BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
………/……… .…../……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG TRỌNG CHÍNH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
………/……… .…../……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG TRỌNG CHÍNH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN TIẾN HẢI
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của cá nhân dưới sự
hướng dẫn của Tiến sĩ Trần Tiến Hải. Các số liệu được thể hiện trong
luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Học viên
Hoàng Trọng Chính
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Những từ viết tắt trong luận văn
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO
HIỂM Y TẾ ...................................................................................................... 8
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm y tế và Luật Bảo hiểm y tế ..................... 8
1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế .......................................... 8
1.1.2. Luật Bảo hiểm y tế ...................................................................... 188
1.1.3. Một số nội dung về pháp luật bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay. 200
1.2. Khái niệm, hình thức, chủ thể và nội dung tổ chức thực hiện Luật Bảo
hiểm y tế .................................................................................................... 244
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thực hiện Luật BHYT .................. 244
1.2.2. Các giai đoạn tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế .................... 28
1.2.3. Chủ thể tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế............................ 333
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế ..... 355
1.3.1. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về bảo hiểm y tế nói riêng và của
cả hệ thống pháp luật nói chung ........................................................... 355
1.3.2. Tổ chức bộ máy và nguồn lực ..................................................... 377
1.3.3. Ý thức pháp luật của các bên tham gia ......................................... 39
1.3.4. Sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện Luật ........................... 400
1.3.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội .......................................... 402
Tiểu kết Chương 1 ..................................................................................... 433
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM
Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ................................ 444
2.1. Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội
của tỉnh Thừa Thiên Huế ........................................................................... 444
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội ........ 444
2.1.2 Tác động của điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội đối với
việc triển khai Pháp luật về BHYT. ...................................................... 466
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên Huế hiện nay .......................................................................... 477
2.2.1. Kết quả đạt được ........................................................................... 49
2.2.2. Những tồn tại và hạn chế ............................................................ 577
2.2.3. Đánh giá kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân .................... 655
Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................... 700
Chương 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ
CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỉNH
THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỜI GIAN TỚI .................................... 711
3.1. Quan điểm, mục tiêu .......................................................................... 711
3.1.1 Quan điểm .................................................................................... 711
3.1.2 Mục tiêu ....................................................................................... 733
3.2. Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn
Thừa Thiên Huế trong thời gian tới .......................................................... 744
3.2.1 Tăng cường công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Luật BHYT
................................................................................................................. 71
3.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác tổ chức thực hiện Luật
BHYT đáp ứng sự hài lòng của mọi đối tượng ..................................... 739
3.2.3 Tăng cường quản lý nhà nước về BHYT có hiệu lực và hiệu quả 83
3.2.4 Hoàn thiện Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn thi hành ......... 73
Tiểu kết Chương 3 ..................................................................................... 922
KẾT LUẬN .................................................................................................. 933
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 955
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
HĐND Hội đồng nhân dân
KCB Khám chữa bệnh
NSNN Ngân sách nhà nước
PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật
UBND Uỷ ban nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề an sinh xã hội ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới luôn
luôn được quan tâm hàng đầu, trong đó chính sách BHXH và BHYT là hai
chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp
phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội
và phát triển kinh tế - xã hội. Trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã
hội, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng chính sách BHYT và luôn xem đây
là một trong hai trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội ở nước ta. Chính
sách BHYT là chính sách có ảnh hưởng trực tiếp và tác động sâu rộng đến tất
cả các thành viên trong xã hội, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng
đồng sâu sắc, góp phần quan trọng để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
trong lĩnh vực chăm sóc y tế, là cơ chế tài chính y tế quan trọng và là cơ chế
chi trả trước áp dụng giúp người dân khi bị ốm đau không bị rơi vào cảnh
nghèo đói và là định hướng phát triển trong chăm sóc sức khỏe người dân.
Nhận thức được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng đối với xã hội do
chính sách BHYT mang lại, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và lãnh đạo
và tổ chức thực hiện Chính sách BHYT trong toàn quốc. Nghị quyết Đại hội
X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “Xây dựng hệ thống an sinh xã
hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn
dân”. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 14/11/2008 Quốc hội đã ban
hành Luật BHYT đánh dấu một bước quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý
để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHYT.
Đối với Tỉnh Thừa Thiên Huế, là tỉnh nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ,
là tỉnh được xác định là một trong những vùng trung tâm y tế chuyên sâu của
cả nước, thời gian qua quá trình thi hành Luật BHYT đạt được nhiều kết quả
đáng kể. Quan trọng nhất là nhận thức của nhân dân và trách nhiệm của các
2
cấp, các ngành ngày càng được nâng cao về chính sách BHYT. Công tác tổ
chức thực hiện chính sách và pháp luật BHYT đã có những chuyển biến rõ
nét; đã có hơn 1,1 triệu người dân tham gia BHYT, chiếm tỷ lệ hơn 98% dân
số toàn tỉnh. Đặc biệt, nguồn kinh phí KCB được chi trả từ quỹ BHYT ngày
càng gia tăng, quyền lợi người tham gia đã được thực hiện khá tốt, chất lượng
KCB được nâng lên, nhiều dịch vụ y tế kỹ thuật cao với mức chi phí lớn đã
được quỹ BHYT chi trả, tấm thẻ BHYT thật sự vô cùng quý giá cho người
tham gia, nhất là trong tình hình khó khăn về kinh tế, giá viện phí liên tục gia
tăng như hiện nay, việc tham gia BHYT càng có ý nghĩa hết sức thiết thực.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luật BHYT ở tỉnh Thừa Thiên Huế
thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như trong công tác quản lý nhà
nước và tổ chức triển khai thực hiện Pháp luật BHYT vẫn chưa hiệu quả cao;
tỷ lệ tham gia BHYT trên địa bàn tỉnh mặc dầu đạt cao nhưng không có tính
bền vững; công tác quản lý quỹ BHYT còn nhiều bất cập; tình trạng mất cân
đối quỹ BHYT ngày càng gia tăng; tình trạng vi phạm pháp luật về tham gia
đóng BHYT xảy ra ở nhiều đơn vị chủ sử dụng lao động, người tham gia và
đơn vị KCB BHYT… Bên cạnh nhiều yếu tố truyền thống tác động đến
Chính sách BHYT, hiện nay đã xuất hiện nhiều yếu tố mới như mặt trái của
kinh tế thị trường ngày càng phức tạp, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, toàn
cầu hóa ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các cuộc
khủng hoảng kinh tế, hay dịch bệnh bùng phát bất kỳ xuất phát ở nước nào
cũng gây nên hậu quả khôn lường, phức tạp và tác động rất lớn đến tất cả các
lĩnh vực kinh tế xã hội trên toàn thế giới.
Từ thực trạng trên, nếu không có một nghiên cứu, đánh giá, phân tích, và
dự báo sớm để đưa ra các giải pháp phù hợp để khắc phục, sẽ dẫn đến việc
quản lý nhà nước về BHYT sẽ không đạt yêu cầu, không giải quyết được các
mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện, tình trạng mất cân đối thu, chi
3
vẫn tiếp diễn, lạm dụng quỹ BHYT dự báo ngày càng gia tăng, khó kiểm
soát… Và dự báo chắc chắn hiệu lực quản lý nhà nước không đạt được và làm
giảm niềm tin của người dân đối với chính sách và pháp luật BHYT trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Để khắc phục, hạn chế những bất cập, tồn tại đã
nêu trên, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong tổ
chức thực hiện Luật BHYT, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực hiện
Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”. Đây là một vấn đề
nóng đang được nhiều dư luận quan tâm, và đề tài này rất cần thiết và có ý
nghĩa cấp thiết trong thực tế hiện nay, nhằm để chính sách và pháp luật
BHYT thực sự phát huy hiệu quả nguồn quỹ tài chính quan trọng của nhà
nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân và đảm bảo
mục tiêu an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước trong thời gian đến.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
Liên quan đến đề tài ở những phạm vi, mức độ khác nhau, có thể nêu ra
một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Luận văn thạc sĩ Luật học của Bùi Thị Phương Dung (2015) về “Thực
trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm y tế bắt buộc ở Việt Nam”. Luận văn đã
phân tích thực trạng các quy định về pháp luật BHYT. Phân tích, đánh giá
thực trạng các quy định về pháp luật BHYT bắt buộc và thực tiễn thực hiện.
Trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế của pháp luật BHYT hiện hành cần sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ. Đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật
BHYT cho phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Luận văn thạc sĩ Luật của Phan Diệu Linh (2016) về “Pháp luật Bảo
hiểm y tế bắt buộc từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Phú Thọ”. Luận văn trên cơ
sở tiếp cận chuyên ngành Luật, Lý luận lịch sử nhà nước, mục đích của Luận
văn là phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật BHYT,
đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật
4
BHYT bắt buộc tại Tỉnh Phú Thọ.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành (2016) của Nông Thị Phương
Thảo về “Về giải pháp nâng cao độ bao phủ Bảo hiểm y tế trên địa bàn Tỉnh
Lạng Sơn”. Đề tài nhằm cung cấp các thông tin tổng quát về thực trạng triển
khai chính sách BHYT, đánh giá kết quả và tồn tại trong tổ chức thực hiện
BHYT ở Tỉnh Lạng Sơn. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc mở
rộng đối tượng, phát triển BHYT ở trong tỉnh. Đề xuất các giải pháp chủ yếu
góp phần nâng cao độ bao phủ Bảo hiểm y tế tại Tỉnh Lạng Sơn.
Luận văn thạc sĩ của Hoàng Mạnh Trường (2016) về “Thực hiện pháp
luật về BHYT Việt Nam hiện nay”. Luận văn trên cơ sở tiếp cận chuyên ngành
Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, mục đích của đề tài là phân tích những
vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật BHYT, đánh giá thực trạng và đề
xuất giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật BHYT ở nước ta hiện nay.
Công trình nghiên cứu khoa học cấp ngành của Võ Khánh Bình và các
cộng sự (Hoàng Trọng Chính, Nguyễn Thị Khánh Chi, Trương Công Khả,
Bùi Thị Thu Lý) (2017) về “Các giải pháp phát triển đối tượng tham gia
BHYT theo Hộ Gia đình trên địa bàn Thừa Thiên Huế”. Công trình này
nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu Nghị quyết số
21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020.
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích vị trí, vai trò
của BHYT ở cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn, đồng thời đề xuất một số
kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ, chính sách về BHYT vào các
thời điểm nghiên cứu. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả lợi ích mang lại
của các công trình trên, vấn đề BHYT vẫn còn đang đứng trước nhiều thách thức
đan xem với nhiều cơ hội trong quá trình tổ chức thực hiện, do có nhiều thay đổi
rất lớn, kể cả thay đổi điều chỉnh chính sách, pháp luật BHYT và các văn bản
5
hướng dẫn thực hiện, đặc biệt trong gia đoạn hiện nay trước tình hình kinh tế khó
khăn, dự báo rất nhiều biến động các lĩnh vực trong xã hội theo cơ chế thị
trường, hội nhập kinh tế quốc tế, tác động những khủng hoảng của kinh tế, dịch
bệnh tác động toàn cầu thì những nghiên cứu này vẫn còn thiếu tiếp cận dưới
một số góc độ tổ chức thực hiện Luật BHYT, hoặc mới chỉ đề cập tới từng lĩnh
vực, từng chế độ, chính sách BHYT, chưa cập nhật, phân tích đầy đủ những khó
khăn, vướng mắc, những thách thức, cơ hội mới trong quá trình tổ chức thực
hiện Luật BHYT ở nước ta cũng như tại Thừa Thiên Huế.
Vì vậy, việc nghiên cứu tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên Huế trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng, từ đó đề xuất
những giải pháp nhằm bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của chính sách
BHYT là việc làm cần thiết, có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện Luật
BHYT trên địa bàn tỉnh Tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở phân tích thực trạng
tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó
đề xuất những giải pháp, kiến nghị căn bản nhằm ngày càng hoàn thiện việc
tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đánh giá thực trạng, nguyên nhân, vấn đề đặt ra trong công tác tổ chức
thực hiện Luật BHYT của các chủ thể trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện
Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung cơ bản của hoạt
động tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Về thời gian: Số liệu nghiên cứu được thu thập 5 năm từ năm 2015-2019 và 9
tháng đầu năm 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên quan điểm Chủ nghĩa duy vật biện chứng,
Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lê nin; Tư tưởng Hồ Chí Minh,
các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước về chính sách xã hội, trong đó có chính sách BHYT, bảo vệ phát
triển con người, chế độ an sinh xã hội, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân,
đảm bảo duy trì ổn định xã hội, phát triển đất nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp.
+ Phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá.
+ Phương pháp thu thập thông tin, quan sát, phỏng vấn chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa về mặt lý luận
Thông qua nghiên cứu tính tất yếu khách quan sự ra đời và khái niệm
BHYT, các quan điểm, nhận thức về BHYT, xác định vị trí, vai trò của
BHYT trong thực tiễn cuộc sống hiện nay, căn cứ trên lý luận và luận chứng
khoa học làm rõ bản chất BHYT dưới 2 góc độ xã hội và kinh tế, luận văn xác
7
định rõ tầm quan trọng của chính sách BHYT trong hệ thống an sinh xã hội
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, nó ảnh hưởng trực tiếp sâu rộng đến đời
sống của mọi gia đình, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa
phương. Từ đó, Luận văn đánh giá, phân tích đưa ra quan điểm, nhận thức
một cách đầy đủ và toàn diện về giá trị và ảnh hưởng tích cực của chính sách
BHYT hiện nay, đưa ra một số cơ sở, kiến nghị mới, bổ sung về quan điểm,
nhận thức về BHYT.
6.2.Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu, phân tích thực trạng
pháp luật và thực thi Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, căn cứ
các số liệu, diễn biến cụ thể, luận văn sẽ phân tích kết quả đạt được, các tồn
tại, hạn chế, nguyên nhân, để từ đó đưa ra một số giải pháp để kiến nghị các
cấp có thẩm quyền nhằm hoàn thiện pháp luật về BHYT và tăng cường hiệu
lực và hiệu quả việc thực hiện Luật BHYT, đồng thời đề xuất các giải pháp bổ
sung nhằm ngày càng hoàn thiện trong thực thi pháp luật về BHYT và các
lĩnh vực có liên quan như Luật KCB, Luật Dược, Luật Đấu thầu, giá viện phí,
thanh tra kiểm tra, xử phát vi phạm hành chính…; giải pháp tăng cường
PBGDPL nói chung và BHYT nói riêng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói
riêng, và cả nước nói chung, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội
của đất nước ta và xu thế chung của thời đại.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung chính của luận văn có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
Chương II: Thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế tại Tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Chương III: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp bảo đảm tổ chức thực
hiện Luật Bảo hiểm y tế tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.
8
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm y tế và Luật Bảo hiểm y tế
1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế
1.1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm y tế
BHYT ra đời như một tất yếu khách quan trong cuộc sống, từ nhu cầu
chính đáng của con người nhằm bảo vệ chăm lo sức khỏe khi không may bị
ốm đau, bệnh tật, tai nạn…Thực tế trong xã hội, luôn luôn tồn tại nhóm người
yếu thế, có nguy cơ bệnh tật cao và không có khả năng tài chính để trang trải
chi phí y tế. Nếu chỉ trông chờ vào sự cứu trợ tự phát, không mang tính bền
vững, đảm bảo thì nhóm đối tượng này sẽ luôn có nguy cơ nằm ngoài sự bảo
vệ. Nhu cầu về cơ chế chia sẽ rủi ro, mang tính xã hội, được thực hiện trên
diện rộng với sự đảm bảo chắc chắn từ phía nhà nước trở thành nhu cầu tất
yếu trong đời sống xã hội.
Trợ cấp chăm sóc y tế là một trong những chế độ trợ cấp quan trọng,
mang tính đặc thù của hệ thống An sinh xã hội. Pháp luật về An sinh xã hội
của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ưu tiên đảm bảo chế độ trợ cấp về y
tế, thể hiện dưới hình thức BHYT. Quỹ BHYT có nguồn gốc từ sự đóng góp
của người lao động, chủ sử dụng lao động và sự bảo trợ của Nhà nước. Hình
thức sơ đẳng nhất của BHYT là quỹ tương hỗ. Người tham gia đóng tiền vào
quỹ tương hỗ theo mức quy định nào đó (theo lương, thu nhập hoặc một mức
ấn định nào đó theo quy định của mỗi nước), khi đi KCB tại cơ sở y tế, được
quỹ tương hỗ thanh toán cho bệnh viện, bệnh nhân không phải trả trực tiếp
toàn bộ chi phí, hoặc chỉ trả một phần cho bệnh viện. Chính phủ hỗ trợ một
phần chi phí từ ngân sách.
9
Trong quan điểm hình thành chính sách BHYT của các quốc gia trên thế
giới, tùy theo thể chế, chế dộ chính trị, tình hình kinh tế, xã hội, vị trí địa lý…
của mỗi nước sẽ có sự khác nhau trong các quan niệm khác nhau về BHYT
chủ yếu thể hiện ở phạm vi bảo vệ, hình thức và cách tổ chức thực hiện
BHYT ở mỗi quốc gia. Mặc dù mục tiêu chung của tất cả các Chính phủ trên
thế giới đều muốn tìm ra những giải pháp chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho
người dân. Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn nên chính phủ mỗi nước sẽ có
những con đường đi riêng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống
lịch sử văn hóa của quốc gia mình. Điều này làm nên sự khác biệt về BHYT
của các quốc gia và được thấy rõ nhất qua các mô hình BHYT. Tuy nhiên, đa
số đều có quan điểm căn bản về BHYT, đó là các mối quan hệ kinh tế gắn
liền với việc huy động các nguồn lực từ sự đóng góp của những người tham
gia để hình thành quỹ bảo hiểm và sử dụng để thanh toán các chi phí KCB
cho người được bảo hiểm khi bị ốm đau, bệnh tật. BHYT là một trong những
biện pháp nhằm huy động sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng
xã hội, giúp nâng cao chất lượng KCB, nâng cao tính nhân đạo và công bằng
xã hội, giúp cho mỗi người tham gia BHYT khắc phục được khó khăn về kinh
tế khi có rủi ro ốm đau. Mặc dù có sự đóng góp của người dân dưới nhiều
hình thức khac nhau nhưng vẫn phải có sự hỗ trợ của Nhà nước bởi kể cả
những nước có nền kinh tế phát triển cũng chưa có đủ nguồn tài chính đáp
ứng cho nhu cầu về chi phí trong KCB. Do đó, thực chất việc đóng góp
BHYT chính là tạo nguồn dự trữ tài chính cho bản thân người tham gia khi
chẳng may bị ốm đau, bệnh tật, nó là một trong bốn nguồn cấu thành ngân
sách của Ngành Y tế là: Ngân sách của Nhà nước bù đắp khi bội chi quỹ, viện
phí của người bệnh (Bệnh nhân cùng chi trả), quỹ BHYT thanh toán và tiền
ủng hộ của các tổ chức trong đó nguồn BHYT có ý nghĩa hết sức quan trọng
cho quá trình vận hành các cơ sở KCB.
10
Tại Việt Nam, trước khi pháp luật BHYT ra đời, nước ta áp dụng mô
hình tài chính tài chính y tế thông qua NSNN, cho đến cuối những năm của
thấp kỷ 80, NSNN vẫn bao cấp cho toàn bộ y tế, hoạt động của các cơ sở y tế
đều do NSNN bao cấp, hầu như toàn bộ người dân đi KCB đều được miễn
phí. Chế độ bao cấp KCB miễn phí cho mọi người dân có ý nghĩa lịch sử tại
thời điểm đó do đất nước mới trải qua những cuộc chiến tranh tàn khốc, đời
sống nhân dân vô cùng khó khăn thiếu thốn, cần phải được nhà nước bao cấp
toàn bộ. Tuy nhiên, với ngân sách ngày càng eo hẹp, đất nước đang phải tập
trung toàn bộ nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kinh tế, kinh phí không cấp
đủ cho các cơ sở KCB để phục vụ người dân, bên cạnh đó, sự phát triển như
vũ bảo các thành tựu khoa học trong lĩnh vực y tế trên thế giới và nhu cầu
chính đáng của người bệnh được tiếp cận những trang thiết bị y tế hiện đại,
thuốc, vật tư y tế ngày càng tạo sức ép đối với ngành y tế và nhà nước ta cần
có một chính sách mới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Qua việc đề cập đến sự ra đời của BHYT, chúng ta đã hình dung được sự
phong phú, đa dạng và các hình thức của BHYT. Với những xuất phát điểm
khác nhau, cùng với sự khác biệt về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch
sử, phong tục tập quán của các quốc gia mà quan niệm về BHYT có thể được
giải thích ở những phạm vi rộng hẹp khác nhau. Sự khác nhau trong quan
niệm về BHYT dẫn đến sự khác nhau về nội dung, chế độ BHYT trong hệ
thống pháp luật. Theo trường phái kinh tế, BHYT được tiếp cận như là một
vấn đề kinh tế y tế. Tính kinh tế y tế của BHYT là nội dung quan trọng trong
nguyên lý hoạt động của BHYT. Nó được thể hiện ở những góc độ khá rộng
là hình thức huy động nguồn tài chính cho y tế, giám sát việc cung ứng dịch
vụ y tế ở các cơ sở KCB, sử dụng đồng tiền sao cho đúng mục đích, hiệu quả,
đảm bảo cân đối thu, chi quỹ BHYT. Mối quan hệ giữa mức đóng và mức
hưởng luôn được cân nhắc, tính toán cẩn thận để đảm bảo thu bù chi. Kinh tế
11
y tế trong BHYT còn được hiểu là sự tương trợ chia sẻ rủi ro, trợ giúp tài
chính của số đông cho số ít không may ốm đau. BHYT được coi là một biện
pháp kinh tế liên kết nhiều người khỏe mạnh cùng chăm sóc sức khỏe cho
người bị ốm đau và BHYT có vai trò, nhiệm vụ phân phối lại thu nhập.
Từ tình hình thực tế đó, khái niệm BHYT được Tổ chức Lao động quốc
tế (ILO) đưa ra với đề cập đến với những đặc trưng cơ bản sau: Thiết lập trên
cơ sở đóng góp tài chính của người tham gia; Bao gồm các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe, KCB mà không phải trợ cấp bằng tiền; Không mang mục đích kinh
doanh; Quyền lợi phụ thuộc vào nhu cầu bệnh lý và khả năng cung ứng dịch
vụ y tế. Những quan điểm này của Tổ chức Lao động quốc tế đã trở thành
chuẩn mực về BHYT cho các quốc gia thực hiện BHYT. Đây đồng thời là
những nguyên lý cơ bản của BHYT. Cũng như an sinh xã hội, BHYT là nội
dung bao hàm cả hai yếu tố kinh tế và xã hội khó có thể tách rời. Vấn đề chỉ
là ở chỗ các quốc gia chú trọng đến yếu tố nào hơn để xây dựng mô hình
BHYT cho nước mình. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng xác định rõ BHYT
có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Trong Tuyên bố Alma-Ata
(1978), WHO quan niệm “ BHYT là loại hình bảo không kinh doanh, không
vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con
người”. Theo thông lệ quốc tế tôn chỉ mục đích của loại hình bảo hiểm này là
đem lại sự chăm sóc y tế, với tư cách là một trong những nội dung chính của
an sinh xã hội theo công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu an sinh
xã hội của Tổ chức Lao động quốc tế.
Nhìn chung, dù được tổ chức thực hiện dưới mô hình nào, thì quan niệm
về BHYT đều thống nhất ở một vấn đề cơ bản đó là mục đích của BHYT
nhằm chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho người dân không vì mục tiêu lợi nhuận.
Như vậy, trên thế giới quan niệm về tôn chỉ, mục đích của BHYT khá đồng
nhất giữa các quốc gia. Sự khác nhau chủ yếu chỉ ở mô hình tổ chức thực
12
hiện, phạm vi và mức độ bảo vệ do điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử truyền
thống của từng quốc gia quyết định.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thì “BHYT là loại bảo hiểm do nhà
nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và
cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám sức khỏe và chữa bệnh cho
nhân dân”. Khái niệm này cơ bản đã khẳng định được bản chất BHYT ở Việt
Nam, đó là loại hình BHYT xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện, theo mô
hình tài chính đóng góp. Theo PGS, TS Đào Văn Dũng “BHYT là một chính
sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động nguồn lực tài chính
của nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động và cộng đồng để hình
thành quỹ tài chính dùng chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT theo
quy định của pháp luật”. Theo quan niệm này BHYT có các đặc trưng sau: do
nhà nước thực hiện; có sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao
động và sự hỗ trợ của nhà nước; quỹ dùng để chi trả chi phí KCB. Theo TS
Đàm Viết Cương, BHYT thực chất là loại hình bảo hiểm trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe dựa trên những nguyên lý chung về tập hợp và chia sẻ nguy cơ,
rủi ro về sức khỏe; hình thức BHYT còn gọi là hình thức chi trả trước chi phí
cho KCB. Khác với một số loại hình bảo hiểm về hàng hóa, tài sản thông
thường, BHYT mang tính chất xã hội, chính trị và BHYT được coi là một
công cụ tăng cường an sinh xã hội, đảm bảo quyền được chăm sóc y tế của
mọi người. Như vậy BHYT được tiếp cận chủ yếu theo trường phái xã hội,
coi trọng yếu tố xã hội của BHYT trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro về sức khỏe.
Tại Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2013, tại Điều 58 quy định; “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự
nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn
dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số,
đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
13
khó khăn”. Đây là định hướng quan trọng để thực hiện mục tiêu BHYT toàn
dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thực hiện sự
chia sẻ giữa người khỏe với người ốm, người giàu với người nghèo, người
trong độ tuổi lao động với trẻ em và người cao tuổi.
Khái niệm BHYT và một số khái niệm liên quan trong về BHYT ở nước
ta đã được chính thức luật hóa, ban hành cụ thể tại khoản 1, khoản 2 và khoản
3 Điều 2 Chương I Luật BHYT số 25/2008/QH12 do Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII ban hành năm 2008, quy định:
“BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối
tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích
lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”
“BHYT toàn dân là việc các đối tượng quy định trong Luật đều tham
gia BHYT”.
“Quỹ BHYT là Quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và
các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh,
chữa bệnh cho người tham gia BHYT, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức
BHYT và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến BHYT”.
Luật BHYT số 46/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII sửa đổi, bổ sung Luật BHYT, tại Điều 1, sửa đổi
bổ sung khoản 1, Điều 2 Luật BHYT quy định: “BHYT là hình thức bảo hiểm
bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để
chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực
hiện”.
Như vậy, cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa
nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc
tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là
14
loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham
gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật.
Khái niệm BHYT được khẳng định trong Luật BHYT cơ bản đã làm rõ
bản chất BHYT ở Việt Nam, đó là loại hình BHYT xã hội do nhà nước tổ
chức thực hiện, theo mô hình tài chính đóng góp từ nguồn ngân sách, nguồn
quỹ BHXH và từ người theo quy định của Luật bắt buộc tham gia BHYT.
BHYT có các đặc trưng đó là, BHYT do Nhà nước tổ chức thực hiện;
BHYT là một bộ phận cấu thành của hệ thống an sinh xã hội của nước ta, vì mục
tiêu an sinh xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Đây là
đặc trưng cơ bản để phân biệt BHYT mang tính xã hội do nhà nước thực hiện với
BHYT thương mại do các công ty kinh doanh thực hiện. Ở BHYT thương mại,
vấn đề lợi nhuận luôn luôn phải đặt ra. Mức đóng và mức hưởng được tính toán
cẩn thận để đảm bảo kinh doanh có lãi; có sự chia sẻ rủi ro giữa những người
tham gia BHYT. Quỹ BHYT được hình thành dựa trên sự đóng góp của NSNN,
người sử dụng lao động, người lao động và cộng đồng dưới sự bảo trợ của nhà
nước, không phân biệt người giàu, kẻ nghèo, mức hưởng không phụ thuộc đóng
nhiều hay đóng ít, mức hưởng chỉ ưu tiên cho một số đối tượng chính sách, đối
tượng yếu thế trong xã hội.
Từ những vấn đề trên, có thể hiểu một cách tổng quát nhất là: Bảo hiểm y tế
là một chính sách an sinh xã hội của Nhà nước mang tính cộng đồng, chia sẻ rủi
ro, trên cơ sở sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và cộng
đồng, có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước nhằm mục đích khám, chữa bệnh khi
thành viên ốm đau, bệnh tật và không vì mục tiêu lợi nhuận.
1.1.1.2. Vai trò của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế có vai trò đặc biệt, mang tính xã hội rộng rãi như sau:
Thứ nhất, BHYT đóng vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội của
quốc gia. BHYT là giải pháp cơ bản và toàn diện để mọi người khi tham gia
15
BHYT, không may bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn đều được quỹ KCB BHYT chi
trả chi phí điều trị. BHYT do Nhà nước triển khai thực hiện mang tính xã hội
và nhân đạo cao cả theo nguyên tắc số đông bù số ít, người khỏe bù người
ốm, người đóng cao bù người đóng thấp, NSNN đóng cho một số nhóm đối
tượng như người nghèo, người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách, đối
tượng bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi…. Tất cả sự đóng góp này hình thành
nên quỹ chung, thống nhất, và quỹ này được dùng để chi trả chi phí KCB cho
một số ít người không may gặp rủi ro bệnh tật, điều này đã chia sẻ rủi ro,
giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi không may bị ốm đau, bệnh
tật, tai nạn.
Do vậy, sự đóng góp của cộng đồng xã hội để hình thành quỹ BHYT là
vô cùng quan trọng, là nguồn tài chính vững chắc đóng vai trò đảm bảo được
cuộc sống của cá nhân và gia đình khi không may bị bệnh tật, tránh rơi vào
hoàn cảnh đói nghèo, khó khăn do gia đình, bản thân cho dù họ có điều kiện
kinh tế nhưng phải chi trả những chi phí quá lớn, đã có nhiều bệnh nhân chi
phí hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng, đặc biệt các nhóm đối tượng
yếu thế trong xã hội không thể có tiền chi trả, được cấp thẻ BHYT từ NSNN
đóng sẽ được quỹ BHYT chi trả. Bệnh nhân và gia đình người bệnh sẽ sớm
ổn định trở lại cuộc sống, sớm trở lại lao động, học tập, sinh sống chính là
nhờ BHYT, có vai trò chính, tạo sự an tâm cho mọi người trong xã hội, góp
phần ổn định an sinh xã hội.
Vai trò này càng được minh chứng cụ thể qua các số liệu thống kê đã
được phân tích tại mục 2.2.1.3 về tình hình tham gia và chi phí KCB BHYT
tại Thừa Thiên Huế
Thứ hai, BHYT đã góp đảm đảm bảo công bằng trong xã hội về lĩnh vực
KCB. Tất cả mọi người tham gia BHYT đều được các cơ sở KCB BHYT tiếp
nhận khám bệnh, chữa bệnh một cách công tâm, tất cả hướng đến sự bình
16
phục, an toàn cho người bệnh. Ai ai cũng có quyền tiếp cận tất cả các dịch vụ
kỹ thuật y tế, thuốc vật tư y tế truyền thống và hiện đại, được điều trị bằng các
dịch vụ các khoa học tiên tiến theo đúng pháp đồ điều trị theo bệnh lý, không
phân biệt người có tiền, người giàu kẻ nghèo. Thực sự, chính sách Bảo hiểm y
tế đã đóng vai trò làm cho mọi người sẽ được bình đẳng hơn trong KCB khi
không may ốm đau bệnh tật, đặc biệt các nhóm bệnh nặng, mạn tính hoặc đối
với các bệnh nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội…cũng đều được
tiếp cận tất cả các dịch vụ y tế công bằng như những người khác trong xã hội.
Như vậy, pháp luật BHYT đã cụ thể hóa quyền cơ bản của con người
trong xã hội, đó là quyền được chăm sóc y tế và quyền được bình đẳng trong
chăm sóc y tế, mọi người dân Việt Nam đều được quản lý, chăm sóc sức
khỏe. Thông qua pháp luật BHYT với các quy định về nguyên tắc, phạm vi,
mức hưởng, mọi người dân khi tham gia BHYT đã được pháp luật Việt Nam
đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia BHYT và thụ hưởng
các dịch vụ y tế.
Thứ ba, BHYT đã tạo một nguồn quỹ tài chính của Nhà nước vô cùng
lớn trong việc điều hành, cung cấp nguồn kinh phí cơ bản cho hệ thống mạng
lưới y tế nước ta. Nguồn quỹ BHYT gia tăng hàng năm, hiện nay hơn trăm
ngàn tỷ đồng, chính là nguồn kinh phí lớn nhất và chủ yếu trong lĩnh vực y tế,
nguồn quỹ này sẽ do tổ chức BHYT thay mặt người bệnh chi trả chi phí KCB
BHYT cho các đơn vị KCB BHYT theo phạm vị và mức hưởng đã được luật
định (từ 80% đến 100%). Đồng thời với tỷ lệ tham gia BHYT của người dân
ngày càng gia tăng, hiện nay tại Việt Nam, số người tham gia BHYT chiếm tỷ
lệ hơn 90% dân số Việt Nam, nên hầu như nguồn kinh phí hoạt động của các
đơn vị KCB BHYT trên khắp cả nước đều bắt nguồn từ nguồn quỹ BHYT.
Như vậy, BHYT chính là điều kiện nâng cao chất lượng KCB và quản lý tài
chính y tế thông qua việc tạo được nguồn tài chính tập trung cho công tác
17
KCB BHYT. Qua đó, tạo nguồn lực để chi trả lương và các chế độ cho đội
ngũ nhân viên y tế, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị y tế, đào
tạo trình độ chuyên môn KCB, từng bước nâng cao chất lượng, vị trí và uy tín
của đơn vị đối với mọi người dân.
Vấn đề này này càng được minh chứng cụ thể qua các số liệu thống kê
đã được phân tích tại mục 2.2.1.3 về tình hình tham gia, nguồn thu BHYT và
chi phí
Thứ tư, BHYT có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN.
Từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho người thụ
hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham gia BHYT, đồng thời huy
động sự đóng góp của cá nhân, đơn vị theo quy định bằng pháp luật, tạo nguồn
quỹ KCB BHYT độc lập, tập trung, thống nhất dước sự quản lý của Nhà nước,
giảm dần nguồn ngân sách đầu tư cho các đơn vị KCB công lập, góp phần tạo
nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng
công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững. Đồng thời, từng bước
tính đúng tính đủ giá viện phí, từng bước đẩy mạnh cơ chế tự chủ các cơ sở y tế
công lập, cắt giảm nguồn ngân sách chi trả hoạt động cho các đơn vị khám chữa
bệnh, để tập trung nguồn lực đầu tư các lĩnh vực khác có liên quan. Vấn đề này
này càng được minh chứng cụ thể qua các số liệu thống kê đã được phân tích tại
mục 2.2.1.3 về nguồn chi trả chi phí KCB BHYT.
Thứ năm, BHYT góp phần đề phòng và chống đói nghèo và bệnh tật.
Theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Hiện nay, khoản cách giàu
nghèo vẫn còn lớn, còn rất nhiều người vô cùng khó khăn về cuộc sống, nếu
không may bị ốm đau bệnh tật, và bệnh nhân và gia đình bệnh nhân này sẽ rơi
vào vòng xoáy của đói nghèo nếu không có BHYT. Đồng thời, bên cạnh nhận
thức được quyền lợi của mình, người tham gia BHYT có quyền đi KCB để
thụ hưởng theo chế độ BHYT, nhờ vậy, việc quản lý, chăm sóc sức khỏe ngày
18
càng tốt hơn, từ đó phát hiện sớm, kịp thời bệnh lý và có phương pháp chữa
trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu.
Thứ sáu, BHYT ra đời còn góp phần giáo dục cho mọi người dân trong
xã hội về tính nhân văn cao cả, sống luôn hướng thiện theo đạo lý của dân tộc
ta, với phương châm mỗi người vì mọi người và mọi người vì một người.
Cùng nhau chung sức, giúp đỡ lẫn nhau qua cơn hoạn nạn, thể hiện ở việc
từng mỗi cá nhân, tổ chức, cơ quan đơn vị tuân thủ pháp luật BHYT, tích cực
tham gia đóng góp quỹ BHYT, tạo nguồn quỹ BHYT chung để chi trả cho
những ngươi không may bị ốm đau, bệnh tật.
Như vậy, Bảo hiểm y tế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát
triển bền vững xã hội, cho cộng đồng, cho gia đình và cho bản thân từng
người. với mục tiêu cuối cùng là đảm bảo sức khỏe cho người dân, đó chính
là tài sản đặc biệt của một quốc gia, là nhân tố cho phát triển kinh tế và ổn
định xã hội.
1.1.2. Luật Bảo hiểm y tế
Khi nghiên cứu về nội dung của BHYT chúng ta thấy rằng, BHYT
không chỉ là sự tương trợ, giúp đỡ của cá nhân hay tổ chức mà còn là trách
nhiệm của Nhà nước trước quyền được chăm sóc sức khỏe của các thành viên
trong xã hội. Sự tham gia của Nhà nước về BHYT ngoài việc thể hiện chức
năng xã hội với mục đích nhằm ổn định xã hội. Bảo vệ chăm sóc sức khỏe
của nhân dân là mục tiêu hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào. Mỗi quốc gia đều
coi BHYT là một chính sách xã hội bắt buộc của mình. Để thực hiện mục tiêu
này tất cả các quốc gia đều ban hành pháp luật để điều chỉnh về BHYT, đây là
cơ sở pháp lý để Nhà nước và các tổ chức và cá nhân thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình về BHYT.
Từ đây chúng ta có thể hiểu Luật Bảo hiểm y tế là hệ thống các quy tắc
xử sự chung do Nhà nước ban hành hay thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan
19
hệ kinh tế - xã hội phát sinh trong quá trình tham gia, hưởng thụ bảo hiểm y
tế theo nguyên tắc tương trợ cộng đồng, chia sẽ rủi ro dưới sụ tương trợ của
Nhà nước vì mục đích an sinh xã hội.
Từ khái niệm trên, có thể hiểu bản chất của pháp luật BHYT được thể
hiện ở những nội dung chính như sau:
Thứ nhất, bản chất xã hội của BHYT: Đây là đặc trưng nổi bật của pháp
luật BHYT với vai trò đảm bảo an sinh xã hội. Bản chất xã hội của BHYT
được thể hiện đó là sự bảo trợ của Nhà nước về chăm sóc y tế dành cho các
thành viên của mình, bảo đảm một trong những quyền quan trọng của con
người, đó là quyền được chăm sóc y tế. Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe không
phải thuần túy chỉ là trách nhiệm của từng cá nhân riêng lẻ, mà là trách nhiệm
chung của cả cộng đồng. Bởi lẻ, nguy cơ bệnh tật có thể đến với bất kỳ ai,
không kể quốc gia dân tộc nào, và hơn nữa không ai có thể một mình chống lại
bệnh tật. Lẽ đương nhiên, việc bảo vệ chăm sóc sức khỏe trước tiên là thuộc về
mỗi cá nhân, nhưng cũng cần sự giúp đỡ mang tính xã hội, có tính tổ chức cao
đó là sự giúp đỡ mang tính nhà nước. Ở đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng, là
người tổ chức, quản lý và bảo trợ. Bản chất xã hội của pháp luật BHYT còn
được thể hiện ở sự liên kết, chi sẽ rủi ro mang tính cộng đồng của các thành
viên trong xã hội. Bên cạnh sự trợ giúp mang tính nhà nước thì sự chia sẽ, liên
kết của các thành viên trong xã hội thông qua đóng góp dự trên thu nhập là yếu
tố quan trọng. Thiếu liên kết này, việc thực hiện BHYT sẽ không thành công
do không đảm bảo được nguyên lý chia sẽ rủi ro. Thực tế cho thấy, bệnh tật và
những rủi ro về sức khỏe không phải lúc nào cũng xuất hiện cùng một lúc với
tất cả mọi người, chúng cũng không xuất hiện giống nhau ở mỗi người; có
người ốm lúc này, có người ốm lúc khác; có người bệnh nặng, có người bệnh
nhẹ… Nếu cứ để người người nào có bệnh thì người đó tự chống đỡ thì sẽ gây
khó khăn cho chính họ vì không đủ kinh phí để trang trải. Do đó sự liên kết
20
mang tính cộng đồng rộng rãi để chia sẽ những rủi ro bệnh tật là một đòi hỏi tất
yếu. Khi có một quỹ chung để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng thì sẽ điều tiết
để người chưa ốm sẽ chăm sóc cho người ốm, người ốm nhẹ chia sẽ, chăm sóc
cho người ốm nặng. Tính xã hội tương trợ công đồng nhân văn của pháp luật
BHYT còn thể hiện ở sự đoàn kết xã hội trong chăm sóc y tế. Chăm sóc y tế
thông qua BHYT không phân biệt mức đóng nhiều hay đóng ít, không phân
biệt thành phần giai cấp, dân tộc, mà phụ thuộc mức độ rủi ro về bệnh tật. Pháp
luật BHYT là một giải pháp thực tế đưa họ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Như vậy, bản chất xã hội của pháp luật y tế thể hiện ở sự trợ giúpmang tính nhà
nước và sự tương trợ mang tính cộng đồng. Pháp luật BHYT thể hiện bản chất
nhân đạo và trình độ văn minh của xã hội phát triển với mục đích bảo đảm khả
năng tiếp cận dịch vụ y tế cho đa số dân chúng, thực hiện công bằng trong
chăm sóc sức khỏe.
Thứ hai, bản chất kinh tế của BHYT: Mặc dù BHYT là một chính sách xã
hội, không vì lợi nhuận nhưng nó mang yếu tố kinh tế, thuộc phạm trù kinh tế - y
tế. Thực hiện BHYT có hiệu quả là một bài toán về kinh tế y tế. Pháp luật BHYT
có nhiệm vụ phân phối lại thu nhập. Có thể thấy được điều này trong bản chất xã
hội ở sự tương trợ mang tính cộng đồng của BHYT. Có hai góc độ thể hiện
chính đó là sự phân phối trực tiếp và sự phân phối gián tiếp. Phân phối trực tiếp
thể hiện ở sự chuyển phần thu nhập của người tạm thời khỏe sang người đang
ốm, của người bệnh nhẹ sang người bệnh nặng thông qua sự điều hành luân
chuyển của phần thu nhập đóng trực tiếp cho quỹ BHYT.
1.1.3. Một số nội dung về Luật Bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay.
Ngay từ đầu những năm 1980, các cơ sở KCB hết sức khó khăn trong
nguồn lực, chi phí KCB ngày càng tăng do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật y tế, trang thiết bị hiện đại trong khám bệnh, chữa bệnh. Mặc dù đầu tư
của Nhà nước có tăng nhanh nhưng cũng không thể đáp ứng nhu cầu của các
21
đơn vị KCB. Thực hiện chủ trương, xóa bỏ bao cấp, đổi mới trong lĩnh vực y
tế với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, ngày 24/4/1989, Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 45/HĐBT
cho phép các cơ sở KCB thu một phần viện phí. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ
đáp ứng một phần, còn đại bộ phận người có thu nhập thấp, người yếu thế và
đối tượng chính sách không có điều kiện để được KCB, đặc biệt những bệnh
nặng, chi phí điều trị lớn. Để khắc phục tình trạng trên và thực hiện Hiến
pháp năm 1992 “Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự
nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân… thực hiện BHYT, tạo điều kiện để
mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ”, ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Điều lệ BHYT kèm theo Nghị định
số 299/HĐBT với mô hình quản lý BHYT theo cấp tỉnh (1992-1997), Bộ Y
tế quản lý (1998-2003). Từ năm 2003 cho đến nay, BHYT được sáp nhập và
quản lý tập trung tại BHXH Việt Nam, đồng thời trên cơ sở thực tiễn, ngày
14/11/2008 Quốc hội đã ban hành Luật BHYT (Luật số 25/2008/QH12), có
hiệu lực từ 01/7/2009 và được tiếp tục sửa đổi, bổ sung và thông qua ngày
13/6/2014 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT (Luật số
46/2014/QH13) có hiệu lực từ 01/01/2015, đánh dấu một bước quan trọng
trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHYT,
thực hiện đúng theo quy định tại Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (năm 2013).
Luật BHYT gồm 10 chương với 52 điều, bao gồm một số vấn đề cơ bản
sau:
Thứ nhất, quy định về đối tượng áp dụng BHYT
Theo Luật BHYT của Việt Nam hiện nay, luôn giữ vững mục tiêu
phải hướng tới là bao quát toàn bộ dân số, bao gồm cả những người có quan
hệ lao động và những người không có thu nhập, sống phụ thuộc và phù hợp
22
với điều kiện kinh tế xã hội và truyền thống lịch sử của Việt Nam. Mô hình
BHYT dựa trên cơ sở đóng góp tài chính của người tham gia thường quy
định hình thức tham gia bắt buộc và tự nguyện, tuy nhiên vẫn duy trì mục
tiêu phấn đấu là đạt BHYT toàn dân trong thời gian sớm nhất có thể. Đối
tượng đóng được theo thứ tự ưu tiên là nhóm người đang tham gia quan hệ
lao động, có thu nhập ổn định để áp dụng chế độ BHYT bắt buộc, vì ưu
điểm của đối tượng này là được quản lý theo tổ chức, có thu nhập ổn định
thường xuyên và sự đóng góp được chia sẽ từ người lao động và chủ sử
dụng lao động. Đối với nhóm người thuộc đối tượng chính sách phải do
NSNN đóng, vì đó là thể hiện tính nhân văn cao cả, ghi nhận công lao đóng
góp bằng xương máu của những người đã có công với đất nước hoặc đóng
cho nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội như đối tượng bảo trợ xã hội,
người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi…, đây là nhóm đang cần được xã hội quan
tâm giúp đỡ. Còn đối với nhóm lao động tự do áp dụng quy định tự nguyện
tham gia với các mức đóng góp vừa phải, và có sự hỗ trợ cho các đối tượng
này để hướng tới thực hiện BHYT toàn dân. Đây là nét riêng biệt so với mô
hình BHYT của các nước khác, để chính sách BHYT tại Việt nam luôn luôn
hướng tới mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân.
Thứ hai, quy định về chế độ hưởng BHYT
Chế độ hưởng BHYT được kết cấu bao gồm các nội dung quy định về
đối tượng hưởng chế độ, điều kiện hưởng và các mức hưởng cụ thể theo
từng nhóm đối tượng. Việc cụ thể hóa các nội dung này trong quy định pháp
luật đã đáp ứng quyền lợi cơ bản, bao gồm các dịch vụ y tế thiết yếu. Trong
đó, quyền lợi hưởng và mức hưởng vẫn ưu tiên cho đối tượng chính sách,
người thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội. Trên cơ sở đó, tùy thuộc điều
kiện kinh tế, người dân có quyền tham gia các hình thức BHYT tự nguyện
nhằm cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn theo yêu cầu. Các chế độ
23
BHYT tự nguyện được coi như chế độ bổ sung với đối tượng tham gia, chủ
yếu là người có thu nhập cao. Trong mô hình BHYT thực hiện bằng tài
chính đóng góp thường quy định các chế độ BHYT tự nguyện và bắt buộc.
Tuy nhiên, chế độ BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện trong mô hình này
cũng có sự khác nhau nhất định. Các quốc gia đã thực hiện được BHYT toàn
dân thường thiết lập chế độ BHYT phổ quát, tương tự như mô hình BHYT
thực hiện bằng tài chính công và do đó BHYT tự nguyện chỉ đóng vai trò bổ
sung cho BHYT bắt buộc mà thôi.
Xuất phát từ mô hình BHYT, khi đề cập đến chế độ hưởng BHYT các
quốc gia đều lưu ý đến sự phối hợp quyền lợi hưởng BHYT và các dịch vụ y
tế công cộng của nhà nước tránh sự chồng chéo về quyền lợi. Hầu hết pháp
luật các quốc gia đều phân định rõ giới hạn những dịch vụ do BHYT thanh
toán và những dịch vụ y tế do nhà nước đảm bảo. Nhà nước với vai trò quản
lý xã hội trong lĩnh vực y tế thường đảm bảo các dịch vụ y tế cộng đồng như
tiêm chủng mở rộng, phòng chống các bệnh như lao, sốt rét, tâm thần phân
liệt…Trong các chế độ BHYT không chi trả các chi phí này nữa. Pháp luật
BHYT Việt Nam cũng không chi trả các dịch vụ y tế do NSNN đài thọ.
Về cơ bản, người tham gia BHYT được hưởng các dịch vụ y tế như:
chăm sóc sức khỏe ban đầu, thăm khám, điều trị đa khoa, chuyên khoa, các
dịch vụ xét nghiệm, cận lâm sàng, chi phí điều trị nội, ngoại trú. Đặc thù
quyền lợi BHYT là không được hưởng bằng tiền mà bằng các dịch vụ y tế
và không phải lúc nào cũng được hưởng mà chỉ được hưởng khi ốm đau,
bệnh tật. Không ốm đau bệnh tật không phát sinh quyền lợi về BHYT với cá
nhân, nhưng lại đảm bảo sự chia sẻ rủi ro cho người hay ốm đau, bệnh tật.
Thứ ba, quy định về quỹ BHYT
Để đảm bảo thành công của BHYT, việc tổ chức sử dụng quỹ được coi
như nòng cốt quyết định đến các hoạt động thậm chí là sự tồn tại của chế độ
24
BHYT, nhất là đối với mô hình BHYT hình thành từ sự đóng góp. Mô hình
quỹ BHYT hình thành từ nguồn tài chính công (thu nhập chung của quốc gia)
phụ thuộc nhiều vào nguồn thu quốc gia và sự phân bổ chi cho BHYT, vì vậy
tính độc lập của quỹ không cao và vai trò của nhà nước là rất lớn. Mô hình
quỹ BHYT dựa vào đóng góp (thực tế nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
theo mô hình này) nguồn tài chính chủ yếu từ sự đóng góp của người tham gia
theo tỷ lệ nhất định, nhà nước hỗ trợ cho một số đối tượng đặc biệt. Quỹ
BHYT được hạch toán độc lập với NSNN và được NSNN bảo hộ.
Luât BHYT năm 2008 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2009, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015. Điểm
đáng chú ý tại chương này là và quy định lộ trình thực hiện BHYT toàn dân.
Giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được
giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật để đáp
ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
1.2. Khái niệm, hình thức, chủ thể tổ chức thực hiện Luật BHYT
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thực hiện Luật BHYT
1.2.1.1. Khái niệm tổ chức thực hiện Luật BHYT
Tổ chức thực hiện Luật BHYT được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng tổ
chức thực hiện Luật BHYT trên khía cạnh là các cơ quan có trách nhiệm tổ
chức thực hiện luật và theo nghĩa hẹp là tổ chức thực hiện Luật BHYT được
hiểu là các hoạt động nhằm triển khai, thực hiện, đưa Luật BHYT vào cuộc
sống của nhân dân.
- Theo nghĩa rộng, tổ chức thực hiện Luật BHYT là công việc của cơ
quan tổ chức thực hiện luật: Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ là cơ
quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp pháp của Quốc hội, có
nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp
25
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ
tịch nước (Điều 96). Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên
Chính phủ, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân
công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến
ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc (Điều 99).
Chính quyền địa phương (HĐND và UBND) tổ chức và bảo đảm việc thi
hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương (Điều 112); HĐND quyết định
các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và
pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND (Điều
113);UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ
chức thực hiện nghị quyết của HĐND (Điều 114).
Đối với Ngành BHXH Việt Nam, theo Nghị định 01/2016/NĐ-CP của
Chính phủ ban hành ngày 05/01/2016, có hiệu lực kể từ ngày 20/02/2016 và
được thay thế bởi Nghị định 89/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
04/8/2020, có hiệu lực từ 20/9/2020 quy định quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, đã quy định BHXH Việt
Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ,
chính sách BHXH, BHYT, tổ chức thu chi chế độ BHTN, quản lý và sử dụng
các quỹ BHXH, BHYT, BHTN; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH,
BHYT, BHTN theo quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam được cơ cấu tổ
chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung và thống nhất từ trung ương đến
địa phương và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội về BHXH, BHTN, của Bộ Y tế về BHYT, của Bộ Tài chính về chế độ tài
chính đối với các quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Chính phủ giao BHXH Việt
Nam quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương
(tỉnh, huyện). Theo các Quyết định (Quyết định 99/QĐ-BHXH ngày
28/01/2015; Quyết định 1414/QĐ-BHXH ngày 4/10/2016 và Quyết định có
26
hiệu lực hiện nay là 969/QĐ-BHXH ngày 29/7/2019) của Tổng Giám đốc
BHXH Việt Nam, quy định BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(gọi chung là BHXH tỉnh) là cơ quan trực thuộc BHXH Việt Nam đặt tại tỉnh
có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện các
chế độ, chính sách BHXH, BHYT, tổ chức thu chi chế độ BHTN, quản lý và
sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BHTN; Thanh tra chuyên ngành việc đóng
BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và quy
định của BHXH Việt Nam. BHXH tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện
của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và chịu sử quản lý hành chính nhà nước
trên địa bàn tỉnh của UBND tỉnh.
Theo nghĩa hẹp, tổ chức thực hiện Luật BHYT là các hoạt động nhằm
triển khai, thực hiện, đưa Luật BHYT vào cuộc sống của nhân dân. Đây là các
hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, hệ thống của bộ máy, xác định những
công việc phù hợp với từng bộ phận, và giao trách nhiệm cho từng nhà quản
lý để vận hành các bộ phận hoạt động đạt hiệu quả cao nhất có thể. Công tác
tổ chức bao gồm việc thành lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận
các hoạt động cần thiết và xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hành
và trách nhiệm giữa các bộ phận đó. Mục tiêu của công tác tổ chức là tạo nên
một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được
năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào sự hoàn thành mục
tiêu chung của tổ chức
Để triển khai thực hiện Luật BHYT, Chính phủ ban hành các Nghị định;
Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tư hướng
dẫn thi hành luật BHYT; Chính quyền địa phương triển khai thực hiện qua kế
hoạch và hướng dẫn thi hành pháp luật ở địa phương mình.
Như vậy, tổ chức thực hiện Luật BHYT là một chuỗi công việc và hoạt
động, thao tác nằm trong một chỉnh thể thống nhất từ chính quyền trung ương
27
đến địa phương, bắt đầu từ ban hành các văn bản bản quy phạm pháp luật về
BHYT theo đúng thẩm quyền; tổ chức hướng dẫn thi hành Luật BHYT, tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục luật; tổ chức triển khai thực hiện, cho đến kiểm tra,
giám sát, và đánh giá, tổng kết việc tổ chức thực hiện Luật BHYT tại một địa
phương hay trong phạm vi cả nước nhằm đạt được mục tiêu xác định.
1.2.1.2. Đặc điểm tổ chức thực hiện Luật bảo hiểm y tế
Tổ chức thực hiện Luật BHYT là một quá trình hoạt động có mục đích
làm cho những quy định của pháp luật về BHYT đi vào cuộc sống, trở thành
những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, mang lại quyền và
lợi ích hợp pháp cho các bên có liên quan. Do đó, việc tổ chức thực hiện pháp
luật về BHYT có những đặc điểm cụ thể như sau:
- Đặc điểm về cơ quan tổ chức thực hiện Luật BHYT
Cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật về BHYT là những
cơ quan hành chính nhà nước, là tổ chức được thành lập và hoạt động theo
những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được
giao những quyền lực nhà nước nhất định được quy định trong các văn bản
pháp luật về BHYT để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước.
Cơ quan tổ chức thực hiện Luật BHYT được quy định cụ thể trong Luật
tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm
2015. Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang
bộ. Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định về đơn vị hành
chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành
chính từ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, thị xã và thành phố
trực thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện.
Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan quản lý hành chính nhà nước,
được thành lập từ trung ương đến địa phương để thực hiện những hoạt động
28
được tiến hành trên cơ sở luật về BHYT và để thi hành luật về BHYT; thẩm
quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở
lãnh thổ, ngành, hoặc lĩnh vực chuyên môn, đó là những quyền và nghĩa vụ pháp
lý hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành - điều hành.
- Đặc điểm của các hoạt động tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
Các hoạt động tổ chức thực hiện Luật BHYT được cụ thể hóa bằng các
hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật, đó là toàn bộ những phản ứng,
cách cư xử biểu hiện ra ngoài của mỗi người trong một hoàn cảnh cụ thể, mà
những hành vi đó phù hợp với các quy định của pháp luật. Thực hiện Luật
BHYT là hoạt động đưa các văn bản quy phạm pháp luật về BHYT có hiệu
lực thi hành vào cuộc sống, nghĩa là các quy phạm pháp luật về BHYT được
các chủ thể khác nhau thực hiện một cách hợp pháp trong cuộc sống.
1.2.2. Các giai đoạn tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
1.2.2.1. Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế
Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong đó có luật BHYT được xây
dựng hàng năm trên cơ sở đường lối, chủ chương của Đảng, chính sách của
Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu
cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân .
Trên cơ sở Luật đã được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo
lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật của Quốc hội mà Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được giao ban hành.
Danh mục văn bản quy định chi tiết do Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm nghị
định của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quyết định của Thủ tướng Chính
phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, trong đó nêu rõ tên
văn bản, cơ quan ban hành văn bản, căn cứ ban hành, nội dung chính của văn
29
bản, dự kiến thời gian ban hành .
Việc xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ được quy định chi tiết
từ Điều 84 đến Điều 96 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015.
Để triển khai, thực hiện Luật BHYT đã được Quốc hội ban hành, các cơ
quan, tổ chức cần cụ thể hóa các công việc như triển khai kế hoạch tổ chức
thực hiện bằng những công việc, những bước đi cụ thể. Tuy nhiên, có rất
nhiều quy định của Luật BHYT giao cho Chính phủ cụ thể hóa và các bộ,
ngành như Bộ Y tế, BHXH Việt Nam phải tổ chức triển khai, hướng dẫn thực
hiện. Theo đó, để triển khai Luât BHYT năm 2008, Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật BHYT 2014, ngày 17/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị
định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một
số điều của Luật BHYT, thay thế Nghị định 105/2014/NĐ-CP, và có hiệu lực
từ ngày 01/12/2018; Nghị định 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử
phát hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó tại Mục 4 có 23 điều, từ Điều 57
đến Điều 79 quy định xử phát hành chính các hành vi vi phạm pháp luật
BHYT. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành một số nghị định có liên quan
đến công tác thực hiện chính sách BHYT như Nghị định hướng dẫn thực hiện
Luật KCB, Luật Dược, Luật Đấu thầu, Luật Giá, xử phạt vi phạm hành chính
trong lãnh vực y tế và một số pháp luật liên quan khác.
1.2.2.2 Phổ biến, giáo dục về Luật Bảo hiểm y tế
Nhằm truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác
động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với
các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành.
Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, Luật BHYT nói riêng giữ vai trò
quan trọng trong hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
của đất nước. Mục đích của PBGDPL là nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức
chấp hành pháp luật, ý thức trách nhiệm đối với việc thực hiện chế độ BHYT
30
của người dân, đơn vị, tổ chức trong toàn xã hội, góp phần đưa pháp luật vào
cuộc sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, mang lại sự hạnh phúc cho người dân.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nêu rõ, công dân có quyền
được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập
pháp luật; còn nhà nước phải bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện
quyền được thông tin về pháp luật (Điều 2) và nhà nước khuyến khích và có
chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia
thực hiện PBGDPL, huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho công tác
PBGDPL (Điều 4)
Để hoạt động PBGDPL trở nên hiệu quả, gần gủi với người dân, Quốc
hội khóa 13 đã lấy ngày 09 tháng 11 hàng năm làm Ngày Pháp luật nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 8). Qua đó, ngày 09/11 hành năm,
toàn Đảng, toàn dân tổ chức thực hiện nhiều hoạt động PBGDPL. Tùy theo
mỗi lĩnh vực đặc thù, mà các tổ chức, đơn vị tổ chức những hoạt động phù
hợp với ngành nghề và địa phương của mình.
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện Luật BHYT, các
cấp, các ngành cần đẩy cần tuyên truyền tính nhân văn, ý nghĩa nhân đạo, tính
chia sẻ cộng đồng, trách nhiệm, quyền lợi khi tham gia BHYT, nhất là việc
được Quỹ BHYT thanh toán chi phí KCB theo quyền lợi và mức hưởng trong
quy định, đặc biệt là các bệnh nặng, chi phí cao và trong tình hình dịch bệnh
khó lường. Bên cạnh đó, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa
phương, các sở, ban, ngành, các cơ sở giáo dục trong chỉ đạo, tổ chức thực
hiện BHYT, đồng thời, để mọi người thấy rõ trách nhiệm tham gia BHYT là
bắt buộc theo quy định của Luật BHYT.
1.2.2.3 Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, kỹ thuật
Sau khi Quốc hội ban hành luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
31
trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm ban hành các
Nghị định, Quyết định và Thông tư hướng dẫn thi hành luật; UBND các cấp
trực tiếp tổ chức thực hiện luật. Để một đạo luật nói chung, Luật BHYT nói
riêng đi vào cuộc sống của người dân, các cơ quan chức năng mà trực tiếp là
Bộ Y tế, cơ quan BHXH sẽ thực hiện nhiều hoạt động nghiệp vụ, kỹ thuật
khác nhau, như chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện luật, lập kế hoạch, bồi dưỡng
nghiệp vụ, phân công thực hiện và tổ chức triển khai thực hiện luật.
Chỉ đạo là sự hướng dẫn đường lối, chủ trương nhất định, kế hoạch cụ
thể để tiến hành một sự việc nào đó. Thông thường thì công tác chỉ đạo của
các cơ quan quản lý nhà nước, của Bộ Y tế, của BHXH Việt Nam sẽ được thể
hiện qua công văn nói chung, đối với những sự việc khẩn cấp thì Thủ tướng
Chính phủ sẽ ban hành công điện để chỉ đạo thực hiện.
Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng quản lý, đóng vai
trò vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động
trong tương lai, mà bất kỳ nhà quản lý, nhà kế hoạch nào cũng phải thực hiện
để phổ biến, triển khai thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Để một kế hoạch mang
tính khả thi thì kế hoạch đó phải xác định được các yếu tố thứ tự như xác định
mục tiêu, yêu cầu công việc; Xác định nội dung cần thực hiện; Xác định
phương thức, cách thức tiến hành thực hiện công việc và xác định việc tổ chức
thực hiện và phân bổ nguồn lực để thực hiện công việc.
Để một chương trình, kế hoạch, chính sách được thực thi kịp thời và hiệu
quả thì không thể thiếu nghiệp vụ, kỹ thuật phân công nhiệm vụ và tổ chức
thực hiện chương trình, công việc một cách cụ thể. Phân công nhiệm vụ là
giao cho tổ chức, cá nhân nào đó trách nhiệm và quyền hạn để tổ chức thực
hiện một chương trình, công việc cụ thể. Hoạt động phân công nhiệm vụ và tổ
chức thực hiện thường được thể hiện qua các Chương trình, Kế hoạch hành
động của các tổ chức, đơn vị.
32
1.2.2.4 Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015, Giám sát
là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc
yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý (Điều 2).
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá xử lý theo trình tự,
thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với
việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ
chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra
chuyên ngành (khoản 1, Điều 3 ).
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao (khoản 2, Điều 3 ).
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc
chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy
tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó (khoản 3, Điều 3).
Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý. Thông
qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các
hoạt động để thực hiện tốt mục tiêu đã xác định. Kiểm tra là quá trình đo
lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã
được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải
pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu.
Đối với việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, cần đẩy mạnh hoạt động
thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật BHYT là nhằm mục đích
phát hiện ra những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, trong
33
quá trình thực hiện Luật BHYT, từ đó để kiến nghị với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền những biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý
những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện Luật BHYT; giúp
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật BHYT; phát
huy những nhân tố tích cực trong quá trình thực hiện Luật BHYT. Thông qua
việc tiến hành thanh tra, kiểm tra tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục,
nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, của tổ chức
và công dân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật. Phát hiện
những bất cập, vướng mắc về cơ chế, chính sách để có những kiến nghị sửa
đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHYT.
1.2.3. Chủ thể tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
1.2.3.1 Chủ thể bắt buộc trong tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
Chúng ta biết rằng, Luật BHYT được ban hành bởi Quốc hội. Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp, ban hành các
nghị định để cụ thể hóa Luật BHYT. Bộ Y tế và và cơ quan có thẩm quyền ban
hành các thông tư để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật BHYT.
Việc quy định này xuất phát từ quy định của Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, đó là tại Điều 19, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
quy định Chính phủ được phép ban hành Nghị định để quy định chi tiết, điều,
khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết
định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo,
văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ
34
công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các
vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn
đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở
lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;
Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội
nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu
cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh, tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành
nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Điều 24, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (số 80/2015/QH13)
quy định Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành Thông tư
để quy định các vấn đề chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của
Thủ tướng Chính phủ; Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của
mình .
Bên cạnh đó, Luật số 80/2015/QH13 cũng quy định rõ HĐND cấp tỉnh
được ban hành nghị quyết để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao
trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; chính sách,
biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã
hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; Biện pháp có tính chất đặc
thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (Điều
27). UBND cấp tỉnh được ban hành quyết định để quy định chi tiết điều,
khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên; biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội,
35
ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp thực hiện chức năng
quản lý nhà nước ở địa phương (Điều 28). Còn đối với HĐND huyện, xã
được ban hành nghị quyết; UBND cấp huyện, xã được ban hành quyết định để
quy định những vấn đề được luật giao (Điều 30).
Từ quy định trên chúng ta thấy chủ thể bắt buộc trong tổ chức thực hiện
luật về BHYT đó là các cơ quan hành chính nhà nước như Chính phủ, các Bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Ủy ban nhân dân các cấp và cơ
quan thuôc Ủy ban nhân dân.
1.2.3.2 Chủ thể tham gia tổ chức thực hiện luật về bảo hiểm y tế
Mọi tổ chức, cá nhân đều là chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Nhân
dân được quyền giám sát các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước,
giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước là một trong những
phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước,
bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nhân dân có thể trực tiếp thực hiện
quyền giám sát, hoặc thông qua các cơ quan đại diện của mình, thông qua các tổ
chức xã hội, mà họ là thành viên.
Trong việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, các chủ thể tham gia bên cạnh
nhưng đơn vị tổ chức cơ quan tổ chức thực hiện, đó là người lao động, người sử
dụng lao động, người đại diện tổ chức công đoàn và mọi dân tham gia BHYT.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
1.3.1. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về bảo hiểm y tế nói riêng và của
cả hệ thống pháp luật nói chung
Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ
nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các
ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo
những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Để đánh giá về một hệ thống
pháp luật, xác định mức độ hoàn thiện của nó cần phải dựa vào những tiêu
36
chuẩn được xác định về mặt lý thuyết, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn
cảnh thực tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, xem xét một cách khách quan và rút
ra những kết luận, làm sáng rõ những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống
pháp luật. Có nhiều tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ
thống pháp luật trong đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản là: Tính toàn diện, tính
đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật.
Thứ nhất, tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn
thiện của hệ thống pháp luật. Có thể nói đây là tiêu chuẩn để định lượng một
hệ thống pháp luật nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ khi nào định
lượng được mới có thể tiếp tục nghiên cứu để định tính.
Thứ hai, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện sự thống nhất của nó.
Khi xem xét mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật cần phải chú ý xem
giữa các bộ phận của hệ thống đó có trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn không.
Thứ ba, tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện sự tương quan giữa
trình độ của hệ thống pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Hệ
thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó
không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Tính phù hợp của hệ
thống pháp luật thể hiện nhiều mặt. Khi xem xét tiêu chuẩn này cần chú ý đến
các mặt và giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo
đức, tập quán, truyền thống và các quy phạm xã hội khác.
Thứ tư, trình độ kỹ thuật pháp lý. Kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng
lớn, phức tạp trong đó có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý khi xây
dựng và hoàn thiện pháp luật, gồm kỹ thuật pháp lý thể hiện ở những nguyên
tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
pháp luật; trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu
của pháp luật; cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô
đọng, lôgíc, chính xác và một nghĩa.
37
Hệ thống pháp luật càng toàn diện, mức độ hoàn thiện của pháp luật
càng cao thì giúp cho hoạt động tổ chức thực hiện luật càng hiệu quả, góp
phần mang lại lợi ích cho Nhà nước, lợi ích của các tổ chức và cá nhân.
Ngược lại, với một hệ thống pháp luật ở mức hoàn thiện thấp sẽ ảnh hưởng
tiêu cực đến quá trình tổ chức thực hiện luật, làm cho hoạt động của các tổ
chức, cá nhân bị trì trệ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá
nhân đó. Tuy nhiên, để pháp luật đi vào đời sống của người dân không chỉ đòi
hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện mà phải có sự kết hợp giữa
nhiều yếu tố với nhau.
1.3.2. Tổ chức bộ máy và nguồn lực
Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một
nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Đó là quyền
lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Đây vừa là quan điểm, vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫn chính trị .
Tổ chức bộ máy nhà nước của một quốc gia là một hệ thống các cơ quan
nhà nước có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, quan
hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Tổ chức bộ máy nhà
nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung do pháp luật
quy định, trong đó Hiến pháp là luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất.
Cơ quan tổ chức chính quyền của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được triển khai từ trung ương xuống đến địa phương. Chính phủ là
cơ quan hành chính cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp
hành của Chính phủ. Cơ quan hành chính trực thuộc Chính phủ là các tỉnh,
38
thành phố trực thuộc trung ương, dưới tỉnh là cơ quan hành chính cấp huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, dưới huyện là cơ quan hành chính cấp
xã, phường, thị trấn.
Để bộ máy và nguồn lực nhà nước được vững mạnh, công tác xây dựng
và kiện toàn bộ máy nhà nước luôn được chú trọng và phát triển trong từng
giai đoạn, với một số nội dung chủ yếu như sau:
- Đổi mới, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, để
Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có khả năng thực
hiện có kết quả cao nhất chức năng lập pháp, quyết định NSNN và thực hiện
quyền giám sát tối cao. Quốc hội phải có cơ cấu tổ chức hợp lý và đội ngũ đại
biểu Quốc hội có đủ tiêu chuẩn là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
các tầng lớp nhân dân. Đồng thời phải củng cố các HĐND, để HĐND làm
đúng chức năng nhiệm vụ luật định.
- Cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng một hệ thống cơ quan
quản lý thống nhất, thông suất, có hiệu lực và hiệu quả, đủ năng lực thực thi
các nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh và đối ngoại. Tiến hành sắp xếp tổ chức, phân định rõ chức năng,
thẩm quyền giữa các cấp, thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý ngành và quản
lý theo lãnh thổ; tăng cường công tác tổ chức và hoạt động thanh tra; kiện
toàn tổ chức chính quyền địa phương; xây dựng đội ngũ công chức có đủ
phẩm chất và năng lực hoàn thành công việc trong bộ máy nhà nước.
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp: Cải tiến tổ
chức và đổi mới hoạt động của hệ thống cơ quan tòa ấn theo hướng hai cấp
xét xử; củng cố và kiện toàn hệ thống cơ quan kiểm sát; sắp xếp lại hệ thống
cơ quan điều tra theo hướng tinh gọn, giảm bớt đầu mối; kiện toàn các tổ chức
thi hành án; củng cố các tổ chức bổ trợ tư pháp.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ
39
máy nhà nước nhằm giữ vững bản chất của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân
dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới nội
dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước, bảo đảm
chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đồng thời phát huy trách nhiệm, tính
chủ động và hiệu lực cao trong quản lý, điều hành bộ máy nhà nước.
- Tiến hành kiên quyết và thường xuyên cuộc đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng, xử lý nghiêm minh những người vi phạm pháp luật đồng thời
tăng cường công tác xây dựng pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và củng cố
kỷ luật trong nội bộ cơ quan nhà nước.
Một bộ máy nhà nước vững mạnh luôn là điều quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước, đóng vai trò chủ đạo
trong việc tổ chức thực hiện pháp luật. Một bộ máy nhà nước tinh gọn, được
tổ chức khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động tổ
chức thực hiện pháp luật, mang lại lợi ích cho nhà nước, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của người dân. Ngược lại, với một bộ máy nhà nước cồng
kềnh, hoạt động kém hiệu quả sẽ làm cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội trở
nên chậm chạp, lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân sẽ bị ảnh hưởng.
1.3.3. Ý thức pháp luật của các bên tham gia
Ý thức pháp luật là nhân tố không thể thiếu trong đời sống pháp luật của
xã hội ở tất cả các giai đoạn phát triển của nó, nhất là từ khi xuất hiện nhà
nước pháp quyền. Ý thức pháp luật có vai trò quan trọng trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; đồng thời quyết định hiệu quả của
việc thực hiện pháp luật, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống.
Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng thể những học thuyết, tư
tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thể
hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua
và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không
40
hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt
động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội.
Căn cứ vào chủ thể của ý thức pháp luật, ý thức pháp luật có thể được
chia thành ba loại là ý thức pháp luật xã hội, ý thức pháp luật nhóm và ý thức
pháp luật của cá nhân.
- Ý thức pháp luật xã hội là ý thức của bộ phận tiên tiến đại diện cho xã
hội, nó chứa đựng những tư tưởng, quan điểm khoa học về những vấn đề cơ
bản nhất của pháp luật. Vì nó tiến bộ và có cơ sở khoa học nên ý thức pháp
luật xã hội được chính thức hóa trong toàn xã hội.
- Ý thức pháp luật nhóm chỉ phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tình
cảm của một nhóm xã hội nhất định về pháp luật. Y thức pháp luật nhóm có
phạm vi tác động nhỏ hơn so với ý thức pháp luật xã hội.
- Ý thức pháp luật của cá nhân phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tâm
lí, tình cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và đối với pháp luật. Trình độ ý
thức pháp luật của cá nhân thường thấp hơn ý thức pháp luật xã hội. Vì vậy,
vấn đề đặt ra là phải không ngừng đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật để
những ý thức pháp luật của cá nhân lên ngang tầm ý thức pháp luật của xã hội.
Một xã hội với ý thức pháp luật càng cao thì xã hội đó càng phát triển.
Khi mọi người đều tôn trọng pháp luật, được thể hiện qua hành vi đúng đắn,
tuân theo những quy định của pháp luật. Với ý thức pháp luật cao thì việc
thực hiện pháp luật cũng như áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng và mang lại
hiệu lực, hiệu quả trong mọi hoạt động. Đối với một xã hội với ý thức pháp
luật thấp thì tất yếu xã hội đó sẽ chậm tiến bộ.
1.3.4. Sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện Luật
Kiểm soát vừa là một quá trình kiểm tra các chỉ tiêu, vừa là việc theo dõi
các ứng xử của đối tượng. Kiểm soát không chỉ dành cho những hoạt động đã
xảy ra và đã kết thúc, mà còn là sự kiểm soát đối với những hoạt động đang
41
xảy ra và sắp xảy ra. Trong quá trình kiểm soát có 02 yếu tố luôn tham gia
vào kiểm soát và ảnh hưởng đến hiệu quả của kiểm soát, đó là nhận thức và
phản ứng của người kiểm soát và đối tượng kiểm soát.
Kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện luật là toàn bộ những hoạt động
xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp mà thông qua đó có thể ngăn
ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của cơ quan, nhân viên
nhà nước trong việc tổ chức thực hiện luật, bảo đảm cho việc tổ chức thực
hiện luật là đúng mục đích và đạt được hiệu quả cao nhất có thể.
Điều này cho thấy, khi hoạt động kiểm soát được thực hiện chặt chẽ và
có sự phối hợp giữa các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan sẽ giúp cho việc
thực thi pháp luật ngày càng tốt hơn, khắc phục được những sai phạm của các
chủ thể tham gia, đưa ra được những giải pháp đáp ứng được yêu cầu phát
triển của xã hội, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đảm
bảo sự phát triển của xã hội. Ngược lại, khi hoạt động kiểm soát tổ chức thực
hiện luật không được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên thì có thể dẫn đến việc
thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật không được công minh làm ảnh hưởng
đến lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân.
1.3.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội .
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi đất nước hoặc mỗi lãnh thổ
đều có tác động đến các lĩnh vực tổ chức triển khai các chính sách của cơ
quan nhà nước đến cho mọi người dân sinh sống và lao động trên địa. Đặc
biệt, nó ảnh hưởng rất lớn đối việc triển khai và tổ chức thực hiện đối với các
chính sách an sinh xã hội, trong đó có chính sách BHYT.
Một yếu tố cấu thành rất quan trọng trong nguồn lực để thực hiện Luật
BHYT, đó là nguồn quỹ BHYT. Như quan điểm hình thành chính sách BHYT
của các quốc gia trên thế giới, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), quỹ BHYT
được thiết lập trên cơ sở đóng góp tài chính của người tham gia. Khái niệm
42
Quỹ BHYT ở nước ta đã được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 2 Chương I
Luật BHYT số 25/2008/QH12, theo đó “Quỹ BHYT là Quỹ tài chính được
hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử
dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT, chi
phí quản lý bộ máy của tổ chức BHYT và những khoản chi phí hợp pháp khác
liên quan đến BHYT”. Để đảm bảo thành công của BHYT, việc tổ chức vận
động các nhóm đối tượng tích cực tham gia và đóng tiền theo quy định của
pháp luật để được thụ hưởng chế độ BHYT là bước đầu tiên vô cùng quan
trọng. Vì mô hình BHYT ở nước ta là mô hình BHYT hình thành từ sự đóng
góp, nên trước hết, nguồn NSNN phải được đảm bảo để đóng cho các đối
tượng được NSNN đóng, hỗ trợ đóng, Phần đóng của chủ sử dụng lao động,
người lao động và người dân. Như vậy, quỹ BHYT phụ thuộc hoàn toàn vào
nguồn thu quốc gia, của địa phương và của người dân, phụ thuộc vào nền phát
triển kinh tế và điều kiện tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế ở từng lãnh
thổ, khu vực. Bên cạnh đó, trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của người
dân cũng có tác động rất lớn đến ý thức chấp hành pháp luật, biết rõ quyền và
nghĩa vụ của mỗi công dân trong việc tham gia BHYT. Tóm lại, nếu điều kiện
tự nhiên thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội với ý thức pháp luật càng cao
thì xã hội đó càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi trong việc triển khai các
chính sách pháp luật nói chung và chính sách BHYT nói riêng. Nếu địa
phương có điều kiện tự nhiên khó khăn, kinh tế chậm phát triển, nhận thức
còn hạn chế sẽ vô cùng khó khăn trong việc vận động tham gia BHYT.
43
Tiểu kết Chương 1
Tại chương 1, luận văn đã trình bày sự ra đời tất yếu khách quan của
chính sách BHYT; khái niệm, vai trò BHYT; khái niệm, đặc điểm tổ chức
thực hiện luật, các mục đích, yêu cầu và nguyên tắc tổ chức thực hiện luật;
nghiên cứu này cũng đã xác định quản lý nhà nước về bảo hiểm tế, giới thiệu
được các chủ thể bắt buộc và chủ thể tham tra trong tổ chức thực hiện luật;
nghiên cứu này cũng đã trình bày được quá trình ban hành các văn bản hướng
dẫn thi hành luật, công tác PBGDPL, các nghiệp vụ, kỹ thuật, hoạt động giám
sát, kiểm tra, thanh tra việc tổ chức thực hiện luật. Đồng thời, nghiên cứu này
cũng đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Luật
BHYT, cụ thể là mức độ hoàn thiện pháp luật về BHYT và các luật có liên
quan; tổ chức bộ máy và nguồn lực thực hiện; ý thức pháp luật của các bên
liên quan thực hiện và sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện luật. Đây là cơ
sở lý luận để khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y
tế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian qua.
44
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội
của tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội
Tỉnh Thừa Thiên Huế là một tỉnh Bắc miền Trung, Phía Bắc giáp tỉnh
Quảng Trị, phía Nam giáp tỉnh Quãng Nam và Thành phố Đà Nẳng, phía Tây
giáp nước bạn Lào, phía Đông giáp Biển Đông; có 9 đơn vị hành chính gồm:
Thành phố Huế, thị xã Hương Thủy, thị xã Hương Trà và 6 huyện bao gồm:
Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đông; có tổng
số đơn vị cấp xã là 145 xã, phường, thị trấn.
Theo kết quả cuộc tổng điều tra năm 2019, Tỉnh Thừa Thiên Huế có
305.905 hộ với dân số là 1.128.620 người; dân số nam 558.488 người (chiếm
49,5%); dân số nữ 570.132 người (chiếm 50,5%); dân số khu vực thành thị
558.531 người; khu vực nông thôn 570.089 người, tổng số lao động từ 15 tuổi
trở lên 620.957 người (trong đó lao động nữ 298.108 người), tỷ lệ Hộ nghèo
4,7%. Mật độ dân số 224 người/km2 , bằng 77,2% so với mật độ dân số bình
quân cả nước. Trên địa bàn tỉnh có 35 dân tộc thiểu số sinh sống, đông nhất là
dân tộc Kinh có 1.006.171 người, chiếm 96,29% dân số. Các dân tộc thiểu số
như dân tộc Tà Ôi có 24.465 người, chiếm 2,34%; Dân tộc Cơ Tu có 12.178
người, chiếm 1,17%; dân tộc Bru-Vân Kiều có 783 người, chiếm 0,075%; dân
tộc Hoa có 390 người, chiếm 0,037%; và một số dân tộc khác như dân tộc
Tày, dân tộc Ngái, dân tộc Mường …
Theo báo cáo của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, tình hình kinh tế xã hội
vào năm 2019 có một số chỉ tiêu đạt được như tốc độ tăng tổng sản phẩm
trong tỉnh (GRDP) đạt 7,18%/năm, tổng thu nhập bình quân đầu người đạt
45
2.010 USD, tổng thu ngân sách đạt xấp xỉ 8.355 tỷ đồng, cơ cấu GRDP của
tỉnh gồm các ngành dịch vụ chiếm 55,7%, Công nghiệp xây dựng chiếm
34,7%, nông nghiệp chiếm 9,6%, tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt cao
98%, Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch 85%
Thừa Thiên Huế có vị trí rất thuận lợi về địa lý - kinh tế, là đầu mối giao
thông nằm ở giữa hai đầu đất nước, nằm trên trục giao thông quan trọng
xuyên Bắc-Nam có vị trí quan trọng - điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch
chính của hành lang kinh tế Đông - Tây, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất
nước ta. Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ Chí Minh
1.080 km. Bờ biển của tỉnh dài hơn 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân
Mây với độ sâu 18 - 20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất
lớn, có cảng hàng không quốc tế Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và
đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh, có Cảng nước sâu Chân Mây. Thừa
Thiên Huế là một vùng đất có nhiều nguồn lực và tiềm năng lợi thế về di sản
văn hoá gắn với kinh tế biển và đầm phá, đã và đang thu hút đầu tư phát triển
kinh tế, du lịch và đang từng bước khẳng định Thừa Thiên Huế là một trung
tâm văn hóa du lịch trọng điểm của cả nước, xứng đáng là thành phố Festival
đặc trưng của Việt Nam và thành phố văn hóa ASEAN. Đây là điều kiện rất
thuận lợi để Thừa Thiên Huế mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao
thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch.
Tuy nhiên, do nằm ở vị trị hẹp của đạt nước, có độ dốc lớn, khí hậu khắc
nghiệt, là nơi chịu nhiều thiên tai bảo lụt hằng năm nên tác động rất lớn đối
với nền sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế của địa phương.
Thừa Thiên Huế được xác định là một trong những vùng trung tâm y tế
chuyên sâu của cả nước. Trên địa bàn có hệ thống y tế từ tuyến trung ương
đến y tế cơ sở, hệ thống cơ sở KCB BHYT bao gồm 212 cơ sở và được bao
46
phủ 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn, các phòng khám, các bệnh viện đa
khoa, chuyên khoa tuyến huyện, tỉnh, bình quân có 44 y, bác sỹ/1 vạn
dân. Đặc biệt, có Bệnh viện Trung ương Huế là bệnh viện hạng đặc biệt,
tuyến trung ương và các bệnh viện trực thuộc các bộ ngành với trình độ
chuyên môn y tế chuyên sâu, hiện đại và có hệ thống y tế tư nhân bao gồm
bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và các phòng khám đa khoa).
2.1.2 Tác động của điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội đối với
việc triển khai Pháp luật về BHYT.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế
bên cạnh có nhiều thuận lợi thuận lợi, cũng có khó khăn trong việc phát triển
kinh tế xã hội. Tổng sản phẩm trong tỉnh gia tăng hằng năm, cơ cấu kinh tế
chuyển biến theo hướng tích cực, có thế mạnh trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt
Thừa Thiến Huế với hệ thống vị trí trung tâm, văn hóa, mạnh về phát triển
kinh tế mũi nhọn du lịch của cả nước, là trung tâm giáo dục và đào tạo của
khu vực miền trung, nên đã tạo việc làm ổn định cho mọi người dân, đời sống
vật chất và tinh thần, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng
được nâng lên. Các yếu tố này đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi trong việc
vận động người dân tham gia BHYT trong địa bàn tỉnh.
Đồng thời, tại Thừa Thiên Huế có một hệ thống KCB BHYT từ tuyến
trung ương đến tuyến y tế cơ sở, trong đó có Bệnh viện Trung ương Huế là 1
trong 5 bệnh viện hạng đặc biệt của cả nước, đảm bảo cung ứng đầy đủ các
dịch vụ y tế chất lượng cao, hiện đại, tiên tiến, tiếp nhận và điều trị thành
công nhiều trường hợp bệnh lý phức tạp, nặng của cả khu vực miền Trung và
Tây nguyên. Hệ thống các bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện đa khoa tuyến
huyện, tuyến tỉnh và 100% mạng lưới y tế các trạm và phòng khám đều được
tổ chức KCB BHYT nên công tác tổ chức KCB cho người tham gia BHYT vô
cùng thuận lợi cho mọi đối tượng, đảm bảo quyền lợi đầy đủ cho người tham
47
gia khi KCB BHYT.
Tuy nhiên, do địa hình một số địa phương còn khó khăn, đặc biệt các
huyện miền núi, vùng bãi ngang, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và
đặc biệt khó khăn còn nhiều, vùng có đông người dân tộc thiểu số cũng ảnh
hưởng khó khăn đến việc triển khai pháp luật về BHYT.
Thừa Thiên Huế chịu tác hại rất lớn do thiên tai bảo lụt hằng năm, đã
làm thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế tỉnh nhà, thiệt hại cơ sở vật chất lẫn con
người, giảm nguồn thu nhập cho người dân nên ảnh hưởng rất lớn đến việc
triển khai chính sách BHYT.
Với nền phát triển các ngành công nghiệp vẫn còn hạn chế, Thừa Thiên
Huế là tỉnh có cơ cấu kinh tế chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp,
các doanh nghiệp trong tỉnh phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, sử dụng ít lao động; nhiều doanh nghiệp hoạt
động mang tính cầm chừng nên khó phát triển lao động, tổng thu nhập bình
quân đầu người chỉ đạt 2.010 USD mỗi năm, nguồn thu ngân sách còn thấp,
vẫn còn là địa phương phải cân đối thêm sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách trung
ương nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai chính sách BHYT.
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên Huế hiện nay
Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập theo Quyết định
số: 10 QĐ/TCCB ngày 15/6/1995 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam trên
cơ sở thống nhất các tổ chức Bảo hiểm xã hội thuộc Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động tỉnh. Tháng 01/2003, tiếp nhận tổ chức
bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế chuyển sang.
Từ đây, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện toàn diện chính sách
BHXH, BHYT cho nhân dân và người lao động trên địa bàn tỉnh.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế là cơ quan trực thuộc BHXH Việt
48
Nam đặt tại tỉnh, có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức
thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm
thất nghiệp (BHTN); quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHYT, BHTN;
thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tỉnh
theo quy định của pháp luật và quy định của BHXH Việt Nam. BHXH tỉnh
Thừa Thiên Huế thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Quyết định số
969/QĐ-BHXH ngày 29/7/2019 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa
phương. BHXH tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Tổng Giám
đốc BHXH Việt Nam và chịu sử quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn
tỉnh của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
Hiện nay, BHXH tỉnh có 09 phòng nghiệp vụ, gồm: Phòng Chế độ
BHXH, Phòng Giám định BHYT, Phòng Quản lý thu, Phòng Truyền thông và
Phát triển đối tượng, Phòng Cấp sổ, thẻ, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế
hoạch - Tài chính, Phòng Thanh tra - Kiểm tra, Phòng Công nghệ thông tin và
Văn phòng. Có 08 đơn vị BHXH cấp huyện trực thuộc BHXH tỉnh, gồm 06
đơn vị BHXH huyện, 02 đơn vị BHXH thị xã). Tổng số công chức, viên chức,
nhân viên có 245 người.
Những ngày đầu BHXH tỉnh mới được thành lập, cơ sở vật chất, trang
thiết bị phục vụ rất thiếu thốn, đội ngũ làm công tác BHXH còn hạn chế về số
lượng và chưa chuyên sâu về nghiệp vụ; đại bộ phận nhân dân, đơn vị sử
dụng lao động và người lao động chưa hiểu rõ về chính sách BHXH, BHYT,
về việc thu nộp, những quy định về giải quyết chế độ theo quy định mới. Tuy
nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ sự lãnh đạo toàn diện của BHXH Việt
Nam; sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thừa
Thiên Huế; sự phối hợp, hỗ trợ đầy trách nhiệm của các sở, ban, ngành, đoàn
thể; sự ủng hộ, đồng tình của các đơn vị sử dụng lao động, người lao động và
49
nhân dân trên địa bàn đã giúp BHXH tỉnh vượt qua những thách thức, khó
khăn ban đầu và vững tin thực hiện xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong
những năm tiếp theo.
Quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT thời gian
qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm hoàn thành vượt
mức kế hoạch được giao hàng năm, toàn thể công chức, viên chức, nhân viên
thuộc BHXH tỉnh đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện
các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn với kết quả cao nhất, đưa chính sách
BHXH, BHYT, BHTN vào cuộc sống.
2.2.1. Kết quả đạt được
2.2.1.1. Ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
và các văn bản pháp luật có liên quan trên địa bàn
Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tại địa phương, dưới sự
tham mưu của cơ quan có liên quan và BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế, cấp ủy,
chính quyền địa phương cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn tổ chức
thực hiện kịp thời, đảm bảo việc thực hiện chính sách pháp luật về BHYT
ngày càng có hiệu quả, cụ thể như:
Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã ban hành Chỉ thị 25-CT/TU ngày 05/4/2018
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện các chính sách
BHXH, BHYT trong tình hình mới; Kế hoạch 43-KH/TU ngày 26/3/2013 xác
định mục tiêu, nghiệm vụ và các giải pháp thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW
của Bộ Chính trị, Công văn số 387-CV/TU, ngày 11/11/2016 về tiếp tục tăng
cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết 21. Tổ chức sơ
kết 5 năm và tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày
22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác BHXH, BHYT; tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 38-CT/TW của
Ban Bí thư (khóa X) về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới.
50
HĐND tỉnh đã đưa các mục tiêu, chỉ tiêu về BHYT vào Nghị quyết phát
triển kinh tế - xã hội hàng năm của HĐND tỉnh để cụ thể hoá Nghị quyết 21
và Kế hoạch 43; UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo triển khai
thực hiện như đã ban hành Công văn số 3116/UBND-YT, ngày 29/6/2013 chỉ
đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố cụ thể
hóa các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 21 và Kế
hoạch 43 đã đề ra; Kế hoạch 17/KH-UBND, ngày 03/01/2015 về triển khai thi
hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT; Quyết định 364/QĐ-
UBND, ngày 13/02/2015 thành lập Ban Thường trực và Tổ giúp việc giúp
Ban Thường trực tổ chức triển khai thi hành và giải quyết các vướng mắc
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT; Kế hoạch 136/KH-
UBND, ngày 11/12/2015 về thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai
đoạn 2015 - 2020; Kế hoạch 162/KH-UBND, ngày 10/11/2016 về triển khai
thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỉ thị 21/CT-UBND, ngày 02/10/2017 về việc tuyên
truyền, mở rộng độ bao phủ BHYT và công tác quản lý quỹ KCB BHYT; Chỉ
thị 04/CT-UBND ngày 31/01/2020 về việc tăng cường quản lý và thực hiện
các giải pháp thu, chi BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh … và nhiều văn bản
khác nhằm thực hiện có hiệu quả công tác BHYT trên địa bàn tỉnh.
Căn cứ hướng dẫn của cấp trên, HĐND, UBND các huyện, thị xã và
thành phố Huế đã ban hành kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực
hiện Nghị quyết 21 và Kế hoạch 43. Đồng thời, đưa các mục tiêu, chỉ tiêu cụ
thể về công tác BHXH, BHYT vào nghị quyết đại hội đảng các cấp, các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trên cơ sở chỉ đạo của BHXH Việt Nam, Tỉnh ủy và UBND tỉnh,
BHXH Thừa Thiên Huế đã phối hợp chặt chẽ với các sở ban ngành có liên
quan như Sở Y tế, Tài chính, Lao động – Thương binh và Xã hội, Giáo dục và
51
Đào tạo, Đại học Huế, Thanh tra tỉnh... hằng năm, đã kịp thời xây dựng kế
hoạch, ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, điều hành, quản lý, thanh
tra, kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến công tác triển
khai Luật BHYT trên địa bàn tỉnh. Quá trình tổ chức triển khai thực hiện
BHYT tại địa phương theo các quy định và hướng dẫn tại các văn bản pháp
luật nói trên, nhìn chung đã diễn ra đồng bộ, kịp thời đã khẳng định tính ưu
việt của Luật BHYT. Các bên liên quan đến BHYT trong đó có cơ quan
BHXH, cơ sở KCB đã cố gắng thực hiện đầy đủ các quy định của Luật, đảm
bảo quyền lợi của người tham gia BHYT. BHXH tỉnh đã ban hành văn bản số
226/CTr –BHXH ngày 26/4/2013 Chương trình hành động của BHXH tỉnh
Thừa Thiên Huế về thực hiện Nghị quyết 21 và hằng năm đã xây dựng các
chương trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương trong lĩnh vực của đơn
vị, tập trung các nhiệm vụ chủ yếu như: Tăng cường công tác tuyên tuyền,
phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT, BHTN; tích cực
tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH,
BHYT, BHTN; đẩy mạnh việc phát triển đối tượng, thu đầy đủ, kịp thời, khắc
phục tình trạng nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN; tăng cường quản lý và giải
quyết tốt các chế độ BHXH, BHYT, BHTN; kiểm soát chặt chẽ chi phí KCB,
chống lạm dụng, trục lợi, sử dụng an toàn, hiệu quả quỹ BHYT, đảm bảo
quyền lợi cho người tham gia BHYT; quản lý tài chính chặt chẽ, hiệu quả;
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện các hoạt
động nghiệp vụ; không ngừng kiện toàn tổ chức bộ máy và công tác cán bộ
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tiếp tục đẩy mạnh cải cách
thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân; thực hiện có hiệu
quả công tác phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
2.2.1.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bảo hiểm y tế
52
Thời gian qua, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế chú trọng đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật BHYT đã đa dạng về
hình thức, đặc biệt chú trọng tuyên tuyền trực tiếp về tận cơ sở xã, phường,
tới từng nhóm đối tượng; đã chủ động phối hợp với các Sở, ban, ngành, đoàn
thể tổ chức nhiều chương trình tuyên truyền, phổ biến Luật BHYT, giúp cho
người lao động nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và những quy định mới về
BHYT, BHXH; đã kết hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh để tổ
chức nhiều chương trình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật BHYT
trên địa bàn. Hoạt động tuyên truyền được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cấp
cơ sở với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với từng giai đoạn,
từng nhóm đối tượng, vùng miền…. Kết hợp hài hòa giữa các hình thức tuyên
truyền truyền thống như tuyên truyền trực quan thông qua các ấn phẩm tuyên
truyền pano, khẩu hiệu, áp phích, tranh cổ động, tờ rơi, tờ gấp, sách cẩm
nang… với nội dung phong phú, phù hợp với điều kiện của địa phương. Đồng
thời, chủ động thực hiện các hình thức tuyên truyền, truyền thông nhân dịp kỷ
niệm các sự kiện và ngày lễ của dân tộc và quê hương. Đồng thời, BHXH tỉnh
đã chú trọng tăng cường hình thức tuyên truyền trực tiếp qua các buổi hội
nghị, hội thảo, tọa đàm, đối thoại trực tiếp với người lao động, người dân;
tuyên truyền qua các ấn phẩm… với các hình thức thông tin, truyền thông
hiện đại, đa phương tiện trên các ứng dụng internet, sản xuất các clip, video,
tiểu phẩm, phim ngắn, các chương trình, gameshow truyền hình thực tế như
"Chuyến xe buýt kỳ thú","Người nông dân hiện đại"…; tuyên truyền, tư vấn,
giải đáp chế độ, chính sách trên Cổng Thông tin điện tử BHXH tỉnh… đang
ngày càng thu hút sự quan tâm của đông đảo của người lao động và Nhân dân
với hàng trăm ngàn lượt truy cập.
Kết quả cụ thể tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục Luật BHYT tại Thừa Thiên Huế đó là: Phối hợp với Trung tâm Truyền
53
hình Việt Nam tại Huế (VTV 8) thực hiện hơn 20 phóng sự và tổ chức hơn 10
gameshow “Chuyến xe buýt kỳ thú”; “Người nông dân hiện đại”, thực hiện
chuyên mục tuyên truyền về Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
BHYT; tổ chức nhiều buổi đối thoại trực tiếp trên sóng truyền hình với người
dân để trao đổi, giái đáp các thắc mắc của người dân trong chính sách BHYT,
xây dựng hơn 10 phóng sự về công tác KCB của bệnh nhân BHYT và quyền
lợi được hưởng tại các bệnh viện. Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình
Thừa Thiên Huế xây dựng nhiều phóng sự về công tác nợ BHXH, BHYT,
BHTN, 3 cuộc đối thoại trực tiếp về chính sách BHYT trên sóng phát thanh,
các phóng sự tuyên truyền về BHYT HSSV tại các mỗi dịp chuẩn bị bước
vào năm học mới. BHXH tỉnh hợp đồng với Đài Phát thanh - Truyền hình
Thừa Thiên Huế thực hiện các chuyên mục cổ động cao điểm tuyên truyền về
Ngày BHYT Việt Nam 01/7, tuyên truyền về BHYT HSSV mỗi dịp chuẩn bị
bước vào năm học mới; Phối hợp thực hiện chuyên mục phát thanh truyền
thanh “Tiến tới BHYT toàn dân” phát sóng trên sóng phát thanh Đài P Phát
thanh - Truyền hình Thừa Thiên Huế và đài phát thanh tại các huyện, loa
truyền thanh của các xã phường, thị trấn. Các chuyên mục, phóng sự đã góp
phần lan tỏa, thu hút sự theo dõi của đông đảo khán giả, qua đó chuyển tải sâu
rộng các nội dung, điểm mới về chính sách BHYT và kết quả thực hiện chế
độ, chính sách BHYT cho người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh;
đãbBiên tập và phát hành 15.000 bìa đựng hồ sơ dạng cặp trình ký có nội
dung tuyên truyền về chế độ, chính sách BHXH, BHYT để tuyên truyền. In
và phát hành hơn 500.000 các loại tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền những nội dung
chủ yếu về BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình, BHXH cho người lao động
trong các doanh nghiệp và BHYT học sinh sinh viên, cơ quan BHXH các
huyện, thị xã, thành phố và các phòng nghiệp vụ, hệ thống đại lý BHYT đã
chuyển đến mọi đối tượng nhằm tăng cường chất lượng truyền thông.
54
Phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh, Sở Lao động Thương binh và Xã
hội tỉnh tổ chức hơn 20 Hội nghị phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ,
công chức, viên chức, lao động tại các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn
tỉnh. Phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh tổ chức gần 30 hội nghị tập huấn
chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT và Công đoàn cho trên 2.000 đối
tượng là đại diện chủ sử dụng lao động, người lao động và cán bộ phụ trách
công đoàn tại các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Tỉnh
đoàn tổ chức gần 10 Hội nghị tập huấn chính sách BHXH, BHYT cho cán bộ
đoàn cơ sở.
Phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức 03 hội nghị
tập huấn tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT cho đội ngũ
cán bộ làm công tác mặt trận các cấp; Phối hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ
chức 05 hội nghị tuyên truyền, vận động hội viên Hội Nông dân tham gia
BHXH, BHYT cho đối tượng là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Nông dân của
152 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh; Phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ
tỉnh tổ chức 02 hội nghị tuyên truyền về BHXH, BHYT cho 120 đại biểu là
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ các xã, phường, thị trấn
Tổ chức tuyên truyền, tập huấn, đào tạo cho 152 Đại lý thu BHXH,
BHYT xã, phường, thị trấn và các Đại lý thu Bưu điện, Công ty Bảo hiểm dầu
khi tại Thừa Thiên Huế (PVI), Viettel với hơn 1.000 nhân viên Đại lý thu
rộng khắp toàn tỉnh. Tổ chức Hội nghị tập huấn kỹ năng truyền thông cho
Lãnh đạo và viên chức kiêm nhiệm công tác truyền thông tại các phòng
nghiệp vụ BHXH tỉnh và BHXH các huyện, thị xã, thành phố. Qua đó, cũng
cố đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền để nâng cao hiệu quả công tác
truyền thông về BHXH, BHYT.
55
2.2.1.3. Tình hình tham gia và giải quyết chế độ BHYT tại Thừa Thiên Huế
Ngay từ khi Luật BHYT có hiệu lực thi hành, BHXH tỉnh đã tập trung
phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương triển khai nhiều giải pháp
quyết liệt trên, tăng cường vận động tuyên truyền người trong diện tham gia
BHYT theo quy định.
Trong những năm qua, công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT của
tỉnh luôn có chiều hướng gia tăng hàng năm. Tỷ lệ bao phủ BHYT so với dân
số toàn tỉnh luôn vượt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số
1584/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 và được thay thế bằng Quyết định số
1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016 và vượt chỉ tiêu do BHXH Việt Nam giao cho,
cụ thể là:
Năm 2015, số đối tượng tham gia BHYT là 1.025.653 người, đạt tỷ lệ
bao phủ 89,69% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 80,5%; Số thu BHYT
hơn 706 triệu đồng.
Năm 2016, số đối tượng tham gia BHYT là 1.096.949 người, đạt tỷ lệ
bao phủ 95,40% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 89 %; Số thu BHYT
hơn 743 triệu đồng.
Năm 2017, số đối tượng tham gia BHYT là 1.111.245 người, đạt tỷ lệ
bao phủ 96,27% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 89,5%; Số thu BHYT
hơn 996 triệu đồng.
Năm 2018, số đối tượng tham gia BHYT là 1.146.955 người, đạt tỷ lệ
bao phủ 98,57% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 89,8%; Số thu BHYT
hơn 1.049 triệu đồng.
Năm 2019, số đối tượng tham gia BHYT là 1.149.385 người, đạt tỷ lệ
bao phủ 98,68.% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 90,2%; Số thu
BHYT hơn 1.102 triệu đồng.
56
9 tháng đầu năm 2020, số đối tượng tham gia BHYT là 1.147.663 người,
đạt tỷ lệ bao phủ 98,92.% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 90,2%; Số
thu BHYT hơn 768 triệu đồng.
(Số liệu các năm có đính kèm tại Phụ lục 1,2 và 3)
BHXH tỉnh đã ký kết hợp đồng, tạm ứng và quyết toán chi phí KCB
BHYT với 43 đơn vị KCB BHYT công lập và ngoài công lập với 205 đơn vị
có tổ chức triển khai KCB BHYT (bao gồm các trạm y tế xã phường, các
phòng khám đa khoa trực thuộc) phủ kín toàn tỉnh. Số lượt KCB nội trú,
ngoại trú và chi phí KCB BHYT gia tăng hằng năm. Cơ bản quyền lợi của tất
cả các bệnh nhân KCB BHYT đều được đảm bảo theo đúng quy định của
pháp luật. nhiều trường hợp bệnh lý nan y, phức tạp, nặng, ghép tạng, nhiều
dịch vụ kỹ thuật tiên tiến hiện đại đã được áp dụng trong điều trị…. đã được
chữa khỏi bệnh. Hàng trăm lượt chi phí được hưởng từ nguồn quỹ BHYT
hằng trăm triệu đồng.
(Số liệu các năm có đính kèm tại Phụ lục 4,5 và 6)
2.2.1.4. Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật BHYT
Bảo hiểm xã hội tỉnh rất chú trọng đối với công tác giám sát, thanh tra,
kiểm tra, xây dựng kế hoạch, cử 30 công chức, viên chức quản lý trong đơn vị
tham gia các buổi tập huận, đào tạo, cấp chứng chỉ thanh tra đóng BHXH,
BHYT đồng thời tập huấn nghiệp vụ cho toàn thể cán bộ viên chức trong đơn
vị về các nội dung, nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra.
Hằng năm, BHXH tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch thanh tra - kiểm
tra việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN của ngành BHXH tỉnh
đồng thời chủ động tích cực phối hợp với các Sở, ngành liên quan: Sở Y tế,
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra tỉnh, Liên đoàn lao động
tỉnh, Cục thuế tỉnh xây dựng kế hoạch liên ngành và tổ chức thanh, kiểm tra
các đơn vị, doanh nghiệp trong việc thực hiện chính sách BHYT, đặc biệt là
57
các đơn vị nợ đọng, trốn đóng BHYT. Phối hợp với Cục Thuế tỉnh trao đổi số
liệu, thông tin về các đơn vị, doanh nghiệp có đăng ký mã số thuế để có căn
cứ quản lý mức đóng, số người đóng BHYT. Kiên quyết xử lý đối với các tổ
chức, cá nhân có hành vi vi phạm, chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an để
điều tra, khởi tố theo quy định của Bộ luật Hình sự đối với đơn vị vi phạm
theo quy định của pháp luật.
Chỉ tính riêng trong 5 năm, từ 2015 đến 2019, BHXH tỉnh đã thực hiện
và phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra tại 1.543 đơn vị. Trong đó: thanh tra
chuyên ngành đóng BHXH, BHYT, BHTN 530 đơn vị, kiểm tra 825 đơn vị.
Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức thanh tra liên ngành 56 đơn vị;
kiểm tra liên ngành 132 đơn vị.
Qua công tác thanh tra, kiểm tra đã thu hồi được 60,7 tỷ đồng tiền nợ
BHXH, BHYT, BHTN (tỷ lệ thu hồi nợ đạt 85%); thu hồi chi phí KCB
BHYT do thanh toán không đúng quy định gần 2,6 tỷ đồng. BHXH tỉnh Thừa
Thiên Huế đã xử phạt và tham mưu UBND tỉnh xử phạt vi phạm hành chính
đối với 23 đơn vị với số tiền 1.815,6 tỷ đồng. Đặc biệt, sau các cuộc thanh tra,
việc chấp hành các quy định pháp luật tại các đơn vị được thanh tra, kiểm tra
đã có nhiều chuyển biến tích cực.
2.2.2. Những tồn tại và hạn chế
2.2.2.1 Tồn tại hạn chế trong quá trình triển khai tại địa phương
Mặc dù đã có các Nghị quyết, chỉ thị kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh,
tuy nhiên vẫn còn một số nơi, cấp ủy đảng, chính quyền và một số ban ngành,
cá nhân, đặc biệt người đứng đầu vẫn chưa nhận thức về vai trò, ý nghĩa và tầm
quan trọng của BHYT, chưa thật sự coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan
trọng cần tập trung chỉ đạo; Một số cơ quan, ban ngành chưa tích cực phối hợp
với cơ quan BHXH để thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, coi công tác
tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT là nhiệm vụ riêng của ngành BHXH.
58
Chính là do chưa quy định trách nhiệm, xem xét việc hoàn thành nhiệm vụ của
tổ chức đảng, chính quyền đoàn thể một cách cụ thể, kiên quyết.
Công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT tuy hàng năm đều gia tăng
và đạt kế hoạch được giao, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, tỷ lệ người lao động
tham gia BHYT bắt buộc nhưng vẫn chưa tham gia hoặc tham gia chưa kịp
thời, chưa đạt 100% theo đúng quy định của luật. Vẫn còn tình trạng một số
người dân chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của công tác BHYT và
chăm sóc sức khỏe nên đến khi đau ốm mới tham gia BHYT dẫn đến nhiều
đối tượng thuộc diện tham gia BHYT có sự hỗ trợ kinh phí đóng hoặc được
NSNN bảo đảm kinh phí đóng BHYT, giảm mức đóng nhưng chưa tham gia
100% (như học sinh, sinh viên, Hộ cận nghèo, Hộ gia đình….)
Công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT chưa thật sự bền vững.
Đối tượng tham gia BHYT phần lớn do NSNN hoặc nguồn quỹ BHXH đóng
BHYT vẫn là chủ yếu. Trong khi đó, người dân tại một số xã vùng khó khăn,
xã bãi ngang, Hộ nghèo, cận nghèo vẫn còn tâm lý trong chờ từ nguồn ngân
sách cấp thẻ BHYT. Với điều kiện kinh tế xã hội ngày càng tăng, tiêu chuẩn
hộ gia đình nghèo, cận nghèo ngày càng nâng lên, vì vậy đối tượng được hỗ
trợ đóng sẽ ngày càng giảm. Nên khi thoát nghèo, xã lên nông thôn mới vẫn
không chịu tham gia BHYT. Nhiều đối tượng thuộc diện tham gia BHYT có
sự hỗ trợ kinh phí đóng hoặc được NSNN bảo đảm kinh phí đóng BHYT
nhưng chưa tham gia 100%;
Chất lượng KCB ở các cơ sở y tế, nhất là y tế tuyến xã, phòng khám tuy
có nâng lên, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người
dân. Đội ngũ y bác sĩ thiếu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng KCB tại
tuyến huyện mặc dầu có đầu tư tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo, hoặc đầu tư chưa
đồng bộ, đầu tư nhưng thiếu con người vận hành, thiếu trình độ chuyên môn
sử dụng hoặc sử dung chưa hiệu quả, càng gây nên tình trạng bệnh nhân lên
59
tuyên trên, gây quá tải tại tuyến tỉnh, đặc biệt tuyến trung ương. Quyền lợi của
người bệnh có lúc có nơi chưa đảm bảo, chi phí từ tiền túi của người bệnh vẫn
còn xảy ra.
Việc sử dụng kinh phí KCB BHYT tại một số cơ sở KCB BHYT chưa
thực sự hiệu quả, tiết kiệm; hiện tượng lạm dụng quỹ BHYT vẫn còn tồn tại.
Công tác thanh tra kiểm tra chưa được thường xuyên, chưa đủ răn đe,
thuyết phục, dẫn đến ý thức chấp hành pháp luật của các chủ doanh nghiệp
trong công tác thực hiện trích nộp BHYT còn thấp, một số đơn vị cố tình vi
phạm các quy định của nhà nước. Thậm chí có một số đơn vị trốn đóng, nợ
đóng, đóng thiếu mức quy định; một số đơn vị cố tình chiếm dụng, không
trích đóng, để nợ đọng BHYT với số tiền lớn, thời gian kéo dài.
Việc thanh tra, kiểm tra tài chính các cấp chưa được tốt, Một số đơn vị
hành chính sự nghiệp thụ hưởng kinh phí hoạt động từ nguồn NSNN nhưng
sử dụng nguồn kinh phí không đúng mục đích nên dẫn đến thiếu hụt nguồn
kinh phí đóng BHXH, BHYT. Trong khi đó, công tác phê bình, kiểm điểm
trách nhiệm cá nhân người đứng đầu tại các đơn vị hành chính sự nghiệp để
nợ đọng tiền đóng BHXH, BHYT chưa được các đơn vị chủ quản thực hiện
nghiêm túc. Công tác truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trốn đóng,
chậm đóng BHXH, BHYT còn một số vướng mắc nên chưa thực hiện được.
Việc kiểm tra chuyên ngành, liên ngành tại các đơn vị KCB BHYT chưa
được thường xuyên, đặc biệt đối với các đơn vị sử dụng kinh phí KCB BHYT
chưa thực sự hiệu quả, tiết kiệm; Chưa xử lý nghiêm minh đối với tình trạng
lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT vẫn còn xảy ra ở một số nơi như gia tăng chỉ
định thuốc, xét nghiệm quá mức cần thiết, lập hồ sơ KCB khống, kê sai số
lượng, giá dịch vụ y tế để thanh toán với cơ quan BHXH.
Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cố tình vi phạm các
quy định của Luật BHYT chưa được các ngành chức năng thực hiện thường
60
xuyên dẫn đến tình trạng thực hiện pháp luật chưa nghiêm minh, làm ảnh
hưởng quyền lợi đối với người lao động.
Năng lực và chất lượng, số lượng công chức viên chức của cơ quan
BHXH tỉnh làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra vẫn chưa đạt yêu cầu. Công tác
giám sát vẫn chưa được thường xuyên.
2.2.2.2 Luật BHYT còn một số vướng mắc, việc ban hành các văn bản hướng
dẫn còn thiếu cụ thể, chưa theo kịp với nhu cầu thực tiễn:
Hệ thống chính sách, pháp luật về BHYT trong quá trình tổ chức thực
hiện đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc nhưng chưa được điều chỉnh, sửa
đổi, bổ sung kịp thời; một số văn bản hướng dẫn triển khai luật BHYT còn
chậm ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung chưa kịp thời. Một số văn bản hướng
dẫn tổ chức thực hiện chế độ, chính sách chưa rõ, dẫn đến khó khăn, vướng
mắc trong triển khai thực hiện.
Luật chưa đảm nguyên tắc công bằng đóng - hưởng, chia sẻ và bảo đảm
bền vững quỹ trong chế độ BHYT. Mức hưởng cao, chi phí được hưởng không
phụ thuộc với mức đóng, thời gian đóng, thậm chí chỉ cần đóng liên tục trên 5
năm là được hưởng 100% toàn bộ chi phí KCB BHYT, dẫn đến luôn có nguy cơ
mất cân đối quỹ BHYT, và thực tế liên tục trong 4 năm qua luôn xảy ra tình
trạng bội chi quỹ BHYT trên toàn quốc cũng như tại địa phương.
Luật BHYT quy định “thông tuyến” mặc dầu đã tạo điều kiên vô cùng
thuận luận cho người dân khi đi KCB BHYT. Tuy nhiên, chế độ thông tuyến
đã tạo kẻ hở cho một số người lợi dụng đi khám nhiều lần trong ngày, trong
tháng tại nhiều cơ sở y tế mà chưa có chế tài kiểm soát người đi KCB nhiều
lần, nhiều nơi. Thiếu cơ chế rõ ràng cho việc kiểm soát trách nhiệm đóng
BHYT; thiếu sự bảo đảm an toàn, cân đối quỹ BHYT trong các năm do sự gia
tăng giá dịch vụ y tế do yêu cầu tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế. Thiếu các
quy định cụ thể về tiêu chuẩn giám định viên BHYT cũng dẫn tới cơ sở KCB
61
và bộ phận giám định BHYT thường xuyên có bất đồng trong việc chỉ định
điều trị, đặc biệt các chỉ định về cận lâm sàng. Đồng thời, thông tuyến huyện
từ 01/01/2016 và thông tuyến tỉnh sẽ được áp dụng theo quy định của Luật
BHYT bắt đầu từ 01/01/2021, nhưng chưa có sự đánh giá kết quả thực hiện
việc thông tuyến huyện, để rút ra kết quả, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân để
khắc phục, sẽ dự báo tiếp tục gia tăng quá tải tại tuyến trên, lãng phí nguồn
lực tại tuyến dưới, thậm chí sẽ có đơn vị KCB không thể hoạt động do không
có bệnh nhân. Bên cạnh đó, do chưa có sự đồng bộ chất lượng KCB BHYT
giữa các tuyến và do nhu cầu và tâm lý của người bệnh, số lượt bệnh nhân và
chi phí KCB BHYT sẽ tập trung lớn tại các địa phương có cơ sở KCB tuyến
trung ương do lạm dụng cơ chế KCB thông tuyến tỉnh để cố tình chuyển lên
tuyến trung ương những bệnh lý chưa thật sự cần thiết, sẽ gây lãng phí lớn hệ
thống cơ sở y tế tuyến dưới, nguồn kinh phí quỹ BHYT và kể cả chi phí của
người bệnh do phải cùng chi trả, chi phí đi lại, ăn ở….
Theo Luật quy định có 3 phương thức thanh toán được áp dụng đó là:
Thanh toán theo định suất; Thanh toán theo phí dịch vụ; Thanh toán theo trường
hợp bệnh. Tuy nhiên, hiện nay, giữa BHXH Việt Nam và Bộ Y tế chưa có văn
bản hướng dẫn thực hiện cả 3 phương thức thanh toán mà chỉ mới hướng dẫn
thực hiện phương thức thanh toán theo phí dịch vụ. Tất cả các đơn vị hiện nay
đều áp dụng phương thức thanh toán phí dịch vụ, thanh toán theo số lượng chỉ
định và đơn giá dịch vụ y tế và thuốc, vật tư y tế. Điều này đang tồn tại nhiều bất
hợp lý, các đơn vị KCB luôn gia tăng số lượng, ngành y tế gia tăng giá viện phí,
gây ra lãng phí và không an toàn cho quỹ BHYT. Đối với quỹ BHYT là tình
trạng mất cân đối, bội chi quỹ BHYT liên tục qua các năm, nguyên nhân chủ yếu
là do không thể kiểm soát chi phí KCB BHYT. Đối với các cơ sở KCB, lợi dụng
sự thiếu chặt chẽ trong phương thức thanh toán theo phí dịch vụ để chỉ định quá
mức cần thiết BHYT.
62
Một số văn bản liên quan đến việc thực hiện chế độ BHYT còn nhiều
vướng mắc trong triển khai thực hiện, chưa được điều chỉnh sửa đổi. Hằng
năm, theo chủ trương tính đúng, tính đủ, Bộ Y tế ban hành điều chỉnh giá viện
phí gia tăng hằng năm. Đồng thời, quyền lợi được hưởng BHYT ngày càng
mở rộng, giá viện phí, đơn giá thuốc, vật tư y tế ngày càng gia tăng, danh mục
dịch vụ kỹ thuật, thuốc, vật tư ngày càng mở rông cho đối tượng BHYT được
thị hưởng, các đơn vị KCB ngày càng tăng cường ứng dụng các khoa học tiên
tiến hiện đại trong điều trị…. đã kéo theo chi phí KCB ngày càng gia tăng rất
lớn, trong khi đó việc điều chỉnh tăng nguồn thu chưa được thực hiện. Nghị
định của Chính phủ quy định mức đóng 4,5% mức lương đối với người lao
động, 4,5% mức lương cơ sở đối với các đối tượng còn lại (Luật BHYT quy
định khung tối đa 6%) càng làm mất cân đối quỹ BHYT.
Về cơ chế tự chủ đối với Bệnh viện công lập đã tác động tích cực đến
chất lượng hoạt động, đổi mới cơ chế quản lý; nâng cao chất lượng cung ứng
dịch vụ; chủ động huy động các nguồn lực ngoài ngân sách; chủ động trong
chính sách đãi ngộ, thu hút cán bộ y tế, đội ngũ chuyên gia, y, bác sĩ có tay
nghề cao,… qua đó, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và cung ứng dịch
vụ y tế. Tuy nhiên, hiện nay, Bệnh viện công lập đang gặp nhiều khó khăn
trong việc thực hiện cơ chế tự chủ, cụ thể: Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP
ngày 14/2/2015 Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, tại
Khoản 2 Điều 24 (Điều khoản thi hành) nêu: "Trong khi chưa ban hành hoặc
sửa đổi Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong
từng lĩnh vực cụ thể theo quy định tại Khoản 1 Điều này, các đơn vị sự nghiệp
công theo từng lĩnh vực được tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định
tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 Quy định quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày
63
05/9/2005 Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học
và công nghệ công lập và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ;
Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10//2012 Về cơ chế hoạt động, cơ chế
tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập". Tuy nhiên, đến
thời điểm này, Bộ Y tế vẫn chưa ban hành thông tư hướng dẫn đối với ngành
y tế để thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP hoặc sửa đổi tham mưu sửa
đổi, bổ sung Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp y tế công
lập. Do đó, bệnh viện được tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP nhưng trong khi phải thực hiện yêu cầu xây
dựng phương án tự chủ theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP. Điều này làm cho
bệnh viện rất lúng túng trong việc xây dựng phương án tự chủ, xây dựng dự
toán cũng như thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong giai đoạn giao thời về thực
hiện giá dịch vụ y tế, các văn bản còn chồng chéo, chưa thống nhất, Áp lực
buộc phải tạo nguồn kinh phí để đảm bảo sự hoạt động của đơn vị trong chi
thường xuyên, không thường xuyên, chi đặc thù tạo nên xu hướng buộc các
bệnh viên gia tăng chỉ định các dịch vụ kỹ thuật, xét nghiệm quá mức cần
thiết, tăng chỉ định vào nội trú để tăng nguồn thu tiền giường bệnh….làm gia
tăng chi phí, gây bội chi quỹ BHYT và vượt dự toán nguồn kinh phí được gia,
và gi tăng sự tranh luận, mẫu thuẫn giữa cơ quan BHXH với các đơn vị KCB,
ngành Y tế.
Pháp luật BHYT chưa có quy định chặt chẽ và địa phương chưa có biện
pháp hữu hiệu nhằm kiểm soát quỹ KCB BHYT chống lạm dụng, trục lợi,
thất thoát lãng phí. Theo pháp luật BHYT hiện hành, 90% số thu BHYT là để
phục vụ công tác KCB BHYT. Trên thực tế, các cơ sở KCB là chủ thể có ảnh
hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của việc sử dụng số kinh phí này. Tuy nhiên,
64
do thiếu các quy định về trách nhiệm của các cơ sở KCB trong việc sử dụng kinh
phí KCB BHYT nên các cơ sở KCB đang có xu hướng chỉ định quá mức cần
thiết KCB. Thực tế cho thấy, hiện tượng chỉ định quá mức cần thiết BHYT đang
có chiều hướng gia tăng, dưới nhiều hình thức làm thất thoát quỹ KCB BHYT và
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người tham gia BHYT.
Việc thực hiện xã hội hóa, liên doanh, liên kết đầu tư đã làm thay đổi
nhận thức của nhiều đơn vị, không trông chờ, ỷ lại vào NSNN mà chủ động
huy động các nguồn ngoài ngân sách để đầu tư cơ sở, trang thiết bị nhằm
phát triển kỹ thuật, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, từng bước đáp
ứng nhu cầu KCB ngày càng đa dạng của các tầng lớp nhân dân, khuyến
khích và tạo điều kiện cho các đơn vị trong việc huy động các nguồn vốn
ngoài ngân sách để đầu tư, mua sắm trang thiết bị, phát triển các hoạt động
sự nghiệp; tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận các dịch vụ kỹ thuật y
tế tiên tiến hiện đại đồng thời tăng nguồn thu cho bệnh viện Tuy nhiên, quá
trình thực hiện đã nảy sinh những hạn chế, bất cập từ chính sách so với
thực tế. Nghị định về tự chủ chưa phân định rõ nhiệm vụ theo chức năng,
nhiệm vụ Nhà nước giao và hoạt động dịch vụ, thiếu cơ chế kiểm soát
phòng chống tham nhũng trong vấn đề này; Việc tính đúng, tính đủ giá
dịch vụ y tế còn chậm, Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề án liên doanh,
liên kết với các tổ chức khu vực tư, dưới áp lực về doanh thu có thể dẫn
đến tình trạng tăng cường chỉ định dùng máy liên doanh liên kết, trong khi
máy móc đầu tư từ nguồn NSNN còn sử dụng tốt, đảm bảo chất lượng cho
công tác KCB, gây lãng phí tài sản nhà nước.
65
2.2.3. Đánh giá kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.2.3.1. Đánh giá kết quả đạt được và nguyên nhân .
Chính sách BHYT ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Việc
Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, đánh dấu mốc
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội. Đó là chủ trương lớn
của Đảng, hợp lòng dân, làm thay đổi và chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của
cán bộ, đảng viên, các cấp, các ngành cũng như người dân trong việc thực
hiện chính sách BHXH, BHYT.
Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các cấp ủy Đảng, chính quyền địa
phương các cấp đã thực sự vào cuộc, chỉ đạo quyết liệt trong việc triển khai
pháp luật BHYT. Các Sở, ban, ngành có liên quan đã có sự phối hợp chặt chẽ
với cơ quan BHXH trong việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHYT
cho người lao động và nhân dân trên địa bàn. Đó chính là nhờ sự lãnh đạo, chỉ
đạo thường xuyên của các đồng chí bí thư cấp ủy, sự lãnh đạo, giao chỉ tiêu,
nhiệm vụ cụ thể và có sự kiểm tra của các người đứng đầu các cấp chính
quyền, ý thức trách nhiệm và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tại địa
phương đã góp nên những kết quả to lớn trong việc tổ chức triển khải BHYT
tại Thừa Thiên Huế.
Nhận thức của xã hội ngày càng đầy đủ hơn quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm trong tham gia BHYT. Đó chính là do từ nhận thức của đa số các cấp
ủy Đảng, cán bộ, người dân, người lao động về chính sách BHYT được nâng
lên rõ rệt. Nhiều cấp ủy, chính quyền đã nâng cao trách nhiệm trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo, vận động nhân dân; chủ động xây dựng chương trình, kế
hoạch công tác BHYT; tuyên truyền phổ biến về vai trò ý nghĩa của việc tham
gia BHYT đối với sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, hướng
tới BHYT toàn dân
66
Công tác đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT đã được giải
quyết một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác, Quy trình, thủ tục hành chính
được cải cách một cách mạnh mẽ, rút ngắn thòi gian, giảm các thủ tục hành
chính, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân được tiếp cận và tham gia
BHYT. Đó chính là nhờ sữ nổ lực từ nhiều phía, từ các chính quyền, các đơn
vị, từ người chủ sử dụng lao động đã nêu cao trách nhiệm trong việc lập danh
sách, tổ chức thu, đóng BHYT cho các đối tượng; Hệ thống KCB BHYT ngày
càng được mở rộng, nâng cao chất lượng điều trị, đáp ứng được nhu cầu KCB
của người tham gia BHYT; Bên cạnh đó, còn có tập thể công chức, viên chức
BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế đã thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo
của BHXH Việt Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, phối hợp chặt chẽ các ban ngành
liên quan, chủ động xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu, các giải pháp thực hiện,
đồng thời đoàn kết, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong
đơn vị, tăng cường cải cách hành chính, hướng đến nền hành chính phục vụ
cho mọi người dân, quyêt tâm nổ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm
vụ, chỉ tiêu dược giao, hướng đến thực hiện tiến tới BHYT toàn dân, đảm bảo
an sinh xã hội trên tỉnh nhà.
2.2.3.2. Đánh giá tồn tại, hạn chế và nguyên nhân .
Một số nơi, ý thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền về vai trò,
ý nghĩa, tầm quan trọng của Luật BHYT vẫn còn hạn chế, chưa thật sự coi
đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng cần tập trung chỉ đạo; một số cơ
quan, ban ngành chưa tích cực phối hợp với cơ quan BHXH để thực hiện
chính sách, pháp luật BHYT, coi công tác tuyên truyền chính sách BHYT
phát triển đối tượng tham gia BHYT là trách nhiệm riêng của ngành BHXH.
Chưa hiểu được trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và triển khai
thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT là của cả hệ thống chính trị.
67
Một số nơi, cấp ủy đảng, chính quyền chưa có biện pháp hữu hiệu nhằm
tổ chức triển khai tốt pháp luật BHYT trên địa bàn mình quản lý, vẫn còn
thiếu những giải pháp cụ thể, phù hợp hơn cho một số đối tượng, vùng kinh
tế, xã hội trên địa bàn tỉnh nhằm mở rộng bao phủ BHYT cho các nhóm đối
tượng. Chưa ban hành các văn bản chỉ thị, nghị quyết, giao chỉ tiêu, trách
nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, ban ngành, các đơn vị liên quan dẫn đến một
số địa phương chưa đạt tỷ lệ tham gia BHYT theo yêu cầu, tình trạng nợ
đóng, trốn đóng BHYT vẫn xảy ra, việc kiểm soát chi phí KCB BHYT chưa
chặt chẽ; việc đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ, thành tích cá nhân, đơn
vị còn chưa xét đến việc đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu về chính sách BHYT
trên địa bàn hoặc của từng đơn vị.
Việc chấp hành pháp luật BHYT của một số cá nhân, người đứng đầu,
chủ sử dụng lao động của số đơn vị chưa nghiêm, đặc biệt các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Một số chủ sử dụng lao động cố tình không tham gia BHYT cho
người lao động hoặc chỉ tham gia cầm chừng mang tính đối phó, một số khác
cố tình chiếm dụng, không trích đóng, để nợ đọng BHYT số tiền lớn, thời
gian kéo dài còn tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHYT cho người lao động làm
ảnh hưởng quyền lợi của người lao động trong đơn vị, kể cả đơn vị hành
chính sự nghiệp. Chủ sử dụng lao động không kê khai danh sách số lao động,
với lý do đơn vị mới thành lập, chưa tuyển dụng được lao động, nhân viên chỉ
làm việc theo chế độ thử việc, hợp đồng vụ việc... hoặc chủ sử dụng lao động
trì hoãn tham gia BHYT.
Nhận thức của một số người lao động, người dân về chính sách BHYT
còn hạn chế, có tâm lý chỉ lo cho cuộc sống trước mắt nên không muốn
tham gia BHYT, chỉ khi nào bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn mới tham gia
BHYT để hưởng chế độ cho cá nhân mình, sai mục đích nhân văn của
chính sách BHYT.
68
Hình thức, nội dung tuyên truyền một số nơi vẫn còn mang nặng tính
hình thức, thiếu sức hấp dẫn, hiệu quả chưa cao. Cán bộ làm công tác tuyên
truyền còn kiêm nhiệm thêm một số công việc khác trong khi khối lượng
công việc chuyên môn ngày càng tăng nên việc triển khai các hoạt động tuyên
truyền gặp khó khăn.
Đội ngũ làm công tác tuyên truyền của cơ quan BHXH tỉnh Thừa Thiên
Huế còn mỏng, chưa có tính chuyên nghiệp và thường xuyên thay đổi đã ảnh
hưởng đến chất lượng hoạt động tuyên truyền. Kiến thức và khả năng tuyên
truyền về BHXH, BHYT của một số nhân viên Đại lý thu còn hạn chế nên
việc tuyên truyền khai thác đối tượng tham gia vẫn chưa hiệu quả.
Còn nhiều người dân ở các vùng nông thôn, miền núi chưa có điều kiện
tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng, các cộng tác viên tuyên truyền
để được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách BHYT.
Hệ thống đại lý thu BHYT chủ yếu kiêm nhiệm, còn hạn chế về năng lực
tuyên truyền BHYT, chưa chủ động, nhiệt tình trong việc tuyên truyền, vận
động người dân tham gia BHYT.
Việc nắm bắt, quản lý, theo dõi biến động đối tượng thuộc diện tham gia
BHYT vẫn còn chưa kịp thời; công tác phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ
quan quản lý nhà nước và cơ quan BHXH tuy đã có chuyển biến nhưng vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu.
Ngành y tế và các đơn vị KCB mặc dù quan tâm đến việc nâng cao chất
lượng KCB ở các cơ sở y tế, nhất là y tế tuyến xã, phòng khám, tuy nhiên
nhìn chung chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người dân. Đội ngũ y bác
sĩ thiếu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng KCB tại tuyến huyện mặc
dầu có đầu tư tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo, hoặc đầu tư chưa đồng bộ, đầu tư
nhưng thiếu con người vận hành, thiếu trình độ chuyên môn sử dụng hoặc sử
dung chưa hiệu quả, càng gây nên tình trạng bệnh nhân lên tuyên trên, gây
69
quá tải tại tuyến tỉnh, đặc biệt tuyến trung ương.
Chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về BHYT hiện nay chưa hữu
hiệu; Quy định của Luật BHYT về một số đối tượng “trách nhiệm tham
gia”chưa đủ mạnh dẫn đến một số đối tượng như học sinh, sinh viên, người
thuộc hộ gia đình cận nghèo tham gia BHYT vẫn chủ yếu thông qua vận
động. Cơ quan BHXH không có chức năng thanh tra, xử lý những hành vi vi
phạm pháp luật mà phải thông qua các cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ
quan chức năng cho nên số vụ việc được thanh tra, xử lý còn ít. Bên cạnh đó,
lực lượng thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước hiện đang có số lượng
rất hạn chế và phải đảm đương nhiều chức năng thanh tra khác nhau (thanh
tra về tuân thủ thực hiện Luật BHYT do thanh tra Sở Y tế thực hiện), nên thời
gian xử lý các vụ việc thanh tra thường kéo dài và kém hiệu lực.
Do quy định lãi nộp phạt chậm đóng thấp hơn lãi vay ngân hàng nên nhiều
doanh nghiệp chiếm dụng quỹ BHYT, chây ì, chờ đến cuối năm mới nộp.
Năng lực và chất lượng của công chức, viên chức, người lao động của cơ
quan BHXH tỉnh chưa được thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng tập huấn, đặc
biệt trong nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra vẫn chưa đạt yêu cầu. Số lượng nhân
viên còn thiều. Ngành BHXH mới được giao chức năng thanh tra chuyên
ngành đóng, chưa được giao chức năng thanh tra chi trả và hưởng chế độ
BHXH, BHYT, BHTN nên tình trạng lạm dụng, trục lợi chế độ, chính sách
BHXH, BHYT, BHTN chưa được xử lý kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi
của người hưởng và quỹ BHXH, BHTN, BHYT.
Vấn đề sửa đổi chính sách, pháp luật BHYT còn chưa theo kịp với phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như hội nhập quốc tế trong thời đại
công nghiệp 4.0; chế độ BHYT và các văn bản hướng dẫn thực hiện có nhiều
thay đổi, tính ổn định chưa cao. Trong khi đó, yêu cầu cải cách hành chính
70
nhằm tạo điều kiện tối đa cho mọi tổ chức, cá nhân đang đặt ra những thách
thức lớn đối với cơ quan BHXH.
Chính sách BHYT mặc dúng ngày càng mở rộng quyền lợi hơn, nhưng
vẫn chưa thực hiện được đa dạng sản phẩm dịch vụ BHYT phù hợp với một
số đối tượng có nhu cầu trong xã hội. Chưa điều chỉnh các mức phí, mức
hưởng đi đôi với phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao.
Hệ thống pháp luật trong đó có Luật BHYT và các luật có liên quan phải
luôn đảm bảo có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, như Luật KCB,
Luật Dược, Luật Đấu thầu, Luật Giá, Bộ Luật hình sự, Luật Thanh tra… và
các văn bản hướng dẫn thực hiện luật chưa được hoàn thiện, có một số nội
dung không còn hoặc dự báo không phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực
tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, chưa đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính
phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật.
Tiểu kết Chương 2
Trong chương 2, luận văn đã khái quát hoạt động tổ chức thực hiện pháp
luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, đánh giá kết quả đạt được,
những hạn chế và các nguyên nhân của những kết quả, hạn chế trong việc tổ
chức thực hiện luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả của
chương này sẽ là tiền đề cho chương 3: Xác định các quan điểm, mục tiêu,
phương hướng và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật BHYT trên
địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
71
Chương 3:
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC
THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
TỉNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm, mục tiêu
3.1.1 Quan điểm
Bảo hiểm y tế là chính sách xã hội quan trọng, là một trong các trụ cột
chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, việc mở
rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHYT cần có bước đi, lộ trình phù hợp
với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm phát triển bền vững.
Đảng và Nhà nước có quan điểm về BHYT như sau:
- Quan điểm của Đảng về BHYT là tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân, đã
được xác định tại Điều 58 Hiến pháp nước ta năm 2013 “Nhà nước, xã hội
đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực
hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho
đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục
nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế; xây dựng và
thực hiện tốt lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; phát triển mạnh các loại
hình bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm y tế cộng đồng. Mở rộng diện các cơ
sở y tế công lập và ngoài công lập khám bệnh, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế.
Hạn chế và giảm dần hình thức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh.
Đổi mới phương thức thanh toán viện phí qua Quỹ bảo hiểm y tế”. Dự thảo
văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ 13, đã có ghi nhận đánh giá kết quả thực
hiện BHYT toàn dân trong 5 năm qua ( tỷ lệ tham gia năm 2015 là 76,5% đã
72
tăng lên 90,7% vào năm 2020); trong nhiệm vụ 5 năm đến cũng Đảng ta cũng
đã đặt ra mục tiêu chung phải đảm bảo an sinh xã hội, trong đó chỉ tiêu tham
gia BHYT toàn dân phải đạt trên 95%.
Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định quan điểm, đó
là “Thực hiện tốt các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, là
trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội,
doanh nghiệp và của mỗi người dân”. Đây là quan điểm hết sức quan trọng
của khẳng định trách nhiệm thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH,
BHYT không phải chỉ riêng ngành BHXH mà là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, các doanh nghiệp và của tất cả mọi người dân. Quan điểm này xuất
phát từ việc nhận thức rõ vị trí, vai trò, tính trụ cột của hoạt động BHXH,
BHYT trong hệ thống chính sách an sinh xã hội. Bởi lẽ suy cho cùng, thực
hiện tốt công tác BHXH, BHYT chính là góp phần bảo đảm an sinh xã hội
trên địa bàn địa phương và đất nước, thiết thực đóng góp thực hiện thắng lợi
hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Nghị quyết số 20/NQ-TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban chấp
hành Trung ương Khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ chăm sóc và nâng
cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nêu rõ quan điểm: “Hướng tới
thực hiện bao phủ chăm sóc sức khoẻ và bảo hiểm y tế toàn dân; mọi người
dân đều được quản lý, chăm sóc sức khoẻ; được bảo đảm bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ trong tham gia bảo hiểm y tế và thụ hưởng các dịch vụ y tế. Tính
đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế và có cơ chế giá, cơ chế đồng chi trả nhằm phát
triển vững chắc hệ thống y tế cơ sở”. Trong đó có giao chỉ tiêu cụ thể, tỷ lệ
tham gia BHYT toàn quốc là 95%.
- Luật BHYT ra đời từ năm 2008 và được sửa đổi, bổ sung vào năm
2014, là cơ sở pháp lý thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà
73
nước trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế công thông qua BHYT
toàn dân theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.
Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách BHYT đều
khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước tiến tới BHYT toàn dân.
3.1.2 Mục tiêu
- Mục tiêu chung
Tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT: Tiếp tục duy trì các nhóm đối tượng
đã tham gia BHYT theo hướng bền vững, đặc biệt đối tượng thuộc diện tham
gia BHYT bắt buộc, lưu ý đối tượng học sinh, sinh viên. Tăng cường vận
động các nhóm đối tượng còn lại đạt và vượt chỉ tiêu mà Thủ tướng Chính
phủ và ngành BHXH giao cho
Nâng cao chất lượng KCB BHYT, bảo đảm quyền lợi của người tham
gia BHYT theo quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu KCB của người
tham gia BHYT.
Từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho
người thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham gia BHYT.
Quản lý, sử dụng quỹ BHYT hiệu quả, an toàn nhưng đi đôi với việc đảm bảo
quyền lợi của người tham gia BHYT.
Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, dặc biệt ngành Y tế trên địa
phương nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh; tham gia góp ý, kiến
nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi hoàn thiện các chính sách về
BHYT, xây dựng gói quyền lợi BHYT phù hợp, rà soát ưu tiên đưa vào danh
mục Quỹ BHYT chi trả đối với các dịch vụ y tế có tính chi phí hiệu quả cao;
ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực, tăng cường cải cách
hành chính, bảo đảm công khai và minh bạch trong quản lý, giám định và
thanh toán chi phí KCB BHYT; Kiểm soát chi phí thông qua việc giao dự
74
toán chi cho các cơ sở KCB; Đấu thầu tập trung cấp quốc gia đối với thuốc,
vật tư y tế, trang thiết bị y tế… bảo đảm cân đối thu - chi quỹ BHYT.
- Mục tiêu cụ thể của tỉnh Thừa Thiên Huế:
Tiếp tục duy trì tỷ lệ tham gia BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai
đoạn 2020-2025, hằng năm luôn cao hơn 98%, phấn đấu đến năm 2025 đạt trên
99%. Trong đó tỷ lệ học sinh, sinh viên đạt 100%, cận nghèo đạt 100%.
Quyền lợi KCB BHYT của tất cả các đối tượng tham gia BHYT được
đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Kiểm soát được chi phí KCB
BHYT, không để xảy ra tình trạng lạm dụng trục lợi quỹ KCB BHYT. Quyết
toán chi phí KCB BHYT không vượt dự toán được Thủ tướng Chính phủ và
BHXH Việt Nam giao cho.
Xây dựng hệ thống BHXH Thừa Thiên Huế hiện đại, chuyên nghiệp,
hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, hướng đến sự hài lòng của mọi đối tượng tham gia.
3.2. Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa
bàn Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.
3.2.1 Nhóm giải pháp tăng cường công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ
biến Luật BHYT.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt nhận thức về trách nhiệm của cấp ủy,
chính quyền địa phương các cấp, các ban ngành, các người đứng đầu trong
các đơn vị sử dụng lao động về các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về chính sách BHYT.
Mọi cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, các ban ngành, cá
nhân, đặc biệt người đứng đầu phải luôn nâng cáo nhận thức về vai trò, ý
nghĩa và tầm quan trọng của BHYT. Tổ chức phổ biến, triển khai các Nghị
quyết, chỉ thị kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Phải quán triệt đây là một
nhiệm vụ chính trị quan trọng của cả hệ thống chính trị cần tập trung chỉ đạo.
75
Việc quán triệt cần tập trung quyết liệt, thường xuyên và liên tục đối với
những cấp ủy đảng, chính quyền còn xem nhẹ về vai trò, ý nghĩa, tầm quan
trọng của BHXH, BHYT, sự hiểu biết Luật BHYT vẫn còn hạn chế, chưa thật
sự coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng cần tập trung chỉ đạo. Đặc
biệt cần lưu ý một số cơ quan, ban ngành chưa tích cực phối hợp với cơ quan
BHXH để thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, coi công tác tuyên truyền
chính sách BHYT phát triển đối tượng tham gia BHYT là trách nhiệm riêng
của ngành BHXH. Chưa hiểu được trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục và triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT là của cả hệ thống
chính trị.
Các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan cần xây dựng các biện pháp
hữu hiệu nhằm tổ chức triển khai tốt pháp luật BHYT trên địa bàn, đơn vị
mình quản lý, phải có những giải pháp cụ thể, phù hợp hơn cho một số đối
tượng, vùng kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh nhằm mở rộng bao phủ BHYT
cho các nhóm đối tượng. Kịp thời ban hành các văn bản chỉ thị, nghị quyết,
giao chỉ tiêu, trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, ban ngành, các đơn vị liên
quan phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu tỷ lệ tham gia BHYT, xem đây là một
trong các chỉ tiêu chủ yếu trong nghị quyết phát triển kinh tế xã hội địa
phương, và làm chỉ tiêu đánh giá thi đua của đơn vị, chỉ tiêu đánh giá việc
hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân, đặc biệt đánh giá người đứng đầu.
Hằng năm, UBND tỉnh quán triệt việc thực hiện Luật BHYT và giao
nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành và UBND huyện, thành phố, thị xã trong
việc triển khai thực hiện; giao chỉ tiêu tỷ lệ người dân tham gia BHYT là chỉ
tiêu bắt buộc về phát triển kinh tế - xã hội cho UBND huyện. Căn cứ tỷ lệ
người dân tham gia BHYT trên địa bàn huyện, xã để đánh giá mức độ hoàn
thành nhiệm vụ đối với người đứng đầu UBND dân cấp huyện, xã; không xét
76
các danh hiệu thi đua đối với xã không hoàn thành chỉ tiêu phát triển BHYT
trên địa bàn.
Thứ hai, nâng cao hiệu lực và hiệu quả phổ biến, giáo dục Luật Bảo
hiểm y tế
Cơ quan BHXH tăng cường chủ động hơn nữa việc tham mưu cấp ủy,
chính quyền địa phương,phối hợp với các ban ngành, các tổ chức chính trị -
xã hội, các hội, đoàn thể, các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa
phương xây dựng kế hoạch và tổ chức tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết của
Đảng, Pháp luật của Nhà nước về chính sách BHYT đến cán bộ, đảng viên,
người lao động và Nhân dân trong cả nước.
Thực hiện đổi mới một cách toàn diện nội dung, hình thức và phương
pháp tuyên truyền BHYT để đạt hiệu quả cao như:
- Đổi mới nội dung tuyên truyền: Chuyển từ việc chú trọng tuyên truyền,
phổ biến nội dung chính sách, pháp luật BHXH, BHYT sang truyền thông
chuyên sâu về lợi ích, vai trò, ý nghĩa, tính nhân văn, ưu việt của chính sách
BHXH, BHYT. Truyền thông để người lao động và Nhân dân thấy được giá
trị thiết thực của chính sách đối với bản thân và gia đình, từ đó tích cực, chủ
động tham gia như một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của mỗi người, mỗi
nhà; truyền thông về vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền
trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp thực hiện chính sách BHXH,
BHYT, việc đưa chỉ tiêu phát triển BHXH, BHYT vào chỉ tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương.
Tuyên truyền, động viên khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý thức tự lực
cũng như ý nghĩa của việc tự đảm bảo an sinh cho bản thân của mỗi người
dân, từ đó giúp người dân hình thành thói quen chủ động tham gia BHYT như
một nhu cầu thiết yếu để chăm sóc sức khỏe và ổn định cuộc sống của bản
thân và gia đình; truyền thông vận động, thuyết phục, cổ vũ các tổ chức, cá
77
nhân, các nhà hảo tâm làm công tác thiện nguyện trong lĩnh vực BHYT, nhất
là với những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định… để
ngày càng có nhiều người dân được đảm bảo an sinh xã hội, qua đó lan tỏa
sâu rộng trong xã hội truyền thống tương thân tương ái của dân tộc ta, ý nghĩa
nhân văn, tính ưu việt của chế độ BHYT đối với đời sống của người lao động
và Nhân dân.
- Về hình thức tuyên truyền: Cần triển khai đồng loạt nhiều kênh truyền
thông khác nhau; đổi mới, đa dạng, áp dụng linh hoạt các hình thức truyền
thông phù hợp với đặc điểm vùng miền, phong tục tập quán, truyền thống văn
hóa, tâm lý từng nhóm dân cư; hình thức truyền thông phải xuất phát từ đặc thù
từng nhóm dân cư gắn với nội dung truyền thông phù hợp, gần gũi, thân thiện.
Kết hợp hiệu quả giữa các hình thức tuyên truyền truyền thống với các hình
thức truyền thông mới; chú trọng truyền thông vận động trực tiếp người dân
tham gia BHYT, truyền thông trên mạng xã hội, qua điện thoại thông minh,
như phản qua điện thoại số hotline Hệ thống chăm sóc khách hàng, trên Fapage
BHXH Việt Nam để tương tác (like, share, comment).. để kịp thời tư vấn, giải
đáp thông tin, truyền thông chính sách BHYT, đồng thời tạo kênh tương tác
nhanh chóng, có hiệu quả góp phần tiết kiệm thời gian đi lại, chi phí cho người
dân, các phản ánh, kiến nghị được giải đáp kịp thời đã góp phần giảm bức xúc,
khiếu kiện của người dân, hướng tới sự hài lòng của mọi người dân
- Về phương pháp tuyên truyền: Cần chủ động đổi mới phương pháp
truyền thông theo hướng linh hoạt để đáp ứng kịp thời với bối cảnh thực tiễn,
những vấn đề mang tính thời sự, vấn đề nóng; kết hợp hài hòa giữa tuyên
truyền thường xuyên và truyền thông theo chiến dịch, chủ đề:
Ngoài việc tuyên truyền thường xuyên, cần chú trọng đến ruyền thông
theo chiến dịch theo các ngày kỷ niệm, lễ lớn như các ngày kỷ niệm thành lập
Đảng, thống nhất đất nước, thành lập ngành BHXH, Ngày BHYT Việt Nam
78
1/7 hằng năm, ngày pháp luật, tháng công nhân … hoặc các đợt ra quân chiến
dịch vận động tuyên truyền người dân tham gia BHYT. Các đợt tuyên truyền
chiến dịch Lễ ra quân đã giúp người dân nhận thức sâu sắc hơn về lợi ích và
tính nhân văn của chính sách BHYT; tạo thêm niềm tin cho Nhân dân vào các
chính sách an sinh của Đảng, Nhà nước đồng thời tăng cường vai trò, trách
nhiệm của các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tổ chức
thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu
BHYT toàn dân; góp phần khẳng định hình ảnh, vị thế của cơ quan BHXH
các cấp trong công tác đảm bảo an sinh xã hội của đất nước.
Truyền thông theo chủ đề thực hiện các Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ (ví dụ về phòng chống dịch COVID-19, Hưởng ứng Chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam chung tay phòng, chống dịch COVID-19 ,
Ý nghĩa, lợi ích của cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông
tin ngành BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi của người tham gia trong bối cảnh
dịch COVID-19, các chủ đề phòng chống dịch bệnh, thiên tai, tai nạn giao
thông…. qua đó, đã góp phần làm rõ, làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn của
chính sách BHYT trong việc ổn định đời sống người dân khi có những biến
cố về dịch bệnh khó lường, đồng thời cũng góp phần làm thay đổi nhận thức
của người dân để chủ động tham gia BHYT như một nhu cầu tất yếu nhằm tự
bảo đảm cuộc sống và sức khoẻ cho bản thân.
Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền như tổ chức tọa đàm, đối
thoại, tư vấn chính sách trực tiếp tại cơ sở, thực hiện các phóng sự, chuyên
mục, tọa đàm, tin, bài… về chính sách, pháp luật BHYT. Đối tượng truyền
thông bao gồm cả người tham gia BHYT và cơ sở KCB; trong đó, nhấn mạnh
đến quyền lợi, trách nhiệm và cả những thách thức để thực hiện tốt các chính
sách BHYT.
Thứ ba, phát triển đối tượng tham gia BHYT mang tính bền vững
79
Đẩy mạnh việc phát triển đối tượng tham gia BHYT, trong đó tập trung
vào các nhóm đối tượng là người tham gia bắt buộc, BHYT hộ gia đình; phấn
đấu hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính
phủ và kế hoạch của BHXH Việt Nam giao. Quản lý tốt đối tượng đóng và
tham gia BHYT.Bên cạnh các giải pháp tuyên truyền vận động để mọi đối
tượng, mọi người dân luôn có ý thức tham gia BHYT một cách tích cực, cần
có hướng giải quyết đặt ra là những giải pháp hỗ trợ người dân tham gia
BHYT, giúp những đối tượng này có những thuận lợi ban đầu khi tham gia
BHYT. Đồng thời, có những giải pháp đảm bảo tính ổn định, bền vững cho
các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT bằng cách nâng cao nhận thức của
người dân ý thức chia sẻ cộng đồng và cơ hội có nguồn tài chính vững chắc
phòng khi không may mắc bệnh.
Việc xây dựng giá viện phí tính đúng tính đủ cũng có tác dụng đa chiều.
Một mặt, người tham gia BHYT nhận thấy quyền lợi rất lớn khi so với người
không tham gia, nếu không tham gia khi chẳng may bị ốm đau, bệnh tật tai
nạn sẽ vô cùng khó khăn khi phải trả chi phí rất lớn cho việc KCB theo giá
viện phí.
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác tổ chức thực
hiện các chế độ chính sách theo quy định của Luật BHYT, đáp ứng sự hài
lòng của mọi đối tượng.
Thứ nhất, thực hiện tốt chế độ, chính sách theo đúng quy định của Luật
BHYT.
Sở Y tế và các đơn vị KCB BHYT phải nâng cao trách nhiệm trong việc
tăng cường chất lượng KCB BHYT để tạo niềm tin và thu hút sự tham gia
BHYT của người dân, tăng cường đầu tư phát triển hệ thống các cơ sở y tế,
nhất là cơ sở y tế ban đầu, các Trạm y tế xã, phường, thị trấn để người dân
tiếp cận dịch vụ dễ dàng.
80
Các cơ sở KCB phải tập trung nâng cao chất lượng KCB để thu hút bệnh
nhân, từ đó góp phần khuyến khích, vận động người dân chưa tham gia
BHYT tích cực tham gia BHYT. Tăng cường nâng cao cơ sở vật chất, trang
thiết bị y tế hiện đại nhắm phục vụ tốt tại các cơ sở KCB BHYT, đồng thời
nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên y tế. Với chất lượng cuộc sống
ngày càng được cải thiện, người dân có quyền được hưởng những dịch vụ cao
cấp với cơ sở KCB khang trang hiện đại, sạch sẽ và các trang thiết bị chẩn
đoán và điều trị hiện đại. Vì vậy cơ sở KCB cần huy động mọi nguồn lực để
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, không gian rộng rãi, thoáng mát
để đáp ứng nhu cầu của người bệnh nói chung và người bệnh có thẻ BHYT
nói riêng.
Các cơ sở KCB BHYT cần tăng cường trình độ chuyên môn của đội ngũ
y, bác sỹ; chú trọng giáo dục y đức và nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ
người bệnh của nhân viên y tế, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng
KCB có thẻ hay không có thẻ BHYT, cần có chế độ thưởng phạt công minh.
Các đơn vị KCB BHYT phải luôn kịp thời lắng nghe ý kiến phản hồi của
bệnh nhân với tính cầu thị cao, khắc phục những thiếu sót hạn chế. Đồng thời
cũng chú ý cải thiện môi trường làm việc, giảm áp lực công việc, căng thẳng
cho các y, bác sỹ.
Các cơ sở KCB cần tăng cường cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn
thời gian chờ đợi của người bệnh, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
trong quy trình tiếp nhận, khám bệnh, quản lý bệnh nhân, giảm thủ tục giấy
tờ, phiền hà khi giải quyết bệnh nhân được ra viện.
Thực hiện cải cách hành chính về cung ứng dịch vụ y tế làm cho hệ
thống y tế đáp hướng nhu cầu và mong đợi của người dân chứ không phải của
người cung ứng dịch vụ y tế. Tăng cường hệ thống mạng lưới y tế cơ sở tham
81
gia KCB BHYT, tổ chức lại mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu gần hơn
với người dân, đáp ứng được nhu cầu KCB của từng nhóm đối tượng dân cư.
Xây dựng mạng lưới KCB BHYT một cách đồng bộ, đúng hướng, đầu tư
có trọng tâm trọng điểm. Tiếp tục tổ chức sắp xếp lại hệ thống cơ sở y tế công
theo hướng đổi mới có chế hoạt động, quản lý về tài chính, nhân lực để nâng
cao chất lượng KCB BHYT cho nhân dân. Đồng thời tổ chức ưu đãi về đất
đai, tín dụng, thuế để khuyến khích, huy động nguồn lực đầu tư cho việc phát
triển và mở rộng cơ sở y tế tư nhân cùng tham gia KCB BHYT. Các cơ sở y
tế tư nhân tham gia KCB BHYT sẽ tạo ra sự “cạnh tranh” để các cơ sở y tế
nhà nước phải chú trọng nâng cao chất lượng KCB BHYT đồng thời giảm
tình trạng quá tải của các bệnh viện nhà nước.
Cơ quan BHXH phải đảm bảo việc tạm ứng, thanh quyết toán chi phí
KCB BHYT nhanh chóng, kịp thời và chính xác theo đúng quy định của pháp
luật để đảm bảo kinh phí hoạt động cho các đơn vị có hợp đồng KCB BHYT,
đảm bảo quyền lợi cho người bệnh
Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện
Luật BHYT của các chủ thể.
BHXH tỉnh thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của BHXH Việt
Nam và Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ công tác. Tích cực, chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành
liên quan tham mưu Lãnh đạo tỉnh kế hoạch, chương trình hành động thực
hiện các quy định, chỉ tiêu về BHXH, BHYT, BHTN gắn với mục tiêu bảo
đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; phấn đấu thực
hiện thắng lợi các mục tiêu nêu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW; Nghị quyết số
28-NQ/TW; Nghị quyết số 125/NQ-CP theo lộ trình (theo các lộ trình đến
năm 2021, 2023, 2025) và định hướng đến năm 2030.
82
Tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy BHXH tỉnh và
BHXH cấp huyện, nâng cao chất lượng đội ngũ để thực hiện các chế độ,
chính sách BHXH, BHYT, BHTN nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày
càng cao theo đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được phân cấp. Thực
hiện phân loại viên chức theo vị trí việc làm và sắp xếp, bố trí lại cơ cấu viên
chức theo vị trí chuyên môn, nghiệp vụ theo chỉ đạo hướng dẫn của BHXH
Việt Nam; Thường xuyên chú trọng nâng cao năng lực, nghiệp vụ, tinh thần
trách nhiệm, thái độ, ý thức phục vụ, chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính
của đội ngũ công chức, viên chức, nhất là những người trực tiếp tiếp xúc, giải
quyết công việc với tổ chức, doanh nghiệp, người lao động và Nhân dân; đoàn
kết xây dựng ngành BHXH hiện đại, chuyên nghiệp, hướng tới sự hài lòng
của người dân.
Thứ ba, tăng cường cải cách hành chính, trong đó lưu ý cải cách thủ tục
hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia BHYT.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện chính
sách BHXH, BHYT; giải quyết đầy đủ, kịp thời các quyền lợi về BHXH,
BHYT cho người tham gia. Tham gia cùng với toàn ngành nhằm hoàn thiện
cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động
nghiệp vụ từng bước hiện đại hóa hệ thống quản lý BHXH, BHYT, BHTN;
đẩy mạnh việc giao dịch điện tử; quản lý, sử dụng văn bản điện tử trong hệ
thống cơ quan BHXH.
Nâng cao chất lượng phục vụ, tạo điều kiện tốt nhất cho người tham gia
BHXH, BHYT, BHTN. Tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp cắt giảm thời gian,
số lần giao dịch của các tổ chức, doanh nghiệp với cơ quan BHXH theo Nghị
quyết của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ nhằm góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi.
83
Đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến, phấn đấu 27/27 thủ tục hành chính
được giao dịch trực tuyến cấp độ 3 và 4. Xây dựng cơ sở dữ liệu mã số
BHXH cho mọi người dân trên địa bàn, mã thẻ BHYT, dữ liệu quá trình tham
gia đóng BHXH, BHYT, BHTN một cách hoàn chỉnh, chính xác và được cấp
nhật liên tục kịp thời. Tiến tới loại bỏ thẻ BHYT bằng giấy, sử dụng thẻ
BHYT trên máy điện thoại di động thông minh, thẻ BHYT có gắn chịp điện
tử để mọi người dân được tiếp cận thông tin cá nhân,lịch sử KCB BHYT, chi
phí thụ hưởng một cách công khai minh bạch và được đảm bảo bí mật thông
tin theo đúng quy định của pháp luật.
3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế thật
sự có hiệu lực và hiệu quả.
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lý nhà nước về
bảo hiểm y tế ở địa phương
Các sở, ban, ngành phải có trách nhiệm tham mưu với Tỉnh ủy, HDND,
UBND tỉnh để có cơ chế hỗ trợ mang tính bền vững đối với thành viên hộ gia
đình tham gia BHYT nhất là hộ gia đình cận nghèo, hộ gia đình nông, lâm,
ngư nghiệp có mức sống trung bình. Hằng năm, UBND tỉnh giao nhiệm vụ
cho các sở, ban, ngành và UBND huyện, thành phố, thị xã trong việc triển khai
thực hiện; giao chỉ tiêu tỷ lệ người dân tham gia BHYT là chỉ tiêu bắt buộc về
phát triển kinh tế - xã hội cho UBND huyện. Căn cứ tỷ lệ người dân tham gia
BHYT trên địa bàn huyện, xã để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với
người đứng đầu UBND dân cấp huyện, xã; không xét các danh hiệu thi đua đối
với xã không hoàn thành chỉ tiêu phát triển BHYT trên địa bàn. Giao dự toán
chi KCB BHYT cho các địa phương, đồng thời gắn trách nhiệm của địa
phương trong việc đảm bảo thực hiện dự toán.
UBND huyện thành lập Ban chỉ đạo và xây dựng kế hoạch thực hiện
BHYT hộ gia đình theo từng xã, phường, thị trấn. Chỉ tiêu phát triển BHYT là
84
chỉ tiêu bắt buộc trong chương trình xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo UBND
cấp xã thành lập Ban chỉ đạo cấp xã và triển khai thực hiện đạt chỉ tiêu tỷ lệ
người dân tham gia BHYT theo yêu cầu của tỉnh.
Nghị quyết của Đảng các cấp về công tác BHYT hộ gia đình thì tất cả
đảng viên phải thực hiện. Chính mỗi đồng chí đảng viên sẽ là một tuyên
truyền viên về BHYT nói chung và BHYT hộ gia đình nói riêng. Tất cả các
gia đình có đảng viên thì sẽ là các gia đình đầu tiên tham gia BHYT 100%
thành viên trong hộ gia đình. Đưa chỉ tiêu tham gia BHYT trên địa bàn là một
trong những chỉ tiêu xếp loại đảng viên cuối năm, kết quả hoàn thành nhiệm
vụ của người đứng đầu địa phương đặc biệt là cấp xã.
Thứ hai, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý vi
phạm trong việc thực hiện Luật BHYT
BHXH tỉnh tập trung nâng cao năng lực và chất lượng, số lượng công
chức viên chức của cơ quan BHXH tỉnh làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra
nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra.
Các cơ quan ban ngành và BHXH tỉnh chủ động xây dựng kế hoạch
thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, liên ngành, thường xuyên và đột xuất khi có
yêu cầu. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra, có
đủ mạnh tính thuyết phục, bắt buộc ý thức chấp hành pháp luật của các chủ
doanh nghiệp trong trón đống, chậm đống BHYT, các đơn vị cố tình vi phạm
pháp luật.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra tài chính các cấp về việc sử dụng nguồn
kinh phí tại đơn vị trong đó có trách nhiệm đóng BHYT. Nghiêm túc phê
bình, kiểm điểm trách nhiệm cá nhân người đứng đầu tại các đơn vị hành
chính sự nghiệp để nợ đọng tiền đóng BHYT. Xử lý nghiêm trách nhiệm của
người đúng đầu đối với hành vi trốn đóng, chậm đóng BHYT của người lao
động.
85
Tăng cường kiểm tra giám sát tại các đơn vị KCB BHYT, đặc biệt đối
với các đơn vị sử dụng kinh phí KCB BHYT chưa thực sự hiệu quả, tiết kiệm;
Xử lý nghiêm minh đối với tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT như gia
tăng chỉ định thuốc, xét nghiệm quá mức cần thiết, lập hồ sơ KCB khống, kê
sai số lượng, giá dịch vụ y tế để thanh toán với cơ quan BHXH.
Thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cố tình vi
phạm các quy định của Luật BHYT nhằm tổ chức thực hiện Luật BHYT một
cách nghiêm minh, đảm bảo quyền lợi đối với mọi đối tượng tham gia BHYT.
Trường hợp có dấu hiệu vi phạm hình sự, kiến nghị các cấp có thẩm quyền để
khởi tố nghiêm theo đúng pháp luật.
Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Quy chế phối hợp giữa BHXH tỉnh
và Công an tỉnh để đẩy mạnh công tác phòng, chống các loại tội phạm và các
hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHYT; tăng cường bảo vệ tài sản
của Nhà nước, của tập thể, cá nhân, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan
BHXH các cấp; phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện chính sách, pháp luật BHYT; quản lý quỹ BHYT. Theo
đó, Công an tỉnh sẽ chỉ đạo lực lượng cảnh sát kinh tế hỗ trợ các đơn vị thuộc
hệ thống BHXH tỉnh trong việc thu hồi nợ đọng, chậm đóng BHYT của các
doanh nghiệp và phối hợp xử lý nghiêm những hành cố tình trốn đóng BHYT
của các doanh nghiệp, đơn vị. Phối hợp, tăng cường công tác quản lý quỹ
BHYT, bảo đảm cân đối thu - chi, chống lạm dụng và trục lợi BHYT để chính
sách BHYT được phát triển bền vững, đồng thời xử lý nghiêm minh trước
pháp luật những vi phạm và tội phạm trong việc thực hiện chính sách BHYT
của Đảng và Nhà nước.
Cần phân định rõ trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
thực hiện chính sách BHYT của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; đặc biệt là
vai trò của UBND các tỉnh, thành phố trong việc chỉ đạo các Sở, ngành liên
86
quan tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách BHYT trên địa bàn
tỉnh. Thực hiện nghiêm các biện pháp xử phạt theo quy định, xử lý những cá
nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về BHYT theo Nghị định số 117/2020/NĐ-
CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực y tế.
Sớm sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra cho phép cơ quan tổ chức thực hiện
chính sách BHYT được quyền xử lý vi phạm về BHYT, nhằm khắc phục tình
trạng lực lượng thanh tra Sở Y tế còn thiếu, xử lý vi phạm pháp luật về BHYT
chưa nghiêm, chưa đảm bảo hiệu lực của pháp luật.
3.2.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn
thi hành
Thứ nhất, tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện Luật Bảo hiểm y tế
phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Thực hiện Nghị Quyết số 139/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ
ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-
NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng
cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới trong đó có yêu cầu sửa đổi bổ
sung Luật BHYT và Chương trình công tác trọng tâm năm 2020 của BHXH
Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 99/QĐ-BHXH ngày 17/01/2020,
trong đó có yêu cầu tổ chức tổng kết, đánh giá thực trạng và kết quả triển khai
thực hiện Luật BHYT giai đoạn 2015 - 2019 của ngành BHXH tại địa
phương, trên cơ sở đó đề xuất nội dung sửa đổi Luật BHYT. Căn cứ kết quả
đánh giá, phân tích những hạn chế tồn tại, cần lưu ý một số nội dung trình
Quốc hội xem xét điều chỉnh và kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban
hành và chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật (nghị quyết, nghị định, thông tư) để kịp thời
xử lý những vướng mắc và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chính
87
sách, pháp luật BHYT, phù hợp với tinh thần các Nghị quyết của Trung ương
Đảng về chính sách BHYT.
Về đối tượng, hình thức tham gia BHYT: Cần bao phủ hết các nhóm
đối tượng trong xã hội. Cụ thể là thiếu nhóm tham gia BHYT do người sử
dụng lao động đóng (cho thân nhân người lao động), nhóm chức sắc, chức
việc, nhà tu hành, người sống trong cơ sở BTXH, người không có đầy đủ giấy
tờ về nhân thân..; Điều chỉnh nhóm đối tượng tham gia theo hộ gia đình theo
hướng là người có tên trong danh sách thành viên hộ gia đình; tất cả các thành
viên trong hộ gia đình phải cùng tham gia để hưởng giảm trừ mức đóng; Điều
chỉnh quy định mức đóng được giảm trừ do trong thực tế không hợp lý (mức
đóng của đối tượng này chỉ bằng mức đóng của người thuộc hộ nghèo, nhưng
giảm trừ từ người thứ 4 trở đi chỉ còn bằng 50% mức đóng); Điều chỉnh
nhóm đối tượng là người trên 80 tuổi hưởng chế độ tuất và điều chỉnh thay
đổi về trách nhiệm đóng BHYT do sự thay đổi của Luật BHXH và điều chỉnh
mức hưởng theo đối tượng trên 80 tuổi; Điều chỉnh, sắp xếp nhóm đối tượng
để phù hợp với trách nhiệm đóng BHYT.
Về phạm vi quyền lợi BHYT: Cần xây dựng lộ trình và điều chỉnh theo
hướng tăng quyền lợi được hưởng BHYT khi điều chỉnh mức đóng, đảm bảo
nguồn cân đối quỹ BHYT để thanh toán chi phí KCB đối với dịch vụ khám
sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc, điều trị dự phòng, quản lý sức khỏe và y tế
dự phòng và một số dịch vụ thuộc về KCB nhưng hiện nay, theo quy định của
Luật BHYT, quỹ BHYT chưa được chi trả như điều trị tật khúc xạ, kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản, vật tư hỗ trợ trong phục hồi chức năng.
Cần nghiên cứu, triển khai thí điểm mô hình BHYT đa tầng, quy định
riêng đối với một số đối tượng có điều kiện và nhu cầu để quy định mức đóng
và mức hưởng theo mức đóng. Từ đó, đánh giá phân tích tổng kết để có sự đa
dạng trong việc thực hiện Luật BHYT.
88
Về quản lý, sử dụng quỹ BHYT: Cần có quy định cụ thể trong việc phân
bổ quỹ KCB BHYT, đặc biệt tỷ lệ tối đa trích quỹ KCB BHYT dự phòng.
Hiện nay, quỹ KCB BHYT là 90% số thu BHYT dành cho KCB, 10% dành
cho dự phòng và chi phí quản lý. Việc chỉ quy định tỷ lệ % số thu BHYT
dành cho quỹ dự phòng (cùng với số tiền kết dư quỹ hàng năm) mà không xác
định số tiền tối đa của quỹ dự phòng BHYT phù hợp để dành cho chi phí
KCB sẽ có nguy cơ kết dư được tích lũy lớn và không đúng chức năng là
nguồn Quỹ Tài chính ngắn hạn của Nhà nước; Bổ sung các quy định về thời
gian, thời điểm trong việc tạm ứng, thanh quyết toán chi phí KCB giữa cơ
quan BHXH với cơ sở KCB một cách hợp lý, cụ thể tránh ảnh hưởng đến hoạt
động của cơ sở KCB và quyền lợi của người bệnh; Công tác thẩm định quyết
toán năm tài chính đối với quỹ BHYT cần quy định mốc cụ thể và sớm để
tránh ảnh hưởng đến hoạt động của cơ sở KCB; Sớm điều chỉnh những vấn đề
thiếu thống nhất trong nội dung văn bản luật về quỹ BHYT, cụ thể: Quỹ
BHYT được quản lý tập trung, thống nhất (01 quỹ do BHXHVN quản lý),
nhưng cũng lại có quy định về xử lý trường hợp có bội chi quỹ tại các tỉnh,
thành phố.
Cần đánh giá xem xét lại quy định về “thông tuyến” KCB. Trước hết,
đây là điều kiện KCB BHYT vô cùng thuận lợi cho người bệnh được quyền
chọn lựa đơn vị KCB BHYT để thụ hưởng. Tuy nhiên, chưa có đánh giá kết
quả để triển khai các giải pháp khắc phục bất cập tồn tại, nhằm kiểm soát có
hiệu quả. Việc thực hiện “thông tuyến” huyện từ năm 2016, sẽ thực hiện
“thông tuyến” tỉnh từ năm 2021 sẽ luôn có tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất lợi về
sử dụng hợp lý, hiệu quả quỹ BHYT, gây bội chi quỹ KCB BHYT, gây quá
tải bệnh viện tuyến trên, đồng thời tác động rất xấu đến tuyến y tế cơ sở; Bên
cạnh đó luôn có nguy cơ lạm dụng sử dụng dịch vụ y tế. Quy định việc người
89
có thẻ BHYT tự đi KCB trái tuyến (nghĩa là không đúng quy định) nhưng
được hưởng quyền lợi như đi đúng tuyến là chưa chặt chẽ về pháp luật.
Tăng cường thẩm quyền và trách nhiệm cho cơ quan BHXH về công tác
thanh tra, vì đây là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chính
sách BHYT. Sửa đổi Điều 46 Luật BHYT, trong đó giao thẩm quyền thanh tra
chuyên ngành cho cơ quan BHXH để phù hợp với tình hình thực tế. xem xét
giao chức năng thanh tra chi, thanh tra việc sử dụng quỹ KCB BHYT tại các
cơ sở KCB có ký Hợp đồng KCB BHYT.
Thứ hai, tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện một số văn bản hướng
dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Chính phủ cần ban hành Nghị định pháp lý về lĩnh vực giám định KCB
BHYT và hợp đồng KCB BHYT. Trong đó, cần quy định rõ trách nhiệm, vai
trò của cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế) và cơ quan BHXH trong công tác
giám định. Do công tác giám định và kết qủa giám định ảnh hưởng đến tất cả
các bên liên quan đến BHYT (người bệnh, cơ sở y tế, quỹ BHYT); Cần cụ
thể, rõ ràng, rõ quyền và trách nhiệm của cán bộ giám định BHYT, điều kiện
hành nghề của cán bộ giám định BHYT, việc chấp hành kết quả giám định
BHYT đối với các cơ sở KCB BHYT; Đối với hợp đồng KCB BHYT cần thể
hiện mối quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và cơ quan BHXH thay mặt
bệnh nhân, người đã thụ hưởng dịch vụ y tế được cung cấp từ cơ sở KCB
BHYT để chi trả lại cho đơn vị. Cần xác định rõ về tính chất hợp đồng (là hợp
đồng kinh tế hay hợp đồng dân sự); Trách nhiệm các bên tham gia ký hợp
đồng, cơ chế xử lý khi có tranh chấp và cơ quan có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp nhằm tránh xung đột, mâu thuẩn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của
bệnh nhân trong chế độ BHYT.
Xem xét sửa đổi mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, trong đó, tăng mức
hỗ trợ cho đối tượng học sinh, sinh viên từ 30% lên 50%. Bởi đây là đối
90
tượng ít bệnh tật nhất, mức chi phí KCB cũng không cao như đối tượng khác.
Đối tượng hộ cận nghèo cũng nâng mức hỗ trợ từ 70% lên 100% vì thực tế có
những hộ không có sổ hộ nghèo nhưng thực sự rất khó khăn, không có điều
kiện để mua thẻ BHYT.
Cần bổ sung quy định chế tài xử lý vi phạm trong Luật BHYT. Đặc biệt,
cần được bổ sung các quy định làm rõ hành vi vi phạm và chế tài áp dụng thật
nghiêm khắc. Ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho quỹ BHYT,
quyền và lợi ích chính đáng của người thụ hưởng BHYT, cần quy định thêm
các hình thức phạt nghiêm khắc khác như: tước giấy phép hành nghề đối với
các cơ sở KCB, các bác sỹ, dược sỹ vi phạm pháp luật và quy tắc đạo đức
nghề nghiệp; tạm đình chỉ hoặc thậm chí chấm dứt hoạt động đối với doanh
nghiệp cố tình trốn đóng BHYT cho người lao động.
Bộ Y tế ban hành phác đồ điều trị chuẩn đầy đủ làm cơ sở để các cơ sở
KCB thực hiện, đồng thời cũng làm căn cứ để cơ quan BHXH giám định,
đánh giá tính hợp lý của chỉ định điều trị bệnh tại các cơ sở KCB. Quy trình
chuyên môn, phác đồ điều trị là chuẩn mực không thể thiếu trong việc KCB,
đồng thời là cơ sở để xác định chi phí KCB BHYT thực tế cho người bệnh
BHYT.. Do một số quy trình chuyên môn còn thiếu, nên trong thực tế đang
xảy ra tình trạng cùng một loại bệnh nhưng các bệnh viện khác nhau có phác
đồ điều trị khác nhau do có tình trạng chỉ định quá mức cần thiết các dịch vụ
kỹ thuật, các loại thuốc đắt tiền kéo theo chi phí cho cùng một loại bệnh cũng
khác nhau, gây mất công, không đảm bảo tính khoa học, hiệu quả trong công
tác KCB, gây lãng phí quỹ BHYT. Hoàn thiện việc xây dựng giá viện phí
theo đúng quy định của pháp luật và có lộ trình tính đúng, tính đủ vừa giảm
bớt nguồn ngân sách hỗ trợ, thực hiện tốt cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiêm,
đồng thời đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động cho các đơn vị KCB, có nguồn
lực chi trả lương và các chế độ cho y bác sĩ, đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo
91
nhân lực để nâng cao chất lượng KCB nhằm ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu
cầu của người bệnh.
Bộ Y tế và BHXH Việt Nam cần xây dựng quy chế phối hợp chặc chẽ,
vì một bên là đơn vị quản lý nhà nước, một bên tổ chức thực hiện phải cùng
phối hợp quản lý điều hành vời mục tiêu trung tâm là hướng tới người dân để
phục vụ. Hai đơn vị cần có sự thống nhất quy định về phương thức thanh toán
chi phí KCB BHYT. Để việc quản lý quỹ BHYT hiệu quả, cần giao cho
BHXH tỉnh phối hợp với Sở Y tế lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp
với điều kiện của địa phương. Thay phương thức thanh toán theo phí dịch vụ
hiện nay bằng phương thức thanh toán theo trường hợp bệnh đối với trường
hợp nội trú. Thanh toán theo định suất đối với cơ sở KCB ngoại trú và chăm
sóc sức khỏe ban đầu.. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm của các bên liên
quan trong việc phân bổ sử dụng quỹ kết dư đơn vị được sử dụng, giao quyền
điều tiết kết dư quỹ ở địa phương cho cơ quan BHXH nhằm cân đối quỹ trên
địa bàn tỉnh.
Bộ Y tế sớm nghiên cứu và ban hành quy định thanh toán chi phí KCB
BHYT từ xa, cập nhật dữ liệu KCB BHYT thường xuyên lên hệ thống dữ liệu
KCB BHYT, thực hiện bệnh án điện tử, thực hiện truyền dữ liệu kết quả cận
lâm sàng giữa các tuyến, giữa các bệnh viện trong KCB BHYT. Vì trong thời
đại công nghệ 4.0, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực
trong đó có KCB BHYT sẽ giúp cho người bệnh đỡ tốn kém kinh phí đi lại,
ăn ở. Mọi thông tin liên quan đến quyền lợi theo quy định đã được cung cấp
từ phía cơ sở KCB BHYT, phần người bệnh phải trả và đã trả, phần được
hưởng về chế độ KCB BHYT người bệnh phải được biết, như vậy mới thực
hiện công khai minh bạch. Việc triển khai KCB BHYT từ xa, người bệnh sẽ
được tiếp cận các công nghệ tiên tiến hiện đại, trình độ chuyên môn tay nghề
cao tại các trung tâm y tế chuyên sâu, đặc biệt nhu cầu này rất rõ trong đợt
92
nước ta trong thời gian bị đại dịch Covid 19, hay bị các đợt thiên tai, bảo lụt
lớn, người dân không đi lại được.
BHXH Việt Nam cần xem xét điều chỉnh bổ sung Quy trình thực hiện
giám định BHYT phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin, đáp ứng
yêu cầu quản lý quỹ BHYT minh bạch và công khai, giảm thời gian chờ đợi
của bệnh nhân cũng như khắc phục tình trạng bệnh nhân lợi dụng việc thông
tuyến để sử dụng thẻ BHYT khám bệnh nhiều nơi trong cùng một thời điểm
nên các cơ sở KCB BHYT phải phối hợp tốt với cơ quan BHXH để triển khai
thực hiện giám định BHYT điện tử. Xây dựng chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu
dùng chung để phục vụ công tác giám định BHYT. Việc triển khai giám định
BHYT điện tử sẽ giúp công tác quản lý.
Tiểu kết Chương 3
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác tổ chức thực hiện Luật BHYT
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, tại chương 3, nghiên cứu này đã xác định
được quan điểm, mục tiêu và phương hướng tổ chức thực hiện Luật BHYT
đến năm 2025 tập trung bốn nhóm giải pháp như: Tăng cường công tác quán
triệt, tuyên truyền, phổ biến Luật BHYT; Nâng cao chất lượng dịch vụ và
công tác tổ chức thực hiện các chế độ chính sách theo quy định của Luật
BHYT, đáp ứng sự hài lòng của mọi đối tượng; Tăng cường quản lý nhà nước
về BHYT thật sự có hiệu lực và hiệu quả; Hoàn thiện Luật BHYT và các văn
bản hướng dẫn thi hành.
93
KẾT LUẬN
Chính sách BHYT là một trong những chính sách xã hội quan trọng
thuộc hệ thống an sinh xã hội, có vai trò quyết định đến công tác chăm sóc
sức khoẻ, khám chữa bệnh cũng như đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận các
dịch vụ y tế đối với hầu hết các thành viên trong xã hội.
Sau hơn 12 năm triển khai thực hiện Luật BHYT, trong đó có 5 năm
thực hiện Luật sửa đối bổ sung một số điều của Luật BHYT, tại tỉnh Thừa
Thiên Huế đã đạt được những thành quả đáng kể. Số lượng người tham gia
BHYT ngày càng tăng; chế độ khám, chữa bệnh BHYT được chú trọng, mở
rộng và nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Việc quy định cụ thể, minh
bạch về hồ sơ, thủ tục tham gia và thụ hưởng chế độ bảo hiểm y tế là cơ sở
quan trọng để chính sách BHYT được thực hiện thống nhất trong cả nước,
tránh sự phiền hà, sách nhiễu đối với người tham gia BHYT, góp phần quan
trọng vào chính sách BHYT toàn dân và chương trình cải cách hành chính
nhà nước một cách có hiệu quả.
Việc giải quyết chế độ BHYT cho người tham gia BHYT được đảm bảo
kịp thời, đúng quy định, kết hợp quản lý chặt chẽ các đối tượng tham gia
khám, chữa bệnh BHYT; giám định chi trả BHYT ngày càng được cải tiến,
hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người tham gia BHYT khi thụ
hưởng các chế độ BHYT trong khám, chữa bệnh, tạo sự yên tâm, tin tưởng
của người dân vào chính sách BHYT, khẳng định sự đúng đắn trong chính
sách BHYT toàn dân của Đảng và Nhà nước ta.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách BHYT trong thực tiễn tại tỉnh
Thừa Thiên Huế thời gian qua vẫn còn những vấn đề khó khăn cả về chính
sách và tổ chức thực hiện, cần được tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh nhằm
94
đảm bảo thành công việc thực hiện chính sách BHYT trong thời gian tới.
Từ những kết quả đạt được và đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện Luật
BHYT, nghiên cứu này xác định được phương hướng, mục tiêu tổ chức thực
hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và đưa ra các giải pháp
bảo đảm tổ chức thực hiện Luật BHYT, cụ thể là giải pháp tiếp tục hoàn thiện
pháp luật về BHYT, hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ trong tổ chức thực hiện
Luật BHYT, tăng cường phổ biến, giáo dục về Luật BHYT, tăng cường giám
sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật BHYT, cải cách hành chính và
nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia BHYT, tất cả vì mục tiêu đảm
bảo an sinh xã hội theo đúng quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước./.
95
1. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2017),“Báo cáo Tổng kết công tác năm
2016, phương hưởng năm 2017”. Số:44/BC-BHXH ngày 09/01/2017.
2. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2018),“Báo cáo Tổng kết công tác năm
2017, phương hưởng năm 2018”. Số:98/BC-BHXH ngày 30/01/2018.
3. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2019),“Báo cáo Tổng kết công tác năm
2018, phương hưởng năm 2019”. Số:08/BC-BHXH ngày 05/01/2019
4. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Tổng kết công tác năm
2019, phương hưởng năm 2020”. Số:10/BC-BHXH ngày 04/01/2020
5. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Sơ kết 9 tháng đầu năm
2020, phương hưởng 3 tháng cuối năm”. Số:1109/BC-BHXH ngày 26/10/2020
6. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo tình hình thực hiện Luật
Bảo hiểm y tế giai đoạn 2015-2019”. Số:1129/BC-BHXH ngày 30/10/2020
7. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Tổng kết tình hình thực
hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác BHXH BHYT giai đoạn 2012-2020”. Số:891/BC-BHXH
ngày 20/8/2020.
8. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2019),“Báo cáo Tổng kết 10 năm thực
hiện Chỉ thị 38-CT/TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác
Bảo hiểm y tế trong tình hình mới”. Số:577/BC-BHXH ngày 11/6/2019.
9. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Tổng kết Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, định hướng giai
đoạn 2021-2030”. Số:479/BC-BHXH ngày 18/5/2020.
10. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2019), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2018, triển
khai nhiệm vụ năm 2019”. Số: 146/BC-BHXH ngày 14/01/2019.
11. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2020), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2019, triển
khai nhiệm vụ năm 2020”. Số: 584/BC-BHXH ngày 27/02/2020.
12. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2020), “Báo cáo dánh giá kết quả 25 năm thực hiện
chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; các giải pháp triển khai Nghị quyết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
số 28-NQ/TW và nhiệm vụ công tác năm 2020”
13. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2019), “Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương”, thay thế Quyết định số
1414/QĐ-BHXH ngày 04/10/2016. Số 969/QĐ-BHXH, ngày 29/7/2019
14. Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa X
(2009), “Chỉ thị Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới”. Số:
38-CT/TW, ngày 07/9/2009.
15. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XI (2012), “Nghị
quyết của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020”. Số: 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012.
16. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XII (2017), “Nghị
quyết về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân
dân trong tình hình mới”. Số: 20-NQ/TW, ngày 25/10/2017.
17. Võ Khánh Bình và các cộng sự Hoàng Trọng Chính, Nguyễn Thị Khánh Chi,
Trương Công Khả, Bùi Thị Thu Lý (2017). Công trình nghiên cứu về các giải
pháp phát triển đối tượng tham gia BHYT theo Hộ Gia đình trên địa bàn Thừa
Thiên Huế. Công trình nghiên cứu khoa học cấp ngành theo Quyết định
1499/QĐ-BHXH của BHXH Việt Nam, ngày 12/9/2017
18. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2017), Nghị quyết ban
hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-
NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ Sáu của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Số: 139/NQ-CP, ngày
31/12/2017.
19. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định quy
định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT, Số:
105/2014/NĐ-CP, ngày 15/11/2014
97
20. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2018), Nghị định quy
định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT,
thay thế Nghị định 105/2014/NĐ-CP, Số: 146/2018/NĐ-CP, ngày 17/10/2018
21. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, Số: 176/2013/NĐ-CP,
ngày 14/11/2013
22. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2020), Nghị định quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, thay thế Nghị định
176/2013/NĐ-CP; Số: 117/2020/NĐ-CP, ngày 28/9/2020
23. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2016), Nghị định quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam,
Số: 01/2016/NĐ-CP, ngày 05/01/2016
24. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2020), Nghị định quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam,
thay thế Nghị định 01/2016/NĐ-CP, Số: 89/2020/NĐ-CP, ngày 04/8/2020
25. Trần Ngọc Đường (2014), “Về nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến
pháp 2013”. Tạp chí Tổ Chức Nhà nước, ngày 05/8/2014, truy cập ngày
05/3/2019,
http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010067/0/6220/Ve_nguyen_tac_to_c
huc_bo_may_nha_nuoc_trong_Hien_phap_2013.
26. Đào Thu Hiền (2013), “Vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội”. Tạp
chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường. Số 43 (12/2013), trang 150-154.
27. Hoàng Minh Hội (2014), “Thực trạng pháp luật về giám sát của nhân dân đối với
cơ quan hành chính Nhà nước ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị”. Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 30, số 02, trang 42-50.
28. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (2012),
“Chủ đề: Luật phổ biến, giáo dục pháp luật”. Đặc san tuyên truyền pháp luật,
số: 08/2012.
29. Đặng Thị Việt Phương và Nguyễn Thanh Thủy (2015).” Vai trò của Nhà nước
98
trong việc đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam”. Trang 67 Tạp chí Xã hội học
2 (130)- Viện xã hội học 2015
30. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), “Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, ngày 28/11/2013.
31. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật Tổ chức
Chính phủ”. Số: 76/2015/QH13, ngày 19/6/2015.
32. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật Tổ chức
Chính quyền địa phương”. Số: 77/2015/QH13, ngày 19/6/2015.
33. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), “Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền
địa phương”. Số: 47/2019/QH14, ngày 22/11/2019.
34. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật”, số 80/2015/QH13, ngày 22/6/2015.
35. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), “Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật”. Số: 14/2012/QH13, ngày 20/6/2012.
36. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân”. Số: 87/2015/QH13, ngày
20/11/2015.
37. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), “Luật Thanh tra”.
Số: 56/2010/QH12, ngày 15/11/2010.
38. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), “Luật Bảo hiểm y
tế”. Số: 25/2008/QH12, ngày 14/11/2008
39. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), “Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế”. Số: 46/2014/QH13, ngày 13/6/2014
40. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Bộ luật Hình
sự”. Số: 100/2015/QH13, ngày 27/11/2015
41. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), “Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13," Số: 12/2017/QH14
ngày 20/6/2017
99
42. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2019), “Nghị quyết hướng dẫn
áp dụng Điều 214 về tội gian lận BHXH, BHTN, Điều 215 về tội gian lận
BHYT và Điều 216 về tối trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động
của Bộ luật Hình sự" Số: 05/2019/QH14 ngày 15/8/2019
43. Hoàng Mạnh Trường (2016). về “Thực hiện pháp luật về BHYT Việt Nam hiện
nay”. Luận văn thạc sĩ 2016
44. Đặng Minh Tuấn (2005), “Một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc pháp
luật”, trang 5-16. Trong: Nguyễn Minh Đoan và cộng sự (2005), Các nguyên
tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc
tế. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội.
45. Thủ tướng Chính phủ (2015), “Tăng cường thực hiện chính sách BHXH,
BHYT”. Chị thị số 05/CT-TTg, ngày 02/4/2015.
46. Thủ tướng Chính phủ (2013), “Phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT
toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020”. Quyết định số 538/QĐ-TTg, ngày
29/3/2013.
47. Thủ tướng Chính phủ (2015), “Giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai đoạn 2015 –
2020”. Quyết định 1584/QĐ-TTg, ngày 14/9/2015.
48. Thủ tướng Chính phủ (2016), Điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai
đoạn 2016-2020. Quyết định số 1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016.
49. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2013), “Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết số 21-
NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị”. Số: 43-KH/TU, ngày 26/3/2013.
50. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2017), “Báo cáo kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết
số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020”. Số: 211-
BC/TU ngày 19/10/2017.
51. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2018), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
thực hiện các chính sách BHXH, BHYT trong tình hình mới”. Số: 15-CT/TU,
ngày 05/4/2018.
52. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2019), “Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 38-CT/TW
100
ngày 07/09/2009 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác Bảo hiểm y tế trong
tình hình mới”. Số: 426-BC/TU ngày 07/6/2019.
53. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2013), “Chỉ đạo các sở, ban, ngành cấp
tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp của Kế hoạch 43-KH/TU của Tỉnh ủy thực hiện Nghị
quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2021 - 2020. Số 3116/UBND-YT, ngày
29/6/2013.
54. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), “Tổng quan về tỉnh Thừa Thiên
Huế”, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị, truy cập ngày 05/9/2020.
Thien-Hue>. 55. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2014), Ban hành Quy chế phối hợp thực hiện chính sách pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày 26/3/2014. 56. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Kế hoạch 17/KH- UBND ngày 03/01/2015. 57. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), Quyết định thành lập Ban Thường trực và Tổ giúp việc giúp Ban Thường trực tổ chức triển khai thi hành và giải quyết các vướng mắc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT. Quyết định 364/QĐ-UBND, ngày 13/02/2015. 58. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), Kế hoạch về thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2015 - 2020. Kế hoạch 136/KH-UBND ngày 11/12/2015 59. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2016), Kế hoạch triển khai thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Kế hoạch 162/KH-UBND ngày 10/11/2016. 60. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2017), Chỉ thị về việc tuyên truyền, mở 101 rộng độ bao phủ BHYT và công tác quản lý quỹ KCB BHYT. Chỉ thị 21/CT- UBND, ngày 02/10/2017 61. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Chỉ thị về việc tăng cường quản lý và thực hiện các giải pháp thu, chi BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh. Chỉ thị 04/CT-UBND, ngày 31/01/2020 .