intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:103

16
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam, nêu ra một số lý luận và thực tiễn xét xử, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những vướng mắc khi áp dụng loại tội này trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng xét xử loại tội này, góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa và chống tội phạm về tham nhũng trong tình hình hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TẠ QUỐC TUẤN TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (trên cơ s ở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2016 1
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TẠ QUỐC TUẤN TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (trên cơ s ở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số : 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn HÀ NỘI - 2016 2
  3. Lêi cam ®oan T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña riªng t«i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy, chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch­a tõng ®­îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn v¨n T¹ Quèc TuÊn 3
  4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI LỢI 8 DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1.1. Quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi 8 hành công vụ từ n ăm 1945 đến trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985 1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội lợi dụng chức 11 vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 1.3. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 14 trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2009 1.3.1. Khái niệm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành 17 công vụ 1.3.2. Khung hình phạt của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong 29 khi thi hành công vụ 1.4. Dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn 29 trong khi thi hành công vụ 1.4.1. Khách thể 29 1.4.2. Mặt khách quan 32 1.4.3. Chủ thể 40 1.4.4. Mặt chủ quan 43 1.5. Các trường hợp phạm tội cụ thể 47 1.5.1. Phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công 47 vụ thuộc khoản 1 Điều 281 4
  5. 1.5.2. Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công 48 vụ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 281 Bộ luật hình sự 1.5.3. Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công 61 vụ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 281 Bộ luật hình sự 1.5.4. Hình phạt bổ sung của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong 65 khi thi hành công vụ Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT 69 HÌNH SỰ VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG Ụ V TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1. Tình hình tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành 69 công vụ từ năm 2010 đến 2014 2.2. Áp dụng hình phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn 71 trong khi thi hành công vụ 2.2.1. Áp dụng hình phạt chính 71 2.2.2. Áp dụng hình phạt bổ sung "cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định" 72 2.2.3. Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 74 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 2.3. Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng tội lợi dụng chức 75 vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 80 VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 3.1. Yêu cầu hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự việt nam 80 năm 1999 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 5
  6. 3.2. Đề xuất sửa đổi, bổ sung 83 3.3. Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các 84 quy định của Bộ luật hình sự việt nam năm 1999 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội lợi 84 dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 3.3.2. Kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng Chương XXI 84 Bộ luật hình sự 1999 3.3.3. Tăng cường năng lực, trình đ ộ chuyên môn và ý thức pháp 86 luật, trách nhiệm của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân để đảm bảo việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng quy định của pháp luật 3.3.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và đẩy mạnh công 87 tác phê bình, tự phê bình 3.3.5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 87 3.3.6. Tiếp tục đổi mới công tác tổ chức cán bộ 88 3.3.7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phối hợp giữa các cơ quan 88 nhà nước, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật, đấu tranh kiên quyết và tích cực đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn 3.3.8. Tập trung, giải quyết dứt điểm các vụ án đã được phát hiện và 89 quy định việc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tội phạm KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 6
  7. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS : Bộ luật hình sự XHCN : Xã hội chủ nghĩa 7
  8. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước tiếp tục được giữ vững, nền kinh tế tiếp tục phát triển đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp và chưa có chiều hướng giảm, các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng còn xảy ra nhiều. Trong đó nổi lên là tội phạm về tham nhũng đã gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, chính trị của đất nước, làm giảm lòng tin trong nhân dân [25, tr. 4]. Tình hình tội phạm có nhiều diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều ngành, cấp, lĩnh vực khác nhau. Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra và nghiêm trọng hơn, loại tội này còn xảy ra ngay tại các cơ quan, tổ chức của Nhà nước. Có thể nói tội phạm tham nhũng là vấn đề được Nhà nước đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ từ 20 - 25/01/1994 khóa VII của Đảng chỉ rõ tệ quan liêu, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ của cách mạng nước ta. Đặt vấn đề như thế có nghĩa tội tham nhũng nói chung không chỉ là một tệ nạn xã hội thông thường, chỉ tác hại thuần túy về mặt kinh tế mà đã trở thành vấn đề chính trị pháp lý, là nguy cơ uy hiếp sự tồn vong của chế độ. Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chỉ thị, nghị quyết, đã tiến hành nhiều cuộc vận động lớn và được đông đảo quần chúng đồng tình ủng hộ, tuy nhiên đến nay loại tội phạm này không những không bị đẩy lùi, mà có lúc, có nơi còn phát triển nghiêm trọng hơn. Đại hội IX của Đảng tiếp tục xác định tham nhũng là một trong các nguy cơ lớn , đó là: Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ. 8
  9. Đấu tranh chống tội phạm tham nhũng nói chung đã và đang là một yêu cầu cấp bách nhằm làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, tăng cường nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tăng cường kỷ cương phép nước. Trong nhóm tội phạm tham nhũng có thể thấy tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụv là loại tội trong những n ăm gần đây đang có chiều hướng tăng lên cả về quy mô và tính chất, nổi lên nhiều trong các lĩnh vực về quản lý đất đai thậm chí cả lĩnh vực y tế, giáo dục. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy do đặc điểm của nền kinh tế thị trường, sự quản lý của Nhà nước và tác động nhiều mặt của tình hình kinh tế xã hội nên tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ diễn biến khá phức tạp. Nhiều vụ án đã được phát hiện, điều tra nhưng do tính chất phức tạp của vụ án và đặc biệt còn thiếu những văn bản hướng dẫn, dẫn đến có những quan điểm, nhận thức khác nhau về pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nên nhiều vụ án để kéo dài hoặc có đường lối xử lý khác nhau, dẫn đến tình trạng pháp luật không được áp dụng thống nhất. Bộ luật hình sự (BLHS) đã được Quốc hội khóa X thông qua ạt i kỳ họp thứ 6 ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 trong đó quy ịđnh tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ đầy đủ hơn, chi tiết hơn, phản ánh được thực trạng công tác đấu tranh phòng chống loại tội này trong thời gian qua, giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi hơn. Trước khi có BLHS 1999 thì những quy định của BLHS 1985 đối với tội này còn nhiều điểm chưa được hướng dẫn; thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn trong việc áp dụng BLHS để truy cứu đối với người phạm tội. BLHS 1999 quy định thêm nhiều điểm mới hơn, nếu không được hiểu thống nhất sẽ càng khó khăn 9
  10. hơn trong việc áp dụng BLHS khi giải quyết các vụ án. Mặt khác, đến nay tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Chương XXI chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích hoặc hướng dẫn một cách toàn diện và đầy đủ, nên việc áp dụng qu y định của BLHS đối với tội này còn hạn chế. Nghị quyết 37/2012 ngày 23/11/2012 của Quốc hội nêu: Công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, phòng, chống tham nhũng, công tác đi ều tra, truy tố, xét xử và thi hành án còn có những hạn chế. Tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm tham nhũng còn diễn biến phức tạp, trên một số lĩnh vực còn có xu hướng tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô, tính chất. Công tác phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật và tội phạm tham nhũng hiệu quả chưa cao, hiệu lực răn đe, phòng ngừa thấp... [37, Điều 1]. Năng lực và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ tư pháp còn y ếu, nhiều trường hợp tiêu cực, sa sút phẩm chất đạo đức... Bộ luật hình sự năm 1999 quy định nhóm tội về tham nhũng trong chương các tội về chức vụ. Trong đó tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụv " quy định tại Điều 281 là một trong những loại tội thường gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết. Vì vậy việc nghiên cứu về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết. Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020"; và Nghị quyết số 49 -NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" với nội dung "sớm hoàn thiện hệ 10
  11. thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật..." [12]. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này càng làm sáng tỏ về mặt khoa học, góp phần giải quyết một số vướng mắc, khó khăn khi áp dụng loại tội này trong thực tế. Đó là lý do để tôi lựa chọn đề tài "tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam (trên c ơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" làm luận văn thạc sĩ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ nằm ở Mục A Chương XXI phần các tội phạm về tham nhũng. Qua tìm hiểu, nghiên cứu cho thấy, ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về các tội phạm tham nhũng nói chung trong đó phần nào đã đề cập đến tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụv như sách giáo trình Luật hình sự Việt Nam, sách Giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội, Bình luận khoa học hình sự của tác giả Đinh Văn Quế; về các bài viết trên tạp chí kiểm sát của Nguyễn Duy Giảng (2006); về luận văn tiến sĩ về các tội phạm tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam của Trần Văn Đạt (2012), Tình hình nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội phạm tham nhũng của Trần Công Phàn (2004)... Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm tham nhũng nói chung, tuy nhiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ, tiến sĩ thì chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Các công trình nghiên cứu trước đây thường chỉ đi vào phân tích, bao quát tổng thể toàn bộ nhóm tội về tham nhũng mà không đi sâu, phân tích cụ thể tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụ,v các nhà nghiên cứu thường tập trung nhiều vào các tội có tính nghiêm trọng hơn và thường xuyên xảy ra hơn trong thực tế. 11
  12. Có thể nói, đây là lần đầu tiên đề tài nghiên cứu về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được nghiên cứu dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật. Do chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào về tội này nên chưa có sự nghiên cứu đầy đủ, toàn diện việc áp dụng pháp luật của tội này trong thực tiễn, qua đó chưa đưa ra được những giải pháp để áp dụng thống nhất pháp luật. Chính vì vậy trong thực tiễn áp dụng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc vì vậy việc nghiên cứu đề tài "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ the o Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam, nêu ra một số lý luận và thực tiễn xét xử, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những vướng mắc khi áp dụng loại tội này trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng xét xử loại tội này, góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa và chống tội phạm về tham nhũng trong tình hình hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn xét xử của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử loại tội này. 3.3. Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử của tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ dựa trên số liệu những vụ án được đưa ra xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất những 12
  13. giải pháp, hướng hoàn thiện cụ thể, có tính khả thi nhằm đảm bảo việc xét xử đối với loại tội này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Luận văn có tham khảo những công trình nghiên cứu của các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, các bài viết trên tạp chí kiểm sát, báo khoa học pháp luật... Về thời gian: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trong 05 năm (2010 - 2014) trên địa bàn thành phố Hà Nội. 4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49 -NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn. 5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn Luận văn đóng góp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, quy định tại Điều 281 BLHS, qua đó đề ra hướng hoàn thiện, để áp dụng thống nhất pháp luật về loại tội này. Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, cá n bộ giảng dạy pháp luật, 13
  14. các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trong Bộ luật hình sự. Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ từ thực tiễn thành phố Hà Nội. 14
  15. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1.1. QUY ĐỊNH VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TỪ N ĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 Trước khi BLHS đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được ban hành thì tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chưa được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật nào mà chỉ được quy định rải rác trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cũng như khái niệm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụv chưa được quy định. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù còn bề bộn nhiều công việc trọng đại của đất nước nhưng Nhà nước ta đã rất chú trọng đến việc quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Ngày 10 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 47 về việc "giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc". Trong lĩnh vực hình sự, theo quy định của sắc lệnh này thì các đạo luật của chính quyền cũ tạm thời được giữ lại và được phép thi hành nếu những điều khoản trong các luật lệ cũ "không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa " [6, Điều 12]. Theo đó trong ĩnh l vực hình sự có 3 đạo luật tạm thời được giữ lại và thi hành đó là: Bộ "Luật Hình An Nam" ban hành năm 1921 được thi hành ở Bắc Bộ; Bộ "Hoàng Việt Hình Luật" ban hành năm 1933 đư ợc thi hành ở Trung Bộ; Bộ "Hình pháp tu chỉnh" ban hành năm 1912 được thi hành ở Nam Bộ. 15
  16. Trong thời kỳ này, để đảm bảo uy tín của cán bộ, công chức Nhà nước và cơ quan nhà nước, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tập thể và công dân, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước hoạt động đúng đắn và chống tội phạm trong lĩnh vực này, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự về các tội phạm chức vụ. Ví dụ: Sắc lệnh số 223-SL ngày 17 tháng 11 năm 1946 của Chủ tịch nước trong đó quy định: Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ, hoặc phù lạm hoặc biển thủ công quỹ đều bị phạt khổ sai từ 05 năm đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển thủ. Tang vật hối lộ bị tịch thu sung công. Người phạm tội còn có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản… [7]. Trong sắc lệnh này cũng đã đưa ra khái niệm về người có chức vụ. Điều 3 của sắc lệnh quy định: "Công chức gồm nhân viên trong Chính phủ, trong các Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội và tất cả các người phụ trách một công vụ" [7, Điều 3]. Ngày 23 tháng 5 năm 1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ gồm 13 điều luật, trong đó quy định tương đối cụ thể về dấu hiệu đặc trưng của các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ và lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi, quy định về các trường hợp tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt, quy định về hình phạt, về việc xử lý của hối lộ, xử lý hành vi trả thù người tố giác… Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ là công cụ pháp lý quan trọng góp phần đấu tranh có hiệu quả với tội hối lộ trong thời gian đó. Ngoài ra trong th ời gian này còn có Sắc lệnh số 200/SL ngày 08 tháng 7 năm 1948 của Chủ tịch nước coi công chức trong thời kỳ kháng chiến như bị trưng tập (liên quan đến tội đào nhiệm); Sắc lệnh số 154-SL ngày 17 tháng 11 năm 1950 của Chủ tịch nước ấn định những hình phạt trừng trị việc để tiết lộ 16
  17. bí mật (liên quan đến tội cố ý làm lộ bí mật công tác và tội vô ý làm lộ bí mật công tác); Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 của C hủ tịch nước quy định trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước và của nhân dân, cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước (liên quan đến tội thiếu tinh thần trách nhiệm); Sắc luật số 03/SL/1976 được Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thời ban hành ngày 15 tháng 3 năm 1976 quy định tội phạm và hình phạt trong đó quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và quy định tội đưa và nhận hối lộ, tuy nhiên Sắc luật không mô tả dấu hiệu pháp lý của tội phạm, không quy định tình tiết tăng nặng và không quy định hình phạt bổ sung… Qua việc Nhà nước ban hành một số các sắc lệnh như trên có thể thấy ngay từ những năm đầu của chính quyền cách mạng, Nhà nước ta đã thể hiện thái độ đấu tranh không khoan nhượng đối với loại tội này. Tuy nhiên, trong tất cả các văn bản pháp luật chưa có văn bản nào quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, mà hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chỉ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ví dụ: tại khoản 4 Điều 19 của Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30 tháng 10 năm 1967 quy định: "lợi dụng chức quyền để hoạt động phản cách mạng là trường hợp cần xử phạt nặng" '[54]; hay trong bản tổng kết ngày 10 tháng 8 năm 1970 của Tòa án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người cũng quy định: lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giết người là tình tiết tăng nặng. Tóm lại, pháp luật hình sự thời kỳ này về cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ cách mạng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo hoạt động của các cơ quan nhà nước , tổ chức có hiệu quả. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ còn có nhiều hạn chế. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ không được quy định trong bất cứ 17
  18. văn bản pháp luật nào; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chỉ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Các tội phạm về chức vụ nói chung nếu có được quy định thì cũng nằm trong nhiều văn bản pháp luật đơn hành khác nhau, các dấu hiệu pháp lí, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ chưa được quy định cụ thể, chưa quy định về khái niệm "tội phạm chức vụ", còn khái niệm người có chức vụ mặc dù đã được quy định cho một số tội phạm cụ thể như nhận hối lộ, biển thủ công quỹ… nhưng nhìn chung chưa cụ thể. 1.2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ Ngày 27 tháng 6 năm 1985, BLHS đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng về sự phát triển của pháp luật hình sự nước nhà và là cơ sở pháp lý để thực hiện việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. BLHS năm 1985 ra đời trên cơ sở tổng kết, kế thừa kinh nghiệm lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm trước đây và dự kiến tình hình diễn biến của tội phạm trong thời gian tới. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên mà trong đó các tội phạm về chức vụ được phân loại thành một nhóm tội phạm và được quy định thành một chương riêng - Chương IX và khái niệm "tội phạm chức vụ" cũng đã được chính thức ghi nhận, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên tội lợi dụng chức vụ quyền hạn được quy định là một tội danh, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công cuộc đấu tranh chống loại tội phạm này. Theo quy định của Điều 219 của BLHS 1985 thì "các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ" [29], đồng thời luật cũng xác định "người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng 18
  19. lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ" [29, Điều 219]. Trong BLHS 1985, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 221 thuộc phần các tội phạm về chức vụ (bộ luật này chưa có sự phân biệt tội phạm nào là tội phạm về tham nhũng, tội phạm nào là tội phạm về chức vụ khác). Điều 221 quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ như sau: Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 156, 238 và 239, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm [29]. Theo đó, hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn và hành vi lạm quyền trong khi thi hành công ụv đều được quy định chung trong một điều luật - Điều 221, tuy nhiên do chưa có nhiều thực tiễn xét xử đối với tội phạm này, nên lúc đầu Điều 221 chỉ quy định một khung hình phạt, không quy định các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt. Trong quá trình thực hiện BLHS 1985 cũng là những năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước với nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN đã nảy si nh nhiều vấn đề phức tạp trong xã hội. Tệ tham nhũng, lãng phí là vấn đề được cả xã hội quan tâm, lên án. Do yêu cầu của thực tiến đấu tranh chống tội phạm nên từ năm 1989 đến năm 1997, Quốc hội đã bốn lần sửa đổi, bổ sung BLHS vào các ngày: 28/2/1989; ngày 12/8/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/5/1997, trong đó quy định tại Điều 221 được sửa đổi bổ sung ba lần vào các ngày: 12/8/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/5/1997 theo hướng tách hành vi lạm quyền trong khi thi hành công vụ ra thành điều 19
  20. luật riêng - Điều 221a; khi này Điều 221 được quy định như sau: "Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, của xã hội, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm… " [30]. Như vậy, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được cấu tạo lại thành nhiều khoản khác nhau, mức hình phạt cũng nghiêm khắc hơn nhiều so với Điều 221 chưa sửa đổi bổ sung: Điều 221 ban đầu quy định mức hình phạt cao nhất là 05 năm tù, sau khi được sửa đổi bổ sung lần thứ 3 vào ngày 10/5/1997 thì mức cao nhất đối với tội phạm này lên tới 20 năm tù. Việc tăng mức hình phạt từ 05 năm tới 20 năm tù thể hiện chính sách hình sự nghiêm khắc của Đảng và Nhà nước ta đối với loại tội phạm này, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, đồng thời giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công chức, qua đó góp phần tạo niềm tin trong nhân dân với sự nghiệp lãnh đạo của Đảng. Ngoài ra, trong giai đoạn này các cơ quan bảo vệ pháp l uật ở Trung ương đã có một số văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong cả nước, trong đó có Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20/3/1993 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 1985. Cụ thể trong mục b phần 2 về đường lối xử lý thì các ột i có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc, một trong số các tội được Thông tư này liệt kê có "Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 221)" [48]. Tóm lại, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là tội phạm chỉ được quy định từ khi BLHS năm 1985 được ban hành. Việc quy định tội này tại một điều luật cụ thể trong bộ luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công cuộc đấu tranh chống loại tội phạm này. Ban đầu, nhà làm luật quy định hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn và hành vi lạm quyền trong khi thi 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2