
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
NGUYỄN THU HÀ
TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA
NGUYÊN HỒNG TRƯỚC CÁCH MẠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2004

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
________
________
NGUYỄN THU HÀ
TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYÊN HỒNG TRƯỚC CÁCH MẠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 5.04.33
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.HÀ VĂN ĐỨC
Haứ Noọi - 2004

MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NGUYÊN HỒNG - NHÀ VĂN CỦA LÒNG THƯƠNG CẢM THỐNG THIẾT ĐỐI
VỚI CON NGƯỜI.
1.1. Chủ nghĩa nhân đạo - Cảm hứng chủ đạo trong sáng
tác của Nguyên Hồng. 13
1.1.1. Nguyên Hồng viết văn vì lòng thương cảm những
kiếp người cùng khổ. 13
1.1.2. Nguồn gốc cảm hứng thương cảm đối với con người
của Nguyên Hồng. 16
1.2. Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng. 19
1.2.1. Con đường nghệ thuật nhất quán. 19
1.2.2. Bức tranh xã hội và nhân sinh 22
1.2.3. Những nhân vật cùng khổ: 24
1.3. Tình huống gợi lòng thương cảm 26
CHƯƠNG II
NGÒI BÚT HIỆN THỰC GIÀU CHẤT LÃNG MẠN
2.1. Nội dung tình cảm dạt dào sôi nổi: 32
2.1.1. Tấm lòng nồng nhiệt của nhà văn đối với nhân vật 32
2.1.2. Tình cảm mãnh liệt của kiểu "nhân vật trữ tình mang
vẻ đẹp truyền thống”. 35
2.2. Ngòi bút hiện thực thấm đượm chất thơ. 37
2.2.1. Chất thơ toát lên từ đời sống cần lao: 37
2.2.2. Chất thơ toả ra từ cái nhìn và niềm tin của nhà văn
đối với những người cùng khổ. 39
2.2.3. Chất thơ của bức tranh thiên nhiên miền của biển đầy
nắng vàng và gió lộng. 44

CHƯƠNG III
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT
NGUYÊN HỒNG TRƯỚC CÁCH MẠNG
3.1. Nhân vật đa dạng 49
3.1.1. Hạng người lưu manh, nghĩa khí mang dáng dấp
anh hùng hảo hán. 49
3.1.2. Nhân vật thuộc tầng lớp lao động nghèo ở thành thị 52
3.1.3. Nhân vật trẻ tuổi thuộc tầng lớp
tiểu tư sản nghèo. 55
3.2. Nhân vật "Chịu nạn" 56
3.3. Bút pháp xây dựng nhân vật 58
CHƯƠNG IV
NGÔN NGỮ - GIỌNG ĐIỆU
4.1. Giọng điệu sôi nổi, thiết tha và cấu trúc tầng tầng lớp
lớp của lời văn nghệ thuật. 67
4.1.1. Giọng điệu chủ yếu: thương cảm thống thiết, sôi nổi. 67
4.1.2. Cấu trúc tầng tầng lớp lớp theo mạch cảm xúc của lời
văn nghệ thuật. 72
4.2 Ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm. 76
4.2.1. Cách sử dụng thành ngữ, thán từ độc đáo gây ấn tượng 78
4.2.2. Ngôn ngữ trần thuật chân thành trong tiểu thuyết tự truyện.
82
C. KẾT LUẬN 88
D. PHỤ LỤC
1. Nguyên Hồng - thân thế và sự nghiệp (1918 - 1982) 94
2. Hai lần về mái nhà xưa của tác giả "Những ngày thơ ấu". 97
-THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CHUYẾN ĐI THĂM GIA ĐÌNH NGUYÊN
HỒNG LẦN THỨ 3

1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài và mục đích nghiên cứu (hay lý
do chọn đề tài).
Trước Cách mạng, Nguyên Hồng thuộc vào loại hiếm hoi, không nói là
duy nhất ở nước ta, từ trong đám đông người nghèo đói, đau khổ, lầm than
vươn lên thành nhà văn. Ông đi theo dấu chân của nhà văn vĩ đại, người mở
đường của nền văn học hiện thực XHCN trên đất nước Xô Viết: M.Gorki.
Chính vì vậy, độc giả Việt Nam đã yêu mến gọi Nguyên Hồng là "Gorki của
Việt Nam".
Điều này càng có giá trị khẳng định Nguyên Hồng là một nhà văn lớn,
có vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.
Mà "Cuộc đời ấy thực sự là món quà tặng của lớp người cần lao cho văn học
Việt Nam hiện đại" (Vương Trí Nhàn).
Tuy cuộc đời của Nguyên Hồng bị khổ sở, cơ cực từ tấm bé nhưng ông
vẫn yêu cuộc sống, yêu thiết tha, yêu say đắm. Yêu tất cả mọi biểu hiện của
sự sống bằng tất cả tâm hồn và giác quan của mình. Ông nhiệt tâm với cuộc
sống: "Sống hiểu theo cái nghĩa phải viết nó ra thành sách". (Nguyễn Tuân).
Người ta dễ nhận thấy Nguyên Hồng là con người rất cởi mở, giàu khả năng
giao tiếp với thế giới xung quanh. Hình như trong Nguyên Hồng luôn có
những gì đầy ăm ắp, tràn dâng và nếu không vợi bớt ra ngoài thì nhà văn
không chịu nổi. Nguyên Hồng chen vai giữa mọi người, như mọi người: "Nhà
văn đi đường lẫn vào đám đông. Cái quần nâu, tấm áo cánh mồ hôi muối ăn
đã bạc cả hai vai, chiếc mũ lá cọ, đôi dép lốp chẳng khác chút nào với màu
sắc, dáng nét người đi chợ, người nghỉ quán hàng, người trên đường chứ
không có dáng ưu tư, đăm chiêu... vốn thường thấy ở nhà văn". (Tô Hoài).
Chính lối sống hồn nhiên, tự do ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong
cách văn chương của ông. Ông viết văn không nhờ học vấn vì ông phải sớm
vật lộn ở cuộc đời từ thuở nhỏ. Ông viết văn nhờ năng khiếu riêng nên văn

