ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THÚY QUYÊN
PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG,
TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THÚY QUYÊN
PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG,
TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀO THỊ HẰNG
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
i
Trần Thị Thúy Quyên
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ...................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ..................................................................................... v
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC. .... 7
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................... 7
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc ..................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc .............................................. 10
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................. 13
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc ................ 16
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................... 16
1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ....................... 18
1.2.3. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc................................. 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................... 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN KIẾN
XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH .................................................................... 38
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................. 38
2.1.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ..................................... 38
2.1.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................. 42
2.1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc. ............. 63
2.1.4. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc. . 68
2.2. Thực tiễn thực hiện, pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện
Kiến Xương, tỉnh Thái Bình ......................................................................... 71
ii
2.2.1. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình . 71
2.2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. ............................................................. 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................... 87
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH ............. 88
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc .................... 88
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ...... 91
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về BHXH bắt buộc
tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. ......................................................... 98
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ......................................................................... 102
KẾT LUẬN ............................................................................................... 103
iii
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 104
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT Cụm từ viết tắt Cụm từ viết đầy đủ
1 BHXH Bảo hiểm xã hội
2 BLLĐ Bộ luật lao động
3 BHYT Bảo hiểm y tế
4 DSPHSK Dưỡng sức phục hồi sức khỏe
5 NLĐ Người lao động
6 NSDLĐ Người sử dụng lao động
7 TNLĐ, BNN Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
8 ILO Tổ chức lao động quốc tế
iv
9 UBND Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ............. 74
(giai đoạn 2015-2018) .................................................................................. 74
Bảng 2.2: Tình hình tham gia BHXH bắt buộc theo khối quản lý năm 2018 75
Bảng 2.3: Tổng quỹ lương trích đóng BHXH bắt buộc theo các khối ........... 76
(giai đoạn 2015-2018) .................................................................................. 76
Bảng 2.4. Tình hình chi trả các chế độ BHXH bắt buộc năm 2016-2018 ...... 79
v
Bảng 2.5: Tình trạng nợ đọng BHXH giai đoạn 2015-2018 .......................... 81
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện
đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển
con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, đó cũng là tiền
đề quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế và sự ổn định ở mọi quốc gia
trên thế giới.
Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ
XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-
1889) với cơ chế ba bên cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động
trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Sau đó, trước tác dụng tích cực của
bảo hiểm xã hội trong quan hệ lao động nhiều nước đã bắt đầu áp dụng hệ
thống bảo hiểm xã hội. Hiện nay, trên thế giới nói chung người ta gọi bảo
hiểm xã hội là một trong những bộ phận cấu thành và đóng một vai trò trụ cột
của hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội thực sự đã trở thành một công cụ
đắc lực và hiệu quả giúp cho Nhà nước điều tiết xã hội trong nền kinh tế thị
trường, phát triển xã hội bền vững.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta giai đoạn này là một
nước đang phát triển, các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động chiếm tỉ
lệ cao việc đó đồng nghĩa với việc tỉ lệ người lao động hoạt động trong các
đơn vị lớn, trong quá trình làm việc người lao động có thể gặp những rủi ro
như ốm đau, tai nạn, lao động nữ thì mang thai và sinh con… , việc đóng bảo
hiểm xã hội là cần thiết để bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
của người lao động khi họ bị giảm sút hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản,
1
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết
trên cơ sở mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội luôn phát
huy tác dụng trong những lúc người lao động gặp khó khăn hiểm nghèo do bị
ốm đau, lao động nữ trong thời gian thai sản, tai nạn lao động, tuổi già…trên
cơ sở những cam kết đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động
cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến cố
đó.Tuy nhiên thực tế việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người
lao động vẫn còn những hạn chế và còn nhiều bất cập. Chính vì vậy, Nhà
nước ta cần phải có một cơ chế thích hợp và quản lý chặt chẽ chính sách bảo
hiểm xã hội bắt buộc để chia sẻ được những rủi ro của người lao động và
nâng cao tính cộng đồng xã hội…Vì vậy việc ban hành và thực hiện bảo hiểm
bắt buộc là một vấn đề cấp thiết và phù hợp với nguyện vọng của đa số người
lao động. Đây là nhu cầu chính đáng và thiết thực cần được Nhà nước và xã
hội quan tâm thực hiện.
Trên cả nước nói chung cũng như trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh
Thái Bình nói riêng, việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc vẫn
còn nhiều hạn chế, gặp nhiều vướng mắc và khó khăn nhất định. Do đó, tác
giả đã chọn đề tài “ Pháp luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện
tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực trạng việc xây dựng và phát triển pháp luật bảo hiểm xã hội của
nước ta hiện nay nói chung và bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng thì nó
không phải còn là một vấn đề mới nhưng nó đã trở thành mối quan tâm sâu
sắc của các nhà nghiên cứu.
Trong thời gian gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những
người quan tâm đến bảo hiểm xã hội đã có những bài viết và công trình
nghiên cứu khoa học nhằm đóng góp, xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội của
2
nước ta điển hình như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Vụ BHXH
(2010) về “ Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ BHXH bắt buộc giai
đoạn đến 2020” hay đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (Trường Đại học
Luật Hà Nội) do TS. Nguyễn Hiền Phương làm chủ biên (2015) về “Bình
luận khoa học một số quy định của Luật BHXH năm 2014”.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình Luận văn Thạc sỹ luật học nghiên
cứu về vấn đề BHXH bắt buộc như: Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả
Nguyễn Thị La Giang (2015) về “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc và
thực tiễn ở Hà Nội”; Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Chu Linh Trang
(2017) về “Pháp luật về BHXH bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng
Sơn”; Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Minh Thúy (2018)
về “Pháp luật về BHXH bắt buộc và thực tiễn thi hành tại Quận Hoàng Mai,
Thành phố Hà Nội”.
Ngoài ra, một số bài viết đăng trên tạp chí tiêu biểu như: Bài viết “Một
số bình luận pháp lý liên quan đến Điều 60 Luật BHXH năm 2014” đăng trên
Tạp chí luật học số 6/2015 của PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí và ThS. Bùi Thị
Kim Ngân; bài viết “Những điểm mới về chế độ bảo hiểm theo Luật BHXH
năm 2014” đăng trên Tạp chí luật học số 10/2015 của PGS.TS. Nguyễn Hiền
Phương; bài viết “Tính ưu việt của Luật BHXH, Luật Bảo hiểm y tế - thách
thức trong triển khai và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội” đăng trên Tạp Chí
cộng sản của TS. Bùi Sỹ Lợi.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những vấn đề
lý luận, làm rõ những vấn đề cơ bản về khái niệm và đặc trưng của bảo hiểm
xã hội và chỉ ra được thực tiễn thực hiện làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp
luật bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ngoài ra các công trình trên cũng đã nghiên
cứu những giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, trong số các công
3
trình này chưa có công trình nào đề cập thực tiễn áp dụng về bảo hiểm xã hội
trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Do vậy, Luận văn đã kế thừa
những công trình nghiên cứu đã có, tập trung làm rõ thêm những vấn đề lý
luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc, tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội bắt
buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để từ đó đưa ra giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của Luật
Bảo hiểm xã hội bắt buộc, đặc biệt tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài là góp phần làm rõ một số
vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc, đồng thời đánh giá nội dung quy
định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội bắt
buộc để từ đó Luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ
chức thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt
buộc trong thực tế tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài
xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp luật
về bảo hiểm xã hội bắt buộc như khái niệm, vai trò của bảo hiểm xã hội bắt
buộc và nội dung pháp luật của bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Phân tích và đánh giá nội dung quy định pháp luật bảo hiểm xã hội bắt
buộc và thực tiễn thực hiện tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Làm rõ yêu cầu hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số kiến nghị hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội bắt
buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu pháp luật về bảo hiểm xã hội
bắt buộc trong giới hạn nghiên cứu của đề tài. Luận văn nghiên cứu những
vấn đề lý luận và hệ thống các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt
4
buộc; quan điểm của Đảng về các chính sách xã hội, bảo hiểm xã hội và bảo
hiểm xã hội bắt buộc của nước ta; nêu ra thực tiễn về thực hiện pháp luật bảo
hiểm xã hội bắt buộc hiện nay ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Trên cơ
sở đó có những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và
kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tại huyện Kiến Xương, tỉnh
Thái Bình.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận của triết học
Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng,
các văn bản pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc và quan
điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) về bảo hiểm xã hội bắt buộc qua
một số Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Phương pháp nghiên cứu: Để triển khai luận văn cũng như để đạt được
mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả đã sử dụng một số phương pháp
khoa học trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, sử dụng
tổng hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó coi
trọng phương pháp thu thập thông tin, khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp,
nhận xét thực tiễn…
5: Những đóng góp mới của đề tài
- Luận văn đã phân tích được một số quy định lý luận, nội dung pháp
luật cơ bản về bảo hiểm xã hội bắt buộc như khái niệm, đặc điểm, vai trò, sự
điều chỉnh của pháp luật đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Luận văn cũng đã phân tích và đánh giá được thực trạng pháp luật về
bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện trên địa bàn huyện Kiến
Xương, tỉnh Thái Bình.
- Luận văn cũng đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc; đồng thời đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn
5
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ
quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật về bảo hiểm
xã hội bắt buộc, đặc biệt là cơ quan bảo hiểm xã hội, các đơn vị tham gia bảo
hiểm xã hội trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong
công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất kỳ ai có quan tâm
đến các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp
luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn
thực hiện tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện
6
pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC.
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc
Con người muốn tồn tại và phát triển thì đầu tiên cần phải lao động.
Trong quá trình lao động con người luôn luôn tác động vào tự nhiên và tác
động qua lại lẫn nhau để tạo ra những sản phẩm, những giá trị cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của mình. Sản phẩm tạo ra càng nhiều thì đời sống con
người càng đầy đủ, điều đó có nghĩa là việc thỏa mãn những nhu cầu sinh
sống và phát triển của con người phụ thuộc vào khả năng lao động của chính
họ. Tuy nhiên trong quá trình lao động con người không phải lúc nào cũng
gặp thuận lợi mà nhiều khi gặp khó khăn, bất lợi làm cho bị giảm hoặc mất
thu nhập hoặc rơi vào các rủi ro khác như bị ốm đau, tai nạn, tuổi già…Khi
rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng nói trên thì các nhu cầu
cần thiết của cuộc sống vẫn tồn tại không hề bị mất đi, mà trái lại có nhu cầu
còn tăng lên hoặc xuất hiện các nhu cầu mới như ốm đau cần được chữa bệnh,
khi chết đi người phụ thuộc cần được nuôi dưỡng…Để vượt qua những khó
khăn, rủi ro phát sinh, từ lâu người ta thường áp dụng các biện pháp phòng
ngừa và các biện pháp khắc phục những hậu quả khác nhau. Một trong các
biện pháp hữu hiệu nhất là lập các quỹ dự trữ và tiến hành bảo hiểm tập trung
trên phạm vi toàn xã hội.
Như vậy, bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển là một quá trình thích ứng
và xử lý những vấn đề liên quan đến nhu cầu của con người. Hệ thống bảo
hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỉ XIX là công trình của
7
Chính phủ Đức dưới thời thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên
(Nhà nước – giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao
động trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Chế độ bảo hiểm xã hội này gồm:
Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo
hiểm tuổi già, tàn tật (1889). Sau đó trước tác dụng tích cực của bảo hiểm xã hội
trong quan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống bảo hiểm xã hội.
Trong những năm 30 của thế kỷ XX, một số nước còn mở rộng thêm những chế
độ khác ngoài bảo hiểm xã hội và xuất hiện khái niệm mới: Social Security (An
sinh, an tòan xã hội). Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có Công ước số 102
năm 1952 về an sinh xã hội. Hiện nay trên thế giới nói chung người ta coi bảo
hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành của an sinh xã hội.
Ở nước ta, xét về mặt lịch sử bảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm
30 của thế kỷ XX, một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế
độ tai nạn, chế độ hưu trí và cũng chỉ áp dụng cho một số đối tượng làm việc,
phục vụ trong bộ máy hành chính, quân đội Pháp. Sau đó, khi thành lập nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và suốt thời gian dài vừa dựng nước, vừa
giữ nước, nước ta đã từng bước phát triển và hoàn thiện các chế độ bảo hiểm
xã hội. Ngày 29/06/2006 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI nước ta đã thông
qua Luật bảo hiểm xã hội và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, điều này đã
đánh dấu bước phát triển mới của chính sách an sinh xã hội Việt Nam.
Tuy nhiên, khi bàn đến khái niệm bảo hiểm xã hội thì tùy theo góc độ
nhìn nhận mà khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận ở nhiều khía cạnh
khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, bảo hiểm xã hội là sự: “ Bảo đảm những
quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm
đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động…[20, tr.36]. Giáo trình Luật lao
động của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Dưới góc độ pháp
lý, bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các
8
quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn
định đời sống cho người lao động khi họ gặp những rủi ro, hiểm nghèo trong
quá trình lao động hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động”[6, tr.312-
313]. Có tác giả lại cho rằng : “ Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến
cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình
thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử
dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người
lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội[9, tr.11]. Còn theo
Giáo trình bảo hiểm của Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội thì bảo hiểm
xã hội “là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích
dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động dưới sự điều
tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo nguồn thu nhập thỏa mãn những nhu cầu
thiết yếu của người lao động và gia đình họ khi gặp những biến cố làm giảm
hoặc mất thu nhập theo lao động[12].
Sở dĩ khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận với những nội dung đa
dạng như trên bởi trước khi có Luật bảo hiểm xã hội thì không có văn bản pháp
lý nào quy định một cách cụ thể và chính thức về vấn đề này, hơn nữa sự đa
dạng đó còn được giải thích bởi góc độ tiếp cận và nhu cầu nghiên cứu khác
nhau. Hiện nay, theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014
thì bảo hiểm xã hội được định nghĩa như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm
hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết
tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.”
Có thể thấy bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển là một quá trình thích
ứng và xử lý những vấn đề liên quan đến nhu cầu của con người. Việc đảm
bảo vật chất cho người lao động khi họ gặp những biến cố, rủi ro, trong thời
9
gian dài lao động sẽ khó được thực hiện thường xuyên và đầy đủ nếu chỉ dựa
vào sự tương trợ mang tính hảo tâm. Ngược lại, nó chỉ có thể được bảo đảm
chắc chắn, ổn định và bền vững khi có sự tổ chức và bảo đảm của Nhà nước
với những quy định về sự đóng góp mang tính bắt buộc để hình thành nên
một loại quỹ tiền tệ tập trung ở phạm vi lớn. Chính điều này làm cơ sở cho
việc hình thành nên hình thức bảo hiểm xã hội bắt buộc. Qua nghiên cứu các
quan điểm về bảo hiểm xã hội ở trên ta có thể hiểu rằng “bảo hiểm xã hội bắt
buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao
động (và trong một số trường hợp gồm cả thành viên gia đình) khi họ gặp rủi
ro hoặc biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động do một số nguyên nhân
nhất định gây ra (như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
già yếu hoặc chết) trên cơ sở nghĩa vụ bắt buộc tham gia của người sử dụng
lao động và người lao động”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014 “Bảo hiểm
xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người
lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.”
Như vậy bảo hiểm xã hội bắt buộc là một hình thức đảm bảo về thu nhập
cho người lao động và có thể là thành viên trong gia đình của họ. Việc đảm
bảo này được thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ phải tham gia đóng góp của các
đối tượng nhất định nhằm tạo lập ra nguồn chi trả. Hay có thể nói cách khác,
các đối tượng không có quyền lựa chọn tham gia hay không tham gia mà họ
bắt buộc phải tham gia loại hình bảo hiểm xã hội này khi thuộc các trường
hợp mà pháp luật quy định. Tính bắt buộc là một trong những điểm đặc thù
của loại hình bảo hiểm xã hội này.
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thứ nhất: BHXH bắt buộc có những đặc điểm của BHXH nói chung:
Bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động. Khi tham gia vào
10
BHXH thì NLĐ sẽ được bảo hiểm cho đến lúc chết. Khi còn làm việc, NLĐ
sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội trợ cấp ốm đau, lao động nữ được trợ
cấp thai sản khi mang thai, sinh con; người bị tai nạn được trợ cấp tai nạn lao
động; khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí (ở Việt Nam
còn gọi là lương hưu), khi chết thì được hưởng tiền chôn cất và gia đình được
hưởng trợ cấp tuất… Đây là đặc điểm riêng biệt của BHXH thể hiện tính xã
hội rất cao mà không một loại hình bảo hiểm nào có được.
Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội được bảo hiểm trong BHXH
liên quan đến thu nhập của NLĐ gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết... Do những sự kiện và rủi ro này
mà NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, dẫn đến việc họ bị giảm hoặc
mất nguồn thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp. Trong những trường hợp đó,
NLĐ cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù
đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH. Tuy nhiên, trong BHXH, không
phải NLĐ cứ bị mất thu nhập bao nhiêu là được bù bấy nhiêu. Điều này liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ được pháp luật BHXH quy định.
Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao
động và phát sinh giữa ba bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được
BHXH. Các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về quyền lợi, nghĩa vụ và
trách nhiệm, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật về BHXH. Theo đó,
bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc NLĐ và NSDLĐ, là những đối
tượng đóng góp trực tiếp vào quỹ BHXH. Bên BHXH hay chính là bên thực
hiện nhiệm vụ BHXH thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và
bảo trợ. Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được
BHXH khi có nhu cầu phát sinh và có trách nhiệm quản lý, đầu tư cho quỹ
BHXH phát triển. Bên hưởng BHXH là NLĐ và có thể là gia đình của họ khi
đáp ứng được các điều kiện hưởng BHXH. Đối với NLĐ, họ vừa là người
tham gia BHXH đồng thời họ vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họ
11
đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chính họ.
Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt
động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn và hỗ trợ cho quỹ BHXH
trong những trường hợp cần thiết. Ngoài ra Nhà nước còn tham gia BHXH
với tư cách là chủ thể quản lý, định ra những chế độ, chính sách, định hướng
cho các hoạt động BHXH.
Quỹ BHXH cơ bản được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham
gia BHXH, bao gồm NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Mặt khác, để bảo đảm duy
trì ổn định quỹ BHXH thì còn có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư
phần nhàn rỗi tương đối của quỹ và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy
định của pháp luật.
Thứ hai: Bên cạnh những đặc điểm chung kể trên thì BHXH bắt buộc có
những đặc điểm riêng biệt so với hình thức BHXH tự nguyện, cụ thể:
Về đối tượng tham gia: NLĐ và NSDLĐ chính là đối tượng chủ yếu
tham gia BHXH. Vì hiện nay, theo quy định của pháp luật thì tất cả các doanh
nghiệp phải tham gia BHXH cho NLĐ khi sử dụng lao động. Và việc tham
gia BHXH này sẽ do cả NLĐ và NSDLĐ cùng đóng phí cho cơ quan BHXH
mà không phụ thuộc vào việc họ có muốn tham gia BHXH hay không. Việc
tham gia BHXH của những đối tượng này là bắt buộc, không phụ thuộc vào ý
chí của họ. Nếu không tham gia vào BHXH bắt buộc thì NLĐ và NSDLĐ sẽ
phải chịu chế tài xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Trong khi đó đối
tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người từ một độ tuổi nhất định và
không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, tham gia BHXH trên cơ sở
tự nguyện.
Mức đóng BHXH bắt buộc được quy định với nghĩa vụ của NLĐ và
NSDLĐ. Các bên tham gia BHXH bắt buộc không có quyền thương lượng,
thỏa thuận về mức đóng BHXH mà pháp luật quy định cho mỗi bên. Pháp luật
12
thường quy định NSDLĐ có trách nhiệm đóng theo tỷ lệ % trên cơ sở quỹ
tiền lương trả cho NLĐ, NLĐ sẽ đóng theo tỷ lệ % trên cơ sở mức tiền lương,
tiền công hàng tháng mà NSDLĐ trả cho NLĐ. Như vậy pháp luật quy định
trách nhiệm của cả hai bên để san sẻ nghĩa vụ về tài chính khi đóng BHXH
cho NLĐ, điều này sẽ làm giảm chi phí và đảm bảo cuộc sống hiện tại của
NLĐ và đồng thời cũng để người SDLĐ có trách nhiệm hơn đối với NLĐ, từ
đó sẽ làm cho mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ có sự gắn kết lâu
dài, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên. Còn người tham gia BHXH tự
nguyện được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập,
điều kiện của mình.
Về chế độ hưởng BHXH: BHXH bắt buộc bao gồm nhiều chế độ hưởng
bảo hiểm như: Ốm đau, thai sản; TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
BHXH tự nguyện chỉ có chế độ hưởng là hưu trí và tử tuất.
Về trách nhiệm đóng BHXH: Đối với BHXH bắt buộc, NLĐ và người
SDLĐ có trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc cho người lao động. Còn đối với
BHXH tự nguyện, NLĐ khi tham gia BHXH thì phải tự mình đóng toàn bộ số
tiền bảo hiểm.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Trong đà phát triển của nền kinh tế hiện nay, BHXH đã tồn tại ở hầu hết
tất cả các nước trên thế giới. BHXH phát triển có hoàn thiện hay không phụ
thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, khi kinh tế càng phát triển thì BHXH
càng hoàn thiện và ngược lại. Vì vậy với những đặc trưng riêng của mình
BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng đã có những vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của kinh tế xã hội. Cụ thể:
Đối với người lao động và gia đình của họ
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước,
BHXH bắt buộc sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân NLĐ gặp phải những rủi
13
ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế khi NLĐ đã
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ, đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà
còn là nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp họ ổn định cuộc sống và yên
tâm công tác. Bên cạnh đó, nhờ có BHXH bắt buộc mà cuộc sống của các
thành viên trong gia đình NLĐ cũng được bảo đảm tốt hơn.
Có thể thấy rằng, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống
cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Có nghĩa là
tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc
phạm vi BHXH. Đồng thời, việc NLĐ tham gia BHXH bắt buộc thể hiện sự
tự gánh chịu trực tiếp rủi ro cho chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa
vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ [13, tr99].
Đối với người sử dụng lao động
BHXH bắt buộc thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của NSDLĐ đối với
NLĐ. BHXH bắt buộc giúp cho các tổ chức sử dụng lao động nói chung hay
các doanh nghiệp nói riêng ổn định hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh
thông qua việc phân phối cho NLĐ một cách hợp lý. Đóng góp vào quỹ
BHXH không trực tiếp mang lại lợi nhuận cho NSDLĐ nhưng sẽ giúp họ
tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi trả một khoản tiền lớn khi có rủi ro
xảy ra đối với NLĐ. Đồng thời góp phần giảm bớt tranh chấp, tạo mối quan
hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ.
Đối với kinh tế - xã hội
Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, đây là mối
quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ rủi ro, mối quan hệ này thể hiện trên các
góc độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền
lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã
hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết
và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động, đồng thời cũng bảo vệ, ổn định
cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính
14
nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.
Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, BHXH đặc biệt là BHXH bắt buộc
là trụ cột của an sinh xã hội, là cơ sở để phát triển các bộ phận khác của hệ
thống an sinh xã hội. Các Nhà nước thường dựa vào mức độ bao phủ của
chính sách BHXH để xác định những đối tượng nào còn gặp khó khăn, cần
cộng đồng chia sẻ nhưng chưa được tham gia BHXH để đưa ra những giải
pháp như trợ cấp, cứu trợ xã hội…Trên cơ sở đó BHXH là căn cứ để đánh giá
trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ an sinh xã hội đạt được
của mỗi nước.
BHXH còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến mức độ nào đó thì hệ
thống BHXH có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho
rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh
tế. Khi nền kinh tế chậm phát triển, đời sống dân sinh thấp thì không thể có
một hệ thống BHXH vững mạnh được. Ngược lại, khi kinh tế càng phát triển,
hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các
hình thức BHXH ngày càng phong phú.
BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm khoảng cách chênh
lệch giàu nghèo. Bên cạnh đó, hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc huy
động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội
ngày càng phát triển.
Ngoài ra đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không
may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy
tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn. Hệ thống BHXH
đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề phát triển nền kinh tế thị trường.
Tóm lại, BHXH nói chung và đặc biệt là BHXH bắt buộc là một trong
những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu được của mỗi quốc gia
nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội, là tiền đề thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
15
bền vững và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị.
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Kể từ khi ra đời cho đến nay, BHXH vẫn là hình thức bảo vệ hữu hiệu
nhất được hầu hết các quốc gia trên thế giới tổ chức thực hiện, BHXH được
xác định như một quyền cơ bản của NLĐ và trở thành một bộ phận vô cùng
quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội của mỗi quốc gia.
Pháp luật về BHXH bắt buộc là tổng hợp các quy định của Nhà nước
điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và sử dụng
một quỹ tiền tệ tập trung, dựa trên sự đóng góp bắt buộc của người SDLĐ và
những NLĐ nhất định nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần của
NLĐ và gia đình khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập[10, tr11].
Từ lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH trên thế giới cho
thấy, BHXH bắt buộc là vấn đề của mỗi quốc gia. Từ cuối thế kỷ thứ XIX
chính quyền nhiều bang ở Đức bắt tay với giới thợ thuyền lập quỹ ốm đau do
chính những người thợ đóng góp bắt buộc để hỗ trợ cho những người bị ốm
đau. Đây là lần đầu tiên đánh dấu sự ra đời của loại hình BHXH bắt buộc.
Năm 1883, đạo luật đầu tiên về BHXH ở Đức được ban hành, nhằm trợ cấp
cho NLĐ ốm đau. Năm 1884 mở rộng thêm hình thức trợ cấp rủi ro nghề
nghiệp, sau này gọi là trợ cấp TNLĐ, BNN. Sau đó đến năm 1889 thì phát
triển thêm hình thức trợ cấp tuổi già và trợ cấp tàn tật. Pháp luật BHXH của
Đức quy định việc tổ chức quản lý thực hiện BHXH gồm 3 bên bao gồm: đại
diện NLĐ, đại diện NSDLĐ và Nhà nước. Cả 3 bên đều có trách nhiệm đóng
góp một phần vào quỹ BHXH. Mọi người làm công ăn lương đều bắt buộc
phải đóng góp BHXH và từ đây NLĐ được bảo hộ về mặt pháp lý từ phía
Nhà nước khi họ gặp rủi ro hay già yếu.
Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có pháp luật BHXH về
16
BHXH bắt buộc. Mục tiêu đặt ra của BHXH bắt buộc ở các nước đều là sự
bảo vệ cho NLĐ khi gặp rủi ro, bất hạnh do bị mất hoặc giảm thu nhập thì họ
sẽ nhận được một khoản trợ cấp để sinh sống. Từ đó phạm vi và đối tượng áp
dụng của pháp luật BHXH được mở rộng dần. Các hình thức trợ cấp cũng dần
được bổ sung, nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với NLĐ. Như ở
trên ta có thể thấy, đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới ở Đức mới chỉ thực
hiện dạng trợ cấp ốm đau, sau đó là bảo hiểm TNLĐ, BNN, tàn tật, già yếu
mới lần lượt được quy định bổ sung thêm. Nước Nga là quốc gia đầu tiên quy
định loại trợ cấp cho phụ nữ góa bụa và có con nhỏ khi công chức chết. Sau
đó, ở các nước khác cũng thực hiện loại trợ cấp này. Năm 1911, Vương quốc
Anh là nước đầu tiên có luật về bảo hiểm thất nghiệp, rồi một số nước khác ở
Châu Âu, Canada và Hoa Kỳ cũng thực hiện trong thập kỷ 30 [14, tr6]…
Để phát triển và hoàn thiện pháp luật về BHXH của nhiều nước và trước
sự thúc đẩy tiến bộ xã hội, ngày 28/06/1952, Tổ chức ILO đã thông qua công
ước số 102 về BHXH bao gồm 9 dạng trợ cấp. Công ước này đã định ra một
cơ cấu thống nhất và có phối hợp về BHXH giữa các nước thành viên của
ILO. Tuy nhiên, Công ước cũng giành một số các lựa chọn có tính chất ngoại
lệ cho việc vận dụng đối với những nước chưa phát triển về kinh tế và y tế
trong một thời gian thích hợp.
Vấn đề được đặt ra là để thực hiện được mục đích của BHXH bắt buộc
thì pháp luật của các nước đều phải quán triệt tăng cường vai trò mọi mặt của
Nhà nước đối với BHXH bắt buộc, mọi hoạt động liên quan đến BHXH bắt
buộc phải do Nhà nước thống nhất quản lý. Vai trò của Nhà nước được thể
hiện trước hết ở việc Nhà nước trực tiếp ban hành các quy định về BHXH bắt
buộc, trực tiếp tổ chức ra bộ máy thực hiện BHXH và kiểm tra việc thực hiện
BHXH bắt buộc. Tùy theo tình hình điều kiện kinh tế, xã hội trong từng thời
kỳ phát triển của đất nước mà Nhà nước hoạch định chính sách quốc gia về
17
BHXH bắt buộc một cách phù hợp.
Từ đây có thể thấy việc điều chỉnh pháp luật về BHXH bắt buộc mang yếu
tố khách quan và là cần thiết. Nếu có một chính sách đúng đắn thì BHXH đóng
vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định tình hình chính trị của đất nước và sự
phát triển nền kinh tế quốc dân, ngược lại, nếu không có định hướng đúng thì nó
sẽ có tác động tiêu cực tới tình hình chính trị, kinh tế và tiến bộ xã hội.
1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Nguyên tắc của pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc là những tư tưởng
chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật về
BHXH bắt buộc. Nó thể hiện quan điểm, đưởng lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước về kinh tế - xã hội nói chung.
Việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng cần phải tuân thủ các
nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này bao gồm:
Thứ nhất: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm.
Nguyên tắc này được hiểu là có đóng BHXH thì sẽ được hưởng chế độ.
Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối tổng sản phẩm quốc
dân nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa
giữa cống hiến và hưởng thụ. Nghĩa là phải đảm bảo hợp lý giữa mức đóng
góp và hưởng thụ, tức là phải căn cứ vào mức đóng góp của người lao động
cho xã hội thể hiện thông qua mức đóng, thời gian đóng góp cho quỹ bảo
hiểm xã hội…để từ đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng trợ cấp
phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của người lao động. Tuy nhiên bảo hiểm
xã hội bên cạnh nội dung kinh tế còn chứa đựng trong mình nội dung xã hội
và một trong những biểu hiện của nó là nguyên tắc “chia sẻ rủi ro”, “lấy số
đông bù số ít”. Do đó, người lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội
không có nghĩa chắc chắn sẽ hưởng mọi chế độ bảo hiểm xã hội, sự đóng góp
18
của họ sẽ có ý nghĩa rất lớn cho những đối tượng gặp phải những rủi ro
nghiêm trọng mà nếu không có sự chia sẻ, tương trợ đó thì NLĐ sẽ gặp rất
nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Để dung hòa yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội của bảo hiểm xã hội thì vai
trò của pháp luật là quan trọng nhưng không thể không tính đến hình thức
khác trong việc thực hiện BHXH[11, tr127].
Thứ hai: Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương, tiền
công của người lao động.
Thu nhập được BHXH là phần thu nhập của NLĐ tham gia bảo hiểm mà
khi phần thu nhập đó bị giảm hoặc mất do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng
lao động, mất việc làm thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp để thay thế hoặc
bù đắp một phần cho họ. Mức thu nhập được bảo hiểm là mức tiền lương
hoặc mức thu nhập bằng tiền nào đó do Nhà nước quy định. Dựa trên cơ sở
mức sống, mức thu nhập bình quân thực tế của đại đa số người lao động và
mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người…, Nhà nước sẽ quy định, lựa
chọn mức thu nhập được bảo hiểm để bảo đảm rằng mức thu nhập này luôn
thăng bằng tương đối, nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động tham gia
bảo hiểm và gia đình họ.
Với nguyên tắc này thì có thể thấy theo quy định hiện hành của Luật bảo
hiểm xã hội nước ta mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở
tiền công, tiền lương của người lao động.
Mặt khác, mức thu nhập được bảo hiểm còn là công cụ để Nhà nước
giám sát, kiểm tra, điều tiết trên giác độ quản lý vĩ mô đối với BHXH và quản
lý lao động trong nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba: Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công
khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo
19
các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Nguyên tắc này quy định quỹ BHXH phải được quản lý thống nhất và
hạch toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng
đúng mục đích nhằm bảo đảm cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và
phục vụ cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều
chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu- chi, điều chỉnh kịp
thời khi các quỹ thành phần tạm thời bị mất cân đối, không làm ảnh hưởng
đến quyền lợi của người tham gia BHXH.
Thứ tư: Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có
thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH.
Theo quy định của pháp luật về hình thức bảo hiểm xã hội gồm có
BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Thực tế có thể thấy số lao động tham
gia BHXH bắt buộc là chủ yếu và họ được hưởng nhiều chế độ hơn so với đối
tượng tham gia BHXH tự nguyện. Tuy nhiên về phương diện pháp lý việc
tham gia BHXH tự nguyện hay BHXH bắt buộc đều tạo nên các quyền lợi về
BHXH có giá trị như nhau và trong thực tế tùy theo tính chất và đặc điểm của
quan hệ lao động mà người lao động có thể có những thời gian tham gia bảo
hiểm xã hội theo các loại hình khác nhau. Vì thế để đảm bảo quyền lợi cho
người lao động và tính liên thông trong quan hệ lao động thì người lao động
vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự
nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất theo quy định của pháp
luật trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
Thứ năm: Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận
tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
Người tham gia bảo hiểm xã hội khi đóng phí bảo hiểm xã hội là nhằm
dự trữ trước một khoản tài chính, nhằm đề phòng những trường hợp rủi ro xảy
20
ra hoặc có liên quan đến hoạt động lao động (tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp) hoặc những loại được gọi là “rủi ro xã hội”(ốm đau, thai sản, tuổi già,
chết). Khi gặp những rủi ro này, chi phí trong cuộc sống của người lao động
và gia đình họ không những tăng lên như chi phí chăm sóc, chữa trị khi bị ốm,
nuôi dưỡng sản phụ, con nhỏ…mà thu nhập còn bị giảm vì không đi làm
được. Trong trường hợp này khoản tiền trợ cấp bảo hiểm giữ vai trò quan
trọng và cần thiết góp phần bù đắp vào sự thiếu hụt thu nhập của người lao
động và gia đình họ nhằm ổn định cuộc sống, khắc phục những khó khăn, hỗ
trợ, giúp đỡ họ vượt qua những rủi ro tạm thời cũng như lâu dài. Chính vì vậy,
việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đảm bảo đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, kịp
thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội [11, tr130].
Nhìn chung những nguyên tắc của BHXH bắt buộc nêu trên đã thể hiện
quan điểm và thể chế hóa đường lối của Đảng và Nhà nước về BHXH.
1.2.3. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
1.2.3.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo đánh giá của ILO, thì bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng
nhất của an sinh xã hội. Bởi vì, BHXH có đối tượng áp dụng chiếm tỷ lệ cao
và sự “che chắn” của BHXH là ổn định, vững chắc. Có thể thấy đối tượng
tham gia của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người trực tiếp tham
gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền
lương của NLĐ theo quy định của pháp luật BHXH. Trên thực tế, do điều
kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước là khác nhau nên phạm vi, đối
tượng áp dụng các chế độ BHXH bắt buộc là khác nhau. Có nước chỉ thực
hiện BHXH bắt buộc đối với công nhân, viên chức Nhà nước, ví dụ như Lào; có
nước áp dụng với cả NLĐ làm công ăn lương, ví dụ như Philippin, Thái Lan; có
nước hầu như là áp dụng cho tất vả NLĐ, ví dụ như Australia [15, tr392].
Không một quốc gia nào ngay từ đầu đã thiết lập được hệ thống BHXH
21
cho tất cả NLĐ trong xã hội mà đều bắt đầu bằng một nhóm đối tượng nhất
định, rồi dần dần mở rộng phạm vi áp dụng tiến tới bao quát toàn bộ NLĐ với
các hình thức tham gia khác nhau như bắt buộc, tự nguyện. Nhóm đối tượng
mà pháp luật BHXH quốc gia thường tiếp cận đầu tiên là NLĐ trong bộ máy
nhà nước, NLĐ thuộc khu vực chính thức (có quan hệ lao động) với ưu điểm
sẽ dễ kiểm soát thu nhập và đơn giản trong tổ chức quản lý, thực hiện. Song
song với việc quy định phạm vi áp dụng là NLĐ, pháp luật BHXH xác định
rõ trách nhiệm của người sử dụng với nghĩa vụ đóng góp cụ thể [10, tr67-68].
Việc tham gia BHXH có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo thu nhập cho
NLĐ và gia đình họ. Mặc dù vậy, trên thực tế, không phải NLĐ và NSDLĐ
nào cũng tự giác tham gia BHXH nên để thực hiện BHXH một cách ổn định,
lâu dài và để đảm bảo được nguồn thu của quỹ BHXH thì cần thiết phải quy
định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc là NLĐ và NSDLĐ mà theo quy định của pháp luật thì họ bắt buộc phải
tham gia BHXH dù họ có muốn hay không. Việc tham gia của những đối
tượng này vừa là quyền nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ của họ. NLĐ và
NSDLĐ không có quyền thỏa thuận là có tham gia BHXH hay không cũng
như thay thế việc đóng BHXH bằng các hình thức khác.
Tùy theo tình hình phát triển kinh tế-xã hội mà mỗi một quốc gia sẽ có
những quy định khác nhau về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Có quốc
gia quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là những người tham gia
quan hệ lao động một cách thường xuyên, ổn định như Việt Nam. Bên cạnh
đó, có một số quốc gia lại quy định đối tượng tham gia không phụ thuộc vào
quan hệ lao động như pháp luật BHXH Đan Mạch có quy định mọi công dân
được hưởng chế độ bảo hiểm từ hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia, trợ cấp
gia đình và trợ cấp người già mà không phụ thuộc vào hoạt động nghề
22
nghiệp[15, tr408].
Tại Hà Lan, có hai loại BHXH là BHXH đối với những người làm công
ăn lương và BHXH quốc gia. BHXH của những người làm công ăn lương bảo
đảm chi phí duy nhất cho những người làm công ăn lương và những người
tương tự như vậy. Để được hưởng chế độ BHXH này, phải có một hợp đồng
lao động, ít nhất giống như người làm công ăn lương. Đó là những trường hợp
học nghề, những NLĐ tại nhà hoặc trong các phân xưởng được bảo hiểm.
Những NLĐ thật sự độc lập không giống người làm công ăn lương và công chức có chế độ riêng[15, tr408].
Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau và
nguồn hình thành quỹ chủ yếu là từ sự đóng góp của đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc. Trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH bắt buộc cho NLĐ
được phân chia cho cả NSDLĐ và NLĐ trên cơ sở quan hệ lao động. Điều
này không phải là sự phân chia rủi ro mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía
NSDLĐ, sự đóng góp một phần BHXH bắt buộc cho NLĐ sẽ tránh được thiệt
hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ
mà mình thuê. Đồng thời nó còn tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên
chủ - thợ bởi việc đóng góp đó thể hiện trách nhiệm đối với những NLĐ mà
họ đang sử dụng. Về phía NLĐ, sự đóng góp một phần để BHXH cho chính
bản thân mình một phần biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của bản
thân, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Mức đóng góp của NLĐ và NSDLĐ ảnh hưởng rất lớn đến nguồn quỹ
bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nguồn quỹ có dồi dào thì mới đảm bảo được khả
năng chi trả cho các đối tượng BHXH. Các nguồn khác để hình thành quỹ
BHXH bắt buộc chỉ chiếm phần nhỏ, như việc đầu tư của quỹ bị hạn chế
nhiều bởi hạng mục đầu tư, hơn nữa phải đảm bảo nguyên tắc an toàn của quỹ
nên phần tiền lời thu được không cao. Nhà nước chỉ hỗ trợ trong một trường
23
hợp nhất định, còn lại quỹ phải tự cân đối thu chi.
Như vậy quỹ bảo hiểm xã hội đã được pháp luật xác định cụ thể nguồn
thu và các khoản chi. Tuy nhiên, trên thực tế, đối tượng tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc thường tìm mọi cách để trốn đóng hoặc nợ bảo hiểm xã hội gây
tình trạng thất thu cho quỹ. Do đó, việc quản lý quỹ phải được đề cao và để
hoạt động quản lý quỹ hiệu quả thì phải đảm bảo được sự minh bạch và công
khai, trên cơ sở đề cao trách nhiệm của các bên có liên quan đến hoạt động
quản lý quỹ, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát quỹ để tránh thất thoát
quỹ, đảm bảo khả năng chi trả lâu dài cho quỹ phù hợp với mục đích của bảo
hiểm xã hội.
1.2.3.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Các chế độ bảo hiểm xã hội được tạo thành bởi các yếu tố: Đối tượng
được hưởng bảo hiểm xã hội; điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội; mức hưởng
và thời hạn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Về nguyên tắc, bảo hiểm xã hội phải đảm bảo an toàn kinh tế cho mọi
người lao động trong mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động. Tuy
nhiên, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong từng gia
đoạn mà các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định khác nhau.
Theo Công ước số 102 ngày 25/06/1952 của Tổ chức Lao động quốc tế
thì hệ thống BHXH bao gồm 9 chế độ: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp
thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp TNLĐ-BNN, trợ cấp gia đình, trợ cấp
thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Tổ chức Lao động
quốc tế cũng khuyến nghị tùy theo điều kiện – xã hội, mà mỗi quốc gia công
ước có thể quy định các chế độ BHXH bắt buộc khác nhau, nhưng ít nhất phải
thực hiện được ba chế độ và trong đó phải có ít nhất một trong năm chế độ:
Trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp TNLĐ, BNN; trợ cấp khi tàn phế
24
và trợ cấp tiền tuất.
Hầu hết các quốc gia thường quy định 5 chế độ BHXH mang tính bắt
buộc đó là: chế độ BHXH ốm đau, chế độ BHXH thai sản, chế độ BHXH tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ BHXH hưu trí và chế độ tử tuất.
Chế độ ốm đau
Ốm đau, tai nạn là điều mà hầu như con người không mong muốn nó xảy
ra, tuy nhiên họ không thể tránh khỏi trong suốt cuộc đời được. Đối với người
lao động, sự kiện này được coi là một sự rủi ro trong lao động mà họ gặp
phải. Biểu hiện ở chỗ NLĐ bị mất thu nhập từ lao động. Từ đó con người có
thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục tình trạng trên. Một
trong những biện pháp đó chính là bảo hiểm ốm đau.
Bảo hiểm ốm đau là một trong các chế độ bảo hiểm xã hội ra đời sớm
nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH. Ở nước Đức,
ngay từ những năm 50 của thế kỷ XIX nhiều chính quyền bang đã quan tâm
tới việc quy định và bắt buộc thực hiện chế độ trợ cấp ốm đau đối với NLĐ.
Đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm ốm đau ngày càng được mở rộng. Sau đó
nhiều nước Châu Âu cũng đã cho ra đời các đạo luật của mình có quy định về
vấn đề bảo hiểm ốm đau. Đến đầu thế kỷ XX, bảo hiểm ốm đau đã mở rộng ra
nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canada
và một số nước khác [16, tr331].
Năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế đã thông qua Công ước số 102 với
những quy phạm tối thiểu về BHXH. Trong đó , Điều 14 của Công ước quy
định chế độ trợ cấp ốm đau được áp dụng đối với các trường hợp bị mất khả
năng lao động do ốm đau gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập như pháp luật
hoặc quy định của quốc gia. Có thể nói, đối tượng áp dụng BHXH ốm đau là
NLĐ tham gia BHXH bắt buộc khi NLĐ bị mất khả năng lao động do ốm
đau, bệnh tật, phải nghỉ việc dẫn đến thu nhập bị gián đoạn. Tuy nhiên, không
phải trong mọi trường hợp NLĐ bị ốm đau hay tai nạn rủi ro họ đều được
25
hưởng bảo hiểm mà cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.
Bị ốm đau (không phải bệnh nghề nghiệp) được coi là điều kiện tiền đề
của chế độ bảo hiểm ốm đau, nhưng chỉ những trường hợp ốm đau mà không
phải do lỗi của NLĐ mới trở thành điều kiện hưởng bảo hiểm ở chế độ bảo
hiểm ốm đau. Còn những trường hợp NLĐ nghỉ việc do họ tự hủy hoại sức
khỏe của mình như do say rượu, do dùng các chất ma túy hay chất gây nghiện
khác thì họ sẽ không được hưởng bảo hiểm ở chế độ này. Khi NLĐ bị ốm
đau thì họ sẽ phải nghỉ việc để điều trị bệnh. Đây cũng là điều kiện quan
trọng để xác định nhu cầu bảo hiểm thực sự của NLĐ, đồng thời đảm bảo
nguồn chi đúng mục đích và phát huy tác dụng tích cực của quỹ BHXH. Bên
cạnh đó, thời gian tối thiểu tham gia BHXH cũng là một điều kiện cần thiết
để một số quốc gia xác định đối tượng hưởng BHXH ốm đau. Theo Điều 17
Công ước số 102 của ILO thì điều kiện này để NLĐ tránh lạm dụng gây ảnh
hưởng xấu đến tình hình tài chính của quỹ BHXH. Tuy nhiên, cũng có một
số quốc gia lại không coi đây là điều kiện để được hưởng trợ cấp, chẳng hạn
như Việt Nam.
Tại Điều 18 Công ước số 102 của ILO quy định những nguyên tắc chung
của việc khống chế thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau của người tham gia bảo
hiểm, làm cơ sở cho các quốc gia tham gia Công ước cụ thể hóa trong pháp
luật quốc gia. Thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau thường được tính theo ngày
làm việc của NLĐ. Tùy thuộc vào điều kiện lao động, thời gian BHXH, tình
trạng ốm đau của NLĐ, mục đích bảo hiểm của Nhà nước và khả năng cân
đối quỹ BHXH mà từng quốc gia sẽ quy định khác nhau về thời gian hưởng
bảo hiểm.
Khi NLĐ bị ốm thì họ sẽ được hưởng trợ cấp ốm đau theo quy định của
pháp luật. Mức hưởng trợ cấp ốm đau được ILO đề xuất cho các quốc gia phê
chuẩn Công ước số 102 bằng 45% tiền lương và thời gian hưởng từ 13 đến 26
26
tuần trong một năm tùy từng trường hợp ốm đau (Điều 67 Công ước số 102).
Trong Công ước số 130 năm 1960 về chăm sóc y tế và trợ cấp ốm đau đã ấn
định mức 60% tiền lương và coi đây là quy chuẩn. Ở một số quốc gia khác
nhau lại có những quy định khác như: Thái lan quy định bằng 50% tiền lương,
tối đa 250bath/ngày; Philippin quy định bằng 90% tiền lương; Malaysia quy
định bằng 80% tiền lương; Trung Quốc quy định 60% đến 100% tiền lương
tùy thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm[10, tr71].
Như vậy, bảo hiểm ốm đau là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm thu
nhập cho NLĐ tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn,
chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
Chế độ thai sản:
Chế độ này áp dụng chủ yếu với lao động nữ. Hiện nay, lao động nữ
chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động xã hội. Họ tham gia lao động
trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của đời sống và có đóng góp quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bên cạnh cuộc sống lao
động họ còn thực hiện thiên chức làm mẹ của mình. Hầu hết lao động nữ đều
trải qua thời gian mang thai, sinh đẻ. Trong thời gian đó họ phải nghỉ việc,
không có lương đồng thời chi phí sinh hoạt sẽ tăng lên do sức khỏe bị suy
giảm, do gia đình có thêm thành viên mới…Nhằm góp phần bảo vệ NLĐ nói
chung, lao động nữ và trẻ sơ sinh nói riêng, hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều có chính sách về bảo hiểm thai sản. Mặc dù có các quy định khác nhau về
đối tượng hưởng, thời gian nghỉ và mức trợ cấp nhưng pháp luật của các nước
đều giống nhau về mục đích hướng tới của chế độ thai sản là thông qua việc
bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi
con sơ sinh, thực hiện biện pháp tránh thai, bảo hiểm thai sản nhằm giữ cân
bằng về thu nhập, bảo vệ sức khỏe của NLĐ và trẻ sơ sinh.Tại kỳ họp đầu tiên
và trong suốt quá trình hoạt động, Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã ban
27
hành nhiều Công ước và Khuyến nghị thể hiện sự quan tâm , bảo vệ sức khỏe
cũng như quyền lợi cho lao động nữ. Đó là Công ước số 3 năm 1919, Công
ước số 102 năm 1952, Khuyến nghị số 95(sửa đổi năm 1952), Công ước số
103 (xét lại năm 1952), Công ước số 183 năm 2000 và Khuyến nghị số
191…Ngoài ra, Tổ chức Liên hợp quốc (UN) cũng có một số công ước đề cập
vấn đề này, đó là: Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966;
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979…
Mục đích của các công ước và khuyến nghị này là nhằm đảm bảo cho lao
động nữ, trẻ sơ sinh được chăm sóc cần thiết, được bảo vệ mức sống trong
thời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc, đồng thời bảo vệ lao động nữ trong
thời gian sinh con không bị mất việc làm và sau thời gian nghỉ vẫn được làm
đúng công việc cũ với mức lương giữ nguyên. Từ các công ước và khuyến
nghị đó, đến nay pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định về
chế độ bảo hiểm thai sản. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính
trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ bảo hiểm thai sản được quy định khác
nhau[17, tr148].
Bảo hiểm thai sản được coi là chế độ bảo hiểm đặc thù. Đối tượng của
bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ. Thông thường lao động nam chỉ
được hưởng một số chế độ nhất định, ví dụ hưởng trợ cấp khi nuôi con nuôi
sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai... Tuy nhiên, hiện nay, một số quốc
gia quy định cả nam và nữ đều được hưởng chế độ thai sản như nhau như
Thụy Điển, Bulgaria. Đặc biệt, ở Bulgaria còn quy định ông, bà cũng được
nghỉ hưởng trợ cấp trong thời gian người mẹ mang thai, trước và sau sinh
nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con cháu trong gia đình[17, tr149].
Về điều kiện hưởng bảo hiểm thai sản, hầu hết các quốc gia đều có quy
định tham gia BHXH trước khi sinh như về thời gian đóng BHXH trước khi
hưởng chế độ thai sản pháp luật Thái Lan quy định phải có 7 tháng đóng góp
28
trong vòng 15 tháng trước khi sinh. Singgapore quy định ít nhất phải có 6
tháng làm việc. Nhật Bản quy định phải có 12 tháng làm việc trước đó. Tại
Philipines, trợ cấp thai sản được thực hiện trong 4 lần sinh, với điều kiện lao
động nữ phải đóng BHXH 3 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh[17,
tr152].
Tùy thuộc vào điều kiện hưởng, thời gian nghỉ mà các nước có quy định
khác nhau về mức trợ cấp. Ở Na Uy, có hai lựa chọn cho NLĐ: Nếu lựa chọn
54 tuần nghỉ thì được hưởng trợ cấp ở mức 80% tiền lương tháng, nếu lựa
chọn 44 tuần nghỉ thì hưởng mức trợ cấp cao hơn là 100% tiền lương trước
khi nghỉ việc, ở Pháp quy định mức trợ cấp thai sản bằng 90% tiền lương. Với
mức trợ cấp một lần thì nhiều quốc gia ấn định khoản tiền cụ thể như Thái
Lan trợ cấp một lần là 4000 bạt. Nhật Bản là 300.000 yên[17, tr163-164].
Mặc dù khác nhau về đối tượng hưởng, thời gian nghỉ, mức trợ cấp
nhưng các nước đều giống nhau về đối tượng hướng tới chế độ bảo hiểm thai
sản. Chế độ bảo hiểm thai sản không chỉ có ý nghĩa là đảm bảo ổn định thu
nhập, việc làm, sức khỏe cho người lao động khi thực hiện quyền được làm
cha, làm mẹ, góp phần đảm bảo bình đẳng giới và an sinh xã hội mà lâu dài
hơn là thúc đẩy sự phát triển ổn định bền vững về dân số, chất lượng lao động
thế hệ tương lai của đất nước.
Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Trong quá trình lao động khi NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thu nhập của NLĐ sẽ bị mất hoặc giảm đi đáng kể kèm theo đó là các
khoản chi phí cho đời sống hàng ngày tăng lên, điều này cho thấy nhu cầu
được bảo hiểm của NLĐ và gia đình họ trong trường hợp này là cần thiết. Vì
vậy, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã hình thành và phát triển
với ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ đối với những rủi ro xảy ra
trong quá trình lao động. Đổng thời, thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối
29
với lực lượng lao động và cộng đồng xã hội nói chung.
Công ước số 102 của ILO về những quy phạm tối thiểu của an sinh xã
hội đã có khuyến nghị các nước thành viên phải thực hiện ít nhất 3 trong 9
chế độ được quy định trong Công ước và trong đó phải có ít nhất một trong
các chế độ trợ cấp bắt buộc là trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật và trợ cấp mất người nuôi
dưỡng. Điều này cho thấy chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có vai
trò rất quan trọng.
Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là chế độ BHXH nhằm bù
đắp các chi phí chữa trị, bù đắp hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ
bị giảm hoặc mất do giảm hoặc mất khả năng lao động mà nguyên nhân là tai
nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.
Đối tượng hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là những
NLĐ có tham gia BHXH bắt buộc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm
suy giảm khả năng lao động ở một mức độ nhất định. NLĐ ở đây có thể thuộc
mọi thành phần kinh tế nhưng cũng có thể chỉ là cán bộ, công nhân viên
chức… Tại Đức pháp luật quy định đối tượng áp dụng bảo hiểm tai nạn lao
động là tất cả NLĐ, kể cả bị tai nạn lao động trên đường đi, giữa nơi ở và nơi
làm việc; người bị mắc bệnh nghề nghiệp thì được xử lý như bị tai nạn lao
động. Trong khi đó, theo pháp luật Thái Lan thì đối tượng áp dụng của chế độ
bảo hiểm này là tất cả NLĐ làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và thương
mại, loại trừ người làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; người làm
việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, nhân viên chính phủ thì thực hiện theo
hệ thống riêng[7].
Thông thường các quốc gia đều quy định điều kiện NLĐ được hưởng
chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là NLĐ phải tham gia BHXH và
họ bị tai nạn lao động, bệnh nghề ngiệp theo quy định của quốc gia đó. Các
chế độ áp dụng đối với NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có thể kể
30
đến như giám định y khoa, trợ cấp thương tật, bệnh tật và một số chế độ khác
có liên quan. Trong đó trợ cấp thương tật, bệnh tật được xác định là chế độ có
vai trò quan trọng đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp. Tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động mà NLĐ có thể
được hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng.
Chế độ bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí là chế độ dành cho những người không còn tham gia
quan hệ lao động nữa. NLĐ nào cũng sẽ đến lúc già yếu, hết tuổi lao động
nhưng vẫn có nhu cầu đảm bảo cuộc sống và lương hưu sẽ là nguồn thu nhập
chính của NLĐ trong lúc này do vậy bảo hiểm hưu trí là một trong những chế
độ BHXH cần thiết và quan trọng. Không những thế bảo hiểm hưu trí là một
trong những chế độ được bảo hiểm sớm nhất. Vào những năm cuối thế kỷ
XIX, khi hệ thống BHXH mới được hình thành, ở các nước như Đức,
Pháp…các chế độ bảo hiểm bắt buộc đầu tiên được thực hiện là bảo hiểm hưu
trí và bảo hiểm y tế.
Tháng 6 năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã thông qua công
ước số 102 về những quy phạm tối thiểu của an sinh xã hội, trong đó có
khuyến nghị các nước thành viên phải thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ được
Quy định trong Công ước và trong đó phải có ít nhất một trong các chế độ trợ
cấp bắt buộc là trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai nạn lao động và
trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Điều này chứng tỏ chế độ hưu trí luôn được
ILO, chính phủ các nước cũng như NLĐ hết sức quan tâm.
Hầu hết mọi NLĐ tham gia BHXH bắt buộc đều thuộc đối tượng của bảo
hiểm hưu trí và họ chỉ được thụ hưởng chế độ này khi họ hết độ tuổi lao động
hoặc không còn khả năng lao động nữa. Đối với chế độ bảo hiểm hưu trí thì
điều kiện thiết yếu để NLĐ được hưởng bảo hiểm chính là tuổi đời và thời
gian đóng BHXH. Vì vậy, khi NLĐ đến một độ tuổi nhất định và có một
31
khoảng thời gian đóng bảo hiểm nhất định thì NLĐ mới được nghỉ hưu và
được hưởng trợ cấp hưu trí. Về độ tuổi, chế độ bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo
hiểm dành cho những người đã già yếu và không còn tham gia quan hệ lao
động nữa. Vì vậy, về nguyên tắc chỉ đến khi NLĐ hết tuổi lao động thì họ mới
được hưởng chế độ này. Tại Điều 26 Công ước số 102 của ILO khuyến nghị
các quốc gia quy định về độ tuổi nghỉ hưu không được quá 65. Tuy nhiên, các
cơ quan có thẩm quyền có thể ấn định một độ tuổi cao hơn, xét theo khả năng
làm việc của những người cao tuổi trong nước đó. Do vậy, tùy theo điều kiện
kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ sinh và sự già hóa dân số, điều kiện lao
động…mà các quốc gia có quy định khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu. Hay cùng
một quốc gia nhưng tại các giai đoạn khác nhau, giữa lao động nam và lao
động nữ, tuổi nghỉ hưu cũng được quy định khác nhau. Ở Nga, pháp luật quy
định công dân nam đạt 60 tuổi, nữ đạt 55 tuổi, có ít nhất 5 năm đóng BHXH
được hưởng chế độ này[7, tr265].
Hay như ở Đức, người tham gia bảo hiểm hưu trí sẽ được nhận trợ cấp
hưu trí hàng tháng khi đủ 55 tuổi và có ít nhất 5 năm đóng bảo hiểm (độ tuổi
này tăng lên 67 đối với những người sinh sau năm 1964). Từ năm 2012,
những người đủ 65 tuổi và có 45 năm đóng bảo hiểm sẽ được hưởng chế độ
hưu trí dài hạn[7, tr139].
Với điều kiện kinh tế xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, tuổi
thọ trung bình của NLĐ đang có xu hướng tăng, số người nghỉ hưu chiếm tỷ
trọng ngày càng lớn trong toàn bộ dân cư khiến toàn bộ mức chi trả cho chế
độ bảo hiểm hưu trí ngày càng cao. Trong khi phần lớn phí đóng góp vào
BHXH đều dành để chi trả chế độ bảo hiểm hưu trí. Thời gian NLĐ hưởng
chế độ hưu trí thường lâu dài nên chế độ này ảnh hưởng, chi phối tới đời sống
của NLĐ nhiều hơn so với chế độ BHXH khác và quỹ BHXH có an toàn về
tài chính hay không cũng chủ yếu phụ thuộc vào chế độ hưu trí được quy định
và thực hiện như thế nào. Chính vì vậy, nhiều nước đã tiến hành cải cách chế
32
độ bảo hiểm hưu trí bằng cách tăng tuổi nghỉ hưu nhằm cân bằng quỹ BHXH.
Khi NLĐ đáp ứng được các yêu cầu, điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí
thì họ sẽ được hưởng các chế độ trợ cấp hưu trí. Về cơ bản, chế độ trợ cấp
hưu trí bao gồm trợ cấp hưu trí hàng tháng và BHXH một lần. Trong đó, trợ
cấp hưu trí hàng tháng là chế độ được trả theo định kỳ và mức hưởng của bảo
hiểm hưu trí được xác định trên cơ sở mức đóng góp, thời gian đóng góp,
mức tiền lương khi còn làm việc và lãi suất của các khoản đóng góp. Theo
nguyên tắc, mức hưởng không bao giờ cao hơn mức lương trung bình lấy làm
căn cứ tính mức hưởng. Các nước đều không đặt ra giới hạn đối với thời gian
hưởng trợ cấp hưu trí, nghĩa là NLĐ sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí đến lúc
chết. BHXH một lần được chi trả cho NLĐ khi họ nghỉ hưu thường trong
trường hợp họ không có đủ các điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng.
Như vậy, chế độ hưu trí được hiểu là chế độ bảo hiểm xã hội bảo đảm
thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao
động nữa. Dưới góc độ pháp luật, chế độ bảo hiểm hưu trí là tổng hợp các quy
phạm pháp luật quy định về các điều kiện và mức trợ cấp cho những người
tham gia BHXH khi đã hết tuổi lao động hoặc không tham gia quan hệ lao
động nữa.
Chế độ tử tuất
Khi NLĐ chết đi, gia đình của họ sẽ mất đi một khoản thu nhập và điều
này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thân nhân trong gia đình của NLĐ. Đặc biệt,
đối với những NLĐ mà khi họ còn sống họ giữ vai trò là trụ cột trong gia
đình. Do đó, NLĐ rất cần khoản trợ cấp nhằm trang trải các chi phí cho tang
lễ, đồng thời đảm bảo và ổn định cuộc sống cho người thân khi họ không còn.
Bởi vậy chế độ tử tuất cũng là một trong những chế độ được Nhà nước và
NLĐ hết sức quan tâm.
Chế độ tử tuất là chế độ BHXH đối với thân nhân của NLĐ đang tham
33
gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động nay được hưởng bảo hiểm,
đang chờ hưởng bảo hiểm hưu trí mà bị chết. Chế độ này dành cho thân nhân
của NLĐ. Khi NLĐ tham gia BHXH họ không những được bảo đảm thu nhập
trong và sau quá trình lao động mà ngay cả khi họ chết thì người thân của họ
vẫn được một khoản trợ cấp để lo chi phí mai táng và vượt qua những khó
khăn ban đầu khi người thân vừa mất.
Chế độ tử tuất gồm hai chế độ: đảm bảo chi phí mai táng cho người chết
và chế độ tiền tuất cho thân nhân khi bị mất nguồn thu nhập phụ thuộc. Chế
độ đảm bảo mai táng phí thường được chi trả một lần với mức ấn định chung
cho người thực hiện mai táng. Tổ chức lao động quốc tế ILO thường chỉ đề
cập đến khoản trợ cấp tiền tuất với tư cách là trợ cấp dài hạn, cùng nhóm với
trợ cấp hưu trí và thương tật (Công ước số 102 và Công ước số 128). Đây là
khoản trợ cấp chi trả cho nhân thân của NLĐ với điều kiện sống phụ thuộc
vào thu nhập của NLĐ. Trợ cấp tiền tuất thường được quy định ở mức đồng
đều cho mọi thân nhân theo tỷ lệ gắn với thu nhập[10, tr76].
Tại Phần Lan, pháp luật quy định người vợ (chồng) góa và trẻ mồ côi
dưới 18 tuổi có quyền được nhận trợ cấp tử tuất bao gồm trợ cấp ban đầu được
chi trả trong 06 tháng, mức trợ cấp dựa trên số năm cư trú, có thể được tăng lên
theo thu nhập của người đó. Trợ cấp được chi trả trong thời gian 6 tháng trở lên
nếu người được trợ cấp phải nuôi con nhỏ dưới 18 tuổi[15, tr427].
Tại Nga, trợ cấp mai táng là khoản được chi trả bằng tiền một lần cho
thân nhân người chết hoặc cho người nhận trách nhiệm tổ chức mai táng.
Theo đạo luật liên bang “về tang lễ và mai táng”, trợ cấp mai táng được quy
định không quá 1.000 rúp[7, tr286].
1.2.3.3. Hồ sơ, thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Hầu hết các nước đều coi hoạt động BHXH bắt buộc là hoạt động dịch
vụ công, có chức năng chung là quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc;
34
tổ chức thu – chi trả các trợ cấp bảo hiểm; quản lý hoạt động tài chính BHXH
bắt buộc. Do điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị của mỗi nước là khác nhau
nên hệ thống BHXH bắt buộc của các nước cũng được xây dựng khác nhau
nên không có mô hình tổ chức BHXH bắt buộc chung cho tất cả các nước.
Chính vì vậy, khi giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc thì hồ sơ
cũng như thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm của mỗi quốc gia là khác nhau.
Bên cạnh đó hồ sơ yêu cầu để giải quyết cho mỗi chế độ bảo hiểm cũng khác
nhau về đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng…
Mặc dù mô hình về hồ sơ, thủ tục có thể khác nhau, nhưng mục đích
chúng hướng tới vẫn là đưa ra những quy định để giải quyết chế độ cho NLĐ
được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc một cách thuận tiện, nhanh
chóng và đúng pháp luật.
1.2.3.4. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội
bắt buộc
Vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc là hành vi trái pháp luật của một
trong các bên liên quan trong lĩnh vực BHXH bắt buộc hoặc của bất kỳ tổ
chức, cá nhân nào trong xã hội. Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bắt
buộc thường xảy ra ở các lĩnh vực đóng BHXH , thủ tục thực hiện việc chi trả
BHXH, sử dụng quỹ BHXH… cụ thể được chia làm ba nhóm như sau:
- Nhóm hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ đóng BHXH.
- Nhóm hành vi vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH.
- Nhóm hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện BHXH.
Các cá nhân, tổ chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bắt
buộc sẽ bị xử lý với các hình thức và mức phạt khác nhau như xử lý vi phạm
hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt
hại sẽ phải bồi thường.
Tranh chấp về BHXH bắt buộc là tranh chấp về việc đóng góp quỹ và
35
thực hiện các chế độ BHXH bắt buộc do Nhà nước quy định, những tranh
chấp này nhìn chung khá là đa dạng nhưng chủ yếu tập trung ở những vấn đề
liên quan tới việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định
của nhà nước trong việc giải quyết các quyền lợi BHXH cho NLĐ và các đối
tượng thụ hưởng khác. Pháp luật cho phép các bên tranh chấp lựa chọn cơ chế
để giải quyết tranh chấp, có thể dùng cơ chế thỏa thuận, cơ chế khiếu nại hoặc
36
cơ chế tài phán.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng hình
thành và phát triển có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội và nó
đã trở thành trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, là một chính sách xã hội
không thể thiếu ở các nước. BHXH bắt buộc là một loại hình BHXH do Nhà
nước tổ chức thực hiện và bắt buộc áp dụng đối với một số NLĐ và NSDLĐ
theo quy định của pháp luật. BHXH bắt buộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với NLĐ nói riêng và xã hội nói chung, góp phần phát triển bền vững các chế độ
an sinh xã hội. Mặt khác, BHXH bắt buộc trở thành nhu cầu và quyền lợi của
NLĐ, đó là một trong những quyền lợi cơ bản của con người.
Mỗi quốc gia sẽ quy định hệ thống các chế độ BHXH bắt buộc khác
nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tuy nhiên thường thì
các quốc gia sẽ quy định 5 chế độ BHXH bắt buộc bao gồm: Chế độ ốm đau;
thái sản; TNLĐ, BNN và hưu trí; tử tuất.Việc thực hiện BHXH bắt buộc phải
tuân theo những nguyên tắc đề ra để đảm bảo sự ổn định, an toàn để tiến tới
37
phát triển nền kinh tế xã hội ngày một tốt hơn.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN
KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người có trách nhiệm đóng phí
bảo hiểm cho cơ quan thực hiện BHXH theo quy định của Nhà nước và được
hưởng các chế độ BHXH bắt buộc. Trong BHXH bắt buộc, đối tượng tham
gia chủ yếu là NLĐ và NSDLĐ. Ngoài ra thân nhân của người tham gia
BHXH bắt buộc cũng được hưởng chế độ BHXH trong một số trường hợp
nhất định theo quy định của pháp luật, nhưng không phải đóng phí bảo hiểm.
Theo khoản 1,2, 3 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2014
thì đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được quy định cụ thể như sau:
*Người lao động
NLĐ là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
được quy định tại Điều 2 Luật BHXH 2014 bao gồm: Người làm việc theo
hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời
hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có
thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký
kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người
dưới 15 tuổi theo quy định;Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời
hạn đủ từ 01 tháng đến dưới 3 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức; Công
nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức
cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
38
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Hạ sĩ quan,
chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có
thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh
hoạt phí;Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Người
quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền
lương;Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Ngoài ra
pháp luật còn quy định NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt
Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành
nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.
Theo quy định hiện hành thì Luật BHXH năm 2014 đã mở rộng đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc và bổ sung một số đối tượng sau:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
dưới 3 tháng. Hiện nay, tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức chiếm khoảng 70% lực lượng lao động[22], nhưng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với
mức thấp, do đó việc bổ sung đối tượng này vừa đảm bảo quyền lợi của NLĐ
vừa giúp hạn chế tình trạng các doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội cho
NLĐ. Trên thực tế cho thấy rất nhiều doanh nghiệp đã kí hợp đồng có thời
hạn dưới 3 tháng với người lao động để trốn tránh nghĩa vụ cho NLĐ.
-NLĐ công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao
động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp. Trong thời buổi kinh tế thị trường ngày nay,
Việt Nam khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư nhằm phát triển
kinh tế xã- xã hội, điều này có thể thấy số lượng người nước ngoài lao động
tại Việt Nam ngày càng tăng cao. Vì vậy việc bổ sung đối tượng này là phù
hợp với quá trình phát triển thị trường lao động cũng như sẽ giúp đảm bảo
39
quyền lợi của NLĐ nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam. Đồng thời,
phù hợp với khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế và thực tiễn các nước
trong khu vực đều có quy định cho phép người nước ngoài được tham gia
BHXH tại nước họ.
-Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định Luật người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đối tượng này tuy đã
được quy định trong Luật BHXH 2006 nhưng mới chỉ áp dụng đối với người
mà trước đó đã có thời gian tham gia BHXH bắt buộc.
-Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Theo quy
định của Luật BHXH 2006 thì những người lao động không chuyên trách tại
xã phường… thì không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên
trên thực tế nhiều người làm việc không chuyên trách tại xã, phường có quá
trình hoạt động lâu dài tại cơ sở, làm việc cả ngày. Tại nhiều địa phương, hội
đồng nhân dân tỉnh đã hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho họ, đa số địa
phương đóng trên mức tiền lương cơ sở với mức hỗ trợ từ 50% mức đóng
BHXH trở lên. Vì vậy việc bổ sung thêm đối tượng này là hoàn toàn hợp lý.
*Người sử dụng lao động
Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật BHXH 2014 thì “Người sử dụng
lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức
khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.”
Có thể thấy, Luật BHXH năm 2014 về cơ bản đã bao quát hết được các
trường hợp có sử dụng, thuê mướn lao động và có khả năng tham gia BHXH
bắt buộc. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ngày càng mở rộng. Từ chỗ chỉ
40
bảo vệ cho NLĐ trong khu vực nhà nước, hiện nay, BHXH bắt buộc đã bao
phủ tất cả các đối tượng tham gia quan hệ lao động trong mọi thành phần kinh
tế nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và an sinh xã hội.
Tham gia BHXH là quyền lợi nhưng cũng là trách nhiệm của cả NLĐ và
NSDLĐ. Pháp luật có quy định về mức BHXH, thẻ BHYT thì mức đóng
BHXH bắt buộc đóng BHXH bắt buộc cho từng đối tượng là khác nhau. Theo
Quyết định 595/QĐ-BHXH Quyết định ban hành quy trình thu bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm TNLĐ – BNN; Quản lý sổ
của NLĐ được xác định như sau:
Mức đóng hàng tháng = Mức lương tháng đóng BHXH x Tỷ lệ trích
đóng BHXH.
Đối ở với NLĐ, tùy theo đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mà nghĩa
vụ đóng góp phí BHXH sẽ khác nhau. Theo Điều 85 Luật BHXH năm 2014,
thông thường, hằng tháng NLĐ đóng 8% mức lương tháng vào quỹ hưu trí và
tử tuất. Người hoạt động không chuyên trách xã, phường, thị trấn, hằng tháng
đóng bằng 8% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất. Đối với người đi
làm việc ở nước ngoài, mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng
22% mức tiền lương tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở
nước ngoài, với NLĐ đã có quá trình tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22%
của 02 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc
đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã hưởng BHXH một lần.
Đối với NSDLĐ, mức đóng được quy định tại Điều 86 Luật BHXH năm
2014: NSDLĐ hằng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng BHXH của NLĐ
thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc gồm: 3% vào quỹ ốm đau và thai
sản; 14 % vào quỹ hưu trí và tử tuất. Đối với người đi làm việc ở nước ngoài,
NSDLĐ hằng tháng đóng trên mức lương cơ sở đối với mỗi NLĐ là 22% quỹ
hưu trí và tử tuất. NSDLĐ hằng tháng đóng 14% mức lương cơ sở vào quỹ
41
hưu trí và tử tuất cho người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị
trấn. Bên cạnh đó, NSDLĐ còn phải đóng quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp là 0,5% , quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 44/2017/NĐ-CP về
giảm mức đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp.
Mức lương tháng đóng BHXH sẽ căn cứ vào việc NLĐ thuộc đối tượng
nào. Nếu là người thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì mức
lương theo ngạch, bậc, cấp bậc, quân hàm và các khoản phụ cấp khác (nếu
có); Nếu là người thực hiện chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì mức
lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung
khác. Mức lương tháng đóng BHXH bắt buộc không thấp hơn mức lương tối
thiểu vùng và không cao hơn 20 tháng lương cơ sở.
2.1.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.2.1. Chế độ ốm đau
Bảo hiểm ốm đau là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm cho NLĐ
(tham gia bảo hiểm xã hội) tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì ốm đau,
tai nạn, chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật. Bảo hiểm ốm đau là
một trong năm chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, có tác dụng to lớn không
những đối với NLĐ và gia đình họ mà còn đối với NSDLĐ, Nhà nước và toàn
xã hội. Tuy nhiên không có nghĩa mọi NLĐ tham gia BHXH đều được hưởng
chế độ ốm đau mà để được hưởng chế độ BHXH ốm đau , NLĐ phải đảm bảo
những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.
Về đối tượng áp dụng chế độ ốm đau:
Theo quy định tại Điều 24 Luật BHXH năm 2014, đối tượng áp dụng
chế độ ốm đau là NLĐ quy định tại các điểm a,b,c,d,đ và h khoản 1 Điều 2
của Luật BHXH năm 2014, bao gồm: người làm việc theo HĐLĐ không xác
42
định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên; cán bộ, công
chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công
tác khác trong tổ chức cơ yếu; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội
nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kĩ
thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với
quân nhân; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã
có hưởng tiền lương.
Có thể thấy, chế độ BHXH ốm đau chỉ áp dụng đối với các đối tượng
đang tham gia quan hệ lao động phát sinh theo hình thức hợp đồng lao động,
hợp đồng làm việc, tuyển dụng vào biên chế…chứ không áp dụng với tất cả
lao động. Qua quá trình triển khai và áp dụng, bên cạnh những kết quả tích
cực đã đạt được thì chế độ ốm đau cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định.
Về điều kiện hưởng
Để được hưởng bảo hiểm ốm đau NLĐ cần phải đáp ứng điều kiện nhất
định tại quy định Điều 25 Luật BHXH 2014, các đối tượng áp dụng chế độ
ốm đau sẽ được hưởng chế độ trong các trường hợp:
-Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động
phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền
theo quy định của Bộ Y tế. Như vậy, trường hợp ốm đau để được hưởng chế
độ bảo hiểm phải là trường hợp ốm đau do bệnh lý và nếu là tai nạn thì phải là
tai nạn rủi ro khiến NLĐ nghỉ việc phải có xác nhận của cơ sở khám, chữa
bệnh có thẩm quyền còn những trường hợp ốm đau do NLĐ tự hủy hoại sức
khỏe, do say rượu hoặc do dùng chất ma túy, tiền chất mà tùy theo danh mục
mà Chính Phủ quy định thì sẽ không được hưởng chế độ ốm đau.
-NLĐ phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau và có xác
nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền. Trong trường hợp này NLĐ
được hưởng chế độ ốm đau khi NLĐ có con dưới 7 tuổi bị ốm mà NLĐ phải
43
nghỉ việc để chăm sóc con nhưng với điều kiện con ốm phải có xác nhận của
cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều trường
hợp vì công việc mà không thể nghỉ việc để chăm sóc con được mà phải nhờ
hoặc thuê người khác chăm sóc, những trường hợp này thì NLĐ không được
hưởng chế độ ốm đau.
Việc quy định về thời gian tối thiểu tham gia BHXH là điều kiện cần
thiết để xác định đối tượng hưởng BHXH ốm đau theo tinh thần được thể hiện
tại Điều 17 Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế ILO. Tuy nhiên ,
pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định về thời gian đóng bảo hiểm để
được hưởng chế độ ốm đau và chỉ cần NLĐ khi bị ốm tham gia đóng bảo
hiểm xã hội là sẽ được hưởng chế độ ốm đau. Quy định trên một mặt thể hiện
tính nhân văn trong chế độ bảo hiểm xã hội nhưng đồng thời cũng có những
hạn chế riêng. Đối với trường hợp mắc bệnh cần chữa trị dài ngày thì điều
kiện được hưởng chế độ ốm đau là NLĐ tham gia BHXH bị ốm đau và có các
nhận của cơ sở y tế; Bệnh được xác nhận nằm trong danh mục Bệnh cần chữa
trị dài ngày (Theo Thông tư số 46/2016/TT-BYT ngày 30/12/2016), có thể
thấy rằng chỉ cần NLĐ tham gia và đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong một
thời gian rất ngắn như một tháng hoặc hai tháng là họ có thể được hưởng chế
độ ốm đau một thời gian dài. Điều này dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng để
được hưởng chế độ ốm đau của NLĐ cụ thể khi họ phát hiện mình bị mắc
bệnh cần điều trị dài ngày thì họ mới bắt đầu tìm cách tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc sau đó nghỉ để hưởng chế độ. Việc này làm ảnh hưởng đến việc
cân đối quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đảm bảo tính công bằng
giữa những người tham gia.
Đồng thời, Luật BHXH đã bổ sung thêm đối tượng không được hưởng
chế độ ốm đau. Trước đây Luật BHXH năm 2006 chỉ quy định “trường hợp
ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử
dụng ma túy, chất gây nghiện khác thì không được hưởng chế độ ốm đau” thì
44
Luật BHXH năm 2014 đã sửa đổi và bổ sung thêm trưởng hợp NLĐ sử dụng
chất tiền ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định cũng không được
hưởng chế độ này.
Về thời gian hưởng.
Thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau thường được tính bằng ngày làm việc
của NLĐ. Việc quy định thời gian hưởng bảo hiểm xã hội ốm đau phụ thuộc
vào điều kiện lao động, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, tình trạng bệnh tật
của NLĐ, mục đích bảo hiểm của Nhà nước và khả năng cân đối quỹ bảo
hiểm xã hội
Điều 26 Luật BHXH năm 2014, thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau
trong một năm đối với NLĐ tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ,
nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần và được quy định như sau:
-Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã
đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến
dưới 30 năm; 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên. Quy định về khoảng
cách đóng BHXH giữa hai mức hưởng quá lớn tạo nên sự không công bằng,
không thể hiện nguyên tắc đóng hưởng và không khuyến khích được đối với
những người có thời gian đóng BHXH nhiều hơn.
-Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ
số từ 0,7 trở lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15
năm; 50 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã
đóng từ đủ 30 năm trở lên.
-NLĐ nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài
ngày do Bộ y tế ban hành (khoản 2 Điều 26 Luật BHXH 2014) thì được
hưởng tối đa 180 ngày tính cả ngày lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần; nếu hết
45
thời hạn trên mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với
mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng BHXH.
Nếu như Luật BHXH năm 2006 không giới hạn số ngày nghỉ tối đa thì Luật
BHXH năm 2014 đã quy định cụ thể thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã
đóng BHXH đối với NLĐ nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần
chữa trị dài ngày do Bộ y tế ban hành. Thực hiện điều này sẽ bảo đảm việc
giải quyết chế độ BHXH phù hợp với nguyên tắc đóng – hưởng và tránh tình
trạng lạm dụng để trục lợi quỹ BHXH.
-Ngoài ra theo Điều 27 luật BHXH năm 2014 còn quy định thời gian
hưởng chế độ khi con ốm đau. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong
một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày
làm việc nếu con dưới 03 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03
tuổi đến dưới 07 tuổi. Tuy nhiên, quy định trên còn chung chung chưa có sự
phân biệt rõ ràng về thời gian hưởng chế độ tùy theo tình trạng ốm đau của
con, dù con ốm đau nặng hay nhẹ thì đều được nghỉ với cùng số ngày như
nhau. Vì vậy, đối với trường hợp con ốm nặng hay mắc các bệnh cần điều trị
dài ngày thì việc quy định thời gian nghỉ như trên là không phù hợp.
Mức hưởng chế độ ốm đau
Theo Điều 28 Luật BHXH năm 2014 thì NLĐ hưởng chế độ ốm đau
bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
Các mức hưởng trợ được điều chỉnh tăng so với quy định của luật cũ. Cụ
thể, mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo
tháng chia cho 24 ngày thay vì chia cho 26 ngày như trước kia, điều này đã
khắc phục được hạn chế của Luật BHXH năm 2006 khi chỉ quy định mức trợ
cấp ốm đau theo tháng mà chưa quy đinh theo ngày, gây thiệt thòi cho NLĐ
làm việc 22 ngày/tháng hoặc 24 ngày/tháng.
Về chế độ phục hồi sức khỏe sau ốm đau, Luật BHXH năm 2014 đã bỏ
46
chế độ nghỉ tại nhà và ở các cơ sở tập trung mà thay vào đó thống nhất điều
kiện và một mức hưởng bằng 30% mức lương cơ sở. Mức hưởng quy định
như trên là hợp lý, bởi mặc dù, chế độ này được quy định nhằm giúp NLĐ
được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau mà sức khỏe chưa
phục hồi, giúp NLĐ sớm phục hồi để làm việc trở lại, đây là chế độ có tính
chất hỗ trợ, trợ giúp cho NLĐ sau ốm đau.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện mang tính chủ quan do việc xác định sức
khỏe chưa phục hồi là khó xác định và chỉ dựa theo cảm tính. Mặt khác, số
ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do NSDLĐ hoặc Ban chấp hành
công đoàn cơ sở quyết định nên có thể dẫn đến sự tùy tiện và lạm dụng khi
thực hiện quy định này.
Như vậy, chế độ ốm đau thực hiện đã góp phần làm ổn định cuộc sống
của NLĐ khi họ không may bị ốm đau hoặc tai nạn rủi ro phải nghỉ việc hoặc
phải nghỉ việc để chăm con ốm đau , ngoài ra nó còn giúp ổn định nền kinh tế
- xã hội – chính trị.
2.1.2.2. Chế độ thai sản
Đối tượng và điều kiện hưởng
Theo Điều 30 Luật BHXH 2014 quy định về đối tượng áp dụng chế độ
thai sản thì đối tượng áp dụng chế độ thai sản là NLĐ tham gia BHXH bắt
buộc trừ các đối tượng sau: Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ
quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công
an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; Người đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị
trấn, NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao
động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp.
Bên cạnh đó tại Điều 33 Luật BHXH 2014 quy định về đối tượng và
47
điều kiện hưởng chế độ thai sản.
Luật BHXH 2014 đã mở rộng hơn về đối tượng hưởng. Cụ thể Luật
BHXH 2014 đã bổ sung thêm 02 trường hợp NLĐ được hưởng chế độ thai
sản bao gồm: lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; lao
động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con. Ngoài ra, NLĐ nhận nuôi con
nuôi dưới 06 tháng tuổi cũng được hưởng chế độ thai sản thay vì dưới 04
tháng tuổi như trước kia.
Điều kiện hưởng chế độ thai sản cũng được mở rộng hơn đối với NLĐ
đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để
dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền thì chỉ
cần có thời gian tham gia BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong vòng 12 tháng
trước khi sinh sẽ được hưởng chế độ thai sản theo quy định. Trong trường hợp
này, Luật BHXH năm 2006 quy định bắt buộc phải có thời gian đóng BHXH
từ đủ 06 tháng trở lên trong khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh mới đủ
điều kiện hưởng chế độ khi sinh con đã gây thiệt thòi cho lao động nữ sinh
con. Quy định này của Luật là hoàn toàn hợp lý, vừa đảm bảo phù hợp với
Luật hôn nhân và gia đình, vừa đảm bảo sức khỏe cho NLĐ trong quá trình
mang thai, nuôi con.
Thời gian hưởng chế độ thai sản
Theo quy định tại Luật BHXH 2014 thời gian nghỉ thai sản được áp
dụng cho nhiều trường hợp : Nghỉ khám thai, nghỉ vì sảy thai, nạo, hút thai,
thai chết lưu, nghỉ sinh con, nghỉ nuôi con dưới 6 tháng tuổi.. cụ thể như sau:
Về thời gian nghỉ khám thai quy định tại Điều 32 Luật BHXH 2014:
Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần,
mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người
mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho
48
mỗi lần khám thai. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính theo ngày
làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Quy định về
thời gian nghỉ khám thai như này là phù hợp với khuyến nghị của Tổ chức y
tế thế giới về bảo vệ, chăm sóc lao động nữ khi có thai; đồng thời, hạn chế
được tình trạng NSDLĐ lạm quyền, vì lý do công việc mà không đảm bảo
được thời gian nghỉ khám thai cho lao động nữ.
Tại Điều 33 Luật BHXH quy định về thời gian nghỉ khi sảy thai, nạo,
hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý. Sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai
chết lưu do nhiều nguyên nhân khác nhau. Dù do nguyên nhân nào thì sảy
thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, thể
chất cũng như tinh thần của người phụ nữ. Để giúp cho lao động nữ nhanh
chóng phục hồi sức khỏe, sớm ổn dịnh nhịp sinh học của cơ thể thì pháp luật
hiện hành quy định lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo
chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa
được quy định là 10 ngày nếu thai dưới 5 tuần tuổi; 20 ngày nếu thai từ 5 tuần
tuối đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần
tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên. Thời gian nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần.
Điều 34 Luật BHXH 2014 quy định về thời gian nghỉ khi sinh con.
Người phụ nữ gần đến ngày sinh rất cần được nghỉ ngơi để chuẩn bị cho việc
sinh đẻ cũng như để chuẩn bị cho đứa con ra đời. Sau khi sinh càng cần thiết
phải được nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe và chăm sóc con sơ sinh. Trước
kia, luật quy định thời gian nghỉ sinh con được chia làm 03 mức dựa trên điều
kiện làm việc của NLĐ, tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng quy định này còn
nhiều vướng mắc do không phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam và không phù
hợp với khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới vè nuôi con bằng sữa mẹ, trẻ sơ
sinh phải được bú mẹ ít nhất trong thời gian 06 tháng. Chính vì vậy, Bộ luật
49
lao động (BLLĐ) năm 2012 đã quy định nâng thời gian nghỉ sinh con lên
thành 06 tháng mà không phụ thuộc vào điều kiện làm việc. Do vậy, để bảo
đảm sức khỏe cho lao động nữ và trẻ em cũng là để phù hợp với quy định của
BLLĐ năm 2012 thì Điều 34 của Luật BHXH năm 2014 đã quy định lao động
nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là
06 tháng. Đối với trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ
hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ sẽ được nghỉ thêm 1 tháng. Thời gian nghỉ
hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng.
Cũng tại Điều 34 Luật BHXH năm 2014 cụ thể tại khoản 2 Điều 34 quy
định về thời gian nghỉ đối với lao động nam khi có vợ sinh con. Đây là một
trong những điểm mới của Luật BHXH năm 2014 quy định lao động nam
đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như
sau: 05 ngày làm việc; 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh
con dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh đôi, từ sinh
ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày làm việc; 14 ngày làm
việc nếu vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật. Thời gian nghỉ việc hưởng
chế độ thai sản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ khi vợ
sinh con. Việc bổ sung quy định mới này đã góp phần đảm bảo quyền lợi của
NLĐ nam có tham gia BHXH và có đóng góp vào quỹ ốm đau, thai sản
nhưng thực tế chưa được hưởng chế độ thai sản; phù hợp với thực tiễn cuộc
sống hiện nay; đáp ứng với nguyện vọng của phần lớn NLĐ.
Thời gian nghỉ khi nhận nuôi con nuôi được quy định tại Điều 36 Luật
BHXH năm 2014: Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì
được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng
tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện
hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật BHXH năm
2014 thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ. Vì vậy, không phân
biệt NLĐ là nam hay nữ chỉ cần nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuồi thì sẽ
50
được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Tuy
nhiên không có sự kiện sinh con, NLĐ chỉ chăm sóc và nuôi dưỡng con nên
chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ này. Quy định này đảm bảo
quyền được làm cha, làm mẹ của NLĐ . Đây là quy định thể hiện rằng pháp
luật đang tiến đến xu hướng chung là mọi lao động đều có quyền bình đẳng
và được tạo điều kiện để được hưởng chế độ thai sản đồng thời cũng đảm ba
hon sự công bằng, không có sự phân biệt giữa con đẻ và con nuôi , thể hiện sự
phù hợp và thống nhất với pháp luật khác.
Thời gian nghỉ khi thực hiện các biện pháp tránh thai. Trước đây,
NLĐ khi thực hiện biện pháp tránh thai nhằm mục đích kế hoạch hóa dân
số thì các chế độ đối với họ nằm trong quỹ kế hoạch hóa dân số của y tế .
Sau này Nhà nước chuyển sang thực hiện BHXH đối với họ và trong thời
gian dài, các biện pháp như đặt vòng tránh thai, hút điều hòa kinh nguyệt ,
triệt sản được tính để hưởng chế độ ốm đau. Quy định như vậy là chưa hợp
lý , vì về bản chất những biện pháp này đều thuộc diện thai sản, đều ảnh
hưởng đến tâm sinh lý và chức năng sinh sản của người lao động. Hơn nữa,
mức hưởng chế độ ốm đau lại thấp hơn so với mức hưởng chế độ thai sản.
Vì vậy, pháp luật về BHXH hiện hành chuyển những biện pháp này sang
chế độ thai sản nhằm bảo đảm hơn sự công bằng về quyền lợi cho NLĐ[17,
tr161].
Như vậy, các quy định về thời gian nghỉ thai sản cho mỗi trường hợp đều
được tính toán và cân nhắc kỹ trên thực tế nhằm bảo vệ sức khỏe NLĐ và trẻ
sơ sinh , phù hợp với đời sống xã hội và thời gian chi trả quỹ của bảo hiểm.
Mức hưởng chế độ thai sản
- Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi: Theo quy định
tại Điều 38 Luật BHXH năm 2014 thì lao động nữ sinh con hoặc NLĐ nhận
nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng
51
02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng lao động
nữ nhận nuôi con nuôi. Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia
BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng
sinh con cho mỗi con.
- Mức hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 39 Luật BHXH năm
2014, bao gồm mức hưởng một tháng, mức hưởng một ngày và mức hưởng
chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Mức hưởng một tháng được áp dụng đối với các đối tượng được hưởng
chế độ thai sản và được tính bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng
đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường
hợp NLĐ đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo
quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2,4,5 và 6 Điều 34, Điều 37 của
Luật BHXH năm 2014 là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã
đóng BHXH.
Mức hưởng một ngày áp dụng đối với trường hợp khi khám thai và lao
động nam có vợ sinh con được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo
tháng chia cho 24 ngày. Quy định này là quy định mới được bổ sung trong
Luật BHXH năm 2014, nhằm bảo đảm công bằng về quyền lợi của NLĐ và
thống nhất với quy định về chế độ ốm đau.
Mức hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính theo
mức trợ cấp tháng, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp chế độ khi sảy
thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp
tránh thai thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng
chia cho 30 ngày.
Bên cạnh đó, Điều 40 Luật BHXH năm 2014 quy định lao động nữ có
thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con trong hai trường hợp: lao động
nữ nghỉ sinh con và lao động nữ sinh xong mà con bị chết. Tuy nhiên, để bảo
52
đảm sức khỏe cho lao động nữ sau sinh thì pháp luật đã quy định họ chỉ được
đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con khi có đủ các điều kiện sau: Sau
khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 04 tháng và phải báo trước và được
người sử dụng lao động đồng ý. Ngoài tiền lương của những ngày làm việc,
lao động nữ đi làm trước thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai
sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của
Luật này. Quy định trên vừa đảm bảo sức khỏe cho lao động nữ sau khi sinh
con, vừa đảm bảo cơ hội việc làm và giúp cho họ sớm làm quen với công
việc. Việc đảm bảo công việc, thu nhập cho lao động nữ trong và sau quá
trình mang thai là một việc làm cần thiết giúp phụ nữ có được cơ hội bình
đẳng và được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc.
Để giúp cho lao động nữ sớm phục hổi sức khỏe, tại Điều 41 Luật
BHXH năm 2014 còn có quy định về dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai.
Theo đó thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định: Tối đa
10 ngày đối với lao động nữ sinh 1 lần từ hai con trở lên; Tối đa 07 ngày đối
với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật; Tối đa 05 ngày đối với các trường
hợp khác. Mức hưởng chế độ dưỡng sức , phục hồi sức khỏe sau thai sản một
ngày bằng 30% mức lương cơ sở.
Chế độ bảo hiểm thai sản có ý nghĩa rất lớn đối với bản thân người lao
động và gia đình họ, đối với các đơn vị sử dụng lao động và hơn cả là đối với
sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
2.1.2.3. Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Theo quy định tại Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 thì
đối tượng áp dụng chế độ TNLĐ, BNN bao gồm NLĐ và NSDLĐ có tham
gia BHXH bắt buộc theo các điểm a, b, c, d, đ, e và h khoản 1 và khoản 3
53
Điều 2 của Luật BHXH năm 2014.
Điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động.
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức
năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá
trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
(Khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015)
Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ điều kiện được quy định cụ thể
tại Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015:
-NLĐ bị tai nạn trong các trường hợp: Tại nơi làm việc và trong giờ
làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm
việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản
xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng
hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh; Ngoài nơi
làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của
người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền
bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến
nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến
đường hợp lý;
-NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên: Nếu người lao động
bị tai nạn nhưng không bị suy giảm khả năng lao động hoặc suy giảm dưới
5% khả năng lao động thì không được hưởng trợ cấp tai nạn lao động bởi vì
mức suy giảm dưới 5% là không đáng kể.
-Ngoài ra, Luật còn quy định trường hợp NLĐ không được hưởng chế độ
do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một
trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật An toàn vệ sinh lao
động năm 2015 cụ thể: Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai
54
nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; Do
người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; Do sử dụng ma túy,
chất gây nghiện trái với quy định của pháp luật.
Điều kiện hưởng bảo hiểm bệnh nghề nghiệp
Khoản 9 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định:
“Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề
nghiệp tác động đối với người lao động”
Danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động.
Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp
được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện quy định tại
Điều 46 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015:
“1. Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị bệnh nghề nghiệp thuộc Danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng
Bộ Y tế ban hành theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;
b) Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh quy định tại
điểm a khoản này.
2. Người lao động khi đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các
nghề, công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp thuộc Danh mục bệnh nghề
nghiệp do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của
Luật này mà phát hiện bị bệnh nghề nghiệp trong thời gian quy định thì được
giám định để xem xét, giải quyết chế độ theo quy định của Chính phủ.”
Chế độ hưởng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Chế độ giám định mức suy giảm khả năng lao động được quy định tại
Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Theo đó, NLĐ được giám
định mức suy giảm khả năng lao động sau khi bị TNLĐ, BNN và thương tật,
55
bệnh tật đã được điều trị ổn định. NLĐ được giám định lại mức suy giảm khả
năng lao động sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn
định…Việc quy định cụ thể về giám định mức suy giảm khả năng lao động
này đã góp phần đảm bảo tốt quyền lợi của NLĐ, bảo đảm khách quan trong
việc giải quyết chế độ TNLĐ, BNN.
Người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì sẽ được trợ
cấp TNLĐ, BNN một lần hoặc trợ cấp hàng tháng tùy theo quy định của pháp
luật. Cụ thể:
- Trợ cấp một lần (Điều 48 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015), trợ cấp
này áp dụng đối với NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30%. Trợ
cấp gồm 2 khoản, một khoản là trợ cấp theo mức giảm khả năng lao động và
một khoản là trợ cấp theo số năm đóng BHXH. Nếu suy giảm 5% khả năng
lao động thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở; Ngoài mức trợ cấp
quy định trên thì còn được hưởng thêm trợ cấp tính theo số năm đã đóng
BHXH, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm
mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng BHXH của
tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
- Trợ cấp hàng tháng (Điều 49 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015): Trợ
cấp hàng tháng áp dụng đối với NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 31%
trở lên. Trợ cấp gồm 2 khoản, một khoản là trợ cấp theo mức suy giảm khả
năng lao động và một khoản là trợ cấp theo số năm đóng BHXH. Nếu suy
giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau
đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở; Ngoài
mức trợ cấp quy định trên, hàng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ
cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống được tính bằng
0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền
lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
- Thời điểm hưởng trợ cấp một lần hay hàng tháng được tính từ tháng
56
NLĐ điều trị xong, ra viện. Trong trường hợp mà bị thương tật hoặc bệnh tái
phát, NLĐ được đi giám định tại mức suy giảm khả năng lao động thì thời
điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng giám
định y khoa.
Ngoài ra còn có các chế độ khác được quy định tại Điều 51, Điều 52,
Điều 53 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, các chế độ này có tính chất
bổ sung cho chế độ trợ cấp đối với NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp. Các chế độ đó là: chế độ trợ giúp phương tiện sinh hoạt, dụng cụ
chỉnh hình; trợ cấp phục vụ; trợ cấp khi NLĐ chết do TNLĐ , BNN. Tùy từng
trường hợp và đáp ứng những điều kiện theo quy định thì NLĐ sẽ được
hưởng các loại trợ cấp này. Cụ thể như:
Chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị
Theo Điều 54 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 chế độ này được quy
định như sau:
Điều kiện hưởng: NLĐ sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao
động hoặc bệnh tật do nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ
dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe: Do người sử dụng lao
động và ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử
dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do NSDLĐ quyết định.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau: Tối đa
10 ngày đối với trường hợp bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả
năng lao động từ 51% trở lên; Tối đa 07 ngày làm việc đối với trường hợp bị
tai nạn, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% đến
50%; Tối đa 05 ngày làm việc đối với trường hợp bị tai nạn, bệnh nghề
nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 15% đến 30%
57
Mức trợ cấp cho 01 ngày : 01 ngày bằng 30% mức lương cơ sở.
2.1.2.4. Chế độ bảo hiểm hưu trí
Chế độ hưu trí được hiểu là chế độ BHXH nhằm đảm bảo thu nhập cho
người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Vì
vậy nó rất cần thiết và không thể thiếu được, bởi bất kì người lao động nào
cũng sẽ đến lúc già yếu, hết tuổi lao động nhưng vẫn cần có thu nhập để đảm
bảo cho cuộc sống của họ và lương hưu chính là nguồn thu nhập đó của họ
trong lúc này.
Về cơ bản, các quy định về chế độ hưu trí trong Luật BHXH hiện hành
đã tương đối hợp lý về điều kiện nghỉ hưu, điều chỉnh tiền lương, tiền công đã
đóng BHXH, điều chỉnh lương hưu…đã tạo được sự đồng tình của đa số NLĐ
và đã cải thiện cuộc sống của người về hưu. Tuy nhiên, trước sự tăng trưởng
của nền kinh tế và xu hướng già hóa dân số, chế độ hưu trí tại Luật BHXH đã
bộc lộ một số bất cập sau:
Có sự kết hợp, lồng ghép giữa chế độ hưu trí với các chính sách khác
như chính sách lao động, chính sách việc làm đã dẫn đến tình trạng nhiều
trường hợp giải quyết chế độ hưu trí trước tuổi quy định khiến cho quỹ
BHXH ngày càng có nguy cơ mất cân đối; đồng thời cũng tạo nên sự không
công bằng giữa các đối tượng tham gia BHXH nói chung.
Việc quy định NLĐ chưa hết tuổi lao động và còn khả năng lao động có
dưới 20 năm đóng BHXH được nhận trợ cấp BHXH một lần là chưa đảm bảo
khuyến khích NLĐ tham gia BHXH tự nguyện và chưa phù hợp với mục tiêu
của BHXH là nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ khi hết tuổi lao động, đảm
bảo an sinh xã hội. Mức hưởng bảo hiểm một lần còn thấp so với mức đóng.
Theo lộ trình tăng tỷ lệ đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất của Luật
BHXH thì từ năm 2014 trở đi, mức đóng BHXH của NLĐ và NSDLĐ là 22%
58
mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Trong khi đó, mức hưởng BHXH
một lần vẫn quy định mỗi năm đóng BHXH hưởng 1,5 mức bình quân tiền
lương, tiền công đóng BHXH. Quy định này là thiệt thòi cho NLĐ và chưa
đảm bảo được nguyên tắc đóng hưởng.
Luật BHXH hiện hành chưa có quy định về việc tiếp tục hưởng lương
hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng sau khi chấp hành xong hình phạt tù hoặc
người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp, người mất tích trở về, nên đã gây ra
những ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ.
Mức lương hưu hiện nay vẫn còn thấp so với nhu cầu cuộc sống của
người về hưu, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm hiện nay còn thấp nhiều
so với thu nhập thực tế của NLĐ. Điều đó dẫn đến tình trạng mặc dù tỉ lệ %
hưởng lương hưu khá cao (tối đa 75%) nhưng mức lương hưu của người nghỉ
hưu còn thấp so với nhu cầu của cuộc sống, điều nãy cũng đã gây ra áp lực
lớn đối với quỹ BHXH trong việc điều chỉnh lương hưu. Việc này thể hiện
khá rõ đối với lao động hưởng lương và đóng BHXH theo chế độ tiền lương
do NSDLĐ quyết định, do quy định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là
mức tiền lương ghi trong hợp đồng lao động nên các doanh nghiệp khi ký kết
hợp đồng lao động với NLĐ thỏa thuận ghi trên hợp đồng lao động là phần
khác so với mức lương thực tế mà NLĐ nhận được để trốn đóng BHXH.
Cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để
làm cơ sở tính lương hưu, trợ cấp BHXH một lần theo pháp luật hiện hành
còn có sự phân biệt giữa NLĐ hưởng tiền lương và đóng BHXH theo chế độ
tiền lương do Nhà nước quy định và người đóng BHXH theo chế độ tiền
lương do NSDLĐ quyết định. Điều đó không phù hợp với nguyên tắc bình
đẳng giữa các thành phần trong nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, thang bảng
lương của Nhà nước khi thay đổi, chênh lệch rất nhiều nên không có sự bảo
59
đảm công bằng giữa những người nghỉ hưu trong các thời kỳ khác nhau. Cách
tính tỉ lệ hưởng lương hưu có sự khác biệt giữa nam và nữ, trong khi đó tỉ lệ
đóng BHXH là như nhau. Điều này tạo nên sự không công bằng trong quyền
thụ hưởng giữa các đối tượng tham gia.
Hệ thống hưu trí hiện hành của Việt Nam còn thiếu đa dạng, chính vì
vậy áp lực về vấn đề cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn và vấn đề mức lương
hưu đảm bảo cuộc sống của người nghỉ hưu đang là vấn đề rất đáng quan tâm
và cần phải tham khảo của một số nước có hệ thống BHXH trên thế giới
nhằm khắc phục những hạn chế về BHXH hưu trí.
2.1.2.5. Chế độ tử tuất
Chế độ tử tuất là chế độ bảo hiểm xã hội đối với thân nhân của người lao
động đang tham gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động nay đang
hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm mà bị chết . Chế độ này nhằm trợ
giúp một phần tiền tang lễ và trợ giúp cho thân nhân của người lao động khi mất
đi người trụ cột trong gia đình[17, tr196].
Trợ cấp mai táng:
Những người sau đây khi chết thì người lo mai táng sẽ được nhận một
lần trợ cấp mai táng: Người lao động đang đóng BHXH hoặc NLĐ đang bảo
lưu thời gian đóng BHXH mà đã có thời gian đóng từ đủ 12 tháng trở lên;
NLĐ chết do tai nạn lao động, BNN hoặc chết trong thời gian điều trị do
TNLĐ, BNN; Người đang hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN
hàng tháng đã nghỉ việc. Mức hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương
cơ sở tại tháng mà người chết.
Như vậy ta có thể thấy rằng, Điều 66 Luật BHXH năm 2014 đã bổ sung,
sửa đổi quy định về điều kiện hưởng trợ cấp mai táng, đó là thời gian tham
gia BHXH đối với NLĐ đang tham gia đóng BHXH hoặc đang bảo lưu thời
gian đóng BHXH đối với “NLĐ đã có thời gian đóng BHXH từ đủ 12 tháng
60
trở lên”. Trong khi đó Luật BHXH 2006 thì chỉ quy định NLĐ đang tham gia
BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH mà chết thì người lo mai
táng được nhận trợ cấp mai táng mà không cần điều kiện về thời gian tham
gia BHXH của NLĐ chết.
Trợ cấp tiền tuất
Trợ cấp tuất hàng tháng:
Người lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân
nhân sẽ được hưởng tiền tuất hàng tháng: Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm
trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần ; Đang hưởng lương hưu;
Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ
61 % trở lên.
Thân nhân của NLĐ chết sẽ được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng gồm:
Con chưa đủ 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên; con được sinh khi người bố chết mà người mẹ đang
mang thai.Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới
55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở
lên.Cha đẻ, mẹ đẻ, cha đẻ của vợ hoặc cha đẻ của chồng, mẹ đẻ của vợ hoặc
mẹ đẻ của chồng, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm
xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân
và gia đình nếu từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với
nữ. Cha đẻ, mẹ đẻ, cha đẻ của vợ hoặc cha đẻ của chồng, mẹ đẻ của vợ hoặc
mẹ đẻ của chồng, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm
xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân
và gia đình nếu dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy
giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.
Thân nhân được nhận trợ cấp phải là người không có thu nhập hoặc có
thu nhập hàng tháng thấp hơn mức lương cơ sở và số thân nhân hưởng trợ cấp
61
không quá 4 người.
Mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương
cơ sở , trường hợp nhân thân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ
cấp tuất hàng tháng bằng 70% mức lương cơ sở.
Về cơ bản, Luật BHXH năm 2014 kế thừa quy định về các trường hợp,
điều kiện được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của Luật BHXH năm 2006 và
có bổ sung thêm một số nội dung cơ bản như đối tượng là thân nhân đã được
bổ sung thêm và cụ thể hóa gồm cả con nuôi, cha nuôi, mẹ nuôi. Điều này
giúp cho việc tổ chức thực hiện tránh vướng mắc hơn.
Trợ cấp tuất một lần
Theo quy định Điều 69 Luật BHXH năm 2014 quy định người được
hưởng trợ cấp mai táng trong các trường hợp sau khi chết thì thân nhân được
trợ cấp tuất một lần bao gồm : NLĐ chết không thuộc các trường hợp được
hưởng trợ cấp tuất hàng tháng ; NLĐ chết thuộc một trong các trường hợp
được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nhưng không có thân nhân hưởng tiền
tuất hàng tháng quy định tại Luật BHXH ; Thân nhân thuộc diện hưởng trợ
cấp tuất hằng tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 67 mà có nguyện vọng
hưởng trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp con dưới 06 tuổi, con hoặc vợ hoặc
chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
Điều 70 Luật BHXH năm 2014 quy định :Mức trợ cấp tuất một lần đối
với thân nhân của người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội hoặc người
lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm
đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền
lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng bảo hiểm xã hội
trước năm 2014; bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội cho các năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi; mức thấp
nhất bằng 03 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính trợ cấp
62
tuất một lần thực hiện theo quy định tại Điều 62 của Luật này.
Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương
hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong 02
tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng;
nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 01 tháng lương hưu thì mức
trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng 03 tháng lương hưu
đang hưởng.
Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương
hưu chết không thay đổi so với Luật BHXH 2006.
2.1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chế độ ốm đau, thai sản
Theo quy định tại Điều 100 Luật BHXH năm 2014 thì hồ sơ hưởng chế
độ bảo hiểm ốm đau đối với trường hợp NLĐ hoặc con của NLĐ điều trị ở
trong nước thì hồ sơ điều trị nội trú bao gồm bản chính, bản sao giấy ra viện,
điều trị ngoại trú phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH. Đối với
trường hợp NLĐ hoặc con của NLĐ khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài thì
hồ sơ điều trị nội trú hoặc ngoại trú thay bằng bản dịch tiếng Việt của giấy
khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài cấp.
Tại Điều 101 Luật BHXH năm 2014 thì hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối
với lao động nữ sinh con gồm: Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy
chứng sinh của con; Bản sao giấy chứng tử của con trong trường hợp con
chết, bản sao giấy chứng tử của mẹ trong trường hợp sau khi sinh con mà mẹ
chết; Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình
trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;
Trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường hợp con
chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh; Giấy xác nhận của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao động nữ phải nghỉ việc để
63
dưỡng thai đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật này.
Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu
hoặc phá thai bệnh lý, người lao động thực hiện biện pháp tránh thai phải có
giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đối với trường hợp điều trị
ngoại trú, bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội
trú. Trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải
có giấy chứng nhận nuôi con nuôi. Trường hợp lao động nam nghỉ việc khi vợ
sinh con phải có bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con
và giấy xác nhận của cơ sở y tế đối với trường hợp sinh con phải phẫu thuật,
sinh con dưới 32 tuần tuổi.
Thủ tục giải quyết chế độ ốm đau, thai sản được quy định tại Điều 102
Luật BHXH năm 2014 cụ thể như sau: NLĐ trong thời hạn 45 ngày kể từ
ngày trở lại làm việc có trách nhiệm nộp hồ sơ theo quy định của Luật BHXH
cho NSDLĐ. Trường hợp NLĐ thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi
con nuôi thì nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 101 của Luật
này và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội. NSDLĐ
trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử
dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại Điều 100 và Điều 101
của Luật này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Cơ quan BHXH trong thời
hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử dụng lao
động, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người
lao động; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy
định từ người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con
nuôi, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao
động. Trường hợp cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết thì phải trả lời
bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN
Điều 104, Luật BHXH năm 2014 quy định về hồ sơ hưởng chế độ bảo
64
hiểm tai nạn lao động bao gồm những giấy tờ sau: Sổ bảo hiểm xã hội; Biên
bản điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định
là tai nạn lao động thì phải có thêm biên bản tai nạn giao thông hoặc biên bản
khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông;Giấy ra
viện sau khi đã điều trị tai nạn lao động; Biên bản giám định mức suy giảm
khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải
quyết chế độ tai nạn lao động.
Theo Điều 105, Luật BHXH năm 2014 quy định về hồ sơ hưởng chế độ
bệnh nghề nghiệp bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Biên bản đo đạc môi trường
có yếu tố độc hại, trường hợp biên bản xác định cho nhiều người thì hồ sơ của
mỗi người lao động có bản trích sao; Giấy ra viện sau khi điều trị bệnh nghề
nghiệp, trường hợp không điều trị tại bệnh viện thì phải có giấy khám bệnh
nghề nghiệp; Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội
đồng giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải quyết chế độ bệnh nghề nghiệp.
Thủ tục giải quyết chế độ TNLĐ, BNN được quy định tại Điều 106, Luật
BHXH năm 2014. Theo đó Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho cơ quan
bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết hưởng
chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trường hợp không giải quyết thì
phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Chế độ bảo hiểm hưu trí
- Hồ sơ và thủ tục giải quyết hưởng lương hưu
Hồ sơ hưởng lương hưu đối với NLĐ đang tham gia BHXH bắt buộc bao
gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Quyết định nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hoặc
văn bản chấm dứt hợp đồng lao động hưởng chế độ hưu trí; Biên bản giám
định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa đối với
người nghỉ hưu theo quy định tại Điều 55 của Luật này hoặc giấy chứng nhận
65
bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp đối với trường hợp người
lao động quy định tại Điều 54 của Luật này. (Khoản 1 Điều 108 Luật BHXH
năm 2014)
Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm NLĐ được hưởng lương hưu,
NSDLĐ nộp hồ sơ quy định cho cơ quan BHXH. Trong thời hạn 20 ngày kể
từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người hưởng lương hưu cơ quan
BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho NLĐ, trường hợp
không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Hồ sơ và thủ tục giải quyết hưởng BHXH một lần
Theo Điều 109 Luật BHXH năm 2014 thì hồ sơ hưởng BHXH một lần
bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần
của người lao động; Đối với người ra nước ngoài để định cư phải nộp thêm
bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt
Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong
các giấy tờ sau đây:Hộ chiếu do nước ngoài cấp;Thị thực của cơ quan nước
ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhập cảnh với lý do định
cư ở nước ngoài; Giấy tờ xác nhận về việc đang làm thủ tục nhập quốc tịch
nước ngoài; giấy tờ xác nhận hoặc thẻ thường trú, cư trú có thời hạn từ 05
năm trở lên của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp. Trích sao hồ sơ bệnh
án trong trường hợp NLĐ đang mắc bệnh.
Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm người lao động đủ điều kiện
và có yêu cầu hưởng bảo hiểm xã hội một lần nộp hồ sơ quy định của pháp
luật cho cơ quan bảo hiểm xã hội, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ
hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết và tổ
chức chi trả cho người lao động; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời
bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Chế độ bảo hiểm tử tuất
Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng BHXH và người
66
bảo lưu thời gian đóng BHXH được quy định tại Điều 111 Luật BHXH 2014
bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Bản sao giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc
bản sao quyết định tuyên bố là đã chết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;Tờ
khai của thân nhân và biên bản họp của các thân nhân đối với trường hợp đủ
điều kiện hưởng hằng tháng nhưng chọn hưởng trợ cấp tuất một lần; Biên bản
điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là tai
nạn lao động thì phải có thêm biên bản tai nạn giao thông hoặc biên bản khám
nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông quy định tại
khoản 2 Điều 104 của Luật này; bản sao bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp
đối với trường hợp chết do bệnh nghề nghiệp; Biên bản giám định mức suy
giảm khả năng lao động đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao động từ
81% trở lên.
Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất của người đang hưởng hoặc người đang tạm
dừng hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng
tháng bao gồm: Bản sao giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định
tuyên bố là đã chết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Tờ khai của thân
nhân và biên bản họp của các thân nhân đối với trường hợp đủ điều kiện
hưởng hằng tháng nhưng chọn hưởng trợ cấp tuất một lần;Biên bản giám định
mức suy giảm khả năng lao động đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên.
Thủ tục giải quyết chế độ tử tuất được quy định tại Điều 112 Luật
BHXH năm 2014 cụ thể như sau: Thân nhân của người bảo lưu thời gian
đóng BHXH, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng
chết; NLĐ đang đóng BHXH bắt buộc bị chết thì trong thời hạn 90 ngày kể từ
ngày thân nhân nộp hồ sơ theo quy định cho NSDLĐ. NSDLĐ trong thời hạn
30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ thân nhân của NLĐ có trách nhiệm nộp
cho cơ quan BHXH. Cơ quan BHXH trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
67
đủ hồ sơ, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả
cho thân nhân của người lao động. Trường hợp không giải quyết thì phải trả
lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2.1.4. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về BHXH được quy định tại
Điều 121 Luật BHXH năm 2014 bao gồm: Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam,
Giám đốc BHXH cấp tỉnh, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng
Giám đốc BHXH Việt Nam quyết định thành lập. Nội dung thẩm quyền xử
phạt của các đối tượng này thực hiện theo quy định tại Điều 46 Luật xử lý vi
phạm hành chính năm 2012.
Theo Điều 122 Luật BHXH năm 2014 quy định đối với NSDLĐ có hành
vi trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng BHXH bắt buộc, hưởng
BHXH từ 30 ngày trở lên, ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm
đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02
lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề
tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu
của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà
nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để
nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ
quan bảo hiểm xã hội. Đối với cá nhân có hành vi vi phạm Luật BHXH còn
có thể phải chịu xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc, hình thức xử phạt,
biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực BHXH bắt buộc được quy định tại Điều 26, 27, 28
68
Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 Quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định số
88/2015/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định 95/2013/NĐ-CP. Mức phạt tiền thấp nhất là 500.000 đồng và
mức phạt tiền cao nhất là 75.000.000 đồng. Thực tế các hành vi vi phạm
pháp luật về BHXH bắt buộc trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng
chủ yếu là tình trạng chậm đóng, nợ đóng BHXH với số tiền lớn, có trường
hợp doanh nghiệp còn chiếm dụng tiền đóng BHXH của NLĐ, gây ảnh
hưởng đến quyền lợi của NLĐ. Chính vì vậy, hình thức xử phạt trên còn quá
nhẹ, chưa có tính răn đe.
Vì vậy, để ngăn ngừa và phòng chống hiệu quả những vi phạm trong lĩnh
vực BHXH bắt buộc, Bộ Luật hình sự năm 2015 cũng đã quy định các tội
danh liên quan đến chế độ BHXH bắt buộc cụ thể Điều 214 quy định về tội
gian lận BHXH, bảo hiểm thất nghiệp và Điều 216 quy định về tội trốn đóng
BHXH, bảo hiểm y tế , bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ.
Giải quyết tranh chấp về BHXH bắt buộc
Các tranh chấp về BHXH bắt buộc có thể là tranh chấp lao động cá nhân,
tranh chấp lao động tập thể, tranh chấp trong vụ án hành chính. Trường hợp
tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ sẽ được giải quyết thông
qua Hòa giải viên lao động hoặc Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 8
Điều 18 Luật BHXH năm 2014 và khoản 1 Điều 201 BLLĐ năm 2012.
Trường hợp tranh chấp giữa tập thể lao động và NSDLĐ về BHXH bắt buộc
thường là tranh chấp lao động tập thể về quyền, khi đó thẩm quyền giải
quyết thuộc về Hòa giải viên lao động, Chủ tịch UBND cấp huyện, Tòa án
nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 203 BLLĐ 2012. Tranh chấp hành
chính là tranh chấp mà NLĐ, NSDLĐ khởi kiện quyết định hành chính,
69
hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ cho rằng
quyết định hành chính, hành vi hành chính đó vi phạm pháp luật về BHXH,
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo Điều 118 Luật
BHXH năm 2014, NSDLĐ, NLĐ, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp
BHXH hàng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH và những
người khác có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết khi có căn
cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm về BHXH, xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.
Trước đây, nếu doanh nghiệp nợ hay chậm đóng BHXH thì cơ quan
BHXH sẽ được quyền khởi kiện và truy thu số tiền doanh nghiệp không đóng.
Tuy nhiên, kể từ ngày 01/01/2016 khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thì
cơ quan BHXH không còn quyền được khởi kiện doanh nghiệp về hành vi nợ
BHXH mà chỉ được quyền xử lý vi phạm hoặc kiến nghị với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Theo Công văn số 105/TANDTC-PC&QLKH của Tòa
án nhân dân tối cao về việc thi hành Luật BHXH ban hành ngày 14/04/2016
quy định: “Kể từ ngày Luật BHXH có hiệu lực thi hành, tòa án không thụ lý
đơn khởi kiện của cơ quan BHXH đòi tiền BHXH đối với NSDLĐ”. Trường
hợp vụ án đã thụ lý trước ngày 01/01/2016 mà chưa được giải quyết thì Tòa
án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn kiện và hướng dẫn
người khởi kiện thực hiện quy định của BLLĐ, Luật BHXH và Luật xử lý vi
phạm hành chính.
Theo quy định pháp luật hiện nay, việc khởi kiện doanh nghiệp vi phạm
pháp luật về đóng BHXH bắt buộc sẽ do tổ chức công đoàn thực hiện. Thực tế
cho thấy, cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp thường là nhân sự kiêm
nhiệm nên họ cũng là NLĐ, nên việc đại diện cho NLĐ kiện NSDLĐ để yêu
cầu đóng BHXH là điều khó thực hiện. Mặt khác, việc khởi kiện đòi hỏi phải
do công đoàn cơ sở khởi kiện hoặc phải có giấy ủy quyền của NLĐ. Thủ tục
ủy quyền phức tạp và tốn kém, mỗi NLĐ nếu muốn ủy quyền thì phải trực
70
tiếp đi cùng người được ủy quyền ra Ủy ban, phòng công chứng làm giấy tờ
và phải thanh toán phí công chứng. Việc này đối với doanh nghiệp có hàng
nghìn lao động thì rất mất thời gian cũng như kinh phí. Đây là những nguyên
nhân khiến cho việc khởi kiện doanh nghiệp vi phạm pháp luật về đóng
BHXH bắt buộc chưa được phát huy hiệu quả và NLĐ vẫn là người phải chịu
những thiệt thòi.
2.2. Thực tiễn thực hiện, pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện
Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
2.2.1. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền bắc Việt
Nam. Theo quy hoạch phát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải
Bắc Bộ[18].
Kiến Xương là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Thái Bình, có diện
tích 19.920,73 ha, dân số 223.179 người (theo thống kê đầu năm 2008).
Huyện Kiến Xương phía tây tiếp giáp với huyện Vũ Thư và thành phố Thái
Bình, phía tây bắc giáp với huyện Đông Hưng, phía đông bắc giáp với huyện
Thái Thụy, phía đông giáp với huyện Tiền Hải, phía nam giáp với tỉnh Nam
Định. Huyện gồm có 37 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm một thị trấn:
Thị trấn Thanh Nê và 36 xã: An Bình, An Bồi, Bình Định, Bình Minh, Bình
Nguyên, Bình Thanh, Đình Phùng, Hòa Bình, Hồng Thái, Hồng Tiến, Lê Lợi,
Minh Hưng, Minh Tân, Nam Bình, Nam Cao, Quang Bình, Quang Hưng,
Quang Lịch, Quang Minh, Quang Trung, Quốc Tuấn, Quyết Tiến, Thanh Tân,
Thượng Hiền, Trà Giang, Vũ An, Vũ Bình, Vũ Công, Vũ Hòa, Vũ Lạc, Vũ
Lễ, Vũ Ninh, Vũ Quý, Vũ Sơn, Vũ Tây, Vũ Thắng, Vũ Trung.
Cùng với sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND Thành phố và sự lãnh đạo
của Huyện ủy, HĐND, UBND Huyện, các tầng lớp cán bộ cùng nhân dân
trong huyện đã cùng nhau chung sức chung lòng phấn đầu không ngừng nghỉ
để xây dựng Kiến Xương thành một huyện phát triển với nhiều khu công
71
nghiệp và khu đô thị mới như Thanh Tân, Vũ Quý, Thị trấn Thanh Nê…
Đặc biệt trong thời gian qua UBND huyện đã chủ trương phát triển
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cụ thể, UBND huyện đã
tập trung hỗ trợ tối đa các doanh nghiệp nằm trên địa bàn, kịp thời tháo gỡ
những khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp, tạo sự thân thiện và hài
lòng của các doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý Nhà nước. Đồng thời,
tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp, hộ cá thể thực hiện cơ chế, chính sách
của Nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tập trung vào các mặt hàng,
sản phẩm có lợi thế. Phát huy lợi thế về diện tích đồng bằng rộng lớn, thích
hợp cho việc phát triển các khu và cụm khu công nghiệp. Ngoài ra, UBND
huyện cũng đã tích cực kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp
đầu tư vào địa bàn huyện như tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh các
hoạt động xúc tiến thương mại, đào tạo nghề…
Cùng với sự phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng được
chú trọng, quan tâm và duy trì ổn định. Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
cho nhân dân được đảm bảo, tỉ lệ người mắc bệnh giảm qua các năm, cơ sở
vật chất và trang thiết bị y tế được nâng cao. Giáo dục và đào tạo được triển
khai nghiêm túc, có hiệu quả với quy mô được mở rộng, chất lượng được
nâng lên. Công tác giảm nghèo, tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội được
quan tâm chỉ đạo thực hiện, cho đến nay huyện Kiến Xương có 245 doanh
nghiệp đang hoạt động, 31 làng nghề, 6.353 cơ sở và hộ sản xuất, kinh doanh,
tạo việc làm ổn định cho hàng chục nghìn lao động[23]. Từ đó đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân cải thiện, trình độ dân trí tăng, nhận thức của
người dân về pháp luật, đặc biệt là pháp luật về BHXH dần được nâng cao,
tạo điều kiện cho họ tham gia BHXH. Tính đến hết quý IV năm 2018, toàn
huyện có 12.099 người tham gia BHXH [3], đảm bảo tốt quyền lợi cho NLĐ,
đồng thời đảm bảo an sinh xã hội trên địa bản huyện.
Nằm trong hệ thống BHXH Việt Nam, bảo hiểm xã hội huyện Kiến
72
Xương chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của BHXH tỉnh Thái Bình, BHXH
Việt Nam và chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của UBND
huyện Kiến Xương. BHXH huyện Kiến Xương có nhiệm vụ quản lý quỹ
BHXH, BHYT và thực hiện chính sách BHXH, chính sách BHYT trên địa
bàn huyện. Dưới sự chỉ đạo của các cấp chính quyền liên quan cùng với sự
đoàn kết phấn đấu của các cán bộ công chức toàn ngành. BHXH huyện Kiến
Xương đã đạt được những kết quả quan trọng, tiếp tục công tác ổn định tổ
chức bộ máy cán bộ, đẩy mạnh cải cách hành chính và các hoạt động nghiệp
vụ từ huyện đến xã để đảm bảo thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả và góp phần
quan trọng vào việc ổn định đời sống NLĐ đồng thời ổn định chính trị, xã hội
trên địa bàn huyện Kiến Xương cũng như tỉnh Thái Bình.
2.2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa
bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
2.2.2.1. Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
BHXH là trụ cột của an sinh xã hội, nhận thức được tầm quan trọng của
pháp luật về BHXH đối với mọi NLĐ thuộc các thành phần kinh tế, BHXH
huyện Kiến Xương đã luôn quan tâm và chú trọng thực hiện tốt các quy định
của pháp luật về BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng, nhằm mở
rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trên
địa bàn huyện. Hơn nữa, kể từ khi Luật BHXH năm 2014 ra đời và có hiệu
lực, BHXH huyện Kiến Xương đã triển khai, áp dụng kịp thời những quy
định mới nhằm đảm bảo công tác tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao. Luật
BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đã khắc phục
được những bất cập, bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, tạo điều kiện cho BHXH
huyện trong công tác tổ chức thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn. Sự nỗ
lực, tích cực phấn đấu của BHXH huyện đã đạt được kết quả nhất định về đối
73
tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
TT Chỉ tiêu
Năm
2015
2016
2017
1
Đơn vị tính Người
2018
9342
9822
10.392
11.754
2
Đồng
350,933,413,230
395,305,848,080
446,993,289,700
525,794,300,994
Tổng số lao động tham gia BHXH bắt buộc Tổng quỹ lương
(Nguồn BHXH huyện Kiến Xương)
(giai đoạn 2015-2018)
Từ bảng số liệu trên ta thấy, nhìn chung tình hình tham gia BHXH bắt
buộc của huyện trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018 đã tăng dần qua
các năm, cụ thể tính đến năm 2018 toàn huyện đã có 11,754 người lao động
tham gia BHXH bắt buộc, tăng 13,11% (tương ứng với 1362 người) so với
năm 2017; tăng 19,67% (tương ứng với 1932 người) so với năm 2016 và tăng
25,82% (tương ứng với 2412 người) so với năm 2015. Sự gia tăng này là do
số lượng đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tăng lên, một số đơn vị, doanh
nghiệp mở rộng quy mô nguồn nhân lực cùng với nhận thức của các đơn vị sử
dụng lao động về vai trò quan trọng của BHXH ngày càng được nâng cao nên
nhiều đơn vị đã thực hiện tham gia BHXH bắt buộc cho hầu hết số lượng lao
động của mình. Những số liệu trên đã cho thấy công tác khai thác, phát triển,
mở rộng đối tượng của BHXH huyện Kiến Xương thực hiện khá hiệu quả.
Mặc dù số người lao động và số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tăng đều và
khá cao, tuy nhiên BHXH huyện Kiến Xương vẫn tiếp tục thực hiện và duy trì
công tác mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Đặc biệt, từ ngày Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành vào ngày
01/01/2016, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được mở rộng, tạo điều kiện
cho các nhóm NLĐ tham gia, do đó số đơn vị và số lao động tham gia BHXH
bắt buộc tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy quy định của Luật BHXH năm
2014 đang dần đi vào thực tiễn, hướng tới đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao
74
quyền lợi của NLĐ.
Khối
STT 1 2 3 4 5 6 7 8
Khối hành chính sự nghiệp, Đảng Đoàn Khối doanh nghiệp nhà nước Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khối ngoài công lập Khối hợp tác xã Khối xã, phường, thị trấn Tổ chức khác và cá nhân
Số lao động 3.465 62 1.143 5.940 29 424 687 2 2
9 Cán bộ phường xã không chuyên trách
Bảng 2.2: Tình hình tham gia BHXH bắt buộc theo khối quản lý năm 2018
(Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)
Từ bảng số liệu trên ta thấy, về cơ bản đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã theo đúng quy định
của pháp luật. Trong cơ cấu khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỉ
trọng cao nhất (50,54%)[1], điều này cho thấy huyện kiến Xương đã chú
trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở rộng thương mại, thu hút đầu tư, tạo
điều kiện cho sự phát triển của khu vực ngoài quốc doanh. Đồng thời, số lượng
doanh nghiệp tăng lên, kinh tế phát triển ổn định, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp giữ vững vị trí cũng như từng bước mở rộng sản xuất kinh doanh để từ
đó doanh nghiệp có điều kiện tham gia BHXH bắt buộc nhiều hơn.
Về việc đóng quỹ BHXH của các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Quỹ tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc của đơn vị là một
yếu tố quan trọng trong công tác quản lý quỹ BHXH bắt buộc. Với số đơn vị
và số lao động tham gia lớn, lại tăng khá nhanh qua mỗi năm nên việc quản lý
tiền lương, tiền công của NLĐ được BHXH huyện Kiến Xương hết sức chú
75
trọng, đảm bảo không để ra sai sót trong quá trình quản lý.
Bảng 2.3: Tổng quỹ lương trích đóng BHXH bắt buộc theo các khối
(giai đoạn 2015-2018)
Năm
2015
2016
2017
2018
Loại hình HCSN, Đảng,Đoàn Khối DN Nhà nước Khối DN vốn ĐTNN DN ngoài quốc doanh Khối ngoài công lập Khối HTX xã, phường, thị trấn Tổng
187.474 448 33.394 82.502 1.104 17.270 28.691 350.883
192.542 479 37.398 115.218 987 19.259 29.345 395.228
221.218 3189 39.868 204.463 1.204 21.612 33.586 525.140
205.641 517 38.025 149.991 1.062 19.809 31.783 446.828 (Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)
Đơn vị: triệu đồng
Qua bảng số liệu trên có thể thấy rõ tổng quỹ lương trích đóng BHXH của
các khối đều tăng qua các năm với tốc độ tương đối nhanh. Trong đó, quỹ
lương của khối HCSN, Đảng, Đoàn chiếm phần lớn trong tổng quỹ lương so
với các khối còn lại, cụ thể chiếm đến 53,43% năm 2015 [4] và còn 42,13%
trong năm 2018[1]. Việc tỷ trọng quỹ lương của khối HCSN, Đảng, Đoán giảm
dần trong 4 năm qua là do sự tăng lên nhanh chóng của khối Doanh nghiệp
ngoài quốc doanh chiếm 23,51% năm 2015 và đến năm 2018 tăng lên 38,93%.
Ngoài ra, các khối HTX, DN có vốn đầu tư nước ngoài, khối phường xã
cũng có mức tăng qua các năm. Đây là những con số đáng khích lệ cho công
tác thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn huyện Kiến Xương.
BHXH huyện Kiến Xương luôn thực hiện tốt các quy định của pháp luật
về quản lý quỹ của BHXH bắt buộc. Theo quy định tại Điều 83 Luật BHXH
năm 2014 thì quỹ BHXH bắt buộc bao gồm 3 quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và
thai sản, Quỹ TNLĐ, BNN; Quỹ hưu trí và tử tuất. Thông qua hoạt động đầu
tư tăng trưởng quỹ tạo ra nguồn lực tài chính tương đối lớn góp phần bổ sung
76
vào quỹ, làm cho quỹ được bảo toàn và tăng trưởng. Quy mô của quỹ BHXH
bắt buộc ngày càng tăng, quỹ thực hiện khả năng chi trả cho các chế độ
BHXH, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH. Đối với công tác kế
hoạch tài chính, trong những năm qua BHXH huyện Kiến Xương, cụ thể là
phòng Kế hoạch – tài chính đã làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo đơn
vị, các chi tiêu cho Hội nghị, công tác phí, các phương thức thanh quyết toán
được thực hiện hợp lý, chính xác và tiết kiệm chi phí.
BHXH huyện Kiến Xương đã thực hiện cân đối đủ nguồn quỹ đều đặn
hàng tháng, phân bổ quỹ hợp lý để đảm bảo chi trả kịp thời đến các đối tượng
thụ hưởng. Việc thực hiện thông qua hệ thống tài khoản của BHXH huyện
cũng như các đơn vị sử dụng lao động tại Kho bạc nhà nước đã giúp kiểm
soát được quỹ thu chi, hạ chế tối đa việc lạm dụng quỹ BHXH bắt buộc, khắc
phục những hạn chế của việc chi trả bằng tiền mặt như trước đây.
Để đạt được kết quả này là luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo kịp
thời của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và BHXH tỉnh Thái Bình cũng như
công tác phối kết hợp nhịp nhàng giữa BHXH huyện và các phòng, ban,
ngành có liên quan trong thực hiện chính sách BHXH bắt buộc trên địa bàn
huyện. Trong những năm qua, BHXH huyện Kiến Xương đã đẩy mạnh công
tác tuyên truyền về pháp luật BHXH tới các đơn vị, cộng đồng doanh nghiệp
và NLĐ như phối hợp với Đài truyền thanh huyện và các xã, thị trấn; phối
hợp với BHXH tỉnh để tổ chức hội nghị đối thoại về chính sách BHXH bắt
buộc nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật của họ. Nội dung công tác
tuyên truyền được chú trọng, tập trung vào những điểm quan trọng, điểm mới
của Luật BHXH sửa đổi, bổ sung, các văn bản hướng dẫn thi hành mới về
BHXH. Ngoài ra, BHXH huyện cũng duy trì chế độ tiếp công dân hàng tháng
tại trụ sở của cơ quan BHXH huyện nhằm hỗ trợ người lao động giải quyết
những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện các quy định về BHXH
77
bắt buộc, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ. Từ đó, các cơ quan,
đơn vị và NLĐ trên địa bàn huyện được tiếp cận và nắm bắt dễ dàng, kịp thời,
đầy đủ, đúng thông tin về chính sách BHXH, nhận thức về pháp luật và ý thức
trách nhiệm của họ dần được nâng cao nên số lượng đối tượng chủ động tham
gia BHXH bắt buộc ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, để quản lý các đơn vị cũng như NLĐ tham gia BHXH bắt
buộc trên địa bản thì BHXH huyện cũng tăng cường phối hợp giữa các cấp,
các ngành, các tổ chức đoàn thể trong quản lý doanh nghiệp như phối hợp với
Chi cục Thuế của huyện nhằm rà soát những doanh nghiệp mới thành lập mà
đã đi vào hoạt động nhưng chưa tham gia BHXH bắt buộc để yêu cầu các
doanh nghiệp đó tham gia, tránh tình trạng doanh nghiệp trốn đóng BHXH
ngay từ khi mới thành lập. Đồng thời, thực hiện khảo sát, rà soát nắm chắc
tình hình lao động đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc
diện phải tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện mà chưa tham gia
BHXH bắt buộc để từ đó có những giải pháp thích hợp để họ tham gia.
Mặc dù, trên địa bàn huyện có nhiều doanh nghiệp đã tham gia BHXH
bắt buộc và chiếm tỉ trọng cao như doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên thực tiễn thực hiện trên địa bàn
huyện vẫn còn xảy ra tình trạng một số doanh nghiệp này chậm tuân thủ hoặc
tuân thủ hạn chế những quy định của pháp luật BHXH bắt buộc. Họ có những
hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc chi NLĐ, đóng không đầy đỉ số lượng
NLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, đóng thiếu thời gian của NLĐ,
chậm giải quyết các chế độ cho NLĐ… Thực trạng này diễn ra làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ.
2.2.2.2. Thực hiện quy định pháp luật về các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành BHXH là giải quyết
78
kịp thời các chế độ, chính sách, đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng tham
gia BHXH. Xác định được yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng đó, trong những
năm qua, BHXH huyện Kiến Xương đã triển khai thực hiện đầy đủ các chế độ
BHXH theo Luật BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, công
tác giải quyết các chế độ BHXH bắt buộc được thực hiện đúng quy trình, thủ
tục, đúng đối tượng, đúng chế độ , đồng thời không ngừng cải tiến quy trình
chi trả các chế độ, đảm bảo chi trả kịp thời, nhanh chóng cho các đối tượng
thụ hưởng trên địa bàn huyện, tạo niềm tin cho NLĐ, tạo nền tảng mở rộng
đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
cho NLĐ.
Bảng 2.4. Tình hình chi trả các chế độ BHXH bắt buộc năm 2016-2018
Năm
Đơn vị tính: Triệu đồng
2016
2017
2018
NSNN
NSNN
NSNN
Quỹ BHXH
Quỹ BHXH
Quỹ BHXH
192.959 172.917
195.269 194.680
203.003 222.242
14.617
14.535
18.683
Các chế độ Chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH Ốm đau, thai sản, DSPHSK sau ốm đau, thai sản Tổng
380.493
404.484
443.928
(Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)
Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng tổng mức chi trả cũng như mức chi
trả đối với các chế độ hầu hết đều có xu hướng tăng. BHXH thực hiện chi trả
chế độ ốm đau, thai sản chỉ từ nguồn quỹ BHXH vì chế độ này không có
nguồn từ ngân sách nhà nước. Năm 2018, nguồn quỹ BHXH chi trả cho chế
độ ốm đau, thai sản là 18.683 triệu đồng [3], tăng 4.148 triệu đồng so với năm
2017, tăng 4.066 triệu đồng so với năm 2016. Việc chi trả các chế độ hưu trí
và trợ cấp BHXH chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn chi trả các chế độ BHXH
bắt buộc. Chế độ chi cho lương hưu và trợ cấp BHXH năm 2018 tăng 35.296 triệu
79
đồng so với năm 2017 và tăng 59.369 triệu đồng so với năm 2016. Tổng số tiền
chi trả cho các chế độ ngày càng tăng thể hiện quyền lợi và đời sống của NLĐ trên
địa bàn huyện ngày càng được quan tâm và đảm bảo.
2.2.2.3. Việc thực hiện quy định về trình tự, thủ tục giải quyết chế độ bảo
hiểm xã hội bắt buộc.
Hiện nay, BHXH huyện Kiến Xương đang quản lý và chi trả cho hơn
11.754 NLĐ tham gia BHXH bắt buộc. Cơ quan BHXH huyện luôn đảm bảo
kịp thời, đúng chế độ chính sách để giải quyết chế độ BHXH bắt buộc cho
NLĐ đang tham gia và thụ hưởng trên địa bàn huyện. Theo báo cáo của
BHXH huyện, trong năm 2018 BHXH huyện Kiến Xương đã tiếp nhận và
thẩm định 795 hồ sơ đề nghị giải quyết các chế độ BHXH (hưu trí, tử tuất, trợ
cấp 613, …), giải quyết cho 714 người đề nghị hưởng trợ cấp BHXH một lần,
2390 lượt người yêu cầu hưởng chế độ trợ cấp BHXH ốm đau, thái sản,
DSPHSK sau ốm đau, thai sản[1].Đồng thời, BHXH huyện Kiến Xương cũng
tiến hành tổ chức thực hiện tốt chương trình cải cách thủ tục hành chính trong
quá trình xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH, khai thác sử dụng các chương trình
ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đối tượng và dần hoàn
thiện các ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thu. Thực hiện
niêm yết công khai thủ tục liên quan đến lĩnh vực giải quyết chế độ để các cá
nhân, tổ chức dễ dàng tìm hiểu, tạo điều kiện thuận tiện khi họ đến liên hệ
công tác, tận tình giải đáp thắc mắc về chế độ để đối tượng hiểu rõ và thực
hiện đúng theo quy định của pháp luật. BHXH huyện Kiến Xương cũng đã
phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan thực hiện tốt quy định, bảo đảm
chi trả kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng chính
sách BHXH khi tổ chức chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH qua hệ thống
Bưu điện và hệ thống Ngân hàng khi đối tượng có nguyện vọng.
Tuy nhiên, do khối lượng hồ sơ yêu cầu giải quyết chế độ BHXH hàng
tháng tương đối lớn, công tác kiểm tra quản lý hồ sơ đôi lúc còn chưa chặt
chẽ dẫn đến hồ sơ còn bị trả lại nhiều lần, hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung đối
80
với người tham gia BHXH chưa hoàn thiện, các phần mềm quản lý chưa đáp
ứng kịp thời với thay đổi của hệ thống văn bản đã ban hành, gây bất cập trong
giải quyết chính sách nên việc giải quyết và trả kết quả hô sơ trong một số
trường hợp chưa kịp thời, khiến cho người thụ hưởng phải đi lại nhiều lần;
chưa giải quyết được tình trạng các đơn vị nợ đọng kéo dài nên việc giải
quyết các chế độ BHXH cho NLĐ không thực hiện được làm ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ.
2.2.2.4. Về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Vấn đề nợ đọng BHXH là một trong những hành vi vi phạm pháp luật
BHXH bắt buộc xẩy ra chủ yếu trên địa bàn huyện. Trong quá trình hoạt
động, BHXH huyện Kiến Xương đã luôn luôn quan tâm, chú trọng đến công
tác rà soát, kiểm tra, thanh tra, chủ động tổ chức và xây dựng các kế hoạch cụ
thể nhằm giảm tỉ lệ nợ đọng BHXH . Mặc dù số thu BHXH không ngừng tăng
lên qua các năm nhưng tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH vẫn còn xảy ra
khá phổ biến tại các đơn vị sử dụng lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp
trên địa bàn huyện.
Bảng 2.5: Tình trạng nợ đọng BHXH giai đoạn 2015-2018
STT 1 2 3 4
Năm 2015 2016 2017 2018
Số nợ BHXH 11.400 1.577,3 913 1.942
Đơn vị tính: Triệu đồng
(Nguồn: BHXH huyện Kiến Xương)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số nợ đọng BHXH trên địa bàn huyện Kiến
Xương, tỉnh Thái Bình vẫn còn ở mức khá cao. Nguyên nhân của tình trạng
trên là do một số doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả; có những doanh
nghiệp còn cố tình trốn đóng, chậm đóng. Như năm 2018 trên địa bàn huyện
Kiến Xương còn một số doanh nghiệp có số nợ lớn như: Công ty TNHH Xây
dựng Đoan Hùng nợ 63 tháng, hơn 823 triệu đồng; Công ty TNHH So Young
81
Fashion nợ 8 tháng, gần 660 triệu đồng; Công ty TNHH Thần Đồng nợ 10
tháng, gần 83 triệu đồng; Công ty TNHH Xuân Chuyền nợ 5 tháng, hơn 63
triệu đồng; Công ty TNHH Phú Viết nợ 23 tháng, gần 65 triệu đồng
[24].Ngoài ra, do chế tài xử lý những đơn vị trốn đóng BHXH chưa đủ mạnh,
dẫn đến tình trạng nhiều đơn vị đã lạm dụng sử dụng quỹ BHXH vào mục
đích khác.
Để giảm thiểu nợ trong khối doanh nghiệp, BHXH huyện đã chủ động
đến các doanh nghiệp nợ đọng hoặc mời doanh nghiệp lên cơ quan BHXH
huyện để làm việc và tìm hướng khắc phục vi phạm. BHXH huyện cũng đã tổ
chức các cuộc hội nghị nhằm tiếp xúc, trao đổi với doanh nghiệp vi phạm để
hướng dẫn, giải thích, trao đổi thẳng thắn và đề nghị doanh nghiệp cam kết lộ
trình trả nợ. Về cơ bản, sau những lần đối thoại doanh nghiệp đã có ý thức
trích nộp bảo hiểm. Theo quy định của BHXH huyện, việc nợ bảo hiểm có
điểm mới là phân chia rõ ràng 4 loại nợ: nợ chậm đóng, nợ đọng, nợ kéo dài
và nợ khó thu. Đây là điều kiện tốt để ngành thực hiện từng biện pháp phù
hợp với từng loại nợ. BHXH huyện đã tập trung tuyên truyền pháp luật,
hướng dẫn đơn vị, doanh nghiệp trích nộp bảo hiểm; đôn đốc đơn vị nộp bảo
hiểm đúng thời gian quy định. Do đó, trong năm 2018, số nợ bảo hiểm thuộc
nợ chậm đóng và nợ đọng giảm nhiều nhất trong tổng số nợ. Trong khi đó, nợ
kéo dài và nợ khó thu sẽ phải có những biện pháp cứng rắn và mạnh tay hơn.
Theo đó BHXH huyện phân công cho cán bộ có nhiều kinh nghiệm, vững
nghiệp vụ phụ trách các đơn vị, doanh nghiệp thuộc nhóm này để kịp thời đôn
đốc, giải quyết các vướng mắc phát sinh. Đồng thời phối hợp với các ngành
liên quan như: UBND huyện, Kho bạc Nhà Nước, Ngân hàng để nhắc nhở
đơn vị, doanh nghiệp, tách các loại đơn vị chậm đóng, trốn đóng để có
phương hướng giải quyết kịp thời… Cùng với đó, BHXH huyện thực hiện
báo cáo định kỳ hàng tháng về tình hình nợ đọng, quản lý chặt số lượng và
đánh giá, phân loại nợ, tham mưu cho BHXH huyện, BHXH tỉnh cũng như
82
chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo công tác thu hồi nợ.
Ngoài ra, công tác kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo cũng
được BHXH huyện quan tâm và chú trọng. Công tác tiếp công dân và giải
quyết đơn thư của công dân được duy trì thường xuyên, không có hiện tượng
đơn thư vượt cấp, BHXH huyện đã kiểm tra, xác minh thực tế theo nội dung
của đơn thư và trả lời kịp theo quy định. Bên cạnh đó, cũng chưa phát sinh
tranh chấp về BHXH bắt buộc nào trên địa bàn huyện. Năm 2018, BHXH
huyện đã kịp thời phối hợp với các đơn vị có liên quan để trả lời 01 đơn đề
nghị của công dân và 01 tờ trình thuộc Công ty TNHH Hanul, góp phần ổn
định chính trị huyện nhà.
2.2.2.5.Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội
bắt buộc
Hạn chế
- Về đối tượng tham gia, việc phối hợp giữa các ngành, các cơ quan có
thẩm quyền để xác định đối tượng thuộc diện đóng BHXH bắt buộc hay
không còn yếu, do đó cơ quan BHXH huyện khi thực hiện mở rộng đối tượng
tham gia BHXH bắt buộc còn gặp nhiều vướng mắc và khó khăn. Tỷ lệ số
đơn vị tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động chỉ đạt 63% so với số
đơn vị thực tế hiện đang hoạt động trên địa bàn huyện. Ngoài ra còn có các
đơn vị ngoài Nhà nước tìm cách lách luật để trốn đóng BHXH bắt buộc. Việc
quản lý, nắm bắt số đơn vị còn đang hoạt động, số đơn vị đã thay đổi địa chỉ
trụ sở chính, số đơn vị không có trên thực tế cũng như số lao động mà đơn vị
đang sử dụng trên thực tế còn hạn chế và khó khăn. Hiện nay BHXH huyện
Kiến Xương chưa có khả năng điều tra, thống kê để nắm được đối tượng
thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện.
Thực tế bản thân NLĐ do chưa hiểu biết về quyền lợi và trách nhiệm của
mình khi tham gia BHXH , cũng như vì cuộc sống nên họ đã không dám đứng
83
lên đấu tranh đòi NSDLĐ phải thực hiện nghĩa vụ trích nộp BHXH bắt buộc
cho mình, ngoài ra NSDLĐ còn lợi dụng và lôi kéo NLĐ đồng tình trong việc
trốn đóng BHXH.
- Thủ tục giải quyết các chế độ cho NLĐ còn chưa linh hoạt, phức tạp.
Bên cạnh đó trong công tác giải quyết chế độ BHXH bắt buộc lượng hồ sơ
giải quyết chế độ BHXH hàng tháng lớn nên việc giải quyết và trả kết quả hồ
sơ có lúc chưa kịp thời, khiến cho người thụ hưởng phải đi lại nhiều lần; do
các đơn vị nợ đọng còn kéo dài nên việc giải quyết các chế độ BHXH cho
người lao động không thực hiện được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
chính đáng của NLĐ.
- Về công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH. Trong hình thức chi
bằng tiền mặt, sự phối hợp và kết hợp giữa BHXH huyện với UBND phường,
xã trong công tác chi lương hưu, trợ cấp BHXH thời gian qua đạt hiệu quả
cao, song việc quản lý đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp qua đời có
những nơi còn chưa chặt chẽ, báo giảm chưa kịp thời dẫn đến chi sai, chi
không đúng đối tượng được hưởng nên cơ quan BHXH phải thực hiện thủ tục
truy thu.
- Về công tác xử lý vi phạm pháp luật BHXH, còn một số đơn vị (Công
ty TNHH So Young Fashion, Công ty TNHH Thần Đồng…) thực hiện chưa
nghiêm túc và đúng Luật BHXH như: tham gia không đúng với số lượng thực
tế đang sử dụng; không thực hiện đóng BHXH hàng tháng theo quy định của
pháp luật; không đóng đúng mức BHXH mà NLĐ được đóng theo quy định
của Pháp luật, cố tình chiếm dụng tiền lương của NLĐ. Để tình trạng này xảy
ra là do đội ngũ cán bộ chuyên ngành làm công tác kiểm tra còn thiếu nên tổ
chức các đoàn kiểm tra nội bộ và kiểm tra đơn vị sử dụng lao động còn ít;
việc tổ chức các đoàn thanh tra liên ngành cũng chưa được thực hiện thường
xuyên. Hồ sơ cũng như thủ tục khởi kiện các đơn vị vi phạm còn phức tạp nên
84
việc xử lý không được triệt để.
Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại những hạn chế trên, tuy nhiên
có thể chỉ ra một số nguyên nhân sau:
Do hiểu biết về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng trong việc thực hiện
BHXH bắt buộc của NLĐ và NSDLĐ hạn chế. NLĐ chưa thấy được tính ưu
việt của chính sách BHXH còn NSDLĐ trốn tránh nghĩa vụ của mình, thậm
chí còn chiếm dụng tiền BHXH của NLĐ. Một số lượng lớn lao động không
tự giác tham gia BHXH đã gây ảnh hưởng lớn cho việc tạo lập quỹ BHXH và
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ.
Bất cập trong công tác quản lý Nhà nước về BHXH cũng là một trong
những nguyên nhân chủ yếu. Hiện tại một số nội dung của Luật BHXH vẫn
chưa được thực hiện tốt. Ngoài trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị quản lý
sử dụng lao động, cơ quan thực hiện sự nghiệp BHXH còn là sự bất cập của
đơn vị có chức năng quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn.Cơ quan chức
năng quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn còn lúng túng trong việc xử lý
vi phạm cũng như xây dựng các chế tài buộc các đơn vị sử dụng lao động
phải tuân thủ đúng theo pháp luật.
Sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên ngành như: Liên đoàn lao động,
Thanh tra lao động với cơ quan BHXH để thanh tra, kiểm tra, giám sát doanh
nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý.
Thực tế vẫn còn có những cán bộ chuyên môn không vững vàng, năng
lực còn kém, nên còn lúng túng trong việc giải quyết những phát sinh trong
công việc làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ.
Chức năng kiểm tra, xử lý của cơ quan BHXH đối với những vi phạm
chính sách BHXH của NSDLĐ còn bị hạn chế, chưa có chế tài sử phạt, tính
pháp lý chưa cao, không có các thông tin đầu vào về việc sử dụng lao động
của các đơn vị. Vì vậy, rất khó khăn trong việc kiểm tra thu đúng, thu đủ cũng
85
như thực hiện quyền lợi về BHXH cho người lao động.
Chưa có giải pháp tích cực để chống tính trạng chiếm dụng, nợ đọng
tiền đóng BHXH, chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm của cơ quan BHXH
huyện còn hạn chế, chưa có chế tài xử phạt, tính pháp lý chưa cao, không có
thông tin đầu vào về việc sử dụng lao động của các đơn vị nên đã gây khó
khăn trong việc kiểm tra thu quỹ BHXH đồng thời ảnh hưởng đến việc thực
86
hiện quyền lợi của NLĐ.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Luật BHXH năm 2014 ra đời đã khắc phục được những hạn chế, bất cập
về chính sách, chế độ BHXH bắt buộc trước đó. Đã có nhiều quy định mới
trong Luật BHXH năm 2014 thể hiện bước phát triển mới, tích cực của chính
sách BHXH bắt buộc của Đảng và Nhà nước ta.
Việc thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Kiến
Xương, tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây đã đạt được kết quả đáng
khích lệ như: Công tác phát triển, mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc ngày càng tăng; số thu năm sau cao hơn năm trước, giải quyết kịp thời
và đúng chế độ cho NLĐ, tình trạng nợ đọng BHXH bắt buộc cũng được
giảm dần, việc thực thi các quy định của pháp luật BHXH tương đối triệt để
ngày càng đảm bảo tốt hơn quyền lợi của những người tham gia BHXH.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện còn gặp một số vướng mắc nhất định như
nhận thức của NLĐ, NSDLĐ còn hạn chế, nên vẫn còn xảy ra tình trạng trốn
trách nhiệm đóng BHXH, việc giải quyết các chế độ còn vướng mắc, tình
trạng nợ đọng BHXH chưa được giải quyết triệt để, tình trạng nợ đọng BHXH
chưa được khắc phục triệt để, ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ, chính
87
sách BHXH và sự an toàn của hệ thống quỹ BHXH.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thứ nhất: Thể chế hóa kịp thời đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú
trọng đến vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó
vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vừng đất nước. Do đó hệ
thống pháp luật, chính sách bảo hiểm xã hội bao gồm các chế độ hưu trí, tử
tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất
nghiệp cần được hoàn thiện hơn. Việc hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã
hội bắt buộc phải phù hợp, bám sát chính sách và định hướng phát triển
BHXH của Đảng và Nhà nước.
Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu phát triển, cải cách chính sách
bảo hiểm xã hội giai đoạn 2021- 2030 với nội dung như sau: “Cải cách chính
sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là trụ cột chính của hệ thống
an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội,
hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân. Phát triển hệ thống bảo hiểm
xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên
tắc đóng- hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng
lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện
chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh
bạch.” [19].
Bên cạnh đó Nghị quyết số 28- NQ/TW ngày 23/05/2018 của Hội nghị
lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo
88
hiểm xã hội cũng đã nêu rõ nhiệm vụ về bảo hiểm xã hội cụ thể như sau: Tăng
cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức
về chính sách bảo hiểm xã hội; Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động,
việc làm, bảo hiểm xã hội; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về
bảo hiểm xã hội; Nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện
chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Tăng cường vai trò lãnh
đạo của Đảng, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai: Hoàn thiện pháp luật BHXH bắt buộc cần khắc phục những bất
cập, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành.
Tại kỳ họp thứ 8, ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua
Luật BHXH (sửa đổi), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 và một số điểm
có hiệu lực từ 1/1/2018, thay thế Luật BHXH năm 2006. Luật BHXH năm
2014 có nhiều điểm mới, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở
nước ta, là một bước tiến về việc đảm bảo quyền con người, chăm lo cho
NLĐ có cuộc sống ổn định, lâu dài. Sau khi các quy định pháp luật về BHXH
bắt buộc đi vào thực tiễn cuộc sống, thì nó đã phát huy tích cực trong việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ góp phần thực hiện mục tiêu
chính sách an sinh xã hội của nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
các quy định pháp luật về BHXH bắt buộc cũng bộc lộ những hạn chế, bất
cập nhất định như:
- Tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH còn xảy ra khá phổ biến, đặc
biệt ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đã làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội và quyền
lợi của NLĐ. Một trong những nguyên nhân của tình trạng chậm đóng, nợ
đóng BHXH nêu trên là do mức xử phạt tiền đối với các hành vi vi phạm
pháp luật BHXH theo quy định còn thấp. Do đó, nhiều doanh nghiệp đã cố
tình nợ đóng, chậm đóng BHXH và chấp nhận chịu phát để chiếm dụng tiền
89
đóng BHXH.
- Ngay từ khi chưa có hiệu lực thi hành, Điều 60 Luật BHXH năm 2014
đã gặp phải sự phản ứng của hàng nghìn lao động cũng như gặp phải nhiều ý
kiến trái chiều. Để giải quyết tình trạng này, tại kì họp thứ 9, Quốc hội khóa
XIII đã thông qua Nghị quyết số 93/2015/QH13 về việc thực hiện chính sách
BHXH một lần đối với NLĐ.
- Tình trạng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, xu hướng tuổi thọ ngày
càng cao mà tuổi nghỉ hưu thì vẫn giữ nguyên thì nguy cơ về mất cân đối quỹ
hưu trí và tử tuất sẽ xảy ra trong tương lai gần.
Từ những thực tiễn trên, để khắc phục được những hạn chế, bất cập thì
việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc là cần
thiết, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, đáp
ứng được nguyện vọng của NLĐ, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập kinh tế
quốc tế.
Ngoài ra, hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc phải đảm bảo tính
đồng bộ với các chế độ an sinh xã hội khác như chế độ bảo hiểm tự nguyện,
chế độ bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ ưu đãi xã hội. Bảo đảm mối tương
quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia BHXH ở các thời kì khác nhau phải
được đồng bộ, chính sách kinh tế - xã hội cũng được đảm bảo hài hòa đồng
thời đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đáp ứng tốt hơn nguyện vọng
của đông đảo NLĐ, tạo động lực khuyến khích NLĐ và NSDLĐ chủ động
tham gia BHXH.
Thứ ba: Hoàn thiện pháp luật BHXH bắt buộc cần đảm bảo phù hợp
với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Việc hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc phải đảm bảo tiếp thu có
90
chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, đáp ứng được yêu cầu
hội nhập quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống
BHXH phát triển và ổn định, có điều kiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội Việt Nam. Những kinh nghiệm phát triển hệ thống BHXH nói chung và
hệ thống BHXH bắt buộc nói riêng của các nước trên thế giới sẽ là những bài
học cũng như các gợi mở cho Việt Nam trong quá trình phát triển hệ thống
BHXH ổn định, đảm bảo an sinh xã hội.
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội đã từng bước đổi mới, về cơ bản đáp
ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, phát huy được vai trò, tính hiệu quả trong xây
dựng, tổ chức thực hiện chính sách và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. Năng
lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xa hội được nâng lên;
việc giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động có nhiều tiến bộ. Tuy
nhiên, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội nói
chung cũng như chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng vẫn còn nhiều
hạn chế và bất cập. Do vậy cần có các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hơn
pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt hơn
Hiện nay Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số, tuổi thọ trung
bình tăng cao do vậy nếu tuổi nghỉ hưu vẫn giữ ở mức 60 tuổi đối với nam và
55 tuổi đối với nữ thì tỷ lệ người nghỉ hưu sẽ nhiều hơn so với tỷ lệ người
trong độ tuổi lao động. Từ đó thời gian đóng BHXH sẽ ngắn hơn nhưng thời
gian hưởng lương hưu lại dài hơn, điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quỹ
hưu trí. Theo tính toán số năm hưởng lương hưu bình quân là 19,5 năm, trong
đó nam giới là 16,1 năm và nữ giới là 22,9 năm. Tuy nhiên, tính trung bình
tiền đóng bảo hiểm xã hội của một NLĐ làm việc trong 28 năm chỉ đủ chi trả
cho chính người đó trong vòng 10 năm nên rõ ràng số thời gian hưởng còn lại
91
sẽ phải lấy từ nguồn đóng góp của thế hệ sau. Vì vậy, nếu với mức đóng góp
và mức hưởng chế độ như quy định chính sách hiện nay, năm 2023 số thu
bằng số chi, năm 2024 trở đi để đảm bảo chi chế độ hưu trí, tử tuất, ngoài số
thu trong nam phải trích thêm tù số dư của quỹ. Đến năm 2037, nếu không có
chính sách hoặc tăng thu hoặc giảm chi thì số thu BHXH trong năm và số tồn
tích bắt đầu không đảm bảo khả năng chi trả, các năm sau đó số chi lớn hơn
nhiều so với số thu trong năm[2].
Hiện nay, quỹ BHXH tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối trong dài hạn. Quỹ
hưu trí và tử tuất ngày càng có xu hướng mất cân đối, theo kết quả tính toán
dự báo quỹ hưu trí và tử tuất vào tháng 01/2016 cho thấy: số thu và số chi cân
đối vào năm 2030. Từ năm 2031, phải sử dụng một phần nguồn quỹ hưu trí,
tử tuất tồn tích để chi trả. Từ năm 2031 trở đi, khoản chi trả sẽ bao gồm số
tiền đóng góp BHXH trong năm cộng với phần tiền tồn tích của quỹ hưu trí,
tử tuất và đến năm 2050, quỹ sẽ hết khả năng thanh toán[21]. Nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do mất cân đối trong đóng – hưởng BHXH;
mức đóng thấp, mức hưởng cao; thời gian đóng ngắn, thời gian hưởng dài.
Tuổi nghỉ hưu thấp dẫn tới thời gian đóng BHXH ngắn và thời gian hưởng
hương hưu dài.
Để đảm bảo tính bền vững của quỹ BHXH, tổ chức lao động quốc tế
(ILO) khuyến cáo Việt Nam nên tiến tới nâng độ tuổi nghỉ hưu của cả nam và
nữ giới lên đến 65, trên cơ sở những tiến bộ trong việc nâng cao tuổi thọ trung
bình và giảm tỉ lệ giữa số người lao động và số người nhận lương hưu.
Do đó, điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu là một trong những giải pháp để
đối phó với sự mất cân đối của hưu trí, việc tăng tuổi nghỉ hưu này sẽ làm
giảm tỉ lệ giữa người hưởng lương hưu và số người lao động, đồng thời kéo
dài thời gian đóng BHXH, đảm bảo sự bền vững tài chính cho quỹ BHXH.
Ngày 28/4/2019, Bộ Lao động thương binh và Xã hội đã công bố dự
thảo (lần hai) Bộ luật Lao động sửa đối, trong đó đề xuất nâng dần tuổi nghỉ
92
hưu đối với cả nam và nữ từ năm 2021. Theo tờ trình dự án Bộ luật lao động
sửa đổi, việc sửa đổi Bộ luật Lao động lần này phải thể chế hóa yêu cầu điều
chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu tại Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH: "Từ năm 2021,
thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung,
thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những
ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn
hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung"
Theo tinh thần của Nghị quyết số 28-NQ/TW, đồng thời cụ thể hóa nội
dung Đề án cải cách chính sách BHXH của Ban cán sự Đảng Chính phủ, để
đảm bảo việc tăng tuổi nghỉ hưu phù hợp với quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể
trạng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động (NLĐ) Việt Nam, tránh việc
phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, đảm bảo góp phần
ổn định chính trị - xã hội, Ban soạn thảo đã quy định nội dung này trong dự
thảo lần hai Bộ luật Lao động (sửa đổi) theo 2 phương án để trình Quốc hội
xem xét như sau:
Phương án 1: Kể từ ngày 1-1-2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động
trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với nam và đủ
55 tuổi 4 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với nam
và 4 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.
Phương án 2: Kể từ ngày 1-1-2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động
trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 4 tháng đối với nam và đủ
55 tuổi 6 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 4 tháng đối với nam
và 6 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.
Trong dự thảo cũng đã quy định quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá 5
tuổi đổi với NLĐ bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và
93
một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt. Đồng thời, dự thảo cũng quy định
quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá 5 tuổi đối với NLĐ có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao, NLĐ làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt.
Việc đề xuất điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62, nữ lên 60 nhằm
bảo đảm sự phù hợp với quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và
tuổi thọ của người lao động Việt Nam.
Tuổi thọ bình quân của nam hiện là 72,1 tuổi, của nữ là 81,3 tuổi và cả
hai giới tính là 76,6 tuổi, cao hơn tuổi thọ trung bình của dân số thế giới là 72
tuổi. Ngoài ra, lực lượng lao động tham gia thị trường lao động của Việt Nam
trong những năm gần đây đang tăng chậm cả về số lượng và tỷ lệ. Số liệu
thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, cuối năm 2018 có 55 triệu lao
động. Lực lượng lao động Việt Nam không quá dồi dào như các đánh giá
thông thường và sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu hụt trong tương lai. Vì thế điều
quan trọng là hoàn thành lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu trước khi Việt Nam đối
mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trong khoảng 20 năm tới do quá trình già
hóa dân số[25].
Việc tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 tuổi, nữ 60 tuổi là cần thiết,
tránh việc phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai. Đồng
thời, việc xác định lộ trình và điều chỉnh dần dần là hợp lý, vì như thế sẽ tạo
điều kiện cho NLĐ và doanh nghiệp thích nghi mà còn tạo điều kiện cho cả
thị trường lao động điều chỉnh, nó còn có tác động tốt hơn đến tâm lý xã hội
của NLĐ và doanh nghiệp. Nếu tăng nhanh lộ trình thì sẽ dẫn đến sự gia tăng
đột ngột số người thất nghiệp, có thể gây bất ổn cho xã hội. Lựa chọn phương
án điều chỉnh nâng tuổi nghỉ hưu nhanh có thể dẫn đến số người thất nghiệp
và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao đột ngột, gây ra những vấn đề xã hội bức xúc.
Nâng tuổi nghỉ hưu nhanh cũng có thể tạo ra tâm lý không hài lòng đối với
một bộ phận lớn người lao động, nhất là trong các doanh nghiệp, ảnh hưởng
94
tiêu cực đến môi trường đầu tư. Chính vì vậy, phương án từ ngày 01/01/2021
cứ mỗi năm tăng 03 tháng đối với nam cho đến khi đạt 62 tuổi, mỗi năm tăng
04 tháng đối với nữ cho đến khi đạt 60 tuổi, tuổi nghỉ hưu của nam sẽ đạt tuổi
62 vào năm 2028 và nữ đạt tuổi 60 vào năm 2035 là phương án có ưu điểm
hơn, phòng tránh cao hơn các rủi ro khi điều chỉnh tuổi đối với thị trường lao
động, tránh gây sốc thị trường lao động, giữ được ổn định xã hội và phù hợp
với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, bổ sung, sửa đổi một số quy định về chế độ ốm đau:
Luật BHXH năm 2014 không quy định về thời gian đóng BHXH tối
thiểu của NLĐ để được hưởng chế độ ốm đau, đặc biệt là đối với người
hưởng chế độ ốm đau mắc các bệnh thuộc danh mục chữa trị dài ngày. Ngay
từ khi NLĐ đăng ký tham gia BHXH tháng đầu tiên mà bị ốm thì họ có quyền
được hưởng chế độ ốm đau như mọi đối tượng có thời gian tham gia BHXH
lâu hơn. Thực tế có thể thấy điều này dẫn tới chính sách dễ bị lạm dụng, nhất
là đối với những người bị mắc bệnh thuộc danh mục chữa trị dài ngày. Cụ thể,
NLĐ không tham gia BHXH nhưng khi họ phát hiện bị mắc bệnh thì họ mới
tham gia đóng BHXH như thế ngay khi đóng BHXH trong tháng đầu tiên họ
đã có thể được hưởng chế độ ốm đau. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến cân đối
thu chi của quỹ BHXH, nguyên tắc đóng hưởng và cũng không đảm bảo
được tính công bằng giữa những NLĐ. Vì vậy Luật cần phải bổ sung quy định
thời gian đóng BHXH tối thiểu của NLĐ trước khi hưởng chế độ ốm đau.
Pháp luật về BHXH bắt buộc nên quy định NLĐ phải có ít nhất 3 tháng đóng
BHXH bắt buộc trở lên mới thuộc đối tượng được hưởng chế độ ốm đau.
Điều này phù hợp với Công ước số 102 của ILO và pháp luật của nhiều quốc
gia trên thế giới.
Cần sửa đổi quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với trường hợp
NLĐ nghỉ chăm con ốm đau cần điều trị dài ngày. Trong Luật BHXH năm
95
2014 đã quy định thời gian NLĐ hưởng chế độ ốm đau tùy thuộc vào các yếu
tố về điều kiện lao động, tình trạng bệnh tật và thời gian tham gia BHXH, độ
tuổi của con bị ốm. Tuy nhiên khi NLĐ nghỉ chăm con bị ốm đau thì NLĐ lại
chỉ được hưởng một mức thời gian nghi chăm con mà không có sự phân biệt
về thời gian hưởng chế độ BHXH ốm đau để chăm sóc con ốm theo tình trạng
và mức độ bệnh của con. Thực tế có những trường hợp con bị mắc bệnh hiểm
nghèo cần chữa trị dài ngày nên NLĐ cần phải nghỉ việc để chăm sóc con là
điều tất yếu. Vì vậy, Luật cần có quy định rõ trường hợp NLĐ nghỉ chăm con
ốm đau thông thường và nghỉ chăm con mắc các bệnh cần điều tị dài ngày để
phù hợp với thực tế đời sống của NLĐ, tạo điều kiện cho NLĐ có thời gian để
chăm sóc con tốt hơn. Có thể quy định thời gian hưởng chế độ khi chăm con
mắc bệnh cần điều trị dài ngày như sau: Nếu con dưới 5 tuổi mắc bệnh cần
điều trị dài ngày thì thời gian nghỉ chăm sóc con được hưởng bảo hiểm đối đa
35 ngày làm việc, nếu con từ đủ 5 tuổi đến dưới 10 tuổi là 20 ngày làm việc
(không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hàng tuần).
Thứ ba, bổ sung quy định đối với trường hợp hưởng chế độ thai sản khi
nhận nuôi nhiều con nuôi dưới 6 tháng tuồi.
Luật BHXH năm 2014 đã có quy định đảm bảo quyền của NLĐ khi nhận
nuôi con nuôi. Cụ thể, khi NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì
được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Thực tế cho
thấy, có những trường hợp nhận nuôi 2 hoặc 3 con nuôi dưới 06 tháng tuổi. Vì
thế cần phải có quy định phù hợp để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trong
trường hợp này. Luật có thể quy định đối với trường hợp NLĐ nhận nhiều
con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con NLĐ sẽ
được nghỉ thêm 01 tháng để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ và sức khỏe của trẻ
sơ sinh.
Thứ tư, hoàn thiện quy định về xử lý vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc.
Hiện nay tỉ lệ doanh nghiệp trốn đóng BHXH còn cao, điển hình là các
96
doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh
nghiệp này có nhiều hình thức và mức độ vi phạm như: lừa dối người lao
động; doanh nghiệp ký hợp đồng theo ngày, theo giờ đối với lao động mùa vụ
để không phải đóng BHXH; kê khai mức lương thấp hơn so với thực tế để
giảm chi phí BHXH phải nộp…Theo số liệu thống kê của BHXH huyện Kiến
Xương, năm 2018 số doanh nghiệp còn nợ đọng BHXH bắt buộc là 2135
doanh nghiệp, số tiền nợ BHXH là 1.942 triệu đồng, điều này cho thấy tỉ lệ
doanh nghiệp nợ đọng bảo hiểm còn cao, ảnh hưởng đến quỹ BHXH cũng
như quyền lợi của NLĐ[1].
Trong khi đó NLĐ không nắm rõ được quy định về BHXH, cũng với
điều kiện kinh tế eo hẹp và sức ép về thu nhập nên cho dù NLĐ biết bị xâm
phạm về quyền lợi nhưng họ không dám đứng lên đấu tranh. Có thể thấy, quy
định pháp luật hiện hành trong việc xử lý các hành vi vi phạm về BHXH chưa
đủ mạnh để khiến các đối tượng tham gia BHXH nghiêm túc thực hiện nghĩa
vụ và trách nhiệm của mình. Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015
quy định NSDLĐ chậm đóng, đóng không đúng mức quy định, đóng không
đủ số người hay không đóng BHXH bắt buộc cho toàn bộ NLĐ thuộc diện tham
gia BHXH bắt buộc thì bị xử phạt mức tối đa là 75.000.000 đồng, trong khi đó,
trên thực tế đơn vị sử dụng lao động vi phạm việc đóng BHXH lên đến hàng tỉ
đồng, cho thấy sự chênh lệch giữa quy định pháp luật va thực tế. Mức phạt
75.000.000 đồng không đủ tính nghiêm khắc để xử lý hành vi này, cho nên thực
trạng doanh nghiệp sẽ chọn cách nộp tiền phạt BHXH, đồng thời chiếm dụng tiền
nợ BHXH để đầu tư kinh doanh có lợi hơn. Vì vậy, pháp luật nên điều chỉnh
hướng tăng các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã
hội với mức phạt tiền tối đa 150.000.000 đồng , để bảo đảm sự nghiêm minh, răn
đe của pháp luật, hạn chế tình trạng trốn đóng BHXH.
Ngoài ra, cũng cần phải bổ sung quy định doanh nghiệp chỉ được tuyên
97
bố phá sản sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ đóng BHXH. Theo quy định hiện
nay khi doanh nghiệp tuyên bố phá sản, thì trong yêu cầu phải có bản xác
nhận của cơ quan thuế hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà lại không có quy
định yêu cầu có bản xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội về hoàn thành
nghĩa vụ đóng BHXH. Vì vậy, pháp luật cần bổ sung thêm quy định khi
doanh nghiệp tuyên bố phá sản thì trong yêu cầu phải có xác nhận của cơ
quan BHXH là đã hoàn thành nghĩa vụ đóng BHXH, không còn tình trang nợ
dọng BHXH, để hạn chế việc doanh nghiệp tuyên bố phá sản mà chưa hoàn
thành nghĩa vụ đóng BHXH, tạo ra căn cứ pháp lý để cơ quan bảo hiểm xử lý
các trường hợp vi phạm.
Thứ năm, quy định cụ thể hơn thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Tại Điều 52 Luật BHXH năm 2014 quy định về nghỉ dưỡng sức, phục
hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật: “Người lao động sau khi
điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do nghề nghiệp
mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe từ 05
ngày đến 10 ngày”. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có hướng dẫn quy
định cụ thể về tỷ lệ thương tật bao nhiêu là được hưởng và số ngày được nghỉ
dưỡng tương ứng với tỷ lệ thương tật, bệnh tật. Điều này yêu cầu pháp luật về
BHXH cần phải sớm có quy định về tỷ lệ thương tật của NLĐ để áp dụng số
ngày được nghỉ để điều trị cho phù hợp. Vì mỗi tỷ lệ thương tật khác nhau sẽ
có thời gian điều trị phục hồi khác nhau, đồng thời người có thương tật nặng
sẽ cần nghỉ dưỡng sức dài ngày hơn, có thể là 15 ngày đến 30 ngày. Vì vậy,
pháp luật cần quy định chi tiết để đảm bảo tối ưu quyền lợi cho NLĐ khi họ
gặp phải những rủi ro về sức khỏe.
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về BHXH bắt
buộc tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Thứ nhất, tăng cường sự chỉ đạo của cấp trên và phối hợp với các cơ
quan hữu quan trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội.
Hệ thống văn bản Luật có liên quan đến BHXH của các cơ quan chức
98
năng được sửa đổi và bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chính vì vậy, BHXH Việt Nam cần phải
ban hành nhanh chóng các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo kịp thời các vướng
mắc phát sinh đối với BHXH các tỉnh để giúp BHXH các tỉnh không lúng
túng trong việc thực hiện công tác chuyên môn.
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp
luật về BHXH.
Thực trạng hiện nay có thể thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ
đóng, đóng chậm BHXH hay NSDLĐ lừa dối NLĐ để trốn đóng BHXH là do
nhận thức của NSDLĐ và NLĐ về chính sách, pháp luật BHXH còn hạn chế,
chưa đầy đủ, chưa đúng. Do vậy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
BHXH nhằm để thay đổi nhận thức, nâng cao nhận thức của người dân về
chính sách BHXH là hết sức cần thiết. Công tác này cũng đã và đang thực
hiện tuy nhiên chưa thực sự hiệu quả.
Các hình thức tuyên truyền BHXH còn đơn giản, chưa thu hút được sự
quan tâm của NLĐ và NSDLĐ nên đối tượng tham gia BHXH còn thấp so
với thực tế, tính chủ động trong công tác tuyên truyền còn chưa cao, chưa
đánh đúng vào đối tượng quan tâm đến BHXH. Công tác phối hợp thông tin
của các cơ quan, tổ chức còn chưa thực hiện được, chưa phổ biến pháp luật
BHXH kịp thời cho các xã trên địa bàn huyện do các cơ quan đó chưa nhận
thức được tầm quan trọng của pháp luật BHXH.
Do vậy, để đạt được hiệu quả tối đa, để tăng cường ý thức pháp luật của
người dân về việc tham gia BHXH bắt buộc thì cần phải đa dạng hóa các hình
thức tuyên truyền như: in ấn tờ rơi, mở các lớp tập huấn, tổ chức các Hội thi
tuyên truyền viên; triển khai các chính sách về BHXH tới các đơn vị sử dụng
lao động và nhân dân trên địa bàn huyện thông qua các phương tiện truyền
thông đại chúng…
Thứ ba, giải quyết nhanh chóng , kịp thời, đúng pháp luật, đúng chế độ
cho các đối tượng tham gia và hưởng BHXH bắt buộc
99
Trong việc giải quyết chế độ BHXH, đôi khi việc trợ cấp chưa được giải
quyết kịp thời bởi những lý do chủ quan hoặc khách quan. Do đó, cơ quan
BHXH huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cần phải kiểm tra, đối chiếu và xét
duyệt kịp thời việc giải quyết chế độ cho NLĐ, không để tình trạng hồ sơ lưu
hoặc giải quyết chậm trễ, không để xảy ra tình trạng giải quyết sai, nhầm lẫn
giữa các chế độ làm ảnh hưởng đến quyền lợi NLĐ.
Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ
năng cho cán bộ bảo hiểm xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Để thực hiện có hiệu quả pháp luật thì trình độ của người thực hiện
pháp luật là một yếu tố quan trọng. Trong quá trình thực hiện công việc, định
kỳ thường xuyên đào tạo và nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Ngoài ra cần
đánh giá, kiểm tra thường xuyên trình độ của cán bộ.
Để thực hiện tốt những yêu cầu của công tác bảo hiểm xã hội bắt buộc
tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nguồn nhân lực bảo hiểm xã hội cần
đáp ứng được những điều kiện cả về trí và lực, bảo hiểm xã hội cần phải có
một đội ngũ cán bộ có đầy đủ kiến thức chuyên sâu, có kinh nghiệm tổ chức
triển khai, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. Để đáp ứng được những
yêu cầu đó cần thiết phải có sự đào tạo và rút kinh nghiệm trong quá trình
thực hiện cho cán bộ bảo hiểm xã hội huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đồng thời cần phải tập huấn, rút kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ ở các cấp, các
bộ phận và các phòng ban chức năng có liên quan đến quá trình triển khai đảm
bảo tính thống nhất, hạn chế tối đa những sai sót không đáng có. Có chính sách
tuyển dụng thêm nguồn nhân lực cần thiết bổ sung vào các bộ phận chức năng
của mình để thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Ngoài ra, BHXH huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cũng như cán bộ
nhân viên cần phải có tinh thần cầu tiến, tiếp thu và lắng nghe ý kiến của nhân
dân và NLĐ để từ đó phát hiện, khắc phục những sai sót và tạo niềm tin cho
100
người tham gia BHXH.
Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động
thực hiện pháp luật BHXH bắt buộc, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan
liên quan đến BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện.
Thực trạng tình hình vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc như việc nợ,
trốn đóng BHXH ngày cảng phổ biến và có dấu hiệu tăng. Do vậy, việc thanh
tra, kiểm tra và giám sát là hết sức cần thiết và quan trọng. Để giảm thiểu
những vi phạm về BHXH, cơ quan bảo hiểm xã hội tăng cường lực lượng cán
bộ có năng lực chuyên môn, đủ phẩm chất và có ý thức trách nhiệm làm công
tác thanh tra, kiểm tra. Đồng thời chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan
chức năng có liên quan như: Liên đoàn lao động, Sở y tế, Sở lao động thương
binh và Xã hội… tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và kiểm
tra đột xuất để kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm. Có hình thức
xử lý nghiêm cán bộ sai phạm trong quản lý và trong việc thực hiện pháp luật
101
BHXH để đem lại sự tín nhiệm của nhân dân và đối tượng tham gia BHXH.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực
hiện về BHXH là việc quan trọng và cần thiết. Chương 3 đã đưa ra yêu cầu
trong việc hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc như: đảm bảo thể chế hóa
kịp thời đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; đảm bảo đồng bộ với
các chế độ BHXH khác; đảm bảo khắc phục những bất cập hạn chế của pháp
luật về BHXH; đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia
khác trong quá trình hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc nhằm bảo đảm
việc hoàn thiện pháp luật nhất quán, xuyên suốt.
Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về thực thi pháp luật
BHXH bắt buộc nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách BHXH
bắt buộc nói chung và tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nói riêng như:
hoàn thiện các chính sách pháp luật về các chế độ của BHXH bắt buộc; đưa ra
một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH trên địa
bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình như các vấn đề về tăng cường công
tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật BHXH, phát triển chuyên môn của đội
ngũ cán bộ BHXH…để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các đối tượng
102
tham gia BHXH bắt buộc.
KẾT LUẬN
Tại quốc gia nào cũng thế,BHXH luôn đóng vai trò quan trọng nhất của hệ
thống an sinh xã hội. Tại Việt Nam, Bảo hiểm xã hội được là một trụ cột chính
của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định
chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.
Thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH cho thấy, việc ra đời của Luật
BHXH năm 2014 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng cho sự hoàn thiện
khung pháp lý về BHXH, nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách
BHXH, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách
BHXH phù hợp với quá trình phát triển nền kinh tế - thị trường. Đổng thời
đáp ứng được nguyện vọng của NLĐ. Chính sách BHXH đã phát huy tích cực
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ, đảm bảo ổn định
hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách, chế
độ bảo hiểm xã hội cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như việc mở rộng
đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn chậm, tình trạng nợ đóng, chậm đóng
bảo hiểm xã hội còn diễn ra khá phổ biến… Vì vậy, cần thực hiện đồng bộ
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiên pháp luật về bảo hiểm xã hội,
đảm bảo phát huy tích cực vai trò của bảo hiểm xã hội.
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm xã hội cũng như
thực tiễn thực hiện tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, luận văn đã hệ
thống hóa các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc đồng thời
chỉ ra các kết quả đạt được cũng như các hạn chế, bất cập còn tồn tại khi thực
hiện pháp luật về BHXH bắt buộc để từ đó luận văn đã đưa ra những yêu cầu
và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hơn nữa hiệu
quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc nói chung và trên địa bàn
103
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nói riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo kết quả công tác bảo hiểm xã hội năm 2018 và chương trình
công tác năm 2019.
2. Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật sửa đổi, bổ sung của
BLLĐ (dự thảo lần 2 tháng 5 năm 2017).
3. Báo cáo tổng kết năm 2018, BHXH huyện Kiến Xương.
4. Báo cáo kết quả công tác bảo hiểm xã hội năm 2015 và chương
trình công tác năm 2019.
5. Nguyễn Hữu Chí và Bùi Thị Kim Ngân.Tạp chí luật học Số 6, 2015,
Một số bình luận pháp lí liên quan đến Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
6. Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội,
năm 1999.
7. Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011), Pháp luật an sinh
xã hội – Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
8. Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến, Đổi mới chính sách bảo hiểm
xã hội đối với người lao động, Nxb. Chính trị quốc gia,1998.
9. Bùi Thanh Hương, (2017), Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở
Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.
10. Nguyễn Hiền Phương (2010). Pháp luật an sinh xã hội những vấn
đề lý luận và thực tiễn. Nxb. Tư Pháp, Hà Nội.
11. Giáo trình an sinh xã hội, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, 2014.
12. Trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, Giáo trình bảo hiểm, Nxb
Thống kê, 2000.
13. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân(2008), Giáo trình An sinh xã
104
hội, Nxb. Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.
14. BHXH trên toàn thế giới, ILO-1999 và 2006.
15. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật bảo hiểm
xã hội của một số nước trên thế giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
16. Trường Đại học LĐTB&XH (2010), Giáo trình Bảo hiểm xã hội,
Nxb. Lao động Hà Nội.
17. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật an sinh xã
hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
18. Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004
ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến
30/06/2004. Thukyluat online, 2016. Truy cập 11/04/2019).
19. Nghị quyết số 28 –NQ/TW ngày 23 tháng 05 năm 2018 Nghị
quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa XII Về Cải cách
chính sách Bảo hiểm xã hội.
20. Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng,1996.
Wesite
21. http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/nghien-cuu-can-doi-cac-
quy-bhxh-16771
22. http:// www.nhandan.com.vn/xahoi/tintuc/item/27582002-mo-rong-
chinh-sach-bao -hiem-xa-hoi-cho-lao-dong-phi-chinh-thuc.html
23. https://baothaibinh.com.vn/tin-tuc/50/79811
24. https://www.baothaibinh.com.vn/tin-tuc/16/74089/no-bao-hiem-xa-
hoi-lam-xau-di-hinh-anh-cua-doanh-nghiep-doanh-nhan
25. http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2019-04-29/bo-ld-tb-
105
xh-de-xuat-2-phuong-an-tang-tuoi-nghi-huu-tu-nam-2021-70766.aspx