõ không có cơ sở pháp lý điều chỉnh

(chỉ dựa vào văn bản cam kết của công dân để điều chỉnh). Từ đó phát sinh

67

nhiều trường hợp điều chỉnh thông tin vi phạm pháp luật, có trường hợp công

dân là nữ đã khai tăng tuổi để kết hôn với người nước ngoài; một số trường

hợp trẻ em là con lai được Sở tư pháp cấp giấy khai sinh mang quốc tịch Việt

Nam (theo mẹ) nhưng dân tộc ghi là Thailan, Malaysia, Hàn quốc… không

thuộc danh mục 54 dân tộc Việt Nam; khi công dân có yêu cầu điều chỉnh

thông tin hộ khẩu, giấy tờ về chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân

nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện, giải quyết trường hợp này.

2.3.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế:

2.3.3.1. Nguyên nhân của ưu điểm:

Trong xu thế xã hội hiện nay, việc người dân được thụ hưởng pháp luật

là một nhu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội, các quyền và lợi ích của người

dân đều được thể chế bằng các đạo luật. Sự bùng nổ phát triển của công nghệ

thông tin (mạng internet, máy điện thoại smartphone) là những công cụ,

phương tiện giúp người dân thực sự tiếp cận đến các văn bản pháp quy của

pháp luật. Người dân thường xuyên trao đổi, đúc rút các kinh nghiệm ứng xử

với các quy định pháp luật sao cho các quy định pháp luật hiện tại góp phần

đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, nâng cao đời sống cả về mặt kinh tế, văn

hóa, xã hội. Việc nhân dân chấp hành pháp luật về cư trú là phát triển về

quyền con người trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Song song với việc người dân được thụ hưởng pháp luật thì bộ máy

chính quyền nhà nước thực thi về pháp luật đã có những cải cách rõ rệt trong

nhiều năm qua. Số lượng cán bộ công chức qua thi tuyển chiếm phần đông

trong bộ máy công quyền của nhà nước, số cán bộ trên được đảm bảo về trình

độ, chuyên môn, có ý thức cao trong việc chấp hành các quy định của công sở

và việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Thủ tướng chính phủ liên tục

có những chỉ thị chỉ đạo trong việc cải cách hành chính, cải cách các thủ tục

liên quan đến các quy định pháp luật: trong những năm qua, chính phủ đã cắt

68

giảm hàng trăm thủ tục hành chính có những bất cập là rào cản cho doanh

nghiệp, nhân dân, cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển kinh

tế, văn hóa xã hội Việt Nam trong tình hình mới.

2.3.3.2. Nguyên nhân của hạn chế:

Lực lượng cán bộ công an nhân dân làm công tác thực hiện pháp luật

về cư trú còn chưa được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ theo đúng chuyên

ngành. Tại công an quận số cán bộ tốt nghiệp chuyên khoa quản lý hành chính

về trật tự an toàn xã hội mới đạt tỷ lệ 40%. Tại cơ sở số lượng cảnh sát khu

vực còn phải làm trái chuyên môn nghiệp vụ, tham gia sâu vào các nhiệm vụ

của chính quyền địa phương như vận động nhân dân đóng thuế, tiêm chủng

cho trẻ em, phòng chống các dịch bệnh, tham gia cứu hộ, cứu nạn trong mùa

mưa bão, trực tiếp hoặc gián tiếp làm công tác phòng cháy, chữa cháy tại cơ

sở. Lực lượng CSKV tại công an các phường ( quản lý số dân, lớn gấp 2 đến

3 lần theo quy định của điều lệnh CSKV đồng thời còn phải làm nhiều việc

khác như trực ban, chốt điểm, tuần tra) [1].

Số cán bộ liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú cũng như số

cán bộ trực tiếp làm công tác thực hiện pháp luật về cư trú như cán bộ cơ sở (

còn kiêm nhiệm nhiều việc tại địa phương). Cán bộ làm tư pháp tại UBND 13

phường quận Ngô Quyền theo quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 04/8/2014

của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt liên thông các TTHC đăng ký

khai sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú, cấp thẻ y tế đối với những trường hợp

dưới 6 tuổi còn có thái độ tiếp dân làm thủ tục chưa thực sự vui vẻ khi nhân

dân đến liên hệ làm việc.

Mặt trái của sự phát triển kinh tế trong xã hội cũng đã tác động trực tiếp

đến đời sống của cán bộ công chức thực hiện pháp luật về cư trú. Việc trượt

giá trong sinh hoạt tiêu dùng, giá đất, nhà tăng nhanh làm tâm lý của cán bộ

hoang mang dao động, chế độ đãi ngộ và mức lương hiện nay của cán bộ

69

công chức khó duy trì được đời sống của cán bộ công chức, chưa nói đến việc

mua nhà, sửa nhà và các nhu cầu đời sống khác. Bên cạnh đó, một số người

dân luôn có tâm lý bồi dưỡng cán bộ trong quá trình thực hiện các thủ tục liên

qua đến công tác đăng ký thường trú, tạm trú cũng dẫn đến các sai phạm của

cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú.

Tiểu kết chƣơng 2

Quận Ngô Quyền nằm ở vị trí trung tâm thành phố Hải Phòng với diện

tích 11,1 km2, có 161.086 nhân khẩu, mật độ dân số là 14,512 người/km2

được chia làm 13 phường với 328 tổ dân phố. Là một địa bàn tập trung nhiều

cơ quan, đơn vị doanh nghiệp lớn của trung ương và địa phương; có hệ thống

Cảng, bến tàu, bến xe, có các trung tâm thương mại Big C, Thùy Dương

Plaza, ngoài ra trên địa bàn quận còn có làng văn hóa Sunflower chuyên cho

các chuyên gia người nước ngoài đến thuê ở lưu trú. Đây là nơi thường xuyên

diễn ra các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa thể thao của cả nước,thành phố

và của quận.Chính nhờ vị trí địa lý là đầu mối của giao thông đường thủy,

đường bộ, đường hàng không, hoạt động kinh tế xã hội của quận Ngô Quyền

trong nhiều năm qua phát triển mạnh mẽ theo định hướng thương mại dịch vụ

cảng biển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành nghề khác trên địa bàn. Sự

phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng trên địa quận cũng như kinh tế đã thu hút

lực lượng lao động lớn thuộc các khu vực trong, ngoài thành phố Hải Phòng về

lao động thuộc các khu vực nông thôn của các tỉnh, thành phố khác đến làm việc

theo nhu cầu của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn quận Ngô Quyền. Điều này

đã dẫn đến tình trạng nhập cư lớn, biến động liên tục, công tác thực hiện pháp

luật về cư trú của công an quận Ngô Quyền gặp nhiều khó khăn.

Trong thời gian qua, công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn

quận Ngô Quyền đã được UBND, công an quận Ngô Quyền quan tâm chỉ đạo

70

sâu sát thông qua những kế hoạch, chương trình hành động cụ thể thực hiện

pháp luật về cư trú trên địa bàn. Việc thực hiện pháp luật về cư trú đã được

cán bộ nhân dân trên địa bàn quận tham gia hưởng ứng tích cực, tuy nhiên

trong từng nội dung thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền vẫn

còn tồn tại ít nhiều hạn chế, đặc biệt trong luật cư trú còn một số điều quy

định vẫn còn nhiều bất cập gây khó khăn cho người dân. Một thực tế cho thấy

luật cư trú chỉ nhằm hạn chế việc đăng ký hộ khẩu chứ không hạn chế được

tình trạng nhập cư. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của

UBND, công an quận Ngô Quyền còn mang nặng tính chủ quan của cơ quan

đơn vị thực thi pháp luật. Vẫn còn tình trạng sót lọt trong công tác đăng ký

tạm trú, khai báo lưu trú, cán bộ làm công tác tiếp dân, lực lượng cảnh sát khu

vực còn thiếu, yếu, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về cư trú còn

đơn điệu khô cứng. Việc kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử

lý vi phạm pháp luật về cư trú còn mang tính đôn đốc, nhắc nhở, động viên.

Trước những thực tế đó, việc nghiên cứu đề xuất những giải pháp cải

thiện hiệu quả thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền là

vô cùng cần thiết. Các giải pháp đòi hỏi tính ứng dụng cao, làm tăng tính hiệu

quả thực sự của công tác này.

71

Chƣơng 3

ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CƢ TRÚ

TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

3.1. Định hƣớng thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền, thành

phố Hải Phòng

Hải Phòng là thành phố trực thuộc trung ương, thuộc đô thị loại

1.Trong đó quận Ngô Quyền là trung tâm hành chính chính trị, trung tâm

thương mại, du lịch và dịch vụ, văn hóa thể thao của thành phố và của quận.

Trong năm tới, quận quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện mục

tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm, tạo đà cho việc thực hiện thắng

lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.Tập trung cao công

tác thu, chi ngân sách và quản lý đô thị, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường;

đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án trọng điểm. Phát

triển văn hóa, con người, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng

cao chất lượng đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao

chất lượng nguồn nhân lực, quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi

trường đầu tư kinh doanh, tích cực phòng, chống tham nhũng, giữ vững an

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đặc biệt, Quận đang đẩy mạnh cải cách hành chính và thực hiện Đề án

"Xây dựng chính quyền điện tử quận Ngô Quyền" sẽ tạo điều kiện góp phần

rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư,

kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Những năm qua, quán triệt sâu sắc sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND,

UBND thành phố, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng bộ, HĐND quận, Quận

Ngô Quyền đã tập trung phát triển kinh tế theo hướng dịch vụ, thương mại,

72

chất lượng cao; chú trọng quy hoạch và phát triển đô thị... Nhờ đó Quận Ngô

Quyền ngày càng thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại, xứng đáng là "trái

tim" của thành phố Cảng anh hùng.

Từ vị trí và vai trò quan trọng như vậy, đòi hỏi cấp ủy, lãnh đạo UBND

quận tiếp tục phát triển mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội, tình hình thực

hiện pháp luật cư trú ngày càng phức tạp, những vấn đề được giải quyết đảm

bảo tình hình ANTT được giữ vững.

Một là, dự báo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự

Quận Ngô Quyền được xác định là trọng điểm phát triển kinh tế - xã

hội của thành phố theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tiêu chí đô

thị loại 1.

Từ năm 2010 đến nay, Quận Ngô Quyền đã triển khai thực hiện gần 40

dự án. Trong đó có một số dự án lớn như: Ngã 5 - Sân bay Cát Bi; Khu đô thị

mới Lạch Tray - Hồ Đông (trong đó, có tuyến đường với mặt cắt 100m); cải

tạo kênh mương An Kim Hải; xây dựng tuyến đường Đông Khê 2; xây dựng

Nút Giao thông Quán Mau; gần đây nhất là các Dự án cải tạo chung cư cũ,

xuống cấp... Tổng số diện tích phải thu hồi, giải phóng mặt bằng là trên

600.000 m2 với hơn 5.000 hộ dân.

Đây là các dự án góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận cũng như của thành phố và đất

nước. Đáng chú ý, quận có các tiềm năng và lợi thế về giao thông đường thủy,

sắt, bộ và hàng không như: đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; các dự án

cải tạo tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội, Cảng cửa ngõ quốc tế Hải

Phòng,… Các tuyến phố, đường trục chính và một số trên địa bàn quận được

cải tạo, đầu tư mới như: đường Đông Khê 2, cầu Nguyễn Trãi, cầu Hoàng

Văn Thụ hoàn thành sẽ mở ra khả năng gắn kết trực tiếp với vùng Bắc sông

73

Cấm..., góp phần tạo ra không gian phát triển kinh tế và giao lưu hàng hoá

ngày càng rộng lớn và thuận tiện.

Về tình hình an ninh trật tự có nhiều nguy cơ bất ổn do mặt tiêu cực của

xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế xã hội của thành phố và

của quận. Những địa bàn có nhiều người nước ngoài đến sinh sống làm việc

như làng văn hóa Sunflower chuyên cho các chuyên gia người nước ngoài đến

thuê ở lưu trú sẽ gây ra nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến ANTT.

Hai là, dự báo về tình hình dân cư

Như đã phân tích ở chương 2, với thành phần dân cư đa dạng, trình độ

nhận thức xã hội của mỗi người dân khác nhau, ý thức chấp hành pháp luật

không đồng đều, tính chất cư trú không ổn định gây khó khăn cho công tác quản

lý nhân hộ khẩu trên địa bàn. Với chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, số

lượng người nước ngoài và Việt kiều tạm trú trên địa bàn quận trong những năm

tới có chiều hướng gia tăng, tình hình tạm trú của người nước ngoài và Việt kiều

có mặt tại địa bàn quận cũng diễn biến phức tạp và khó lường.

Ba là, định hướng nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật cư

trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

Từ những dự báo trên, việc không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu

quả công tác thực hiện pháp luật cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền là vô

cùng cần thiết.Định hướng thực hiện pháp luật cư trú tên địa bàn quận trở

thành công tác luôn được thực hiện hiệu quả chặt chẽ cho dù tình hình nhân

hộ khẩu trên địa bàn quận có biến động thế nào đi chăng nữa.Toàn bộ công

tác thực hiện pháp luật cư trú luôn được thực hiện dựa trên Hiến pháp, pháp

luật của Nhà nước cũng như các quy định của pháp luật về cư trú. Hiệu quả

công tác tuyên truyền, phổ biến , giáo dục pháp luật về cư trú luôn được nâng

cao qua từng đợt triển khai. Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các

cán bộ làm công tác thực hiện pháp luật cư trú phải được thường xuyên, đáp

74

ứng nhu cầu về cư trú ngày càng đông và phức tạp. Bên cạnh đó, điều kiện cơ

sở vật chất cho công tác thực hiện pháp luật cư trú phải luôn được đảm bảo và

không ngừng đầu tư cải thiện. Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu

nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú phải được giải quyết triệt để,

nghiêm minh. Tạo nên một nền tảng kiểm tra, thanh tra và xử lý cương quyết

nhưng vẫn đảm bảo khách quan và dân chủ. Tóm lại, định hướng thực hiện

pháp luật cư trú tại địa bàn quận Ngô Quyền sẽ trở thành một hệ thống chặt

chẽ về cư trú, hiệu quả toàn diện, góp phần quan trọng trong hiệu quả quản lý

nhà nước.

3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận Ngô

Quyền, thành phố Hải Phòng

Xuất phát từ việc nghiên cứu lý luận ở Chương 1, kết hợp với việc phân

tích đánh giá những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về công tác

thực hiện pháp luật nhà nước tại quận Ngô Quyền ở chương 2, tác giả đề xuất

các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn

quận như sau :

3.2.1. Giải pháp trong nội dung thực hiện pháp luật về cư trú

Một là, hoàn thiện cơ chế xây dựng và ban hành văn bản thực hiện

pháp luật về cư trú của quận Ngô Quyền

Hiện nay các văn bản dưới luật: thực hiện pháp luật về cư trú còn chưa

thực sự nhất quán, cơ quan công an là nơi thực hiện các trình tự về công tác

đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, lưu trú còn có những mẫu giấy tờ bản

khai chưa lấy người khai báo làm trung tâm, còn sử dụng tính nghiệp vụ của

ngành công an do vậy gây khó khăn cho người dân khi đi đăng ký thường trú,

tạm trú, lưu trú. Do đó để hạn chế tình trạng các văn bản mẫu mã cản trở quá

trình thực hiện pháp luật về cư trú của người dân thì bộ công an cần nghiên

cứu thống nhất các văn bản giấy tờ mẫu mã thực hiện cho công tác đăng ký

75

thường trú, tạm trú, lưu trú theo hướng đơn giản trong khai báo, từ ngữ dễ

hiểu không nhất thiết người đi khai báo thường trú phải khai về quan hệ gia

đình (bố mẹ anh chị, em ruột, vợ con) nên tập trung khai những thông tin về

cá nhân như nghề nghiệp,nơi đăng ký thường trú, tạm trú, quá trình đã tạm trú

ở đâu và làm những việc gì. Bên cạnh đó, phải xác định rằng luật cư trú là văn

bản pháp luật có giá trị cao nhất trong công tác thực hiện pháp luật về cư

trú.Do vậy khi ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật cư

trú chính phủ, bộ công an cần phải giải thích rõ trách nhiệm của cơ quan thực

thi luật cư trú, quyền nghĩa vụ của người dân trong quá trình thực hiện pháp

luật về cư trú.

Công tác xây dựng và ban hành văn bản thực hiện pháp luật về cư trú

tại quận Ngô Quyền cần khắc phục tính chủ quan của cơ quan tham mưu trực

tiếp. UBND quận giao toàn bộ công tác quản lý và thực hiện pháp luật về cư

trú cho công an quận nhưng UBND quận cần phải theo dõi sát sao các hoạt

động trên lĩnh vực này bằng cách :

Công an quận Ngô Quyền phải tham mưu cho UBND quận Ngô Quyền

về tình hình phân bố dân cư tại 13 phường. Các phường Lê Lợi, Cầu Đất,

Lương Khánh Thiện, Gia Viên, Lạc Viên, Cầu Tre, Vạn Mỹ là những phường

có tính ổn định về dân số. Trong quy hoạch xây dựng của thành phố, các

phường trên cũng không có những dự án lớn liên quan đến việc giải phóng

mặt bằng, xây dựng các công trình lớn, do vậy công tác đăng ký thường trú,

tạm trú phải được thực hiện triệt để. Hàng quý UBND phường phải xây dựng

các buổi tọa đàm về pháp luật, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền về

công tác đăng ký thường trú, tạm trú. Những buổi tọa đàm đó phải gắn với

các phong trào ở địa phương như phong trào “gương người tốt”, “doanh

nghiệp giỏi”, “cơ quan, doanh nghiệp, trường học an toàn về ANTT”. Ngược

lại lực lượng CSKV tại các phường cũng phải rà soát các hộ gia đình mua

76

nhà, thuê nhà trên địa bàn phường, danh sách trên phải được chuyển về đội

QLHC công an quận. Cán bộ thực hiện công tác thường trú, tạm trú của công

an quận phải phối hợp với lực lượng CSKV tuyên truyền, vận động, cũng như

tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp luật trong TTHC về công tác

đăng ký thường trú, tạm trú để có kết quả 100% người dân trên địa bàn đều

được đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú. Đối với các phường Lạc Viên,

Đông Khê, Đằng Giang, Đổng Quốc Bình, Máy Tơ, Lạch Tray là nơi có các

dự án lớn của thành phố, công an quận phải cử cán bộ trực tiếp theo dõi các di

biến động của các hộ gia đình liên quan đến việc mua bán, chuyển đổi nhà

cửa, phát sinh hộ mới. Đối với những hộ đủ điều kiện giải quyết hộ khẩu

thường trú, tạm trú phải lập tức giải quyết. Đối với những hộ còn vướng mắc

về các TTHC phải tổ chức những buổi tọa đàm, lắng nghe ý kiến của nhân

dân trên cơ sở thực tế tham mưu với UBND quận Ngô Quyền từng bước tháo

gỡ những khó khăn, vướng mắc của các hộ gia đình, từng bước hoàn thiện các

thủ tục để giải quyết cho người dân. Hằng năm các phường trên phải xây dựng

mới các mô hình phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc gắn với công tác

thực hiện pháp luật về cư trú. Qua nghiên cứu thực tế đã có phường như phường

Lạch Tray xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc có nội dung “ Ở

chấp hành, đi tự giác”, phường Đằng Giang “ Gia đình an toàn về ANTT”,

phường Đổng Quốc Bình “Vỉa hè gọn gàng, lòng đường an toàn”.

- Công an quận có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện pháp luật về

cư trú trên địa bàn quận cho UBND quận định kỳ hàng tháng. Kết quả phải

xác thực, đầy đủ và đúng thời gian quy định.

- UBND quận phải thật sự quan tâm, chỉ đạo sát sao công tác thực hiện

pháp luật về cư trú tại địa bàn. Không được giao phó, đùn đẩy trách nhiệm

kiểm tra, giám sát cho Công an quận.

77

- Song song với việc thực hiện pháp luật về cư trú, phải luôn chủ động

cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới trong lĩnh vực cư trú để triển

khai kịp thời, đúng quy định. Rà soát các văn bản đã hết hiệu lực thì không

được áp dụng và công khai rộng rãi để mọi người nắm và thực hiện.

Hai là , thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các văn bản về thực hiện

pháp luật cư trú

- Đối với Công an quận Ngô Quyền – cơ quan tham mưu trực tiếp

công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn quận :

+ Văn bản về thực hiện pháp luật cư trú sau khi được ban hành phải

được Công an quận triển khai thực hiện một cách chủ động.

+ Tại trụ sở tiếp dân của Công an quận và Công an 13 phường niêm

yết công khai thủ tục, hướng dẫn thực hiện pháp luật về cư trú phải rõ rang,

cỡ chữ và khổ giấy to, dễ hiểu và phải có bản ghi chép mẫu để người dân

tham khảo.

+ Nhiệm vụ phối hợp giữa Công an quận, Phòng tư pháp quận, Ban

chỉ huy quân sự quận ..trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú phải được

thực hiện một cách nghiêm túc theo chỉ đạo của UBND quận. Không được

đùn đẩy trách nhiệm, hoặc tự ý ôm đồm về một mối thực hiện một cách chủ

quan dẫn đến kém hiệu quả.

+ Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ cho những cán bộ làm

công tác thực hiện pháp luật về cư trú. Cần khen thưởng kịp thời những cá

nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoặc phụ trách vụ việc hồ sơ phức tạp,

đồng thời xử lý nghiêm những cán bộ có vi phạm trong quá trình thực thi

công tác như có thái độ không đúng mực khi tiếp dân, hách dịch, gây phiền

hà cho người dân, nhận hối lộ, või vĩnh để nhận hối lộ.

+ Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin vào

công tác thực hiện pháp luật về cư trú. Đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác

78

cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, tiến hành in ấn và công khai các thủ tục tại trụ sở

tiếp dân để người dân nắm bắt và thực hiện.

+ UBND 13 phường phải thường xuyên nắm bắt tình hình dân cư trên

địa bàn, cập nhật thông tin cư trú một cách nhanh chóng đầy đủ nhất. Thành

lập tổ cán bộ thống kê tình hình nhân khẩu hàng tháng, quý và năm để theo

dõi, phát hiện những biến động về số lượng và tính chất cư trú, nhất là đối

với nhân khẩu tạm trú, thông báo lưu trú, tạm vắng.

Ba là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về thực hiện pháp luật

cư trú

Việc tổ chức các buổi sinh hoạt tuyên truyền giáo dục về pháp luật nói

chung và pháp luật về cư trú nói riêng thường không thu hút nhiều người dân

tự giác tham gia. Do đó, để tạo động lực cho người dân bớt thời gian lao

động để tham gia thì tại mỗi buổi phổ biến pháp luật, UBND quận cùng

UBND phường có thể trích 1 phần kinh phí để phát cho mỗi người dân sau

mỗi buổi sinh hoạt.

Tuyên truyền viên trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú phải là

người đã được tập huấn, am hiểu pháp luật, có khả năng thuyết trình, diễn đạt

dễ hiểu. Đồng thời phải là người có kinh nghiệm giải quyết nhiều trường hợp

khác nhau, có khả năng giải đáp thắc mắc của người dân trong mọi trường hợp.

Chương trình tuyên truyền, giáo dục pháp luật phải được xây dựng

nghiêm túc để buổi sinh hoạt đạt hiệu quả cao nhất. Nội dung buổi tuyên

truyền phải phong phú, không khô khan, cứng nhắc; cần lồng ghép những

trường hợp thực tế để người dân dễ hiểu và dễ tiếp thu. Từ đó vận động

người dân tự giác chấp hành pháp luật cư trú để được hưởng những quyền lợi

tích cực.

Sau mỗi đợt tuyên truyền phải sơ kết, tổng kết để thấy được những mặt

làm được và hạn chế để rút ra kinh nghiệm. Quá trình tuyên truyền cần lồng

79

ghép những quyền lợi thiết thực của nhân dân với việc thực hiện đúng các quy

định của pháp luật cư trú như khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân

có thành tích xuất sắc tại các phường, những người dân tham gia tích cực trong

phong trào và giúp đõ các cán bộ công an làm công tác quản lý cư trú.

Bốn là, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố

cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú; tạo nền tảng xây dựng một bộ máy

quản lý và thực hiện pháp luật cư trú hoạt động hiệu quả

UBND quận tăng cường các cuộc thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột

xuất việc thực hiện pháp luật về cư trú. Kịp thời chỉ đạo, giải quyết nhưng

khúc mắc, tồn tại trong thời gian tổ chức thực hiện các văn bản thực hiện

pháp luật cư trú tại quận.

Phân công cán bộ trực tiếp hoặc phối hợp với cảnh sát khu vực của 13

phường kiểm tra việc chấp hành pháp luật cư trú của người dân, hộ gia đình,

cơ quan, tổ chức trên địa bàn quận. Mọi hoạt động kiểm tra cư trú đối với

người dân phải được thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra hoặc kiểm tra đột

xuất theo yêu cầu cấp bách phục vụ công tác đảm bảo ANTT [19].

Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú, hoạt động giải quyết

khiếu nại, tố cáo trong thực hiện pháp luật cư trú phải được thực hiện theo

đúng quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Nghị

định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ hướng dẫn thi hành

Luật tố cáo [14].

Xử lý nghiêm, triệt để các hành vi nhũng nhiễu, hối lộ, gây khó khăn

phiền hà cho nhân dân trong quá trình làm thủ tục, đăng ký cư trú.

Công tác xử lý vi phạm hành chính về thực hiện pháp luật cư trú phải

được thực hiện đúng trình tự, thủ tục. Việc ra quyết định xử phạt hành chính

phải tuân thủ pháp luật, đóng dấu treo, ghi rõ điều, khoản vi phạm, ra quyết

định xử phạt hành chính nhất thiết phải lập biên bản, khi tạm giữ hoặc trả lại

80

bất cứ giấy tờ nào cho người dân phải lập biên bản xác nhận. Nghiêm túc xử

lý nghiêm những trường hợp người dân tách khẩu để được hưởng những

quyền lợi về điện sinh hoạt và các quyền lợi khác.

3.2.2. Các giải pháp trên từng lĩnh vực cụ thể

Một là,trên lĩnh vực thường trú

Điều 3 luật cư trú quy định “ Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường

trú, tạm trú thì quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký

thường trú, tạm trú, quyền tự do cư trú của nhân dân chỉ bị hạn chế theo quyết

định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp

luật quy định. Căn cứ vào quy định của pháp luật, cơ quan công an quận Ngô

Quyền cần tham mưu cho UBND quận công khai các thủ tục liên quan đến

công tác đăng ký thường trú tạm ,trú tại trụ sở tiếp dân của UBND quận, tại

UBND 13 phường và các tổ dân phố. Song song với việc công khai các thủ

tục về đăng ký,thường trú tạm trú UBND quận Ngô Quyền cần đưa ra quy

định về ngân sách phục vụ cho việc in ấn, tài liệu tuyên truyền đến từng tổ

dân phố cũng như các biểu mẫu hướng dẫn cho người dân hoàn thiện thủ tục

về đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú. Đối với các cơ sở kinh doanh về lưu

trú phải có hợp đồng lao động đóng bảo hiểm xã hội cho những người làm

công tác tiếp nhận lưu trú tại cơ sở kinh doanh. Đối với lực lượng cán bộ cơ

sở phải có nguồn kinh phí chi trả hàng tháng cho cán bộ cơ sở khi thực hiện

pháp luật về cư trú của địa phương, nguồn kinh phí này cần phải công khai

minh bạch ,không thuộc các khoản lương hoặc các phụ cấp khác của cán bộ

cơ sở. Đối với lực lượng CSKV phải bố trí đúng những cán bộ học chuyên

ngành về QLHC, mỗi một đồng chí chỉ phụ trách địa bàn quản lý( theo điều

17 điều lệnh CSKV) không dưới 400 hộ hoặc 1.600 nhân khẩu, nhiều nhất

không quá 500 hộ hoặc 2.000 nhân khẩu [3]. Đồng thời không huy động lực

lượng CSKV vào làm những việc trái quy định như trực ban chốt điểm bảo vệ

81

các dự án... Đối với cán bộ tư pháp tại UBND phường phải nghiêm túc thực

hiện Quyết định 1299/QĐ-TTg ngày 04/8/2014 của thủ tướng chính phủ về

việc thực hiện đề án liên thông các TTHC: đăng ký khai sinh – đăng ký hộ

khẩu thường trú – bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Tất cả cán bộ liên

quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến công tác thực hiện pháp luật về cư trú đều

phải có hình thức ưa nhìn, không bị khuyết tật bẩm sinh, hoặc bị tàn tật khiếm

khuyết một phần cơ thể. Trong quá trình làm việc tiếp dân phải tuân thủ cá

quy tắc đạo đức nghề nghiệp, có thái độ cử chỉ hành động vui vẻ, lễ phép tạo

sự thân thiện cởi mở đặc biệt không gây phiền hà sách nhiễu cửa quyền hách

dịch, nhận hối lộ hoặc tự đặt ra thời gian thủ tục giấy tờ biểu mẫu trái với quy

định của pháp luật, làm sai lệch sổ sách, hồ sơ về cư trú, cố ý hoặc từ chối cấp

giấy tờ về cư trú trái với quy định của pháp luật.

Hiện nay tại nhiều nước trên thế giới có xu hướng quản lý con người về

nhân thân, nơi cư trú ngày càng hướng tới xã hội dân sự, đặc biệt có sự thay

đổi lớnvề quan điểm luật pháp lấy con người cùng các hoạt động xã hội của

con người làm trung tâm để quản lý.Những quan hệ xã hội phát sinh trong quá

trình sinh sống, làm việc của mỗi con người đều được cơ quan quản lý nhà

nước thu thập, tích lũy để làm cơ sở đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã

hội, văn hóa từ đó đề ra các biện pháp quản lý nhà nước đảm bảo sự phát triển

của xã hội, nhu cầu thụ hưởng của người dân.

Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực hiện pháp luật tại quận Ngô

Quyền, cá nhân người nghiên cứu nhận thấy: Một con người khi sinh ra thì

được đảm bảo quyền làm thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu thường

trú, làm thẻ bảo hiểm y tế tại UBND phường( cơ quan HCNN cấp trực tiếp).

Đương nhiên khi đăng ký hộ khẩu thường trú thì người đó (đứa trẻ) đó được

viết tên vào sổ hộ khẩu của gia đình, trong số hộ khẩu có mục quan hệ với chủ

hộ thì cán bộ đăng ký phải ghi đầy đủ mối quan hệ của đứa trẻ đối với chủ hộ.

82

Trong trường hợp đứa trẻ là con thì người đọc sổ hộ khẩu dễ dàng hiểu được

thông tin, nhưng nếu đứa trẻ là bậc thứ tư trong gia đình thì rất khó hình dung

được mối quan hệ của đứa trẻ đó với bố mẹ đẻ. Khi đứa trẻ lớn lên thì phải

kết hôn, việc kết hôn cũng phải ra UBND phường đăng ký kết hôn và hệ quả

pháp lý cuối cùng đối với một đời con người là lúc chết đi, gia đình người

thân cũng phải ra UBND phường làm thủ tục khai tử, sau đó xóa hộ khẩu

thường trú. Rõ ràng sổ hộ khẩu gia đình có tính chất dung nạp thông tin về

mặt tư pháp của một con người nhiều hơn tính chất an toàn, an ninh của một

con người. Bộ công an được chính phủ giao cho thực hiện Luật cư trú nhưng

trong Luật cư trú lại có rất nhiều điều quy định đăng ký thường trú gắn với sổ

hộ khẩu gia đình. Người nghiên cưu có đề xuất, kiến nghị: Nên chăng sổ hộ

khẩu gia đình nếu còn để tồn tại trong tương lai thì nên giao cho bộ tư pháp

chủ trì việc mã hóa các số liệu hộ khẩu theo phương thức liên thông trực

tuyến 4 cấp, cán bộ tư pháp thuộc UBND cấp phường thực hiện công tác đăng

ký và quản lý. Nếu được như vậy thì đã tiết kiện được rất nhiều thời gian,

công sức, tiền bạc cho nhân dân vì người dân không phải làm thêm một bước

đăng ký kết hôn phải đi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc khai tử phải xóa hộ

khẩu thường trú. Đồng thời cán bộ tư pháp của UBND khi xác lập lý lịch tư

pháp đối với một công dân thông qua sổ hộ khẩu dễ dàng hoàn thiện công

việc được tốt hơn.

Xây dựng phát triển hệ thống pháp luật, thực hiện pháp luật về cư trú

trên cơ sở thu thập thông tin sinh sống của một con người từ những thông tin

gốc của một con người. Đơn cử chúng ta có thể xây dựng mỗi một người khi

sinh ra có quyền lựa chọn cho mình một nơi đăng ký thường trú. Khi đăng ký

khai sinh, đăng ký thường trú mỗi một con người đều được cơ quan nhà nước

cấp cho một mã số tạm gọi là mã số định danh cá nhân (đây là một mã số bao

gồm nhiều dãy số tự nhiên nhưng phải đảm bảo không trùng lặp với bất cứ

83

người nào). Mã số định danh cá nhân về bản chất để cơ quan quản lý nhà

nước dung nạp tất cả các thông tin liên quan đến một con người như bố, mẹ,

quê quán, nơi sinh ra giới tính, nhóm máu. Trên cơ sở mã định danh cá nhân

thì các cơ quan nhà nước sẽ xây dựng pháp luật quản lý một con người đó.

Mã số định danh cá nhân trên cơ sở tích hợp sẽ là số tài khoản đăng ký tại

ngân hàng, là số thẻ căn cước công dân, số hộ chiếu cá nhân, số thẻ bảo hiểm

y tế, số biển xe mô tô, ô tô... Với phương pháp quản lý này công dân đi đâu,

làm gì, cư trú ở đâu nhà nước đều có thể quản lý được.Đồng thời người dân

khi thay đổi chỗ ở không phải làm thủ tục đăng ký thường trú mà chỉ cần

đăng ký tạm trú, lưu trú là đảm bảo tính pháp lý ổn định. Mở rộng ra khi

người dân vi phạm pháp luật ( vi phạm giao thông) cơ quan quản lý nhà nước

có thể ra lập biên bản và xử lý vi phạm giao thông bằng hình ảnh, không cần

gặp trực tiếp người vi phạm là có thể xử lý được vì thông qua biển số đăng ký

phương tiện tham gia giao thông (mã số định danh cá nhân) là có thể gửi

quyết định xử lý vi phạm hành chính sang ngân hàng trừ tiền trong tài khoản

của công dân đó. Mã số định danh cá nhân sẽ giúp bộ máy quản lý nhà nước

giảm thiểu được các văn bản pháp luật về quản lí con người, đồng thời sẽ xóa

đi một số lợi ích nhóm của một số ngành nghề trong xã hội như, ngành điện

không còn đòi hỏi sổ hộ khẩu để chứng minh nơi cư trú của một con người.

Ngành giáo dục cũng không được đòi hỏi sổ hộ khẩu gia đình trong việc xin

đi học và còn một số công việc cá nhân của công dân như thành lập doanh

nghiệp, cửa hàng kinh doanh cùng các giao dịch điện tử khác.

Mã số định danh cá nhân nếu được thực hiện thêm một bước thì sẽ

giảm được rất nhiều TTHC mà người dân bây giờ đang sử dụng. Đơn cử nếu

thực hiện mã số định danh cá nhân, người dân không phải mỗi lần chuyển nhà

ở lại phải đi làm thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú, cơ quan nhà nước ở các

đơn vị quản lý khác cũng rất dễ dàng thực hiện pháp luật quyền và nghĩa vụ

84

trong các giao dịch dân sự (kinh tế, quản lý). Mỗi khi công dân thực hiện

quyền tự do cư trú của mình đến nơi mới chỉ cần đưa thẻ căn cước, trình báo

với cơ quan QLHC nhà nước như cơ quan công an (mã số định danh cá nhân

chính là số thẻ căn cước) thì cơ quan công an chỉ cần nhập mã số định danh cá

nhân vào hệ thống dữ liệu dân cư quốc gia thì toàn bộ nhân thân, quá trình

sinh sống, đi lại cư trú của công dân đó đều được nắm bắt đầy đủ. Công dân

cần làm các thủ tục khác như : đăng ký chuyển hộ khẩu thường trú, thủ tục

tạm trú, đăng ký kinh doanh…có mã số định danh như đã nêu trên thì đã góp

phần giảm thiểu tối đa các TTHC, thời gian, tiền bạc của người dân và giảm

thiểu cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú trong bộ máy Nhà nước. Ví dụ: Anh

Nguyễn Văn Hùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 39 Nguyễn Lương Bằng

– quận Kiến An – thành phố Hải Phòng thuê nhà tại số 19 Cầu Đất – quận

Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng chỉ cần đến công an phường Cầu Đất đưa

thẻ căn cước (số thẻ căn cước là mã định danh cá nhân), cán bộ tiếp nhận chỉ

cần nhập số thẻ vào máy dữ liệu quốc gia về dân cư là đã hoàn thành cả 1 quá

trình khai báo lưu trú, tạm trú và thường trú trong thời gian 60 giây.

Hai là, trên lĩnh vực tạm trú, lưu trú

Trước đây, tại địa bàn 13 phường, mỗi tỏ dân phố đều có điểm khai báo

tạm trú nhưng qua công tác khảo sát thực tế, các điểm khai báo tạm trú gần

như không còn hoạt động; có chỗ, có nơi còn hoạt động nhưng không phát

huy hiệu quả đối với công tác khai báo tạm trú, lưu trú. Nguyên nhân những

điểm trên thường là nhà riêng của người dân trên địa bàn. Nay trong xu thế

phát triển kinh tế xã hội, các nhà mặt ngõ, mặt phố đều được các chủ hộ gia

đình cho thuê làm nơi kinh doanh , buôn bán, do vậy người làm công tác thực

hiện pháp luật cư trú thường phải kê bàn ghế ra ngoài vỉa hè hoặc ngõ để làm

việc; do vậy cán bộ thường làm cho qua loa, đối phó. Một trong những

nguyên nhân khác là người dân thiếu ý thức trong việc thực hiện pháp luật về

85

cư trú vì khai báo tạm trú, lưu trú cũng không mang lại lợi ích trước mắt cho

người dân. Việc đôn đốc, xử lý trong công tác khai báo còn mang nặng tính

hình thức, chỉ nhắc nhở động viên mà không sử dụng biện pháp mạnh theo

quy định của pháp luật là xử phạt hành chính.

Theo đề xuất của cá nhân tác giả: việc khai báo tạm trú, lưu trú có thể

thực hiện dưới các hình thức : gặp trực tiếp cán bộ làm công tác lưu trú ( tổ

trưởng, tổ phó các tổ dân phố, bảo vệ dân phố, dân quân… tùy theo từng địa

phương bố trí cán bộ trực khai báo lưu trú ). Gọi điện thoại, hoặc gửi tin nhắn

qua email, zalo…với mục đích cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân của người cần

khai báo. Các cán bộ làm công tác quản lý lưu trú có thể thành lập các nhóm zalo

chát từ cấp cơ sở đến quận để cập nhật các thông tin lưu trú, đây là một hình

thức mang lại hiệu quả cao không chỉ trong công tác thực hiện pháp luật cư trú

mà còn đối với việc đảm bảo tình hình ANCT và TTXH trên địa bàn.

Ba là, nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan QLHC nhà nước.

Trong những năm qua công an quận Ngô Quyền đã thực hiện tốt chủ để

“ Đoàn kết, kiên cường, kỷ cương, hiệu quả” do giám đốc công an thành phố

chỉ đạo, Công an quận đã tập trung chỉ đạo thực hiện toàn diện có hiệu quả

các mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ công tác trọng tâm đã đề ra, nổi bật là: đã làm

tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, CQĐP lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có

hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhà nước, chính phủ liên quan đến

công tác bảo vệ ANTT đặc biệt là công tác thực hiện pháp luật về cư trú ở địa

phương. Công an, quân đội đã chủ động phối hợp với các cấp, các ngành, các

đoàn thể triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT tại địa bàn quận, bảo vệ

an toàn các ngày lễ, các ngày tết, ngày truyền thống của lực lượng CAND,

đón và bảo vệ an toàn các đoàn khách quốc tế, các đồng chí lãnh đạo Đảng và

nhà nước các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước đến thăm và làm việc

trên địa bàn quận.

86

Các mặt công tác chuyên môn, nghiệp vụ cơ bản được triển khai toàn

diện, trong đó công tác phòng ngừa tội phạm được coi trọng đạt hiệu quả

cao.Công tác phòng ngừa được tập trung vào công tác khai báo lưu trú, tạm

trú, rà soát tất cả những trường hợp đến làm việc trên địa bàn. Trên những

thông tin thu thập được công an quận đánh giá xác định những công dân có

nhân thân không rõ ràng đều được xác minh nóng ( qua điện thoại) gửi phiếu

yêu cầu xác minh, đối với những công dân có tiền án, tiền sự, cơ quan công

an quận Ngô Quyền đã chỉ đạo công an các phường chủ động nắm chắc các

diễn biến, di biến động của số đối tượng trên, chủ động có phương án ngăn

chặn có hiệu quả nếu số đối tượng nếu trên có hành vi, vi phạm pháp luật.

Tình hình ANTT trong những năm qua ổn định, toàn quận không có một điểm

nào phát sinh thành điểm nóng về vi phạm pháp luật. TTATXH trên toàn

quận có nhiều chuyển biến rõ rệt, cơ quan công an tiếp tục kiềm chế hoạt

động của tội phạm, số vụ phạm pháp hình sự giảm so với các năm trước, các

tình trạng như cướp, cướp giật cưỡng đoạt tài sản gần như không xảy ra. Các

tụ điểm tuyến địa bàn phức tạp về TTXH đã được tập trung giải quyết triệt

để.Công tác phát động toàn dân bảo vệ ANTQ đã được đẩy mạnh lồng ghép

với công tác tuyên truyền pháp luật tại cơ sở. Công tác quản lý nhà nước về

ANTT được tăng cường với nhiều nội dung biện pháp, cách làm mới, mang

lại hiệu quả cao. Công tác kiểm tra xử lý vi phạm về TTATGT, trật tự công

cộng, khai báo lưu trú và các công tác khác như công tác cải cách hành chính

luôn được theo dõi chặt chẽ. Việc lãnh đạo chỉ huy đơn vị thường xuyên kiểm

tra đôn đốc bộ phận tiếp dân tại khu vực một cửa đã được đặt lên hàng đầu,

do vậy cán bộ chiến sỹ làm công tác tiếp dân trong việc thực hiện pháp luật

tại cơ sở như đăng ký thường trú, tạm trú luôn là bộ phận nòng cốt đảm bảo

hiệu quả cao trong công tác quản lý này.

87

Tiểu kết chƣơng 3

Trên cơ sở đánh giá, dự báo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, dân

cư; tác giả định hướng công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn

quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng sẽ được thực hiện một cách chặt chẽ,

hiệu quả nhất cho dù các biến động của xã hội, dân cư có những tác động thay

đổi. Thực hiện pháp luật về cư trú là một trong những nội dung quan trọng

trong hoạt động quản lý nhà nước đối với các vấn đề xã hôi được tiến hành

theo quy định của pháp luật về cư trú : quá trình tiến hành đăng ký thường trú,

tạm trú, lưu trú phải có sự phân công, phân cấp theo thứ bậc chặt chẽ, xác

định rõ phạm vi trách nhiệm của Công an quận Ngô Quyền ( đội An ninh

nhân dân, đội quản lý hành chính ), Công an 13 phường. Thực hiện pháp luật

về cư trú là một nội dung của quản lý hành chính nhà nước phục vụ cho yêu

cầu quản lý xã hội, vừa phục vụ yêu cầu phòng ngừa , đấu tranh chống tội

phạm và các vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm ANCT và TTATXH. Thực

hiện pháp luật về cư trú còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp

pháp của công dân như : quyền bầu cử, ứng cử, học tập, việc làm, sở hữu tài

sản; đây là những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.

Trong thực tế, UBND, Công an quận Ngô Quyền trong quá trình thực hiện

pháp luật về cư trú còn có một số hạn chế, việc nghiên cứu định hướng và đưa

ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này là vô cùng cần thiết .Để thực hiện

hiệu quả, UBND và Công an quận Ngô Quyền cần bám sát theo từng nội

dung của pháp luật về cư trú, đồng thời thực hiện nghiêm túc các văn bản

quản lý nhà nước về cư trú, phát huy các mặt tích cực trong công tác tuyên

truyền giáo dục pháp luật về cư trú, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra giải

quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú , tạo nền tảng xây

88

dựng đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú vững vàng về chuyên môn,

hiệu quả trong công việc.

Ngoài ra, tác giả đề xuất một số giải pháp trên từng lĩnh vực cụ thể của

thực hiện pháp luật về cư trú: xóa bỏ quản lý thường trú bằng sổ hộ khẩu gia

đình thay bằng thực hiện mã số định danh cá nhân, tạo các nhóm liên kết zalo

của các cán bộ thực hiện công tác pháp luật cư trú. Tóm lại, trong chương 3,

tác giả đã định hướng công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô

Quyền, thành phố Hải Phòng một cách xác thực, nghiên cứu đề xuất những

giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này một cách toàn diện và khả thi.

89

KẾT LUẬN

Thực hiện pháp luật về cư trú cư trú là cơ quan nhà nước quản lý các

hoạt động của con người trong quá trình sinh sống, lao động và học tập. Quá

trình nêu trên của một con người được cơ quan nhà nước kiểm soát, thu thập

các thông tin nhằm mục đích chủ động đề ra các biện pháp đảm bảo an sinh

xã hội ( tư vấn nghề nghiệp, điều chỉnh các ngành trong sử dụng lao động, bố

trí cơ sở hạ tầng trường học, bệnh viện, đường xá đi lại cho người dân tham

gia giao thông) Đồng thời với việc đó là công tác nghiệp vụ của ngành công

an trong công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm. Lực lượng công an

qua các biện pháp quản lý các hộ dân, con người cư trú để kịp thời nắm được

những di biến động của đối tượng có những hành vi, vi phạm pháp luật hoặc

có nguy cơ cao vi phạm, pháp luật ( các mâu thuẫn trong sinh hoạt của nhân

dân phải kịp thời hòa giải tại cơ sở ). Công dân khi thực hiện các quyền và

nghĩa vụ về đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú tức là đã công khai các thông

tin cá nhân của mình đối với cơ quan quản lý nhà nước mà ở đây là lực lượng

công an. Việc công khai thông tin cũng có nghĩa làm hạn chế những động cơ,

việc làm dễ dẫn đến vi phạm pháp luật ( vì đặc tính của tội phạm là muốn che

dấu thông tin cá nhân và các hành vi vi phạm pháp luật của mình). Nếu tất cả

các thông tin đã được công khai cho cơ quan Nhà nước thì đương nhiên người

định thực hiện hành vi phạm tội sẽ từ bỏ hành vi phạm tội( đơn cử như việc

một người định lấy trộm xe máy của người khác nhưng vì thông tin cá nhân

đã được cơ quan công an quản lý sẽ từ bỏ được trộm cắp xe máy). Từ đó có

thể khẳng định rằng việc đưa luật cư trú đi vào đời sống của nhân dân đã thể

hiện chức năng quản lý của nhà nước bằng pháp luật đồng thời nâng cao được

hiệu lực, hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật của nhà nước. Ngoài ra

cũng phát huy được tính pháp lý của mỗi con người là công khai bản thân

90

mình trước pháp luật ( mỗi người dân đều công bằng trước pháp luật) đảm

bảo xã hội được giữ vững về TTATXH hạn chế tối đa các hành vi vi phạm

pháp luật.

Trong những năm qua quận Ngô Quyền đã được sự quan tâm của

Đảng, Nhà nước, thủ tướng chính phủ, UBND thành phố Hải Phòng cấp ngân

sách xây dựng nhiều công trình hạ tầng mới như đường Lê Hồng Phong,

đường Văn Cao trong tương lai rộng 100m, đường Đông Khê. Hạ tầng cơ sở

của quận phát triển đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế văn hóa giáo dục, đời

sống của nhân dân quận Ngô Quyền không ngừng được nâng cao về mọi

mặt.Muốn đảm bảo ANTT –TTATXH thì các cơ quan quản lý của quận Ngô

Quyền nói chung và công an 13 phường phải tổ chức làm tốt công tác thường

trú, tạm trú, lưu trú đối với người dân đang sinh sống làm việc trên địa bàn

quận việc quản lý chắc đối với các nhân khẩu trên sẽ làm hạn chế các mâu

thuẫn phát sinh trong xã hội cũng như các mặt tiêu cực ( các tệ nạn xã hội cờ

bạc mại dâm sử dụng trái phép chất ma túy) phát sinh trong quá trình xây

dựng phát triển kinh tế trên địa bàn quận. Thực hiện pháp luật về cư trú tức là

công tác đăng ký hộ khẩu, đăng ký tạm trú, lưu trú là một biện pháp QLHC

của nhà nước, được giao cho lực lượng CAND nói chung và công an quận

Ngô Quyền nói riêng thực hiện. Việc thực hiện pháp luật cư trú tại quận Ngô

Quyền đã góp phần giữ vững được ANCT, không có vụ việc đột xuất bất ngờ

xảy ra là những mặt tích cực góp phần thúc đẩy mạnh mẽ các doanh nghiệp

trong nước và ngoài nước đầu tư các dự án vào quận Ngô Quyền phục vụ cho

việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

91

DANH MỤC, TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Công an (2011) Thông tư 80/BCA ngày 15/12/2011 về quy trình đăng

ký cư trú.

2. Bộ Công an (2007) Quyết định số 106/2007/QĐ-BCA(C11) ban hành

Điều lệnh CSKV, ban hành ngày 13/02/2007, Hà Nội.

3. Bộ Công an và Bộ Ngoại giao (2009) Thông tư liên tịch số

05/2009/TTLT-BCA-BNG hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân

Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam, ban

hành ngày 12/5/2009, Hà Nội.

4. Bộ Công an (2012) Thông tư số 78/2012/TT-BCA quy định trình tự thực

hiện công tác cơ bản của Cảnh sát khu vực, ban hành ngày 28/12/2012,

Hà Nội.

5. Bộ Công an (2014) Thông tư số 35/2014/TT–BCA quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/ND0-CP

ngày 18/4/2014 của Ch nh phủ quy định chi tiết một số điều và biện

pháp thi hành Luật Cư trú, ban hành ngày 09/9/2014, Hà Nội.

6. Bộ Công an (2014) Thông tư số 36/2014/TT-BCA quy định về biểu mẫu

sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú, ban hành ngày 09/9/2014, Hà

Nội.

7. Bộ Công an (2015) Thông tư số 09/2015/TT-BCA ban hành Điều lệnh

CSKV, ban hành ngày 10/02/2015, Hà Nội.

8. Bộ Giáo dục và đào tạo (2005) Giáo trình triết học Mác – Lê nin, nhà

xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội.

9. Bộ Tài chính (2014) Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02 tháng 1 năm

2014 hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của hội

đồng nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương.

92

10. Chính phủ (2007) Chỉ thị số 07/2007/CT-TTg ngày 29/3/2007 của Thủ

tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai, thi hành Luật Cư trú, Hà

Nội.

11. Chính phủ (2013) Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi

phạm hành ch nh trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng,

chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực

gia đình, ban hành ngày 12/11/2013, Hà Nội.

12. Chính phủ (2014) Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số

điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, ban hành ngày 18/4/2014, Hà

Nội.

13. Chính phủ (2014) Nghị định số 106/2014/NĐ–CP quy định chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, ban hành ngày

17/11/2014, Hà Nội.

14. Chính phủ (2012) Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 hướng

dẫn thi hành luật khiếu lại.

15. Chính phủ, Nghị định số 31/2014 NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính phủ

quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú.

16. Chương trình số 694/CAHP-PC64 ngày 22/7/2015 về thực hiện Kế

hoạch 372/KH-CAHP-PV11 ngày 31/3/2015 triển khai thực hiện Thông

tư 09/2015/TT-BCA của Bộ Công an quy định điều lệnh CSKV.

17. Đỗ Văn Rụ (2003) CSKV thực hiện chức năng QLNN về ANTT ở cơ sở -

Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.

18. Đinh Thế Cát Luật cư trú, hỏi đáp về luật cư trú dành cho cán bộ quản

lý hành chính Nhà xuất bản Công an nhân dân (2017).

19. Hướng dẫn số 80/C64-P7 ngày 10/01/2014 của Cục cảnh sát QLHC về

TTXH ban hành hướng dẫn thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản theo

chức năng của lực lượng cảnh sát QLHC về TTXH.

93

20. Hà Lê Giang (2016) Quyền tự do cư trú của công dân từ thực tiễn thành

phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội,

Hà Nội.

21. Kế hoạch số 372/KH-CAHP-PV11 ngày 31/3/2015 của CATP Hải

Phòng về việc triển khai thực hiện Thông tư số 09/2015/TT-BCA ngày

10/2/2015 của Bộ Công an quy định điều lệnh CSKV.

22. Lê Thành (2004) Các giải pháp tăng cường công tác công tác đăng ký,

quản lý hộ khẩu và xây dựng Luật Cư trú, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà

Nội.

23. Lệnh số 26/2006/L-CTN ngày 12/12/2006 của Chủ tịch nước về việc

công bố Luật Cư trú.

24. Lê Huy (2010 Luật Cư trú và hộ tịch hộ khẩu, Sách tham khảo, Nxb Lao

động, Hà Nội.

25. Luật cư trú và công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú Học viện

cảnh sát nhân dân (2008).

26. Minh Hùng (2011) Hỏi đáp các quy định của pháp luật về cư trú và các

văn bản có liên quan, Sách tham khảo, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

27. Nguyễn Văn Tảo (1996) QLNN về hộ khẩu, nhân khẩu trong tình hình

mới - Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.

28. Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 của Chính phủ quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú, Hà Nội.

29. Nguyễn Ngọc Anh (2017 “ Bình luận luật cư trú – công cụ pháp lý

quan trọng để nâng cao hiệu quả QLHC trong quản lý cư trú”, Tạp ch

Tòa án nhân dân, số 14.

30. Nguyễn Văn Quân “Yêu cầu về an toàn pháp lý trong Nhà nước pháp

quyền” đăng trên tạp chí Luật học, số 9 năm 2016.

31. Quốc hội (2006) Luật Cư trú, Hà Nội.

94

32. Quốc hội (2013) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa iệt Nam,

Hà Nội.

33. Quốc hội (2013) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú, Hà Nội.

34. Quốc hội (2014) Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người

nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.

35. Quốc hội (2015) Luật số 77/2015/QH 13 ngày 19/06/2015 về luật tổ

chức chính quyền địa phương.

36. Quốc hội (2015) Luật số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 Bộ Luật dân sự

37. Quy trình đăng ký cư trú (tr ch Thông tư số 61/2014/TT-BCA ngày

20/11/2014 của Bộ Công an), Hà Nội.

38. Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật cư trú được sửa đổi, bổ sung 2013, tập

thể tác giả do Thiếu tướng GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên nhà xuất

bản Giao thông vận tải (2014).

39. Trần Hải Âu, Cù Ngọc Trang quy trình công tác của cảnh sát khu vực

Nhà xuất bản Công an nhân dân (2014).

40. Trần Hải Âu, Đinh Thế Cát (2017) Luật cư trú và quản lý cư trú đối với

công dân, tạp chí CSND, giáo trình in, xuất bản tháng 12/2017 tại trung

tâm lưu trữ thư viện Học viện CSND.

41. Thông tư số 32/2013/TT-BCA-C41 của Bộ Công an quy định chế độ

công tác hồ sơ, thống kê nghiệp vụ cảnh sát, Hà Nội.

42. Vũ Xuân Trường, Cù Ngọc Trang (2008) Cẩm nang công tác đăng ký,

QLNN về cư trú, Sách chuyên khảo, Nxb CAND, Hà Nội.

95