BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ LIÊN VỊ TỪ CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC MÃ SỐ: 602201 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. DƯ NGỌC NGÂN

Thành phố Hồ Chí Minh -2007

Lời cảm ơn Luận văn này là kết quả học tập của tôi từ tháng 10 năm 2004 đến tháng

10 năm 2007 tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh với sự giúp

đỡ của rất nhiều người.

Từ những ngày đầu khoá học, tôi đã ấn tượng sâu sắc về những tri thức

mà các bậc Giáo sư, Tiến sĩ đã truyền giảng trong từng buổi học, tôi say mê

thích thú về những vấn đề mới mẻ được gợi ra. Những ngày cuối khóa miệt mài

với luận văn, tôi lại may mắn nhận được sự chỉ bảo ân cần của các thầy, cô

trong hội đồng khoa học, đặc biệt là Phó Giáo sư Tiến sĩ Dư Ngọc Ngân, người

hướng dẫn khoa học, người cô đã dạy dỗ và động viên tôi rất nhiều.

Tôi cũng không quên những thầy cô của Phòng Khoa học Công nghệ –

Sau đại học của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều

kiện cho tôi học tập, thực hiện và bảo vệ luận văn.

Sau cùng là lời cảm ơn chân thành của tôi đối với địa phương nơi tôi ở,

cơ quan nơi công tác, cảm ơn gia đình và các đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ và

động viên tôi học tập trong suốt thời gian qua.

Thành phố Hồ Chí Minh – 2007

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

bổ ngữ bổ ngữ đối thể bổ ngữ nội dung hành động hành động cầu khiến thành phần mở rộng vị ngữ vị từ vị từ cầu khiến vị từ hành động vị từ ngôn hành

BN BNĐT BNND HĐ HĐCK TPMR VN VT VTCK VTHĐ VTNH VTTT

:

: : : : : : : : : : : vị từ trung tâm

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Mục đính giao tiếp của con người xét cho cùng là nhằm thoả mãn những

nhu cầu của cá nhân dựa trên các chuẩn mực xã hội. Chính vì vậy mà hành

động cầu khiến của chủ thể nói năng giữ một vai trò hết sức quan trọng. Yêu

cầu, sai khiến, ra lệnh là hành động thường xuyên và quan trọng đến mức hầu

như không một ngôn ngữ nào trên thế giới là không có kiểu câu mang ý nghĩa

này. Thế nhưng không phải bao giờ một hành động cầu khiến đưa ra cũng được

tiếp thể thực hiện theo đúng mục đích của chủ thể phát ngôn. Điều này có nhiều

lý do mà một trong những lý do rất quan trọng, có tính quyết định đó chính là

tùy thuộc vào hiệu lực ngôn trung của phát ngôn cầu khiến.

Trong tiếng Việt có nhiều phương thức để diễn đạt ý nghĩa cầu khiến:

phương thức tỉnh lược chủ ngữ, dùng từ tình thái, dùng vị từ ngôn hành, dùng

các kiểu câu mang ý nghĩa cầu khiến,v.v. Trong đó, cách diễn đạt trực tiếp bằng

biểu thức chứa vị từ cầu khiến có phạm vi sử dụng nhiều hơn cả. Do vậy, xem

xét bản chất, đăc biệt là khả năng hành chức của vị từ cầu khiến (VTCK) có ý

nghĩa rất lớn đối với việc sử dụng loại từ này trong giao tiếp ngôn ngữ thường

ngày.

Tuy nhiên, có thể nói các công trình nghiên cứu Việt ngữ từ trước đến

nay chưa đề cập một cách rõ ràng, đầy đủ bản chất các vấn đề liên quan đến

VTCK. Luận văn của chúng tôi không có tham vọng như vậy nhưng mong

muốn qua khảo sát các cứ liệu thu thập được, sẽ góp phần nhận diện rõ hơn đặc

điểm của vị từ này, làm tăng thêm hiệu quả giao tiếp khi thực hiện một hành

động cầu khiến.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, ý nghĩa cầu khiến được các tác giả

đề cập đến từ nhiều góc độ trong quá trình phân loại các lớp từ, phân chia các

kiểu câu và xem xét khả năng hiệu lực tại lời. Nhưng để khẳng định một kiểu

loại vị từ (động từ) cầu khiến thì còn nhiều quan điểm khác nhau.

2.1. Quan điểm ngữ pháp truyền thống

Các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm chia động từ

thành 2 loại, nhưng không thấy nhắc đến VTCK trong danh sách phân loại này:

-Động từ đơn: là những tiếng động từ do một tiếng, biểu diễn hẳn một

việc gì: nói, cười, ăn, uống, mua, bán, đứng, ngồi,…

- Động từ ghép: là những tiếng động từ do hai tiếng ghép với nhau thành

một tiếng. Trong đó:

+ Do hai tiếng có nghĩa riêng ghép nhau thành một nghiã: bẩm báo, bênh

vực, buôn bán,…

+ Do hai tiếng ghép nhau mà tiếng sau có công dụng làm cho “lọn nghĩa”

tiếng đứng trước: bán rao, đánh lừa, hỏi thăm,…

+ Do một tiếng động từ ghép với danh từ: biết ơn, đánh hơi, làm việc,…

+ Do một tiếng động từ ghép với một tiếng đệm đặt sau: bàn bạc, gặp

gỡ,…

+ Do hai tiếng không có nghĩa ghép nhau thành một tiếng: ăn năn, cằn

nhằn, phàn nàn,…

Phạm Tất Đắc phân tích tự loại động từ bao gồm:

- Động từ chỉ sự hành động: ăn, nói, gặp gỡ,…

- Động từ chỉ sự thực hiện: là, thì, có.

- Động từ chỉ sự thụ động: bị, được, phải,…

Theo tác giả này “rất nhiều khi động từ không có chủ từ trong những câu

nói có ý sai khiến, khuyên răn” [9;tr.50].

Laurence C.Thompson, trong công trình A Vietnamese Grammar chia

động từ tiếng Việt thành 2 kiểu loại:

- Động từ hành động (action verb): đi, làm, hát, ở,…

- Động từ trạng thái (state verb): khó, tốt, hay, xấu, biết,…

Bùi Đức Tịnh dựa vào nghĩa để phân biệt bốn loại động từ:

-Động từ viên ý: chỉ dùng một mình với chủ ngữ cũng làm nên câu trọn

nghĩa: vâng lời, lo ngại,…

- Động từ khuyết ý: ý nghĩa tự nó không đầy đủ phải dùng với danh từ

hay đại từ bổ túc: gởi, cãi vã,…

- Động từ thụ trạng: động từ chỉ có ý nghĩa khi dùng với một tĩnh từ: trở

nên, trở thành, tức là, …

- Trợ động từ : động từ được dùng chung với động từ khác: muốn, phải,

có thể,…

Nguyễn Tài Cẩn khi khảo sát các thành phần của động ngữ, đã chỉ ra 5

kiểu loại động từ có tính chất đối lập căn bản:

- Động từ chỉ động tác có phương hướng: chạy, mang,… và động từ chỉ

động tác không có phương hướng: ăn năn, trăn trở,…

- Động từ chỉ sự việc có khả năng kết thúc: ăn, mặc, mở,… và động từ chỉ

sự việc không có khả năng kết thúc: biết, ghét, dám,…

- Động từ có khả năng tăng, giảm mức độ hành động: giận, lo,… và động

từ không có khả năng tăng, giảm mức độ: đánh, ngồi,…

- Động từ có khả năng dùng độc lập: đọc, đi, biết,… và động từ không có

khả năng dùng độc lập: toan, dám, ngỡ,…

- Động từ có thể thêm thành tố phụ: khen, thưởng, đánh,… và động từ

không thể thêm thành tố phụ: bơi, ngủ, chết,…

Lê Văn Lý phân loại tự ngữ Việt Nam ra thành:

- Loại A: danh tự

- Loại B: động tự

- Loại B’: tĩnh tự

- Loại C1: ngôi tự ; loại C2: số tự ; loại C3: phụ tự

Tác giả này không phân chia, miêu tả các tự loại mà chỉ ra phương pháp

dùng các từ chứng để xác định từng loại. Chẳng hạn, những từ ngữ có thể có

ngôi tự đứng trước: tôi viết, mày học, nó chơi,… thì viết, học, chơi chính là

động tự.

Sách Ngữ pháp tiếng Việt (UBKHXH) phân loại động từ gồm:

- Động từ ngoại động: làm, viết,…

- Động từ nội động: ngủ, làm, tắm,…

- Động từ cảm nghĩ: nghe, tin, nhớ, nghi ngờ,…

- Động từ phương hướng: lên, xuống, ra, vào,…

- Động từ tồn tại: có, còn, mất, hết,…

- Động từ biến hóa: trở nên, trở thành,…

- Động từ ý chí: dám, muốn, quyết, toan,…

- Động từ tiếp thụ: bị, được, phải, chịu,…

- Động từ so sánh: bằng, thua, hơn,…

- Động từ là

Lê Cận, Phan Thiều phân loại động từ tiếng Việt có 8 tiểu loại:

- Động từ tác động đến đối tượng: ăn, cắt,viết, vẽ, làm, đánh,…

- Động từ phát nhận: biếu, cho, thu hồi, phát, nhận,…

- Động từ gây khiến: cấm, cho phép, buộc, ép, mời, khuyên, bảo,…

- Động từ chuyển động: ra, về, lăn, bò, bay,…

- Động từ xuất hiện, tồn tại, tiêu hủy: có, còn, hết, mất,…

- Động từ biến hóa: thành, trở thành, trở nên, …

- Động từ tình thái: muốn, cần, phải, nên, định,…

- Động từ cảm nghĩ , nói năng: trông, nhìn, nghe, hiểu, tin tưởng,…

- Động từ không tác động đến đối tượng: nằm, thức, đứng,…

Diệp Quang Ban chia động từ tiếng Việt thành hai tiểu loại:

- Động từ không độc lập: phải, được, bị, toan, muốn,…

- Động từ độc lập, bao gồm:

+ Động từ ngoại động: gặt, đóng, viết,…

+ Động từ gây khiến: bảo, khuyên,…

+ Động từ cảm nghĩ, nói năng: tin, tưởng,…

+ Động từ chuyển động: vào, ra, lên, đến, lăn,…

+ Động từ tồn tại: còn, có,…

+ Động từ biến hóa: trở thành, trở nên, hóa thành,…

Hoàng Văn Thung, Lê A cùng quan điểm phân loại với tác giả Diệp

Quang Ban và khẳng định những từ mời, sai, khuyên, bảo,… thuộc tiểu loại

động từ cầu khiến.

Hoàng Trọng Phiến khi miêu tả kiểu câu cầu khiến đã khẳng định có các

thực từ mang ý nghĩa cầu khiến: cấm, không được, mời, cho phép,…

Nguyễn Kim Thản phân loại động từ theo hai cách. Phân loại theo tính

chất từ pháp thì động từ tiếng Việt gồm 6 tiểu loại:

- Động từ khái quát và vận động xác định: làm lụng, yêu đương,…

- Động từ hoạt động có phương hướng: mang, nhìn,..

- Động từ hoạt động không phương hướng: bãi công, thảo luận,…

- Động từ trạng thái: trúng, tan,…

- Động từ tình cảm: yêu, ghét, ái ngại, bái phục,…

- Động từ tri giác: am hiểu, băn khoăn, mong,…

Phân loại theo tính chất cú pháp, động từ tiếng Việt gồm 6 tiểu loại:

- Động từ ngoại động: làm, ăn, đánh, viết, mang, đem,…

- Động từ bán ngoại động: nhìn, trông, nghe, yêu, ra, vào,…

- Động từ phát nhận: biếu, tặng, lấy, vay, ăn cắp, cướp đoạt,…

- Động từ gây khiến: khuyên, bảo, mời, bắt, cưỡng bức, xúi, cho,…

- Động từ đánh giá nhận xét: coi, gọi, bầu, chọn, cử, phong,…

- Động từ chỉ nhận xét của các bộ phận cơ thể: bạnh, cau, cúi, lắc,…

- Động từ cảm nghĩ, nói năng: nghĩ, tưởng, nhớ, cam đoan,…

- Động từ nội động: bò, lăn, đứng, ngồi,…

- Động từ hệ từ: thành, ra, nên, như, bằng,…

Đinh Văn Đức nêu lên một số tiểu loại động từ cơ bản, đó là:

- Động từ nội động và động từ ngoại động: chặt, viết, làm, đóng, ngồi,

ngủ, chơi, bơi,…

- Động từ tình thái - ngữ pháp: cần, muốn, phải, có thể, toan, định,…

- Động từ tổng hợp: đi đứng, nói năng, dàn xếp, trò chuyện,…

- Động từ chuyển động: ra, vào, lên, xuống,…

Nhìn chung, quan điểm của các nhà ngữ pháp truyền thống về vấn đề này

theo các xu hướng sau:

- Có tác giả không chú ý đến việc phân chia các tiểu loại động từ,

- Có tác giả không phân biệt vị từ cầu khiến với vị từ gây khiến, không

phân biệt VTCK với vị từ tình thái có ý nghĩa cầu khiến,

- Có tác giả không thừa nhận có tiểu loại VTCK trong lớp động từ tiếng

Việt.

- Có tác giả thừa nhận có VTCK nhưng không đi sâu miêu tả đặc điểm

ngữ pháp, ngữ nghĩa của lớp từ này.

2.2. Quan điểm các nhà dụng học

Cầu khiến là hành động ngôn từ, vì thế loại từ biểu hiện hành động này đã

được một số nhà nghiên cứu xem xét dưới góc độ dụng học. Người xây dựng

nền móng cho lý thuyết hành động ngôn từ là nhà triết học John L.Austin với

công trình “How to do things with words”. Austin đã phân loại các hành vi tại

lời bao gồm: phán xử (verdictives), hành sử (exercitives), cam kết

(commissives), trình bày (expositives), ứng xử (behabitives). Hành động cầu

khiến thuộc trong nhóm hành sử.

J.R. Searle cho rằng Austin đã phân loại dựa trên những tiêu chí chồng

chéo nhau và không rõ ràng. Ông đưa ra 3 tiêu chí phân loại hành động tại lời:

- Đích tại lời (illocutionary point).

- Hướng khép lời với hiện thực (direction of fit),

- Trạng thái tâm lý được thể hiện (expressed psychological states).

và 9 phương diện khác liên quan đến sự phân chia này.

Từ đó J.R. Searle đã chia hành động ngôn từ ra thành 5 loại:

i. Tái hiện (representatives):

- Đích ở lời: miêu tả lại sự tình đang được nói đến.

- Hướng thích nghi: từ hiện thực đến lời lẽ.

- Trạng thái tâm lý: niềm tin vào giá trị chân lý của điều được nói.

ii. Điều khiển (directives):

- Đích ở lời: đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động

tương lai.

- Hướng thích nghi: từ lời nói đến hiện thực.

- Trạng thái tâm lý: người nói (Sp1) mong muốn người nghe (Sp2) thực

hiện một hành động nào đó.

iii. Cam kết (commissives):

- Đích ở lời: trách nhiệm Sp1 phải thực hiện một hành động tương lai.

- Hướng thích nghi: từ lời nói đến hiện thực.

- Trạng thái tâm lý: ý định của Sp1 tùy thuộc vào hành động cam kết.

iv. Biểu cảm (expressives):

- Đích ở lời: bày tỏ một trạng thái tâm lý nào đó.

- Hướng thích nghi: phù hợp với hành vi ở lời và hiện thực.

- Trạng thái tâm lý: không xác định, thay đổi tùy loại hành vi.

v. Tuyên bố (declarations):

- Đích ở lời: gây ra một sự thay đổi bởi hành vi tuyên bố.

- Hướng thích nghi: từ lời nói đến hiện thực và ngược lại.

- Trạng thái tâm lý: không có đặc trưng nhưng có các thể chế tâm lý làm

cho lời tuyên bố có giá trị.

Trong cách phân loại của một số tác giả khác: D.Wunderlich, F. Recanati,

K.Bach và R.M. Harnish, ta thấy hành động cầu khiến cũng được kể đến trong

nhóm điều khiển, đề nghị, thỉnh cầu.

Ở Việt Nam, các công trình của Nguyễn Đức Dân (2000), Nguyễn Thiện

Giáp (2000), Đỗ Hữu Châu (2001) cũng đã xem xét hành động cầu khiến ở góc

độ dụng học. Nguyễn Thiện Giáp cho rằng cầu khiến là hành động mà người

nói sử dụng để khiến người nghe làm cái gì đó… Thuộc nhóm này có các hành

động như: đề nghị, yêu cầu, cho phép, ra lệnh, mời mọc, rủ rê, thỉnh cầu,

khuyên, cấm đoán, hỏi, chỉ thị,v.v. (hỏi cũng là một hành động cầu khiến)

[13,tr.48].

2.3. Quan điểm ngữ pháp chức năng

Cao Xuân Hạo (cùng các cộng sự) trong Ngữ pháp chức năng tiếng Việt -

Ngữ đoạn và Từ loại (2005) đã phân chia vị từ hành động thành hai loại:

-Vị từ chuyển tác, gồm có:

+ Vị từ hành động chuyển thái (làm cho đối tượng thay đổi trạng thái):

ách, băm, cán, dùi, đánh, ép,…

+ Vị từ hành động chuyển vị (làm cho đối tượng thay đổi vị trí): áp, ban,

dắt, đặt, gắn, giữ, hút,…

+ Vị từ hành động tạo tác (tạo ra một vật trước đó chưa có): ấp, bảo, cất,

che, in, khai, may, nói,…

+ Vị từ hành động hủy diệt (làm cho đối tượng không còn tồn tại): hủy,

xóa, bôi, giết, tẩy,…

- Vị từ vô tác, gồm có:

+ Vị từ hành động di chuyển: vào, ra, lên, xuống, chạy, đi,,…

+ Vị từ hành động cử động (thay đổi tư thế của thân thể): bấm, dậy, đạp,

húc, múa, ngẩng,…

+ Vị từ ứng xử (bộc lộ những phản ứng về thể xác và tinh thần): cười,

đùa, giỡn, khóc,…

+ Vị từ tri giác (nhằm nhận thức một đối tượng): xem, ngắm, học,…

+Vị từ cầu khiến (điều khiển một đối tượng thực hiện một hành động nào

đó): cấm, bảo, sai, xin,…

Nguyễn Thị Quy là tác giả đã trình bày khá rõ các quan điểm từ trước đến

nay về động từ tiếng Việt và có kiến giải riêng về cách phân loại vị từ hành

động theo cấu trúc tham tố, trong đó tác giả này đã xem VTCK chiếm một vị trí

đặc biệt trong các vị từ [+ tác động] ba diễn tố.

Gần đây, các bài viết trên các tạp chí ngôn ngữ, trong các công trình khoa

học của một số tác giả: Đào Thanh Lan, Chu Thị Thủy An, Nguyễn Thị Thanh

Ngân, Nguyễn Thị Thuận, Đào Nguyên Phúc, Nguyễn Thị Lương, Lê Đình

Tường, Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Vân Phổ,v.v. có nhiều kiến giải rất lý

thú về khả năng hành chức của hành động cầu khiến, câu cầu khiến dưới nhiều

góc độ: tính lịch sự của hành động cầu khiến, đặc điểm nói năng của hành động

cầu khiến,v.v.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở tham kiến các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn của chúng tôi:

- Xác định rõ đối tượng nghiên cứu là VTCK trong tiếng Việt và tiến

hành phân loại các VTCK.

- Xem xét đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của VTCK.

- Khảo sát khả năng hành chức của VTCK trong hoạt động nói năng.

Phạm vi khảo sát của chúng tôi là những biểu thức có sử dụng VTCK

trong nói năng hàng ngày, trong một số văn bản văn chương và văn bản hành

chính - công vụ. Những ví dụ sử dụng của các tác giả đi trước nhằm mục đích

minh xác cho lý lẽ riêng sẽ được chúng tôi chú thích rõ xuất xứ.

4. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chính:

-Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại hệ thống VTCK

trong tiếng Việt và tần số sử dụng của chúng trên các cứ liệu được khảo sát.

-Phương pháp đối chiếu, so sánh: đặt VTCK trong hệ thống vị từ hành

động và so sánh với một số vị từ khác (vị từ tình thái, vị từ gây khiến) để xác

định rõ bản chất của VTCK.

-Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - cú pháp: là phương pháp đặc trưng

để nghiên cứu ngữ nghĩa, cấu trúc của đối tượng.

-Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: phân tích đặc điểm hành

chức của VTCK trong một số phạm vi sử dụng.

- Các phương pháp lập luận như: diễn dịch, quy nạp,v.v. cũng được chúng

tôi sử dụng trong khi trình bày các luận điểm.

Tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể, các thủ

pháp, phương pháp có khi được vận dụng kết hợp hoặc sử dụng chủ yếu một

phương pháp nào đó thích hợp.

5. Y nghĩa của luận văn

5.1. Về mặt lý luận, luận văn hy vọng sẽ chỉ ra được các đặc điểm cơ bản

(về ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng) của một loại vị từ có ý nghĩa rất lớn

trong nói năng; hệ thống và phân loại được các VTCK trong tiếng Việt, góp

thêm tiêu chí để phân định vị từ cầu khiến (directive verb) với các loại vị từ gây

khiến (causative verb) và vị từ tình thái (modal verb) mang ý nghĩa cầu khiến.

5.2. Về mặt thực tiễn, khi hiểu được khả năng kết hợp cú pháp, phạm vi

hành chức, ý nghĩa trong nói năng của vị từ cầu khiến, người sử dụng tiếng Việt

(với tư cách là chủ thể cầu khiến) sẽ thực hiện một cách hiệu quả những mong

muốn đối với người nghe (với tư cách là đối thể thực hiện các yêu cầu).

Mặt khác, những lý giải của chúng tôi trong luận văn hy vọng cũng sẽ

góp phần làm rõ thêm một số nội dung giảng dạy từ ngữ tiếng Việt hiện nay ở

nhà trường.

6. Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phần

chính của luận văn bao gồm 2 chương.

Ở chương một, qua xem xét bản chất của hành động cầu khiến, luận văn

xác lập khái niệm vị từ cầu khiến, cung cấp một danh sách VTCK và phân loại

các nhóm VTCK trong tiếng Việt.

Ở chương hai, luận văn khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của

VTCK trong các phạm vi hành chức. Nghĩa của một VTCK đã chi phối các

tham tố của nó, xác lập tư cách của nó khi tham gia tạo lập các biểu thức ngôn

ngữ trong giao tiếp. Ở chương này, khi xem xét VTCK trong các biểu thức ngữ

vi, bước đầu chúng tôi cũng đã chỉ ra một số đặc điểm ngữ dụng của lớp từ này.

CHƯƠNG MỘT : VỊ TỪ CẦU KHIẾN CÁC NHÓM VỊ TỪ CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT

1.1. Hành động cầu khiến

Trong phần này, luận văn sẽ đề cập một số vấn đề liên quan đến ý nghĩa cầu

khiến, hành động cầu khiến và phân loại các hành động cầu khiến, từ đó xác

định VTCK và các vấn đề liên quan mà đề tài đã đặt ra.

1.1.1. Khái niệm cầu khiến

Cầu khiến (directive) là hành động “yêu cầu làm hay không làm một việc

gì” [29,tr.122]. Trong thực tế giao tiếp, hành động này được thực hiện ở nhiều

mức độ khác nhau, có nhiều cách thức biểu đạt khác nhau trong các ngôn ngữ.

Trong các ngôn ngữ biến hình, ý nghĩa cầu khiến được gắn với phạm trù

ngữ pháp thức (mood). Những thức thường gặp trong các ngôn ngữ đó là: thức

tường thuật, thức mệnh lệnh, thức giả định, thức điều kiện. Trong đó, thức

mệnh lệnh biểu thị nguyện vọng của người nói đối với việc thực hiện hành

động. Ý nghĩa cầu khiến trong các ngôn ngữ này thường được xác định bằng

các dấu hiệu hình thức. Chẳng hạn trong tiếng Anh, nó được đặc trưng bằng sự

vắng mặt của chủ ngữ, động từ ở nguyên dạng, không có từ tình thái cũng như

những phương tiện đánh dấu thời, thể đi kèm. Ví dụ: Don’t go out! Come in!.

Nhưng trong tiếng Việt, một ngôn ngữ thuộc loại ngôn ngữ không biến

hình, việc xác định ý nghĩa cầu khiến thật không dễ dàng. Như đã điểm qua ở

phần Mở đầu, có nhiều quan điểm không thống nhất trong việc phân loại

có/không có động từ cầu khiến, hoặc lẫn lộn giữa động từ cầu khiến với động từ

gây khiến. Ngay trong cách phân loại câu theo mục đính phát ngôn, ngữ pháp

truyền thống vốn đã chia câu tiếng Việt gồm: câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu

cảm thán, câu trần thuật; nhưng đến nay đã có tác giả đặt lại vấn đề: “Không coi

câu cầu khiến là một kiểu câu riêng trong tiếng Việt mà chỉ là một dạng của câu

trần thuật” [15,tr.211].

Trong các công trình nghiên cứu gần đây, ý nghĩa cầu khiến trong tiếng

Việt đã được xác định có phần rõ hơn. Tác giả Bùi Thị Kim Tuyến [39,tr.46]

chỉ ra các phương thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt như sau:

- Phương thức trực tiếp:

+ Phương thức tỉnh lược chủ ngữ ở ngôi thứ hai: Dậy!Dậy!Dậy!

+ Phương thức dùng tiểu từ tình thái: Đấy muốn thì ăn đi!.

+ Phương thức dùng vị từ, phụ từ tình thái: Hãy nhớ lấy lời tôi!

+ Phương thức dùng vị từ ngôn hành: Bố cấm con hút thuốc!

- Phương thức gián tiếp:

+ Dùng hình thức câu khẳng định: Mẹ muốn con chăm chỉ học bài.

+ Dùng hình thức câu nghi vấn: Cái áo mưa đâu rồi nhỉ?

Chu Thị Thủy An khẳng định: “Một câu ngôn hành có vị ngữ là một động

từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến sẽ trở thành một câu cầu khiến” [TL1] và công

nhận một danh sách gồm 13 động từ mang ý nghĩa cầu khiến: cấm, cho, cho

phép, đề nghị, khuyên, nhờ, mời, lạy, ra lệnh, van, xin, xin phép, yêu cầu.

Nguyễn Thị Lương chỉ ra 32 động từ biểu thị hành động cầu khiến trong

tiếng Việt là: yêu cầu, ra lệnh, hạ lệnh, lệnh, chỉ thị, đề nghị, kiến nghị, chỉ

định, phân công, phái, cấm, nghiêm cấm, buộc, bắt, cấm chỉ, xin phép, can,

bảo, cử, khuyên, mời, xin, cầu, cầu xin, cầu mong, năn nỉ, nài nỉ, nài xin, van,

van nài, van xin, nhờ [TL24].

Vũ Thị Thanh Hương cho rằng ở nghĩa hẹp, cầu khiến được hiểu là các

hành động mà S thực hiện nhằm buộc H làm một điều gì đó theo ý muốn của

mình để đem lại lợi ích cho S và thường gây thiệt hại cho H; ở nghĩa rộng, cầu

khiến là hành vi mà thông qua đó S muốn tạo ra bất kỳ một sự thay đổi nào

trong hành động của H bất kể hành động đó có lợi hay hại cho S hay H; theo

đó, cầu khiến không chỉ bao gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả, mà còn cả

mời mọc, xin phép [20,tr.35]. Đây cũng là quan điểm chúng tôi thừa nhận khi

xem xét các vấn đề tiếp theo.

1.1.2. Hành động cầu khiến

Cầu khiến là hành động được thực hiện bằng một phát ngôn ngữ vi. Khi yêu

cầu, sai khiến ai làm một việc gì đó, người nói phải thực hiện ngay một phát

ngôn mà cái lõi của nó phải là một biểu thức ngữ vi mang ý nghĩa cầu khiến.

Theo cách phân loại của Austin, cầu khiến là một hành vi tại lời.

J.L.Austin phân các hành động ngôn ngữ thành 3 loại lớn: hành vi tạo lời

(locutionary act) , hành vi mượn lời (perlocutionary act) và hành vi tại lời

(illocutionary act). Hành vi tại lời là hành vi người nói thực hiện ngay khi phát

ngôn. Hiệu quả của những hành vi này nằm ngay trong hiệu lực của phát ngôn

(lực ngôn trung). Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và

quyền lợi mới so với trước khi phát ngôn. Chẳng hạn, khi ra lệnh cho ai, ngay

sau đó chúng ta phải chịu trách nhiệm về cái lệnh của mình và đặt người nghe

vào tình trạng phải thực hiện (hay không thực hiện) lệnh của chúng ta. Hành vi

tại lời là một hành vi có đích, được quy ước và có thể chế (dù không được hiển

ngôn) mà mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ phải tuân theo.

Theo Austin có 3 điều kiện để đảm bảo hành vi tại lời thực hiện được [dẫn

theo Đỗ Hữu Châu-6,tr.112]:

i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng

có tính quy ước; hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy

định trong thủ tục;

ii) Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ;

iii) Thông thường thì những người thực hiện hành vi ở lời phải có ý nghĩ,

tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và khi hành động diễn

ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có.

J.R. Searle bổ sung thêm các điều kiện cần để cho một hành vi tại lời đạt

hiệu quả đúng với đích của nó:

i) Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động. Nội

dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói hay một hành động của

người nghe.

ii) Điều kiện chuẩn bị: đó là những hiểu biết của người phát ngôn về năng

lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người

nghe.

iii) Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người

phát ngôn.

iv) Điều kiện căn bản: đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người

nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi phát ngôn.

Ông miêu tả các điều kiện của một hành động thỉnh cầu như sau:

- Nội dung mệnh đề: hành vi tương lai A của người nghe H.

- Chuẩn bị: H có khả năng thực hiện A (theo chủ ý của người nói S). Nếu

không thỉnh cầu thì cả đối với S cả đối với H không chắc rằng H sẽ tự thực hiện

A bất kể thế nào.

- Chân thành: S mong muốn rằng H sẽ thực hiện A.

- Căn bản: nhằm dẫn H đến việc thực hiện A.

Như vậy có thể nói, hành động cầu khiến là một hành động ngôn từ nhằm

điều khiển một đối tượng thực hiện một hành động nào đó.

1.1.3. Phân loại hành động cầu khiến

Theo hướng phân loại của Austin và Grice, tác giả Bùi Thị Kim Tuyến đã

chia hành động cầu khiến gồm hai loại [39,tr.35]:

- Cầu khiến cạnh tranh: là loại HĐCK với lợi ích của việc thực hiện thường

thuộc về người nói hoặc trung hòa hoặc không thuộc về người nghe. Đó là

những hành động như: ra lệnh, thỉnh cầu, nhờ vả, xin phép,v.v. Xét về vị thế

giao tiếp, loại này có thể chia ra hai loại: vị thế người nói cao hơn người nghe

(ra lệnh, bắt buộc), vị thế người nói thấp hơn hoặc ngang bằng người nghe

(thỉnh cầu, nhờ vả,v.v.)

- Cầu khiến hòa đồng: là loại HĐCK với lợi ích của việc thực hiện thường

thuộc về người nghe hoặc trung hòa hoặc không thuộc về người nói. Đó là

những hành động như: khuyên răn, mời mọc,v.v.

Cũng có quan điểm căn cứ vào phương thức thể hiện, chia HĐCK thành

HĐCK trực tiếp và HĐCK gián tiếp [x.mục 1.1.1].

Căn cứ vào lý thuyết hành vi ngôn ngữ và các quy tắc hội thoại, chúng tôi

đề nghị có bốn cách phân loại HĐCK như sau:

a) HĐCK thực hiện/không thực hiện một việc.

- HĐ thực hiện: sai, nhờ, mời, phân công,v.v.

- HĐ không thực hiện: can, cấm, nghiêm cấm, v.v.

b) HĐCK có lợi/không có lợi đối với người nghe.

- HĐ có lợi đối với người nghe: khuyên, mời, cử,v.v.

- HĐ không có lợi đối với người nghe: ra lệnh, bức, cấm,v.v.

c) HĐCK lịch sự/không lịch sự.

- HĐ lịch sự: xin, mời, xin mời, xin phép,v.v.

- HĐ không lịch sự: cấm, buộc, yêu cầu, đề nghị,v.v.

d) HĐCK có vai giao tiếp ngang bằng/không ngang bằng.

- Ngang bằng: bảo, can, nhờ, v.v.

- Không ngang bằng: yêu cầu, cấm, van xin, khẩn cầu,v.v.

Thật ra, sự phân loại này chỉ mang tính tương đối vì trong thực tế nói năng

việc nhận diện đích tại lời, các điều kiện mệnh đề, các vai tham thoại hoặc mức

độ lịch sự/không lịch sự,v.v. còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố của ngữ cảnh.

Chẳng hạn, trong phong cách hành chính, hành vi xin được sử dụng ở mọi vai

(1)

giao tiếp. Ví dụ:

(2)

Xin các đồng chí cho biểu quyết!

Tôi xin được phát biểu ý kiến!

Đối với hành vi mời, tùy hoàn cảnh giao tiếp mà có lợi hoặc không có lợi

(3)

đối với người nghe:

(4) Mời anh lên hàng ghế trên ngồi!

Tôi mời anh đi ra ngay!

Chấp nhận việc phân loại theo nhiều tiêu chí như trên sẽ giúp ta hiểu được

đặc điểm hoạt động của HĐCK dưới nhiều giác độ.

1.2. Vị từ cầu khiến

1.2.1. Vị từ

“Vị từ là một từ có thể tự mình làm thành một vị ngữ (hay một ngữ đoạn

biểu thị nội dung của cái sự tình được trần thuật trong câu) hoặc làm trung tâm

cho ngữ đoạn ấy” [14,tr.355].

Liên quan đến định nghĩa trên, cần nói rõ thêm mấy vấn đề sau:

Câu trong tiếng Việt có hai thành phần chính. Có nhiều cách gọi tên khác

nhau đối với hai thành phần này (Chủ ngữ - Vị ngữ, Chủ đề - Thuật đề, Đề -

Thuyết,v.v.) nhưng về cơ bản các tác giả đều thống nhất mỗi thành phần là một

ngữ đoạn có cấp bậc cao nhất trong các bộ phận bậc dưới câu. Ngữ đoạn ở

thành phần thứ hai là ngữ vị từ (vị ngữ). Ngữ vị từ làm cái lõi của sự tình do

một vị từ đảm nhiệm.

Căn cứ vào nghĩa biểu hiện người ta chia vị từ thành hai loại: VT biểu thị

nội dung sự tình (một hành động, một trạng thái, một tư thế, một quá trình) và

VT tình thái biểu thị thái độ của người nói đối với nội dung sự tình hoặc với

tham tố của sự tình. Đăc điểm của vị từ được xem xét ở nghĩa của VT và các

tham tố (diễn tố và chu tố) của nó. Diễn tố là tham tố bắt buộc cùng với VT tạo

thành vị ngữ hạt nhân. Chu tố là tham tố không bắt buộc, bổ sung cho VN hạt

nhân, là thành phần mở rộng của VN hạt nhân. Trong kết hợp cú pháp với VT,

các tham tố đảm nhận một số vai nghĩa nhất định (do một ngữ danh từ, một ngữ

vị từ, một tiểu cú biểu hiện) như: vai tác thể, vai hành thể, vai động thể, vai

nghiệm thể, vai đương thể, vai tạo thể, vai tiếp thể, vai mục tiêu, vai đích, vai

nguồn, vai công cụ, vai vị trí, vai thời gian, vai nguyên nhân, vai mục đích, vai

phương thức, vai nội dung, v.v.

Là một ngữ đoạn biểu hiện nội dung của sự tình, vị từ có thể đảm đương

một trong các chức năng cú pháp sau: làm một thành phần chính của câu, làm

trung tâm cho một ngữ đoạn, làm phụ ngữ cho một ngữ đoạn chính phụ có bậc

cao hơn.

Ngữ pháp truyền thống vốn xem động từ (verb) và tính từ (adjective) là

những loại từ có khả năng làm vị ngữ (ngữ vị từ) của câu. Những từ tự thân làm

ngữ vị từ không phải chỉ có từ chỉ hành động (động từ), từ chỉ tính chất (tính từ)

mà còn có các từ chỉ trạng thái, tư thế,v.v. Ví dụ: Nước hết rồi. Mưa đã tạnh.

Cửa đã mở.

Chính vì vậy, Dik.S.C (1978) đã đưa ra một cách phân loại vị từ căn cứ vào

tính [+ động], [+ chủ ý], theo đó vị từ có bốn loại: vị từ hành động, vị từ tư thế,

vị từ trạng thái, vị từ quá trình.

[ + động] Biến cố [ - động] Tình trạng

[ + chủ ý] Hành động Tư thế

[ - chủ ý] Quá trình Trạng thái

Trên cơ sở đó, các nhà ngữ pháp chức năng tiếng Việt đã chia vị từ tiếng

Việt thành các loại như sau [18,tr.28]:

TIÊU CHÍ VỊ TỪ

Vị từ hành động Vị từ quá trình Vị từ tư thế Vị từ trạng thái Vị từ tình thái động + + - - + chủ ý + - + - +

Trong đó vị từ hành động (VTHĐ) được chia thành:

- VTHĐ chuyển tác: tác động (chuyển thái, chuyển vị) và tạo diệt (tạo tác,

hủy diệt).

- VTHĐ vô tác: di chuyển (có hướng, không có hướng) và không di chuyển

(cử động, ứng xử).

1.2.2. Vị từ cầu khiến

VTCK là một tiểu loại của vị từ hành động. Nguyễn Thị Quy khi phân loại

các vị từ hành động đã xem VTCK là vị từ hành động có khả năng tham gia vào

những kết cấu cầu khiến [32,tr.68]. Từ đó tác giả này đã đưa ra một danh sách

các vị từ cầu khiến bao gồm VTCK chuyên biệt bao giờ cũng được dùng trong

những kết cấu cầu khiến: mời, sai, cho phép, thỉnh cầu, ra lệnh, cho, giục và

VTCK không chuyên biệt có thể dùng trong nhiều kết cấu khác: bảo, bắt, cầu,

cầu xin, cử, đòi, nài, nài nỉ, năn nỉ, phái, van, van nài, van xin, xin, dặn,v.v.

Vì hành động cầu khiến là hành động được thực hiện bằng một phát ngôn

ngữ vi (có hoặc không có VTCK). Cho nên, từ điểm này, Nguyễn Vân Phổ đã

xem VTCK là một “nhóm biểu hiện” của VT nói năng có thể tham gia vào kết

cấu cầu khiến [31,tr.22]. Chẳng hạn: bảo, dặn, sai, nhờ, ra lệnh, đề nghị, yêu

cầu, thuyết phục, kêu gọi, năn nỉ, nài, nài nỉ, nhắc, cầu xin, mời, rủ, khuyên,

giục, thúc giục, hối thúc, xúi giục,v.v. Thật ra, VTCK cũng là một tiểu loại của

vị từ nói năng nhưng không phải bất cứ VTCK nào cũng có thể tham gia vào

hành động nói; có những VT chỉ có giá trị miêu tả hành động cầu khiến (x. mục

2.4.2.).

Các tác giả Ngữ pháp chức năng tiếng Việt – Ngữ đoạn và Từ loại xem

VTCK là một loại vị từ ứng xử, điều khiển một đối tượng thực hiện một hành

động nào đó (nhưng không gây nên một quá trình hiện thực, không có lực

xuyên ngôn). Chẳng hạn: bầu, bổ, cấm, cử, hứa, khuyên, mời, sai, xin,v.v.

[18,tr.53].

VTCK là vị từ biểu thị một hành động cầu khiến (tỏ ý muốn, bắt ai đó làm

một việc gì đó). Như đã nói, hành động cầu khiến không chỉ bao gồm ra lệnh,

sai bảo, yêu cầu, nhờ vả, mà còn cả mời mọc, xin phép. Cho nên, một VT hành

động khi có một trong các nghĩa như trên (hoặc tiềm tàng những nét nghĩa như

trên) mới có khả năng tham gia vào kết cấu cầu khiến.

Trên cơ sở đó, chúng tôi đề nghị một danh sách các VTCK trong tiếng Việt

bao gồm: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề nghị, kiến nghị, cấm, nghiêm cấm, bắt buộc,

bắt, cho, cho phép, phân công, phái, can, cử, bảo, sai, mời, nhờ, xin, xin phép,

khuyên, cầu, cầu xin, van, van xin, năn nỉ, nài nỉ, chúc, lạy, v.v.(xem phụ lục 1).

1.2.3. Phân biệt vị từ cầu khiến/vị từ gây khiến

VTCK hàm chứa các nét nghĩa cầu khiến, thể hiện hành động yêu cầu, sai

khiến của người nói đối với người nghe. Trong các phát ngôn ngữ vi, VTCK thể

hiện ý mong muốn của người nói, không co ý nghĩa hiện thực, được thực hiện

trong một hoàn cảnh nói năng nhất định, thực hiện chỉ một lần ngay khi phát

(5)

ngôn với một đối tượng có khả năng nhận thức được. Ví dụ:

Tôi bảo anh đi ra ngoài!

“Bảo”là VT biểu thị một hành động ra lệnh, “tôi” là chủ thể của hành động

này. Khi phát ngôn, người nói có mong muốn, yêu cầu người nghe thực hiện

một nội dung “đi ra ngoài”. Phát ngôn này đồng thời cũng là một hành động ra

lệnh. Mặc dù hành động mang tính bắt buộc, nhưng việc thực hiện điều mong

muốn “đi ra ngoài”đó có hay không là còn tùy thuộc vào khả năng của người

nghe, là việc ở phía sau lời nói chứ chưa phải là hiện thực.

(6)

Còn trong ví dụ sau:

Tôi làm nó giận.

“Làm” là một vị từ biểu hiện hành động chuyển tác có ý gây khiến, “tôi” là

chủ thể của hành động này. Làm không phải là hành động ngôn hành. Làm là

một hành động vật lý tác động đến một đối tượng, gây ra một kết quả trong hiện

thực (nó giận).

Trong kết hợp cú pháp, VT cầu khiến và VT gây khiến tuy có hình thức kết

cấu giống nhau: CT + V1 + Dn + V2 (CT: chủ thể, V1: vị từ thứ nhất, Dn: danh

ngữ, V2: vị từ thứ hai) nhưng bản chất là rất khác. Nguyễn Thị Quy đưa ra 7 chỗ

khác nhau giữa hai loại kết cấu này như sau [32,tr.70]:

i. Kết cấu gây khiến kết quả, ngoài dạng trên đây còn có thể có dạng

V1V2Dn (làm vỡ bát); kết cấu cầu khiến không thể có dạng này. (chỉ có thể nói

sai con đi, không thể nói sai đi con).

ii. Vị từ trung tâm của kết cấu cầu khiến là một vị từ có nghĩa “nói”; vị từ

trung tâm của kết cấu gây khiến - kết quả là một vị từ chuyển tác (cập vật), bất

kỳ, không có nghĩa nói: làm (cho), khiến (cho), buộc, bẻ (gãy), đốt (cháy), đánh

(gục, chết, bại, sập, vỡ).

iii. Chủ thể của vị từ thứ hai (V2) trong kết cấu cầu khiến là một người hay

một động vật có thể sai khiến được; chủ thể thứ hai trong kết cấu gây khiến -

kết quả là một vật bất kỳ (động vật hay bất động vật).

iv. Vị từ thứ hai (V2) trong kết cấu cầu khiến là một vị từ [+ chủ ý], vị từ

thứ hai trong kết cấu gây khiến là một vị từ bất kỳ, và thường là một vị từ quá

trình

- Chủ ý hay trạng thái - Chủ ý

+ Động - Động

v. Trong kết cấu gây khiến, hành động của chủ thể gây ra một kết quả hiện

thực, dù là tích cực hay tiêu cực (bẻ gãy cái que, bẻ cái que gãy đôi, bẻ cái que

không gãy). Vị từ thứ hai (V2) biểu hiện cái kết quả ấy. Nó có thể được phủ

định bằng không, chẳng, chả.

So sánh:

a. N bẻ cái que gãy đôi, * nhưng nó không gãy.

a’. N bảo em đi chợ nhưng nó không đi.

b. N bẻ cái que không gãy, * nhưng nó vẫn gãy.

b’. N bảo đứa em đừng đi nhưng nó vẫn đi.

b’’. ? N bảo đứa em không đi (chẳng đi, chả đi).

Trong kết cấu cầu khiến, hành động của chủ thể là một phát ngôn mà nội

dung là phần DnV2. Cái nội dung này chỉ là một sự mong muốn chứ không phải

là một sự việc hiện thực, cho nên V2 có thể được khẳng định bằng hãy, nên và

được phủ định bằng đừng, chớ (chứ không phải bằng không, chẳng, chả).

vi. Giữa Dn chỉ chủ thể và V2 của kết cấu cầu khiến không thể chen bất cứ

từ nào, trừ phải (nếu V1 là bắt, ra lệnh, cho, đòi) và được (nếu V1 là cho phép);

giữa Dn chỉ chủ thể và V2 của kết cấu gây khiến có thể chen từ phủ định không

hay chưa và từ chỉ mục tiêu cho.

vii. Trong một kết cấu cầu khiến, chủ thể của V2 chỉ có thể là danh ngữ làm

bổ ngữ, trong một kết cấu gây khiến - kết quả, chủ thể của V2 có thể là chủ ngữ

của V1, nghĩa là chủ thể của hành động gây khiến.

Cũng theo tác giả này, vì sự khác nhau ở hai điểm iii và iv, chỉ có kết cấu

cầu khiến mới có thể dùng làm một tiêu chí hình thức để phân biệt các vị từ [+

chủ ý] và [- chủ ý].

Theo Cao Xuân Hạo: “Những vị từ như bảo, khuyên, sai,v.v. được ngữ pháp

truyền thống gọi là “động từ gây khiến”. Thực ra, nếu cần phải gọi tên những vị

từ này thì phải gọi chúng là những vị từ biểu thị hành động điều khiển (một loại

vị từ ứng xử) và chúng hoàn toàn khác với những vị từ biểu thị hành động gây

khiến. Hành động gây khiến thực chất là một hành động chuyển tác. Hành động

này gây nên những quá trình hiện thực (có thể được nói ra hoặc không được nói

ra trong câu), chẳng hạn: đánh đổ, đánh tan, làm vỡ,v.v. Trong khi đó hành

động điều khiển có thể không gây nên một kết quả như vậy (không có lực

xuyên ngôn) [18,tr.53].

Có thể xem có/không có lực xuyên ngôn cũng là một tiêu chí để phân biệt

vị từ gây khiến/vị từ cầu khiến trong tiếng Việt.

1.3. Các nhóm vị từ cầu khiến trong tiếng việt

1.3.1. Các quan điểm phân chia tiểu loại VTCK

Có rất ít công trình nghiên cứu đi sâu vào việc phân chia các tiểu loại trong

VTCK. Người ta căn cứ vào các tiêu chí khác nhau để đưa ra những cách phân

loại như sau:

1.3.1.1. Căn cứ vào tính áp đặt của vị từ

Chu Thị Thủy An cho rằng các động từ ngữ vi có nghĩa cầu khiến là các

động từ có tình thái áp đặt với các mức độ khác nhau; căn cứ vào mức độ áp đặt

có thể chia động từ này thành bốn nhóm:

Nhóm 1: nhóm có tính áp đặt tuyệt đối, gồm: ra lệnh, cấm, yêu cầu. Khi sử

dụng các động từ này, vị thế người nói cao hơn người nghe.

Nhóm 2: nhóm có tính áp đặt trung bình, gồm: cho, cho phép, đề nghị,

khuyên. Trong nét nghĩa của các động từ này có sắc thái thương lượng. Người

nghe vẫn có phản hồi về việc thực hiện hay không thực hiện nội dung cầu

khiến.

Nhóm 3: nhóm có tính áp đặt thấp, gồm: nhờ, mời. Người nói ở vị thế nào

khi sử dụng các từ này cũng phải tự hạ mình, hạ vị thế giao tiếp của mình.

Nhóm 4: nhóm có tính áp đặt rất thấp, gồm: xin, xin phép, lạy, van. Đặc

điểm chung nhóm này là mang đậm sắc thái thương lượng. Người nói phải tự

hạ vị thế của mình rất thấp mới có thể thuyết phục được người nghe.

Tác giả này đã đưa ra thang độ về tính áp đặt của các động từ ngữ vi có

nghiã cầu khiến như sau:

Ra lệnh, cấm

Yêu cầu

Đề nghị

Cho phép

Khuyên

Mời

Nhờ

Xin phép, xin, van, lạy

1.3.1.2. Căn cứ vào nghĩa của các vị từ

Căn cứ vào nghĩa của các vị từ, Chu Thị Thủy An còn đưa ra một hướng

phân loại khác như sau:

Nhóm các động từ: ra lệnh, cấm, yêu cầu, đề nghị. Đây là các động từ có

chung nét nghĩa: đưa ra một yêu cầu tỏ ý muốn người khác thực hiện. Sự khác

nhau giữa các động từ trong nhóm là ở mức độ bắt buộc.

Nhóm các động từ: nhờ, mời, khuyên. Đây là các động từ có sự đối lập nhau

về tính lợi ích (thuộc về người nói hoặc thuộc về người nghe).

Nhóm các động từ: xin, xin phép, cho, cho phép. Các động từ này có đích

đến là hành vi cho phép của người nghe.

Nhóm các động từ: van, xin, lạy. Cả ba động từ có nhiều nét tương đồng

trong hoạt động giao tiếp, thể hiện sự khẩn khoản, tha thiết, nhún nhường của

người nói khi cầu xin một điều nào đó.

Hai cách phân loại trên tuy đã được tác giả miêu tả chi tiết nhưng cũng

không thỏa đáng với khá nhiều trường hợp trong thực tế. Chẳng hạn, xin là một

cách nói tỏ ý lịch sự nhưng nhiều khi lại mang tính áp đặt rất cao, vai người nói

cao hơn người nghe. Những cách nói sau đây được hiểu là một lời yêu cầu, ra

lệnh: Xin anh đi ngay cho! Xin anh im đi!v.v.

1.3.1.3. Căn cứ vào tính thuận/nghịch chủ ý tiếp nhận

Phạm Thanh Vân căn cứ vào tính [ + chủ ý] của đối tượng nhận hành động

cầu khiến đề xuất cách phân loại như sau [41,tr.30]:

i. Nếu hành động cầu khiến thuận với chủ ý của đối tượng nhận, ta có vị từ

cầu khiến dương tính như: cho, cho phép…

Ví dụ: Bố cho phép tôi đi chơi.

ii. Nếu hành động cầu khiến nghịch với chủ ý của đối tượng nhận, ta có vị

từ cầu khiến âm tính như: cấm, van xin, nài nỉ, bắt,…

Ví dụ: Tôi cầu xin anh cho tôi khất đến tháng sau.

iii. Nếu hành động cầu khiến không thuận, không nghịch với chủ ý của đối

tượng nhận, tức là đối tượng nhận không nảy sinh nhu cầu nhưng vẫn nhận

hành động cầu khiến, ta có vị từ cầu khiến trung hòa. Thường thì đó là những vị

từ cầu khiến được sử dụng trong phạm vi rộng, có tính chất cộng đồng như: yêu

cầu, đề nghị.

Ví dụ: Yêu cầu không đi lên cỏ.

Đề nghị chính quyền địa phương có biện pháp xử lý thích đáng.

1.3.1.4. Căn cứ vào tính [+ chuyên biệt] của vị từ

Căn cứ khả năng tham gia vào các kết cấu cầu khiến, Nguyễn Thị Quy phân

loại VTCK như sau:

- Các VTCK gồm có những vị từ chuyên biệt như: mời, sai, cho phép,

thỉnh cầu, ra lệnh, cho, giục và bao giờ cũng được dùng trong những kết cấu

cầu khiến, vốn có mô hình:

VC + CT + V [+ chủ ý]

trong đó có VC là vị từ cầu khiến, CT là chủ thể của hành động được cầu khiến

và V[+ chủ ý] là vị từ chỉ hành động đó.

- Ngoài ra còn có những vị từ không chuyên biệt, có thể dùng trong nhiều

kết cấu khác nhau (chẳng hạn như những kết cấu chỉ có một bổ ngữ danh từ)

nhưng khi làm hạt nhân cho một kết cấu có mô hình như trên thì tạo nên một

kết cấu cầu khiến: bảo, bắt, cầu, cầu xin, cử, đòi, nài, nài nỉ, năn nỉ, phái, van,

van nài, van xin, xin, dặn,…

Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Thị Quy nhưng chúng tôi có những

kiến giải bổ sung như sau.

1.3.2. Hai tiêu chí phân loại VTCK

Như đã trình bày, các quan điểm phân loại hiện nay thường theo hai xu

hướng: hoặc căn cứ vào tiêu chí hình thức hoặc căn cứ vào tiêu chí nội dung.

Tiêu chí hình thức có thể đem đến một hệ thống phân loại hết sức khách quan

nhưng tiêu chí này thường chỉ phù hợp với những ngôn ngữ có biến đổi hình

thái. Tiêu chí nội dung thường mang dấu ấn chủ quan, nhất là trong từng ngữ

cảnh nội dung có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Cho nên, việc phân

loại các đơn vị ngôn ngữ cần chú ý đến các phương diện sau đây để có được

một cái nhìn toàn diện.

Trong ngôn ngữ học hiện đại, xuất phát từ lý thuyết ký hiệu học của

Ch.Morris (1938), các đơn vị có nghĩa thường được khảo sát trên ba bình diện

[dẫn theo Cao Xuân Hạo – 15,tr.8]:

-Nghĩa học (semantics): nghiên cứu các ký hiệu trong những mối quan hệ

với các sự vật ở bên ngoài hệ thống.

-Kết học (syntactics): nghiên cứu các ký hiệu trong những mối quan hệ kết

hợp với các ký hiệu khác.

-Dụng học (pragmatics): nghiên cứu các ký hiệu trong những mối quan hệ

với những người sử dụng nó.

Mặt khác, bản chất của từ có những thuộc tính phổ quát như sau:

- Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa,

- Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong câu.

Do đó, hai tiêu chí chúng tôi đưa ra làm nguyên tắc cho sự chọn lựa và phân

chia các tiểu loại VTCK là: căn cứ vào nghĩa của từ và căn cứ vào khả năng

hoạt động của từ trong giao tiếp.

a) Căn cứ vào nghĩa của từ:

Như đã nói, ý nghĩa cầu khiến trong ngôn ngữ được thể hiện bằng nhiều

phương thức. Trong VTCK, nghĩa cầu khiến được thể hiện ở ngay chính nghĩa

từ vựng của từ. Căn cứ vào nghĩa vị của từ (với các nét nghĩa) và căn cứ vào

quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong hệ thống (bao hàm, đồng nghĩa, trái

nghĩa,.v.v.), ta có nhiều hướng phân loại khác nhau.

Ví dụ:

Đề nghị có các nét nghĩa sau:

- Đưa ra ý kiến về một việc nên làm nào đó để thảo luận, để xét.

- Yêu cầu, thường là việc riêng, và mong được chấp nhận, được giải quyết.

- Từ dùng ở đầu câu để nêu lên một yêu cầu, đòi hỏi phải làm theo.

Yêu cầu: Nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết

rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của

người ấy.

Ra lệnh: đưa ra một mệnh lệnh.

Như vậy đề nghị, yêu cầu, ra lệnh có thể xếp chung một nhóm loại (theo

quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa).

Ví dụ:

Cấm có các nét nghĩa sau:

- Không cho phép làm việc gì đó hoặc không cho phép tồn tại.

- Không cho phép tự do qua lại hoặc đi vào một khu vực nào đó.

Nghiêm cấm: cấm ngặt, hoàn toàn, không cho phép.

Can: làm cho thấy không nên mà thôi đi, không làm; khuyên đừng làm.

Như vậy, can, cấm, nghiêm cấm có thể xếp trong cùng nhóm đối lập với

nhóm đề nghị, yêu cầu, ra lệnh (theo quan hệ trái nghĩa).

b) Căn cứ vào khả năng hoạt động của từ trong giao tiếp

Trong giao tiếp việc chọn lựa từ ngữ luôn bị sự chi phối của các nhân tố

giao tiếp: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích

giao tiếp, kênh giao tiếp. Đây là những yếu tố mà người tạo ngôn cũng như

người lập ngôn không thể bỏ qua khi muốn giải mã một thông điệp. Sự chi phối

(7)

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

này càng nghiêm ngặt đối với một vị từ ngôn hành. Trong ví dụ sau:

(8)

Người ta bắt (tôi) viết văn tự.

Tôi đã nhờ ông giáo bên ấy viết văn tự rồi. (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Bắt, nhờ cùng là VTCK biểu hiện ý yêu cầu thực hiện một điều gì đó. Điều

yêu cầu thực hiện ở đây có cùng một nội dung là: viết văn tự. Sự thay đổi vai

nhân vật giao tiếp đã chi phối việc lựa chọn hai vị từ khác nhau. Bắt mang nét

nghĩa: khiến phải làm việc gì, không cho phép làm khác đi. Nhờ mang nét

nghĩa: yêu cầu người khác làm giúp cho việc gì. Ở ví dụ (7), do các vai giao

tiếp không ngang bằng (lớn tuổi, có thế lực, có tiền) nên bà Nghị Quế (người

ta) “bắt” chị Dậu (tôi) phải viết văn tự. Ở ví dụ (8), chị Dậu (tôi) nhờ ông giáo

viết văn tự trong thế quan hệ ngang bằng (mua bán sòng phẳng).

(9) Con đi mua báo cho bố nhé mẹ.

Hay trong ví dụ sau:

(10) Con đã mua báo cho bố chưa?

-Mẹ bảo con rửa bát!

-Mẹ bảo con rửa bát.

với cùng một sự tình, cùng một chủ thể phát ngôn nhưng trong hai hoàn cảnh

giao tiếp khác nhau, “bảo” ở (9) là VT thực hiện một hành động cầu khiến:

người mẹ đề nghị, yêu cầu con làm cái việc rửa bát. Còn “bảo” ở (10) là VT

miêu tả một hành động cầu khiến: người con thuật lại cho bố nghe lời yêu cầu,

đề nghị của mẹ với ý phân trần: con chưa mua báo cho bố được vì con đang bận

rửa bát.

Từ đó, các nhóm VTCK được chúng tôi phân chia theo những cách như

sau.

1.3.3. Danh sách các nhóm VTCK trong tiếng Việt

a) VTCK chính danh và VTCK lâm thời

Một VTCK được xem là chính danh khi nó luôn mang nghĩa cầu khiến

trong mọi tình huống ngôn ngữ. Đó là những từ như: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề

nghị, kiến nghị, cấm, nghiêm cấm, bắt buộc, cho phép, phái, can, mời, cử, sai,

khuyên, cầu xin, van, van xin, năn nỉ, nài nỉ,v.v. VTCK lâm thời là những vị từ

chỉ có nghĩa cầu khiến trong hoàn cảnh nói năng nào đó như: bảo, cho, lạy, xin,

mượn, nhủ,v.v.

Thật ra, trong các VTCK lâm thời, có những VT hoạt động khá đặc biệt.

Chẳng hạn “xin” vừa là một VTHĐ (ngỏ ý với người nào đó, mong người ấy

cho mình cái gì hoặc đồng ý cho mình làm điều gì), vừa là một VT tình thái

(biểu thị thái độ khiêm tốn lịch sự), vừa là tác tử đánh dấu lời chào mời, cảm

ơn. Có thể thấy hoạt động lâm thời của nó qua nhận định sau [15,tr.229]:

Khi được dùng như một vị từ tình thái với một VTNH làm bổ ngữ, nghĩa

riêng của nó (xin) có phần mờ đi (ngay cả nghĩa “thỉnh cầu”), và vai trò chủ yếu

là báo hiệu một phát ngôn ngôn hành. Bên cạnh xin còn có từ tổ có lời (hay xin

có lời) cũng là một tác tố làm cho vị từ đi sau có được tính ngôn hành một cách

chắc chắn. Dùng xin, có lời hay xin có lời, câu nói sẽ có tính ngôn hành ngay cả

khi bổ ngữ chỉ người tiếp nhận là ngôi thứ ba:

a. Con xin chính thức hỏi Lan làm vợ. (nói với bố mẹ cuả Lan)

b. Tôi có lời khen ngợi các đồng chí ấy.

Hơn nữa nhiều khi xin và có lời còn làm cho những câu nói không dùng

VTNH có được ý nghĩa ngôn hành:

a. Tôi xin gửi lời thăm anh.

b. Tôi có lời chia buồn với gia đình.

Ngoài ra, những VTCK chưa được kể ra trong danh sách hoặc những vị từ

do chuyển nghĩa, biệt ngữ, phương ngữ, tiếng lóng,v.v. trong tình huống nói

năng mang ý nghĩa cầu khiến cũng được chúng tôi xem xét phân loại theo

(11) Mẹ biểu con đi ngủ!

(12) Mẹ dạy con phải biết chào hỏi người lớn.

(13) Cậy em, em có chịu lời.

(Nguyễn Du –Truyện Kiều)

(14) Con không khiến U mang con đi!

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(15) Trẫm truyền gọi ngay Cống Quỳnh vào!

(16) Tôi muốn anh phải xin lỗi nó.

(17) Tôi cần anh đi với tôi đến nhà nó chiều nay.

hướng như trên. Chẳng hạn:

Biểu là một cách nói phương ngữ của “bảo” (nói cho biết để phải theo đó

mà làm). Dạy : bảo người dưới. Cậy: nhờ. Khiến: bảo làm việc gì. Truyền: ra

lệnh.

Muốn: cảm thấy có sự đòi hỏi về tâm lý, tình cảm hay sinh lý, làm một việc

gì hoặc có cái gì. Cần: không thể không làm, không thể không có, vì nếu không

làm, không có thì sẽ có hại.

Ở đây muốn, cần mang nét nghĩa cầu khiến và tham gia được trong cấu trúc

CT + V1 + Dn + V2 nên muốn, cần được xem là VTCK.

Thực ra, những từ như: mong, muốn, nên, cần, phải vốn là những VT tình

thái, chỉ trong ngữ cảnh như trên mới được chúng tôi xem là những VTCK lâm

thời. Có tác giả đã khẳng định mong, muốn, nên, cần, phải chính là những động

(17) Cậu nên mua thuốc bổ mà uống.

(18) Anh không cần phải nói gì hết.

(19) Ê, bồ phải ăn mừng lớn đó nghe.

từ cầu khiến [TL22]. Ví dụ:

Trong các câu trên, nên, cần, phải chỉ là những VT tình thái (mang nét

nghĩa cầu khiến). Thứ nhất, nếu không có các VT này, câu vẫn đảm bảo nghĩa

sự tình:

- Cậu mua thuốc bổ mà uống.

- Anh không phải nói gì hết.

Thứ hai, nên, cần, phải trong các câu trên không có cấu trúc: VC + CT + V

[+ chủ ý]. Đứng sau nên, cần, phải trong các câu trên là một ngữ vị từ có

VTHĐ làm trung tâm (có cùng chủ thể với nên, cần, phải); mà theo định nghĩa

của Givon, VT tình thái là những vị từ ngoại động đòi hỏi một bổ ngữ vị ngữ

(nghĩa là cần có một ngữ đoạn vị từ làm bổ ngữ trực tiếp) [dẫn theo Cao Xuân

Hạo;14;tr.397].

b) VTCK yêu cầu thực hiện/không thực hiện một việc

- VTCK yêu cầu thực hiện một việc nào đó: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề nghị,

kiến nghị, bắt buộc, bắt, cho, cho phép, phái, can, cử, bảo, sai, mời, nhờ, xin,

xin phép, khuyên, cầu, cầu xin, van, van xin, năn nỉ, nài nỉ, lạy, v.v.

- VTCK yêu cầu không thực hiện một việc nào đó: can, cấm, nghiêm cấm,

cấm chỉ, cấm tiệt, v.v.

c) Phân loại VTCK theo các mức độ hành động:

i. VTCK mệnh lệnh – bắt buộc

Thuộc về loại này là các VT: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề nghị, sai, cấm,

nghiêm cấm, bắt, bắt buộc.

Đây là những vị từ biểu hiện hành động cầu khiến mang tính áp đặt, có khả

năng hiện thực cao. Người nói luôn có vị thế giao tiếp cao hơn người nghe (về

vai vế, tuổi tác, chức vụ,v.v.). Người nói có quyền ra lệnh, đề nghị, yêu cầu

người nghe được phép/không được phép thực hiện/không thực hiện một hành vi

nào đó và người nghe gần như phải chấp hành (dù muốn hay không muốn).

Người nghe bị đặt vào tình huống buộc phải thực hiện lời đề nghị, thỉnh cầu,

không có sự chọn lựa nào khác.

(20)

Ví dụ:

(21)

Cấm dừng xe!

Tôi yêu cầu các em im lặng!

Loại VT này có phạm vi sử dụng khá rộng rãi: dùng trong phong cách khẩu

ngữ, phong cách văn chương và đặc biệt là trong phong cách hành chính-công

vụ.

Có thể xác định mức độ lực ngôn trung của các VT này như sau: nghiêm

cấm -> bắt buộc -> ra lệnh -> đề nghị -> yêu cầu -> sai.

ii. VTCK đề nghị – lịch sự

Thuộc về loại này là các VT: phái, can, cử, khuyên, bảo, cho, mời, nhờ, xin,

xin phép.

Đây là những vị từ biểu hiện HĐCK mang sắc thái trung tính, được sử dụng

trong nhiều phong cách. Người nói và người nghe có vị thế giao tiếp ngang

bằng hoặc không ngang bằng nhưng HĐCK không có sự áp đặt, ép buộc mà là

đề nghị, thỏa thuận để người nghe thống nhất, đồng ý thực hiện/không thực

hiện một việc nào đó. Người nghe không bị đặt vào trách nhiệm phải thực hiện

mà là sự cần thiết để thực hiện điều mà người nói yêu cầu.

(22)

Ví dụ:

(23)

Tôi khuyên anh không nên làm việc ấy!

(24)

Mẹ bảo con phải học tập chăm chỉ!

Con nhờ bố giảng cho con bài toán này!

Có thể xác định mức độ lực ngôn trung của các vị từ này như sau: phái ->

cử -> can -> khuyên -> bảo -> nhờ -> mời -> xin.

iii. VTCK van xin – khẩn thiết

Thuộc về loại này là các VT: cầu, cầu xin, van, van xin, năn nỉ, nài nỉ, lạy.

Đây là những vị từ biểu hiện hành động khẩn cầu cấp thiết. Vị thế các vai

giao tiếp không ngang bằng. Người nói có khi lớn hơn người nghe về địa vị,

tuổi tác nhưng phải hạ thấp thể diện của mình để đặt người nghe vào một vị thế

có thể diện cao hơn, có quyền ban phát, cho tặng, thực hiện điều mà người nói

mong muốn đạt được.

(25)

Ví dụ:

(26)

Xin hai cụ nhón tay làm phúc!

(27)

Con van u, con lạy u, u đừng đem bán con đi!

Mẹ xin con đừng giao du với bọn người ấy nữa!

Chính vì vậy, VT từ này thường kết hợp với các phụ ngữ tình thái có giá trị

cường điệu để làm tăng tính cấp thiết.

(28)

Ví dụ:

(29)

Tôi cắn rơm cắn cỏ lạy ông giáo!

(30) Cụ làm ơn bảo cô ấy ra cho con hỏi một tí! (Nam Cao – Sống mòn)

(Con) trăm sự nhờ thầy giúp con!

Loại VT này không thấy sử dụng trong các phong cách hành chính, phong

cách khoa học (do màu sắc phong cách không phù hợp).

Có thể xác định mức độ lực ngôn trung của các vị từ này như sau: lạy ->

cầu xin -> van xin -> xin -> nài nỉ -> năn nỉ

Có thể tóm tắt cách phân loại trên như sau:

LOẠI VTCK

TÍNH CHẤT

VÍ DỤ

Mệnh lệnh - bắt buộc

VỊ THẾ GIAO TIẾP Không ngang bằng

Trách nhiệm phải thực hiện

Đề nghị - lịch sự

Ngang bằng hoặc không ngang bằng

Sự cần thiết để thực hiện

Van xin - khẩn thiết

yêu cầu, ra lệnh, cấm,… khuyên, bảo, nhờ, xin phép xin, cầu, cầu xin, van,…

Không ngang bằng

Tính cấp thiết mong thực hiện

Bảng 1: Bảng phân loại VTCK theo mức độ khẩn cầu

1.4. Tiểu kết

Trên cơ sở xem xét bản chất của hành động cầu khiến, chúng tôi đã đi đến

nhận diện VTCK, một loại VT có vai trò khá đặc biệt trong việc biểu hiện hành

động đề nghị, thỉnh cầu. Việc trình bày những quan điểm nghiên cứu trước đây

cũng như những kiến giải thêm của chúng tôi trong phần này cũng đã góp phần

phân biệt rõ sự khác nhau giữa vị từ cầu khiến với vị từ gây khiến và những vị

từ tình thái có ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt.

Vị từ cầu khiến là vị từ biểu hiện một hành động điều khiển một đối tượng

thực hiện một hành động nào đó. Đây là một loại vị từ ngôn hành. Cho nên

trong hoạt động nói năng, chắc chắn nó sẽ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố

theo như lý thuyết hành vi ngôn từ và các quy tắc hội thoại. Bước đầu xác lập

một danh sách và phân loại các VTCK trong tiếng Việt chắc sẽ còn nhiều bất

cập nhưng mục đích của chúng tôi là để hiểu rõ thêm những đặc điểm tự thân

của từ loại này (x.phụ lục 1 và 2). Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ miêu tả rõ

hơn các đặc điểm của VTCK trên các bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng.

CHƯƠNG HAI : ĐẶC ĐIỂM CỦA VỊ TỪ CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA - NGỮ PHÁP - NGỮ DỤNG

2.1. Về tính [+ động] [+ chủ ý] của vị từ cầu khiến

VTCK thuộc vị từ hành động, nhưng tính [+ động], [+ chủ ý] của lớp từ này

có những nét riêng biệt.

2.1.1. Tính [+ động] của VTCK

Các vị từ hành động có đặc điểm chung là biểu hiện một hành động xảy

ra trong một không gian, thời gian, theo một phương thức nào đó. Hành động

(31)

mà vị từ biểu thị có thể là hành động chuyển tác hay hành động vô tác. Ví dụ:

(32)

Mẹ nấu một bữa ăn thật ngon đãi cả nhà.

Chị nhìn em chăm chú.

Một hành động tất nhiên phải có chủ thể thực hiện hành động đó. Nếu là

hành động chuyển tác, sự tác động của chủ thể đến đối tượng có thể trên các

phương diện sau:

i. Tác động để tạo lập đối tượng,

ii. Tác động để hủy diệt đối tượng,

iii.Tác động làm thay đổi trạng thái của đối tượng,

iv. Tác động làm thay đổi vị trí của đối tượng,

v. Tác động nhằm yêu cầu, điều khiển đối tượng.

Nếu đối tượng là một vật vô tri, tác động đó có thể làm thay đổi về tính chất

hay trạng thái vật lý, thay đổi về vị trí không gian, làm cho mất đi hoặc tạo ra

đối tượng mới. Nếu đối tượng đó là một động vật hay con người, ngoài những

tác động trên còn có thể tạo ra sự thay đổi về cảm giác, về tri giác,v.v.

(33) Anh ta bẻ gãy bó đũa.

(34) Bé vẽ bông hồng.

(35) Chị ấy cho tôi một chiếc khăn.

(36) Bài hát làm xúc động lòng người.

Ví dụ:

Như vậy, các hành động theo hướng i -> iv phải là những hành động có diễn

biến, có tốc độ, có quá trình, liên quan đến một sự biến đổi tức thì của đối tượng

bị tác động. Những hành động này có khởi đầu, có kết thúc, tạo ra một cái gì

khác trước khi tác động. Kết quả là những gì hiện hữu, cụ thể có thể thấy ngay

tùy theo mức độ của lực tác động, cách thức và phương tiện tác động. Đây là

loại hành động vật lý.

Kết quả của hành động trong các ví dụ trên có thể thấy như sau:

Tình trạng ban đầu

Kết quả

Ví dụ (33) Bó đũa nguyên vẹn (34) Chưa có hình bông hồng (35) Chiếc khăn của chị (36) Lòng người không cảm xúc

Hành động bẻ vẽ cho làm

Bó đũa bị gãy Có hình bông hồng Chiếc khăn của tôi Lòng người xúc động

Bảng 2: Kết quả của loại hành động vật lý

Nhưng đối với vị từ cầu khiến, tính [+ động] lại rất khác, rất đặc biệt. Hành

động cầu khiến tác động đến đối tượng không phải bằng một sự đụng chạm, sờ

nắm cụ thể, không có các phương thức, phương tiện vật chất bên ngoài hỗ trợ

mà nó tác động đến đối tượng bằng chính nội dung của điều cầu khiến. Đây là

loại hành động bằng lời. Hành động ở VTCK chỉ mới là mệnh lệnh, mệnh lệnh

này có được đối thể tiếp nhận, thực hiện hay không lại là chuyện khác. Nói cách

(37) Tôi yêu cầu Nam mở cửa ra!

khác, kết quả của một hành động cầu khiến không thể có ngay được. Ví dụ:

Khi phát ngôn câu nói trên, người nói đồng thời đã thực hiện xong hành

động “yêu cầu”, nhưng kết quả của hành động này là việc “mở cửa ra” thì

chưa thành hiện thực ngay được.

Tuy không trực tiếp tạo ra sự thay đổi tức thì của đối tượng nhưng hành

động cầu khiến lại là khởi đầu cho một hành động khác do đối tượng được yêu

cầu thực hiện. Hành động “yêu cầu” trong ví dụ trên sẽ kéo theo hành động

“mở cửa” của đối tượng “Nam”.

Giá trị của sự tác động này trước hết là tác động đến nhận thức để người

nghe tự hành động theo nội dung được yêu cầu. Có thể hình dung trong mô

hình sau:

NGƯỜI NGHE

NỘI DUNG YÊU CẦU

NGƯỜI NÓI

Phát lệnh

nghe  hiểu  làm

Mô hình 1: Mô tả một hành động cầu khiến

Một điều hết sức đặc biệt nữa là nếu ở các vị từ khác, tính [+động] đặt chủ

thể vào cương vị tự mình chịu trách nhiệm về hành động thực hiện thì ở VTCK,

hành động cầu khiến đặt cả chủ thể phát ngôn lẫn người tiếp nhận vào trách

nhiệm đối với điều được nêu ra: người nói đương nhiên chỉ có thể yêu cầu điều

mà người nghe có khả năng thực hiện được. Người ta không thể yêu cầu một

(38) *Tôi đề nghị anh thôi làm người!

người nào đó thực hiện cái điều đại loại như:

(Tên dịch của bài hát Unbreak my heart!)

(39) Xin đừng làm tan vỡ trái tim em!

hoặc như:

Không thể đề nghị một ai đó “thôi làm người”, chẳng qua có thể đây là

một cách nói ví von nhằm chê bai hành vi không phải người của một người nào

đó. Cũng như vậy, không thể làm tan vỡ thật sự một trái tim, đây cũng chỉ là

một cách nói tu từ mà ta có thể hiểu là: đừng đánh mất tình yêu của em, đừng

làm em đau khổ,v.v.

2.1.2. Tính [+ chủ ý] của VTCK

Nếu tính [+ động] được xem xét ở bản chất của hành động thì tính [+chủ ý]

trước hết được nhìn ở góc độ người phát ngôn.

Chủ ý (suy nghĩ, ý nghĩ đã định sẵn) là thuộc tính bản chất của loại động vật

biết tri giác. Có thể khẳng định là tất cả mọi hành động của con người (bình

thường) trong cuộc sống đều là những hành động có chủ ý. Theo đó, một hành

động cầu khiến sẽ không thành nếu như chủ thể không định trước và đưa ra nội

dung cầu khiến ấy. Điều này có vẻ như cũng đúng với tất cả các loại hành động.

Tuy nhiên, đối với hành động không phải cầu khiến, chủ thể thực hiện có thể là

một động vật bất kỳ (người hoặc không phải người).

(40) Trèo lên cây bưởi hái hoa.

(41) Con mèo trèo cây cau.

Ví dụ:

Trong khi đó hành động cầu khiến chỉ có thể là hành động của một động vật

có khả năng ngôn ngữ (biết tư duy, biết nghe, biết nói,v.v.) chính là con người.

(42) Tiếng gà

Trần Đăng Khoa)

Xét các trường hợp thực tế sau:

Giục quả na Mở mắt Tròn xoe Giục hàng tre Đâm măng Nhọn hoắt Giục bông lúa Uốn câu Giục con trâu Ra đồng… (

Có tác giả vì thấy rằng “tiếng gà” không phải là một thực thể có khả năng tư

duy nên cho rằng “giục” trong ví dụ trên là một VT gây khiến-kết quả

[41,tr.41]. Thực ra, ở bài thơ trên có một sự tri nhận thơ ngộ về quan hệ giữa

các sự việc tại một thời khắc bất chợt. Ở đây không chỉ có mối quan hệ nhân-

quả:

Quả na mở mắt Hàng tre đâm măng Bông lúa uốn câu Con trâu ra đồng

Tiếng gà khiến cho

mà còn có một mối quan hệ thời gian:

Quả na mở mắt Hàng tre đâm măng Bông lúa uốn câu Con trâu ra đồng

Tiếng gà thúc giục

Tại một thời điểm sáng sớm, khi tiếng gà cất lên, cũng là lúc con người, vạn

vật chuyển mình chào đón một ngày mới, dường như tiếng gà cũng thúc giục

vạn vật, con người. Trong bài thơ trên, ý nghĩa thúc giục được biểu hiện rõ hơn,

có giá trị tu từ hơn ý nghĩa gây khiến. Đây là hiện tượng chuyển nghĩa trong

văn chương: quả na, hàng tre, bông lúa không còn là những vật thụ động, còn

“tiếng gà” được xem là tín hiệu thời gian đánh dấu một thời điểm nào đó, như

là một quy ước, có chủ ý của một cộng đồng người.

Ta vẫn thường gặp những cách nói như vậy, đặc biệt là trong phong cách văn

chương. Những trường hợp chủ thể cầu khiến không phải là con người nhưng

(43) Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

(Chế Lan Viên-Tiếng hát con tàu)

(44) Con tim cứ lên tiếng thúc giục nhưng lý trí mách bảo tôi đừng nghe theo.

được xem như người (hiện tượng chuyển nghĩa), chẳng hạn trong các ví dụ sau:

Ở ví dụ (43) tàu đã được nhân hoá có tính [+động], [+chủ ý] như người

(con tàu trong tâm tưởng). Ví dụ (44) là một cách nói hoán dụ. Con tim, lý trí ở

đây cũng chính là chủ thể nhân vật “tôi”.

Đồng quan điểm này, tác giả Nguyễn Thị Quy cũng đã khẳng định: “Cái

chủ thể ấy dĩ nhiên phải là một động vật (một con người hay một con vật),

nhưng cũng có thể là Thượng Đế hiểu theo đủ các cách có thể, là một thần linh,

là một vật được coi là có hồn (trong các tín ngưỡng bái vật) hay là một vật, một

sức mạnh thiên nhiên được nhân cách hóa một cách ước định”[32,tr.65].

Đặc trưng về tính [+ chủ ý] của VTCK còn được thể hiện ở vai đối thể

của VT. Người ta chỉ có thể yêu cầu, đề nghị một đối tượng có khả năng nhận

biết lệnh và thực hiện được mệnh lệnh. Việc thực hiện này có khi là bằng hành

(45) Đề nghị anh báo cáo!

(46) Nhờ chị mua giùm gói thuốc!

động, có khi là bằng lời. Vì thế đối tượng này cũng chỉ có thể là người. Ví dụ:

(47) Trâu ơi! Ta bảo trâu này!

(Ca dao)

Cũng có khi đối tượng đó không phải là người như trong ví dụ:

Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.

Như đã trình bày, ở đây trâu đã được nhân hóa như là một động vật biết tri

giác (cũng như những con vật cưng nuôi trong nhà).

(48) Xin mặt trời ngủ yên!

(Tên một bài hát của Trịnh Công Sơn)

Ngoài ra, có trường hợp ta đã từng nghe như:

Đây là trường hợp cá biệt xuất hiện trong phong cách nghệ thuật. Tất nhiên

tiêu đề bài hát này vẫn có ý nghĩa khi quy chiếu với cả văn bản bài hát nhưng

vấn đề này không thuộc phạm vi xem xét của luận văn.

Tính [+ động], [+ chủ ý] của VTCK sẽ được tiếp tục làm rõ thêm khi xem

xét đặc điểm các diễn trị của một VTCK (mục 2.2).

2.2. Các vai nghĩa của một vị từ cầu khiến

VTCK vốn biểu thị một hành động ngôn từ do một chủ thể thực hiện

(diễn tố 1) tác động vào một đối tượng là người hay động vật (diễn tố 2) với

mục đích điều khiển đối tượng thực hiện một hành động nào đó. Hành động này

được biểu hiện bằng một vị ngữ, làm thành diễn tố thứ ba.

2.2.1. Diễn tố thứ 1: Vai tác thể

Đây là đệ nhất diễn tố (prime actant) biểu hiện chủ thể của hành động

cầu khiến. Nó chính là phần Đề (Chủ đề) của câu đơn hai thành phần. Chủ thể

đó phải là một con người hoặc vật/động vật được nhân hóa như người (như đã

trình bày ở 2.1.2) cho nên các từ ngữ có thể giữ vai trò làm diễn tố 1 là:

(49) Tôi xin ông cai, ông tha cho cháu!

(50) Họ khuyên can chị Dậu đừng khóc.

(51) Ai nấy đều khuyên chị Dậu phải yên lòng.

(52) Nó xúi chồng nó nhất định không đóng.

(53) Hắn sai tuần phu trói chặt chị Dậu vào cột đình. (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(Nam Cao- Đón khách)

(54) Y mời khách qua đường vào nghỉ chân, uống nước.

- Đại từ:

(55) Người này sai nó việc này, người kia sai nó việc khác.

(56) Bà lão lại khuyên chị Dậu: “Bác gái cũng phải ăn đi!”

- Danh ngữ chỉ người:

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(57) Thư bảo Hoài uống một chút cho vui.

(Nam Cao- Quên điều độ)

(58) Bộ Giáo dục - Đào tạo đề nghị các trường không tăng học phí.

- Tên riêng chỉ người hoặc một tổ chức:

- Danh ngữ chỉ vật/động vật được nhân hóa như ví dụ (43),(44):

Con tim cứ lên tiếng thúc giục nhưng lý trí mách bảo tôi đừng nghe theo.

(Chế Lan Viên-Tiếng hát con tàu)

Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

- Trong nhiều trường hợp, diễn tố 1 có thể là một vật vô sinh, như trong ví

(59) Bức tranh này nhắc nhở chúng ta về thảm họa hạt nhân.

(Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ- TL31;tr.35)

dụ sau:

Theo Nguyễn Vân Phổ, đây là trường hợp có chủ thể là “những dấu hiệu

vật chất mà từ đó con người đọc được ý nghĩa của nó”, người nói cảm nhận

được, rút ra được từ những dấu hiệu vật chất bình thường “chứ không liên quan

gì đến quá trình nhân hoá”.

Diễn tố 1 có thể được rút gọn trong các trường hợp sau:

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(60) (61)

- Trong tình huống hội thoại người nói đang là chủ ngôn cầu khiến:

() Xin ông hãy tạm tha trói nhà con một lúc! () Đề nghị im lặng!

- Trong trường hợp chủ ngôn là một cá nhân, tổ chức có quyền lực mà

(62)

mọi người phải tuân thủ:

() Cấm đỗ xe!

() Yêu cầu anh cho xem giấy tờ!

(63) Hoa sớm tương tư đã nở đầy

- Trong thơ (khi nhân vật tôi trữ tình được xem là luôn hiện hữu):

(Xuân Diệu-Yêu)

Mời em dạo bước tới vườn đây.

Nhận xét về khả năng rút gọn của thành phần này trong câu, Cao Xuân

Hạo có viết: “Đề ngữ trong tiếng Việt rất hay vắng mặt trên bình diện cú pháp,

nhất là khi sở chỉ của nó là người nói, người nghe, là một cái gì mà hai người

đang nhìn thấy hay đang bàn tới, là “người ta” nói chung hoặc là môi trường

của cuộc đối thoại”[14,tr.427].

Ta thấy rằng các từ ngữ làm diễn tố 1 đều có thể ở các ngôi (số ít hoặc số

nhiều) nhưng trong các biểu thức cầu khiến tường minh thì chỉ có thể là đại từ

(64) Tao bắt mày ở làm con trâu con ngựa cho nhà tao.

(Tô Hoài – Vợ chồng A Phủ)

(65)

Chúng tôi đề nghị cấp trên, Đảng, Nhà nước xét truy tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cho Liệt sĩ Trần Đình Luận.

(Đỗ Viết Nghiệm - Tấm ảnh còn lại)

(66) Tôi yêu cầu cô quên thằng Tân đi!

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong)

nhân xưng ngôi thứ nhất như trong các ví dụ sau:

Về vị trí, khảo sát của chúng tôi cho thấy, diễn tố 1 luôn đứng đầu câu,

trong mọi trường hợp không thể đảo ngữ, không thể thay đổi trật tự. Thử cải

biên một số câu trong các ví dụ đã nêu ở trên:

Bố cho phép tôi đi chơi.

Tôi được bố cho phép đi chơi. 

Tôi được cho phép đi chơi bởi bố. 

Hay:

Y mời khách qua đường vào nghỉ chân uống nước.

 Khách qua đường được y mời vào nghỉ chân uống nước.

 Khách qua đường được mời vào nghỉ chân uống nước.

Những cách nói này thường không tự nhiên trong tiếng Việt, hơn nữa câu

được cải biên không còn ý nghĩa cầu khiến mà đã mang ý nghĩa tiếp thụ. Lúc

này tiêu điểm thông tin của câu cũng đã khác.

2.2.2. Diễn tố thứ 2: Vai đối thể

Diễn tố 2 có một cương vị hết sức đặc biệt: vừa là đối thể của VTCK trung

tâm, đứng ngay sau VT trung tâm, vừa là chủ thể của VT hành động ở diễn tố 3,

(67) Tôi bảo nó đi học.

đứng ngay trước diễn tố 3. Trong ví dụ sau:

nó là đối thể của hành động bảo, nhưng nó cũng là chủ thể của hành động đi

học.

Vì là đối tượng có trách nhiệm thực hiện điều mà người nói yêu cầu cho nên

diễn tố 2 là người hoặc có thể là động vật bất kỳ có khả năng nhận biết lệnh và

(68) Bụt sai chim sẻ xuống nhặt thóc giúp Tấm.

thực hiện được lệnh. Như ở ví dụ sau:

trong thế giới thần thoại, chim sẻ được xem là một nhân vật biết tri giác như

người. Hay trong ví dụ (47):

Trâu ơi! Ta bảo trâu này!

Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.

trâu được xem là người bạn biết đồng cam cộng khổ với người nông dân.

Đặc biệt là, diễn tố 2 cũng có khi là chính nhân vật chủ ngôn ở diễn tố 1

(diễn tố 2 = diễn tố 1).

(69) Tôi vẫn không cho phép mình lấy đồng tiền để thay cái mặt mình.

(Nguyễn Minh Châu-Bức tranh)

(Nguyễn Minh Châu-Bức tranh)

Ví dụ:

(Ca dao)

(70) Tôi không cho phép tôi chạy trốn. (71) Ra về lòng lại dặn lòng

Chanh chua chớ phụ, ngọt bùi chớ ham.

Trong trường hợp này, hành động cầu khiến không hướng đến đối thể bên

ngoài mà hướng vào phía vai người nói. Ở đây, người nói tự khuyên răn, nhắc

nhở chính mình. Đây là cách nói độc thoại thường chỉ thấy xuất hiện trong

phong cách ngôn ngữ văn chương, trong nhật ký, tự thuật.

Các từ ngữ có thể tham gia làm diễn tố 2 là:

(72) Ông bảo mày lấy thêm rượu!

(73) Hắn bắt chị xỏ chân vào guốc.

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

- Đại từ:

(74) Các cụ sai ông pho đi tìm ông cửu.

(Nam Cao- Đôi móng giò)

(75) Hôm qua ông dặn bố nó nhà con sáng nay phải đi chợ sớm.

- Danh từ, ngữ danh từ chỉ người:

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(76) Bà bắt Điền cưới vợ.

(Nam Cao - Trăng sáng)

(77) UBND Tỉnh đề nghị UBND Huyện Thuận An báo cáo sơ kết 6 tháng đầu

- Tên riêng chỉ người hoặc một tổ chức:

năm.

- Danh từ, ngữ danh từ chỉ động vật/vật được nhân hóa (ví dụ 43,44).

Diễn tố 2 cũng có thể được rút gọn tùy vào ngữ cảnh cho phép:

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(78) Cụ bắt ()phải xin triện của ông nhận thực cho nữa. (79) Tôi chưa biết ra sao thì có người bạn sang rủ ()đi làm cách mạng

(Phạm Quang Đẩu- Bí mật khu rừng chiến địa)

- Khi đối thể là người đang thuật lại điều yêu cầu phải thực hiện:

(80) Vì tên Dậu là thân nhân của hắn, cho nên chúng con bắt ()phải nộp thay.

- Đối thể đã được nhắc đến trong văn cảnh trước hoặc sau đó:

(81) Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi người một cái giỏ bảo ()ra

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(Tấm Cám)

(82) Vợ con khuyên can ()đừng uống rượu mà ông Tư vẫn cứ không nghe.

đồng hớt tép, ai đầy giỏ thì được thưởng.

(83) Cấm () hút thuốc!

- Nội dung yêu cầu là quy định chung mà mọi người phải thực hiện:

Yêu cầu () không đi lên cỏ!

Những trường hợp không thể, không nên rút gọn diễn tố 2 là:

(84) Xin mời cụ lên trên!

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

- Khi vai người nghe cao hơn người nói (để đảm bảo lịch sự):

(85) Thầy bảo ai lên bảng?

- Khi diễn tố 2 là tiêu điểm thông tin. Vi dụ:

- Thầy bảo anh lên bảng.

Câu hỏi (85) trong tình huống hội thoại có nhiều cách trả lời đầy đủ hoặc rút

gọn nhưng diễn tố 2 là điều người hỏi quan tâm nên không thể rút gọn được.

2.2.3. Diễn tố thứ 3: Vai nội dung hành động

Diễn tố thứ 3 của VTCK là một vị ngữ, có thể chỉ gồm một vị từ hành động

(86) Tôi sai nó đi.

(87)

(VTHĐ) hoặc một VTHĐ kèm theo bổ ngữ của nó. Ví dụ:

Tôi đề nghị anh Ba ngày mai nhanh chóng đón xe đi thành phố đến gặp ông Sáu để nhận tài liệu!

Ở câu (86), diễn tố 3 có cấu tạo là một vị từ. Ở câu (87), diễn tố 3 có cấu

tạo là một ngữ vị từ, trong đó có VTHĐ làm trung tâm “đón” và các bổ ngữ

xoay quanh nó (thời gian, phương tiện, cách thức, mục đích).

Vì cái hành động ở diễn tố 3 là hành động mà người nghe phải thực hiện

theo yêu cầu cuả người nói cho nên đây chỉ có thể là một hành động [+chủ ý].

(88) Nó nằng nặc giục mẹ bắc cháo ra.

(89) Con không cho u nằm nữa!

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Hành động đó có thể là hành động chuyển tác hay vô tác. Ví dụ:

Thực tế có những phát ngôn trong đó diễn tố 3 không phải là một VT [+chủ

(90)

ý] mà là một VT [- chủ ý]. Ví dụ:

(91)

Tao yêu cầu mày biến!

Tôi mong anh trở thành người tốt!

Biến vốn là một vị từ quá trình vô tác chuyển thái [- chủ ý]. Con người ta

không thể nào tự mình, chủ động làm thay đổi mình từ một trạng thái tồn tại

sang một trạng thái không tồn tại. Cho nên ở ví dụ (90) chỉ có thể hiểu biến có

nghĩa là di chuyển từ nơi này đến một nơi nào khác (tương tự: Tao yêu cầu mày

đi khỏi đây!). Và như vậy biến trong ví dụ (90) trở thành một VTHĐ di chuyển

[+ chủ ý].

Trơ là một vị từ quá trình vô tác chuyển thái [- chủ ý], về lý thuyết, không

thể tham gia được trong kết cấu cầu khiến như ở ví dụ (91). Nhưng ở đây có lẽ

trong tình huống nói năng đã có một sự lược giản. Một cách nói đầy đủ có thể

là:

 Tôi mong anh phấn đấu trở thành người tốt!

 Tôi mong anh cố gắng trở thành người tốt!

Trong một số ngữ cảnh (rất ít) diễn tố 3 cũng có thể được rút gọn. Ví dụ:

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(92) Con không khiến u ()! Con không khiến u mang con đi ! (93) Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên:

(Nam Cao- Một bữa no)

- Mời bà phó ()!

Nhưng cần lưu ý là, ở một số VTCK lâm thời như bảo, dặn,… sự vắng mặt

của diễn tố 3 có khi sẽ làm thay đổi cấu trúc cơ bản của câu. Nguyễn Vân Phổ

có nhận xét về trường hợp này như sau: “Sự vắng mặt của vị từ thứ hai sẽ biến

cấu trúc của toàn câu trở thành cấu trúc trần thuật với vị từ chính là vị từ nói

(94) Ông Nam đã bảo cậu Hải làm tường trình về sự cố ở xưởng nhuộm. (94’) Ông Nam đã bảo cậu Hải về sự cố ở xưởng nhuộm.

năng thông tin” [31,tr.145]. Ví dụ:

Ở câu (94), bảo là VTCK biểu thị hành động ông Nam yêu cầu Hải (đối thể)

thực hiện một việc, đó là tường trình về sự cố ở xưởng nhuộm. Còn ở câu (94’),

bảo là VT nói năng - thông tin biểu thị hành động ông Nam nói cho Hải (tiếp

thể) biết về sự cố ở xưởng nhuộm.

Về vị trí, BNND luôn đứng ngay sau BNĐT, rất ít trường hợp (trong câu

cầu khiến tường minh) BNND được người nói đưa lên đầu câu xem là tiêu điểm

(95) Tôi đề nghị các em im lặng!  Im lặng! Tôi đề nghị các em!

(96) Tôi xin thề tuyệt đối trung thành với Tổ quốc!  Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc! Xin thề!

thông báo cần nhấn mạnh như ở các ví dụ sau:

Là một VTHĐ [+ chủ ý] nên diễn tố 3 hầu như là diễn tố bắt buộc có mặt

(97) Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế! (Tô Hòai – Vợ chồng A Phủ)

(98) Bố sai em đi mua thuốc lá.  Bố sai em làm việc ấy.

(99) Chỉ huy ra lệnh cho họ bắn vào đám biểu tình.

trong kết cấu cầu khiến, không thể thay thế được. Những cách nói như:

 Chỉ huy ra lệnh cho họ làm như thế.  Chỉ huy ra lệnh cho họ hành động như thế.

đòi hỏi những quy định rất nghiêm ngặt: phải có văn cảnh để hồi chỉ hoặc khứ

chỉ, phải có từ ‘làm’ hoặc ‘hành động’ đứng trước các từ, ngữ thay thế (những

VTHĐ mua, bắn, đi, đứng, lấy, cho,v.v. đều có chung một ý nghĩa khái quát là

‘làm’ hay ‘hành động’).

Trường hợp này, có tác giả đã cho rằng BNND ở diễn tố 3 vốn là một

VTHĐ đã được thay thế bằng một danh ngữ [41,tr.51]. Có hay không có một

kết cấu tham tố của VTCK mà diễn tố 3 là một danh ngữ, ta hãy xét các ví dụ

(100) Tôi khuyên anh một việc.

(101) Tôi khuyên anh một câu.

dưới đây có BNND là một danh ngữ đứng sau BNĐT:

Có thể thấy ngay các câu dạng trên không tồn tại độc lập bởi chúng chưa

phải là một câu trọn nghĩa. Việc, điều, ý, câu, chuyện,v.v. là những danh từ trừu

tượng, trống nghĩa. Để người nghe hiểu được, chúng phải được giải thích rõ

hơn bằng một ngữ đoạn, một tiểu cú theo sau, kiểu như:

 Tôi khuyên anh một câu, đó là…

 Tôi khuyên anh một việc: (anh) nên…

(102) Con chỉ xin bà một điều: bà đừng nói xấu cách mạng.

(Nguyễn Huy Tưởng – Một phút yếu lòng)

Ví dụ:

Trong trường hợp này, “một câu”, “một việc”, một điều, v.v. khi được giải

thích ra cũng chính là cái hành động mà người nghe cần thực hiện theo lời

khuyên răn của người nói.

(103) Anh nên khuyên nó một câu.

Nhưng trường hợp sau đây thì có khác:

Đây là một phát ngôn có giá trị tự nghĩa. Khi cải biến nó, ta có:

 *Anh khuyên nó.

 *Anh nên nó.

 Anh nên khuyên nó.

Rõ ràng là trung tâm ngữ nghĩa đã được đặt vào “nên” với hai diễn tố là

“khuyên” và “nó”. Câu vẫn mang ý nghĩa cầu khiến nhưng cái lõi của sự tình

không phải do một VTCK làm trung tâm (nên là một VT tình thái).

Nói chung, VTCK luôn là một VT có 3 diễn tố (vai tác thể, vai đối thể, vai

nội dung hành động). Các trường hợp thay thế, đảo trật tự hay rút gọn là rất ít,

chỉ mang tính lâm thời, tùy vào ngữ cảnh cho phép.

Đã từng có những quan điểm khác khi phân tích một kết cấu cầu khiến:

- Coi phần gồm diễn tố thứ hai và thứ ba là một kết cấu chủ vị làm bổ ngữ

(104)

(BN) cho vị từ trung tâm (VTTT). Chẳng hạn trong ví dụ:

Tôi sai nó đi.

xem nó đi là một tiểu cú làm BN cho VTTT sai.

- Thừa nhận hai mối quan hệ cú pháp: giữa VTTT với diễn tố 2 như trong

một kết cấu vị từ bổ ngữ và giữa diễn tố 2 với diễn tố 3 như trong một kết cấu

chủ vị. Nói cách khác danh ngữ chỉ diễn tố 2 vừa là bổ ngữ của VTTT, vừa là

chủ ngữ của VT biểu thị diễn tố 3.

- Coi kết cấu cầu khiến, cũng như kết cấu gây khiến-kết quả, là sự thể hiện

ở bề mặt của một cấu trúc sâu gồm hai kết cấu chủ vị tôi sai nó và nó đi rút gọn

lại:

S

C1 C2

NP VP NP VP

V NP

(S: câu, C: mệnh đề/tiểu cú, NP: ngữ danh từ, VP: ngữ vị từ, V: vị từ)

Tôi sai nó nó đi

Về vấn đề này, Nguyễn Thị Quy đã có nhận xét như sau:

“Trong cách phân tích 1, kết cấu cầu khiến bị lẫn lộn với kết cấu gồm vị từ

nhận thức nói năng có bổ ngữ chỉ nội dung của nó. Thật ra “sai nó đi” không

có nghĩa là sai điều sau đây: “Nó đi”, mà là sai nó làm một việc là đi. Ở đây có

cả sự lẫn lộn giữa bình diện cú pháp (hình thức) và bình diện nghĩa (nội dung).

Về phương diện cú pháp, nó đi không thể là một cấu trúc chủ - vị (một tiểu cú)

vì nó không thể tình thái hóa bằng một trong 110 từ tình thái (trừ đừng đi với

bảo, khuyên).

Cách phân tích 2 giả định một sự cô đúc cú pháp, và cách phân tích 3 giả

định một sự cải biến từ cấu trúc sâu có gạt bỏ một tham tố.

Điều đã dùng để phê phán cách phân tích 1 cũng có hiệu lực đối với hai cách

phân tích này: nó đi không thể là một cấu trúc chủ - vị.

Qua biểu đồ hình nhánh trên đây, ta thấy ở cấu trúc sâu, tức ở cấu trúc

nghĩa, ta có hai câu: 1. tôi sai nó, và 2. nó đi. Cách phân tích này còn phần nào

có lý nếu dùng cho kết cấu gây khiến-kết quả: Tôi bẻ nó gãy. Tôi bẻ nó và nó

gãy. Ở đây tôi bẻ nó có đủ tư cách làm câu và nó gãy cũng vậy. Còn ở trường

hợp câu cầu khiến thì tôi sai nó là một câu tỉnh lược, vì thiếu mất một diễn tố

bắt buộc của vị từ sai, và nó đi như đã nêu rõ trên đây, không hề có tư cách của

một câu. Vả lại, tôi sai nó đi chỉ phản ảnh một sự thể, một hành động do tôi

làm, còn nó chưa hề làm gì hết, và có thể không bao giờ làm gì hết.

Cho nên, cách phân tích thích hợp nhất với nghĩa của vị từ cầu khiến là coi

danh ngữ và vị ngữ đi sau vị từ chính như là hai bổ ngữ của nó”[32,tr.146].

Cần phải thấy rằng trong cấu trúc của một ngữ đoạn có VTCK làm trung

tâm, tuy diễn tố thứ 3 là một VTHĐ có chủ thể là diễn tố thứ 2 nhưng quan hệ

giữa diễn tố 2 và diễn tố 3 không phải là một quan hệ Đề - Thuyết, hay nói cách

khác không làm thành một tiểu cú. Sở dĩ như vậy, xét cho cùng, chính nghĩa

của VTCK làm trung tâm đã chi phối tất cả các ngữ đoạn phụ kết với nó. Đứng

sau một VTCK phải có hai tham tố bắt buộc: ai đó (vai đối thể) - làm một việc

gì đó (vai nội dung). Điều này cũng được thể hiện rõ qua các dấu hiệu hình thức

và quy tắc cú pháp.

Để xác định tư cách của các thành phần đứng sau VT (là một hay nhiều

tham tố, là một kết cấu Đề - Thuyết hay một ngữ đoạn chính phụ hoặc đẳng lập)

ta có thể dùng những thủ pháp phân tích ngữ đoạn như sau:

a) Trắc nghiệm lược bỏ. Khi lược bỏ một thành phần đứng sau VT, câu

được tạo mới vẫn có nghĩa, hoặc không thay đổi ý nghĩa cơ bản thì VT chỉ có

một diễn tố (tức là thành phần bị lược bỏ không phải là tham tố bắt buộc). Ví

(105) Tôi thấy nó đi.

dụ:

 Tôi thấy nó.

Thấy, nói, biết, nghĩ, tin tưởng,v.v. là những VT cảm nghĩ nói năng thông

tin. Loại VT này khi làm trung tâm của vị ngữ cũng có thể có nhiều ngữ đoạn

tham gia làm bổ ngữ. Ở ví dụ (105) khi lược bỏ “đi”, phần còn lại “tôi thấy

nó” hoàn toàn có tư cách của một câu, nghĩa là “đi” không chịu sự chi phối của

VT trung tâm, mà chịu sự chi phối trực tiếp của “nó”. Như vậy, “nó đi” là một

kết cấu Đề – Thuyết. Trong khi ở câu (104):

Tôi sai nó đi.

 * Tôi sai nó.

khi lược bỏ “đi”, phần còn lại “tôi sai nó” là một ngữ đoạn chưa đủ nghĩa vì

không thể xác định được nội dung sai khiến là gì. Do đó “đi” ở câu (104)

không thể lược bỏ, “đi” là một tham tố bắt buộc của VTCK, “đi” có quan hệ

trực tiếp với VTTT “sai”.

b) Thao tác cải biến. Trong các câu cầu khiến tường minh, khi tách riêng

hai diễn tố và đảo trật tự của diễn tố 3 (vai nội dung) lên đầu câu, ý nghĩa cầu

Tôi đề nghị các em im lặng!  Im lặng ! Tôi đề nghị các em!

Tôi xin thề tuyệt đối trung thành với Tổ quốc!

 Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc! Xin thề!

khiến, mục đích cầu khiến vẫn không hề thay đổi. Như ở các ví dụ (95), (96):

(106) Tôi xem nó đi.  * đi, tôi xem nó (107) Tôi đánh nó đau.  *đau, tôi đánh nó

Trong khi việc này không thực hiện được ở các kết cấu như:

c) Trắc nghiệm mở rộng văn cảnh. Việc mở rộng văn cảnh nhằm mục đích

xem xét quan hệ của từng thành phần trong ngữ đoạn với các yếu tố thêm vào.

Ở câu (104), như đã nói, “sai nó đi” không có nghĩa là sai cái điều “nó đi”,

mà là sai nó làm một việc là “đi”. Vì vậy, đi hay chưa/không đi hoặc có thể

không bao giờ đi là việc của “nó”. Cho nên có thể thêm vào câu (104) nhưng

nó chưa/không đi mà vẫn chấp nhận được.

 Tôi sai nó đi, nhưng nó chưa đi.

 Tôi sai nó đi, nhưng nó không đi.

Trong khi đó, điều này không thể thực hiện được ở câu (105):

 *Tôi thấy nó đi, nhưng nó chưa đi.  *Tôi thấy nó đi, nhưng nó không đi.

Một ngữ đoạn có vị từ khác với ngữ đoạn không có vị từ ở chỗ nó có thể

được tình thái hóa, nghĩa là có thể có những nét đặc trưng về tình thái có ảnh

hưởng đến thái độ cú pháp của nó trong ngữ đoạn lớn hơn. Theo đó, giữa hai

thành phần khi thêm vào được các từ chỉ thời, thể, tình thái thì chúng là một kết

cấu Đề-Thuyết, còn không thì chúng là hai tham tố riêng biệt. Ở ví dụ (104)

không thể thêm vào những từ kiểu như: đang, sẽ, đã, muốn,v.v.

 * Tôi sai nó đang đi  * Tôi sai nó sẽ đi  * Tôi sai nó muốn đi

(108) Tôi biết nó đi.  Tôi biết nó đang đi.  Tôi biết nó sẽ đi.  Tôi biết nó muốn đi.

Trong khi điều này có thể xảy ra với các dạng câu như:

Khả năng kết hợp với rằng cũng là một dấu hiệu phân biệt. Rằng biểu thị

điều sắp nêu ra là nội dung thuyết minh cho điều vừa nói đến. Nếu thêm được

rằng vào trước hai ngữ đoạn đứng sau vị từ thì chúng là một kết cấu Đề–

Thuyết, còn không thì chúng là hai tham tố riêng biệt. So sánh hai trường hợp

thêm vào ví dụ (104) và (108):

 * Tôi sai rằng nó đi.  Tôi biết rằng nó đi.

ta thấy rõ “nó” và “đi” trong “sai nó đi” là hai tham tố riêng biệt.

d) Thủ pháp trắc nghiệm Jakhontov. Theo Jakhontov, trong hai từ có quan

hệ phụ kết với nhau, từ phụ thuộc bao giờ cũng dễ thay thế hơn bằng một từ có

quan hệ tương đương. Nói cách khác, tính phụ thuộc của yếu tố phụ ngữ trong

ngữ đoạn là khả năng được thay thế bằng một đại danh từ nhân xưng hay một vị

từ nghi vấn (dẫn theo Cao Xuân Hạo-14,tr.370).

Vận dụng thủ pháp này, ở ví dụ (104) và (105) ta có thể đặt câu hỏi - ai?

đối với đại từ nhân xưng và câu hỏi - làm gì? đối với một VTHĐ để xác định bổ

(104) Tôi sai nó đi.

ngữ trong các ngữ đoạn sai nó đi và thấy nó đi như sau:

(sai) nó *(sai) đi *(sai) nó đi

*(sai) nó đi

sai ai? sai làm gì? *(sai) nó (sai) đi (105) Tôi thấy nó đi.

*(thấy) nó đi

thấy ai? (thấy) nó *(thấy) đi * thấy làm gì? thấy việc gì? (cái gì) *(thấy) nó *(thấy) đi (thấy) nó đi

Như vậy, ở câu (104)“nó” là bổ ngữ đối thể và “đi” là bổ ngữ nội dung

hành động của VT “sai”. Còn ở câu (105), “nó đi” là một sự tình, một kết cấu

chủ vị, một tiểu cú bổ nghĩa cho VT “thấy”.

Những trình bày trên đây cũng đã chỉ ra sự khác biệt của VTCK trong

nhóm vị từ cảm nghĩ nói năng thông tin. Về nghĩa không có gì phải bàn nhưng

về cấu trúc tham tố trong một số dạng câu như trên, tuy hình thức có giống

nhau nhưng bản chất thì hoàn toàn khác.

Hiện nay vấn đề VTCK có ba diễn tố là điều đã được đương nhiên thừa

nhận. Đó là các tham tố bắt buộc thể hiện các vai nghĩa của nội dung sự tình (do

VTCK đảm nhiệm). Tất nhiên là một ngữ đoạn có VTCK làm trung tâm có thể

có hơn 3 tham tố; VTCK có thể kết hợp với các phụ ngữ để cùng với nội dung

sự tình làm nên cấu trúc nghĩa của câu. Các tham tố không bắt buộc này có thể

đứng trước hoặc sau VTCK để biểu hiện ý nghĩa bổ sung như:

(109) Mới sáu giờ rưỡi ngài đã giục bếp bưng mâm lên rồi.

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(110) Tôi đương bảo nó đi lấy thêm rượu.

Ý nghĩa thời, thể:

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(111) Con mời rồi nhưng bà không ăn.

(112) Anh muốn mời ai đi thì mời!

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(113) Con không cho u nằm nữa!

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(114) Ai cấm được người nghiện ăn tham. (Hồ Dzếnh- Chú Nhì)

 Ý nghĩa tình thái:

(115) Anh Dậu cũng rề rà giục vợ:

Ý nghĩa phương thức:

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(116) Bà lão lại khuyên chị Dậu: -Bác gái cũng phải ăn đi!

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

(117) Tôi đề nghị mấy lần rồi nhưng họ vẫn không thực hiện.

-Cháo sắp vữa cả rồi đấy. U nó ăn cho hết đi!

Sự kết hợp để thêm nghĩa như trên thường chỉ thấy ở các biểu thức cầu

khiến nguyên cấp.

Có thể mô tả cấu trúc ngữ nghĩa của VTCK như sau:

Ví dụ Vai nghĩa

nó Đối thể Tôi Tác thể

DIỄN TỐ 3 đi Nội dung

DIỄN TỐ 1 VT TRUNG TÂM DIỄN TỐ 2 sai VT cầu khiến

Bảng 3: Cấu trúc tham tố của một VTCK

Trong thực tế giao tiếp, cấu trúc này có thể được cụ thể trong nhiều mô hình

khác nhau. Chẳng hạn, những mô hình rút gọn như:

VT CẦU KHIẾN

DIỄN TỐ 2

DIỄN TỐ 3

Bảng 4: Cấu trúc rút gọn vai tác thể của một VTCK

Mời bà xơi cơm

DIỄN TỐ 3

DIỄN TỐ 1 VT CẦU KHIẾN

Bảng 5: Cấu trúc rút gọn vai đối thể của một VTCK

Nó đòi bế ra hè

DIỄN TỐ 1 VT CẦU KHIẾN

DIỄN TỐ 2

các cụ mời Tôi

Bảng 6: Cấu trúc rút gọn vai nội dung của một VTCK

VT CẦU KHIẾN

Xin mời!

Bảng 7: Cấu trúc rút gọn các vai tham tố của VTCK

Chu tố

Hoặc những mô hình có thành phần mở rộng (chu tố) như:

DIỄN TỐ 1

VTCK

DIỄN TỐ 2 DIỄN TỐ 3

thẳng thắn giám đốc đề nghị nâng lương

Chu tố

Họ Bảng 8: Cấu trúc mở rộng chu tố (đứng trước) của VTCK

DIỄN TỐ 1 VTCK

DIỄN TỐ 2 DIỄN TỐ 3

Bảng 9: Cấu trúc mở rộng chu tố (đứng sau) của VTCK

Những TPMR này thường là thành phần chỉ phương tiện, cách thức thực

Họ đề nghị bằng văn bản với giám đốc về việc nâng lương

hiện hành động cầu khiến.

2.3. Tư cách ngữ đoạn của vị từ cầu khiến

Là một thực từ, VTCK hoạt động trong câu với nhiều cương vị: làm thành

phần chính trong câu, làm trung tâm của một ngữ đoạn, làm phụ ngữ cho một

ngữ đoạn có bậc cao hơn.

2.3.1. Làm thành phần chính trong câu

2.3.2.1. Làm phần Đề của câu

Khi tham gia làm Đề của câu, là phạm vi của điều được nói đến ở phần

Thuyết, VTCK đã chuyển loại, được danh hóa trở thành một sự việc, một tiến

trình của hành động. Với tư cách này, một VTCK có thể làm Ngoại Đề, Khung

Đề hoặc Chủ Đề của câu.

(120) Năn nỉ ư, tôi chẳng cần!

(121) Cấm thì cấm tôi vẫn cứ làm!

(122) Chỉ thị là không được để ảnh hưởng xấu đến các công tác khác.

(Chu Văn – Bão biển)

Ví dụ:

Khi làm Đề, VTCK có thể là một ngữ đoạn độc lập hoặc cũng có thể là

trung tâm ngữ đoạn với các bổ ngữ của nó. Ví dụ:

(123) Khóc là nhục, rên hèn, van yếu đuối.

(124) Năn nỉ cũng chẳng có ích gì.

Ở cương vị Chủ Đề, VTCK có thể kết hợp với các tác tử đánh dấu sự

phân giới Đề - Thuyết như:

(125) Yêu cầu gì thì nói ngay đi!

(126) Biểu là phải nghe!

(127) Lệnh mà không chấp hành thì kỷ luật!

-Thì, là, mà:

(128) Van xin mãi cũng chẳng được gì.

(129) Nhờ một chút cũng không được!

- Cũng:

(130) Mới cho phép nghỉ hai ngày giờ lại xin nghỉ tiếp.

(131) Hễ mời thì mời cho đông đủ.

- Những yếu tố sóng đôi:

Có thể thấy đây là những phương tiện phân giới Đề-Thuyết, nhưng cũng

là những tác tử để nhấn mạnh phần Đề. Ngoài ra, sự nhấn mạnh này cũng được

(132) Cấm thì cấm nhưng tôi vẫn cứ làm.

(133) Khuyên thì khuyên chứ nó cũng chẳng nghe.

thực hiện bằng cách lặp lại VTCK ở phần Đề:

Qua khảo sát các cứ liệu, chúng tôi nhận thấy không thể rút gọn VTCK

làm Chủ Đề trong câu vì đây chính là phạm vi mà phần thuyết sẽ nói đến, khi

rút gọn phần Đề này, phần Thuyết sẽ không có nghĩa hoặc sẽ tạo ra một câu

mới không cùng loại. Chẳng hạn, khi rút gọn Đề ở câu (124), (132) ta được:

Năn nỉ cũng chẳng có ích gì.

 *Chẳng có ích gì

Cấm thì cấm nhưng tôi vẫn cứ làm.

 Tôi vẫn cứ làm.

Về trật tự, trong một số trường hợp, VTCK làm Đề có thể được đảo vị trí

đứng sau phần Thuyết. Tuy nhiên, việc đảo vị trí này cũng làm thay đổi nghĩa

của câu và chức năng của các thành phần.

- Kiến nghị của chúng ta đã được Ban Giám đốc chấp nhận.

Ví dụ:

- Cấm thì cấm nhưng tôi vẫn cứ làm.

 Ban Giám đốc đã chấp nhận kiến nghị của chúng ta.

 Tôi vẫn cứ làm. Cấm thì cấm.

Chỉ ở Ngoại Đề và Khung Đề, việc đảo trật tự là có thể còn giữ được ý

nghĩa của câu (tuy tiêu điểm thông tin có khác). Nhưng lúc này ngữ đoạn có

VTCK làm Đề đã mang một chức năng khác trong câu: làm trạng ngữ hoặc làm

phụ ngữ trong ngữ VT.

- Đối với kiến nghị của anh em công nhân, chúng ta phải xem xét giải

quyết.

- Kiến nghị của các anh ấy hả, Ban Giám đốc đã bác rồi.

 Chúng ta phải xem xét giải quyết kiến nghị của anh em công nhân.

- Năn nỉ ư? Tôi chẳng cần!

 Ban Giám đốc đã bác kiến nghị của các anh rồi.

 Tôi chẳng cần năn nỉ.

2.3.2.2. Làm phần Thuyết của câu

Đây là chức năng chính yếu của các loại VT. Khả năng làm phần Thuyết

của VTCK phần nào đã được đề cập đến khi xem xét đặc điểm về nghĩa và các

vai nghĩa của nó ở mục 2.1 và 2.2. Ở đây, chúng tôi sẽ trình bày thêm một số

đặc điểm đáng chú ý.

Thuyết là phần nội dung thuyết minh cho phạm vi của Đề. Phần thuyết

thường biểu hiện hành động, quá trình, tính chất, trạng thái, quan hệ, nói chung

là nội dung của sự tình. Ở một phần Thuyết có VTCK làm trung tâm, chính ý

nghĩa cầu khiến đã quyết định tính chất nội dung và chi phối các BN của nó. Có

thể hình dung kết cấu phần Thuyết này như sau:

VTCK + BNĐỐI THỂ + BNNỘI DUNG

Ví dụ:

(134) Bác sĩ bắt tôi phải kiêng ăn.

VTCK : bắt

BN ĐT : tôi

BNND : kiêng ăn

Kết cấu này có thể được mở rộng thêm bằng các phụ ngữ đứng ngay

trước hoặc sau VTCK, trực tiếp bổ sung nghĩa tình thái cho VT hoặc cho cả

(135) Tôi đã khuyên rồi nhưng nó không nghe.

(136) Tôi cũng vẫn chưa khuyên nó.

phần Thuyết. Ví dụ:

Khả năng mở rộng hơn hai bổ ngữ ngay sau VTCK hầu như là rất ít.

Trong các cứ liệu có được, chúng tôi nhận thấy trong cấu trúc ngữ pháp của

VTCK còn có một số loại BN khác. Đó là BN phương tiện, BN cách thức với

một trật tự khá tự do.

(137) Họ van xin bọn lính cứu họ bằng thứ tiếng Mỹ bập bõm.

(138) Cô ấy bảo tôi làm việc này với giọng nhỏ nhẹ như thế làm sao tôi từ chối

Ví dụ:

(139) Cảnh sát kêu gọi bọn khủng bố thả con tin bằng chính cái loa cầm tay

được.

(140) Qua máy bộ đàm, viên sĩ quan ra lệnh cho tiểu đoàn rút lui.

(dẫn theo Nguyễn Vân Phổ – TL31;tr.145)

của trường.

Nhưng đối với BNĐT và BNND thì trật tự của hai BN này là khá nghiêm

ngặt, BNND luôn đứng sau BNĐT. Điều này, về cơ bản do chính nghĩa của

VTCK chi phối: phải có đối thể trước, rồi đối thể đó mới thực hiện được nội

dung yêu cầu. Như trong các ví dụ sau:

Tôi sai nó đi.

 *Tôi sai đi nó.

Tôi yêu cầu các em im lặng!

 *Tôi yêu cầu im lặng các em

Trong khi ở một số cấu trúc khác, ta thấy sự hoán đổi này có thể thực hiện

được, đặc biệt với sự trợ giúp của những giới từ, mà không làm thay đổi cấu

(141) Tôi tặng quyển sách cho anh.

trúc và nghĩa cơ bản của câu:

(142) Con mèo nhảy làm lọ hoa đổ.

 Tôi tặng cho anh một quyển sách.

 Con mèo nhảy làm đổ lọ hoa.

Trong nói năng, đôi khi VTCK ở phần Thuyết được lặp lại nhằm nhấn

(143) Tôi đã cấm là cấm cho đến cùng.

(144) Tôi đã yêu cầu là yêu cầu cho bằng được.

mạnh, giải thích rõ cái mức độ, giới hạn của Thuyết:

Qua khảo sát các cứ liệu, chúng tôi nhận thấy không thể rút gọn VTCK

giữ chức năng làm phần Thuyết trong câu vì đây chính là trọng tâm thông báo

(145) Tôi yêu cầu em đi về ngay!

của câu. Trong thực tế ta vẫn thấy có cách nói rút gọn như thế này:

 Em đi về ngay!

Đây vẫn là câu có ý nghĩa cầu khiến, nhưng không phải là câu có VTCK

trong phạm vi xem xét của luận văn.

2.3.2. Làm trung tâm của ngữ vị từ

VTCK có khả năng tự mình làm trung tâm cho một ngữ đoạn. Đó có thể

là trung tâm của một ngữ VT làm thành phần chính trong câu (phần Thuyết),

(146) Ông cụ sai anh Tư Bền rót chén nước.

(Nguyễn Công Hoan – Kép Tư Bền)

trực tiếp biểu hiện nội dung của sự tình:

hoặc có thể là trung tâm của một ngữ VT làm phụ ngữ cho một ngữ đoạn có bậc

(147) Tôi năn nỉ Xếp cũng là vì anh thôi!

(148) Anh không có quyền yêu cầu quá đáng như vậy!

cao hơn.Ví dụ:

Cần lưu ý là VTCK làm trung tâm của một ngữ đoạn không có nghĩa là

VTCK có vị trí đứng đầu ngữ đoạn (dù thường là như thế). Vai trò trung tâm

của VTCK trong một ngữ đoạn có được chính là do nghĩa của VTCK quy định

các thuộc tính ngữ nghĩa và ngữ pháp của cả đoạn: biểu hiện nội dung sự tình,

chi phối sự có mặt, trật tự, và các khả năng của những thành tố xung quanh.

Ở vai trò này, VTCK có khả năng chi phối trực tiếp các bổ ngữ của nó mà

không cần có giới từ. Tuy nhiên, qua các cứ liệu, chúng tôi tìm thấy có thể có

một số giới từ sau:

- Đứng trước BNĐT: với, đối với, cho.

(149) Kiến nghị với anh cũng chẳng được gì!

(150) Tôi ra lệnh cho anh phải đi ngay!

Ví dụ:

- Đứng trước BNND: về, về việc.

(151) Chúng ta sẽ kiến nghị với ban giám đốc về việc nâng lương.

Ví dụ:

- Đứng trước BN cách thức: bằng, với.

Ví dụ:

Họ van xin bọn lính cứu họ bằng thứ tiếng Mỹ bập bõm.

(Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ – TL31;tr.145)

Cô ấy bảo tôi làm việc này với giọng nhỏ nhẹ như thế làm sao tôi từ chối được.

- Đứng trước BN phương tiện: qua, bằng.

Ví dụ:

Cảnh sát kêu gọi bọn khủng bố thả con tin bằng chính cái loa cầm tay của trường.

(dẫn theo Nguyễn Vân Phổ – TL31;tr.145)

Qua máy bộ đàm, viên sĩ quan ra lệnh cho tiểu đoàn rút lui.

Những trường hợp như trên thường rất ít gặp trong nói năng hàng ngày.

2.3.3. Làm phụ ngữ trong một ngữ đoạn

VTCK có thể làm phụ ngữ cho một ngữ đoạn danh từ hoặc ngữ đoạn vị

(152) Lời cầu xin của ông lão đánh cá đã được chấp nhận.

từ. Ví dụ:

(153) Tôi muốn khuyên nó một câu.

Khi làm phụ ngữ trong một ngữ đoạn, VTCK luôn đứng sau và có quan

hệ phụ thuộc trực tiếp với trung tâm của ngữ đoạn, có giá trị bổ sung ý nghĩa

hoặc cụ thể hóa mục đính của hành động nêu ở trung tâm. Ở câu (152), cầu xin

là phụ ngữ bổ sung thêm ý mong muốn, cầu khiến cho danh từ lời. Ở câu (153),

khuyên là phụ ngữ chỉ rõ nôi dung (có ý khuyên) của hành động muốn.

2.4. Vị từ cầu khiến và câu ngôn hành

Trong phần này, luận văn đề cập đến một số đặc điểm về mặt dụng học

của VTCK, mà tập trung là miêu tả khả năng ngôn hành của VTCK và tính lịch

sự trong hành động cầu khiến.

2.4.1. Câu ngôn hành

Theo như cách phân loại của J.L.Austin, hành động tại lời (illocutionary

act) là hành động mà người nói thực hiện ngay khi phát ngôn. Câu ngôn hành là

câu biểu thị hành động thực hiện ngay khi nói ra đó (còn gọi là phát ngôn ngữ

vi).

(154) Tôi hứa là sẽ không nói với bất cứ ai về vấn đề này.

Ví dụ:

Bản thân người nói khi phát ngôn “hứa” cũng đồng thời đã thực hiện

hành động hứa hẹn, cam kết với người nghe giữ bí mật vấn đề.

Theo Đỗ Hữu Châu, “phát ngôn ngữ vi là sản phẩm của một hành vi ở lời

khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Phát ngôn ngữ vi

có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó. Kết cấu lõi đó được gọi

là biểu thức ngữ vi”[6,tr.91]. Cũng theo tác giả này, một biểu thức ngữ vi được

đánh dấu bằng các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời như sau:

- Các kiểu kết cấu ứng với từng hành vi ở lời,

- Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi,

- Ngữ điệu,

- Quan hệ giữa các thành tố trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ

cảnh,

- Các động từ ngữ vi.

Cao Xuân Hạo gọi các động từ ngữ vi là vị từ ngôn hành (VTNH) và đưa ra

những điều kiện để một vị từ có được tính ngôn hành như sau [14,tr.227]:

i. Chủ ngữ của nó phải là ngôi thứ nhất (chủ ngữ ấy có thể ẩn); nếu đó là

ngôi thứ hai hay thứ ba, câu nói có được chỉ có thể là trần thuật,

ii. Vị từ ấy phải được dùng ở thì hiện tại của thức chỉ định trong mệnh đề

chính của câu, vì chỉ có như thế thì câu nói mới có thể đồng thời là cái hành

động được nó biểu hiện,

iii. Ý nghĩa ngôn hành chỉ thật sự minh bạch khi nào vị từ hữu quan có một

bổ ngữ chỉ đối tượng tiếp nhận cái hành động ngôn hành được biểu thị, và đối

tượng đó thường phải là ngôi thứ hai.

VTCK khi dùng trong câu ngôn hành cũng tuân thủ theo các điều kiện

nghiêm ngặt đó. Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, VTCK có nhiều khả năng

rất đặc biệt.

2.4.2. Khả năng ngôn hành của VTCK

- VTCK có khả năng tự mình làm thành một biểu thức ngôn hành tường

(155) Bây giờ đến phần góp ý của các bạn. Xin mời!

(156) Các bạn có đồng ý đề nghị với thầy cho đi tham quan không?

minh. Ví dụ:

-Đồng ý! Đề nghị đi!

Khả năng này thường rất ít xảy ra vì phải đặt trong ngữ cảnh hoặc phải kết

hợp với từ tình thái để hiển ngôn rõ ý cầu khiến.

- Sự có mặt của VTCK không phải bao giờ cũng cho ta một câu cầu khiến

tường minh. Chỉ những VT tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện ngôn hành nói

(157) Em đã hết sức mời cụ nhưng cụ một mực từ chối.

(Khái Hưng – Nữa chừng xuân)

(158) Mời cụ lớn xơi nước ạ!

(Khái Hưng – Nữa chừng xuân)

trên mới có thể tham gia vào các phát ngôn ngữ vi. So sánh hai ví dụ sau:

VT “mời” trong câu (157) không ở thì hiện tại. Đây là lời thuật lại của

Huy (với chị Mai), Huy đã hết sức mời bà Án dùng cơm nhưng bà một mực từ

chối. Câu (158) là lời ông lão Hạnh mời bà Án xơi nước. Ở đây vai người nói

(được tỉnh lược) ở ngôi thứ nhất, VT “mời” ở thì hiện tại (cùng với dấu hiệu

thể hiện tình thái lịch sự trong hội thoại: ạ). Khi phát ra lời mời, ông lão Hạnh

đã đồng thời thực hiện cái hành động mời bà Án dùng nước. Như vậy, trong các

biểu thức ngữ vi tường minh, VTCK thể hiện rõ mục đích cầu khiến; trong khi

ở các biểu thức ngữ vi nguyên cấp, VTCK chỉ có ý nghĩa trần thuật. Cũng như

(159) U van con, u lạy con, con có thương thầy thương u thì con cứ đi với u! (160) Thằng Dần thúc giục mẹ đi tìm chị nó.

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

trong các ví dụ sau:

Câu (159) là lời van xin, năn nỉ của chị Dậu nói với cái Tý, đề nghị cái Tý đi

đến nhà Nghị Quế. Đây là câu có ý nghĩa cầu khiến. Câu (160) là lời của tác giả

thuật lại việc thằng Dần đòi chị Dậu đem cái Tý về. Đây là kiểu câu trần thuật,

không phải là câu có mục đích cầu khiến.

Có thể khẳng định rằng những VTCK xuất hiện trong câu ngôn hành là

những VT có giá trị thực hiện một hành động cầu khiến; còn những VTCK xuất

hiện trong câu trần thuật là những VT có giá trị miêu tả một hành động cầu

khiến.

Đây có thể được xem là một tiêu chí để phân biệt những VTCK đồng nghĩa,

gần nghĩa (cùng có nghĩa từ vựng khái quát nhưng khác nhau ở cái nghĩa dụng

pháp trong khi hành chức: là một VT trần thuật hay một VT ngôn hành). Căn cứ

vào đây, ta có thể lập được một danh sách các VTCK theo tiêu chí ngôn

hành/trần thuật như: mời/mời mọc, khuyên/khuyên can, cấm/cấm đoán, xin/xin

xỏ, bảo/sai bảo, v.v. Ví dụ:

(161)

Tôi mời anh đi xem phim!

(161’)

(162)

* Tôi mời mọc anh đi xem phim

Nó mời mọc nhiều lần nhưng tôi không nhận lời.

Mời trong câu (161) là một VT ngôn hành. Khi muốn thực hiện một hành

động mời thì chỉ có thể nói như câu (161) chứ không thể nói như ở câu (161’).

Mời mọc trong câu (162) là một VT trần thuật, có giá trị miêu tả lại hành động

mời đã được thực hiện trước đó. Tương tự:

(163)

(164)

Tôi khuyên anh đừng hút thuốc nữa!

Tôi đã khuyên can nhiều lần nhưng anh vẫn không nghe.

Để thực hiện một hành động khuyên răn, can gián ai làm điều gì đó,

người ta không thể nói : * Tôi khuyên can anh đừng… mà phải là Tôi khuyên

anh… hoặc Tôi can anh…

(165)

Trong thực tế ta vẫn bắt gặp những cách nói sau:

(166)

Đừng mời mọc nhau hoài như thế!

Khuyên can anh mãi cũng chẳng được gì.

Đây hoặc là những phát ngôn không mang ý nghĩa cầu khiến (như ở ví dụ

166), hoặc là những phát ngôn cầu khiến nhưng được thực hiện bằng những

phương tiện khác, không phải bằng một VTCK mang tính ngôn hành (như ở ví

dụ 165).

- Trong thực tế phát ngôn có nhiều phương thức, phương tiện để thể hiện ý

cầu khiến. Nhưng thực ra, những phát ngôn cầu khiến không có mặt của VTCK

dễ gây ra hiện tượng mơ hồ về mục đích nói, không có tác động tích cực đối với

(167)

người nghe. Như trong ví dụ sau:

Ở đây nóng quá nhỉ?

ta có thể hiểu theo nhiều cách:

+ Một lời thông báo về thời tiết (trời nóng).

+ Một câu hỏi xã giao.

+ Một lời đề nghị (mở cửa sổ, bật quạt, đi ra ngoài),v.v.

- Theo lý thuyết, một biểu thức ngữ vi tường minh chỉ có giá trị hiện thực

trong một ngữ cảnh nhất định và thực hiện chỉ một lần. Tuy nhiên qua khảo sát

hoạt động của VTCK, chúng tôi nhận thấy có những biểu thức cầu khiến có giá

trị lâu dài, thích hợp cho nhiều ngữ cảnh. Đó là những quy ước của một cộng

đồng mà bất cứ ai, bất cứ ở đâu cũng phải thực hiện như: Cấm đổ rác! Cấm hút

thuốc! Cấm bóp còi! Xin giữ im lặng!v.v. Có khi đó là những cảm xúc cầu xin,

mong muốn,v.v. trong thi ca mà tác giả nói ra không phải chỉ với một người,

(168) Nhà em xa cách quá chừng

không phải chỉ để một lần:

Em van anh đấy, anh đừng yêu em!

(Nguyễn Bính-Vài nét rừng)

(Phan Thị Thanh Nhàn-Hương thầm)

(169) Cô gái như chùm hoa lặng lẽ, Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.

- Một vấn đề liên quan đến khả năng ngôn hành của VTCK, đó là “sự có

mặt của các yếu tố biến thái sẽ làm mất hiệu lực ngữ vi của động từ ngữ vi,

chuyển động từ ngữ vi thành động từ miêu tả thông thường”[6,tr.99]. Tuy

nhiên, qua các cứ liệu khảo sát, chúng tôi nhận thấy điều này không hẳn như

(170)

vậy. Xét ví dụ sau:

(171)

Mẹ chỉ khuyên con là phải biết chọn bạn mà chơi.

(172)

Tôi cũng nhờ anh giúp cho việc đó.

Tôi cứ mời cô đi xem hát tối nay.

Các phụ ngữ chỉ, cũng, cứ trong những ví dụ trên không làm mất đi hiệu

lực ngữ vi. Khuyên, nhờ, mời ở đây vẫn là những VTNH. Các câu trên vẫn là

những câu ngôn hành mang ý cầu khiến, trong đó chỉ có giá trị nhấn mạnh ý

duy nhất của hành động cầu khiến, cũng có giá trị nêu lên ý đồng tình, không

khác của hành động cầu khiến, cứ có giá trị khẳng định sự nhất quán, không

thay đổi của hành động cầu khiến. Tất nhiên, sự có mặt của những từ này trong

câu bao giờ cũng đòi hỏi một sự quy chiếu đến các yếu tố đã được người nói,

người nghe thừa nhận.

Như vậy, VTCK có khả năng tự mình làm một ngữ đoạn, hoặc làm trung

tâm của một ngữ đoạn trong câu ngôn hành. Về cơ bản, VTCK chỉ có hiệu lực

ngôn hành khi được dùng ở ngôi thứ nhất, thì hiện tại, trong một ngữ cảnh nhất

định. Sự có mặt của VTCK trong câu ngôn hành làm cho phát ngôn tránh được

sự mơ hồ về mục đích nói, có giá trị thực hiện một hành động cầu khiến.

2.4.3. Tính lịch sự trong các phát ngôn cầu khiến tường minh

Lịch sự được xem là một quy tắc tối thiểu, có ảnh hưởng đến các phương

thức lựa chọn trong giao tiếp. Một số quan điểm hàng đầu về vấn đề này như

sau (dẫn theo Đỗ Hữu Châu – 6,tr.257]:

R.Lakoff (1973) là người mở đầu cho việc nghiên cứu lịch sự trong ngôn

ngữ. Bà xem lịch sự là những quy tắc đối với quan hệ liên cá nhân và chỉ ra ba

loại quy tắc lịch sự như sau:

- Không được áp đặt (người nói phải lựa chọn các hành động của mình sao

cho giảm tối thiểu các mức độ mà người nói áp đặt đối với người nghe),

- Dành cho người đối thoại sự lựa chọn (người nghe có cương vị ngang

bằng với người nói, người nói bày tỏ ý kiến sao cho ý kiến của mình không bị

phản bác hay từ chối),

- Khuyến khích tình cảm (tỏ ra quan tâm thực sự đến nhau).

Leech (1983) dựa trên khái niệm “tổn thất” (lost) và “lợi ích” (benefit) đã

đưa ra các phương châm lịch sự trong giao tiếp là:

- Phương châm khéo léo,

- Phương châm rộng rãi,

- Phương châm tán thưởng,

- Phương châm khiêm tốn,

- Phương châm tán đồng,

- Phương châm thiện cảm.

Theo Leech, mức độ lịch sự của một hành vi ở lời phụ thuộc vào ba nhân tố:

- Phụ thuộc vào bản chất của hành vi (gây “lợi” hay “thiệt” cho người nghe),

- Phụ thuộc vào hình thức ngôn từ thể hiện hành vi đó,

- Tùy thuộc vào mức độ quan hệ giữa vai người nói và người nghe.

Brown và Levinson xây dựng lý thuyết về lịch sự dựa trên khái niệm “thể

diện”. Lịch sự là một chiến lược nhằm giảm thiểu sự “đe dọa thể diện” (âm tính

hoặc dương tính) của các bên giao tiếp.

Một số các tác giả Việt ngữ như Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn

Thiện Giáp, Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Quang, Tôn Nữ Mỹ Nhật, Lê Thị

Kim Đính,v.v. cũng quan tâm xem xét hành động cầu khiến tiếng Việt dưới

nhiều góc độ.

Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng việc sử dụng phương thức cầu khiến

trực tiếp là dễ đe dọa đến thể diện của người nghe, nhất là khi có dùng những vị

từ mang tính mệnh lệnh, bắt buộc. Tuy nhiên, vấn đề không hoàn toàn như vậy.

Vì cầu khiến là một hành động có mức đe dọa thể diện cao nên người nói luôn

tìm cách để gia tăng tính lịch sự, giảm thiểu mức độ tổn thương đối với người

nghe.

Theo Lê Thị Kim Đính [TL10], tiếng Việt có những phương thức thể hiện

lịch sự trong các phát ngôn cầu khiến như sau:

- Dùng TPMR là yếu tố hô gọi. Ví dụ: Anh ơi, cho em xin miếng nước! Chị

ơi, em nhờ chị nấu cơm giúp nhá?v.v.

- Dùng TPMR là yếu tố cảm thán. Ví dụ: Trời ơi, đề nghị con đừng làm thế

nữa! Thôi chết, mẹ khuyên con nên xin lỗi bố đi! v.v.

- Dùng TPMR là yếu tố rào đón. Ví dụ: Đã 12 giờ rồi, em xin cô cho phép

em nghỉ tay ăn trưa. Vì lý do an toàn, yêu cầu quý khách không sử dụng điện

thoại di động.v.v.

- Dùng TPMR là yếu tố bù đắp. Ví dụ: Xin lỗi, đề nghị anh mở túi ra cho

chúng tôi kiểm tra. Chỉ mình anh mới có quyền hạn trong việc này, xin anh

hãy giúp em.v.v.

- Dùng TPMR là các từ tình thái. Ví dụ: Em tha thiết xin anh đừng làm

phiền em nữa! Mời bà xơi thêm chén nữa đi ạ!

- Dùng từ xưng hô theo quan hệ thân tộc. Ví dụ: Chị cho em xin vài viên

phấn màu. Bố ơi mời bố vào quán con uống tí nước đã.v.v.

- Xưng hô theo danh hiệu, chức vụ. Ví dụ: Xin cô giáo xem xét cho cháu

được tiếp tục học. Em xin thủ trưởng cho phép em nghỉ một buổi sáng nay.v.v.

- Xưng hô theo tên riêng. Ví dụ: Chú Huyên, nhờ chú chỉ giúp con bài tập

này đi! Lan à, đề nghị con ngủ sớm đi!v.v.

và nhiều phương thức gián tiếp khác như: câu phủ định, khẳng định, nghi

vấn,v.v.

Là những phát ngôn cầu khiến tường minh có ý yêu cầu, van xin, nhờ

vả,v.v. khi nói ra, người nói rất dễ gây phương hại đến thể diện của người nghe

(dù chấp nhận hay không chấp nhận). Nhưng qua những cách nói “rào trước

đón sau”, “xưng khiêm hô tôn” như thế làm cho lời cầu khiến trở nên lịch sự

hơn, dễ tiếp nhận hơn.

Thống kê của chúng tôi trên 273 cứ liệu cũng cho thấy, xin và mời là hai

VTCK được dùng với một tần số nhiều hơn cả chính cũng nhằm mục đích gia

VI TỪ

TỔNG

CÂU NGÔN HÀNH

CÂU TRẦN THUẬT

SỐ

CẦU KHIẾN

SỐ

TỔNG SỐ TỶ LỆ % TỔNG SỐ

TỶ LỆ %

TT

xin

46

37

80,0

9

20,0

1

35

15

43,0

20

57,0

2 mời

24

3

12,5

21

87,5

3 bảo

18

2

11,0

16

89,0

4 bắt

17

3

18,0

14

82,0

5 nhờ

13

0

0,0

13

100

6 giục

13

3

23,0

10

77,0

7

khuyên ...

Bảng 10: Thống kê tần số sử dụng của VTCK (trích phụ lục 4).

tăng tính lịch sự cho các phát ngôn cầu khiến. (x.phụ lục 3).

Đặc biệt xin còn có khả năng đi kèm với các hành vi nói năng khác như hứa

hẹn, cam kết,v.v. để nâng cao thể diện của các bên giao tiếp như: xin thề, xin

hứa, xin cảm ơn, xin cam đoan là,v.v.

Ngoài ra, trong một số phạm vi giao tiếp, rất nhiều tình huống trực tiếp đưa

ra những lời mệnh lệnh, yêu cầu mà vẫn không đe dọa đến thể diện của người

nghe.

Trong thương mại, người bán rất vui lòng khi được khách hàng yêu cầu cho

(173)

xem mẫu:

Xin chị cho tôi xem chiếc áo kia!

(174)

hoặc trả giá:

Đề nghị chị bớt cho chút đỉnh!

Được đáp ưng đề nghị của khách hàng ‘thượng đế’, kể cả nhiều khách

hàng khó tính, là niềm vui của người bán hàng. Đây là tình huống “đôi bên

cùng có lợi” nên không hề phương hại đến thể diện của bên nào.

Trong phong cách hành chính - công vụ, rất nhiều văn bản yêu cầu, đề

nghị, xin, xin phép, v.v. là những khuôn mẫu quy ước mà các vai giao tiếp đều

phải chấp hành.

Ví dụ:

(175) Giám đốc Sở GD&ĐT quyết định cử ông Nguyễn Văn A làm Phó chánh

(176) Giám đốc Sở GD&ĐT đề nghị Hiệu trưởng các trường báo cáo kết quả

văn phòng Sở GD&ĐT.

kiểm tra chất lượng đầu năm.

Trong các ví dụ trên, không thể thay đổi cách xưng hô hoặc thêm vào các

TPMR để làm giảm nhẹ tính mệnh lệnh, áp đặt.

Cũng như vậy, rất nhiều nghi thức nói là những công thức phát ngôn buộc

phải thực hiện trong các lễ, hội.

(177) Đề nghị tất cả đứng lên chỉnh đốn trang phục, chuẩn bị làm lễ chào cờ!

(178) Yêu cầu các đồng chí cho biểu quyết bằng cách đưa tay!

(179) Xin hội nghị cho một tràng pháo tay!

Ví dụ:

Những câu nói như trên mang tính áp đặt rất cao nhưng lại được tuân thủ

nghiêm ngặt. Bởi vì trong ngữ cảnh như thế không có sự phương hại mà còn

đem đến “lợi” cho các bên giao tiếp. Đó có thể là sự thành công của hội nghị

hoặc sự đồng tình cao của nhiều người về một vấn đề chung nào đó.

Trong phong cách khoa học, đôi khi ta cũng bắt gặp những yêu cầu bắt

buộc như thế khi cần giải quyết một vấn đề nào đó.

(180) Yêu cầu học sinh học thuộc lòng những bài ca dao đã học.

(Ngữ văn 10, tập 1, 2006- Sách GV, tr.133)

(181) Yêu cầu quan sát hình thức và số lượng nhiễm sắc thể của một số loài

Ví dụ:

(Sinh học 11, 1999, tr.90)

động vật, thực vật trên tiêu bản mẫu có sẵn.

Nói chung, những cách nói có tính áp đặt trong các phạm vi giao tiếp như

trên không hề có sự đe dọa thể diện của các bên giao tiếp mà thực chất còn làm

tăng giá trị của các nghi thức giao tiếp xã hội.

2.5. Tiểu kết

Ở chương này chúng tôi đã xem xét trước hết là các đặc điểm ngữ nghĩa

của VTCK, trên cơ sở đó đã chỉ ra các chức năng cú pháp của nó trong khi hành

chức. Đồng thời, những kiểm nghiệm của chúng tôi trên các cứ liệu thực tế

cũng đã làm rõ thêm khả năng hoạt động của một loại VTNH trong một số

phạm vi hành chức.

VTCK là một vị từ [+ động], [+ chủ ý]. Nghĩa chung của các VTCK là

yêu cầu, sai khiến, mong muốn ai đó làm một việc gì đó. Chính cái nghĩa này là

lõi của sự tình đã chi phối cấu trúc tham tố của một VTCK: diễn tố 1 quy định

chủ thể của hành động cầu khiến (vai tác thể), diễn tố 2 quy định đối tượng thực

hiện việc mà chủ thể cầu khiến đề nghị, yêu cầu (vai đối thể), diễn tố 3 quy định

nội dung hành động mà chủ thể cầu khiến yêu cầu đối tượng thực hiện. Một số

tham tố không bắt buộc có thể tham gia vào (đứng trước hoặc sau VTCK) có

chức năng tình thái hóa nội dung sự tình.

Là một thực từ, VTCK có khả năng tham gia tạo câu ở các cương vị: làm

Đề hoặc làm Thuyết của câu, làm trung tâm của ngữ vị từ, và làm phụ ngữ cho

một ngữ đoạn nội tâm có bậc cao hơn.

Hành động cầu khiến vốn mang tính áp đặt cao, dễ đe dọa thể diện của

các bên giao tiếp. Cho nên, VTCK ít được dùng trong câu ngôn hành (x.phụ lục

4). Tuy nhiên, ở một số phạm vi giao tiếp, nhiều biểu thức cầu khiến tường

minh phải được tuân thủ nghiêm ngặt nhằm làm tăng giá trị của các nghi thức

giao tiếp xã hội.

KẾT LUẬN

1. Khi bắt đầu đặt vấn đề xem xét vị từ cầu khiến trong tiếng Việt, mục

đích của chúng tôi là:

Về mặt lý luận, luận văn hy vọng sẽ miêu tả được các đặc điểm cơ bản

(về ngữ nghĩa và ngữ pháp) của VTCK trong tiếng Việt, hệ thống và phân loại

các VTCK, góp phần phân biệt vị từ cầu khiến (directive verb) với vị từ gây

khiến (causative verb) và vị từ tình thái (modal verb) mang ý nghĩa cầu khiến.

Trên cơ sở đó, qua khảo sát một số cứ liệu thực tế, luận văn cũng chỉ ra một số

đặc điểm ngữ dụng của VTCK trong hoạt động giao tiếp.

Về mặt thực tiễn, các kết luận có được có thể giúp ích cho người sử dụng

tiếng Việt (với tư cách là chủ thể cầu khiến) đạt được hiệu quả cao khi thực

hiện hành động cầu khiến đối với một người nào đó (với tư cách là đối thể thực

hiện điều cầu khiến). Đồng thời, những lý giải trong luận văn cũng mong được

góp phần làm rõ thêm một số nội dung giảng dạy từ ngữ tiếng Việt hiện nay

trong nhà trường.

Kết quả thực hiện, trước hết đã cho chúng tôi thấy rõ hơn những thuộc

tính bản chất cũng như khả năng hoạt động của VTCK. Vị từ cầu khiến là vị từ

biểu hiện một hành động điều khiển một đối tượng thực hiện một hành động

nào đó.

Các vị từ cầu khiến trong tiếng Việt là: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề nghị,

kiến nghị, cấm, nghiêm cấm, bắt buộc, bắt, cho, cho phép, phân công, phái,

can, cử, bảo, sai, mời, nhờ, xin, xin phép, khuyên, cầu, cầu xin, van, van xin,

năn nỉ, nài nỉ, lạy, v.v.

Theo đó, VTCK không chỉ là những VTHĐ biểu hiện hành động ra lệnh,

sai bảo, yêu cầu, nhờ vả, mà còn cả hành động mời mọc, xin phép.

VTCK trong tiếng Việt được chúng tôi phân chia thành nhiều nhóm loại

theo các tiêu chí về nghĩa và tiêu chí chức năng, đó là:

a) VTCK chính danh và VTCK lâm thời

Một VTCK được xem là chính danh khi nó luôn mang nghĩa cầu khiến

trong mọi tình huống ngôn ngữ. Đó là những từ như: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề

nghị, kiến nghị, cấm, nghiêm cấm, bắt buộc, phái, can, mời, cử, sai, khuyên,

cầu xin, van, van xin, năn nỉ, nài nỉ,v.v.

VTCK lâm thời là những vị từ chỉ có nghĩa cầu khiến trong hoàn một cảnh

nói năng nào đó như: bảo, cho, lạy, xin, mượn, nhủ, kêu, đòi, v.v.

b) VTCK yêu cầu thực hiện/không thực hiện một việc

- VTCK yêu cầu thực hiện một việc nào đó: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề nghị,

kiến nghị, bắt buộc, bắt, cho, cho phép, phân công, phái, can, cử, bảo, sai, mời,

nhờ, xin, xin phép, khuyên, cầu, cầu xin, van, van xin, năn nỉ, nài nỉ, lạy, v.v.

- VTCK yêu cầu không thực hiện một việc nào đó: can, cấm, nghiêm cấm,

cấm chỉ, cấm tiệt, v.v.

c) Phân loại VTCK theo các mức độ hành vi:

i. VTCK mệnh lệnh – bắt buộc: yêu cầu, ra lệnh, lệnh, đề nghị, sai, cấm,

nghiêm cấm, bắt, bắt buộc,v.v.

Đây là những vị từ biểu hiện hành động cầu khiến mang tính áp đặt cao

nhưng có khả năng hiện thực. Người nói luôn có vị thế giao tiếp cao hơn người

nghe (về vai vế, tuổi tác, chức vụ,v.v.). Người nói có quyền ra lệnh, đề nghị,

yêu cầu người nghe được phép/không được phép thực hiện/không thực hiện một

hành vi nào đó và người nghe gần như phải chấp hành (dù muốn hay không

muốn). Người nghe bị đặt vào tình huống phải thực hiện lời đề nghị, thỉnh cầu,

không có sự chọn lựa nào khác.

ii. VTCK đề nghị – lịch sự: phái, can, cử, khuyên, bảo, cho, mời, nhờ, xin,

xin phép,v.v.

Đây là những vị từ biểu hiện hành động cầu khiến mang sắc thái trung tính,

được sử dụng trong nhiều phong cách. Người nói và người nghe có vị thế giao

tiếp ngang bằng hay không nhưng hành động cầu khiến không có sự áp đặt, ép

buộc mà là đề nghị, thỏa thuận để người nghe thống nhất, đồng ý thực

hiện/không thực hiện một việc nào đó. Người nghe không bị đặt vào trách

nhiệm phải thực hiện mà là sự cần thiết để thực hiện điều mà người nói yêu cầu.

iii. VTCK van xin – khẩn thiết: cầu xin, van, van xin, năn nỉ, nài nỉ, lạy,v.v.

Đây là những vị từ biểu hiện hành động khẩn cầu cấp thiết. Vị thế các vai

giao tiếp không ngang bằng. Người nói có khi lớn hơn người nghe về địa vị,

tuổi tác nhưng phải hạ thấp thể diện của mình để đặt người nghe vào một vị thế

có thể diện cao hơn, có quyền ban phát, cho tặng, thực hiện điều mà người nói

mong muốn đạt được.

Nghĩa của một VTCK với hai thuộc tính chung nhất là [+động] và [+chủ

ý], cùng với khả năng hành chức của nó cũng đã chi phối màn diễn của các

tham tố xoay quanh nó. Một VTCK có ba tham tố bắt buộc, đó là diễn tố 1 quy

định chủ thể của hành động cầu khiến (vai tác thể), diễn tố 2 quy định đối tượng

thực hiện việc mà chủ thể cầu khiến đề nghị, yêu cầu (vai đối thể), diễn tố 3 quy

định nội dung yêu cầu đối tượng thực hiện (vai nội dung hành động). Một số

tham tố không bắt buộc có thể tham gia vào (đứng trước hoặc sau VTCK) có

chức năng tình thái hóa nội dung của sự tình.

2. Các vấn đề nói trên, về cơ bản, một số tác giả đi trước cũng đã có đề

cập trong các công trình ngôn ngữ học. Những quan điểm này đã cung cấp cho

chúng tôi nhiều kiến thức cơ bản, đồng thời có giá trị định hướng cho việc

nghiên cứu tiếp tục của chúng tôi.

Một số đóng góp của luận văn về đề tài này như sau:

- Luận văn đã tiếp tục miêu tả các đặc điểm của VTCK tiếng Việt, góp

phần nhận diện rõ thêm VTCK trong sự phân biệt với VT gây khiến và VT tình

thái có ý nghĩa cầu khiến.

- Định nghĩa của chúng tôi về VTCK, một danh sách các VTCK được

phân loại theo nhiều góc nhìn đã phần nào lý giải khả năng hoạt động của một

VTCK, hay nói cách khác đúng hơn là khả năng thực hiện hành động cầu khiến

của con người, bằng lời nói, trong hoạt động giao tiếp thường ngày.

- Đặc biệt là luận văn cũng đã bước đầu đề cập đến khả năng hành chức

của VTCK trong các phong cách chức năng ngôn ngữ. Rõ ràng là VTCK có

một phạm vi sử dụng hết sức rộng rãi không chỉ trong phong cách khẩu ngữ,

trong phong cách văn chương, mà đặc biệt là cả trong phong cách khoa học và

nhất là phong cách hành chính - công vụ. Có những biểu thức cầu khiến bắt

buộc phải sử dụng trong nghi thức hội nghị, trong các văn bản hành chính để

đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính chính thức xã hội ở một phạm vi giao tiếp

chuyên biệt.

- Những cứ liệu mới là ví dụ minh họa cho các luận điểm cũng được lý

giải theo phương pháp phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa đã nêu ra thực tế hết sức

phong phú, phức tạp trong cách diễn đạt, nghĩa là cách nhận thức thế giới của

người Việt khi muốn chi phối, điều khiển một con người, một vật, một việc

theo ý chủ quan của mình.

- Một danh sách VTCK trong tiếng Việt, gần 300 cứ liệu được trích từ các

tác phẩm, và các số liệu thống kê của chúng tôi, tất cả được đúc kết ở phần phụ

lục, sẽ có giá trị tham khảo cho những ai quan tâm đến đề tài này.

Tất nhiên là luận văn không thể xem xét hết các cứ liệu, nhất là những lời

nói trong hoạt động giao tiếp thường ngày. Thêm vào đó, hiểu biết của bản thân

về đề tài cũng còn giới hạn. Cho nên, chắc hẳn là luận văn không tránh khỏi

những thiếu sót. Hy vọng là những vấn đề chưa bàn sâu, chưa bàn đến sẽ được

chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn trong một dịp khác.

==//==

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

1. Chu Thị Thủy An, 2002, Đặc điểm ngữ nghĩa và khả năng họat động của các động từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt, Hội nghị khoa học, Hà Nội.

2. Diệp Quang Ban, 2000, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 3. Nguyễn Tài Cẩn, 1975, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp.

4. Lê Cận-Phan Thiều, 1983, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Giáo

dục.

5. Đỗ Hữu Châu, 1998, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục. 6. Đỗ Hữu Châu, 2001, Đại cương ngôn ngữ học, tập 1 & tập 2, Nxb Giáo dục. 7. Nguyễn Đức Dân, 1999, Lôgích và tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 8. Nguyễn Đức Dân, 2000, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục. 9. Phạm Tất Đắc, 1950, Phân tích tự loại và phân tích mệnh đề, Nxb ABC Hà

Nội.

10. Lê Thị Kim Đính, 2006, Lịch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt, Luận

văn Thạc sĩ ĐHSP Tp.HCM.

11. Lê Đông-Nguyễn Văn Hiệp, 2003, Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học,

Tạp chí Ngôn ngữ số 07.

12. Đinh Văn Đức, 2001, Ngữ pháp tiếng Việt-Từ lọai, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội.

13. Nguyễn Thiện Giáp, 2000, Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 14. Cao Xuân Hạo,1998, Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm- ngữ pháp- ngữ nghĩa,

Nxb Giáo dục.

15. Cao Xuân Hạo,1991, Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb KHXH. 16. Cao Xuân Hạo (chủ biên),2000, Câu trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 17. Cao Xuân Hạo (chủ biên),2002, Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục, Nxb Khoa

học xã hội.

18. Cao Xuân Hạo (chủ biên),2005, Ngữ pháp chức năng tiếng Việt- Ngữ đoạn và

Từ loại, Nxb Giáo dục.

19. Cao Xuân Hạo-Hoàng Dũng, 2005, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu

Anh-Việt Việt Anh, Nxb Khoa học xã hội.

20. Vũ Thị Thanh Hương, 1999, Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng

Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 01.

21. Trần Trọng Kim-Bùi Kỷ-Phạm Duy Khiêm,1940, Văn phạm Việt Nam, Nxb

Tân Việt.

22. Đào Thanh Lan, 2004, Ý nghĩa cầu khiến của các động từ NÊN, CẦN, PHẢI

trong câu tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 11.

23. Đào Thanh Lan, 2005, Vai trò của hai động từ MONG, MUỐN trong biểu thị

ý nghĩa cầu khiến ở tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 07.

24. Nguyễn Thị Lương, 2006, Câu cầu khiến tường minh và câu cầu khiến nguyên

cấp, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 05.

25. Lê Văn Lý, 1972, Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo

dục.

26. Dư Ngọc Ngân, 2002, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (Phần Từ loại), ĐHSP

Tp.HCM.

27. Nguyễn Thị Thanh Ngân, 2007, “Nhờ” và “yêu cầu”trong tiếng Việt, Tạp chí

Ngôn ngữ và Đời sống số 04.

28. Hòang Trọng Phiến, 1980, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp.

29. Hoàng Phê (chủ biên), 1997, Tự điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng. 30. Đào Nguyên Phúc, 2005, Về vấn đề phân loại hành vi ngôn ngữ “xin phép”,

Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 12.

31. Nguyễn Vân Phổ, 2006, Một số vấn đề ngữ pháp, ngữ nghĩa của vị từ nói năng tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.HCM

32. Nguyễn Thị Quy, 1995, Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó, Nxb

Khoa học xã hội.

33. Nguyễn Kim Thản,1997, Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 34. Hòang Văn Thung-Lê A,1995, Ngữ pháp tiếngViệt, ĐHSP Hà Nội 1. 35. Nguyễn Thị Thu Thủy, 2007, Câu ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh, Luận văn Thạc sĩ ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.HCM

36. Bùi Đức Tịnh, 1967, Văn Phạm Việt Nam, Nxb Khai Trí, Sài Gòn. 37. Bùi Minh Toán, 1999, Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 38. Hoàng Tuệ, 2001, Tuyển tập Ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM. 39. Bùi Thị Kim Tuyến, 2005, Hành động cầu khiến trong tiếng Việt, Luận văn

cao học ĐHSP Tp.HCM.

40. Lê Đình Tường, 2007, Cú - Đơn vị nghiên cứu hành động cầu khiến trong thơ

tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 04.

41. Phạm Thanh Vân, 2005, Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của vị từ cầu khiến

tiếng Việt, Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP Tp.HCM.

Tiếng Anh: 43. J.L.Austin, 1955, How to do things with words, Oxford University. 44. Laurence C.Thompson, 1967, A Vietnamese Grammar, Washington

University.

==//==

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1:

DANH SÁCH CÁC VỊ TỪ CẦU KHIẾN TIẾNG

VIỆT

VÍ DỤ

Số TT

VỊ TỪ

NGHĨA TỪ VỰNG (Theo Từ điển tiếng Việt- Hoàng Phê, 1997)

1 bảo

Nói cho biết để phải theo đó mà làm

2 bắt

Khiến phải làm việc gì, không cho phép làm khác đi

Thầy bảo ngục tốt quét dọn lại cái buồng cuối cùng. (Nguyễn Tuân – Chữ người tử tù) Ông chủ bắt anh đánh lại tí phấn cho thêm xuân sắc. (Nguyễn Công Hoan - Kép Tư Bền)

3

Buộc phải làm

Ông Bới cứ bắt buộc lão lên ngồi ghế chủ tịch đoàn trong Đại hội nông dân xã.

bắt buộc

(Nguyễn Minh Châu – Phiên chợ Giát)

Ép phải làm

4 bắt ép

Đừng bắt ép họ làm việc đó. Ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm

x.bảo

5 biểu

dây cóc kèn.

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau)

Họ buộc anh ấy thôi việc.

6 buộc

địch

ra

hàng.

7 bức

Bức (TL29; tr.90)

Làm cho hoặc bị lâm vào thế nhất thiết phải làm điều gì đó trái ý muốn Làm cho hoặc bị dồn vào thế bắt buộc phải làm điều hoàn toàn trái với ý muốn

x.bức

8 bức ép

Ông chủ bức ép công nhân quá đáng.

Tôi can anh đừng làm như vậy.

9

can

Làm cho thấy không nên mà thôi đi, không làm, khuyên đừng làm

10

Khuyên can vua hoặc người trên

Ông dâng sớ can gián vua.

can gián

Nó đã định làm thì không ai can ngăn nổi.

11

Can không cho làm

can ngăn

(TL29; tr.104)

Em cấm anh không được đi

12 cấm

Không cho phép làm việc gì đó hoặc không cho phép tồn tại

Cấm hẳn, không cho phép tiếp tục

13

cấm chỉ

14

Ngăn cấm một cách độc đoán

mô! (Đỗ Viết Nghiệm – Tấm ảnh còn lại) Cấm chỉ không cho đi chơi nữa. (TL29; tr.117) Cấm đoán cuộc hôn nhân một cách trái phép.

cấm đoán

(TL29; tr.117)

15

Cấm tiệt không cho đi chơi. (TL29; tr.117)

cấm tiệt

Tôi cần anh giúp tôi việc đó.

16 cần

Cấm hoàn toàn một cách nghiêm khắc Không thể không làm vì nếu không làm thì sẽ có hại

17

Xin xỏ, nhờ vả người có quyền thế

Biết tự trọng, không cầu cạnh ai. (TL29; tr.122)

cầu cạnh

Anh chẳng cầu khẩn ai vì anh

18

Cầu xin một cách khẩn khoản

cầu khẩn

không muốn mang ơn ai cả. (Nguyễn Minh Châu-Mùa trái cóc ở miềnNam)

Cái nhìn biểu lộ một vẻ cam chịu

đầy thấu hiểu

19 cầu xin

như muốn cầu xin tôi hãy thứ lỗi

Xin với ai điều gì một cách khẩn khoản, thiết tha

cho con trai bà.

(Nguyễn Minh Châu – Mùa trái cóc ở miền Nam)

Nhờ làm giúp việc gì

20 cậy

Cậy em em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

21

(Nguyễn Du-Truyện Kiều) Giáo viên hỏi và chỉ định học sinh trả lời.

Quyết định chọn và cử ra để làm việc gì

chỉ định

22 chỉ thị Vạch ra cho cấp dưới thi hành

niên

nòng

x. cho phép

23 cho

Cho ai được phép làm một việc gì

24

(TL29; tr.148) Huyện đã chỉ thị phải lấy dân quân và cốt. thanh làm (Chu Văn – Bão biển) A Phủ cho tôi đi. (Tô Hòai – Vợ chồng A Phủ) Cụ cho phép cháu tỏ bày cùng cụvài điều.

cho phép

25 cử

công

(Khái Hưng – Nửa chừng xuân) Hai Đảng ủy cử Tiệp và Thất làm chỉ trường. huy (Chu Văn – Bão biển)

Lựa chọn ra để chính thức giao cho giữ một trách nhiệm hoặc làm một việc gì

26 cưỡng Bắt phải làm điều không chịu làm

Nó đã không thích thì đừng cưỡng nó. (TL29; tr.226)

27

x. cưỡng bức

28

Bắt phải làm dù không muốn cũng không được

cưỡng bách cưỡng bức

Ép cho phải làm điều trái ý muốn

29

cưỡng ép

Bảo cho biết điều cần nhớ để làm

30 dặn

Quan trên cưỡng bức chúng tôi đi phu. Bọn chúng dùng đủ mọi cách cưỡng ép Chiến khai ra nơi đóng quân của đồng đội. Hôm qua ông dặn bố nó nhà con sáng nay phải đi chợ sớm.

về đơn

31 đề nghị

Nêu lên một yêu cầu mong được chấp nhận, được giải quyết hoặc phải làm theo

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn) Tôi đề nghị đưa Nguyệt sang bên vị. kia ngầm (Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

Nó đòi bế ra hè.

32 đòi

(Nguyên Hồng – Buổi chiều xám)

Tỏ cho người khác biết cần phải đáp ứng, thỏa mãn điều mong muốn nào đó của mình

33 đòi hỏi

Độc giả đòi hỏi báo chí phải lên tiếng.

Bắt buộc phải có, phải làm vì cần thiết như vậy

(TL29; tr.319)

Đắn đo cân sắc cân tài,

34 ép

Ép cung cầm nguyệt, thử

Tác động đến nhằm làm cho phải miễn cưỡng nghe theo, làm theo

bài quạt thơ.

(Nguyễn Du – Truyện Kiều)

35

ép buộc

Tự tôi, tôi phải lựa chọn lấy một người đàn ông chứ chẳng ai ép buộc tôi cả.

Dùng quyền lực bắt phải làm điều trái với ý muốn

(Nguyễn Minh Châu -Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành)

36

ép nài

37 giục

Đốc Cung giục Vân Hạc đi cho kịp ngày.

(Ngô Tất Tố – Lều chõng)

x. nài ép Tác động đến bằng lời nói, động tác, cử chỉ nhằm làm cho làm việc gì đó nhanh hơn hoặc làm ngay, không để chậm

38 gọi

Các ông kí dịch gọi ông ra giữa đình.

Phát ra mệnh lệnh yêu cầu phải đến nơi nào đó

39 hạ lệnh

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng) Ban chỉ huy hạ lệnh tiến công. (TL29; tr.400)

Ra lệnh, truyền xuống cho cấp dưới thi hành

x.giục

40 hối

41 kèo nài Nài xin

Hối con đi mau cho kịp. (TL29; tr.443) Kèo nài mãi cho kì được mới thôi. (TL29; tr.465)

42 kèo nèo

Kèo nèo mãi cũng vô ích. (TL29; tr.465)

Đảng kêu Núp đi tập kết ra Bắc.

43 kêu

Nài nỉ một cách dai dẳng cho kì đạt được ý muốn Nói để cầu xin giải quyết một điều gì

(Nguyên Ngọc-Đất nước đứng lên) Nó muốn kêu nài bác Tuân rủ lòng thương.

44 kêu nài

Xin, nài bằng những lời nói đi nói lại nhiều lần

45 kêu gọi

Lên tiếng yêu cầu, động viên làm việc gì

(Học Phi – Một Lớp học) Chúng mình sẽ kêu gọi mọi người vững lòng ở lại. (Chu Văn – Bão biển)

Van xin bằng những lời thống thiết Cố bà Đức Sinh (…) gục xuống

46 kêu

van

kêu van Huệ Chi hãy nghe lời cố bà mà cứu lấy cả nhà.

(Nguyên Hồng – Cửa biển)

47

x. cầu khẩn

khẩn cầu

Tiếng Hùng khẩn khỏan: “Nghe tao nếu không sẽ chết tất cả”.

48

Tỏ ra tha thiết, cố nài nỉ để người khác chấp nhận yêu cầu của mình

khẩn khoản

49 khiến

Làm cho phải vận động, hoạt động theo ý mình

50 khuyên

(Đỗ Viết Nghiệm – Tấm ảnh còn lại) Con không khiến u! Con không khiến u mang con đi! (Ngô Tất Tố- Tắt đèn) Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi.

(Nguyễn Tuân – Chữ người tử tù)

Nói với thái độ ân cần cho người khác biết điều mình cho là người đó nên làm

51

Khuyên bảo con cái cố gắng học hành.

bảo với thái độ ân cần cho biết điều hay lẽ phải, điều nên làm

khuyên bảo

(TL29; tr.497)

Họ khuyên can chị Dậu

52

đừng khóc.

Lựa lời nói cho biết là không nên làm để thôi không làm

khuyên can

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

khuyên lơn, dỗ dành mãi nó mới chịu nghe.

53

Khuyên bảo bằng những lời lẽ dịu dàng, tha thiết

khuyên lơn

54

(TL29; tr.498) Khuyên nhủ dần dần cho nó nghe. (TL29; tr.498)

Khuyên bảo bằng những lời lẽ dịu dàng

55

Khuyên nhủ và răn đe

Mười điều khuyên răn chúng sanh.

khuyên nhủ khuyên răn

56

Con lạy bu! Cay con lắm! Con lạy bu!

lạy

(Nam Cao-Trăng sáng)

Từ dùng trước từ chỉ người đối thoại khi mở đầu lời nói để tỏ thái độ cung kính hoặc ý cầu xin khẩn thiết.

súng.

57

x. ra lệnh

lệnh

Lệnh cho đơn vị nổ (TL29; tr.543)

58

lịnh

Họ mời ông lên nhà.

59 mời

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau)

x.lệnh Tỏ ý mong muốn, yêu cầu người khác làm việc gì một cách lịch sự, trân trọng

Mời mọc mãi mà chẳng ai chịu ăn.

60

x.mời

mời mọc

(TL29; tr.624) làm!

61 mượn Nhờ làm giúp việc gì

Không ai mượn anh (TL29; tr.632) Bà cụ không ăn khi Thứ cố nài bà cụ.

Khẩn khoản xin, yêu cầu

62 nài

(Nam Cao – Sống mòn)

63 nài ép

Khẩn khoản yêu cầu và cố ép người khác làm theo ý mình

Nài ép thế nào cũng không chịu nhận.

(TL29; tr.634)

Nhiều người nài nỉ xin đi theo.

64 nài nỉ

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau)

Nài một cách tha thiết, dai dẳng đến mức người ta khó lòng từ chối

65 nài xin Khẩn khoản xin, yêu cầu

66 năn nỉ Nói khẩn khoản để nài xin

Ai nấy nôn nao, thiếu điều muốn năn nỉ ông đi bắt sấu tức thì để họ coi cách thức.

x.năn nỉ

67 nằn nì

Cố nài cho được

68 nèo

69

Cấm không cho phép làm việc gì đó

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau) Ông chủ tịch ấy cứ nằn nì mãi hai ba lượt yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ. (Nam Cao – Đôi mắt) Nèo mẹ cho tiền. (TL29; tr.642) Ngăn cấm trẻ con hút thuốc lá. (TL29; tr.649)

ngăn cấm

70

Cấm ngặt, hoàn toàn không cho phép

nghiêm cấm

71 nhờ

Pháp luật nghiêm cấm học sinh chưa đủ tuổi quy định tham gia giao thông bằng xe phân khối lớn. Nhờ bác giới thiệu cho tôi tới chỗ chư tiên.

Yêu cầu người khác làm giúp cho việc gì

x. khuyên (thường là tự khuyên mình)

72 nhủ

73 nói

(Tản Đà - Giấc mộng con) Anh nhủ nó ở lại. (TL29; tr.703) Tôi nói huyện cho bốn người làm người Đảng.

x.bảo

74 phái

Cử đi làm việc gì với những yêu cầu nhất định

75 ra lệnh Đưa ra mệnh lệnh

76 rủ

Bảo cho người khác nghe theo để cùng làm với mình

(Nguyên Ngọc-Đất nước đứng lên) Chính ủy phái tôi đi tổ chức và chỉ huy trận phản kích. (Nguyễn Minh Châu – Cỏ lau) Lê nin đã ra lệnh cho Xô viết khu phố phải tìm căn nhà khác tươi tốt hơn. (Nguyễn Tuân – Tờ Hoa) Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi.

(Tô Hòai – Vợ chồng A Phủ)

rủ làm việc xấu

77 rủ rê

78

sai

Đừng rủ rê nhau trốn học nữa. Ông cụ sai anh Tư Bền rót chén nước.

Bảo người dưới làm việc gì đó cho mình

79

sai bảo x. sai

80

Bắt phải làm theo lệnh

sai khiến

81

sai phái Sai đi làm việc này việc nọ

(Nguyễn Công Hoan – Kép Tư Bền) Cụ sai bảo người nhà dọn dẹp chuẩn bị đón khách. Họ sai khiến con bé làm việc như một đứa ở. Bị sai phái làm những việc vặt. (TL29; tr.814)

Ông thúc chúng ăn nhanh

82

Giục liên tiếp không để chậm trễ

thúc

rồi còn về kẻo khuya.

(Nam Cao – Một đám cưới)

83

thúc ép

Ép buộc và thúc giục, bắt phải làm, phải chấp nhận

84

x. thúc

Bị thúc ép phải nghe theo. (TL29; tr.929) Thằng Dần thúc giục mẹ đi tìm chị nó.

thúc giục

85

Ra lệnh gọi

triệu

86

truyền

Ra lệnh

87

x. truyền

truyền gọi

88 van

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn) Ai dại gì mà đứng ì ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng. (Nam Cao – Chí Phèo) Một viên quan chạy vào truyền chàng ra quỳ ở trước sân điện. (Ngô Tất Tố - Lều chõng) Trẫm truyền gọi ngay Cống Quỳnh vào! Nhà em xa cách quá chừng Em van anh đấy, anh đừng yêu em!

Nói khẩn khoản, thiết tha và nhún nhường để cầu xin sự đồng ý, đồng tình

(Nguyễn Bính - Vài nét rừng)

89 van nài Cầu xin một cách tha thiết, dai dẳng

90 van lạy

Chi van nài mãi mới được cho thêm đồng bạc. Hắn quỳ sụp xuống van lạy xin tha tội chết.

Tự hạ mình cầu xin một cách nhẫn nhục

Nó van lơn tôi đừng đi.

91 van lơn Cầu xin một cách khẩn khoản

Nó van vỉ tôi cùng đi với nó.

92 van vỉ

Cầu xin một cách khẩn khoản, tha thiết

93 van xin

Duân van xin cho nghỉ trong giây lát rồi đi.

Cầu xin một cách khẩn khoản, nhẫn nhục

94 xin

Ngỏ ý với người nào đó mong người ấy cho mình cái gì hoặc đồng ý cho mình làm việc gì

95 xin xỏ Xin với thái độ tự hạ mình

(Lê Văn Hiến – Ngục Kom Tum) Con chỉ xin bà một điều: bà đừng nói xấu cách mạng. (Nguyễn Huy Tưởng – Một phút yếu lòng) Chạy chọt, xin xỏ cho con một chỗ làm.

96

x. xin

xin phép

(TL29; tr.1112) Cháu xin phép cụ, cháu phải đi đằng này có chút việc cần. (Khái Hưng – Nửa chừng xuân)

Xui trẻ con nói dối.

97 xui

(TL29; tr.1121)

Dùng lời lẽ dễ nghe tác động đến người khác nhằm làm cho nghe theo mà làm việc gì đó một cách thiếu suy nghĩ, thường là đáng lẽ không nên làm.

x. xúi giục

98 xúi

khác

về

Nó không về đâu mà xúi cho anh em trước. (Chu Văn – Bão biển)

99 xui bẩy x. xúi bẩy

Xúi bẩy người nọ, người kia gây mất đoàn kết.

100 xúi bẩy

Xui người khác làm bậy với dụng ý xấu

(TL29; tr.1121)

101

Xúi và thúc đẩy người khác làm việc sai trái với dụng ý xấu

xúi giục

Ông nghe tôi, (…) chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông nổi lên chống lại chúng tôi nữa. (Nguyễn Ái Quốc – Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu)

Tôi yêu cầu cô quên thằng

102 yêu cầu

Tân đi!

Nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người đó làm

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong)

PHỤ LỤC 2

PHÂN LOẠI VỊ TỪ CẦU KHIẾN TIẾNG VIỆT

VỊ TỪ

Chính danh

Lâm thời

Ghi chú

x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x

Số TT 1 bảo 2 bắt 3 bắt buộc 4 bắt ép 5 biểu 6 buộc 7 bức 8 bức ép 9 can 10 can gián 11 can ngăn 12 cấm 13 cấm chỉ 14 cấm đoán 15 cấm tiệt 16 cần 17 cầu cạnh 18 cầu khẩn 19 cầu xin 20 cậy 21 chỉ định 22 chỉ thị 23 cho 24 cho phép 25 cử 26 cưỡng 27 cưỡng bách 28 cưỡng bức 29 cưỡng ép 30 dặn 31 đề nghị 32 đòi 33 đòi hỏi 34 ép 35 ép buộc 36 ép nài

x x x x x x

x x x x x x x x x x x x

x x x x

x x x

x x x x x x x x x x x x

x x x x

x x x x

x x

37 giục 38 gọi 39 hạ lệnh 40 hối 41 kèo nài 42 kèo nèo 43 kêu 44 kêu nài 45 kêu gọi 46 kêu van 47 khẩn cầu 48 khẩn khoản 49 khiến 50 khuyên 51 khuyên bảo 52 khuyên can 53 khuyên lơn 54 khuyên nhủ 55 khuyên răn 56 lạy 57 lệnh 58 lịnh 59 mời 60 mời mọc 61 mượn 62 nài 63 nài ép 64 nài nỉ 65 nài xin 66 năn nỉ 67 nằn nì 68 nèo 69 ngăn cấm 70 nghiêm cấm 71 nhờ 72 nhủ 73 nói 74 phái 75 ra lệnh 76 rủ 77 rủ rê

sai sai bảo sai khiến sai phái thúc thúc ép thúc giục triệu truyền truyền gọi

x x

x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x

78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 van 89 van nài 90 van lạy 91 van lơn 92 van vỉ 93 van xin 94 xin 95 xin xỏ 96 xin phép 97 xui 98 xui bẩy 99 xúi 100 xúi bẩy 101 xúi giục 102 yêu cầu

PHỤ LỤC 3

DANH SÁCH CÁC CỨ LIỆU ĐƯỢC TRÍCH DẪN

Câu

Số TT

VTCK Trần thuật

VTCK Ngôn hành

Thư bảo Hoài uống một chút cho vui.

1

x

2

x

(Nam Cao - Quên điều độ) Lý Cường đâu! Tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước, mau lên.

(Nam Cao – Chí Phèo)

x

(Nam Cao - Sống mòn)

3 Y bảo lấy một cái đĩa nữa. 4 Cuội bảo Tuyển vừa cưa chấn song vừa hát

x

(Cựu Kim Sơn - Vượt ngục)

5

x

x

Bà quay mặt vào nhà bảo con Quy đem đến cho bà một khúc cây nhỏ. (Vũ Hồng – Bà Kim) 6 Thầy bảo ngục tốt nó quét lại cái buồng cuối cùng. (Nguyễn Tuân - Chữ người tử tù)

Trâu ơi! Ta bảo trâu này!

7

x

Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta. (Ca dao)

8 Tôi đương bảo nó đi lấy thêm rượu.

x

Như ý tôi thì bảo ông ta cưới chạy tang cho xong chuyện đi.

9

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ)

Nó bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về.

10

x

(Nam Cao - Một bữa no)

Tôi sẽ bảo Oanh đưa cho Thứ mỗi tháng vài chục bạc.

11

x

(Nam Cao - Sống Mòn)

Nên bảo vợ mày đem về cho mày một đĩa cá kho đấy chứ!

12

x

(Nam Cao - Sống Mòn)

Thím bảo chúng nó pha nước.

13

x

(Bùi Hiển - Hai anh học trò có vợ)

14 Ông chủ tịch huyện bảo cậu lái xe cho dừng ở truông Ách.

x

(Nguyễn Minh Châu - Phiên chợ Giát)

Chẳng lẽ bây giờ bảo người ta xuống đi bộ?

15

x

16

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng) (Ngô Tất Tố - Tắt đèn)

x

Ông bảo mày lấy thêm rượu!

Hắn toan quay lại bảo thị cởi áo đi nằm.

17

x

(Kim Lân – Vợ nhặt)

18

x

Đảng bảo đi đâu đi đó ngay.

(Ngô Tất Tố - Tắt đèn)

(Nguyên Ngọc- Đất nước đứng lên)

Trước lúc chết, anh ta bảo vợ bồng đứa con gái

19

x

nhỏ lại gần. (Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau) 20 Hai chàng liền bảo hai người đầy tớ phát hết đống gai góc đó.

x

(Ngô Tất Tố - Lều chõng)

21 Viên quan bộ Lễ bảo chàng qua cửa tả rồi vào bên trong.

x

(Ngô Tất Tố - Lều chõng)

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

23

x

24

x

22 Cô vội nhảy ùm xuống nước, bảo tôi tắt đèn đi. Quan kinh dẫn bảo Vân Hạc và các cống sĩ ra quỳ ở trước sân. (Ngô Tất Tố - Lều chõng) Ông cha Tây An-va-rê bảo chúng tôi đem nước giải chờ kiệu rước thánh Trần đi qua. (Chu Văn - Bão biển)

25 Ông chủ bắt anh đánh lại tí phấn cho thêm xuân sắc.

x

(Nguyễn Công Hoan - Kép Tư Bền)

x

27

x

26 Thêm một cháu Ái có làm gì mà bắt mẹ con phải xa nhau. (Khái Hưng - Nửa chừng xuân) Ông thấy anh vừa thắt giải áo vừa sụt sịt mếu máo, bèn bắt anh im đi.

(Nguyễn Công Hoan - Kép Tư Bền)

Chuyện cũ mà bắt tui kể đi kể lại hoài.

28

x

(Vũ Hồng – Bà Kim)

29

x

Bà bắt Điền cưới vợ. (Nam Cao - Trăng sáng)

30

x

Ai bắt mình khổ mà mình khổ? (Nam Cao – Cười)

Vâng, chính thế, đốc tờ bắt kiêng.

31

x

(Nam Cao – Quên điều độ)

Cụ bắt phải xin triện của ông nhận thực cho nữa.

32

x

33

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn) Vì tên Dậu là thân nhân của hắn, cho nên chúng con bắt phải nộp thay. (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Anh ruột tản cư về nhà em mà đến lúc vợ đẻ em bắt ra một

34

x

cái lều ngòai vườn mà đẻ.

(Nam Cao - Đôi mắt)

35

x

Ngày nào tôi cũng bắt nhà tôi đóng cổng suốt ngày. (Nam Cao – Đôi mắt)

x

36 Hắn bắt chị xỏ chân vào guốc. (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Họ bắt tôi choảng nhau cho họ cười.

37

x

(Tô Hoài – Dế mèn phiêu lưu ký)

38

x

Tao bắt mày ở làm con trâu con ngựa cho nhà tao.

(Tô Hoài – Vợ chồng A Phủ)

Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế!

39

x

(Tô Hoài– Vợ chồng A Phủ)

Tay Toàn mới về đang bắt anh em tập đi đều.

40

x

(Nguyễn Minh Châu – Mùa trái cóc ở miền Nam)

x

41 Người ta bắt viết văn tự. (Ngô Tất Tố- Tắt đèn) 42 Cứ biết hai bàn sơ ý là phải bắt mua cau, rượu tạ.

x

(Nam Cao- Đôi móng giò)

43

x

Ai coi cô, ai bắt buộc cô? (Chu Văn – Bão biển)

Ông Bới cứ bắt buộc lão lên ngồi ghế chủ tịch đoàn trong

44

x

Đại hội nông dân xã.

(Nguyễn Minh Châu – Phiên chợ Giát)

x

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau)

45 Ổng biểu tôi về trước cho bà con coi thử. 46 Ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn.

x

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau)

47 Từ giờ cấm không được gọi tôi là Cu Nặc.

x

(Tô Hoài- Cu Lặc)

Em cấm anh không được đi mô!

48

x

(Đỗ Viết Nghiệm – Tấm ảnh còn lại)

Tôi cấm cô, tôi cấm cô gặp mặt con điếm ấy.

49

x

(Dương Thu Hương- Quãng đời đánh mất)

50 Cấm du khách không được đề thơ trong các động.

x

51

x

(Tản Đà-Giấc mộng lớn) Ông bèn cố khuyên giải và cấm không cho ai được báo tin gì cho anh biết.

(Nguyễn Công Hoan – Kép Tư Bền)

52 Ai cấm được người nghiện ăn tham.

x

(Hồ Dzếnh- Chú Nhì)

Anh chẳng cầu khẩn ai vì anh không muốn mang

53

x

ơn ai cả. (Nguyễn Minh Châu-Mùa trái cóc ở miền Nam)

Cái nhìn biểu lộ một vẻ cam chịu đầy thấu hiểu

54

x

như muốn cầu xin tôi hãy thứ lỗi cho con trai bà.

(Nguyễn Minh Châu – Mùa trái cóc ở miền Nam)

x

55 Cậy em, em có chịu lời. (Nguyễn Du –Truyện Kiều) 56 Huyện đã chỉ thị phải lấy dân quân và thanh niên làm nòng cốt.

x

(Chu Văn – Bão biển)

x

x

57 A Phủ cho tôi đi! (Tô Hòai – Vợ chồng A Phủ) 58 Anh cho em đứng ngoài này thở một tí. (Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng) 59 Bác cho nhà em đào một cái ngách nhỏ sang bên bác.

x

(Tô Hoài – Dế mèn phiêu lưu ký)

60

x

Sáng hôm sau, ngài cho một tên lính lại đem áo nỉ đỏ tiễn mình ra. (Tản Đà-Giấc mộng lớn)

61 Sáng nay ông Cựu cho giết ba con lợn nữa.

x

62

x

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng) Viên quản ngục vốn đã tin được thầy thơ lại, cho lính gọi lên kể rõ tâm sự mình.

(Nguyễn Tuân - Chữ người tử tù)

Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì

63

x

ông giáo cứ cho tôi gửi.

(Nam Cao- Lão Hạc)

Bác cho phép em mới dám nói.

64

x

(Tô Hoài – Dế mèn phiêu lưu ký)

65 Cụ cho phép cháu bày tỏ cùng cụ vài điều.

x

(Khái Hưng - Nửa chừng xuân)

Tôi không cho phép tôi chạy trốn.

66

x

(Nguyễn Minh Châu-Bức tranh)

Hai Đảng ủy cử Tiệp và Thất làm chỉ huy công trường.

67

x

(Chu Văn – Bão biển)

Huyện định cử anh Núp làm cán bộ xã.

68

x

(Nguyên Ngọc- Đất nước đứng lên)

69

x

Hôm qua ông dặn bố nó nhà con sáng nay phải đi chợ sớm. (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Ra về lòng lại dặn lòng

70

x

Chanh chua chớ phụ, ngọt bùi chớ ham. (Ca dao)

Pháp dặn ai muốn giữ súng phải nói tên.

71

x

(Nguyên Ngọc- Đất nước đứng lên)

Trước khi vào cuộc họp, đồng chí đề nghị cả đơn vị đứng

72

x

lên mặc niệm Luận một phút.

(Đỗ Viết Nghiệm – Tấm ảnh còn lại)

73

x

Chúng tôi đề nghị cấp trên, Đảng, Nhà nước xét truy tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cho Liệt sĩ Trần Đình Luận. (Đỗ Viết Nghiệm - Tấm ảnh còn lại)

Tôi sẽ đề nghị Sở cho cô nghỉ dạy.

74

x

(Đỗ Viết Nghiệm – Tấm ảnh còn lại)

Tôi đề nghị đưa Nguyệt sang bên kia ngầm về đơn vị.

75

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

Tôi đề nghị chiều nay cho xê tôi ngừng một buổi tập.

76

x

(Nguyễn Minh Châu – Mùa trái cóc ở miền Nam)

77

x

Nó đòi bế ra hè. (Nguyên Hồng – Buổi chiều xám)

Hai đứa lớn đòi đi hết, còn thằng út em mới mười tuổi làm

78

x

sao?(Nguyễn Thi-Những đứa con trong gia đình)

Nó vẫn cứ nằng nặc đòi mẹ ra ở hẳn ngoài đó trông bầy

79

x

con cho nó. (Nguyễn Minh Châu – Mẹ con chị Hằng)

80

x

Độc giả đòi hỏi báo chí phải lên tiếng. (TL29; tr.319)

Đắn đo cân sắc cân tài,

81

x

Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.

(Nguyễn Du – Truyện Kiều)

Tự tôi, tôi phải lựa chọn lấy một người đàn ông chứ chẳng

82

x

ai ép buộc tôi cả.

(Nguyễn Minh Châu -Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành)

83 Các ông kí dịch gọi ông ra giữa đình.

x

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng)

Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp

84

x

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

(Chế Lan Viên-Tiếng hát con tàu) 85 Mới sáu giờ rưỡi ngài đã giục bếp bưng mâm lên rồi.

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng giục con:

86

x

-Ngữ xích con chó lại! (Nam Cao – Đôi mắt)

Anh giục: - Ngủ thôi các cậu!

87

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

Bức thư sau chị tôi giục tôi lên xem mặt.

88

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

89 Nó nằng nặc giục mẹ bắc cháo ra.

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Tiếng gà giục quả na

90

x

Mở mắt

Tròn xoe…

(Trần Đăng Khoa)

Anh Dậu cũng rề rà giục vợ: - Cháo sắp vữa cả rồi đấy. U

91

x

nó ăn cho hết đi! (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Heng giục: Tắm nước lâu lạnh, cảm sốt đó. Đi chớ, sắp tới

92

x

rồi! (Nguyễn Trung Thành - Rừng xà nu)

93

x

94

x

Thị Nở giục hắn ăn nóng. (Nam Cao – Chí Phèo) Rồi hắn giục tôi: -Rước ông sang ngay đi cho kẻo ông Cựu lại bắt người khác sang mời.

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng)

95 Ông giục người bưng cỗ sang đó.

x

96

x

97

x

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng) Từ giữa tháng Giêng, Đốc Cung đến giục Vân Hạc đi cho kịp ngày. (Ngô Tất Tố – Lều chõng) Bà Án như hiểu cách bàn định lặng lẽ của hai người, giục luôn:- Mợ với cậu xơi cơm cho cháu ăn xong bữa đi! (Khái Hưng – Nữa chừng xuân)

Bây giờ huyện kêu tôi lên xã, tôi phải đi.

98

x

(Nguyên Ngọc - Đất nước đứng lên)

99 Huyện kêu Núp và Thế lên nói chuyện với đồng chí Cận .

x

(Nguyên Ngọc- Đất nước đứng lên)

100 Tháng ba có giấy trên tỉnh về kêu Núp đi dự hội nghị.

x

(Nguyên Ngọc- Đất nước đứng lên)

101

x

Tỉnh kêu anh đi đấy. (Nguyên Ngọc- Đất nước đứng lên)

Đảng kêu Núp đi tập kết ra Bắc.

102

x

(Nguyên Ngọc- Đất nước đứng lên)

Viên đội đem sổ vào kêu nhà phạt đi làm.

103

x

(Lê Văn Hiến – Ngục Kon Tum)

Chúng mình sẽ kêu gọi mọi người vững lòng ở lại.

104

x

(Chu Văn – Bão biển)

Nó muốn kêu nài bác Tuân rủ lòng thương.

105

x

106

x

(Học Phi – Một lớp học) Người ta gọi nhau, kêu rủ nhau, người ta gọi cả ông câm chủ quán rượu.

107

x

(Nguyễn Quang Sáng – Quán rượu người câm) Người cộng sản không thèm kêu van. Tnú không thèm, không thèm kêu van.

(Nguyễn Trung Thành - Rừng xà nu) 108 Cố bà Đức Sinh (…) gục xuống kêu van Huệ Chi hãy nghe lời cố

x

bà mà cứu lấy cả nhà.

(Nguyên Hồng – Cửa biển)

x

x

109 Tiếng Hùng khẩn khỏan: “Nghe tao nếu không sẽ chết tất cả”. (Đỗ Viết Nghiệm – Tấm ảnh còn lại) 110 Ai khiến nó… (Nam Cao- Mua danh)

Con không khiến u!Con không khiến u mang con đi!

111

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

112

x

Bà lão lại khuyên chị Dậu: “Bác gái cũng phải ăn đi!” (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Ai nấy đều khuyên chị Dậu phải yên lòng.

113

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Họ khuyên chị nên thuê một căn nhà lá mà ở tạm.

114

x

115

x

(Nam Cao – Chuyện người hàng xóm) Ngài nhân bận việc công… cho nên khuyên mình trở về bắc. (Tản Đà-Giấc mộng lớn)

Tôi chỉ khuyên anh từ nay hát ở đâu thì hát, đừng dính vào

116

x

bọn nhậu nhẹt làm gì.

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong)

117 Tôi khuyên bác không nên tới đó.

x

(Dương Thu Hương – Quãng đời đánh mất)

Tôi khuyên Trũi ở lại trong hang tôi mà chữa bệnh.

118

x

x

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng)

(Tô Hoài – Dế mèn phiêu lưu ký) 119 Vợ ông cũng muốn được làm bà Cựu nên cũng khuyên ông cố lo. 120 Cô Ngọc đã khuyên chàng nên đi đường thủy.

x

(Ngô Tất Tố – Lều chõng)

x

(Nguyễn Tuân - Chữ người tử tù)

121 Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi. 122 Phải, bà lớn khuyên tôi lấy lẽ cậu Lộc.

x

123

x

(Khái Hưng - Nửa chừng xuân) Ông là người học rộng biết nhiều, ông nên khuyên mợ cháu một câu. (Khái Hưng - Nửa chừng xuân)

San ngập ngừng khuyên y nên cưới vợ ngay đi.

124

x

(Nam Cao – Sống mòn)

Họ khuyên can chị Dậu đừng khóc.

125

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

x

(Nam Cao-Trăng sáng)

x

126 Con lạy bu! Cay con lắm! Con lạy bu! 127 Tôi cắn rơm cắn cỏ lạy ông giáo!(Nam Cao- Lão Hạc)

128 Ông Cựu chào hỏi một cách lơi lả và mời tôi vào trong nhà ngồi.

x

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng)

Ông Cựu mời họ sang ngồi nhờ ở nhà láng giềng.

129

x

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng)

130 Đáng lý tôi đã mời cô xuống đây.

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

131

x

Mời các cụ! Mời các cụ… (Nam Cao- Đôi móng giò)

Mời cậu vào chơi với ông đồ nhà tôi xơi nước đã.

132

x

(Nam Cao- Đón khách)

133 Chiều nay còn mời các lão và tư văn…

x

(Ngô Tất Tố - Phóng sự việc làng) 134 Chưa bao giờ tôi mời một cô gái lên ngồi trong buồng lái.

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

x

(Nam Cao - Quên điều độ)

x x

135 Bởi vì Thư không mời uống nữa. 136 Mời ông vào trong này. (Nam Cao- Đôi móng giò) 137 Mời ông vào. (Tô Hòai- Đứa con đầu lòng)

Mời em vào.Xin lỗi anh vẫn chưa biết tên em

138

x

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong)

x

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ)

x

139 Mời ông vào thưởng trống. (Nam Cao- Đôi móng giò) 140 Bà phán mời tất cả anh em quen biết bữa nay lại dùng cơm chiều. 141 Vâng, mời cụ ngồi chơi. (Khái Hưng - Nửa chừng xuân) 142 Em đã hết sức mời cụ nhưng cụ một mực từ chối.

x

(Khái Hưng – Nửa chừng xuân)

x

143 Mời cụ lớn xơi nước ạ! (Khái Hưng – Nửa chừng xuân)

144

x

Mời cả nhà xơi cơm. Hôm nay, bác thử kiểm tra tài nấu ăn của cháu xem sao.

145

x

(Dương Thu Hương – Quãng đời đánh mất) Chàng công tử, chẳng mấy khi rồng hạ cố xuống nhà tôm, xin mời nâng với chúng tôi ly rượu đắng.

(Dương Thu Hương – Quãng đời đánh mất)

146 Tuyết mời các quan khách rất nhanh nhẹn.

x

147

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ) Quan Giám đốc chính trị Đông Pháp mời hai ngài đến tối hôm nay lên xơi cơm với ngài.

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ) 148 Dạ, mời bu ngồi xuống đây đã rồi con xin thưa chuyện.

x

(Nam Cao- Đón khách) Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước xơi trầu đã

149

x

(Nam Cao – Một đám cưới)

150

x

Chàng mời tất cả mấy người cùng về nhà trọ mình ăn cơm. (Ngô Tất Tố - Lều chõng)

151

x

Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên: Mời

x

(Nguyễn Quang Sáng – Quán rượu người câm)

x

bà phó! (Nam Cao- Một bữa no) 152 Nếu cần chủ quán sẽ mời anh một ly nhỏ không lấy tiền. Anh muốn mời ai đi thì mời! (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

x

153 154 Y mời khách qua đường vào nghỉ chân, uống nước. (Nam Cao- Đón khách)

Hoàng mời tôi đi với vợ chồng anh đến chơi nhà mấy người

155

x

ở phố cũng tản cư về. (Nam Cao - Đôi mắt)

Hoa sớm tương tư đã nở đầy

156

x

Mời em dạo bước tới vườn đây. (Xuân Diệu - Yêu) 157 Cố nhiên là tôi mời vợ chồng anh cứ giữ lệ thường.

x

(Nam Cao – Đôi mắt)

158 Họ mời ông lên nhà.

x

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau)

x

(Đào Phong Lan – Nước Mắt sau hai mươi năm)

159 Cổ mời tao về nhà chơi sau giờ làm việc. 160 Tao mời cổ ngồi, rót nước cho cổ.

x

(Đào Phong Lan – Nước mắt sau hai mươi năm) 161 Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay.

x

(Tô Hoài – Vợ chồng A Phủ)

162 Nhân tiện gặp cụ, tôi mời cụ đi chén, rồi ta sẽ nói nhiều chuyện.

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ) Bà cụ không ăn khi Thứ cố nài bà cụ.

163

x

(Nam Cao – Sống mòn)

164 Nhiều người nài nỉ xin đi theo.

x

165

x

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau) Ai nấy nôn nao, thiếu điều muốn năn nỉ ông đi bắt sấu tức thì để họ coi cách thức.

166

x

(Sơn Nam – Hương rừng Cà Mau) Ông chủ tịch ấy cứ năn nì mãi hai ba lượt yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ. (Nam Cao – Đôi mắt)

x

(Chu Văn – Bão biển)

167 Huyện nhờ các cán bộ chuyên môn của Ty thủy lợi giúp sức. 168 Nhung tìm đến bạn bè nhờ họ tìm kiếm giúp.

x

(Hòang Nhật Tuyên – Người đi tìm vàng)

169 Cháu gởi mẹ cháu ở lại nhờ người thân chăm sóc.

x

(Đỗ Viết Nghiệm – Tấm ảnh còn lại)

Tôi còn muốn nhờ ông một việc.

170

x

(Nam Cao - Lão Hạc)

Nhờ bác giới thiệu cho tôi đến chỗ chư tiên.

171

x

(Tản Đà-Giấc mộng con)

172 Nhờ ai đổi hộ lấy bạc hào chia phát cho họ.

x

(Tản Đà-Giấc mộng lớn)

173 Lấy mười đồng bạc, nhờ người đi đổi ở trong tàu.

x

174

x

(Tản Đà-Giấc mộng lớn) Nhân tiện nhờ anh lính đưa đến chỗ hàng có xòai mua mấy quả rồi về. (Tản Đà-Giấc mộng lớn)

x

175 Tiện gặp một cán bộ về làng, tôi nhờ gửi cho anh một bức thư.

(Nam Cao – Đôi mắt)

Tôi sắp cho tập vở hát mới, định nhờ cậu ấy sắm vai chính.

176

x

(Nguyễn Công Hoan – Kép Tư Bền)

Anh được nghỉ một chốc bèn nhờ người về thăm xem tình

177

x

hình cha anh ra làm sao.

(Nguyễn Công Hoan – Kép Tư Bền)

178

x

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ, Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.

(Phan Thị Thanh Nhàn-Hương thầm)

179 Mà có viết cũng phải nhờ người khác viết giùm.

x

(Nguyễn Thi – Những đứa con trong gia đình)

180 Tôi nhờ đồng chí lên cầu Đá xanh một tẹo.

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

181 Tôi đã nhờ ông giáo bên ấy viết văn tự rồi.

x

182

x

183

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn) Quản ngục mong mỏi ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết. (Nguyễn Tuân - Chữ người tử tù) Tôi nói huyện cho bốn người Kông hoa: bok Pa, Tun, Ghíp, Xíp làm người Đảng.

(Nguyên Ngọc - Đất nước đứng lên)

Chính ủy phái tôi đi tổ chức và chỉ huy trận phản kích.

184

x

185

x

(Nguyễn Minh Châu – Cỏ lau) Lê nin đã ra lệnh cho Xô viết khu phố phải tìm căn nhà khác tươi tốt hơn.

(Nguyễn Tuân – Tờ Hoa)

186

x

187

x

Mọi người ngồi yên, một ông đàn anh ra lệnh: -Hàng xóm đã đến đông đủ! Thằng Mới đem làm cỗ đi. (Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng) Chưa biết ra sao thì có người bạn sang rủ đi trình diện cách mạng.

(Phạm Quang Đẩu – Bí mật khu rừng chiến địa)

188 Cả làng nuốt nước mắt rủ nhau đi gặt.

x

189

x

(Đào Phong Lan – Nước Mắt sau hai mươi năm) Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi.

(Tô Hoài – Vợ chồng A Phủ)

190 Hắn sai tuần phu trói chặt chị Dậu vào cột đình.

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Ông cụ sai anh Tư Bền rót chén nước.

191

x

192

x

(Nguyễn Công Hoan – Kép Tư Bền) Chắc họ tụ tập ở đây hay bên nhà cụ Phạm sai người nhà gác cổng. (Nam Cao- Đôi mắt)

193 Té ra, có lệnh của viên Đô sát sai đi nã chàng.

x

194

x

(Ngô Tất Tố - Lều chõng) Các người coi tôi là hung thần giời sai xuống phá hạnh phúc của các người .(Khái Hưng-Nửa chừng xuân)

195 Các cụ sai ông phó đi tìm ông cửu.

x

x

197

x

(Nam Cao- Đôi móng giò) 196 Người này sai nó việc này, người kia sai nó việc khác. (Ngô Tất Tố- Tắt đèn) Ông đã sai mổ con lợn để nhờ bà con dựng hộ gian rạp. (Ngô Tất Tố – Việc làng)

198 Bụt sai chim sẻ xuống nhặt thóc giúp Tấm.

x

(Tấm Cám)

Ông thúc chúng ăn nhanh rồi còn về kẻo khuya.

199

x

(Nam Cao – Một đám cưới)

x

(Kim Lân – Vợ nhặt)

200 Ngoài đình tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập. 201 Họ cứ làm ồn ào thúc giục đòi kể tiếp.

x

(Nguyễn Minh Châu – Mảnh trăng cuối rừng)

202 Thằng Dần thúc giục mẹ đi tìm chị nó.

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Ai dại gì mà đứng ì ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm

203

x

chứng. (Nam Cao – Chí Phèo)

Một viên quan chạy vào truyền chàng ra quỳ ở trước sân

204

x

điện. (Ngô Tất Tố - Lều chõng)

x x

x

(Nguyễn Công Hoan - Kép Tư Bền)

205 Trẫm truyền gọi ngay Cống Quỳnh vào! 206 Chào các cụ!Tôi xin vô phép.(Nam Cao-Đôi móng giò) 207 Thưa ngài, xin ngài hãy thư cho ít bữa. Cúi xin từ mẫu chóng khuây nỗi buồn.

208

x

(Nguyễn Đức Cảnh – Tạ từ)

209 Mùng hai tết, con xin lên mừng tuổi cụ ông.

x

(Nam Cao- Đón khách)

x

x

(Lã Thanh Tùng – Ván cờ chung cuộc)

x

210 Nó lại xin ra ở riêng. (Tô Hòai- Cu Lặc) 211 Có điều gì thất thố xin ân huynh đánh cho hai chữ đại xá. 212 Xin hai cụ nhón tay làm phúc! (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

213

x

Chị em chúng cháu không dám tranh luận với cụ nữa, chỉ xin cụ ban cho một cái ơn tối hậu.

(Khái Hưng - Nửa chừng xuân)

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ)

x

214 Bây giờ xin cho phát phục , kẻo đã quá muộn. 215 Xin mặt trời ngủ yên! (Trịnh Công Sơn)

Tôi xin ông cai,ông tha cho cháu

216

x

!(Ngô Tất Tố-Tắt đèn)

217

x

Xin ông hãy tạm tha trói nhà con một lúc!

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

Xin cụ cho con lấy năm hào nữa vậy!

218

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

219

x

Tôi sẽ xin chính phủ Xiêm cho bà cái bảng Tiết hạnh Khả phong Xiêm la.

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ)

220 Moa sẽ xin chính phủ cho toa cái Long bội tinh.

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ)

x

221 Ấy chết, xin bạn đừng nóng nảy thế! (Vũ Trọng Phụng- Số đỏ) 222 Xin quan lớn rủ lòng thương chạy chữa ngay cho cụ tôi!

x

x

(Nguyễn Thi – Những đứa con trong gia đình)

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ) 223 Xin trên cứ ghi tên cho cả hai. 224 Má xin giang xuồng, ba nhất định không cho.

x

(Nguyễn Thi – Những đứa con trong gia đình) 225 Thôi con chả dám nhận. Xin ông nghĩ lại cho con nhờ.

x

x

(Vũ Trọng Phụng-Số đỏ)

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ) 226 Xin ngài nói tiếng Ta cũng đủ! 227 Thưa cụ quản, xin cụ cứ dạy bảo.

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ) 228 Xin ngài chữa cho cái trinh tiết của một người goá chồng.

x

(Vũ Trọng Phụng- Số đỏ)

x

(Nguyễn Huy Tưởng – Một phút yếu lòng)

229 Con chỉ xin bà một điều: bà đừng nói xấu cách mạng. 230 Xin anh chớ sợ đời tầm thường.

x

(Trần Mai Ninh – Sống đã … Rồi viết văn) 231 Tôi phải có mặt ở trường, nên còn xin khất đến chiều.

x

(Ngô Tất Tố- Phóng sự việc làng)

Xin anh hết sức bình tĩnh, người ta báo với chúng tôi anh

232

x

công khai hát nhạc ngụy ở đây.

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong)

Em xin ông, đó không phải là nhạc ngụy mà là bản Trở về

233

x

cát bụi. (Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong)

Xin anh địa chỉ của thằng bé!

234

x

(Dương Thu Hương- Quãng đời đánh mất)

Con thành tâm xin ba má phù hộ độ trì!

235

x

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong)

Anh xin làm sóng biếc

236

x

Hôn mãi cát vàng em. (Xuân Diệu - Biển)

Anh không xứng là biển xanh

237

x

238

x

Nhưng cũng xin làm bể biếc. (Xuân Diệu - Biển) Chả mấy khi cụ lên chơi, xin cụ chiếu cố với chị em cháu một bữa cơm xoàng .(Khái Hưng-Nửa chừng xuân)

x

(Khái Hưng - Nửa chừng xuân)

239 Tôi xin cụ đừng gọi tôi là mợ. 240 Xin cụ miễn chấp. (Khái Hưng - Nửa chừng xuân)

x

Xin các anh tha cho ảnh!

241

x

x

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong) Con ở xin đi ăn giỗ một hôm. (Nam Cao- Mua danh)

242 243 Con xin chịu bắt thay cho cả nhà.

x

(Nguyên Hồng – Cửa biển)

Xin ông bà cho phép chúng con khám lẫn nhau.

244

x

(Nguyễn Công Hoan – Mất cái ví)

Thưa cụ, ở đây là nhà tôi, xin cụ nhớ cho.

245

x

(Khái Hưng - Nửa chừng xuân)

Thôi, tôi xin bà đừng nói khéo.

246

x

(Nguyễn Công Hoan – Mất cái ví)

247 Xin toàn thể bà con chúng ta chú ý!

x

(Chu Văn – Bão biển)

Xin được phép chính phủ cho rộng quyền xuất bản.

248

x

(Tản Đà-Giấc mộng lớn)

Mình đứng dậy xin lui về chỗ trọ để ăn cơm.

249

x

(Tản Đà-Giấc mộng lớn)

250

x

Trợ bút đã xin từ bác Diệp Phụ trương để lại cậy thầy Ngô. (Tản Đà-Giấc mộng lớn)

251 Bẩm thầy, tên ấy chúng là chủ xướng. Xin thầy đi bẩm cho.

x

252

x

(Nguyễn Tuân – Chữ người tử tù) Chủ tôi có lưu các ông ở lại xơi bữa cơm trưa. Xin các ông thuận cho.

(Vũ Trọng Phụng - Một buổi tiếp khách)

x

Xin mời cụ lên trên! (Ngô Tất Tố- Tắt đèn)

x

(Khái Hưng - Nửa chừng xuân)

255

x

253 254 Cháu xin phép cụ, cháu phải đi đằng này có chút việc cần. Hắn xin phép mở trường tư. (Nam Cao- Quên điều độ)

Y xin phép vào chơi nhà bác hàn một lát.

256

x

(Nam Cao- Đón khách)

x

257 Thầy thơ lại xin phép đọc công văn. (Nguyễn Tuân – Chữ người tử tù) 258 Núp xin phép bok Ung ngồi kể chuyện cho lũ làng nghe.

x

(Nguyên Ngọc - Đất nước đứng lên)

x

(Chu Văn – Bão biển)

259 Nókhông về đâu mà xúi cho anh em khác về trước. 260 Nó xúi chồng nó nhất định không đóng.

x

261

x

262

x

263

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn) Ông nghe tôi, (…) chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông nổi lên chống lại chúng tôi nữa. (Nguyễn Ái Quốc - Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu) Anh bèn tha thiết van: “Xin quan, tôi yếu quá, không thể đi được”. (Lê Văn Hiến – Ngục Kon Tum) Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa. Như hôm em đi lễ chùa,

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

(Nguyễn Bính-Chân quê)

264

x

(Nguyễn Bính - Vài nét rừng)

Nhà em xa cách quá chừng Em van anh đấy, anh đừng yêu em!

265 Con van u, con lạy u, u đừng đem bán con đi!

x

266

x

(Ngô Tất Tố- Tắt đèn) U van con, u lạy con, con có thương thầy thương u thì con cứ đi với u! (Ngô Tất Tố- Tắt đèn) 267 Duân van xin cho nghỉ trong giây lát rồi đi.

x

268

x

(Lê Văn Hiến – Ngục Kon Tum) Anh chỉ yêu cầu em tuyệt đối không cho nó chạy rông. (Nguyễn Minh Châu – Lũ trẻ ở dãy K)

Tôi yêu cầu cô quên thằng Tân đi!

269

x

270

x

(Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong) Cô Hằng tung tẩy đề nghị: Yêu cầu các anh khi đến đồn phải bàn giao anh Quỳnh cho bọn em điều trị!

(Trần Văn Hà – Trở lại cánh rừng năm xưa)

Họ yêu cầu tất cả các xe phải khuân theo đá hộc.

271

x

272

x

273

x

(Trần Văn Hà – Trở lại cánh rừng năm xưa) Tao chỉ yêu cầu mày một điều, kiếm được bao nhiêu phải đưa về! (Nguyễn Mạnh Tuấn- Đời hát rong) Ông chủ tịch ấy hai ba lần yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ. (Nam Cao – Đôi mắt)

PHỤ LỤC 4:

SOÁ

VI TÖØ

TOÅNG

CAÂU NGOÂN HAØNH

GHI CHUÙ

CAÂU TRAÀN THUAÄT

TYÛ LEÄ

TT

CAÀU KHIEÁN

TOÅNG SOÁ

TYÛ LEÄ

TOÅNG SOÁ

SOÁ

0.125

0.875

21

3

24

1 baûo

0

2

1

0

2

2 bieåu

0.11

16

0.89

2

18

3 baét

0.5

0.5

1

1

2

4 baét buoäc

0

0

1

5

5

5 caám

1

1

0

0

1

6 caàu khaån

1

1

0

0

1

7 caàu xin

0

0

1

1

1

8 caäy

1

1

0

0

1

9 chæ thò

0.57

0.43

3

4

7

10 cho

0

0

1

3

3

11 cho pheùp

2

1

0

0

2

12 cöû

0.33

0.67

2

1

3

13 daën

0.4

0.6

3

2

5

14 ñeà nghò

3

1

0

0

3

15 ñoøi

1

1

0

0

1

16 ñoøi hoûi

1

1

0

0

1

17 eùp

1

1

0

0

1

18 eùp buoäc

2

1

0

0

2

19 goïi

1

0

0

13

13

20 giuïc

6

1

0

0

6

21 keâu

1

1

0

0

1

22 keâu goïi

1

1

0

0

1

23 keâu naøi

1

1

0

0

1

24 keâu ruû

2

1

0

0

2

25 keâu van

1

1

0

0

1

26 khaån khoaûn

0

0

1

2

2

27 khieán

3

13

0.23

10

0.77

28 khuyeân

1

1

0

0

1

29 khuyeân can

1

1

0

0

1

30 khuyeân giaûi

laïy

0

0

1

2

2

31

35

15

0.43

20

0.57

32 môøi

1

1

0

0

1

33 naøi

1

1

0

0

1

34 naøi næ

1

1

0

0

1

35 naên næ

1

1

0

0

1

36 naèn nì

17

0.18

14

0.82

3

37 nhôø

1

0

0

1

1

38 noùi

1

0

0

1

1

39 phaùi

ra leänh

2

0

0

2

1

40

ruû

3

0

0

3

1

41

9

0

0

9

1

42 sai

thuùc

2

0

0

2

1

43

thuùc giuïc

2

0

0

2

1

44

trieäu

1

0

0

1

1

45

truyeàn

2

1

0.5

1

0.5

46

0.8

9

0.2

46

37

47 xin

1

1

1

0

0

48 xin môøi

5

1

0.2

4

0.8

49 xin pheùp

2

0

0

2

1

50 xuùi

1

0

0

1

1

51 xuùi giuïc

5

5

1

0

0

52 van

1

1

1

0

0

53 van xin

6

4

0.67

2

0.33

54 yeâu caàu

T.COÄNG

273

97

176

0.36

0.64

PHỤ LỤC 5

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

1. Anh phải sống – Khái Hưng, Nxb Văn nghệ, TpHCM, 1996.

2. Bước đường cùng - Nguyễn Công Hoan, Nxb Văn nghệ, TpHCM, 1995.

3. Chí Phèo – Nam Cao, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, 1997.

4. Dế mèn phiêu lưu ký - Tô Hoài, Nxb Văn nghệ, TpHCM, 1997.

5. Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc, Nxb Giáo dục Giải phóng, 1973.

6. Nguyễn Minh Châu toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.

7. Phụ lục Văn 12, Nxb Giáo dục, 1989.

8. Số đỏ – Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn nghệ, TpHCM, 1995.

10. Tắt đèn – Ngô Tất Tố, Nxb Giáo dục, 1984

9. Thơ tình Nguyễn Bính, Nxb Đồng Nai, 1996.

10. Thơ tình yêu – Xuân Diệu, Nxb Văn học, 1994

11. Tổng tập văn học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, TpHCM, 1985.

12. Tuyển tập truyện ngắn 30-45, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà

Nội, 1986.

13. Tuyển tập Tản Đà, Nxb Văn học, Hà Nội, 1986.

11. Từ điển tiếng Việt – Hoàng Phê, Nxb Đà Nẳng, 1997.

12. Truyện Kiều – Nguyễn Du, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1972.

13. Truyện ngắn Việt Nam 1945-1985, Nxb Giáo dục, 1985.

14. Văn học dân gian, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977.

15. Văn học 12, Nxb Giáo dục, 2000.

16. 100 truyện ngắn hay Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn Hà Nội, 1998.

==//==