BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

………/……… .…../……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG TRỌNG CHÍNH

TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

………/……… .…../……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG TRỌNG CHÍNH

TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. TRẦN TIẾN HẢI

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của cá nhân dưới sự

hướng dẫn của Tiến sĩ Trần Tiến Hải. Các số liệu được thể hiện trong

luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.

Học viên

Hoàng Trọng Chính

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Những từ viết tắt trong luận văn

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO

HIỂM Y TẾ ...................................................................................................... 8

1.1. Khái quát chung về bảo hiểm y tế và Luật Bảo hiểm y tế ..................... 8

1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế .......................................... 8

1.1.2. Luật Bảo hiểm y tế ...................................................................... 188

1.1.3. Một số nội dung về pháp luật bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay. 200

1.2. Khái niệm, hình thức, chủ thể và nội dung tổ chức thực hiện Luật Bảo

hiểm y tế .................................................................................................... 244

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thực hiện Luật BHYT .................. 244

1.2.2. Các giai đoạn tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế .................... 28

1.2.3. Chủ thể tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế............................ 333

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế ..... 355

1.3.1. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về bảo hiểm y tế nói riêng và của

cả hệ thống pháp luật nói chung ........................................................... 355

1.3.2. Tổ chức bộ máy và nguồn lực ..................................................... 377

1.3.3. Ý thức pháp luật của các bên tham gia ......................................... 39

1.3.4. Sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện Luật ........................... 400

1.3.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội .......................................... 402

Tiểu kết Chương 1 ..................................................................................... 433

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM

Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ................................ 444

2.1. Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội

của tỉnh Thừa Thiên Huế ........................................................................... 444

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội ........ 444

2.1.2 Tác động của điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội đối với

việc triển khai Pháp luật về BHYT. ...................................................... 466

2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh

Thừa Thiên Huế hiện nay .......................................................................... 477

2.2.1. Kết quả đạt được ........................................................................... 49

2.2.2. Những tồn tại và hạn chế ............................................................ 577

2.2.3. Đánh giá kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân .................... 655

Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................... 700

Chương 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ

CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỉNH

THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỜI GIAN TỚI .................................... 711

3.1. Quan điểm, mục tiêu .......................................................................... 711

3.1.1 Quan điểm .................................................................................... 711

3.1.2 Mục tiêu ....................................................................................... 733

3.2. Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn

Thừa Thiên Huế trong thời gian tới .......................................................... 744

3.2.1 Tăng cường công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Luật BHYT

................................................................................................................. 71

3.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác tổ chức thực hiện Luật

BHYT đáp ứng sự hài lòng của mọi đối tượng ..................................... 739

3.2.3 Tăng cường quản lý nhà nước về BHYT có hiệu lực và hiệu quả 83

3.2.4 Hoàn thiện Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn thi hành ......... 73

Tiểu kết Chương 3 ..................................................................................... 922

KẾT LUẬN .................................................................................................. 933

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 955

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

HĐND Hội đồng nhân dân

KCB Khám chữa bệnh

NSNN Ngân sách nhà nước

PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật

UBND Uỷ ban nhân dân

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề an sinh xã hội ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới luôn

luôn được quan tâm hàng đầu, trong đó chính sách BHXH và BHYT là hai

chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp

phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội

và phát triển kinh tế - xã hội. Trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã

hội, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng chính sách BHYT và luôn xem đây

là một trong hai trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội ở nước ta. Chính

sách BHYT là chính sách có ảnh hưởng trực tiếp và tác động sâu rộng đến tất

cả các thành viên trong xã hội, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng

đồng sâu sắc, góp phần quan trọng để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội

trong lĩnh vực chăm sóc y tế, là cơ chế tài chính y tế quan trọng và là cơ chế

chi trả trước áp dụng giúp người dân khi bị ốm đau không bị rơi vào cảnh

nghèo đói và là định hướng phát triển trong chăm sóc sức khỏe người dân.

Nhận thức được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng đối với xã hội do

chính sách BHYT mang lại, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và lãnh đạo

và tổ chức thực hiện Chính sách BHYT trong toàn quốc. Nghị quyết Đại hội

X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “Xây dựng hệ thống an sinh xã

hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn

dân”. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 14/11/2008 Quốc hội đã ban

hành Luật BHYT đánh dấu một bước quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý

để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHYT.

Đối với Tỉnh Thừa Thiên Huế, là tỉnh nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ,

là tỉnh được xác định là một trong những vùng trung tâm y tế chuyên sâu của

cả nước, thời gian qua quá trình thi hành Luật BHYT đạt được nhiều kết quả

đáng kể. Quan trọng nhất là nhận thức của nhân dân và trách nhiệm của các

2

cấp, các ngành ngày càng được nâng cao về chính sách BHYT. Công tác tổ

chức thực hiện chính sách và pháp luật BHYT đã có những chuyển biến rõ

nét; đã có hơn 1,1 triệu người dân tham gia BHYT, chiếm tỷ lệ hơn 98% dân

số toàn tỉnh. Đặc biệt, nguồn kinh phí KCB được chi trả từ quỹ BHYT ngày

càng gia tăng, quyền lợi người tham gia đã được thực hiện khá tốt, chất lượng

KCB được nâng lên, nhiều dịch vụ y tế kỹ thuật cao với mức chi phí lớn đã

được quỹ BHYT chi trả, tấm thẻ BHYT thật sự vô cùng quý giá cho người

tham gia, nhất là trong tình hình khó khăn về kinh tế, giá viện phí liên tục gia

tăng như hiện nay, việc tham gia BHYT càng có ý nghĩa hết sức thiết thực.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luật BHYT ở tỉnh Thừa Thiên Huế

thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như trong công tác quản lý nhà

nước và tổ chức triển khai thực hiện Pháp luật BHYT vẫn chưa hiệu quả cao;

tỷ lệ tham gia BHYT trên địa bàn tỉnh mặc dầu đạt cao nhưng không có tính

bền vững; công tác quản lý quỹ BHYT còn nhiều bất cập; tình trạng mất cân

đối quỹ BHYT ngày càng gia tăng; tình trạng vi phạm pháp luật về tham gia

đóng BHYT xảy ra ở nhiều đơn vị chủ sử dụng lao động, người tham gia và

đơn vị KCB BHYT… Bên cạnh nhiều yếu tố truyền thống tác động đến

Chính sách BHYT, hiện nay đã xuất hiện nhiều yếu tố mới như mặt trái của

kinh tế thị trường ngày càng phức tạp, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, toàn

cầu hóa ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các cuộc

khủng hoảng kinh tế, hay dịch bệnh bùng phát bất kỳ xuất phát ở nước nào

cũng gây nên hậu quả khôn lường, phức tạp và tác động rất lớn đến tất cả các

lĩnh vực kinh tế xã hội trên toàn thế giới.

Từ thực trạng trên, nếu không có một nghiên cứu, đánh giá, phân tích, và

dự báo sớm để đưa ra các giải pháp phù hợp để khắc phục, sẽ dẫn đến việc

quản lý nhà nước về BHYT sẽ không đạt yêu cầu, không giải quyết được các

mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện, tình trạng mất cân đối thu, chi

3

vẫn tiếp diễn, lạm dụng quỹ BHYT dự báo ngày càng gia tăng, khó kiểm

soát… Và dự báo chắc chắn hiệu lực quản lý nhà nước không đạt được và làm

giảm niềm tin của người dân đối với chính sách và pháp luật BHYT trên địa

bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Để khắc phục, hạn chế những bất cập, tồn tại đã

nêu trên, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong tổ

chức thực hiện Luật BHYT, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực hiện

Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”. Đây là một vấn đề

nóng đang được nhiều dư luận quan tâm, và đề tài này rất cần thiết và có ý

nghĩa cấp thiết trong thực tế hiện nay, nhằm để chính sách và pháp luật

BHYT thực sự phát huy hiệu quả nguồn quỹ tài chính quan trọng của nhà

nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân và đảm bảo

mục tiêu an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước trong thời gian đến.

2. Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

Liên quan đến đề tài ở những phạm vi, mức độ khác nhau, có thể nêu ra

một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Luận văn thạc sĩ Luật học của Bùi Thị Phương Dung (2015) về “Thực

trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm y tế bắt buộc ở Việt Nam”. Luận văn đã

phân tích thực trạng các quy định về pháp luật BHYT. Phân tích, đánh giá

thực trạng các quy định về pháp luật BHYT bắt buộc và thực tiễn thực hiện.

Trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế của pháp luật BHYT hiện hành cần sửa

đổi, bổ sung, bãi bỏ. Đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật

BHYT cho phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Luận văn thạc sĩ Luật của Phan Diệu Linh (2016) về “Pháp luật Bảo

hiểm y tế bắt buộc từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Phú Thọ”. Luận văn trên cơ

sở tiếp cận chuyên ngành Luật, Lý luận lịch sử nhà nước, mục đích của Luận

văn là phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật BHYT,

đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật

4

BHYT bắt buộc tại Tỉnh Phú Thọ.

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành (2016) của Nông Thị Phương

Thảo về “Về giải pháp nâng cao độ bao phủ Bảo hiểm y tế trên địa bàn Tỉnh

Lạng Sơn”. Đề tài nhằm cung cấp các thông tin tổng quát về thực trạng triển

khai chính sách BHYT, đánh giá kết quả và tồn tại trong tổ chức thực hiện

BHYT ở Tỉnh Lạng Sơn. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc mở

rộng đối tượng, phát triển BHYT ở trong tỉnh. Đề xuất các giải pháp chủ yếu

góp phần nâng cao độ bao phủ Bảo hiểm y tế tại Tỉnh Lạng Sơn.

Luận văn thạc sĩ của Hoàng Mạnh Trường (2016) về “Thực hiện pháp

luật về BHYT Việt Nam hiện nay”. Luận văn trên cơ sở tiếp cận chuyên ngành

Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, mục đích của đề tài là phân tích những

vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật BHYT, đánh giá thực trạng và đề

xuất giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật BHYT ở nước ta hiện nay.

Công trình nghiên cứu khoa học cấp ngành của Võ Khánh Bình và các

cộng sự (Hoàng Trọng Chính, Nguyễn Thị Khánh Chi, Trương Công Khả,

Bùi Thị Thu Lý) (2017) về “Các giải pháp phát triển đối tượng tham gia

BHYT theo Hộ Gia đình trên địa bàn Thừa Thiên Huế”. Công trình này

nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu Nghị quyết số

21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020.

Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích vị trí, vai trò

của BHYT ở cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn, đồng thời đề xuất một số

kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ, chính sách về BHYT vào các

thời điểm nghiên cứu. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả lợi ích mang lại

của các công trình trên, vấn đề BHYT vẫn còn đang đứng trước nhiều thách thức

đan xem với nhiều cơ hội trong quá trình tổ chức thực hiện, do có nhiều thay đổi

rất lớn, kể cả thay đổi điều chỉnh chính sách, pháp luật BHYT và các văn bản

5

hướng dẫn thực hiện, đặc biệt trong gia đoạn hiện nay trước tình hình kinh tế khó

khăn, dự báo rất nhiều biến động các lĩnh vực trong xã hội theo cơ chế thị

trường, hội nhập kinh tế quốc tế, tác động những khủng hoảng của kinh tế, dịch

bệnh tác động toàn cầu thì những nghiên cứu này vẫn còn thiếu tiếp cận dưới

một số góc độ tổ chức thực hiện Luật BHYT, hoặc mới chỉ đề cập tới từng lĩnh

vực, từng chế độ, chính sách BHYT, chưa cập nhật, phân tích đầy đủ những khó

khăn, vướng mắc, những thách thức, cơ hội mới trong quá trình tổ chức thực

hiện Luật BHYT ở nước ta cũng như tại Thừa Thiên Huế.

Vì vậy, việc nghiên cứu tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh

Thừa Thiên Huế trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng, từ đó đề xuất

những giải pháp nhằm bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của chính sách

BHYT là việc làm cần thiết, có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện Luật

BHYT trên địa bàn tỉnh Tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở phân tích thực trạng

tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó

đề xuất những giải pháp, kiến nghị căn bản nhằm ngày càng hoàn thiện việc

tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn

tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đánh giá thực trạng, nguyên nhân, vấn đề đặt ra trong công tác tổ chức

thực hiện Luật BHYT của các chủ thể trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện

Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung cơ bản của hoạt

động tổ chức thực hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Về thời gian: Số liệu nghiên cứu được thu thập 5 năm từ năm 2015-2019 và 9

tháng đầu năm 2020.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu trên quan điểm Chủ nghĩa duy vật biện chứng,

Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lê nin; Tư tưởng Hồ Chí Minh,

các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của

Nhà nước về chính sách xã hội, trong đó có chính sách BHYT, bảo vệ phát

triển con người, chế độ an sinh xã hội, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân,

đảm bảo duy trì ổn định xã hội, phát triển đất nước.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

+ Phương pháp thống kê, tổng hợp.

+ Phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá.

+ Phương pháp thu thập thông tin, quan sát, phỏng vấn chuyên gia.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1.Ý nghĩa về mặt lý luận

Thông qua nghiên cứu tính tất yếu khách quan sự ra đời và khái niệm

BHYT, các quan điểm, nhận thức về BHYT, xác định vị trí, vai trò của

BHYT trong thực tiễn cuộc sống hiện nay, căn cứ trên lý luận và luận chứng

khoa học làm rõ bản chất BHYT dưới 2 góc độ xã hội và kinh tế, luận văn xác

7

định rõ tầm quan trọng của chính sách BHYT trong hệ thống an sinh xã hội

trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, nó ảnh hưởng trực tiếp sâu rộng đến đời

sống của mọi gia đình, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa

phương. Từ đó, Luận văn đánh giá, phân tích đưa ra quan điểm, nhận thức

một cách đầy đủ và toàn diện về giá trị và ảnh hưởng tích cực của chính sách

BHYT hiện nay, đưa ra một số cơ sở, kiến nghị mới, bổ sung về quan điểm,

nhận thức về BHYT.

6.2.Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu, phân tích thực trạng

pháp luật và thực thi Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, căn cứ

các số liệu, diễn biến cụ thể, luận văn sẽ phân tích kết quả đạt được, các tồn

tại, hạn chế, nguyên nhân, để từ đó đưa ra một số giải pháp để kiến nghị các

cấp có thẩm quyền nhằm hoàn thiện pháp luật về BHYT và tăng cường hiệu

lực và hiệu quả việc thực hiện Luật BHYT, đồng thời đề xuất các giải pháp bổ

sung nhằm ngày càng hoàn thiện trong thực thi pháp luật về BHYT và các

lĩnh vực có liên quan như Luật KCB, Luật Dược, Luật Đấu thầu, giá viện phí,

thanh tra kiểm tra, xử phát vi phạm hành chính…; giải pháp tăng cường

PBGDPL nói chung và BHYT nói riêng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói

riêng, và cả nước nói chung, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội

của đất nước ta và xu thế chung của thời đại.

7. Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,

phần nội dung chính của luận văn có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

Chương II: Thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế tại Tỉnh

Thừa Thiên Huế.

Chương III: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp bảo đảm tổ chức thực

hiện Luật Bảo hiểm y tế tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.

8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ

1.1. Khái quát chung về bảo hiểm y tế và Luật Bảo hiểm y tế

1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế

1.1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm y tế

BHYT ra đời như một tất yếu khách quan trong cuộc sống, từ nhu cầu

chính đáng của con người nhằm bảo vệ chăm lo sức khỏe khi không may bị

ốm đau, bệnh tật, tai nạn…Thực tế trong xã hội, luôn luôn tồn tại nhóm người

yếu thế, có nguy cơ bệnh tật cao và không có khả năng tài chính để trang trải

chi phí y tế. Nếu chỉ trông chờ vào sự cứu trợ tự phát, không mang tính bền

vững, đảm bảo thì nhóm đối tượng này sẽ luôn có nguy cơ nằm ngoài sự bảo

vệ. Nhu cầu về cơ chế chia sẽ rủi ro, mang tính xã hội, được thực hiện trên

diện rộng với sự đảm bảo chắc chắn từ phía nhà nước trở thành nhu cầu tất

yếu trong đời sống xã hội.

Trợ cấp chăm sóc y tế là một trong những chế độ trợ cấp quan trọng,

mang tính đặc thù của hệ thống An sinh xã hội. Pháp luật về An sinh xã hội

của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ưu tiên đảm bảo chế độ trợ cấp về y

tế, thể hiện dưới hình thức BHYT. Quỹ BHYT có nguồn gốc từ sự đóng góp

của người lao động, chủ sử dụng lao động và sự bảo trợ của Nhà nước. Hình

thức sơ đẳng nhất của BHYT là quỹ tương hỗ. Người tham gia đóng tiền vào

quỹ tương hỗ theo mức quy định nào đó (theo lương, thu nhập hoặc một mức

ấn định nào đó theo quy định của mỗi nước), khi đi KCB tại cơ sở y tế, được

quỹ tương hỗ thanh toán cho bệnh viện, bệnh nhân không phải trả trực tiếp

toàn bộ chi phí, hoặc chỉ trả một phần cho bệnh viện. Chính phủ hỗ trợ một

phần chi phí từ ngân sách.

9

Trong quan điểm hình thành chính sách BHYT của các quốc gia trên thế

giới, tùy theo thể chế, chế dộ chính trị, tình hình kinh tế, xã hội, vị trí địa lý…

của mỗi nước sẽ có sự khác nhau trong các quan niệm khác nhau về BHYT

chủ yếu thể hiện ở phạm vi bảo vệ, hình thức và cách tổ chức thực hiện

BHYT ở mỗi quốc gia. Mặc dù mục tiêu chung của tất cả các Chính phủ trên

thế giới đều muốn tìm ra những giải pháp chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho

người dân. Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn nên chính phủ mỗi nước sẽ có

những con đường đi riêng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống

lịch sử văn hóa của quốc gia mình. Điều này làm nên sự khác biệt về BHYT

của các quốc gia và được thấy rõ nhất qua các mô hình BHYT. Tuy nhiên, đa

số đều có quan điểm căn bản về BHYT, đó là các mối quan hệ kinh tế gắn

liền với việc huy động các nguồn lực từ sự đóng góp của những người tham

gia để hình thành quỹ bảo hiểm và sử dụng để thanh toán các chi phí KCB

cho người được bảo hiểm khi bị ốm đau, bệnh tật. BHYT là một trong những

biện pháp nhằm huy động sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng

xã hội, giúp nâng cao chất lượng KCB, nâng cao tính nhân đạo và công bằng

xã hội, giúp cho mỗi người tham gia BHYT khắc phục được khó khăn về kinh

tế khi có rủi ro ốm đau. Mặc dù có sự đóng góp của người dân dưới nhiều

hình thức khac nhau nhưng vẫn phải có sự hỗ trợ của Nhà nước bởi kể cả

những nước có nền kinh tế phát triển cũng chưa có đủ nguồn tài chính đáp

ứng cho nhu cầu về chi phí trong KCB. Do đó, thực chất việc đóng góp

BHYT chính là tạo nguồn dự trữ tài chính cho bản thân người tham gia khi

chẳng may bị ốm đau, bệnh tật, nó là một trong bốn nguồn cấu thành ngân

sách của Ngành Y tế là: Ngân sách của Nhà nước bù đắp khi bội chi quỹ, viện

phí của người bệnh (Bệnh nhân cùng chi trả), quỹ BHYT thanh toán và tiền

ủng hộ của các tổ chức trong đó nguồn BHYT có ý nghĩa hết sức quan trọng

cho quá trình vận hành các cơ sở KCB.

10

Tại Việt Nam, trước khi pháp luật BHYT ra đời, nước ta áp dụng mô

hình tài chính tài chính y tế thông qua NSNN, cho đến cuối những năm của

thấp kỷ 80, NSNN vẫn bao cấp cho toàn bộ y tế, hoạt động của các cơ sở y tế

đều do NSNN bao cấp, hầu như toàn bộ người dân đi KCB đều được miễn

phí. Chế độ bao cấp KCB miễn phí cho mọi người dân có ý nghĩa lịch sử tại

thời điểm đó do đất nước mới trải qua những cuộc chiến tranh tàn khốc, đời

sống nhân dân vô cùng khó khăn thiếu thốn, cần phải được nhà nước bao cấp

toàn bộ. Tuy nhiên, với ngân sách ngày càng eo hẹp, đất nước đang phải tập

trung toàn bộ nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kinh tế, kinh phí không cấp

đủ cho các cơ sở KCB để phục vụ người dân, bên cạnh đó, sự phát triển như

vũ bảo các thành tựu khoa học trong lĩnh vực y tế trên thế giới và nhu cầu

chính đáng của người bệnh được tiếp cận những trang thiết bị y tế hiện đại,

thuốc, vật tư y tế ngày càng tạo sức ép đối với ngành y tế và nhà nước ta cần

có một chính sách mới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Qua việc đề cập đến sự ra đời của BHYT, chúng ta đã hình dung được sự

phong phú, đa dạng và các hình thức của BHYT. Với những xuất phát điểm

khác nhau, cùng với sự khác biệt về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch

sử, phong tục tập quán của các quốc gia mà quan niệm về BHYT có thể được

giải thích ở những phạm vi rộng hẹp khác nhau. Sự khác nhau trong quan

niệm về BHYT dẫn đến sự khác nhau về nội dung, chế độ BHYT trong hệ

thống pháp luật. Theo trường phái kinh tế, BHYT được tiếp cận như là một

vấn đề kinh tế y tế. Tính kinh tế y tế của BHYT là nội dung quan trọng trong

nguyên lý hoạt động của BHYT. Nó được thể hiện ở những góc độ khá rộng

là hình thức huy động nguồn tài chính cho y tế, giám sát việc cung ứng dịch

vụ y tế ở các cơ sở KCB, sử dụng đồng tiền sao cho đúng mục đích, hiệu quả,

đảm bảo cân đối thu, chi quỹ BHYT. Mối quan hệ giữa mức đóng và mức

hưởng luôn được cân nhắc, tính toán cẩn thận để đảm bảo thu bù chi. Kinh tế

11

y tế trong BHYT còn được hiểu là sự tương trợ chia sẻ rủi ro, trợ giúp tài

chính của số đông cho số ít không may ốm đau. BHYT được coi là một biện

pháp kinh tế liên kết nhiều người khỏe mạnh cùng chăm sóc sức khỏe cho

người bị ốm đau và BHYT có vai trò, nhiệm vụ phân phối lại thu nhập.

Từ tình hình thực tế đó, khái niệm BHYT được Tổ chức Lao động quốc

tế (ILO) đưa ra với đề cập đến với những đặc trưng cơ bản sau: Thiết lập trên

cơ sở đóng góp tài chính của người tham gia; Bao gồm các dịch vụ chăm sóc

sức khỏe, KCB mà không phải trợ cấp bằng tiền; Không mang mục đích kinh

doanh; Quyền lợi phụ thuộc vào nhu cầu bệnh lý và khả năng cung ứng dịch

vụ y tế. Những quan điểm này của Tổ chức Lao động quốc tế đã trở thành

chuẩn mực về BHYT cho các quốc gia thực hiện BHYT. Đây đồng thời là

những nguyên lý cơ bản của BHYT. Cũng như an sinh xã hội, BHYT là nội

dung bao hàm cả hai yếu tố kinh tế và xã hội khó có thể tách rời. Vấn đề chỉ

là ở chỗ các quốc gia chú trọng đến yếu tố nào hơn để xây dựng mô hình

BHYT cho nước mình. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng xác định rõ BHYT

có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Trong Tuyên bố Alma-Ata

(1978), WHO quan niệm “ BHYT là loại hình bảo không kinh doanh, không

vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con

người”. Theo thông lệ quốc tế tôn chỉ mục đích của loại hình bảo hiểm này là

đem lại sự chăm sóc y tế, với tư cách là một trong những nội dung chính của

an sinh xã hội theo công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu an sinh

xã hội của Tổ chức Lao động quốc tế.

Nhìn chung, dù được tổ chức thực hiện dưới mô hình nào, thì quan niệm

về BHYT đều thống nhất ở một vấn đề cơ bản đó là mục đích của BHYT

nhằm chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho người dân không vì mục tiêu lợi nhuận.

Như vậy, trên thế giới quan niệm về tôn chỉ, mục đích của BHYT khá đồng

nhất giữa các quốc gia. Sự khác nhau chủ yếu chỉ ở mô hình tổ chức thực

12

hiện, phạm vi và mức độ bảo vệ do điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử truyền

thống của từng quốc gia quyết định.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thì “BHYT là loại bảo hiểm do nhà

nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và

cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám sức khỏe và chữa bệnh cho

nhân dân”. Khái niệm này cơ bản đã khẳng định được bản chất BHYT ở Việt

Nam, đó là loại hình BHYT xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện, theo mô

hình tài chính đóng góp. Theo PGS, TS Đào Văn Dũng “BHYT là một chính

sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động nguồn lực tài chính

của nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động và cộng đồng để hình

thành quỹ tài chính dùng chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT theo

quy định của pháp luật”. Theo quan niệm này BHYT có các đặc trưng sau: do

nhà nước thực hiện; có sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao

động và sự hỗ trợ của nhà nước; quỹ dùng để chi trả chi phí KCB. Theo TS

Đàm Viết Cương, BHYT thực chất là loại hình bảo hiểm trong lĩnh vực chăm

sóc sức khỏe dựa trên những nguyên lý chung về tập hợp và chia sẻ nguy cơ,

rủi ro về sức khỏe; hình thức BHYT còn gọi là hình thức chi trả trước chi phí

cho KCB. Khác với một số loại hình bảo hiểm về hàng hóa, tài sản thông

thường, BHYT mang tính chất xã hội, chính trị và BHYT được coi là một

công cụ tăng cường an sinh xã hội, đảm bảo quyền được chăm sóc y tế của

mọi người. Như vậy BHYT được tiếp cận chủ yếu theo trường phái xã hội,

coi trọng yếu tố xã hội của BHYT trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro về sức khỏe.

Tại Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

năm 2013, tại Điều 58 quy định; “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự

nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn

dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số,

đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt

13

khó khăn”. Đây là định hướng quan trọng để thực hiện mục tiêu BHYT toàn

dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thực hiện sự

chia sẻ giữa người khỏe với người ốm, người giàu với người nghèo, người

trong độ tuổi lao động với trẻ em và người cao tuổi.

Khái niệm BHYT và một số khái niệm liên quan trong về BHYT ở nước

ta đã được chính thức luật hóa, ban hành cụ thể tại khoản 1, khoản 2 và khoản

3 Điều 2 Chương I Luật BHYT số 25/2008/QH12 do Quốc hội nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII ban hành năm 2008, quy định:

“BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối

tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích

lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”

“BHYT toàn dân là việc các đối tượng quy định trong Luật đều tham

gia BHYT”.

“Quỹ BHYT là Quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và

các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh,

chữa bệnh cho người tham gia BHYT, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức

BHYT và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến BHYT”.

Luật BHYT số 46/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam khóa XIII sửa đổi, bổ sung Luật BHYT, tại Điều 1, sửa đổi

bổ sung khoản 1, Điều 2 Luật BHYT quy định: “BHYT là hình thức bảo hiểm

bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để

chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực

hiện”.

Như vậy, cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa

nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc

tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là

14

loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham

gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật.

Khái niệm BHYT được khẳng định trong Luật BHYT cơ bản đã làm rõ

bản chất BHYT ở Việt Nam, đó là loại hình BHYT xã hội do nhà nước tổ

chức thực hiện, theo mô hình tài chính đóng góp từ nguồn ngân sách, nguồn

quỹ BHXH và từ người theo quy định của Luật bắt buộc tham gia BHYT.

BHYT có các đặc trưng đó là, BHYT do Nhà nước tổ chức thực hiện;

BHYT là một bộ phận cấu thành của hệ thống an sinh xã hội của nước ta, vì mục

tiêu an sinh xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Đây là

đặc trưng cơ bản để phân biệt BHYT mang tính xã hội do nhà nước thực hiện với

BHYT thương mại do các công ty kinh doanh thực hiện. Ở BHYT thương mại,

vấn đề lợi nhuận luôn luôn phải đặt ra. Mức đóng và mức hưởng được tính toán

cẩn thận để đảm bảo kinh doanh có lãi; có sự chia sẻ rủi ro giữa những người

tham gia BHYT. Quỹ BHYT được hình thành dựa trên sự đóng góp của NSNN,

người sử dụng lao động, người lao động và cộng đồng dưới sự bảo trợ của nhà

nước, không phân biệt người giàu, kẻ nghèo, mức hưởng không phụ thuộc đóng

nhiều hay đóng ít, mức hưởng chỉ ưu tiên cho một số đối tượng chính sách, đối

tượng yếu thế trong xã hội.

Từ những vấn đề trên, có thể hiểu một cách tổng quát nhất là: Bảo hiểm y tế

là một chính sách an sinh xã hội của Nhà nước mang tính cộng đồng, chia sẻ rủi

ro, trên cơ sở sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và cộng

đồng, có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước nhằm mục đích khám, chữa bệnh khi

thành viên ốm đau, bệnh tật và không vì mục tiêu lợi nhuận.

1.1.1.2. Vai trò của bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế có vai trò đặc biệt, mang tính xã hội rộng rãi như sau:

Thứ nhất, BHYT đóng vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội của

quốc gia. BHYT là giải pháp cơ bản và toàn diện để mọi người khi tham gia

15

BHYT, không may bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn đều được quỹ KCB BHYT chi

trả chi phí điều trị. BHYT do Nhà nước triển khai thực hiện mang tính xã hội

và nhân đạo cao cả theo nguyên tắc số đông bù số ít, người khỏe bù người

ốm, người đóng cao bù người đóng thấp, NSNN đóng cho một số nhóm đối

tượng như người nghèo, người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách, đối

tượng bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi…. Tất cả sự đóng góp này hình thành

nên quỹ chung, thống nhất, và quỹ này được dùng để chi trả chi phí KCB cho

một số ít người không may gặp rủi ro bệnh tật, điều này đã chia sẻ rủi ro,

giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi không may bị ốm đau, bệnh

tật, tai nạn.

Do vậy, sự đóng góp của cộng đồng xã hội để hình thành quỹ BHYT là

vô cùng quan trọng, là nguồn tài chính vững chắc đóng vai trò đảm bảo được

cuộc sống của cá nhân và gia đình khi không may bị bệnh tật, tránh rơi vào

hoàn cảnh đói nghèo, khó khăn do gia đình, bản thân cho dù họ có điều kiện

kinh tế nhưng phải chi trả những chi phí quá lớn, đã có nhiều bệnh nhân chi

phí hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng, đặc biệt các nhóm đối tượng

yếu thế trong xã hội không thể có tiền chi trả, được cấp thẻ BHYT từ NSNN

đóng sẽ được quỹ BHYT chi trả. Bệnh nhân và gia đình người bệnh sẽ sớm

ổn định trở lại cuộc sống, sớm trở lại lao động, học tập, sinh sống chính là

nhờ BHYT, có vai trò chính, tạo sự an tâm cho mọi người trong xã hội, góp

phần ổn định an sinh xã hội.

Vai trò này càng được minh chứng cụ thể qua các số liệu thống kê đã

được phân tích tại mục 2.2.1.3 về tình hình tham gia và chi phí KCB BHYT

tại Thừa Thiên Huế

Thứ hai, BHYT đã góp đảm đảm bảo công bằng trong xã hội về lĩnh vực

KCB. Tất cả mọi người tham gia BHYT đều được các cơ sở KCB BHYT tiếp

nhận khám bệnh, chữa bệnh một cách công tâm, tất cả hướng đến sự bình

16

phục, an toàn cho người bệnh. Ai ai cũng có quyền tiếp cận tất cả các dịch vụ

kỹ thuật y tế, thuốc vật tư y tế truyền thống và hiện đại, được điều trị bằng các

dịch vụ các khoa học tiên tiến theo đúng pháp đồ điều trị theo bệnh lý, không

phân biệt người có tiền, người giàu kẻ nghèo. Thực sự, chính sách Bảo hiểm y

tế đã đóng vai trò làm cho mọi người sẽ được bình đẳng hơn trong KCB khi

không may ốm đau bệnh tật, đặc biệt các nhóm bệnh nặng, mạn tính hoặc đối

với các bệnh nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội…cũng đều được

tiếp cận tất cả các dịch vụ y tế công bằng như những người khác trong xã hội.

Như vậy, pháp luật BHYT đã cụ thể hóa quyền cơ bản của con người

trong xã hội, đó là quyền được chăm sóc y tế và quyền được bình đẳng trong

chăm sóc y tế, mọi người dân Việt Nam đều được quản lý, chăm sóc sức

khỏe. Thông qua pháp luật BHYT với các quy định về nguyên tắc, phạm vi,

mức hưởng, mọi người dân khi tham gia BHYT đã được pháp luật Việt Nam

đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia BHYT và thụ hưởng

các dịch vụ y tế.

Thứ ba, BHYT đã tạo một nguồn quỹ tài chính của Nhà nước vô cùng

lớn trong việc điều hành, cung cấp nguồn kinh phí cơ bản cho hệ thống mạng

lưới y tế nước ta. Nguồn quỹ BHYT gia tăng hàng năm, hiện nay hơn trăm

ngàn tỷ đồng, chính là nguồn kinh phí lớn nhất và chủ yếu trong lĩnh vực y tế,

nguồn quỹ này sẽ do tổ chức BHYT thay mặt người bệnh chi trả chi phí KCB

BHYT cho các đơn vị KCB BHYT theo phạm vị và mức hưởng đã được luật

định (từ 80% đến 100%). Đồng thời với tỷ lệ tham gia BHYT của người dân

ngày càng gia tăng, hiện nay tại Việt Nam, số người tham gia BHYT chiếm tỷ

lệ hơn 90% dân số Việt Nam, nên hầu như nguồn kinh phí hoạt động của các

đơn vị KCB BHYT trên khắp cả nước đều bắt nguồn từ nguồn quỹ BHYT.

Như vậy, BHYT chính là điều kiện nâng cao chất lượng KCB và quản lý tài

chính y tế thông qua việc tạo được nguồn tài chính tập trung cho công tác

17

KCB BHYT. Qua đó, tạo nguồn lực để chi trả lương và các chế độ cho đội

ngũ nhân viên y tế, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị y tế, đào

tạo trình độ chuyên môn KCB, từng bước nâng cao chất lượng, vị trí và uy tín

của đơn vị đối với mọi người dân.

Vấn đề này này càng được minh chứng cụ thể qua các số liệu thống kê

đã được phân tích tại mục 2.2.1.3 về tình hình tham gia, nguồn thu BHYT và

chi phí

Thứ tư, BHYT có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN.

Từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho người thụ

hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham gia BHYT, đồng thời huy

động sự đóng góp của cá nhân, đơn vị theo quy định bằng pháp luật, tạo nguồn

quỹ KCB BHYT độc lập, tập trung, thống nhất dước sự quản lý của Nhà nước,

giảm dần nguồn ngân sách đầu tư cho các đơn vị KCB công lập, góp phần tạo

nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng

công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững. Đồng thời, từng bước

tính đúng tính đủ giá viện phí, từng bước đẩy mạnh cơ chế tự chủ các cơ sở y tế

công lập, cắt giảm nguồn ngân sách chi trả hoạt động cho các đơn vị khám chữa

bệnh, để tập trung nguồn lực đầu tư các lĩnh vực khác có liên quan. Vấn đề này

này càng được minh chứng cụ thể qua các số liệu thống kê đã được phân tích tại

mục 2.2.1.3 về nguồn chi trả chi phí KCB BHYT.

Thứ năm, BHYT góp phần đề phòng và chống đói nghèo và bệnh tật.

Theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Hiện nay, khoản cách giàu

nghèo vẫn còn lớn, còn rất nhiều người vô cùng khó khăn về cuộc sống, nếu

không may bị ốm đau bệnh tật, và bệnh nhân và gia đình bệnh nhân này sẽ rơi

vào vòng xoáy của đói nghèo nếu không có BHYT. Đồng thời, bên cạnh nhận

thức được quyền lợi của mình, người tham gia BHYT có quyền đi KCB để

thụ hưởng theo chế độ BHYT, nhờ vậy, việc quản lý, chăm sóc sức khỏe ngày

18

càng tốt hơn, từ đó phát hiện sớm, kịp thời bệnh lý và có phương pháp chữa

trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu.

Thứ sáu, BHYT ra đời còn góp phần giáo dục cho mọi người dân trong

xã hội về tính nhân văn cao cả, sống luôn hướng thiện theo đạo lý của dân tộc

ta, với phương châm mỗi người vì mọi người và mọi người vì một người.

Cùng nhau chung sức, giúp đỡ lẫn nhau qua cơn hoạn nạn, thể hiện ở việc

từng mỗi cá nhân, tổ chức, cơ quan đơn vị tuân thủ pháp luật BHYT, tích cực

tham gia đóng góp quỹ BHYT, tạo nguồn quỹ BHYT chung để chi trả cho

những ngươi không may bị ốm đau, bệnh tật.

Như vậy, Bảo hiểm y tế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát

triển bền vững xã hội, cho cộng đồng, cho gia đình và cho bản thân từng

người. với mục tiêu cuối cùng là đảm bảo sức khỏe cho người dân, đó chính

là tài sản đặc biệt của một quốc gia, là nhân tố cho phát triển kinh tế và ổn

định xã hội.

1.1.2. Luật Bảo hiểm y tế

Khi nghiên cứu về nội dung của BHYT chúng ta thấy rằng, BHYT

không chỉ là sự tương trợ, giúp đỡ của cá nhân hay tổ chức mà còn là trách

nhiệm của Nhà nước trước quyền được chăm sóc sức khỏe của các thành viên

trong xã hội. Sự tham gia của Nhà nước về BHYT ngoài việc thể hiện chức

năng xã hội với mục đích nhằm ổn định xã hội. Bảo vệ chăm sóc sức khỏe

của nhân dân là mục tiêu hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào. Mỗi quốc gia đều

coi BHYT là một chính sách xã hội bắt buộc của mình. Để thực hiện mục tiêu

này tất cả các quốc gia đều ban hành pháp luật để điều chỉnh về BHYT, đây là

cơ sở pháp lý để Nhà nước và các tổ chức và cá nhân thực hiện quyền và

nghĩa vụ của mình về BHYT.

Từ đây chúng ta có thể hiểu Luật Bảo hiểm y tế là hệ thống các quy tắc

xử sự chung do Nhà nước ban hành hay thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan

19

hệ kinh tế - xã hội phát sinh trong quá trình tham gia, hưởng thụ bảo hiểm y

tế theo nguyên tắc tương trợ cộng đồng, chia sẽ rủi ro dưới sụ tương trợ của

Nhà nước vì mục đích an sinh xã hội.

Từ khái niệm trên, có thể hiểu bản chất của pháp luật BHYT được thể

hiện ở những nội dung chính như sau:

Thứ nhất, bản chất xã hội của BHYT: Đây là đặc trưng nổi bật của pháp

luật BHYT với vai trò đảm bảo an sinh xã hội. Bản chất xã hội của BHYT

được thể hiện đó là sự bảo trợ của Nhà nước về chăm sóc y tế dành cho các

thành viên của mình, bảo đảm một trong những quyền quan trọng của con

người, đó là quyền được chăm sóc y tế. Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe không

phải thuần túy chỉ là trách nhiệm của từng cá nhân riêng lẻ, mà là trách nhiệm

chung của cả cộng đồng. Bởi lẻ, nguy cơ bệnh tật có thể đến với bất kỳ ai,

không kể quốc gia dân tộc nào, và hơn nữa không ai có thể một mình chống lại

bệnh tật. Lẽ đương nhiên, việc bảo vệ chăm sóc sức khỏe trước tiên là thuộc về

mỗi cá nhân, nhưng cũng cần sự giúp đỡ mang tính xã hội, có tính tổ chức cao

đó là sự giúp đỡ mang tính nhà nước. Ở đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng, là

người tổ chức, quản lý và bảo trợ. Bản chất xã hội của pháp luật BHYT còn

được thể hiện ở sự liên kết, chi sẽ rủi ro mang tính cộng đồng của các thành

viên trong xã hội. Bên cạnh sự trợ giúp mang tính nhà nước thì sự chia sẽ, liên

kết của các thành viên trong xã hội thông qua đóng góp dự trên thu nhập là yếu

tố quan trọng. Thiếu liên kết này, việc thực hiện BHYT sẽ không thành công

do không đảm bảo được nguyên lý chia sẽ rủi ro. Thực tế cho thấy, bệnh tật và

những rủi ro về sức khỏe không phải lúc nào cũng xuất hiện cùng một lúc với

tất cả mọi người, chúng cũng không xuất hiện giống nhau ở mỗi người; có

người ốm lúc này, có người ốm lúc khác; có người bệnh nặng, có người bệnh

nhẹ… Nếu cứ để người người nào có bệnh thì người đó tự chống đỡ thì sẽ gây

khó khăn cho chính họ vì không đủ kinh phí để trang trải. Do đó sự liên kết

20

mang tính cộng đồng rộng rãi để chia sẽ những rủi ro bệnh tật là một đòi hỏi tất

yếu. Khi có một quỹ chung để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng thì sẽ điều tiết

để người chưa ốm sẽ chăm sóc cho người ốm, người ốm nhẹ chia sẽ, chăm sóc

cho người ốm nặng. Tính xã hội tương trợ công đồng nhân văn của pháp luật

BHYT còn thể hiện ở sự đoàn kết xã hội trong chăm sóc y tế. Chăm sóc y tế

thông qua BHYT không phân biệt mức đóng nhiều hay đóng ít, không phân

biệt thành phần giai cấp, dân tộc, mà phụ thuộc mức độ rủi ro về bệnh tật. Pháp

luật BHYT là một giải pháp thực tế đưa họ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Như vậy, bản chất xã hội của pháp luật y tế thể hiện ở sự trợ giúpmang tính nhà

nước và sự tương trợ mang tính cộng đồng. Pháp luật BHYT thể hiện bản chất

nhân đạo và trình độ văn minh của xã hội phát triển với mục đích bảo đảm khả

năng tiếp cận dịch vụ y tế cho đa số dân chúng, thực hiện công bằng trong

chăm sóc sức khỏe.

Thứ hai, bản chất kinh tế của BHYT: Mặc dù BHYT là một chính sách xã

hội, không vì lợi nhuận nhưng nó mang yếu tố kinh tế, thuộc phạm trù kinh tế - y

tế. Thực hiện BHYT có hiệu quả là một bài toán về kinh tế y tế. Pháp luật BHYT

có nhiệm vụ phân phối lại thu nhập. Có thể thấy được điều này trong bản chất xã

hội ở sự tương trợ mang tính cộng đồng của BHYT. Có hai góc độ thể hiện

chính đó là sự phân phối trực tiếp và sự phân phối gián tiếp. Phân phối trực tiếp

thể hiện ở sự chuyển phần thu nhập của người tạm thời khỏe sang người đang

ốm, của người bệnh nhẹ sang người bệnh nặng thông qua sự điều hành luân

chuyển của phần thu nhập đóng trực tiếp cho quỹ BHYT.

1.1.3. Một số nội dung về Luật Bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay.

Ngay từ đầu những năm 1980, các cơ sở KCB hết sức khó khăn trong

nguồn lực, chi phí KCB ngày càng tăng do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ

thuật y tế, trang thiết bị hiện đại trong khám bệnh, chữa bệnh. Mặc dù đầu tư

của Nhà nước có tăng nhanh nhưng cũng không thể đáp ứng nhu cầu của các

21

đơn vị KCB. Thực hiện chủ trương, xóa bỏ bao cấp, đổi mới trong lĩnh vực y

tế với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, ngày 24/4/1989, Hội

đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 45/HĐBT

cho phép các cơ sở KCB thu một phần viện phí. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ

đáp ứng một phần, còn đại bộ phận người có thu nhập thấp, người yếu thế và

đối tượng chính sách không có điều kiện để được KCB, đặc biệt những bệnh

nặng, chi phí điều trị lớn. Để khắc phục tình trạng trên và thực hiện Hiến

pháp năm 1992 “Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự

nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân… thực hiện BHYT, tạo điều kiện để

mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ”, ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ

trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Điều lệ BHYT kèm theo Nghị định

số 299/HĐBT với mô hình quản lý BHYT theo cấp tỉnh (1992-1997), Bộ Y

tế quản lý (1998-2003). Từ năm 2003 cho đến nay, BHYT được sáp nhập và

quản lý tập trung tại BHXH Việt Nam, đồng thời trên cơ sở thực tiễn, ngày

14/11/2008 Quốc hội đã ban hành Luật BHYT (Luật số 25/2008/QH12), có

hiệu lực từ 01/7/2009 và được tiếp tục sửa đổi, bổ sung và thông qua ngày

13/6/2014 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT (Luật số

46/2014/QH13) có hiệu lực từ 01/01/2015, đánh dấu một bước quan trọng

trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHYT,

thực hiện đúng theo quy định tại Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam (năm 2013).

Luật BHYT gồm 10 chương với 52 điều, bao gồm một số vấn đề cơ bản

sau:

Thứ nhất, quy định về đối tượng áp dụng BHYT

Theo Luật BHYT của Việt Nam hiện nay, luôn giữ vững mục tiêu

phải hướng tới là bao quát toàn bộ dân số, bao gồm cả những người có quan

hệ lao động và những người không có thu nhập, sống phụ thuộc và phù hợp

22

với điều kiện kinh tế xã hội và truyền thống lịch sử của Việt Nam. Mô hình

BHYT dựa trên cơ sở đóng góp tài chính của người tham gia thường quy

định hình thức tham gia bắt buộc và tự nguyện, tuy nhiên vẫn duy trì mục

tiêu phấn đấu là đạt BHYT toàn dân trong thời gian sớm nhất có thể. Đối

tượng đóng được theo thứ tự ưu tiên là nhóm người đang tham gia quan hệ

lao động, có thu nhập ổn định để áp dụng chế độ BHYT bắt buộc, vì ưu

điểm của đối tượng này là được quản lý theo tổ chức, có thu nhập ổn định

thường xuyên và sự đóng góp được chia sẽ từ người lao động và chủ sử

dụng lao động. Đối với nhóm người thuộc đối tượng chính sách phải do

NSNN đóng, vì đó là thể hiện tính nhân văn cao cả, ghi nhận công lao đóng

góp bằng xương máu của những người đã có công với đất nước hoặc đóng

cho nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội như đối tượng bảo trợ xã hội,

người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi…, đây là nhóm đang cần được xã hội quan

tâm giúp đỡ. Còn đối với nhóm lao động tự do áp dụng quy định tự nguyện

tham gia với các mức đóng góp vừa phải, và có sự hỗ trợ cho các đối tượng

này để hướng tới thực hiện BHYT toàn dân. Đây là nét riêng biệt so với mô

hình BHYT của các nước khác, để chính sách BHYT tại Việt nam luôn luôn

hướng tới mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân.

Thứ hai, quy định về chế độ hưởng BHYT

Chế độ hưởng BHYT được kết cấu bao gồm các nội dung quy định về

đối tượng hưởng chế độ, điều kiện hưởng và các mức hưởng cụ thể theo

từng nhóm đối tượng. Việc cụ thể hóa các nội dung này trong quy định pháp

luật đã đáp ứng quyền lợi cơ bản, bao gồm các dịch vụ y tế thiết yếu. Trong

đó, quyền lợi hưởng và mức hưởng vẫn ưu tiên cho đối tượng chính sách,

người thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội. Trên cơ sở đó, tùy thuộc điều

kiện kinh tế, người dân có quyền tham gia các hình thức BHYT tự nguyện

nhằm cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn theo yêu cầu. Các chế độ

23

BHYT tự nguyện được coi như chế độ bổ sung với đối tượng tham gia, chủ

yếu là người có thu nhập cao. Trong mô hình BHYT thực hiện bằng tài

chính đóng góp thường quy định các chế độ BHYT tự nguyện và bắt buộc.

Tuy nhiên, chế độ BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện trong mô hình này

cũng có sự khác nhau nhất định. Các quốc gia đã thực hiện được BHYT toàn

dân thường thiết lập chế độ BHYT phổ quát, tương tự như mô hình BHYT

thực hiện bằng tài chính công và do đó BHYT tự nguyện chỉ đóng vai trò bổ

sung cho BHYT bắt buộc mà thôi.

Xuất phát từ mô hình BHYT, khi đề cập đến chế độ hưởng BHYT các

quốc gia đều lưu ý đến sự phối hợp quyền lợi hưởng BHYT và các dịch vụ y

tế công cộng của nhà nước tránh sự chồng chéo về quyền lợi. Hầu hết pháp

luật các quốc gia đều phân định rõ giới hạn những dịch vụ do BHYT thanh

toán và những dịch vụ y tế do nhà nước đảm bảo. Nhà nước với vai trò quản

lý xã hội trong lĩnh vực y tế thường đảm bảo các dịch vụ y tế cộng đồng như

tiêm chủng mở rộng, phòng chống các bệnh như lao, sốt rét, tâm thần phân

liệt…Trong các chế độ BHYT không chi trả các chi phí này nữa. Pháp luật

BHYT Việt Nam cũng không chi trả các dịch vụ y tế do NSNN đài thọ.

Về cơ bản, người tham gia BHYT được hưởng các dịch vụ y tế như:

chăm sóc sức khỏe ban đầu, thăm khám, điều trị đa khoa, chuyên khoa, các

dịch vụ xét nghiệm, cận lâm sàng, chi phí điều trị nội, ngoại trú. Đặc thù

quyền lợi BHYT là không được hưởng bằng tiền mà bằng các dịch vụ y tế

và không phải lúc nào cũng được hưởng mà chỉ được hưởng khi ốm đau,

bệnh tật. Không ốm đau bệnh tật không phát sinh quyền lợi về BHYT với cá

nhân, nhưng lại đảm bảo sự chia sẻ rủi ro cho người hay ốm đau, bệnh tật.

Thứ ba, quy định về quỹ BHYT

Để đảm bảo thành công của BHYT, việc tổ chức sử dụng quỹ được coi

như nòng cốt quyết định đến các hoạt động thậm chí là sự tồn tại của chế độ

24

BHYT, nhất là đối với mô hình BHYT hình thành từ sự đóng góp. Mô hình

quỹ BHYT hình thành từ nguồn tài chính công (thu nhập chung của quốc gia)

phụ thuộc nhiều vào nguồn thu quốc gia và sự phân bổ chi cho BHYT, vì vậy

tính độc lập của quỹ không cao và vai trò của nhà nước là rất lớn. Mô hình

quỹ BHYT dựa vào đóng góp (thực tế nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam

theo mô hình này) nguồn tài chính chủ yếu từ sự đóng góp của người tham gia

theo tỷ lệ nhất định, nhà nước hỗ trợ cho một số đối tượng đặc biệt. Quỹ

BHYT được hạch toán độc lập với NSNN và được NSNN bảo hộ.

Luât BHYT năm 2008 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2009, Luật sửa đổi bổ

sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015. Điểm

đáng chú ý tại chương này là và quy định lộ trình thực hiện BHYT toàn dân.

Giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được

giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật để đáp

ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

1.2. Khái niệm, hình thức, chủ thể tổ chức thực hiện Luật BHYT

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thực hiện Luật BHYT

1.2.1.1. Khái niệm tổ chức thực hiện Luật BHYT

Tổ chức thực hiện Luật BHYT được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng tổ

chức thực hiện Luật BHYT trên khía cạnh là các cơ quan có trách nhiệm tổ

chức thực hiện luật và theo nghĩa hẹp là tổ chức thực hiện Luật BHYT được

hiểu là các hoạt động nhằm triển khai, thực hiện, đưa Luật BHYT vào cuộc

sống của nhân dân.

- Theo nghĩa rộng, tổ chức thực hiện Luật BHYT là công việc của cơ

quan tổ chức thực hiện luật: Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ là cơ

quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp pháp của Quốc hội, có

nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp

25

lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ

tịch nước (Điều 96). Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên

Chính phủ, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân

công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến

ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc (Điều 99).

Chính quyền địa phương (HĐND và UBND) tổ chức và bảo đảm việc thi

hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương (Điều 112); HĐND quyết định

các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và

pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND (Điều

113);UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ

chức thực hiện nghị quyết của HĐND (Điều 114).

Đối với Ngành BHXH Việt Nam, theo Nghị định 01/2016/NĐ-CP của

Chính phủ ban hành ngày 05/01/2016, có hiệu lực kể từ ngày 20/02/2016 và

được thay thế bởi Nghị định 89/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày

04/8/2020, có hiệu lực từ 20/9/2020 quy định quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, đã quy định BHXH Việt

Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ,

chính sách BHXH, BHYT, tổ chức thu chi chế độ BHTN, quản lý và sử dụng

các quỹ BHXH, BHYT, BHTN; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH,

BHYT, BHTN theo quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam được cơ cấu tổ

chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung và thống nhất từ trung ương đến

địa phương và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã

hội về BHXH, BHTN, của Bộ Y tế về BHYT, của Bộ Tài chính về chế độ tài

chính đối với các quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Chính phủ giao BHXH Việt

Nam quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương

(tỉnh, huyện). Theo các Quyết định (Quyết định 99/QĐ-BHXH ngày

28/01/2015; Quyết định 1414/QĐ-BHXH ngày 4/10/2016 và Quyết định có

26

hiệu lực hiện nay là 969/QĐ-BHXH ngày 29/7/2019) của Tổng Giám đốc

BHXH Việt Nam, quy định BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

(gọi chung là BHXH tỉnh) là cơ quan trực thuộc BHXH Việt Nam đặt tại tỉnh

có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện các

chế độ, chính sách BHXH, BHYT, tổ chức thu chi chế độ BHTN, quản lý và

sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BHTN; Thanh tra chuyên ngành việc đóng

BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và quy

định của BHXH Việt Nam. BHXH tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện

của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và chịu sử quản lý hành chính nhà nước

trên địa bàn tỉnh của UBND tỉnh.

Theo nghĩa hẹp, tổ chức thực hiện Luật BHYT là các hoạt động nhằm

triển khai, thực hiện, đưa Luật BHYT vào cuộc sống của nhân dân. Đây là các

hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, hệ thống của bộ máy, xác định những

công việc phù hợp với từng bộ phận, và giao trách nhiệm cho từng nhà quản

lý để vận hành các bộ phận hoạt động đạt hiệu quả cao nhất có thể. Công tác

tổ chức bao gồm việc thành lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận

các hoạt động cần thiết và xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hành

và trách nhiệm giữa các bộ phận đó. Mục tiêu của công tác tổ chức là tạo nên

một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được

năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào sự hoàn thành mục

tiêu chung của tổ chức

Để triển khai thực hiện Luật BHYT, Chính phủ ban hành các Nghị định;

Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tư hướng

dẫn thi hành luật BHYT; Chính quyền địa phương triển khai thực hiện qua kế

hoạch và hướng dẫn thi hành pháp luật ở địa phương mình.

Như vậy, tổ chức thực hiện Luật BHYT là một chuỗi công việc và hoạt

động, thao tác nằm trong một chỉnh thể thống nhất từ chính quyền trung ương

27

đến địa phương, bắt đầu từ ban hành các văn bản bản quy phạm pháp luật về

BHYT theo đúng thẩm quyền; tổ chức hướng dẫn thi hành Luật BHYT, tuyên

truyền, phổ biến, giáo dục luật; tổ chức triển khai thực hiện, cho đến kiểm tra,

giám sát, và đánh giá, tổng kết việc tổ chức thực hiện Luật BHYT tại một địa

phương hay trong phạm vi cả nước nhằm đạt được mục tiêu xác định.

1.2.1.2. Đặc điểm tổ chức thực hiện Luật bảo hiểm y tế

Tổ chức thực hiện Luật BHYT là một quá trình hoạt động có mục đích

làm cho những quy định của pháp luật về BHYT đi vào cuộc sống, trở thành

những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, mang lại quyền và

lợi ích hợp pháp cho các bên có liên quan. Do đó, việc tổ chức thực hiện pháp

luật về BHYT có những đặc điểm cụ thể như sau:

- Đặc điểm về cơ quan tổ chức thực hiện Luật BHYT

Cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật về BHYT là những

cơ quan hành chính nhà nước, là tổ chức được thành lập và hoạt động theo

những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được

giao những quyền lực nhà nước nhất định được quy định trong các văn bản

pháp luật về BHYT để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước.

Cơ quan tổ chức thực hiện Luật BHYT được quy định cụ thể trong Luật

tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm

2015. Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang

bộ. Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định về đơn vị hành

chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành

chính từ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, thị xã và thành phố

trực thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện.

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan quản lý hành chính nhà nước,

được thành lập từ trung ương đến địa phương để thực hiện những hoạt động

28

được tiến hành trên cơ sở luật về BHYT và để thi hành luật về BHYT; thẩm

quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở

lãnh thổ, ngành, hoặc lĩnh vực chuyên môn, đó là những quyền và nghĩa vụ pháp

lý hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành - điều hành.

- Đặc điểm của các hoạt động tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

Các hoạt động tổ chức thực hiện Luật BHYT được cụ thể hóa bằng các

hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật, đó là toàn bộ những phản ứng,

cách cư xử biểu hiện ra ngoài của mỗi người trong một hoàn cảnh cụ thể, mà

những hành vi đó phù hợp với các quy định của pháp luật. Thực hiện Luật

BHYT là hoạt động đưa các văn bản quy phạm pháp luật về BHYT có hiệu

lực thi hành vào cuộc sống, nghĩa là các quy phạm pháp luật về BHYT được

các chủ thể khác nhau thực hiện một cách hợp pháp trong cuộc sống.

1.2.2. Các giai đoạn tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

1.2.2.1. Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong đó có luật BHYT được xây

dựng hàng năm trên cơ sở đường lối, chủ chương của Đảng, chính sách của

Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu

cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm quyền con người, quyền và

nghĩa vụ cơ bản của công dân .

Trên cơ sở Luật đã được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo

lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật của Quốc hội mà Chính phủ, Thủ

tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được giao ban hành.

Danh mục văn bản quy định chi tiết do Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm nghị

định của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy

ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quyết định của Thủ tướng Chính

phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, trong đó nêu rõ tên

văn bản, cơ quan ban hành văn bản, căn cứ ban hành, nội dung chính của văn

29

bản, dự kiến thời gian ban hành .

Việc xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ được quy định chi tiết

từ Điều 84 đến Điều 96 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015.

Để triển khai, thực hiện Luật BHYT đã được Quốc hội ban hành, các cơ

quan, tổ chức cần cụ thể hóa các công việc như triển khai kế hoạch tổ chức

thực hiện bằng những công việc, những bước đi cụ thể. Tuy nhiên, có rất

nhiều quy định của Luật BHYT giao cho Chính phủ cụ thể hóa và các bộ,

ngành như Bộ Y tế, BHXH Việt Nam phải tổ chức triển khai, hướng dẫn thực

hiện. Theo đó, để triển khai Luât BHYT năm 2008, Luật sửa đổi bổ sung một

số điều của Luật BHYT 2014, ngày 17/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị

định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một

số điều của Luật BHYT, thay thế Nghị định 105/2014/NĐ-CP, và có hiệu lực

từ ngày 01/12/2018; Nghị định 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử

phát hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó tại Mục 4 có 23 điều, từ Điều 57

đến Điều 79 quy định xử phát hành chính các hành vi vi phạm pháp luật

BHYT. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành một số nghị định có liên quan

đến công tác thực hiện chính sách BHYT như Nghị định hướng dẫn thực hiện

Luật KCB, Luật Dược, Luật Đấu thầu, Luật Giá, xử phạt vi phạm hành chính

trong lãnh vực y tế và một số pháp luật liên quan khác.

1.2.2.2 Phổ biến, giáo dục về Luật Bảo hiểm y tế

Nhằm truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác

động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với

các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành.

Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, Luật BHYT nói riêng giữ vai trò

quan trọng trong hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng

của đất nước. Mục đích của PBGDPL là nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức

chấp hành pháp luật, ý thức trách nhiệm đối với việc thực hiện chế độ BHYT

30

của người dân, đơn vị, tổ chức trong toàn xã hội, góp phần đưa pháp luật vào

cuộc sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, mang lại sự hạnh phúc cho người dân.

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nêu rõ, công dân có quyền

được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập

pháp luật; còn nhà nước phải bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện

quyền được thông tin về pháp luật (Điều 2) và nhà nước khuyến khích và có

chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia

thực hiện PBGDPL, huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho công tác

PBGDPL (Điều 4)

Để hoạt động PBGDPL trở nên hiệu quả, gần gủi với người dân, Quốc

hội khóa 13 đã lấy ngày 09 tháng 11 hàng năm làm Ngày Pháp luật nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 8). Qua đó, ngày 09/11 hành năm,

toàn Đảng, toàn dân tổ chức thực hiện nhiều hoạt động PBGDPL. Tùy theo

mỗi lĩnh vực đặc thù, mà các tổ chức, đơn vị tổ chức những hoạt động phù

hợp với ngành nghề và địa phương của mình.

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện Luật BHYT, các

cấp, các ngành cần đẩy cần tuyên truyền tính nhân văn, ý nghĩa nhân đạo, tính

chia sẻ cộng đồng, trách nhiệm, quyền lợi khi tham gia BHYT, nhất là việc

được Quỹ BHYT thanh toán chi phí KCB theo quyền lợi và mức hưởng trong

quy định, đặc biệt là các bệnh nặng, chi phí cao và trong tình hình dịch bệnh

khó lường. Bên cạnh đó, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa

phương, các sở, ban, ngành, các cơ sở giáo dục trong chỉ đạo, tổ chức thực

hiện BHYT, đồng thời, để mọi người thấy rõ trách nhiệm tham gia BHYT là

bắt buộc theo quy định của Luật BHYT.

1.2.2.3 Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, kỹ thuật

Sau khi Quốc hội ban hành luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ

31

trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm ban hành các

Nghị định, Quyết định và Thông tư hướng dẫn thi hành luật; UBND các cấp

trực tiếp tổ chức thực hiện luật. Để một đạo luật nói chung, Luật BHYT nói

riêng đi vào cuộc sống của người dân, các cơ quan chức năng mà trực tiếp là

Bộ Y tế, cơ quan BHXH sẽ thực hiện nhiều hoạt động nghiệp vụ, kỹ thuật

khác nhau, như chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện luật, lập kế hoạch, bồi dưỡng

nghiệp vụ, phân công thực hiện và tổ chức triển khai thực hiện luật.

Chỉ đạo là sự hướng dẫn đường lối, chủ trương nhất định, kế hoạch cụ

thể để tiến hành một sự việc nào đó. Thông thường thì công tác chỉ đạo của

các cơ quan quản lý nhà nước, của Bộ Y tế, của BHXH Việt Nam sẽ được thể

hiện qua công văn nói chung, đối với những sự việc khẩn cấp thì Thủ tướng

Chính phủ sẽ ban hành công điện để chỉ đạo thực hiện.

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng quản lý, đóng vai

trò vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động

trong tương lai, mà bất kỳ nhà quản lý, nhà kế hoạch nào cũng phải thực hiện

để phổ biến, triển khai thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Để một kế hoạch mang

tính khả thi thì kế hoạch đó phải xác định được các yếu tố thứ tự như xác định

mục tiêu, yêu cầu công việc; Xác định nội dung cần thực hiện; Xác định

phương thức, cách thức tiến hành thực hiện công việc và xác định việc tổ chức

thực hiện và phân bổ nguồn lực để thực hiện công việc.

Để một chương trình, kế hoạch, chính sách được thực thi kịp thời và hiệu

quả thì không thể thiếu nghiệp vụ, kỹ thuật phân công nhiệm vụ và tổ chức

thực hiện chương trình, công việc một cách cụ thể. Phân công nhiệm vụ là

giao cho tổ chức, cá nhân nào đó trách nhiệm và quyền hạn để tổ chức thực

hiện một chương trình, công việc cụ thể. Hoạt động phân công nhiệm vụ và tổ

chức thực hiện thường được thể hiện qua các Chương trình, Kế hoạch hành

động của các tổ chức, đơn vị.

32

1.2.2.4 Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015, Giám sát

là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ

chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về

việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc

yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý (Điều 2).

Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá xử lý theo trình tự,

thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với

việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ

chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra

chuyên ngành (khoản 1, Điều 3 ).

Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện

chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao (khoản 2, Điều 3 ).

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc

chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy

tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó (khoản 3, Điều 3).

Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý. Thông

qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các

hoạt động để thực hiện tốt mục tiêu đã xác định. Kiểm tra là quá trình đo

lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã

được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải

pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu.

Đối với việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, cần đẩy mạnh hoạt động

thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật BHYT là nhằm mục đích

phát hiện ra những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, trong

33

quá trình thực hiện Luật BHYT, từ đó để kiến nghị với cơ quan nhà nước có

thẩm quyền những biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý

những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện Luật BHYT; giúp

cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật BHYT; phát

huy những nhân tố tích cực trong quá trình thực hiện Luật BHYT. Thông qua

việc tiến hành thanh tra, kiểm tra tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục,

nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, của tổ chức

và công dân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật. Phát hiện

những bất cập, vướng mắc về cơ chế, chính sách để có những kiến nghị sửa

đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả

công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHYT.

1.2.3. Chủ thể tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

1.2.3.1 Chủ thể bắt buộc trong tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

Chúng ta biết rằng, Luật BHYT được ban hành bởi Quốc hội. Chính phủ là

cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp, ban hành các

nghị định để cụ thể hóa Luật BHYT. Bộ Y tế và và cơ quan có thẩm quyền ban

hành các thông tư để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật BHYT.

Việc quy định này xuất phát từ quy định của Luật Ban hành văn bản quy

phạm pháp luật, đó là tại Điều 19, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

quy định Chính phủ được phép ban hành Nghị định để quy định chi tiết, điều,

khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị

quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của

Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết

định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã

hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo,

văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ

34

công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các

vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn

đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở

lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ

quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;

Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu

cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh, tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành

nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 24, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (số 80/2015/QH13)

quy định Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành Thông tư

để quy định các vấn đề chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị

quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của

Thủ tướng Chính phủ; Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của

mình .

Bên cạnh đó, Luật số 80/2015/QH13 cũng quy định rõ HĐND cấp tỉnh

được ban hành nghị quyết để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao

trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; chính sách,

biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp

luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã

hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; Biện pháp có tính chất đặc

thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (Điều

27). UBND cấp tỉnh được ban hành quyết định để quy định chi tiết điều,

khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà

nước cấp trên; biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà

nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội,

35

ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp thực hiện chức năng

quản lý nhà nước ở địa phương (Điều 28). Còn đối với HĐND huyện, xã

được ban hành nghị quyết; UBND cấp huyện, xã được ban hành quyết định để

quy định những vấn đề được luật giao (Điều 30).

Từ quy định trên chúng ta thấy chủ thể bắt buộc trong tổ chức thực hiện

luật về BHYT đó là các cơ quan hành chính nhà nước như Chính phủ, các Bộ,

cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Ủy ban nhân dân các cấp và cơ

quan thuôc Ủy ban nhân dân.

1.2.3.2 Chủ thể tham gia tổ chức thực hiện luật về bảo hiểm y tế

Mọi tổ chức, cá nhân đều là chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Nhân

dân được quyền giám sát các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước,

giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước là một trong những

phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước,

bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nhân dân có thể trực tiếp thực hiện

quyền giám sát, hoặc thông qua các cơ quan đại diện của mình, thông qua các tổ

chức xã hội, mà họ là thành viên.

Trong việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, các chủ thể tham gia bên cạnh

nhưng đơn vị tổ chức cơ quan tổ chức thực hiện, đó là người lao động, người sử

dụng lao động, người đại diện tổ chức công đoàn và mọi dân tham gia BHYT.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

1.3.1. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về bảo hiểm y tế nói riêng và của

cả hệ thống pháp luật nói chung

Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ

nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các

ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo

những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Để đánh giá về một hệ thống

pháp luật, xác định mức độ hoàn thiện của nó cần phải dựa vào những tiêu

36

chuẩn được xác định về mặt lý thuyết, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn

cảnh thực tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, xem xét một cách khách quan và rút

ra những kết luận, làm sáng rõ những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống

pháp luật. Có nhiều tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ

thống pháp luật trong đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản là: Tính toàn diện, tính

đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật.

Thứ nhất, tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn

thiện của hệ thống pháp luật. Có thể nói đây là tiêu chuẩn để định lượng một

hệ thống pháp luật nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ khi nào định

lượng được mới có thể tiếp tục nghiên cứu để định tính.

Thứ hai, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện sự thống nhất của nó.

Khi xem xét mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật cần phải chú ý xem

giữa các bộ phận của hệ thống đó có trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn không.

Thứ ba, tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện sự tương quan giữa

trình độ của hệ thống pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Hệ

thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó

không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Tính phù hợp của hệ

thống pháp luật thể hiện nhiều mặt. Khi xem xét tiêu chuẩn này cần chú ý đến

các mặt và giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo

đức, tập quán, truyền thống và các quy phạm xã hội khác.

Thứ tư, trình độ kỹ thuật pháp lý. Kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng

lớn, phức tạp trong đó có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý khi xây

dựng và hoàn thiện pháp luật, gồm kỹ thuật pháp lý thể hiện ở những nguyên

tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện

pháp luật; trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu

của pháp luật; cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô

đọng, lôgíc, chính xác và một nghĩa.

37

Hệ thống pháp luật càng toàn diện, mức độ hoàn thiện của pháp luật

càng cao thì giúp cho hoạt động tổ chức thực hiện luật càng hiệu quả, góp

phần mang lại lợi ích cho Nhà nước, lợi ích của các tổ chức và cá nhân.

Ngược lại, với một hệ thống pháp luật ở mức hoàn thiện thấp sẽ ảnh hưởng

tiêu cực đến quá trình tổ chức thực hiện luật, làm cho hoạt động của các tổ

chức, cá nhân bị trì trệ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá

nhân đó. Tuy nhiên, để pháp luật đi vào đời sống của người dân không chỉ đòi

hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện mà phải có sự kết hợp giữa

nhiều yếu tố với nhau.

1.3.2. Tổ chức bộ máy và nguồn lực

Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên

CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một

nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Đó là quyền

lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ

quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Đây vừa là quan điểm, vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục xây dựng

và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn

diện công cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫn chính trị .

Tổ chức bộ máy nhà nước của một quốc gia là một hệ thống các cơ quan

nhà nước có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, quan

hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Tổ chức bộ máy nhà

nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung do pháp luật

quy định, trong đó Hiến pháp là luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất.

Cơ quan tổ chức chính quyền của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam được triển khai từ trung ương xuống đến địa phương. Chính phủ là

cơ quan hành chính cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp

hành của Chính phủ. Cơ quan hành chính trực thuộc Chính phủ là các tỉnh,

38

thành phố trực thuộc trung ương, dưới tỉnh là cơ quan hành chính cấp huyện,

quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, dưới huyện là cơ quan hành chính cấp

xã, phường, thị trấn.

Để bộ máy và nguồn lực nhà nước được vững mạnh, công tác xây dựng

và kiện toàn bộ máy nhà nước luôn được chú trọng và phát triển trong từng

giai đoạn, với một số nội dung chủ yếu như sau:

- Đổi mới, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, để

Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có khả năng thực

hiện có kết quả cao nhất chức năng lập pháp, quyết định NSNN và thực hiện

quyền giám sát tối cao. Quốc hội phải có cơ cấu tổ chức hợp lý và đội ngũ đại

biểu Quốc hội có đủ tiêu chuẩn là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của

các tầng lớp nhân dân. Đồng thời phải củng cố các HĐND, để HĐND làm

đúng chức năng nhiệm vụ luật định.

- Cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng một hệ thống cơ quan

quản lý thống nhất, thông suất, có hiệu lực và hiệu quả, đủ năng lực thực thi

các nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,

an ninh và đối ngoại. Tiến hành sắp xếp tổ chức, phân định rõ chức năng,

thẩm quyền giữa các cấp, thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý ngành và quản

lý theo lãnh thổ; tăng cường công tác tổ chức và hoạt động thanh tra; kiện

toàn tổ chức chính quyền địa phương; xây dựng đội ngũ công chức có đủ

phẩm chất và năng lực hoàn thành công việc trong bộ máy nhà nước.

- Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp: Cải tiến tổ

chức và đổi mới hoạt động của hệ thống cơ quan tòa ấn theo hướng hai cấp

xét xử; củng cố và kiện toàn hệ thống cơ quan kiểm sát; sắp xếp lại hệ thống

cơ quan điều tra theo hướng tinh gọn, giảm bớt đầu mối; kiện toàn các tổ chức

thi hành án; củng cố các tổ chức bổ trợ tư pháp.

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ

39

máy nhà nước nhằm giữ vững bản chất của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân

dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới nội

dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước, bảo đảm

chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đồng thời phát huy trách nhiệm, tính

chủ động và hiệu lực cao trong quản lý, điều hành bộ máy nhà nước.

- Tiến hành kiên quyết và thường xuyên cuộc đấu tranh chống quan liêu,

tham nhũng, xử lý nghiêm minh những người vi phạm pháp luật đồng thời

tăng cường công tác xây dựng pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và củng cố

kỷ luật trong nội bộ cơ quan nhà nước.

Một bộ máy nhà nước vững mạnh luôn là điều quan trọng trong phát

triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước, đóng vai trò chủ đạo

trong việc tổ chức thực hiện pháp luật. Một bộ máy nhà nước tinh gọn, được

tổ chức khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động tổ

chức thực hiện pháp luật, mang lại lợi ích cho nhà nước, bảo đảm quyền và

lợi ích hợp pháp của người dân. Ngược lại, với một bộ máy nhà nước cồng

kềnh, hoạt động kém hiệu quả sẽ làm cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội trở

nên chậm chạp, lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân sẽ bị ảnh hưởng.

1.3.3. Ý thức pháp luật của các bên tham gia

Ý thức pháp luật là nhân tố không thể thiếu trong đời sống pháp luật của

xã hội ở tất cả các giai đoạn phát triển của nó, nhất là từ khi xuất hiện nhà

nước pháp quyền. Ý thức pháp luật có vai trò quan trọng trong quá trình xây

dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; đồng thời quyết định hiệu quả của

việc thực hiện pháp luật, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống.

Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng thể những học thuyết, tư

tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thể

hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua

và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không

40

hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt

động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội.

Căn cứ vào chủ thể của ý thức pháp luật, ý thức pháp luật có thể được

chia thành ba loại là ý thức pháp luật xã hội, ý thức pháp luật nhóm và ý thức

pháp luật của cá nhân.

- Ý thức pháp luật xã hội là ý thức của bộ phận tiên tiến đại diện cho xã

hội, nó chứa đựng những tư tưởng, quan điểm khoa học về những vấn đề cơ

bản nhất của pháp luật. Vì nó tiến bộ và có cơ sở khoa học nên ý thức pháp

luật xã hội được chính thức hóa trong toàn xã hội.

- Ý thức pháp luật nhóm chỉ phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tình

cảm của một nhóm xã hội nhất định về pháp luật. Y thức pháp luật nhóm có

phạm vi tác động nhỏ hơn so với ý thức pháp luật xã hội.

- Ý thức pháp luật của cá nhân phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tâm

lí, tình cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và đối với pháp luật. Trình độ ý

thức pháp luật của cá nhân thường thấp hơn ý thức pháp luật xã hội. Vì vậy,

vấn đề đặt ra là phải không ngừng đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật để

những ý thức pháp luật của cá nhân lên ngang tầm ý thức pháp luật của xã hội.

Một xã hội với ý thức pháp luật càng cao thì xã hội đó càng phát triển.

Khi mọi người đều tôn trọng pháp luật, được thể hiện qua hành vi đúng đắn,

tuân theo những quy định của pháp luật. Với ý thức pháp luật cao thì việc

thực hiện pháp luật cũng như áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng và mang lại

hiệu lực, hiệu quả trong mọi hoạt động. Đối với một xã hội với ý thức pháp

luật thấp thì tất yếu xã hội đó sẽ chậm tiến bộ.

1.3.4. Sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện Luật

Kiểm soát vừa là một quá trình kiểm tra các chỉ tiêu, vừa là việc theo dõi

các ứng xử của đối tượng. Kiểm soát không chỉ dành cho những hoạt động đã

xảy ra và đã kết thúc, mà còn là sự kiểm soát đối với những hoạt động đang

41

xảy ra và sắp xảy ra. Trong quá trình kiểm soát có 02 yếu tố luôn tham gia

vào kiểm soát và ảnh hưởng đến hiệu quả của kiểm soát, đó là nhận thức và

phản ứng của người kiểm soát và đối tượng kiểm soát.

Kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện luật là toàn bộ những hoạt động

xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp mà thông qua đó có thể ngăn

ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của cơ quan, nhân viên

nhà nước trong việc tổ chức thực hiện luật, bảo đảm cho việc tổ chức thực

hiện luật là đúng mục đích và đạt được hiệu quả cao nhất có thể.

Điều này cho thấy, khi hoạt động kiểm soát được thực hiện chặt chẽ và

có sự phối hợp giữa các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan sẽ giúp cho việc

thực thi pháp luật ngày càng tốt hơn, khắc phục được những sai phạm của các

chủ thể tham gia, đưa ra được những giải pháp đáp ứng được yêu cầu phát

triển của xã hội, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đảm

bảo sự phát triển của xã hội. Ngược lại, khi hoạt động kiểm soát tổ chức thực

hiện luật không được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên thì có thể dẫn đến việc

thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật không được công minh làm ảnh hưởng

đến lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân.

1.3.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội .

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi đất nước hoặc mỗi lãnh thổ

đều có tác động đến các lĩnh vực tổ chức triển khai các chính sách của cơ

quan nhà nước đến cho mọi người dân sinh sống và lao động trên địa. Đặc

biệt, nó ảnh hưởng rất lớn đối việc triển khai và tổ chức thực hiện đối với các

chính sách an sinh xã hội, trong đó có chính sách BHYT.

Một yếu tố cấu thành rất quan trọng trong nguồn lực để thực hiện Luật

BHYT, đó là nguồn quỹ BHYT. Như quan điểm hình thành chính sách BHYT

của các quốc gia trên thế giới, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), quỹ BHYT

được thiết lập trên cơ sở đóng góp tài chính của người tham gia. Khái niệm

42

Quỹ BHYT ở nước ta đã được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 2 Chương I

Luật BHYT số 25/2008/QH12, theo đó “Quỹ BHYT là Quỹ tài chính được

hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử

dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT, chi

phí quản lý bộ máy của tổ chức BHYT và những khoản chi phí hợp pháp khác

liên quan đến BHYT”. Để đảm bảo thành công của BHYT, việc tổ chức vận

động các nhóm đối tượng tích cực tham gia và đóng tiền theo quy định của

pháp luật để được thụ hưởng chế độ BHYT là bước đầu tiên vô cùng quan

trọng. Vì mô hình BHYT ở nước ta là mô hình BHYT hình thành từ sự đóng

góp, nên trước hết, nguồn NSNN phải được đảm bảo để đóng cho các đối

tượng được NSNN đóng, hỗ trợ đóng, Phần đóng của chủ sử dụng lao động,

người lao động và người dân. Như vậy, quỹ BHYT phụ thuộc hoàn toàn vào

nguồn thu quốc gia, của địa phương và của người dân, phụ thuộc vào nền phát

triển kinh tế và điều kiện tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế ở từng lãnh

thổ, khu vực. Bên cạnh đó, trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của người

dân cũng có tác động rất lớn đến ý thức chấp hành pháp luật, biết rõ quyền và

nghĩa vụ của mỗi công dân trong việc tham gia BHYT. Tóm lại, nếu điều kiện

tự nhiên thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội với ý thức pháp luật càng cao

thì xã hội đó càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi trong việc triển khai các

chính sách pháp luật nói chung và chính sách BHYT nói riêng. Nếu địa

phương có điều kiện tự nhiên khó khăn, kinh tế chậm phát triển, nhận thức

còn hạn chế sẽ vô cùng khó khăn trong việc vận động tham gia BHYT.

43

Tiểu kết Chương 1

Tại chương 1, luận văn đã trình bày sự ra đời tất yếu khách quan của

chính sách BHYT; khái niệm, vai trò BHYT; khái niệm, đặc điểm tổ chức

thực hiện luật, các mục đích, yêu cầu và nguyên tắc tổ chức thực hiện luật;

nghiên cứu này cũng đã xác định quản lý nhà nước về bảo hiểm tế, giới thiệu

được các chủ thể bắt buộc và chủ thể tham tra trong tổ chức thực hiện luật;

nghiên cứu này cũng đã trình bày được quá trình ban hành các văn bản hướng

dẫn thi hành luật, công tác PBGDPL, các nghiệp vụ, kỹ thuật, hoạt động giám

sát, kiểm tra, thanh tra việc tổ chức thực hiện luật. Đồng thời, nghiên cứu này

cũng đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Luật

BHYT, cụ thể là mức độ hoàn thiện pháp luật về BHYT và các luật có liên

quan; tổ chức bộ máy và nguồn lực thực hiện; ý thức pháp luật của các bên

liên quan thực hiện và sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện luật. Đây là cơ

sở lý luận để khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y

tế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian qua.

44

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1. Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội

của tỉnh Thừa Thiên Huế

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội

Tỉnh Thừa Thiên Huế là một tỉnh Bắc miền Trung, Phía Bắc giáp tỉnh

Quảng Trị, phía Nam giáp tỉnh Quãng Nam và Thành phố Đà Nẳng, phía Tây

giáp nước bạn Lào, phía Đông giáp Biển Đông; có 9 đơn vị hành chính gồm:

Thành phố Huế, thị xã Hương Thủy, thị xã Hương Trà và 6 huyện bao gồm:

Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đông; có tổng

số đơn vị cấp xã là 145 xã, phường, thị trấn.

Theo kết quả cuộc tổng điều tra năm 2019, Tỉnh Thừa Thiên Huế có

305.905 hộ với dân số là 1.128.620 người; dân số nam 558.488 người (chiếm

49,5%); dân số nữ 570.132 người (chiếm 50,5%); dân số khu vực thành thị

558.531 người; khu vực nông thôn 570.089 người, tổng số lao động từ 15 tuổi

trở lên 620.957 người (trong đó lao động nữ 298.108 người), tỷ lệ Hộ nghèo

4,7%. Mật độ dân số 224 người/km2 , bằng 77,2% so với mật độ dân số bình

quân cả nước. Trên địa bàn tỉnh có 35 dân tộc thiểu số sinh sống, đông nhất là

dân tộc Kinh có 1.006.171 người, chiếm 96,29% dân số. Các dân tộc thiểu số

như dân tộc Tà Ôi có 24.465 người, chiếm 2,34%; Dân tộc Cơ Tu có 12.178

người, chiếm 1,17%; dân tộc Bru-Vân Kiều có 783 người, chiếm 0,075%; dân

tộc Hoa có 390 người, chiếm 0,037%; và một số dân tộc khác như dân tộc

Tày, dân tộc Ngái, dân tộc Mường …

Theo báo cáo của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, tình hình kinh tế xã hội

vào năm 2019 có một số chỉ tiêu đạt được như tốc độ tăng tổng sản phẩm

trong tỉnh (GRDP) đạt 7,18%/năm, tổng thu nhập bình quân đầu người đạt

45

2.010 USD, tổng thu ngân sách đạt xấp xỉ 8.355 tỷ đồng, cơ cấu GRDP của

tỉnh gồm các ngành dịch vụ chiếm 55,7%, Công nghiệp xây dựng chiếm

34,7%, nông nghiệp chiếm 9,6%, tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt cao

98%, Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch 85%

Thừa Thiên Huế có vị trí rất thuận lợi về địa lý - kinh tế, là đầu mối giao

thông nằm ở giữa hai đầu đất nước, nằm trên trục giao thông quan trọng

xuyên Bắc-Nam có vị trí quan trọng - điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch

chính của hành lang kinh tế Đông - Tây, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành

phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất

nước ta. Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ Chí Minh

1.080 km. Bờ biển của tỉnh dài hơn 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân

Mây với độ sâu 18 - 20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất

lớn, có cảng hàng không quốc tế Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và

đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh, có Cảng nước sâu Chân Mây. Thừa

Thiên Huế là một vùng đất có nhiều nguồn lực và tiềm năng lợi thế về di sản

văn hoá gắn với kinh tế biển và đầm phá, đã và đang thu hút đầu tư phát triển

kinh tế, du lịch và đang từng bước khẳng định Thừa Thiên Huế là một trung

tâm văn hóa du lịch trọng điểm của cả nước, xứng đáng là thành phố Festival

đặc trưng của Việt Nam và thành phố văn hóa ASEAN. Đây là điều kiện rất

thuận lợi để Thừa Thiên Huế mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao

thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch.

Tuy nhiên, do nằm ở vị trị hẹp của đạt nước, có độ dốc lớn, khí hậu khắc

nghiệt, là nơi chịu nhiều thiên tai bảo lụt hằng năm nên tác động rất lớn đối

với nền sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế của địa phương.

Thừa Thiên Huế được xác định là một trong những vùng trung tâm y tế

chuyên sâu của cả nước. Trên địa bàn có hệ thống y tế từ tuyến trung ương

đến y tế cơ sở, hệ thống cơ sở KCB BHYT bao gồm 212 cơ sở và được bao

46

phủ 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn, các phòng khám, các bệnh viện đa

khoa, chuyên khoa tuyến huyện, tỉnh, bình quân có 44 y, bác sỹ/1 vạn

dân. Đặc biệt, có Bệnh viện Trung ương Huế là bệnh viện hạng đặc biệt,

tuyến trung ương và các bệnh viện trực thuộc các bộ ngành với trình độ

chuyên môn y tế chuyên sâu, hiện đại và có hệ thống y tế tư nhân bao gồm

bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và các phòng khám đa khoa).

2.1.2 Tác động của điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội đối với

việc triển khai Pháp luật về BHYT.

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế

bên cạnh có nhiều thuận lợi thuận lợi, cũng có khó khăn trong việc phát triển

kinh tế xã hội. Tổng sản phẩm trong tỉnh gia tăng hằng năm, cơ cấu kinh tế

chuyển biến theo hướng tích cực, có thế mạnh trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt

Thừa Thiến Huế với hệ thống vị trí trung tâm, văn hóa, mạnh về phát triển

kinh tế mũi nhọn du lịch của cả nước, là trung tâm giáo dục và đào tạo của

khu vực miền trung, nên đã tạo việc làm ổn định cho mọi người dân, đời sống

vật chất và tinh thần, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng

được nâng lên. Các yếu tố này đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi trong việc

vận động người dân tham gia BHYT trong địa bàn tỉnh.

Đồng thời, tại Thừa Thiên Huế có một hệ thống KCB BHYT từ tuyến

trung ương đến tuyến y tế cơ sở, trong đó có Bệnh viện Trung ương Huế là 1

trong 5 bệnh viện hạng đặc biệt của cả nước, đảm bảo cung ứng đầy đủ các

dịch vụ y tế chất lượng cao, hiện đại, tiên tiến, tiếp nhận và điều trị thành

công nhiều trường hợp bệnh lý phức tạp, nặng của cả khu vực miền Trung và

Tây nguyên. Hệ thống các bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện đa khoa tuyến

huyện, tuyến tỉnh và 100% mạng lưới y tế các trạm và phòng khám đều được

tổ chức KCB BHYT nên công tác tổ chức KCB cho người tham gia BHYT vô

cùng thuận lợi cho mọi đối tượng, đảm bảo quyền lợi đầy đủ cho người tham

47

gia khi KCB BHYT.

Tuy nhiên, do địa hình một số địa phương còn khó khăn, đặc biệt các

huyện miền núi, vùng bãi ngang, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và

đặc biệt khó khăn còn nhiều, vùng có đông người dân tộc thiểu số cũng ảnh

hưởng khó khăn đến việc triển khai pháp luật về BHYT.

Thừa Thiên Huế chịu tác hại rất lớn do thiên tai bảo lụt hằng năm, đã

làm thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế tỉnh nhà, thiệt hại cơ sở vật chất lẫn con

người, giảm nguồn thu nhập cho người dân nên ảnh hưởng rất lớn đến việc

triển khai chính sách BHYT.

Với nền phát triển các ngành công nghiệp vẫn còn hạn chế, Thừa Thiên

Huế là tỉnh có cơ cấu kinh tế chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp,

các doanh nghiệp trong tỉnh phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động trong

lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, sử dụng ít lao động; nhiều doanh nghiệp hoạt

động mang tính cầm chừng nên khó phát triển lao động, tổng thu nhập bình

quân đầu người chỉ đạt 2.010 USD mỗi năm, nguồn thu ngân sách còn thấp,

vẫn còn là địa phương phải cân đối thêm sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách trung

ương nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai chính sách BHYT.

2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh

Thừa Thiên Huế hiện nay

Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập theo Quyết định

số: 10 QĐ/TCCB ngày 15/6/1995 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam trên

cơ sở thống nhất các tổ chức Bảo hiểm xã hội thuộc Sở Lao động – Thương

binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động tỉnh. Tháng 01/2003, tiếp nhận tổ chức

bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế chuyển sang.

Từ đây, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện toàn diện chính sách

BHXH, BHYT cho nhân dân và người lao động trên địa bàn tỉnh.

Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế là cơ quan trực thuộc BHXH Việt

48

Nam đặt tại tỉnh, có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức

thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm

thất nghiệp (BHTN); quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHYT, BHTN;

thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tỉnh

theo quy định của pháp luật và quy định của BHXH Việt Nam. BHXH tỉnh

Thừa Thiên Huế thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Quyết định số

969/QĐ-BHXH ngày 29/7/2019 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa

phương. BHXH tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Tổng Giám

đốc BHXH Việt Nam và chịu sử quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn

tỉnh của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hiện nay, BHXH tỉnh có 09 phòng nghiệp vụ, gồm: Phòng Chế độ

BHXH, Phòng Giám định BHYT, Phòng Quản lý thu, Phòng Truyền thông và

Phát triển đối tượng, Phòng Cấp sổ, thẻ, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế

hoạch - Tài chính, Phòng Thanh tra - Kiểm tra, Phòng Công nghệ thông tin và

Văn phòng. Có 08 đơn vị BHXH cấp huyện trực thuộc BHXH tỉnh, gồm 06

đơn vị BHXH huyện, 02 đơn vị BHXH thị xã). Tổng số công chức, viên chức,

nhân viên có 245 người.

Những ngày đầu BHXH tỉnh mới được thành lập, cơ sở vật chất, trang

thiết bị phục vụ rất thiếu thốn, đội ngũ làm công tác BHXH còn hạn chế về số

lượng và chưa chuyên sâu về nghiệp vụ; đại bộ phận nhân dân, đơn vị sử

dụng lao động và người lao động chưa hiểu rõ về chính sách BHXH, BHYT,

về việc thu nộp, những quy định về giải quyết chế độ theo quy định mới. Tuy

nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ sự lãnh đạo toàn diện của BHXH Việt

Nam; sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thừa

Thiên Huế; sự phối hợp, hỗ trợ đầy trách nhiệm của các sở, ban, ngành, đoàn

thể; sự ủng hộ, đồng tình của các đơn vị sử dụng lao động, người lao động và

49

nhân dân trên địa bàn đã giúp BHXH tỉnh vượt qua những thách thức, khó

khăn ban đầu và vững tin thực hiện xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong

những năm tiếp theo.

Quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT thời gian

qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm hoàn thành vượt

mức kế hoạch được giao hàng năm, toàn thể công chức, viên chức, nhân viên

thuộc BHXH tỉnh đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện

các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn với kết quả cao nhất, đưa chính sách

BHXH, BHYT, BHTN vào cuộc sống.

2.2.1. Kết quả đạt được

2.2.1.1. Ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế

và các văn bản pháp luật có liên quan trên địa bàn

Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tại địa phương, dưới sự

tham mưu của cơ quan có liên quan và BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế, cấp ủy,

chính quyền địa phương cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn tổ chức

thực hiện kịp thời, đảm bảo việc thực hiện chính sách pháp luật về BHYT

ngày càng có hiệu quả, cụ thể như:

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã ban hành Chỉ thị 25-CT/TU ngày 05/4/2018

về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện các chính sách

BHXH, BHYT trong tình hình mới; Kế hoạch 43-KH/TU ngày 26/3/2013 xác

định mục tiêu, nghiệm vụ và các giải pháp thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW

của Bộ Chính trị, Công văn số 387-CV/TU, ngày 11/11/2016 về tiếp tục tăng

cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết 21. Tổ chức sơ

kết 5 năm và tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày

22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

công tác BHXH, BHYT; tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 38-CT/TW của

Ban Bí thư (khóa X) về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới.

50

HĐND tỉnh đã đưa các mục tiêu, chỉ tiêu về BHYT vào Nghị quyết phát

triển kinh tế - xã hội hàng năm của HĐND tỉnh để cụ thể hoá Nghị quyết 21

và Kế hoạch 43; UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo triển khai

thực hiện như đã ban hành Công văn số 3116/UBND-YT, ngày 29/6/2013 chỉ

đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố cụ thể

hóa các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 21 và Kế

hoạch 43 đã đề ra; Kế hoạch 17/KH-UBND, ngày 03/01/2015 về triển khai thi

hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT; Quyết định 364/QĐ-

UBND, ngày 13/02/2015 thành lập Ban Thường trực và Tổ giúp việc giúp

Ban Thường trực tổ chức triển khai thi hành và giải quyết các vướng mắc

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT; Kế hoạch 136/KH-

UBND, ngày 11/12/2015 về thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai

đoạn 2015 - 2020; Kế hoạch 162/KH-UBND, ngày 10/11/2016 về triển khai

thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn

tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỉ thị 21/CT-UBND, ngày 02/10/2017 về việc tuyên

truyền, mở rộng độ bao phủ BHYT và công tác quản lý quỹ KCB BHYT; Chỉ

thị 04/CT-UBND ngày 31/01/2020 về việc tăng cường quản lý và thực hiện

các giải pháp thu, chi BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh … và nhiều văn bản

khác nhằm thực hiện có hiệu quả công tác BHYT trên địa bàn tỉnh.

Căn cứ hướng dẫn của cấp trên, HĐND, UBND các huyện, thị xã và

thành phố Huế đã ban hành kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực

hiện Nghị quyết 21 và Kế hoạch 43. Đồng thời, đưa các mục tiêu, chỉ tiêu cụ

thể về công tác BHXH, BHYT vào nghị quyết đại hội đảng các cấp, các

chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trên cơ sở chỉ đạo của BHXH Việt Nam, Tỉnh ủy và UBND tỉnh,

BHXH Thừa Thiên Huế đã phối hợp chặt chẽ với các sở ban ngành có liên

quan như Sở Y tế, Tài chính, Lao động – Thương binh và Xã hội, Giáo dục và

51

Đào tạo, Đại học Huế, Thanh tra tỉnh... hằng năm, đã kịp thời xây dựng kế

hoạch, ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, điều hành, quản lý, thanh

tra, kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến công tác triển

khai Luật BHYT trên địa bàn tỉnh. Quá trình tổ chức triển khai thực hiện

BHYT tại địa phương theo các quy định và hướng dẫn tại các văn bản pháp

luật nói trên, nhìn chung đã diễn ra đồng bộ, kịp thời đã khẳng định tính ưu

việt của Luật BHYT. Các bên liên quan đến BHYT trong đó có cơ quan

BHXH, cơ sở KCB đã cố gắng thực hiện đầy đủ các quy định của Luật, đảm

bảo quyền lợi của người tham gia BHYT. BHXH tỉnh đã ban hành văn bản số

226/CTr –BHXH ngày 26/4/2013 Chương trình hành động của BHXH tỉnh

Thừa Thiên Huế về thực hiện Nghị quyết 21 và hằng năm đã xây dựng các

chương trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương trong lĩnh vực của đơn

vị, tập trung các nhiệm vụ chủ yếu như: Tăng cường công tác tuyên tuyền,

phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT, BHTN; tích cực

tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH,

BHYT, BHTN; đẩy mạnh việc phát triển đối tượng, thu đầy đủ, kịp thời, khắc

phục tình trạng nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN; tăng cường quản lý và giải

quyết tốt các chế độ BHXH, BHYT, BHTN; kiểm soát chặt chẽ chi phí KCB,

chống lạm dụng, trục lợi, sử dụng an toàn, hiệu quả quỹ BHYT, đảm bảo

quyền lợi cho người tham gia BHYT; quản lý tài chính chặt chẽ, hiệu quả;

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện các hoạt

động nghiệp vụ; không ngừng kiện toàn tổ chức bộ máy và công tác cán bộ

đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tiếp tục đẩy mạnh cải cách

thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân; thực hiện có hiệu

quả công tác phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

2.2.1.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bảo hiểm y tế

52

Thời gian qua, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế chú trọng đẩy

mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật BHYT đã đa dạng về

hình thức, đặc biệt chú trọng tuyên tuyền trực tiếp về tận cơ sở xã, phường,

tới từng nhóm đối tượng; đã chủ động phối hợp với các Sở, ban, ngành, đoàn

thể tổ chức nhiều chương trình tuyên truyền, phổ biến Luật BHYT, giúp cho

người lao động nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và những quy định mới về

BHYT, BHXH; đã kết hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh để tổ

chức nhiều chương trình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật BHYT

trên địa bàn. Hoạt động tuyên truyền được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cấp

cơ sở với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với từng giai đoạn,

từng nhóm đối tượng, vùng miền…. Kết hợp hài hòa giữa các hình thức tuyên

truyền truyền thống như tuyên truyền trực quan thông qua các ấn phẩm tuyên

truyền pano, khẩu hiệu, áp phích, tranh cổ động, tờ rơi, tờ gấp, sách cẩm

nang… với nội dung phong phú, phù hợp với điều kiện của địa phương. Đồng

thời, chủ động thực hiện các hình thức tuyên truyền, truyền thông nhân dịp kỷ

niệm các sự kiện và ngày lễ của dân tộc và quê hương. Đồng thời, BHXH tỉnh

đã chú trọng tăng cường hình thức tuyên truyền trực tiếp qua các buổi hội

nghị, hội thảo, tọa đàm, đối thoại trực tiếp với người lao động, người dân;

tuyên truyền qua các ấn phẩm… với các hình thức thông tin, truyền thông

hiện đại, đa phương tiện trên các ứng dụng internet, sản xuất các clip, video,

tiểu phẩm, phim ngắn, các chương trình, gameshow truyền hình thực tế như

"Chuyến xe buýt kỳ thú","Người nông dân hiện đại"…; tuyên truyền, tư vấn,

giải đáp chế độ, chính sách trên Cổng Thông tin điện tử BHXH tỉnh… đang

ngày càng thu hút sự quan tâm của đông đảo của người lao động và Nhân dân

với hàng trăm ngàn lượt truy cập.

Kết quả cụ thể tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo

dục Luật BHYT tại Thừa Thiên Huế đó là: Phối hợp với Trung tâm Truyền

53

hình Việt Nam tại Huế (VTV 8) thực hiện hơn 20 phóng sự và tổ chức hơn 10

gameshow “Chuyến xe buýt kỳ thú”; “Người nông dân hiện đại”, thực hiện

chuyên mục tuyên truyền về Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

BHYT; tổ chức nhiều buổi đối thoại trực tiếp trên sóng truyền hình với người

dân để trao đổi, giái đáp các thắc mắc của người dân trong chính sách BHYT,

xây dựng hơn 10 phóng sự về công tác KCB của bệnh nhân BHYT và quyền

lợi được hưởng tại các bệnh viện. Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình

Thừa Thiên Huế xây dựng nhiều phóng sự về công tác nợ BHXH, BHYT,

BHTN, 3 cuộc đối thoại trực tiếp về chính sách BHYT trên sóng phát thanh,

các phóng sự tuyên truyền về BHYT HSSV tại các mỗi dịp chuẩn bị bước

vào năm học mới. BHXH tỉnh hợp đồng với Đài Phát thanh - Truyền hình

Thừa Thiên Huế thực hiện các chuyên mục cổ động cao điểm tuyên truyền về

Ngày BHYT Việt Nam 01/7, tuyên truyền về BHYT HSSV mỗi dịp chuẩn bị

bước vào năm học mới; Phối hợp thực hiện chuyên mục phát thanh truyền

thanh “Tiến tới BHYT toàn dân” phát sóng trên sóng phát thanh Đài P Phát

thanh - Truyền hình Thừa Thiên Huế và đài phát thanh tại các huyện, loa

truyền thanh của các xã phường, thị trấn. Các chuyên mục, phóng sự đã góp

phần lan tỏa, thu hút sự theo dõi của đông đảo khán giả, qua đó chuyển tải sâu

rộng các nội dung, điểm mới về chính sách BHYT và kết quả thực hiện chế

độ, chính sách BHYT cho người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh;

đãbBiên tập và phát hành 15.000 bìa đựng hồ sơ dạng cặp trình ký có nội

dung tuyên truyền về chế độ, chính sách BHXH, BHYT để tuyên truyền. In

và phát hành hơn 500.000 các loại tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền những nội dung

chủ yếu về BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình, BHXH cho người lao động

trong các doanh nghiệp và BHYT học sinh sinh viên, cơ quan BHXH các

huyện, thị xã, thành phố và các phòng nghiệp vụ, hệ thống đại lý BHYT đã

chuyển đến mọi đối tượng nhằm tăng cường chất lượng truyền thông.

54

Phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh, Sở Lao động Thương binh và Xã

hội tỉnh tổ chức hơn 20 Hội nghị phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ,

công chức, viên chức, lao động tại các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn

tỉnh. Phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh tổ chức gần 30 hội nghị tập huấn

chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT và Công đoàn cho trên 2.000 đối

tượng là đại diện chủ sử dụng lao động, người lao động và cán bộ phụ trách

công đoàn tại các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Tỉnh

đoàn tổ chức gần 10 Hội nghị tập huấn chính sách BHXH, BHYT cho cán bộ

đoàn cơ sở.

Phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức 03 hội nghị

tập huấn tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT cho đội ngũ

cán bộ làm công tác mặt trận các cấp; Phối hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ

chức 05 hội nghị tuyên truyền, vận động hội viên Hội Nông dân tham gia

BHXH, BHYT cho đối tượng là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Nông dân của

152 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh; Phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ

tỉnh tổ chức 02 hội nghị tuyên truyền về BHXH, BHYT cho 120 đại biểu là

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ các xã, phường, thị trấn

Tổ chức tuyên truyền, tập huấn, đào tạo cho 152 Đại lý thu BHXH,

BHYT xã, phường, thị trấn và các Đại lý thu Bưu điện, Công ty Bảo hiểm dầu

khi tại Thừa Thiên Huế (PVI), Viettel với hơn 1.000 nhân viên Đại lý thu

rộng khắp toàn tỉnh. Tổ chức Hội nghị tập huấn kỹ năng truyền thông cho

Lãnh đạo và viên chức kiêm nhiệm công tác truyền thông tại các phòng

nghiệp vụ BHXH tỉnh và BHXH các huyện, thị xã, thành phố. Qua đó, cũng

cố đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền để nâng cao hiệu quả công tác

truyền thông về BHXH, BHYT.

55

2.2.1.3. Tình hình tham gia và giải quyết chế độ BHYT tại Thừa Thiên Huế

Ngay từ khi Luật BHYT có hiệu lực thi hành, BHXH tỉnh đã tập trung

phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương triển khai nhiều giải pháp

quyết liệt trên, tăng cường vận động tuyên truyền người trong diện tham gia

BHYT theo quy định.

Trong những năm qua, công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT của

tỉnh luôn có chiều hướng gia tăng hàng năm. Tỷ lệ bao phủ BHYT so với dân

số toàn tỉnh luôn vượt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số

1584/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 và được thay thế bằng Quyết định số

1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016 và vượt chỉ tiêu do BHXH Việt Nam giao cho,

cụ thể là:

Năm 2015, số đối tượng tham gia BHYT là 1.025.653 người, đạt tỷ lệ

bao phủ 89,69% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 80,5%; Số thu BHYT

hơn 706 triệu đồng.

Năm 2016, số đối tượng tham gia BHYT là 1.096.949 người, đạt tỷ lệ

bao phủ 95,40% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 89 %; Số thu BHYT

hơn 743 triệu đồng.

Năm 2017, số đối tượng tham gia BHYT là 1.111.245 người, đạt tỷ lệ

bao phủ 96,27% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 89,5%; Số thu BHYT

hơn 996 triệu đồng.

Năm 2018, số đối tượng tham gia BHYT là 1.146.955 người, đạt tỷ lệ

bao phủ 98,57% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 89,8%; Số thu BHYT

hơn 1.049 triệu đồng.

Năm 2019, số đối tượng tham gia BHYT là 1.149.385 người, đạt tỷ lệ

bao phủ 98,68.% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 90,2%; Số thu

BHYT hơn 1.102 triệu đồng.

56

9 tháng đầu năm 2020, số đối tượng tham gia BHYT là 1.147.663 người,

đạt tỷ lệ bao phủ 98,92.% dân số, vươt chỉ tiêu Chính phủ giao là 90,2%; Số

thu BHYT hơn 768 triệu đồng.

(Số liệu các năm có đính kèm tại Phụ lục 1,2 và 3)

BHXH tỉnh đã ký kết hợp đồng, tạm ứng và quyết toán chi phí KCB

BHYT với 43 đơn vị KCB BHYT công lập và ngoài công lập với 205 đơn vị

có tổ chức triển khai KCB BHYT (bao gồm các trạm y tế xã phường, các

phòng khám đa khoa trực thuộc) phủ kín toàn tỉnh. Số lượt KCB nội trú,

ngoại trú và chi phí KCB BHYT gia tăng hằng năm. Cơ bản quyền lợi của tất

cả các bệnh nhân KCB BHYT đều được đảm bảo theo đúng quy định của

pháp luật. nhiều trường hợp bệnh lý nan y, phức tạp, nặng, ghép tạng, nhiều

dịch vụ kỹ thuật tiên tiến hiện đại đã được áp dụng trong điều trị…. đã được

chữa khỏi bệnh. Hàng trăm lượt chi phí được hưởng từ nguồn quỹ BHYT

hằng trăm triệu đồng.

(Số liệu các năm có đính kèm tại Phụ lục 4,5 và 6)

2.2.1.4. Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật BHYT

Bảo hiểm xã hội tỉnh rất chú trọng đối với công tác giám sát, thanh tra,

kiểm tra, xây dựng kế hoạch, cử 30 công chức, viên chức quản lý trong đơn vị

tham gia các buổi tập huận, đào tạo, cấp chứng chỉ thanh tra đóng BHXH,

BHYT đồng thời tập huấn nghiệp vụ cho toàn thể cán bộ viên chức trong đơn

vị về các nội dung, nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra.

Hằng năm, BHXH tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch thanh tra - kiểm

tra việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN của ngành BHXH tỉnh

đồng thời chủ động tích cực phối hợp với các Sở, ngành liên quan: Sở Y tế,

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra tỉnh, Liên đoàn lao động

tỉnh, Cục thuế tỉnh xây dựng kế hoạch liên ngành và tổ chức thanh, kiểm tra

các đơn vị, doanh nghiệp trong việc thực hiện chính sách BHYT, đặc biệt là

57

các đơn vị nợ đọng, trốn đóng BHYT. Phối hợp với Cục Thuế tỉnh trao đổi số

liệu, thông tin về các đơn vị, doanh nghiệp có đăng ký mã số thuế để có căn

cứ quản lý mức đóng, số người đóng BHYT. Kiên quyết xử lý đối với các tổ

chức, cá nhân có hành vi vi phạm, chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an để

điều tra, khởi tố theo quy định của Bộ luật Hình sự đối với đơn vị vi phạm

theo quy định của pháp luật.

Chỉ tính riêng trong 5 năm, từ 2015 đến 2019, BHXH tỉnh đã thực hiện

và phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra tại 1.543 đơn vị. Trong đó: thanh tra

chuyên ngành đóng BHXH, BHYT, BHTN 530 đơn vị, kiểm tra 825 đơn vị.

Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức thanh tra liên ngành 56 đơn vị;

kiểm tra liên ngành 132 đơn vị.

Qua công tác thanh tra, kiểm tra đã thu hồi được 60,7 tỷ đồng tiền nợ

BHXH, BHYT, BHTN (tỷ lệ thu hồi nợ đạt 85%); thu hồi chi phí KCB

BHYT do thanh toán không đúng quy định gần 2,6 tỷ đồng. BHXH tỉnh Thừa

Thiên Huế đã xử phạt và tham mưu UBND tỉnh xử phạt vi phạm hành chính

đối với 23 đơn vị với số tiền 1.815,6 tỷ đồng. Đặc biệt, sau các cuộc thanh tra,

việc chấp hành các quy định pháp luật tại các đơn vị được thanh tra, kiểm tra

đã có nhiều chuyển biến tích cực.

2.2.2. Những tồn tại và hạn chế

2.2.2.1 Tồn tại hạn chế trong quá trình triển khai tại địa phương

Mặc dù đã có các Nghị quyết, chỉ thị kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh,

tuy nhiên vẫn còn một số nơi, cấp ủy đảng, chính quyền và một số ban ngành,

cá nhân, đặc biệt người đứng đầu vẫn chưa nhận thức về vai trò, ý nghĩa và tầm

quan trọng của BHYT, chưa thật sự coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan

trọng cần tập trung chỉ đạo; Một số cơ quan, ban ngành chưa tích cực phối hợp

với cơ quan BHXH để thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, coi công tác

tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT là nhiệm vụ riêng của ngành BHXH.

58

Chính là do chưa quy định trách nhiệm, xem xét việc hoàn thành nhiệm vụ của

tổ chức đảng, chính quyền đoàn thể một cách cụ thể, kiên quyết.

Công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT tuy hàng năm đều gia tăng

và đạt kế hoạch được giao, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, tỷ lệ người lao động

tham gia BHYT bắt buộc nhưng vẫn chưa tham gia hoặc tham gia chưa kịp

thời, chưa đạt 100% theo đúng quy định của luật. Vẫn còn tình trạng một số

người dân chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của công tác BHYT và

chăm sóc sức khỏe nên đến khi đau ốm mới tham gia BHYT dẫn đến nhiều

đối tượng thuộc diện tham gia BHYT có sự hỗ trợ kinh phí đóng hoặc được

NSNN bảo đảm kinh phí đóng BHYT, giảm mức đóng nhưng chưa tham gia

100% (như học sinh, sinh viên, Hộ cận nghèo, Hộ gia đình….)

Công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT chưa thật sự bền vững.

Đối tượng tham gia BHYT phần lớn do NSNN hoặc nguồn quỹ BHXH đóng

BHYT vẫn là chủ yếu. Trong khi đó, người dân tại một số xã vùng khó khăn,

xã bãi ngang, Hộ nghèo, cận nghèo vẫn còn tâm lý trong chờ từ nguồn ngân

sách cấp thẻ BHYT. Với điều kiện kinh tế xã hội ngày càng tăng, tiêu chuẩn

hộ gia đình nghèo, cận nghèo ngày càng nâng lên, vì vậy đối tượng được hỗ

trợ đóng sẽ ngày càng giảm. Nên khi thoát nghèo, xã lên nông thôn mới vẫn

không chịu tham gia BHYT. Nhiều đối tượng thuộc diện tham gia BHYT có

sự hỗ trợ kinh phí đóng hoặc được NSNN bảo đảm kinh phí đóng BHYT

nhưng chưa tham gia 100%;

Chất lượng KCB ở các cơ sở y tế, nhất là y tế tuyến xã, phòng khám tuy

có nâng lên, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người

dân. Đội ngũ y bác sĩ thiếu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng KCB tại

tuyến huyện mặc dầu có đầu tư tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo, hoặc đầu tư chưa

đồng bộ, đầu tư nhưng thiếu con người vận hành, thiếu trình độ chuyên môn

sử dụng hoặc sử dung chưa hiệu quả, càng gây nên tình trạng bệnh nhân lên

59

tuyên trên, gây quá tải tại tuyến tỉnh, đặc biệt tuyến trung ương. Quyền lợi của

người bệnh có lúc có nơi chưa đảm bảo, chi phí từ tiền túi của người bệnh vẫn

còn xảy ra.

Việc sử dụng kinh phí KCB BHYT tại một số cơ sở KCB BHYT chưa

thực sự hiệu quả, tiết kiệm; hiện tượng lạm dụng quỹ BHYT vẫn còn tồn tại.

Công tác thanh tra kiểm tra chưa được thường xuyên, chưa đủ răn đe,

thuyết phục, dẫn đến ý thức chấp hành pháp luật của các chủ doanh nghiệp

trong công tác thực hiện trích nộp BHYT còn thấp, một số đơn vị cố tình vi

phạm các quy định của nhà nước. Thậm chí có một số đơn vị trốn đóng, nợ

đóng, đóng thiếu mức quy định; một số đơn vị cố tình chiếm dụng, không

trích đóng, để nợ đọng BHYT với số tiền lớn, thời gian kéo dài.

Việc thanh tra, kiểm tra tài chính các cấp chưa được tốt, Một số đơn vị

hành chính sự nghiệp thụ hưởng kinh phí hoạt động từ nguồn NSNN nhưng

sử dụng nguồn kinh phí không đúng mục đích nên dẫn đến thiếu hụt nguồn

kinh phí đóng BHXH, BHYT. Trong khi đó, công tác phê bình, kiểm điểm

trách nhiệm cá nhân người đứng đầu tại các đơn vị hành chính sự nghiệp để

nợ đọng tiền đóng BHXH, BHYT chưa được các đơn vị chủ quản thực hiện

nghiêm túc. Công tác truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trốn đóng,

chậm đóng BHXH, BHYT còn một số vướng mắc nên chưa thực hiện được.

Việc kiểm tra chuyên ngành, liên ngành tại các đơn vị KCB BHYT chưa

được thường xuyên, đặc biệt đối với các đơn vị sử dụng kinh phí KCB BHYT

chưa thực sự hiệu quả, tiết kiệm; Chưa xử lý nghiêm minh đối với tình trạng

lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT vẫn còn xảy ra ở một số nơi như gia tăng chỉ

định thuốc, xét nghiệm quá mức cần thiết, lập hồ sơ KCB khống, kê sai số

lượng, giá dịch vụ y tế để thanh toán với cơ quan BHXH.

Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cố tình vi phạm các

quy định của Luật BHYT chưa được các ngành chức năng thực hiện thường

60

xuyên dẫn đến tình trạng thực hiện pháp luật chưa nghiêm minh, làm ảnh

hưởng quyền lợi đối với người lao động.

Năng lực và chất lượng, số lượng công chức viên chức của cơ quan

BHXH tỉnh làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra vẫn chưa đạt yêu cầu. Công tác

giám sát vẫn chưa được thường xuyên.

2.2.2.2 Luật BHYT còn một số vướng mắc, việc ban hành các văn bản hướng

dẫn còn thiếu cụ thể, chưa theo kịp với nhu cầu thực tiễn:

Hệ thống chính sách, pháp luật về BHYT trong quá trình tổ chức thực

hiện đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc nhưng chưa được điều chỉnh, sửa

đổi, bổ sung kịp thời; một số văn bản hướng dẫn triển khai luật BHYT còn

chậm ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung chưa kịp thời. Một số văn bản hướng

dẫn tổ chức thực hiện chế độ, chính sách chưa rõ, dẫn đến khó khăn, vướng

mắc trong triển khai thực hiện.

Luật chưa đảm nguyên tắc công bằng đóng - hưởng, chia sẻ và bảo đảm

bền vững quỹ trong chế độ BHYT. Mức hưởng cao, chi phí được hưởng không

phụ thuộc với mức đóng, thời gian đóng, thậm chí chỉ cần đóng liên tục trên 5

năm là được hưởng 100% toàn bộ chi phí KCB BHYT, dẫn đến luôn có nguy cơ

mất cân đối quỹ BHYT, và thực tế liên tục trong 4 năm qua luôn xảy ra tình

trạng bội chi quỹ BHYT trên toàn quốc cũng như tại địa phương.

Luật BHYT quy định “thông tuyến” mặc dầu đã tạo điều kiên vô cùng

thuận luận cho người dân khi đi KCB BHYT. Tuy nhiên, chế độ thông tuyến

đã tạo kẻ hở cho một số người lợi dụng đi khám nhiều lần trong ngày, trong

tháng tại nhiều cơ sở y tế mà chưa có chế tài kiểm soát người đi KCB nhiều

lần, nhiều nơi. Thiếu cơ chế rõ ràng cho việc kiểm soát trách nhiệm đóng

BHYT; thiếu sự bảo đảm an toàn, cân đối quỹ BHYT trong các năm do sự gia

tăng giá dịch vụ y tế do yêu cầu tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế. Thiếu các

quy định cụ thể về tiêu chuẩn giám định viên BHYT cũng dẫn tới cơ sở KCB

61

và bộ phận giám định BHYT thường xuyên có bất đồng trong việc chỉ định

điều trị, đặc biệt các chỉ định về cận lâm sàng. Đồng thời, thông tuyến huyện

từ 01/01/2016 và thông tuyến tỉnh sẽ được áp dụng theo quy định của Luật

BHYT bắt đầu từ 01/01/2021, nhưng chưa có sự đánh giá kết quả thực hiện

việc thông tuyến huyện, để rút ra kết quả, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân để

khắc phục, sẽ dự báo tiếp tục gia tăng quá tải tại tuyến trên, lãng phí nguồn

lực tại tuyến dưới, thậm chí sẽ có đơn vị KCB không thể hoạt động do không

có bệnh nhân. Bên cạnh đó, do chưa có sự đồng bộ chất lượng KCB BHYT

giữa các tuyến và do nhu cầu và tâm lý của người bệnh, số lượt bệnh nhân và

chi phí KCB BHYT sẽ tập trung lớn tại các địa phương có cơ sở KCB tuyến

trung ương do lạm dụng cơ chế KCB thông tuyến tỉnh để cố tình chuyển lên

tuyến trung ương những bệnh lý chưa thật sự cần thiết, sẽ gây lãng phí lớn hệ

thống cơ sở y tế tuyến dưới, nguồn kinh phí quỹ BHYT và kể cả chi phí của

người bệnh do phải cùng chi trả, chi phí đi lại, ăn ở….

Theo Luật quy định có 3 phương thức thanh toán được áp dụng đó là:

Thanh toán theo định suất; Thanh toán theo phí dịch vụ; Thanh toán theo trường

hợp bệnh. Tuy nhiên, hiện nay, giữa BHXH Việt Nam và Bộ Y tế chưa có văn

bản hướng dẫn thực hiện cả 3 phương thức thanh toán mà chỉ mới hướng dẫn

thực hiện phương thức thanh toán theo phí dịch vụ. Tất cả các đơn vị hiện nay

đều áp dụng phương thức thanh toán phí dịch vụ, thanh toán theo số lượng chỉ

định và đơn giá dịch vụ y tế và thuốc, vật tư y tế. Điều này đang tồn tại nhiều bất

hợp lý, các đơn vị KCB luôn gia tăng số lượng, ngành y tế gia tăng giá viện phí,

gây ra lãng phí và không an toàn cho quỹ BHYT. Đối với quỹ BHYT là tình

trạng mất cân đối, bội chi quỹ BHYT liên tục qua các năm, nguyên nhân chủ yếu

là do không thể kiểm soát chi phí KCB BHYT. Đối với các cơ sở KCB, lợi dụng

sự thiếu chặt chẽ trong phương thức thanh toán theo phí dịch vụ để chỉ định quá

mức cần thiết BHYT.

62

Một số văn bản liên quan đến việc thực hiện chế độ BHYT còn nhiều

vướng mắc trong triển khai thực hiện, chưa được điều chỉnh sửa đổi. Hằng

năm, theo chủ trương tính đúng, tính đủ, Bộ Y tế ban hành điều chỉnh giá viện

phí gia tăng hằng năm. Đồng thời, quyền lợi được hưởng BHYT ngày càng

mở rộng, giá viện phí, đơn giá thuốc, vật tư y tế ngày càng gia tăng, danh mục

dịch vụ kỹ thuật, thuốc, vật tư ngày càng mở rông cho đối tượng BHYT được

thị hưởng, các đơn vị KCB ngày càng tăng cường ứng dụng các khoa học tiên

tiến hiện đại trong điều trị…. đã kéo theo chi phí KCB ngày càng gia tăng rất

lớn, trong khi đó việc điều chỉnh tăng nguồn thu chưa được thực hiện. Nghị

định của Chính phủ quy định mức đóng 4,5% mức lương đối với người lao

động, 4,5% mức lương cơ sở đối với các đối tượng còn lại (Luật BHYT quy

định khung tối đa 6%) càng làm mất cân đối quỹ BHYT.

Về cơ chế tự chủ đối với Bệnh viện công lập đã tác động tích cực đến

chất lượng hoạt động, đổi mới cơ chế quản lý; nâng cao chất lượng cung ứng

dịch vụ; chủ động huy động các nguồn lực ngoài ngân sách; chủ động trong

chính sách đãi ngộ, thu hút cán bộ y tế, đội ngũ chuyên gia, y, bác sĩ có tay

nghề cao,… qua đó, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và cung ứng dịch

vụ y tế. Tuy nhiên, hiện nay, Bệnh viện công lập đang gặp nhiều khó khăn

trong việc thực hiện cơ chế tự chủ, cụ thể: Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP

ngày 14/2/2015 Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, tại

Khoản 2 Điều 24 (Điều khoản thi hành) nêu: "Trong khi chưa ban hành hoặc

sửa đổi Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong

từng lĩnh vực cụ thể theo quy định tại Khoản 1 Điều này, các đơn vị sự nghiệp

công theo từng lĩnh vực được tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định

tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 Quy định quyền tự chủ, tự

chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính

đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày

63

05/9/2005 Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học

và công nghệ công lập và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 Sửa

đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ;

Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10//2012 Về cơ chế hoạt động, cơ chế

tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh,

chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập". Tuy nhiên, đến

thời điểm này, Bộ Y tế vẫn chưa ban hành thông tư hướng dẫn đối với ngành

y tế để thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP hoặc sửa đổi tham mưu sửa

đổi, bổ sung Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp y tế công

lập. Do đó, bệnh viện được tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP nhưng trong khi phải thực hiện yêu cầu xây

dựng phương án tự chủ theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP. Điều này làm cho

bệnh viện rất lúng túng trong việc xây dựng phương án tự chủ, xây dựng dự

toán cũng như thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong giai đoạn giao thời về thực

hiện giá dịch vụ y tế, các văn bản còn chồng chéo, chưa thống nhất, Áp lực

buộc phải tạo nguồn kinh phí để đảm bảo sự hoạt động của đơn vị trong chi

thường xuyên, không thường xuyên, chi đặc thù tạo nên xu hướng buộc các

bệnh viên gia tăng chỉ định các dịch vụ kỹ thuật, xét nghiệm quá mức cần

thiết, tăng chỉ định vào nội trú để tăng nguồn thu tiền giường bệnh….làm gia

tăng chi phí, gây bội chi quỹ BHYT và vượt dự toán nguồn kinh phí được gia,

và gi tăng sự tranh luận, mẫu thuẫn giữa cơ quan BHXH với các đơn vị KCB,

ngành Y tế.

Pháp luật BHYT chưa có quy định chặt chẽ và địa phương chưa có biện

pháp hữu hiệu nhằm kiểm soát quỹ KCB BHYT chống lạm dụng, trục lợi,

thất thoát lãng phí. Theo pháp luật BHYT hiện hành, 90% số thu BHYT là để

phục vụ công tác KCB BHYT. Trên thực tế, các cơ sở KCB là chủ thể có ảnh

hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của việc sử dụng số kinh phí này. Tuy nhiên,

64

do thiếu các quy định về trách nhiệm của các cơ sở KCB trong việc sử dụng kinh

phí KCB BHYT nên các cơ sở KCB đang có xu hướng chỉ định quá mức cần

thiết KCB. Thực tế cho thấy, hiện tượng chỉ định quá mức cần thiết BHYT đang

có chiều hướng gia tăng, dưới nhiều hình thức làm thất thoát quỹ KCB BHYT và

ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người tham gia BHYT.

Việc thực hiện xã hội hóa, liên doanh, liên kết đầu tư đã làm thay đổi

nhận thức của nhiều đơn vị, không trông chờ, ỷ lại vào NSNN mà chủ động

huy động các nguồn ngoài ngân sách để đầu tư cơ sở, trang thiết bị nhằm

phát triển kỹ thuật, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, từng bước đáp

ứng nhu cầu KCB ngày càng đa dạng của các tầng lớp nhân dân, khuyến

khích và tạo điều kiện cho các đơn vị trong việc huy động các nguồn vốn

ngoài ngân sách để đầu tư, mua sắm trang thiết bị, phát triển các hoạt động

sự nghiệp; tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận các dịch vụ kỹ thuật y

tế tiên tiến hiện đại đồng thời tăng nguồn thu cho bệnh viện Tuy nhiên, quá

trình thực hiện đã nảy sinh những hạn chế, bất cập từ chính sách so với

thực tế. Nghị định về tự chủ chưa phân định rõ nhiệm vụ theo chức năng,

nhiệm vụ Nhà nước giao và hoạt động dịch vụ, thiếu cơ chế kiểm soát

phòng chống tham nhũng trong vấn đề này; Việc tính đúng, tính đủ giá

dịch vụ y tế còn chậm, Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề án liên doanh,

liên kết với các tổ chức khu vực tư, dưới áp lực về doanh thu có thể dẫn

đến tình trạng tăng cường chỉ định dùng máy liên doanh liên kết, trong khi

máy móc đầu tư từ nguồn NSNN còn sử dụng tốt, đảm bảo chất lượng cho

công tác KCB, gây lãng phí tài sản nhà nước.

65

2.2.3. Đánh giá kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.2.3.1. Đánh giá kết quả đạt được và nguyên nhân .

Chính sách BHYT ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Việc

Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, đánh dấu mốc

quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội. Đó là chủ trương lớn

của Đảng, hợp lòng dân, làm thay đổi và chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của

cán bộ, đảng viên, các cấp, các ngành cũng như người dân trong việc thực

hiện chính sách BHXH, BHYT.

Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các cấp ủy Đảng, chính quyền địa

phương các cấp đã thực sự vào cuộc, chỉ đạo quyết liệt trong việc triển khai

pháp luật BHYT. Các Sở, ban, ngành có liên quan đã có sự phối hợp chặt chẽ

với cơ quan BHXH trong việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHYT

cho người lao động và nhân dân trên địa bàn. Đó chính là nhờ sự lãnh đạo, chỉ

đạo thường xuyên của các đồng chí bí thư cấp ủy, sự lãnh đạo, giao chỉ tiêu,

nhiệm vụ cụ thể và có sự kiểm tra của các người đứng đầu các cấp chính

quyền, ý thức trách nhiệm và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tại địa

phương đã góp nên những kết quả to lớn trong việc tổ chức triển khải BHYT

tại Thừa Thiên Huế.

Nhận thức của xã hội ngày càng đầy đủ hơn quyền lợi, nghĩa vụ và trách

nhiệm trong tham gia BHYT. Đó chính là do từ nhận thức của đa số các cấp

ủy Đảng, cán bộ, người dân, người lao động về chính sách BHYT được nâng

lên rõ rệt. Nhiều cấp ủy, chính quyền đã nâng cao trách nhiệm trong công tác

lãnh đạo, chỉ đạo, vận động nhân dân; chủ động xây dựng chương trình, kế

hoạch công tác BHYT; tuyên truyền phổ biến về vai trò ý nghĩa của việc tham

gia BHYT đối với sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, hướng

tới BHYT toàn dân

66

Công tác đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT đã được giải

quyết một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác, Quy trình, thủ tục hành chính

được cải cách một cách mạnh mẽ, rút ngắn thòi gian, giảm các thủ tục hành

chính, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân được tiếp cận và tham gia

BHYT. Đó chính là nhờ sữ nổ lực từ nhiều phía, từ các chính quyền, các đơn

vị, từ người chủ sử dụng lao động đã nêu cao trách nhiệm trong việc lập danh

sách, tổ chức thu, đóng BHYT cho các đối tượng; Hệ thống KCB BHYT ngày

càng được mở rộng, nâng cao chất lượng điều trị, đáp ứng được nhu cầu KCB

của người tham gia BHYT; Bên cạnh đó, còn có tập thể công chức, viên chức

BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế đã thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo

của BHXH Việt Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, phối hợp chặt chẽ các ban ngành

liên quan, chủ động xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu, các giải pháp thực hiện,

đồng thời đoàn kết, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong

đơn vị, tăng cường cải cách hành chính, hướng đến nền hành chính phục vụ

cho mọi người dân, quyêt tâm nổ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm

vụ, chỉ tiêu dược giao, hướng đến thực hiện tiến tới BHYT toàn dân, đảm bảo

an sinh xã hội trên tỉnh nhà.

2.2.3.2. Đánh giá tồn tại, hạn chế và nguyên nhân .

Một số nơi, ý thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền về vai trò,

ý nghĩa, tầm quan trọng của Luật BHYT vẫn còn hạn chế, chưa thật sự coi

đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng cần tập trung chỉ đạo; một số cơ

quan, ban ngành chưa tích cực phối hợp với cơ quan BHXH để thực hiện

chính sách, pháp luật BHYT, coi công tác tuyên truyền chính sách BHYT

phát triển đối tượng tham gia BHYT là trách nhiệm riêng của ngành BHXH.

Chưa hiểu được trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và triển khai

thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT là của cả hệ thống chính trị.

67

Một số nơi, cấp ủy đảng, chính quyền chưa có biện pháp hữu hiệu nhằm

tổ chức triển khai tốt pháp luật BHYT trên địa bàn mình quản lý, vẫn còn

thiếu những giải pháp cụ thể, phù hợp hơn cho một số đối tượng, vùng kinh

tế, xã hội trên địa bàn tỉnh nhằm mở rộng bao phủ BHYT cho các nhóm đối

tượng. Chưa ban hành các văn bản chỉ thị, nghị quyết, giao chỉ tiêu, trách

nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, ban ngành, các đơn vị liên quan dẫn đến một

số địa phương chưa đạt tỷ lệ tham gia BHYT theo yêu cầu, tình trạng nợ

đóng, trốn đóng BHYT vẫn xảy ra, việc kiểm soát chi phí KCB BHYT chưa

chặt chẽ; việc đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ, thành tích cá nhân, đơn

vị còn chưa xét đến việc đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu về chính sách BHYT

trên địa bàn hoặc của từng đơn vị.

Việc chấp hành pháp luật BHYT của một số cá nhân, người đứng đầu,

chủ sử dụng lao động của số đơn vị chưa nghiêm, đặc biệt các doanh nghiệp

vừa và nhỏ. Một số chủ sử dụng lao động cố tình không tham gia BHYT cho

người lao động hoặc chỉ tham gia cầm chừng mang tính đối phó, một số khác

cố tình chiếm dụng, không trích đóng, để nợ đọng BHYT số tiền lớn, thời

gian kéo dài còn tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHYT cho người lao động làm

ảnh hưởng quyền lợi của người lao động trong đơn vị, kể cả đơn vị hành

chính sự nghiệp. Chủ sử dụng lao động không kê khai danh sách số lao động,

với lý do đơn vị mới thành lập, chưa tuyển dụng được lao động, nhân viên chỉ

làm việc theo chế độ thử việc, hợp đồng vụ việc... hoặc chủ sử dụng lao động

trì hoãn tham gia BHYT.

Nhận thức của một số người lao động, người dân về chính sách BHYT

còn hạn chế, có tâm lý chỉ lo cho cuộc sống trước mắt nên không muốn

tham gia BHYT, chỉ khi nào bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn mới tham gia

BHYT để hưởng chế độ cho cá nhân mình, sai mục đích nhân văn của

chính sách BHYT.

68

Hình thức, nội dung tuyên truyền một số nơi vẫn còn mang nặng tính

hình thức, thiếu sức hấp dẫn, hiệu quả chưa cao. Cán bộ làm công tác tuyên

truyền còn kiêm nhiệm thêm một số công việc khác trong khi khối lượng

công việc chuyên môn ngày càng tăng nên việc triển khai các hoạt động tuyên

truyền gặp khó khăn.

Đội ngũ làm công tác tuyên truyền của cơ quan BHXH tỉnh Thừa Thiên

Huế còn mỏng, chưa có tính chuyên nghiệp và thường xuyên thay đổi đã ảnh

hưởng đến chất lượng hoạt động tuyên truyền. Kiến thức và khả năng tuyên

truyền về BHXH, BHYT của một số nhân viên Đại lý thu còn hạn chế nên

việc tuyên truyền khai thác đối tượng tham gia vẫn chưa hiệu quả.

Còn nhiều người dân ở các vùng nông thôn, miền núi chưa có điều kiện

tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng, các cộng tác viên tuyên truyền

để được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách BHYT.

Hệ thống đại lý thu BHYT chủ yếu kiêm nhiệm, còn hạn chế về năng lực

tuyên truyền BHYT, chưa chủ động, nhiệt tình trong việc tuyên truyền, vận

động người dân tham gia BHYT.

Việc nắm bắt, quản lý, theo dõi biến động đối tượng thuộc diện tham gia

BHYT vẫn còn chưa kịp thời; công tác phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ

quan quản lý nhà nước và cơ quan BHXH tuy đã có chuyển biến nhưng vẫn

chưa đáp ứng được yêu cầu.

Ngành y tế và các đơn vị KCB mặc dù quan tâm đến việc nâng cao chất

lượng KCB ở các cơ sở y tế, nhất là y tế tuyến xã, phòng khám, tuy nhiên

nhìn chung chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người dân. Đội ngũ y bác

sĩ thiếu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng KCB tại tuyến huyện mặc

dầu có đầu tư tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo, hoặc đầu tư chưa đồng bộ, đầu tư

nhưng thiếu con người vận hành, thiếu trình độ chuyên môn sử dụng hoặc sử

dung chưa hiệu quả, càng gây nên tình trạng bệnh nhân lên tuyên trên, gây

69

quá tải tại tuyến tỉnh, đặc biệt tuyến trung ương.

Chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về BHYT hiện nay chưa hữu

hiệu; Quy định của Luật BHYT về một số đối tượng “trách nhiệm tham

gia”chưa đủ mạnh dẫn đến một số đối tượng như học sinh, sinh viên, người

thuộc hộ gia đình cận nghèo tham gia BHYT vẫn chủ yếu thông qua vận

động. Cơ quan BHXH không có chức năng thanh tra, xử lý những hành vi vi

phạm pháp luật mà phải thông qua các cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ

quan chức năng cho nên số vụ việc được thanh tra, xử lý còn ít. Bên cạnh đó,

lực lượng thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước hiện đang có số lượng

rất hạn chế và phải đảm đương nhiều chức năng thanh tra khác nhau (thanh

tra về tuân thủ thực hiện Luật BHYT do thanh tra Sở Y tế thực hiện), nên thời

gian xử lý các vụ việc thanh tra thường kéo dài và kém hiệu lực.

Do quy định lãi nộp phạt chậm đóng thấp hơn lãi vay ngân hàng nên nhiều

doanh nghiệp chiếm dụng quỹ BHYT, chây ì, chờ đến cuối năm mới nộp.

Năng lực và chất lượng của công chức, viên chức, người lao động của cơ

quan BHXH tỉnh chưa được thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng tập huấn, đặc

biệt trong nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra vẫn chưa đạt yêu cầu. Số lượng nhân

viên còn thiều. Ngành BHXH mới được giao chức năng thanh tra chuyên

ngành đóng, chưa được giao chức năng thanh tra chi trả và hưởng chế độ

BHXH, BHYT, BHTN nên tình trạng lạm dụng, trục lợi chế độ, chính sách

BHXH, BHYT, BHTN chưa được xử lý kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi

của người hưởng và quỹ BHXH, BHTN, BHYT.

Vấn đề sửa đổi chính sách, pháp luật BHYT còn chưa theo kịp với phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như hội nhập quốc tế trong thời đại

công nghiệp 4.0; chế độ BHYT và các văn bản hướng dẫn thực hiện có nhiều

thay đổi, tính ổn định chưa cao. Trong khi đó, yêu cầu cải cách hành chính

70

nhằm tạo điều kiện tối đa cho mọi tổ chức, cá nhân đang đặt ra những thách

thức lớn đối với cơ quan BHXH.

Chính sách BHYT mặc dúng ngày càng mở rộng quyền lợi hơn, nhưng

vẫn chưa thực hiện được đa dạng sản phẩm dịch vụ BHYT phù hợp với một

số đối tượng có nhu cầu trong xã hội. Chưa điều chỉnh các mức phí, mức

hưởng đi đôi với phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao.

Hệ thống pháp luật trong đó có Luật BHYT và các luật có liên quan phải

luôn đảm bảo có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, như Luật KCB,

Luật Dược, Luật Đấu thầu, Luật Giá, Bộ Luật hình sự, Luật Thanh tra… và

các văn bản hướng dẫn thực hiện luật chưa được hoàn thiện, có một số nội

dung không còn hoặc dự báo không phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực

tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, chưa đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính

phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật.

Tiểu kết Chương 2

Trong chương 2, luận văn đã khái quát hoạt động tổ chức thực hiện pháp

luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, đánh giá kết quả đạt được,

những hạn chế và các nguyên nhân của những kết quả, hạn chế trong việc tổ

chức thực hiện luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả của

chương này sẽ là tiền đề cho chương 3: Xác định các quan điểm, mục tiêu,

phương hướng và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật BHYT trên

địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

71

Chương 3:

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC

THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN

TỉNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Quan điểm, mục tiêu

3.1.1 Quan điểm

Bảo hiểm y tế là chính sách xã hội quan trọng, là một trong các trụ cột

chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã

hội, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, việc mở

rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHYT cần có bước đi, lộ trình phù hợp

với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm phát triển bền vững.

Đảng và Nhà nước có quan điểm về BHYT như sau:

- Quan điểm của Đảng về BHYT là tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân, đã

được xác định tại Điều 58 Hiến pháp nước ta năm 2013 “Nhà nước, xã hội

đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực

hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho

đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện

kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.

- Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục

nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế; xây dựng và

thực hiện tốt lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; phát triển mạnh các loại

hình bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm y tế cộng đồng. Mở rộng diện các cơ

sở y tế công lập và ngoài công lập khám bệnh, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế.

Hạn chế và giảm dần hình thức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh.

Đổi mới phương thức thanh toán viện phí qua Quỹ bảo hiểm y tế”. Dự thảo

văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ 13, đã có ghi nhận đánh giá kết quả thực

hiện BHYT toàn dân trong 5 năm qua ( tỷ lệ tham gia năm 2015 là 76,5% đã

72

tăng lên 90,7% vào năm 2020); trong nhiệm vụ 5 năm đến cũng Đảng ta cũng

đã đặt ra mục tiêu chung phải đảm bảo an sinh xã hội, trong đó chỉ tiêu tham

gia BHYT toàn dân phải đạt trên 95%.

Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định quan điểm, đó

là “Thực hiện tốt các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, là

trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội,

doanh nghiệp và của mỗi người dân”. Đây là quan điểm hết sức quan trọng

của khẳng định trách nhiệm thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH,

BHYT không phải chỉ riêng ngành BHXH mà là trách nhiệm của cả hệ thống

chính trị, các doanh nghiệp và của tất cả mọi người dân. Quan điểm này xuất

phát từ việc nhận thức rõ vị trí, vai trò, tính trụ cột của hoạt động BHXH,

BHYT trong hệ thống chính sách an sinh xã hội. Bởi lẽ suy cho cùng, thực

hiện tốt công tác BHXH, BHYT chính là góp phần bảo đảm an sinh xã hội

trên địa bàn địa phương và đất nước, thiết thực đóng góp thực hiện thắng lợi

hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nghị quyết số 20/NQ-TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban chấp

hành Trung ương Khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ chăm sóc và nâng

cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nêu rõ quan điểm: “Hướng tới

thực hiện bao phủ chăm sóc sức khoẻ và bảo hiểm y tế toàn dân; mọi người

dân đều được quản lý, chăm sóc sức khoẻ; được bảo đảm bình đẳng về quyền

và nghĩa vụ trong tham gia bảo hiểm y tế và thụ hưởng các dịch vụ y tế. Tính

đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế và có cơ chế giá, cơ chế đồng chi trả nhằm phát

triển vững chắc hệ thống y tế cơ sở”. Trong đó có giao chỉ tiêu cụ thể, tỷ lệ

tham gia BHYT toàn quốc là 95%.

- Luật BHYT ra đời từ năm 2008 và được sửa đổi, bổ sung vào năm

2014, là cơ sở pháp lý thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà

73

nước trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế công thông qua BHYT

toàn dân theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.

Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách BHYT đều

khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước tiến tới BHYT toàn dân.

3.1.2 Mục tiêu

- Mục tiêu chung

Tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT: Tiếp tục duy trì các nhóm đối tượng

đã tham gia BHYT theo hướng bền vững, đặc biệt đối tượng thuộc diện tham

gia BHYT bắt buộc, lưu ý đối tượng học sinh, sinh viên. Tăng cường vận

động các nhóm đối tượng còn lại đạt và vượt chỉ tiêu mà Thủ tướng Chính

phủ và ngành BHXH giao cho

Nâng cao chất lượng KCB BHYT, bảo đảm quyền lợi của người tham

gia BHYT theo quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu KCB của người

tham gia BHYT.

Từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho

người thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham gia BHYT.

Quản lý, sử dụng quỹ BHYT hiệu quả, an toàn nhưng đi đôi với việc đảm bảo

quyền lợi của người tham gia BHYT.

Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, dặc biệt ngành Y tế trên địa

phương nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh; tham gia góp ý, kiến

nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi hoàn thiện các chính sách về

BHYT, xây dựng gói quyền lợi BHYT phù hợp, rà soát ưu tiên đưa vào danh

mục Quỹ BHYT chi trả đối với các dịch vụ y tế có tính chi phí hiệu quả cao;

ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực, tăng cường cải cách

hành chính, bảo đảm công khai và minh bạch trong quản lý, giám định và

thanh toán chi phí KCB BHYT; Kiểm soát chi phí thông qua việc giao dự

74

toán chi cho các cơ sở KCB; Đấu thầu tập trung cấp quốc gia đối với thuốc,

vật tư y tế, trang thiết bị y tế… bảo đảm cân đối thu - chi quỹ BHYT.

- Mục tiêu cụ thể của tỉnh Thừa Thiên Huế:

Tiếp tục duy trì tỷ lệ tham gia BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai

đoạn 2020-2025, hằng năm luôn cao hơn 98%, phấn đấu đến năm 2025 đạt trên

99%. Trong đó tỷ lệ học sinh, sinh viên đạt 100%, cận nghèo đạt 100%.

Quyền lợi KCB BHYT của tất cả các đối tượng tham gia BHYT được

đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Kiểm soát được chi phí KCB

BHYT, không để xảy ra tình trạng lạm dụng trục lợi quỹ KCB BHYT. Quyết

toán chi phí KCB BHYT không vượt dự toán được Thủ tướng Chính phủ và

BHXH Việt Nam giao cho.

Xây dựng hệ thống BHXH Thừa Thiên Huế hiện đại, chuyên nghiệp,

hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội

nhập quốc tế, hướng đến sự hài lòng của mọi đối tượng tham gia.

3.2. Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế trên địa

bàn Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.

3.2.1 Nhóm giải pháp tăng cường công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ

biến Luật BHYT.

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt nhận thức về trách nhiệm của cấp ủy,

chính quyền địa phương các cấp, các ban ngành, các người đứng đầu trong

các đơn vị sử dụng lao động về các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật

của Nhà nước về chính sách BHYT.

Mọi cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, các ban ngành, cá

nhân, đặc biệt người đứng đầu phải luôn nâng cáo nhận thức về vai trò, ý

nghĩa và tầm quan trọng của BHYT. Tổ chức phổ biến, triển khai các Nghị

quyết, chỉ thị kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Phải quán triệt đây là một

nhiệm vụ chính trị quan trọng của cả hệ thống chính trị cần tập trung chỉ đạo.

75

Việc quán triệt cần tập trung quyết liệt, thường xuyên và liên tục đối với

những cấp ủy đảng, chính quyền còn xem nhẹ về vai trò, ý nghĩa, tầm quan

trọng của BHXH, BHYT, sự hiểu biết Luật BHYT vẫn còn hạn chế, chưa thật

sự coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng cần tập trung chỉ đạo. Đặc

biệt cần lưu ý một số cơ quan, ban ngành chưa tích cực phối hợp với cơ quan

BHXH để thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, coi công tác tuyên truyền

chính sách BHYT phát triển đối tượng tham gia BHYT là trách nhiệm riêng

của ngành BHXH. Chưa hiểu được trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo

dục và triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT là của cả hệ thống

chính trị.

Các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan cần xây dựng các biện pháp

hữu hiệu nhằm tổ chức triển khai tốt pháp luật BHYT trên địa bàn, đơn vị

mình quản lý, phải có những giải pháp cụ thể, phù hợp hơn cho một số đối

tượng, vùng kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh nhằm mở rộng bao phủ BHYT

cho các nhóm đối tượng. Kịp thời ban hành các văn bản chỉ thị, nghị quyết,

giao chỉ tiêu, trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, ban ngành, các đơn vị liên

quan phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu tỷ lệ tham gia BHYT, xem đây là một

trong các chỉ tiêu chủ yếu trong nghị quyết phát triển kinh tế xã hội địa

phương, và làm chỉ tiêu đánh giá thi đua của đơn vị, chỉ tiêu đánh giá việc

hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân, đặc biệt đánh giá người đứng đầu.

Hằng năm, UBND tỉnh quán triệt việc thực hiện Luật BHYT và giao

nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành và UBND huyện, thành phố, thị xã trong

việc triển khai thực hiện; giao chỉ tiêu tỷ lệ người dân tham gia BHYT là chỉ

tiêu bắt buộc về phát triển kinh tế - xã hội cho UBND huyện. Căn cứ tỷ lệ

người dân tham gia BHYT trên địa bàn huyện, xã để đánh giá mức độ hoàn

thành nhiệm vụ đối với người đứng đầu UBND dân cấp huyện, xã; không xét

76

các danh hiệu thi đua đối với xã không hoàn thành chỉ tiêu phát triển BHYT

trên địa bàn.

Thứ hai, nâng cao hiệu lực và hiệu quả phổ biến, giáo dục Luật Bảo

hiểm y tế

Cơ quan BHXH tăng cường chủ động hơn nữa việc tham mưu cấp ủy,

chính quyền địa phương,phối hợp với các ban ngành, các tổ chức chính trị -

xã hội, các hội, đoàn thể, các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa

phương xây dựng kế hoạch và tổ chức tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết của

Đảng, Pháp luật của Nhà nước về chính sách BHYT đến cán bộ, đảng viên,

người lao động và Nhân dân trong cả nước.

Thực hiện đổi mới một cách toàn diện nội dung, hình thức và phương

pháp tuyên truyền BHYT để đạt hiệu quả cao như:

- Đổi mới nội dung tuyên truyền: Chuyển từ việc chú trọng tuyên truyền,

phổ biến nội dung chính sách, pháp luật BHXH, BHYT sang truyền thông

chuyên sâu về lợi ích, vai trò, ý nghĩa, tính nhân văn, ưu việt của chính sách

BHXH, BHYT. Truyền thông để người lao động và Nhân dân thấy được giá

trị thiết thực của chính sách đối với bản thân và gia đình, từ đó tích cực, chủ

động tham gia như một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của mỗi người, mỗi

nhà; truyền thông về vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền

trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp thực hiện chính sách BHXH,

BHYT, việc đưa chỉ tiêu phát triển BHXH, BHYT vào chỉ tiêu phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương.

Tuyên truyền, động viên khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý thức tự lực

cũng như ý nghĩa của việc tự đảm bảo an sinh cho bản thân của mỗi người

dân, từ đó giúp người dân hình thành thói quen chủ động tham gia BHYT như

một nhu cầu thiết yếu để chăm sóc sức khỏe và ổn định cuộc sống của bản

thân và gia đình; truyền thông vận động, thuyết phục, cổ vũ các tổ chức, cá

77

nhân, các nhà hảo tâm làm công tác thiện nguyện trong lĩnh vực BHYT, nhất

là với những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định… để

ngày càng có nhiều người dân được đảm bảo an sinh xã hội, qua đó lan tỏa

sâu rộng trong xã hội truyền thống tương thân tương ái của dân tộc ta, ý nghĩa

nhân văn, tính ưu việt của chế độ BHYT đối với đời sống của người lao động

và Nhân dân.

- Về hình thức tuyên truyền: Cần triển khai đồng loạt nhiều kênh truyền

thông khác nhau; đổi mới, đa dạng, áp dụng linh hoạt các hình thức truyền

thông phù hợp với đặc điểm vùng miền, phong tục tập quán, truyền thống văn

hóa, tâm lý từng nhóm dân cư; hình thức truyền thông phải xuất phát từ đặc thù

từng nhóm dân cư gắn với nội dung truyền thông phù hợp, gần gũi, thân thiện.

Kết hợp hiệu quả giữa các hình thức tuyên truyền truyền thống với các hình

thức truyền thông mới; chú trọng truyền thông vận động trực tiếp người dân

tham gia BHYT, truyền thông trên mạng xã hội, qua điện thoại thông minh,

như phản qua điện thoại số hotline Hệ thống chăm sóc khách hàng, trên Fapage

BHXH Việt Nam để tương tác (like, share, comment).. để kịp thời tư vấn, giải

đáp thông tin, truyền thông chính sách BHYT, đồng thời tạo kênh tương tác

nhanh chóng, có hiệu quả góp phần tiết kiệm thời gian đi lại, chi phí cho người

dân, các phản ánh, kiến nghị được giải đáp kịp thời đã góp phần giảm bức xúc,

khiếu kiện của người dân, hướng tới sự hài lòng của mọi người dân

- Về phương pháp tuyên truyền: Cần chủ động đổi mới phương pháp

truyền thông theo hướng linh hoạt để đáp ứng kịp thời với bối cảnh thực tiễn,

những vấn đề mang tính thời sự, vấn đề nóng; kết hợp hài hòa giữa tuyên

truyền thường xuyên và truyền thông theo chiến dịch, chủ đề:

Ngoài việc tuyên truyền thường xuyên, cần chú trọng đến ruyền thông

theo chiến dịch theo các ngày kỷ niệm, lễ lớn như các ngày kỷ niệm thành lập

Đảng, thống nhất đất nước, thành lập ngành BHXH, Ngày BHYT Việt Nam

78

1/7 hằng năm, ngày pháp luật, tháng công nhân … hoặc các đợt ra quân chiến

dịch vận động tuyên truyền người dân tham gia BHYT. Các đợt tuyên truyền

chiến dịch Lễ ra quân đã giúp người dân nhận thức sâu sắc hơn về lợi ích và

tính nhân văn của chính sách BHYT; tạo thêm niềm tin cho Nhân dân vào các

chính sách an sinh của Đảng, Nhà nước đồng thời tăng cường vai trò, trách

nhiệm của các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tổ chức

thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu

BHYT toàn dân; góp phần khẳng định hình ảnh, vị thế của cơ quan BHXH

các cấp trong công tác đảm bảo an sinh xã hội của đất nước.

Truyền thông theo chủ đề thực hiện các Chỉ thị của Thủ tướng Chính

phủ (ví dụ về phòng chống dịch COVID-19, Hưởng ứng Chỉ thị của Thủ

tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam chung tay phòng, chống dịch COVID-19 ,

Ý nghĩa, lợi ích của cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông

tin ngành BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi của người tham gia trong bối cảnh

dịch COVID-19, các chủ đề phòng chống dịch bệnh, thiên tai, tai nạn giao

thông…. qua đó, đã góp phần làm rõ, làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn của

chính sách BHYT trong việc ổn định đời sống người dân khi có những biến

cố về dịch bệnh khó lường, đồng thời cũng góp phần làm thay đổi nhận thức

của người dân để chủ động tham gia BHYT như một nhu cầu tất yếu nhằm tự

bảo đảm cuộc sống và sức khoẻ cho bản thân.

Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền như tổ chức tọa đàm, đối

thoại, tư vấn chính sách trực tiếp tại cơ sở, thực hiện các phóng sự, chuyên

mục, tọa đàm, tin, bài… về chính sách, pháp luật BHYT. Đối tượng truyền

thông bao gồm cả người tham gia BHYT và cơ sở KCB; trong đó, nhấn mạnh

đến quyền lợi, trách nhiệm và cả những thách thức để thực hiện tốt các chính

sách BHYT.

Thứ ba, phát triển đối tượng tham gia BHYT mang tính bền vững

79

Đẩy mạnh việc phát triển đối tượng tham gia BHYT, trong đó tập trung

vào các nhóm đối tượng là người tham gia bắt buộc, BHYT hộ gia đình; phấn

đấu hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính

phủ và kế hoạch của BHXH Việt Nam giao. Quản lý tốt đối tượng đóng và

tham gia BHYT.Bên cạnh các giải pháp tuyên truyền vận động để mọi đối

tượng, mọi người dân luôn có ý thức tham gia BHYT một cách tích cực, cần

có hướng giải quyết đặt ra là những giải pháp hỗ trợ người dân tham gia

BHYT, giúp những đối tượng này có những thuận lợi ban đầu khi tham gia

BHYT. Đồng thời, có những giải pháp đảm bảo tính ổn định, bền vững cho

các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT bằng cách nâng cao nhận thức của

người dân ý thức chia sẻ cộng đồng và cơ hội có nguồn tài chính vững chắc

phòng khi không may mắc bệnh.

Việc xây dựng giá viện phí tính đúng tính đủ cũng có tác dụng đa chiều.

Một mặt, người tham gia BHYT nhận thấy quyền lợi rất lớn khi so với người

không tham gia, nếu không tham gia khi chẳng may bị ốm đau, bệnh tật tai

nạn sẽ vô cùng khó khăn khi phải trả chi phí rất lớn cho việc KCB theo giá

viện phí.

3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác tổ chức thực

hiện các chế độ chính sách theo quy định của Luật BHYT, đáp ứng sự hài

lòng của mọi đối tượng.

Thứ nhất, thực hiện tốt chế độ, chính sách theo đúng quy định của Luật

BHYT.

Sở Y tế và các đơn vị KCB BHYT phải nâng cao trách nhiệm trong việc

tăng cường chất lượng KCB BHYT để tạo niềm tin và thu hút sự tham gia

BHYT của người dân, tăng cường đầu tư phát triển hệ thống các cơ sở y tế,

nhất là cơ sở y tế ban đầu, các Trạm y tế xã, phường, thị trấn để người dân

tiếp cận dịch vụ dễ dàng.

80

Các cơ sở KCB phải tập trung nâng cao chất lượng KCB để thu hút bệnh

nhân, từ đó góp phần khuyến khích, vận động người dân chưa tham gia

BHYT tích cực tham gia BHYT. Tăng cường nâng cao cơ sở vật chất, trang

thiết bị y tế hiện đại nhắm phục vụ tốt tại các cơ sở KCB BHYT, đồng thời

nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên y tế. Với chất lượng cuộc sống

ngày càng được cải thiện, người dân có quyền được hưởng những dịch vụ cao

cấp với cơ sở KCB khang trang hiện đại, sạch sẽ và các trang thiết bị chẩn

đoán và điều trị hiện đại. Vì vậy cơ sở KCB cần huy động mọi nguồn lực để

đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, không gian rộng rãi, thoáng mát

để đáp ứng nhu cầu của người bệnh nói chung và người bệnh có thẻ BHYT

nói riêng.

Các cơ sở KCB BHYT cần tăng cường trình độ chuyên môn của đội ngũ

y, bác sỹ; chú trọng giáo dục y đức và nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ

người bệnh của nhân viên y tế, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng

KCB có thẻ hay không có thẻ BHYT, cần có chế độ thưởng phạt công minh.

Các đơn vị KCB BHYT phải luôn kịp thời lắng nghe ý kiến phản hồi của

bệnh nhân với tính cầu thị cao, khắc phục những thiếu sót hạn chế. Đồng thời

cũng chú ý cải thiện môi trường làm việc, giảm áp lực công việc, căng thẳng

cho các y, bác sỹ.

Các cơ sở KCB cần tăng cường cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn

thời gian chờ đợi của người bệnh, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin

trong quy trình tiếp nhận, khám bệnh, quản lý bệnh nhân, giảm thủ tục giấy

tờ, phiền hà khi giải quyết bệnh nhân được ra viện.

Thực hiện cải cách hành chính về cung ứng dịch vụ y tế làm cho hệ

thống y tế đáp hướng nhu cầu và mong đợi của người dân chứ không phải của

người cung ứng dịch vụ y tế. Tăng cường hệ thống mạng lưới y tế cơ sở tham

81

gia KCB BHYT, tổ chức lại mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu gần hơn

với người dân, đáp ứng được nhu cầu KCB của từng nhóm đối tượng dân cư.

Xây dựng mạng lưới KCB BHYT một cách đồng bộ, đúng hướng, đầu tư

có trọng tâm trọng điểm. Tiếp tục tổ chức sắp xếp lại hệ thống cơ sở y tế công

theo hướng đổi mới có chế hoạt động, quản lý về tài chính, nhân lực để nâng

cao chất lượng KCB BHYT cho nhân dân. Đồng thời tổ chức ưu đãi về đất

đai, tín dụng, thuế để khuyến khích, huy động nguồn lực đầu tư cho việc phát

triển và mở rộng cơ sở y tế tư nhân cùng tham gia KCB BHYT. Các cơ sở y

tế tư nhân tham gia KCB BHYT sẽ tạo ra sự “cạnh tranh” để các cơ sở y tế

nhà nước phải chú trọng nâng cao chất lượng KCB BHYT đồng thời giảm

tình trạng quá tải của các bệnh viện nhà nước.

Cơ quan BHXH phải đảm bảo việc tạm ứng, thanh quyết toán chi phí

KCB BHYT nhanh chóng, kịp thời và chính xác theo đúng quy định của pháp

luật để đảm bảo kinh phí hoạt động cho các đơn vị có hợp đồng KCB BHYT,

đảm bảo quyền lợi cho người bệnh

Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện

Luật BHYT của các chủ thể.

BHXH tỉnh thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của BHXH Việt

Nam và Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình thực

hiện nhiệm vụ công tác. Tích cực, chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành

liên quan tham mưu Lãnh đạo tỉnh kế hoạch, chương trình hành động thực

hiện các quy định, chỉ tiêu về BHXH, BHYT, BHTN gắn với mục tiêu bảo

đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; phấn đấu thực

hiện thắng lợi các mục tiêu nêu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW; Nghị quyết số

28-NQ/TW; Nghị quyết số 125/NQ-CP theo lộ trình (theo các lộ trình đến

năm 2021, 2023, 2025) và định hướng đến năm 2030.

82

Tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy BHXH tỉnh và

BHXH cấp huyện, nâng cao chất lượng đội ngũ để thực hiện các chế độ,

chính sách BHXH, BHYT, BHTN nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày

càng cao theo đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được phân cấp. Thực

hiện phân loại viên chức theo vị trí việc làm và sắp xếp, bố trí lại cơ cấu viên

chức theo vị trí chuyên môn, nghiệp vụ theo chỉ đạo hướng dẫn của BHXH

Việt Nam; Thường xuyên chú trọng nâng cao năng lực, nghiệp vụ, tinh thần

trách nhiệm, thái độ, ý thức phục vụ, chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính

của đội ngũ công chức, viên chức, nhất là những người trực tiếp tiếp xúc, giải

quyết công việc với tổ chức, doanh nghiệp, người lao động và Nhân dân; đoàn

kết xây dựng ngành BHXH hiện đại, chuyên nghiệp, hướng tới sự hài lòng

của người dân.

Thứ ba, tăng cường cải cách hành chính, trong đó lưu ý cải cách thủ tục

hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia BHYT.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện chính

sách BHXH, BHYT; giải quyết đầy đủ, kịp thời các quyền lợi về BHXH,

BHYT cho người tham gia. Tham gia cùng với toàn ngành nhằm hoàn thiện

cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động

nghiệp vụ từng bước hiện đại hóa hệ thống quản lý BHXH, BHYT, BHTN;

đẩy mạnh việc giao dịch điện tử; quản lý, sử dụng văn bản điện tử trong hệ

thống cơ quan BHXH.

Nâng cao chất lượng phục vụ, tạo điều kiện tốt nhất cho người tham gia

BHXH, BHYT, BHTN. Tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp cắt giảm thời gian,

số lần giao dịch của các tổ chức, doanh nghiệp với cơ quan BHXH theo Nghị

quyết của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ nhằm góp phần nâng cao

năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi.

83

Đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến, phấn đấu 27/27 thủ tục hành chính

được giao dịch trực tuyến cấp độ 3 và 4. Xây dựng cơ sở dữ liệu mã số

BHXH cho mọi người dân trên địa bàn, mã thẻ BHYT, dữ liệu quá trình tham

gia đóng BHXH, BHYT, BHTN một cách hoàn chỉnh, chính xác và được cấp

nhật liên tục kịp thời. Tiến tới loại bỏ thẻ BHYT bằng giấy, sử dụng thẻ

BHYT trên máy điện thoại di động thông minh, thẻ BHYT có gắn chịp điện

tử để mọi người dân được tiếp cận thông tin cá nhân,lịch sử KCB BHYT, chi

phí thụ hưởng một cách công khai minh bạch và được đảm bảo bí mật thông

tin theo đúng quy định của pháp luật.

3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế thật

sự có hiệu lực và hiệu quả.

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lý nhà nước về

bảo hiểm y tế ở địa phương

Các sở, ban, ngành phải có trách nhiệm tham mưu với Tỉnh ủy, HDND,

UBND tỉnh để có cơ chế hỗ trợ mang tính bền vững đối với thành viên hộ gia

đình tham gia BHYT nhất là hộ gia đình cận nghèo, hộ gia đình nông, lâm,

ngư nghiệp có mức sống trung bình. Hằng năm, UBND tỉnh giao nhiệm vụ

cho các sở, ban, ngành và UBND huyện, thành phố, thị xã trong việc triển khai

thực hiện; giao chỉ tiêu tỷ lệ người dân tham gia BHYT là chỉ tiêu bắt buộc về

phát triển kinh tế - xã hội cho UBND huyện. Căn cứ tỷ lệ người dân tham gia

BHYT trên địa bàn huyện, xã để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với

người đứng đầu UBND dân cấp huyện, xã; không xét các danh hiệu thi đua đối

với xã không hoàn thành chỉ tiêu phát triển BHYT trên địa bàn. Giao dự toán

chi KCB BHYT cho các địa phương, đồng thời gắn trách nhiệm của địa

phương trong việc đảm bảo thực hiện dự toán.

UBND huyện thành lập Ban chỉ đạo và xây dựng kế hoạch thực hiện

BHYT hộ gia đình theo từng xã, phường, thị trấn. Chỉ tiêu phát triển BHYT là

84

chỉ tiêu bắt buộc trong chương trình xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo UBND

cấp xã thành lập Ban chỉ đạo cấp xã và triển khai thực hiện đạt chỉ tiêu tỷ lệ

người dân tham gia BHYT theo yêu cầu của tỉnh.

Nghị quyết của Đảng các cấp về công tác BHYT hộ gia đình thì tất cả

đảng viên phải thực hiện. Chính mỗi đồng chí đảng viên sẽ là một tuyên

truyền viên về BHYT nói chung và BHYT hộ gia đình nói riêng. Tất cả các

gia đình có đảng viên thì sẽ là các gia đình đầu tiên tham gia BHYT 100%

thành viên trong hộ gia đình. Đưa chỉ tiêu tham gia BHYT trên địa bàn là một

trong những chỉ tiêu xếp loại đảng viên cuối năm, kết quả hoàn thành nhiệm

vụ của người đứng đầu địa phương đặc biệt là cấp xã.

Thứ hai, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý vi

phạm trong việc thực hiện Luật BHYT

BHXH tỉnh tập trung nâng cao năng lực và chất lượng, số lượng công

chức viên chức của cơ quan BHXH tỉnh làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra

nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra.

Các cơ quan ban ngành và BHXH tỉnh chủ động xây dựng kế hoạch

thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, liên ngành, thường xuyên và đột xuất khi có

yêu cầu. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra, có

đủ mạnh tính thuyết phục, bắt buộc ý thức chấp hành pháp luật của các chủ

doanh nghiệp trong trón đống, chậm đống BHYT, các đơn vị cố tình vi phạm

pháp luật.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra tài chính các cấp về việc sử dụng nguồn

kinh phí tại đơn vị trong đó có trách nhiệm đóng BHYT. Nghiêm túc phê

bình, kiểm điểm trách nhiệm cá nhân người đứng đầu tại các đơn vị hành

chính sự nghiệp để nợ đọng tiền đóng BHYT. Xử lý nghiêm trách nhiệm của

người đúng đầu đối với hành vi trốn đóng, chậm đóng BHYT của người lao

động.

85

Tăng cường kiểm tra giám sát tại các đơn vị KCB BHYT, đặc biệt đối

với các đơn vị sử dụng kinh phí KCB BHYT chưa thực sự hiệu quả, tiết kiệm;

Xử lý nghiêm minh đối với tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT như gia

tăng chỉ định thuốc, xét nghiệm quá mức cần thiết, lập hồ sơ KCB khống, kê

sai số lượng, giá dịch vụ y tế để thanh toán với cơ quan BHXH.

Thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cố tình vi

phạm các quy định của Luật BHYT nhằm tổ chức thực hiện Luật BHYT một

cách nghiêm minh, đảm bảo quyền lợi đối với mọi đối tượng tham gia BHYT.

Trường hợp có dấu hiệu vi phạm hình sự, kiến nghị các cấp có thẩm quyền để

khởi tố nghiêm theo đúng pháp luật.

Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Quy chế phối hợp giữa BHXH tỉnh

và Công an tỉnh để đẩy mạnh công tác phòng, chống các loại tội phạm và các

hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHYT; tăng cường bảo vệ tài sản

của Nhà nước, của tập thể, cá nhân, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan

BHXH các cấp; phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật

trong việc thực hiện chính sách, pháp luật BHYT; quản lý quỹ BHYT. Theo

đó, Công an tỉnh sẽ chỉ đạo lực lượng cảnh sát kinh tế hỗ trợ các đơn vị thuộc

hệ thống BHXH tỉnh trong việc thu hồi nợ đọng, chậm đóng BHYT của các

doanh nghiệp và phối hợp xử lý nghiêm những hành cố tình trốn đóng BHYT

của các doanh nghiệp, đơn vị. Phối hợp, tăng cường công tác quản lý quỹ

BHYT, bảo đảm cân đối thu - chi, chống lạm dụng và trục lợi BHYT để chính

sách BHYT được phát triển bền vững, đồng thời xử lý nghiêm minh trước

pháp luật những vi phạm và tội phạm trong việc thực hiện chính sách BHYT

của Đảng và Nhà nước.

Cần phân định rõ trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra

thực hiện chính sách BHYT của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; đặc biệt là

vai trò của UBND các tỉnh, thành phố trong việc chỉ đạo các Sở, ngành liên

86

quan tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách BHYT trên địa bàn

tỉnh. Thực hiện nghiêm các biện pháp xử phạt theo quy định, xử lý những cá

nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về BHYT theo Nghị định số 117/2020/NĐ-

CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực y tế.

Sớm sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra cho phép cơ quan tổ chức thực hiện

chính sách BHYT được quyền xử lý vi phạm về BHYT, nhằm khắc phục tình

trạng lực lượng thanh tra Sở Y tế còn thiếu, xử lý vi phạm pháp luật về BHYT

chưa nghiêm, chưa đảm bảo hiệu lực của pháp luật.

3.2.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn

thi hành

Thứ nhất, tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện Luật Bảo hiểm y tế

phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Thực hiện Nghị Quyết số 139/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ

ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-

NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng

cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới trong đó có yêu cầu sửa đổi bổ

sung Luật BHYT và Chương trình công tác trọng tâm năm 2020 của BHXH

Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 99/QĐ-BHXH ngày 17/01/2020,

trong đó có yêu cầu tổ chức tổng kết, đánh giá thực trạng và kết quả triển khai

thực hiện Luật BHYT giai đoạn 2015 - 2019 của ngành BHXH tại địa

phương, trên cơ sở đó đề xuất nội dung sửa đổi Luật BHYT. Căn cứ kết quả

đánh giá, phân tích những hạn chế tồn tại, cần lưu ý một số nội dung trình

Quốc hội xem xét điều chỉnh và kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban

hành và chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành

các văn bản quy phạm pháp luật (nghị quyết, nghị định, thông tư) để kịp thời

xử lý những vướng mắc và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chính

87

sách, pháp luật BHYT, phù hợp với tinh thần các Nghị quyết của Trung ương

Đảng về chính sách BHYT.

Về đối tượng, hình thức tham gia BHYT: Cần bao phủ hết các nhóm

đối tượng trong xã hội. Cụ thể là thiếu nhóm tham gia BHYT do người sử

dụng lao động đóng (cho thân nhân người lao động), nhóm chức sắc, chức

việc, nhà tu hành, người sống trong cơ sở BTXH, người không có đầy đủ giấy

tờ về nhân thân..; Điều chỉnh nhóm đối tượng tham gia theo hộ gia đình theo

hướng là người có tên trong danh sách thành viên hộ gia đình; tất cả các thành

viên trong hộ gia đình phải cùng tham gia để hưởng giảm trừ mức đóng; Điều

chỉnh quy định mức đóng được giảm trừ do trong thực tế không hợp lý (mức

đóng của đối tượng này chỉ bằng mức đóng của người thuộc hộ nghèo, nhưng

giảm trừ từ người thứ 4 trở đi chỉ còn bằng 50% mức đóng); Điều chỉnh

nhóm đối tượng là người trên 80 tuổi hưởng chế độ tuất và điều chỉnh thay

đổi về trách nhiệm đóng BHYT do sự thay đổi của Luật BHXH và điều chỉnh

mức hưởng theo đối tượng trên 80 tuổi; Điều chỉnh, sắp xếp nhóm đối tượng

để phù hợp với trách nhiệm đóng BHYT.

Về phạm vi quyền lợi BHYT: Cần xây dựng lộ trình và điều chỉnh theo

hướng tăng quyền lợi được hưởng BHYT khi điều chỉnh mức đóng, đảm bảo

nguồn cân đối quỹ BHYT để thanh toán chi phí KCB đối với dịch vụ khám

sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc, điều trị dự phòng, quản lý sức khỏe và y tế

dự phòng và một số dịch vụ thuộc về KCB nhưng hiện nay, theo quy định của

Luật BHYT, quỹ BHYT chưa được chi trả như điều trị tật khúc xạ, kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản, vật tư hỗ trợ trong phục hồi chức năng.

Cần nghiên cứu, triển khai thí điểm mô hình BHYT đa tầng, quy định

riêng đối với một số đối tượng có điều kiện và nhu cầu để quy định mức đóng

và mức hưởng theo mức đóng. Từ đó, đánh giá phân tích tổng kết để có sự đa

dạng trong việc thực hiện Luật BHYT.

88

Về quản lý, sử dụng quỹ BHYT: Cần có quy định cụ thể trong việc phân

bổ quỹ KCB BHYT, đặc biệt tỷ lệ tối đa trích quỹ KCB BHYT dự phòng.

Hiện nay, quỹ KCB BHYT là 90% số thu BHYT dành cho KCB, 10% dành

cho dự phòng và chi phí quản lý. Việc chỉ quy định tỷ lệ % số thu BHYT

dành cho quỹ dự phòng (cùng với số tiền kết dư quỹ hàng năm) mà không xác

định số tiền tối đa của quỹ dự phòng BHYT phù hợp để dành cho chi phí

KCB sẽ có nguy cơ kết dư được tích lũy lớn và không đúng chức năng là

nguồn Quỹ Tài chính ngắn hạn của Nhà nước; Bổ sung các quy định về thời

gian, thời điểm trong việc tạm ứng, thanh quyết toán chi phí KCB giữa cơ

quan BHXH với cơ sở KCB một cách hợp lý, cụ thể tránh ảnh hưởng đến hoạt

động của cơ sở KCB và quyền lợi của người bệnh; Công tác thẩm định quyết

toán năm tài chính đối với quỹ BHYT cần quy định mốc cụ thể và sớm để

tránh ảnh hưởng đến hoạt động của cơ sở KCB; Sớm điều chỉnh những vấn đề

thiếu thống nhất trong nội dung văn bản luật về quỹ BHYT, cụ thể: Quỹ

BHYT được quản lý tập trung, thống nhất (01 quỹ do BHXHVN quản lý),

nhưng cũng lại có quy định về xử lý trường hợp có bội chi quỹ tại các tỉnh,

thành phố.

Cần đánh giá xem xét lại quy định về “thông tuyến” KCB. Trước hết,

đây là điều kiện KCB BHYT vô cùng thuận lợi cho người bệnh được quyền

chọn lựa đơn vị KCB BHYT để thụ hưởng. Tuy nhiên, chưa có đánh giá kết

quả để triển khai các giải pháp khắc phục bất cập tồn tại, nhằm kiểm soát có

hiệu quả. Việc thực hiện “thông tuyến” huyện từ năm 2016, sẽ thực hiện

“thông tuyến” tỉnh từ năm 2021 sẽ luôn có tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất lợi về

sử dụng hợp lý, hiệu quả quỹ BHYT, gây bội chi quỹ KCB BHYT, gây quá

tải bệnh viện tuyến trên, đồng thời tác động rất xấu đến tuyến y tế cơ sở; Bên

cạnh đó luôn có nguy cơ lạm dụng sử dụng dịch vụ y tế. Quy định việc người

89

có thẻ BHYT tự đi KCB trái tuyến (nghĩa là không đúng quy định) nhưng

được hưởng quyền lợi như đi đúng tuyến là chưa chặt chẽ về pháp luật.

Tăng cường thẩm quyền và trách nhiệm cho cơ quan BHXH về công tác

thanh tra, vì đây là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chính

sách BHYT. Sửa đổi Điều 46 Luật BHYT, trong đó giao thẩm quyền thanh tra

chuyên ngành cho cơ quan BHXH để phù hợp với tình hình thực tế. xem xét

giao chức năng thanh tra chi, thanh tra việc sử dụng quỹ KCB BHYT tại các

cơ sở KCB có ký Hợp đồng KCB BHYT.

Thứ hai, tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện một số văn bản hướng

dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Chính phủ cần ban hành Nghị định pháp lý về lĩnh vực giám định KCB

BHYT và hợp đồng KCB BHYT. Trong đó, cần quy định rõ trách nhiệm, vai

trò của cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế) và cơ quan BHXH trong công tác

giám định. Do công tác giám định và kết qủa giám định ảnh hưởng đến tất cả

các bên liên quan đến BHYT (người bệnh, cơ sở y tế, quỹ BHYT); Cần cụ

thể, rõ ràng, rõ quyền và trách nhiệm của cán bộ giám định BHYT, điều kiện

hành nghề của cán bộ giám định BHYT, việc chấp hành kết quả giám định

BHYT đối với các cơ sở KCB BHYT; Đối với hợp đồng KCB BHYT cần thể

hiện mối quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và cơ quan BHXH thay mặt

bệnh nhân, người đã thụ hưởng dịch vụ y tế được cung cấp từ cơ sở KCB

BHYT để chi trả lại cho đơn vị. Cần xác định rõ về tính chất hợp đồng (là hợp

đồng kinh tế hay hợp đồng dân sự); Trách nhiệm các bên tham gia ký hợp

đồng, cơ chế xử lý khi có tranh chấp và cơ quan có thẩm quyền giải quyết

tranh chấp nhằm tránh xung đột, mâu thuẩn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của

bệnh nhân trong chế độ BHYT.

Xem xét sửa đổi mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, trong đó, tăng mức

hỗ trợ cho đối tượng học sinh, sinh viên từ 30% lên 50%. Bởi đây là đối

90

tượng ít bệnh tật nhất, mức chi phí KCB cũng không cao như đối tượng khác.

Đối tượng hộ cận nghèo cũng nâng mức hỗ trợ từ 70% lên 100% vì thực tế có

những hộ không có sổ hộ nghèo nhưng thực sự rất khó khăn, không có điều

kiện để mua thẻ BHYT.

Cần bổ sung quy định chế tài xử lý vi phạm trong Luật BHYT. Đặc biệt,

cần được bổ sung các quy định làm rõ hành vi vi phạm và chế tài áp dụng thật

nghiêm khắc. Ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho quỹ BHYT,

quyền và lợi ích chính đáng của người thụ hưởng BHYT, cần quy định thêm

các hình thức phạt nghiêm khắc khác như: tước giấy phép hành nghề đối với

các cơ sở KCB, các bác sỹ, dược sỹ vi phạm pháp luật và quy tắc đạo đức

nghề nghiệp; tạm đình chỉ hoặc thậm chí chấm dứt hoạt động đối với doanh

nghiệp cố tình trốn đóng BHYT cho người lao động.

Bộ Y tế ban hành phác đồ điều trị chuẩn đầy đủ làm cơ sở để các cơ sở

KCB thực hiện, đồng thời cũng làm căn cứ để cơ quan BHXH giám định,

đánh giá tính hợp lý của chỉ định điều trị bệnh tại các cơ sở KCB. Quy trình

chuyên môn, phác đồ điều trị là chuẩn mực không thể thiếu trong việc KCB,

đồng thời là cơ sở để xác định chi phí KCB BHYT thực tế cho người bệnh

BHYT.. Do một số quy trình chuyên môn còn thiếu, nên trong thực tế đang

xảy ra tình trạng cùng một loại bệnh nhưng các bệnh viện khác nhau có phác

đồ điều trị khác nhau do có tình trạng chỉ định quá mức cần thiết các dịch vụ

kỹ thuật, các loại thuốc đắt tiền kéo theo chi phí cho cùng một loại bệnh cũng

khác nhau, gây mất công, không đảm bảo tính khoa học, hiệu quả trong công

tác KCB, gây lãng phí quỹ BHYT. Hoàn thiện việc xây dựng giá viện phí

theo đúng quy định của pháp luật và có lộ trình tính đúng, tính đủ vừa giảm

bớt nguồn ngân sách hỗ trợ, thực hiện tốt cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiêm,

đồng thời đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động cho các đơn vị KCB, có nguồn

lực chi trả lương và các chế độ cho y bác sĩ, đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo

91

nhân lực để nâng cao chất lượng KCB nhằm ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu

cầu của người bệnh.

Bộ Y tế và BHXH Việt Nam cần xây dựng quy chế phối hợp chặc chẽ,

vì một bên là đơn vị quản lý nhà nước, một bên tổ chức thực hiện phải cùng

phối hợp quản lý điều hành vời mục tiêu trung tâm là hướng tới người dân để

phục vụ. Hai đơn vị cần có sự thống nhất quy định về phương thức thanh toán

chi phí KCB BHYT. Để việc quản lý quỹ BHYT hiệu quả, cần giao cho

BHXH tỉnh phối hợp với Sở Y tế lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp

với điều kiện của địa phương. Thay phương thức thanh toán theo phí dịch vụ

hiện nay bằng phương thức thanh toán theo trường hợp bệnh đối với trường

hợp nội trú. Thanh toán theo định suất đối với cơ sở KCB ngoại trú và chăm

sóc sức khỏe ban đầu.. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm của các bên liên

quan trong việc phân bổ sử dụng quỹ kết dư đơn vị được sử dụng, giao quyền

điều tiết kết dư quỹ ở địa phương cho cơ quan BHXH nhằm cân đối quỹ trên

địa bàn tỉnh.

Bộ Y tế sớm nghiên cứu và ban hành quy định thanh toán chi phí KCB

BHYT từ xa, cập nhật dữ liệu KCB BHYT thường xuyên lên hệ thống dữ liệu

KCB BHYT, thực hiện bệnh án điện tử, thực hiện truyền dữ liệu kết quả cận

lâm sàng giữa các tuyến, giữa các bệnh viện trong KCB BHYT. Vì trong thời

đại công nghệ 4.0, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực

trong đó có KCB BHYT sẽ giúp cho người bệnh đỡ tốn kém kinh phí đi lại,

ăn ở. Mọi thông tin liên quan đến quyền lợi theo quy định đã được cung cấp

từ phía cơ sở KCB BHYT, phần người bệnh phải trả và đã trả, phần được

hưởng về chế độ KCB BHYT người bệnh phải được biết, như vậy mới thực

hiện công khai minh bạch. Việc triển khai KCB BHYT từ xa, người bệnh sẽ

được tiếp cận các công nghệ tiên tiến hiện đại, trình độ chuyên môn tay nghề

cao tại các trung tâm y tế chuyên sâu, đặc biệt nhu cầu này rất rõ trong đợt

92

nước ta trong thời gian bị đại dịch Covid 19, hay bị các đợt thiên tai, bảo lụt

lớn, người dân không đi lại được.

BHXH Việt Nam cần xem xét điều chỉnh bổ sung Quy trình thực hiện

giám định BHYT phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin, đáp ứng

yêu cầu quản lý quỹ BHYT minh bạch và công khai, giảm thời gian chờ đợi

của bệnh nhân cũng như khắc phục tình trạng bệnh nhân lợi dụng việc thông

tuyến để sử dụng thẻ BHYT khám bệnh nhiều nơi trong cùng một thời điểm

nên các cơ sở KCB BHYT phải phối hợp tốt với cơ quan BHXH để triển khai

thực hiện giám định BHYT điện tử. Xây dựng chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu

dùng chung để phục vụ công tác giám định BHYT. Việc triển khai giám định

BHYT điện tử sẽ giúp công tác quản lý.

Tiểu kết Chương 3

Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác tổ chức thực hiện Luật BHYT

trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, tại chương 3, nghiên cứu này đã xác định

được quan điểm, mục tiêu và phương hướng tổ chức thực hiện Luật BHYT

đến năm 2025 tập trung bốn nhóm giải pháp như: Tăng cường công tác quán

triệt, tuyên truyền, phổ biến Luật BHYT; Nâng cao chất lượng dịch vụ và

công tác tổ chức thực hiện các chế độ chính sách theo quy định của Luật

BHYT, đáp ứng sự hài lòng của mọi đối tượng; Tăng cường quản lý nhà nước

về BHYT thật sự có hiệu lực và hiệu quả; Hoàn thiện Luật BHYT và các văn

bản hướng dẫn thi hành.

93

KẾT LUẬN

Chính sách BHYT là một trong những chính sách xã hội quan trọng

thuộc hệ thống an sinh xã hội, có vai trò quyết định đến công tác chăm sóc

sức khoẻ, khám chữa bệnh cũng như đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận các

dịch vụ y tế đối với hầu hết các thành viên trong xã hội.

Sau hơn 12 năm triển khai thực hiện Luật BHYT, trong đó có 5 năm

thực hiện Luật sửa đối bổ sung một số điều của Luật BHYT, tại tỉnh Thừa

Thiên Huế đã đạt được những thành quả đáng kể. Số lượng người tham gia

BHYT ngày càng tăng; chế độ khám, chữa bệnh BHYT được chú trọng, mở

rộng và nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Việc quy định cụ thể, minh

bạch về hồ sơ, thủ tục tham gia và thụ hưởng chế độ bảo hiểm y tế là cơ sở

quan trọng để chính sách BHYT được thực hiện thống nhất trong cả nước,

tránh sự phiền hà, sách nhiễu đối với người tham gia BHYT, góp phần quan

trọng vào chính sách BHYT toàn dân và chương trình cải cách hành chính

nhà nước một cách có hiệu quả.

Việc giải quyết chế độ BHYT cho người tham gia BHYT được đảm bảo

kịp thời, đúng quy định, kết hợp quản lý chặt chẽ các đối tượng tham gia

khám, chữa bệnh BHYT; giám định chi trả BHYT ngày càng được cải tiến,

hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người tham gia BHYT khi thụ

hưởng các chế độ BHYT trong khám, chữa bệnh, tạo sự yên tâm, tin tưởng

của người dân vào chính sách BHYT, khẳng định sự đúng đắn trong chính

sách BHYT toàn dân của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách BHYT trong thực tiễn tại tỉnh

Thừa Thiên Huế thời gian qua vẫn còn những vấn đề khó khăn cả về chính

sách và tổ chức thực hiện, cần được tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh nhằm

94

đảm bảo thành công việc thực hiện chính sách BHYT trong thời gian tới.

Từ những kết quả đạt được và đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện Luật

BHYT, nghiên cứu này xác định được phương hướng, mục tiêu tổ chức thực

hiện Luật BHYT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và đưa ra các giải pháp

bảo đảm tổ chức thực hiện Luật BHYT, cụ thể là giải pháp tiếp tục hoàn thiện

pháp luật về BHYT, hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ trong tổ chức thực hiện

Luật BHYT, tăng cường phổ biến, giáo dục về Luật BHYT, tăng cường giám

sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật BHYT, cải cách hành chính và

nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia BHYT, tất cả vì mục tiêu đảm

bảo an sinh xã hội theo đúng quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp

luật của Nhà nước./.

95

1. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2017),“Báo cáo Tổng kết công tác năm

2016, phương hưởng năm 2017”. Số:44/BC-BHXH ngày 09/01/2017.

2. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2018),“Báo cáo Tổng kết công tác năm

2017, phương hưởng năm 2018”. Số:98/BC-BHXH ngày 30/01/2018.

3. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2019),“Báo cáo Tổng kết công tác năm

2018, phương hưởng năm 2019”. Số:08/BC-BHXH ngày 05/01/2019

4. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Tổng kết công tác năm

2019, phương hưởng năm 2020”. Số:10/BC-BHXH ngày 04/01/2020

5. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Sơ kết 9 tháng đầu năm

2020, phương hưởng 3 tháng cuối năm”. Số:1109/BC-BHXH ngày 26/10/2020

6. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo tình hình thực hiện Luật

Bảo hiểm y tế giai đoạn 2015-2019”. Số:1129/BC-BHXH ngày 30/10/2020

7. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Tổng kết tình hình thực

hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với công tác BHXH BHYT giai đoạn 2012-2020”. Số:891/BC-BHXH

ngày 20/8/2020.

8. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2019),“Báo cáo Tổng kết 10 năm thực

hiện Chỉ thị 38-CT/TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác

Bảo hiểm y tế trong tình hình mới”. Số:577/BC-BHXH ngày 11/6/2019.

9. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế (2020),“Báo cáo Tổng kết Chương trình

tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, định hướng giai

đoạn 2021-2030”. Số:479/BC-BHXH ngày 18/5/2020.

10. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2019), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2018, triển

khai nhiệm vụ năm 2019”. Số: 146/BC-BHXH ngày 14/01/2019.

11. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2020), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2019, triển

khai nhiệm vụ năm 2020”. Số: 584/BC-BHXH ngày 27/02/2020.

12. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2020), “Báo cáo dánh giá kết quả 25 năm thực hiện

chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; các giải pháp triển khai Nghị quyết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

96

số 28-NQ/TW và nhiệm vụ công tác năm 2020”

13. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2019), “Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương”, thay thế Quyết định số

1414/QĐ-BHXH ngày 04/10/2016. Số 969/QĐ-BHXH, ngày 29/7/2019

14. Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa X

(2009), “Chỉ thị Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới”. Số:

38-CT/TW, ngày 07/9/2009.

15. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XI (2012), “Nghị

quyết của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác

BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020”. Số: 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012.

16. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XII (2017), “Nghị

quyết về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân

dân trong tình hình mới”. Số: 20-NQ/TW, ngày 25/10/2017.

17. Võ Khánh Bình và các cộng sự Hoàng Trọng Chính, Nguyễn Thị Khánh Chi,

Trương Công Khả, Bùi Thị Thu Lý (2017). Công trình nghiên cứu về các giải

pháp phát triển đối tượng tham gia BHYT theo Hộ Gia đình trên địa bàn Thừa

Thiên Huế. Công trình nghiên cứu khoa học cấp ngành theo Quyết định

1499/QĐ-BHXH của BHXH Việt Nam, ngày 12/9/2017

18. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2017), Nghị quyết ban

hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-

NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ Sáu của Ban Chấp hành Trung

ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm

sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Số: 139/NQ-CP, ngày

31/12/2017.

19. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định quy

định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT, Số:

105/2014/NĐ-CP, ngày 15/11/2014

97

20. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2018), Nghị định quy

định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT,

thay thế Nghị định 105/2014/NĐ-CP, Số: 146/2018/NĐ-CP, ngày 17/10/2018

21. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định quy

định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, Số: 176/2013/NĐ-CP,

ngày 14/11/2013

22. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2020), Nghị định quy

định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, thay thế Nghị định

176/2013/NĐ-CP; Số: 117/2020/NĐ-CP, ngày 28/9/2020

23. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2016), Nghị định quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam,

Số: 01/2016/NĐ-CP, ngày 05/01/2016

24. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2020), Nghị định quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam,

thay thế Nghị định 01/2016/NĐ-CP, Số: 89/2020/NĐ-CP, ngày 04/8/2020

25. Trần Ngọc Đường (2014), “Về nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến

pháp 2013”. Tạp chí Tổ Chức Nhà nước, ngày 05/8/2014, truy cập ngày

05/3/2019,

http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010067/0/6220/Ve_nguyen_tac_to_c

huc_bo_may_nha_nuoc_trong_Hien_phap_2013.

26. Đào Thu Hiền (2013), “Vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội”. Tạp

chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường. Số 43 (12/2013), trang 150-154.

27. Hoàng Minh Hội (2014), “Thực trạng pháp luật về giám sát của nhân dân đối với

cơ quan hành chính Nhà nước ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị”. Tạp chí

Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 30, số 02, trang 42-50.

28. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (2012),

“Chủ đề: Luật phổ biến, giáo dục pháp luật”. Đặc san tuyên truyền pháp luật,

số: 08/2012.

29. Đặng Thị Việt Phương và Nguyễn Thanh Thủy (2015).” Vai trò của Nhà nước

98

trong việc đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam”. Trang 67 Tạp chí Xã hội học

2 (130)- Viện xã hội học 2015

30. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), “Hiến pháp nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, ngày 28/11/2013.

31. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật Tổ chức

Chính phủ”. Số: 76/2015/QH13, ngày 19/6/2015.

32. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật Tổ chức

Chính quyền địa phương”. Số: 77/2015/QH13, ngày 19/6/2015.

33. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), “Luật sửa đổi bổ

sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền

địa phương”. Số: 47/2019/QH14, ngày 22/11/2019.

34. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật ban hành

văn bản quy phạm pháp luật”, số 80/2015/QH13, ngày 22/6/2015.

35. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), “Luật Phổ biến,

giáo dục pháp luật”. Số: 14/2012/QH13, ngày 20/6/2012.

36. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Luật Hoạt động

giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân”. Số: 87/2015/QH13, ngày

20/11/2015.

37. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), “Luật Thanh tra”.

Số: 56/2010/QH12, ngày 15/11/2010.

38. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), “Luật Bảo hiểm y

tế”. Số: 25/2008/QH12, ngày 14/11/2008

39. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), “Luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế”. Số: 46/2014/QH13, ngày 13/6/2014

40. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Bộ luật Hình

sự”. Số: 100/2015/QH13, ngày 27/11/2015

41. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), “Luật sửa đổi bổ

sung một số điều của Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13," Số: 12/2017/QH14

ngày 20/6/2017

99

42. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2019), “Nghị quyết hướng dẫn

áp dụng Điều 214 về tội gian lận BHXH, BHTN, Điều 215 về tội gian lận

BHYT và Điều 216 về tối trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động

của Bộ luật Hình sự" Số: 05/2019/QH14 ngày 15/8/2019

43. Hoàng Mạnh Trường (2016). về “Thực hiện pháp luật về BHYT Việt Nam hiện

nay”. Luận văn thạc sĩ 2016

44. Đặng Minh Tuấn (2005), “Một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc pháp

luật”, trang 5-16. Trong: Nguyễn Minh Đoan và cộng sự (2005), Các nguyên

tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc

tế. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội.

45. Thủ tướng Chính phủ (2015), “Tăng cường thực hiện chính sách BHXH,

BHYT”. Chị thị số 05/CT-TTg, ngày 02/4/2015.

46. Thủ tướng Chính phủ (2013), “Phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT

toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020”. Quyết định số 538/QĐ-TTg, ngày

29/3/2013.

47. Thủ tướng Chính phủ (2015), “Giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai đoạn 2015 –

2020”. Quyết định 1584/QĐ-TTg, ngày 14/9/2015.

48. Thủ tướng Chính phủ (2016), Điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai

đoạn 2016-2020. Quyết định số 1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016.

49. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2013), “Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết số 21-

NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị”. Số: 43-KH/TU, ngày 26/3/2013.

50. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2017), “Báo cáo kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết

số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020”. Số: 211-

BC/TU ngày 19/10/2017.

51. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2018), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong

thực hiện các chính sách BHXH, BHYT trong tình hình mới”. Số: 15-CT/TU,

ngày 05/4/2018.

52. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2019), “Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 38-CT/TW

100

ngày 07/09/2009 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác Bảo hiểm y tế trong

tình hình mới”. Số: 426-BC/TU ngày 07/6/2019.

53. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2013), “Chỉ đạo các sở, ban, ngành cấp

tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu,

nhiệm vụ và giải pháp của Kế hoạch 43-KH/TU của Tỉnh ủy thực hiện Nghị

quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối

với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2021 - 2020. Số 3116/UBND-YT, ngày

29/6/2013.

54. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), “Tổng quan về tỉnh Thừa Thiên

Huế”, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị, truy cập ngày 05/9/2020.

Thien-Hue>.

55. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2014), Ban hành Quy chế phối hợp thực

hiện chính sách pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tỉnh Thừa

Thiên Huế. Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày 26/3/2014.

56. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), Kế hoạch triển khai thi hành

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Kế hoạch 17/KH-

UBND ngày 03/01/2015.

57. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), Quyết định thành lập Ban

Thường trực và Tổ giúp việc giúp Ban Thường trực tổ chức triển khai thi hành

và giải quyết các vướng mắc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

BHYT. Quyết định 364/QĐ-UBND, ngày 13/02/2015.

58. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), Kế hoạch về thực hiện lộ trình

tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2015 - 2020. Kế hoạch 136/KH-UBND ngày

11/12/2015

59. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2016), Kế hoạch triển khai thực hiện lộ

trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Thừa

Thiên Huế. Kế hoạch 162/KH-UBND ngày 10/11/2016.

60. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2017), Chỉ thị về việc tuyên truyền, mở

101

rộng độ bao phủ BHYT và công tác quản lý quỹ KCB BHYT. Chỉ thị 21/CT-

UBND, ngày 02/10/2017

61. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Chỉ thị về việc tăng cường quản

lý và thực hiện các giải pháp thu, chi BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh. Chỉ thị

04/CT-UBND, ngày 31/01/2020 .