BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LÊ MINH HIỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NHÀ CUNG ỨNG CỦA TỔNG CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HÓA PHẨM DẦU KHÍ - CTCP (DMC).
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. CAO TÔ LINH
Hà Nội - Năm 2012
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ..........................................................................................6
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................................7
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ MỐI QUAN HỆ VỚI NHÀ CUNG ỨNG
(SUPPLIER RELATIONSHIP MANAGEMENT - SRM) .........................................................10
1.1. Tổng quan về Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM):...............10
1.1.1. Nguồn gốc và các giai đoạn phát triển của SCM:.......................................................10
1.1.2. Định nghĩa SCM:...........................................................................................................11
1.1.3. Cấu trúc và các thành phần cơ bản của SCM: ...........................................................12
1.1.4. Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh:........................................................15
1.2. Tổng quan về Quản lý mối quan hệ nhà cung ứng: ..........................................................18
1.2.1. Định nghĩa SRM:...........................................................................................................18
1.2.2. Bản chất mối quan hệ giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp: ..............................19
1.2.3. Các chức năng cơ bản của Quản lý mối quan hệ với các nhà cung ứng: .................20
1.2.3.1.Theo dõi và ghi nhận thông tin về quá trình mua hàng: .....................................20
1.2.3.2. Thông tin hỗ trợ hoạt động mua hàng: ................................................................21
1.2.3.3. Quản lý thông tin quan hệ nhà cung cấp: ............................................................21
1.2.3.4. Lập kế hoạch mua hàng: .......................................................................................22
1.2.3.5. Hệ thống báo cáo phân tích tình hình mua hàng: ...............................................22
1.2.4. Lợi ích mà SRM mang lại cho doanh nghiệp: ............................................................22
1.2.5. Cách thức, quy trình lựa chọn SRM phù hợp: ...........................................................24
1.2.6. Cách thức lựa chọn nhà cung ứng phù hợp:...............................................................29
1.2.7. Hợp tác trên chuỗi: .......................................................................................................35
1.2.7.1. Định nghĩa: .............................................................................................................35
1.2.7.2. Lợi ích của Hợp tác trên chuỗi: ............................................................................35
1.2.7.3. Nội dung của Hợp tác trên chuỗi:.........................................................................36
1.2.7.4. Các thức xây dựng hợp tác thành công: ..............................................................37
1.2.7.5. Những đặc điểm trong hợp tác chuỗi tương lai:..................................................43
1.3. Các hình thức quan hệ với nhà cung ứng: .........................................................................44
1.3.1. Đấu thầu:........................................................................................................................44
1.3.1.1. Định nghĩa: .............................................................................................................44
1.3.1.2. Các hình thức lựa chọn nhà thầu: ........................................................................44
1.3.1.3. Các phương thức đấu thầu: ..................................................................................45
1.3.2. CPFR: Coloborative Planning, Forecasting, Replenishment:...................................47
1.3.2.1. Định nghĩa CPFR:..................................................................................................47
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.3.2.2. Ví dụ về một mô hình ứng dụng CPFR của Motorola:.......................................48
1.3.2.3. Nhà cung cấp quản lý hàng tồn kho (Vendor Management Inventory - VMI) 59
Chương 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SRM TẠI TỔNG CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN
VÀ HÓA PHẨM DẦU KHÍ - CTCP .............................................................................................63
2.1. Giới thiệu Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP (DMC) .....63
2.1.1.Quá trình thành lập và lĩnh vực kinh doanh: ..............................................................63
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động: .......................................................................................63
2.2. Phân tích tình hình quản lý mối quan hệ nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC: .........65
2.2.1. Giới thiệu chung về tình hình cung ứng sản phẩm nguyên vật liệu đầu vào tại Tổng Công ty DMC:..........................................................................................................................66
2.2.2. Quy trình cung ứng tại Tổng Công ty DMC:..............................................................67
2.2.2.1. Quy trình cung ứng sản phẩm qua hình thức chào hàng cạnh tranh, mua trực tiếp:.......................................................................................................................................68
2.2.2.2. Quy trình cung ứng sản phẩm qua hình thức đấu thầu/chỉ định thầu: ............69
2.2.2.3. Quy trình cung ứng sản phẩm dịch vụ kỹ thuật: ................................................70
2.2.3. Tình hình quản lý mối quan hệ Nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC:..................71
2.2.3.1. Các hình thức phân loại quản lý SRM tại Tổng Công ty DMC:........................72
2.2.3.2. Các phương thức quản lý SRM tại Tổng Công ty DMC:...................................76
2.2.3.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu Nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC: ........................80
2.2.3.4. Ví dụ: Mô hình một dây chuyền cung ứng sản phẩm của Tổng Công ty DMC: Dây chuyền cung ứng hạt nhựa Polypropylene (PP) .......................................................81
2.2.3.5. Kết luận chung về công tác quản lý mối quan hệ nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC: ...............................................................................................................................85
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SRM CỦA TỔNG CÔNG
TY DMC. .........................................................................................................................................87
3.1. Bối cảnh kinh doanh và định hướng về chiến lược phát triển kinh doanh của Tổng Công ty DMC: .............................................................................................................................87
3.1.1. Bối cảnh kinh doanh: ....................................................................................................87
3.1.2. Chiến lược phát triển kinh doanh của Tổng Công ty DMC 2010 - 2025: ................87
3.2. Đề xuất các giải pháp cải tiến SRM:...................................................................................88
3.2.1. Giải pháp 1:....................................................................................................................88
3.2.1.1. Tại sao nên đưa công nghệ thông tin vào quản lý SRM? ...................................88
3.2.1.2. Mục tiêu: .................................................................................................................89
3.2.2.3. Lợi ích mà công nghệ thông tin mang lại:............................................................92
3.2.2.4.Kết quả mong đợi đạt được khi ứng dụng công nghệ thông tin: ........................93
3.2.2. Giải pháp 2:....................................................................................................................93
3.2.2.1. Cơ sở đưa ra giải pháp: .........................................................................................93
3.2.2.2. Nội dung thực hiện:................................................................................................93
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
3.2.2.3. Lợi ích của giải pháp: ............................................................................................93
3.2.2.4. Hiệu quả mong đợi:................................................................................................94
3.2.3. Giải pháp 3.....................................................................................................................94
KẾT LUẬN......................................................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................97
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí - CTCP: Tổng Công ty DMC
Quản lý chuỗi cung ứng: Supply Chain Management (SCM)
Quản lý chuỗi cung ứng tiên tiến: Advanced Supply Chain Management (ASCM)
Kế hoạch hóa nguồn lực của Doanh nghiệp: Enterprise Resource Planning (ERP)
Lập kế hoạch cải tiến hệ thống: Advanced Planning and Scheduling (APS)
Quản lý mối quan hệ nhà cung ứng: Supplier Relationship Management (SRM)
Tối ưu hóa chuỗi cung ứng: Supply chain Optimization (SCO)
Nhà máy Polypropylene: Nhà máy PP
Hạt nhựa Polypropylene: Hạt nhựa PP
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1: Sơ đồ khối liên kết các thanh phần chuỗi cung ứng cơ bản….……………13
Hình 2: Cấu trúc của SCM và các thành phần chi phí Tác động đến hoạt động quản
lý SCM……………………………………………………………………………..14
Hình 3: Sơ đồ dòng chuyển dịch vật chất trên kênh phân phối.…..……………….19
Hình 4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty DMC...………………………….61
Hình 5: Quy trình quản lý nguồn cung ứng dạng đơn giản………………….……..64
Hình 6: Sơ đồ cung ứng sản phẩm/dịch vụ qua hình thức đấu thầu, chỉ định thầu..65
Hình 7: Sơ đồ cung ứng sản phẩm/dịch vụ qua hình thức đấu thầu, chỉ định thầu..67
Hình 8: Sơ đồ cung ứng sản phẩm dịch vụ kỹ thuật……………...………………..68
Hình 9: Cấu trúc dây chuyền cung ứng hạt nhựa PP……..………………………..79
Bảng 1: Biểu mẫu đánh giá việc áp dụng SRM……………………………………24
Bảng 2: Mô hình các hành vi SRM…………...……………………………………26
Bảng 3: Mô hình thuộc tính mối quan hệ nhà cung ứng...…………………………28
Bảng 4: Ma trận mối quan hệ nhà cung ứng….……………………………………30
Bảng 5: Mô hình tổng chi phí chủ sở hữu…….……………………………………35
Bảng 6: Các chi phí tiềm ẩn trong quá trình mua sắm từ phía Nhà cung ứng..……37
Bảng 7: Trọng số tổng giá trị trong chuỗi cung ứng.………………………………38
Bảng 8: Các hình thức mua hàng……………..……………………………………70
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỞ ĐẦU
Một trong những thử thách mà tất cả các Doanh nghiệp đều phải đối mặt là
hiểu rõ được sức mạnh của các nguồn lực trong doanh nghiệp và mối tương quan
giữa chúng trong toàn bộ chuỗi cung ứng, đặc biệt là đối với các Tập đoàn/Công ty
toàn cầu. Từ năm 1997, nhiều Doanh nghiệp đã bắt đầu tìm hiểu các giải pháp cho
toàn bộ các hoạt động đầu vào của Doanh nghiệp từ việc đặt mua hàng của nhà
cung cấp cho đến các giải pháp tồn kho an toàn của Doanh nghiệp. Trong hoạt động
quản trị nguồn cung ứng, công cụ cung cấp cho Doanh nghiệp những giải pháp giúp
các nhà cung cấp và công ty sản xuất cùng làm việc trong môi trường cộng tác nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm/dịch vụ tới khách hàng
chính là công cụ Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management – SCM) gồm
kế hoạch hóa nguồn lực của Doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning - ERP) và
lập kế hoạch cải tiến hệ thống (Advanced Planning and Scheduling - APS). Quản lý
chuỗi cung ứng nghĩa là phân phối có hiệu quả các nguồn lực của Doanh nghiệp vào
các khâu của quá trình phân phối sản phẩm bắt đầu từ nhà cung cấp (cid:198) nhà sản xuất
(cid:198) nhà bán buôn/nhà bán lẻ (cid:198) khách hàng tiêu dùng cuối cùng, cắt giảm được tối
đa các chi phí phát sinh trong chuỗi cung ứng nhờ hiểu rõ cách thức vận hành của
chuỗi cung ứng, lập kế hoạch và xây dựng quy trình cung ứng, cải tiến nhằm tiết
kiệm nguồn lực của Doanh nghiệp. SCM tích hợp hệ thống cung ứng mở rộng và
phát triển một môi trường sản xuất kinh doanh thực sự, cho phép Doanh nghiệp
giao dịch trực tiếp với Khách hàng và Nhà cung ứng ở cả hai phương diện mua bán
và chia sẻ thông tin.
Qua hơn mười năm SCM ngày càng khẳng định vị thế của mình trong doanh
nghiệp bởi SCM đang được sử dụng nhiều hơn vào quá trình quản trị chuỗi cung
ứng sản xuất trong Doanh nghiệp. Nhờ có SCM, mà mỗi thành phần của chuỗi cung
ứng dù là nhà cung ứng, nhà sản xuất hay khách hàng đều nắm được bức tranh tổng
thể về số liệu tồn kho, nhu cầu của thị trường, kế hoạch sản xuất và kế hoạch đặt
hàng. SCM giúp nhà sản xuất tiết kiệm được chi phí tồn kho do biết được chính xác
thông tin nhu cầu khách hàng để lập kế hoạch sản xuất phù hợp, nhà phân phối tổ
chức việc giao hàng đúng thời gian và địa điểm nhờ nhận được thông tin yêu cầu rất
nhanh từ các khách hàng nên giảm bớt được các chi phí có thể phát sinh do chậm
giao hàng do thông tin đến không kịp thời hoặc không chính xác vì qua nhiều kênh
7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
thông tin trung gian. SCM cung cấp giải pháp tốt nhất cho các nhà cung ứng, nhà
sản xuất và khách hàng để có thể sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực của mình vào
hoạt động chung của một chuỗi cung ứng.
Cấp độ cao hơn của hệ thống Quản lý chuỗi cung ứng là cấp độ hệ thống
Quản lý chuỗi cung ứng tiên tiến – Advanced Supply Chain Management (ASCM).
Ở cấp độ Quản lý chuỗi cung ứng tiên tiến, Doanh nghiệp phải bắt đầu xây dựng từ
phía cung ứng, nghĩa là bắt đầu từ việc tìm, lựa chọn các nhà cung ứng chuyên
nghiệp tìm ra các lợi thế của họ, loại bỏ bớt các nhà cung cấp ít tiềm năng hơn,
phân chia các nhà cung cấp về tầm quan trọng, và bắt đầu làm việc với một vài
trong số những nhà cung cấp để xây dựng các mô hình chuỗi cung ứng tiên tiến, mà
sẽ có lợi cho cả hai phía tham gia chuỗi cung ứng. Với sự hỗ trợ của một vài nhà
cung cấp chiến lược, Doanh nghiệp sắp xếp các công ty này tham gia vào các khâu
của ASCM nhằm chuyển sự hỗ trợ từ phía cung ứng vào một định dạng chủ động
thông qua một hệ thống Quản lý mối quan hệ nhà cung cấp – Supplier Relationship
Management (SRM). SRM là một công cụ quản trị có vai trò quyết định đến sự
thành công của ASCM.
Sau thời gian công tác tại Tổng Công ty Dung dịch khoan và phẩm Dầu khí –
CTCP (DMC), Tôi nhận thấy đặc điểm nổi bật là Tổng Công ty DMC đang từng
bước chiếm lĩnh được thị trường cung cấp hóa chất cơ bản và hóa chất khai thác cho
ngành Dầu khí nhờ sử dụng tốt công cụ SCM. Yếu tố tiên quyết để áp dụng SCM
thành công đó là Tổng Công ty DMC đã sử dụng tốt công cụ SRM trong tổ chức
phối hợp giữa Doanh nghiệp và Nhà cung cấp, có sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp
quản lý và có sự chia sẻ thông tin giữa các cấp thực hiện để nâng cao hiệu quả quản
lý chuỗi cung ứng. Tuy nhiên do hạn chế về thời gian nghiên cứu, thu thập thông tin
chưa thật đầy đủ, và dữ liệu khó định lượng hóa, trong khả năng cho phép Tôi chỉ đi
sâu nghiên cứu SRM là công cụ hỗ sợ hiệu quả cho sự thanh công của SCM trên
phương diện quản trị mối quan hệ giữa Tổng Công ty DMC với các nhà cung cấp
của mình. Vì vậy, Tôi chọn tên đề tài là: “Nâng cao chất lượng quản lý mối quan hệ
với các nhà cung ứng của Tổng công ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm Dầu khí –
CTCP’’.
Tôi mong tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp của thầy và các bạn để Tôi
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
có thể tiếp tục hoàn thiện đề tài nghiên cứu này và ứng dụng được trong thực tế sản
xuất kinh doanh.
Xin trân trọng cảm ơn!
9
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ MỐI QUAN HỆ VỚI NHÀ CUNG
ỨNG (SUPPLIER RELATIONSHIP MANAGEMENT - SRM)
Để đơn giản hóa có thể hình dung chuỗi cung ứng là một nồi lẩu chứa tất cả
mọi thứ trong đó, các chủ thể trong chuỗi cung ứng là Doanh nghiệp, Nhà cung cấp
và Khách hàng phải tìm ra một quy trình về một định dạng phù hợp để quản lý
chuỗi cung ứng và sản xuất ra sản phẩm với tổng chi phí sản xuất và phân phối đến
khách hàng hợp lý nhất. Tôi không tham vọng nghiên cứu sâu vào các thao tác tác
nghiệp trong doanh nghiệp ví dụ như lập kế hoạch, xây dựng quy mô kho, kế hoạch
sản xuất, tồn kho,… mà những nội dung được trình bầy trong chương này chỉ nhằm
xem xét các vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng dưới góc độ quản trị, cụ thể xem
xét hiện nay doanh nghiệp đang quản lý các mối quan hệ trong doanh nghiệp như
thế nào? Cách thức để Doanh nghiệp quản lý hiệu quả SCM trên phương diện quản
trị ra sao?
1.1. Tổng quan về Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM):
1.1.1. Nguồn gốc và các giai đoạn phát triển của SCM:
SCM là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistic (hậu cần). Trong tiếng
Anh, một điều thú vị là từ Logistics này không hề có liên quan gì đến từ “Logistic”
trong toán học. Khi dịch sang tiếng Việt, có người dịch là hậu cần, có người dịch là
kho vận, dịch vụ cung ứng. Tuy nhiên, tất cả các cách dịch đó đều chưa thoả đáng,
không phản ánh đầy đủ và chính xác bản chất của Logistics. Vì vậy, tốt hơn cả là
chúng ta hãy giữ nguyên thuật ngữ Logistics và sau đó tìm hiểu tường tận ý nghĩa
của nó.
Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội,
được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Đến cuối thế kỷ 20, Logistics được ghi
nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công
ty cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ. Uỷ ban kinh tế và xã hội
châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the
Pacific – ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution)
Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảm
bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu quả nhất. Giai
đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:
-Vận tải,
-Phân phối,
-Bảo quản hàng hoá,
-Quản lý kho bãi,
-Bao bì, nhãn mác, đóng gói.
Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào cùng một
hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm.
Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng (SCM)
Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ
từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất – đến người tiêu dùng. Khái niệm
SCM chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa
nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công
ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin.
1.1.2. Định nghĩa SCM:
SCM là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa học nhằm cải
thiện cách thức các công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản
phẩm/dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm dịch vụ đó và phân phối tới các khách
hàng. Điều quan trọng đối với bất kỳ giải pháp SCM nào dù là sản xuất hàng hóa
hay dịch vụ, chính là việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài
nguyên và mối tương quan giữa chúng trong toàn bộ chuỗi cung ứng sản xuất.
Về cơ bản, SCM sẽ cung cấp giải pháp cho toàn bộ các hoạt động đầu vào
của doanh nghiệp, từ việc đặt mua hàng của nhà cung cấp, cho đến các giải pháp tồn
kho an toàn của công ty. Trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng, SCM cung cấp
những giải pháp mà theo đó, các nhà cung cấp và công ty sản xuất sẽ làm việc trong
môi trường cộng tác, giúp cho các bên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và
phân phối sản phẩm/dịch vụ tới khách hàng. SCM tích hợp hệ thống cung ứng mở
rộng và phát triển một môi trường sản xuất kinh doanh thực sự, cho phép công ty
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
của bạn giao dịch trực tiếp với khách hàng và nhà cung cấp ở cả hai phương diện
mua bán và chia sẻ thông tin.
Ngoài ra, người ta có thể định nghĩa SCM theo nhiều cách như sau:
- SCM là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa học nhằm cải thiện
cách thức các công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản
phẩm/dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm/dịch vụ đó và phân phối tới các khách
hàng. Điều quan trọng đối với bất kỳ giải pháp SCM nào, dù sản xuất hàng hóa hay
dịch vụ, chính là việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài nguyên
và mối tương quan giữa chúng trong toàn bộ chuỗi cung ứng sản xuất.
- Supply Chain Management (SCM): gắn liền với việc quản lý và kiểm soát các
dòng chuyển dịch tài chính, nguyên vật liệu và thông tin trên kênh phân phối.
- Supply Chain Management (SCM) là sự liên kết giữa các quá trình quan trọng
xuyên suốt chuỗi cung ứng nhằm mục đích tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng và
những nhóm có quyền lợi (Global Supply Chain Forum, Lambert, 2008)
- Supply Chain Management (SCM) là sự liên kết mang tính chiến lược và hệ thống
của các chức năng kinh doanh truyền thống và các chiến thuật xuyên suốt những
chức năng đó trong nội tại một công ty cụ thể và xuyên suốt các tổ chức thành viên
của chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động lâu dài của các
thành viên trong chuỗi cũng như của cả chuỗi (Mentzer et al, 2001)
1.1.3. Cấu trúc và các thành phần cơ bản của SCM:
SCM là sự liên kết các cấu trúc lại với nhau thành một quá trình liên tục với
mục tiêu làm thế nào để cân bằng được cung và cầu thị trường hàng hóa và dịch vụ,
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho thị trường đúng thời gian và số lượng yêu cầu với
chi phí hợp lý nhất để tối thiểu hóa các chi phí, tối ưu hóa phương thức phân phối
hàng hóa và dịch vụ vào thị trường. Mỗi chuỗi cung ứng sản xuất bao gồm tối thiểu
ba yếu tố nhà cung cấp, bản thân đơn vị sản xuất và khách hàng:
- Nhà cung cấp: là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu đầu vào cần
thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Thông thường, nhà cung cấp được hiểu là
đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các chi tiết của sản phẩm,
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
bán thành phẩm. Các công ty cung cấp dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh được gọi là
nhà cung cấp dịch vụ.
- Đơn vị sản xuất: là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụng các quá
trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Các nghiệp vụ về quản lý sản xuất
được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo
nên sự thông suốt của chuỗi cung ứng.
- Khách hàng: là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.
Ngoài ra SCM có thể có thêm 2 thành phần sau đây:
- Nhà phân phối: là công ty có một hoặc một số các năng lực về tài chính, chuyên
môn nghiệp vụ, tổ chức phương tiện vận tải,… có tham gia vào chuỗi cung ứng để
hỗ trợ Nhà sản xuất hoặc Khách hàng để tạo ra sự thông suốt của chuỗi cung ứng.
- Nhà bán buôn/Nhà bán lẻ: với vai trò tương tự như nhà phân phối nhưng với quy
mô nhỏ hơn so với nhà phân phối.
Trong chuỗi cung ứng, đầu ra của cấu trúc này là đầu vào của một cấu trúc
khác tạo ra sự liên kết thành chuỗi cung ứng trong sơ đồ khối như sau:
Hình 1: Sơ đồ khối liên kết các thành phần chuỗi cung ứng cơ bản
NHÀ SẢN XUẤT
NHÀ PHÂN PHỐI
NHÀ BÁN BUÔN/ NHÀ BÁN LẺ
KHÁCH HÀNG
NHÀ CUNG ỨNG
Các thành phần chi phí phát sinh trong chuỗi cung ứng gồm:
Chi phí sản xuất/mua hàng
Chi phí dự trữ và lưu kho
Chi phí vận tải
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hình 2: Cấu trúc của SCM và các thành phần chi phí
Tác động đến hoạt động quản lý SCM
Nhà kho vùng: các điểmdự trữ
Nguồn: Nhà máy nhà cung cấp cảng
Cung cấp
Chi phí dự trữ và kho
Chi phí vận tải
Chi phí vận tải
Chi phí sản xuất/ mua hàng
Chi phí dự trữ và kho
Chuỗi cung ứng được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản. Các thành phần này là
các nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong chuỗi cung ứng:
a) Sản xuất (Làm gì, như thế nào, khi nào):
Sản xuất là khả năng của chuỗi cung ứng tạo ra và lưu trữ sản phẩm. Phân
xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thanh phần này. Trong
quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa
khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.
b)Vận chuyển (Khi nào, vận chuyển như thế nào):
Đây là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu, cũng như sản
phẩm giữa các nơi trong chuỗi cung ứng. Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng
nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận
chuyển. Thông thường có 6 phương thức vận chuyển có bản:
- Đường biển: giá thành rẻ, thời gian vận chuyển dài và bị giới hạn về địa điểm
giao nhận.
14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Đường sắt: giá thành rẻ, thời gian trung bình, bị giới hạn về địa điểm giao nhận.
- Đường bộ: nhanh, thuận tiện.
- Đường hàng không: nhanh, giá thành cao.
- Dạng điện tử: giá thành rẻ, nhanh, bị giới hạn về loại hàng hoá vận chuyển (chỉ
dành cho dữ liệu, âm thanh, hình ảnh…).
- Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hoá (khi hàng hóa là
chất lỏng, chất khí..).
c) Tồn kho (Chi phí sản xuất và lưu trữ):
Tồn kho là việc hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào. Chính yếu tố tồn
kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu tồn kho ít tức là
sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ hết bấy nhiêu, từ
đó chứng tỏ hiệu quả sản xuất của donh nghiệp ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối
đa.
d) Định vị (Nơi nào tốt nhất để làm cái gì):
Doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào là địa
điểm tiêu thụ tốt nhất? Đây chính là những yếu tố quyết định sự thành công của
chuỗi cung ứng. Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách
nhanh chóng và hiệu quả hơn.
e) Thông tin:
Thông tin chính là “nguồn dinh dưỡng” cho hệ thống SCM của Doanh nghiệp, là cơ
sở để Doanh nghiệp ra quyết định. Nếu thông tin chuẩn xác, hệ thống SCM sẽ đem
lại những kết quả chuẩn xác. Ngược lại, nếu thông tin không đúng, hệ thống SCM
sẽ không thể phát huy tác dụng. Doanh nghiệp cần khai thác thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau và cố gắng thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần thiết.
1.1.4. Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh:
Đối với các công ty SCM có vai trò rất to lớn, bởi SCM giải quyết cả đầu ra
lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn
nguyên liệu đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
hóa, dịch vụ mà SCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Có không ít công ty đã gặt hái thành công lớn nhờ biết soạn thảo
chiến lược và giải pháp SCM thích hợp, ngược lại, có nhiều công ty gặp khó khăn,
thất bại do đưa ra các quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp nguyên vật
liệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ không phù hợp, tổ chức vận
chuyển rắc rối, chồng chéo…
Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị
hỗn hợp (4P: Product, Price, Promotion, Place). Chính SCM đóng vai trò then chốt
trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp.
Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng với
tổng chi phí nhỏ nhất.
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống SCM
hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điều
kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khoá thành
công cho B2B. Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo,
chiếc chìa khoá này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên
hệ thống sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất
trong chuỗi cung ứng.
Trong một công ty sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của chuỗi cung ứng:
thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới những
thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ; thứ hai là bản thân chức năng
sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị, nhân lực, nguyên vật liệu chính
và quá trình sản xuất; thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và một
lần nữa hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ.
Trong chuỗi cung ứng ba nhân tố này, SCM sẽ điều phối khả năng sản xuất
có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản xuất - những công việc đòi hỏi tính
dữ liệu chính xác về hoạt động tại các nhà máy, nhằm làm cho kế hoạch sản xuất
đạt hiệu quả cao nhất. Khu vực nhà máy sản xuất trong công ty phải là một môi
trường năng động, trong đó sự vật được chuyển hoá liên tục, đồng thời thông tin cần
được cập nhật và phổ biến tới tất cả các cấp quản lý công ty để cùng đưa ra quyết
định nhanh chóng và chính xác.
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
SCM cung cấp khả năng trực quan hoá đối với các dữ liệu liên quan đến sản
xuất và khép kín chuỗi cung ứng, tạo điều kiện cho việc tối ưu hoá sản xuất đúng
lúc bằng các hệ thống sắp xếp và lên kế hoạch. Nó cũng mang lại hiệu quả tối đa
cho việc dự trù số lượng nguyên vật liệu, quản lý nguồn tài nguyên, lập kế hoạch
đầu tư và sắp xếp hoạt động sản xuất của công ty.
Một tác dụng khác của việc ứng dụng giải pháp SCM là phân tích dữ liệu thu
thập được và lưu trữ hồ sơ với chi phí thấp. Hoạt động này nhằm phục vụ cho
những mục đích liên quan đến hoạt động sản xuất (như dữ liệu về thông tin sản
phẩm, dữ liệu về nhu cầu thị trường…) để đáp ứng đòi hỏi của khách hàng. Có thể
nói, SCM là nền tảng của một chương trình cải tiến và quản lý chất lượng mà trước
đây người ta luôn cho rằng không thể cải tiến được những gì mà mình không thể
nhìn thấy.
Khi các Doanh nghiệp theo đuổi mục đích tối ưu hóa chuỗi cung ứng
(Supply chain optimization - SCO) thì họ cần làm tuần tự theo các bước sau:
- Bắt đầu với nội bộ doanh nghiệp phải nỗ lực nhằm cắt giảm các chi phí đặc biệt
thông qua việc tìm được nguồn hàng tốt hơn, cải thiện hoạt động logistic, kiểm kê,
và quản lý đơn đặt hàng, các doanh nghiệp tiến tới phải quản lý nhu cầu và lập kế
hoạch sản xuất, đặc biệt thông qua các thanh phần như lập kế hoạch bán hàng và
hoạt động (S&OP) và lập kế hoạch và chương trình tiên tiến (APS).
- Khi đã đạt được các mục tiêu trên cải thiện các quy trình quản lý trong nội bộ
doanh nghiệp đạt hiệu quả hơn và được ghi nhận thì một số doanh nghiệp xác định
cần đạt một mức độ cao hơn tập trung vào cải thiện các yếu tố bên ngoài doanh
nghiệp bằng các tìm sự giúp đỡ từ các liên danh quan trọng (key allies) và doanh
nghiệp bắt đầu vào việc Quản lý chuỗi cung ứng tiên tiến (ASCM). Mỗi nỗ lực
trước đó sẽ là tiền đề quan trọng để xây dựng nên một nền tảng cơ sở vật chất chất
lượng cao cho doanh nghiệp trên thị trường hoặc trong nền công nghiệp bằng nguồn
nội lực của doanh nghiệp trước khi bắt đầu sự hợp tác và ứng dụng công nghệ trong
mạng liên doanh liên kết các doanh nghiệp. Trước đó doanh nghiệp sử dụng các lợi
ích thu được từ việc cải thiện bản thân doanh nghiệp thì nay đã thay bằng việc tập
hợp các liên danh được chọn để thu được các lợi ích tương tự hoặc lớn hơn thông
qua nỗ lực liên kết thành một mạng cung ứng chung.
17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.2. Tổng quan về Quản lý mối quan hệ nhà cung ứng:
Trước đây các Doanh nghiệp hầu hết đều coi trọng việc quản lý mối quan hệ
giữa Doanh nghiệp với Khách hàng xem xét việc cải tiến và quản lý chất lượng quá
trình phân phối sản phẩm/dịch vụ đến Khách hàng nhưng quên mất tầm quan trọng
của việc cải tiến và quản lý chất lượng từ phía nhà cung ứng. Mỗi Doanh nghiệp khi
ứng dụng SCM đến một trình độ nhất định có thể tự cải tiến để phát triển lên một
cấp độ cao hơn là cấp độ ASCM. Ở cấp độ ASCM, Doanh nghiệp sẽ đưa ra giải
pháp cải tiến và quản lý chất lượng chuỗi cung ứng trên cơ sở cải tiến và quản lý
chất lượng mối quan hệ giữa nhà cung cấp với Doanh nghiệp thông qua một công
cụ gọi là Supplier Relationship Management (SRM).
1.2.1. Định nghĩa SRM:
Quản lý mối quan hệ nhà cung ứng - SRM được định nghĩa là “một tập hợp
các phương pháp luận và thực tiễn cần thiết để tương tác với các nhà cung cấp nhằm
đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ quan trọng tạo ra lợi nhuận của doanh
nghiệp.” [Gartner: 2001, p.2]. Ngoài ra, có thể định nghĩa thêm SRM là một phương
tiện xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với các nhà cung cấp chiến lược được lựa
chọn, mục đích là để khám phá các tính năng bổ sung mà có thể tăng cường mối
quan hệ trong khi cải thiện hiệu suất kinh doanh, ví dụ như các công ty cùng hoạt
động trong một môi trường mạng mà có cùng lợi ích và có khả năng cùng với nhau
làm tăng khả năng tạo ra doanh thu lợi nhuận mới.
Hoặc định nghĩa theo cách khác thì SRM là một hoặc một số quy tắc, hoặc
phương thức giúp các doanh nghiệp tiếp cận với các nhà cung ứng, đánh giá hành vi
của nhà cung ứng, sau đó thuyết phục các nhà cung ứng có năng lực phù hợp tham
gia vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp tạo ra. Doanh nghiệp xây dựng được bộ
quy tắc được quy chuẩn thì sẽ quản lý được các nhà cung ứng theo một số nhóm
nhà cung ứng đặc thù để tối ưu hóa quy trình kinh doanh từ khâu lựa chọn nhà cung
ứng, đến đặt hàng, đàm phán hợp đồng mua hàng hóa, nguyên vật liệu, vật tư, thiết
bị cho chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.
Thông qua SRM, các thông tin của nhà cung ứng sẽ được cập nhật và được
lưu trữ trong hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu. Nhờ một công cụ dò tìm dữ liệu đặc
biệt, doanh nghiệp có thể phân tích, hình thành danh sách nhà cung ứng tiềm năng
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
và lâu năm để đề ra những chiến lược hợp tác hợp lý. Ngoài ra, doanh nghiệp còn
có thể xử lý các vấn đề vướng mắc của nhà cung ứng một cách nhanh chóng và hiệu
quả.
1.2.2. Bản chất mối quan hệ giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp:
Chuỗi cung ứng tạo ra dòng chuyển dịch trao đổi về vật chất và tài chính
giữa các thành phần theo chiều dọc của chuỗi cung ứng.
Hình 3 : Sơ đồ dòng chuyển dịch vật chất trên kênh phân phối
Vật chất
Nhà cung ứng
Doanh nghiệp: khách hàng/nhà phân phối/nhà sản xuất
Tài chính
Doanh nghiệp quản lý chuỗi cung ứng là cầu nối giữa nhà cung ứng đến các
khách hàng. Doanh nghiệp làm việc với nhà cung ứng nên hiểu được yêu cầu nhà
cung ứng khi bán hàng, còn đối với khách hàng, doanh nghiệp cũng tiếp xúc trực
tiếp với khách hàng nên hiểu rõ mong muốn của khách hàng khi mua hàng. Khi đó
Doanh nghiệp đóng vai trò giúp cho nhà cung cấp và khách hàng thực hiện được
giao dịch mua bán thông qua các điều khoản thương mại chung được quy định tại
các hợp đồng mua bán.
Đối với một doanh nghiệp kinh doanh trong chuỗi cung ứng phải nắm bắt
được tất cả các thông tin về các nhà cung ứng về khách hàng để luôn quản lý tốt các
rủi ro xảy đến trong toàn bộ chuỗi, từ đó tìm giải pháp để kết nối giữa đầu vào và
đầu ra, giữa nhà cung ứng với khách hàng. Doanh nghiệp đề xuất các phương án
cung cấp hàng hóa và dịch vụ, để mang lại lợi ích cho các bên về chi phí, chất lượng
hàng hóa và dịch vụ với giá thành cạnh tranh trên thị trường.
Doanh nghiệp cùng với nhà cung ứng tiến hành các hoạt động tác nghiệp nếu
tổ chức được việc bán hàng, giao hàng, thanh toán cho khách hàng tức là doanh
nghiệp đã thiết lập được một chuỗi cung ứng dạng đơn giản. Trách nhiệm của doanh
nghiệp bắt đầu từ lúc doanh nghiệp ký kết hợp đồng với nhà cung cấp và kết thúc
khi giao hàng hoặc thực hiện xong dịch vụ cho khách hàng.
19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Vai trò của doanh nghiệp và nhà cung ứng trong chuỗi đều quan trọng như
nhau, vì mỗi bên đều mang lại giá trị đối với bên kia về mặt thông tin, vật chất hay
tài chính. Sự trao đổi thông tin qua lại giúp cho kênh hoạt động thông suốt bởi cả
doanh nghiệp và nhà cung ứng trên cơ sở các thông tin trao đổi được cập nhật liên
tục mà nắm được nhu cầu, phản hồi lại các luồng thông tin bằng việc ký hợp đồng
cung ứng hoặc phân phối như vậy là tạo ra được sự thay đổi về luồng vật chất và tài
chính do các yếu tố này được luân chuyển từ mắt xích này đến mắt xích kia của
chuỗi cung ứng, cứ như vậy quá trình tiếp diễn liên tục tạo ra ngày càng nhiều
doanh thu, lợi nhuận và tiết kiệm được chi phí cho các doanh nghiệp trong hệ thống.
1.2.3. Các chức năng cơ bản của Quản lý mối quan hệ với các nhà cung ứng:
Trước hết, cần hiểu rõ hoạt động mua sắm nguyên vật liệu đầu vào là các
hoạt động mua sắm bao gồm: mua sắm, lập khung kế hoạch giao nhận, nhận hàng,
kiểm tra và giám sát hàng, ủy quyền thanh toán cho nhà cung ứng. Chức năng của
SRM khi đó gồm:
1.2.3.1.Theo dõi và ghi nhận thông tin về quá trình mua hàng:
- Quản lý hợp đồng mua hàng theo loại giao dịch do người sử dụng tự định nghĩa.
- Quản lý danh sách hàng hóa dịch vụ mua vào theo yêu cầu từ các nguồn khác
nhau (bộ phận sản xuất, bộ phận bán hàng).
- Theo dõi hoạt động mua hàng dựa trên các nghiệp vụ:
+ Thiết lập đơn đặt hàng: đơn đặt hàng có thể được thiết lập dựa trên các phiếu
yêu cầu hàng hóa nguyên vật liệu từ các bộ phận khác như bộ phận sản xuất, bộ
phận bán hàng.
+ Thiết lập điều khoản giao nhận hàng hóa, nguyên vật liệu theo chi tiết hàng
hóa, số lượng, thời gian, địa điểm. Lịch giao nhận hàng sẽ được tạo ra dựa trên các
điều khoản giao nhận hàng.
- Theo dõi quá trình nhận hàng: theo dõi về số lượng hàng nhận, ghi các khoản phải
thu chi. Một đơn hàng có thể thực hiện nhận hàng nhiều lần.
- Phát sinh các khoản phải thanh toán theo điều khoản thanh toán và ghi công nợ.
- Theo dõi hoạt động nhập khẩu: hạn ngạch nhập khẩu, các biên bản liên quan.
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Tính toán và phân bổ các chi phí liên quan đến việc hoạt động bán hàng.
- Ghi nhận và phản ánh với nhà cung cấp về hàng hóa không phù hợp.
Để tối thiểu chi phí của quá trình mua sắm nguyên vật liệu đầu vào nhà sản
xuất dựa trên công suất thực tế của nhà máy, nhu cầu thị trường về hàng hóa, dựa
trên các định mức của quá trình sản xuất để lập kế hoạch nhập nguyên vật liệu dự
kiến sản lượng là bao nhiêu. Xây dựng kế hoạch mua hàng, tồn kho, thời gian đặt
hàng tối thiểu, số lượng đặt hàng tối thiểu của mỗi đơn vào phải lưu ý theo 4 tiêu
chí sau:
- Chú trọng tới giảm thiểu tổng chi phí sở hữu.
- Thiết lập các chiến lược mua sắm nguyên vật liệu theo chủng loại.
- Duy trì cách nhìn dưới góc độ toàn doanh nghiệp.
- Đo lường và quản lý hiệu quả.
1.2.3.2. Thông tin hỗ trợ hoạt động mua hàng:
Với chức năng này Doanh nghiệp cần ghi nhận và lưu trữ các thông tin liên
quan đến các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ của các bộ phận trong công ty như
các chức năng, đặc điểm của sản phẩm, giá cả, nhà cung cấp,…
Chức năng này cần sử dụng tất cả các công cụ để hỗ trợ quản trị: công cụ để
tra cứu, phân loại, lọc các thông tin cần thiết cho công việc hàng ngày về sản phẩm,
giá cả, đối tác; Công cụ hỗ trợ tính toán chuyển đổi theo tỷ giá, các loại tiền tệ, hỗ
trợ theo dõi quá trình biến đổi của thị trường; công cụ thống kê các hợp đồng theo
các mức thực hiện, từ đang tiếp cận cho đến đã thanh lý; công cụ liên kết các văn
bản giấy tờ có liên quan đến một thỏa thuận, hợp đồng mua hàng.
1.2.3.3. Quản lý thông tin quan hệ nhà cung cấp:
Chức năng này yêu cầu Doanh nghiệp phải ghi nhận và cập nhật thông tin về
nhà cung cấp: họ tên, địa chỉ liên lạc, người đại diện… Lưu trữ cây phân cấp đối
tác, khu vực mua hàng, nhóm đối tác mua hàng… cho phép thống kê đối tác theo
các tiêu chí khác nhau; Ghi nhận và theo dõi khả năng cung cấp của đối tác đối với
từng loại hàng hóa dịch vụ, theo dõi công nợ phải trả cho nhà cung cấp; Đánh giá
21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
cho điểm nhà cung cấp hoặc nhà gia công theo các tiêu chuẩn khác nhau; Theo dõi
các khiếu nại đối với nhà cung cấp.
1.2.3.4. Lập kế hoạch mua hàng:
Chức năng lập Kế hoạch cung ứng bao gồm các phần chính:
- Kế hoạch mua hàng: quy định theo khu vực, theo chu kỳ thời gian và theo mặt
hàng.
- Kế hoạch đánh giá lựa chọn nhà cung cấp theo từng loại sản phẩm, dịch vụ, khu
vực, thời kỳ.
- Kế hoạch phân bổ chi phí (dựa trên ngân sách được cấp cho bộ phận cung ứng).
Chức năng này yêu cầu Doanh nghiệp phải liên tục cập nhật thông tin thực
hiện kế hoạch, so sánh kế hoạch với thực tế, kiểm soát phát sinh và xây dựng kế
hoạch kinh doanh.
1.2.3.5. Hệ thống báo cáo phân tích tình hình mua hàng:
Chức năng này cho phép Doanh nghiệp phân tích chi phí mua hàng kinh
doanh theo nhiều tiêu chí, phân tích khả năng đáp ứng hàng hóa của bộ phận mua
hàng.
Doanh nghiệp cần sử dụng công cụ quản lý có kết xuất tự động các loại báo
cáo, thống kê nhiều dạng khác nhau với các chỉnh sửa theo nhu cầu của người sử
dụng. Các dạng báo cáo về tình hình khách hàng:
- Các loại bảng kê hàng hóa mua vào.
- Các báo cáo về chi phí mua hàng.
- Các báo cáo giao nhận hàng hóa.
1.2.4. Lợi ích mà SRM mang lại cho doanh nghiệp:
Một số những lợi ích tiềm năng mà SRM có thể mang lại cho Doanh nghiệp
như sau [Garner: 2001, p2]:
- Tối ưu hóa được các mối quan hệ với nhà cung cấp: hành xử đối với các nhà cung
cấp khác nhau theo những cách khác nhau phụ thuộc vào mối quan hệ tự nhiên và
giá trị chiến lược mà nhà cung cấp có được.
22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Tạo ra lợi thế cạnh tranh và điều chỉnh doanh thu nhanh hơn bằng cách tạo ra các
giải pháp mới, tốt hơn và nhiều hơn khách hàng trung tâm cho thị trường.
- Kéo dài và tăng cường các mối quan hệ quan trọng tích hợp các nhà cung cấp vào
trong quá trình kinh doanh của Doanh nghiệp
- Điều khiển nâng cao lợi nhuận thông qua giảm chi phí hoạt động chuỗi cung ứng
trong khi vẫn duy trì chất lượng.
Ví dụ: về một công ty nghiên cứu mua 22,000 sản phẩm từ hàng nghìn nhà
cung cấp. Công ty nghiên cứu này bị giới hạn về công nghệ thông tin, tiềm lực kỹ
thuật, nhưng công ty này phải tự tìm ra được giải pháp khả thi để quản lý chuỗi
cung ứng. Tuy nhiên, nhờ sử dụng công cụ SRM mà Công ty này đã quản lý tốt hơn
chi phí của hệ thống thu mua từ hàng nghìn doanh nghiệp sản xuất, đối tác được lựa
chọn trong các điều kiện của thị trường và ngành công nghiệp khác nhau. Giải pháp
SRM của Công ty này đưa ra là: 1- Bắt đầu với một nhóm các nhà cung ứng chiến
lược; 2- Mở rộng mua sắm nhóm sản phẩm từ các nhà cung ứng này thông qua các
định dạng trang web của nhà cung ứng chiến lược; 3- Áp dụng một số hình thức
mua sắm điện tử. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp SRM trên thì công ty đã ghi
nhận được một số cải tiến như sau:
- Vòng quay hàng tồn kho tăng từ 11 lên 24 vòng;
- Chi phí mua sắm giảm 17%;
- Chu kỳ đặt hàng giảm 50%;
- Công ty có thể tự động hóa các đơn đặt hàng đến 70%;
- Loại bỏ được sự “dư thừa” hàng tồn kho.
Trong trường hợp của công ty này, với sự nỗ lực hợp tác từ phía nhà cung
ứng trên cùng một quan điểm để tiết kiệm chi phí từ hoạt động mua hàng, nhà cung
ứng và doanh nghiệp đã cùng chia sẻ thông tin và phối hợp sử dụng phương thức
mua hàng điện tử do đó mang lại nhiều lợi ích cho cả Công ty và nhà cung ứng khi
ứng dụng các giải pháp SRM trên chuỗi cung ứng.
23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.2.5. Cách thức, quy trình lựa chọn SRM phù hợp:
Doanh nghiệp phải lựa chọn những nhà cung cấp thích hợp để đáp ứng các
chủng loại hàng hoá, dịch vụ đầu vào mà doanh nghiệp cần để làm ra sản phẩm,
dịch vụ của mình. Doanh nghiệp nên xây dựng một bộ các quy trình định giá, giao
nhận và thanh toán với nhà phân phối, cũng như thiết lập các phương pháp giám sát
và cải thiện mối quan hệ giữa Doanh nghiệp với những nhà cung cấp. Sau đó, doanh
nghiệp hãy tiến hành song song các quy trình này nhằm quản lý nguồn hàng hoá,
dịch vụ mà doanh nghiệp nhận được từ các nhà cung cấp, từ việc nhận hàng, kiểm
tra hàng, chuyển chúng tới các cơ sở sản xuất đến việc thanh toán tiền hàng.
Các bước chính để mở rộng hoạt động SRM:
- Với các cơ hội cải tiến giá trị tiềm ẩn được xác định và các nhà cung ứng được lựa
chọn cam kết cung cấp các nguồn lực cho các hoạt động SRM được chọn, các nhóm
nghiên cứu được giao cho xem xét các cơ hội một cách chính thức.
- Danh mục các cơ hội nên được chia ra cho các nhóm tương ứng với chuyên môn
chính của từng nhóm để giải quyết từng lĩnh vực quan trọng. Từng nhóm được tổ
chức các cuộc họp và đánh giá định dạng mẫu được thiết kế để theo dõi sự cải tiến.
- Sự đánh giá công tác điều hành phải được tổng hợp trên cơ sở các cuộc họp nhóm
nói trên để các thanh viên có thể tổng kết lại các thành tựu trong quá khứ, báo cáo
tình trạng cải tiến, và phát hiện các cơ hội mới trong quá trình hoạt động nhóm.
Những đánh giá này sẽ được sắp xếp lại để dễ hiểu nhất và nhằm đạt được sự phù
hợp và tổng các nhóm và nâng cao giá trị của nhà cung ứng.
- Sau quá trình áp dụng SRM vào chuỗi cung ứng, Doanh nghiệp nên đánh giá quá
trình thực hiện SRM theo một biểu mẫu đánh giá riêng, ví dụ có thể giống Phụ lục 8
dưới đây.
24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Bảng 1: Biểu mẫu đánh giá việc áp dụng SRM
Phân nhóm: Giai đoạn mua hàng ($M):
Thời gian đánh giá: Ngày mua hàng ($M):
Đơn vị thực hiện: Tổng số năm dự báo:
Người liên hệ: Mobile/Fax:
Nhà cung cấp chính Mobile/Fax:
Người liên hệ:
Đại diện của chính thức tại khu vực:
---------------------------------------------------------------------------------------------------
Đánh giá các danh mcụ hành động chính được xác định trước đó:
Danh mục hành động Tình trạng hiện thời Hành động còn lại cần
làm
Chất lượng thực hiện (25 là số điểm tối đa có thể đạt được):…….điểm
Thành tựu:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………….
Các vấn đề:
………………………………………………………………………………………………………
Các giải pháp:
………………………………………………………………………………………………………
Tổng cộng điểm SRM:…………………………………………………….
25
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trong nỗ lực quản trị bằng các giải pháp SRM tiên tiến, Doanh nghiệp sẽ thu
được một danh sách các nhà cung cấp được chọn để tham gia vào chuỗi cung ứng
thông qua một bộ các quy tắc mà được áp dụng bởi doanh nghiệp tài trợ thông qua
cơ sở dữ liệu cung ứng của họ. Doanh nghiệp khi sử dụng SRM tiên tiến phải xây
dựng được “mô hình hành vi” trong đó tóm tắt các hành vi và lợi ích dự kiến mang
lại cho cả hai phía nhà cung ứng và người mua. Phụ lục 9 dưới đây được xem như
một mô phỏng rút gọn của mô hình các hành vi SRM, trong đó liệt kê các hành vi
của nhà cung cấp chiến lược và người mua trong từng trường hợp cụ thể.
26
Bảng 2: Mô hình các hành vi SRM
Cơ sở
Chiến lược
Giá trị tăng thêm
Ưa thích
Phần thưởng/ Giá trị
cung
Nhà cấp
-Cung cấp các đề xuất cải tiến -cung cấp không có chuyên môn đặc biệt, mua hàng điện
-cam kết chi phí cải tiến sắm -e-mua thống -giá
truyền
-giá trị gia tăng thông qua chuyên môn -số liệu dựa trên thỏa thuận
Nhà cung cấp cung cấp chính xác theo thỏa thuận hợp đồng
tử
Thỏa thuận là các giao dịch ngắn hạn
Người mua
thưởng khuyến khích
g n ở ư h t n ầ h p à v ị r t á i G
-thanh toán theo thỏa thuận kiện điều và
-thương lượng các tùy chọn sớm toán thanh
-trực tiếp vào hoá đơn -2 hợp đồng 5 năm cho
-tiền -hợp đồng kết thúc mở
-các giao dịch ngắn hạn
-xử lý các lệnh điện tử
các giao dịch nhiều
Nhà
cung
-Cam kết giá cả cạnh tranh
-hợp đồng có thời hạn cố định
-lựa chọn nhiều năm với
-cam kết khách hàng ưa
cấp
-cung cấp không đảm bảo
g n ợ ư
và tùy chọn để mở rộng -kiểm toán quyền lợi cho người mua
giá đảm bảo -kiểm toán quyền lợi cho người mua
nhất chuộng -giá cổ phiếu nhà cung cấp mô hình để thiết lập tỷ suất lợi nhuận
Người mua
l i ố h K / á i G
-cam kết khối lượng chi tiêu -sử dụng chào giá cạnh tranh
-giải thưởng kinh doanh trở lại cho nhà cung cấp ưa thích
-RFP không bắt buộc -phải luôn luôn trong quá
-cho phép lợi nhuận công bằng -cộng tác vào các yêu cầu
giải
thưởng
-cung cấp quyền được ưu tiên
cho
-nguồn thay thế có thể được kiểm tra
trình đấu thầu - thường xanh hợp đồng
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
chấp nhận nguy cơ trung
bồi thường gắn liền với mua
Nhà
cung
chấp nhận rủi ro tối thiểu dựa
chấp nhận rủi ro khiêm tốn
cấp
trên hợp đồng
thành công của công ty, làm cho thanh viên tham gia đầu tư
bình cho phép ưu đãi đáng kể
với các ưu đãi và hình phạt cho phép
Người mua
o r i ủ r ẻ s a i h C
chấp nhận rủi ro tối thiểu dựa trên hợp đồng
chấp nhận rủi ro khiêm tốn với các ưu đãi và hình phạt
chấp nhận rủi ro vừa phải cân bằng với các biện
Chia sẻ tài liệu thành công; làm cho thanh viên đầu tư
pháp khuyến khích cho cải tiến
Nhà
cung
chia sẻ dữ liệu theo quy định
Chia sẻ chiến thuật hạn chế
Chia sẻ chiến lược sản
Chia sẻ chiến lược kinh doanh
cấp
của hợp đồng
dữ liệu tốt hơn cho phép hoàn thành nhiệm vụ
tưởng
cải
ý
phẩm và quá trình hoạt động kinh doanh tốt nhất dữ liệu
và chỉ đạo, tạo điều kiện chia tiến sẻ
Người mua
n i t g n ô h t ẻ s a i h C
chia sẻ dữ liệu được xác định theo hợp đồng
Chia sẻ hoạt động dữ liệu để giúp lập kế hoạch
quan trọng chiến thuật và một số chiến lược để hỗ
cho phép nhà cung cấp để tham gia trong chiến lược phát triển
trợ nhà cung cấp
và thêm dịch vụ giá trị
28
1.2.6. Cách thức lựa chọn nhà cung ứng phù hợp:
Một công ty có thể quan tâm để thêm vào các tiêu chí quyết định, dựa vào
nhu cầu nội bộ của nó, nhưng nó là trong góc phần tư cuối cùng rằng việc tìm kiếm
cho các ứng cử viên SRM trung tâm. Nếu một nỗ lực sẽ được thực hiện để tìm các
mối quan hệ nâng cao, nơi mà các công ty sẽ chia sẻ thông tin rất quan trọng, nó
phải là với các nhà cung cấp trong thể loại này. Đi ra của các nỗ lực SRM cuối cùng
sẽ thiết lập một khuôn khổ và quy tắc quyết định để đối phó với các loại khác,
nhưng lựa chọn đối tác nên bắt đầu với góc tọa độ ảnh hưởng cao.
Lựa chọn các nhà cung cấp là rất quan trọng để thành công
Với một sửa chữa tốt mà hành động nên bắt đầu, các yếu tố tiếp theo trong chuỗi
SRM là quyết định trên một tiêu chí lựa chọn có ý nghĩa để các công ty, các đối tác
nội bộ của nó, và vài công ty được lựa chọn cho một nỗ lực hợp tác. Điều đó có
nghĩa là công ty cần phải áp dụng một định dạng để chọn tên của các ứng cử viên có
khả năng nhất cho các hoạt động SRM, chẳng hạn như đại diện tại Bảng 3.
Bảng 3: Mô hình thuộc tính mối quan hệ nhà cung ứng
Cơ sở Giá trị gia tăng Ưa thích Chiến lược Loại nhà cung
cấp/ Tập trung
Mối quan hệ Sản phẩm hoặc dịch vụ Ảnh hưởng đến hiệu quả Quá trình chuyên môn có Lợi thế duy nhất có giá trị
hàng hóa hoạt động giá trị
Hình thức hoạt Cạnh tranh thầu Hiệu suất động cơ Cải tiến liên tục Linh hoạt, nhanh nhẹn, hợp
động tác
Khả năng Thực hiện đầy đủ các yêu Triển khai năng lực cụ thể Tùy chỉnh chuyên môn & Khả năng trợ giúp với những
cầu kỹ năng thay đổi nhu cầu thị trường /
Chia sẻ thông tin giới hạn điện tử giới hạn - chiến thuật Kiểm soát đối thoại 2 chiều acess liên kết trực tiếp đến các
bộ phận của cơ sở dữ liệu
công ty
Quản lý rủi ro hợp đồng hình phạt ưu đãi và hình phạt khuyến khích và mối liên quá trình quản lý, chia sẻ rủi
kết thông tin ro / phần thưởng
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Lập kế hoạch hiện tại thỏa thuận liên tục, ngắn hạn quy hoạch chung với điểm không có điểm kết thúc, công
đường chân trời kết thúc ty lập kế hoạch chiến lược
Tính chất của niềm tự tin trong khả năng để tự tin về hiệu suất thực hiện tự tin trong chuyên môn, chia sẻ tầm nhìn, quyền sở
tin thực hiện hợp đồng thực hiện sự nhanh nhẹn hữu vốn trí tuệ
Số liệu tuân thủ theo dõi dịch vụ mức độ điểm chuẩn thực tế mối quan hệ tốt kết quả kinh doanh, khuyến
nhất khích chia sẻ
tác động lớn
Khách hàng tương không có để hạn chế tạo khả năng của chất tác động khách hàng cá số lượng khách hàng
31
tác lượng nhân
Ma trận này có thể được sửa đổi hoặc mở rộng để bao gồm các đặc điểm
khác mà một công ty tin rằng sẽ giúp phân đoạn cơ sở cung cấp của nó. Ý tưởng là
để di chuyển từ nhà cung cấp "cơ bản" mà công ty cần để có được công việc của
mình thực hiện để cung cấp những "giá trị", những người bổ sung thêm "giá trị đặc
biệt", và những người có "tầm quan trọng chiến lược". Hầu hết các công ty có thể
làm cho phân tích này bằng trực giác, nhưng các phương pháp tiếp cận ma trận giúp
thiết lập các tiêu chí lựa chọn và cho phép các công ty để đối phó với một số lượng
lớn của các nhà cung cấp. Tập trung với những thay đổi kỹ thuật trong các loại này,
và một lần nữa phản ánh sự phân biệt công ty muốn mang đến cho mỗi phân khúc.
Nhìn chung, ma trận mô tả làm thế nào một nhà cung cấp di chuyển qua vị trí và
cung cấp một khuôn khổ để lựa chọn các nhà cung cấp chiến lược quan trọng mà nó
muốn bắt tay vào một nỗ lực SRM. Làm việc với một nhà sản xuất lớn của dụng cụ
cầm tay, chúng tôi bắt đầu với 3.500 nhà cung cấp. Nhóm này đã được giảm xuống
còn 1500 với 1000 rơi vào các thể loại cơ bản, 250 vào các thể loại giá trị, 150 đưa
vào hạng mục ưu tiên và 100 đang nổi lên là nhà cung cấp chiến lược. Nhóm cuối
cùng trở thành một số quản lý từ đó hai hoặc ba được lựa chọn sau khi phù hợp với
khả năng của mình với các loại tác động cao để bắt đầu một nỗ lực SRM.Bước
trong trình tự SRM này đòi hỏi một số tài liệu tham khảo chéo giữa các danh sách
các loại mua cao tác động và nhà cung cấp chiến lược. Mục đích là để tìm tha số
nhỏ của intems quan trọng và số lượng nhỏ của các nhà cung cấp chiến lược, nơi
một nỗ lực nâng cao mối quan hệ sẽ là xứng đáng nhất. Điều đó đòi hỏi các công ty
để phát triển một bảng đánh giá bổ sung tiêu huỷ thông qua danh sách trước đó. Một
nhóm liên chức năng, trong đó bao gồm thành viên từ các hoạt động, tài chính và
hậu cần, ngoài mua và tìm nguồn cung ứng, nên đến với nhau và thiết lập các quy
tắc quyết định xung quanh một nhà cung cấp phù hợp với tiêu chí lựa chọn và đạt
được phù hợp để giúp đỡ với SRM. Nhóm nghiên cứu muốn làm cho một số các
nhà cung cấp lựa chọn có đặc điểm có liên quan để đạt được chiến lược kinh doanh
cũng như khả năng hợp tác trong quá trình SRM. Chúng tôi đề nghị một ma trận
đơn giản tương tự như những gì thể hiện trong Bảng 4.
Bảng 4: Ma trận mối quan hệ Nhà cung ứng
Chiến lược quan trọng Cao Trung bình Thấp
Khả năng hợp tác điện tử Cao Trung bình Thấp
Khả năng cung cấp các nguồn lực cho các hành động Cao Trung bình Thấp
Chất lượng của các mối quan hệ trong quá khứ Cao Trung bình Thấp
Khả năng gia tăng giá trị mạng Cao Trung bình Thấp
Sự liên kết của tư duy kinh doanh Cao Trung bình Thấp
Chia sẻ các giá trị tương tự Cao Trung bình Thấp
Chiều dài của mối quan hệ Cao Trung bình Thấp
Một lần nữa, ma trận có thể được sửa đổi, nhưng nó phải phản ánh các yếu tố
quan trọng để công ty, rất nhiều sẽ bị đe dọa như những cố gắng đi về phía trước. Sẽ
có một cam kết đáng kể thời gian và nguồn lực và rất nhiều mắt sẽ tiến bộ đạt được.
Vì vậy, nhóm nghiên cứu nên dành thời gian để làm cho một số hai hoặc ba công ty
đầu tiên được lựa chọn cho những gì sẽ trở thành giải pháp SRM ban đầu có xác
xuất cao nhất của sự thanh công.
Khi các tên đã được tạo ra và xem xét với một phần nào cho các quản lý cấp
cao, một lá thư từ Giám đốc điều hành mời các công ty được lựa chọn để tham gia
được chuẩn bị. Bức thư này nên bao gồm một tuyên bố phác thảo cơ hội để thảo
luận về tầm nhìn hoặc nhiệm vụ được đề nghị hướng dẫn các nỗ lực, các loại chế
biến sẽ xảy ra, một cam kết theo đuổi lợi ích chung trong khi sử dụng tài nguyên
chung, và danh sách sơ bộ của các khu vực của cơ hội cho cả hai bên. Các công ty
đáp ứng cũng được phép đề xuất ý tưởng cải tiến từ quan điểm của mình.
Xác định tổng chi phí sở hữu trở thành một mục tiêu chính
Khi một thỏa thuận để tham gia nhận được từ các nhà cung cấp mời, công ty tài trợ
của đội ngũ hậu cần. Thời gian và địa điểm cho các cuộc họp sơ bộ được sắp xếp.
Một chương trình nghị sự sẽ bắt đầu các cuộc thảo luận chung được chuẩn bị và
tham dự cụ thể được xác định. Bản đồ quá trình, giải thích làm thế nào mỗi công ty
tin rằng quá trình chế biến diễn ra giữa các đối tác, được chuẩn bị và đưa đến các
cuộc họp ban đầu. Bước này là một hành động sơ bộ quan trọng. Hầu hết các công
ty đến với cuộc họp đầu tiên với một nhận thức quyết khác nhau của các sản phẩm
và dịch vụ, thông tin, và các dòng chảy tài chính diễn ra giữa hai công ty. Với so đồ
luồng cho thấy nhận thức của mỗi nhóm có một phương tiện để có được một cách
nhanh chóng vào các điều kiện thực tế để họ có thể bắt đầu hợp tác trên một nhà
nước có cải thiện được thiết kế lại.
Nó cũng không kém phần quan trọng trong các cuộc họp ban đầu để có một
mặt cắt ngang của các chức năng trong phòng họp. Ngoài ra người mua và người
bán, không nên là đại diện từ hậu cần, CNTT, hoạt động, tài chính, lập kế hoạch, kỹ
thuật (nếu phù hợp), và vv. Ý tưởng là để cung cấp cho tiếp xúc với các chức năng
có thể được hưởng lợi từ một mối quan hệ được cải thiện cơ hội để thảo luận, bàn
tay đầu tiên với các nhà cung cấp quan trọng, những cải tiến này có thể được và làm
thế nào họ sẽ ảnh hưởng đến từng tổ chức.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.2.7. Hợp tác trên chuỗi:
1.2.7.1. Định nghĩa: Hợp tác trên chuỗi có thể hiểu là các công cụ mà nhờ nó các
công ty trong một chuỗi cung ứng làm việc cùng nhau hướng tới các mục tiêu
chung thông qua việc chia sẻ ý tưởng, thông tin, tri thức, rủi ro và lợi nhuận
Theo cơ cấu chuỗi cung ứng thì có thể có 2 loại hình hợp tác:
- Hợp tác theo chiều ngang (horizontal collaboration): là sự hợp tác giữa các
công ty trong cùng một cấp độ;
- Hợp tác theo chiều dọc (vertical collaboration): là sự hợp tác giữa các công
ty ở các cấp độ khác nhau.
1.2.7.2. Lợi ích của Hợp tác trên chuỗi:
Hợp tác trên chuỗi có một số các lợi ích về mặt tài chính và chiến lược như
sau:
- Doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận tới công nghệ (bí mật) được sở hữu bởi
các đối tác;
- Doanh nghiệp không thể tự đầu tư công nghệ vì khá tốn kém nhưng có thể
tận dụng công nghệ của đối tác chiến lược về công nghệ mà doanh nghiệp
cần tiếp cận;
- Doanh nghiệp đôi khi không đủ năng lực để sở hữu hoặc đầu tư lớn và phát
triển, duy trì nên cần sự hợp tác của đối tác trên chuỗi cung ứng;
Thị trường mới bị phong tỏa vì chi phí thâm nhập cao hoặc các điều kiện môi
trường kinh doanh không thuận lợi (rào cản thương mại, luật pháp), khi đó phải có
sự hợp tác trên chuỗi để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, hoặc xóa bỏ
rào cản thương mại hoặc luật pháp.
Sự hợp tác trên chuỗi đòi hỏi sự chia sẻ thông tin, phối hợp khi cần thiết giữa
các thành phần trong chuỗi cung ứng. Cách thức hợp tác giữa các thành phần trong
chuỗi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: văn hóa và kỷ luật lao động của mỗi doanh
nghiệp, năng lực của nguồn nhân lực tham gia chuỗi cung ứng, phương tiện hỗ trợ
hợp tác,…
35
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Các lợi ích thông thường mà các thành phần của chuỗi sẽ thu được nếu có sự
hợp tác với nhau cụ thể là:
Khách hàng Nhà cung ứng nguyên Nhà cung ứng dịch vụ
vật liệu
Các chi phí vận chuyển Giảm lượng tồn kho Giảm lượng tồn kho
giảm Chi phí lưu kho thấp hơn Tăng doanh thu
Giao hàng nhanh hơn và Các chi phí mua NVL Các chi phí quản lý đặt tin cậy hơn thấp hơn hàng giảm
Các chi phí vốn thấp Tình trạng hết hàng trong Lợi nhuận cận biên tăng hơn kho ít gặp hơn. Tính chính xác của các dự Khấu hao giảm báo cao hơn
Các chi phí cố định thấp Phân bổ tốt hơn các quỹ hơn. khuyến mại.
Dịch vụ khách hàng được cải thiện
Sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả hơn.
1.2.7.3. Nội dung của Hợp tác trên chuỗi:
Trên chuỗi cung ứng có thể có các mức độ hợp tác khắc nhau. Hợp tác là một
phổ (vô cấp), tuy nhiên có thể chia làm 4 mức như sau:
- Hợp tác giao dịch (transactional)
- Hợp tác hoạt động (cooperative)
- Hợp tác liên kết (coordinated)
- Hợp tác đồng bộ (synchronized)
Khi nghiên cứu kết cấu chiến lược hợp tác, doanh nghiệp cần xác định đối
tác nào thì phù hợp với cấp độ hợp tác nào. Phần lớn các hợp tác hiện nay là hợp tác
giao dịch và hợp tác hoạt động nên chỉ có thể tập trung chủ yếu vào các hoạt động
36
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
của chuỗi như mua nguyên vật liệu và sản xuất, và hầu như không mang lại ích lợi
như dịch vụ khách hàng tốt hơn, mức tồn kho thấp hơn…
1.2.7.4. Các thức xây dựng hợp tác thành công:
Đầu tiên cần quản lý tốt việc hợp tác liên kết nội bộ giữa các bộ phận chức
năng: điều cần chú ý đầu tiên là cách thức doanh nghiệp liên kết các chức năng
trong nội bộ mình như thế nào? Vì vậy cần phải có các chỉ tiêu (metrics) được chia
sẻ làm thước đo cơ bản, tuy nhiên các doanh nghiệp thường bỏ qua điểu này.
Xác định cấp độ hợp tác phù hợp phải dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá gồm:
tầm quan trọng chiến lược, mức độ phù hợp về văn hóa, mức độ phù hợp về tổ
chức, mức độ phù hợp về công nghệ;
Cùng chia sẻ lợi ích, lợi nhuận và tổn thất: cùng nhau chia sẻ lợi ích và rủi ro
là căn cứ quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững;
Tin tưởng đối tác nhưng cũng phải bảo vệ lợi ích của công ty: Hợp tác dựa
trên việc xây dựng các mối quan hệ và chia sẻ thông tin cùng với lợi ích thu được từ
hợp tác (có đi có lại: giảm giá, dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng, và thông tin). Tuy
nhiên việc chia sẻ thông tin chứa nhiều rủi ro vì đối tác của doanh nghiệp có thể
cũng là đối tác của các doanh nghiệp cạnh tranh khác do đó cần phải chỉ ra cách
quản lý mối quan hệ như thế nào và phân định các vai trò và trách nhiệm trong hợp
đồng, rủi ro vì việc truyền thông tin cũng có thể bị lỗi an ninh (có thể do bảo mật
mạng);
Sự thỏa hiệp: là đảm bảo sự cân bằng lợi ích tương đối để hợp tác được duy
trì. Nó thể hiện cán cân quyền lực giữa các đối tác với nhau. Hợp tác không phải là
việc chuyển chi phí từ một đối tác này sang đối tác khác mà là việc các bên cùng nỗ
lực giảm chi phí của cả chuỗi. Lợi ích thu được sẽ phải được chia sẻ hài hòa giữa
các thành viên.
37
Bảng 5: Mô hình tổng chi phí của chủ sở hữu
X% Chất lượng chi phí kiểm tra
Thất bại
Warrantly
Cần phải xác định Hàng tồn kho chi phí Thực hiện chi phí
Kho
lỗi thời
100% chi phí thực hiện mua
Các khoản phải trả
hệ thống quản lý
Giao hàng tận nơi cơ chế
Hoá đơn giá phần chi phí Truyền thống cách tiếp cận tập trung vào giảm chi phí hàng thông qua nhà Thông thường tập
cung cấp đòn bẩy. Tập trung trong tương lai cần để đo lường giá trị tổng số trung vận tải hàng hóa các nhà cung cấp mang lại.
Đề cập Bảng 5, chúng ta có thể thấy một mô hình sẽ giúp bắt đầu các cuộc
đàm thoại sơ bộ với các nhà cung cấp được lựa chọn - tổng chi phí của chủ sở hữu.
Tập trung bình thường với bất kỳ mua - bán phiên chia sẻ được đặt trên giá hoá đơn
và làm thế nào nó có thể được cải thiện. Chi phí vận chuyển hàng hóa được tách
riêng ra một phần từ chi phí hoặc chi phí cung ứng để tập trung có thể được đặt trên
hai yếu tố này. Trong SRM, tập trung ở mức độ cao hơn để đo lường tổng giá trị mà
các nhà cung ứng cung cấp. Trên đường cơ sở thông thường, chúng tôi tìm thấy một
nhóm chi phí được gọi là "chi phí thực hiện". Ở đây cần chú ý đến các chi phí liên
quan với việc mua bán, các khoản phải trả, hệ thống quản lý, và cơ chế phân phối.
Di chuyển lên phía trên cao hơn của biểu đồ và dọc theo đường tổng chi phí chủ sở
hữu là nhóm chi phí hàng tồn kho, đây là chi phí khó nắm bắt nhất trong chuỗi cung
ứng. Các yếu tố này là đủ rõ ràng - chúng có chứa các giá trị của hàng tồn kho vì nó
nằm trong vốn trên bảng cân đối kế toán, chi phí nắm giữ hàng tồn kho đang thực
hiện, chi phí lưu kho và chi phí của hàng hóa bị lỗi thời. Đây là một phần rất quan
trọng trong các nỗ lực của doanh nghiệp để giảm số lượng hàng tồn kho trong hệ
thống cung ứng cần có khả năng hiển thị và kỹ thuật giao hàng đúng thời gian, mà
không làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất. Theo truyền thống, hàng tồn kho chỉ
đơn giản là di chuyển ngược dòng vào đơn hàng sản xuất của nhà cung ứng. Những
suy nghĩ mới là để phù hợp nhu cầu với khả năng cung ứng và có một dòng chảy
mà có thể bao quát được hết các nhu cầu mà không cần một lượng dư hàng tồn kho
an toàn.
Khối chi phí cao nhất được gọi là chi phí chất lượng bao gồm các chi phí
kiểm tra, chi phí thất bại và chi phí bảo hành. Hiện nay các đối tác muốn nhìn vào
một con số chắc chắn và không có chi phí ẩn bằng việc đảm bảo giao hàng đúng
thời gian, đúng chỗ và không để xảy ra việc đổi hoặc trả lại hàng. Nói chung là có
rất nhiều thông tin lịch sử để xác định các chi phí, nhưng những thông tin này được
cất dấu trong cơ sở dữ liệu và phải lưu trữ nguồn gốc và lắp ráp thông tin theo một
phương thức để có ý nghĩa, do đó số lượng hàng tồn kho có thể được giảm bớt hoặc
bị loại bỏ, thường giảm các chi phí này thông qua các sáng kiến của nhóm hành
động chung. Vì các đối tác tìm ra thông tin này và bắt đầu sử dụng nó, nhà cung cấp
nên được cho 1 cơ hội để tính thêm các yếu tố cho tổng chi phí chủ sở hữu, điều đó
cũng rất quan trọng.
Bảng 6: Các chi phí tiềm ẩn trong quá trình mua sắm từ phía Nhà cung ứng
Mua lại Tiếp nhận Sở hữu Sử dụng Lloại
bỏ
Cấp độ Tiền mặt
nhà cung Giảm giá tổng giá trị cấp hàng mua
Không dùng tiền mặt
-Nhà cung cấp rà soát Chi phí kiện -Chi phí
tụng vì vi các chi phí kỹ sư
phạm hợp -Chi phí RFP -Chi phí đồng đào tạo -Chi phí quản lý hợp cán bộ đồng chi phí nhà cung
ứng theo dõi -Chi phí
(feedback) thích ứng
hệ thống -Nhà cung ứng thay
đổi các chi phí
Vì nhóm này có tổng chi phí chủ sở hữu theo quan điểm nói trên, các tác giả
đã đưa ra có một định dạng khác sẽ chứng minh được lợi ích của nó trong bài báo
Tổng kết kinh doanh Harvard [10] Các tác giả chỉ ra rằng một thăm dò tổng hợp hệ
thống tất cả các chi phí bao gồm các mối quan hệ với nhà cung ứng sẽ giúp công ty
“đưa ra quyết định thông minh về việc cân nhắc chọn lựa sử dụng các mô hình toán
học tối ưu hóa"[10, trang 22]. Các tác giả cũng đưa ra các cấp độ minh họa tại Phụ
lục 6 như một phương tiện để nhóm các lĩnh vực có cơ hội bằng cách tập trung vào
các cấp độ khác nhau - đơn vị, đặt hàng, và cung ứng - và thông qua các hoạt động
mua lại, tiếp nhận, sở hữu, sử dụng, và loại bỏ. Trong từng khu vực tương ứng, các
tác giả tập trung chú ý tới các chi phí có thể kiểm tra được và xem xét có thể cải
thiện được các chi phí này không, xem thêm Bảng 7 như dưới đây.
Bảng 7 – Trọng số tổng giá trị trong quá trình
Trọng số Yếu tố Thước đo Tỷ trọng
25% Chất lượng Chất lượng thực hiện 30%
Thu được qua điều tra 20%
Đường hiệu suất 20%
Độ tin cậy thực hiện 20%
Chỉnh bị lĩnh vực cần thiết 10%
25% Giao hàng Thời gian ngày nhận cam kết 30%
thời gian ngày nhận yêu cầu 10%
khoảng thời gian thực hiện tiêu chuẩn 30%
hiệu suất lỗi giao hàng 20%
sự linh hoạt và thời gian giao hàng 10%
25% Kỹ thuật truy cập vào công nghệ lạc hậu 15%
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
quy trình công nghệ 25%
tham gia thiết kế sớm 20%
kế hoạch dài hạn 20%
công nghệ lộ trình phù hợp 20%
15% Dịch vụ mua hàng/nguyên vật liệu hỗ trợ 60%
Dung lượng hỗ trợ EDI 20%
Chi phí mua sắm cận biên 20%
10% Môi trường môi trường chính sách 30%
tuân thủ quy định 50%
42
chương trình bảo tồn 20%
Vì tổng chi phí chủ sở hữu trở nên rõ ràng hơn, công ty cũng sẽ muốn thiết
lập một hệ thống để gán trọng số cho các yếu tố được xác định để tiến hành cải tiến.
Bước này liên quan đến việc xác định các lĩnh vực cải tiến và xác định trọng số
đánh giá tầm quan trọng của từng lĩnh vực. Tiếp theo, nhóm nghiên cứu xác định dữ
liệunào sẽ được sử dụng để đo lường sự cải tiến thực hiện được và làm thế nào thu
được dữ liệu này. Sau đó, nhóm nghiên cứu tập trung vào việc làm thế nào để sử
dụng dữ liệu này, có nhà cung ứng cam kết để giúp đỡ, và làm cho nhà cung cấp
chịu một phần trách nhiệm trong quản trị SRM. Bảng 7 phác thảo quá trình xác định
trọng số điển hình.
1.2.7.5. Những đặc điểm trong hợp tác chuỗi tương lai:
Các doanh nghiệp sẽ tập trung vào hợp tác nhằm đạt được sự hài lòng của
khách hàng một cách dài hạn hơn là chỉ chú trọng vào việc giảm chi phí nội tại.
Cấu trúc dữ liệu được chia sẻ sẽ trở thành nền tảng chung cho các công cụ
liên kết, cho phép các doanh nghiệp phản hồi ngay lập tức về các dữ liệu để lập kế
hoạch và thực hiện.
Các doanh nghiệp sẽ tìm hiểu các chính sách an ninh của các đối tác của họ
một cách cẩn trọng hơn, các công nghệ mới sẽ cho phép việc kiểm soát điện tử các
điều khoản an ninh một cách cụ thể.
Việc gắn kết thực sự giữa các hệ thống riêng rẽ sẽ trở thành sự thật, cho phép
các doanh nghiệp kiểm soát toàn bộ tài sản cho logistic và sản xuất từ một hệ thống
điều hành trung tâm.
Thay vì đơn giản là tự động hóa các giao dịch thông thường, các hệ thống sẽ
có khả năng nhìn về tương lai, tiên đoán các hiện tượng bất ngờ, và đưa ra các phản
ứng sửa đổi phù hợp.
Các ứng dụng phần mềm sẽ được mở rộng tới đa cấp bậc cung ứng cũng như
phân phối. Trong khi liên kết với nhiều khách hàng và nhà cung ứng sẽ là chủ đạo,
doanh nghiệp vẫn sẽ tiến hành dự đoán và lập kế hoạch cho một số các đối tác.
Việc liên kết với các nhà cung ứng nguyên vật liệu sẽ tiếp tục trên cơ sở tập
trung vào các giao dịch, trong khi đó các mối quan hệ với các nhà cung cấp dịch vụ
sẽ mang tính chiến lược hơn và tập trung vào lập kế hoạch. Các phần mềm ứng
dụng sẽ được xây dựng và chạy trên nền Internet và gồm nhiều các máy chủ ở bên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ngoài. Việc liên kết sẽ tập trung ngày càng nhiều vào các cực của chuỗi, tập trung
vào dự đoàn và các mô hình tồn kho có tính liên kết.
Sử dụng các công cụ tiêu chuẩn của ngành sẽ trở thành mô hình chủ đạo của
hệ thống thông tin mang tính liên kết trong khu vực sản phẩm điện tử và tiêu dùng.
Hợp tác tên chuỗi mang lại khả năng hỗ trợ doanh nghiệp tạo ra một kênh
liên lạc thông suốt giữa nhà cung ứng và khách hàng của mình, xóa bỏ những nhân
tố cản trở khả năng sinh lời, giảm chi phí, tăng thị phần và giành được đông đảo
khách hàng. Vì lý do đó, SCM được xem như một giải pháp tốt để nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Với SCM, việc chia sẻ dữ liệu kinh doanh sẽ không bị bó hẹp trong
nội bộ doanh nghiệp, mà đã lan truyền đến nhà cung ứng, nhà sản xuất và nhà phân
phối. Có thể nói, dây chuyền cung ứng luôn chú trọng tới mọi hoạt động sản xuất
của doanh nghiệp, cả trong hiện tại lẫn tương lai, nhằm cân đối giữa cung và cầu,
đồng thời phản hồi lại sự thay đổi trên thị trường, tuy nhiên để ứng dụng thành công
SCM thì doanh nghiệp phải thực sự hiểu rõ cốt lõi của SCM, phương thức vận hành
SCM để đạt tới thành công.
1.3. Các hình thức quan hệ với nhà cung ứng:
1.3.1. Đấu thầu:
1.3.1.1. Định nghĩa:
Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu
cầu của mình theo quy định của luật pháp. Trong nền kinh tế thị trường, người mua
tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của người
mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật,
chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung
cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi
nhuận cao nhất có thể.
1.3.1.2. Các hình thức lựa chọn nhà thầu:
- Đấu thầu rộng rãi: là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham
gia. Bên mới thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên
các phương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. Đấu thầu
rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu. Hình thức đấu thầu này
44
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
có ưu điểm nổi bật là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chế tiêu cực trong đấu
thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực.
- Đấu thầu hạn chế: là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối
thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có
thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận, là đấu thầu công khai, minh bạch.
- Chỉ định thầu: là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu
để thương thảo hợp đồng.
- Chào hàng cạnh tranh: hình thức được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng
hóa có giá trị dưới 2 tỷ đồng. Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào hàng của 3 nhà
thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của Bên mời thầu. Việc gửi chào hàng
có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằng fax, bằng đường bưu điện hoặc
bằng các phương tiện khác. Gói thầu áp dụng hình thức này thường có sản phẩm cụ
thể, đơn vị trúng thầu thường là đơn vị đưa ra giá có giá trị thấp nhất, không thương
thảo về giá.
- Mua sắm trực tiếp: được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ đã thực
hiện xong (dưới một năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư
có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hóa hoặc khối lượng công việc mà trước đó đã
được tiến hành đấu thầu, nhưng phải đảm bảo không được vượt mức giá hoặc đơn
giá trong hợp đồng đã ký trước đó. Trước khi ký hợp đồng, nhà thầu phải chứng
minh có đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính để thực hiện gói thầu.
- Tự thực hiện: hình thức này chỉ áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ
năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy định Quy chế Quản lý đầu tư và xây
dựng.
- Mua sắm đặc biệt: hình thức này được áp dụng đối với các ngành hết sức đặc biệt
mà nếu không có những quy định riêng thì không thể đấu thầu được.
1.3.1.3. Các phương thức đấu thầu:
a) Đấu thầu một túi hồ sơ: Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối
với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa,
xây lắp, gói thầu EPC. Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề
45
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Việc mở thầu được tiến hành một
lần [7, Điều 26 khoản 2].
b) Đấu thầu hai túi hồ sơ: là phương thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và
đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề xuất
kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật từ
70% trở lên và không có tiêu chí nào đạt điểm dưới 50% sẽ được mở tiếp túi hồ sơ
đề xuất về giá để đánh giá. Phương thức này chỉ được áp dụng đối với đấu thầu
tuyển chọn tư vấn.
c) Đấu thầu hai giai đoạn: Phương thức này áp dụng cho những trường hợp sau:
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồng trở lên;
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn bộ,
phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp;
- Dự án thực hiện theo Hợp đồng chìa khóa trao tay.
Hai giai đoạn đó như sau:
- Giai đoạn 1: giai đoạn sơ tuyển lựa chọn nhà thầu - tùy theo quy mô, tính chất gói
thầu - chủ đầu tư thông báo mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc
gửi thư mời thầu. Chủ đầu tư có trách nhiệm cung cấp cho các nhà thầu tham dự hồ
sơ mời dự thầu bao gồm các thông tin sơ bộ về gói thầu và các nội dung chính của
hổ sơ mời dự thầu. Nhà thầu tham dự sơ tuyển phải nộp hồ sơ dự thầu kèm theo bảo
lãnh dự thầu nhằm bảo đảm nhà thầu đã qua giai đoạn sơ tuyển phải tham dự đấu
thầu. Mức bảo lãnh dự thầu do chủ đầu tư quyết định nhưng không vượt quá 1% giá
gói thầu.
Tiêu chuẩn đánh giá ở vòng sơ tuyển bao gồm:
• Năng lực kỹ thuật;
• Năng lực tài chính;
• Kinh nghiệm.
- Giai đoạn 2: giai đoạn đấu thầu – chủ đầu tư cung cấp hồ sơ mời đấu thầu cho các
nhà thầu được lựa chọn vào giai đoạn đấu thầu. Nhà thầu tham dự đấu thầu phải nộp
46
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
hồ sơ đấu thầu kèm theo bảo lãnh đấu thầu nhằm đảm bảo nhà thầu đàm phán ký kết
hợp đồng sau khi được tuyên bố trúng thầu. Mức bảo lãnh dự thầu do chủ đầu tư
quyết định nhưng không vượt quá 3 % giá gói thầu.
Tiêu chuẩn đánh giá ở vòng đấu thầu bao gồm:
• Khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ;
• Tiến độ thực hiện;
• Giá dự thầu;
• Các điều kiện khác của nhà thầu đề xuất nhằm đạt mục tiêu đầu tư và hiệu
quả cho dự án.
Nhà thầu được lựa chọn là nhà thầu có giá dự thầu hợp lý và mang lại hiệu
quả cao nhất cho dự án.
1.3.2. CPFR: Coloborative Planning, Forecasting, Replenishment:
1.3.2.1. Định nghĩa CPFR:
Hợp tác lập kế hoạch, dự báo và bổ sung là một mô hình kinh doanh mà có
một cách tiếp cận toàn diện quá trình quản lý chuỗi cung ứng và trao đổi thông tin
giữa các đối tác kinh doanh. CPFR sử dụng các hệ đo lường thông thường, ngôn
ngữ tiêu chuẩn và doanh nghiệp ký các thỏa thuận để nâng cao hiệu quả chuỗi cung
ứng mang lại lợi ích cho tất cả những thành phần tham gia.
Tiền đề của CPFR là tất cả các thành phần của chuỗi cung ứng cùng tham gia
phát triển một dự báo đồng thời. Mỗi thành phần tham gia trong một qui trình CPFR
(ví dụ cung ứng, sản xuất, phân phối hoặc bán lẻ) có thể xem và sửa đổi dữ liệu dự
báo để tối ưu hóa các quá trình dọc từ đầu đến cuối chuỗi cung ứng. Đặc biệt, CPFR
đặt dấu chấm hết cho các dự đoán trong dự báo. CPFR có nghĩa là các nhà sản xuất
và nhà bán lẻ chia sẻ kế hoạch của họ với các kiến thức được chi tiết hóa đến lượng
tiêu thụ và tồn kho của mỗi đơn vị.
Hạn chế của CPFR là ở chỗ dự báo có thể sai do hệ thống ghi nhận hành vi
của một đơn vị trên thị trường nhưng hệ thống nhập dữ liệu phân tích và lập tức dự
báo mang hành vi này gán cho cả thị trường. Ví dụ: một nhà sản xuất và phân phối
xe hơi lớn trên thị trường cài đặt một ứng dụng phần mềm dự đoán nhu cầu để phân
47
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
tích trước khả năng cung ứng của một sản phẩm cụ thể. Không lâu sau, có khách
hàng đã cập nhật một đơn đặt hàng với số lượng sản phẩm lớn bất thường. Tuy
nhiên, chỉ dựa trên đơn hàng đó, hệ thống lập tức phản hồi với dự đoán rằng nhu
cầu thị trường về sản phẩm này tăng vọt. Giả sử công ty cứ máy móc làm theo kết
quả do hệ thống đưa ra, họ sẽ gửi các đơn đặt hàng không chính xác tới các nhà
cung cấp trong dây chuyền cung ứng để đặt mua nguyên vật liệu sản xuất. Công ty
này cuối cùng đã phát hiện ra sai sót, nhưng chỉ sau khi một nhà dự đoán nhu cầu
thị trường gạt bỏ những con số của hệ thống đi và sử dụng các dữ liệu của riêng
công ty đã thu thập.
1.3.2.2. Ví dụ về một mô hình ứng dụng CPFR của Motorola:
1.3.2.2.1. Mô hình CPFR của Motorola:
Như phần lớn các nhà sản xuất điện thoại cầm tay hàng đầu, tập đoàn
Motorola nắm được phân khúc khách hàng rất tốt. Quản lý của doanh nghiệp thiết
bị di động Motorola biết rằng người tiêu dùng công nghệ tri thức sẽ không mua
nhưng máy thu phát cầm tay tương tự như vật trang trí hay vật liên lạc hàng ngày, vì
vậy công ty đưa ra trên 120 kiểu dáng trên toàn cầu. Sự khó khăn đến cùng việc
Motorala phải biết được có bao nhiêu mẫu mã nào cần sản xuất để bán, phải bảo
đảm tồn kho chính xác cho kệ nhà bán lẻ là điểm then chốt, nếu nhà bán lẻ hết loại
sản phẩm đang được ưa thích thì người tiêu dùng sẽ mua hầu như nhiều sản phẩm
của đối thủ hơn điện thoại màu đen flip-top của Motorola. Trong những tình huống
như vậy có một rủi ro thực tế rằng Motorola sẽ đánh mất người tiêu dùng trong lâu
dài chứ không chỉ trong ngắn hạn.
Dự báo chính xác con phức tạp hơn nứa vì một kiểu dáng điện thoại có thể
có nhiều yếu tố phức tạp (GSM, màu sắc, lõi đối xứng, v.v..). Trên hết việc giới
thiệu mau chóng sản phẩm mới sẽ làm tăng thêm những phức tạp: điện thoại di
động có đời sống trung bình ít hơn một năm, vài cái thấp chừng 6 tháng. Số liệu
thống kê công nghiệp chứng tỏ rằng 50% của tình trạng hết hàng tồn kho trong công
nghiệp hàng tiêu dùng là vì sự yếu kém của việc đặt hàng bán lẻ và quy trình bổ
sung tồn kho, dự báo; 25% được gây ra bởi việc lập kế hoạch nhu cầu tổng thể và
việc thiếu nguồn cung; và 25% bởi sự không đầy đủ của quá trình dự trữ như trên
kệ và sự bổ sung tồn kho cấp đầy. Trong khi những số liệu này tương tự đối với
48
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ngành công nghiệp điện thoại di động, mức hết hàng tồn kho cho điện thoại di động
có thể lớn hơn nhiều lần hàng hóa tiêu dùng điển hình. Dự báo chính xác là điểm
quyết định trong ngành công nghiệp này bởi vì chi phí mất đi do việc không có
hàng để bán có thể mang lại tác động tiêu cực đáng kể trong kinh doanh. Khoảng
chừng một nửa của tổng mức hết hàng tồn kho dẫn đến kết quả là mất doanh thu.
Trước khi công ty đi đến kế hoạch cộng tác, dự báo và bổ sung tồn kho (CPFR),
doanh thu của bộ phận thiết bị di động có sự biến thiên cao và không khớp với nhu
cầu khách hàng. Motorola chỉ thấy được việc chuyển hàng vào trung tâm phân phối
của nhà bán lẻ, nhưng lại không chuyển hàng từ trung tâm phân phối của nhà bán lẻ
đến cửa hàng gây ra lỗi dự đoán rất cao dẫn đến kết quả là hết hàng dự trữ quá mức.
Motorola nhận thấy rằng cần cải thiện sự cộng tác của công ty với khách hàng và
khả năng dự báo để cạnh tranh một cách hiệu quả trong thị trường nhạy cảm cao về
giá cả của công ty. Trong năm 2001, bộ phận máy thu phát cầm tay chuyển sang
CPFR để cải thiện thành tích số lượng sản phẩm bán trực tiếp đến nhà bán lẻ của
công ty. Sau khi chứng minh tiềm năng của CPFR trong một tập tài liệu định hướng
cộng tác với một trong những khách hàng bán lẻ điện thoại, Motorola đã tung ra
chương trình chuyên về CPFR vào giữa năm 2001, đi kèm sự thay đổi từ một tổ
chức rộng lớn sang đội ngũ hoạt động tập trung vào khách hàng. Những nhóm này
được thiết lập xoay quanh phần lớn khách hàng như người khai thác nhỏ và những
nhà bán lẻ hàng tiêu dùng điện tử. Mục tiêu là giảm một nửa lỗi dự báo, đạt được
mức 30% lượng giảm hàng tồn kho, cắt kênh tồn kho 50%, và cải thiện việc giao
hẹn đúng hẹn lên 30%. Để đạt được mục tiêu, giám đốc chi nhánh biết rằng họ phải
chia sẻ với nhà bán lẻ dữ liệu về thời hạn của họ và kế hoạch bao gồm dự báo, hàng
tồn kho, sản phẩm bán trực tiếp, xúc tiến, kế hoạch sản phẩm và sự ngoại lệ CPFR
là một mô hình kinh doanh cải thiện độ chính xác bằng cách kết hợp sự thông minh
của nhiều người tham gia thương mại trong việc lập kế hoạch và sự đáp ứng nhu
cầu khách hàng. Bài học có được từ sự khởi đầu vào năm 1995 như một chương
trình định hướng giữa Wal-Mart và Warner Lambert được gọi là CFAR, cho “Sự bổ
sung tồn kho cấp đầy và dự báo cộng tác”. Những lợi ích của CPFR bao gồm cải
thiện phần trăm hàng tồn kho từ 2% ÷ 8% sản phẩm trong cửa hàng, cùng với giảm
lượng hàng tồn kho 10% ÷ 40% cho chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, vẫn còn những khó
khăn, như những khó khăn trong trao đổi thông tin về việc sắp xếp thời hạn, đầu tư
49
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
đáng kể vào việc thiết lập nhân sự và thời gian, bản chất quá trình chuyên sâu của
CPFR, nó thiếu khả năng tăng quy mô, và cần đồng bộ hóa các thay đổi giữa những
người tham gia. Motorola cũng đã nhận thấy rằng chuyển sang CPFR yêu cầu
những thay đổi cơ bản trong cách tương tác của công ty với người tham gia. Công
ty đã cảm thấy rằng việc thực hiện thành công CPFR, có thể liên kết phạm trù quản
lý với việc lập kế hoạch chuỗi cung ứng và sự thực hiện quy trình, dẫn đến tăng sản
phẩm có sẵn trong khi đồng thời cắt giảm sự vận chuyển, logistics và chi phí hàng
tồn kho. Motorola nhận ra rằng những lợi ích của việc đạt được thanh công dựa trên
kết hợp những thay đổi từ cầu trúc tổ chức đến quy trình kinh doanh của cả người
tham gia.
a) Thành phần của kế hoạch cộng tác, dự báo và bổ sung hàng tồn kho:
Một điểm yếu chung của những nỗ lực CPFR là sự quá nhấn mạnh trong việc bổ
sung tồn kho trong khi việc bổ sung tồn kho được tổ chức hợp lý quả thực mới là
mục tiêu, nỗ lực hướng đến lập kế hoạch và dự báo là việc thời gian được dùng hợp
lý. Nhiều dự án CPFR thất bại là vì thiếu sự hỗ trợ quản trị, thiếu sự hợp tác nghiêm
ngặt hoặc bởi vì vấn đề không rõ ràng tại điểm bắt đầu. Dự án dẫn đường thường trì
hoãn vì chúng không thể theo cùng tỷ lệ với nhiều người tham gia thương mại quan
trọng của công ty. Điều đó đặc biệt đến nỗi chúng liên quan đến nhiều thứ và địa
điểm, cấp độ cao của quá trình tự động yêu cầu và nhiều sự quản lý những thứ ngoại
lệ khác. Một phân tích của dự án nhiều năm khám phá được kiến thức quan trọng
nằm trong những nhà quản lý tại Motorola (xem bảng 1). CPFR yêu cầu sự thay đổi
cơ bản không chỉ trong mối quan hệ với nhà bán lẻ, mà còn trong mỗi người tham
gia điều hành công ty. Sự cộng tác này đòi hỏi Motorola phát triển quá trình kinh
doanh mới, thiết kế lại tổ chức của nó và thông qua hệ thống để hỗ trợ thông tin về
thời hạn.
Mọi trường hợp nghiên cứu CPFR mô tả rằng sáng kiến này được điều khiển
bởi các nhà bán lẻ. Tuy nhiên, trong trường hợp này nó là do Motorola khởi xướng
để thông qua CPFR để tham gia vào dòng chảy sản phẩm đến khách hàng bán lẻ.
Những kinh nghiệm quá khứ của sự kết nối thông tin của nhà cung cấp bán lẻ đã
báo cáo những lợi ích khác nhau khi nhà cung ứng làm những bước chuyển dịch
đầu tiên. Sáng kiến dẫn dắt bởi nhà cung ứng thường yêu cầu nhà cung ứng đầu tư
50
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
đáng kể để thiết lập sự kết nối như sự trao đổi dữ liệu điện tử (EDI). Trong trường
hợp của Motorola, bộ phận EDI đã có tại đó. Sáng kiến như vậy cũng giúp cho nhà
cung ứng có động cơ để bắt đầu sự thay đổi văn hóa nội bộ trọng yếu. Ví dụ, nó sẽ
chọn sự cộng tác đúng đắn để đẩy ngược lại khách hàng đặt hàng quá nhiều. Khi
điều này xảy ra đầu tiên ở đơn vị thiết bị cầm tay, khách hàng nghi ngời người quản
lý đã đề nghị cắt giảm có thật sự đã làm việc cho Motorola không? Theo truyền
thống, nhà cung cấp và người mua trong mọi chuỗi cung ứng chuẩn bị không phụ
thuộc vào những dự báo về nhu cầu. Nhà cung cấp có một cái nhìn giới hạn về thị
trường của người mua trong khi người mua thiếu quan niệm toàn diện về phạm trù
hoặc ý tưởng ngầm hiểu của thị trường cũng như của sản phẩm và khả năng lập kế
hoạch. Điều này thường dẫn đến thừa ra hàng tồn kho và mối quan hệ thù địch. Ví
dụ, chuỗi cung ứng thiết bị bán dẫn, nhà cung cấp thường trừng phạt người mua về
việc thổi phồng quá mức dự báo bằng cách trì hoãn giao hàng, trong khi người mua
lại trừng phạt nhà cung cấp với dịch vụ nghèo nàn bằng việc thổi phồng dự báo thái
quá.
b) Điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện CPFR:
Quan trọng là người tham gia có liên kết chiến lược từ sự nhạy bén. Một suy nghĩ
thú vị trong cam kết của Motorola đi đến khái niệm: một nhóm hoạt động kinh
doanh cốt lõi và nhóm hoạt động khách hàng tiêu điểm của nó đã tận dụng cả bộ
thước đo hiệu quả hoạt động của Motorola và khách hàng như hàng tồnkho và
lượng hàng bán trên lượng hàng tồn kho trong mục tiêu của nó và thực hiện kế
hoạch. Cốt yếu phải có sự kết nối chiến lược bên trong Motorola và tổ chức khách
hàng – kết nối quy trình, chiến lược công nghệ và tổ chức với chiến lược cộng tác
kinh doanh. Điều này bao hàm doanh nghiệp đang ủng hộ việc thực hiện CPFR –
trong trường hợp Motorola – phải chọn lọc chiến lược kinh doanh để tập trung vào
việc cộng tác, đầu tiên là quyết định thông tin nào sẽ chia sẻ với khách hàng và sau
đó là chiến lược và đạt được sự đồng ý của khách hàng. Cũng nên có liên kết nội bộ
của quá trình, nhân tố công nghệ và tổ chức, tất cả những thứ hỗ trợ và đồng bộ hóa
với chiến lược kinh doanh cốt lõi. Một cách riêng biệt, những thay đổi về quy trình
và tổ chức nên được làm đồng thời với việc đạt được và thực thi dụng cụ công nghệ
sẽ hỗ trợ hiệu quả hơn cho việc chia sẻ thông tin.
51
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
c) Tổ chức lại chiến lược kinh doanh:
Một cách cơ bản, CPFR đòi hỏi sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh từ quan hệ
giao dịch tiêu biểu với khách hàng đến điều nhấn mạnh là sự cộng tác. Mục tiêu
chung nên được thiết lập và nhà cung cấp và khách hàng nên đạt được sự đồng ý về
thông tin nào sẽ chia sẻ. Bộ phận thiết bị cầm tay của Motorola đã luôn sản xuất
những điện thoại mà khách hàng thật sự mong muốn, và thái độ của việc đó đối với
sự cộng tác đã phản ánh sự thật rằng: “ Thay đổi văn hóa sẽ mất nhiều tháng đối với
mỗi khách hàng”. Văn hóa nhà bán lẻ riêng biệt không đối nghịch với nhà cung ứng
nhưng tập trung vào quá trình và nguyên nhân của việc mất thị phần do giao hàng
kém chất lượng. Motorola đã phải thuyết phục nhà bán lẻ rằng mối quan hệ hợp tác
dài hạn sẽ là quyền lợi tốt nhất bằng cách biểu hiện những cải thiện ngắn hạn. Ví
dụ, sử dụng vị thế kênh hàng tồn kho của khách hàng, Motorola đã làm điện thoại
trước trong trạng thái đề phòng thiếu dự trữ trước khi khách hàng thực sự đặt hàng.
Motorola thường làm khách hàng ngạc nhiên vì việc gọi điện đặt hàng cùng lúc
khách hàng chuẩn bị đặt hàng.
d) Chìa khóa của chuỗi cung ứng của Motorola:
Để giúp hợp lý hóa những quy trình nghiệp vụ cho việc đặt kế hoạch, dự báo, và bổ
sung, công ty đã thiết lập hình thức truyền thông tại những vị trí đặc biệt trong
những quá trình của dây chuyền cung ứng. Những quá trình bao gồm việc xem lại
trong công việc trong hàng tuần (bảng 2). Hàng tuần trong suốt thời gian công tác,
Motorola và những người bán lẻ có những cuộc họp lên kế hoạch xem lại những bổ
sung cho tuần bán hàng (trước và hiện tại), vị trí kiểm kê, và những đơn đặt hàng.
Đồng thời, những người tham gia thiết lập một quá trình mới cho giao tiếp liên tục
giữa tiếp thị và tài chính. Họ thường liên lạc bằng điện thoại trong những trường
hợp cần thiết và cứ mỗi 6 tuần họ sẽ có một cuộc họp hoạt động của họ gồm:
- Tuần 1: Tổng quan những thao tác: xem lại những việc đã hoạt động trong tuần
trước. Mỗi cuộc họp bàn về những vấn đề chiến thuật; những đội xem xét lại cả
những việc đã làm được và chưa làm được trong một vài tuần trước. Phần còn lại
của cuộc họp được tập trung vào những chiến lược liên quan của những sự việc đã
xảy ra và đưa ra dự báo cho những sự liên quan trong tương lai.
52
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Tuần 2: Dự báo: trong thời gian hai tuần của mỗi tháng, những đội sẽ phát triển
những dự báo cộng tác của họ. Trước CPFR, những dự báo của người bán lẻ điện
thoại được làm vào cuối mỗi tuần trong khi Motorola tập hợp những kế hoạch đó
trong hai tuần Motorola thuyết phục người bán lẻ làm kế hoạch theo chu kỳ 2 hay 3
ngày, để loại trừ dự báo của một tuần sẽ thiếu chính xác và kết quả đó có thể dùng
là cơ sở cho việc lên kế hoạch của tháng tiếp theo.
- Tuần 3: Sự cải tiến Quá trình Motorola và người bán lẻ đã khảo sát những vấn đề
được nêu lên trên trong thời gian xem xét lại những hoạt động và tìm ra những đặc
tính của các hoạt động đó. Họ sẽ cũng tính toán thời gian sự kiện và kiểm tra thời
gian để chắc chắn rằng việc tính toán thời gian hợp lý. Họ cùng nhau xem xét lại
hiệu lực của những giả thiết về vạch ranh giới và đánh giá những quá trình ( Ví dụ:
quá trình của ai đang làm là đúng, những quy tắc gì chúng cần phải đi theo sau
trong tương lai). Điều đó cho phép họ lên kế hoạch có hiệu quả hơn và bàn luận
những chính sách bổ sung. Họ cũng đưa cơ hội để xem xét lại những gì đang làm
việc và những gì chưa làm, và bàn luận những cái làm chưa tốt và những cái làm tốt
để những thay đổi không làm tăng thời gian mà được cắt giảm trong quá trình cộng
tác.
- Tuần 4: Những việc liên quan Tài chính: những giám đốc tài chính theo sát đội tài
khoản khách hàng vì thế họ có thể bàn luận những sự liên quan Tài chính của quá
trình CPFR. Điều này đặt biệt có ích nó giúp dễ dàng nhìn ra hiệu ứng CPFR
(những mục tiêu cuối cùng của người tham giá). Motorola là công ty hợp doanh
trách nhiệm hữu hạn lớn cần để dự đoán về những kết quả tài chính bên trong
những ranh giới chính xác. Với CPFR, Motorola tăng hay giảm bớt việc gởi hàng và
giảm việc kiểm kê chúng. Những người tham gia có thể cẩn thận lập kế hoạch
khoản tài chính và từ đó có những sự dự đoán lời và lỗ và các khoản mục bảng cân
đối chính xác hơn.
e) Thay đổi cấu trúc tổ chức:
Công ty xác định lại cấu trúc tổ chức những mối quan hệ cộng tác. Một chìa
khóa di chuyển: công ty thiết lập những đội hoạt động trên nền tài khoản. Những
chức năng riêng biệt trước đó được cung cấp cho những đội hàng bán, bao gồm sự
bảo chữa khách hàng, quản lý những hoạt động doanh nghiệp, tài chính và sự tin
53
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
cậy, tiếp thị khu vực, những hoạt động sản phẩm, đặt giá những chương trình, và kế
toán trưởng tập hợp lại việc phát triển khách hàng vào trong tài khoản khách hàng
của mỗi đội cho người bán lẻ. Đội này có thể trực tiếp bàn luận với người bán lẻ
những hoàn thanh trước thời hạn, những hàng rào thời gian, lịch làm việc, chỉ dẫn
sản phẩm, kế hoạch thúc đẩy và động lực thúc đẩy. Những vai trò riêng lẻ cũng thay
đổi; giờ đây những kỹ năng cộng tác khách hàng được yêu cầu (bảng 3). Trước đây,
bộ phận nhân sự của trung tâm bổ trợ khách hàng cùng lúc xử lý từ hai tới ba khách
hàng tại một thời điểm. Với CPFR, họ cộng tác để trở thành nhà phân tích bổ sung
vào việc quản lý kiểm tra cho khách hàng. Về phần mình, người bán lẻ sát nhập
những chức năng riêng biệt mà trước đây được nhập vào nhóm quản lý hàng cung
cấp, kể cả thu mua, logistics và quản lý hàng tồn kho, tài chính, tiếp thị sản phẩm,
những hoạt động sản phẩm, và những hoạt động bán hàng. Sự thay đổi tổ chức quản
lý hỗ trợ này làm những nhóm người bán lẻ mới trở thanh một đội lập kế hoạch tập
trung cung cấp. Những mối quan hệ cộng tác được làm mạnh thêm bởi vì có thông
tin trực tiếp trên mọi vấn đề giữa tài khoản của đội bán hàng mới của Motorola và
khách hàng mới là nhóm quản lý hàng cung cấp mới.
f) Những hệ hiệu chỉnh thông tin cộng tác:
Từ CPFR yêu cầu chia sẻ lượng thông tin quan trọng để có một hệ thông tin
linh hoạt. Motorola khởi động với một cách tiếp cận đơn giản, chia sẻ thông tin. Khi
những qui trình nghiệp vụ được quản lý để giảm bớt lỗi dự báo trong khoảng sáu
tháng, các đội được chuyển tới một hệ thống cộng tác chuyên dụng được cung cấp
bởi Manugistics, việc dần dần hợp nhất ngôn ngữ gia tăng cho sự hợp nhất trực tiếp
với phần mềm dây chuyền cung ứng. Trong khi CPFR có thể làm việc đơn giản
bảng biểu Excel với việc tự động hóa, Manugistics có thể có lỗi và việc cần nhiều
thời gian để tạo ra và cập nhật thông tin hơn. Hệ thống Manugistics đề xuất cho vài
đặc tính khác: hệ thống được nhập vào những tín hiệu yêu cầu vào trong toàn bộ kế
hoạch Motorola được tự động hóa; sự phản hồi được tự động hóa tới khách hàng
của chuỗi cung ứng Motorola; sự phân tích tự động qua kiểm kê – hay cập nhật
những tín hiệu của những người chịu trách nhiệm lập kế hoạch ; và “quản lý theo
nguyên tắc ngoại lệ” thay vì từng hàng của kỳ kiểm kê. Khi Motorola và người bán
lẻ của nó thay đổi những quá trình của họ, cấu trúc tổ chức và những hệ thống thông
tin để liên kết với mô hình doanh nghiệp cộng tác, giám đốc Motorola nhìn thấy
54
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
mối quan hệ tổ chức bên trong cũng đang thay đổi. Những mối quan hệ giữa những
người tham gia trở nên những động cơ thúc đẩy mạnh để thay đổi những doanh
nghiệp tương ứng của họ. Trước khi sự tiếp nhận của CPFR, truyền đạt thông tin
xảy ra chủ yếu giữa nhân viên bán hàng của Motorola và đại lý mua hàng của nhà
bán lẻ. Nếu có một vấn đề, người đại diện phải đặt lại những vấn đề tới những
người khác bên trong những công ty của riêng mình. Nhưng sau khi khung CPFR
được đặt đúng chỗ, Motorola có khoảng bảy hay tám cá nhân mà biết những bản sao
của họ tại người bán lẻ. Quá trình và sự thay đổi của tổ chức được tạo điều kiện
thuận lợi. Những chuyên gia trong tiếp thị, tài chính, và chuỗi cung ứng trong mỗi
tổ chức trực tiếp liên lạc và có được mối liên hệ tốt.
g) Những lợi ích của Motorola và người bán lẻ:
Sáng kiến CPFR của Motorola đã làm được một sự khác biệt lớn để dự báo
sự chính xác gần như ngay lập tức. MAPE (có nghĩa lỗi phần trăm tuyệt đối) bây
giờ là một phần nhỏ so với trước đây CPFR cho phép những sự giảm nhanh trong
tồn kho tại trung tâm phân phối của người bán lẻ. Tỷ lệ dự trữ ít hơn khoảng 1/3 so
với trước kia. Tuy nhiên, thu nhập từ bán hàng của Motorola không ngay lập tức
tăng bởi vì nó cần thiết để tinh giảm những kênh bán hàng. Motorola giảm bớt
những việc xuất hàng trong khi định cỡ lại những mức tồn kho. Sau khi sáng kiến
CPFR đã được thiết lập, tồn kho mà Motorola dự trữ cho người bán lẻ được giảm
bớt bởi 30% so sánh tới kiểm kê chung cho những nhà bán lẻ khác không sử dụng
CPFR. Sự dự báo và sự bổ sung cộng tác cũng tạo ra một lợi ích thứ hai. Những chi
phí vận chuyển đang được cắt giảm một nửa bởi vì Motorola là không phải vận
chuyển những kiện hàng hằng ngày. Sử dụng những hệ thống CPFR, Motorola có
thể lập kế hoạch sự sản xuất dài hơn, cung cấp, có thể xếp đầy những container và
như vậy cải thiện khả năng sản xuất bởi vì chuỗi cung ứng được tinh giản.
Cùng lúc đó, những kết quả của việc xúc tiến sản phẩm điện thoại di động
được cải thiện bởi vì những đội tiếp thị của những người tham gia liên quan hơn lẫn
nhau hơn.
Những sự kiện tung sản phẩm mới cũng được thực hiện một cách êm ái hơn
nhiều. Trước đây, những sự kiện tung sản phẩm khó dự đoán chính xác liên quan
đến những sản phẩm khác vì thiếu hiểu biết những kế hoạch của những nhà bán lẻ.
55
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Những giải pháp Quản lý kho hàng của Motorola có thể giữ đường dây
chuyền sản phẩm di chuyển từ lúc Motorola nhận được những nguyên liệu cho đến
khi Motorola cung cấp sản phẩm cuối cùng tới những khách hàng. Motorola theo
dõi thông tin là những scanner và những máy tính di động tiên tiến hay công nghệ
(RFID) tần số vô tuyến trước tải với những ứng dụng từ những đối tác hàng đầu. Sử
dụng những mạng cục bộ không dây của đối tác (WLANS), đưa thông tin tới hệ
thống máy chủ để cho phép sự ra quyết định nhanh hơn và có nhiều tin tức hơn.
Cuối cùng, quản lý những thiết bị của đối tác từ xa với nền tảng phần mềm
lưu động của Motorola, cho phép đối tác có được tính rõ ràng vào trong hệ thống
lưu động của Motorola để có thêm quản lý chi phí thấp khi cần cập nhật thông tin,
CPFFR yêu cầu chia sẻ lượng thông tin quan trọng để có một hệ thông tin linh hoạt.
Điều này khiến Motorola khởi động với một cách tiếp cận đơn giản trong việc chia
sẻ thông tin đối với những người quản lý chuỗi cung ứng, họ phải nắm bắt nhanh
chóng kịp thời nhứng thông tin có liên quan đến công việc của mình. Khi được hỏi
về các đơn đặt hàng, hàng tồn kho, sản phẩm nào bán chạy nhất họ phải trả lời được
ngay câu hỏi ấy.
Hiện nay Motorola đang sở hữu một hệ thống thông tin hiện đại để hỗ trợ
cho các tiến trình trong chuỗi cung ứng. Điều này giúp cho Motorola việc dự báo và
bổ sung tồn kho của công ty được thực hiện hoàn hảo hơn, giải quyết đơn đặt hàng
nhanh chóng hơn và góp phần xây dựng mối quan hệ tốt nhất với khách hàng.
CPFR còn mang lại cho Motorola lợi thế cạnh tranh và nhiều cơ hội bán hàng hơn
do công ty có chuỗi cung ứng tích hợp hiệu quả, đội ngũ hoạt động tập trung vào
khách hàng, đưa đến khách hàng nhiều giải pháp cho họ lựa chọn hơn.
h) Nhược điểm:
Chuỗi cung ứng là thật sự hoàn hảo khi công ty biết cách vận dụng nó vào
hoàn cảnh thực tế của mình, CPFR cũng vậy, mặc dù nó mang lại cho Motorola
nhứng hiệu quả đáng kể song trong khi áp dụng nó Motorola cũng tồn tại một số
nhược điểm:
Những cuộc họp hàng tuần nên được quy định chính xác về thời gian, các cá
nhân từ mỗi công ty phải có những vai trò và trách nhiệm cụ thể hơn về quy trình,
linh kiện, nội dung đơn đặt hàng và sự chính xác cao nhất.
56
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.3.2.2.2. Những bài học rút ra từ CPFR của Motorola:
Sự hợp tác là nền tảng: Chìa khóa thực sự để đạt tới một mô hình cung ứng
CPFR thanh công là sự tiến tới kết hợp thành những liên minh văn hóa hơn là
những mối quan hệ nhà cung cấp – khách hàng truyền thống. Những liên minh như
vậy đòi hỏi có mối quan hệ ngang nhau, chung mục tiêu, và sự cai trị thông qua
những điểm tuyền thông hình thức. Những nỗ lực Cộng tác cần phải bắt đầu trước
tiên bằng việc phát triển những đội chức năng bên trong và việc đo lường và sau đó
liên kết chúng tới những tiêu chuyển và đội ngũ có thể so sánh được của những
người tham gia. Liên kết sự thực hiện những biện pháp cần phải tập trung vào
những mục đích chung.
Cả hai người tham gia phải sẵn sàng: Cả những người tham gia phải được tập
trung vào tính rõ ràng dây chuyền cung ứng sâu hơn như dữ liệu trên những hàng
bán tới khách hàng cuối cùng. Sự sẵn sàng tham gia phải được đánh giá để xác định
mô hình doanh nghiệp tích hợp. Một mô hình liên minh được tiêu chuẩn hóa có lẽ
đã không có tác dụng với mọi khách hàng. Không có qui trình nghiệp vụ đơn phù
hợp với tất cả các khách hàng; như vậy, những quá trình cộng tác phải được tùy
biến. Việc đánh giá sự sẵn sàng khách hàng cần phải đánh giá sự quản lý vững
vàng, quyền sở hữu phân phối cấp độ và cổ phiếu hiện thời hay tiềm năng trong
việc kinh doanh của nhà sản xuất cấp cao đi đến mỗi khách hàng.
Việc ra quyết định trên nền thời gian là chìa khóa: Cả hai người tham gia
phải chấp nhận một lịch chung để lập kế hoạch. Ngoài ra, Motorola tiêu chuẩn hóa
những ngày tháng ra quyết định, để bảo đảm rằng cả hai người tham gia giữ thông
tin và những kế hoạch sẵn sàng cho việc ra quyết định cùng lúc. Hiện nay, Motorola
và nhà bán lẻ của nó có thể cùng chung phát triển những kế hoạch rộng lâu dài, và
tiêu chuẩn hóa những dự báo hàng tháng trong vòng 12 tháng sau và những dự báo
tuần trong vòng 13 tuần kế tiếp.
Những mục đích và tiêu chuẩn chung là rất quan trọng: Trong lúc những mục
đích chung được thiết lập như bộ phận của chiến lược kinh doanh, thì điều quan
trọng là cụ thể hóa nhứng mục đích này với những tiêu chuẩn rõ ràng được ấn định
một cách liên tục. Giá trị tùy thuộc vào mắt của người xem, vì vậy những người
57
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
tham gia phải đồng ý trên những độ đo. Để bắt đầu phát triển những độ đo này, để
bắt đầu việc này bắt đầu bằng cách chia sẻ những độ đo bên trong của mình.
Sự hợp tác được tập trung vào xây dựng những mối quan hệ: Sức mạnh của
những mối quan hệ này quyết định sự hợp tác sẽ tiếp tục dài như thế nào và nó sẽ là
thành công như thế nào. Một trong số những yếu tố quyết định giá trị lớn nhất sẽ là
sự phát triển của những mối quan hệ ngang hàng nhau giữa các nhà cung ứng.
Những quy định của tổ chức phải thay đổi: Tổ chức phải thay đổi để thích
hợp với việc tập trung vào khách hàng hơn là tập trung vào sản phẩm. Những đội
ngũ tập trung vào khách hàng và nhà cung cấp giúp phát triển những mối quan hệ
ngang hàng để hình thành cơ sở của tất cả các sự tương tác lẫn nhau giữa các nhà
cung ứng.
Các công cụ kỹ thuật, nếu được sắp thẳng hàng đúng mức, thì cần thiết
nhưng vẫn chưa đủ: Motorola bắt đầu với công cụ Excel đơn giản để chia sẻ thông
tin dự báo. Trong khi cách dùng trong hệ thống Manugistics hiệu quả hơn, điều đó
không cần thiết để bắt đầu tìm lợi nhuận từ mô hình CPFR cho việc chia sẻ thông
tin. Những cải tiến được bắt đầu trong vòng 6 tháng thí điểm trước khi hệ thống
Manugistics bắt đầu hoạt động.
1.3.2.2.3. Kết luận:
Đối với những sáng kiến phức tạp và dài hạn như CPFR, chúng ta nên nhắc
nhở tranh thủ sức mạnh và hỗ trợ quản trị huấn luyện. Những sự đảm đương theo
cách kinh doanh cũ phải được thay đổi. Việc thực hiện quy trình CPFR tốn thời
gian, và nếu nó được làm đúng, nó sẽ cần đến ban quản trị có tinh thần đối với
những thay đổi đáng kể trong vai trò và mối quan hệ của tổ chức. Những giám đốc
doanh thu và tài chính có thể thiếu quyết tâm chịu đựng quá trình CPFR nếu doanh
thu sụt giảm trong khi hàng tồn kho trong kênh phân phối cạn sạch. Sàng kiến phải
được điều khiển bởi một người ủng hộ nhiệt tình hiểu được quy trình và giá trị dài
hạn của CPFR, và người đó phải gắn mình với sáng kiến ít nhất 18 tháng để bắt nó
hoạt động. Nhưng khi hai người tham gia cam kết CPFR của Motorola cung cấp
một ví dụ thuyết phục của cam kết của nhà cung ứng cho ngành công nghiệp và
khách hàng của nó.
58
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.3.2.3. Nhà cung cấp quản lý hàng tồn kho (Vendor Management Inventory -
VMI)
1.3.2.3.1. Định nghĩa VMI: là phương thức để một chuỗi cung ứng hoạt động với
hiệu suất cao hơn, tối ưu hơn trong đó nhà sản xuất chịu trách nhiệm cho việc duy
trì mức tồn kho của nhà phân phối. Nó có thể đạt được bằng cách cho các nhà sản
xuất truy cập dữ liệu hàng tồn kho của nhà phân phối và bằng cách làm cho nhà sản
xuất chịu trách nhiệm tạo ra các đơn đặt hàng.
1.3.2.3.2. Mô hình kinh doanh VMI như sau:
Nhà sản xuất nhận được dữ liệu điện tử (thường là thông qua EDI hoặc internet)
thông báo cho ông về doanh số bán hàng của nhà phân phối và các mức tồn kho.
Nhà sản xuất có thể xem tất cả các mặt hàng thực hiện bởi nhà phân phối và các
điểm dữ liệu bán hàng.
Nhà sản xuất chịu trách nhiệm cho việc tạo ra và duy trì kế hoạch hàng tồn kho.
Nhà sản xuất tạo ra đơn hàng, chứ không phải là nhà phân phối (nhưng điều này
không thay đổi quyền sở hữu). Điều này mang lại nhiều lợi ích cho cả khách hàng
và nhà cung ứng.
1.3.2.3.3. Lợi ích của khách hàng:
Khi các nhà cung cấp thấy rằng khách hàng của mình sắp xả hàng tồn kho của họ,
các nhà cung cấp có thể chuẩn bị tốt hơn để bổ sung thay thế hàng tồn kho mới cho
khách hàng bởi vì các nhà cung cấp có thể quản lý tốt hơn lịch trình sản xuất/ phân
phối riêng của mình. Các khách hàng sẽ giảm/loại bỏ bớt nguy cơ trống kho bởi vì
họ sẽ không phải đặt hàng lại vào phút cuối cùng mà không biết liệu có thể trông
cậy vào nhà cung cấp mà không làm gián đoạn hoạt động của khách hàng. Vì vậy,
một phần mục tiêu của VMI là để giảm bớt sự không chắc chắn phát sinh khi các
nhà cung cấp không nắm rõ tình trạng hàng tồn kho của khách hàng.
1.3.2.3.4. Lợi ích của nhà cung ứng:
Miễn là nhà cung cấp thực hiện nhiệm vụ của mình trong việc duy trì hàng tồn kho
được xác định trước và tránh việc trống kho, nó sẽ có thể kết nối chặt với một khách
hàng được hỗ trợ bởi VMI trong dài hạn dù có hay không có hợp đồng. Điều này sẽ
sản sinh ra một dòng doanh thu ổn định và dự đoán trước được cho nhà cung cấp và
59
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
giảm rủi ro cho khách hàng vì đã chuyển rủi ro này sang cho các nhà cung cấp (sự
chuyển rủi ro này đã sẽ tốn kém cho khách hàng). Một sự sắp xếp VMI sẽ cho phép
các nhà cung cấp sắp sắp xếp lịch trình hoạt động của mình một cách hiệu quả hơn
bởi vì họ theo dõi được hàng tồn kho của khách hàng của mình một cách thường
xuyên. Hơn nữa, sự giảm lượng hàng tồn kho sẽ đạt được một khi nhà cung cấp
hiểu rõ hơn về cách khách hàng sử dụng hàng hóa trong quá trình một năm.
1.3.2.3.5. Ví dụ:
- Ví dụ về sự cộng tác giữa Wal-Mart và P&G làm cho P&G phải gánh vác thêm
trách nhiệm quản lý hàng tồn kho – điều mà các nhà bán lẻ truyền thống thường tự
làm. Wal-Mart đòi hỏi P&G thay mình thực hiện công đoạn này, nhưng hãng cũng
đem lại cho P&G không ít thông tin hữu ích và kịp thời về nhu cầu sản phẩm của
Wal-Mart, giúp cho hoạt động sản xuất của P&G được hiệu quả và hợp lý hơn. Như
vậy, muốn các đối tác trong dây chuyền cung ứng “bắt tay” với mình, nhà phân
phối/sản xuất lớn phải chuẩn bị để thỏa hiệp và giúp đỡ đối tác của mình hoàn thành
các mục tiêu của mình. Nhiều năm qua, có hai công ty đã phối kết hợp chặt chẽ với
nhau trong dây chuyền cung ứng là Wal-Mart và Procter & Gamble. Trước khi hai
công ty này bắt đầu cộng tác vào thập niên 80, các nhà bán lẻ trên thị trường hầu
như rất ít khi chia sẻ thông tin với các nhà sản xuất. Nhưng sau đó, hai “người
khổng lồ” này đã xây dựng một hệ thống phần mềm liên kết giữa P&G với các
trung tâm phân phối của Wal-Mart. Khi sản phẩm của P&G sắp tiêu thụ hết tại
những trung tâm phân phối này, hệ thống sẽ tự động gửi thư nhắc nhở để P&G vận
chuyển thêm sản phẩm. Trong một số trường hợp, hệ thống còn được áp dụng cho
cả các cửa hàng nhượng quyền của Wal-Mart và cho phép P&G giám sát các giá
hàng sản phẩm thông qua tín hiệu vệ tinh ghép nối thời gian thực (real-time satellite
link-ups), sau đó gửi thông báo tới các nhà máy sản xuất mỗi khi danh mục hàng
hóa được máy scan trong hệ thống tự động quét qua. Với kiểu thông tin này, P&G
biết rõ khi nào cần sản xuất, vận chuyển và trưng bày thêm sản phẩm tại các cửa
hàng của Wal-Mart. Từ đó, P&G sẽ không cần phải giữ quá nhiều sản phẩm trong
kho chỉ để chờ đợi điện thoại của Wal-Mart. Việc xuất hoá đơn và thanh toán cũng
được thực hiện tự động. Hệ thống sẽ giúp P&G tiết kiệm đáng kể thời gian, giảm
thiểu hàng tồn kho và giảm các chi phí xử lý đơn đặt hàng, qua đó duy trì vững chắc
60
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
khẩu hiệu mà Wal-Mart treo trước mỗi cửa hàng kinh doanh “Low, everyday
prices” (giá thấp mỗi ngày).
- Ví dụ khác về Tập đoàn Cisco Systems chuyên sản xuất và cung cấp các thiết bị
Internet cũng là một cái tên được biết đến trong việc cộng tác dây chuyền cung ứng.
Cisco có một mạng lưới rộng khắp bao gồm các nhà cung cấp linh kiện thành phần,
các nhà phân phối và nhà sản xuất theo hợp đồng… được liên kết chặt chẽ với nhau
thông qua một mạng riêng của Cisco nhằm thiết lập nên một dây chuyền cung ứng
ảo có tốc độ cao. Ví dụ, khi có lệnh đặt hàng một sản phẩm của Cisco, các thông
báo sẽ tự động được gửi tới các nhà sản xuất phụ theo hợp đồng. Trong khi đó, các
nhà phân phối được báo động để kịp thời cung cấp các linh kiện cần thiết, chẳng
hạn như bộ nguồn điện…. Các nhà sản xuất phụ theo hợp đồng của Cisco sẽ biết
được việc gì cần phải thực hiện, bởi vì họ đăng nhập vào mạng của Cisco và được
liên kết trong hệ thống sản xuất của riêng Cisco. Ngay sau khi các nhà sản xuất phụ
theo hợp đồng tiếp cận với mạng lưới của Cisco, hệ thống mạng này bắt đầu can
thiệp vào dây chuyền sản xuất của các nhà thầu phụ để đảm bảo rằng mọi chi tiết
đều hoàn hảo. Các nhà máy sản xuất nhận thông tin, kiểm tra lại rồi bắt đầu vận
hành theo đúng quy trình chung của mạng lưới Cisco. Một trong những bộ phận
không thể bỏ qua của Cisco đó là phần mềm kiểm tra tự động. Phần mềm này có
chức năng xem xét các quy định được mã hoá, so sánh đối chiếu với đơn đặt hàng
và sau đó khảo sát kỹ lưỡng xem liệu có điều gì bất ổn không. Nếu mọi việc đã đều
ổn thoả, phần mềm của Cisco sau đó sẽ công bố tên khách hàng và thông tin giao
nhận để các nhà thầu phụ có thể vận chuyển hàng hóa tới địa chỉ mà khách hàng yêu
cầu. Như vậy, ngay lập tức khách hàng đã có sản phẩm mà không nhà kho, không
kiểm kê hàng, không hoá đơn hay chứng từ, chỉ là một chương trình phần mềm
giám sát tự động dây chuyền cung ứng của Cisco vào mọi thời điểm, tại mọi nơi và
cùng một lúc. Dây chuyền sẽ tự động vận hành cho đến khi có xuất hiện một khiếm
khuyết nào đó. Trong trường hợp này, hệ thống sẽ báo để bộ phận kỹ thuật hay IT
kiểm tra. Những chuyên gia phần mềm quản lý dây chuyền cung ứng gọi điều này
là “quản lý bằng ngoại lệ” (management by exception) – bạn không cần làm bất cứ
điều gì, trừ khi hệ thống có một lỗi nào đó.
- Nếu có một điểm yếu của hệ thống cộng tác này, thì đó chính là việc nó không
được kiểm nghiệm nhiều lần. Mạng lưới của Cisco được thiết kế để đối phó với sự
61
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
tăng trưởng của hãng. Nhưng Cisco và hệ thống mạng lưới cộng tác của mình đã
gặp nhiều bất ngờ khi đương đầu với sự suy thoái kinh tế trong thời gian gần đây.
Đương nhiên hãng sẽ mất đôi chút thời gian để khắc phục những khó khăn này
trong mạng lưới cộng tác dây chuyền cung ứng này, khi nhu cầu của khách hàng
cho các sản phẩm sụt giảm và Cisco cùng các đối tác trong dây chuyền cung ứng rơi
vào tình trạng dư thừa sản phẩm – tương tự điều xảy ra với các nhà sản xuất sản
phẩm công nghệ cao trong thời kỳ suy thoái. Điều này đã khiến Cisco buộc phải
nhìn nhận lại năng lực hoạch định dây chuyền cung ứng của mình.
62
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Chương 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SRM TẠI TỔNG CÔNG TY DUNG
DỊCH KHOAN VÀ HÓA PHẨM DẦU KHÍ - CTCP
2.1. Giới thiệu Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP
(DMC)
2.1.1.Quá trình thành lập và lĩnh vực kinh doanh:
Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP (DMC) là
đơn vị thành viên của Tập Đoàn Dầu khí Việt Nam được thành lập ngày 8/3/1990,
sau đó chuyển đổi thành Công ty cổ phần từ ngày 28/4/2005.
Sau hơn 20 năm hoạt động và trưởng thành, đến nay Tổng Công ty Dung
dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí - CTCP đã trở thành một trong các doanh nghiệp
có uy tín trong các lĩnh vực dầu khí bao gồm:
Cung cấp hóa chất và dịch vụ dung dịch khoan cho các hoạt động thăm dò, tìm
kiếm tại thềm lục địa Việt Nam và ở nước ngoài.
Nghiên cứu chuyển giao công nghệ, phát triển các nghiên cứu có ứng dụng trong
hoạt động khai thác dầu khí để tăng cường hệ số thu hồi dầu, nâng cao hiệu quả
khai thác dầu khí.
Cung cấp, lắp đặt thiết bị, thực hiện các dịch vụ làm sạch môi trường, xử lý môt
trường: xử lí nước thải của nhà máy lọc dầu và 1 số nhà máy trong ngành dầu khí,
lọc hệ thống nước biển thành nước ngọt, làm sạch tầu dầu...
Cung cấp hóa chất làm nguyên liệu, phụ gia cho các nhà máy sản xuất trong ngành
dầu khí và các ngành.
Phân phối các sản phẩm lọc – hóa dầu: xăng dầu, polypropylene, đạm Phú Mỹ,…
Kinh doanh tổng kho hóa chất, pha trộn hóa chất phục vụ cho ngành Dầu khí,...
Cung cấp logistics trong hoạt động cung ứng hóa chất.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động:
Tổng Công ty DMC tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần tuân
thủ theo các quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều lệ tổ chức và hoạt động
của Tổng Công ty DMC. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty DMC như sau:
63
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hình 4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty DMC
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
VĂN PHÒNG
BAN KINH DOANH
BAN KHOÁNG SẢN
BAN TỔ CHỨC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
BAN KẾ HOẠCH
BAN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
BAN KỸ THUẬT VÀ AN TOÀN MÔI
BAN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG CƠ BẢN
T R
-
S T V
-
M C H
.
C M D
I Ộ N À H
M A N T Ệ I V I
O À L I Ạ T
P T I Ạ T
I Ạ T C M D H N Á H N I
N A O H K G N Ế I
C M D H N Á H N I H C
H C
M A N N Ề I M C M D Í
G
C M D N Ệ I D I Ạ Đ P V
C M D M Â T G N U R T
G N U R T N Ề I M C M D Í
H K
C Ắ B N Ề I M C M D Í H K
.
M N A O H K
H K
H C Ị D G N U D H H N T Y T C
Ụ V H C Ị D À V N A O H K H C Ị D
G N U D V T 1 H H N T Y T G N Ô C
H H N T Y T G N Ô C
U Ầ D M Ẩ H P A Ó H P C Y T G N Ô C
U Ầ D M Ẩ H P A Ó H P C Y T G N Ô C
U Ầ D M Ẩ H P A Ó H P C Y T G N Ô C
Các Chi nhánh của DMC
Các đơn vị thành viên của DMC
Hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất đối với
toàn bộ hoạt động của công ty, hội đồng cổ đông điều hành hoạt động của công ty
thông qua các kỳ họp đại hội đồng cổ đông và tuân theo Luật doanh nghiệp 2005
của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam và ủy quyền cho Hội đồng quản trị thay
mặt Hội đồng cổ đông điều hành các công việc hàng ngày thuộc thẩm quyền của
Hội đồng cổ đông.
64
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hội đồng quản trị: là cơ quan quyền lực cao nhất được Đại hội đồng cổ đông
của Tổng Công ty DMC bầu chọn qua các kỳ họp Đại hội cổ đông hàng năm với
mục đích thay mặt Hội đồng cổ đông điều hành, giám sát các hoạt động của công ty.
Ban Kiểm soát: kiểm tra giám sát việc tuân thủ các qui định của pháp luật,
Điều lệ công ty của Ban điều hành công ty.
Ban Tổng Giám đốc: bộ máy điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng ngày của công ty
Các phòng chức năng: gồm 10 Ban (Hình 5: sơ đồ cơ cấu tổ chức Tổng công
ty DMC dưới đây), là bộ máy trực tiếp giúp việc cho Ban lãnh đạo triển khai các
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày.
Tổng Công ty DMC hiện có các công ty thành viên, chi nhánh, trung tâm nghiên
cứu và công ty liên kết có trụ sở đặt tại 3 miền:
• Miền Bắc:
- Công ty CP Hóa phẩm Dầu khí DMC - Miền Bắc
- Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và dịch vụ kỹ thuật (DMC RT)
- Chi nhánh Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí - CTCP tại
Hà Nội (DMC HN)
• Miền Trung: Công ty CP Hóa phẩm Dầu khí DMC - Miền Trung
• Miền Nam:
- Công ty CP Hóa phẩm Dầu khí DMC - Miền Nam.
- Công ty TNHH MTV Dung dịch khoan và dịch vụ giếng khoan DMC - WS.
- Chi nhánh Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí - CTCP tại
TP HCM.
- Công ty TNHH Dung dịch khoan MI Việt Nam.
• Công ty liên doanh, liên kết:
- Công ty CP Công nghiệp Khoáng chất DMC (DMC IM)
2.2. Phân tích tình hình quản lý mối quan hệ nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC:
Đặc điểm:
- Phần lớn các nhà cung ứng tham gia vào chuỗi cung ứng cho thị trường dầu khí
đều là phải là các công ty có tiềm lực mạnh, hoặc có sản phẩm độc quyền với chất
65
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
lượng tốt và giá cả cạnh tranh; các nhà cung ứng mới, năng lực, kinh nghiệm thấp
hầu như ít có khả năng tham gia được vào chuỗi cung ứng này.
- Tổng Công ty DMC được tiếp xúc với thị trường hóa chất và dịch vụ trong ngành
Dầu khí muộn hơn, đội ngũ nhân viên trẻ còn ít kinh nghiệm, và chuyên môn chưa
vững, chưa tạo ra được uy tín của Tổng công ty trong lĩnh vực này. Vì vậy, thâm
nhập và duy trì trong ngành Dầu khí gặp rất nhiều khó khăn: cạnh tranh khốc liệt
các nhà cung ứng cho ngành Dầu khí vì họ thường là những đối thủ có năng lực rất
mạnh.
Trên cơ sở phân tích chiến lược mục tiêu, Tổng Công ty DMC cần nhận thức
được tầm quan trọng của việc đàm phán để nhận được sự hợp tác và hỗ trợ từ phía
các nhà cung ứng. Tổng Công ty DMC đã nghiên cứu và áp dụng công cụ SRM để
nâng cao chất lượng quản lý mối quan hệ nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC
2.2.1. Giới thiệu chung về tình hình cung ứng sản phẩm nguyên vật liệu đầu
vào tại Tổng Công ty DMC:
Ngành Dầu khí là một ngành công nghiệp đặc thù yêu cầu về sản phẩm và
dịch vụ cũng khác biệt so với các ngành khác, yêu cầu về công nghệ phải cập nhật
đổi mới liên tục, giá trị đầu tư ban đầu thường rất lớn, lĩnh vực kinh doanh mang
tính chất rủi ro cao, do vậy cần ưu tiên áp dụng SCM để quản lý các nguồn lực có
hiệu quả nhất, đồng thời quản lý rủi ro tốt hơn. Ngành Dầu khí có yêu cầu nghiêm
ngặt trong việc lựa chọn, mua sắm nguyên vật liệu đầu vào của ngành, vì thế Tổng
Công ty DMC cần phải thực hiện cải tiến hệ thống chuỗi cung ứng thông qua việc
áp dụng hệ thống quản lý SRM.
Phân loại sản phẩm nguyên vật liệu đầu vào của DMC:
- Sản phẩm, dịch vụ hàng hóa thông thường: Định nghĩa là sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ mang tính chất không chuyên biệt hóa (hóa chất cơ bản, dịch vụ thông
thường..) dễ tìm mua trên thị trường.
- Sản phẩm, dịch vụ hàng hóa độc quyền: đối với một số mặt hàng độc quyền thì
nhà cung ứng có khả năng ra giá cho thị trường, khi đó các nhà cung ứng khác phải
có chiến lược cạnh tranh nhờ vào sản phẩm có chất lượng tương tự và cạnh tranh
bằng giá hoặc các giá trị gia tăng khác mà doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng được
hưởng thêm.
66
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Sản phẩm dịch vụ kỹ thuật đặc thù của ngành: là các sản phẩm và dịch vụ cung
ứng cho hoạt động của ngành dầu khí từ khâu thượng nguồn (tìm kiếm, thăm dò,
khai thác dầu khí) cho đến khâu hạ nguồn (phục vụ cho ngành chế biến, lọc - hóa
dầu).
2.2.2. Quy trình cung ứng tại Tổng Công ty DMC:
Quản lý mối quan hệ nhà cung ứng rất phức tạp vì phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khách quan sản phẩm, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, thị trường, chính sách kinh
tế, chế độ chính trị, chính sách tài chính,…Các nhà kinh doanh có tư tưởng tiên tiến
bắt đầu với ý tưởng rằng các doanh nghiệp, người mua và nhà cung cấp biết làm thế
nào để cộng tác. Tuy nhiên vấn đề là một hoặc cả hai bên đều nghĩ rằng họ phải
thống trị các giao dịch diễn ra. Đây lại là một khía cạnh quan trọng của đàm phán.
Mỗi bên đều tin rằng đàm phán là để lợi dụng tốt hơn người khác hoặc làm cải thiện
hoặc lấy lại một cái gì đó đã bị mất. Mô hình đàm phán thằng – thua đã được áp
dụng rất nhiều trong lịch sử mua bán các mối quan hệ. Mô hình thắng – thua đã
không còn phù hợp trong mối quan hệ mua bán đương đại, hiện nay quan hệ mua
bán đã phát triển lên một mức độ khác cao hơn và bắt đầu tập trung vào mô hình
thắng - thắng, hoặc làm thế nào mỗi thực thể có thể cải thiện vị trí của nó thông qua
hợp tác với các đối tác kinh doanh. Quản lý chuỗi cung ứng tiên tiến là làm việc với
một nhóm chọn lọc của các nhà cung ứng để tìm thấy những giá trị ẩn mà đã vượt
quá sự hiểu mối quan hệ mua - bán, để thu được lợi nhuận tốt hơn cho cả hai bên và
xây dựng doanh thu mới với khách hàng mục tiêu. Để quản lý mối quan hệ nhà
cung ứng tốt hơn trước tiên phải hiểu rõ quy trình cung ứng tại Tổng Công ty DMC.
Quy trình quản lý nguồn cung ứng của Tổng Công ty DMC có thể tóm tắt
dạng mô hình đơn giản như sau:
Hình 5 : Quy trình quản lý nguồn cung ứng dạng đơn giản
Danh sách các nhà cung cấp được phê duyệt
Quy trình lựa chọn nhà cung cấp
Tạo quy tắc quản lý nguồn cung ứng
Gán quy tắc quản lý nguồn cung ứng cho bộ phận tổ chức thực hiện
Lựa chọn nhà cung cấp
Tạo hợp đồng mua/đơn đặt
67
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Phương thức cung ứng sản phẩm và dịch vụ được lựa chọn dựa trên tổng giá
trị mua hàng một lần nhiều hay ít, đặc thù sản phẩm và dịch vụ dễ tìm hay độc
quyền, để xây dựng quy trình cung ứng chi tiết, trên cơ sở phân nhóm sản phẩm và
dịch vụ Tổng Công ty DMC đang sử dụng một số lưu đồ quy trình cung ứng như
tóm tắt dưới đây:
2.2.2.1. Quy trình cung ứng sản phẩm qua hình thức chào hàng cạnh tranh, mua
trực tiếp:
Quy trình cung ứng sản phẩm qua hình thức chào hàng cạnh tranh, mua trực
Thông thường trong quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, Doanh nghiệp có rất nhiều giao dịch mua bán nguyên liệu đầu vào, nên cần phải xây dựng một quy trình chuẩn để mua sắm nguyên liệu đầu vào. Đối với một số đơn hàng mua bán sản phẩm và dịch vụ thông thường có giá trị thấp, tổng giá trị đơn hàng thường nhỏ dưới 100 triệu đồng đến vài trăm triệu đồng để tiết kiệm chi phí và thời gian, doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh hoặc mua trực tiếp. tiếp được biểu diễn như sơ đồ dưới đây:
Hình 6: Sơ đồ cung ứng sản phẩm qua hình thức chào hàng cạnh tranh, mua trực tiếp
KẾ HOẠCH MUA HÀNG/PHIẾU ĐỀ NGHỊ MUA
BỘ PHẬN
NHÀ CUNG ỨNG
LỰA CHỌN NHÀ CUNG
-
ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU
Đột xuất
Loại
+
ĐƠN ĐẶT HÀNG
NHU CẦU ĐIỀU CHỈNH
LẬP DANH SÁCH NHÀ CUNG ỨNG PHÊ DUYỆT
ĐÀM PHÁN VÀ LẬP HỢP ĐỒNG
+
ĐÀM PHÁN
+
-
THỰC HIỆN MUA
- Dừng
ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KỲ NHÀ CUNG ỨNG
Loại
KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG, LẬP BIÊN BẢN GIAO NHẬN, VÀO SỔ THEO DÕI, THANH TOÁN
QT 04 DMC HD 01 DMC
LƯU HỒ SƠ 68
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trong trường hợp này, vì sản phẩm/dịch vụ dễ mua nên các nhà cung ứng
thường có xu hướng liên kết với nhau để tạo ra mặt bằng giá chung để ổn định được
thị trường hàng hóa. Đây cũng là chiến lược hiệu quả vì nhờ thế các nhà cung ứng
giảm được việc bị khách hàng ép giảm giá.
Đối với Doanh nghiệp thì chỉ nên đưa vào danh sách nhà cung ứng phê duyệt
một số lượng vừa phải 3 – 5 nhà cung ứng vì những sản phẩm/dịch vụ thuộc nhóm
này thường ít khác biệt về giá và chất lượng, tránh việc hỏi giá số lượng nhà cung
ứng nhiều hơn sẽ gây nhiễu thông tin vì sự “tăng cầu sản phẩm/dịch vụ đó của thị
trường” là không có thực.
2.2.2.2. Quy trình cung ứng sản phẩm qua hình thức đấu thầu/chỉ định thầu:
Đối với quá trình cung ứng sản phẩm và dịch vụ cần đầu tư lớn hoặc bổ sung
vốn lưu động nhiều thì Doanh nghiệp nên tổ chức đấu thầu để lựa chọn được đơn vị
cung ứng có chi phí thấp nhất và trong ngân sách đã được phê duyệt của doanh
nghiệp.
Ngoài ra, có một số sản phẩm và dịch vụ có tính chất đặc thù, Doanh nghiệp
biết chắc rằng chỉ có một hoặc một số ít đơn vị có thể cung cấp được thì nên áp
dụng hình thức chỉ định thầu để đảm bảo mua được sản phẩm và dịch vụ theo đúng
yêu cầu kỹ thuật mong muốn, tránh phát sinh chi phí khi mua hàng lần một nhưng
không có đơn vị cung cấp đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng và ngân sách mua hàng
của Doanh nghiệp.
69
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hình 7: Sơ đồ cung ứng sản phẩm/dịch vụ qua hình thức đấu thầu, chỉ định thầu
KẾ HOẠCH MUA HÀNG/PHIẾU ĐỀ NGHỊ MUA BIỂU MẪU 005-10 DMC
BỘ PHẬN
NHÀ CUNG ỨNG
-
ĐẤU THẦU/CHỈ ĐỊNH THẦU
ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU
Loại
Đột xuất
+
NHU CẦU ĐIỀU CHỈNH HĐ
LẬP DANH SÁCH NHÀ CUNG ỨNG PHÊ DUYỆT
+
ĐÀM PHÁN VÀ LẬP HỢP ĐỒNG (Chuyển bộ phận mua hàng và bộ phận kế toán xem xét ký nháy)
ĐÀM PHÁN SỬA ĐỔI HĐ
+
THỰC HIỆN MUA
-
- Dừng
ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KỲ NHÀ CUNG ỨNG
Loại
KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG, LẬP BIÊN BẢN GIAO NHẬN, VÀO SỔ THEO DÕI, THANH TOÁN
QT 04 DMC HD 01 DMC
LƯU HỒ SƠ
2.2.2.3. Quy trình cung ứng sản phẩm dịch vụ kỹ thuật:
Các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho các hoạt động của ngành Dầu khí rất
khác biệt và phụ thuộc vào nhiều yếu tố địa chất, môi trường xung quanh, cần có
yếu tố con người tham gia vào quá trình sau bán hàng, hoặc chuyên môn nghiệp vụ
của con người có thể coi là một hàng hóa để mua bán. Trong quá trình cung ứng sản
phẩm và dịch vụ kỹ thuật phải có sự tham gia của các kỹ sư dầu khí để tư vấn cho
Khách hàng giải pháp kỹ thuật trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm và dịch vụ.
Đây có thể coi là một loại sản phẩm đặc thù "sản phẩm dịch vụ kỹ thuật”
70
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hình 8: Sơ đồ cung ứng sản phẩm dịch vụ kỹ thuật
KẾ HOẠCH MUA HÀNG/PHIẾU ĐỀ NGHỊ MUA BIỂU MẪU 005-10 DMC
NHÀ CUNG ỨNG
BỘ PHẬN MUA
-
ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU
LỰA CHỌN NHÀ CUNG
Loại
+
-
LAB TEST
BỘ PHẬN KỸ THUẬT
-
Đột xuất
FIELD TEST
+
LẬP DANH SÁCH NHÀ CUNG ỨNG PHÊ DUYỆT
NHU CẦU ĐIỀU CHỈNH HĐ
ĐÀM PHÁN VÀ LẬP HỢP ĐỒNG (Chuyển bộ phận mua hàng và bộ phận kế toán xem xét ký nháy)
-
ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KỲ NHÀ CUNG ỨNG
ĐÀM PHÁN SỬA ĐỔI HĐ
Loại
+
THỰC HIỆN CUNG CẤP SẢN PHẨM/DỊCH VỤ KỸ THUẬT
- Dừng
KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG, LẬP BIÊN BẢN GIAO NHẬN, BẢNG CHẤM CÔNG THỜI GIAN,VÀO SỔ THEO DÕI, THANH TOÁN
QT 04 DMC HD 01 DMC
LƯU HỒ SƠ
2.2.3. Tình hình quản lý mối quan hệ Nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC:
Doanh nghiệp trong dây chuyền cung ứng cần phải đóng vai trò đầu mối, để
hoạch định chiến lược và quản lý tốt mối quan hệ giữa các nhà cung ứng của mình
để tạo cho các nhà cung ứng lòng tin, hỗ trợ lẫn nhau để cung cấp cho thị trường
những sản phẩm và dịch vụ tốt, giá thành hợp lý.
Đối với Tổng Công ty DMC thì việc quản lý mối quan hệ giữa các nhà cung
ứng đang được xử lý rất tốt bởi DMC biết cách phân chia hợp lý thị phần thị trường
71
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
cho các nhà cung ứng, tránh được việc cung cấp chồng chéo giữa các nhà cung ứng
trong khi vẫn đảm bảo lợi ích của các bên. Đây là một trong những nguyên nhân mà
Tổng Công ty DMC luôn được các nhà cung ứng tín nhiệm và tiếp tục lựa chọn làm
đối tác kết hợp kinh doanh. Tổng công ty DMC đã khẳng định được giá trị gia tăng
của mình khi hỗ trợ để các nhà cung ứng đưa ra giải pháp phân phối tối ưu nhất vào
thị trường ngành Dầu khí và thị trường nói chung.
2.2.3.1. Các hình thức phân loại quản lý SRM tại Tổng Công ty DMC:
Với nhiệm vụ giải quyết và sự hiểu biết về mục đích và cơ hội rõ ràng, bước
tiếp theo là cho các công ty tài trợ SRM (thường là một hạt nhân lớn, thương hiệu
công ty) để nhóm mua hàng của mình bằng cách chủng loại tầm quan trọng và phức
tạp. Bước này có chứa các yêu cầu tiềm ẩn cho các công ty để biết tất cả về mua của
nó. Làm thế nào nhiều của những gì đang được mua, từ đó, mà đại lý thu mua, vào
những gì giá, và với kết quả phải là một phần của ante. SRM chỉ có thể bắt đầu khi
công ty hoàn toàn biết mua của mình và đã thực hiện các tiêu chuẩn cần thiết để làm
cho một số các chuyên mục của mua đại diện cho những gì họ nên chứa. Điều đó có
nghĩa là không có thể là một sự hiểu lầm là loại động cơ hoặc máy bơm thuộc, sự
nhầm lẫn về việc liệu một nhà cung cấp cụ thể được cung cấp một cái gì đó trông
giống như một động cơ hoặc máy bơm. Tiêu chuẩn danh pháp phải được thực hiện
và mua một phần của một thể loại cụ thể trong tổng số mua.
Với các yêu cầu này trong tâm trí, tiền công ty với SRM nỗ lực của mình
bằng cách cẩn thận phân nhóm mua hàng vào một số phân đoạn có ý nghĩa để tìm
nguồn cung ứng và giá kế hoạch có thể được gắn cho mỗi nhóm. Một cách tiếp cận
bốn phân khúc được minh họa tại Phụ lục 2. Lưu ý rằng các quy mô khác nhau.
Trên trục dọc của ma trận, di chuyển xếp hạng từ mức chi tiêu khối lượng thấp và
tận dụng mua vào các vị trí cao. Trên trục ngang, biến đổi từ sản phẩm chất lượng
chất lượng thấp đến cao, dịch vụ từ đơn giản đến phức tạp.
72
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Bảng 8: Các hình thức mua hàng
Mức cao Hàng hóa Tác động cao
sẵn sàng là rất quan trọng sẵn có, chất lượng và độ tin cậy rất
đòn bẩy quan trọng để ảnh quan trọng
hưởng đến chi phí thể loại kiến thức là điều cần thiết
chi phí mua hàng cao tương đối chi phí mua cao so với chi phí hành
cho những người hành chính chính
Hàng hóa Mức thấp Vụn vặt
Công nghiệp mới Các sản phẩm trưởng thành
Không có kế hoạch sử dụng ngành công nghiệp
Năng lực của nhà cung ứng có vai các nhà cung cấp được phân biệt
trò quan trọng bởi giá cả và dịch vụ
Chi phí hành chính có liên quan đến chi phí hành chính cao so với
chi phí mua hàng. mua chi phí
Mức thấp Mức cao
Bắt đầu ở phía dưới bên trái của ma trận, với khối lượng thấp và góc phần tư
phức tạp loại thấp gọi là "tỷ lệ và kết thúc", các mục tiêu mua sắm trở thành một cái
gì đó như:
(cid:57) Đảm bảo mức giá tốt nhất và dịch vụ cho khối lượng đấu thầu
(cid:57) Cung cấp cho người dùng khả năng tự phục vụ, giảm thiểu thời gian tiếp xúc
với các nhà cung cấp
(cid:57) Giảm chi phí hành chính thông qua các kỹ thuật tinh giản và e-mua sắm, nơi
thích hợp
Di chuyển đến khu vực khối lượng lớn và tận dụng và vẫn còn phức tạp thấp,
chúng tôi tìm thấy "hàng hóa" góc tọa độ nơi các mục tiêu trở thành:
(cid:57) Tận dụng sức mạnh mua để tìm kiếm sự sắp xếp tốt nhất hợp nhất.
(cid:57) Hợp lý hoá SKUs tiêu chuẩn công nghiệp.
(cid:57) Quản lý hợp đồng chặt chẽ để có được các lợi ích thương lượng.
73
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ở phía dưới bên phải, nơi chúng tôi có độ phức tạp cao và khối lượng thấp,
góc phần tư “đặc biệt” kêu gọi cho mục tiêu này:
(cid:57) Được truy cập đến chi phí và công nghệ thông tin từ nhà cung cấp chính.
(cid:57) Cho phép các nhà cung cấp để cung cấp thêm các tính năng và giá trị dịch vụ
cho khách hàng nội bộ.
(cid:57) Giảm chi phí hành chính thông qua cải thiện các thủ tục trực tuyến RFQ.
Để quản lý các nhà cung ứng Tổng Công ty DMC đã phân loại nhà cung ứng
theo các yếu tố khách hàng, chủng loại sản phẩm cung ứng của DMC chi tiết như
sau:
a. Phân loại theo hình thức mua hàng:
• Mua sắm hàng hóa bằng cách đấu thầu: (chiếm5% - 10% hợp đồng)
Phương thức lựa chọn nhà cung ứng bằng đấu thầu nhằm chọn được nhà
cung ứng có tổng chi phí cung ứng sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất trong
giới hạn ngân sách của chủ đầu tư.
• Chỉ định thầu:
Đây là trường hợp đặc biệt thường áp dụng khi nhà cung ứng sản xuất sản
phẩm độc quyền trên thị trường hoặc có rất ít nhà cung ứng có năng lực cung cấp
sản phẩm và dịch vụ tương tự (có năng lực tài chính, công nghệ hoặc bản quyền trí
tuệ…).
• Ký độc quyền phân phối sản phẩm với các nhà cung ứng: (chiếm 1 - 5%
trong số các nhà cung ứng)
Tổng Công ty DMC đang hướng đến mục tiêu từng bước thỏa thuận, đàm
phán hợp đồng để ký các hợp đồng độc quyền phân phối sản phẩm hàng hóa và dịch
vụ với các nhà cung ứng có tên tuổi, có khả năng hỗ trợ DMC phát triển đội ngũ cán
bộ của mình về cả chất và lượng
Lợi thế:
- Không có đối thủ cạnh tranh quyền phân phối sản phẩm đó trên thị trường
- Chủ động được nguồn hàng, thời gian giao hàng vì luôn được nhà cung ứng ưu
tiên một mức sản lượng nhất định đảm bảo phân phối cho thị trường của công ty
đang cung cấp.
74
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Giá cả luôn cạnh tranh nhất.
Nhược điểm:
- Phải đánh giá được thương hiệu chất lượng sản phẩm của Nhà cung ứng; đánh giá
được giá trị thương mại, đời sống, doanh thu mà dòng sản phẩm của nhà cung ứng
có thể mang lại. Đánh giá cơ hội lợi thế cạnh tranh của sản phẩm của Nhà cung ứng
tại thị trường mục tiêu. Đôi khi sự đánh giá này chỉ mang tính định tính
• Lựa chọn nhà cung ứng bằng cách chào giá cạnh tranh: (chiếm 80%- 90%
hợp đồng)
- Mục đích: lựa chọn ra nhà cung ứng có mức giá hợp lý, chất lượng sản phẩm đạt
yêu cầu sử dụng của Công ty.
- Lợi thế:
+ Lựa chọn được nhà cung ứng với mức giá hợp lý;
+ thờigian mua hàng ngắn
- Nhược điểm:
+ Phải lựa chọn số lượng nhà cung ứng tham gia chào giá hợp lý bởi vì nếu gọi
nhiều nhà cung ứng cùng tham gia chào giá có thể sẽ gây nên hiệu ứng giả về
tăng cầu thị trường của sản phẩm đó.
+ Số lượng nhà cung ứng yêu cầu chào giá đôi khi chưa phải là nhà cung ứng tốt
nhất do số lượng nhà cung ứng đề nghị chào giá chỉ có số lượng hạn chế.
b. Phân loại các nhà cung ứng căn cứ vào định nghĩa mặc định của hệ thống kế toán chung:
- Các nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất;
- Các nhà cung ứng phục vụ cho mục đích thương mại;
- Các nhà cung cấp dịch vụ mua ngoài hoặc thuê: thuê vận tải, thuê gia công phối
trộn hóa chất, dịch vụ logistic giao nhận hàng hóa,..
- Các nhà cung ứng phục vụ duy trì hoạt động của trụ sở công ty: các nhà cung
ứng dịch vụ khách sạn, cung cấp văn phòng phẩm, cung cấp trang thiết bị văn
phòng (bàn ghế, máy tính,…), dịch vụ sửa chữa nhỏ trong tòa nhà văn phòng,..
c. Phân loại theo lĩnh vực hoạt động:
- Các nhà cung ứng trong hoạt động khoan khai thác dầu khí, thượng nguồn;
- Các nhà cung ứng trong hoạt động lọc hóa dầu, hạ nguồn;
75
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Các nhà cung ứng trong hoạt động làm sạch môi trường;
- Các nhà cung ứng khác phục vụ cho hoạt động mua sắm không thường xuyên,
hoặc đặc biệt.
d. Phân loại theo khách hàng:
- Nhà cung ứng cho các nhà máy lọc hóa dầu
- Nhà cung ứng cho các giàn khoan khai thác dầu khí
- Nhà cung ứng cho các nhà máy điện, đạm.
- Nhà cung ứng cho các JV, JOC…
e. Phân loại khác:
- Nhà cung ứng trong ngành và ngoài ngành Dầu khí;
- Nhà cung ứng trong nước và nước ngoài;
- Nhà cung ứng độc quyền và nhà cung ứng không độc quyền.
2.2.3.2. Các phương thức quản lý SRM tại Tổng Công ty DMC:
Quản lý SRM không đơn giản, nó còn phụ thuộc vào các yếu tố sản phẩm,
khách hàng, đối thủ cạnh tranh, thị trường, chính sách kinh tế, chế độ chính trị,
chính sách tài chính,…song có thể tóm tắt các nét chính như sau:
- Trên thị trường nếu sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mang tính chất không chuyên
biệt hóa, không phải sản phẩm độc quyền thì các nhà cung ứng thường có xu hướng
liên kết với nhau để tạo ra mặt bằng giá chung để ổn định được thị trường hàng hóa.
- Ngược lại, đối với một số mặt hàng độc quyền thì nhà cung ứng có khả năng ra giá
cho thị trường, khi đó các nhà cung ứng khác phải có chiến lược cạnh tranh nhờ vào
sản phẩm có chất lượng tương tự và cạnh tranh bằng giá hoặc các giá trị gia tăng
khác mà doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng được hưởng thêm.
Doanh nghiệp trong dây chuyền cung ứng cần phải đóng vai trò đầu mối, để
hoạch định chiến lược và quản lý tốt mối quan hệ giữa các nhà cung ứng của mình
để tạo cho các nhà cung ứng lòng tin, hỗ trợ lẫn nhau để cung cấp cho thị trường
những sản phẩm và dịch vụ tốt, giá thành hợp lý.
Đối với Tổng Công ty DMC thì việc quản lý mối quan hệ nhà cung ứng đang
được xử lý rất tốt bởi DMC biết cách phân chia hợp lý thị phần thị trường tương
ứng với mỗi nhà cung ứng, tránh được việc cung cấp chồng chéo giữa các nhà cung
76
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ứng trong khi vẫn đảm bảo lợi ích của các bên. Đây là một trong những nguyên
nhân mà Tổng Công ty DMC luôn được các nhà cung ứng tín nhiệm và tiếp tục lựa
chọn làm đối tác kết hợp kinh doanh. Tổng công ty DMC đã khẳng định được giá trị
gia tăng của mình khi hỗ trợ để các nhà cung ứng đưa ra giải pháp phân phối tối ưu
nhất vào thị trường ngành Dầu khí và thị trường nói chung.
Sự kết hợp giữa Nhà cung cấp và Doanh nghiệp là mối quan hệ qua lại thông
tin hai chiều mang lại lợi ích cho cả hai bên. Đối với nhà cung cấp là có được đối
tác hỗ trợ tư vấn giải pháp để phân phối được hàng hóa và dịch vụ của mình vào thị
trường mục tiêu. Ngược lại, doanh nghiệp nhờ có các thông tin về hàng hóa và dịch
vụ, được sự tư vấn kỹ thuật của nhà cung ứng, hiểu rõ về khách hàng, về thị trường
mục tiêu mà các nhà cung ứng muốn nhắm tới mà doanh nghiệp đề xuất giải pháp
phân phối sản phẩm cho các khách hàng có nhu cầu mua. Vì vậy, Tổng Công ty
DMC đã đặt ra mục tiêu phải quản lý được tất cả các yếu tố về nguồn lực của nhà
cung ứng, yếu tố khả năng thanh toán của khách hàng, kiểm soát chi phí vận tải, chi
phí giao hàng, để đảm bảo các chi phí này không ảnh hưởng quá lớn đến giá thành
sản phẩm, để có thể cung cấp cho khách hàng các sản phẩm và dịch vụ với giá bán
hợp lý nhất.
Mục tiêu công việc:
Bước 1: Xác định thị trường hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp mong muốn vào
phân phối là gì? nhu cầu thị trường là gì?
Bước 2: Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nhà cung ứng tạo ra các quy tắc để quản lý
nhà cung ứng. Trên cơ sở áp dụng các quy tắc quản lý nhà cung ứng doanh nghiệp
sẽ lựa chọn ra được các nhà cung ứng phù hợp nhất cho mỗi dây chuyền cung ứng.
Đây là bước quan trọng và chiếm phần lớn thời gian của doanh nghiệp, nếu xây
dựng được bộ quy tắc quản lý nhà cung ứng chuẩn sẽ giúp doanh nghiệp rút ngắn
thời gian thực hiện giai đoạn lựa chọn các nhà cung ứng đạt chất lượng theo yêu cầu
khách hàng. Như vậy, doanh nghiệp đã giúp giảm chi phí mua hàng bằng việc rút
ngắn thời gian lựa chọn nhà cung ứng cho khách hàng mà khách hàng không cần
phải lo lắng đến chất lượng sản phẩm, hay giá thành sản phẩm.
Bước 3: Đàm phán soạn thảo hợp đồng với các điều kiện thương mại đáp ứng với
yêu cầu của cả nhà cung ứng và khách hàng.
77
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Bước 4: thực hiện hợp đồng, khi giao hàng đến tay khách hàng, hoặc kết thúc quá
trình cung cấp dịch vụ thì vai trò của doanh nghiệp mới chấm dứt.
Dựa vào một số đặc điểm chung của các nhà cung ứng đang lưu trữ trong cơ
sở dữ liệu, Tổng Công ty DMC xây dựng các phương thức quản lý như sau:
a. Quản lý SRM bằng chính sách và pháp luật của nhà nước:
Đây là một trong những công cụ quản lý SRM mà Doanh nghiệp sử dụng
nhiều nhất. Đối với các mặt hàng sản phẩm và dịch vụ được Chính phủ khuyển
khích sản xuất trong nước bằng chính sách cấm hoặc hạn chế nhập khẩu thì các nhà
cung ứng nước ngoài muốn thâm nhập vào thị trường vào Việt Nam phải thông qua
liên kết hoặc hợp tác với một doanh nghiệp trong nước để cung ứng sản phẩm và
dịch vụ.
Ưu điểm: có những sản phẩm Doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ năng lực,
công nghệ, tài chính để sản xuất nhưng thông qua liên kết/hợp tác có thể nâng cao
năng lực, được tiếp thu và chuyển giao công nghệ tiên tiến, có đủ tiềm lực tài chính
để phát triển sản xuất sản phẩm trong nước.
Nhược điểm: việc lựa chọn nhà cung ứng nước ngoài có đủ năng lực, có
công nghệ tiên tiến, tương thích với trình độ và quy mô của Doanh nghiệp Việt
Nam là rất khó.
b. Quản lý SRM bằng quy định, chính sách trong nội bộ ngành:
Quản lý SRM đòi hỏi Doanh nghiệp phải nắm rõ các quy định chính sách của
ngành, tận dụng các ưu tiên mà ngành chỉ dành riêng cho các Doanh nghiệp trong
cùng ngành, cùng lĩnh vực hoạt động.
Ưu điểm: Doanh nghiệp nắm rõ các quy đinh, hướng dẫn ưu đãi trong ngành
sẽ giảm thiểu được rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro về thanh toán, tỷ lệ thành công
của các giao dịch hợp đồng khá cao.
Nhược điểm: Nhà cung ứng trong cùng ngành nhiều khi không phải là nhà
cung ứng tốt nhất với chi phí hợp lý nhất.
78
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
c. Quản lý SRM bằng mối quan hệ của cá nhân:
Doanh nghiệp và Nhà cung ứng là mối quan hệ của hai thành phần trong
cùng một chuỗi cung ứng. Trong đó con người trong doanh nghiệp hoặc đơn vị
cung ứng là những thực thể trực tiếp tạo ra mối quan hệ đó, vì vậy nhiều khi người
ta phải quan tâm đến mối quan hệ của cá nhân tham gia vào mắt xích liên kết giữa
hai thành phần Doanh nghiệp và Nhà cung ứng. Để SRM thành công Doanh nghiệp
cần đánh giá đúng mức tầm quan trọng của mối quan hệ cá nhân trong SRM.
Ưu điểm: độ liên kết giữa doanh nghiệp và Nhà cung ứng chặt hay yếu là do
mối quan hệ cá nhân chi phối sự liên kết hai thành phần này lại với nhau.
Nhược điểm: trong trường hợp mối quan hệ cá nhân không tốt dễ ảnh hưởng
đến công việc giữa hai bên Doanh nghiệp và Nhà cung ứng vì không tạo ra được sự
hỗ trợ tốt nhất của cả hai bên, đôi khi còn cản trở hoạt động của chuỗi cung ứng.
d. Quản lý SRM bằng cách phân nhóm sản phẩm và dịch vụ:
Tùy theo cách thức điều hành bộ phận thương mại theo chiều dọc hay chiều
ngang, theo lĩnh vực cung ứng mà Doanh nghiệp phân nhóm sản phẩm và dịch vụ
tương ứng, sau đó quản lý Nhà cung ứng theo từng nhóm.
Ưu điểm: Phương thức quản lý này thường cho hiệu quả trong trường hợp có
nhu cầu mua sắm đột xuất do dễ dàng tiếp cận thông tin và sử dụng khi cần thiết khi
cần thiết.
Nhược điểm: dễ bị trùng lặp trong quản lý nhà cung ứng do có nhiều đầu mối
làm việc với cùng 1 nhà cung ứng.
e. Quản lý SRM bằng phương thức thanh toán:
Phương pháp này đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham
gia vào hoạt động ký kết thực hiện hợp đồng thương mại.
Phương thức thanh toán áp dụng có thể rất đa dạng: thanh toán trước 100%
tiền hàng trước khi giao hàng; thanh toán bằng mở L/C; thanh toán bằng tín chấp;
thanh toán trả chậm có bảo lãnh của ngân hàng;…
Ưu điểm: tùy theo nhu cầu vốn cho sản xuất mà Nhà cung ứng có thể dễ
dang đàm phán với Doanh nghiệp.
79
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
2.2.3.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu Nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC:
Nhận thức vấn đề cấp bách của việc phải xây dựng được hệ thống cơ sở dữ
liệu các nhà cung ứng để quản lý tốt hơn, Tổng Công ty DMC đã đề ra giải pháp là
quy về một đầu mối quản lý chung là Ban Kinh doanh. Đây sẽ là bộ phận chính phụ
trách nguồn hàng mua vào của Tổng Công ty có chức năng tổng hợp, quản lý cơ sở
dữ liệu các nhà cung ứng và thực hiện việc Quản lý mối quan hệ với nhà cung ứng.
Đến nay, Tổng Công ty DMC đã xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu gồm khoảng
300 nhà cung ứng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Tổng Công
ty.
Hệ thống thông tin cơ sở các nhà cung ứng phải bao gồm các dữ liệu về:
năng lực tài chính, năng lực công nghệ, chất lượng, sản lượng cung cấp cho thị
trường, sản phẩm cung cấp cho thị trường đáp ứng các tiêu chuẩn nào, thông tin về
sản phẩm, các điều kiện thương mại của nhà cung ứng, thời gian đặt hàng, chính
sách bán hàng,… Tất cả các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến việc doanh nghiệp sẽ
ra quyết định phân phối sản phẩm vào thị trường nào, lựa chọn đối tượng khách
hàng mục tiêu với giá nào, điều kiện thương mại khi phân phối ra thị trường như thế
nào, điều kiện hợp đồng cung ứng với mỗi khách hàng như thế nào.
Bước đầu Tổng Công ty DMC đã xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu nhà
cung ứng trên cơ sở phân loại/phân nhóm các chủng loại sản phẩm và dịch vụ tương
ứng.
Một số nhà cung ứng chưa từng có kinh nghiệm cung cấp hóa phẩm và dịch
vụ cho ngành Dầu khí vì thế chưa thực sự tạo ra lợi thế thương hiệu cho sản phẩm
do Tổng Công ty DMC phải có chiến lược marketing để tạo ra thị trường cho các
nhà cung ứng. Đây là một thử thách nhưng cũng là yếu tố để Tổng Công ty DMC
trưởng thành hơn, khẳng định vai trò của mình để các nhà cung ứng tin tưởng hợp
tác lâu dài.
Để phát triển thị trường, Tổng Công ty DMC đã phải vừa học vừa làm vì
chất lượng các nhà cung ứng chưa được tuyển chọn kỹ càng, và hầu hết là lần đầu
tiên hợp tác với một số nhà cung ứng để cung ứng sản phẩm và dịch vụ mới,
marketing sản phẩm cho các đơn vị trong ngành. Chất lượng hàng hóa chưa cạnh
80
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
tranh được với các nhà cung ứng “gạo cội” khác (ví dụ: Petechim, Tổng Công ty
Phân đạm và Hóa chất Dầu khí, Viện Dầu khí, Nalco…)
Đối tác phần lớn là các nhà cung ứng có quy mô sản xuất vừa và nhỏ, gần đây mới
ký kết được thêm với một số nhà cung ứng độc quyền trên thị trường, nâng cao khả
năng và chất lượng phục vụ của Tổng Công ty DMC trong dây chuyền cung ứng
cho ngành Dầu khí.
Tổng công ty DMC đang cung cấp cho thị trường hóa chất với chủng loại
nhiều nhưng nhu cầu đặt hàng từ các khách hàng thường với số lượng nhỏ và vừa
nên ít khi được hưởng ưu đãi. Việc quản lý được tổng nhu cầu các hóa phẩm dầu
khí của toàn Tổng Công ty DMC để đặt hàng với số lượng lớn trở thành khách hàng
lớn, nhà phân phối độc quyền của các nhà cung ứng thì sẽ được hưởng nhiều ưu đãi
từ nhà cung ứng, giảm được chi phí trong khâu mua hàng. 2.2.3.4. Ví dụ: Mô hình một dây chuyền cung ứng sản phẩm của Tổng Công ty DMC: Dây chuyền cung ứng hạt nhựa Polypropylene (PP)
a. Giới thiệu chung về dây chuyền cung ứng sản phẩm hạt nhựa Polypropylene (PP):
Từ tháng 9/2009, Tổng Công ty DMC đã nghiên cứu giải pháp quản lý chuỗi
cung ứng hạt nhựa PP và đến tháng 7/2010 khi Nhà máy lọc dầu Dung quất chính
thức đi vào vận hành chuỗi cung ứng hạt nhựa PP mới được hoàn chỉnh. Trong đó,
Tổng Công ty DMC là một đơn vị có chức năng quản lý chuỗi cung ứng cho Nhà
máy sản xuất hạt nhựa Polypropylene (PP): quản lý các nhà cung ứng nguyên vật
liệu, hóa phẩm dầu khí đầu vào cho nhà máy PP; mua và tổ chức phân phối, cung
cấp dịch vụ logistics từ giao nhận và vận chuyển door-to-door hạt nhựa PP là đầu ra
của nhà máy PP; xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường cho sản phẩm hạt
nhựa từ khi nhà máy mới đi vào hoạt động cho đến nay. Tổng Công ty DMC đã
tham gia vào hầu hết các giai đoạn từ khi còn là dự án xây dựng hệ thống dây
chuyền cung ứng sản phẩm hạt nhựa PP cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Tôi xin
trình bày dây chuyền cung ứng sản phẩm hạt nhựa Polypropylene đã được mô hình
hóa dạng đơn giản như sau:
81
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hình 9: Cấu trúc dây chuyền cung ứng hạt nhựa PP
CÁC NHÀ CUNG ỨNG
Cung ứng 20% hóa phẩm, chất xúc tác
ầ
TỔNG CÔNG TY DMC
Nguyên liệu khí Propylene
Cung ứng 80 – 90% nguyên liệu, hóa chất, chất xúc tác
ầ
LƯU KHO
NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT
NHÀ MÁY PROPYLENE
Tổ chức phân phối hạt nhựa PP
Phân phối 25% sản phẩm hạt nhựa PP
KHÁCH HÀNG SX & TM
Trong đó:
- Nhà cung ứng và nhà phân phối, đồng thời tham gia quản lý chung dây chuyền
cung ứng: Tổng Công ty DMC
- Nhà sản xuất: Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và Nhà máy sản xuất Polypropylene.
Dây chuyền cung ứng hạt nhựa PP thực hiện như sau:
Tổng Công ty DMC là đầu mối lựa chọn các nhà cung ứng cung cấp hóa
phẩm, nguyên liệu cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất bao gồm: tìm kiếm, lựa chọn,
đàm phán và ký kết các hợp đồng mua hóa phẩm, nguyên liệu đáp ứng các yêu cầu
của Nhà máy. Trên cơ sở đó ký kết với Nhà máy các hợp đồng bán lại các sản phẩm
đó. Trong toàn bộ dây chuyền cung ứng này, giai đoạn lựa chọn các nhà cung ứng
82
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
có vai trò quyết định nhất vì nếu không thực hiện được giai đoạn này thì dây chuyền
cung ứng cũng không thể bắt đầu.
Sau khi Nhà máy lọc dầu tách lọc dầu thô tách ra sản phẩm khí Propylene.
Khí Propylene này được đưa thẳng sang Nhà máy hóa dầu Polypropylene (nhà máy
PP) trở thành nguyên liệu đầu vào của nhà máy. Sản phẩm đầu ra của Nhà máy PP
là hạt nhựa Polypropylene (hạt nhựa PP) và lúc này Tổng Công ty DMC lại tham
gia vào giai đoạn tổ chức xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hạt nhựa PP của Nhà
máy PP và phân phối sản phẩm ra thị trường Việt Nam. Để sản phẩm đến tay khách
hàng và người sử dụng cuối cùng còn phải qua một giai đoạn nữa đó là lưu kho
và/hoặc tổ chức vận chuyển sản phẩm.
Trong dây chuyền cung ứng hạt nhựa PP, Tổng Công ty DMC có thể coi như
một trong các đầu mối tham gia quản lý dây chuyền cung ứng: từ lựa chọn các nhà
cung ứng hóa phẩm, nguyên liệu cho Nhà máy lọc dầu Dung quất và Nhà máy PP,
cho đến bao tiêu phân phối sản phẩm đầu ra hạt nhựa PP đến tận tay khách hàng là
nhà sản xuất trực tiếp hoặc công ty thương mại để tiêu thụ sản phẩm hạt nhựa PP.
b. Ưu điểm:
Nhờ có sự hỗ trợ của Tổng công ty DMC, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và
Nhà máy PP sẽ không phải quan tâm đến việc lựa chọn nhà cung ứng, đàm phán ký
kết hợp đồng, theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng của các nhà cung ứng, chỉ cần tập
trung vào quản lý hoạt động sản xuất của Nhà máy.
Tổng Công ty DMC đã giúp dây chuyền cung ứng hoạt động thông suốt tại
các khâu mà công ty tham gia: từ việc lựa chọn nhà cung ứng ký kết hợp đồng mua
hàng về, tổ chức giao hàng cho nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy PP; tổ chức
tồn chứa sản phẩm hạt nhựa PP tránh lưu kho nhà máy PP ảnh hưởng đến sản xuất
của Nhà máy; tổ chức marketing, phân phối sản phẩm hạt nhựa PP vào thị trường
Việt Nam có hiệu quả.
c. Nhược điểm:
Quản lý cơ sở dữ liệu nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC đang gặp phải
một số vấn đề sau:
83
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Gia nhập thị trường cung ứng hóa chất và dịch cho các khách hàng “khó tính”
trong ngành (Liên doanh Vietsovpetro, PVEP Đại Hùng, Cửu Long JOC,..) gặp
nhiều rào cản do: chất lượng của các nhà cung ứng chưa đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng, lực lượng cán bộ còn trẻ, chuyên môn kinh nghiệm chưa đủ vững vàng
để làm việc độc lập.
- Thiếu sự chia sẻ thông tin giữa các mắt xích của chuỗi cung ứng nên sẽ gây khó
khăn khi phối hợp giữa các mắt xích với nhau.
- Vai trò quản lý của các thành phần trong chuỗi cung ứng vẫn chưa thể hiện rõ ràng
nên chưa thực sự mang lại hiệu quả mong muốn.
Nguồn nhân lực chuyên môn còn yếu nên chưa thể đáp ứng được với tốc độ
vận hành của công cụ SRM, hoặc chưa đủ năng lực và kinh nghiệm để tổ chức tích
hợp các giải pháp của hệ thống quản lý chuỗi cung ứng.
d. Kết luận:
Điểm mạnh:
- Giảm được đáng kể chi phí logistics cho tất cả các thành phần trên toàn chuỗi
cung ứng do nắm được kế hoạch xuất bán của Nhà máy PP và kế hoạch nhập hàng
của Khách hàng nên giảm được chi phí tồn kho, chi phí giao hàng nhờ tăng cường
giao hàng door-to-door.
- Giảm được chi phí quản lý SCM do áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình
quản lý nên các thanh phần trong chuỗi cung ứng đều dễ dàng chia sẻ thông tin qua
các phương tiện điện tử.
Điểm yếu:
- Dự báo thị trường là mắt xích yếu nhất trong chuỗi cung ứng do các yếu tố khách quan tác động vào hành vi của thị trường không có tính chu kỳ nên khó dự đoán xu hướng thay đổi của thị trường.
- Phân phối hạt nhựa PP có tính rủi ro cao do giá hạt nhựa PP rất nhạy cảm với bất kỳ sự thay đổi nào của các yếu tố khách quan: tỷ giá ngoại tệ (USD), thị trường Châu Âu và Trung Quốc,..
84
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 2.2.3.5. Kết luận chung về công tác quản lý mối quan hệ nhà cung ứng tại Tổng Công ty DMC:
a. Điểm mạnh:
- Tổng Công ty DMC đã mở rộng được mạng lưới các nhà cung ứng để đa dạng
hóa sản phẩm/dịch vụ, giảm sự độc quyền của nhà cung ứng, nên giảm giá thu mua
sản phẩm và dịch vụ mà chất lượng sản phẩm và dịch vụ giữ nguyên.
- Tổng Công ty DMC giao hàng theo hình thức giao hàng door to door, cắt giảm
được chi phí lưu kho, bốc xếp, thời gian thực hiện đơn hàng.
- Nhờ đưa ra giải pháp SCM tốt nhất cho khách hàng, linh hoạt trong phương thức
cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng nên mang lại sự thỏa mãn cao nhất cho
khách hàng khi được sử dụng dịch vụ do DMC cung cấp.
- Cung cấp cho khách hàng dịch vụ trọn gói, với mức chi phí được tối thiểu hóa,
giảm chi phí tồn kho, phân phối sản phẩm/dịch vụ trong thời gian ngắn nhất có thể.
- Tổng Công ty DMC đã xây dựng được thương hiệu của DMC là một trong những
doanh nghiệp cung cấp giải pháp SRM tốt nhất cho khách hàng
- Tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực của DMC nhờ giảm được tổng chi phí của chủ
sở hữu.
b. Điểm yếu:
- Tổng Công ty DMC đã có một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu chung về các nhà
cung ứng của toàn Tổng Công ty, tuy nhiên việc lưu trữ dữ liệu vẫn chỉ lưu trữ tản
mát tại từng phòng ban, đơn vị tại mọi bộ phận của Tổng công ty và thu thập từ
nhiều nguồn thông tin khác nhau. Phương thức lưu trữ cơ sở dữ liệu như vậy thực tế
đã khiến cho việc quản lý mối quan hệ với các nhà cung ứng gặp rất nhiều khó
khăn, ví dụ như:
- Không có sự trao đổi thông tin nội bộ dẫn đến nhiều người thuộc cùng một Tổng
Công ty làm việc với cùng một nhà cung ứng, gây ra sự cạnh tranh nội bộ hoặc
khiến nhà cung ứng nghi ngờ không tin tưởng vào sự chuyên nghiệp và khả năng
hợp tác hỗ trợ của doanh nghiệp nên đôi khi làm kéo dài thời gian đàm phán ký kết
hợp đồng với nhà cung ứng.
85
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Ví dụ: Tổng Công ty DMC đang cần tìm một nhà cung ứng thùng phi đựng hóa
chất dầu khí. Tuy nhiên do lần đầu tiên Tổng Công ty DMC cần sử dụng đến mặt
hàng này nên mới bắt đầu tìm hiểu về các nhà cung ứng sản phẩm này trên thị
trường nên sẽ mất thời gian tham khảo, so sánh chất lượng, giá cả, năng lực của nhà
cung ứng rồi mới lựa chọn được một nhà cung ứng để ký kết hợp đồng mua bán
thùng phi đựng hóa chất dầu khí. Cùng thời gian này, một công ty con vủa Tổng
Công ty DMC là Công ty DMC Miền Nam đã sử dụng từ lâu và đang tiếp tục mua
thùng phi đựng hóa chất dầu khí từ nhà cung ứng mà Tổng Công ty DMC vừa ký
kết hợp đồng mua bán. Điều này cho thấy, nếu có sự trao đổi kịp thời các thông tin
giữa nội bộ Tổng Công ty thì Tổng Công ty DMC có thể không cần qua bước tham
khảo, so sánh chất lượng, giá cả, năng lực của nhà cung ứng rồi mới lựa chọn được
một nhà cung ứng để ký kết hợp đồng mua bán vì đây là bước quan trọng nhất
quyết định cho sự thông suốt của dây chuyền cung ứng.
86
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SRM CỦA
TỔNG CÔNG TY DMC.
3.1. Bối cảnh kinh doanh và định hướng về chiến lược phát triển kinh doanh
của Tổng Công ty DMC:
3.1.1. Bối cảnh kinh doanh:
Tổng Công ty DMC là một đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam được Tập đoàn giao nhiệm vụ cung cấp hóa chất và dịch vụ hóa kỹ thuật cho
các đơn vị trong Tập đoàn dầu khí. Từ năm 2009 Tập đoàn Dầu khí đã đưa ra Nghị
quyết 233 về việc sử dụng nội lực trong ngành để phát triển hoạt động kinh doanh.
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tập đoàn dầu khí, Tổng Công ty DMC đã thực hiện
sử dụng gần 90% sản phẩm và dịch vụ mà các đơn vị trong Tập đoàn có khả năng
cung ứng.
Tổng Công ty DMC đã không ngừng phát triển mở rộng quy mô (thành lập
các công ty con/chi nhánh) hoạt động chuyên môn trong một hoặc một số lĩnh vực
cụ thể để nâng cao năng lực chuyên sâu. Trong bối cảnh các nước Châu Âu vừa
thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công, nền kinh tế trong nước chịu ảnh hưởng từ
nền kinh tế của các nước phát triển, do vậy giải pháp trong các năm 2012 - 2013 là
DMC phải cắt giảm các chi phí trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, để sử dụng
các nguồn lực của mình có hiệu quả thì DMC đã sử dụng công cụ SCM vào quản lý.
Bản thân DMC đã thực hiện việc tái cấu trúc tổ chức lại công ty cắt giảm chi phí
phát sinh từ nội tại công ty, bước tiếp theo là DMC giảm chi phí quản lý SCM từ
phía cung ứng nâng chất lượng quản lý từ SCM lên ASCM, công cụ để DMC thực
hiện cắt giảm chi phí cung ứng cho mỗi đơn vị sản phẩm là SRM.
Vì vậy sau đây Tôi chỉ xem xét SRM trong SCM dưới góc độ quản trị và đề
xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng quản lý SRM của DMC, cụ thể:
3.1.2. Chiến lược phát triển kinh doanh của Tổng Công ty DMC 2010 - 2025:
- Mục tiêu trọng tâm đặt ra là Tổng Công ty DMC phải phát triển thị trường cung
cấp hóa chất khai thác cho các hoạt động khai thác, thăm dò và tìm kiếm dầu khí,
phát triển mảng dịch vụ cung cấp và pha chế hóa chất theo yêu cầu khách hàng.
- Tiếp tục đầu tư phát triển 3 căn cứ hóa chất tại 3 miền, có khả năng cung cấp toàn
bộ các dịch vụ: logistics (ví dụ: vận tải, giao nhận, tồn trữ, pha trộn hóa chất…),
87
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
cung cấp dịch vụ dung dịch khoan (gồm: hóa chất, kỹ sư), cung cấp hóa chất cơ
bản, hóa chất chuyên ngành phục vụ cho khoan khai thác dầu khí, công nghiệp lọc -
hóa dầu…
- Đầu tư tài chính, góp vốn thành lập công ty liên doanh liên kết tại nước ngoài để
tìm kiếm các cơ hội hợp tác mới phát triển hoạt động khai khoáng, khoan khai thác
dầu khí, cung cấp hóa chất dịch vụ dung dịch khoan.
- Về nguồn nhân lực, Tổng Công ty DMC hiện có đội ngũ cán bộ công nhân viên
gần 700 người, trong đó 90% cán bộ là có trình độ Đại học hoặc trên Đại học. Tổng
Công ty DMC đang tiếp tục đầu tư đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để bồi dưỡng
thành các cán bộ nguồn phục vụ cho sự phát triển Tổng Công ty DMC trong tương
lai.
3.2. Đề xuất các giải pháp cải tiến SRM:
Tuy nhiên, để quản lý tốt mối quan hệ nhà cung ứng không phải là công việc
đơn giản đòi hỏi nguồn nhân lực sử dụng trong SRM phải được đào tạo chuyên môn
tốt, có ky năng đàm phán sáng tạo, linh hoạt, chủ động xử lý được các tình huống
có thể phát sinh.
Vì thế, Tổng Công ty DMC nên xem xét áp dụng các giải pháp như dưới đây
để Tổng Công ty DMC sẽ tạo lập được lợi thế cạnh tranh trong hoạt động quản lý
SCM không chỉ trong ngành Dầu khí mà còn thể hiện khả năng cạnh tranh cao về
chất lượng và giá cả so với các đơn vị ngoài ngành.
3.2.1. Giải pháp 1:
3.2.1.1. Tại sao nên đưa công nghệ thông tin vào quản lý SRM?
Sử dụng công nghệ để hỗ trợ các mối quan hệ hợp tác: Thông tin trong hợp
tác là tối quan trọng, đặc biệt trong mức độ hợp tác liên kết và hợp tác đồng bộ. Vì
vậy, việc sử dụng các công nghệ trong lĩnh vực truyền thông là tối cần thiết. Các
công nghệ mới giúp cho việc truyền tải, chia sẻ thông tin diễn ra một các đơn giản
và chất lượng. Ví dụ: truyền tải dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI),
internet, công nghệ B2B portal. Công nghệ chỉ là điều kiện cần chứ không phải là
điều kiện đủ, để thành công cần phải có cơ cấu tổ chức, các chu trình, cách thức đo
lường hoạt động,..;
88
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Xem xét vấn đề quản trị SRM về góc độ công nghệ thông tin thì một số ưu
điểm điển hình thu được từ SRM đó là giúp Doanh nghiệp định hướng thanh công
các vấn đề sau:
- Hợp tác để giải quyết các vấn đề xung quanh hệ thống thông tin khác nhau và sử
dụng một kiến trúc mở dựa trên mạng Internet để gửi các giao tiếp dữ liệu quan
trọng.
- Một sự thỏa thuận chung trên các công cụ dịch thuật cho phép chia sẻ thông tin
giữa các hệ thống cổng thông tin không đồng nhất và cho phép sử dụng các ứng
dụng trong trường mạng ảo.
- Giao dịch trực tuyến cho khả năng hiển thị thông tin sản phẩm và biểu hiện các
dòng chảy tài chính của một chuỗi cung ứng đầy đủ.
- Cho khả năng cung cấp trực tuyến các công cụ hỗ trợ hợp tác trong việc liên tục
tìm kiếm các cải tiến với các bước thực hiện quá trình xa hơn trên chuỗi cung ứng.
3.2.1.2. Mục tiêu:
Sử dụng công nghệ thông tin vào SRM để cải thiện các chi phí mua sắm
nguyên vật liệu: giảm chi phí tìm kiếm nhà cung ứng, tạo kho lưu trữ dữ liệu gần
như vô hạn, dễ dàng kết nối với nhà cung ứng trong thời gian ngắn.
Các thuật toán và phần mềm sẽ được lựa chọn để cải thiện tính chính xác của
dự báo và lập kế hoạch nhu cầu phù hợp với khả năng cung cấp. Thời gian chu kỳ
cũng sẽ co lại như bước thêm giá trị không được loại bỏ. Trong dòng chảy tài chính,
chương trình sẽ được giới thiệu để tăng tốc độ thanh toán và loại bỏ bất kỳ lỗi nào
và hòa giải. Trong ngắn hạn, kết quả của SRM cho thấy các đội bóng trở lại với một
danh sách giặt ủi phương tiện đáng ngạc nhiên để thêm lợi ích cho cả hai công ty.
Động cơ mua có thể được áp dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mua thấp
hơn
Khi công ty xây dựng mối quan hệ SRM của nó, nó sẽ tìm thấy ở đây là một
số lợi ích phụ trợ. Khi hầu hết các công ty tiến bộ với cải thiện chuỗi cung ứng nội
bộ, họ luôn luôn bắt đầu xem xét mua sắm hệ thống điện tử để đơn giản hóa, kiểm
soát và tự động hoá việc mua hàng hoá và dịch vụ từ nhiều nguồn. Dịch vụ phần
mềm được xem xét và được sử dụng cho nhu cầu tổng hợp, lựa chọn nguồn, và
giảm thời gian giao dịch và chi phí. Chợ và bán đấu giá được sử dụng để tìm thấy
cơ hội tiết kiệm. Cổng thông tin mua được thành lập để chia sẻ yêu cầu để trích dẫn
89
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đấu thầu với các nhà cung cấp được lựa
chọn. Vị trí đặt hàng, theo dõi và thanh toán có thể được xử lý với cổng thông tin
như vậy. Nhiều công ty hiện đang mở rộng các kỹ thuật mạng dựa trên những gì đã
được ban đầu một nỗ lực để giảm chi phí gián tiếp loại mua trực tiếp hơn.
Khi SRM nỗ lực đang được tiến hành với một nhà cung cấp chiến lược, công
ty tài trợ có thể có một bước trở lại và áp dụng các thông tin phát triển trong quá
trình lựa chọn và hành động để giúp những người mua với các cấp có loại mua thấp
hơn từ các nhà cung cấp phân đoạn thấp bằng cách tận dụng các kỹ thuật thương
mại điện tử. Khi công ty nhìn vào "tỷ lệ cược và kết thúc" và "hàng hóa", ví dụ, và
làm thế nào họ có nguồn gốc từ các nhà cung cấp "cơ bản", một cơ chế tự động có
thể làm cho tinh thần tốt. Câu hỏi đặt ra làm thế nào để chúng ta lựa chọn trong số
rất nhiều các tủy chọn có sẵn?
Một câu trả lời nằm ở việc áp dụng một mạng lưới so sánh phần mềm. Điều
đó có nghĩa là công ty liệt kê các nhà cung cấp phần mềm khác nhau được xem xét
và phát triển một mạng lưới cho thấy trọng tâm chiến lược của việc chào bán,
trưởng thành của nhà nước đó cung cấp, các khía cạnh tích cực và tiêu cực của việc
sử dụng cung cấp, và thông tin về bất kỳ cài đặt trong một tương tự ngành công
nghiệp mà có thể có sẵn cho mỗi công ty. Ý tưởng là để có các loại chi tiêu lái xe
lựa chọn công nghệ hỗ trợ và áp dụng chi tiêu / cung cấp phân tích ưu tiên như thế
lựa chọn và áp dụng. nào các công cụ tìm nguồn cung ứng được
Có là một trong những biến chứng. Có động cơ mua rất nhiều và giải pháp phần
mềm đang được cung cấp, nó thường rất khó để phù hợp với phần mềm thích hợp
với thể loại thích hợp. Trong thực tế, cảnh quan đã trở thành gần như rải rác với sự
lựa chọn, và nhiều như chúng tôi muốn cung cấp sự giúp đỡ và tư vấn, nó là hơi
mạo hiểm để liệt kê các điều kiện hiện tại như mua lại và sáp nhập đang thay đổi
cảnh quan. Một danh sách gần đây của các nhà cung cấp chủ yếu, bao gồm cả
những người thực hiện dịch vụ bán đấu giá, bao gồm: Agile, Ariba, Clarus, Thương
mại Một, Siêng năng, Emptoris, FreeMarkets, Healy Hudson, iPlanet,
i2Technologies, MindFlow, MRO phần mềm, Oracle, PeopleSoft, Peregrine
Systems, PurchasePro, SAP, và Verticalnet. Các yêu cầu nguồn cung ứng, hoặc
danh sách ngắn các ứng cử viên được lựa chọn bởi các công ty thu mua được đặt
90
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
trên lưới so sánh và người mua phù hợp với quan điểm của khả năng động cơ để tự
động hóa và cải thiện một số hoặc hẩu hết các nhóm mua.
Trong khi có không có dữ liệu định sẵn để xác định chính xác bao nhiêu của
tổng số mua các công cụ phần mềm đã hấp thụ, ước tính hợp lý nơi e-mua sắm vào
khoảng 15%. Vì vậy, đối với hầu hết các công ty sử dụng kỹ thuật như vậy, nó đã
trở thành một phần quan trọng của quá trình mua. Chẳng hạn điện tử mua
signigicantly đã tiến triển qua việc sử dụng các phiên đấu giá và hiện nay bao gồm
toàn bộ một lĩnh vực điện tử - tìm nguồn cung ứng các công cụ: tiêu tốn nhiều phân
tích và lập kế hoạch, các thư mục tìm nguồn cung ứng, vật liệu trực tiếp tìm nguồn
cung ứng, RFQ quy trình làm việc, hợp tác, sự kiện đấu thầu, đấu thầu phân tích,
đàm phán hợp đồng, thỏa thuận trao đổi kinh doanh và quản lý chất lượng nhà cung
ứng.
Trong ngắn hạn, có một plethora của các dịch vụ và công ty cũng nên phân
loại ra những tùy chọn so với nhu cầu của các chuyên mục mà họ sẽ được áp dụng.
Theo các chuyên gia ở tuần thông tin, các "mục tiêu chính là tìm giải quyết tốt nhất,
đúng sản phẩm, sẵn sàng sản phẩm đầy đủ, và giá cả chấp nhận được." "Các doanh
nghiệp cần, hơn nữa", họ giải thích, "để đánh giá giá không chỉ, mà còn thuộc tính
chẳng hạn như nhà cung cấp đáp ứng, mức độ dịch vụ, lịch sử giao hàng, và đánh
giá sự hài lòng của khách hàng [11, trang 1]. Các tác giả trình bày một phân tích rất
tốt của một số e-mua sắm nhà cung cấp lớn có thể sẽ rất hữu ích như một công ty
xây dựng của nó so sánh lưới. [11, trang 4-6] thông tin tương tự có sẵn thông qua
nghiên cứu AMR trụ sở tại Boston.
Mặc dù phần lớn chiến lược của SRM có thể được thực hiện mà không cần
phần mềm ứng dụng công nghệ tại các điểm ngay trong mô hình kinh doanh cùng
phát triển chỉ cần người kinh doanh có đủ năng lực, kinh nghiệm, có khả năng phân
tích tình hình chính trị xung quanh để tìm ra đối sách chăm sóc đối tác là các nhà
cung cấp - những người có kinh nghiệm lớn nhất sẽ đồng ý thiết lập liên minh và
thỏa hiệp vì lợi ích của liên minh mới là những người thống trị các mối quan hệ,
tuy nhiên công nghệ sẽ tăng cường quá trình thu thập thông tin, nhờ các tiêu chuẩn
thông tin liên lạc, các quy trình kinh doanh thông thường được công nhận bởi tất cả
các bên, một trong những tính năng quan trọng của giải pháp công nghệ thông tin là
91
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
tạo ra khả năng liên kết các phần mềm khác nhau và các ứng dụng trên một doanh
nghiệp mở rộng, nơi mà mỗi thành phần là một chuyên gia về cách tốt nhất để giao
tiếp, đẩy nhanh hợp tác, song cũng không nên áp dụng giải pháp công nghệ quá
sớm.
Hiện nay có ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ứng dụng hệ
thống phần mềm ERP để quản lý. Hệ thống cơ sở dữ liệu từ đầu mua nguyên liệu
đến khi giao đến khách hàng của DMC đang phát triển với tốt độ cao vì vậy để hỗ
trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong tương lai Tổng Công ty DMC nên xem
xét đầu tư hệ thống phần mềm ERP trong triển khai SCM.
3.2.2.3. Lợi ích mà công nghệ thông tin mang lại:
Phát triển được môi trường internet chung cho chuỗi cung ứng thì tất cả các
hình thức thông tin có thể được chia sẻ bằng một cú nhấp chuột, các thành phần của
chuỗi cung ứng chỉ cần bám vào các cơ sở dữ liệu này và chỉ cần chia sẻ cái mình
cần không quan trọng bằng việc các thành phần của chuỗi cung ứng phải cùng nhau
tiến hành thực hiện để xây dựng chuỗi cung ứng tiên tiến nhưng cơ sở dữ liệu này
cũng rất quan trọng có thể giúp cả hai bên liên kết được với nhau được mở ra và
chia sẻ thông qua thiết kế một hệ thống nội mạng tương tác cho mục đích như vậy.
Những suy nghĩ mới nói rằng thái độ này ngăn cản sẽ khiến bạn không nhận thấy
được các giá trị ẩn và tiết kiệm có thể đến từ một mối quan hệ chia sẻ, cởi mở hơn.
Kiến thức thu được bởi bất cứ phương tiện gì đều trở thành một yếu tố quan trọng
của SRM.
Khi Doanh nghiệp áp dụng SRM sẽ gặp một số khó khăn như việc tìm kiếm
phương tiện để thiết lập 1 môi trường xử lý kỷ luật, trung thực, và chiến lược theo
định hướng xung quanh mối quan hệ nhà cung cấp để đảm bảo rằng các nỗ lực
mạng là hài hòa mang lại những điều kiện tối ưu cho tất cả người tham gia. Từ một
người mua, tình trạng này đã vượt quá xa chiến lược tìm nguồn cung ứng, mua sắm
điện tử và kỹ thuật tiên tiến thu mua. Nó liên quan đến việc lựa chọn một nhà cung
cấp, vài chiến lược và làm việc siêng năng với họ để tìm thấy những phương tiện tối
ưu hóa hợp tác cho lợi ích chung. Từ góc độ khác, nó cũng liên quan đến một liên
minh giữa các văn phòng mua trưởng (CPO) và giám đốc thông tin (CIO).Với sự
hợp tác nội bộ này, hai tổ chức của họ tìm kiếm những nhà cung cấp mà họ có thể
92
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
thiết kế, thử nghiệm và áp dụng các hệ thống truyền thông tương tác cần thiết cho
mạng lưới hợp tác.
3.2.2.4.Kết quả mong đợi đạt được khi ứng dụng công nghệ thông tin:
- Đó là có sự trao đổi, cập nhật thông tin với các nhà cung ứng thường xuyên để
nắm được thông tin về tồn kho, giá của hàng hóa và dịch vụ, đánh giá được khả
năng phát triển thị trường của nhà cung ứng cho thị trường tương ứng với mỗi giai
đoạn về nhu cầu thị trường.
3.2.2. Giải pháp 2:
3.2.2.1. Cơ sở đưa ra giải pháp:
Hiện nay, Tổng Công ty DMC mới chỉ cung cấp được cho khoảng 10% cho
tổng nhu cầu hóa chất của thị trường trong ngành Dầu khí đầy tiềm năng phát triển.
Tuy nhiên phải có các dữ liệu khảo sát thị trường thực tế để đưa ra các quyết định
mua hàng: mua gì? mua của ai? mua như thế nào?
3.2.2.2. Nội dung thực hiện:
Tăng ngân sách dành cho hoạt động khảo sát thị trường để tìm thêm các nhà
cung ứng sản phẩm và dịch vụ mấy năm gần đây mới được quan tâm đến, việc phát
triển thị trường mới không lớn.
3.2.2.3. Lợi ích của giải pháp:
- Chủ động thu xếp tài chính của Tổng Công ty DMC khi thường xuyên liên hệ với
khách hàng nắm bắt được kế hoạch nhập hàng, khả năng thanh toán của khách hàng
để lập kế hoạch mua hàng, thu xếp tài chính.
- Quyết định giá phân phối sản phẩm/dịch vụ chính xác hơn, sử dụng hiệu quả
nguồn lực của DMC do các báo cáo phân tích thị trường có chất lượng, dự báo khá
chính xác do nắm được nhiều thông tin để ra quyết định về giá căn cứ vào các báo
cáo thị trường.
- Tổ chức tốt khâu vận chuyển, giao nhận tại hai đầu mua bán hàng hóa, dịch vụ để
kiểm soát được tiến độ giao hàng, từ đó đánh giá được tiến độ thực hiện công việc
của nhà cung ứng.
- Xây dựng được lòng tin với đối tác nhà cung ứng và khách hàng, thiết lập mối
quan hệ tốt để hỗ trợ các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.
93
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Đào tạo được lực lượng cán bộ có năng lực đảm nhận các công việc đòi hỏi sự
sáng tạo, linh hoạt,..
3.2.2.4. Hiệu quả mong đợi:
Quản lý mối quan hệ giữa nhà cung ứng với Tổng Công ty DMC là cần thiết
để đảm bảo tốt nguồn nguyên liệu đầu vào cho chuỗi cung ứng được thông suốt.
3.2.3. Giải pháp 3
3.2.3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp:
Nguồn lực con người luôn là nhân tố quyết định sự thanh bại của bất kỳ
doanh nghiệp nào vì con người chính là yếu tố quan trọng nhất tạo ra giá trị gia tăng
cho sản phẩm và dịch vụ, là nhân tố giúp cho chuỗi cung ứng hoạt động tốt. Tổng
Công ty DMC nên xem xét đến đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực để đào tạo
nguồn nhân lực vừa giỏi chuyên môn vừa thể hiện tác phong làm việc chuyên
nghiệp.
3.2.3.2. Lợi ích mang lại:
- Tăng năng suất của mỗi lao động do tăng về chất của nguồn nhân lực.
- Thể hiện sự quan tâm của Công ty đối với nhân viên, chính sách nhân viên này sẽ
là yếu tố để nhân viên gắn bó lâu dài với công ty.
3.2.3.3. Biện pháp thực hiện:
Cử nhân viên đi đào tạo nước ngoài theo các kế hoạch ngắn hoặc dài hạn phù
hợp với chiến lược phát triển con người của Tổng Công ty DMC.
Tạo điều kiện cho các nhân viên có năng lực muốn trau dồi kỹ năng của
mình theo nguyện vọng của họ.
3.2.3.4. Hiệu quả mong đợi:
Thu hút được ngày càng nhiều nguồn nhân lực có chất lượng trình độ Đại
học/trên Đại học thi tuyển vào công ty.
Giữ chân được các nhân viên có năng lực và kinh nghiệm làm việc lâu dài
với công ty.
94
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KẾT LUẬN
Thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, trong khi nguồn lực của mỗi
doanh nghiệp là hữu hạn, để tồn tại và phát triển Doanh nghiệp phải tìm được
hướng đi mới cho mình thông qua việc cải tiến công nghệ, chất lượng sản phẩm.
Tuy nhiên yếu tố tiềm năng mà mỗi doanh nghiệp cần khai thác đó là cải tiến các
quy trình quản lý chuỗi cung ứng sản phẩm/dịch vụ để cung cấp cho thị trường
những sản phẩm có chất lượng ngày một tốt hơn tốn ít chi phí nhất.
Tổng Công ty DMC đã và đang áp dụng các giải pháp quản lý SCM và từng
bước cải tiến nâng cao chất lượng quản lý lên cấp độ mới cấp độ quản lý ASCM
thông qua công cụ SRM. Để nâng cao chất lượng của quản lý SRM Tổng Công ty
đã xây dựng bộ giải pháp SRM tốt nhất cho quản lý, tối ưu hóa được các chi phí
mua hàng, chi phí logistics.
Tuy nhiên, để áp dụng SRM không phải là công việc đơn giản đòi hỏi sự linh
hoạt trong phương thức thực hiện, mở rộng mối quan hệ liên tục, lưu trữ và duy trì
mối quan hệ trong dài hạn. Do vậy, nguồn nhân lực phục vụ cho mục tiêu quản lý
SRM phải được đào tạo chuyên môn tốt, có khả năng sáng tạo, linh hoạt, kỹ năng
xử lý được các tình huống có thể phát sinh. SRM cung cấp giải pháp tốt nhất cho
nhà quản lý nên phải có sự linh hoạt trong phương thức mua hàng để tối đa hóa lợi
nhuận và tối thiểu hóa chi phí mang lại hiệu quả tốt nhất cho chuỗi cung ứng khi
Tổng Công ty DMC áp dụng đúng các quy trình mua hàng đã xây dựng được.
Mục tiêu của đề tài nhằm xây dựng cơ sở khoa học và thực tiến phục vụ việc
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý mối quan hệ nhà cung
ứng cho Tổng Công ty DMC trong giai đoạn hiện nay.
Từ mục tiêu trên, nhờ vào những kiến thức nhận được trong khóa học Thạc
sỹ quản trị kinh doanh – Viện đào tạo sau đại học trường ĐHBK Hà Nội, niên khóa
2009 – 2011, đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý mối quan hệ với các nhà cung
ứng của Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP (DMC)”
được nghiên cứu với mong muốn đưa ra mục tiêu và giải pháp nhằm nâng cao năng
lực quản lý từ phía cung ứng cho Tổng Công ty DMC.
Trên cơ sở kết hợp lý luận về những vấn đề cơ bản về quản lý chuỗi cung
ứng sản phẩm tại Tổng Công ty DMC: khái niệm quản lý chuỗi cung ứng, quản lý
95
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
mối quan hệ nhà cung ứng, phân tích quá trình mua hàng, phân tích chi phí mua
hàng và thực tế áp dụng tại Tổng Công ty DMC, luận văn đã thực hiện một số
nhiệm vụ sau:
(cid:57) Phân tích tình hình, thực trạng hệ thống quản lý nhà cung ứng tại Tổng Công ty
DMC.
(cid:57) Rà soát, phân tích năng lực quản lý nhà cung ứng của Tổng Công ty DMC hiện
nay.
(cid:57) So sánh, đánh giá và phân tích nguyên nhân cần nâng cao năng lực quản lý mối
quan hệ nhà cung ứng.
(cid:57) Đưa ra mục tiêu và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Tổng
Công ty DMC trong giai đoạn 2010 – 2025. Trên cơ sở đó đã đề xuất kiến nghị đối
với Tổng Công ty DMC trong quá trình ứng dụng SRM.
Tuy nhiên vì thời gian và trình độ có hạn, luận văn không thể tránh khỏi các
khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các
cá nhân quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn.
Được sự quan tâm giúp đỡ của các bạn bè, đồng nghiệp trong Tổng Công ty
DMC, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, các Thầy Cô giáo khoa Kinh tế,
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đặc biệt là sự chỉ bảo nhiệt tình và khoa học của
Thầy giáo hướng dẫn là TS. Cao Tô Linh, qua quá trình nghiên cứu đề tài luận văn,
Tôi đã nâng cao được nhận thức và hệ thống hóa được nhiều kiến thức quý báu. Tôi
xin chân thanh cảm ơn các Thầy Cô giáo của Khoa Kinh tế, Viện đào tọa sau Đại
học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các đồng nghiệp Tổng Công ty DMC, các
bạn bè, gia đình và thầy giáo TS. Cao Tô Linh đã giúp đỡ Tôi hoàn thanh luận văn
tốt nghiệp./.
96
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Công Bình, (6/2008) Quản lý chuỗi cung ứng, NXB Thống Kê.
2. TS Cao Tô Linh, (2010), Bài Giảng Quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu, ĐH Bách
Khoa Hà Nội.
3. Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP (DMC), (2010),
Chiến lược phát triển công ty đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2025, Tổng Công ty
DMC.
4. Luật đấu thầu của Quốc hội Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 61/2005/QH11 ngày
29/11/2005.
5. Charles C Boirier, An Advanced Supply Chain Management Technique.
6. Gartner Consulting - SRM, “Enterprises Drive Competitive Advantage through
SRM” White paper prepared for People Soft, San Jose, CA, April 16, 2001, pp.1-14
7. DeGraeve, Zeger and Roodhooft, Filip, “A Smarter Way to Buy”, Harvard
Business Review, June 2001, pp. 22 - 23
8. Foust, Brook, Shin, Douglas, and Shehab, Joshua, “Current Offerings vary in
support of supplier relationship management”
9. J.D.Edwards, “Delivering Results for Manufacturers Serving the Retail Sector”,
February 2003
10. “Supplier Relationship Management - A Supply network under control delivers
value”, Business Process Solution, TXT Perform 2008
11. Download từ các website:
www.pvn.vn
www.pvdmc.com.vn
www.vendormanagedinventory.com
http://scm.ncsu.edu
www.informationweek.com

