BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
........../..........
......../.......
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN TUẤN ANH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ TẠI
QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
........../..........
......../.......
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN TUẤN ANH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ TẠI
QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 8380102
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ ANH THƢ
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi.Các số liệu nêu trong luận văn này là trung thực.Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN TUẤN ANH
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các
đồng nghiệp là các cán bộ, chiến sỹ, công an quận Ngô Quyền, các bạn học
tại khoa Lớp cao học: LH4B1 - Niên khóa: 2017 -2019 cùng các thầy, cô tại
Học viện hành chính Quốc Gia, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cán bộ,
chiến sỹ, công an quận Ngô Quyền, các bạn học, thầy cô giáo giảng dạy, giúp
đỡ cung cấp cho tôi nhiều kiến thức, số liệu để hoàn thiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới cô giáo: Tiến sĩ
Nguyễn Thị Anh Thư đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong quá
trình hoàn thiện Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN TUẤN ANH
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ ........................................................................................................... 9
1.1. Cƣ trú và pháp luật về cƣ trú ............................................................. 9
1.1.1. Quan niệm về cư trú ........................................................................ 9
1.1.2. Quan niệm pháp luật về cư trú .................................................... 10
1.2. Thực hiện pháp luật về cƣ trú ........................................................... 16
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về cư trú .................. 16
1.2.2. Hình thức thực hiện pháp luật về cư trú ........................................ 17
1.2.3. Nội dung thực hiện pháp luật về cư trú ......................................... 19
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện pháp luật về cƣ trú .............. 25
1.3.1. Yếu tố chính trị .............................................................................. 25
1.3.2. Yếu tố kinh tế ................................................................................ 27
1.3.3. Yếu tố văn hóa .............................................................................. 29
1.3.4. Yếu tố pháp luật ............................................................................ 32
1.3.5. Yếu tố quốc tế ............................................................................... 34
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 35
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ .... 36
TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ...................... 36
2.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng .............................................. 36
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng .......... 36
2.1.2. Tình hình công dân cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng 37
2.1.3. Tình hình kinh tế xã hội, TTATXH tại quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng ................................................................................................ 39
2.2. Thực trạng việc thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng ............................................................................... 43
2.2.1. Việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng .. 43
2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về cư trú tại địa bàn quận Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng: ........................................................................... 46
2.2.3. Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, kiểm tra lưu trú tại công an quận Ngô Quyền – TP Hải Phòng. ............................................ 51
2.3. Nhận xét, đánh giá ............................................................................. 57
2.3.1. Ưu điểm ......................................................................................... 57
2.3.2. Hạn chế .......................................................................................... 59
2.3.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế: ......................................... 68
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 70
Chƣơng 3 ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CƢ TRÚ TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ........................................................................ 72
3.1. Định hƣớng thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ........................................................................................... 72
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ................................................................... 75
3.2.1. Giải pháp trong nội dung thực hiện pháp luật về cư trú ............... 75
3.2.2. Các giải pháp trên từng lĩnh vực cụ thể ........................................ 81
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 88
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
DANH MỤC, TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 92
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Ý nghĩa
An ninh trật tự ANTT 1
Công an nhân dân CAND 2
Chính quyền địa phương CQĐP 3
Cánh sát khu vực CSKV 4
Quản lý hành chính QLHC 5
Thủ tục hành chính TTHC 6
Trật tự xã hội TTXH 7
Uỷ ban nhân dân UBND 8
TTATXH Trật tự an toàn xã hội 9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã
viết lên những trang sử vẻ vang với bao chiến công hiển hách chống xâm lược
và ách thống trị của ngoại bang. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một
trong những mốc son chói lọi nhất, là thành quả đấu tranh kiên cường, bất
khuất của nhân dân Việt Nam về khát vọng hòa bình, độc lập, tự do. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lập
nên nhà nước dân chủ nhân dân vào ngày 2/9/1945.
Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói
chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ, vì vậy cho nên Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký sắc lệnh lập ủy ban dự thảo Hiến pháp để trình quốc hội. Bản
Hiến pháp năm 1946 ra đời tuân thủ theo nguyên tắc “ đảm bảo các quyền tự
do dân chủ”; lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam được đảm bảo các
quyền tự do, dân chủ được quy định tại Điều 10 : “ Công dân Việt Nam có
quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín
ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.
Xuyên suốt quá trình thay đổi các bản hiến pháp từ bản Hiến pháp đầu
tiên năm 1946 ( Điều 10), Hiến pháp năm 1959 (Điều 28), Hiến pháp năm
1980 (Điều 71), Hiến pháp năm 1992 (Điều 68), Hiến pháp năm 2013 (Điều
23), tự do cư trú luôn là một trong những quyền cơ bản của con người Việt
Nam. Không những vậy, trong các nhánh luật như Bộ luật dân sự, Luật cư trú
và các văn bản quy phạm pháp luật khác đều quy định rõ quyền tự do cư trú
của công dân Việt Nam. Trước sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhất
là yêu cầu hội nhập kinh tế, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Ngày 29
tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
ban hành Luật cư trú (Sửa đổi, bổ sung năm 2013) nhằm đáp ứng các đòi hỏi
1
khách quan, để công dân Việt Nam thực hiện quyền tự do cư trú ở trong nước
của mình theo quy định của Hiến pháp 2013 và đáp ứng yêu cầu đăng ký
thường trú, tạm trú , lưu trú trong tình hình mới, trong điều kiện Việt Nam hội
nhập kinh tế và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế. Thực hiện pháp luật về cư
trú là đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phục vụ đắc lực cho công
cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và phát triển đất nước.
Từ khi Luật Cư trú ra đời vào ngày 25/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc
hội khóa XI cho đến khi sửa đổi bổ sung ngày 20/6/2013 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/1/2014 cho thấy nhiều quy định của pháp luật về cư trú chưa
hợp lý, việc đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú chưa đúng với quy
định, mang nặng cơ chế “xin- cho”, trình tự thủ tục giải quyết còn rườm rà,
phức tạp, chưa thực sự dân chủ, thống nhất dẫn đến tình trạng vận dụng tuỳ
tiện, gây khó khăn, phiền hà cho công dân.
Ngoài ra, trong thực tế một bộ phận nhân dân chưa thực hiện tốt quy
định của pháp luật về đăng ký thường trú, tạm trú, làm cho việc thực hiện
pháp luật về cư trú đạt kết quả chưa cao, tạo ra kẽ hở để các phần tử xấu lợi
dụng tiến hành hoạt động xâm phạm đến ANCT - TTATXH. Với mục đích
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú phù hợp với chủ trương cải
cách hành chính; phù hợp với tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác
quốc tế, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo đảm
quốc phòng, an ninh, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Tạo khuôn khổ pháp lý hữu hiệu để bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi tối đa cho công
dân Việt Nam làm ăn, sinh sống, chống phiền hà, tiêu cực; đồng thời, bảo
đảm cho công tác thực hiện pháp luật về cư trú có hiệu quả trong giai đoạn
hiện nay và những năm tiếp theo. Tạo cơ sở để củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ
2
máy, cán bộ làm công tác đăng ký thường trú, tạm trú, đổi mới phương pháp,
ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học, công nghệ trong việc thực hiện
pháp luật về cư trú đạt được những kết quả nhất định. Nhưng đánh giá một
cách tổng quát về việc thực hiện pháp luật cư trú vẫn còn những khó khăn,
vướng mắc nguyên nhân đến từ rất nhiều phía: Các quy định pháp luật; Các
quy trình thực hiện pháp luật, cán bộ làm công tác thực hiện pháp luật; sự
hiểu biết của người dân đối với pháp luật về cư trú và ý thức chấp hành pháp
luật.[29]
Đối với thành phố Hải Phòng nói chung và quận Ngô Quyền nói riêng
đã được Chính phủ quan tâm xây dựng tuyến đường mới kết nối hai trung tâm
chính trị Quận Ngô Quyền – Quận Hải An; Kết nối trung tâm hành chính
thành phố với sân bay Cát Bi, đó là đường Lê Hồng Phong ( Ngã năm – sân
bay Cát Bi ). Đường Lê Hồng Phong được khởi công năm 1997 có chiều dài
5,2 km và 6 làn đường xe chạy, trong quá trình xây dựng con đường trên;
Quận Ngô Quyền đã phải di dời; đền bù nhà, đất cho khoảng hơn 2.300 hộ
dân thuộc các phường Gia Viên, Lạc Viên, Đông Khê, Đằng Giang. Năm
2004, con đường Lê Hồng Phong đã được thông tuyến khánh thành nhưng
những hệ lụy liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú vẫn còn phải
giải quyết sau nhiều năm.
Vì vậy đề tài “Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền,
thành phố Hải Phòng”đã được học viên lựa chọn cho luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn
Vấn đề đăng ký cư trú và thực hiện pháp luật về cư trú gần đây đã thu
hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học, giảng viên các học viện,
trường đại học cũng như đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước
về cư trú. Có thể nêu một số công trình như sau:
3
Giáo trình: “Luật Cư trú và công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư
trú”, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2008 [25]. Đây là tài liệu chính thống được
sử dụng trong công tác nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện Cảnh sát nhân dân.
Tài liệu gồm 03 chương: chương 1, những vấn đề cơ bản về Luật Cư trú;
chương 2, Công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú; chương 3, Cơ sở dữ
liệu về cư trú. Tại chương 2, Giáo trình đã cung cấp những kiến thức lý luận
cơ bản có tính chất tác nghiệp cho sinh viên chuyên ngành quản lý hành chính
về trật tự xã hội trong thực hiện quản lý nhà nước về cư trú.
Sách tham khảo: “Quy trình công tác của Cảnh sát khu vực”, PGS, TS
Trần Hải Âu, Ths Cù Ngọc Trang, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm
2014[39].Trong chương 4, nhóm tác giả đã chỉ dẫn một số nhóm quy trình
đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú cụ thể như: quy trình rà soát, lập danh
sách nhân, hộ khẩu; quy trình nắm tình hình về nhân, hộ khẩu, quy trình
hướng dẫn bản khai nhân khẩu; quy trình công tác phân loại nhân khẩu; quy
trình công tác kiểm tra hộ khẩu định kỳ; quy trình kiểm tra tạm trú, tạm vắng;
quy trình giải quyết đăng ký tạm trú; quy trình tiếp nhận tạm vắng; quy trình
quản lý học sinh, sinh viên tạm trú trong địa bàn; quy trình xác lập và quản lý
các loại trong hộ,...
Sách tham khảo: “Cẩm nang công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư
trú”, TS Vũ Xuân Trường, Cù Ngọc Trang, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
2008 [42] .Cuốn sách giải quyết các nội dung cơ bản của Luật Cư trú và các
văn bản pháp luật có liên quan; hệ thống các văn bản của Nhà nước và ngành
Công an điều chỉnh hoạt động đăng ký quản lý cư trú. Cuốn sách trang bị các
kiến thức về công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú, cung cấp thông tin
phục vụ các ngành, các cấp trên lĩnh vực quản lý nhà nước, cho mọi công dân
trong xã hội để thực hiện quyền tự do cư trú của mình. Đồng thời, còn là tài
4
liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu giảng dạy trong các
trường Công an nhân dân về vấn đề đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú.
Sách tham khảo: “Luật cư trú, hỏi đáp về luật cư trú dành cho cán bộ
quản lý hành chính”, TS. Đinh Thế Cát, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
2017 [18]. Là cuốn sách có hàm lượng thông tin phong phú, đa dạng. Trên cơ
sở những câu hỏi, tình huống được khái quát từ cả góc độ lý luận và thực tiễn
công tác đăng ký và quản lý cư trú đối với công dân, kết hợp và vận dụng
nhuần nhuyễn kiến thức với kinh nghiệm lâu năm của các giảng viên chuyên
ngành Cảnh sát quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội của Học viện Cảnh
sát nhân dân, tác giả đã khái quát Luật cư trú và các văn bản liên quan, đặc
biệt là những văn bản mới nhất của Luật cư trú. những câu hỏi lý thuyết, tình
huống thực tiễn được rút ra từ quá trình giảng dạy, và thâm nhập thực tế.
Cuốn sách đã giải quyết những vấn đề phức tạp như xác định về chổ ở hợp
pháp để đăng ký cư trú, đăng ký cư trú cho một số đối tượng đặc biệt như
chức sắc tôn giáo, các hộ mặt nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
quản lý đối tượng tạm trú, tạm vắng ... Cuốn sách đã vận dụng lý luận để giải
quyết những tình huống phức tạp phát sinh trong thực tiễn công tác quản lý cư
trú. Là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu và áp dụng vào thực tế.
Sách tham khảo: “Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật cư trú được sửa
đổi, bổ sung năm 2013” tập thể tác giả do Thiếu tướng GS.TS. Nguyễn Ngọc
Anh chủ biên nhà xuất bản Giao thông vận tải năm 2014 [38]. Các cuốn sách
trên gồm 02 phần, phần 1 tác giả đã giới thiệu nội dung cơ bản của Luật cư trú,
các Nghị định, Thông tư liên quan đến cư trú và những vấn đề lưu ý khi áp dụng.
Phần 2 là toàn văn Luật cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cuốn sách là
tài liệu tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp luật về quản lý
cư trú cho cán bộ, chiến sỷ công an để thực hiện tốt quyền tự do cư trú của công
dân và hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về cư trú.
5
Đề tài khoa học cấp Bộ „„Các giải pháp tăng cường công tác đăng ký,
quản lý hộ khẩu và xây dựng Luật Cư trú”, Lê Thành, 2004 [22]. Đề tài đã tập
trung phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về cư trú và quản lý nhà nước về
cư trú. Qua đó, tập trung vào các quyền cư trú của công dân, quản lý nhà
nước, tăng cường quản lý nhà nước về cư trú; các văn bản quy phạm pháp luật
quy định về cư trú của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Về thực
trạng cư trú, tác giả đã đánh giá khái quát đặc điểm dân số và cư trú của một
số vùng, miền trong toàn quốc; tình hình biến động của các dạng nhân khẩu ở
Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của tác giả nhằm đưa ra giải pháp
tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về cư trú nói trên.
Các đề tài khoa học trên đã nêu được một số vấn đề cơ bản của quản lý
nhà nước về cư trú. Nhưng hiện nay chưa có riêng một đề tài nào liên quan
đến công tác thực hiện pháp luật về cư trú, tại một địa bàn cụ thể là Quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng. Các đề tài khoa học trên sẽ là nền tảng quan
trọng trong quá trình thực hiện luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cư trú tại
quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận
về thực hiện pháp luật về cư trú và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về
cư trú tại quận Ngô Quyền.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về cư
trú thông qua khái niệm, phân tích đặc điểm, vai trò cũng như các yếu tố bảo
đảmthực hiện pháp luật về cư trú.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về cư trú của
quận Ngô Quyền; tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
6
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cư trú tại
quận Ngô Quyền.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận thực hiện
pháp luật về cư trú và thực trạng công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại
quận Ngô Quyền.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:Các hoạt động liên quan đến thực hiện pháp luật về
cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi không gian: Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác thực hiện
pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền từ năm 2013 (năm ban hành Luật Cư
trú sửa đổi, bổ sung) cho đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Để đạt được những mục tiêu phương hướng đã đề ra,
trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tác giả đã sử dụng phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; kết hợp với
nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cương lĩnh của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Hiến pháp pháp luật của Nhà nước, nguyên tắc, điều lệnh CSKV
của ngành Công an trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú [2].
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả đã sử dụng các phương pháp: phân
tích - tổng hợp, đối chiếu so sánh, thống kê, chứng minh biện luận, hệ thống.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận
nhà nước: Trong công tác đảm bảo ANTT – TTATXH, phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm và xây dựng hệ thống tài liệu tham khảo phục vụ học tập,
7
nghiên cứu. Những kết luận khoa học trong luận văn và các nội dung giải
pháp được đề xuất góp phần rất lớn cho việc nâng cao hiệu quả công tác thực
hiện pháp luật về cư trú góp phần giữ vững ANTT và TTATXH trên địa bàn
quận Ngô Quyền nói riêng và trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung.
Đề tài nghiên cứu được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác
nghiên cứu học tập cho cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện công tác thực
hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về cư trú.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô
Quyền, Thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật cư trú
tại quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng.
8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ
1.1. Cƣ trú và pháp luật về cƣ trú
1.1.1. Quan niệm về cư trú
Đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú có vai trò quan trọng đối với quản
lý xã hội của nhà nước. Đối với hoạt động quản lý xã hội của đất nước, công
tác đăng ký cư trú là nhằm xác định việc cư trú và những thông tin cơ bản
nhất về nhân thân của công dân để phục vụ, thực hiện chính sách phát triển
kinh tế, xã hội, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời
phục vụ cho công tác giữ gìn an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm. Quản lý xã hội thực chất là quản lý con người trong tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Con người luôn luôn là chủ thể của mọi hoạt động xã hội
và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, vì vậy đăng ký, quản lý cư trú được hình thành, phát triển rất
lâu và nó diễn ra hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Từ đó cho thấy
đăng ký quản lý cư trú là một tất yếu khách quan vì trong xã hội có giai cấp,
phải có quản lý xã hội, đồng thời nó đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phải quản
lý con người, mà trước hết là qua hoạt động cư trú. Vì thế có thể khẳng định:
Trên thế giới vấn đề đăng ký quản lý cư trú của con người đã có từ rất lâu, do
bản chất của từng nhà nước khác nhau mà mục đích, hình thức, biện pháp
đăng ký quản lý cư trú khác nhau.
Luật cư trú ở Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã làm
rõ các khái niệm về cư trú, đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. “Cư trú là
việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc phường, xã, thị trấn dưới hình
thức thường trú hoặc tạm trú” (Điều 1) “Đăng ký thường trú là việc công dân
đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
9
được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ”
(Điều 18) “Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng
ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ”.
Đăng ký thường trú, tạm trú là quá trình cơ quan Công an dựa vào các
văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước để tiến hành đăng ký hộ khẩu
thường trú, tạm trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Phục vụ cho công tác quản lý xã hội
của nhà nước; công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các phạm
pháp về an ninh, trật tự.
Đăng ký thường trú là việc đăng ký ghi nhận vào sổ hộ khẩu và áp
dụng các biện pháp để quản lý đối với những người thường xuyên cư trú trên
một địa bàn nhất định theo đơn vị hành chính.
Đăng ký tạm trú là quản lý những người thường trú ở một nơi nhưng
do nhiều lý do khác nhau họ đến ở lại một địa phương khác trong thời gian
nhất định.
Tóm lại, có thể hiểu: Cư trú là việc công dân sinh sống thường xuyên
tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn hoặc huyện đảo nơi chưa tổ chức
đơn vị hành chính cấp xã được nhà nước quản lý thông qua hình thức đăng ký
thường trú hoặc tạm trú.[37]
1.1.2. Quan niệm pháp luật về cư trú
Ở Việt Nam: Thời kỳ cổ và trung đại, theo sách sử để lại thì các quy
định về quản lý con người đã xuất hiện trước công nguyên đến thế kỷ thứ 7.
Hình thức quản lý đơn giản, theo trình độ phát triển, trong giai đoạn cổ đại và
Nhà nước phong kiến vấn đề quản lý cư trú của con người nhằm mục đích áp
đặt sự thống trị giai cấp của nhà nước đó.
10
Thời kỳ thống trị của thực dân Pháp (từ năm 1858 - 1945): Thực dân
Pháp thực hiện các hình thức quản lý chặt chẽ, tỷ mỷ ở thành phố, thị xã.
Quản lý từng người, từng gia đình, có sổ theo dõi quản lý, đối với những
người từ 15 tuổi trở lên đều có danh chỉ bản. Mục đích: nộp tô, thuế, bắt lính,
bắt phu… phục vụ cho hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác thuộc địa. Thời
kỳ đấu tranh chống Đế quốc Mỹ: Ở miền Nam, dưới chế độ Mỹ, Ngụy chính
sách quản lý cư trú chặt chẽ và có hệ thống, bao gồm vùng nội thành và vùng
giáp ranh với vùng tự do. Thể hiện các quy định về lập hồ sơ, sổ sách từng
người, từng gia đình, có dán ảnh được bảo quản và khai thác một cách quy
mô và hệ thống. Mục đích: Phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các chính
sách chống cộng; Ở miền Bắc, sau hòa bình lập lại (1954) Nhà nước nghiên
cứu, tổ chức chỉ đạo đăng ký quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội,
củng cố chính quyền cách mạng (năm 1955 công tác đăng ký hộ khẩu được
tiến hành một số nơi như: Thành phố Nam Định, thị xã Bắc Ninh, thị xã Sơn
Tây, Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Đông, năm 1956 mở rộng công tác này đến
Hải Phòng, Đồng Hới, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Việt Trì, năm 1959 cơ
bản hoàn thành trên phạm vi toàn miền Bắc). Các quy định cụ thể về quản lý
hộ khẩu trong giai đoạn này: Năm 1954 Ủy ban hành chính từng tỉnh, thành
phố công bố quy định tạm thời trên địa phương mình; năm 1957 Bản điều lệ
tạm thời về đăng ký hộ khẩu được điều chỉnh, bổ sung; năm 1965 Hội đồng
Chính phủ chính thức ban hành Bản điều lệ đăng ký hộ khẩu bằng Nghị định
104/CP ngày 27/6/1964 và thực hiện thống nhất trên toàn miền Bắc; Năm
1968 đáp ứng yêu cầu chống cuộc chiến tranh phá hoại của địch, chống hoạt
động tình báo, xâm nhập, hoạt động gián điệp… lấy số liệu dân số chuẩn bị
bầu cử toàn quốc, nên yêu cầu kết hợp quản lý dân số, quản lý cư trú với quản
lý đi lại. Vì thế, ngày 29/02/1968 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định
32/CP thống nhất công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu với thống kê dân số và
11
công tác hộ tịch. (Kết hợp hộ tịch Nghị Định 04/CP (Bộ nội vụ) và hộ khẩu
Nghị Định 104/CP (Bộ công an) = Nghị Định 32/CP). Năm 1975, khi miền
Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ ban hành Quyết định 54/CP ngày
17/8/1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu trên phạm vi toàn
miền Nam. Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976 hướng dẫn, bổ sung và chỉ
đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với tình hình miền Nam. Sau
nhiều năm thực hiện các quy định về đăng ký hộ khẩu xuất hiện nhiều vấn đề
mới, nhất là cần phân tách công tác hộ tịch và hộ khẩu vì về bản chất là 2 mặt
công tác khác nhau và do 2 cơ quan Nhà nước khác nhau tiến hành. Vì thế,
ngày 07/01/1988 Chính phủ ban hành Nghị định 04/CP ban hành Điều lệ đăng
ký, quản lý hộ khẩu. Trong đó ngoài đăng ký, quản lý Bộ Công an thực hiện
khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn… Bộ Tư pháp thực hiện các cải chính về
họ tên, ngày tháng năm sinh…(theo Nghị định 219/HĐBT ngày 20-11-1987);
năm 1997, qua 10 năm thực hiện Nghị Định 04/CP ngày 07/01/1988 đã bộc lộ
những hạn chế, không đáp ứng được tình hình trong xu thế đổi mới, nhất là
quản lý tình hình di dân tự do và yêu cầu dịch chuyển lao động trong nền kinh
tế thị trường … vì thế đòi hỏi phải có một quy định mới phù hợp. Ngày
10/5/1997 Chính phủ ban hành Nghị định 51/CP quy định đăng ký, quản lý hộ
khẩu thay thế các quy định trước đây và được thực hiện thống nhất trên phạm
vi toàn quốc. Sau hơn 7 năm thực hiện một số nội dung của Nghị định 51/CP
không đáp ứng được yêu cầu, chủ yếu là các quy định về nhà ở hợp pháp; quy
định điều kiện đăng ký hộ khẩu vào thành phố, thị xã. Do đó, Bộ Công an đã
tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 108/2005/NĐ-CP ngày
19/8/2005. Để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, ngày
29/11/2006 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
Luật cư trú, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định về quyền tự do
cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
12
trình tự, thủ tục đăng ký thường trú hoặc tạm trú, quyền, trách nhiệm của công
dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú. Quá trình thực
hiện Luật cư trú năm 2006 còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi
để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới. Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp
thứ 5, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật cư trú. Chính phủ ban hành Nghị định 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết
một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú. Như vậy quản lý cư trú thông
qua đăng ký hộ khẩu được xác định là một nội dung cơ bản của công tác quản
lý hành chính về an ninh, trật tự. Thực chất là quá trình đăng ký, quản lý hoạt
động cư trú của con người, có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu. Điều 1
Nghị định 51/CP Ngày 10/5/1997 của Chính phủ xác định rõ: “ Đăng ký,
quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác
định việc cư trú của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững An ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ
Công an) phụ trách việc đăng ký, quản lý hộ khẩu ”.
Theo quy định của Luật cư trú hiện hành thì cư trú là việc công dân
sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường
trú hoặc tạm trú.(Điều 1); Nơi cư trú của công dân là chổ ở hợp pháp mà
người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú
hoặc tạm trú. Chổ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công
dân sử dụng để cư trú. Chổ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công
dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo
quy định của pháp luật (Điều 12).[31]
Ở nước ta, tự do cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân
được ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đến nay, quyền này
vẫn tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013, trong Bộ Luật dân sự,
Luật cư trú và các luật khác có liên quan.
13
Theo quy định, tại Điều 23 Hiến pháp năm 2013 thì công dân có quyền
tự do cư trú trong nước, việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy
định[32]. Tại Mục 3, các điều 40, 41, 42, 43, 44, và 45 của Bộ luật dân sự
hiện hành có quy định cụ thể về nơi cư trú của mọi người nói chung, của
người chưa thành niên, của người được giám hộ, của vợ chồng, của quân
nhân, của người làm nghề lưu động.
Những quy định chung về quyền cư trú của công dân được ghi trong
các Điều 3, 5 và Điều 9 Luật cư trú hiện hành là:
Điều 3 quy định: Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của
pháp luật cư trú và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có
đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú.
Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. [45]
Điều 5 quy định: Nhà nước đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tự do cư trú của công dân phải bị
xử lý nghiêm minh. Nhà nước có chính sách và biện pháp đồng bộ để đảm
bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do cư trú của công dân.[31]
Điều 9 Luật cư trú hiện hành quy định cụ thể quyền của công dân về
cư trú theo đó, công dân có quyền:
Lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy
định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Được cấp, cấp lại, đổi hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến
nơi cư trú. Được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện
quyền cư trú.
Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ
quyền cư trú của mình.
14
Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư
trú theo quy định của pháp luật.[31]
Tuy nhiên Điều 10 Luật cư trú hiện hành cũng quy định các trường hợp
bị hạn chế quyền tự do cư trú, bao gồm:
Người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cư trú;
Người bị tòa án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù
nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được
hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế;
Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.[31]
Điều 11 Luật Cư trú quy định trách nhiệm của công dân về cư trú:
Chấp hành các quy định của pháp luật về cư trú.
Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu về cư trú của mình cho
cơ quan, người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu đã
cung cấp.
Nộp lệ phí đăng ký cư trú.
Xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú khi
cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu.
Báo ngay với cơ quan đã đăng ký cư trú khi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú,
giấy tờ khác liên quan đến cư trú bị mất hoặc bị hư hỏng.[45]
Như vậy, pháp luật về cư trú là một chế định pháp luật thuộc ngành
Luật hành chính là cơ sở để quản lý hành chính nhà nước về cư trú.
Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Pháp luật về cư trú là tổng thể các
quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
quản lý nhà nước về cư trú, bao gồm quyền, trách nhiệm của công dân về cư
15
trú, đăng ký thường trú, tạm trú, tạm vắng, khai báo lưu trú, trách nhiệm
quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.
1.2. Thực hiện pháp luật về cƣ trú
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về cư trú
Nhà nước ban hành pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, xác
định khả năng xử sự của mọi cá nhân, tổ chức. Khả năng đó chỉ trở thành hiện
thực trong đời sống xã hội khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh
các quy phạm pháp luật.
Pháp luật chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện, các quy định của
pháp luật trở thành hành vi và hoạt động của các chủ thể pháp luật. Vì vậy,
xây dựng, ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan
hệ mật thiết với nhau, là tiền đề của nhau, là hai giai đoạn của quá trình mô
hình hóa hành vi thành các quy tắc và từ quy tắc đến hành vi thực tế của các
chủ thể pháp luật.
Như vậy, “Thực hiện pháp luật là hoạt động của các chủ thể pháp luật
làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ
thể pháp luật” .
Hay nói cách khác: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục
đích mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định
pháp luật trong thực tế đời sống.
Từ những vấn đề nêu trên có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về cư trú là
quá trình, mà các chủ thể pháp luật về cư trú bằng hành vi của mình thực
hiện các quy định của pháp luật về cư trú.[40]
Thực hiện pháp luật về cư trú có các đặc điểm sau đây:
- Thực hiện pháp luật về cư trúlà thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhân
dân đối với hoạt động đăng ký cư trú và là trách nhiệm của các cơ quan nhà
nước khi đăng ký quản lý cư trú, khác với thực hiện pháp luật trong các lĩnh
16
vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung và các hình thức
thực hiện.
- Chủ thể thực hiện pháp luật về cư trútrước hết là các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trúgồm có:
Chính phủ, Bộ Công an, UBND các cấp, cơ quan đăng ký, quản lý lưu trú...
- Phạm vi thực hiện pháp luật về cư trúdiễn ra giữa các chủ thể mà một
bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ.
- Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật
về cư trúvừa mang tính chất quản lý hành chính vừa mang tính chất tự quản.
- Nội dung thực hiện pháp luật về cư trúkhá rộng lớn, có liên quan trực
tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú.
1.2.2. Hình thức thực hiện pháp luật về cư trú
Trong khoa học luật ở trong nước, cũng như ngoài nước các nhà khoa
học đều quan niệm thực hiện pháp luật bao gồm 4 hình thức: Tuân thủ pháp
luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Việc phân chia
thành các hình thức thực hiện pháp luật là nhằm phân biệt, thấy được đặc
điểm, đặc thù của từng hoạt động, còn trong thực tiễn đôi khi những hành
thức này lại đan xen, “lồng chứa” vào nhau. Trong hình thức này lại có hình
thức khác, ví dụ trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước, chứa luôn cả
tuân thủ và thi hành pháp luật .
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật về cư trú, trên cơ
sở nhận thức chung về các hình thức thực hiện pháp luật về cư trú, có thể xác
định những hình thức thực hiện pháp luật về cư trú bao gồm các hình thức sau:
Tuân thủ pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật về
cư trú trong đó các chủ thể pháp luật về cư trú kiềm chế không tiến hành
những hoạt động mà pháp luật cấm. Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể
thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới
17
dạng không hành động. Như việc nhân dân phải chấp hành các quy định của
pháp luật về sử dụng sổ hộ khẩu, không được dùng sổ hộ khẩu đề thực hiện
các hành vi vi phạm pháp luật như cho thuê, mượn sổ hộ khẩu ...
Thi hành pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành
động tích cực. Như việc mọi người dân phải chấp hành các quy định của pháp
luật về trình tự, thủ tục đăng ký thường trú. Khác với tuân thủ pháp luật, trong
hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý
dưới dạng hành động tích cực, ví dụ cá nhân phải tự giác đến cơ quan nhà
nước để đăng ký nơi cư trú, tạm trú, khai báo khi vắng mặt.
Sử dụng pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật về
cư trú, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực
hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Sử dụng pháp luật trong cư trú đó
là việc cơ quan nhà nước sử dụng các quyền của mình để thực hiện các công
việc được quy định trong luật. Như việc cơ quan công an đăng ký tạm trú cho
công dân đến tạm trú trên địa bàn mình quản lý.
Áp dụng pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà
chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của
pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra
các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ
pháp luật cụ thể. Trong áp dụng pháp luật về cư trú, có thể hiểu đó là việc áp
dụng các quy định của pháp luật để đăng ký thường trú, hoặc không đăng ký
thường trú cho công dân.Áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi
phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc người có có thẩm quyền.
18
1.2.3. Nội dung thực hiện pháp luật về cư trú
Để pháp luật đi vào cuộc sống đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cá nhân
phải thực hiện các hoạt động cụ thể khác nhau, bao gồm:
- Tuyên truyền pháp luật về cư trú: Tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú nói riêng là nhiệm vụ của các cấp,
các ngành. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và không
ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp
luật về cư trú trong đăng ký thường trú, đăng ký tạm vắng, tạm trú cho cán bộ,
công chức, viên chức và nhân dân là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu; bảo
đảm bảo tạo sự thống nhất quản lý Nhà nước về cư trú ở các cấp chính quyền,
tạo sự chuyển biến rõ nét cả về nhận thức và hành động của các cấp, các
ngành và nhân dân trong thực hiện Luật Cư trú, qua đó đảm bảo giữ gìn trật tự
an ninh có hiệu quả.
Công tác tuyên truyền đã được thực hiện thông qua nhiều hình thức
như tổ chức hội nghị giới thiệu, tập huấn chuyên sâu về Luật Cư trú; mở các
chuyên trang, chuyên mục trên ấn phẩm của ngành, địa phương, in ấn tài liệu
hỏi đáp, hướng dẫn pháp luật về cư trú, cấp phát tờ gấp pháp luật, treo panô,
áp phích….
- Triển khai thực hiện pháp luật về cư trú: Công tác triển khai, thực
hiện pháp luật trong cuộc sống nói chung và triển khai thực hiện pháp luật về
cư trú nói riêng chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan
hành pháp. Đó là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (Con người, tổ
chức bộ máy, cơ sở vật chất để triển khai thực hiện luật cư trú) bảo đảm sẵn
sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành
vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.
Luật cư trú được Quốc hội Nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007, được sửa đổi năm
19
2013. Sau khi Luật cư trú được thông qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 29/3/2007 về việc triển khai luật cư trú, quy định
cụ thể trách nhiệm của Bộ Công An, các Bộ ngành có liên quan, và Uỷ ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong tổ chức thực hiện
Luật cư trú. Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an, các Bộ,
ngành và địa phương đã triển khai thực hiện đúng chức năng có hiệu quả các
quy định về thực hiện Luật cư trú.
1.2.4. Chủ thể thực hiện pháp luật về cư trú:
- Chính phủ: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy
định tại điều 96, chương VII Hiến Pháp năm 2013. Chính phủ ban hành các
Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật cư trú.
Thủ tướng Chính Phủ ban hành các Chỉ thị về việc triển khai Luật cư trú, quy
định cụ thể trách nhiệm của Bộ Công An, các Bộ ngành có liên quan, và Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong tổ chức thực
hiện Luật cư trú.
- Bộ Công an: Các hoạt động của Bộ Công an được quy định tại điều
33 Luật cư trú gồm:
1. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm
quyền văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.
2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.
3. Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền
bãi bỏ những quy định về quản lý cư trú trái với quy định của Luật này.
4. Ban hành các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về cư trú.
5. Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý cư trú.
6. Thống kê nhà nước về cư trú, tổng kết, nghiên cứu khoa học về quản
lý cư trú, tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú.
20
7. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về cư trú.
8. Hợp tác quốc tế về quản lý cư trú. [31]
- Uỷ ban nhân dân: Uỷ ban nhân dân các cấp trong thực hiện pháp luật
về cư trú được quy định tại điều 34 gồm các hoạt động cụ thể sau:
1. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú tại địa
phương.
2. Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương về
quản lý cư trú.
3. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú.
4. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật. [31]
- Cơ quan đăng ký, quản lý lưu trú:Các cơ quan đăng ký, quản lý cư
trú thực hiện các hoạt động được quy định tại điều 35 Luật cư trú gồm:
1. Niêm yết công khai, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia
đình trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú.
2. Bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt làm công tác đăng
ký, quản lý cư trú.
3. Cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú đúng
thời hạn cho công dân theo quy định của Luật này.
4. Quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về đăng ký, quản lý cư trú.
5. Giải quyết kịp thời kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân liên
quan đến cư trú, quản lý cư trú. [31]
- Người trực tiếp làm công tác đăng ký, quản lý cư trú: Người làm
công tác đăng ký, quản lý cư trú được quy định thực hiện các hoạt động tại
Điều 36 Luật cư trú gồm:
21
1. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú phải được đào tạo, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao.
2. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú trong khi thực hiện
nhiệm vụ phải có thái độ, lời nói, cử chỉ nghiêm túc, khiêm tốn, hoà nhã; tiếp
nhận, kiểm tra hồ sơ, tài liệu có liên quan, viết biên nhận, hẹn ngày trả kết quả
và giải quyết đúng thời hạn theo quy định của Luật này; trường hợp hồ sơ còn
thiếu hoặc chưa đúng thì hướng dẫn cụ thể, đầy đủ bằng văn bản và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc hướng dẫn đó[45].
1.2.5. Vai trò của việc thực hiện pháp luật cư trú
Thứ nhất, góp phần đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân
Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền tự do cư trú, đi lại, giao dịch,
quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật
gia đình là quyền con người, quyền công dân được nhà nước công nhận, tôn
trọng và bảo vệ. Luật cư trú ra đời vào ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10,
Quốc hội khóa XI và được sửa đổi bổ sung vào ngày 20/6/2013 tại kỳ họp thứ
5 Quốc hội khóa XIII là đạo luật được xây dựng trên cơ cở quán triệt và cụ
thể hóa quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng về việc xây dựng, hoàn
thiện hệ thống pháp luật về cư trú, phù hợp với chủ trương cải cách hành
chính. Luật cư trú đã tạo bước tiến mới trong công cuộc tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú của Nhà nước ta nói riêng.
Phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội,đảm bảo quyền tự
do cư trú của con người Việt Nam.
Thứ hai, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp
được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Song theo quan điểm
chung nhất, đó là nhà nước thượng tôn pháp luật : nhà nước được tổ chức,
22
hoạt động theo pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Pháp luật trong
nhà nước pháp quyền được các chủ thể thực hiện một cách tự giác chứ không
ép buộc, bởi pháp luật xuất phát từ con người và về con người, là pháp luật
của dân chủ, bình đẳng và văn minh.
Thực hiện pháp luật về cư trú là khẳng định được quyền tự do cư trú
(lựa chọn địa điểm tại thôn, xóm,phố trong xã phường, thị trấn làm nơi ở và
sinh hoạt lâu dài ). Đây là một quyền cơ bản trong quyền con người được
Hiến pháp ghi nhận trong rất nhiều điều. Quyền tự do cư trú được luật cư trú
quy định theo các điều,là công dân Việt Nam được cơ quan nhà nước cho
đăng ký thường trú tại địa điểm sinh sống ăn ở sinh hoạt lâu dài; đăng ký tạm
trú tại nơi ở mới không phải là nơi đăng ký thường trú. Mở rộng quyền tự do
cư trú chính là quyền tự do đi lại trên lãnh thổ đất nước Việt Nam của người
dân Việt Nam. Không có một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức xã hội,
doanh nghiệp, cá nhân nào được hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do đi lại của
người dân Việt Nam.[1]
Trong nhà nước pháp quyền, việc thượng tôn pháp luật, xem pháp luật
là nguyên tắc tối thượng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh hoặc đang
diễn ra là một điều kiện khách quan toàn diện. Tuy nhiên cần phải có những
cơ chế kiếm chế xu hướng lợi ích “nhóm” tha hóa, lạm dụng quyền lực nhà
nước của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào – công chức và quan chức nhà nước – là
những người đại diện cho nhân dân. Thực hiện pháp luật về cư trú là các hoạt
động của cơ quan nhà nước đảm bảo điều kiện cho người dân Việt Nam thực
hiện quyền tự do cư trú, đi lại, ăn ở, sinh hoạt, học tập, lao động...theo đúng
quy định của pháp luật. Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và
một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng. Bản chất của nhà nước pháp
quyền là nhà nước tôn trọng giá trị nhân quyền và đảm bảo cho các giá trị đó
được thực thi trong thực tế, đánh giá một cách khách quan từ khi luật cư trú đi
23
vào đời sống nhân dân đã góp đảm bảo quyền cư trú, tự do đi lại của người
dân cũng như tháo gỡ những thủ tục hành chính gắn với công tác đăng ký hộ
khẩu thường trú, tạm trú của người dân mà trước đây các văn bản quy phạm
pháp luật còn có nhiêu ràng buộc gây khó khăn cho người dân khi thực hiện
quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên đất nước Việt Nam.
Thứ ba, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà
nước về an ninh, trật tự trong tình hình mới
Tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực có những diễn biến đa
dạng, phức tạp, khó lường, xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố
quốc tế tiếp tục gia tăng. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chủ nghĩa
dân tộc thực dụng, cực đoan, bảo hộ mậu dịch ngày càng lan rộng. Thế giới
đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức lớn về an ninh phi truyền thống, nhất là
tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương
thực, khủng hoảng di cư, biến đổi khí hậu, dịch bệnh... Ở trong nước, các thế
lực thù địch tiếp tục gây sức ép với Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền,
công khai tiếp xúc, hỗ trợ số đối tượng chống đối, gia tăng các hoạt động
thâm nhập, tác động chuyển hóa nội bộ, tuyên truyền chống Việt Nam, kích
động gây rối, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội ở nước ta.
Bên cạnh đó, tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp, tính chất tinh vi, táo
bạo, sử dụng vũ khí nóng gây nhiều vụ án nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm
trọng. Các loại tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu xã hội đen, giết
người, cờ bạc, buôn lậu, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mua bán phụ
nữ, trẻ em, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê,
buôn bán ma túy, bắt cóc tống tiền, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm
sử dụng công nghệ cao, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện còn xảy
ra ở nhiều nơi, hoạt động với tính chất côn đồ, hung hãn gây ra những hậu quả
24
nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe người dân, gây lo
lắng trong nhân dân.
Tại Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội khóa
XIII về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm đã đề ra nhiệm vụ:
Thực hiện tốt công tác phòng ngừa xã hội, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn
các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tạo chuyển biến rõ rệt về an ninh,
trật tự,an toàn xã hội. Do đó, để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được Quốc
hội giao thì cần phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về cư trú,
góp phần tích cực, có hiệu quả trong việc phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.
Vì vậy, trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia,
bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, Đảng ủy Công an Trung
ương đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/ĐUCA ngày 08/01/2018 về nhiệm vụ
bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng
Công an nhân dân năm 2018 và những năm tiếp theo; theo đó, Nghị quyết đã đặt
ra nhiệm vụ: Tăng cường quản lý cư trú, quản lý dân cư, góp phần tăng cường
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong tình hình mới.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện pháp luật về cƣ trú
1.3.1. Yếu tố chính trị
Yếu tố chính trị là toàn bộ yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội
ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các
chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình
tổ chức, thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị, hoạt động
của hệ thống chính trị. Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu qủa
của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá
nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật. Một đất nước có
môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực
25
hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo
Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang,
lo lắng, dao động…và dẫn đến việc thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy
đây là một trong những yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu
quả, chính xác. Hiện nay Đảng ta luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với việc
tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như
hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên và đã đạt được kết quả tốt đẹp, để các
Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp luật, từ
đó tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân.
Ý thức chính trị cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thực hiện
pháp luật. Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp,
các dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền
lực Nhà nước, thể hiện trực tiếp và tập trung nhất lợi ích giai cấp. Ở nước ta,
hệ thống chính trị được thể hiện trong cương lĩnh, đường lối chính trị của
Đảng cũng như trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước dựa trên nền
tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện và vì lợi ích của đông đảo các
giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động. Trong hoạt động thực hiện pháp luật về
cư trú, ý thức chính trị thể hiện trước hết ở việc các chủ thể có chức năng áp
dụng pháp luật như Chính phủ, Bộ Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp ... quán
triệt, thấm nhuần nhiệm vụ chính trị của mình, lãnh đạo, chỉ đạo thường
xuyên, sâu sát quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương,
phép nước. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật về cư trú thực
sự đạt được chất lượng, hiệu quả cao, khơi dậy ý thức, trách nhiệm chính trị
của các chủ thể khác trong thực hiện pháp luật.
Quá trình thực hiện pháp luật về cư trú, có thể thấy được ở địa phương
nào công khai, minh bạch được các thủ tục hành chính, cán bộ hướng dẫn tận
26
tình, chu đáo, ở địa phương đó nhân dân sẻ tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, tin tưởng vào sự điều hành của chính quyền, đem lại cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc cho nhân dân.[37]
1.3.2. Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế xã hội bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về
kinh tế - xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc
triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực tế xã hội. Nền kinh tế - xã hội
phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực
hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức
pháp luật của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, nền kinh tế - xã hội chậm phát
triển, kém năng động và hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực
hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật. Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự
nhận thức, hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh
mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật.
Quá trình thực hiện pháp luật về cư trú chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của
sự phát triển kinh tế - xã hội. Nước ta là một nước đang phát triển, trình độ
kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau, do đó nó cũng ảnh hưởng nhất
định đến việc thực hiện pháp luật về cư trú ở nước ta. Kinh tế có phát triển,
đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được
đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính
sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của
Nhà nước. Khi đó, nhân dân sẻ tự giác chấp hành các quy định của pháp luật
về cư trú như đang ký thường trú, tạm trú, lưu trú... để được hưởng các quyền
lợi của bản thân và phù hợp với chuẩn mực pháp luật hiện hành.[37]
Khi kinh tế phát triển, đời sống tinh thần, vật chất đươc cải thiện, các
cán bộ, công chức Nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các
phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thõa mãn các nhu cầu thông tin pháp
27
luật đa dạng và cập nhật các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ
dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị
thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy
nghĩ và hành động của họ. Điều đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật
của các chủ thể mang tính tự giác, tích cực. Còn khi kinh tế chậm phát triển,
thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm
bảo, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến
phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp
luật về cư trú.
Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về cư
trú. Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ
lại. Do đó nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật thường mang
tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – phục tùng. Cơ chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của
nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả
của hoạt động kinh tế. Từ đó tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và
hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể trong các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. Nhưng mặt trái của cơ chế thị trường sẽ tạo ra
tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp
luật đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện
pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo đánh giá các quan hệ giữa người với
người. Đây là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường
cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển.
Việc thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công
bằng xã hội là điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp
chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; củng cố ý thức của con
người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của họ, khơi dậy thái độ tích
28
cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội
bằng pháp luật; nhờ đó ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng
lên một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và
chủ động hơn.
1.3.3. Yếu tố văn hóa
Các yếu tố văn hóa - đời sống bao giờ cũng thuộc về một môi trường
văn hóa xã hội nhất định gắn liền với một phạm vi không gian xã hội nhất
định, nơi các cá nhân và cộng đồng người tổ chức các hoạt động sống, sinh
hoạt cùng nhau, tạo dựng, thừa nhận và chia sẻ các giá trị văn hóa, lối sống,
phong tục tập quán, lễ nghi… Với những mặt, những khía cạnh biểu hiện của
mình, các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện
pháp luật, thể hiện trên các điểm sau:
Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định
tới hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân, thể hiện đặc biệt
rõ nét ở khu vực nông thôn. Bên cạnh những ưu điểm rất căn bản, các phong
tục tập quán ở nông thôn cũng đang bộc lộ những nhược điểm nhất định như
việc tổ chức hội hè, đình đám, ma chay, giỗ chạp nhiều lúc nhiều nơi còn
cồng kềnh, tốn kém và lãng phí; những hủ tục lạc hậu, lỗi thời còn tồn tại;
trình độ dân trí còn thấp; thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội phát sinh; tính tích
cực chính trị - xã hội của người dân còn hạn chế… Tại một số làng xã, chính
quyền và người dân đứng ra tổ chức lễ hội ồn ào, kéo dài, ảnh hưởng đến sản
xuất và sinh hoạt, sự chỉ đạo thiếu sâu sát, để cho một số người lợi dụng lễ hội
để hành nghề mê tín dị đoan. Trong khi một số thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội
như nạn cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan, mại dâm…đang xâm nhập vào nông
thôn, thì có những người, thay vì tích cực đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa
lại tiếp tay hoặc trực tiếp tham gia vào những thói xấu đó. Những hiện tượng
trên đây gây khó khăn cho việc thực hiện đúng đắn pháp luật, đồng thời là
29
những hành vi vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, cần phải
có biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng.[35]
Lối sống đô thị và lối sống nông thôn có ảnh hưởng khác nhau tới hoạt
động thực hiện pháp luật. Đặc trưng nổi bật của lối sống đô thị là tích cực
chính trị - xã hội ở đô thị cao. Cư dân đô thị có nhiều điều kiện tiếp xúc với
các thông tin chính trị - xã hội và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội
lớn mà phần nhiều được tổ chức tại các đô thị. Các phong trào có sức huy
động quần chúng ở các đô thị thường diễn ra nhanh hơn so với ở nông thôn.
Đây cũng là điều dễ hiểu vì đô thị thường là nơi tập trung nhiều thành phần xã
hội có trình độ học vấn tương đối cao. Tại các thành phố, phạm vi giao tiếp về
xã hội cơ bản tương đối rộng, cường độ giao tiếp cao và mang tính ẩn danh
trong giao tiếp. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý
thức pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật. Mặt khác, đô thị là nơi
tập trung phần lớn bộ phận không thể thiếu trong dân cư đô thị thường được
gọi dưới cái tên “những phần tử ngoài lề xã hội”. Về phương diện xã hội, đây
là môi trường phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm nhiều tới mức
đáng báo động, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và hoạt động thực
thi, bảo vệ pháp luât.
Lối sống nông thôn là lối sống mang tính cộng đồng rất cao và rất chặt
chẽ, liên kết cả thành viên trong làng xã lại với nhau, mỗi người đều hướng
tới những người khác. Điều đó thể hiện ở mối quan hệ gắn bó, sự quan tâm
giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, lối xóm ở nông
thôn. Người dân nông thôn thường sống đoàn kết gắn bó với quê hương làng
xóm, rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Đây là một biểu hiện rất riêng, rất đặc
thù của lối sống nông thôn Việt.
Tính cộng đồng được coi là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực
hiện pháp luật. Bằng ý thức cộng đồng, nó giúp cho các cán bộ pháp luật dễ
30
dàng hơn trong việc phổ biến, tuyên truyền và thực hiện các chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đông đảo
người dân. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp cho các cơ quan hành chính,
tư pháp hoàn thành tốt các nhiệm vụ thực thi và bảo vệ pháp luật. Khi truyền
thống làng xã được phát huy, người dân cởi mở, thẳng thắn tham gia ý kiến về
những cái được và cái chưa được trong hoạt động thực hiện pháp luật.
Sự đề cao tính cộng đồng và chủ nghĩa tập thể dễ dẫn cán bộ làm công
tác thực thi và bảo vệ pháp luật đến việc đánh mất ý thức về con người cá
nhân, cái tôi bị triệt tiêu, ý thức cá nhân và hành vi cá nhân cũng bị đặt vào lối
xử thế hòa cả làng. Tình trạng này khiến cho cán bộ cả nước khi phải đối mặt
với những việc làm sai trái, khuyết điểm, thậm chí vi phạm pháp luật, thì họ
thường tìm cách né tránh trách nhiệm cá nhân và muốn đó là trách nhiệm tập
thể. Bên cạnh đó tính cộng đồng thường là cái cớ được cán bộ làm công tác
thực thi và bảo vệ pháp luật dùng để biện minh cho thói quen ỷ lại vào tập thể
và tâm lý an phận thủ thường. Chính điều này làm hạn chế năng lực sáng tạo,
sự chủ động và quyết đoán của họ trong điều hành, giải quyết các công việc
chung từ đó ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật.
Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đăng tải các thông tin
về các sự kiện pháp luật hiện tượng xảy ra trong xã hội, hoạt động thực hiện
pháp luật của các tầng lớp xã hội. và của các cơ quan chức năng, nêu lên những
tấm gương điển hình người tốt việc tốt trong việc thực hiện pháp luật… Những
thông tin đó ở chừng mực khác nhau tác động đến suy nghĩ, nhận thức và hành
vi của mỗi con người, khiến cho họ thực hiện pháp luật tốt hơn.
Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp
luật. Dư luận xã hội gắn liền với ý chí cộng đồng của nhóm xã hội mà nó tác
động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của các cá nhân. Trong một chừng
mực nhất định người ta có thể không sợ sự trừng phạt của pháp luật khi thực
31
hiện những hành vi sai trái, phạm pháp nhưng chúng lại sợ sự phê phán lên án
của dư luận xã hội - một thứ bất thành văn. Trong điều kiện xã hội có nền dân
chủ rộng rãi, dư luận xã hội được coi là phương tiện kiểm tra xã hội đối với ý
thức pháp luật và hành vi pháp luật của mỗi người. Dưới áp lực của dư luận
xã hội, mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ, kiểm định trước khi thực hiện
một hành vi pháp luật nào đó. Những câu hỏi phải được đặt ra về cái đúng, cái
sai, nên hay không nên… Nhờ đó, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật trong
mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước.
1.3.4. Yếu tố pháp luật
Yếu tố pháp luật là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của
xã hội ở từng giai đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ
pháp luật… Bản thân pháp luật được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã
hội là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật. Song chính các mặt, khía cạnh
khác nhau của các chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến
hoạt động thực hiện pháp luật.
Văn hóa pháp luật được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội –
pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, văn hóa pháp luật là hệ
thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, tình
cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật; có ảnh hưởng sâu rộng
tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ chấp hành sử dụng cho tới áp dụng
pháp luật. Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông
qua quá trình thực hiện pháp luật. Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực
hiện pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở,
nền tảng, khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện
pháp luật, có định hướng đúng đắn. Ngược lại, hoạt động thực hiện pháp luật
có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm cho các giá trị chuẩn mực của văn
hóa pháp luật. Các yếu tố truyền thống cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với
32
hoạt động thực hiện pháp luật trong giai đoạn hiện tại. Sự quản lý Nhà nước
bằng pháp luật là nhằm khắc phục tính thiển cận, cục bộ trong quá trình phát
triển, sản xuất, xây dựng làng xã trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Thông qua
pháp luật, Nhà nước nhắc nhở, duy trì mọi nghĩa vụ của người dân và làng xã
đối với Nhà nước và xã hội. Trong quá trình phát triển Nhà nước thừa nhận
làng có lệ riêng của mình sao cho không trái với nguyên tắc quy định của
pháp luật. Hệ thống tự quản chủ yếu dựa vào dư luận xã hội, uy tín của các vị
chức sắc và đặc biệt vai trò của lệ làng. Cần kết hợp cả hai hình thức quản lý
này trong hoạt động thực hiện pháp luật.
Sự tồn tại dai dẳng của pháp luật do các chế độ cũ để lại có ảnh hưởng
nhất định tới hoạt động thực hiện pháp luật. Một số người có quan niệm sai
lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết
họ có tâm lý sợ hãi pháp luật. Tâm lý lo sợ đó khiến cho hành vi của con
người thiếu ổn định do đó khó có thẻ dẫn đến hành vi xử sự tích cực trước
pháp luật và đối với pháp luật.
Tình trạng thờ ơ trước pháp luật hoặc coi thường pháp luật ở một số
người tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác.
Vẫn còn tồn tại tình trạng không tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp
luật. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện pháp luật mà còn
có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng. Ý thức, niềm tin đối với pháp
luật của con người có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực hiện pháp luật. Bởi
lẽ, nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không có niềm tin vững chắc vào tính
công bằng và nghiêm minh của pháp luật…thì việc thực hiện pháp luật không
thể tốt và chặt chẽ được.
Sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện pháp luật
có tác động quan trọng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật. Sự can thiệp
33
của các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và
thực hiện mỗi khi xảy ra vi phạm pháp luật, tranh chấp là cần thiết, đúng đắn.
1.3.5. Yếu tố quốc tế
Công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, phát triển kinh tế, chính
trị, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện cho nước ta mở của
hội nhập sâu sộng với cộng đồng quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam
đang nổ lực hội nhập sâu rộng vào cộng đồng Quốc tế, do đó sẻ gia tăng
người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam để du lịch, công tác, đầu tư làm ăn
... tại Việt Nam. Để thu hút đầu tư, tạo công ăn, việc làm, phát triển kinh tế -
xã hội, Việt nam phải có các chính sách đổi mới, thuận tiện cho người nước
ngoài đến Việt Nam trong đó có các quy định của pháp luật về cư trú. Khi các
quy định của pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật về cư trú nói
riêng tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, phù hợp với thông lệ, quy
định của luật quốc tế, sẻ tạo được sự tin tưởng của các nước khi hội nhập, đầu
tự, du lịch vào Việt nam.[3]
Để thực hiện tốt các quy định của pháp luật về cứ trú trong quá trình
hội nhập, đòi hỏi chúng ta phải có các điều chỉnh các quy định của pháp luật
về cư trú, có các chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khách du lịch vào Việt
Nam. Cần tăng cương giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý cư trú của
công dân với với các quốc gia trên thế giới để học hỏi các kinh nghiệm của
các nước trên thế giới và áp dụng vào Việt Nam. Ứng dụng mạnh mẻ công
nghệ thông tin, tạo bước đột phá trong quá trình tiếp nhận, đăng ký, quản lý
cư trú đối với công dân và hoàn thiện chất lượng văn bản pháp luật về cư trú
phù hợp với yêu cầu thực tiễn quản lý củng như phù hợp với xu thế hội nhập.
34
Tiểu kết chƣơng 1
Cư trú là một quyền hiến định của công dân, đăng ký thường trú, tạm
trú, khai báo tạm vắng, lưu trú là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của của công
dân. Quản lý nhà nước về cư trú là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền nhằm bảo đảm an ninh cho công dân, nhà nước, xã hội,
được pháp luật quy định. Pháp luật về cư trú là một chế định thuộc ngành
Luật Hành chính, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về cư trú. Pháp
luật về cư trú chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện. Thực hiện pháp
luật về cư trú thực chất là biến các quy định của pháp luật về cư trú thành các
hoạt động của các chủ thể pháp luật về cư trú, bao gồm các hình thức: tuân
thủ, thi hành và áp dụng. Thực hiện pháp luật về cư trú chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, pháp luật.
35
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ
TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận
Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng
Quận Ngô Quyền nằm ở vị trí trung tâm thành phố Hải Phòng với diện
tích 11,1 km2, có 161.086 nhân khẩu, mật độ dân số là 14,512 người/km2
được chia làm 13 phường với 328 tổ dân phố. Phía đông giáp với bờ sông
Cấm, phía nam giáp với Quận Hải An, phía tây giáp với quận Lê Chân và
phía bắc giáp với Quận Hồng Bàng. Là một địa bàn tập trung nhiều cơ quan,
đơn vị doanh nghiệp lớn của trung ương và địa phương; có hệ thống Cảng,
bến tàu, bến xe, có các trung tâm thương mại Big C, Thùy Dương Plaza,
ngoài ra trên địa bàn quận còn có làng văn hóa Sunflower chuyên cho các
chuyên gia người nước ngoài đến thuê ở lưu trú. .... hệ thống chợ, các trường
đại học ( đại học Hằng Hải, đại học Y dược Hải Phòng). Đặc biệt là có khu
quần thể văn hóa thể thao Lạch Tray ( Cung thanh niên, cung thiếu nhi; nhà
văn hóa hưu nghị Việt Tiệp; sân vặn động Lạch Tray, công viên An Biên...)
Đây là nơi thường xuyên diễn ra các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa thể
thao của cả nước,thành phố và của quận.Chính nhờ vị trí địa lý là đầu mối của
giao thông đường thủy, đường bộ, đường hàng không, hoạt động kinh tế xã
hội của quận Ngô Quyền trong nhiều năm qua phát triển mạnh mẽ theo định
hướng thương mại dịch vụ cảng biển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa các
ngành nghề khác trên địa bàn. Sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng trên
địa quận cũng như kinh tế đã thu hút lực lượng lao động lớn thuộc các khu
vực trong, ngoài thành phố Hải Phòng về lao động thuộc các khu vực nông
36
thôn của các tỉnh, thành phố khác đến làm việc theo nhu cầu của các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn quận Ngô Quyền. Điều này đã dẫn đến tình trạng
nhập cư lớn, biến động liên tục, công tác thực hiện pháp luật về cư trú của
công an quận Ngô Quyền gặp nhiều khó khăn.
2.1.2. Tình hình công dân cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng
Quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng được chia làm 13 phường trong đó:
Phường Cầu Đất có: 8164 số nhân khẩu.
Phường Lương Khánh Thiện có: 7334 số nhân khẩu.
Phường Lê Lợi có: 10513 số nhân khẩu.
Phường Lạch Tray có: 9815 số nhân khẩu.
Phường Máy Tơ có: 11050 số nhân khẩu.
Phường Đổng Quốc Bình có: 8730 số nhân khẩu.
Phường Đằng Giang có: 16640 số nhân khẩu.
Phường Đông Khê có: 14138 số nhân khẩu.
Phường Lạc Viên có: 11216 số nhân khẩu.
Phường Cầu Tre có: 16427 số nhân khẩu.
Phường Vạn Mỹ có: 17522 số nhân khẩu.
Phường Máy Chai có: 19831 số nhân khẩu.
Phường Gia Viên có: 10128 số nhân khẩu.
Căn cứ vào số liệu thu thập nêu trên thì dân số của quận Ngô Quyền tập
trung đông tại các phường Đằng Giang, Đông Khê, Máy Chai, Cầu Tre, Vạn
Mỹ mức độ tập trung dân số là do điều kiện hoàn cảnh tự nhiên các phường
trên có diện tích lớn khi hình thành đô thị quận Ngô Quyền trong thời kỳ mới
thì các phường trên cũng có cơ sở hạ tầng tốt, tập trung nhiều cơ quan doanh
nghiệp nên thu hút được dân cư đến sinh sống làm việc và lao động. Tuy
nhiên trong quá trình khảo sát, đánh giá các số liệu nêu trên cũng chưa thể
37
hiện được bức tranh toàn cảnh về sự phân bố của nhân dân trên 13 phường
của quận Ngô Quyền.
Một là: số người lao động tự do ngoại tỉnh đến lao động, tìm việc làm
thuê nhà trọ, nhà nghỉ tại địa bàn phường Đằng Giang có lúc lên đến 4000 –
5000 người, số người trên còn ở trong các khu xây dựng chưa hoàn thiện trên
địa bàn. Một thời gian sau công việc lao động phổ thông đã hết không tìm
được việc mới số người lao động trên đã rời khỏi địa bàn mà chưa kịp làm thủ
tục tạm trú.
Hai là: số người đăng ký thường trú tại một địa chỉ nhưng lại thường
xuyên vắng mặt đi làm ăn nơi xa, cá biệt có người còn bán cả nhà, tập trung
chủ yếu ở các phường Cầu Đất, Lương Khánh Thiện, Lê Lợi, Lạch Tray.
Ba là: số người được các cơ sở kinh doanh thuê đến lao động theo diện
lao động tự do nhưng chỉ làm ban ngày, không ngủ đêm, số lượng người này
cũng rất lớn, tập trung chủ yếu ở khu vực phường Máy Chai, Máy Tơ
Thực trạng phân bố dân cư theo các nhu cầu sử dụng lao động của xã
hội có người khai báo tạm trú, lưu trú nhưng có nguời không khai báo.
Trường hợp đáp ứng được các yêu cầu thực hiện pháp luật về cư trú như
người ngủ qua đêm ở một địa chỉ cụ thể thì dễ dàng khai báo lưu trú, nhưng
có những trường hợp không đáp ứng được khai báo lưu trú như người lao
động đến làm việc nhưng không ngủ qua đêm hoặc người đi khỏi địa phương,
bán nhà nhưng không làm thủ tục chuyển đăng ký hộ khẩu đến nơi mới. Tất
cả những vấn đề nêu trên là những thách thức, khó khăn đối với công tác thực
hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền.[17]
38
2.1.3. Tình hình kinh tế xã hội, TTATXH tại quận Ngô Quyền thành phố
Hải Phòng
*Lĩnh vực kinh tế xã hội
Quận Ngô Quyền là nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng
nối Hải Phòng với các địa phương khác trong cả nước, giữa Việt Nam với các
nước trên thế giới bằng hệ thống giao thông đường biển, đường sông có năng
lực xếp dỡ trên 10 triệu tấn hàng hóa/năm, cùng hệ thống nhà ga sân bay, nhà
ga đường sắt và quốc lộ 5 đi qua. Trong đó hoạt động của hệ thống cảng biển
là yếu tố quyết định sự hình thành cơ cấu kinh tế của thành phố Hải Phòng nói
chung và quận Ngô Quyền nói riêng.
Quận Ngô Quyền có vị trí quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế
- xã hội, quốc phòng an ninh của Hải Phòng. Nhiều dự án lớn được triển khai
tại quận như dự án xây dựng khu đô thị mới ngã 5 sân bay Cát Bi, xây dựng
khu đô thị TD Lakeside, xây dựng Công viên An Biên ( đã hoàn thành ).
Chín tháng đầu năm 2019, thu ngân sách trên địa bàn quận đạt hơn 887
tỷ đồng bằng 76,84% dự toán và 126,67% so với cùng kỳ. So với năm 2018,
quận phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng trên 4,5% , tổng mức bán lẻ
hàng hóa tăng trên 14%, thu ngân sách nhà nước tăng trên 13%, xây mới và
sửa chữa 40 ngôi nhà chính sách, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,31%, giải quyết
việc làm cho trên 6.000 lượt người...
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại một số khu vực trên địa bàn quận, cụ thể
hàng loạt cơ sở công nghiệp trên đường Lạch Tray, An Đà, Điện Biên Phủ…
đang dần di chuyển ra ngoài đô thị, thay vào đó là các tổ hợp thương mại, văn
phòng giao dịch. Điển hình là hai doanh nghiệp có thâm niên là Công ty Cổ
phần Sơn Hải Phòng và Công ty Nhựa Thiếu niên tiền phong với mặt bằng
sản xuất đã dần thay bằng các tòa nhà phức hợp văn phòng, căn hộ cao cấp và
trung tâm thương mại. Tuyến đường Lạch Tray đến nút giao thông Quán Mau
39
được kết nối và trở thành trung tâm văn hóa, thể thao, du lịch, dịch vụ vui
chơi giải trí của thành phố.
Ngoài ra, các trung tâm thương mại – dịch vụ, văn phòng cao cấp của
các đơn vị lớn đầu tư như: Tập đoàn Vingroup (trên đường Lê Thánh Tông);
Trung tâm Thương mại Nguyễn Kim (trên Đường Lương Khánh Thiện); các
tòa nhà văn phòng và các trung tâm dịch vụ sau cảng dọc tuyến đường Lê
Thánh Tông, hệ thống các ngân hàng…cũng đang được gấp rút xây dựng. Đó
là những minh chứng rõ nét cho thấy Ngô Quyền trở thành trung tâm dịch vụ,
thương mại, tài chính mang tính đồng bộ, thể hiện sự sáng suốt của lãnh đạo
quận trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quy hoạch đô thị
mang tính chiến lược, một điểm nổi bật khác biệt của Quận Ngô Quyền với
các địa phương khác.
Thương mại – dịch vụ trên địa bàn tăng trưởng khá, chuyển dịch đúng
hướng và phù hợp với tiềm năng, lợi thế của quận. Hạ tầng kỹ thuật các ngành
thương mại – dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại bắt đầu được hình thành,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một số ngành dịch vụ thế mạnh duy trì
tốc độ phát triển như: ngân hàng, cho thuê văn phòng, khách sạn, nhà hàng.
Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Quận Ngô Quyền tập trung cao
cho phát triển đô thị gắn với dịch vụ thương mại theo hướng đô thị xanh, văn
minh, hiện đại. Trong đó điển hình là khu đô thị mới Ngã năm – Sân bay Cát
Bi cùng với đường Lê Hồng Phong trở thành điểm nhấn và một cửa ô của
thành phố. Hiện Quận Ngô Quyền tiếp tục triển khai khu đô thị mới văn minh
hiện đại khác, đó là khu đô thị đường Đông Khê 2 do UBND quận là chủ đầu
tư. Tính riêng trong giai đoạn 1, khu đô thị này có quy mô hơn 20ha, với định
hướng phát triển đồng bộ, hiện đại hóa, bền vững theo tiêu chí đô thị loại 1
cấp quốc gia, hài hòa với quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng
đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt. Tuyến đường
40
Đông Khê 2 cũng được xây dựng trở thành kiểu mẫu về kiến trúc hạ tầng,
kiến trúc cảnh quan thu hút các dịch vụ, thương mại.
Việc các tập đoàn lớn trong và ngoài nước chọn Hải Phòng là nơi đầu
tư xây dựng đã tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển các khu công
nghiệp lớn như KCN Numora, Vship, Tràng Duệ... tính đến quý I năm 2019,
Hải Phòng có 11 khu công nghiệp. Theo quy hoạch phát triển cụm công
nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025, Hải Phòng sẽ có 12 cụm
công nghiệp mới vào năm 2020. Trong tương lai, nếu toàn bộ khu kinh tế,
khu, cụm công nghiệp được “ lấp đầy” sẽ thu hút khoảng 250.000 lao động;
trong đó có các chuyên gia nước ngoài cũng như một số lượng không nhỏ
công nhân ngoại thành, ngoại tỉnh. Điều này đưa ra nhiều vấn đề trong việc
thực hiện pháp luật về cư trú.
Bên cạnh phát triển kinh tế, việc phát triển văn hóa, con người, bảo
đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng đời sống nhân
dân luôn được được đặt lên hàng đầu. Chú trọng đẩy mạnh cải cách hành
chính, vận hành và khai thác hiệu quả Chính quyền điện tử quận Ngô Quyền,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện
môi trường đầu tư kinh doanh, tích cực phòng, chống tham nhũng, giữ vững
an ninh chính trị, TTATXH.[18]
Quận Ngô Quyền là trung tâm văn hóa thể thao của thành phố, do vậy
nơi đây thường xuyên diễn ra các hoạt động chính trị, văn hóa thể thao quan
trọng của đất nước và thành phố; cũng như tổ chức tốt các hoạt động thông
tin, tuyên truyền, cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ, thể thao kỷ niệm các
ngày Lễ, Tết và phục vụ nhiệm vụ chính trị; kỷ niệm 64 năm ngày giải phóng
Hải Phòng, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ 2019.
41
* Tình hình ANCT và TTATXH trên địa bàn quận
- Tình hình ANCT tiếp tục được giữ vững. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các
đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thành phố đến thăm và làm việc cũng như các
hoạt động trong các ngày lễ, Tết, các sự kiện.
- Tình hình trật tự an toàn xã hội:
Hoạt động của tội phạm hình sự được kiềm chế, số vụ phạm pháp hình
sự giảm, tỷ lệ điều tra khám phá cao, các bang nhóm tội phạm hoạt động theo
kiểu xã hội đen chưa phát hiện được, không xảy ra tội phạm giết người, cướp
tài sản. Tuy nhiên, hoạt động của tội phạm hình sự trên địa bàn quận vẫn còn
những vấn đề sau : một số nhóm thanh niên sử dụng vũ khí thô sơ để giải
quyết mâu thuẫn, cố ý gây thương tích, đòi nợ thuê…tội phạm cướp giật, trộm
cắp tài sản vẫn còn diễn biến phức tạp. Đến hết tháng 11/2019, phạm pháp
hình sự xảy ra 107 vụ, giảm 5 vụ = 5,47% so với cùng kỳ năm 2018. Điều tra
khám phá 97 vụ, đạt tỷ lệ 90,6%, bắt 116 đối tượng.
Tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn cơ bản không phát
sinh mới các tụ điểm và điểm phức tạp mới về tội phạm ma túy. Tuy nhiên
trên địa bàn quận có một số sàn nhảy, khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ còn tiềm
ẩn những biểu hiện hoạt động của tội phạm và tệ nạn ma túy, đáng chú ý là số
đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp vẫn có chiều hướng gia tăng.
Về tội phạm kinh tế : năm 2019, công an quận đã phát hiện, bắt giữ 12
vụ vi phạm về gian lận thương mại, buôn bán hàng cấm và các hang hóa khác,
trị giá gần 1 tỷ đồng gồm : bóng đèn, đồ gia dụng, loa đài, xe máy cũ, xe ô
tô…Ngoài ra, do chính sách thuế thông thoáng của nhà nước nhưng việc kiểm
tra, quản lý, giám sát thực hiện chưa tốt dẫn đến tình trạng một số cá nhân, tổ
chức thành lập “doanh nghiệp ma” để mua bán hóa đơn bất chính đã ảnh
hưởng lớn tới công tác quản lý kinh tế.
- Công tác thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu tố :
42
Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của
công an quận Ngô Quyền có nhiều chuyển biến tích cực. Qua công tác thanh
tra, kiểm tra đã góp phần ổn định nội bộ, củng cố xây dựng lực lượng, phát
huy nhân tố tích cực, chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện và xử lý sai
phạm. Kiến nghị đề xuất các biện pháp khắc phục , chấn chỉnh quản lý, tăng
cường hiệu lực, hiệu quả các mặt công tác công an.
2.2. Thực trạng việc thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền –
Thành phố Hải Phòng
2.2.1. Việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về thực
hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng
Việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về thực hiện
pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng trước hết
luôn được thực hiện dựa trên Hiến pháp và pháp luật của nhà nước, cũng như
các điều luật trong luật cư trú. Trong thực tế ,những năm qua lực lượng công
an quận Ngô Quyền đã tham mưu cho UBND quận những văn bản quy phạm
pháp luật, đó là : những nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Chính phủ, Đảng
ủy Công an TW về công tác tăng cường quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện
pháp luật về cư trú như sau:
- Ngày 25/10/2013, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới; trong đó, nêu lên nhiệm vụ, giải pháp: Chủ động
nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể
xảy ra. Phát hiện kịp thời các âm mưu, hành động của các thế lực thù địch để
chủ động có phương án ứng phó, ngăn chặn, đẩy lùi từ xa và tích cực chuẩn bị
lực lượng bảo đảm giành thắng lợi khi tình huống xấu xảy ra, không để bị
động bất ngờ;
43
- Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy
mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững và hội nhập quốc tế đề ra giải pháp: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong quốc phòng, an ninh;
- Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XII đề ra mục tiêu đến năm 2030 toàn bộ dân số Việt Nam
được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên
quy mô toàn quốc;
- Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình
mới đề ra nhiệm vụ: Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự,
nhất là quản lý xuất, nhập cảnh, quản lý cư trú…;
- Điều 23 Hiến Pháp năm 2013 quy định: Công dân có quyền tự do đi
lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước.
Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định;
- Nghị quyết số 112/NQ-CP ngày 30/10/2017 của Chính phủ về phương
án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân
cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công an xác định đơn
giản hóa thủ tục hành chính liên quan tới công tác đăng ký, quản lý cư trú;
- Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 08/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hànhchínhgiấy tờ công dân
và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 – 2020 (đã được
sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 524/QĐ-TTg ngày 19/4/2017 của Thủ
tướng Chính phủ);
- Nghị quyết số 10-NQ/ĐUCA ngày 08/01/2018 của Đảng ủy Công an
Trung ương về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã
hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân năm 2018 và những năm tiếp theo
44
đề ra nhiệm vụ, giải pháp: Tăng cường quản lý cư trú, quản lý dân cư góp
phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự.
- Ngày 11/10/2013, UBND quận Ngô Quyền đã ban hành kế hoạch số
986/KH-UBND về việc triển khai thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của luật cư trú. Với mục đích tổ chức việc phối kết hợp giữa các ban ngành
đoàn thể trên toàn quận trong công tác tuyên truyền pháp luật về cư trú đến
các tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Tổ
chức tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng cán bộ cơ sở ( tổ trưởng
tổ dân phố, bảo vệ dân phố, dân phòng, thanh niên ) cũng như làm tốt công
tác tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng công an trực tiếp làm công tác thực hiện
pháp luật về cư trú ( cán bộ các đội : An ninh nhân dân, quản lý hành chính;
lực lượng cảnh sát khu vực tại 13 phường ).
- Ngày 5/12/2013, UBND quận Ngô Quyền ban hành công văn số
451/UBND về việc xây dựng kế hoạch triển khai thi hành luật sửa đổi bổ
sung một số điều của luật cư trú, giao cho công an quận Ngô Quyền triển
khai thực hiện.
Trên cơ sở đó,ngày 20/12/2013 Công an quận Ngô Quyền đã ban hành
công văn số 1021/CANQ về việc triển khai thi hành luật sửa đổi bổ sung một
số điều của luật cư trú, chỉ đạo Công an 13 phường thực hiện cho đến nay.
Tóm lại, các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú trên địa bàn quận
Ngô Quyền đã quy định cụ thể trình tự thủ tục, thẩm quyền cũng như cách
thức tiến hành đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú, thông báo lưu
trú, khai báo tạm vắng. Đây là cơ sở pháp lý để nâng cao vai trò trách nhiệm
của lực lượng Công an quận Ngô Quyền trong việc phối kết hợp với các ban
ngành đoàn thể của quận, phường về việc tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong đăng ký hộ khẩu
45
thường trú, đăng ký tạm trú, thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng trên địa bàn
13 phường.[19]
Các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quân công an cấp trên, của
UBND thành phố Hải Phòng cũng như các kế hoạch, công văn của UBND
quận Ngô Quyền, Công an quận Ngô Quyền đã thực sự quy định cụ thể các
trình tự, thủ tục thẩm quyền cũng như cách thức tiến hành đăng ký hộ khẩu
thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo tạm vắng và thông báo lưu trú. Đồng
thời các văn bản quy phạm trên cũng là cơ sở để cán bộ làm công tác thực
hiện pháp luật về cư trú trong lực lượng công an cũng như các ban ngành
đoàn thể, nâng cao vai trò trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật về cư trú
tại địa phương, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân khi thực hiện các
quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến cư trú.
2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về cư trú tại địa bàn quận Ngô Quyền –
thành phố Hải Phòng:
Tổ chức thực hiện luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú:
Kế hoạch số 986/KH-UBND ngày 11/10/2013 của UBND quận Ngô
Quyền về triển khai thực hiệnluật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú,
Chủ tịch UBND quận Ngô Quyền đã phân công nhiệm vụ cụ thể cũng như
trách nhiệm của các phòng nghiệp vụ đối với việc thi hành luật cư trú đảm
bảo kịp thời, thống nhất, hiệu quả đáp ứng nhu cầu thực tiễn của nhân dân. Từ
khi thực hiện kế hoạch cho đến nay, các phòng nghiệp vụ đã phối kết hợp với
công an quận Ngô Quyền nói chung, UBND 13 phường thuộc quận, lực lượng
cảnh sát khu vực tại 13 phường thường xuyên tuyên truyền pháp luật đối với
nhân dân, kịp thời tháo gỡ những khó khăn về thủ tục hành chính trong công
tác thực hiện pháp luật về cư trú, đảm bảo tiến độ hiệu quả trong việc triển
khai thực hiện thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú.[20]
46
Một là: hoạt động phổ biến pháp luật về cư trú được UBND quận Ngô
Quyền quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Công tác tuyên truyền, phổ biến
pháp luật được gắn với các phong trào khác tại địa phương sao cho pháp luật
về cư trú đi vào đời sống nhân dân để người dân nắm, hiểu được quyền và lợi
ích hợp pháp của mình trong quá trình thực hiện pháp luật về cư trú. Tại trụ
sở của UBND, công an 13 phường, phòng tiếp dân đều được niêm yết công
khai các nội dung liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú (Các biểu
mẫu khai báo, các trình tự thủ tục hành chính, lệ phí, thời gian,...). Cán bộ
trực tiếp dân phải niềm nở, hướng dẫn cho nhân dân tìm hiểu và thực hiện
đúng các quy định của pháp luật về cư trú.
Hai là: công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, đăng ký hộ khẩu
thường trú, tạm trú được lãnh đạo UBND quận Ngô Quyền chỉ đạo Công an
quận Ngô Quyền xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai các buổi tập huấn
pháp luật rộng rãi cho nhiều đối tượng học tập (lực lượng công an quận nói
chung, lực lượng làm công tác thực hiện pháp luật về cư trú, cảnh sát khu vực,
cán bộ cơ sở, nhân dân có nhu cầu).
Ba là: phòng tư pháp, UBND quận rà soát, xử lý các văn bản trái với
quy định của luật sửa đổi bổ sung của luật cư trú, các quy trình công tác liên
quân đến việc thực hiện pháp luật về cư trú như công tác đăng ký hộ khẩu
thường trú, tạm trú, lưu trú, thủ tục khai báo đối với người nước ngoài.
Bốn là: Đảm bảo các cơ sở vật chất phục vụ cho việc thực hiện pháp
luật về cư trú tại địa phương (phòng tiếp dân tại công an quận, UBND, công
an 13 phường luôn luôn sạch sẽ, thoáng mát, đảm bảo đủ ánh sáng, niêm yết
công khai các thủ tục hành chính theo hướng chính xác, công khai, minh
bạch). Tăng cường công tác giải quyết các kiến nghị hoặc tố cáo của nhân dân
liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú tại địa phương theo hướng
tháo gỡ các khó khăn trong thủ tục hành chính cho người dân khi thực hiện
47
pháp luật về cư trú. Kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ làm công tác thực
hiện pháp luật về cư trú có cử chỉ, lời nói, thái độ thiếu nghiêm túc hoặc sách
nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú
tại địa phương.
Cải cách hành chính trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú:
Đối với UBND 13 phường bố trí cán bộ tư pháp hộ tịch trực tiếp dân tại
bộ phận một cửa ở UBND phường các cán bộ tư pháp hộ tịch trên thực hiện
các nhiệm vụ theo luật hộ tịch năm 2014 đăng ký khai sinh, kết hôn nhận cha,
mẹ, con: giám hộ. Căn cứ vào quyết định 1299/QĐ-TTg ngày 04/8/2014 của
thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án thực hiện liên thông các TTHC;
đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ
em dưới 6 tuổi. Công tác thực hiện tư pháp liên thông trên đã đảm bảo được
những quyền cơ bản của trẻ em; quyền được khai sinh, quyền được cư trú,
quyền được chăm sóc y tế, trong đó mỗi trẻ em khi sinh ra đều bắt đầu bằng
thủ tục đăng ký khai sinh. Trên cở sở đăng ký giấy khai sinh sẽ được thực
hiện hai thủ tục tiếp theo, thủ tục đăng ký thường trú và thủ tục cấp thẻ bảo
hiểm y tế với việc thực hiện đề án trên đã góp phần giảm được thời gian đi lại
hồ sơ giấy tờ cho công dân trong việc giải quyết ba TTHC liên quan đến ba
lĩnh vực khác nhau.
Lãnh đạo công an quận Ngô Quyền phân công cán bộ làm công tác
chuyên trách tiếp dân tại bộ phận một cửa tiếp dân của công an quận. Cán bộ
tiếp dân tiếp nhận các loại hồ sơ yêu cầu của nhân dân về việc thực hiện luật
cư trú số cán bộ trên có nhiệm vụ: kiểm duyệt hồ sơ đối với việc đăng ký hộ
khẩu thường trú chuyển đến; chuyển đăng ký hộ khẩu thường trú đi nơi khác;
Tách hộ thành lập hộ mới trả lời xác minh nhân khẩu hộ khẩu tất các hồ sơ
thực hiện pháp luật về cư trú khi đầy đủ thủ tục thì trình lãnh đạo công an
quận ký duyệt sau đó chuyển trả lại cho người dân. Ngoài ra còn đội ngũ cán
48
bộ làm công tác tiếp nhận thông báo lưu trú; đội ngũ cán bộ làm công tác lưu
trữ hồ sơ hộ khẩu, đội ngũ cán bộ tham mưu thông kê đồng thời thực hiện
việc kiểm tra các cơ sở lưu trú; khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà cho người
nước ngoài thuê; khu vực nhà hàng, khu vui chơi giải trí...
Tổ chức tuyền truyền, giáo dục pháp luật về cư trú:
Trên cơ sở luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cư trú và các văn
bản hướng dẫn thi hành các chương trình, kế hoạch chỉ đạo của cấp trên,
UBND quận Ngô Quyền luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp
luật về cư trú là một phần của chương trình hành động pháp luật trong nhiệm
vụ thực thi pháp luật của năm. Tuyên truyền pháp luật về cư trú là công tác
thường xuyên, liên tục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ công
chức, viên chức, lực lượng vũ trang, nhân dân trong toàn quận góp phần đưa
pháp luật vào đời sống nhân dân, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp
luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong việc thực thi
pháp luật góp phần nâng cao đời sống kinh tế xã hội, giữ vững tình hình an
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Việc phân công trách nhiệm trong phổ
biến pháp luật về cư trú được chủ tịch UBND quận giao cho phòng tư pháp
chủ trì, phối kết hợp với công an quận Ngô Quyền, UBND, công an 13
phường triển khai, tuyên truyền pháp luật với nội dung và hình thức phù hợp
găn với phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ ở từng phường. Hằng quý phải tổ
chức những hội nghị phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật về cư trú nói
riêng tại các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, chợ, những tổ dân phố là
điểm nóng về tình hình ANCT và TTXH.[15]
Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm:
Công tác kiểm tra giám sát thanh tra và xử lý vi phạm là một nhân tố
quan trọng đảm bảo cho cương lĩnh chính trị, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị quy
định của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước được thực hiện nghiêm
49
túc, có hiệu quả. Đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng: giữ gìn sự trong sạch về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội
ngũ cán bộ Đảng viên, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái tiêu
cực,củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đảng ta đã
khẳng định: lãnh đạo phải có kiểm tra giám sát: lãnh đạo mà không có kiểm
tra, giám sát thì coi như không lãnh đạo. Thực hiện quan điểm này trong
nhiều năm qua lãnh đạo chỉ huy công an quận Ngô Quyền luôn tập trung vào
công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện nhiệm vụ đối với từng cán bộ chiến
sỹ trong công an Quận. Đặc biệt tập trung vào khu vực tiếp dân một cửa vì
nơi đây là nơi tiếp dân liên quan đến các việc nhậy cảm dễ dẫn đến tiêu cực
đối với đội ngũ cán bộ, làm công tác tiếp dân, cụ thể: Công an quận Ngô
Quyền thành lập một tổ kiểm tra điều lệnh không chuyên trách ( tổ này hàng
tuần được lãnh đạo chỉ huy công an quận đội trưởng, đội phó trực làm công
tác trên) tổ điều lệnh bán chuyên trách có nhiệm vụ chức năng kiểm tra các
cán bộ tại công an quận nói chung cũng như khu vực một cửa tiếp dân nói
riêng, kiểm tra về việc chấp hành giờ giấc làm việc, việc cán bộ đi làm muộn,
về sớm, việc chấp hành điểu lệnh về trang phục, tư thế tác phong, giao tiếp
trong công tác tiếp dân, giám sát chặt chẽ quy trình đăng ký thường trú tạm
trú, lưu trú tại bộ phận tiếp dân một cửa. Khi phát hiện các sai phạm của các
cán bộ chiến sỹ của công an quận nói chung, bộ phận tiếp dân một cửa nói
riêng đều được tổ điều lệnh bán chuyên trách lập biên bản, trong biên bản vi
phạm đều ghi rõ thời gian địa điểm nội dung vi phạm của các cán bộ chiến sỹ
sau đó báo cáo lãnh đạo chỉ huy Công an Quận. Ngoài việc kiểm tra giám sát
tại công an quận, tổ điều lệnh bất ngờ, đột xuất kiểm tra công an 13 phường
với những nội dung đã nêu trên. Cuối tuần đội tổ chức chính trị hậu cần sẽ
tập hợp biên bản vi phạm của cán bộ chiến sỹ tìm ra những lỗi chung và
những vi phạm cá biệt từ đó đưa ra các đề xuất cho công tác tham mưu, báo
50
cáo cho lãnh đạo chỉ huy công an quận để thi hành việc đôn đốc, nhắc nhở
kiểm điểm thậm chí đề xuất biện pháp kỷ luật đối với các đồng chí vi phạm
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Tăng cường công tác kiểm tra giám
sát thanh tra và xử lý vi phạm chính là nâng cao hiệu quả về công tác phòng
chống tham nhũng lãng phí đồng thời tạo sự đồng thuận của các cán bộ chiến sỹ,
trong toàn công an quận. Việc nghiêm túc chấp hành điều lệnh CAND, quy chế
làm việc, quy trình làm việc đã phát huy tính dân chủ, khơi dậy ý thức tự giác về
việc chấp hành kỷ cương lao động, thúc đẩy ý thức phê và tự phê của mỗi Đảng
viên trong lực lượng CAND, cũng như tính thẳng thắn trung thực,tự giác đối với
công việc của cán bộ chiến sỹ công an quận Ngô Quyền.
2.2.3. Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, kiểm tra lưu trú tại
công an quận Ngô Quyền – TP Hải Phòng.
2.2.3.1. Số liệu đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, thông báo lưu trú:
Theo số liệu của cơ quan công an quận Ngô Quyền cung cấp Công tác
đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, lưu trú trong những năm từ năm 2013
đến hết năm 2018 đã đạt được những kết quả như sau:
51
Bảng 2.1. Đăng ký thƣờng trú giai đoạn 2013 – 2018
Năm Đăng ký thƣờng trú
Số hộ chuyển đi Số hộ chuyển đến Đăng ký sinh Bổ sung tài liệu Số nhân khẩu chết Đính chính nhân khẩu Cấp lại số hộ khẩu Trao đổi hồ sơ hộ khẩu Số nhân khẩu chuyển đi Số nhân khẩu chuyển đến
2013 468 1782 89 508 1551 1351 1530 345 857 2350
2014 513 1905 104 476 1433 1257 1650 415 759 2547
2015 495 1881 67 671 2057 1457 2015 477 807 2415
2016 571 2098 71 715 2049 1197 1867 603 797 3087
2017 591 2346 95 665 2025 1536 1773 582 645 3255
2018 637 2508 93 805 2387 1673 1986 721 879 3417
Bảng 2.2. Đăng ký tạm trú và Thông báo lƣu trú giai đoạn 2013 – 2018
Số hộ Năm Đăng ký tạm trú Thông báo lƣu trú
2013 18556 325
2014 17946 340
2015 18412 370
2016 16533 415
2017 18750 535
2018 19105 519
52
2.2.3.2. Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo lưu
trú của người nước ngoài, khai báo tạm vắng tại quận Ngô Quyền – Hải
Phòng
Công tác đăng ký hộ khẩu thường trú
1. Đối với cán bộ đăng ký:
a. Trường hợp đăng ký tạm trú, điều chỉnh những thay đổi trong sổ tạm
trú trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cán bộ đăng ký
phải đề xuất văn bản và chuyển toàn bộ hồ sơ lên Trưởng công an phường
xem xét, quyết định;
b. Trường hợp cấp đổi, cấp lại sổ tạm trú, gia hạn tạm trú thì trong thời hạn
01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cán bộ đăng ký phải đề xuất văn bản
và chuyển toàn bộ hồ sơ lên Trưởng công an phường xem xét, quyết định;
c. Trường hợp thay đổi nơi tạm trú ngoài phạm vi phường thì cán bộ
đăng ký yêu cầu công dân xuất trình sổ tạm trú tại nơi tạm trú trước đây (nếu
có) để ghi thời gian đã tạm trú liên tục tại thành phố.
2. Đối với Trưởng công an phường:
Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ và đề xuất
của cán bộ đăng ký thì Trưởng công an phường phải duyệt hồ sơ đăng ký tạm
trú, cấp đổi, cấp lại, gia hạn tạm trú hoặc điều chỉnh thay đổi trong sổ tạm trú,
ghi rõ thời gian, nội dung (đồng ý hay không đồng ý) vào văn bản đề xuất của
cán bộ đăng ký, ký sổ tạm trú.
3. Trường hợp không đủ điều kiện đăng ký tạm trú, cấp đổi, cấp lại, gia
hạn tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ tạm trú thì Trưởng công
an phường phải trả lời công dân bằng văn bản.
4. Hồ sơ đăng ký tạm trú, cấp đổi, cấp lại, gia hạn tạm trú hoặc điều
chỉnh những thay đổi trong sổ tạm trú phải lưu trữ, bảo quản tại Công an
phường và sắp xếp theo thứ tự sau đây:
53
a. Văn bản đề xuất giải quyết hồ sơ;
b. Phiếu báo thay đổi nhân khẩu, hộ khẩu;
c. Bản khai nhân khẩu (nếu có);
d. Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp (nếu có);
đ. Phiếu xác minh hộ khẩu, nhân khẩu (nếu có);
e. Sổ tạm trú (nếu có);
g. Giấy tờ, tài liệu khác (nếu có).
Công tác khai báo lưu trú của người nước ngoài
Ngày 16/6/2014 tại kỳ họp thứ VII Quốc hội khóa XIII đã thông qua
luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
gồm 9 chương và 55 điều quy định về nguyên tắc điều kiện, trình tự thủ tục
quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cư
trú tại Việt Nam, của cơ quan tổ chức và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà
nước Việt Nam: Người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam, phải thông qua
người trực tiếp quản lý điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú để khai báo tạm
trú với cơ quan công an xã phường thị trấn, ở nơi nào có đồn công an khu
công nghiệp thì phải khai báo với đồn công an. Người trực tiếp quản lý hoạt
động tại cơ sở lưu trú có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin vào mẫu khai báo
tạm trú cho người nước ngoài và chuyển đến cơ quan công an địa phương
trong thời gian 12 tiếng cơ quan công an địa phương (xã phường,thị trấn, đồn)
thống kê báo cáo chuyển thông tin khai báo của người nước ngoài đến đội an
ninh nhân dân đồng thời báo gửi đội QLHC về TTXH và chuyển đến phòng
PA 72 và PC 06.
Thủ tục khai báo tạm trú của người nước ngoài: Xuất trình giấy tờ xác
định quốc tịch nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế cụ thể:
54
Giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài: là loại giấy tờ do cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài hoặc liên hợp quốc cấp, gồm hộ chiếu hoặc giấy
tờ có giá trị thay hộ chiếu
Giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế: là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm
quyền của một nước cấp cho người không quốc tịch đang cư trú tại nước đó
và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận
Mẫu khai báo tạm trú cho người nước ngoài được bộ công an ban hành
theo thông tư số 04/2015/TT-BCA ngày 05/1/2015. Đó là phiếu khai báo tạm
trú của người nước ngoài( NA 17) danh sách người nước ngoài khai báo tạm
trú ( NA 18). Phiếu khai báo cho người nước ngoài dùng để các cơ sở lưu trú
du lịch, khu nhà ở cho người nước ngoài làm việc, lao động, học tập,thực tập
cơ sở khám chữa bệnh, nhà riêng hoặc các cơ sở lưu trú khác theo quy định
của pháp luật, khai báo tạm trú cho người nước ngoài với cơ quan công an có
thẩm quyền.
Công tác khai báo tạm vắng
1. Cán bộ làm công tác tiếp nhận khai báo tạm vắng phải yêu cầu công
dân đến khai báo tạm vắng xuất trình giấy từ tùy thân, văn bản đồng ý cho
tạm vắng của cơ quan có thẩm quyền (đối với trường hợp thuộc khoản 1 Điều
32 Luật cư trú) và có trách nhiệm hướng dẫn công dân ghi đầy đủ thông tin
vào phiếu khai báo tạm vắng.
2. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của
công dân, Công an phường cấp phiếu khai báo tạm vắng cho công dân (trường
hợp đặc biệt thì kéo dài thời gian giải quyết nhưng không quá 02 ngày làm việc).
2.2.3.3. Công tác xử lý vi phạm pháp luật trong thực hiện pháp luật về cư trú:
Trong những năm qua, công an quận Ngô Quyền thường xuyên tham
mưu cho UBND quận Ngô Quyền chỉ đạo UBND 13 phường trong công tác
kiểm tra việc thực hiện pháp luật về cư trú đối với người dân trên địa bàn
55
quận. Thực hiện kế hoạch chỉ đạo của UBND quận Ngô Quyền, UBND 13
phường đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện với nhiều nội dung cụ thể,
chi tiết, có sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể trong phường, sự vào
cuộc của các hội: hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, hội khuyến học trong công
tác kiểm tra, xử lý pháp luật về cư trú, đảm bảo yêu cầu phòng ngừa, đấu
tranh tội phạm giữ gìn ANCT và TTXH trên địa bàn.
Kiểm tra định kỳ: Hoạt động này được tiến hành theo kế hoạch của
UBND quận Ngô Quyền với sự tham gia phối kết hợp của các ban ngành,
đoàn thể, các hội, lực lượng cảnh sát khu vực trong 13 phường đã tổ chức các
buổi kiểm tra tại các cơ quan, doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh lưu trú, hộ
gia đình. Công tác kiểm tra lưu trú được kết hợp với công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về cư trú, vận động quần chúng nhân dân tố giác tội phạm.
Quá trình kiểm tra tại các cơ sở nêu trên đã phát hiện nhiều nhân khẩu không
khai báo tạm trú, lưu trú với những nguyên nhân do trình độ hiểu biết pháp
luật về cư trú, thiếu các giấy tờ liên quan đến nhân thân như chứng minh nhân
dân, thẻ căn cước công dân. Một số nhân khẩu lưu trú đến sinh sống, làm việc
trên địa bàn có tính chất thời vụ vài ba ngày, hết việc lại chuyển đi nơi khác.
Qua công tác kiểm tra, lực lượng cảnh sát khu vực 13 phường đã rà soát các
hộ gia đình thuộc diện khai báo tạm trú nhưng chưa làm thủ tục khai báo tạm
trú thì lập danh sách, báo cáo chỉ huy công an phường có kế hoạch hướng dẫn
các hộ gia đình trên từng bước hoàn thiện thủ tục khai báo tạm trú. Đối với số
nhân khẩu không đủ điều kiện tạm trú do không có chứng minh nhân dân, thẻ
căn cước công dân, lực lượng cảnh sát khu vực đã chủ động cho nhân khẩu
trên khai phiếu thu thập thông tin dân cư, bản khai NK1, sau đó chụp ảnh lập
phiếu xác minh gửi cơ quan công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của các
nhân khẩu nêu trên.
56
Kiểm tra đột xuất: Thông qua công tác nắm tình hình, vận động quần
chúng nhân dân tố giác tội phạm, lực lượng cảnh sát khu vực đã nắm bắt được
các cơ sở kinh doanh lưu trú, các hộ gia đình kinh doanh các ngành nghề kinh
doanh có điều kiện có các đối tượng có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội
nhưng không khai báo lưu trú. Lực lượng cảnh sát khu vực đã phối hợp với
lực lượng quần chúng nòng cốt trên địa bàn kiểm tra đột xuất, bất ngờ các địa
điểm trên, các trường hợp nhân khẩu vi phạm việc khai báo lưu trú đều được
mời về trụ sở công an phường lập biên bản để xử lý vi phạm trên. Việc xử lý
vi phạm không dừng ở nhân khẩu vi phạm mà còn xử lý các chủ kinh doanh
có những vi phạm trên. Cá biệt lực lượng cảnh sát khu vực báo cáo chỉ huy
phường đề xuất UBND phường dừng việc cấp giấy kinh doanh, trong quá
trình kiểm tra đột xuất các cơ sở kinh doanh còn phát hiện các vi phạm pháp
luật khác như việc xả nước thải công nghiệp vào hệ thống thoát nước chung
của dân cư mà chưa qua xử lý
2.3. Nhận xét, đánh giá
2.3.1. Ưu điểm
Từ năm 2013 cho đến nay, công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên
địa bàn quận Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng đã được UBND, công an
quận Ngô Quyền quan tâm chỉ đạo lực lượng công an cơ sở luôn phối kết hợp
với các ban ngành, đoàn thể địa phương triển khai thực hiện các quy định
pháp luật về cư trú bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt vào mỗi buổi
sáng, cán bộ văn hóa UBND phường có buổi phát thanh trên loa phát thanh
của phường về việc đôn đốc nhắc nhở nhân dân thực hiện việc đăng ký hộ
khẩu thường trú, tạm trú, lưu trú. Đối với cán bộ làm công tác giải quyết đăng
ký hộ khẩu thường trú tại công an quận đã tham mưu với lãnh đạo công an
quận chủ động rút ngắn thời gian giải quyết, trả kết quả giải quyết về cư trú
cho công dân, nhất là đối với trường hợp đăng ký đơn giản, không cần xác
57
minh như điều chỉnh các thay đổi trong sổ hộ khẩu, vợ về với chồng, chồng
về với vợ, con về với bố mẹ,...
Qua công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, công an quận Ngô
Quyền đã kịp thời cung cấp số liệu về nhân khẩu, hộ khẩu giúp cho cấp ủy
chính quyền địa phương và các ngành có liên quan xây dựng các kế hoạch,
chỉ tiêu kinh tế xã hội và đề ra các chủ trương, giải pháp thực hiện chính sách
phát triển kinh tế xã hội: chính sách xóa đối giảm nghèo, giải quyết việc làm,..
tăng cường công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại cơ sở cũng góp phần tích
cực vào việc thực hiện các quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ
trợ: quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành có điều kiện:
về đăng ký quản lý, sử dụng con dấu: về việc nghiêm cấm sản xuất,buôn bán
hàng giả, hàng nhái...[16]. Qua công tác thực hiện pháp luật về cư trú, lực
lượng cảnh sát khu vực 13 phường cũng nắm được những cá nhân điển hình,
tích cực, có điều kiện tham gia vào các tổ chức bảo vệ an ninh, trật tự tại địa
bàn cơ sở, góp phần tích cực trong công tác phát động quần chúng nhân dân
tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Trong
những năm qua, các tổ chức bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở đã phối hợp tuyên
truyền, vận động, nhân dân giao nộp nhiều vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
và pháo các loại, tự giác di chuyển hàng quán lấn chiếm vỉa hè; phối hợp cùng
lực lượng Công an tại cơ sở tuần tra, phát hiện, đề nghị xử lý các trường hợp
vi phạm các quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng và các vi phạm
khác về quản lý hành chính về trật tự xã hội; tham mưu xây dựng các quy tắc,
nội quy, quy ước bảo vệ an ninh, trật tự tại địa bàn dân cư; tham mưu giải
quyết nhiều vụ việc có liên quan đến an ninh, trật tự, hòa giải các tranh chấp
trong nội bộ nhân dân; xây dựng nhiều phong trào toàn dân tham gia tố giác
tội phạm, quản lý, giáo dục, cảm hóa người lầm lỗi tại gia đình và cộng đồng
dân cư góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội.
58
2.3.2. Hạn chế
Một là: công tác xây dựng và ban hành các văn bản thực hiện pháp luật
về cư trú tại quận Ngô Quyền còn mang tính chủ quan của cơ quan tham mưu
là công an quận Ngô Quyền đơn vị trực tiếp thực hiện pháp luật về cư trú.
Hai là: việc tổ chức thực hiện các văn bản trên trong công tác quản lý
tạm trú, lưu trú còn nhiều thiếu sót, có nhiều hộ gia đình thuộc diện tạm trú
nhưng chưa làm thủ tục đăng ký tạm trú dẫn đến việc nắm bắt số người tạm
trú chưa kịp thời, thiếu thông tin gây khó khăn trong việc hoạch định các chỉ
tiêu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.
Ba là: công tác tuyên truyền pháp luật về cư trú đã đạt được những hiệu
quả song vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời với tình hình phát triển về dân cư tại
địa phương. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân chưa cao
dẫn đến những khó khăn nhất định cho lực lượng cán bộ làm công tác thực
hiện pháp luật về cư trú. Việc xử lý các vi phạm pháp luật về cư trú còn nặng
tính răn đe, giáo dục trong quá trình thực hiện còn có nhiều nhân khẩu chống
đối, gây khó khăn cho lực lượng công an cơ sở. Nội dung tuyên truyền, phổ
biến giáo dục pháp luật về cư trú còn cứng nhắc, khô khan, dập khuôn nguyên
trạng nội dung văn bản, việc vận động người dân tham gia các buổi sinh hoạt
phổ biến pháp luật còn ít, thành phần tham gia còn mang tính đại diện.
Bốn là: Quản lý bằng sổ hộ khẩu còn nhiều bất cập [26]. Luật Cư trú
quy định việc quản lý cư trú được thực hiện bằng hình thức quản lý thông qua
sổ hộ khẩu, sổ tạm trú. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện cho thấy hình thức
quản lý cư trú bằng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú còn nhiều hạn chế, có rất nhiều thủ
tục hành chính khác nhau, có thể kể đến các thủ tục liên quan đến sổ hộ khẩu,
sổ tạm trú như quy định về tách, cấp đổi, cấp lại, điều chỉnh thay đổi trong sổ
hộ khẩu; xóa đăng ký thường trú, xác nhận việc trước đây đã đăng ký thường
trú; hủy bỏ kết quả đăng ký thường trú trái pháp luật; cấp giấy chuyển hộ
59
khẩu (thực hiện tại cấp huyện, cấp xã); cấp đổi, cấp lại sổ tạm trú, điều chỉnh
những thay đổi trong sổ tạm trú, gia hạn tạm trú, hủy bỏ đăng ký tạm trú trái
pháp luật tại Công an cấp xã. Với phương thức quản lý cư trú sử dụng sổ hộ
khẩu, sổ tạm trú như hiện nay cho thấy nhiều hạn chế, việc giải quyết thủ tục
hành chính cần nhiều thời gian, công sức của lực lượng chức năng và công
dân. Do vậy, cần có biện pháp sửa đổi quy định hiện hành để cải cách, hiện
đại hóa phương thức quản lý cư trú, có thể thay thế bằng hình thức quản lý
mới tiên tiến, hiệu quả hơn để nâng cao hiệu quả, tiến trình thực hiện đăng ký
thường trú, tạm trú.
Năm là: Quy định nhập khẩu gây khó khăn cho người dân [40]. Luật
Cư trú đã có tác dụng hạn chế người nhập hộ khẩu vào nội thành, thành phố
trực thuộc trung ương bằng quy định về thời hạn tạm trú và các điều kiện
khác có liên quan tại Điều 20 Luật Cư trú, nhưng thực tế cho thấy quy định
này chỉ hạn chế nhập hộ khẩu chứ không hạn chế được tình trạng nhập cư. Số
lượng người dân cư trú từ các tỉnh đến làm ăn, sinh sống ở các thành phố lớn
là xu hướng tất yếu; điều này cũng đồng nghĩa nhu cầu nhập hộ khẩu vào
thành phố hiện nay rất lớn. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về nhập hộ
khẩu đã gây khó khăn cho người dân, đặc biệt là đối tượng nhập cư, lao động
có thu nhập thấp dẫn tới có một tỷ lệ lớn người dân phải tạm trú, gây khó
khăn trong quản lý cư trú và bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương. Hơn thế
nữa, việc khó khăn trong nhập hộ khẩu còn ảnh hưởng đến quyền lợi của
người dân trong một số hoạt động như học tập, chăm sóc y tế… gây khó khăn
cho công dân trong việc thực hiện quyền tự do cư trú của mình. Việc quy định
tăng thời hạn tạm trú theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Cư trú (năm 2013) đối với các quận nội thành chưa phải là giải pháp tối
ưu để tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước về dân cư và giải quyết
60
được vấn đề nhập cư ở các thành phố lớn. Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ
sung quy định này cho phù hợp hơn.
Sáu là: Phân cấp thẩm quyền đăng ký thường trú chưa hợp lý. Bất cập
trong phân cấp thẩm quyền đăng ký thường trú tại các địa phương. Theo quy
định tại Khoản 1 Điều 21 Luật Cư trú thì người đăng ký thường trú nộp hồ sơ
đăng ký thường trú tại cơ quan Công an sau đây:
“a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an
huyện, quận, thị xã;
b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công
an thị xã, thành phố thuộc tỉnh”.
Theo đó, thẩm quyền giải quyết việc đăng ký thường trú của công dân
được quy định tại Điều 9 Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 09/9/2014 của
Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú
và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Cư trú như sau:
“- Công an quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương
có thẩm quyền đăng ký thường trú tại quận, huyện, thị xã thuộc thành phố
trực thuộc Trung ương.
– Công an xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký
thường trú tại các xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh. Công an thị xã, thành phố
thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký thường trú tại thị xã, thành phố thuộc tỉnh”.
Công an xã là lực lượng bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của
Công an nhân dân và theo quy định tại Khoản 5 Điều 9 Pháp lệnh Công an
xã năm 2008 thì Trưởng Công an xã có nhiệm vụ thực hiện các quy định của
pháp luật về quản lý cư trú, chứng minh nhân dân và các giấy tờ đi lại khác…
Trong khi đó, tại quận, huyện, thị xã, thuộc thành phố trực thuộc trung ương,
đặc biệt tại các quận nội thành, Cảnh sát khu vực, Trưởng Công an phường,
61
thậm chí là Đội trưởng đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội là
lực lượng Công an chính quy nhưng lại không được giao thẩm quyền đăng ký
thường trú, mà thẩm quyền này thuộc về Trưởng Công an quận, huyện, thị xã
thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Có thể thấy, địa bàn tại thành phố lớn
là khu đông dân cư, tính chất cư trú phức tạp, có địa bàn lên đến hàng vạn
nhân khẩu nên việc chỉ giao thẩm quyền đăng ký thường trú cho Trưởng
Công an quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thực hiện
công tác quản lý thường trú của công dân trên địa bàn là chưa thật sự phù hợp
với thực tiễn. Do đó, nên phân cấp thẩm quyền quản lý đăng ký thường trú về
cơ sở, mà cụ thể là trao cho trưởng Công an cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn)
để tăng cường hiệu quả và bảo đảm chặt chẽ trong công tác quản lý cư trú.
Bảy là: Bất cập khi xóa đăng ký thường trú. Bất cập trong một số
trường hợp xóa đăng ký thường trú theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Luật
Cư trú
Tại Điểm a Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người
bị xóa đăng ký thường trú khi chết, bị Tòa án tuyên bố là mất tích hoặc đã
chết, tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào quy định về việc thỏa thuận
giữa những người trong hộ về việc cử người là chủ hộ mới khi chủ hộ cũ
chuyển di, chết hoặc trường hợp những người còn lại trong hộ gia đình không
tự thỏa thuận được ai làm chủ hộ thì chưa thể xem xét giải quyết.
Tại Điểm b Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người bị
xóa đăng ký thường trú khi được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an
nhân dân ở tập trung trong doanh trại; tuy nhiên, có trường hợp khi công dân
được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong
doanh trại lại không đến để thực hiện việc xóa đăng ký thường trú tại nơi ở
cũ, dẫn đến nhiều trường hợp còn có hai nơi đăng ký thường trú khác nhau.
62
Tại Điểm d Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người bị
xóa đăng ký thường trú khi ra nước ngoài để định cư; tuy nhiên, có trường
hợp công dân đã đăng ký thường trú mà nay lại ra nước ngoài để định cư
nhưng không có cơ quan nào thông báo cho lực lượng làm công tác đăng ký
cư trú là công dân đó đã được định cư ở nước ngoài để xóa đăng ký thường
trú trong nước. Bên cạnh đó, Luật Cư trú hiện hành cũng không quy định cơ
chế phối hợp giữa cơ quan quản lý xuất nhập cảnh với lực lượng Cảnh sát
quản lý hành chính về trật tự xã hội; do đó, cơ quan quản lý đăng ký thường
trú không có cơ sở để làm thủ tục xóa đăng ký thường trú; dẫn tới việc hồ sơ
quản lý thường trú công dân vẫn có, song thực tế, công dân lại không sinh
sống tại Việt Nam. Cũng tương tự như vậy, đối với trường hợp công dân
chuyển đi nơi khác nhưng không làm thủ tục chuyển hộ khẩu hoặc người
đang chấp hành án phạt tù giam có thời hạn từ 12 tháng trở lên, tù chung thân
tại các trại giam cũng không thuộc diện xóa đăng ký thường trú, dù theo quy
định về việc giảm án tha tù, những người đang chấp hành án chung thân vẫn
có cơ hội trở về tái hòa nhập với cộng đồng nhưng thực tế họ phải bảo đảm
chấp hành án trong thời gian rất lâu; trong suốt thời gian phải chấp hành án,
họ không có mặt tại địa phương nơi đã đăng ký thường trú, điều này dẫn tới
sự khác biệt giữa quản lý hồ sơ và quản lý thực tế việc công dân cư trú.
Tại Điểm đ Khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú quy định trường hợp người bị
xóa đăng ký thường trú khi “đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong
trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở
nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy
chuyển hộ khẩu để xóa đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ”; tuy nhiên, trên
thực tế nhiều trường hợp chuyển đến nơi ở mới nhưng Công an nơi cấp giấy
chuyển hộ khẩu không nhận được thông báo của Công an nơi đến, gây khó
khăn trong việc quản lý, có khả năng công dân đăng ký thường trú tại 02 nơi;
63
nhất là đối với lực lượng Công an cấp xã hiện nay không có kinh phí để gửi
thông báo trao đổi với các địa phương khác. Bên cạnh đó, trường hợp khi
nhận được thông báo của Công an nơi đến thì Công an nơi cấp giấy chuyển
hộ khẩu phải mời chủ hộ đến để tiến hành làm thủ tục xóa đăng ký thường trú
cho thành viên đã chuyển hộ khẩu đi, như vậy chủ hộ phải đi đến cơ quan
Công an ít nhất 02 lần, tốn nhiều thời gian, có trường hợp chủ hộ không đến
để xóa đăng ký thường trú.
Bên cạnh đó, Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành không
quy định xóa đăng ký thường trú đối với các trường hợp công dân không còn
đảm bảo điều kiện về chỗ ở hợp pháp như nhà ở thực tế không còn do di dời,
đền bù, giải tỏa hay đã bán nhà cho người khác, trường hợp hết hợp đồng thuê
nhà, mượn nhà hoặc không còn được ở nhờ… nên gây khó khăn trong công
tác quản lý cư trú; nhiều trường hợp hộ gia đình có nhà bị giải tỏa hoặc bán
nhà chuyển đi nơi khác sinh sống, có nhiều trường hợp sau khi đã được đăng
ký thường trú ở nơi cư trú mới thì không quay lại để xóa tên trong sổ hộ khẩu
dẫn đến việc quản lý số lượng người thường trú thực tế tại địa phương còn
chưa được sát, đúng với thực tế.
Tám là: Đăng ký tạm trú còn nhiều vướng mắc. Một số bất cập trong
việc đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú [29].
Tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày
09/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật
Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Cư trú quy định người chưa thành niên nếu không đăng ký
thường trú cùng cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ mà đăng ký thường trú cùng với
người khác thì phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc cha hoặc
mẹ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng trong thực tế nhiều
trường hợp cha, mẹ trẻ đã lỵ hôn và bỏ địa phương đi, trẻ em được ông, bà,
64
người khác nhận nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế, đến khi đăng ký thường trú
cho các em thì không tìm được cha, mẹ để lấy ý kiến nên gây khó khăn trong
giải quyết đăng ký thường trú.
Tương tự như vậy, việc đăng ký thường trú vào các cơ sở tôn giáo chỉ
áp dụng đối với đối tượng là “chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác
chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo”, trong khi thực tế hiện nay số người tự nguyện xin đi tu và sinh sống tại
các cơ sở tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo rất nhiều, trong đó có nhiều trường
hợp trẻ em mồ côi, không cha không mẹ… tuy nhiên các em này chưa đảm
bảo điều kiện là chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt
động tôn giáo do đó không thể đăng ký thường trú theo quy định. Từ đó, gây
rất nhiều khó khăn cho các em trong các quan hệ giao dịch, kể cả làm giấy tờ
về căn cước công dân (bắt buộc phải có sổ hộ khẩu). Do đó, cần điều chỉnh,
sửa đổi Luật Cư trú phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong
trường hợp này.
Tại Điều 13 Luật Cư trú quy định nơi cư trú của người chưa thành niên
là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú
của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành
niên thường xuyên chung sống. Thực tế, công tác đăng ký, quản lý cư trú cho
thấy có trường hợp cha, mẹ có nơi đăng ký thường trú khác nhau, nên cha, mẹ
đã lợi dụng để đăng ký thường trú tại 02 nơi cho trẻ em.
Tại Điều 30 Luật Cư trú về đăng ký tạm trú có quy định việc cấp sổ tạm
trú cho công dân, tuy nhiên trên thực tế có trường hợp công dân đã được cấp sổ
tạm trú tại một địa chỉ nhưng sau đó lại di chuyển đến chỗ ở khác, đăng ký tạm
trú tiếp và lại được cấp một sổ tạm trú khác trong khi sổ tạm trú cũ vẫn chưa hết
hạn sử dụng; dẫn đến một người có thể có hai sổ tạm trú vẫn còn thời hạn sử
dụng, gây khó khăn cho công tác quản lý nhân, hộ khẩu tạm trú.
65
Chín là: một số bất cập khác liên quan đến quy định của Luật Cư trú
Tại Khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú quy định nơi cư trú của công dân là
chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống; nơi cư trú của công dân
là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Tuy nhiên Luật Cư trú và các văn bản
hướng dẫn thi hành chưa quy định rõ ràng thể nào là “thường xuyên sinh
sống” nên nhiều địa phương gặp lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP thì “Mỗi
công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi
thường xuyên sinh sống” thì phải đáp ứng được hai điều kiện “một chỗ ở hợp
pháp” và “là nơi ở thường xuyên sinh sống” thì mới được đăng ký thường trú.
Cách hiểu và sử dụng cụm từ “thường xuyên sinh sống” trong thực tế không
có sự thống nhất, chưa được giải thích cụ thể và chỉ là yếu tố định tính dẫn
đến cách hiểu và áp dụng ở mỗi địa phương không giống nhau. Có nơi coi
việc công dân mỗi tháng cư trú từ 02 đến 04 tuần là thỏa mãn quy định
“thường xuyên sinh sống”, nhưng cũng có nơi lại quy định công dân phải cư
trú tuy không liên tục nhưng ít nhất từ 09 tháng trở lên trong một năm mới
được coi là “thường xuyên sinh sống”.
Bên cạnh đó, việc áp dụng quy định về “chỗ ở hợp pháp” cũng còn
vướng mắc phát sinh là nhiều trường hợp giấy tờ chứng minh về chỗ ở hợp
pháp lại không hợp lệ như nhà ở đã qua mua bán nhiều lần mà không sang
tên, đổi chủ hợp pháp hoặc nhà đất tự cơi nới, tôn tạo, nhà đất được cơ quan,
tổ chức tạm giao, tạm phân… trong khi các đơn vị chủ quản hoặc Ủy ban
nhân dân cấp xã lại không xác nhận tính hợp pháp về nhà ở nên đã gây khó
khăn trong giải quyết đăng ký cư trú cho công dân.
Tại Khoản 1 Điều 16 Luật Cư trú quy định nơi cư trú của cán bộ, chiến
sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân: “Nơi cư trú của người đang làm
nghĩa vụ quân sự hoặc đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân là
66
nơi đơn vị của người đó đóng quân”, tuy nhiên, hiện nay rất nhiều trường hợp
cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có hai nơi thường
trú, khi đi nghĩa vụ quân sự hoặc phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân
nhưng không thực hiện xóa đăng ký hộ khẩu thường trú cũ khi chuyển đến
đơn vị đóng quân.
Tại Điều 24 Luật Cư trú quy định về sổ hộ khẩu, trong đó có trường
hợp cấp lại sổ hộ khẩu, việc cấp lại sổ hộ khẩu là dựa trên đơn trình báo của
công dân; tuy nhiên, trên thực tế đã xảy ra một số trường hợp công dân báo
mất sổ hộ khẩu nhưng là giữ lại sổ hộ khẩu này, sau khi được cấp sổ mới thì
lại chuyển nơi đăng ký thường trú khác dẫn đến việc có 02 sổ hộ khẩu ở hai
nơi khác nhau gây khó khăn cho công tác quản lý cư trú.
Theo quy định hiện nay của một số ngành đã lấy tiêu chí sổ hộ khẩu là
điều kiện để giải quyết chế độ chính sách, quyền lợi của công dân như: cấp
đất xây dựng nhà ở, xác lập hộ nghèo, ký hợp đồng cung cấp điện, nước sinh
hoạt, tuyển chọn học sinh các bậc học… nên nảy sinh hiện tượng tách hộ
khẩu hoặc chuyển hộ khẩu đến các địa bàn khác có điều kiện hưởng ưu tiên
hơn nhưng thực tế vẫn cư trú tại nơi ở cũ đã gây xáo trộn về nhân khẩu, khó
khăn cho công tác quản lý cư trú của nhiều địa phương. Do vậy, có thể nghiên
cứu, điều chỉnh quy định về tách sổ hộ khẩu theo quy định tại Điều 27 Luật
Cư trú cho phù hợp hơn.
Việc giải quyết điều chỉnh, thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu căn cứ
vào giấy khai sinh do ngành tư pháp cấp qua theo dõi còn nhiều vấn đề vướng
mắc như trong tàng thư hộ khẩu lưu trữ giấy khai sinh ban đầu có thông tin
không đúng với trích lục khai sinh do công dân cung cấp khi yêu cầu điều
chỉnh thông tin trong sổ hộ khẩu, có trường hợp trích lục cải chính hộ tịch do
tư pháp xã ký nhưng qua xác minh làm rõ không có cơ sở pháp lý điều chỉnh
(chỉ dựa vào văn bản cam kết của công dân để điều chỉnh). Từ đó phát sinh
67
nhiều trường hợp điều chỉnh thông tin vi phạm pháp luật, có trường hợp công
dân là nữ đã khai tăng tuổi để kết hôn với người nước ngoài; một số trường
hợp trẻ em là con lai được Sở tư pháp cấp giấy khai sinh mang quốc tịch Việt
Nam (theo mẹ) nhưng dân tộc ghi là Thailan, Malaysia, Hàn quốc… không
thuộc danh mục 54 dân tộc Việt Nam; khi công dân có yêu cầu điều chỉnh
thông tin hộ khẩu, giấy tờ về chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân
nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện, giải quyết trường hợp này.
2.3.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế:
2.3.3.1. Nguyên nhân của ưu điểm:
Trong xu thế xã hội hiện nay, việc người dân được thụ hưởng pháp luật
là một nhu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội, các quyền và lợi ích của người
dân đều được thể chế bằng các đạo luật. Sự bùng nổ phát triển của công nghệ
thông tin (mạng internet, máy điện thoại smartphone) là những công cụ,
phương tiện giúp người dân thực sự tiếp cận đến các văn bản pháp quy của
pháp luật. Người dân thường xuyên trao đổi, đúc rút các kinh nghiệm ứng xử
với các quy định pháp luật sao cho các quy định pháp luật hiện tại góp phần
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, nâng cao đời sống cả về mặt kinh tế, văn
hóa, xã hội. Việc nhân dân chấp hành pháp luật về cư trú là phát triển về
quyền con người trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Song song với việc người dân được thụ hưởng pháp luật thì bộ máy
chính quyền nhà nước thực thi về pháp luật đã có những cải cách rõ rệt trong
nhiều năm qua. Số lượng cán bộ công chức qua thi tuyển chiếm phần đông
trong bộ máy công quyền của nhà nước, số cán bộ trên được đảm bảo về trình
độ, chuyên môn, có ý thức cao trong việc chấp hành các quy định của công sở
và việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Thủ tướng chính phủ liên tục
có những chỉ thị chỉ đạo trong việc cải cách hành chính, cải cách các thủ tục
liên quan đến các quy định pháp luật: trong những năm qua, chính phủ đã cắt
68
giảm hàng trăm thủ tục hành chính có những bất cập là rào cản cho doanh
nghiệp, nhân dân, cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển kinh
tế, văn hóa xã hội Việt Nam trong tình hình mới.
2.3.3.2. Nguyên nhân của hạn chế:
Lực lượng cán bộ công an nhân dân làm công tác thực hiện pháp luật
về cư trú còn chưa được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ theo đúng chuyên
ngành. Tại công an quận số cán bộ tốt nghiệp chuyên khoa quản lý hành chính
về trật tự an toàn xã hội mới đạt tỷ lệ 40%. Tại cơ sở số lượng cảnh sát khu
vực còn phải làm trái chuyên môn nghiệp vụ, tham gia sâu vào các nhiệm vụ
của chính quyền địa phương như vận động nhân dân đóng thuế, tiêm chủng
cho trẻ em, phòng chống các dịch bệnh, tham gia cứu hộ, cứu nạn trong mùa
mưa bão, trực tiếp hoặc gián tiếp làm công tác phòng cháy, chữa cháy tại cơ
sở. Lực lượng CSKV tại công an các phường ( quản lý số dân, lớn gấp 2 đến
3 lần theo quy định của điều lệnh CSKV đồng thời còn phải làm nhiều việc
khác như trực ban, chốt điểm, tuần tra) [1].
Số cán bộ liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú cũng như số
cán bộ trực tiếp làm công tác thực hiện pháp luật về cư trú như cán bộ cơ sở (
còn kiêm nhiệm nhiều việc tại địa phương). Cán bộ làm tư pháp tại UBND 13
phường quận Ngô Quyền theo quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 04/8/2014
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt liên thông các TTHC đăng ký
khai sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú, cấp thẻ y tế đối với những trường hợp
dưới 6 tuổi còn có thái độ tiếp dân làm thủ tục chưa thực sự vui vẻ khi nhân
dân đến liên hệ làm việc.
Mặt trái của sự phát triển kinh tế trong xã hội cũng đã tác động trực tiếp
đến đời sống của cán bộ công chức thực hiện pháp luật về cư trú. Việc trượt
giá trong sinh hoạt tiêu dùng, giá đất, nhà tăng nhanh làm tâm lý của cán bộ
hoang mang dao động, chế độ đãi ngộ và mức lương hiện nay của cán bộ
69
công chức khó duy trì được đời sống của cán bộ công chức, chưa nói đến việc
mua nhà, sửa nhà và các nhu cầu đời sống khác. Bên cạnh đó, một số người
dân luôn có tâm lý bồi dưỡng cán bộ trong quá trình thực hiện các thủ tục liên
qua đến công tác đăng ký thường trú, tạm trú cũng dẫn đến các sai phạm của
cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú.
Tiểu kết chƣơng 2
Quận Ngô Quyền nằm ở vị trí trung tâm thành phố Hải Phòng với diện
tích 11,1 km2, có 161.086 nhân khẩu, mật độ dân số là 14,512 người/km2
được chia làm 13 phường với 328 tổ dân phố. Là một địa bàn tập trung nhiều
cơ quan, đơn vị doanh nghiệp lớn của trung ương và địa phương; có hệ thống
Cảng, bến tàu, bến xe, có các trung tâm thương mại Big C, Thùy Dương
Plaza, ngoài ra trên địa bàn quận còn có làng văn hóa Sunflower chuyên cho
các chuyên gia người nước ngoài đến thuê ở lưu trú. Đây là nơi thường xuyên
diễn ra các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa thể thao của cả nước,thành phố
và của quận.Chính nhờ vị trí địa lý là đầu mối của giao thông đường thủy,
đường bộ, đường hàng không, hoạt động kinh tế xã hội của quận Ngô Quyền
trong nhiều năm qua phát triển mạnh mẽ theo định hướng thương mại dịch vụ
cảng biển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành nghề khác trên địa bàn. Sự
phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng trên địa quận cũng như kinh tế đã thu hút
lực lượng lao động lớn thuộc các khu vực trong, ngoài thành phố Hải Phòng về
lao động thuộc các khu vực nông thôn của các tỉnh, thành phố khác đến làm việc
theo nhu cầu của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn quận Ngô Quyền. Điều này
đã dẫn đến tình trạng nhập cư lớn, biến động liên tục, công tác thực hiện pháp
luật về cư trú của công an quận Ngô Quyền gặp nhiều khó khăn.
Trong thời gian qua, công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn
quận Ngô Quyền đã được UBND, công an quận Ngô Quyền quan tâm chỉ đạo
70
sâu sát thông qua những kế hoạch, chương trình hành động cụ thể thực hiện
pháp luật về cư trú trên địa bàn. Việc thực hiện pháp luật về cư trú đã được
cán bộ nhân dân trên địa bàn quận tham gia hưởng ứng tích cực, tuy nhiên
trong từng nội dung thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền vẫn
còn tồn tại ít nhiều hạn chế, đặc biệt trong luật cư trú còn một số điều quy
định vẫn còn nhiều bất cập gây khó khăn cho người dân. Một thực tế cho thấy
luật cư trú chỉ nhằm hạn chế việc đăng ký hộ khẩu chứ không hạn chế được
tình trạng nhập cư. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
UBND, công an quận Ngô Quyền còn mang nặng tính chủ quan của cơ quan
đơn vị thực thi pháp luật. Vẫn còn tình trạng sót lọt trong công tác đăng ký
tạm trú, khai báo lưu trú, cán bộ làm công tác tiếp dân, lực lượng cảnh sát khu
vực còn thiếu, yếu, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về cư trú còn
đơn điệu khô cứng. Việc kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử
lý vi phạm pháp luật về cư trú còn mang tính đôn đốc, nhắc nhở, động viên.
Trước những thực tế đó, việc nghiên cứu đề xuất những giải pháp cải
thiện hiệu quả thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền là
vô cùng cần thiết. Các giải pháp đòi hỏi tính ứng dụng cao, làm tăng tính hiệu
quả thực sự của công tác này.
71
Chƣơng 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CƢ TRÚ
TẠI QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
3.1. Định hƣớng thực hiện pháp luật cƣ trú tại quận Ngô Quyền, thành
phố Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố trực thuộc trung ương, thuộc đô thị loại
1.Trong đó quận Ngô Quyền là trung tâm hành chính chính trị, trung tâm
thương mại, du lịch và dịch vụ, văn hóa thể thao của thành phố và của quận.
Trong năm tới, quận quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện mục
tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm, tạo đà cho việc thực hiện thắng
lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.Tập trung cao công
tác thu, chi ngân sách và quản lý đô thị, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường;
đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án trọng điểm. Phát
triển văn hóa, con người, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng
cao chất lượng đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi
trường đầu tư kinh doanh, tích cực phòng, chống tham nhũng, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Đặc biệt, Quận đang đẩy mạnh cải cách hành chính và thực hiện Đề án
"Xây dựng chính quyền điện tử quận Ngô Quyền" sẽ tạo điều kiện góp phần
rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư,
kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Những năm qua, quán triệt sâu sắc sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND,
UBND thành phố, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng bộ, HĐND quận, Quận
Ngô Quyền đã tập trung phát triển kinh tế theo hướng dịch vụ, thương mại,
72
chất lượng cao; chú trọng quy hoạch và phát triển đô thị... Nhờ đó Quận Ngô
Quyền ngày càng thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại, xứng đáng là "trái
tim" của thành phố Cảng anh hùng.
Từ vị trí và vai trò quan trọng như vậy, đòi hỏi cấp ủy, lãnh đạo UBND
quận tiếp tục phát triển mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội, tình hình thực
hiện pháp luật cư trú ngày càng phức tạp, những vấn đề được giải quyết đảm
bảo tình hình ANTT được giữ vững.
Một là, dự báo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự
Quận Ngô Quyền được xác định là trọng điểm phát triển kinh tế - xã
hội của thành phố theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tiêu chí đô
thị loại 1.
Từ năm 2010 đến nay, Quận Ngô Quyền đã triển khai thực hiện gần 40
dự án. Trong đó có một số dự án lớn như: Ngã 5 - Sân bay Cát Bi; Khu đô thị
mới Lạch Tray - Hồ Đông (trong đó, có tuyến đường với mặt cắt 100m); cải
tạo kênh mương An Kim Hải; xây dựng tuyến đường Đông Khê 2; xây dựng
Nút Giao thông Quán Mau; gần đây nhất là các Dự án cải tạo chung cư cũ,
xuống cấp... Tổng số diện tích phải thu hồi, giải phóng mặt bằng là trên
600.000 m2 với hơn 5.000 hộ dân.
Đây là các dự án góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận cũng như của thành phố và đất
nước. Đáng chú ý, quận có các tiềm năng và lợi thế về giao thông đường thủy,
sắt, bộ và hàng không như: đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; các dự án
cải tạo tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội, Cảng cửa ngõ quốc tế Hải
Phòng,… Các tuyến phố, đường trục chính và một số trên địa bàn quận được
cải tạo, đầu tư mới như: đường Đông Khê 2, cầu Nguyễn Trãi, cầu Hoàng
Văn Thụ hoàn thành sẽ mở ra khả năng gắn kết trực tiếp với vùng Bắc sông
73
Cấm..., góp phần tạo ra không gian phát triển kinh tế và giao lưu hàng hoá
ngày càng rộng lớn và thuận tiện.
Về tình hình an ninh trật tự có nhiều nguy cơ bất ổn do mặt tiêu cực của
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế xã hội của thành phố và
của quận. Những địa bàn có nhiều người nước ngoài đến sinh sống làm việc
như làng văn hóa Sunflower chuyên cho các chuyên gia người nước ngoài đến
thuê ở lưu trú sẽ gây ra nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến ANTT.
Hai là, dự báo về tình hình dân cư
Như đã phân tích ở chương 2, với thành phần dân cư đa dạng, trình độ
nhận thức xã hội của mỗi người dân khác nhau, ý thức chấp hành pháp luật
không đồng đều, tính chất cư trú không ổn định gây khó khăn cho công tác quản
lý nhân hộ khẩu trên địa bàn. Với chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, số
lượng người nước ngoài và Việt kiều tạm trú trên địa bàn quận trong những năm
tới có chiều hướng gia tăng, tình hình tạm trú của người nước ngoài và Việt kiều
có mặt tại địa bàn quận cũng diễn biến phức tạp và khó lường.
Ba là, định hướng nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật cư
trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Từ những dự báo trên, việc không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu
quả công tác thực hiện pháp luật cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền là vô
cùng cần thiết.Định hướng thực hiện pháp luật cư trú tên địa bàn quận trở
thành công tác luôn được thực hiện hiệu quả chặt chẽ cho dù tình hình nhân
hộ khẩu trên địa bàn quận có biến động thế nào đi chăng nữa.Toàn bộ công
tác thực hiện pháp luật cư trú luôn được thực hiện dựa trên Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nước cũng như các quy định của pháp luật về cư trú. Hiệu quả
công tác tuyên truyền, phổ biến , giáo dục pháp luật về cư trú luôn được nâng
cao qua từng đợt triển khai. Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các
cán bộ làm công tác thực hiện pháp luật cư trú phải được thường xuyên, đáp
74
ứng nhu cầu về cư trú ngày càng đông và phức tạp. Bên cạnh đó, điều kiện cơ
sở vật chất cho công tác thực hiện pháp luật cư trú phải luôn được đảm bảo và
không ngừng đầu tư cải thiện. Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú phải được giải quyết triệt để,
nghiêm minh. Tạo nên một nền tảng kiểm tra, thanh tra và xử lý cương quyết
nhưng vẫn đảm bảo khách quan và dân chủ. Tóm lại, định hướng thực hiện
pháp luật cư trú tại địa bàn quận Ngô Quyền sẽ trở thành một hệ thống chặt
chẽ về cư trú, hiệu quả toàn diện, góp phần quan trọng trong hiệu quả quản lý
nhà nước.
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về cƣ trú tại quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng
Xuất phát từ việc nghiên cứu lý luận ở Chương 1, kết hợp với việc phân
tích đánh giá những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về công tác
thực hiện pháp luật nhà nước tại quận Ngô Quyền ở chương 2, tác giả đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn
quận như sau :
3.2.1. Giải pháp trong nội dung thực hiện pháp luật về cư trú
Một là, hoàn thiện cơ chế xây dựng và ban hành văn bản thực hiện
pháp luật về cư trú của quận Ngô Quyền
Hiện nay các văn bản dưới luật: thực hiện pháp luật về cư trú còn chưa
thực sự nhất quán, cơ quan công an là nơi thực hiện các trình tự về công tác
đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú, lưu trú còn có những mẫu giấy tờ bản
khai chưa lấy người khai báo làm trung tâm, còn sử dụng tính nghiệp vụ của
ngành công an do vậy gây khó khăn cho người dân khi đi đăng ký thường trú,
tạm trú, lưu trú. Do đó để hạn chế tình trạng các văn bản mẫu mã cản trở quá
trình thực hiện pháp luật về cư trú của người dân thì bộ công an cần nghiên
cứu thống nhất các văn bản giấy tờ mẫu mã thực hiện cho công tác đăng ký
75
thường trú, tạm trú, lưu trú theo hướng đơn giản trong khai báo, từ ngữ dễ
hiểu không nhất thiết người đi khai báo thường trú phải khai về quan hệ gia
đình (bố mẹ anh chị, em ruột, vợ con) nên tập trung khai những thông tin về
cá nhân như nghề nghiệp,nơi đăng ký thường trú, tạm trú, quá trình đã tạm trú
ở đâu và làm những việc gì. Bên cạnh đó, phải xác định rằng luật cư trú là văn
bản pháp luật có giá trị cao nhất trong công tác thực hiện pháp luật về cư
trú.Do vậy khi ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật cư
trú chính phủ, bộ công an cần phải giải thích rõ trách nhiệm của cơ quan thực
thi luật cư trú, quyền nghĩa vụ của người dân trong quá trình thực hiện pháp
luật về cư trú.
Công tác xây dựng và ban hành văn bản thực hiện pháp luật về cư trú
tại quận Ngô Quyền cần khắc phục tính chủ quan của cơ quan tham mưu trực
tiếp. UBND quận giao toàn bộ công tác quản lý và thực hiện pháp luật về cư
trú cho công an quận nhưng UBND quận cần phải theo dõi sát sao các hoạt
động trên lĩnh vực này bằng cách :
Công an quận Ngô Quyền phải tham mưu cho UBND quận Ngô Quyền
về tình hình phân bố dân cư tại 13 phường. Các phường Lê Lợi, Cầu Đất,
Lương Khánh Thiện, Gia Viên, Lạc Viên, Cầu Tre, Vạn Mỹ là những phường
có tính ổn định về dân số. Trong quy hoạch xây dựng của thành phố, các
phường trên cũng không có những dự án lớn liên quan đến việc giải phóng
mặt bằng, xây dựng các công trình lớn, do vậy công tác đăng ký thường trú,
tạm trú phải được thực hiện triệt để. Hàng quý UBND phường phải xây dựng
các buổi tọa đàm về pháp luật, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền về
công tác đăng ký thường trú, tạm trú. Những buổi tọa đàm đó phải gắn với
các phong trào ở địa phương như phong trào “gương người tốt”, “doanh
nghiệp giỏi”, “cơ quan, doanh nghiệp, trường học an toàn về ANTT”. Ngược
lại lực lượng CSKV tại các phường cũng phải rà soát các hộ gia đình mua
76
nhà, thuê nhà trên địa bàn phường, danh sách trên phải được chuyển về đội
QLHC công an quận. Cán bộ thực hiện công tác thường trú, tạm trú của công
an quận phải phối hợp với lực lượng CSKV tuyên truyền, vận động, cũng như
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp luật trong TTHC về công tác
đăng ký thường trú, tạm trú để có kết quả 100% người dân trên địa bàn đều
được đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú. Đối với các phường Lạc Viên,
Đông Khê, Đằng Giang, Đổng Quốc Bình, Máy Tơ, Lạch Tray là nơi có các
dự án lớn của thành phố, công an quận phải cử cán bộ trực tiếp theo dõi các di
biến động của các hộ gia đình liên quan đến việc mua bán, chuyển đổi nhà
cửa, phát sinh hộ mới. Đối với những hộ đủ điều kiện giải quyết hộ khẩu
thường trú, tạm trú phải lập tức giải quyết. Đối với những hộ còn vướng mắc
về các TTHC phải tổ chức những buổi tọa đàm, lắng nghe ý kiến của nhân
dân trên cơ sở thực tế tham mưu với UBND quận Ngô Quyền từng bước tháo
gỡ những khó khăn, vướng mắc của các hộ gia đình, từng bước hoàn thiện các
thủ tục để giải quyết cho người dân. Hằng năm các phường trên phải xây dựng
mới các mô hình phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc gắn với công tác
thực hiện pháp luật về cư trú. Qua nghiên cứu thực tế đã có phường như phường
Lạch Tray xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc có nội dung “ Ở
chấp hành, đi tự giác”, phường Đằng Giang “ Gia đình an toàn về ANTT”,
phường Đổng Quốc Bình “Vỉa hè gọn gàng, lòng đường an toàn”.
- Công an quận có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện pháp luật về
cư trú trên địa bàn quận cho UBND quận định kỳ hàng tháng. Kết quả phải
xác thực, đầy đủ và đúng thời gian quy định.
- UBND quận phải thật sự quan tâm, chỉ đạo sát sao công tác thực hiện
pháp luật về cư trú tại địa bàn. Không được giao phó, đùn đẩy trách nhiệm
kiểm tra, giám sát cho Công an quận.
77
- Song song với việc thực hiện pháp luật về cư trú, phải luôn chủ động
cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới trong lĩnh vực cư trú để triển
khai kịp thời, đúng quy định. Rà soát các văn bản đã hết hiệu lực thì không
được áp dụng và công khai rộng rãi để mọi người nắm và thực hiện.
Hai là , thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các văn bản về thực hiện
pháp luật cư trú
- Đối với Công an quận Ngô Quyền – cơ quan tham mưu trực tiếp
công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn quận :
+ Văn bản về thực hiện pháp luật cư trú sau khi được ban hành phải
được Công an quận triển khai thực hiện một cách chủ động.
+ Tại trụ sở tiếp dân của Công an quận và Công an 13 phường niêm
yết công khai thủ tục, hướng dẫn thực hiện pháp luật về cư trú phải rõ rang,
cỡ chữ và khổ giấy to, dễ hiểu và phải có bản ghi chép mẫu để người dân
tham khảo.
+ Nhiệm vụ phối hợp giữa Công an quận, Phòng tư pháp quận, Ban
chỉ huy quân sự quận ..trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú phải được
thực hiện một cách nghiêm túc theo chỉ đạo của UBND quận. Không được
đùn đẩy trách nhiệm, hoặc tự ý ôm đồm về một mối thực hiện một cách chủ
quan dẫn đến kém hiệu quả.
+ Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ cho những cán bộ làm
công tác thực hiện pháp luật về cư trú. Cần khen thưởng kịp thời những cá
nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoặc phụ trách vụ việc hồ sơ phức tạp,
đồng thời xử lý nghiêm những cán bộ có vi phạm trong quá trình thực thi
công tác như có thái độ không đúng mực khi tiếp dân, hách dịch, gây phiền
hà cho người dân, nhận hối lộ, või vĩnh để nhận hối lộ.
+ Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin vào
công tác thực hiện pháp luật về cư trú. Đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác
78
cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, tiến hành in ấn và công khai các thủ tục tại trụ sở
tiếp dân để người dân nắm bắt và thực hiện.
+ UBND 13 phường phải thường xuyên nắm bắt tình hình dân cư trên
địa bàn, cập nhật thông tin cư trú một cách nhanh chóng đầy đủ nhất. Thành
lập tổ cán bộ thống kê tình hình nhân khẩu hàng tháng, quý và năm để theo
dõi, phát hiện những biến động về số lượng và tính chất cư trú, nhất là đối
với nhân khẩu tạm trú, thông báo lưu trú, tạm vắng.
Ba là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về thực hiện pháp luật
cư trú
Việc tổ chức các buổi sinh hoạt tuyên truyền giáo dục về pháp luật nói
chung và pháp luật về cư trú nói riêng thường không thu hút nhiều người dân
tự giác tham gia. Do đó, để tạo động lực cho người dân bớt thời gian lao
động để tham gia thì tại mỗi buổi phổ biến pháp luật, UBND quận cùng
UBND phường có thể trích 1 phần kinh phí để phát cho mỗi người dân sau
mỗi buổi sinh hoạt.
Tuyên truyền viên trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú phải là
người đã được tập huấn, am hiểu pháp luật, có khả năng thuyết trình, diễn đạt
dễ hiểu. Đồng thời phải là người có kinh nghiệm giải quyết nhiều trường hợp
khác nhau, có khả năng giải đáp thắc mắc của người dân trong mọi trường hợp.
Chương trình tuyên truyền, giáo dục pháp luật phải được xây dựng
nghiêm túc để buổi sinh hoạt đạt hiệu quả cao nhất. Nội dung buổi tuyên
truyền phải phong phú, không khô khan, cứng nhắc; cần lồng ghép những
trường hợp thực tế để người dân dễ hiểu và dễ tiếp thu. Từ đó vận động
người dân tự giác chấp hành pháp luật cư trú để được hưởng những quyền lợi
tích cực.
Sau mỗi đợt tuyên truyền phải sơ kết, tổng kết để thấy được những mặt
làm được và hạn chế để rút ra kinh nghiệm. Quá trình tuyên truyền cần lồng
79
ghép những quyền lợi thiết thực của nhân dân với việc thực hiện đúng các quy
định của pháp luật cư trú như khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân
có thành tích xuất sắc tại các phường, những người dân tham gia tích cực trong
phong trào và giúp đõ các cán bộ công an làm công tác quản lý cư trú.
Bốn là, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú; tạo nền tảng xây dựng một bộ máy
quản lý và thực hiện pháp luật cư trú hoạt động hiệu quả
UBND quận tăng cường các cuộc thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột
xuất việc thực hiện pháp luật về cư trú. Kịp thời chỉ đạo, giải quyết nhưng
khúc mắc, tồn tại trong thời gian tổ chức thực hiện các văn bản thực hiện
pháp luật cư trú tại quận.
Phân công cán bộ trực tiếp hoặc phối hợp với cảnh sát khu vực của 13
phường kiểm tra việc chấp hành pháp luật cư trú của người dân, hộ gia đình,
cơ quan, tổ chức trên địa bàn quận. Mọi hoạt động kiểm tra cư trú đối với
người dân phải được thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra hoặc kiểm tra đột
xuất theo yêu cầu cấp bách phục vụ công tác đảm bảo ANTT [19].
Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú, hoạt động giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong thực hiện pháp luật cư trú phải được thực hiện theo
đúng quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Nghị
định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ hướng dẫn thi hành
Luật tố cáo [14].
Xử lý nghiêm, triệt để các hành vi nhũng nhiễu, hối lộ, gây khó khăn
phiền hà cho nhân dân trong quá trình làm thủ tục, đăng ký cư trú.
Công tác xử lý vi phạm hành chính về thực hiện pháp luật cư trú phải
được thực hiện đúng trình tự, thủ tục. Việc ra quyết định xử phạt hành chính
phải tuân thủ pháp luật, đóng dấu treo, ghi rõ điều, khoản vi phạm, ra quyết
định xử phạt hành chính nhất thiết phải lập biên bản, khi tạm giữ hoặc trả lại
80
bất cứ giấy tờ nào cho người dân phải lập biên bản xác nhận. Nghiêm túc xử
lý nghiêm những trường hợp người dân tách khẩu để được hưởng những
quyền lợi về điện sinh hoạt và các quyền lợi khác.
3.2.2. Các giải pháp trên từng lĩnh vực cụ thể
Một là,trên lĩnh vực thường trú
Điều 3 luật cư trú quy định “ Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường
trú, tạm trú thì quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký
thường trú, tạm trú, quyền tự do cư trú của nhân dân chỉ bị hạn chế theo quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định. Căn cứ vào quy định của pháp luật, cơ quan công an quận Ngô
Quyền cần tham mưu cho UBND quận công khai các thủ tục liên quan đến
công tác đăng ký thường trú tạm ,trú tại trụ sở tiếp dân của UBND quận, tại
UBND 13 phường và các tổ dân phố. Song song với việc công khai các thủ
tục về đăng ký,thường trú tạm trú UBND quận Ngô Quyền cần đưa ra quy
định về ngân sách phục vụ cho việc in ấn, tài liệu tuyên truyền đến từng tổ
dân phố cũng như các biểu mẫu hướng dẫn cho người dân hoàn thiện thủ tục
về đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú. Đối với các cơ sở kinh doanh về lưu
trú phải có hợp đồng lao động đóng bảo hiểm xã hội cho những người làm
công tác tiếp nhận lưu trú tại cơ sở kinh doanh. Đối với lực lượng cán bộ cơ
sở phải có nguồn kinh phí chi trả hàng tháng cho cán bộ cơ sở khi thực hiện
pháp luật về cư trú của địa phương, nguồn kinh phí này cần phải công khai
minh bạch ,không thuộc các khoản lương hoặc các phụ cấp khác của cán bộ
cơ sở. Đối với lực lượng CSKV phải bố trí đúng những cán bộ học chuyên
ngành về QLHC, mỗi một đồng chí chỉ phụ trách địa bàn quản lý( theo điều
17 điều lệnh CSKV) không dưới 400 hộ hoặc 1.600 nhân khẩu, nhiều nhất
không quá 500 hộ hoặc 2.000 nhân khẩu [3]. Đồng thời không huy động lực
lượng CSKV vào làm những việc trái quy định như trực ban chốt điểm bảo vệ
81
các dự án... Đối với cán bộ tư pháp tại UBND phường phải nghiêm túc thực
hiện Quyết định 1299/QĐ-TTg ngày 04/8/2014 của thủ tướng chính phủ về
việc thực hiện đề án liên thông các TTHC: đăng ký khai sinh – đăng ký hộ
khẩu thường trú – bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Tất cả cán bộ liên
quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến công tác thực hiện pháp luật về cư trú đều
phải có hình thức ưa nhìn, không bị khuyết tật bẩm sinh, hoặc bị tàn tật khiếm
khuyết một phần cơ thể. Trong quá trình làm việc tiếp dân phải tuân thủ cá
quy tắc đạo đức nghề nghiệp, có thái độ cử chỉ hành động vui vẻ, lễ phép tạo
sự thân thiện cởi mở đặc biệt không gây phiền hà sách nhiễu cửa quyền hách
dịch, nhận hối lộ hoặc tự đặt ra thời gian thủ tục giấy tờ biểu mẫu trái với quy
định của pháp luật, làm sai lệch sổ sách, hồ sơ về cư trú, cố ý hoặc từ chối cấp
giấy tờ về cư trú trái với quy định của pháp luật.
Hiện nay tại nhiều nước trên thế giới có xu hướng quản lý con người về
nhân thân, nơi cư trú ngày càng hướng tới xã hội dân sự, đặc biệt có sự thay
đổi lớnvề quan điểm luật pháp lấy con người cùng các hoạt động xã hội của
con người làm trung tâm để quản lý.Những quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình sinh sống, làm việc của mỗi con người đều được cơ quan quản lý nhà
nước thu thập, tích lũy để làm cơ sở đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã
hội, văn hóa từ đó đề ra các biện pháp quản lý nhà nước đảm bảo sự phát triển
của xã hội, nhu cầu thụ hưởng của người dân.
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực hiện pháp luật tại quận Ngô
Quyền, cá nhân người nghiên cứu nhận thấy: Một con người khi sinh ra thì
được đảm bảo quyền làm thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu thường
trú, làm thẻ bảo hiểm y tế tại UBND phường( cơ quan HCNN cấp trực tiếp).
Đương nhiên khi đăng ký hộ khẩu thường trú thì người đó (đứa trẻ) đó được
viết tên vào sổ hộ khẩu của gia đình, trong số hộ khẩu có mục quan hệ với chủ
hộ thì cán bộ đăng ký phải ghi đầy đủ mối quan hệ của đứa trẻ đối với chủ hộ.
82
Trong trường hợp đứa trẻ là con thì người đọc sổ hộ khẩu dễ dàng hiểu được
thông tin, nhưng nếu đứa trẻ là bậc thứ tư trong gia đình thì rất khó hình dung
được mối quan hệ của đứa trẻ đó với bố mẹ đẻ. Khi đứa trẻ lớn lên thì phải
kết hôn, việc kết hôn cũng phải ra UBND phường đăng ký kết hôn và hệ quả
pháp lý cuối cùng đối với một đời con người là lúc chết đi, gia đình người
thân cũng phải ra UBND phường làm thủ tục khai tử, sau đó xóa hộ khẩu
thường trú. Rõ ràng sổ hộ khẩu gia đình có tính chất dung nạp thông tin về
mặt tư pháp của một con người nhiều hơn tính chất an toàn, an ninh của một
con người. Bộ công an được chính phủ giao cho thực hiện Luật cư trú nhưng
trong Luật cư trú lại có rất nhiều điều quy định đăng ký thường trú gắn với sổ
hộ khẩu gia đình. Người nghiên cưu có đề xuất, kiến nghị: Nên chăng sổ hộ
khẩu gia đình nếu còn để tồn tại trong tương lai thì nên giao cho bộ tư pháp
chủ trì việc mã hóa các số liệu hộ khẩu theo phương thức liên thông trực
tuyến 4 cấp, cán bộ tư pháp thuộc UBND cấp phường thực hiện công tác đăng
ký và quản lý. Nếu được như vậy thì đã tiết kiện được rất nhiều thời gian,
công sức, tiền bạc cho nhân dân vì người dân không phải làm thêm một bước
đăng ký kết hôn phải đi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc khai tử phải xóa hộ
khẩu thường trú. Đồng thời cán bộ tư pháp của UBND khi xác lập lý lịch tư
pháp đối với một công dân thông qua sổ hộ khẩu dễ dàng hoàn thiện công
việc được tốt hơn.
Xây dựng phát triển hệ thống pháp luật, thực hiện pháp luật về cư trú
trên cơ sở thu thập thông tin sinh sống của một con người từ những thông tin
gốc của một con người. Đơn cử chúng ta có thể xây dựng mỗi một người khi
sinh ra có quyền lựa chọn cho mình một nơi đăng ký thường trú. Khi đăng ký
khai sinh, đăng ký thường trú mỗi một con người đều được cơ quan nhà nước
cấp cho một mã số tạm gọi là mã số định danh cá nhân (đây là một mã số bao
gồm nhiều dãy số tự nhiên nhưng phải đảm bảo không trùng lặp với bất cứ
83
người nào). Mã số định danh cá nhân về bản chất để cơ quan quản lý nhà
nước dung nạp tất cả các thông tin liên quan đến một con người như bố, mẹ,
quê quán, nơi sinh ra giới tính, nhóm máu. Trên cơ sở mã định danh cá nhân
thì các cơ quan nhà nước sẽ xây dựng pháp luật quản lý một con người đó.
Mã số định danh cá nhân trên cơ sở tích hợp sẽ là số tài khoản đăng ký tại
ngân hàng, là số thẻ căn cước công dân, số hộ chiếu cá nhân, số thẻ bảo hiểm
y tế, số biển xe mô tô, ô tô... Với phương pháp quản lý này công dân đi đâu,
làm gì, cư trú ở đâu nhà nước đều có thể quản lý được.Đồng thời người dân
khi thay đổi chỗ ở không phải làm thủ tục đăng ký thường trú mà chỉ cần
đăng ký tạm trú, lưu trú là đảm bảo tính pháp lý ổn định. Mở rộng ra khi
người dân vi phạm pháp luật ( vi phạm giao thông) cơ quan quản lý nhà nước
có thể ra lập biên bản và xử lý vi phạm giao thông bằng hình ảnh, không cần
gặp trực tiếp người vi phạm là có thể xử lý được vì thông qua biển số đăng ký
phương tiện tham gia giao thông (mã số định danh cá nhân) là có thể gửi
quyết định xử lý vi phạm hành chính sang ngân hàng trừ tiền trong tài khoản
của công dân đó. Mã số định danh cá nhân sẽ giúp bộ máy quản lý nhà nước
giảm thiểu được các văn bản pháp luật về quản lí con người, đồng thời sẽ xóa
đi một số lợi ích nhóm của một số ngành nghề trong xã hội như, ngành điện
không còn đòi hỏi sổ hộ khẩu để chứng minh nơi cư trú của một con người.
Ngành giáo dục cũng không được đòi hỏi sổ hộ khẩu gia đình trong việc xin
đi học và còn một số công việc cá nhân của công dân như thành lập doanh
nghiệp, cửa hàng kinh doanh cùng các giao dịch điện tử khác.
Mã số định danh cá nhân nếu được thực hiện thêm một bước thì sẽ
giảm được rất nhiều TTHC mà người dân bây giờ đang sử dụng. Đơn cử nếu
thực hiện mã số định danh cá nhân, người dân không phải mỗi lần chuyển nhà
ở lại phải đi làm thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú, cơ quan nhà nước ở các
đơn vị quản lý khác cũng rất dễ dàng thực hiện pháp luật quyền và nghĩa vụ
84
trong các giao dịch dân sự (kinh tế, quản lý). Mỗi khi công dân thực hiện
quyền tự do cư trú của mình đến nơi mới chỉ cần đưa thẻ căn cước, trình báo
với cơ quan QLHC nhà nước như cơ quan công an (mã số định danh cá nhân
chính là số thẻ căn cước) thì cơ quan công an chỉ cần nhập mã số định danh cá
nhân vào hệ thống dữ liệu dân cư quốc gia thì toàn bộ nhân thân, quá trình
sinh sống, đi lại cư trú của công dân đó đều được nắm bắt đầy đủ. Công dân
cần làm các thủ tục khác như : đăng ký chuyển hộ khẩu thường trú, thủ tục
tạm trú, đăng ký kinh doanh…có mã số định danh như đã nêu trên thì đã góp
phần giảm thiểu tối đa các TTHC, thời gian, tiền bạc của người dân và giảm
thiểu cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú trong bộ máy Nhà nước. Ví dụ: Anh
Nguyễn Văn Hùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 39 Nguyễn Lương Bằng
– quận Kiến An – thành phố Hải Phòng thuê nhà tại số 19 Cầu Đất – quận
Ngô Quyền – thành phố Hải Phòng chỉ cần đến công an phường Cầu Đất đưa
thẻ căn cước (số thẻ căn cước là mã định danh cá nhân), cán bộ tiếp nhận chỉ
cần nhập số thẻ vào máy dữ liệu quốc gia về dân cư là đã hoàn thành cả 1 quá
trình khai báo lưu trú, tạm trú và thường trú trong thời gian 60 giây.
Hai là, trên lĩnh vực tạm trú, lưu trú
Trước đây, tại địa bàn 13 phường, mỗi tỏ dân phố đều có điểm khai báo
tạm trú nhưng qua công tác khảo sát thực tế, các điểm khai báo tạm trú gần
như không còn hoạt động; có chỗ, có nơi còn hoạt động nhưng không phát
huy hiệu quả đối với công tác khai báo tạm trú, lưu trú. Nguyên nhân những
điểm trên thường là nhà riêng của người dân trên địa bàn. Nay trong xu thế
phát triển kinh tế xã hội, các nhà mặt ngõ, mặt phố đều được các chủ hộ gia
đình cho thuê làm nơi kinh doanh , buôn bán, do vậy người làm công tác thực
hiện pháp luật cư trú thường phải kê bàn ghế ra ngoài vỉa hè hoặc ngõ để làm
việc; do vậy cán bộ thường làm cho qua loa, đối phó. Một trong những
nguyên nhân khác là người dân thiếu ý thức trong việc thực hiện pháp luật về
85
cư trú vì khai báo tạm trú, lưu trú cũng không mang lại lợi ích trước mắt cho
người dân. Việc đôn đốc, xử lý trong công tác khai báo còn mang nặng tính
hình thức, chỉ nhắc nhở động viên mà không sử dụng biện pháp mạnh theo
quy định của pháp luật là xử phạt hành chính.
Theo đề xuất của cá nhân tác giả: việc khai báo tạm trú, lưu trú có thể
thực hiện dưới các hình thức : gặp trực tiếp cán bộ làm công tác lưu trú ( tổ
trưởng, tổ phó các tổ dân phố, bảo vệ dân phố, dân quân… tùy theo từng địa
phương bố trí cán bộ trực khai báo lưu trú ). Gọi điện thoại, hoặc gửi tin nhắn
qua email, zalo…với mục đích cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân của người cần
khai báo. Các cán bộ làm công tác quản lý lưu trú có thể thành lập các nhóm zalo
chát từ cấp cơ sở đến quận để cập nhật các thông tin lưu trú, đây là một hình
thức mang lại hiệu quả cao không chỉ trong công tác thực hiện pháp luật cư trú
mà còn đối với việc đảm bảo tình hình ANCT và TTXH trên địa bàn.
Ba là, nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan QLHC nhà nước.
Trong những năm qua công an quận Ngô Quyền đã thực hiện tốt chủ để
“ Đoàn kết, kiên cường, kỷ cương, hiệu quả” do giám đốc công an thành phố
chỉ đạo, Công an quận đã tập trung chỉ đạo thực hiện toàn diện có hiệu quả
các mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ công tác trọng tâm đã đề ra, nổi bật là: đã làm
tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, CQĐP lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có
hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhà nước, chính phủ liên quan đến
công tác bảo vệ ANTT đặc biệt là công tác thực hiện pháp luật về cư trú ở địa
phương. Công an, quân đội đã chủ động phối hợp với các cấp, các ngành, các
đoàn thể triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT tại địa bàn quận, bảo vệ
an toàn các ngày lễ, các ngày tết, ngày truyền thống của lực lượng CAND,
đón và bảo vệ an toàn các đoàn khách quốc tế, các đồng chí lãnh đạo Đảng và
nhà nước các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước đến thăm và làm việc
trên địa bàn quận.
86
Các mặt công tác chuyên môn, nghiệp vụ cơ bản được triển khai toàn
diện, trong đó công tác phòng ngừa tội phạm được coi trọng đạt hiệu quả
cao.Công tác phòng ngừa được tập trung vào công tác khai báo lưu trú, tạm
trú, rà soát tất cả những trường hợp đến làm việc trên địa bàn. Trên những
thông tin thu thập được công an quận đánh giá xác định những công dân có
nhân thân không rõ ràng đều được xác minh nóng ( qua điện thoại) gửi phiếu
yêu cầu xác minh, đối với những công dân có tiền án, tiền sự, cơ quan công
an quận Ngô Quyền đã chỉ đạo công an các phường chủ động nắm chắc các
diễn biến, di biến động của số đối tượng trên, chủ động có phương án ngăn
chặn có hiệu quả nếu số đối tượng nếu trên có hành vi, vi phạm pháp luật.
Tình hình ANTT trong những năm qua ổn định, toàn quận không có một điểm
nào phát sinh thành điểm nóng về vi phạm pháp luật. TTATXH trên toàn
quận có nhiều chuyển biến rõ rệt, cơ quan công an tiếp tục kiềm chế hoạt
động của tội phạm, số vụ phạm pháp hình sự giảm so với các năm trước, các
tình trạng như cướp, cướp giật cưỡng đoạt tài sản gần như không xảy ra. Các
tụ điểm tuyến địa bàn phức tạp về TTXH đã được tập trung giải quyết triệt
để.Công tác phát động toàn dân bảo vệ ANTQ đã được đẩy mạnh lồng ghép
với công tác tuyên truyền pháp luật tại cơ sở. Công tác quản lý nhà nước về
ANTT được tăng cường với nhiều nội dung biện pháp, cách làm mới, mang
lại hiệu quả cao. Công tác kiểm tra xử lý vi phạm về TTATGT, trật tự công
cộng, khai báo lưu trú và các công tác khác như công tác cải cách hành chính
luôn được theo dõi chặt chẽ. Việc lãnh đạo chỉ huy đơn vị thường xuyên kiểm
tra đôn đốc bộ phận tiếp dân tại khu vực một cửa đã được đặt lên hàng đầu,
do vậy cán bộ chiến sỹ làm công tác tiếp dân trong việc thực hiện pháp luật
tại cơ sở như đăng ký thường trú, tạm trú luôn là bộ phận nòng cốt đảm bảo
hiệu quả cao trong công tác quản lý này.
87
Tiểu kết chƣơng 3
Trên cơ sở đánh giá, dự báo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, dân
cư; tác giả định hướng công tác thực hiện pháp luật về cư trú trên địa bàn
quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng sẽ được thực hiện một cách chặt chẽ,
hiệu quả nhất cho dù các biến động của xã hội, dân cư có những tác động thay
đổi. Thực hiện pháp luật về cư trú là một trong những nội dung quan trọng
trong hoạt động quản lý nhà nước đối với các vấn đề xã hôi được tiến hành
theo quy định của pháp luật về cư trú : quá trình tiến hành đăng ký thường trú,
tạm trú, lưu trú phải có sự phân công, phân cấp theo thứ bậc chặt chẽ, xác
định rõ phạm vi trách nhiệm của Công an quận Ngô Quyền ( đội An ninh
nhân dân, đội quản lý hành chính ), Công an 13 phường. Thực hiện pháp luật
về cư trú là một nội dung của quản lý hành chính nhà nước phục vụ cho yêu
cầu quản lý xã hội, vừa phục vụ yêu cầu phòng ngừa , đấu tranh chống tội
phạm và các vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm ANCT và TTATXH. Thực
hiện pháp luật về cư trú còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân như : quyền bầu cử, ứng cử, học tập, việc làm, sở hữu tài
sản; đây là những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.
Trong thực tế, UBND, Công an quận Ngô Quyền trong quá trình thực hiện
pháp luật về cư trú còn có một số hạn chế, việc nghiên cứu định hướng và đưa
ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này là vô cùng cần thiết .Để thực hiện
hiệu quả, UBND và Công an quận Ngô Quyền cần bám sát theo từng nội
dung của pháp luật về cư trú, đồng thời thực hiện nghiêm túc các văn bản
quản lý nhà nước về cư trú, phát huy các mặt tích cực trong công tác tuyên
truyền giáo dục pháp luật về cư trú, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú , tạo nền tảng xây
88
dựng đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú vững vàng về chuyên môn,
hiệu quả trong công việc.
Ngoài ra, tác giả đề xuất một số giải pháp trên từng lĩnh vực cụ thể của
thực hiện pháp luật về cư trú: xóa bỏ quản lý thường trú bằng sổ hộ khẩu gia
đình thay bằng thực hiện mã số định danh cá nhân, tạo các nhóm liên kết zalo
của các cán bộ thực hiện công tác pháp luật cư trú. Tóm lại, trong chương 3,
tác giả đã định hướng công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng một cách xác thực, nghiên cứu đề xuất những
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này một cách toàn diện và khả thi.
89
KẾT LUẬN
Thực hiện pháp luật về cư trú cư trú là cơ quan nhà nước quản lý các
hoạt động của con người trong quá trình sinh sống, lao động và học tập. Quá
trình nêu trên của một con người được cơ quan nhà nước kiểm soát, thu thập
các thông tin nhằm mục đích chủ động đề ra các biện pháp đảm bảo an sinh
xã hội ( tư vấn nghề nghiệp, điều chỉnh các ngành trong sử dụng lao động, bố
trí cơ sở hạ tầng trường học, bệnh viện, đường xá đi lại cho người dân tham
gia giao thông) Đồng thời với việc đó là công tác nghiệp vụ của ngành công
an trong công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm. Lực lượng công an
qua các biện pháp quản lý các hộ dân, con người cư trú để kịp thời nắm được
những di biến động của đối tượng có những hành vi, vi phạm pháp luật hoặc
có nguy cơ cao vi phạm, pháp luật ( các mâu thuẫn trong sinh hoạt của nhân
dân phải kịp thời hòa giải tại cơ sở ). Công dân khi thực hiện các quyền và
nghĩa vụ về đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú tức là đã công khai các thông
tin cá nhân của mình đối với cơ quan quản lý nhà nước mà ở đây là lực lượng
công an. Việc công khai thông tin cũng có nghĩa làm hạn chế những động cơ,
việc làm dễ dẫn đến vi phạm pháp luật ( vì đặc tính của tội phạm là muốn che
dấu thông tin cá nhân và các hành vi vi phạm pháp luật của mình). Nếu tất cả
các thông tin đã được công khai cho cơ quan Nhà nước thì đương nhiên người
định thực hiện hành vi phạm tội sẽ từ bỏ hành vi phạm tội( đơn cử như việc
một người định lấy trộm xe máy của người khác nhưng vì thông tin cá nhân
đã được cơ quan công an quản lý sẽ từ bỏ được trộm cắp xe máy). Từ đó có
thể khẳng định rằng việc đưa luật cư trú đi vào đời sống của nhân dân đã thể
hiện chức năng quản lý của nhà nước bằng pháp luật đồng thời nâng cao được
hiệu lực, hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật của nhà nước. Ngoài ra
cũng phát huy được tính pháp lý của mỗi con người là công khai bản thân
90
mình trước pháp luật ( mỗi người dân đều công bằng trước pháp luật) đảm
bảo xã hội được giữ vững về TTATXH hạn chế tối đa các hành vi vi phạm
pháp luật.
Trong những năm qua quận Ngô Quyền đã được sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước, thủ tướng chính phủ, UBND thành phố Hải Phòng cấp ngân
sách xây dựng nhiều công trình hạ tầng mới như đường Lê Hồng Phong,
đường Văn Cao trong tương lai rộng 100m, đường Đông Khê. Hạ tầng cơ sở
của quận phát triển đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế văn hóa giáo dục, đời
sống của nhân dân quận Ngô Quyền không ngừng được nâng cao về mọi
mặt.Muốn đảm bảo ANTT –TTATXH thì các cơ quan quản lý của quận Ngô
Quyền nói chung và công an 13 phường phải tổ chức làm tốt công tác thường
trú, tạm trú, lưu trú đối với người dân đang sinh sống làm việc trên địa bàn
quận việc quản lý chắc đối với các nhân khẩu trên sẽ làm hạn chế các mâu
thuẫn phát sinh trong xã hội cũng như các mặt tiêu cực ( các tệ nạn xã hội cờ
bạc mại dâm sử dụng trái phép chất ma túy) phát sinh trong quá trình xây
dựng phát triển kinh tế trên địa bàn quận. Thực hiện pháp luật về cư trú tức là
công tác đăng ký hộ khẩu, đăng ký tạm trú, lưu trú là một biện pháp QLHC
của nhà nước, được giao cho lực lượng CAND nói chung và công an quận
Ngô Quyền nói riêng thực hiện. Việc thực hiện pháp luật cư trú tại quận Ngô
Quyền đã góp phần giữ vững được ANCT, không có vụ việc đột xuất bất ngờ
xảy ra là những mặt tích cực góp phần thúc đẩy mạnh mẽ các doanh nghiệp
trong nước và ngoài nước đầu tư các dự án vào quận Ngô Quyền phục vụ cho
việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
91
DANH MỤC, TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Công an (2011) Thông tư 80/BCA ngày 15/12/2011 về quy trình đăng
ký cư trú.
2. Bộ Công an (2007) Quyết định số 106/2007/QĐ-BCA(C11) ban hành
Điều lệnh CSKV, ban hành ngày 13/02/2007, Hà Nội.
3. Bộ Công an và Bộ Ngoại giao (2009) Thông tư liên tịch số
05/2009/TTLT-BCA-BNG hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân
Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam, ban
hành ngày 12/5/2009, Hà Nội.
4. Bộ Công an (2012) Thông tư số 78/2012/TT-BCA quy định trình tự thực
hiện công tác cơ bản của Cảnh sát khu vực, ban hành ngày 28/12/2012,
Hà Nội.
5. Bộ Công an (2014) Thông tư số 35/2014/TT–BCA quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/ND0-CP
ngày 18/4/2014 của Ch nh phủ quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Cư trú, ban hành ngày 09/9/2014, Hà Nội.
6. Bộ Công an (2014) Thông tư số 36/2014/TT-BCA quy định về biểu mẫu
sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú, ban hành ngày 09/9/2014, Hà
Nội.
7. Bộ Công an (2015) Thông tư số 09/2015/TT-BCA ban hành Điều lệnh
CSKV, ban hành ngày 10/02/2015, Hà Nội.
8. Bộ Giáo dục và đào tạo (2005) Giáo trình triết học Mác – Lê nin, nhà
xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội.
9. Bộ Tài chính (2014) Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02 tháng 1 năm
2014 hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của hội
đồng nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương.
92
10. Chính phủ (2007) Chỉ thị số 07/2007/CT-TTg ngày 29/3/2007 của Thủ
tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai, thi hành Luật Cư trú, Hà
Nội.
11. Chính phủ (2013) Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi
phạm hành ch nh trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng,
chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực
gia đình, ban hành ngày 12/11/2013, Hà Nội.
12. Chính phủ (2014) Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, ban hành ngày 18/4/2014, Hà
Nội.
13. Chính phủ (2014) Nghị định số 106/2014/NĐ–CP quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, ban hành ngày
17/11/2014, Hà Nội.
14. Chính phủ (2012) Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 hướng
dẫn thi hành luật khiếu lại.
15. Chính phủ, Nghị định số 31/2014 NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú.
16. Chương trình số 694/CAHP-PC64 ngày 22/7/2015 về thực hiện Kế
hoạch 372/KH-CAHP-PV11 ngày 31/3/2015 triển khai thực hiện Thông
tư 09/2015/TT-BCA của Bộ Công an quy định điều lệnh CSKV.
17. Đỗ Văn Rụ (2003) CSKV thực hiện chức năng QLNN về ANTT ở cơ sở -
Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
18. Đinh Thế Cát Luật cư trú, hỏi đáp về luật cư trú dành cho cán bộ quản
lý hành chính Nhà xuất bản Công an nhân dân (2017).
19. Hướng dẫn số 80/C64-P7 ngày 10/01/2014 của Cục cảnh sát QLHC về
TTXH ban hành hướng dẫn thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản theo
chức năng của lực lượng cảnh sát QLHC về TTXH.
93
20. Hà Lê Giang (2016) Quyền tự do cư trú của công dân từ thực tiễn thành
phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội,
Hà Nội.
21. Kế hoạch số 372/KH-CAHP-PV11 ngày 31/3/2015 của CATP Hải
Phòng về việc triển khai thực hiện Thông tư số 09/2015/TT-BCA ngày
10/2/2015 của Bộ Công an quy định điều lệnh CSKV.
22. Lê Thành (2004) Các giải pháp tăng cường công tác công tác đăng ký,
quản lý hộ khẩu và xây dựng Luật Cư trú, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà
Nội.
23. Lệnh số 26/2006/L-CTN ngày 12/12/2006 của Chủ tịch nước về việc
công bố Luật Cư trú.
24. Lê Huy (2010 Luật Cư trú và hộ tịch hộ khẩu, Sách tham khảo, Nxb Lao
động, Hà Nội.
25. Luật cư trú và công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú Học viện
cảnh sát nhân dân (2008).
26. Minh Hùng (2011) Hỏi đáp các quy định của pháp luật về cư trú và các
văn bản có liên quan, Sách tham khảo, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
27. Nguyễn Văn Tảo (1996) QLNN về hộ khẩu, nhân khẩu trong tình hình
mới - Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
28. Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú, Hà Nội.
29. Nguyễn Ngọc Anh (2017 “ Bình luận luật cư trú – công cụ pháp lý
quan trọng để nâng cao hiệu quả QLHC trong quản lý cư trú”, Tạp ch
Tòa án nhân dân, số 14.
30. Nguyễn Văn Quân “Yêu cầu về an toàn pháp lý trong Nhà nước pháp
quyền” đăng trên tạp chí Luật học, số 9 năm 2016.
31. Quốc hội (2006) Luật Cư trú, Hà Nội.
94
32. Quốc hội (2013) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa iệt Nam,
Hà Nội.
33. Quốc hội (2013) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú, Hà Nội.
34. Quốc hội (2014) Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người
nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.
35. Quốc hội (2015) Luật số 77/2015/QH 13 ngày 19/06/2015 về luật tổ
chức chính quyền địa phương.
36. Quốc hội (2015) Luật số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 Bộ Luật dân sự
37. Quy trình đăng ký cư trú (tr ch Thông tư số 61/2014/TT-BCA ngày
20/11/2014 của Bộ Công an), Hà Nội.
38. Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật cư trú được sửa đổi, bổ sung 2013, tập
thể tác giả do Thiếu tướng GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên nhà xuất
bản Giao thông vận tải (2014).
39. Trần Hải Âu, Cù Ngọc Trang quy trình công tác của cảnh sát khu vực
Nhà xuất bản Công an nhân dân (2014).
40. Trần Hải Âu, Đinh Thế Cát (2017) Luật cư trú và quản lý cư trú đối với
công dân, tạp chí CSND, giáo trình in, xuất bản tháng 12/2017 tại trung
tâm lưu trữ thư viện Học viện CSND.
41. Thông tư số 32/2013/TT-BCA-C41 của Bộ Công an quy định chế độ
công tác hồ sơ, thống kê nghiệp vụ cảnh sát, Hà Nội.
42. Vũ Xuân Trường, Cù Ngọc Trang (2008) Cẩm nang công tác đăng ký,
QLNN về cư trú, Sách chuyên khảo, Nxb CAND, Hà Nội.
95