ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THÚY QUYÊN

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG,

TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2019

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THÚY QUYÊN

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG,

TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀO THỊ HẰNG

Hà Nội - 2019

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các

kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,

tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán

tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể

bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

i

Trần Thị Thúy Quyên

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ...................................................................... iv

DANH MỤC BẢNG ..................................................................................... v

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

BẮT BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC. .... 7

1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................... 7

1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc ..................................................... 7

1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc .............................................. 10

1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................. 13

1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc ................ 16

1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................... 16

1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ....................... 18

1.2.3. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc................................. 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................... 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN KIẾN

XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH .................................................................... 38

2.1. Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................. 38

2.1.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ..................................... 38

2.1.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................. 42

2.1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc. ............. 63

2.1.4. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc. . 68

2.2. Thực tiễn thực hiện, pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện

Kiến Xương, tỉnh Thái Bình ......................................................................... 71

ii

2.2.1. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình . 71

2.2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn

huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. ............................................................. 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................... 87

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG

CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

BẮT BUỘC TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH ............. 88

3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc .................... 88

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ...... 91

3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về BHXH bắt buộc

tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. ......................................................... 98

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ......................................................................... 102

KẾT LUẬN ............................................................................................... 103

iii

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 104

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TT Cụm từ viết tắt Cụm từ viết đầy đủ

1 BHXH Bảo hiểm xã hội

2 BLLĐ Bộ luật lao động

3 BHYT Bảo hiểm y tế

4 DSPHSK Dưỡng sức phục hồi sức khỏe

5 NLĐ Người lao động

6 NSDLĐ Người sử dụng lao động

7 TNLĐ, BNN Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

8 ILO Tổ chức lao động quốc tế

iv

9 UBND Ủy ban nhân dân

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ............. 74

(giai đoạn 2015-2018) .................................................................................. 74

Bảng 2.2: Tình hình tham gia BHXH bắt buộc theo khối quản lý năm 2018 75

Bảng 2.3: Tổng quỹ lương trích đóng BHXH bắt buộc theo các khối ........... 76

(giai đoạn 2015-2018) .................................................................................. 76

Bảng 2.4. Tình hình chi trả các chế độ BHXH bắt buộc năm 2016-2018 ...... 79

v

Bảng 2.5: Tình trạng nợ đọng BHXH giai đoạn 2015-2018 .......................... 81

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện

đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển

con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của

nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, đó cũng là tiền

đề quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế và sự ổn định ở mọi quốc gia

trên thế giới.

Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ

XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-

1889) với cơ chế ba bên cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động

trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Sau đó, trước tác dụng tích cực của

bảo hiểm xã hội trong quan hệ lao động nhiều nước đã bắt đầu áp dụng hệ

thống bảo hiểm xã hội. Hiện nay, trên thế giới nói chung người ta gọi bảo

hiểm xã hội là một trong những bộ phận cấu thành và đóng một vai trò trụ cột

của hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội thực sự đã trở thành một công cụ

đắc lực và hiệu quả giúp cho Nhà nước điều tiết xã hội trong nền kinh tế thị

trường, phát triển xã hội bền vững.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta giai đoạn này là một

nước đang phát triển, các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động chiếm tỉ

lệ cao việc đó đồng nghĩa với việc tỉ lệ người lao động hoạt động trong các

đơn vị lớn, trong quá trình làm việc người lao động có thể gặp những rủi ro

như ốm đau, tai nạn, lao động nữ thì mang thai và sinh con… , việc đóng bảo

hiểm xã hội là cần thiết để bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập

của người lao động khi họ bị giảm sút hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản,

1

tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết

trên cơ sở mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội luôn phát

huy tác dụng trong những lúc người lao động gặp khó khăn hiểm nghèo do bị

ốm đau, lao động nữ trong thời gian thai sản, tai nạn lao động, tuổi già…trên

cơ sở những cam kết đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động

cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến cố

đó.Tuy nhiên thực tế việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người

lao động vẫn còn những hạn chế và còn nhiều bất cập. Chính vì vậy, Nhà

nước ta cần phải có một cơ chế thích hợp và quản lý chặt chẽ chính sách bảo

hiểm xã hội bắt buộc để chia sẻ được những rủi ro của người lao động và

nâng cao tính cộng đồng xã hội…Vì vậy việc ban hành và thực hiện bảo hiểm

bắt buộc là một vấn đề cấp thiết và phù hợp với nguyện vọng của đa số người

lao động. Đây là nhu cầu chính đáng và thiết thực cần được Nhà nước và xã

hội quan tâm thực hiện.

Trên cả nước nói chung cũng như trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh

Thái Bình nói riêng, việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc vẫn

còn nhiều hạn chế, gặp nhiều vướng mắc và khó khăn nhất định. Do đó, tác

giả đã chọn đề tài “ Pháp luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện

tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực trạng việc xây dựng và phát triển pháp luật bảo hiểm xã hội của

nước ta hiện nay nói chung và bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng thì nó

không phải còn là một vấn đề mới nhưng nó đã trở thành mối quan tâm sâu

sắc của các nhà nghiên cứu.

Trong thời gian gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những

người quan tâm đến bảo hiểm xã hội đã có những bài viết và công trình

nghiên cứu khoa học nhằm đóng góp, xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội của

2

nước ta điển hình như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Vụ BHXH

(2010) về “ Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ BHXH bắt buộc giai

đoạn đến 2020” hay đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (Trường Đại học

Luật Hà Nội) do TS. Nguyễn Hiền Phương làm chủ biên (2015) về “Bình

luận khoa học một số quy định của Luật BHXH năm 2014”.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình Luận văn Thạc sỹ luật học nghiên

cứu về vấn đề BHXH bắt buộc như: Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả

Nguyễn Thị La Giang (2015) về “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc và

thực tiễn ở Hà Nội”; Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Chu Linh Trang

(2017) về “Pháp luật về BHXH bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng

Sơn”; Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Minh Thúy (2018)

về “Pháp luật về BHXH bắt buộc và thực tiễn thi hành tại Quận Hoàng Mai,

Thành phố Hà Nội”.

Ngoài ra, một số bài viết đăng trên tạp chí tiêu biểu như: Bài viết “Một

số bình luận pháp lý liên quan đến Điều 60 Luật BHXH năm 2014” đăng trên

Tạp chí luật học số 6/2015 của PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí và ThS. Bùi Thị

Kim Ngân; bài viết “Những điểm mới về chế độ bảo hiểm theo Luật BHXH

năm 2014” đăng trên Tạp chí luật học số 10/2015 của PGS.TS. Nguyễn Hiền

Phương; bài viết “Tính ưu việt của Luật BHXH, Luật Bảo hiểm y tế - thách

thức trong triển khai và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội” đăng trên Tạp Chí

cộng sản của TS. Bùi Sỹ Lợi.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những vấn đề

lý luận, làm rõ những vấn đề cơ bản về khái niệm và đặc trưng của bảo hiểm

xã hội và chỉ ra được thực tiễn thực hiện làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp

luật bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ngoài ra các công trình trên cũng đã nghiên

cứu những giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả

áp dụng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, trong số các công

3

trình này chưa có công trình nào đề cập thực tiễn áp dụng về bảo hiểm xã hội

trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Do vậy, Luận văn đã kế thừa

những công trình nghiên cứu đã có, tập trung làm rõ thêm những vấn đề lý

luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc, tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội bắt

buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để từ đó đưa ra giải pháp nhằm

hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của Luật

Bảo hiểm xã hội bắt buộc, đặc biệt tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài là góp phần làm rõ một số

vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc, đồng thời đánh giá nội dung quy

định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội bắt

buộc để từ đó Luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ

chức thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt

buộc trong thực tế tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài

xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp luật

về bảo hiểm xã hội bắt buộc như khái niệm, vai trò của bảo hiểm xã hội bắt

buộc và nội dung pháp luật của bảo hiểm xã hội bắt buộc.

- Phân tích và đánh giá nội dung quy định pháp luật bảo hiểm xã hội bắt

buộc và thực tiễn thực hiện tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Làm rõ yêu cầu hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số kiến nghị hoàn

thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội bắt

buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu pháp luật về bảo hiểm xã hội

bắt buộc trong giới hạn nghiên cứu của đề tài. Luận văn nghiên cứu những

vấn đề lý luận và hệ thống các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt

4

buộc; quan điểm của Đảng về các chính sách xã hội, bảo hiểm xã hội và bảo

hiểm xã hội bắt buộc của nước ta; nêu ra thực tiễn về thực hiện pháp luật bảo

hiểm xã hội bắt buộc hiện nay ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Trên cơ

sở đó có những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và

kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tại huyện Kiến Xương, tỉnh

Thái Bình.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận của triết học

Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng,

các văn bản pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc và quan

điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) về bảo hiểm xã hội bắt buộc qua

một số Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Phương pháp nghiên cứu: Để triển khai luận văn cũng như để đạt được

mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả đã sử dụng một số phương pháp

khoa học trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, sử dụng

tổng hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó coi

trọng phương pháp thu thập thông tin, khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp,

nhận xét thực tiễn…

5: Những đóng góp mới của đề tài

- Luận văn đã phân tích được một số quy định lý luận, nội dung pháp

luật cơ bản về bảo hiểm xã hội bắt buộc như khái niệm, đặc điểm, vai trò, sự

điều chỉnh của pháp luật đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc.

- Luận văn cũng đã phân tích và đánh giá được thực trạng pháp luật về

bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện trên địa bàn huyện Kiến

Xương, tỉnh Thái Bình.

- Luận văn cũng đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy

định pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc; đồng thời đưa ra một số giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn

5

huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ

quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật về bảo hiểm

xã hội bắt buộc, đặc biệt là cơ quan bảo hiểm xã hội, các đơn vị tham gia bảo

hiểm xã hội trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong

công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất kỳ ai có quan tâm

đến các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp

luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn

thực hiện tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện

6

pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC.

1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc

Con người muốn tồn tại và phát triển thì đầu tiên cần phải lao động.

Trong quá trình lao động con người luôn luôn tác động vào tự nhiên và tác

động qua lại lẫn nhau để tạo ra những sản phẩm, những giá trị cần thiết cho sự

tồn tại và phát triển của mình. Sản phẩm tạo ra càng nhiều thì đời sống con

người càng đầy đủ, điều đó có nghĩa là việc thỏa mãn những nhu cầu sinh

sống và phát triển của con người phụ thuộc vào khả năng lao động của chính

họ. Tuy nhiên trong quá trình lao động con người không phải lúc nào cũng

gặp thuận lợi mà nhiều khi gặp khó khăn, bất lợi làm cho bị giảm hoặc mất

thu nhập hoặc rơi vào các rủi ro khác như bị ốm đau, tai nạn, tuổi già…Khi

rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng nói trên thì các nhu cầu

cần thiết của cuộc sống vẫn tồn tại không hề bị mất đi, mà trái lại có nhu cầu

còn tăng lên hoặc xuất hiện các nhu cầu mới như ốm đau cần được chữa bệnh,

khi chết đi người phụ thuộc cần được nuôi dưỡng…Để vượt qua những khó

khăn, rủi ro phát sinh, từ lâu người ta thường áp dụng các biện pháp phòng

ngừa và các biện pháp khắc phục những hậu quả khác nhau. Một trong các

biện pháp hữu hiệu nhất là lập các quỹ dự trữ và tiến hành bảo hiểm tập trung

trên phạm vi toàn xã hội.

Như vậy, bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển là một quá trình thích ứng

và xử lý những vấn đề liên quan đến nhu cầu của con người. Hệ thống bảo

hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỉ XIX là công trình của

7

Chính phủ Đức dưới thời thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên

(Nhà nước – giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao

động trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Chế độ bảo hiểm xã hội này gồm:

Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo

hiểm tuổi già, tàn tật (1889). Sau đó trước tác dụng tích cực của bảo hiểm xã hội

trong quan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống bảo hiểm xã hội.

Trong những năm 30 của thế kỷ XX, một số nước còn mở rộng thêm những chế

độ khác ngoài bảo hiểm xã hội và xuất hiện khái niệm mới: Social Security (An

sinh, an tòan xã hội). Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có Công ước số 102

năm 1952 về an sinh xã hội. Hiện nay trên thế giới nói chung người ta coi bảo

hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành của an sinh xã hội.

Ở nước ta, xét về mặt lịch sử bảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm

30 của thế kỷ XX, một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế

độ tai nạn, chế độ hưu trí và cũng chỉ áp dụng cho một số đối tượng làm việc,

phục vụ trong bộ máy hành chính, quân đội Pháp. Sau đó, khi thành lập nhà

nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và suốt thời gian dài vừa dựng nước, vừa

giữ nước, nước ta đã từng bước phát triển và hoàn thiện các chế độ bảo hiểm

xã hội. Ngày 29/06/2006 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI nước ta đã thông

qua Luật bảo hiểm xã hội và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, điều này đã

đánh dấu bước phát triển mới của chính sách an sinh xã hội Việt Nam.

Tuy nhiên, khi bàn đến khái niệm bảo hiểm xã hội thì tùy theo góc độ

nhìn nhận mà khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận ở nhiều khía cạnh

khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, bảo hiểm xã hội là sự: “ Bảo đảm những

quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm

đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động…[20, tr.36]. Giáo trình Luật lao

động của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Dưới góc độ pháp

lý, bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các

8

quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn

định đời sống cho người lao động khi họ gặp những rủi ro, hiểm nghèo trong

quá trình lao động hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động”[6, tr.312-

313]. Có tác giả lại cho rằng : “ Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc

bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến

cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình

thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử

dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người

lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội[9, tr.11]. Còn theo

Giáo trình bảo hiểm của Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội thì bảo hiểm

xã hội “là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích

dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động dưới sự điều

tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo nguồn thu nhập thỏa mãn những nhu cầu

thiết yếu của người lao động và gia đình họ khi gặp những biến cố làm giảm

hoặc mất thu nhập theo lao động[12].

Sở dĩ khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận với những nội dung đa

dạng như trên bởi trước khi có Luật bảo hiểm xã hội thì không có văn bản pháp

lý nào quy định một cách cụ thể và chính thức về vấn đề này, hơn nữa sự đa

dạng đó còn được giải thích bởi góc độ tiếp cận và nhu cầu nghiên cứu khác

nhau. Hiện nay, theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014

thì bảo hiểm xã hội được định nghĩa như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm

thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm

hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết

tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.”

Có thể thấy bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển là một quá trình thích

ứng và xử lý những vấn đề liên quan đến nhu cầu của con người. Việc đảm

bảo vật chất cho người lao động khi họ gặp những biến cố, rủi ro, trong thời

9

gian dài lao động sẽ khó được thực hiện thường xuyên và đầy đủ nếu chỉ dựa

vào sự tương trợ mang tính hảo tâm. Ngược lại, nó chỉ có thể được bảo đảm

chắc chắn, ổn định và bền vững khi có sự tổ chức và bảo đảm của Nhà nước

với những quy định về sự đóng góp mang tính bắt buộc để hình thành nên

một loại quỹ tiền tệ tập trung ở phạm vi lớn. Chính điều này làm cơ sở cho

việc hình thành nên hình thức bảo hiểm xã hội bắt buộc. Qua nghiên cứu các

quan điểm về bảo hiểm xã hội ở trên ta có thể hiểu rằng “bảo hiểm xã hội bắt

buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao

động (và trong một số trường hợp gồm cả thành viên gia đình) khi họ gặp rủi

ro hoặc biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động do một số nguyên nhân

nhất định gây ra (như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,

già yếu hoặc chết) trên cơ sở nghĩa vụ bắt buộc tham gia của người sử dụng

lao động và người lao động”.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014 “Bảo hiểm

xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người

lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.”

Như vậy bảo hiểm xã hội bắt buộc là một hình thức đảm bảo về thu nhập

cho người lao động và có thể là thành viên trong gia đình của họ. Việc đảm

bảo này được thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ phải tham gia đóng góp của các

đối tượng nhất định nhằm tạo lập ra nguồn chi trả. Hay có thể nói cách khác,

các đối tượng không có quyền lựa chọn tham gia hay không tham gia mà họ

bắt buộc phải tham gia loại hình bảo hiểm xã hội này khi thuộc các trường

hợp mà pháp luật quy định. Tính bắt buộc là một trong những điểm đặc thù

của loại hình bảo hiểm xã hội này.

1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc

Thứ nhất: BHXH bắt buộc có những đặc điểm của BHXH nói chung:

Bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động. Khi tham gia vào

10

BHXH thì NLĐ sẽ được bảo hiểm cho đến lúc chết. Khi còn làm việc, NLĐ

sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội trợ cấp ốm đau, lao động nữ được trợ

cấp thai sản khi mang thai, sinh con; người bị tai nạn được trợ cấp tai nạn lao

động; khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí (ở Việt Nam

còn gọi là lương hưu), khi chết thì được hưởng tiền chôn cất và gia đình được

hưởng trợ cấp tuất… Đây là đặc điểm riêng biệt của BHXH thể hiện tính xã

hội rất cao mà không một loại hình bảo hiểm nào có được.

Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội được bảo hiểm trong BHXH

liên quan đến thu nhập của NLĐ gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết... Do những sự kiện và rủi ro này

mà NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, dẫn đến việc họ bị giảm hoặc

mất nguồn thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp. Trong những trường hợp đó,

NLĐ cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù

đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH. Tuy nhiên, trong BHXH, không

phải NLĐ cứ bị mất thu nhập bao nhiêu là được bù bấy nhiêu. Điều này liên

quan đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ được pháp luật BHXH quy định.

Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao

động và phát sinh giữa ba bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được

BHXH. Các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về quyền lợi, nghĩa vụ và

trách nhiệm, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật về BHXH. Theo đó,

bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc NLĐ và NSDLĐ, là những đối

tượng đóng góp trực tiếp vào quỹ BHXH. Bên BHXH hay chính là bên thực

hiện nhiệm vụ BHXH thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và

bảo trợ. Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được

BHXH khi có nhu cầu phát sinh và có trách nhiệm quản lý, đầu tư cho quỹ

BHXH phát triển. Bên hưởng BHXH là NLĐ và có thể là gia đình của họ khi

đáp ứng được các điều kiện hưởng BHXH. Đối với NLĐ, họ vừa là người

tham gia BHXH đồng thời họ vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họ

11

đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chính họ.

Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt

động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn và hỗ trợ cho quỹ BHXH

trong những trường hợp cần thiết. Ngoài ra Nhà nước còn tham gia BHXH

với tư cách là chủ thể quản lý, định ra những chế độ, chính sách, định hướng

cho các hoạt động BHXH.

Quỹ BHXH cơ bản được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham

gia BHXH, bao gồm NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Mặt khác, để bảo đảm duy

trì ổn định quỹ BHXH thì còn có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư

phần nhàn rỗi tương đối của quỹ và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy

định của pháp luật.

Thứ hai: Bên cạnh những đặc điểm chung kể trên thì BHXH bắt buộc có

những đặc điểm riêng biệt so với hình thức BHXH tự nguyện, cụ thể:

Về đối tượng tham gia: NLĐ và NSDLĐ chính là đối tượng chủ yếu

tham gia BHXH. Vì hiện nay, theo quy định của pháp luật thì tất cả các doanh

nghiệp phải tham gia BHXH cho NLĐ khi sử dụng lao động. Và việc tham

gia BHXH này sẽ do cả NLĐ và NSDLĐ cùng đóng phí cho cơ quan BHXH

mà không phụ thuộc vào việc họ có muốn tham gia BHXH hay không. Việc

tham gia BHXH của những đối tượng này là bắt buộc, không phụ thuộc vào ý

chí của họ. Nếu không tham gia vào BHXH bắt buộc thì NLĐ và NSDLĐ sẽ

phải chịu chế tài xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Trong khi đó đối

tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người từ một độ tuổi nhất định và

không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, tham gia BHXH trên cơ sở

tự nguyện.

Mức đóng BHXH bắt buộc được quy định với nghĩa vụ của NLĐ và

NSDLĐ. Các bên tham gia BHXH bắt buộc không có quyền thương lượng,

thỏa thuận về mức đóng BHXH mà pháp luật quy định cho mỗi bên. Pháp luật

12

thường quy định NSDLĐ có trách nhiệm đóng theo tỷ lệ % trên cơ sở quỹ

tiền lương trả cho NLĐ, NLĐ sẽ đóng theo tỷ lệ % trên cơ sở mức tiền lương,

tiền công hàng tháng mà NSDLĐ trả cho NLĐ. Như vậy pháp luật quy định

trách nhiệm của cả hai bên để san sẻ nghĩa vụ về tài chính khi đóng BHXH

cho NLĐ, điều này sẽ làm giảm chi phí và đảm bảo cuộc sống hiện tại của

NLĐ và đồng thời cũng để người SDLĐ có trách nhiệm hơn đối với NLĐ, từ

đó sẽ làm cho mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ có sự gắn kết lâu

dài, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên. Còn người tham gia BHXH tự

nguyện được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập,

điều kiện của mình.

Về chế độ hưởng BHXH: BHXH bắt buộc bao gồm nhiều chế độ hưởng

bảo hiểm như: Ốm đau, thai sản; TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.

BHXH tự nguyện chỉ có chế độ hưởng là hưu trí và tử tuất.

Về trách nhiệm đóng BHXH: Đối với BHXH bắt buộc, NLĐ và người

SDLĐ có trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc cho người lao động. Còn đối với

BHXH tự nguyện, NLĐ khi tham gia BHXH thì phải tự mình đóng toàn bộ số

tiền bảo hiểm.

1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trong đà phát triển của nền kinh tế hiện nay, BHXH đã tồn tại ở hầu hết

tất cả các nước trên thế giới. BHXH phát triển có hoàn thiện hay không phụ

thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, khi kinh tế càng phát triển thì BHXH

càng hoàn thiện và ngược lại. Vì vậy với những đặc trưng riêng của mình

BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng đã có những vai trò quan

trọng đối với sự phát triển của kinh tế xã hội. Cụ thể:

 Đối với người lao động và gia đình của họ

Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước,

BHXH bắt buộc sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân NLĐ gặp phải những rủi

13

ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế khi NLĐ đã

thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ, đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà

còn là nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp họ ổn định cuộc sống và yên

tâm công tác. Bên cạnh đó, nhờ có BHXH bắt buộc mà cuộc sống của các

thành viên trong gia đình NLĐ cũng được bảo đảm tốt hơn.

Có thể thấy rằng, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống

cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Có nghĩa là

tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc

phạm vi BHXH. Đồng thời, việc NLĐ tham gia BHXH bắt buộc thể hiện sự

tự gánh chịu trực tiếp rủi ro cho chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa

vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ [13, tr99].

 Đối với người sử dụng lao động

BHXH bắt buộc thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của NSDLĐ đối với

NLĐ. BHXH bắt buộc giúp cho các tổ chức sử dụng lao động nói chung hay

các doanh nghiệp nói riêng ổn định hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh

thông qua việc phân phối cho NLĐ một cách hợp lý. Đóng góp vào quỹ

BHXH không trực tiếp mang lại lợi nhuận cho NSDLĐ nhưng sẽ giúp họ

tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi trả một khoản tiền lớn khi có rủi ro

xảy ra đối với NLĐ. Đồng thời góp phần giảm bớt tranh chấp, tạo mối quan

hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ.

 Đối với kinh tế - xã hội

Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, đây là mối

quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ rủi ro, mối quan hệ này thể hiện trên các

góc độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền

lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã

hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết

và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động, đồng thời cũng bảo vệ, ổn định

cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính

14

nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.

Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, BHXH đặc biệt là BHXH bắt buộc

là trụ cột của an sinh xã hội, là cơ sở để phát triển các bộ phận khác của hệ

thống an sinh xã hội. Các Nhà nước thường dựa vào mức độ bao phủ của

chính sách BHXH để xác định những đối tượng nào còn gặp khó khăn, cần

cộng đồng chia sẻ nhưng chưa được tham gia BHXH để đưa ra những giải

pháp như trợ cấp, cứu trợ xã hội…Trên cơ sở đó BHXH là căn cứ để đánh giá

trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ an sinh xã hội đạt được

của mỗi nước.

BHXH còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.

Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến mức độ nào đó thì hệ

thống BHXH có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho

rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh

tế. Khi nền kinh tế chậm phát triển, đời sống dân sinh thấp thì không thể có

một hệ thống BHXH vững mạnh được. Ngược lại, khi kinh tế càng phát triển,

hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các

hình thức BHXH ngày càng phong phú.

BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm khoảng cách chênh

lệch giàu nghèo. Bên cạnh đó, hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc huy

động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội

ngày càng phát triển.

Ngoài ra đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không

may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy

tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn. Hệ thống BHXH

đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề phát triển nền kinh tế thị trường.

Tóm lại, BHXH nói chung và đặc biệt là BHXH bắt buộc là một trong

những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu được của mỗi quốc gia

nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội, là tiền đề thúc đẩy kinh tế tăng trưởng

15

bền vững và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị.

1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Kể từ khi ra đời cho đến nay, BHXH vẫn là hình thức bảo vệ hữu hiệu

nhất được hầu hết các quốc gia trên thế giới tổ chức thực hiện, BHXH được

xác định như một quyền cơ bản của NLĐ và trở thành một bộ phận vô cùng

quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội của mỗi quốc gia.

Pháp luật về BHXH bắt buộc là tổng hợp các quy định của Nhà nước

điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và sử dụng

một quỹ tiền tệ tập trung, dựa trên sự đóng góp bắt buộc của người SDLĐ và

những NLĐ nhất định nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần của

NLĐ và gia đình khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập[10, tr11].

Từ lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH trên thế giới cho

thấy, BHXH bắt buộc là vấn đề của mỗi quốc gia. Từ cuối thế kỷ thứ XIX

chính quyền nhiều bang ở Đức bắt tay với giới thợ thuyền lập quỹ ốm đau do

chính những người thợ đóng góp bắt buộc để hỗ trợ cho những người bị ốm

đau. Đây là lần đầu tiên đánh dấu sự ra đời của loại hình BHXH bắt buộc.

Năm 1883, đạo luật đầu tiên về BHXH ở Đức được ban hành, nhằm trợ cấp

cho NLĐ ốm đau. Năm 1884 mở rộng thêm hình thức trợ cấp rủi ro nghề

nghiệp, sau này gọi là trợ cấp TNLĐ, BNN. Sau đó đến năm 1889 thì phát

triển thêm hình thức trợ cấp tuổi già và trợ cấp tàn tật. Pháp luật BHXH của

Đức quy định việc tổ chức quản lý thực hiện BHXH gồm 3 bên bao gồm: đại

diện NLĐ, đại diện NSDLĐ và Nhà nước. Cả 3 bên đều có trách nhiệm đóng

góp một phần vào quỹ BHXH. Mọi người làm công ăn lương đều bắt buộc

phải đóng góp BHXH và từ đây NLĐ được bảo hộ về mặt pháp lý từ phía

Nhà nước khi họ gặp rủi ro hay già yếu.

Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có pháp luật BHXH về

16

BHXH bắt buộc. Mục tiêu đặt ra của BHXH bắt buộc ở các nước đều là sự

bảo vệ cho NLĐ khi gặp rủi ro, bất hạnh do bị mất hoặc giảm thu nhập thì họ

sẽ nhận được một khoản trợ cấp để sinh sống. Từ đó phạm vi và đối tượng áp

dụng của pháp luật BHXH được mở rộng dần. Các hình thức trợ cấp cũng dần

được bổ sung, nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với NLĐ. Như ở

trên ta có thể thấy, đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới ở Đức mới chỉ thực

hiện dạng trợ cấp ốm đau, sau đó là bảo hiểm TNLĐ, BNN, tàn tật, già yếu

mới lần lượt được quy định bổ sung thêm. Nước Nga là quốc gia đầu tiên quy

định loại trợ cấp cho phụ nữ góa bụa và có con nhỏ khi công chức chết. Sau

đó, ở các nước khác cũng thực hiện loại trợ cấp này. Năm 1911, Vương quốc

Anh là nước đầu tiên có luật về bảo hiểm thất nghiệp, rồi một số nước khác ở

Châu Âu, Canada và Hoa Kỳ cũng thực hiện trong thập kỷ 30 [14, tr6]…

Để phát triển và hoàn thiện pháp luật về BHXH của nhiều nước và trước

sự thúc đẩy tiến bộ xã hội, ngày 28/06/1952, Tổ chức ILO đã thông qua công

ước số 102 về BHXH bao gồm 9 dạng trợ cấp. Công ước này đã định ra một

cơ cấu thống nhất và có phối hợp về BHXH giữa các nước thành viên của

ILO. Tuy nhiên, Công ước cũng giành một số các lựa chọn có tính chất ngoại

lệ cho việc vận dụng đối với những nước chưa phát triển về kinh tế và y tế

trong một thời gian thích hợp.

Vấn đề được đặt ra là để thực hiện được mục đích của BHXH bắt buộc

thì pháp luật của các nước đều phải quán triệt tăng cường vai trò mọi mặt của

Nhà nước đối với BHXH bắt buộc, mọi hoạt động liên quan đến BHXH bắt

buộc phải do Nhà nước thống nhất quản lý. Vai trò của Nhà nước được thể

hiện trước hết ở việc Nhà nước trực tiếp ban hành các quy định về BHXH bắt

buộc, trực tiếp tổ chức ra bộ máy thực hiện BHXH và kiểm tra việc thực hiện

BHXH bắt buộc. Tùy theo tình hình điều kiện kinh tế, xã hội trong từng thời

kỳ phát triển của đất nước mà Nhà nước hoạch định chính sách quốc gia về

17

BHXH bắt buộc một cách phù hợp.

Từ đây có thể thấy việc điều chỉnh pháp luật về BHXH bắt buộc mang yếu

tố khách quan và là cần thiết. Nếu có một chính sách đúng đắn thì BHXH đóng

vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định tình hình chính trị của đất nước và sự

phát triển nền kinh tế quốc dân, ngược lại, nếu không có định hướng đúng thì nó

sẽ có tác động tiêu cực tới tình hình chính trị, kinh tế và tiến bộ xã hội.

1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Nguyên tắc của pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc là những tư tưởng

chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật về

BHXH bắt buộc. Nó thể hiện quan điểm, đưởng lối, chính sách của Đảng và

Nhà nước về kinh tế - xã hội nói chung.

Việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng cần phải tuân thủ các

nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này bao gồm:

Thứ nhất: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian

đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm.

Nguyên tắc này được hiểu là có đóng BHXH thì sẽ được hưởng chế độ.

Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối tổng sản phẩm quốc

dân nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa

giữa cống hiến và hưởng thụ. Nghĩa là phải đảm bảo hợp lý giữa mức đóng

góp và hưởng thụ, tức là phải căn cứ vào mức đóng góp của người lao động

cho xã hội thể hiện thông qua mức đóng, thời gian đóng góp cho quỹ bảo

hiểm xã hội…để từ đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng trợ cấp

phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của người lao động. Tuy nhiên bảo hiểm

xã hội bên cạnh nội dung kinh tế còn chứa đựng trong mình nội dung xã hội

và một trong những biểu hiện của nó là nguyên tắc “chia sẻ rủi ro”, “lấy số

đông bù số ít”. Do đó, người lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội

không có nghĩa chắc chắn sẽ hưởng mọi chế độ bảo hiểm xã hội, sự đóng góp

18

của họ sẽ có ý nghĩa rất lớn cho những đối tượng gặp phải những rủi ro

nghiêm trọng mà nếu không có sự chia sẻ, tương trợ đó thì NLĐ sẽ gặp rất

nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Để dung hòa yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội của bảo hiểm xã hội thì vai

trò của pháp luật là quan trọng nhưng không thể không tính đến hình thức

khác trong việc thực hiện BHXH[11, tr127].

Thứ hai: Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương, tiền

công của người lao động.

Thu nhập được BHXH là phần thu nhập của NLĐ tham gia bảo hiểm mà

khi phần thu nhập đó bị giảm hoặc mất do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng

lao động, mất việc làm thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp để thay thế hoặc

bù đắp một phần cho họ. Mức thu nhập được bảo hiểm là mức tiền lương

hoặc mức thu nhập bằng tiền nào đó do Nhà nước quy định. Dựa trên cơ sở

mức sống, mức thu nhập bình quân thực tế của đại đa số người lao động và

mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người…, Nhà nước sẽ quy định, lựa

chọn mức thu nhập được bảo hiểm để bảo đảm rằng mức thu nhập này luôn

thăng bằng tương đối, nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động tham gia

bảo hiểm và gia đình họ.

Với nguyên tắc này thì có thể thấy theo quy định hiện hành của Luật bảo

hiểm xã hội nước ta mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở

tiền công, tiền lương của người lao động.

Mặt khác, mức thu nhập được bảo hiểm còn là công cụ để Nhà nước

giám sát, kiểm tra, điều tiết trên giác độ quản lý vĩ mô đối với BHXH và quản

lý lao động trong nền kinh tế quốc dân.

Thứ ba: Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công

khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo

19

các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Nguyên tắc này quy định quỹ BHXH phải được quản lý thống nhất và

hạch toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng

đúng mục đích nhằm bảo đảm cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và

phục vụ cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều

chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu- chi, điều chỉnh kịp

thời khi các quỹ thành phần tạm thời bị mất cân đối, không làm ảnh hưởng

đến quyền lợi của người tham gia BHXH.

Thứ tư: Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có

thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH.

Theo quy định của pháp luật về hình thức bảo hiểm xã hội gồm có

BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Thực tế có thể thấy số lao động tham

gia BHXH bắt buộc là chủ yếu và họ được hưởng nhiều chế độ hơn so với đối

tượng tham gia BHXH tự nguyện. Tuy nhiên về phương diện pháp lý việc

tham gia BHXH tự nguyện hay BHXH bắt buộc đều tạo nên các quyền lợi về

BHXH có giá trị như nhau và trong thực tế tùy theo tính chất và đặc điểm của

quan hệ lao động mà người lao động có thể có những thời gian tham gia bảo

hiểm xã hội theo các loại hình khác nhau. Vì thế để đảm bảo quyền lợi cho

người lao động và tính liên thông trong quan hệ lao động thì người lao động

vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự

nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất theo quy định của pháp

luật trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

Thứ năm: Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận

tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.

Người tham gia bảo hiểm xã hội khi đóng phí bảo hiểm xã hội là nhằm

dự trữ trước một khoản tài chính, nhằm đề phòng những trường hợp rủi ro xảy

20

ra hoặc có liên quan đến hoạt động lao động (tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp) hoặc những loại được gọi là “rủi ro xã hội”(ốm đau, thai sản, tuổi già,

chết). Khi gặp những rủi ro này, chi phí trong cuộc sống của người lao động

và gia đình họ không những tăng lên như chi phí chăm sóc, chữa trị khi bị ốm,

nuôi dưỡng sản phụ, con nhỏ…mà thu nhập còn bị giảm vì không đi làm

được. Trong trường hợp này khoản tiền trợ cấp bảo hiểm giữ vai trò quan

trọng và cần thiết góp phần bù đắp vào sự thiếu hụt thu nhập của người lao

động và gia đình họ nhằm ổn định cuộc sống, khắc phục những khó khăn, hỗ

trợ, giúp đỡ họ vượt qua những rủi ro tạm thời cũng như lâu dài. Chính vì vậy,

việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đảm bảo đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, kịp

thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội [11, tr130].

Nhìn chung những nguyên tắc của BHXH bắt buộc nêu trên đã thể hiện

quan điểm và thể chế hóa đường lối của Đảng và Nhà nước về BHXH.

1.2.3. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

1.2.3.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo đánh giá của ILO, thì bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng

nhất của an sinh xã hội. Bởi vì, BHXH có đối tượng áp dụng chiếm tỷ lệ cao

và sự “che chắn” của BHXH là ổn định, vững chắc. Có thể thấy đối tượng

tham gia của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người trực tiếp tham

gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền

lương của NLĐ theo quy định của pháp luật BHXH. Trên thực tế, do điều

kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước là khác nhau nên phạm vi, đối

tượng áp dụng các chế độ BHXH bắt buộc là khác nhau. Có nước chỉ thực

hiện BHXH bắt buộc đối với công nhân, viên chức Nhà nước, ví dụ như Lào; có

nước áp dụng với cả NLĐ làm công ăn lương, ví dụ như Philippin, Thái Lan; có

nước hầu như là áp dụng cho tất vả NLĐ, ví dụ như Australia [15, tr392].

Không một quốc gia nào ngay từ đầu đã thiết lập được hệ thống BHXH

21

cho tất cả NLĐ trong xã hội mà đều bắt đầu bằng một nhóm đối tượng nhất

định, rồi dần dần mở rộng phạm vi áp dụng tiến tới bao quát toàn bộ NLĐ với

các hình thức tham gia khác nhau như bắt buộc, tự nguyện. Nhóm đối tượng

mà pháp luật BHXH quốc gia thường tiếp cận đầu tiên là NLĐ trong bộ máy

nhà nước, NLĐ thuộc khu vực chính thức (có quan hệ lao động) với ưu điểm

sẽ dễ kiểm soát thu nhập và đơn giản trong tổ chức quản lý, thực hiện. Song

song với việc quy định phạm vi áp dụng là NLĐ, pháp luật BHXH xác định

rõ trách nhiệm của người sử dụng với nghĩa vụ đóng góp cụ thể [10, tr67-68].

Việc tham gia BHXH có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo thu nhập cho

NLĐ và gia đình họ. Mặc dù vậy, trên thực tế, không phải NLĐ và NSDLĐ

nào cũng tự giác tham gia BHXH nên để thực hiện BHXH một cách ổn định,

lâu dài và để đảm bảo được nguồn thu của quỹ BHXH thì cần thiết phải quy

định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đối tượng tham gia BHXH bắt

buộc là NLĐ và NSDLĐ mà theo quy định của pháp luật thì họ bắt buộc phải

tham gia BHXH dù họ có muốn hay không. Việc tham gia của những đối

tượng này vừa là quyền nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ của họ. NLĐ và

NSDLĐ không có quyền thỏa thuận là có tham gia BHXH hay không cũng

như thay thế việc đóng BHXH bằng các hình thức khác.

Tùy theo tình hình phát triển kinh tế-xã hội mà mỗi một quốc gia sẽ có

những quy định khác nhau về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Có quốc

gia quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là những người tham gia

quan hệ lao động một cách thường xuyên, ổn định như Việt Nam. Bên cạnh

đó, có một số quốc gia lại quy định đối tượng tham gia không phụ thuộc vào

quan hệ lao động như pháp luật BHXH Đan Mạch có quy định mọi công dân

được hưởng chế độ bảo hiểm từ hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia, trợ cấp

gia đình và trợ cấp người già mà không phụ thuộc vào hoạt động nghề

22

nghiệp[15, tr408].

Tại Hà Lan, có hai loại BHXH là BHXH đối với những người làm công

ăn lương và BHXH quốc gia. BHXH của những người làm công ăn lương bảo

đảm chi phí duy nhất cho những người làm công ăn lương và những người

tương tự như vậy. Để được hưởng chế độ BHXH này, phải có một hợp đồng

lao động, ít nhất giống như người làm công ăn lương. Đó là những trường hợp

học nghề, những NLĐ tại nhà hoặc trong các phân xưởng được bảo hiểm.

Những NLĐ thật sự độc lập không giống người làm công ăn lương và công chức có chế độ riêng[15, tr408].

Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau và

nguồn hình thành quỹ chủ yếu là từ sự đóng góp của đối tượng tham gia

BHXH bắt buộc. Trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH bắt buộc cho NLĐ

được phân chia cho cả NSDLĐ và NLĐ trên cơ sở quan hệ lao động. Điều

này không phải là sự phân chia rủi ro mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía

NSDLĐ, sự đóng góp một phần BHXH bắt buộc cho NLĐ sẽ tránh được thiệt

hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ

mà mình thuê. Đồng thời nó còn tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên

chủ - thợ bởi việc đóng góp đó thể hiện trách nhiệm đối với những NLĐ mà

họ đang sử dụng. Về phía NLĐ, sự đóng góp một phần để BHXH cho chính

bản thân mình một phần biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của bản

thân, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.

Mức đóng góp của NLĐ và NSDLĐ ảnh hưởng rất lớn đến nguồn quỹ

bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nguồn quỹ có dồi dào thì mới đảm bảo được khả

năng chi trả cho các đối tượng BHXH. Các nguồn khác để hình thành quỹ

BHXH bắt buộc chỉ chiếm phần nhỏ, như việc đầu tư của quỹ bị hạn chế

nhiều bởi hạng mục đầu tư, hơn nữa phải đảm bảo nguyên tắc an toàn của quỹ

nên phần tiền lời thu được không cao. Nhà nước chỉ hỗ trợ trong một trường

23

hợp nhất định, còn lại quỹ phải tự cân đối thu chi.

Như vậy quỹ bảo hiểm xã hội đã được pháp luật xác định cụ thể nguồn

thu và các khoản chi. Tuy nhiên, trên thực tế, đối tượng tham gia bảo hiểm xã

hội bắt buộc thường tìm mọi cách để trốn đóng hoặc nợ bảo hiểm xã hội gây

tình trạng thất thu cho quỹ. Do đó, việc quản lý quỹ phải được đề cao và để

hoạt động quản lý quỹ hiệu quả thì phải đảm bảo được sự minh bạch và công

khai, trên cơ sở đề cao trách nhiệm của các bên có liên quan đến hoạt động

quản lý quỹ, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát quỹ để tránh thất thoát

quỹ, đảm bảo khả năng chi trả lâu dài cho quỹ phù hợp với mục đích của bảo

hiểm xã hội.

1.2.3.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

Các chế độ bảo hiểm xã hội được tạo thành bởi các yếu tố: Đối tượng

được hưởng bảo hiểm xã hội; điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội; mức hưởng

và thời hạn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Về nguyên tắc, bảo hiểm xã hội phải đảm bảo an toàn kinh tế cho mọi

người lao động trong mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động. Tuy

nhiên, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong từng gia

đoạn mà các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định khác nhau.

Theo Công ước số 102 ngày 25/06/1952 của Tổ chức Lao động quốc tế

thì hệ thống BHXH bao gồm 9 chế độ: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp

thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp TNLĐ-BNN, trợ cấp gia đình, trợ cấp

thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Tổ chức Lao động

quốc tế cũng khuyến nghị tùy theo điều kiện – xã hội, mà mỗi quốc gia công

ước có thể quy định các chế độ BHXH bắt buộc khác nhau, nhưng ít nhất phải

thực hiện được ba chế độ và trong đó phải có ít nhất một trong năm chế độ:

Trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp TNLĐ, BNN; trợ cấp khi tàn phế

24

và trợ cấp tiền tuất.

Hầu hết các quốc gia thường quy định 5 chế độ BHXH mang tính bắt

buộc đó là: chế độ BHXH ốm đau, chế độ BHXH thai sản, chế độ BHXH tai

nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ BHXH hưu trí và chế độ tử tuất.

 Chế độ ốm đau

Ốm đau, tai nạn là điều mà hầu như con người không mong muốn nó xảy

ra, tuy nhiên họ không thể tránh khỏi trong suốt cuộc đời được. Đối với người

lao động, sự kiện này được coi là một sự rủi ro trong lao động mà họ gặp

phải. Biểu hiện ở chỗ NLĐ bị mất thu nhập từ lao động. Từ đó con người có

thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục tình trạng trên. Một

trong những biện pháp đó chính là bảo hiểm ốm đau.

Bảo hiểm ốm đau là một trong các chế độ bảo hiểm xã hội ra đời sớm

nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH. Ở nước Đức,

ngay từ những năm 50 của thế kỷ XIX nhiều chính quyền bang đã quan tâm

tới việc quy định và bắt buộc thực hiện chế độ trợ cấp ốm đau đối với NLĐ.

Đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm ốm đau ngày càng được mở rộng. Sau đó

nhiều nước Châu Âu cũng đã cho ra đời các đạo luật của mình có quy định về

vấn đề bảo hiểm ốm đau. Đến đầu thế kỷ XX, bảo hiểm ốm đau đã mở rộng ra

nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canada

và một số nước khác [16, tr331].

Năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế đã thông qua Công ước số 102 với

những quy phạm tối thiểu về BHXH. Trong đó , Điều 14 của Công ước quy

định chế độ trợ cấp ốm đau được áp dụng đối với các trường hợp bị mất khả

năng lao động do ốm đau gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập như pháp luật

hoặc quy định của quốc gia. Có thể nói, đối tượng áp dụng BHXH ốm đau là

NLĐ tham gia BHXH bắt buộc khi NLĐ bị mất khả năng lao động do ốm

đau, bệnh tật, phải nghỉ việc dẫn đến thu nhập bị gián đoạn. Tuy nhiên, không

phải trong mọi trường hợp NLĐ bị ốm đau hay tai nạn rủi ro họ đều được

25

hưởng bảo hiểm mà cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.

Bị ốm đau (không phải bệnh nghề nghiệp) được coi là điều kiện tiền đề

của chế độ bảo hiểm ốm đau, nhưng chỉ những trường hợp ốm đau mà không

phải do lỗi của NLĐ mới trở thành điều kiện hưởng bảo hiểm ở chế độ bảo

hiểm ốm đau. Còn những trường hợp NLĐ nghỉ việc do họ tự hủy hoại sức

khỏe của mình như do say rượu, do dùng các chất ma túy hay chất gây nghiện

khác thì họ sẽ không được hưởng bảo hiểm ở chế độ này. Khi NLĐ bị ốm

đau thì họ sẽ phải nghỉ việc để điều trị bệnh. Đây cũng là điều kiện quan

trọng để xác định nhu cầu bảo hiểm thực sự của NLĐ, đồng thời đảm bảo

nguồn chi đúng mục đích và phát huy tác dụng tích cực của quỹ BHXH. Bên

cạnh đó, thời gian tối thiểu tham gia BHXH cũng là một điều kiện cần thiết

để một số quốc gia xác định đối tượng hưởng BHXH ốm đau. Theo Điều 17

Công ước số 102 của ILO thì điều kiện này để NLĐ tránh lạm dụng gây ảnh

hưởng xấu đến tình hình tài chính của quỹ BHXH. Tuy nhiên, cũng có một

số quốc gia lại không coi đây là điều kiện để được hưởng trợ cấp, chẳng hạn

như Việt Nam.

Tại Điều 18 Công ước số 102 của ILO quy định những nguyên tắc chung

của việc khống chế thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau của người tham gia bảo

hiểm, làm cơ sở cho các quốc gia tham gia Công ước cụ thể hóa trong pháp

luật quốc gia. Thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau thường được tính theo ngày

làm việc của NLĐ. Tùy thuộc vào điều kiện lao động, thời gian BHXH, tình

trạng ốm đau của NLĐ, mục đích bảo hiểm của Nhà nước và khả năng cân

đối quỹ BHXH mà từng quốc gia sẽ quy định khác nhau về thời gian hưởng

bảo hiểm.

Khi NLĐ bị ốm thì họ sẽ được hưởng trợ cấp ốm đau theo quy định của

pháp luật. Mức hưởng trợ cấp ốm đau được ILO đề xuất cho các quốc gia phê

chuẩn Công ước số 102 bằng 45% tiền lương và thời gian hưởng từ 13 đến 26

26

tuần trong một năm tùy từng trường hợp ốm đau (Điều 67 Công ước số 102).

Trong Công ước số 130 năm 1960 về chăm sóc y tế và trợ cấp ốm đau đã ấn

định mức 60% tiền lương và coi đây là quy chuẩn. Ở một số quốc gia khác

nhau lại có những quy định khác như: Thái lan quy định bằng 50% tiền lương,

tối đa 250bath/ngày; Philippin quy định bằng 90% tiền lương; Malaysia quy

định bằng 80% tiền lương; Trung Quốc quy định 60% đến 100% tiền lương

tùy thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm[10, tr71].

Như vậy, bảo hiểm ốm đau là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm thu

nhập cho NLĐ tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn,

chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

 Chế độ thai sản:

Chế độ này áp dụng chủ yếu với lao động nữ. Hiện nay, lao động nữ

chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động xã hội. Họ tham gia lao động

trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của đời sống và có đóng góp quan trọng

trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bên cạnh cuộc sống lao

động họ còn thực hiện thiên chức làm mẹ của mình. Hầu hết lao động nữ đều

trải qua thời gian mang thai, sinh đẻ. Trong thời gian đó họ phải nghỉ việc,

không có lương đồng thời chi phí sinh hoạt sẽ tăng lên do sức khỏe bị suy

giảm, do gia đình có thêm thành viên mới…Nhằm góp phần bảo vệ NLĐ nói

chung, lao động nữ và trẻ sơ sinh nói riêng, hầu hết các quốc gia trên thế giới

đều có chính sách về bảo hiểm thai sản. Mặc dù có các quy định khác nhau về

đối tượng hưởng, thời gian nghỉ và mức trợ cấp nhưng pháp luật của các nước

đều giống nhau về mục đích hướng tới của chế độ thai sản là thông qua việc

bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi

con sơ sinh, thực hiện biện pháp tránh thai, bảo hiểm thai sản nhằm giữ cân

bằng về thu nhập, bảo vệ sức khỏe của NLĐ và trẻ sơ sinh.Tại kỳ họp đầu tiên

và trong suốt quá trình hoạt động, Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã ban

27

hành nhiều Công ước và Khuyến nghị thể hiện sự quan tâm , bảo vệ sức khỏe

cũng như quyền lợi cho lao động nữ. Đó là Công ước số 3 năm 1919, Công

ước số 102 năm 1952, Khuyến nghị số 95(sửa đổi năm 1952), Công ước số

103 (xét lại năm 1952), Công ước số 183 năm 2000 và Khuyến nghị số

191…Ngoài ra, Tổ chức Liên hợp quốc (UN) cũng có một số công ước đề cập

vấn đề này, đó là: Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966;

Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979…

Mục đích của các công ước và khuyến nghị này là nhằm đảm bảo cho lao

động nữ, trẻ sơ sinh được chăm sóc cần thiết, được bảo vệ mức sống trong

thời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc, đồng thời bảo vệ lao động nữ trong

thời gian sinh con không bị mất việc làm và sau thời gian nghỉ vẫn được làm

đúng công việc cũ với mức lương giữ nguyên. Từ các công ước và khuyến

nghị đó, đến nay pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định về

chế độ bảo hiểm thai sản. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính

trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ bảo hiểm thai sản được quy định khác

nhau[17, tr148].

Bảo hiểm thai sản được coi là chế độ bảo hiểm đặc thù. Đối tượng của

bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ. Thông thường lao động nam chỉ

được hưởng một số chế độ nhất định, ví dụ hưởng trợ cấp khi nuôi con nuôi

sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai... Tuy nhiên, hiện nay, một số quốc

gia quy định cả nam và nữ đều được hưởng chế độ thai sản như nhau như

Thụy Điển, Bulgaria. Đặc biệt, ở Bulgaria còn quy định ông, bà cũng được

nghỉ hưởng trợ cấp trong thời gian người mẹ mang thai, trước và sau sinh

nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con cháu trong gia đình[17, tr149].

Về điều kiện hưởng bảo hiểm thai sản, hầu hết các quốc gia đều có quy

định tham gia BHXH trước khi sinh như về thời gian đóng BHXH trước khi

hưởng chế độ thai sản pháp luật Thái Lan quy định phải có 7 tháng đóng góp

28

trong vòng 15 tháng trước khi sinh. Singgapore quy định ít nhất phải có 6

tháng làm việc. Nhật Bản quy định phải có 12 tháng làm việc trước đó. Tại

Philipines, trợ cấp thai sản được thực hiện trong 4 lần sinh, với điều kiện lao

động nữ phải đóng BHXH 3 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh[17,

tr152].

Tùy thuộc vào điều kiện hưởng, thời gian nghỉ mà các nước có quy định

khác nhau về mức trợ cấp. Ở Na Uy, có hai lựa chọn cho NLĐ: Nếu lựa chọn

54 tuần nghỉ thì được hưởng trợ cấp ở mức 80% tiền lương tháng, nếu lựa

chọn 44 tuần nghỉ thì hưởng mức trợ cấp cao hơn là 100% tiền lương trước

khi nghỉ việc, ở Pháp quy định mức trợ cấp thai sản bằng 90% tiền lương. Với

mức trợ cấp một lần thì nhiều quốc gia ấn định khoản tiền cụ thể như Thái

Lan trợ cấp một lần là 4000 bạt. Nhật Bản là 300.000 yên[17, tr163-164].

Mặc dù khác nhau về đối tượng hưởng, thời gian nghỉ, mức trợ cấp

nhưng các nước đều giống nhau về đối tượng hướng tới chế độ bảo hiểm thai

sản. Chế độ bảo hiểm thai sản không chỉ có ý nghĩa là đảm bảo ổn định thu

nhập, việc làm, sức khỏe cho người lao động khi thực hiện quyền được làm

cha, làm mẹ, góp phần đảm bảo bình đẳng giới và an sinh xã hội mà lâu dài

hơn là thúc đẩy sự phát triển ổn định bền vững về dân số, chất lượng lao động

thế hệ tương lai của đất nước.

 Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trong quá trình lao động khi NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp, thu nhập của NLĐ sẽ bị mất hoặc giảm đi đáng kể kèm theo đó là các

khoản chi phí cho đời sống hàng ngày tăng lên, điều này cho thấy nhu cầu

được bảo hiểm của NLĐ và gia đình họ trong trường hợp này là cần thiết. Vì

vậy, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã hình thành và phát triển

với ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ đối với những rủi ro xảy ra

trong quá trình lao động. Đổng thời, thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối

29

với lực lượng lao động và cộng đồng xã hội nói chung.

Công ước số 102 của ILO về những quy phạm tối thiểu của an sinh xã

hội đã có khuyến nghị các nước thành viên phải thực hiện ít nhất 3 trong 9

chế độ được quy định trong Công ước và trong đó phải có ít nhất một trong

các chế độ trợ cấp bắt buộc là trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai

nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật và trợ cấp mất người nuôi

dưỡng. Điều này cho thấy chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có vai

trò rất quan trọng.

Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là chế độ BHXH nhằm bù

đắp các chi phí chữa trị, bù đắp hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ

bị giảm hoặc mất do giảm hoặc mất khả năng lao động mà nguyên nhân là tai

nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.

Đối tượng hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là những

NLĐ có tham gia BHXH bắt buộc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm

suy giảm khả năng lao động ở một mức độ nhất định. NLĐ ở đây có thể thuộc

mọi thành phần kinh tế nhưng cũng có thể chỉ là cán bộ, công nhân viên

chức… Tại Đức pháp luật quy định đối tượng áp dụng bảo hiểm tai nạn lao

động là tất cả NLĐ, kể cả bị tai nạn lao động trên đường đi, giữa nơi ở và nơi

làm việc; người bị mắc bệnh nghề nghiệp thì được xử lý như bị tai nạn lao

động. Trong khi đó, theo pháp luật Thái Lan thì đối tượng áp dụng của chế độ

bảo hiểm này là tất cả NLĐ làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và thương

mại, loại trừ người làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; người làm

việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, nhân viên chính phủ thì thực hiện theo

hệ thống riêng[7].

Thông thường các quốc gia đều quy định điều kiện NLĐ được hưởng

chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là NLĐ phải tham gia BHXH và

họ bị tai nạn lao động, bệnh nghề ngiệp theo quy định của quốc gia đó. Các

chế độ áp dụng đối với NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có thể kể

30

đến như giám định y khoa, trợ cấp thương tật, bệnh tật và một số chế độ khác

có liên quan. Trong đó trợ cấp thương tật, bệnh tật được xác định là chế độ có

vai trò quan trọng đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp. Tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động mà NLĐ có thể

được hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng.

 Chế độ bảo hiểm hưu trí

Bảo hiểm hưu trí là chế độ dành cho những người không còn tham gia

quan hệ lao động nữa. NLĐ nào cũng sẽ đến lúc già yếu, hết tuổi lao động

nhưng vẫn có nhu cầu đảm bảo cuộc sống và lương hưu sẽ là nguồn thu nhập

chính của NLĐ trong lúc này do vậy bảo hiểm hưu trí là một trong những chế

độ BHXH cần thiết và quan trọng. Không những thế bảo hiểm hưu trí là một

trong những chế độ được bảo hiểm sớm nhất. Vào những năm cuối thế kỷ

XIX, khi hệ thống BHXH mới được hình thành, ở các nước như Đức,

Pháp…các chế độ bảo hiểm bắt buộc đầu tiên được thực hiện là bảo hiểm hưu

trí và bảo hiểm y tế.

Tháng 6 năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã thông qua công

ước số 102 về những quy phạm tối thiểu của an sinh xã hội, trong đó có

khuyến nghị các nước thành viên phải thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ được

Quy định trong Công ước và trong đó phải có ít nhất một trong các chế độ trợ

cấp bắt buộc là trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai nạn lao động và

trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Điều này chứng tỏ chế độ hưu trí luôn được

ILO, chính phủ các nước cũng như NLĐ hết sức quan tâm.

Hầu hết mọi NLĐ tham gia BHXH bắt buộc đều thuộc đối tượng của bảo

hiểm hưu trí và họ chỉ được thụ hưởng chế độ này khi họ hết độ tuổi lao động

hoặc không còn khả năng lao động nữa. Đối với chế độ bảo hiểm hưu trí thì

điều kiện thiết yếu để NLĐ được hưởng bảo hiểm chính là tuổi đời và thời

gian đóng BHXH. Vì vậy, khi NLĐ đến một độ tuổi nhất định và có một

31

khoảng thời gian đóng bảo hiểm nhất định thì NLĐ mới được nghỉ hưu và

được hưởng trợ cấp hưu trí. Về độ tuổi, chế độ bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo

hiểm dành cho những người đã già yếu và không còn tham gia quan hệ lao

động nữa. Vì vậy, về nguyên tắc chỉ đến khi NLĐ hết tuổi lao động thì họ mới

được hưởng chế độ này. Tại Điều 26 Công ước số 102 của ILO khuyến nghị

các quốc gia quy định về độ tuổi nghỉ hưu không được quá 65. Tuy nhiên, các

cơ quan có thẩm quyền có thể ấn định một độ tuổi cao hơn, xét theo khả năng

làm việc của những người cao tuổi trong nước đó. Do vậy, tùy theo điều kiện

kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ sinh và sự già hóa dân số, điều kiện lao

động…mà các quốc gia có quy định khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu. Hay cùng

một quốc gia nhưng tại các giai đoạn khác nhau, giữa lao động nam và lao

động nữ, tuổi nghỉ hưu cũng được quy định khác nhau. Ở Nga, pháp luật quy

định công dân nam đạt 60 tuổi, nữ đạt 55 tuổi, có ít nhất 5 năm đóng BHXH

được hưởng chế độ này[7, tr265].

Hay như ở Đức, người tham gia bảo hiểm hưu trí sẽ được nhận trợ cấp

hưu trí hàng tháng khi đủ 55 tuổi và có ít nhất 5 năm đóng bảo hiểm (độ tuổi

này tăng lên 67 đối với những người sinh sau năm 1964). Từ năm 2012,

những người đủ 65 tuổi và có 45 năm đóng bảo hiểm sẽ được hưởng chế độ

hưu trí dài hạn[7, tr139].

Với điều kiện kinh tế xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, tuổi

thọ trung bình của NLĐ đang có xu hướng tăng, số người nghỉ hưu chiếm tỷ

trọng ngày càng lớn trong toàn bộ dân cư khiến toàn bộ mức chi trả cho chế

độ bảo hiểm hưu trí ngày càng cao. Trong khi phần lớn phí đóng góp vào

BHXH đều dành để chi trả chế độ bảo hiểm hưu trí. Thời gian NLĐ hưởng

chế độ hưu trí thường lâu dài nên chế độ này ảnh hưởng, chi phối tới đời sống

của NLĐ nhiều hơn so với chế độ BHXH khác và quỹ BHXH có an toàn về

tài chính hay không cũng chủ yếu phụ thuộc vào chế độ hưu trí được quy định

và thực hiện như thế nào. Chính vì vậy, nhiều nước đã tiến hành cải cách chế

32

độ bảo hiểm hưu trí bằng cách tăng tuổi nghỉ hưu nhằm cân bằng quỹ BHXH.

Khi NLĐ đáp ứng được các yêu cầu, điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí

thì họ sẽ được hưởng các chế độ trợ cấp hưu trí. Về cơ bản, chế độ trợ cấp

hưu trí bao gồm trợ cấp hưu trí hàng tháng và BHXH một lần. Trong đó, trợ

cấp hưu trí hàng tháng là chế độ được trả theo định kỳ và mức hưởng của bảo

hiểm hưu trí được xác định trên cơ sở mức đóng góp, thời gian đóng góp,

mức tiền lương khi còn làm việc và lãi suất của các khoản đóng góp. Theo

nguyên tắc, mức hưởng không bao giờ cao hơn mức lương trung bình lấy làm

căn cứ tính mức hưởng. Các nước đều không đặt ra giới hạn đối với thời gian

hưởng trợ cấp hưu trí, nghĩa là NLĐ sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí đến lúc

chết. BHXH một lần được chi trả cho NLĐ khi họ nghỉ hưu thường trong

trường hợp họ không có đủ các điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng.

Như vậy, chế độ hưu trí được hiểu là chế độ bảo hiểm xã hội bảo đảm

thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao

động nữa. Dưới góc độ pháp luật, chế độ bảo hiểm hưu trí là tổng hợp các quy

phạm pháp luật quy định về các điều kiện và mức trợ cấp cho những người

tham gia BHXH khi đã hết tuổi lao động hoặc không tham gia quan hệ lao

động nữa.

 Chế độ tử tuất

Khi NLĐ chết đi, gia đình của họ sẽ mất đi một khoản thu nhập và điều

này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thân nhân trong gia đình của NLĐ. Đặc biệt,

đối với những NLĐ mà khi họ còn sống họ giữ vai trò là trụ cột trong gia

đình. Do đó, NLĐ rất cần khoản trợ cấp nhằm trang trải các chi phí cho tang

lễ, đồng thời đảm bảo và ổn định cuộc sống cho người thân khi họ không còn.

Bởi vậy chế độ tử tuất cũng là một trong những chế độ được Nhà nước và

NLĐ hết sức quan tâm.

Chế độ tử tuất là chế độ BHXH đối với thân nhân của NLĐ đang tham

33

gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động nay được hưởng bảo hiểm,

đang chờ hưởng bảo hiểm hưu trí mà bị chết. Chế độ này dành cho thân nhân

của NLĐ. Khi NLĐ tham gia BHXH họ không những được bảo đảm thu nhập

trong và sau quá trình lao động mà ngay cả khi họ chết thì người thân của họ

vẫn được một khoản trợ cấp để lo chi phí mai táng và vượt qua những khó

khăn ban đầu khi người thân vừa mất.

Chế độ tử tuất gồm hai chế độ: đảm bảo chi phí mai táng cho người chết

và chế độ tiền tuất cho thân nhân khi bị mất nguồn thu nhập phụ thuộc. Chế

độ đảm bảo mai táng phí thường được chi trả một lần với mức ấn định chung

cho người thực hiện mai táng. Tổ chức lao động quốc tế ILO thường chỉ đề

cập đến khoản trợ cấp tiền tuất với tư cách là trợ cấp dài hạn, cùng nhóm với

trợ cấp hưu trí và thương tật (Công ước số 102 và Công ước số 128). Đây là

khoản trợ cấp chi trả cho nhân thân của NLĐ với điều kiện sống phụ thuộc

vào thu nhập của NLĐ. Trợ cấp tiền tuất thường được quy định ở mức đồng

đều cho mọi thân nhân theo tỷ lệ gắn với thu nhập[10, tr76].

Tại Phần Lan, pháp luật quy định người vợ (chồng) góa và trẻ mồ côi

dưới 18 tuổi có quyền được nhận trợ cấp tử tuất bao gồm trợ cấp ban đầu được

chi trả trong 06 tháng, mức trợ cấp dựa trên số năm cư trú, có thể được tăng lên

theo thu nhập của người đó. Trợ cấp được chi trả trong thời gian 6 tháng trở lên

nếu người được trợ cấp phải nuôi con nhỏ dưới 18 tuổi[15, tr427].

Tại Nga, trợ cấp mai táng là khoản được chi trả bằng tiền một lần cho

thân nhân người chết hoặc cho người nhận trách nhiệm tổ chức mai táng.

Theo đạo luật liên bang “về tang lễ và mai táng”, trợ cấp mai táng được quy

định không quá 1.000 rúp[7, tr286].

1.2.3.3. Hồ sơ, thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

Hầu hết các nước đều coi hoạt động BHXH bắt buộc là hoạt động dịch

vụ công, có chức năng chung là quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc;

34

tổ chức thu – chi trả các trợ cấp bảo hiểm; quản lý hoạt động tài chính BHXH

bắt buộc. Do điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị của mỗi nước là khác nhau

nên hệ thống BHXH bắt buộc của các nước cũng được xây dựng khác nhau

nên không có mô hình tổ chức BHXH bắt buộc chung cho tất cả các nước.

Chính vì vậy, khi giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc thì hồ sơ

cũng như thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm của mỗi quốc gia là khác nhau.

Bên cạnh đó hồ sơ yêu cầu để giải quyết cho mỗi chế độ bảo hiểm cũng khác

nhau về đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng…

Mặc dù mô hình về hồ sơ, thủ tục có thể khác nhau, nhưng mục đích

chúng hướng tới vẫn là đưa ra những quy định để giải quyết chế độ cho NLĐ

được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc một cách thuận tiện, nhanh

chóng và đúng pháp luật.

1.2.3.4. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội

bắt buộc

Vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc là hành vi trái pháp luật của một

trong các bên liên quan trong lĩnh vực BHXH bắt buộc hoặc của bất kỳ tổ

chức, cá nhân nào trong xã hội. Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bắt

buộc thường xảy ra ở các lĩnh vực đóng BHXH , thủ tục thực hiện việc chi trả

BHXH, sử dụng quỹ BHXH… cụ thể được chia làm ba nhóm như sau:

- Nhóm hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ đóng BHXH.

- Nhóm hành vi vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH.

- Nhóm hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện BHXH.

Các cá nhân, tổ chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bắt

buộc sẽ bị xử lý với các hình thức và mức phạt khác nhau như xử lý vi phạm

hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt

hại sẽ phải bồi thường.

Tranh chấp về BHXH bắt buộc là tranh chấp về việc đóng góp quỹ và

35

thực hiện các chế độ BHXH bắt buộc do Nhà nước quy định, những tranh

chấp này nhìn chung khá là đa dạng nhưng chủ yếu tập trung ở những vấn đề

liên quan tới việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định

của nhà nước trong việc giải quyết các quyền lợi BHXH cho NLĐ và các đối

tượng thụ hưởng khác. Pháp luật cho phép các bên tranh chấp lựa chọn cơ chế

để giải quyết tranh chấp, có thể dùng cơ chế thỏa thuận, cơ chế khiếu nại hoặc

36

cơ chế tài phán.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng hình

thành và phát triển có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội và nó

đã trở thành trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, là một chính sách xã hội

không thể thiếu ở các nước. BHXH bắt buộc là một loại hình BHXH do Nhà

nước tổ chức thực hiện và bắt buộc áp dụng đối với một số NLĐ và NSDLĐ

theo quy định của pháp luật. BHXH bắt buộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối

với NLĐ nói riêng và xã hội nói chung, góp phần phát triển bền vững các chế độ

an sinh xã hội. Mặt khác, BHXH bắt buộc trở thành nhu cầu và quyền lợi của

NLĐ, đó là một trong những quyền lợi cơ bản của con người.

Mỗi quốc gia sẽ quy định hệ thống các chế độ BHXH bắt buộc khác

nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tuy nhiên thường thì

các quốc gia sẽ quy định 5 chế độ BHXH bắt buộc bao gồm: Chế độ ốm đau;

thái sản; TNLĐ, BNN và hưu trí; tử tuất.Việc thực hiện BHXH bắt buộc phải

tuân theo những nguyên tắc đề ra để đảm bảo sự ổn định, an toàn để tiến tới

37

phát triển nền kinh tế xã hội ngày một tốt hơn.

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM

XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN

KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

2.1. Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc

2.1.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người có trách nhiệm đóng phí

bảo hiểm cho cơ quan thực hiện BHXH theo quy định của Nhà nước và được

hưởng các chế độ BHXH bắt buộc. Trong BHXH bắt buộc, đối tượng tham

gia chủ yếu là NLĐ và NSDLĐ. Ngoài ra thân nhân của người tham gia

BHXH bắt buộc cũng được hưởng chế độ BHXH trong một số trường hợp

nhất định theo quy định của pháp luật, nhưng không phải đóng phí bảo hiểm.

Theo khoản 1,2, 3 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2014

thì đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được quy định cụ thể như sau:

*Người lao động

NLĐ là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

được quy định tại Điều 2 Luật BHXH 2014 bao gồm: Người làm việc theo

hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời

hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có

thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký

kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người

dưới 15 tuổi theo quy định;Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời

hạn đủ từ 01 tháng đến dưới 3 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức; Công

nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức

cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ

38

quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;

người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Hạ sĩ quan,

chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có

thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh

hoạt phí;Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật

người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Người

quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền

lương;Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Ngoài ra

pháp luật còn quy định NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt

Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành

nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã

hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

Theo quy định hiện hành thì Luật BHXH năm 2014 đã mở rộng đối

tượng tham gia BHXH bắt buộc và bổ sung một số đối tượng sau:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến

dưới 3 tháng. Hiện nay, tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức chiếm khoảng 70% lực lượng lao động[22], nhưng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với

mức thấp, do đó việc bổ sung đối tượng này vừa đảm bảo quyền lợi của NLĐ

vừa giúp hạn chế tình trạng các doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội cho

NLĐ. Trên thực tế cho thấy rất nhiều doanh nghiệp đã kí hợp đồng có thời

hạn dưới 3 tháng với người lao động để trốn tránh nghĩa vụ cho NLĐ.

-NLĐ công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao

động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có

thẩm quyền của Việt Nam cấp. Trong thời buổi kinh tế thị trường ngày nay,

Việt Nam khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư nhằm phát triển

kinh tế xã- xã hội, điều này có thể thấy số lượng người nước ngoài lao động

tại Việt Nam ngày càng tăng cao. Vì vậy việc bổ sung đối tượng này là phù

hợp với quá trình phát triển thị trường lao động cũng như sẽ giúp đảm bảo

39

quyền lợi của NLĐ nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam. Đồng thời,

phù hợp với khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế và thực tiễn các nước

trong khu vực đều có quy định cho phép người nước ngoài được tham gia

BHXH tại nước họ.

-Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định Luật người lao

động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đối tượng này tuy đã

được quy định trong Luật BHXH 2006 nhưng mới chỉ áp dụng đối với người

mà trước đó đã có thời gian tham gia BHXH bắt buộc.

-Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Theo quy

định của Luật BHXH 2006 thì những người lao động không chuyên trách tại

xã phường… thì không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên

trên thực tế nhiều người làm việc không chuyên trách tại xã, phường có quá

trình hoạt động lâu dài tại cơ sở, làm việc cả ngày. Tại nhiều địa phương, hội

đồng nhân dân tỉnh đã hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho họ, đa số địa

phương đóng trên mức tiền lương cơ sở với mức hỗ trợ từ 50% mức đóng

BHXH trở lên. Vì vậy việc bổ sung thêm đối tượng này là hoàn toàn hợp lý.

*Người sử dụng lao động

Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật BHXH 2014 thì “Người sử dụng

lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị

sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã

hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ

Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức

khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.”

Có thể thấy, Luật BHXH năm 2014 về cơ bản đã bao quát hết được các

trường hợp có sử dụng, thuê mướn lao động và có khả năng tham gia BHXH

bắt buộc. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ngày càng mở rộng. Từ chỗ chỉ

40

bảo vệ cho NLĐ trong khu vực nhà nước, hiện nay, BHXH bắt buộc đã bao

phủ tất cả các đối tượng tham gia quan hệ lao động trong mọi thành phần kinh

tế nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và an sinh xã hội.

Tham gia BHXH là quyền lợi nhưng cũng là trách nhiệm của cả NLĐ và

NSDLĐ. Pháp luật có quy định về mức BHXH, thẻ BHYT thì mức đóng

BHXH bắt buộc đóng BHXH bắt buộc cho từng đối tượng là khác nhau. Theo

Quyết định 595/QĐ-BHXH Quyết định ban hành quy trình thu bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm TNLĐ – BNN; Quản lý sổ

của NLĐ được xác định như sau:

Mức đóng hàng tháng = Mức lương tháng đóng BHXH x Tỷ lệ trích

đóng BHXH.

Đối ở với NLĐ, tùy theo đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mà nghĩa

vụ đóng góp phí BHXH sẽ khác nhau. Theo Điều 85 Luật BHXH năm 2014,

thông thường, hằng tháng NLĐ đóng 8% mức lương tháng vào quỹ hưu trí và

tử tuất. Người hoạt động không chuyên trách xã, phường, thị trấn, hằng tháng

đóng bằng 8% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất. Đối với người đi

làm việc ở nước ngoài, mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng

22% mức tiền lương tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở

nước ngoài, với NLĐ đã có quá trình tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22%

của 02 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc

đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã hưởng BHXH một lần.

Đối với NSDLĐ, mức đóng được quy định tại Điều 86 Luật BHXH năm

2014: NSDLĐ hằng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng BHXH của NLĐ

thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc gồm: 3% vào quỹ ốm đau và thai

sản; 14 % vào quỹ hưu trí và tử tuất. Đối với người đi làm việc ở nước ngoài,

NSDLĐ hằng tháng đóng trên mức lương cơ sở đối với mỗi NLĐ là 22% quỹ

hưu trí và tử tuất. NSDLĐ hằng tháng đóng 14% mức lương cơ sở vào quỹ

41

hưu trí và tử tuất cho người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị

trấn. Bên cạnh đó, NSDLĐ còn phải đóng quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp là 0,5% , quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 44/2017/NĐ-CP về

giảm mức đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh

nghề nghiệp.

Mức lương tháng đóng BHXH sẽ căn cứ vào việc NLĐ thuộc đối tượng

nào. Nếu là người thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì mức

lương theo ngạch, bậc, cấp bậc, quân hàm và các khoản phụ cấp khác (nếu

có); Nếu là người thực hiện chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì mức

lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung

khác. Mức lương tháng đóng BHXH bắt buộc không thấp hơn mức lương tối

thiểu vùng và không cao hơn 20 tháng lương cơ sở.

2.1.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

2.1.2.1. Chế độ ốm đau

Bảo hiểm ốm đau là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm cho NLĐ

(tham gia bảo hiểm xã hội) tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì ốm đau,

tai nạn, chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật. Bảo hiểm ốm đau là

một trong năm chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, có tác dụng to lớn không

những đối với NLĐ và gia đình họ mà còn đối với NSDLĐ, Nhà nước và toàn

xã hội. Tuy nhiên không có nghĩa mọi NLĐ tham gia BHXH đều được hưởng

chế độ ốm đau mà để được hưởng chế độ BHXH ốm đau , NLĐ phải đảm bảo

những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.

 Về đối tượng áp dụng chế độ ốm đau:

Theo quy định tại Điều 24 Luật BHXH năm 2014, đối tượng áp dụng

chế độ ốm đau là NLĐ quy định tại các điểm a,b,c,d,đ và h khoản 1 Điều 2

của Luật BHXH năm 2014, bao gồm: người làm việc theo HĐLĐ không xác

42

định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên; cán bộ, công

chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công

tác khác trong tổ chức cơ yếu; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội

nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kĩ

thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với

quân nhân; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã

có hưởng tiền lương.

Có thể thấy, chế độ BHXH ốm đau chỉ áp dụng đối với các đối tượng

đang tham gia quan hệ lao động phát sinh theo hình thức hợp đồng lao động,

hợp đồng làm việc, tuyển dụng vào biên chế…chứ không áp dụng với tất cả

lao động. Qua quá trình triển khai và áp dụng, bên cạnh những kết quả tích

cực đã đạt được thì chế độ ốm đau cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định.

 Về điều kiện hưởng

Để được hưởng bảo hiểm ốm đau NLĐ cần phải đáp ứng điều kiện nhất

định tại quy định Điều 25 Luật BHXH 2014, các đối tượng áp dụng chế độ

ốm đau sẽ được hưởng chế độ trong các trường hợp:

-Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động

phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền

theo quy định của Bộ Y tế. Như vậy, trường hợp ốm đau để được hưởng chế

độ bảo hiểm phải là trường hợp ốm đau do bệnh lý và nếu là tai nạn thì phải là

tai nạn rủi ro khiến NLĐ nghỉ việc phải có xác nhận của cơ sở khám, chữa

bệnh có thẩm quyền còn những trường hợp ốm đau do NLĐ tự hủy hoại sức

khỏe, do say rượu hoặc do dùng chất ma túy, tiền chất mà tùy theo danh mục

mà Chính Phủ quy định thì sẽ không được hưởng chế độ ốm đau.

-NLĐ phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau và có xác

nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền. Trong trường hợp này NLĐ

được hưởng chế độ ốm đau khi NLĐ có con dưới 7 tuổi bị ốm mà NLĐ phải

43

nghỉ việc để chăm sóc con nhưng với điều kiện con ốm phải có xác nhận của

cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều trường

hợp vì công việc mà không thể nghỉ việc để chăm sóc con được mà phải nhờ

hoặc thuê người khác chăm sóc, những trường hợp này thì NLĐ không được

hưởng chế độ ốm đau.

Việc quy định về thời gian tối thiểu tham gia BHXH là điều kiện cần

thiết để xác định đối tượng hưởng BHXH ốm đau theo tinh thần được thể hiện

tại Điều 17 Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế ILO. Tuy nhiên ,

pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định về thời gian đóng bảo hiểm để

được hưởng chế độ ốm đau và chỉ cần NLĐ khi bị ốm tham gia đóng bảo

hiểm xã hội là sẽ được hưởng chế độ ốm đau. Quy định trên một mặt thể hiện

tính nhân văn trong chế độ bảo hiểm xã hội nhưng đồng thời cũng có những

hạn chế riêng. Đối với trường hợp mắc bệnh cần chữa trị dài ngày thì điều

kiện được hưởng chế độ ốm đau là NLĐ tham gia BHXH bị ốm đau và có các

nhận của cơ sở y tế; Bệnh được xác nhận nằm trong danh mục Bệnh cần chữa

trị dài ngày (Theo Thông tư số 46/2016/TT-BYT ngày 30/12/2016), có thể

thấy rằng chỉ cần NLĐ tham gia và đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong một

thời gian rất ngắn như một tháng hoặc hai tháng là họ có thể được hưởng chế

độ ốm đau một thời gian dài. Điều này dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng để

được hưởng chế độ ốm đau của NLĐ cụ thể khi họ phát hiện mình bị mắc

bệnh cần điều trị dài ngày thì họ mới bắt đầu tìm cách tham gia bảo hiểm xã

hội bắt buộc sau đó nghỉ để hưởng chế độ. Việc này làm ảnh hưởng đến việc

cân đối quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đảm bảo tính công bằng

giữa những người tham gia.

Đồng thời, Luật BHXH đã bổ sung thêm đối tượng không được hưởng

chế độ ốm đau. Trước đây Luật BHXH năm 2006 chỉ quy định “trường hợp

ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử

dụng ma túy, chất gây nghiện khác thì không được hưởng chế độ ốm đau” thì

44

Luật BHXH năm 2014 đã sửa đổi và bổ sung thêm trưởng hợp NLĐ sử dụng

chất tiền ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định cũng không được

hưởng chế độ này.

 Về thời gian hưởng.

Thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau thường được tính bằng ngày làm việc

của NLĐ. Việc quy định thời gian hưởng bảo hiểm xã hội ốm đau phụ thuộc

vào điều kiện lao động, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, tình trạng bệnh tật

của NLĐ, mục đích bảo hiểm của Nhà nước và khả năng cân đối quỹ bảo

hiểm xã hội

Điều 26 Luật BHXH năm 2014, thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau

trong một năm đối với NLĐ tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ,

nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần và được quy định như sau:

-Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã

đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến

dưới 30 năm; 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên. Quy định về khoảng

cách đóng BHXH giữa hai mức hưởng quá lớn tạo nên sự không công bằng,

không thể hiện nguyên tắc đóng hưởng và không khuyến khích được đối với

những người có thời gian đóng BHXH nhiều hơn.

-Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt

nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ

số từ 0,7 trở lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15

năm; 50 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã

đóng từ đủ 30 năm trở lên.

-NLĐ nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài

ngày do Bộ y tế ban hành (khoản 2 Điều 26 Luật BHXH 2014) thì được

hưởng tối đa 180 ngày tính cả ngày lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần; nếu hết

45

thời hạn trên mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với

mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng BHXH.

Nếu như Luật BHXH năm 2006 không giới hạn số ngày nghỉ tối đa thì Luật

BHXH năm 2014 đã quy định cụ thể thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã

đóng BHXH đối với NLĐ nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần

chữa trị dài ngày do Bộ y tế ban hành. Thực hiện điều này sẽ bảo đảm việc

giải quyết chế độ BHXH phù hợp với nguyên tắc đóng – hưởng và tránh tình

trạng lạm dụng để trục lợi quỹ BHXH.

-Ngoài ra theo Điều 27 luật BHXH năm 2014 còn quy định thời gian

hưởng chế độ khi con ốm đau. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong

một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày

làm việc nếu con dưới 03 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03

tuổi đến dưới 07 tuổi. Tuy nhiên, quy định trên còn chung chung chưa có sự

phân biệt rõ ràng về thời gian hưởng chế độ tùy theo tình trạng ốm đau của

con, dù con ốm đau nặng hay nhẹ thì đều được nghỉ với cùng số ngày như

nhau. Vì vậy, đối với trường hợp con ốm nặng hay mắc các bệnh cần điều trị

dài ngày thì việc quy định thời gian nghỉ như trên là không phù hợp.

 Mức hưởng chế độ ốm đau

Theo Điều 28 Luật BHXH năm 2014 thì NLĐ hưởng chế độ ốm đau

bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Các mức hưởng trợ được điều chỉnh tăng so với quy định của luật cũ. Cụ

thể, mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo

tháng chia cho 24 ngày thay vì chia cho 26 ngày như trước kia, điều này đã

khắc phục được hạn chế của Luật BHXH năm 2006 khi chỉ quy định mức trợ

cấp ốm đau theo tháng mà chưa quy đinh theo ngày, gây thiệt thòi cho NLĐ

làm việc 22 ngày/tháng hoặc 24 ngày/tháng.

Về chế độ phục hồi sức khỏe sau ốm đau, Luật BHXH năm 2014 đã bỏ

46

chế độ nghỉ tại nhà và ở các cơ sở tập trung mà thay vào đó thống nhất điều

kiện và một mức hưởng bằng 30% mức lương cơ sở. Mức hưởng quy định

như trên là hợp lý, bởi mặc dù, chế độ này được quy định nhằm giúp NLĐ

được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau mà sức khỏe chưa

phục hồi, giúp NLĐ sớm phục hồi để làm việc trở lại, đây là chế độ có tính

chất hỗ trợ, trợ giúp cho NLĐ sau ốm đau.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện mang tính chủ quan do việc xác định sức

khỏe chưa phục hồi là khó xác định và chỉ dựa theo cảm tính. Mặt khác, số

ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do NSDLĐ hoặc Ban chấp hành

công đoàn cơ sở quyết định nên có thể dẫn đến sự tùy tiện và lạm dụng khi

thực hiện quy định này.

Như vậy, chế độ ốm đau thực hiện đã góp phần làm ổn định cuộc sống

của NLĐ khi họ không may bị ốm đau hoặc tai nạn rủi ro phải nghỉ việc hoặc

phải nghỉ việc để chăm con ốm đau , ngoài ra nó còn giúp ổn định nền kinh tế

- xã hội – chính trị.

2.1.2.2. Chế độ thai sản

 Đối tượng và điều kiện hưởng

Theo Điều 30 Luật BHXH 2014 quy định về đối tượng áp dụng chế độ

thai sản thì đối tượng áp dụng chế độ thai sản là NLĐ tham gia BHXH bắt

buộc trừ các đối tượng sau: Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ

quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công

an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; Người đi làm việc ở nước

ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước

ngoài theo hợp đồng; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị

trấn, NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao

động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có

thẩm quyền của Việt Nam cấp.

Bên cạnh đó tại Điều 33 Luật BHXH 2014 quy định về đối tượng và

47

điều kiện hưởng chế độ thai sản.

Luật BHXH 2014 đã mở rộng hơn về đối tượng hưởng. Cụ thể Luật

BHXH 2014 đã bổ sung thêm 02 trường hợp NLĐ được hưởng chế độ thai

sản bao gồm: lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; lao

động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con. Ngoài ra, NLĐ nhận nuôi con

nuôi dưới 06 tháng tuổi cũng được hưởng chế độ thai sản thay vì dưới 04

tháng tuổi như trước kia.

Điều kiện hưởng chế độ thai sản cũng được mở rộng hơn đối với NLĐ

đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để

dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền thì chỉ

cần có thời gian tham gia BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong vòng 12 tháng

trước khi sinh sẽ được hưởng chế độ thai sản theo quy định. Trong trường hợp

này, Luật BHXH năm 2006 quy định bắt buộc phải có thời gian đóng BHXH

từ đủ 06 tháng trở lên trong khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh mới đủ

điều kiện hưởng chế độ khi sinh con đã gây thiệt thòi cho lao động nữ sinh

con. Quy định này của Luật là hoàn toàn hợp lý, vừa đảm bảo phù hợp với

Luật hôn nhân và gia đình, vừa đảm bảo sức khỏe cho NLĐ trong quá trình

mang thai, nuôi con.

 Thời gian hưởng chế độ thai sản

Theo quy định tại Luật BHXH 2014 thời gian nghỉ thai sản được áp

dụng cho nhiều trường hợp : Nghỉ khám thai, nghỉ vì sảy thai, nạo, hút thai,

thai chết lưu, nghỉ sinh con, nghỉ nuôi con dưới 6 tháng tuổi.. cụ thể như sau:

Về thời gian nghỉ khám thai quy định tại Điều 32 Luật BHXH 2014:

Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần,

mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người

mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho

48

mỗi lần khám thai. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính theo ngày

làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Quy định về

thời gian nghỉ khám thai như này là phù hợp với khuyến nghị của Tổ chức y

tế thế giới về bảo vệ, chăm sóc lao động nữ khi có thai; đồng thời, hạn chế

được tình trạng NSDLĐ lạm quyền, vì lý do công việc mà không đảm bảo

được thời gian nghỉ khám thai cho lao động nữ.

Tại Điều 33 Luật BHXH quy định về thời gian nghỉ khi sảy thai, nạo,

hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý. Sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai

chết lưu do nhiều nguyên nhân khác nhau. Dù do nguyên nhân nào thì sảy

thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, thể

chất cũng như tinh thần của người phụ nữ. Để giúp cho lao động nữ nhanh

chóng phục hồi sức khỏe, sớm ổn dịnh nhịp sinh học của cơ thể thì pháp luật

hiện hành quy định lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo

chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa

được quy định là 10 ngày nếu thai dưới 5 tuần tuổi; 20 ngày nếu thai từ 5 tuần

tuối đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần

tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên. Thời gian nghỉ việc hưởng chế

độ thai sản này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần.

Điều 34 Luật BHXH 2014 quy định về thời gian nghỉ khi sinh con.

Người phụ nữ gần đến ngày sinh rất cần được nghỉ ngơi để chuẩn bị cho việc

sinh đẻ cũng như để chuẩn bị cho đứa con ra đời. Sau khi sinh càng cần thiết

phải được nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe và chăm sóc con sơ sinh. Trước

kia, luật quy định thời gian nghỉ sinh con được chia làm 03 mức dựa trên điều

kiện làm việc của NLĐ, tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng quy định này còn

nhiều vướng mắc do không phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam và không phù

hợp với khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới vè nuôi con bằng sữa mẹ, trẻ sơ

sinh phải được bú mẹ ít nhất trong thời gian 06 tháng. Chính vì vậy, Bộ luật

49

lao động (BLLĐ) năm 2012 đã quy định nâng thời gian nghỉ sinh con lên

thành 06 tháng mà không phụ thuộc vào điều kiện làm việc. Do vậy, để bảo

đảm sức khỏe cho lao động nữ và trẻ em cũng là để phù hợp với quy định của

BLLĐ năm 2012 thì Điều 34 của Luật BHXH năm 2014 đã quy định lao động

nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là

06 tháng. Đối với trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ

hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ sẽ được nghỉ thêm 1 tháng. Thời gian nghỉ

hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng.

Cũng tại Điều 34 Luật BHXH năm 2014 cụ thể tại khoản 2 Điều 34 quy

định về thời gian nghỉ đối với lao động nam khi có vợ sinh con. Đây là một

trong những điểm mới của Luật BHXH năm 2014 quy định lao động nam

đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như

sau: 05 ngày làm việc; 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh

con dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh đôi, từ sinh

ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày làm việc; 14 ngày làm

việc nếu vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật. Thời gian nghỉ việc hưởng

chế độ thai sản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ khi vợ

sinh con. Việc bổ sung quy định mới này đã góp phần đảm bảo quyền lợi của

NLĐ nam có tham gia BHXH và có đóng góp vào quỹ ốm đau, thai sản

nhưng thực tế chưa được hưởng chế độ thai sản; phù hợp với thực tiễn cuộc

sống hiện nay; đáp ứng với nguyện vọng của phần lớn NLĐ.

Thời gian nghỉ khi nhận nuôi con nuôi được quy định tại Điều 36 Luật

BHXH năm 2014: Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì

được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng

tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện

hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật BHXH năm

2014 thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ. Vì vậy, không phân

biệt NLĐ là nam hay nữ chỉ cần nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuồi thì sẽ

50

được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Tuy

nhiên không có sự kiện sinh con, NLĐ chỉ chăm sóc và nuôi dưỡng con nên

chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ này. Quy định này đảm bảo

quyền được làm cha, làm mẹ của NLĐ . Đây là quy định thể hiện rằng pháp

luật đang tiến đến xu hướng chung là mọi lao động đều có quyền bình đẳng

và được tạo điều kiện để được hưởng chế độ thai sản đồng thời cũng đảm ba

hon sự công bằng, không có sự phân biệt giữa con đẻ và con nuôi , thể hiện sự

phù hợp và thống nhất với pháp luật khác.

Thời gian nghỉ khi thực hiện các biện pháp tránh thai. Trước đây,

NLĐ khi thực hiện biện pháp tránh thai nhằm mục đích kế hoạch hóa dân

số thì các chế độ đối với họ nằm trong quỹ kế hoạch hóa dân số của y tế .

Sau này Nhà nước chuyển sang thực hiện BHXH đối với họ và trong thời

gian dài, các biện pháp như đặt vòng tránh thai, hút điều hòa kinh nguyệt ,

triệt sản được tính để hưởng chế độ ốm đau. Quy định như vậy là chưa hợp

lý , vì về bản chất những biện pháp này đều thuộc diện thai sản, đều ảnh

hưởng đến tâm sinh lý và chức năng sinh sản của người lao động. Hơn nữa,

mức hưởng chế độ ốm đau lại thấp hơn so với mức hưởng chế độ thai sản.

Vì vậy, pháp luật về BHXH hiện hành chuyển những biện pháp này sang

chế độ thai sản nhằm bảo đảm hơn sự công bằng về quyền lợi cho NLĐ[17,

tr161].

Như vậy, các quy định về thời gian nghỉ thai sản cho mỗi trường hợp đều

được tính toán và cân nhắc kỹ trên thực tế nhằm bảo vệ sức khỏe NLĐ và trẻ

sơ sinh , phù hợp với đời sống xã hội và thời gian chi trả quỹ của bảo hiểm.

 Mức hưởng chế độ thai sản

- Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi: Theo quy định

tại Điều 38 Luật BHXH năm 2014 thì lao động nữ sinh con hoặc NLĐ nhận

nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng

51

02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng lao động

nữ nhận nuôi con nuôi. Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia

BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng

sinh con cho mỗi con.

- Mức hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 39 Luật BHXH năm

2014, bao gồm mức hưởng một tháng, mức hưởng một ngày và mức hưởng

chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Mức hưởng một tháng được áp dụng đối với các đối tượng được hưởng

chế độ thai sản và được tính bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng

đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường

hợp NLĐ đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo

quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2,4,5 và 6 Điều 34, Điều 37 của

Luật BHXH năm 2014 là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã

đóng BHXH.

Mức hưởng một ngày áp dụng đối với trường hợp khi khám thai và lao

động nam có vợ sinh con được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo

tháng chia cho 24 ngày. Quy định này là quy định mới được bổ sung trong

Luật BHXH năm 2014, nhằm bảo đảm công bằng về quyền lợi của NLĐ và

thống nhất với quy định về chế độ ốm đau.

Mức hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính theo

mức trợ cấp tháng, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp chế độ khi sảy

thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp

tránh thai thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng

chia cho 30 ngày.

Bên cạnh đó, Điều 40 Luật BHXH năm 2014 quy định lao động nữ có

thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con trong hai trường hợp: lao động

nữ nghỉ sinh con và lao động nữ sinh xong mà con bị chết. Tuy nhiên, để bảo

52

đảm sức khỏe cho lao động nữ sau sinh thì pháp luật đã quy định họ chỉ được

đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con khi có đủ các điều kiện sau: Sau

khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 04 tháng và phải báo trước và được

người sử dụng lao động đồng ý. Ngoài tiền lương của những ngày làm việc,

lao động nữ đi làm trước thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai

sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của

Luật này. Quy định trên vừa đảm bảo sức khỏe cho lao động nữ sau khi sinh

con, vừa đảm bảo cơ hội việc làm và giúp cho họ sớm làm quen với công

việc. Việc đảm bảo công việc, thu nhập cho lao động nữ trong và sau quá

trình mang thai là một việc làm cần thiết giúp phụ nữ có được cơ hội bình

đẳng và được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc.

Để giúp cho lao động nữ sớm phục hổi sức khỏe, tại Điều 41 Luật

BHXH năm 2014 còn có quy định về dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai.

Theo đó thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định: Tối đa

10 ngày đối với lao động nữ sinh 1 lần từ hai con trở lên; Tối đa 07 ngày đối

với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật; Tối đa 05 ngày đối với các trường

hợp khác. Mức hưởng chế độ dưỡng sức , phục hồi sức khỏe sau thai sản một

ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Chế độ bảo hiểm thai sản có ý nghĩa rất lớn đối với bản thân người lao

động và gia đình họ, đối với các đơn vị sử dụng lao động và hơn cả là đối với

sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

2.1.2.3. Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

 Đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Theo quy định tại Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 thì

đối tượng áp dụng chế độ TNLĐ, BNN bao gồm NLĐ và NSDLĐ có tham

gia BHXH bắt buộc theo các điểm a, b, c, d, đ, e và h khoản 1 và khoản 3

53

Điều 2 của Luật BHXH năm 2014.

Điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động.

Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức

năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá

trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

(Khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015)

Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ điều kiện được quy định cụ thể

tại Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015:

-NLĐ bị tai nạn trong các trường hợp: Tại nơi làm việc và trong giờ

làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm

việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản

xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng

hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh; Ngoài nơi

làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của

người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền

bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến

nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến

đường hợp lý;

-NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên: Nếu người lao động

bị tai nạn nhưng không bị suy giảm khả năng lao động hoặc suy giảm dưới

5% khả năng lao động thì không được hưởng trợ cấp tai nạn lao động bởi vì

mức suy giảm dưới 5% là không đáng kể.

-Ngoài ra, Luật còn quy định trường hợp NLĐ không được hưởng chế độ

do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một

trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật An toàn vệ sinh lao

động năm 2015 cụ thể: Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai

54

nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; Do

người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; Do sử dụng ma túy,

chất gây nghiện trái với quy định của pháp luật.

 Điều kiện hưởng bảo hiểm bệnh nghề nghiệp

Khoản 9 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định:

“Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề

nghiệp tác động đối với người lao động”

Danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng Liên

đoàn Lao động Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động.

Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp

được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện quy định tại

Điều 46 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015:

“1. Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị bệnh nghề nghiệp thuộc Danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng

Bộ Y tế ban hành theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;

b) Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh quy định tại

điểm a khoản này.

2. Người lao động khi đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các

nghề, công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp thuộc Danh mục bệnh nghề

nghiệp do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của

Luật này mà phát hiện bị bệnh nghề nghiệp trong thời gian quy định thì được

giám định để xem xét, giải quyết chế độ theo quy định của Chính phủ.”

 Chế độ hưởng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Chế độ giám định mức suy giảm khả năng lao động được quy định tại

Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Theo đó, NLĐ được giám

định mức suy giảm khả năng lao động sau khi bị TNLĐ, BNN và thương tật,

55

bệnh tật đã được điều trị ổn định. NLĐ được giám định lại mức suy giảm khả

năng lao động sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn

định…Việc quy định cụ thể về giám định mức suy giảm khả năng lao động

này đã góp phần đảm bảo tốt quyền lợi của NLĐ, bảo đảm khách quan trong

việc giải quyết chế độ TNLĐ, BNN.

Người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì sẽ được trợ

cấp TNLĐ, BNN một lần hoặc trợ cấp hàng tháng tùy theo quy định của pháp

luật. Cụ thể:

- Trợ cấp một lần (Điều 48 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015), trợ cấp

này áp dụng đối với NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30%. Trợ

cấp gồm 2 khoản, một khoản là trợ cấp theo mức giảm khả năng lao động và

một khoản là trợ cấp theo số năm đóng BHXH. Nếu suy giảm 5% khả năng

lao động thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở; Ngoài mức trợ cấp

quy định trên thì còn được hưởng thêm trợ cấp tính theo số năm đã đóng

BHXH, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm

mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng BHXH của

tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp hàng tháng (Điều 49 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015): Trợ

cấp hàng tháng áp dụng đối với NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 31%

trở lên. Trợ cấp gồm 2 khoản, một khoản là trợ cấp theo mức suy giảm khả

năng lao động và một khoản là trợ cấp theo số năm đóng BHXH. Nếu suy

giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau

đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở; Ngoài

mức trợ cấp quy định trên, hàng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ

cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống được tính bằng

0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền

lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Thời điểm hưởng trợ cấp một lần hay hàng tháng được tính từ tháng

56

NLĐ điều trị xong, ra viện. Trong trường hợp mà bị thương tật hoặc bệnh tái

phát, NLĐ được đi giám định tại mức suy giảm khả năng lao động thì thời

điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng giám

định y khoa.

Ngoài ra còn có các chế độ khác được quy định tại Điều 51, Điều 52,

Điều 53 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, các chế độ này có tính chất

bổ sung cho chế độ trợ cấp đối với NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp. Các chế độ đó là: chế độ trợ giúp phương tiện sinh hoạt, dụng cụ

chỉnh hình; trợ cấp phục vụ; trợ cấp khi NLĐ chết do TNLĐ , BNN. Tùy từng

trường hợp và đáp ứng những điều kiện theo quy định thì NLĐ sẽ được

hưởng các loại trợ cấp này. Cụ thể như:

 Chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị

Theo Điều 54 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 chế độ này được quy

định như sau:

Điều kiện hưởng: NLĐ sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao

động hoặc bệnh tật do nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ

dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.

Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe: Do người sử dụng lao

động và ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử

dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do NSDLĐ quyết định.

Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau: Tối đa

10 ngày đối với trường hợp bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả

năng lao động từ 51% trở lên; Tối đa 07 ngày làm việc đối với trường hợp bị

tai nạn, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% đến

50%; Tối đa 05 ngày làm việc đối với trường hợp bị tai nạn, bệnh nghề

nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 15% đến 30%

57

Mức trợ cấp cho 01 ngày : 01 ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

2.1.2.4. Chế độ bảo hiểm hưu trí

Chế độ hưu trí được hiểu là chế độ BHXH nhằm đảm bảo thu nhập cho

người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Vì

vậy nó rất cần thiết và không thể thiếu được, bởi bất kì người lao động nào

cũng sẽ đến lúc già yếu, hết tuổi lao động nhưng vẫn cần có thu nhập để đảm

bảo cho cuộc sống của họ và lương hưu chính là nguồn thu nhập đó của họ

trong lúc này.

Về cơ bản, các quy định về chế độ hưu trí trong Luật BHXH hiện hành

đã tương đối hợp lý về điều kiện nghỉ hưu, điều chỉnh tiền lương, tiền công đã

đóng BHXH, điều chỉnh lương hưu…đã tạo được sự đồng tình của đa số NLĐ

và đã cải thiện cuộc sống của người về hưu. Tuy nhiên, trước sự tăng trưởng

của nền kinh tế và xu hướng già hóa dân số, chế độ hưu trí tại Luật BHXH đã

bộc lộ một số bất cập sau:

Có sự kết hợp, lồng ghép giữa chế độ hưu trí với các chính sách khác

như chính sách lao động, chính sách việc làm đã dẫn đến tình trạng nhiều

trường hợp giải quyết chế độ hưu trí trước tuổi quy định khiến cho quỹ

BHXH ngày càng có nguy cơ mất cân đối; đồng thời cũng tạo nên sự không

công bằng giữa các đối tượng tham gia BHXH nói chung.

Việc quy định NLĐ chưa hết tuổi lao động và còn khả năng lao động có

dưới 20 năm đóng BHXH được nhận trợ cấp BHXH một lần là chưa đảm bảo

khuyến khích NLĐ tham gia BHXH tự nguyện và chưa phù hợp với mục tiêu

của BHXH là nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ khi hết tuổi lao động, đảm

bảo an sinh xã hội. Mức hưởng bảo hiểm một lần còn thấp so với mức đóng.

Theo lộ trình tăng tỷ lệ đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất của Luật

BHXH thì từ năm 2014 trở đi, mức đóng BHXH của NLĐ và NSDLĐ là 22%

58

mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Trong khi đó, mức hưởng BHXH

một lần vẫn quy định mỗi năm đóng BHXH hưởng 1,5 mức bình quân tiền

lương, tiền công đóng BHXH. Quy định này là thiệt thòi cho NLĐ và chưa

đảm bảo được nguyên tắc đóng hưởng.

Luật BHXH hiện hành chưa có quy định về việc tiếp tục hưởng lương

hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng sau khi chấp hành xong hình phạt tù hoặc

người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp, người mất tích trở về, nên đã gây ra

những ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ.

Mức lương hưu hiện nay vẫn còn thấp so với nhu cầu cuộc sống của

người về hưu, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm hiện nay còn thấp nhiều

so với thu nhập thực tế của NLĐ. Điều đó dẫn đến tình trạng mặc dù tỉ lệ %

hưởng lương hưu khá cao (tối đa 75%) nhưng mức lương hưu của người nghỉ

hưu còn thấp so với nhu cầu của cuộc sống, điều nãy cũng đã gây ra áp lực

lớn đối với quỹ BHXH trong việc điều chỉnh lương hưu. Việc này thể hiện

khá rõ đối với lao động hưởng lương và đóng BHXH theo chế độ tiền lương

do NSDLĐ quyết định, do quy định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là

mức tiền lương ghi trong hợp đồng lao động nên các doanh nghiệp khi ký kết

hợp đồng lao động với NLĐ thỏa thuận ghi trên hợp đồng lao động là phần

khác so với mức lương thực tế mà NLĐ nhận được để trốn đóng BHXH.

Cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để

làm cơ sở tính lương hưu, trợ cấp BHXH một lần theo pháp luật hiện hành

còn có sự phân biệt giữa NLĐ hưởng tiền lương và đóng BHXH theo chế độ

tiền lương do Nhà nước quy định và người đóng BHXH theo chế độ tiền

lương do NSDLĐ quyết định. Điều đó không phù hợp với nguyên tắc bình

đẳng giữa các thành phần trong nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, thang bảng

lương của Nhà nước khi thay đổi, chênh lệch rất nhiều nên không có sự bảo

59

đảm công bằng giữa những người nghỉ hưu trong các thời kỳ khác nhau. Cách

tính tỉ lệ hưởng lương hưu có sự khác biệt giữa nam và nữ, trong khi đó tỉ lệ

đóng BHXH là như nhau. Điều này tạo nên sự không công bằng trong quyền

thụ hưởng giữa các đối tượng tham gia.

Hệ thống hưu trí hiện hành của Việt Nam còn thiếu đa dạng, chính vì

vậy áp lực về vấn đề cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn và vấn đề mức lương

hưu đảm bảo cuộc sống của người nghỉ hưu đang là vấn đề rất đáng quan tâm

và cần phải tham khảo của một số nước có hệ thống BHXH trên thế giới

nhằm khắc phục những hạn chế về BHXH hưu trí.

2.1.2.5. Chế độ tử tuất

Chế độ tử tuất là chế độ bảo hiểm xã hội đối với thân nhân của người lao

động đang tham gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động nay đang

hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm mà bị chết . Chế độ này nhằm trợ

giúp một phần tiền tang lễ và trợ giúp cho thân nhân của người lao động khi mất

đi người trụ cột trong gia đình[17, tr196].

 Trợ cấp mai táng:

Những người sau đây khi chết thì người lo mai táng sẽ được nhận một

lần trợ cấp mai táng: Người lao động đang đóng BHXH hoặc NLĐ đang bảo

lưu thời gian đóng BHXH mà đã có thời gian đóng từ đủ 12 tháng trở lên;

NLĐ chết do tai nạn lao động, BNN hoặc chết trong thời gian điều trị do

TNLĐ, BNN; Người đang hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN

hàng tháng đã nghỉ việc. Mức hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương

cơ sở tại tháng mà người chết.

Như vậy ta có thể thấy rằng, Điều 66 Luật BHXH năm 2014 đã bổ sung,

sửa đổi quy định về điều kiện hưởng trợ cấp mai táng, đó là thời gian tham

gia BHXH đối với NLĐ đang tham gia đóng BHXH hoặc đang bảo lưu thời

gian đóng BHXH đối với “NLĐ đã có thời gian đóng BHXH từ đủ 12 tháng

60

trở lên”. Trong khi đó Luật BHXH 2006 thì chỉ quy định NLĐ đang tham gia

BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH mà chết thì người lo mai

táng được nhận trợ cấp mai táng mà không cần điều kiện về thời gian tham

gia BHXH của NLĐ chết.

 Trợ cấp tiền tuất

Trợ cấp tuất hàng tháng:

Người lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân

nhân sẽ được hưởng tiền tuất hàng tháng: Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm

trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần ; Đang hưởng lương hưu;

Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao

động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ

61 % trở lên.

Thân nhân của NLĐ chết sẽ được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng gồm:

Con chưa đủ 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao

động từ 81% trở lên; con được sinh khi người bố chết mà người mẹ đang

mang thai.Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới

55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở

lên.Cha đẻ, mẹ đẻ, cha đẻ của vợ hoặc cha đẻ của chồng, mẹ đẻ của vợ hoặc

mẹ đẻ của chồng, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm

xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân

và gia đình nếu từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với

nữ. Cha đẻ, mẹ đẻ, cha đẻ của vợ hoặc cha đẻ của chồng, mẹ đẻ của vợ hoặc

mẹ đẻ của chồng, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm

xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân

và gia đình nếu dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy

giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

Thân nhân được nhận trợ cấp phải là người không có thu nhập hoặc có

thu nhập hàng tháng thấp hơn mức lương cơ sở và số thân nhân hưởng trợ cấp

61

không quá 4 người.

Mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương

cơ sở , trường hợp nhân thân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ

cấp tuất hàng tháng bằng 70% mức lương cơ sở.

Về cơ bản, Luật BHXH năm 2014 kế thừa quy định về các trường hợp,

điều kiện được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của Luật BHXH năm 2006 và

có bổ sung thêm một số nội dung cơ bản như đối tượng là thân nhân đã được

bổ sung thêm và cụ thể hóa gồm cả con nuôi, cha nuôi, mẹ nuôi. Điều này

giúp cho việc tổ chức thực hiện tránh vướng mắc hơn.

Trợ cấp tuất một lần

Theo quy định Điều 69 Luật BHXH năm 2014 quy định người được

hưởng trợ cấp mai táng trong các trường hợp sau khi chết thì thân nhân được

trợ cấp tuất một lần bao gồm : NLĐ chết không thuộc các trường hợp được

hưởng trợ cấp tuất hàng tháng ; NLĐ chết thuộc một trong các trường hợp

được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nhưng không có thân nhân hưởng tiền

tuất hàng tháng quy định tại Luật BHXH ; Thân nhân thuộc diện hưởng trợ

cấp tuất hằng tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 67 mà có nguyện vọng

hưởng trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp con dưới 06 tuổi, con hoặc vợ hoặc

chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

Điều 70 Luật BHXH năm 2014 quy định :Mức trợ cấp tuất một lần đối

với thân nhân của người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội hoặc người

lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm

đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền

lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng bảo hiểm xã hội

trước năm 2014; bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo

hiểm xã hội cho các năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi; mức thấp

nhất bằng 03 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính trợ cấp

62

tuất một lần thực hiện theo quy định tại Điều 62 của Luật này.

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương

hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong 02

tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng;

nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 01 tháng lương hưu thì mức

trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng 03 tháng lương hưu

đang hưởng.

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương

hưu chết không thay đổi so với Luật BHXH 2006.

2.1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc.

 Chế độ ốm đau, thai sản

Theo quy định tại Điều 100 Luật BHXH năm 2014 thì hồ sơ hưởng chế

độ bảo hiểm ốm đau đối với trường hợp NLĐ hoặc con của NLĐ điều trị ở

trong nước thì hồ sơ điều trị nội trú bao gồm bản chính, bản sao giấy ra viện,

điều trị ngoại trú phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH. Đối với

trường hợp NLĐ hoặc con của NLĐ khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài thì

hồ sơ điều trị nội trú hoặc ngoại trú thay bằng bản dịch tiếng Việt của giấy

khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài cấp.

Tại Điều 101 Luật BHXH năm 2014 thì hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối

với lao động nữ sinh con gồm: Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy

chứng sinh của con; Bản sao giấy chứng tử của con trong trường hợp con

chết, bản sao giấy chứng tử của mẹ trong trường hợp sau khi sinh con mà mẹ

chết; Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình

trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;

Trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường hợp con

chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh; Giấy xác nhận của cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao động nữ phải nghỉ việc để

63

dưỡng thai đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật này.

Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu

hoặc phá thai bệnh lý, người lao động thực hiện biện pháp tránh thai phải có

giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đối với trường hợp điều trị

ngoại trú, bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội

trú. Trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải

có giấy chứng nhận nuôi con nuôi. Trường hợp lao động nam nghỉ việc khi vợ

sinh con phải có bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con

và giấy xác nhận của cơ sở y tế đối với trường hợp sinh con phải phẫu thuật,

sinh con dưới 32 tuần tuổi.

Thủ tục giải quyết chế độ ốm đau, thai sản được quy định tại Điều 102

Luật BHXH năm 2014 cụ thể như sau: NLĐ trong thời hạn 45 ngày kể từ

ngày trở lại làm việc có trách nhiệm nộp hồ sơ theo quy định của Luật BHXH

cho NSDLĐ. Trường hợp NLĐ thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi

con nuôi thì nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 101 của Luật

này và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội. NSDLĐ

trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử

dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại Điều 100 và Điều 101

của Luật này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Cơ quan BHXH trong thời

hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử dụng lao

động, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người

lao động; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy

định từ người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con

nuôi, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao

động. Trường hợp cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết thì phải trả lời

bằng văn bản và nêu rõ lý do.

 Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN

Điều 104, Luật BHXH năm 2014 quy định về hồ sơ hưởng chế độ bảo

64

hiểm tai nạn lao động bao gồm những giấy tờ sau: Sổ bảo hiểm xã hội; Biên

bản điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định

là tai nạn lao động thì phải có thêm biên bản tai nạn giao thông hoặc biên bản

khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông;Giấy ra

viện sau khi đã điều trị tai nạn lao động; Biên bản giám định mức suy giảm

khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải

quyết chế độ tai nạn lao động.

Theo Điều 105, Luật BHXH năm 2014 quy định về hồ sơ hưởng chế độ

bệnh nghề nghiệp bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Biên bản đo đạc môi trường

có yếu tố độc hại, trường hợp biên bản xác định cho nhiều người thì hồ sơ của

mỗi người lao động có bản trích sao; Giấy ra viện sau khi điều trị bệnh nghề

nghiệp, trường hợp không điều trị tại bệnh viện thì phải có giấy khám bệnh

nghề nghiệp; Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội

đồng giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải quyết chế độ bệnh nghề nghiệp.

Thủ tục giải quyết chế độ TNLĐ, BNN được quy định tại Điều 106, Luật

BHXH năm 2014. Theo đó Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho cơ quan

bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.Trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết hưởng

chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trường hợp không giải quyết thì

phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

 Chế độ bảo hiểm hưu trí

- Hồ sơ và thủ tục giải quyết hưởng lương hưu

Hồ sơ hưởng lương hưu đối với NLĐ đang tham gia BHXH bắt buộc bao

gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Quyết định nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hoặc

văn bản chấm dứt hợp đồng lao động hưởng chế độ hưu trí; Biên bản giám

định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa đối với

người nghỉ hưu theo quy định tại Điều 55 của Luật này hoặc giấy chứng nhận

65

bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp đối với trường hợp người

lao động quy định tại Điều 54 của Luật này. (Khoản 1 Điều 108 Luật BHXH

năm 2014)

Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm NLĐ được hưởng lương hưu,

NSDLĐ nộp hồ sơ quy định cho cơ quan BHXH. Trong thời hạn 20 ngày kể

từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người hưởng lương hưu cơ quan

BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho NLĐ, trường hợp

không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

- Hồ sơ và thủ tục giải quyết hưởng BHXH một lần

Theo Điều 109 Luật BHXH năm 2014 thì hồ sơ hưởng BHXH một lần

bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần

của người lao động; Đối với người ra nước ngoài để định cư phải nộp thêm

bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt

Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong

các giấy tờ sau đây:Hộ chiếu do nước ngoài cấp;Thị thực của cơ quan nước

ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhập cảnh với lý do định

cư ở nước ngoài; Giấy tờ xác nhận về việc đang làm thủ tục nhập quốc tịch

nước ngoài; giấy tờ xác nhận hoặc thẻ thường trú, cư trú có thời hạn từ 05

năm trở lên của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp. Trích sao hồ sơ bệnh

án trong trường hợp NLĐ đang mắc bệnh.

Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm người lao động đủ điều kiện

và có yêu cầu hưởng bảo hiểm xã hội một lần nộp hồ sơ quy định của pháp

luật cho cơ quan bảo hiểm xã hội, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ

hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết và tổ

chức chi trả cho người lao động; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời

bằng văn bản và nêu rõ lý do.

 Chế độ bảo hiểm tử tuất

Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng BHXH và người

66

bảo lưu thời gian đóng BHXH được quy định tại Điều 111 Luật BHXH 2014

bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Bản sao giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc

bản sao quyết định tuyên bố là đã chết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;Tờ

khai của thân nhân và biên bản họp của các thân nhân đối với trường hợp đủ

điều kiện hưởng hằng tháng nhưng chọn hưởng trợ cấp tuất một lần; Biên bản

điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là tai

nạn lao động thì phải có thêm biên bản tai nạn giao thông hoặc biên bản khám

nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông quy định tại

khoản 2 Điều 104 của Luật này; bản sao bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp

đối với trường hợp chết do bệnh nghề nghiệp; Biên bản giám định mức suy

giảm khả năng lao động đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao động từ

81% trở lên.

Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất của người đang hưởng hoặc người đang tạm

dừng hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng

tháng bao gồm: Bản sao giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định

tuyên bố là đã chết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Tờ khai của thân

nhân và biên bản họp của các thân nhân đối với trường hợp đủ điều kiện

hưởng hằng tháng nhưng chọn hưởng trợ cấp tuất một lần;Biên bản giám định

mức suy giảm khả năng lao động đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao

động từ 81% trở lên.

Thủ tục giải quyết chế độ tử tuất được quy định tại Điều 112 Luật

BHXH năm 2014 cụ thể như sau: Thân nhân của người bảo lưu thời gian

đóng BHXH, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng

chết; NLĐ đang đóng BHXH bắt buộc bị chết thì trong thời hạn 90 ngày kể từ

ngày thân nhân nộp hồ sơ theo quy định cho NSDLĐ. NSDLĐ trong thời hạn

30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ thân nhân của NLĐ có trách nhiệm nộp

cho cơ quan BHXH. Cơ quan BHXH trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

67

đủ hồ sơ, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả

cho thân nhân của người lao động. Trường hợp không giải quyết thì phải trả

lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

2.1.4. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

 Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về BHXH được quy định tại

Điều 121 Luật BHXH năm 2014 bao gồm: Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam,

Giám đốc BHXH cấp tỉnh, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng

Giám đốc BHXH Việt Nam quyết định thành lập. Nội dung thẩm quyền xử

phạt của các đối tượng này thực hiện theo quy định tại Điều 46 Luật xử lý vi

phạm hành chính năm 2012.

Theo Điều 122 Luật BHXH năm 2014 quy định đối với NSDLĐ có hành

vi trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng BHXH bắt buộc, hưởng

BHXH từ 30 ngày trở lên, ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm

đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02

lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề

tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu

của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà

nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để

nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ

quan bảo hiểm xã hội. Đối với cá nhân có hành vi vi phạm Luật BHXH còn

có thể phải chịu xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây

thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc, hình thức xử phạt,

biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực BHXH bắt buộc được quy định tại Điều 26, 27, 28

68

Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 Quy định xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động

Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định số

88/2015/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều

của Nghị định 95/2013/NĐ-CP. Mức phạt tiền thấp nhất là 500.000 đồng và

mức phạt tiền cao nhất là 75.000.000 đồng. Thực tế các hành vi vi phạm

pháp luật về BHXH bắt buộc trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng

chủ yếu là tình trạng chậm đóng, nợ đóng BHXH với số tiền lớn, có trường

hợp doanh nghiệp còn chiếm dụng tiền đóng BHXH của NLĐ, gây ảnh

hưởng đến quyền lợi của NLĐ. Chính vì vậy, hình thức xử phạt trên còn quá

nhẹ, chưa có tính răn đe.

Vì vậy, để ngăn ngừa và phòng chống hiệu quả những vi phạm trong lĩnh

vực BHXH bắt buộc, Bộ Luật hình sự năm 2015 cũng đã quy định các tội

danh liên quan đến chế độ BHXH bắt buộc cụ thể Điều 214 quy định về tội

gian lận BHXH, bảo hiểm thất nghiệp và Điều 216 quy định về tội trốn đóng

BHXH, bảo hiểm y tế , bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ.

 Giải quyết tranh chấp về BHXH bắt buộc

Các tranh chấp về BHXH bắt buộc có thể là tranh chấp lao động cá nhân,

tranh chấp lao động tập thể, tranh chấp trong vụ án hành chính. Trường hợp

tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ sẽ được giải quyết thông

qua Hòa giải viên lao động hoặc Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 8

Điều 18 Luật BHXH năm 2014 và khoản 1 Điều 201 BLLĐ năm 2012.

Trường hợp tranh chấp giữa tập thể lao động và NSDLĐ về BHXH bắt buộc

thường là tranh chấp lao động tập thể về quyền, khi đó thẩm quyền giải

quyết thuộc về Hòa giải viên lao động, Chủ tịch UBND cấp huyện, Tòa án

nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 203 BLLĐ 2012. Tranh chấp hành

chính là tranh chấp mà NLĐ, NSDLĐ khởi kiện quyết định hành chính,

69

hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ cho rằng

quyết định hành chính, hành vi hành chính đó vi phạm pháp luật về BHXH,

xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo Điều 118 Luật

BHXH năm 2014, NSDLĐ, NLĐ, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp

BHXH hàng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH và những

người khác có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết khi có căn

cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm về BHXH, xâm phạm đến quyền

và lợi ích hợp pháp của mình.

Trước đây, nếu doanh nghiệp nợ hay chậm đóng BHXH thì cơ quan

BHXH sẽ được quyền khởi kiện và truy thu số tiền doanh nghiệp không đóng.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/01/2016 khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thì

cơ quan BHXH không còn quyền được khởi kiện doanh nghiệp về hành vi nợ

BHXH mà chỉ được quyền xử lý vi phạm hoặc kiến nghị với cơ quan nhà

nước có thẩm quyền. Theo Công văn số 105/TANDTC-PC&QLKH của Tòa

án nhân dân tối cao về việc thi hành Luật BHXH ban hành ngày 14/04/2016

quy định: “Kể từ ngày Luật BHXH có hiệu lực thi hành, tòa án không thụ lý

đơn khởi kiện của cơ quan BHXH đòi tiền BHXH đối với NSDLĐ”. Trường

hợp vụ án đã thụ lý trước ngày 01/01/2016 mà chưa được giải quyết thì Tòa

án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn kiện và hướng dẫn

người khởi kiện thực hiện quy định của BLLĐ, Luật BHXH và Luật xử lý vi

phạm hành chính.

Theo quy định pháp luật hiện nay, việc khởi kiện doanh nghiệp vi phạm

pháp luật về đóng BHXH bắt buộc sẽ do tổ chức công đoàn thực hiện. Thực tế

cho thấy, cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp thường là nhân sự kiêm

nhiệm nên họ cũng là NLĐ, nên việc đại diện cho NLĐ kiện NSDLĐ để yêu

cầu đóng BHXH là điều khó thực hiện. Mặt khác, việc khởi kiện đòi hỏi phải

do công đoàn cơ sở khởi kiện hoặc phải có giấy ủy quyền của NLĐ. Thủ tục

ủy quyền phức tạp và tốn kém, mỗi NLĐ nếu muốn ủy quyền thì phải trực

70

tiếp đi cùng người được ủy quyền ra Ủy ban, phòng công chứng làm giấy tờ

và phải thanh toán phí công chứng. Việc này đối với doanh nghiệp có hàng

nghìn lao động thì rất mất thời gian cũng như kinh phí. Đây là những nguyên

nhân khiến cho việc khởi kiện doanh nghiệp vi phạm pháp luật về đóng

BHXH bắt buộc chưa được phát huy hiệu quả và NLĐ vẫn là người phải chịu

những thiệt thòi.

2.2. Thực tiễn thực hiện, pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện

Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

2.2.1. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền bắc Việt

Nam. Theo quy hoạch phát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải

Bắc Bộ[18].

Kiến Xương là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Thái Bình, có diện

tích 19.920,73 ha, dân số 223.179 người (theo thống kê đầu năm 2008).

Huyện Kiến Xương phía tây tiếp giáp với huyện Vũ Thư và thành phố Thái

Bình, phía tây bắc giáp với huyện Đông Hưng, phía đông bắc giáp với huyện

Thái Thụy, phía đông giáp với huyện Tiền Hải, phía nam giáp với tỉnh Nam

Định. Huyện gồm có 37 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm một thị trấn:

Thị trấn Thanh Nê và 36 xã: An Bình, An Bồi, Bình Định, Bình Minh, Bình

Nguyên, Bình Thanh, Đình Phùng, Hòa Bình, Hồng Thái, Hồng Tiến, Lê Lợi,

Minh Hưng, Minh Tân, Nam Bình, Nam Cao, Quang Bình, Quang Hưng,

Quang Lịch, Quang Minh, Quang Trung, Quốc Tuấn, Quyết Tiến, Thanh Tân,

Thượng Hiền, Trà Giang, Vũ An, Vũ Bình, Vũ Công, Vũ Hòa, Vũ Lạc, Vũ

Lễ, Vũ Ninh, Vũ Quý, Vũ Sơn, Vũ Tây, Vũ Thắng, Vũ Trung.

Cùng với sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND Thành phố và sự lãnh đạo

của Huyện ủy, HĐND, UBND Huyện, các tầng lớp cán bộ cùng nhân dân

trong huyện đã cùng nhau chung sức chung lòng phấn đầu không ngừng nghỉ

để xây dựng Kiến Xương thành một huyện phát triển với nhiều khu công

71

nghiệp và khu đô thị mới như Thanh Tân, Vũ Quý, Thị trấn Thanh Nê…

Đặc biệt trong thời gian qua UBND huyện đã chủ trương phát triển

kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cụ thể, UBND huyện đã

tập trung hỗ trợ tối đa các doanh nghiệp nằm trên địa bàn, kịp thời tháo gỡ

những khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp, tạo sự thân thiện và hài

lòng của các doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý Nhà nước. Đồng thời,

tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp, hộ cá thể thực hiện cơ chế, chính sách

của Nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tập trung vào các mặt hàng,

sản phẩm có lợi thế. Phát huy lợi thế về diện tích đồng bằng rộng lớn, thích

hợp cho việc phát triển các khu và cụm khu công nghiệp. Ngoài ra, UBND

huyện cũng đã tích cực kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp

đầu tư vào địa bàn huyện như tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh các

hoạt động xúc tiến thương mại, đào tạo nghề…

Cùng với sự phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng được

chú trọng, quan tâm và duy trì ổn định. Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe

cho nhân dân được đảm bảo, tỉ lệ người mắc bệnh giảm qua các năm, cơ sở

vật chất và trang thiết bị y tế được nâng cao. Giáo dục và đào tạo được triển

khai nghiêm túc, có hiệu quả với quy mô được mở rộng, chất lượng được

nâng lên. Công tác giảm nghèo, tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội được

quan tâm chỉ đạo thực hiện, cho đến nay huyện Kiến Xương có 245 doanh

nghiệp đang hoạt động, 31 làng nghề, 6.353 cơ sở và hộ sản xuất, kinh doanh,

tạo việc làm ổn định cho hàng chục nghìn lao động[23]. Từ đó đời sống vật

chất và tinh thần của nhân dân cải thiện, trình độ dân trí tăng, nhận thức của

người dân về pháp luật, đặc biệt là pháp luật về BHXH dần được nâng cao,

tạo điều kiện cho họ tham gia BHXH. Tính đến hết quý IV năm 2018, toàn

huyện có 12.099 người tham gia BHXH [3], đảm bảo tốt quyền lợi cho NLĐ,

đồng thời đảm bảo an sinh xã hội trên địa bản huyện.

Nằm trong hệ thống BHXH Việt Nam, bảo hiểm xã hội huyện Kiến

72

Xương chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của BHXH tỉnh Thái Bình, BHXH

Việt Nam và chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của UBND

huyện Kiến Xương. BHXH huyện Kiến Xương có nhiệm vụ quản lý quỹ

BHXH, BHYT và thực hiện chính sách BHXH, chính sách BHYT trên địa

bàn huyện. Dưới sự chỉ đạo của các cấp chính quyền liên quan cùng với sự

đoàn kết phấn đấu của các cán bộ công chức toàn ngành. BHXH huyện Kiến

Xương đã đạt được những kết quả quan trọng, tiếp tục công tác ổn định tổ

chức bộ máy cán bộ, đẩy mạnh cải cách hành chính và các hoạt động nghiệp

vụ từ huyện đến xã để đảm bảo thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả và góp phần

quan trọng vào việc ổn định đời sống NLĐ đồng thời ổn định chính trị, xã hội

trên địa bàn huyện Kiến Xương cũng như tỉnh Thái Bình.

2.2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa

bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

2.2.2.1. Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

BHXH là trụ cột của an sinh xã hội, nhận thức được tầm quan trọng của

pháp luật về BHXH đối với mọi NLĐ thuộc các thành phần kinh tế, BHXH

huyện Kiến Xương đã luôn quan tâm và chú trọng thực hiện tốt các quy định

của pháp luật về BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng, nhằm mở

rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trên

địa bàn huyện. Hơn nữa, kể từ khi Luật BHXH năm 2014 ra đời và có hiệu

lực, BHXH huyện Kiến Xương đã triển khai, áp dụng kịp thời những quy

định mới nhằm đảm bảo công tác tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao. Luật

BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đã khắc phục

được những bất cập, bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, tạo điều kiện cho BHXH

huyện trong công tác tổ chức thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn. Sự nỗ

lực, tích cực phấn đấu của BHXH huyện đã đạt được kết quả nhất định về đối

73

tượng tham gia BHXH bắt buộc.

Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

TT Chỉ tiêu

Năm

2015

2016

2017

1

Đơn vị tính Người

2018

9342

9822

10.392

11.754

2

Đồng

350,933,413,230

395,305,848,080

446,993,289,700

525,794,300,994

Tổng số lao động tham gia BHXH bắt buộc Tổng quỹ lương

(Nguồn BHXH huyện Kiến Xương)

(giai đoạn 2015-2018)

Từ bảng số liệu trên ta thấy, nhìn chung tình hình tham gia BHXH bắt

buộc của huyện trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018 đã tăng dần qua

các năm, cụ thể tính đến năm 2018 toàn huyện đã có 11,754 người lao động

tham gia BHXH bắt buộc, tăng 13,11% (tương ứng với 1362 người) so với

năm 2017; tăng 19,67% (tương ứng với 1932 người) so với năm 2016 và tăng

25,82% (tương ứng với 2412 người) so với năm 2015. Sự gia tăng này là do

số lượng đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tăng lên, một số đơn vị, doanh

nghiệp mở rộng quy mô nguồn nhân lực cùng với nhận thức của các đơn vị sử

dụng lao động về vai trò quan trọng của BHXH ngày càng được nâng cao nên

nhiều đơn vị đã thực hiện tham gia BHXH bắt buộc cho hầu hết số lượng lao

động của mình. Những số liệu trên đã cho thấy công tác khai thác, phát triển,

mở rộng đối tượng của BHXH huyện Kiến Xương thực hiện khá hiệu quả.

Mặc dù số người lao động và số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tăng đều và

khá cao, tuy nhiên BHXH huyện Kiến Xương vẫn tiếp tục thực hiện và duy trì

công tác mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

Đặc biệt, từ ngày Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành vào ngày

01/01/2016, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được mở rộng, tạo điều kiện

cho các nhóm NLĐ tham gia, do đó số đơn vị và số lao động tham gia BHXH

bắt buộc tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy quy định của Luật BHXH năm

2014 đang dần đi vào thực tiễn, hướng tới đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao

74

quyền lợi của NLĐ.

Khối

STT 1 2 3 4 5 6 7 8

Khối hành chính sự nghiệp, Đảng Đoàn Khối doanh nghiệp nhà nước Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khối ngoài công lập Khối hợp tác xã Khối xã, phường, thị trấn Tổ chức khác và cá nhân

Số lao động 3.465 62 1.143 5.940 29 424 687 2 2

9 Cán bộ phường xã không chuyên trách

Bảng 2.2: Tình hình tham gia BHXH bắt buộc theo khối quản lý năm 2018

(Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)

Từ bảng số liệu trên ta thấy, về cơ bản đối tượng tham gia BHXH bắt

buộc trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã theo đúng quy định

của pháp luật. Trong cơ cấu khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỉ

trọng cao nhất (50,54%)[1], điều này cho thấy huyện kiến Xương đã chú

trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở rộng thương mại, thu hút đầu tư, tạo

điều kiện cho sự phát triển của khu vực ngoài quốc doanh. Đồng thời, số lượng

doanh nghiệp tăng lên, kinh tế phát triển ổn định, tạo điều kiện cho doanh

nghiệp giữ vững vị trí cũng như từng bước mở rộng sản xuất kinh doanh để từ

đó doanh nghiệp có điều kiện tham gia BHXH bắt buộc nhiều hơn.

Về việc đóng quỹ BHXH của các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

Quỹ tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc của đơn vị là một

yếu tố quan trọng trong công tác quản lý quỹ BHXH bắt buộc. Với số đơn vị

và số lao động tham gia lớn, lại tăng khá nhanh qua mỗi năm nên việc quản lý

tiền lương, tiền công của NLĐ được BHXH huyện Kiến Xương hết sức chú

75

trọng, đảm bảo không để ra sai sót trong quá trình quản lý.

Bảng 2.3: Tổng quỹ lương trích đóng BHXH bắt buộc theo các khối

(giai đoạn 2015-2018)

Năm

2015

2016

2017

2018

Loại hình HCSN, Đảng,Đoàn Khối DN Nhà nước Khối DN vốn ĐTNN DN ngoài quốc doanh Khối ngoài công lập Khối HTX xã, phường, thị trấn Tổng

187.474 448 33.394 82.502 1.104 17.270 28.691 350.883

192.542 479 37.398 115.218 987 19.259 29.345 395.228

221.218 3189 39.868 204.463 1.204 21.612 33.586 525.140

205.641 517 38.025 149.991 1.062 19.809 31.783 446.828 (Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)

Đơn vị: triệu đồng

Qua bảng số liệu trên có thể thấy rõ tổng quỹ lương trích đóng BHXH của

các khối đều tăng qua các năm với tốc độ tương đối nhanh. Trong đó, quỹ

lương của khối HCSN, Đảng, Đoàn chiếm phần lớn trong tổng quỹ lương so

với các khối còn lại, cụ thể chiếm đến 53,43% năm 2015 [4] và còn 42,13%

trong năm 2018[1]. Việc tỷ trọng quỹ lương của khối HCSN, Đảng, Đoán giảm

dần trong 4 năm qua là do sự tăng lên nhanh chóng của khối Doanh nghiệp

ngoài quốc doanh chiếm 23,51% năm 2015 và đến năm 2018 tăng lên 38,93%.

Ngoài ra, các khối HTX, DN có vốn đầu tư nước ngoài, khối phường xã

cũng có mức tăng qua các năm. Đây là những con số đáng khích lệ cho công

tác thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn huyện Kiến Xương.

BHXH huyện Kiến Xương luôn thực hiện tốt các quy định của pháp luật

về quản lý quỹ của BHXH bắt buộc. Theo quy định tại Điều 83 Luật BHXH

năm 2014 thì quỹ BHXH bắt buộc bao gồm 3 quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và

thai sản, Quỹ TNLĐ, BNN; Quỹ hưu trí và tử tuất. Thông qua hoạt động đầu

tư tăng trưởng quỹ tạo ra nguồn lực tài chính tương đối lớn góp phần bổ sung

76

vào quỹ, làm cho quỹ được bảo toàn và tăng trưởng. Quy mô của quỹ BHXH

bắt buộc ngày càng tăng, quỹ thực hiện khả năng chi trả cho các chế độ

BHXH, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH. Đối với công tác kế

hoạch tài chính, trong những năm qua BHXH huyện Kiến Xương, cụ thể là

phòng Kế hoạch – tài chính đã làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo đơn

vị, các chi tiêu cho Hội nghị, công tác phí, các phương thức thanh quyết toán

được thực hiện hợp lý, chính xác và tiết kiệm chi phí.

BHXH huyện Kiến Xương đã thực hiện cân đối đủ nguồn quỹ đều đặn

hàng tháng, phân bổ quỹ hợp lý để đảm bảo chi trả kịp thời đến các đối tượng

thụ hưởng. Việc thực hiện thông qua hệ thống tài khoản của BHXH huyện

cũng như các đơn vị sử dụng lao động tại Kho bạc nhà nước đã giúp kiểm

soát được quỹ thu chi, hạ chế tối đa việc lạm dụng quỹ BHXH bắt buộc, khắc

phục những hạn chế của việc chi trả bằng tiền mặt như trước đây.

Để đạt được kết quả này là luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo kịp

thời của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và BHXH tỉnh Thái Bình cũng như

công tác phối kết hợp nhịp nhàng giữa BHXH huyện và các phòng, ban,

ngành có liên quan trong thực hiện chính sách BHXH bắt buộc trên địa bàn

huyện. Trong những năm qua, BHXH huyện Kiến Xương đã đẩy mạnh công

tác tuyên truyền về pháp luật BHXH tới các đơn vị, cộng đồng doanh nghiệp

và NLĐ như phối hợp với Đài truyền thanh huyện và các xã, thị trấn; phối

hợp với BHXH tỉnh để tổ chức hội nghị đối thoại về chính sách BHXH bắt

buộc nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật của họ. Nội dung công tác

tuyên truyền được chú trọng, tập trung vào những điểm quan trọng, điểm mới

của Luật BHXH sửa đổi, bổ sung, các văn bản hướng dẫn thi hành mới về

BHXH. Ngoài ra, BHXH huyện cũng duy trì chế độ tiếp công dân hàng tháng

tại trụ sở của cơ quan BHXH huyện nhằm hỗ trợ người lao động giải quyết

những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện các quy định về BHXH

77

bắt buộc, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ. Từ đó, các cơ quan,

đơn vị và NLĐ trên địa bàn huyện được tiếp cận và nắm bắt dễ dàng, kịp thời,

đầy đủ, đúng thông tin về chính sách BHXH, nhận thức về pháp luật và ý thức

trách nhiệm của họ dần được nâng cao nên số lượng đối tượng chủ động tham

gia BHXH bắt buộc ngày càng tăng.

Bên cạnh đó, để quản lý các đơn vị cũng như NLĐ tham gia BHXH bắt

buộc trên địa bản thì BHXH huyện cũng tăng cường phối hợp giữa các cấp,

các ngành, các tổ chức đoàn thể trong quản lý doanh nghiệp như phối hợp với

Chi cục Thuế của huyện nhằm rà soát những doanh nghiệp mới thành lập mà

đã đi vào hoạt động nhưng chưa tham gia BHXH bắt buộc để yêu cầu các

doanh nghiệp đó tham gia, tránh tình trạng doanh nghiệp trốn đóng BHXH

ngay từ khi mới thành lập. Đồng thời, thực hiện khảo sát, rà soát nắm chắc

tình hình lao động đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc

diện phải tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện mà chưa tham gia

BHXH bắt buộc để từ đó có những giải pháp thích hợp để họ tham gia.

Mặc dù, trên địa bàn huyện có nhiều doanh nghiệp đã tham gia BHXH

bắt buộc và chiếm tỉ trọng cao như doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên thực tiễn thực hiện trên địa bàn

huyện vẫn còn xảy ra tình trạng một số doanh nghiệp này chậm tuân thủ hoặc

tuân thủ hạn chế những quy định của pháp luật BHXH bắt buộc. Họ có những

hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc chi NLĐ, đóng không đầy đỉ số lượng

NLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, đóng thiếu thời gian của NLĐ,

chậm giải quyết các chế độ cho NLĐ… Thực trạng này diễn ra làm ảnh

hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ.

2.2.2.2. Thực hiện quy định pháp luật về các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành BHXH là giải quyết

78

kịp thời các chế độ, chính sách, đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng tham

gia BHXH. Xác định được yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng đó, trong những

năm qua, BHXH huyện Kiến Xương đã triển khai thực hiện đầy đủ các chế độ

BHXH theo Luật BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, công

tác giải quyết các chế độ BHXH bắt buộc được thực hiện đúng quy trình, thủ

tục, đúng đối tượng, đúng chế độ , đồng thời không ngừng cải tiến quy trình

chi trả các chế độ, đảm bảo chi trả kịp thời, nhanh chóng cho các đối tượng

thụ hưởng trên địa bàn huyện, tạo niềm tin cho NLĐ, tạo nền tảng mở rộng

đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp

cho NLĐ.

Bảng 2.4. Tình hình chi trả các chế độ BHXH bắt buộc năm 2016-2018

Năm

Đơn vị tính: Triệu đồng

2016

2017

2018

NSNN

NSNN

NSNN

Quỹ BHXH

Quỹ BHXH

Quỹ BHXH

192.959 172.917

195.269 194.680

203.003 222.242

14.617

14.535

18.683

Các chế độ Chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH Ốm đau, thai sản, DSPHSK sau ốm đau, thai sản Tổng

380.493

404.484

443.928

(Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)

Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng tổng mức chi trả cũng như mức chi

trả đối với các chế độ hầu hết đều có xu hướng tăng. BHXH thực hiện chi trả

chế độ ốm đau, thai sản chỉ từ nguồn quỹ BHXH vì chế độ này không có

nguồn từ ngân sách nhà nước. Năm 2018, nguồn quỹ BHXH chi trả cho chế

độ ốm đau, thai sản là 18.683 triệu đồng [3], tăng 4.148 triệu đồng so với năm

2017, tăng 4.066 triệu đồng so với năm 2016. Việc chi trả các chế độ hưu trí

và trợ cấp BHXH chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn chi trả các chế độ BHXH

bắt buộc. Chế độ chi cho lương hưu và trợ cấp BHXH năm 2018 tăng 35.296 triệu

79

đồng so với năm 2017 và tăng 59.369 triệu đồng so với năm 2016. Tổng số tiền

chi trả cho các chế độ ngày càng tăng thể hiện quyền lợi và đời sống của NLĐ trên

địa bàn huyện ngày càng được quan tâm và đảm bảo.

2.2.2.3. Việc thực hiện quy định về trình tự, thủ tục giải quyết chế độ bảo

hiểm xã hội bắt buộc.

Hiện nay, BHXH huyện Kiến Xương đang quản lý và chi trả cho hơn

11.754 NLĐ tham gia BHXH bắt buộc. Cơ quan BHXH huyện luôn đảm bảo

kịp thời, đúng chế độ chính sách để giải quyết chế độ BHXH bắt buộc cho

NLĐ đang tham gia và thụ hưởng trên địa bàn huyện. Theo báo cáo của

BHXH huyện, trong năm 2018 BHXH huyện Kiến Xương đã tiếp nhận và

thẩm định 795 hồ sơ đề nghị giải quyết các chế độ BHXH (hưu trí, tử tuất, trợ

cấp 613, …), giải quyết cho 714 người đề nghị hưởng trợ cấp BHXH một lần,

2390 lượt người yêu cầu hưởng chế độ trợ cấp BHXH ốm đau, thái sản,

DSPHSK sau ốm đau, thai sản[1].Đồng thời, BHXH huyện Kiến Xương cũng

tiến hành tổ chức thực hiện tốt chương trình cải cách thủ tục hành chính trong

quá trình xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH, khai thác sử dụng các chương trình

ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đối tượng và dần hoàn

thiện các ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thu. Thực hiện

niêm yết công khai thủ tục liên quan đến lĩnh vực giải quyết chế độ để các cá

nhân, tổ chức dễ dàng tìm hiểu, tạo điều kiện thuận tiện khi họ đến liên hệ

công tác, tận tình giải đáp thắc mắc về chế độ để đối tượng hiểu rõ và thực

hiện đúng theo quy định của pháp luật. BHXH huyện Kiến Xương cũng đã

phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan thực hiện tốt quy định, bảo đảm

chi trả kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng chính

sách BHXH khi tổ chức chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH qua hệ thống

Bưu điện và hệ thống Ngân hàng khi đối tượng có nguyện vọng.

Tuy nhiên, do khối lượng hồ sơ yêu cầu giải quyết chế độ BHXH hàng

tháng tương đối lớn, công tác kiểm tra quản lý hồ sơ đôi lúc còn chưa chặt

chẽ dẫn đến hồ sơ còn bị trả lại nhiều lần, hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung đối

80

với người tham gia BHXH chưa hoàn thiện, các phần mềm quản lý chưa đáp

ứng kịp thời với thay đổi của hệ thống văn bản đã ban hành, gây bất cập trong

giải quyết chính sách nên việc giải quyết và trả kết quả hô sơ trong một số

trường hợp chưa kịp thời, khiến cho người thụ hưởng phải đi lại nhiều lần;

chưa giải quyết được tình trạng các đơn vị nợ đọng kéo dài nên việc giải

quyết các chế độ BHXH cho NLĐ không thực hiện được làm ảnh hưởng đến

quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ.

2.2.2.4. Về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Vấn đề nợ đọng BHXH là một trong những hành vi vi phạm pháp luật

BHXH bắt buộc xẩy ra chủ yếu trên địa bàn huyện. Trong quá trình hoạt

động, BHXH huyện Kiến Xương đã luôn luôn quan tâm, chú trọng đến công

tác rà soát, kiểm tra, thanh tra, chủ động tổ chức và xây dựng các kế hoạch cụ

thể nhằm giảm tỉ lệ nợ đọng BHXH . Mặc dù số thu BHXH không ngừng tăng

lên qua các năm nhưng tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH vẫn còn xảy ra

khá phổ biến tại các đơn vị sử dụng lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp

trên địa bàn huyện.

Bảng 2.5: Tình trạng nợ đọng BHXH giai đoạn 2015-2018

STT 1 2 3 4

Năm 2015 2016 2017 2018

Số nợ BHXH 11.400 1.577,3 913 1.942

Đơn vị tính: Triệu đồng

(Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)

Qua bảng số liệu trên ta thấy, số nợ đọng BHXH trên địa bàn huyện Kiến

Xương, tỉnh Thái Bình vẫn còn ở mức khá cao. Nguyên nhân của tình trạng

trên là do một số doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả; có những doanh

nghiệp còn cố tình trốn đóng, chậm đóng. Như năm 2018 trên địa bàn huyện

Kiến Xương còn một số doanh nghiệp có số nợ lớn như: Công ty TNHH Xây

dựng Đoan Hùng nợ 63 tháng, hơn 823 triệu đồng; Công ty TNHH So Young

81

Fashion nợ 8 tháng, gần 660 triệu đồng; Công ty TNHH Thần Đồng nợ 10

tháng, gần 83 triệu đồng; Công ty TNHH Xuân Chuyền nợ 5 tháng, hơn 63

triệu đồng; Công ty TNHH Phú Viết nợ 23 tháng, gần 65 triệu đồng

[24].Ngoài ra, do chế tài xử lý những đơn vị trốn đóng BHXH chưa đủ mạnh,

dẫn đến tình trạng nhiều đơn vị đã lạm dụng sử dụng quỹ BHXH vào mục

đích khác.

Để giảm thiểu nợ trong khối doanh nghiệp, BHXH huyện đã chủ động

đến các doanh nghiệp nợ đọng hoặc mời doanh nghiệp lên cơ quan BHXH

huyện để làm việc và tìm hướng khắc phục vi phạm. BHXH huyện cũng đã tổ

chức các cuộc hội nghị nhằm tiếp xúc, trao đổi với doanh nghiệp vi phạm để

hướng dẫn, giải thích, trao đổi thẳng thắn và đề nghị doanh nghiệp cam kết lộ

trình trả nợ. Về cơ bản, sau những lần đối thoại doanh nghiệp đã có ý thức

trích nộp bảo hiểm. Theo quy định của BHXH huyện, việc nợ bảo hiểm có

điểm mới là phân chia rõ ràng 4 loại nợ: nợ chậm đóng, nợ đọng, nợ kéo dài

và nợ khó thu. Đây là điều kiện tốt để ngành thực hiện từng biện pháp phù

hợp với từng loại nợ. BHXH huyện đã tập trung tuyên truyền pháp luật,

hướng dẫn đơn vị, doanh nghiệp trích nộp bảo hiểm; đôn đốc đơn vị nộp bảo

hiểm đúng thời gian quy định. Do đó, trong năm 2018, số nợ bảo hiểm thuộc

nợ chậm đóng và nợ đọng giảm nhiều nhất trong tổng số nợ. Trong khi đó, nợ

kéo dài và nợ khó thu sẽ phải có những biện pháp cứng rắn và mạnh tay hơn.

Theo đó BHXH huyện phân công cho cán bộ có nhiều kinh nghiệm, vững

nghiệp vụ phụ trách các đơn vị, doanh nghiệp thuộc nhóm này để kịp thời đôn

đốc, giải quyết các vướng mắc phát sinh. Đồng thời phối hợp với các ngành

liên quan như: UBND huyện, Kho bạc Nhà Nước, Ngân hàng để nhắc nhở

đơn vị, doanh nghiệp, tách các loại đơn vị chậm đóng, trốn đóng để có

phương hướng giải quyết kịp thời… Cùng với đó, BHXH huyện thực hiện

báo cáo định kỳ hàng tháng về tình hình nợ đọng, quản lý chặt số lượng và

đánh giá, phân loại nợ, tham mưu cho BHXH huyện, BHXH tỉnh cũng như

82

chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo công tác thu hồi nợ.

Ngoài ra, công tác kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo cũng

được BHXH huyện quan tâm và chú trọng. Công tác tiếp công dân và giải

quyết đơn thư của công dân được duy trì thường xuyên, không có hiện tượng

đơn thư vượt cấp, BHXH huyện đã kiểm tra, xác minh thực tế theo nội dung

của đơn thư và trả lời kịp theo quy định. Bên cạnh đó, cũng chưa phát sinh

tranh chấp về BHXH bắt buộc nào trên địa bàn huyện. Năm 2018, BHXH

huyện đã kịp thời phối hợp với các đơn vị có liên quan để trả lời 01 đơn đề

nghị của công dân và 01 tờ trình thuộc Công ty TNHH Hanul, góp phần ổn

định chính trị huyện nhà.

2.2.2.5.Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội

bắt buộc

 Hạn chế

- Về đối tượng tham gia, việc phối hợp giữa các ngành, các cơ quan có

thẩm quyền để xác định đối tượng thuộc diện đóng BHXH bắt buộc hay

không còn yếu, do đó cơ quan BHXH huyện khi thực hiện mở rộng đối tượng

tham gia BHXH bắt buộc còn gặp nhiều vướng mắc và khó khăn. Tỷ lệ số

đơn vị tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động chỉ đạt 63% so với số

đơn vị thực tế hiện đang hoạt động trên địa bàn huyện. Ngoài ra còn có các

đơn vị ngoài Nhà nước tìm cách lách luật để trốn đóng BHXH bắt buộc. Việc

quản lý, nắm bắt số đơn vị còn đang hoạt động, số đơn vị đã thay đổi địa chỉ

trụ sở chính, số đơn vị không có trên thực tế cũng như số lao động mà đơn vị

đang sử dụng trên thực tế còn hạn chế và khó khăn. Hiện nay BHXH huyện

Kiến Xương chưa có khả năng điều tra, thống kê để nắm được đối tượng

thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện.

Thực tế bản thân NLĐ do chưa hiểu biết về quyền lợi và trách nhiệm của

mình khi tham gia BHXH , cũng như vì cuộc sống nên họ đã không dám đứng

83

lên đấu tranh đòi NSDLĐ phải thực hiện nghĩa vụ trích nộp BHXH bắt buộc

cho mình, ngoài ra NSDLĐ còn lợi dụng và lôi kéo NLĐ đồng tình trong việc

trốn đóng BHXH.

- Thủ tục giải quyết các chế độ cho NLĐ còn chưa linh hoạt, phức tạp.

Bên cạnh đó trong công tác giải quyết chế độ BHXH bắt buộc lượng hồ sơ

giải quyết chế độ BHXH hàng tháng lớn nên việc giải quyết và trả kết quả hồ

sơ có lúc chưa kịp thời, khiến cho người thụ hưởng phải đi lại nhiều lần; do

các đơn vị nợ đọng còn kéo dài nên việc giải quyết các chế độ BHXH cho

người lao động không thực hiện được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích

chính đáng của NLĐ.

- Về công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH. Trong hình thức chi

bằng tiền mặt, sự phối hợp và kết hợp giữa BHXH huyện với UBND phường,

xã trong công tác chi lương hưu, trợ cấp BHXH thời gian qua đạt hiệu quả

cao, song việc quản lý đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp qua đời có

những nơi còn chưa chặt chẽ, báo giảm chưa kịp thời dẫn đến chi sai, chi

không đúng đối tượng được hưởng nên cơ quan BHXH phải thực hiện thủ tục

truy thu.

- Về công tác xử lý vi phạm pháp luật BHXH, còn một số đơn vị (Công

ty TNHH So Young Fashion, Công ty TNHH Thần Đồng…) thực hiện chưa

nghiêm túc và đúng Luật BHXH như: tham gia không đúng với số lượng thực

tế đang sử dụng; không thực hiện đóng BHXH hàng tháng theo quy định của

pháp luật; không đóng đúng mức BHXH mà NLĐ được đóng theo quy định

của Pháp luật, cố tình chiếm dụng tiền lương của NLĐ. Để tình trạng này xảy

ra là do đội ngũ cán bộ chuyên ngành làm công tác kiểm tra còn thiếu nên tổ

chức các đoàn kiểm tra nội bộ và kiểm tra đơn vị sử dụng lao động còn ít;

việc tổ chức các đoàn thanh tra liên ngành cũng chưa được thực hiện thường

xuyên. Hồ sơ cũng như thủ tục khởi kiện các đơn vị vi phạm còn phức tạp nên

84

việc xử lý không được triệt để.

 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại những hạn chế trên, tuy nhiên

có thể chỉ ra một số nguyên nhân sau:

Do hiểu biết về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng trong việc thực hiện

BHXH bắt buộc của NLĐ và NSDLĐ hạn chế. NLĐ chưa thấy được tính ưu

việt của chính sách BHXH còn NSDLĐ trốn tránh nghĩa vụ của mình, thậm

chí còn chiếm dụng tiền BHXH của NLĐ. Một số lượng lớn lao động không

tự giác tham gia BHXH đã gây ảnh hưởng lớn cho việc tạo lập quỹ BHXH và

ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ.

Bất cập trong công tác quản lý Nhà nước về BHXH cũng là một trong

những nguyên nhân chủ yếu. Hiện tại một số nội dung của Luật BHXH vẫn

chưa được thực hiện tốt. Ngoài trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị quản lý

sử dụng lao động, cơ quan thực hiện sự nghiệp BHXH còn là sự bất cập của

đơn vị có chức năng quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn.Cơ quan chức

năng quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn còn lúng túng trong việc xử lý

vi phạm cũng như xây dựng các chế tài buộc các đơn vị sử dụng lao động

phải tuân thủ đúng theo pháp luật.

Sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên ngành như: Liên đoàn lao động,

Thanh tra lao động với cơ quan BHXH để thanh tra, kiểm tra, giám sát doanh

nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý.

Thực tế vẫn còn có những cán bộ chuyên môn không vững vàng, năng

lực còn kém, nên còn lúng túng trong việc giải quyết những phát sinh trong

công việc làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ.

Chức năng kiểm tra, xử lý của cơ quan BHXH đối với những vi phạm

chính sách BHXH của NSDLĐ còn bị hạn chế, chưa có chế tài sử phạt, tính

pháp lý chưa cao, không có các thông tin đầu vào về việc sử dụng lao động

của các đơn vị. Vì vậy, rất khó khăn trong việc kiểm tra thu đúng, thu đủ cũng

85

như thực hiện quyền lợi về BHXH cho người lao động.

Chưa có giải pháp tích cực để chống tính trạng chiếm dụng, nợ đọng

tiền đóng BHXH, chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm của cơ quan BHXH

huyện còn hạn chế, chưa có chế tài xử phạt, tính pháp lý chưa cao, không có

thông tin đầu vào về việc sử dụng lao động của các đơn vị nên đã gây khó

khăn trong việc kiểm tra thu quỹ BHXH đồng thời ảnh hưởng đến việc thực

86

hiện quyền lợi của NLĐ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Luật BHXH năm 2014 ra đời đã khắc phục được những hạn chế, bất cập

về chính sách, chế độ BHXH bắt buộc trước đó. Đã có nhiều quy định mới

trong Luật BHXH năm 2014 thể hiện bước phát triển mới, tích cực của chính

sách BHXH bắt buộc của Đảng và Nhà nước ta.

Việc thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Kiến

Xương, tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây đã đạt được kết quả đáng

khích lệ như: Công tác phát triển, mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt

buộc ngày càng tăng; số thu năm sau cao hơn năm trước, giải quyết kịp thời

và đúng chế độ cho NLĐ, tình trạng nợ đọng BHXH bắt buộc cũng được

giảm dần, việc thực thi các quy định của pháp luật BHXH tương đối triệt để

ngày càng đảm bảo tốt hơn quyền lợi của những người tham gia BHXH.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện còn gặp một số vướng mắc nhất định như

nhận thức của NLĐ, NSDLĐ còn hạn chế, nên vẫn còn xảy ra tình trạng trốn

trách nhiệm đóng BHXH, việc giải quyết các chế độ còn vướng mắc, tình

trạng nợ đọng BHXH chưa được giải quyết triệt để, tình trạng nợ đọng BHXH

chưa được khắc phục triệt để, ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ, chính

87

sách BHXH và sự an toàn của hệ thống quỹ BHXH.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG

CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

BẮT BUỘC TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Thứ nhất: Thể chế hóa kịp thời đường lối chính sách của Đảng và Nhà

nước nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú

trọng đến vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó

vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vừng đất nước. Do đó hệ

thống pháp luật, chính sách bảo hiểm xã hội bao gồm các chế độ hưu trí, tử

tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất

nghiệp cần được hoàn thiện hơn. Việc hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã

hội bắt buộc phải phù hợp, bám sát chính sách và định hướng phát triển

BHXH của Đảng và Nhà nước.

Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu phát triển, cải cách chính sách

bảo hiểm xã hội giai đoạn 2021- 2030 với nội dung như sau: “Cải cách chính

sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là trụ cột chính của hệ thống

an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội,

hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân. Phát triển hệ thống bảo hiểm

xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên

tắc đóng- hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng

lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện

chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh

bạch.” [19].

Bên cạnh đó Nghị quyết số 28- NQ/TW ngày 23/05/2018 của Hội nghị

lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo

88

hiểm xã hội cũng đã nêu rõ nhiệm vụ về bảo hiểm xã hội cụ thể như sau: Tăng

cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức

về chính sách bảo hiểm xã hội; Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động,

việc làm, bảo hiểm xã hội; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về

bảo hiểm xã hội; Nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện

chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Tăng cường vai trò lãnh

đạo của Đảng, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và

các tổ chức chính trị - xã hội.

Thứ hai: Hoàn thiện pháp luật BHXH bắt buộc cần khắc phục những bất

cập, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành.

Tại kỳ họp thứ 8, ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua

Luật BHXH (sửa đổi), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 và một số điểm

có hiệu lực từ 1/1/2018, thay thế Luật BHXH năm 2006. Luật BHXH năm

2014 có nhiều điểm mới, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở

nước ta, là một bước tiến về việc đảm bảo quyền con người, chăm lo cho

NLĐ có cuộc sống ổn định, lâu dài. Sau khi các quy định pháp luật về BHXH

bắt buộc đi vào thực tiễn cuộc sống, thì nó đã phát huy tích cực trong việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ góp phần thực hiện mục tiêu

chính sách an sinh xã hội của nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện

các quy định pháp luật về BHXH bắt buộc cũng bộc lộ những hạn chế, bất

cập nhất định như:

- Tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH còn xảy ra khá phổ biến, đặc

biệt ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài đã làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội và quyền

lợi của NLĐ. Một trong những nguyên nhân của tình trạng chậm đóng, nợ

đóng BHXH nêu trên là do mức xử phạt tiền đối với các hành vi vi phạm

pháp luật BHXH theo quy định còn thấp. Do đó, nhiều doanh nghiệp đã cố

tình nợ đóng, chậm đóng BHXH và chấp nhận chịu phát để chiếm dụng tiền

89

đóng BHXH.

- Ngay từ khi chưa có hiệu lực thi hành, Điều 60 Luật BHXH năm 2014

đã gặp phải sự phản ứng của hàng nghìn lao động cũng như gặp phải nhiều ý

kiến trái chiều. Để giải quyết tình trạng này, tại kì họp thứ 9, Quốc hội khóa

XIII đã thông qua Nghị quyết số 93/2015/QH13 về việc thực hiện chính sách

BHXH một lần đối với NLĐ.

- Tình trạng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, xu hướng tuổi thọ ngày

càng cao mà tuổi nghỉ hưu thì vẫn giữ nguyên thì nguy cơ về mất cân đối quỹ

hưu trí và tử tuất sẽ xảy ra trong tương lai gần.

Từ những thực tiễn trên, để khắc phục được những hạn chế, bất cập thì

việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc là cần

thiết, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, đáp

ứng được nguyện vọng của NLĐ, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập kinh tế

quốc tế.

Ngoài ra, hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc phải đảm bảo tính

đồng bộ với các chế độ an sinh xã hội khác như chế độ bảo hiểm tự nguyện,

chế độ bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ ưu đãi xã hội. Bảo đảm mối tương

quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia BHXH ở các thời kì khác nhau phải

được đồng bộ, chính sách kinh tế - xã hội cũng được đảm bảo hài hòa đồng

thời đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đáp ứng tốt hơn nguyện vọng

của đông đảo NLĐ, tạo động lực khuyến khích NLĐ và NSDLĐ chủ động

tham gia BHXH.

Thứ ba: Hoàn thiện pháp luật BHXH bắt buộc cần đảm bảo phù hợp

với yêu cầu hội nhập quốc tế.

Việc hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc phải đảm bảo tiếp thu có

90

chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, đáp ứng được yêu cầu

hội nhập quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống

BHXH phát triển và ổn định, có điều kiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã

hội Việt Nam. Những kinh nghiệm phát triển hệ thống BHXH nói chung và

hệ thống BHXH bắt buộc nói riêng của các nước trên thế giới sẽ là những bài

học cũng như các gợi mở cho Việt Nam trong quá trình phát triển hệ thống

BHXH ổn định, đảm bảo an sinh xã hội.

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội đã từng bước đổi mới, về cơ bản đáp

ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, phát huy được vai trò, tính hiệu quả trong xây

dựng, tổ chức thực hiện chính sách và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. Năng

lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xa hội được nâng lên;

việc giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động có nhiều tiến bộ. Tuy

nhiên, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội nói

chung cũng như chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng vẫn còn nhiều

hạn chế và bất cập. Do vậy cần có các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hơn

pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt hơn

Hiện nay Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số, tuổi thọ trung

bình tăng cao do vậy nếu tuổi nghỉ hưu vẫn giữ ở mức 60 tuổi đối với nam và

55 tuổi đối với nữ thì tỷ lệ người nghỉ hưu sẽ nhiều hơn so với tỷ lệ người

trong độ tuổi lao động. Từ đó thời gian đóng BHXH sẽ ngắn hơn nhưng thời

gian hưởng lương hưu lại dài hơn, điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quỹ

hưu trí. Theo tính toán số năm hưởng lương hưu bình quân là 19,5 năm, trong

đó nam giới là 16,1 năm và nữ giới là 22,9 năm. Tuy nhiên, tính trung bình

tiền đóng bảo hiểm xã hội của một NLĐ làm việc trong 28 năm chỉ đủ chi trả

cho chính người đó trong vòng 10 năm nên rõ ràng số thời gian hưởng còn lại

91

sẽ phải lấy từ nguồn đóng góp của thế hệ sau. Vì vậy, nếu với mức đóng góp

và mức hưởng chế độ như quy định chính sách hiện nay, năm 2023 số thu

bằng số chi, năm 2024 trở đi để đảm bảo chi chế độ hưu trí, tử tuất, ngoài số

thu trong nam phải trích thêm tù số dư của quỹ. Đến năm 2037, nếu không có

chính sách hoặc tăng thu hoặc giảm chi thì số thu BHXH trong năm và số tồn

tích bắt đầu không đảm bảo khả năng chi trả, các năm sau đó số chi lớn hơn

nhiều so với số thu trong năm[2].

Hiện nay, quỹ BHXH tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối trong dài hạn. Quỹ

hưu trí và tử tuất ngày càng có xu hướng mất cân đối, theo kết quả tính toán

dự báo quỹ hưu trí và tử tuất vào tháng 01/2016 cho thấy: số thu và số chi cân

đối vào năm 2030. Từ năm 2031, phải sử dụng một phần nguồn quỹ hưu trí,

tử tuất tồn tích để chi trả. Từ năm 2031 trở đi, khoản chi trả sẽ bao gồm số

tiền đóng góp BHXH trong năm cộng với phần tiền tồn tích của quỹ hưu trí,

tử tuất và đến năm 2050, quỹ sẽ hết khả năng thanh toán[21]. Nguyên nhân

chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do mất cân đối trong đóng – hưởng BHXH;

mức đóng thấp, mức hưởng cao; thời gian đóng ngắn, thời gian hưởng dài.

Tuổi nghỉ hưu thấp dẫn tới thời gian đóng BHXH ngắn và thời gian hưởng

hương hưu dài.

Để đảm bảo tính bền vững của quỹ BHXH, tổ chức lao động quốc tế

(ILO) khuyến cáo Việt Nam nên tiến tới nâng độ tuổi nghỉ hưu của cả nam và

nữ giới lên đến 65, trên cơ sở những tiến bộ trong việc nâng cao tuổi thọ trung

bình và giảm tỉ lệ giữa số người lao động và số người nhận lương hưu.

Do đó, điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu là một trong những giải pháp để

đối phó với sự mất cân đối của hưu trí, việc tăng tuổi nghỉ hưu này sẽ làm

giảm tỉ lệ giữa người hưởng lương hưu và số người lao động, đồng thời kéo

dài thời gian đóng BHXH, đảm bảo sự bền vững tài chính cho quỹ BHXH.

Ngày 28/4/2019, Bộ Lao động thương binh và Xã hội đã công bố dự

thảo (lần hai) Bộ luật Lao động sửa đối, trong đó đề xuất nâng dần tuổi nghỉ

92

hưu đối với cả nam và nữ từ năm 2021. Theo tờ trình dự án Bộ luật lao động

sửa đổi, việc sửa đổi Bộ luật Lao động lần này phải thể chế hóa yêu cầu điều

chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu tại Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH: "Từ năm 2021,

thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung,

thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những

ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn

hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung"

Theo tinh thần của Nghị quyết số 28-NQ/TW, đồng thời cụ thể hóa nội

dung Đề án cải cách chính sách BHXH của Ban cán sự Đảng Chính phủ, để

đảm bảo việc tăng tuổi nghỉ hưu phù hợp với quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể

trạng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động (NLĐ) Việt Nam, tránh việc

phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, đảm bảo góp phần

ổn định chính trị - xã hội, Ban soạn thảo đã quy định nội dung này trong dự

thảo lần hai Bộ luật Lao động (sửa đổi) theo 2 phương án để trình Quốc hội

xem xét như sau:

Phương án 1: Kể từ ngày 1-1-2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động

trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với nam và đủ

55 tuổi 4 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với nam

và 4 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Phương án 2: Kể từ ngày 1-1-2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động

trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 4 tháng đối với nam và đủ

55 tuổi 6 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 4 tháng đối với nam

và 6 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Trong dự thảo cũng đã quy định quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá 5

tuổi đổi với NLĐ bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng

nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và

93

một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt. Đồng thời, dự thảo cũng quy định

quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá 5 tuổi đối với NLĐ có trình độ chuyên

môn kỹ thuật cao, NLĐ làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt.

Việc đề xuất điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62, nữ lên 60 nhằm

bảo đảm sự phù hợp với quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và

tuổi thọ của người lao động Việt Nam.

Tuổi thọ bình quân của nam hiện là 72,1 tuổi, của nữ là 81,3 tuổi và cả

hai giới tính là 76,6 tuổi, cao hơn tuổi thọ trung bình của dân số thế giới là 72

tuổi. Ngoài ra, lực lượng lao động tham gia thị trường lao động của Việt Nam

trong những năm gần đây đang tăng chậm cả về số lượng và tỷ lệ. Số liệu

thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, cuối năm 2018 có 55 triệu lao

động. Lực lượng lao động Việt Nam không quá dồi dào như các đánh giá

thông thường và sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu hụt trong tương lai. Vì thế điều

quan trọng là hoàn thành lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu trước khi Việt Nam đối

mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trong khoảng 20 năm tới do quá trình già

hóa dân số[25].

Việc tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 tuổi, nữ 60 tuổi là cần thiết,

tránh việc phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai. Đồng

thời, việc xác định lộ trình và điều chỉnh dần dần là hợp lý, vì như thế sẽ tạo

điều kiện cho NLĐ và doanh nghiệp thích nghi mà còn tạo điều kiện cho cả

thị trường lao động điều chỉnh, nó còn có tác động tốt hơn đến tâm lý xã hội

của NLĐ và doanh nghiệp. Nếu tăng nhanh lộ trình thì sẽ dẫn đến sự gia tăng

đột ngột số người thất nghiệp, có thể gây bất ổn cho xã hội. Lựa chọn phương

án điều chỉnh nâng tuổi nghỉ hưu nhanh có thể dẫn đến số người thất nghiệp

và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao đột ngột, gây ra những vấn đề xã hội bức xúc.

Nâng tuổi nghỉ hưu nhanh cũng có thể tạo ra tâm lý không hài lòng đối với

một bộ phận lớn người lao động, nhất là trong các doanh nghiệp, ảnh hưởng

94

tiêu cực đến môi trường đầu tư. Chính vì vậy, phương án từ ngày 01/01/2021

cứ mỗi năm tăng 03 tháng đối với nam cho đến khi đạt 62 tuổi, mỗi năm tăng

04 tháng đối với nữ cho đến khi đạt 60 tuổi, tuổi nghỉ hưu của nam sẽ đạt tuổi

62 vào năm 2028 và nữ đạt tuổi 60 vào năm 2035 là phương án có ưu điểm

hơn, phòng tránh cao hơn các rủi ro khi điều chỉnh tuổi đối với thị trường lao

động, tránh gây sốc thị trường lao động, giữ được ổn định xã hội và phù hợp

với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, bổ sung, sửa đổi một số quy định về chế độ ốm đau:

Luật BHXH năm 2014 không quy định về thời gian đóng BHXH tối

thiểu của NLĐ để được hưởng chế độ ốm đau, đặc biệt là đối với người

hưởng chế độ ốm đau mắc các bệnh thuộc danh mục chữa trị dài ngày. Ngay

từ khi NLĐ đăng ký tham gia BHXH tháng đầu tiên mà bị ốm thì họ có quyền

được hưởng chế độ ốm đau như mọi đối tượng có thời gian tham gia BHXH

lâu hơn. Thực tế có thể thấy điều này dẫn tới chính sách dễ bị lạm dụng, nhất

là đối với những người bị mắc bệnh thuộc danh mục chữa trị dài ngày. Cụ thể,

NLĐ không tham gia BHXH nhưng khi họ phát hiện bị mắc bệnh thì họ mới

tham gia đóng BHXH như thế ngay khi đóng BHXH trong tháng đầu tiên họ

đã có thể được hưởng chế độ ốm đau. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến cân đối

thu chi của quỹ BHXH, nguyên tắc đóng hưởng và cũng không đảm bảo

được tính công bằng giữa những NLĐ. Vì vậy Luật cần phải bổ sung quy định

thời gian đóng BHXH tối thiểu của NLĐ trước khi hưởng chế độ ốm đau.

Pháp luật về BHXH bắt buộc nên quy định NLĐ phải có ít nhất 3 tháng đóng

BHXH bắt buộc trở lên mới thuộc đối tượng được hưởng chế độ ốm đau.

Điều này phù hợp với Công ước số 102 của ILO và pháp luật của nhiều quốc

gia trên thế giới.

Cần sửa đổi quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với trường hợp

NLĐ nghỉ chăm con ốm đau cần điều trị dài ngày. Trong Luật BHXH năm

95

2014 đã quy định thời gian NLĐ hưởng chế độ ốm đau tùy thuộc vào các yếu

tố về điều kiện lao động, tình trạng bệnh tật và thời gian tham gia BHXH, độ

tuổi của con bị ốm. Tuy nhiên khi NLĐ nghỉ chăm con bị ốm đau thì NLĐ lại

chỉ được hưởng một mức thời gian nghi chăm con mà không có sự phân biệt

về thời gian hưởng chế độ BHXH ốm đau để chăm sóc con ốm theo tình trạng

và mức độ bệnh của con. Thực tế có những trường hợp con bị mắc bệnh hiểm

nghèo cần chữa trị dài ngày nên NLĐ cần phải nghỉ việc để chăm sóc con là

điều tất yếu. Vì vậy, Luật cần có quy định rõ trường hợp NLĐ nghỉ chăm con

ốm đau thông thường và nghỉ chăm con mắc các bệnh cần điều tị dài ngày để

phù hợp với thực tế đời sống của NLĐ, tạo điều kiện cho NLĐ có thời gian để

chăm sóc con tốt hơn. Có thể quy định thời gian hưởng chế độ khi chăm con

mắc bệnh cần điều trị dài ngày như sau: Nếu con dưới 5 tuổi mắc bệnh cần

điều trị dài ngày thì thời gian nghỉ chăm sóc con được hưởng bảo hiểm đối đa

35 ngày làm việc, nếu con từ đủ 5 tuổi đến dưới 10 tuổi là 20 ngày làm việc

(không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hàng tuần).

Thứ ba, bổ sung quy định đối với trường hợp hưởng chế độ thai sản khi

nhận nuôi nhiều con nuôi dưới 6 tháng tuồi.

Luật BHXH năm 2014 đã có quy định đảm bảo quyền của NLĐ khi nhận

nuôi con nuôi. Cụ thể, khi NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì

được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Thực tế cho

thấy, có những trường hợp nhận nuôi 2 hoặc 3 con nuôi dưới 06 tháng tuổi. Vì

thế cần phải có quy định phù hợp để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trong

trường hợp này. Luật có thể quy định đối với trường hợp NLĐ nhận nhiều

con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con NLĐ sẽ

được nghỉ thêm 01 tháng để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ và sức khỏe của trẻ

sơ sinh.

Thứ tư, hoàn thiện quy định về xử lý vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc.

Hiện nay tỉ lệ doanh nghiệp trốn đóng BHXH còn cao, điển hình là các

96

doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh

nghiệp này có nhiều hình thức và mức độ vi phạm như: lừa dối người lao

động; doanh nghiệp ký hợp đồng theo ngày, theo giờ đối với lao động mùa vụ

để không phải đóng BHXH; kê khai mức lương thấp hơn so với thực tế để

giảm chi phí BHXH phải nộp…Theo số liệu thống kê của BHXH huyện Kiến

Xương, năm 2018 số doanh nghiệp còn nợ đọng BHXH bắt buộc là 2135

doanh nghiệp, số tiền nợ BHXH là 1.942 triệu đồng, điều này cho thấy tỉ lệ

doanh nghiệp nợ đọng bảo hiểm còn cao, ảnh hưởng đến quỹ BHXH cũng

như quyền lợi của NLĐ[1].

Trong khi đó NLĐ không nắm rõ được quy định về BHXH, cũng với

điều kiện kinh tế eo hẹp và sức ép về thu nhập nên cho dù NLĐ biết bị xâm

phạm về quyền lợi nhưng họ không dám đứng lên đấu tranh. Có thể thấy, quy

định pháp luật hiện hành trong việc xử lý các hành vi vi phạm về BHXH chưa

đủ mạnh để khiến các đối tượng tham gia BHXH nghiêm túc thực hiện nghĩa

vụ và trách nhiệm của mình. Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015

quy định NSDLĐ chậm đóng, đóng không đúng mức quy định, đóng không

đủ số người hay không đóng BHXH bắt buộc cho toàn bộ NLĐ thuộc diện tham

gia BHXH bắt buộc thì bị xử phạt mức tối đa là 75.000.000 đồng, trong khi đó,

trên thực tế đơn vị sử dụng lao động vi phạm việc đóng BHXH lên đến hàng tỉ

đồng, cho thấy sự chênh lệch giữa quy định pháp luật va thực tế. Mức phạt

75.000.000 đồng không đủ tính nghiêm khắc để xử lý hành vi này, cho nên thực

trạng doanh nghiệp sẽ chọn cách nộp tiền phạt BHXH, đồng thời chiếm dụng tiền

nợ BHXH để đầu tư kinh doanh có lợi hơn. Vì vậy, pháp luật nên điều chỉnh

hướng tăng các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã

hội với mức phạt tiền tối đa 150.000.000 đồng , để bảo đảm sự nghiêm minh, răn

đe của pháp luật, hạn chế tình trạng trốn đóng BHXH.

Ngoài ra, cũng cần phải bổ sung quy định doanh nghiệp chỉ được tuyên

97

bố phá sản sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ đóng BHXH. Theo quy định hiện

nay khi doanh nghiệp tuyên bố phá sản, thì trong yêu cầu phải có bản xác

nhận của cơ quan thuế hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà lại không có quy

định yêu cầu có bản xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội về hoàn thành

nghĩa vụ đóng BHXH. Vì vậy, pháp luật cần bổ sung thêm quy định khi

doanh nghiệp tuyên bố phá sản thì trong yêu cầu phải có xác nhận của cơ

quan BHXH là đã hoàn thành nghĩa vụ đóng BHXH, không còn tình trang nợ

dọng BHXH, để hạn chế việc doanh nghiệp tuyên bố phá sản mà chưa hoàn

thành nghĩa vụ đóng BHXH, tạo ra căn cứ pháp lý để cơ quan bảo hiểm xử lý

các trường hợp vi phạm.

Thứ năm, quy định cụ thể hơn thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.

Tại Điều 52 Luật BHXH năm 2014 quy định về nghỉ dưỡng sức, phục

hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật: “Người lao động sau khi

điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do nghề nghiệp

mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe từ 05

ngày đến 10 ngày”. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có hướng dẫn quy

định cụ thể về tỷ lệ thương tật bao nhiêu là được hưởng và số ngày được nghỉ

dưỡng tương ứng với tỷ lệ thương tật, bệnh tật. Điều này yêu cầu pháp luật về

BHXH cần phải sớm có quy định về tỷ lệ thương tật của NLĐ để áp dụng số

ngày được nghỉ để điều trị cho phù hợp. Vì mỗi tỷ lệ thương tật khác nhau sẽ

có thời gian điều trị phục hồi khác nhau, đồng thời người có thương tật nặng

sẽ cần nghỉ dưỡng sức dài ngày hơn, có thể là 15 ngày đến 30 ngày. Vì vậy,

pháp luật cần quy định chi tiết để đảm bảo tối ưu quyền lợi cho NLĐ khi họ

gặp phải những rủi ro về sức khỏe.

3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về BHXH bắt

buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Thứ nhất, tăng cường sự chỉ đạo của cấp trên và phối hợp với các cơ

quan hữu quan trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội.

Hệ thống văn bản Luật có liên quan đến BHXH của các cơ quan chức

98

năng được sửa đổi và bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với tình hình phát

triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chính vì vậy, BHXH Việt Nam cần phải

ban hành nhanh chóng các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo kịp thời các vướng

mắc phát sinh đối với BHXH các tỉnh để giúp BHXH các tỉnh không lúng

túng trong việc thực hiện công tác chuyên môn.

Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp

luật về BHXH.

Thực trạng hiện nay có thể thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ

đóng, đóng chậm BHXH hay NSDLĐ lừa dối NLĐ để trốn đóng BHXH là do

nhận thức của NSDLĐ và NLĐ về chính sách, pháp luật BHXH còn hạn chế,

chưa đầy đủ, chưa đúng. Do vậy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về

BHXH nhằm để thay đổi nhận thức, nâng cao nhận thức của người dân về

chính sách BHXH là hết sức cần thiết. Công tác này cũng đã và đang thực

hiện tuy nhiên chưa thực sự hiệu quả.

Các hình thức tuyên truyền BHXH còn đơn giản, chưa thu hút được sự

quan tâm của NLĐ và NSDLĐ nên đối tượng tham gia BHXH còn thấp so

với thực tế, tính chủ động trong công tác tuyên truyền còn chưa cao, chưa

đánh đúng vào đối tượng quan tâm đến BHXH. Công tác phối hợp thông tin

của các cơ quan, tổ chức còn chưa thực hiện được, chưa phổ biến pháp luật

BHXH kịp thời cho các xã trên địa bàn huyện do các cơ quan đó chưa nhận

thức được tầm quan trọng của pháp luật BHXH.

Do vậy, để đạt được hiệu quả tối đa, để tăng cường ý thức pháp luật của

người dân về việc tham gia BHXH bắt buộc thì cần phải đa dạng hóa các hình

thức tuyên truyền như: in ấn tờ rơi, mở các lớp tập huấn, tổ chức các Hội thi

tuyên truyền viên; triển khai các chính sách về BHXH tới các đơn vị sử dụng

lao động và nhân dân trên địa bàn huyện thông qua các phương tiện truyền

thông đại chúng…

Thứ ba, giải quyết nhanh chóng , kịp thời, đúng pháp luật, đúng chế độ

cho các đối tượng tham gia và hưởng BHXH bắt buộc

99

Trong việc giải quyết chế độ BHXH, đôi khi việc trợ cấp chưa được giải

quyết kịp thời bởi những lý do chủ quan hoặc khách quan. Do đó, cơ quan

BHXH huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cần phải kiểm tra, đối chiếu và xét

duyệt kịp thời việc giải quyết chế độ cho NLĐ, không để tình trạng hồ sơ lưu

hoặc giải quyết chậm trễ, không để xảy ra tình trạng giải quyết sai, nhầm lẫn

giữa các chế độ làm ảnh hưởng đến quyền lợi NLĐ.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ

năng cho cán bộ bảo hiểm xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Để thực hiện có hiệu quả pháp luật thì trình độ của người thực hiện

pháp luật là một yếu tố quan trọng. Trong quá trình thực hiện công việc, định

kỳ thường xuyên đào tạo và nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Ngoài ra cần

đánh giá, kiểm tra thường xuyên trình độ của cán bộ.

Để thực hiện tốt những yêu cầu của công tác bảo hiểm xã hội bắt buộc

tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nguồn nhân lực bảo hiểm xã hội cần

đáp ứng được những điều kiện cả về trí và lực, bảo hiểm xã hội cần phải có

một đội ngũ cán bộ có đầy đủ kiến thức chuyên sâu, có kinh nghiệm tổ chức

triển khai, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. Để đáp ứng được những

yêu cầu đó cần thiết phải có sự đào tạo và rút kinh nghiệm trong quá trình

thực hiện cho cán bộ bảo hiểm xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Đồng thời cần phải tập huấn, rút kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ ở các cấp, các

bộ phận và các phòng ban chức năng có liên quan đến quá trình triển khai đảm

bảo tính thống nhất, hạn chế tối đa những sai sót không đáng có. Có chính sách

tuyển dụng thêm nguồn nhân lực cần thiết bổ sung vào các bộ phận chức năng

của mình để thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Ngoài ra, BHXH huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cũng như cán bộ

nhân viên cần phải có tinh thần cầu tiến, tiếp thu và lắng nghe ý kiến của nhân

dân và NLĐ để từ đó phát hiện, khắc phục những sai sót và tạo niềm tin cho

100

người tham gia BHXH.

Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động

thực hiện pháp luật BHXH bắt buộc, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan

liên quan đến BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện.

Thực trạng tình hình vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc như việc nợ,

trốn đóng BHXH ngày cảng phổ biến và có dấu hiệu tăng. Do vậy, việc thanh

tra, kiểm tra và giám sát là hết sức cần thiết và quan trọng. Để giảm thiểu

những vi phạm về BHXH, cơ quan bảo hiểm xã hội tăng cường lực lượng cán

bộ có năng lực chuyên môn, đủ phẩm chất và có ý thức trách nhiệm làm công

tác thanh tra, kiểm tra. Đồng thời chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan

chức năng có liên quan như: Liên đoàn lao động, Sở y tế, Sở lao động thương

binh và Xã hội… tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và kiểm

tra đột xuất để kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm. Có hình thức

xử lý nghiêm cán bộ sai phạm trong quản lý và trong việc thực hiện pháp luật

101

BHXH để đem lại sự tín nhiệm của nhân dân và đối tượng tham gia BHXH.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực

hiện về BHXH là việc quan trọng và cần thiết. Chương 3 đã đưa ra yêu cầu

trong việc hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc như: đảm bảo thể chế hóa

kịp thời đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; đảm bảo đồng bộ với

các chế độ BHXH khác; đảm bảo khắc phục những bất cập hạn chế của pháp

luật về BHXH; đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia

khác trong quá trình hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc nhằm bảo đảm

việc hoàn thiện pháp luật nhất quán, xuyên suốt.

Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về thực thi pháp luật

BHXH bắt buộc nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách BHXH

bắt buộc nói chung và tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nói riêng như:

hoàn thiện các chính sách pháp luật về các chế độ của BHXH bắt buộc; đưa ra

một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH trên địa

bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình như các vấn đề về tăng cường công

tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật BHXH, phát triển chuyên môn của đội

ngũ cán bộ BHXH…để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các đối tượng

102

tham gia BHXH bắt buộc.

KẾT LUẬN

Tại quốc gia nào cũng thế,BHXH luôn đóng vai trò quan trọng nhất của hệ

thống an sinh xã hội. Tại Việt Nam, Bảo hiểm xã hội được là một trụ cột chính

của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định

chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

Thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH cho thấy, việc ra đời của Luật

BHXH năm 2014 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng cho sự hoàn thiện

khung pháp lý về BHXH, nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách

BHXH, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách

BHXH phù hợp với quá trình phát triển nền kinh tế - thị trường. Đổng thời

đáp ứng được nguyện vọng của NLĐ. Chính sách BHXH đã phát huy tích cực

việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ, đảm bảo ổn định

hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách, chế

độ bảo hiểm xã hội cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như việc mở rộng

đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn chậm, tình trạng nợ đóng, chậm đóng

bảo hiểm xã hội còn diễn ra khá phổ biến… Vì vậy, cần thực hiện đồng bộ

các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiên pháp luật về bảo hiểm xã hội,

đảm bảo phát huy tích cực vai trò của bảo hiểm xã hội.

Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm xã hội cũng như

thực tiễn thực hiện tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, luận văn đã hệ

thống hóa các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc đồng thời

chỉ ra các kết quả đạt được cũng như các hạn chế, bất cập còn tồn tại khi thực

hiện pháp luật về BHXH bắt buộc để từ đó luận văn đã đưa ra những yêu cầu

và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hơn nữa hiệu

quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc nói chung và trên địa bàn

103

huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nói riêng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo kết quả công tác bảo hiểm xã hội năm 2018 và chương trình

công tác năm 2019.

2. Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật sửa đổi, bổ sung của

BLLĐ (dự thảo lần 2 tháng 5 năm 2017).

3. Báo cáo tổng kết năm 2018, BHXH huyện Kiến Xương.

4. Báo cáo kết quả công tác bảo hiểm xã hội năm 2015 và chương

trình công tác năm 2019.

5. Nguyễn Hữu Chí và Bùi Thị Kim Ngân.Tạp chí luật học Số 6, 2015,

Một số bình luận pháp lí liên quan đến Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

6. Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội,

năm 1999.

7. Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011), Pháp luật an sinh

xã hội – Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

8. Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến, Đổi mới chính sách bảo hiểm

xã hội đối với người lao động, Nxb. Chính trị quốc gia,1998.

9. Bùi Thanh Hương, (2017), Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở

Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.

10. Nguyễn Hiền Phương (2010). Pháp luật an sinh xã hội những vấn

đề lý luận và thực tiễn. Nxb. Tư Pháp, Hà Nội.

11. Giáo trình an sinh xã hội, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, 2014.

12. Trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, Giáo trình bảo hiểm, Nxb

Thống kê, 2000.

13. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân(2008), Giáo trình An sinh xã

104

hội, Nxb. Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.

14. BHXH trên toàn thế giới, ILO-1999 và 2006.

15. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật bảo hiểm

xã hội của một số nước trên thế giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

16. Trường Đại học LĐTB&XH (2010), Giáo trình Bảo hiểm xã hội,

Nxb. Lao động Hà Nội.

17. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật an sinh xã

hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

18. Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004

ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến

30/06/2004. Thukyluat online, 2016. Truy cập 11/04/2019).

19. Nghị quyết số 28 –NQ/TW ngày 23 tháng 05 năm 2018 Nghị

quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa XII Về Cải cách

chính sách Bảo hiểm xã hội.

20. Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng,1996.

Wesite

21. http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/nghien-cuu-can-doi-cac-

quy-bhxh-16771

22. http:// www.nhandan.com.vn/xahoi/tintuc/item/27582002-mo-rong-

chinh-sach-bao -hiem-xa-hoi-cho-lao-dong-phi-chinh-thuc.html

23. https://baothaibinh.com.vn/tin-tuc/50/79811

24. https://www.baothaibinh.com.vn/tin-tuc/16/74089/no-bao-hiem-xa-

hoi-lam-xau-di-hinh-anh-cua-doanh-nghiep-doanh-nhan

25. http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2019-04-29/bo-ld-tb-

105

xh-de-xuat-2-phuong-an-tang-tuoi-nghi-huu-tu-nam-2021-70766.aspx