BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Tuyết Nga

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Tuyết Nga

Chuyên ngành Mã số

: Văn học Việt Nam : 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS. NGUYỄN THÀNH THI

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này người viết đã nhận được sự giúp đỡ chân thành từ

rất nhiều người.

Xin tri ân nhà văn Võ Thị Hảo, người đã tạo ra những đứa con tinh thần đầy

tâm huyết gợi cảm hứng cho tôi thực hiện đề tài, cảm ơn tác giả đã có những lời trao

đổi chân thành, thẳng thắn giúp tôi hiểu sâu hơn về con người và tư tưởng của nhà

văn cũng như làm rõ hơn các giá trị mà nhà văn ký gửi trong tác phẩm.

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Thành Thi, người thầy hướng

dẫn đã bỏ nhiều tâm sức chỉ bảo tận tình, định hướng và giúp đỡ tôi từ những bước đi

đầu tiên cho đến khi hoàn thiện luận văn.

Xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa và Phòng KHCN&SĐH trường Đại học Sư

phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi trang bị những kiến thức cần thiết, làm nền

tảng để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.

Xin cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp cũng như lãnh đạo của trường THPT Phú

Quốc, nơi tôi đang công tác, đã chia sẻ những khó khăn trong công việc để tôi hoàn

thành nhiệm vụ học tập và thực hiện luận văn đúng tiến độ.

Xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã ủng hộ và luôn ở bên tôi

những lúc khó khăn để tôi có đủ niềm tin và nghị lực vượt qua những gian nan trong

quá trình học tập và nghiên cứu.

Xin cảm ơn tất cả những nhà nghiên cứu đi trước đã khai mở những con

đường, để luận văn có dịp góp thêm chút tiếng nói vào cuộc hành trình của khoa học

nghiên cứu những vấn đề về Văn học Việt Nam.

Xin trân trọng tất cả những tấm lòng đã đến bên tôi!

TP. Hồ Chí Minh, Ngày 20 tháng 10 năm 2011

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. 3

MỤC LỤC ................................................................................................... 4

MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu ................................................................ 1

2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................... 2

3. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................ 4

4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 4

5. Đóng góp của luận văn .............................................................................................. 5

6. Cấu trúc của luận văn ................................................................................................ 5

CHƯƠNG 1 : VĂN CHƯƠNG VÕ THỊ HẢO – TỪ QUAN NIỆM ĐẾN SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT ........................................................... 6 1.1. Sự nghiệp văn chương của Võ Thị Hảo ................................................................. 6

1.1.1. Vài nét về tiểu sử ................................................................................................................... 6

1.1.2. Sự nghiệp văn chương ........................................................................................................... 6

1.2.1. Văn chương và sứ mệnh của nhà văn .................................................................................... 8

1.2.2. Quan niệm về con người và “thiên tính nữ” hay là “ý thức nữ quyền” .............................. 11

1.2. Quan niệm nghệ thuật của Võ Thị Hảo .................................................................. 8

1.3. Võ Thị Hảo – chủ thể sáng tạo giàu cá tính ......................................................... 22

CHƯƠNG 2 : CON NGƯỜI VÀ NHỮNG BI KỊCH CÁ NHÂN ....... 24 2.1. Cái nhìn nhiều phía về con người và những nội dung tự sự chủ yếu trong VXNT Võ Thị Hảo .................................................................................................................. 24

2.2.1. Con người bị tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần ............................................................... 25

2.2.2. Con người không thể hòa nhập với cuộc sống đời thường sau cuộc chiến và sự méo mó về mặt nhân cách. ............................................................................................................................... 30

2.2.4. Hình ảnh những người phụ nữ góa bụa, cô đơn – sự ám ảnh khôn nguôi về nỗi đau chiến tranh ............................................................................................................................................... 33

2.2. Con người đối diện với nỗi đau chiến tranh ......................................................... 24

2.3.1. Con người tham vọng .......................................................................................................... 35

2.3.2. Sự tha hóa của con người .................................................................................................... 44

2.3. Con người tham vọng và tha hoá ......................................................................... 35

2.4. Con người bé nhỏ ................................................................................................. 48

2.5. Người phụ nữ cô đơn ............................................................................................ 58

CHƯƠNG 3 : TỰ SỰ ĐẦY MA LỰC VÀ ÁM ẢNH ........................... 67

3.1. Khung cảnh “Liêu Trai” và lối dựng truyện huyền ảo, giàu kịch tính ................. 67

3.2. Một thế giới nghệ thuật được chạm khắc chủ yếu bằng biểu tượng .................... 90

3.3. Những triết luận u trầm, riết róng......................................................................... 97

KẾT LUẬN ............................................................................................. 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 112

MỞ ĐẦU

Từ sau năm 1986, thành tựu của quá trình cải cách xã hội cộng với nhiệt tình đổi mới,

khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật của đội ngũ nhà văn đã tạo đà cho văn

xuôi nghệ thuật bùng nổ thành những cao trào sôi nổi. Trải qua hơn hai thập niên, nhiều cây

bút văn xuôi đã từng bước khẳng định tên tuổi của mình trong lòng độc giả. Thành tựu của

cả giai đoạn văn học này đã được đề cập khá nhiều trong các giáo trình văn học sử cũng như

các chuyên đề phê bình và lý luận. Chúng tôi xét thấy, việc đi sâu đánh giá những đóng góp

riêng của từng tác giả, nhân tố quan trọng làm nên diện mạo văn học của cả thời kỳ, là vô

cùng cần thiết. Chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn thông qua việc nghiên cứu đặc điểm

văn xuôi nghệ thuật của Võ Thị Hảo để thấy được đặc điểm và thành tựu của văn xuôi thời

kỳ đổi mới, đồng thời bổ sung cái nhìn toàn diện hơn cho bức tranh văn học hai mươi năm

trở lại đây.

Võ Thị Hảo xuất hiện trên văn đàn vào những năm cuối của thập niên 80, với những

truyện ngắn phản ánh cuộc sống đời thường, phản ánh số phận của những con người bé nhỏ,

đặc biệt là người phụ nữ. Từ đó trở đi, đề tài này trở thành một dòng mạch khá xuyên suốt

trong sáng tác của chị. Bên cạnh những cây bút cùng khai thác đề tài này, trong đó có không

ít tác giả nữ mới xuất hiện những thập niên gần đây, Võ Thị Hảo đã tạo được dấu ấn riêng

trên những trang viết của mình. Tìm hiểu một cách hệ thống đặc điểm văn xuôi nghệ thuật

Võ Thị Hảo là một cách để lí giải nét riêng biệt và đóng góp của tác giả cho mảng đề tài

này.

Không dừng lại ở mảng truyện ngắn, năm 2003, tiểu thuyết “Giàn thiêu” của Võ Thị

Hảo ra mắt độc giả, góp phần đánh dấu sự trở lại sôi nổi của thể loại tiểu thuyết lịch sử trên

văn đàn. Tác phẩm này tạo được sức hấp dẫn không chỉ bởi cách lí giải các vấn đề lịch sử

mà còn ở cách viết đậm chất huyền tích, kỳ ảo, phiêu diêu của tác giả. Lối văn này không

chỉ có trong mỗi “Giàn thiêu”. Nó xuất hiện trong phần lớn sáng tác của Võ Thị Hảo, trở

thành một thế mạnh riêng của tác giả. Do đó, nghiên cứu toàn diện văn xuôi nghệ thuật của

Võ Thị Hảo sẽ góp phần làm bật lên nét độc đáo của lối viết này, lý giải được sức hấp dẫn

trong những sáng tác của chị đối với độc giả đương thời.

Ngoài ra, con người trong sáng tác của Võ Thị Hảo mang sức sống, hơi thở của thời

đương đại. Người đọc hôm nay có thể tìm thấy những điều gần gũi với bản thân mình khi

đọc các tác phẩm của chị. Nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo là một cách giúp

1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

chúng ta khám phá thế giới hiện thực đang tồn tại xung quanh, để từ đó có thể hiểu rõ hơn

về bản thân và thời đại. Đó cũng là một cách trải nghiệm bổ ích trong quá trình hoàn thiện

bản thân của mỗi con người bằng văn học.

Vì những lí do trên người viết chọn đề tài “Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Võ Thị

Hảo” để nghiên cứu trong luận văn của mình.

2. Lịch sử vấn đề

Nhận định về văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo cho đến nay vẫn chưa có một

công trình nghiên cứu nào hoàn chỉnh và đầy đủ. Chủ yếu là những bài phỏng vấn,

giới thiệu tác giả, tác phẩm đăng rải rác trên các báo, tạp chí, một số chuyên luận đề

cập đến một vài tác phẩm hoặc một vài khía cạnh nghệ thuật… Có thể kể đến một vài

nhận định xoay quanh các mặt sau:

2.1. Nhận định về nội dung, cảm hứng trong sáng tác của nhà văn này,

Thụy Khê cho rằng Võ Thị Hảo là thế hệ nhà văn chối bỏ cổ tích, không tin “thần

thoại chiến trường”, “cuộc sống trong văn của chị là một xã hội tan chiến nhưng

không tàn chiến” [43]. Đoàn Cầm Thi đã phát hiện ra nét mới trong tác phẩm viết về

chiến tranh của Võ Thị Hảo là khi đề cập đến sự phá hủy của chiến tranh đối với con

người, đặc biệt là cơ thể người nữ, Võ Thị Hảo thường để cho các nhân vật nữ của

mình diễn đạt trực tiếp nhu cầu nhục thể, thể hiện khát vọng sống một cách mãnh liệt

[73]. Phạm Xuân Nguyên và rất nhiều nhà phê bình khác đều chú ý đến chất nữ tính

đằm sâu trong sáng tác của Võ Thị Hảo; họ cho rằng “chính niềm dự cảm mong

manh về hạnh phúc của nữ giới” khiến sáng tác của các nhà văn nữ đương đại (trong

đó có Võ Thị Hảo) “gợi lên được những cảm xúc về lòng tha thiết sống, tha thiết yêu,

dù quá khứ có nặng nề, dù hiện tại còn đau khổ vẫn mong mỏi cuộc sống ngày mai

tốt đẹp hơn cho người và cho mình” [56], [72].

2.2. Nhân vật và tính khuynh hướng trong sáng tác của Võ Thị Hảo được

đề cập đến nhiều. Trong đó, nhân vật trong sáng tác của chị thường được giới nghiên

cứu chú ý là những người phụ nữ, đặc biệt là “những con người bé mọn” và những

người phụ nữ thành đạt nhưng cô đơn [1], [76]. Một số ý kiến cho rằng Võ Thị Hảo

là một nhà văn nữ quyền khi khảo sát một số hình tượng nữ tiêu biểu trong sáng tác

của chị [6], [19], [77]. Các tác giả thường đi sâu mô tả thân phận của người phụ nữ

qua sáng tác của Võ Thị Hảo và phần lớn đều thừa nhận rằng, người phụ nữ trong

sáng tác của chị phần lớn đều đáng thương và bất hạnh. Ở một khía cạnh khác, Bùi

Việt Thắng đã chỉ ra rằng nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo thường có nét “dị

dạng, khác người nhưng tâm hồn họ thánh thiện, giàu lòng vị tha và đức hy sinh”

[72]. Nhiều người lại tỏ ra lý thú với các nhân vật lịch sử mà Võ Thị Hảo xây dựng

trong tiểu thuyết Giàn thiêu và cho rằng đấy là những sáng tạo độc đáo, thể hiện một

cái nhìn mới của tác giả đối với lịch sử [6], [52], [54], [69], [81].

2.3. Về mặt nghệ thuật, âm hưởng chung trong sáng tác của Võ Thị Hảo

cũng có nhiều ý kiến nhận định đáng lưu ý. Thụy Khê cho rằng “có thể tìm thấy trong

văn phong Võ Thị Hảo cái tàn nhẫn, chất huyền thoại phảng phất cơn mưa Nguyễn

Huy Thiệp, bóng mây Phạm Thị Hoài” [43]. Bùi Việt Thắng nhận xét rằng “truyện

ngắn Võ Thị Hảo dẫn dắt người đọc vào cõi tình yêu vừa “mê cung”, vừa kỳ lạ, với

các tình huống đặc sắc” (…) văn Võ Thị Hảo có cái dập dìu của những “chàng” và

“nàng”, không khí truyện lúc tỏ lúc mờ, câu chuyện được kể lắm khi phiêu diêu”

[72]. Đọc Võ Thị Hảo nhiều ý kiến đều nhận xét văn của chị có nhiều tầng hình

tượng với những lớp ngữ nghĩa khác nhau ẩn mình sau những câu chữ; đó là lối văn

được thổi linh hồn, với những câu văn huyền ảo, mê hoặc, thậm chí ma quái [31],

[36], [43], [49], [62], [73]. Đọc Võ Thị Hảo, người đọc được hòa nhập vào không

gian vừa huyền ảo, vừa kỳ bí, được sống với nội tâm nhân vật qua rất nhiều biến cố,

qua rất nhiều trải nghiệm về cõi đời, về nhân tình thế thái. Một số nhà nghiên cứu khi

đề cập đến các yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại thường nhắc đến nhiều sáng tác

của Võ Thị Hảo như một trong những tác phẩm “liêu trai hiện đại” tiêu biểu nhất. Tác

giả Cao Thị Thu Hoài với luận văn Thạc sỹ “Yếu tố kì ảo trong sáng tác của Võ Thị

Hảo qua tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc

nửa đêm”, bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã đi sâu

nghiên cứu các yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Giàn thiêu và một số truyện ngắn của

Võ Thị Hảo như một chất liệu quan trọng tạo nên sức hấp dẫn trong sáng tác của nhà

văn này [31]. Tác giả luận văn đã phân loại và mô tả các loại nhân vật kì ảo cũng như

các thủ pháp nghệ thuật thể hiện cái kì ảo trong các sáng tác của Võ Thị Hảo. Tuy

nhiên việc khảo sát của tác giả Cao Thị Thu Hoài chỉ dừng lại ở một vài tác phẩm,

chưa bao quát hết các sáng tác của Võ Thị Hảo.

Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên sâu về yếu tố kì ảo, một số nhà phê bình còn

quan tâm đến khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử trong tác phẩm của Võ Thị Hảo,

xem đây như một cách xử lý có hiệu quả các chất liệu lịch sử, một hướng tìm tòi và

đóng góp riêng của tác giả trong khuynh hướng chung của thể loại này [7], [13], [70].

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân đã chỉ ra rằng trong Giàn thiêu, nhà văn Võ Thị Hảo đã

hình dung lịch sử như những giả định, sử dụng các chất liệu có sẵn để dày công hư

cấu, thiết kế lại quá khứ, tạo ra một thế giới của riêng mình. Điều đó cho thấy sự

tiếp cận của Võ Thị Hảo đối với các vấn đề lịch sử là sự tiếp cận với tinh thần

của thời đại mới, tư duy mới và thực sự có đóng góp cho mảng đề tài này.

Chính những ý kiến quý báu trên đã gợi mở những lối đi nhất định để luận

văn tiếp tục khám khá đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo một cách

toàn diện hơn.

3. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật

Võ Thị Hảo.

Phạm vi khảo sát là toàn bộ các sáng tác văn học đã in của Võ Thị Hảo gồm 4

tập truyện ngắn: Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen, Những

truyện không nên đọc lúc nửa đêm và 1 tiểu thuyết: Giàn thiêu.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp loại hình để xem xét và tìm ra những

đặc điểm cơ bản của văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo; sử dụng phương pháp cấu trúc

– hệ thống, luận văn khảo sát toàn bộ các tác phẩm đã in của nhà văn, phân tích một

cách hệ thống các đặc trưng cơ bản về nội dung và phương thức tự sự của các tác

phẩm, để khái quát thành những đặc điểm chính; đồng thời sử dụng thêm phương

pháp so sánh – miêu tả và một số phương pháp bổ trợ để thấy được những nét riêng

và đóng góp của tác giả cho nền văn học Việt Nam đương đại.

5. Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu một cách bao quát, có hệ thống đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Võ

Thị Hảo, khẳng định vị trí và những đóng góp của nhà văn cho nền văn học dân tộc.

6. Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm có 148 trang, ngoài phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (4 trang),

Tài liệu tham khảo (10 trang), Phần nội dung (128 trang) được trình bày thành 3

chương:

Chương 1: Văn chương Võ Thị Hảo – từ quan niệm đến sáng tạo nghệ

thuật (22 trang).

Trong phần này luận văn trình bày khái quát quá trình sáng tác của Võ Thị Hảo

cũng như những quan niệm của nhà văn về văn chương, về sứ mệnh của người cầm

bút và quan niệm nghệ thuật về con người. Đó là những yếu tố chi phối đến việc lựa

chọn nội dung cũng như phương thức tự sự trong các sáng tác của Võ Thị Hảo.

Chương 2: Con người và những bi kịch cá nhân (53 trang).

Phần này luận văn mô tả những nội dung tự sự chủ yếu trong sáng tác của Võ

Thị Hảo tập trung vào các hình tượng con người với những bi kịch cá nhân. Trong đó

nổi bật là con người với nỗi đau chiến tranh, con người tham vọng – tha hóa, con

người bé nhỏ và chân dung những người phụ nữ cô đơn.

Chương 3: Tự sự đầy ma lực và ám ảnh (53 trang).

Ở chương 3, luận văn đi sâu tìm hiểu những phương thức tự sự tạo nên sức hấp

dẫn trong sáng tác của Võ Thị Hảo. Tập trung trong ba vấn đề: lối dựng truyện huyền

ảo, kịch tính; xây dựng hệ thống biểu tượng đầy ám ảnh và chất triết luận qua nghệ

thuật xây dựng chân dung cũng như giọng văn giễu nhại và tâm tình thương cảm xót

xa.

CHƯƠNG 1 : VĂN CHƯƠNG VÕ THỊ HẢO – TỪ QUAN NIỆM ĐẾN SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT

1.1. Sự nghiệp văn chương của Võ Thị Hảo

1.1.1. Vài nét về tiểu sử

Võ Thị Hảo sinh năm 1956 tại Diễn Châu, Nghệ An trong gia đình giàu truyền

thống đấu tranh cách mạng, song thân của chị đều là những đảng viên lão thành của

phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nổi tiếng. Học đại học Văn khoa trường Đại học tổng

hợp Hà Nội, ra trường chị ở lại đất Hà thành lập nghiệp. Từng công tác tại Nhà xuất

bản Văn hóa Dân tộc, có thời gian chị cũng phải làm nhiều việc khác nhau để kiếm

sống.

Võ Thị Hảo vừa viết văn vừa làm báo. Chị là hội viên của Hội nhà văn Việt

Nam với nhiều đóng góp đáng kể cho mảng văn xuôi Việt Nam hai thập niên cuối thế

kỷ XX; và cũng là cộng tác viên uy tín của nhiều tờ báo khác nhau, trong đó chủ yếu

nhất là báo Phụ nữ. Chị từng là trưởng ban đại diện Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí

Minh tại Hà Nội, rồi trưởng ban Thư ký tòa soạn của báo Giáo Dục và Xã Hội. Có

thời gian chị cũng về công tác cho Tạp chí Vì trẻ thơ. Đi nhiều, thấy nhiều, chính

nghề báo đã hỗ trợ cho chị rất lớn trong sáng tác văn chương.

Sau cuộc nhân đỗ vỡ, chị sống cùng hai con tại ngoại thành Hà Nội, rồi xin về

hưu trước tuổi, chuyên tâm vào hoạt động sáng tác. Năm 2005, chị sáng lập công ty

Văn hóa truyền thông Võ Thị, cho in lại phần lớn những tác phẩm của mình. Kinh

doanh được một thời gian, chị giao lại cho người khác quản lý, bắt tay vào việc hoàn

tất những sáng tác mới của mình.

1.1.2. Sự nghiệp văn chương

1.1.2.1. Quá trình sáng tác của Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo có một niềm đam mê sâu sắc đối với văn chương. Từ nhỏ chị đã

thích đọc sách, rồi tập làm thơ từ rất sớm và cũng có suy nghĩ sẽ trở thành nhà thơ.

Nhưng duyên số lại đưa chị đến với nghề báo, để không biết tự bao giờ cái nghiệp

văn chương bén rễ và trở thành một nỗi ám ảnh không dứt đối với chị, cho dù cuộc

sống gia đình riêng nhiều khó khăn vất vả và ngay cả người bạn đời cũng không ủng

hộ chị theo đuổi nó.

Xuất hiện trên văn đàn vào những năm cuối của thập niên 80, truyện ngắn đầu tiên

của Võ Thị Hảo đăng trên báo Phụ nữ thủ đô năm 1989 là truyện “Người gánh nước

thuê”. Câu chuyện kể về số phận của những người nghèo khổ, dị dạng đã nhận được

nhiều đồng cảm nơi người đọc.

Tạo được dấu ấn ngay trong tác phẩm đầu tiên ra mắt, suốt hơn 10 năm tiếp theo,

Võ Thị Hảo từng bước khẳng định tên tuổi của mình ở mảng truyện ngắn viết về đề

tài chiến tranh và số phận của con người trong thời hậu chiến. Người ta bắt đầu chú ý

nhiều hơn đến cái tên Võ Thị Hảo qua những truyện ngắn “lạ” như: Người sót lại của

rừng cười, Hồn trinh nữ, Biển cứu rỗi, Vườn yêu… Tác phẩm của chị được công

chúng đón nhận và chờ đợi. Sáng tác của chị được tuyển tập và in chung với nhiều

tác giả khác, chị được đánh giá là một trong những cây bút nữ tiêu biểu của văn học

sau những năm đổi mới.

Năm 2003, Võ Thị Hảo đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sự nghiệp bằng

việc cho ra đời tiểu thuyết dã sử Giàn thiêu. Tác phẩm gây tiếng vang lớn trên văn

đàn bởi cách viết mê hoặc, huyền ảo, cách tiếp nhận và đánh giá lịch sử một cách

uyển chuyển, mới mẻ, đánh dấu những bước đi mới cho thể loại tiểu thuyết lịch sử

Việt Nam đương đại.

Năm 2005, Võ Thị Hảo cho in lại toàn bộ sáng tác của mình gồm bốn tập truyện

ngắn và một tiểu thuyết. Những năm gần đây, nhà văn Võ Thị Hảo vẫn tiếp tục công

việc sáng tác và dự định sẽ cho ra đời nhiều tác phẩm mà chị đã ấp ủ nhiều năm qua.

1.1.2.2. Tác phẩm đã in của Võ Thị Hảo

- Truyện ngắn (bốn tập): Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen,

Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm.

- Tiểu thuyết: Giàn thiêu.

1.1.2.3. Các giải thưởng đã đạt được

- Giải cuộc thi tiểu thuyết và truyện ngắn NXB Hà Nội 1991.

- Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội cho tiểu thuyết Giàn thiêu năm 2004.

- Giải 5 năm văn học Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam.

1.2. Quan niệm nghệ thuật của Võ Thị Hảo

1.2.1. Văn chương và sứ mệnh của nhà văn

Võ Thị Hảo là người có quan điểm về văn chương rất rõ ràng và nghiêm túc.

Trong nhiều bài trả lời phỏng vấn trên báo chí, chị đã không ít lần bày tỏ thái độ của

mình về vai trò của văn chương và sứ mệnh cao cả của nhà văn. Võ Thị Hảo từng

nói: “văn chương là nơi thổ lộ những khát vọng, những nỗi đau lớn của kiếp

người. Sứ mệnh của nhà văn là chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri”.

Điều mà Võ Thị Hảo tâm đắc nhất khi nói về văn chương chính là khả năng “nói

thật” của nó. Theo chị, văn chương đi ra khỏi sự thật thì chỉ là thứ văn chương trưởng

giả, phù phiếm. Trách nhiệm của người viết là không né tránh sự thật. Chị nói:

“Thiên chức nhà văn là tôn trọng tự nhiên. Tự nhiên nghĩa là sự thật. Như những con

sóng biển và gió vẫn đêm ngày cồn cào đến với đất liền. Khi nhà văn mà chối bỏ sự

thực viết dối trá và đứng ngoài những nỗi đau, khát vọng cũng như khát vọng thật sự

của con người khi ấy, nhà văn đó trở nên nguy hiểm cho đồng loại” [14].

Những khát vọng mà Võ Thị Hảo gửi gắm qua văn chương chính là khát vọng tự

do, công lý, khát vọng được hạnh phúc, yêu thương và chia sẻ.

Nói về Giàn thiêu, Võ Thị Hảo cho rằng: “Một trong những thông điệp của Giàn

thiêu: Dựng giàn thiêu người trên đảo Âm Hồn, đốt sách mổ bụng moi gan người

dưới đoạn đầu đài, hay bất cứ cực hình nào đó cũng không thiêu hủy được sự thật,

khát vọng tự do và công lý” [21]. Hình tượng Lê Thị Đoan trong tác phẩm này chính

là một sự hóa thân của tác giả. Võ Thị Hảo đã gửi gắm trong đó rất nhiều những tư

tưởng, khát vọng, quan niệm của chị đối với văn chương.

Lê Thị Đoan có thể được xem là một chân dung “lạc điệu” của thời đại. Đã “bạo

gan” giả trai đi thi chỉ với một mong muốn “đem chút tài hèn nhi nữ mà giúp rập

quốc gia”, chí nguyện không thành vì tiểu nhân hãm hại, bà vẫn hiên ngang vạch trần

những tội ác man rợ, tố cáo những kẻ lộng quyền, ỷ thế, gieo rắc tai họa cho nhân

dân. Cái chết tức tưởi của bà chính là tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của lương tri và

công lý. Đó là sự phản kháng cuối cùng của một con người không thỏa hiệp với cái

ác, không vì mưu cầu danh lợi mà trở thành bọn ca công “uốn lưỡi nịnh hót xum

xoe”, bẻ cong ngọn bút của mình. Con người bà có thể bị lấp vùi trong tro bụi, nhưng

văn chương của bà vẫn tồn tại với thời gian và bất tử trong lòng nhân dân. Nói như

quan Tham tri chính sự Từ Văn Thông: “Dù có đem đốt cả ngàn vạn lần cuốn sách

“Lê Thị Đoan trước tác” thì cuốn sách vẫn cứ nhơn nhơn tồn tại, vì chúng đã ăn vào

trong ruột kẻ có chữ và còn được lưu truyền không mệt mỏi trên miệng bọn dân đen”.

Và “sở dĩ chúng đi thun thút vào bụng dạ chúng dân, là bởi tài cao học rộng, bởi văn

chương cái thế, bởi gan óc tế thế kinh bang đẫm trên từng trang, bởi mụ ta không viết

điều gì ngoài sự thật” [Giàn thiêu, 508, 509]. Cho nên một tác phẩm văn chương đích

thực phải là một tác phẩm có ích cho cuộc đời, nó có khả năng “thanh lọc” tâm hồn

(chữ dùng của Thạch Lam). Dù người ta có gán cho nó là “tà thư” hay “lộng ngôn sáo

ngữ” thì nó vẫn cứ là “chính văn chính sử” trong lòng những người biết phân biệt

phải trái trắng đen. Chính quan Gián nghị đại phu Mâu Du Đô, một người còn có

chút lương tri trong triều đình đã nói: “sách nào, chữ nào có ích cho dân cho nước,

sách nào chữ nào khiến cho người đọc cầm cuốn sách trên tay mà như cầm tấm

gương soi lại chính mình, đọc chữ nào thì chữ đó là lời khen tiếng chê ứng mỗi hành

vi cử chỉ, tâm tình thiện ác của chính mình thì sách đó, chữ đó là chính văn chính sử”

[GT, 511]. Và để tạo nên những trước tác để đời như thế không phải người cầm bút

nào cũng có thể làm được. “Chỉ có người nào trên hiểu lẽ trời, dưới hiểu lẽ đời, ngày

ngày ăn chung bát cơm gạo hẩm, húp chung bát cháo cầm hơi, đêm đêm chia sẻ manh

chiếu rách với kẻ khốn cùng nhất trong thiên hạ, nung nấu trong lòng mộng ước cứu

đời cứu người, làm cho dân thịnh nước cường thì mới có thể cầm bút viết nên những

dòng như thế” [GT, 512].

Chính khát vọng tự do đã khiến cho rất nhiều nhân vật của Võ Thị Hảo lựa chọn

con dường “không thỏa hiệp” như Lê Thị Đoan. Một nhà phê bình đã nói những

người đàn bà trong sáng tác của Võ Thị Hảo thường hay “nổi loạn” là như thế. Một

tiểu thư Nhuệ Anh (Giàn thiêu) yêu hết mình, sống hết mình, sẵn sàng chết cho tình

yêu với chàng thư sinh Từ Lộ, nhưng đến khi đối diện với một Thần Tông (hậu thân

của Từ Lộ) ngất ngưỡng trên ngai vàng mà tình yêu đối với nàng vẫn còn ám ảnh

trong tiềm thức, nàng đã không chần chừ lựa chọn ra đi. Mặc dù đằng sau chiếc áo cà

sa thoát tục kia vẫn nguyên vẹn một trái tim đập cho tình yêu thời tuổi trẻ, nhưng cái

tự do tuyệt đối trong trái tim nàng mới là điều nàng mong cầu lớn nhất.

Một nàng H’Điêu nguyện làm một cây chanh lẻ loi cô độc suốt ngàn năm, chứ

không muốn tái sinh để rồi lại tiếp tục làm một người đàn bà “ngây thơ, bị chồng

nghi ngờ, dằn vặt rồi phụ bạc”, và “sẽ lại biến thành cây chanh cô đơn bên bờ suối

cạn mà thôi” (Khát của muôn đời – Hồn trinh nữ).

Hay chính vì bảo vệ công lý mà Nữ hoàng Pháp luật cũng trở thành một nữ hoàng

cô độc, chấp nhận bị giam cầm ngàn năm trong vương quốc của thần Tiền Tài và Dục

Vọng, chứ không thể nào thỏa hiệp với chúng, nàng cũng không thể nào thuộc về bất

cứ một ai, bởi vì “nếu không, cán cân công lý sẽ nghiêng lệch” (Nữ hoàng cô đơn).

Quá trình đấu tranh cho công lý của rất nhiều nhân vật trong sáng tác của Võ Thị

Hảo có lúc thành công nhưng phần lớn là thất bại hoặc thành công phải đánh đổi bằng

một cái giá nào đó. Nhưng dù sao đi nữa thì văn chương của chị cũng là một tiếng

kêu đòi công lý, quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc cho con người. Chị nói: “đối

tượng của những, truyện ngắn, bài báo của tôi là nhân tính và sự bất bình trong xã

hội” [tôi vốn là người đàn bà thích được che chở].

Với Võ Thị Hảo, khi nào cuộc sống còn khổ đau, khi đó văn chương còn tồn

tại. Đó là nơi con người tìm thấy sự đồng cảm và trải nghiệm cuộc sống đích thực.

Cho nên chị ý thức rất cao sứ mệnh của một nhà văn đối với xã hội. Nhà văn phải là

người biết chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri con người.

Võ Thị Hảo thường xuyên sử dụng những từ như “mang”, “vác”, “trả nợ”, gánh

nợ”, “chia sẻ”, “đồng hành” để nói về trách nhiệm của một nhà văn. Từ suy nghĩ về

số phận của nhà văn Lê Đạt (một nạn nhân của phong trào Nhân văn – Giai phẩm)

chị khái quát chung về số phận của những người đeo nghiệp văn chương, chị ví họ

như những người “vác thập giá chữ” trên đôi vai của mình. Những bước đi nặng nhọc

giữa cuộc đời. Nhưng số phận của họ là như thế, không thể nào không mang vác, chỉ

có cái chết mới có thể kết thúc cuộc hành trình của họ. Đó là một sự lựa chọn sòng

phẳng mà cũng vô cùng khắc nghiệt đối với một nhà văn chân chính. Võ Thị Hảo

từng tâm sự viết văn tức là lúc chị đã phải “nhận lĩnh kiếp nạn của những kẻ không

thể im lặng trước nỗi đau của người khác”. “Nhà văn là người gánh món nợ của lịch

sử, cuộc đời. Vì thiên chức của nhà văn là gánh nỗi đau của con người. Cái thân nhà

văn như thân con lừa ưa nặng vậy, chưa nặng thì chưa bước”. Có lúc chị lại ví von:

“Sứ mệnh của một nhà văn không hơn sứ mệnh của một người trồng cây (…) Có

điều, nhà văn có thể trồng được cả một cánh rừng bằng ngòi bút” [14].

Nhìn chung, những phát biểu trên báo chí về sứ mệnh nhà văn của Võ Thị Hảo

cũng khá thống nhất với ý nghĩa của hình tượng gợi lên từ tác phẩm của chị. Trên

những trang văn của Võ Thị Hảo luôn có bóng dáng của cái tôi tác giả đồng hành, sẻ

chia, đôi lúc xuất hiện trực tiếp để phẩm bình bày tỏ tình cảm, thái độ. Chị thường

viết về số phận của những con người bất hạnh, đó là những thân phận bé nhỏ, đáng

thương, những con người nghèo đói, tật nguyền, bệnh hoạn, cô đơn... Chị viết về tất

cả những bi kịch của cuộc đời với một trái tim biết yêu thương và chia sẻ.

Nhà văn không né tránh cái ác, cái xấu mà phanh phui đến tận cùng vì mục đích

cao cả là hướng con người đến cái chân, cái thiện. Đằng sau những bế tắc của con

người không hoàn toàn là niềm bi quan như ai đó đã từng đánh giá về kết thúc truyện

ngắn của Võ Thị Hảo. Điều còn lại sau những trang viết có lẽ là sự tỏa sáng của

lương tri con người. Bởi chỉ có lương tri con người mới giúp mỗi chúng ta nhận ra

chân giá trị của những nỗi đau và bất hạnh.

Quan niệm về văn chương và sứ mệnh của nhà văn đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách

khai thác đề tài, cách nhìn nhận về con người, cũng như cách lựa chọn ngôn ngữ, thể

hiện giọng điệu của nhà văn Võ Thị Hảo.

1.2.2. Quan niệm về con người và “thiên tính nữ” hay là “ý thức nữ quyền”

1.2.2.1. Quan niệm về con người

Sau 1975, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, sự thức tỉnh trở lại của ý thức cá

nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm đổi thay quan niệm về

con người. Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con

người với hạt nhân cơ bản là tư tưởng nhân văn, tinh thần nhân bản. Con người vừa là

điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn

học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi

sự kiện và biến cố lịch sử. Nó báo hiệu xu hướng phát triển hướng nội, đi vào chiều

sâu của văn học thời kỳ đổi mới, báo hiệu sự trưởng thành của nền văn học. Nói như

nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà: Nhận thức đúng mối quan hệ giữa đời sống và chính

trị, con người và giai cấp là một trong những điều kiện làm cho văn học chúng ta có

khả năng phong phú và hấp dẫn hơn (...) Văn học, đặc biệt là văn học đã thực sự

bước vào giai đoạn trưởng thành, không chỉ bày tỏ tình yêu, sự phẫn nộ hay lòng

thương xót con người mà còn là một lĩnh vực quan sát và khám phá về con người.

[80, 23].

Sự đổi mới quan niệm về con người trong văn học sau thời kỳ đổi mới được

PGS Nguyễn Văn Long khái quát như sau:

Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa

chiều của mọi mối quan hệ: con người với xã hội, con người với lịch sử, con

người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên, với

những người khác và với chính mình. Con người cũng được văn học khám phá

và soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư

tưởng tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng

tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ

quát… [48, 16].

Như vậy, trong văn Việt Nam thời kỳ đổi mới, tính chất nhân văn của tác phẩm

nghệ thuật được đề cao, con người với đời tư, cá tính, bản lĩnh, phẩm chất, năng lực

cá nhân được chú trọng. Con người như một thế giới riêng phong phú, phức tạp, với

số phận riêng, và trong mối quan hệ cũng hết sức đa dạng của nó đối với toàn xã hội,

trở thành mối quan tâm hàng đầu của sáng tác.

Bên cạnh đó, có thể thấy con người trong những tác phẩm văn học sau đổi mới

đã được trả về với bản thể, nó tồn tại với tư cách một cái tôi đích thực, nó không đại

diện cho một cái gì đó, hay nói lên một điều gì đó, mà nó là sự tự thể hiện, tự nói về

bản thân mình bằng tiếng nói chân thành và say đắm nhất. Nhà văn luôn để cho nhân

vật của mình vật vã trăn trở với chính bản thân, ở cái bản ngã nửa tối nửa sáng của

họ. Và có khi các tác giả còn muốn “lộn trái” ra để phơi bày tất cả những xấu xa, đê

tiện của con người. Từ Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Huy Thiệp đã là một bước đi

dài. Bên cạnh đó còn là sự góp tiếng của hàng loạt các cây bút đầy tâm huyết như Lại

Văn Long, Tạ Duy Anh, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Dương Hướng, Phạm Thị

Hoài… Chưa lúc nào hơn lúc này khát vọng được nói thẳng, nói thật lại trở nên vô

cùng bức thiết như vậy, dù có lúc thật vật vã, khó khăn và đau đớn. Nói như một thời

Hoài Thanh đã bày tỏ trong Thi nhân Việt Nam đó là “cái khát vọng nói rõ những

điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết

đến đau đớn”.

Xuất hiện trong thời kỳ đổi mới, tác phẩm của Võ Thị Hảo thấm đẫm tinh thần

chung của thời đại trong quan niệm về con người. Khảo sát qua tác phẩm và các ý

kiến phát biểu trực tiếp của nhà văn, luận văn nhận thấy vấn đề quan niệm về con

người của chị thường bộc lộ theo mấy khía cạnh sau:

Trước hết, con người trong văn xuôi Võ Thị Hảo chủ yếu là con người thế sự,

đời tư. Mỗi một con người là một số phận riêng với những mảnh đời khác nhau. Đó

là con người đa diện với cả cái tốt đẹp lẫn cái xấu xa thấp hèn. Với mục tiêu nhìn

nhận con người ở nhiều khía cạnh khác nhau, một cách sống động và thành thực nhất,

nhà văn không ngần ngại để con người tự thú những xấu xa, bất lực cũng như những

tham vọng thấp hèn, những khát khao thầm kín nhất. Rất nhiều chân dung trong sáng

tác của Võ Thị Hảo không thể gọi là người tốt hay kẻ xấu, người cao thượng đạo đức

hay giả dối mưu toan. Ranh giới giữa những cái trước đây vốn được “kẻ vạch” phân

chia rất rạch ròi nay lại trở nên mờ hóa. Cảm giác mà nó đem lại cho người đọc cũng

vậy. Với mỗi nhân vật đọc lên có lúc ta cảm thấy đồng tình có khi lại muốn phê phán,

có lúc thấy yêu thương có khi lại căm ghét… Sự đa diện trong các chân dung nhân

vật chính là chất men tạo nên sức hấp dẫn và lôi cuốn trong sáng tác Võ Thị Hảo nói

riêng và của các nhà văn đương đại nói chung.

Thứ hai, con người trong văn xuôi Võ Thị Hảo đầy bí ẩn với đời sống nội tâm

phong phú và phức tạp. Nhân cách con người không chỉ là kết quả của lí trí, mà còn

có sự tham gia của vô thức, tiềm thức, tâm linh. Sự cộng hưởng của các yếu tố này

khiến cho hình tượng con người trong sáng tác của Võ Thị Hảo không chỉ bí ẩn, khác

thường, mà đôi lúc trở nên xa lạ một cách đầy mê hoặc. Tâm trạng con người cũng

được chú ý khơi sâu với những rung cảm tinh tế. Bằng cảm thức và sự nhạy cảm của

một nhà văn nữ, Võ Thị Hảo đã xây dựng rất nhiều chân dung những con người tâm

trạng, với những số phận chìm nổi khác nhau đặc biệt là những kiếp đàn bà đa đoan

và bất hạnh.

Điểm đáng chú ý trong quan niệm về con người của Võ Thị Hảo là nhà văn

quan tâm nhiều đến sự bấp bênh trong số phận của mỗi cá nhân. Qua sáng tác của chị,

con người dường như dễ trở nên bé nhỏ, đáng thương và tội nghiệp trong thế

giới xô bồ, nhiều cạm bẫy bủa vây; con người đầy đau khổ với những bi kịch cá

nhân triền miên không dứt. Ở khía cạnh này, con người trong văn xuôi nghệ thuật

Võ Thị Hảo mang đậm dấu ấn hiện sinh.

Trong quan niệm của các nhà hiện sinh chủ nghĩa, nỗi đau lớn nhất của kiếp

người chính là không tìm thấy tiếng nói chung giữa cộng đồng, không tìm thấy được

niềm đồng cảm để làm điểm tựa cho tâm hồn. Sự cô đơn như là một định mệnh mà

con người phải chịu đựng.

Trong văn học Việt Nam đương đại, người ta hay bắt gặp bóng dáng của con

người vừa bước ra từ cuộc chiến, trở về với cuộc sống đời thường, họ đã mất đi cái

sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng tập thể. Mất đi chỗ dựa, con người phải tự đứng

lên bằng đôi chân của mình, tự mình quẫy đạp để tồn tại và dễ trở nên mỏng manh,

yếu ớt, có khi bất lực và rơi vào bi kịch. Nhìn lại cuộc chiến đã đi qua con người lắm

khi không khỏi cảm thấy rùng mình, ghê sợ.

Thế giới chiến trận trong sáng tác của Võ Thị Hảo không còn cái không khí

“đường ra trận mùa này đẹp lắm”, không còn cái hăm hở “một sớm vui sao cả nước

lên đường”, mà thay vào đó là thế giới của chết chóc và hủy diệt nhân tính con người,

thế giới của đau khổ và những nỗi buồn u uất triền miên, những ám ảnh rợn người dai

dẳng. Thế hệ của những kẻ vừa rời chiến trận như người đàn ông trong Biển cứu rỗi,

Thảo trong Người sót lại của rừng cười, người chồng trong Hồn trinh nữ trở thành

một thế hệ lạc loài khi trở lại với những mối quan hệ đời thường sau cuộc chiến. Họ

không còn là “những tượng đài bất tử” với những tấm huy chương sáng ngời trên

ngực, lúc nào cũng phơi phới niềm tin hát vang những bản hùng ca lạc quan chiến

thắng. Vinh quang của cuộc chiến chỉ còn là cái bóng mờ trong quá khứ, họ bị lột

trần và trả về với bản chất của một con người thực thụ, cũng có những nỗi sợ hãi, lo

âu thường trực đối với số phận của chính mình. Va đập với cuộc sống đầy bất trắc, họ

trở nên bé nhỏ đáng thương hơn lúc nào.

Giờ đây bước vào hành trình tìm kiếm bản thể, con người lao vào vòng quay

vô tận của sự sống và cái chết, của hiện hữu và hư vô, hữu hạn và vô hạn của kiếp

nhân sinh giữa cõi vô thường, có khi chỉ để bắt gặp ảo ảnh của mình, rồi trở thành

“kẻ xa lạ” với chính mình, có khi đơn thuần chỉ là để nếm trải và rồi chấp nhận trả giá

cho những sự lựa chọn của mình. Đến một lúc nào đó con người đã nhận ra rằng nỗi

đau của phận người, một nỗi đau luôn đồng hành với con người trần thế chính là một

tất yếu mà con người không thể nào phủ nhận.

Võ Thị Hảo thường khai thác con người với những bi kịch triền miên. Xét

trong những mối quan hệ nhất định, phần lớn các nhân vật trong sáng tác của chị ai

cũng có nỗi khổ tâm riêng. Bậc quyền uy tột đỉnh ngất ngưởng trên ngai vàng như

Thần Tông thì mang nỗi ám ảnh về cái chết của tiên vương và mối tình với nàng

Nhuệ Anh được gieo từ kiếp trước, khiến cho không ít phen hoang mang, sợ hãi, tiếc

nhớ, đến chết vẫn không thể nào thỏa mãn được khát khao chiếm hữu nàng cung nữ

Ngạn La hoang dại. Hay một nguyên phi Ỷ Lan đầy quyền lực đến cuối đời cũng phải

sống trong dằn vặt, đau đớn vì ám ảnh bởi những tội lỗi đã gây ra cho thái hậu họ

Dương và bao nhiêu cung nữ (Giàn thiêu). Người giàu có cái khổ của người giàu, kẻ

nghèo hèn thấp kém cũng có những bất an riêng. Với Ả Tuynh (Dệt cỏ) là nỗi khổ

tâm bị cái nghèo bám riết, có nỗi oan khiên mà không biết phải kêu ai, cho đến chết

vẫn ôm mối hận chưa đòi được người ta công nhận liệt sĩ cho chồng và phát cái sổ

thương binh cho con trai bệnh tật. Cái nghèo, cái đói bám riết lấy số phận của những

con người nhỏ bé. Kẻ thì đi bán cốt để có tiền vẽ tranh, thực hiện hoài bão của đời

mình (Họa sĩ Xuân Tư trong Bán cốt), kẻ thì đi bán máu để cho chồng con được một

ngày không phải mút tay (Ngần trong Ngày không mút tay), kẻ thì lay lắt kiếm sống

qua ngày, vắt kiệt sức lực mà không có đủ cơm ăn, áo mặc (Ông Tiếu, bà Diễm trong

Người gánh nước thuê), kẻ thì phải chọn lấy cái chết để giải thoát khỏi sự bế tắc của

cuộc đời (Thùy Châu trong Vũ điệu địa ngục)...

Nhìn chung, cuộc sống trong tác phẩm của Võ Thị Hảo là một thế giới nhiều

tổn thương và đầy bất trắc, đó là thế giới của sự khủng hoảng về chân giá trị mà đôi

khi muốn tồn tại con người phải trả giá bằng chính nhân phẩm của mình. Thông qua

thế giới đó, nhà văn đã nói được những điều mà mình day dứt, sự day dứt của lương

tri đối với thân phận con người.

Tuy nhiên, con người trong sáng tác của Võ Thị Hảo cũng là những con người

giàu tình thương, đầy nghị lực và luôn khát khao tình yêu, hạnh phúc. Trong quan

niệm về con người, Võ Thị Hảo luôn thể hiện niềm tin sâu sắc vào cái thiện cũng như

lương tri của con người. Chị mang niềm tin đó đặt vào rất nhiều những chân dung

nhân vật nữ.

1.2.2.2. Về “thiên tính nữ” hay là “ý thức nữ quyền”

Trong các bài trả lời phỏng vấn trên báo chí, Võ Thị Hảo đánh giá cao vai trò

của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, chị nói: “Phụ nữ, trước hết là một công

dân nên đương nhiên sẽ gánh vác những trách nhiệm xã hội, rồi lại còn yêu đàn ông

nữa, lại nhân lên sức mạnh của họ là tình da diết yêu con. Ngoài xã hội, phụ nữ lo

trách nhiệm tận tụy hơn, ít tham nhũng hơn đàn ông. Ở phụ nữ có sự lan tỏa và bền

bỉ. Điều quan trọng là phụ nữ cần thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến. Người

mẹ có lương tri, kiến thức và văn minh sẽ trực tiếp, êm dịu và nhanh chóng nhất

truyền sức mạnh cho con cái họ. Ai có người vợ, văn minh, trí tuệ, không ích kỷ, con

họ sẽ có rất nhiều cơ hội văn minh và trưởng thành” [Phụ nữ cần thoát khỏi những nô

lệ, tự ti và định kiến].

Nhiều người nhận xét trong sáng tác của Võ Thị Hảo đậm đặc tính nữ quyền.

Có thể thấy, đây yếu tố tự thân trong quá trình sáng tác của Võ Thị Hảo cũng như đã

trở thành xu hướng mạnh mẽ trong văn học Việt Nam những năm gần đây với sự xuất

hiện hàng loạt cây bút nữ từng bước khẳng định tên tuổi trên văn đàn như Lê Minh

Khuê, Vũ Thị Thu Huệ, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Ấm,

Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Hòa Vang, Thuận... Nhà phê bình Bùi Việt Thắng

đã nhận xét rằng “Văn học đang mang gương mặt nữ, ngày càng trắc ẩn và khoan

dung, ngày càng tinh tế mà đằm thắm” [72].

Điểm mạnh của các nhà văn nữ này chính là bản năng mà tạo hóa ban tặng.

Bằng sự nhạy cảm tinh tế, sự trắc ẩn khoan dung, những người phụ nữ khi cầm bút họ

viết bằng tất cả trái tim, bằng tất cả cuộc đời mình. Cộng với xu hướng dân chủ, cởi

mở của thời đại, nhà văn nữ cũng đã mạnh dạn bộc lộ sự tự tin và thẳng thắn, họ

mạnh dạn thể hiện cái tôi của bản thân cũng như sự tìm tòi và sáng tạo qua từng tác

phẩm. Họ không chỉ đối thoại với những quan niệm đã được mặc định về vị trí, vai

trò của người phụ nữ, mà còn mạnh dạn lên tiếng khẳng định cái tôi bản thể, bộc lộ

những khát vọng trong đời sống riêng tư của nữ giới, khơi nguồn cho sự xác lập ý

thức cá nhân một cách trọn vẹn hơn. Bằng tài năng và bản lĩnh, nhiều nhà văn nữ đã

thể hiện trọn vẹn thiên chức của mình, khẳng định sự độc lập của mình, chứng tỏ họ

thực sự có khả năng trở thành “chủ thể tư duy, chủ thể thẩm mỹ” trong sáng tác văn

học.

Võ Thị Hảo là một trong những tác giả ý thức rất rõ sức mạnh thuộc về “thiên

tính” của một nhà văn nữ. Với chị, việc khẳng định ý thức nữ quyền không đơn thuần

chỉ là vấn đề giải phóng tính dục của người phụ nữ. Không quyết liệt và táo bạo như

một số cây bút nữ cùng thời, cũng không quá khắt khe, chị ủng hộ việc sử dụng các

yếu tố sex nhưng như một phương tiện nghệ thuật và đòi hỏi nhà văn phải thực sự có

tay nghề và bản lĩnh. Bởi theo chị đó là điều cần thiết để một tác phẩm nghệ thuật

tránh rơi vào dung tục, tầm thường. Điều mà Võ Thị Hảo quan tâm là sự xác lập vai

trò vị trí của người phụ nữ trên tất cả các mặt của đời sống với tư cách một con

người. Qua sáng tác của chị có thể thấy được quá trình người phụ nữ từng bước vươn

lên thoát khỏi những định kiến hẹp hòi cũng như những ràng buộc lạc hậu, cũ kỹ.

Nhiều hình tượng nữ đã đạt tới khả năng thể hiện khát vọng giải phóng sức mạnh và

vẻ đẹp thuộc về “thiên tính nữ”, một vẻ đẹp bất tận và vĩnh cửu của thế gian.

Cụ thể, trong sáng tác của Võ Thị Hảo, người phụ nữ thường mạnh mẽ, giàu

nghị lực, tự chủ trong cuộc sống, nhưng cũng mang đầy đủ phẩm chất của giới nữ với

trái tim bao dung, dịu dàng, giàu tình thương, đức hy sinh và nhẫn nại. Võ Thị Hảo

đã đặt vai trò cứu rỗi vào nhiều hình tượng nữ trong sáng tác của mình.

Bản thân là một nhà văn nữ, sự khúc xạ giới tính lên sáng tác của Võ Thị Hảo

là rất rõ. Có lúc, tâm thức của một nhà văn nữ chi phối rất nhiều đến các nhân vật mà

chị tạo ra trong tác phẩm. Chị thừa nhận: “Theo những điều đã được tiền nhân gieo

trong tiềm thức, tôi đã là một người đàn bà Việt Nam đội hai chữ “hy sinh” lên đầu

hơn quá nửa cuộc đời (…) Điều đó ảnh hưởng đến nhân vật của tôi” [Phụ nữ cần

thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến]. Tuy nhiên, đứng ở góc độ của một người

đồng giới quan sát các nhân vật của mình, Võ Thị Hảo đã có những khám phá chân

thực và sinh động về “một nửa thế giới”. Từ tiếng nói rất riêng của các nhà văn nữ

như Võ Thị Hảo mà cái nhìn về người phụ nữ trong văn chương trở nên đa dạng và

phong phú hơn rất nhiều.

Võ Thị Hảo nhận thức rất rõ vị trí hiện tại của người phụ nữ trong xã hội cũng

như sự thiệt thòi mà họ còn đang gánh chịu. Chị đã dùng cụm từ “những thân phận

bé mọn” để chỉ người phụ nữ trong sáng tác của mình. Những con người mà theo

như chị nói “nếu họ sống thì cũng vẫn tiếp thân phận bé mọn, vẫn ngơ ngác, lạc lõng,

hẳn phải có rất nhiều thời gian để đánh thức họ sang giấc mơ khác” [Suốt đời chỉ mơ

một giấc]. Cho nên chị cũng mong đến một ngày “người phụ nữ bi ai trong tôi nổi

loạn và nhân vật của tôi cũng nổi loạn chống lại số phận và hoàn cảnh” [Phụ nữ cần

thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến].

Truyện ngắn “Hành trang của người đàn bà Âu Lạc” có lẽ là một trong những

tiếng kêu thương của người phụ nữ chống lại số phận và hoàn cảnh như nhà văn đã

nói. Tác giả đã chỉ ra rằng cái gánh trên vai những người phụ nữ thực sự là quá sức.

Thời phong kiến, để kìm giữ đàn bà, người ta đặt ra triết lí, đặt ra tôn ti, đặt ra công,

dung, ngôn, hạnh. Đến thế kỉ giải phóng phụ nữ, tưởng như túi hành trang của người

đàn bà vơi bớt phần nào, nhưng chẳng những không vơi mà còn nặng thêm bởi những

mĩ của thời đại mới mà “mỗi mĩ từ lại óc ách đầy những giọt mồ hôi, nước mắt và cả

máu của đàn bà, những sợi tóc bạc, những vệt nhăn nheo trước tuổi” [94, 82]. Cái

gánh của người đàn bà Âu Lạc hiện đại còn nặng hơn cả gánh của bà Dạ Dần và mẹ

Âu Cơ, vì trong gánh của bà Dạ Dần và mẹ Âu Cơ chưa có triết lý, chưa có bình đẳng

và những mĩ từ.

Nói về vai trò của người phụ nữ, Võ Thị Hảo cũng đề cập đến vấn đề bình

đẳng giới. Chị ủng hộ giải phóng phụ nữ, nhưng chị cũng cho rằng bình đẳng giới

không cho riêng ai. “Nó là nhu cầu tự thân về những tổn thương xảy ra do sự mất cân

bằng của xã hội đem lại. Khi những kẻ yếu bị những kẻ mạnh ức hiếp, rồi chính kẻ

mạnh cũng đến lượt bị tổn thương gián tiếp vì không kẻ mạnh nào có thể tách rời

hoàn toàn được những kẻ yếu”. Trong một bài phỏng vấn, chị nói rõ hơn:

Trước đến giờ chúng ta thường quan niệm thiên lệch: giải phóng phụ nữ là

một quyền lợi, một ân huệ, một sự ban ơn của xã hội cho phụ nữ. Thực ra giải

phóng phụ nữ cần được quan niệm là giải phóng xã hội hiện tại ra khỏi những cản

trở phát triển và hạnh phúc cho mỗi người. Vì trong xã hội dã man thì nhiều

người, trong đó có các kẻ yếu đuối, kém may mắn, trong đó có thể có cả đàn ông,

bị kẻ mạnh hơn tước đoạt cơ hội. Bất kỳ một người nào bị tước đoạt cơ hội và

quyền sống, quyền tự do thì bản thân sự tước đoạt ấy là một phản lực gây tác hại

trước mắt và lâu dài đến toàn xã hội. Một người đàn ông gây bạo lực trong gia

đình anh ta có hạnh phúc không, theo tôi là không, nếu chuẩn hạnh phúc của anh

ta không trùng với chuẩn của một con dã thú. Và chỉ khi nào chúng ta quan niệm

và hành động thoát khỏi sự dã thú, quan niệm một cách công bằng về việc giải

phóng phụ nữ - không, nói đúng hơn là trả lại quyền làm người bình đẳng của bất

kỳ ai, trong đó có phụ nữ - trả lại quyền bình đẳng trước tạo hóa - như tuyên ngôn

nhân quyền đã nói thì khi đó việc ấy mới dần trở thành hiện thực [Phụ nữ cần

thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến].

Quan niệm của Võ Thị Hảo cho thấy nhà văn đã đề cập đến một vấn đề mang ý

nghĩa nhân văn sâu sắc. Nhận thức được điều đó nên những trang văn của chị không

chỉ hướng về quyền sống của những người phụ nữ mà còn là cho tất cả mọi người.

Có lẽ người ta chú ý đến xu hướng nữ quyền trong văn chương các nhà văn nữ (trong

đó có Võ Thị Hảo) bởi vì ngòi bút của họ thường hướng về phụ nữ, viết về phụ nữ

với tất cả sự trân trọng và trìu mến của trái tim những “người cùng giới”, một điều

làm nên thứ “quyền lực” rất riêng cho các nhà văn nữ. Trong sáng tác của Võ Thị

Hảo đặc điểm này bộc lộ trong việc nhà văn thể hiện rất rõ ý thức về vị trí, chỗ đứng

của người phụ nữ trong xã hội, cũng như sức mạnh của “thiên tính nữ” với biểu hiện

rõ nhất các tố chất của nó là vẻ đẹp thiên bẩm, tinh thần vị tha, nhân hậu, bao dung và

bản năng yêu thương dồi dào, mãnh liệt.

Rất nhiều người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo đẹp một cách lung linh

kỳ ảo và đầy ma mị. Sắc đẹp của họ là hiện thân cho nguồn sống, sự thanh khiết, tính

lý tưởng và sự tự do tuyệt đối. Người đàn bà Âu Lạc (trong truyện Hành trang của

người đàn bà Âu Lạc) là hiện thân cho vẻ đẹp tinh khiết của vũ trụ trong thuở hồng

hoang, với cơ thể căng tràn sức sống và tâm hồn ngây thơ chân thật hồn nhiên, thỉnh

thoảng nàng lại nghển cao “cái cổ xinh đẹp” nhìn ra tứ phía tìm kiếm những sinh linh

khác trong vũ trụ cũng đẹp đẽ và quyến rũ như nàng để cùng bầu bạn. Nữ hoàng Pháp

luật (trong truyện Nữ hoàng cô đơn) mang trong mình vẻ đẹp lộng lẫy, huy hoàng của

vầng dương buổi sáng, nàng là hiện thân cho công lý và cũng chính là sự bất tử.

Dung mạo của Ngạn La (Giàn thiêu) thì đầy vẻ “xa xăm cô tịch” trong thế giới hiện

hữu khắc nghiệt, không ai có thể sở hữu được nàng, nàng mãi mãi vẫn là cô bé bắt

cua ngây thơ của tuổi 13 với những bài đồng dao êm ả. Nhuệ Anh với nét buồn đa

đoan luôn là nỗi ám ảnh cho bất kỳ người đàn ông nào nhìn thấy. Còn Sải (Con dại

của đá) mang vẻ đẹp của núi rừng vừa hoang sơ vừa mạnh mẽ với những khát khao

cháy bỏng. Những người phụ nữ hiện đại như Thuận, Trang, Phương… mang vẻ đẹp

quý phái và cũng thật kiêu sa, bí ẩn. Vẻ đẹp ngoại hình của họ tạo nên sự say mê

trong cái nhìn chiêm ngưỡng của người khác giới và bạn đọc, xen vào những trang

viết về bi kịch của con người những khoảnh khắc thăng hoa của tình yêu cái đẹp. Họ

đem đến sức sống tươi trẻ cho những trang văn của Võ Thị Hảo, khiến cho hình

tượng con người trở nên lung linh và căng tràn sức sống. Trong cái nhìn khám phá về

chính những con người cùng giới, Võ Thị Hảo đã phô bày tất cả vẻ đẹp của người

phụ nữ như một sự tự nhìn ngắm đầy say mê và ngưỡng mộ.

“Thiên tính nữ” còn thể hiện ở tinh thần vị tha, sự nhân hậu bao dung và đức hi

sinh của người phụ nữ. Đó là vẻ đẹp mang tính truyền thống, tiềm ẩn nguồn sức

mạnh dồi dào mà rất nhiều người (trong đó có cả phụ nữ) đôi lúc ngộ nhận như một

điểm yếu gây cản trở cho sự vươn lên của phụ nữ. Võ Thị Hảo đã nhìn thấy sức mạnh

của tố chất này trong rất nhiều chân dung, nó khiến cho nhân vật của chị dù có nghèo

hèn, ít học, quê mùa cũng xứng đáng nhận được sự trân trọng của đọc giả và những

người khác giới. Lòng nhân hậu, chất phác của Ả Tuynh (Dệt cỏ) luôn khiến cho một

công chức như Thân cứ phải xót xa, day dứt. Thân luôn thấy mình bội bạc với ả vì

những lời hứa suông mà ả không bao giờ hờn giận. Đọc truyện Mắt miền Tây người

ta có thể trách Hải vì sao cứ phải bao dung mãi với cái gã đàn ông luôn luôn bội bạc,

nhưng người ta vẫn sẽ đồng cảm với chị, cảm thông cho chị bởi lòng trắc ẩn của chị

đối với người thân của gã – nỗi bận lòng duy nhất khiến chị phải cưu mang anh ta.

Nhiều người lúc đầu có thể ngạc nhiên vì sao người vợ cả trong truyện ngắn Chuông

vọng cuối chiều có thể mở lòng đón nhận người tình của chồng, sẵn sàng chăm sóc

chị ta và đứa con rơi của chồng mình. Nhưng những giọt nước mắt thấu hiểu của cô

con gái khi đã trưởng thành chính là câu trả lời đầy đủ nhất cho sự thấm thía về tấm

lòng vị tha của mẹ, bởi như bà mẹ đã nói, dù sao cũng cùng chung một kiếp đàn bà,

cũng đều là những người mẹ, những người phụ nữ biết yêu chồng thương con. Đó

mới chính là sức mạnh đích thực của người phụ nữ.

Có thể thấy, người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo luôn là những con

người khát khao tình yêu và hạnh phúc. Trái tim họ dâng hiến trọn vẹn cho tình yêu

dù có phải trắc trở, dù có lúc bị dối lừa, dù phải lựa chọn sự cô đơn. Họ luôn khát

khao một bến bờ hạnh phúc. Nhưng lớn lao hơn có lẽ là ý thức mang lại hạnh phúc

cho người khác ở họ. Đây là một tố chất rất đặc biệt thuộc về “thiên tính nữ”. Nó

khiến cho những chân dung nhân vật nữ trở thành công cụ đắc lực để Võ Thị Hảo kí

thác những tư tưởng quan trọng, là chìa khóa để nhà văn mở cái nút thắt cho rất nhiều

câu chuyện kể. Bằng bản năng yêu thương của mình những người phụ nữ này đã

mang đến sự cứu rỗi cho cuộc đời khắc nghiệt, sự cứu rỗi đầy tính nhân văn. Chính

những Nhuệ Anh, Ngạn La với bản năng sống và yêu mãnh liệt đã tưới tắm sự thanh

khiết và tươi mát lên cái không khí chết chóc và thù địch của Giàn thiêu. Chính sự

xuất hiện của cô gái tuổi trăng rằm với đôi mắt đầy tình yêu thương khi đối diện với

linh hồn cụt đầu trong Đêm Vu Lan đã giải đáp cho câu hỏi suốt mấy trăm năm của

linh hồn người đàn ông mải mê chinh chiến, giúp họ siêu sinh và tìm lại được những

thân thể vẹn nguyên. Chính cuộc đời đầy đau khổ và bất hạnh cũng như cái chết tức

tưởi của người đàn bà bị bệnh hoại huyết trong Biển cứu rỗi đã làm cho người đàn

ông nhận ra được bi kịch của đời mình. Chính sự quên mình của người con gái đêm

đêm tết tóc cầu nguyện cho người yêu mà chàng trai cựu binh trong Dây neo trần

gian mới neo lại được bến đời… Chính vẻ đẹp tận tụy dịu dàng và tình yêu quên

mình của những người phụ nữ mà thế giới này còn đầy ắp những niềm tin tốt đẹp ở

con người.

Nhìn chung, người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo dù có là “những

thân phận bé mọn”, trải qua lắm thăng trầm, dang dở nhưng ở họ luôn chứa đựng

những sức sống mạnh mẽ với khả năng “cứu rỗi” lớn lao, lung linh vẻ đẹp dịu dàng

của “thiên tính nữ”. Họ luôn mong tìm được cho mình một bến đỗ bình yên, một chỗ

dựa để họ tựa vào suốt đời. Nói như tâm sự của tác giả: “Tôi vốn là người đàn bà

thích được che chở. Nhưng oái oăm thay số phận không cho tôi điều đó. Tôi luôn

phải gánh vác những công việc của đàn ông từ khi mới lớn đến tận bây giờ. (…)

Nhưng trong tôi vẫn khắc khoải là mình sinh ra để làm đàn bà, mong được là “dây leo

đẹp” bên một “cây đại thụ” [Suốt đời chỉ mơ một giấc].

1.3. Võ Thị Hảo – chủ thể sáng tạo giàu cá tính

Võ Thị Hảo sinh ra từ mảnh đất xứ Nghệ giàu truyền thống đấu tranh, chị bảo

rằng bên trong chị luôn thường trực cái chất “ông đồ gàn” của người xứ Nghệ. Có lẽ

chính mảnh đất giàu truyền thống và cũng lắm khắc nghiệt này đã tạo cho chị một

bản lĩnh và sự sắc sảo cần thiết để trở thành một nhà văn nữ giàu cá tính.

Một người bạn văn đã viết về Võ Thị Hảo: “Mỏng manh đến điệu đà, nhạy cảm

đến mức khắt khe, đó là cảm giác ban đầu về nữ văn sĩ xứ Nghệ này khi mới đọc,

mới tiếp xúc. Còn ẩn sâu đằng sau những câu chữ trau chuốt là những tâm sự day dứt

khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái” [29]. Trên

những trang viết, người đọc luôn nhìn thấy một Võ Thị Hảo cứng cỏi và sắc sảo trong

từng lập luận, đôi lúc khá gai góc và quyết liệt, đặc biệt với những gì mà chị cho là

bất công, đi ngược lại với lương tri con người. Chất quyết liệt đó có lẽ bắt nguồn từ

những trăn trở thường trực về số phận con người luôn đau đáu trong tâm hồn của chị.

Lớn lên từ ruộng nương khoai sắn, chị thấm thía cái khắc nghiệt của nghèo đói

và chính cuộc sống lam lũ từ nhỏ đã giúp chị có được cái nhìn sáng rõ hơn đối với

những thân phận con người có số phận không may, bị cái nghèo bám riết. Những trải

nghiệm của thời niên thiếu đã tác động không nhỏ đến cách nghĩ và đánh giá về cuộc

đời trên những trang văn của chị. Cho nên khi nghĩ về tuổi thơ của mình, chị thường

nói: “Tôi cảm ơn những kỷ niệm mà đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc, vì chính chúng

đã tạo ra tôi” [29]. Cách suy nghĩ này khiến cho chị dù ở hoàn cảnh nào cũng có thể

thích nghi và vượt qua những đoạn trường chìm nổi của cuộc đời mình.

Nhà văn Võ Thị Hảo có cuộc sống gia đình riêng nhiều lận đận, một mình chị

phải cáng đáng luôn cả trách nhiệm làm mẹ và làm cha, rồi vừa phải thu vén gia đình,

vừa bươn chải kiếm sống. Thế nhưng chị bao giờ cũng tự tin ở bản thân, dám lựa

chọn và chấp nhận trả giá cho sự lựa chọn của mình. Chị luôn khát khao hạnh phúc,

mong cầu yên ổn, nhưng chị cũng lại là người thường xuyên phải quyết định ra đi.

Bởi như chị nói: “mình không phải là người thích phiêu lưu hoặc thích thay đổi mà

đơn giản mình là người phụ nữ viết văn, để giữ lòng tự trọng và một trái tim luôn đập

cho những điều tốt đẹp trong cuộc đời, một trái tim có quá nhiều nhạy cảm, vì vậy rất

dễ bị rớm máu thương tổn (...) Dẫu biết cuộc ra đi nào cũng đầy bất trắc và lắm chông

gai, người ngoài nhìn vào có thể cho là mình điên rồ, nhưng đó là cách giải quyết của

mình từ trước đến nay. Nó làm cho mình cảm thấy thanh thản, giữ được cái tôi của

mình trước xô bồ đời sống có quá nhiều cạm bẫy và thói xấu. Sự ra đi giúp cho tâm

hồn của mình không bị cằn cỗi tha hóa, để cố gắng dù trong hoàn cảnh nào thuận lợi

hay khó khăn, hạnh phúc hay bi đát thì nhân cách của mình cũng không bị tha hóa.

Mình sợ nếu mình ở lại, mình thỏa hiệp và sống chung với những điều mình cho là

giả dối, căm ghét thì mình sẽ bị tha hóa đi lúc nào chẳng hay” [29]. Với chị yêu và

ghét phải thật rạch ròi là như vậy.

Võ Thị Hảo còn là lớp người lớn lên khi đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, chị

tận mắt chứng kiến nhiều xáo trộn của cuộc sống thời hậu chiến. Rồi cũng đã từng

cùng gia đình nhỏ của mình trải qua thời kỳ bao cấp đầy khó khăn, biến động, chị

cảm nhận rõ sự tù túng chật hẹp của một xã hội trì trệ, kém phát triển như thế nào.

Tất cả những dư ba của chiến tranh và sự hỗn độn của thời cuộc đã không ngừng tác

động đến chị, thôi thúc chị phải nói và viết. Khát vọng tự do, dân chủ trong chị cũng

trở nên mạnh mẽ, có lúc khiến chị như muốn nổ tung trên từng trang viết.

Vừa là nhà văn lại vừa làm báo, xông xáo trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã

hội, chị đã chứng kiến rất nhiều những bất công ngang trái ở đời. Điều đó không chỉ

tác động mạnh đến tâm hồn một nhà văn, làm phong phú thêm cái nhìn của nhà văn,

mà còn giúp chị mài sắc thêm ngòi bút để đấu tranh đến cùng cho những điều chị cho

là chính đáng.

Có thể nói, tất cả những điều đó đã làm nên một Võ Thị Hảo – nhà văn đầy cá

tính trên từng trang viết.

CHƯƠNG 2 : CON NGƯỜI VÀ NHỮNG BI KỊCH CÁ NHÂN

2.1. Cái nhìn nhiều phía về con người và những nội dung tự sự chủ yếu trong VXNT Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo quan tâm tới nhiều khía cạnh của con người như: Con người

và nghĩa vụ với dân tộc; Con người và hạnh phúc cá nhân; Tình yêu và sự

nghiệp; Tham vọng sống nhiều kiếp của con người; Sống hưởng lạc và hành xác;

Sự thờ ơ vô cảm của con người; Tình thương của những người nghèo khổ; Hôn

nhân và sự chia ly; Sự cứu rỗi của cái chết; Vấn đề tâm linh, vô thức; Con người

và hận thù; Sự tha hóa, méo mó về nhân cách con người…

Khảo sát tần số xuất hiện của các vấn đề liên quan đến con người trong văn

xuôi nghệ thuật của Võ Thị Hảo, chúng tôi nhận thấy nhà văn đặc biệt quan tâm

đến bốn nhóm đối tượng sau:

• Con người đối diện với nỗi đau chiến tranh

• Con người tham vọng và tha hóa

• Con người bé nhỏ

• Người phụ nữ cô đơn

Những nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo là những số phận rất riêng,

với những vui buồn, sướng khổ, những đớn đau và bất hạnh thuộc nhiều hoàn

cảnh khác nhau. Và nhìn chung, đó đều là những bi kịch cá nhân, những bi kịch

liên quan tới thân phận con người, những thân phận bấp bênh và dễ vỡ. Đó cũng

chính là những nội dung tự sự chủ yếu trong văn xuôi nghệ thuật của nhà văn Võ

Thị Hảo.

2.2. Con người đối diện với nỗi đau chiến tranh Khi nhu cầu nhìn lại của Văn học Việt Nam sau thời kì đổi mới trở thành một

nhu cầu bức thiết, mỗi nhà văn trong tác phẩm của mình ít hay nhiều cũng đều muốn

trở về với không gian của chiến tranh và số phận của những con người vừa đi qua

cuộc chiến. Chiến tranh, với độ lùi mười năm, hai mươi năm chưa thể đánh giá là đủ

để có thể nhìn nhận hết tất cả các mặt của nó. Tuy nhiên, trong con mắt của ngày hôm

nay và người hôm nay, ít nhiều nó cũng đã được nhìn ngắm và đánh giá một cách

bình tĩnh hơn, đa diện hơn và dân chủ hơn.

Võ Thị Hảo là lớp nhà văn viết về chiến tranh với con mắt của những người

cảm nhận về một xã hội Việt Nam “tan chiến” nhưng vẫn chưa “tàn chiến”. Trong

sáng tác của chị vẫn dành một mảng để nói về những nỗi đau của con người khi đối

diện với chiến tranh, đặc biệt là thế hệ những người vừa ra khỏi cuộc chiến, trở về với

cuộc sống đời thường. Họ không chỉ bị tổn thương về thể xác mà còn chịu những ám

ảnh đau đớn về tinh thần. Phần lớn những người lính trở về sau chiến trận trong sáng

tác của chị đều không thể hoặc không còn đủ khả năng để hòa nhập với cuộc sống đời

thường sau những gì đã trải qua trong chiến tranh. Họ thường rơi vào những bi kịch

tinh thần không lối thoát. Còn những người không trực tiếp cầm súng thì ít hoặc

nhiều cũng bị dòng thác của chiến tranh cuốn đi. Họ cũng là những con người phải

đối diện với nỗi đau chiến tranh. Đặc biệt là người phụ nữ. Hình ảnh những người

phụ nữ góa bụa cũng góp phần kéo dài nỗi ám ảnh không dứt về sự khốc liệt và bi

thảm tột cùng của chiến tranh trong văn xuôi Võ Thị Hảo.

2.2.1. Con người bị tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần

Chiến tranh trong văn học cách mạng là cuộc chiến đấu vĩ đại, hào hùng, là

những nung nấu đêm ngày về một quốc gia độc lập, thống nhất. Có mất mát, hi sinh

nhưng đó là tất yếu để giành độc lập, mọi nỗi đau riêng tư đều phải gác lại để đau cái

đau chung của toàn dân tộc, vì đó là những cái lớn lao hơn.

Chiến tranh trong văn học thời kì đổi mới bên cạnh cái hào hùng, vĩ đại còn có

những cái rất riêng thuộc về nỗi đau và số phận của con người cá nhân. Sự tàn khốc

của chiến tranh, sự mất mát của chiến tranh được đo đếm một cách tỉ mỉ hơn trên

những nỗi đau rất thực của con người. Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, chiến tranh

hủy diệt sự sống của con người một cách trực tiếp, mau chóng nhưng cũng có khi nó

hủy hoại một cách từ từ, gián tiếp và tạo nên những bi kịch đau đớn.

Trước hết, Võ Thị Hảo rất ít mô tả những cuộc giao tranh ác liệt trong chiến

trận. Nhà văn chú ý đến dấu hiệu của sự hủy diệt ngay trên cơ thể của những người

lính.

Trong Biển cứu rỗi người đàn ông từ giã đời lính trở về với một con mắt giả và

thân hình tiều tụy. Vết thương cũ vẫn nhiều đêm hành hạ khiến anh mất ngủ và đau

đớn không thể chịu được.

Thằng Phục con trai ả Tuynh (Dệt cỏ) đi lính về vào trại thương binh với một

mảnh đạn nhỏ trong đầu và thỉnh thoảng lên cơn động kinh. Năm năm sau Phục vào

trại tâm thần rồi bỏ đi lang thang.

Tác phẩm viết về người lính được chú ý nhất của Võ Thị Hảo là truyện Người

sót lại của rừng cười, trong đó nhân vật Thảo chính là một ca “đặc biệt”. Thời gian ở

rừng của cô không dài, tính từ ngày nhập ngũ đến khi giải phóng khoảng chừng ba

năm. Cô lại không ra mặt trận, không trực tiếp chiến đấu, chỉ làm nhiệm vụ của một

người canh giữ kho quân nhu. Thế nhưng khi đã dấn thân vào cuộc chiến khốc liệt

này, cô cũng không tránh khỏi sự tàn phá ghê gớm của nó.

Ngày đầu tiên đến với kho quân nhu trong rừng sâu, Thảo là một cô gái “đầy

sức sống, mái tóc óng mượt dài chấm gót”, mái tóc được những cô gái ở rừng “nâng

niu như báu vật”. Nhưng “chỉ sau hai tháng, bất chấp đủ mọi lá thơm mà đồng đội đã

mang về cho gội, mái tóc Thảo chỉ còn một túm sợi mỏng mảnh xơ xác” [91, 87].

Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc cô. Dấu hiệu của sự hủy

diệt đã hiện rõ trên cơ thể của người con gái.

Dù vậy Thảo vẫn hạnh phúc hơn các cô gái khác, cô còn có tình yêu để bấu víu

vào đó mà vượt qua những năm tháng cô đơn trong rừng sâu. Nhưng khi trở về với

cuộc sống đời thường, cô bắt đầu thấm thía sự hủy diệt của chiến tranh trên cơ thể

mình qua ánh mắt của người yêu ngày gặp mặt: “anh ngỡ ngàng đến không thốt nổi

một lời khi vừa nhìn thấy cô. Đôi mắt anh lướt qua thân hình gầy gò trong bộ quân

phục lạc lõng, qua làn da nhợt nhạt, mái tóc xơ xác của cô” [91, 98]. “Thảo vẫn giữ

được những đường nét bẩm sinh nhưng đôi mắt cô như mắt của người đang đi trong

một giấc mộng dài. Làn da tái xanh vì những cơn sốt rét rừng (…) và nụ cười thì thật

hiếm hoi” [91, 96]. Cô không còn cảm thấy tự tin vào mình nữa. Một niềm mặc cảm

mạnh mẽ bủa vây cô, cô biết tuổi xuân của mình đã để lại nơi khu rừng cười oan

nghiệt.

Từ mặc cảm vì diện mạo hao gầy, sức sống của tuổi thanh xuân bị mai một,

Thảo dần rơi vào bi kịch vì cảm thấy khả năng yêu và được yêu ở mình đang cạn dần

và mối dây ràng buộc giữa cô và Thành trở nên mỏng manh hơn bao giờ hết. Cô tự

thấy mình không còn xứng đáng với tình yêu, không còn khả năng tạo nên sức hấp

dẫn đối với người yêu của mình nữa. Ở hai người đã bắt đầu xuất hiện sự nhàm chán

với những buổi tối thứ bảy vô vị đều đều như cái máy. Để rồi bi kịch lên cao khi cô

nhìn thấy người thứ ba xuất hiện, người con gái “có đôi mắt mòng mọng như nũng

nịu, với làn da trắng hồng, tươi mát trẻ trung, nhìn Thành bằng ánh mắt say mê

ngưỡng mộ” [91, 100]. Đau đớn nhận ra Thành cũng say mê cô gái đó, Thảo cảm

thấy mình trở thành vật cản, cô tự nghĩ Thành gắn bó với cô vì nghĩa chứ không có

tình. Cô liên tưởng đến một cuộc sống vợ chồng sau này sẽ nhàm chán và tẻ nhạt biết

mấy. Và cô quyết định xa Thành. Từ bỏ tình yêu của mình, Thảo đã tự mình khép

chặt cánh cửa hạnh phúc của đời cô.

Ở khía cạnh này, tác phẩm của Võ Thị Hảo đã có điểm gặp gỡ với một số tác

phẩm viết về chiến tranh sau đổi mới. Khi khai thác những mất mát trong chiến tranh,

nhiều nhà văn, đặc biệt là những nhà văn nữ đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tính

dục của con người. Theo họ thì một trong những điều khốc liệt nhất của chiến tranh

là cướp đi khả năng sinh sản của con người. Rất nhiều người lính khi rời cuộc chiến

đã không còn khả năng yêu thương bởi vì cơ thể họ là những cơ thể không lành lặn.

Không chỉ có cảm giác bị tổn thương về thể xác, những cơn đau đớn về tinh

thần đến với họ càng khốc liệt hơn. Nỗi cô đơn triền miên, nỗi ám ảnh về những cái

chết, nỗi lo sợ bị nhiễm chất hóa học khiến cho cuộc sống của họ như rơi vào địa

ngục.

Với những cô gái ở rừng (Người sót lại của rừng cười) nỗi cô đơn đeo bám họ

như một bóng ma. Ở tít trong rừng sâu, họ dường như bị cô lập hoàn toàn với thế giới

bên ngoài. Thỉnh thoảng cũng có vài người đàn ông đến “chăng vào lòng những cô

gái bé nhỏ chút hi vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến, cho các cô

gái càng thấm thía nỗi cô đơn” [91, 89]. Cả bốn cô đều si mê người yêu của Thảo, cái

sự si mê hộ người khác ấy “không thể hi vọng cắt nghĩa nỗi trong thời bình”, “mà chỉ

những ai đã từng trải qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang

cựa quậy giữa chốn giáp ranh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi” [91, 88].

Đỉnh cao của nỗi cô đơn đó là những cơn điên dại mất cả lí trí. Khi phát bệnh, họ

khóc cười man dại, dứt tóc và xé quần áo, lõa lồ trước mặt những người đàn ông xa

lạ. Để khi tỉnh ra, họ đau đớn “khóc không ra tiếng”. Họ thương cho tấm thân con

gái, tiếc cho lòng trinh bạch và tủi hổ biết bao cho số kiếp của mình. Cái tên “Rừng

cười” nổi danh như một nỗi ám ảnh không dứt cho bi kịch của những người phụ nữ

cô đơn này. Hiên, người cứu các cô gái trong cơn điên loạn đã ghi vào trong nhật kí

của mình:

“Sẽ không bao giờ mình quên được những gì đã thấy ở Rừng Cười. Có lẽ cảnh

chết chóc còn dễ chịu hơn. Ôi! Thế là sau chín năm ở chiến trường, nay tôi đã nhìn

thấy ở Rừng Cười cái cười méo mó man dại của chiến tranh.

Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào chiến cuộc thật khủng khiếp. Tôi

sẵn sàng chết hai lần cho họ khỏi lâm vào cảnh ấy.

Tôi rùng mình khi nghĩ rằng, người yêu tôi, em gái tôi, cũng đang cười sằng

sặc như thế giữa một khu rừng mênh mang nào đó” [91, 95, 96].

Câu chuyện xảy ra ở Rừng Cười thực sự đã tạo nên những tổn thương tinh thần

ghê gớm cho người lính.

Khác với những cô gái trong Rừng Cười, bi kịch của người lính trong truyện

Dây neo trần gian bắt đầu khi anh rời cuộc chiến với nỗi ám ảnh không dứt về trận

mưa chất hóa học trong thời gian tham chiến. Chứng kiến những người bạn đồng ngũ

lần lượt qua đời, anh bắt đầu bị cái chết ám ảnh vì đinh ninh rằng mình cũng bị nhiễm

độc. “Anh lấy vợ nhưng không dám có con vì sợ đẻ ra một quái thai không đầu hoặc

không tay” [91, 72]. Anh sống như một bóng ma, không ai hiểu anh cần gì. Mỗi lúc

mường tượng ra cái cảnh những người bạn của mình “bỗng dưng ốm mòn dần rồi

chết”, “người tóp như một nắm xương khô” gương mặt anh trở nên thật đáng sợ:

“những tia sáng chập choạng trôi dạt trong mắt anh như lửa ma trơi” [91, 77]. Anh

tìm đến với rượu. “Nhưng chẳng còn gì có thể làm cho gương mặt sầu thảm dìm

trong rượu của anh sáng lên được một chút” [91, 76]. Anh tìm đến với thơ. Những

bài thơ của anh thì như “lời những kẻ đang nằm dưới mồ và kể vọng lên trần thế

những cảm giác của cái thế giới bị chôn vùi ấy” [91, 77]. Hình như anh chỉ còn hai

việc: làm thơ và chờ chết. Người đàn ông này giống như một con thuyền không còn

một cái dây neo nào, anh ta không biết phải bám trụ vào đâu cho nên cứ trôi lững lờ,

sống dật dờ theo ngày tháng.

Nói về chiến tranh trong văn học sau 1975, Võ Thị Hảo đã gặp gỡ với Bảo

Ninh, Dương Hướng, Chu Lai, Lưu Minh Sơn… trong việc đề cập đến những đau

thương mất mát và những hệ lụy của nó trong thời hậu chiến. Tuy nhiên ở tác phẩm

của Võ Thị Hảo, những di chứng của chiến tranh không chỉ dừng lại ở nỗi đau, mà

còn như một tác nhân sâu xa hình thành nên những bi kịch nối tiếp của con người.

Người lính trong tác phẩm của Võ Thị Hảo thường không rời cuộc chiến trong

những tấm huân chương chói sáng, không trở về trong cái không khí tưng bừng rực

rỡ cờ hoa. Dù mang danh chung là những người chiến thắng, nhưng với cá nhân họ,

có khi, ngày trở về chính là ngày đón nhận thất bại cay đắng nhất và là sự khởi đầu

cho những chuỗi bi kịch của cuộc đời.

Người đàn ông trong Biển cứu rỗi là một bi kịch như thế. “Số phận không dành

cho anh người đàn bà bạc tóc chờ chồng” [91, 40]. Ngôi nhà của anh trở thành “ngôi

nhà bên đường chiến tranh”. Vợ anh trở thành người phụ nữ qua đường, những giọt

nước mắt đón anh về không phải là “những giọt nước mắt sung sướng dành cho ngày

gặp mặt”. Con gái anh trở thành một đứa trẻ mới tí tuổi đầu mà giọng nói đã có hơi

hướng của sự “đổi chác”. Trong ngôi nhà của anh là những đứa trẻ khác bố, ra đời từ

“những cuộc giao hoan vội vã thoảng mùi chết chóc trước khi đi vào họng tử thần”

[91, 40]. Ngày trở về của anh thực sự là một ngày kinh hoàng. Không biết phải trách

ai, nỗi đau đớn trong anh trở thành một sự phẫn uất tột cùng, “hai bàn tay anh bỗng

thèm máu, anh chỉ muốn bóp chết tất cả - những đứa trẻ lạc loài đói khát, cả người

vợ phụ bạc chỉ còn hai con mắt, cả hơi sữa đổi chác kia” [91, 40]. Nhưng cái gớm

ghét trong lòng anh còn mạnh hơn tất cả, “anh rũ xuống nền nhà và nôn ọe ra những

bụm nước trong vắt”, anh trở nên “gớm ghét đàn bà và nhân thể gớm ghét luôn cả

đồng loại” [91, 40]. Ở anh chỉ còn tồn tại sự uất hận.

Người đàn ông này là một trong rất nhiều những số phận đã trải qua cuộc

chiến. Chiến tranh là số phận của họ, cái số phận mà bản thân những người như họ

không có sự lựa chọn và hiển nhiên nỗi đau của họ cũng chính là nỗi đau chung cho

bất cứ dân tộc nào lâm vào cảnh chiến tranh. Một lần nữa, văn học viết về chiến tranh

sau 1975 đã có chung tiếng nói: ở góc độ con người, chiến tranh là mất mát và hủy

diệt. Những vết thương mà nó gây ra cho thể xác và tinh thần của con người là rất

lớn, có khi trở thành nỗi ám ảnh khủng khiếp cho những người đã trải qua. Điều quan

trọng hơn là họ sẽ không thể nào hòa nhập với cuộc sống đời thường sau khi rời cuộc

chiến. Đó lại là những bi kịch tiếp nối cuộc đời của họ.

2.2.2. Con người không thể hòa nhập với cuộc sống đời thường sau cuộc chiến và sự méo mó về mặt nhân cách.

Những đau đớn về thể xác cùng những chấn thương tinh thần khiến cho người

trở về từ cuộc chiến trong sáng tác của Võ Thị Hảo không thể hòa nhập ngay với

cuộc sống đời thường. Đối diện với những bi kịch của cuộc đời mình, họ thường

chọn cách “chạy trốn”.

Sau những giấc mơ khủng khiếp tỉnh dậy “Thảo thấy mình thật là quỷnh, thật

là khó nhập cuộc”. Bởi khi nhìn sang những cô sinh viên bên cạnh, họ cũng đang

mơ, nhưng “giấc mơ của họ khác xa với giấc mơ của đồng đội cô hồi còn sống” [91,

97]. Thảo biết mình không thể có những giấc mơ êm ả như họ được. Cô tự tách mình

ra khỏi cuộc sống của cộng đồng. Từ chỗ khó nhập cuộc với bạn bè cùng giới, Thảo

chạy trốn luôn khỏi tình yêu và hạnh phúc của đời mình. Cô làm mọi cách để xa

Thành, ngay cả việc bịa ra một người tình phương xa với những lá thư tự viết, tự gửi

cho mình và chưa bao giờ được mở. Để rồi trong đêm tân hôn của người yêu, mình

Người đàn ông trong Biển cứu rỗi thì trốn chạy ra đảo gác đèn, nơi quanh năm chỉ có

gió và sóng biển thét gào, anh muốn trốn tất cả loài người, sống một cuộc đời hoang dã, anh

cảm thấy hả lòng “khi không phải nhìn thấy một ai”, “anh dự định sẽ ở suốt đời trên đảo để

tránh xa đồng loại nhẹ dạ, phản trắc và đầy tội lỗi đã tước đi của anh chút ham hố muốn

sống trên cõi đời” [91, 41]. Anh trở thành một con người khắc nghiệt, khắc nghiệt ngay với

chính bản thân mình.

Người đàn ông trong Hồn trinh nữ cũng không thể sống cuộc sống đời thường sau bao

nhiêu cuộc chém giết đã trải qua trong chiến tranh. Ngày tân hôn của mình, “anh không biết

nói chuyện gì ngoài chuyện chém giết, về những bữa tiệc ngập máu trong triều đình, về

cung cách người ta giết nhau trong thời bình và anh say sưa mô tả các kiểu chết của nhiều

cô xuôi tàu phiêu bạt và tan biến khỏi cuộc đời Thành.

người khác nhau dưới tay kiếm của anh” [93, 80]. Niềm say mê đó chỉ dừng lại cho đến khi

anh ta nhận ra sự ghê sợ trong mắt của người vợ, anh ta chỉ còn biết “nức nở gầm lên rung

chuyển cả căn phòng” rồi “xách kiếm trên tay bỏ đi biệt xứ” [93, 83].

Dường như cùng với trạng thái khó hòa nhập, con người đồng thời cũng bắt đầu có

dấu hiệu tha hóa. Biểu hiện rõ nhất trong truyện của Võ Thị Hảo là sự méo mó về nhân cách

của con người. Đó cũng là một trong những bi kịch của con người khi đối diện với nỗi đau

chiến tranh.

Đa số những nhân vật đi ra từ cuộc chiến trong sáng tác của Võ Thị Hảo đều trở nên

trơ lì và vô cảm.

Người đàn ông trong Hồn trinh nữ trở thành một kẻ có khuôn mặt không biết cười với

ánh mắt lạnh lẽo như ánh thép. Ngay cả trong những giây phút nói với vợ những lời ái ân

“khóe miệng anh vẫn mím chặt khắc nghiệt” và cái nhìn của anh ta thì “lạnh lẽo như cái

nhìn của thần Chết”. Càng cố gắng để cười “anh ta lại thêm vẻ dữ dằn đe dọa của một con

sói”. Bởi vì đã lâu lắm rồi anh ta không làm cử chỉ đó nên bây giờ “anh ta không biết phải

bắt đầu một nụ cười như thế nào”. “Khó nhọc lắm anh ta mới nhớ ra rằng khi cười, người

ta phải để lộ ít nhất là một hàm răng. Anh nhếch môi để lộ hai hàm răng chắc khỏe. Nhưng

anh quên rằng, khi người ta cười chính đôi mắt cười trước, cái miệng cười sau.(…) Mà đôi

mắt muốn cười trước hết trong lòng phải cười trước”[93, 82]. Lòng anh ta đã hóa đá, làm

sao ánh mắt anh ta có thể biết cười?

Người đàn ông trong Biển cứu rỗi sau khi ra sống ở đảo gác đèn thì trở thành một con

người hoang dã, anh mất thói quen đi dép và xa lạ với chính giọng nói của mình, giọng nói

của anh “nó nghe như là tiếng gió hú”. Những đêm bị hành hạ bởi những vết thương của

chiến tranh, anh nổi cơn điên loạn, “ngồi thu lu, đầu gối quá tai, tay cầm gậy, rình đập nát

bét dăm chục con cua vừa mới lóp ngóp lên khỏi mặt nước trong một đêm cua động rồ,

khiến cho đảo đèn tanh sặc mùi cua chết đến ba tháng ròng” [91, 37].

Có thể thấy, không chỉ trở thành những con người trơ lì vô cảm, trong những người

đàn ông này, tính hiếu chiến cũng như bản chất dã thú trong người họ đã được gieo và phát

lộ mạnh mẽ qua chiến tranh. Lao vào những cuộc chém giết mất còn, tính người trong họ

dần dần bị lấn át, nhiều lúc họ trở thành những kẻ khát máu lúc nào không hay.

Qua những nhân vật này, nhà văn dường như cũng muốn cất lên tiếng nói cảnh báo về

sự cấp thiết phải bảo vệ lương tri và nhân tính của con người. Đồng thời một lần nữa khẳng

định rằng: chiến tranh thực sự quá tàn khốc. Chiến tranh đã tàn, nhưng nỗi đau thể xác và

những tổn thương tâm lí đối với những người còn sống thì mãi mãi không thể nào nguôi

ngoai. Nó ám ảnh và bám víu cái dân tộc này như những bóng ma cụt đầu không thể nào

siêu thoát. Linh hồn của những bóng ma đó hàng năm vẫn trở về trong những đêm Vu Lan,

vất vưởng lang thang đi cầu xin lời giải thiêng cho số kiếp. Và máu của những người chết

trận thì vương vãi tích tụ từ năm này qua tháng khác, bết lại thành cái màu nâu của đất, tưới

tắm cho quê hương này. Khám phá số phận của những con người đã trải qua cuộc chiến, Võ

Thị Hảo đi tìm lời giải cho những nỗi đau và bất hạnh của con người Việt Nam. Với chị,

chiến tranh là nỗi đau, là số phận mà không bất cứ dân tộc nào muốn gánh trên vai mình.

2.2.3. Nhiều chiến công thầm lặng đã bị lãng quên

Bên cạnh nỗi đau chết chóc và mất mát trong chiến tranh, nhiều số phận trong sáng tác

của Võ Thị Hảo còn phải chịu đựng những bất công vô lí. Lão Nhát (Vầng trăng mồ côi) và

gia đình của ả Tuynh (Dệt cỏ) là những số phận điển hình.

Đúng với cái tên, lão Nhát (Vầng trăng mồ côi) là một kẻ nhát gan, lão rất sợ tiếng

máy bay. Không hiểu lão đã làm gì mà dân làng ai cũng nghi ngờ lão là tên chỉ điểm, người

ta xa lánh lão, xem lão như một con chó, lão phải cuốn gói ra ở đỉnh đồi xa làng, một mình

với con chó Ghẻ trong một túp lều cỏ cô quạnh. Đêm đó làng bị tấn công, một đoàn xe tải

đạn có nguy cơ rơi vào tầm ngắm của chúng. Chính giây phút đó, lão Nhát đã tự tay châm

lửa cái lều cỏ của mình để tập trung sự chú ý của địch. “Ba chiếc máy bay lập tức bỏ mục

tiêu cũ, đồng loạt bay đến đám cháy và trút tất cả những quả bom lúc lỉu xuống đỉnh đồi”

[91, 32]. Đoàn xe chỉ đợi có thế hối hả vun vút lao đi. Dân làng vẫn bình yên vô sự. Lão

Nhát bị đạn phạt ngang người, khi chết, hai tay lão vẫn còn ôm đầu, cổ rụt vào, “người ta

bảo nhau: lão chỉ điểm đến chết mà vẫn còn nhát”. Cậu bé Nhạ, người chứng kiến cái chết

của lão Nhát đã nói mãi với người làng rằng chính lão Nhát đã tự tay đốt lều của mình để

cứu đoàn xe và dân làng, nhưng chẳng ai tin, phần lớn người ta xoa đầu cậu bảo “Mi thì biết

chi! Con nít”. Người lái chiếc xe chạy sau cùng thì bỗng dưng trở thành anh hùng, với kì

tích “đưa chiếc xe chở đầy đạn dược lao qua bom đạn một cách thần kì”. Người ta viết cho

anh chàng nông dân chất phác đó “một bản thành tích kêu như chuông” và “anh ta đã đọc

rất nhiều lần trước công chúng”, vừa đọc vừa ngơ ngác “sao thế nhỉ?”. Nhưng mà anh

không dám nói ra, bởi vì anh thấy “được làm anh hùng thật dễ chịu ngoại trừ việc cứ bị

phỏng vấn luôn luôn và cứ phải “nhớ lại tình huống như mẫu” luôn luôn”[91, 35].

Bi kịch của lão Nhát là bi kịch của một con người bị đồng loại xa lánh, phỉ nhổ, bị

những thành kiến của đồng loại hành hạ tủi nhục, ngay cả hành động dũng cảm và cái chết

đau đớn của lão cũng bị phủ nhận bởi thói hư vinh của con người. Câu chuyện về lão Nhát

có lẽ không phải là duy nhất trong xã hội Việt Nam trong và ngay cả sau chiến tranh. Nhà

văn đã đánh động đến lương tâm con người và mạnh dạn lên tiếng đòi công lí cho những

người bị đối xử và phán xét thiếu công tâm.

Còn trong Dệt cỏ, hành trình đi đòi món tiền trợ cấp cho anh thương binh Phục, con

trai ả Tuynh, là cả một quá trình gian nan. “Hàng mấy chục lá đơn gửi từ xã lên huyện.

Huyện nhận được lá đơn thứ năm thì trả lời lên mà hỏi tỉnh. Tỉnh im lặng cho đến lá đơn

thứ bảy thì nói Trung ương chưa gửi về. Hỏi Trung ương, Trung ương nói do tỉnh chưa đưa

danh sách. Hỏi tỉnh, tỉnh bảo đã đưa mà Trung ương làm thất lạc. Nhờ “tay trong” xem

trộm danh sách ở huyện, thấy có tên thằng Phục và có người kí lĩnh hàng tháng. Nhờ huyện

truy xem đó là ai thì nói chữ kí lằng nhằng không rõ. Và tỉnh bảo thắc mắc làm gì, tỉnh nhận

được hàng mấy trăm đơn mỗi năm mà đã giải quyết được đâu vì đang điều tra xem có phải

thằng Phục đúng là bị thương khi đang chiến đấu hay vào lúc đào ngũ”[94, 20, 21]. Nghe

mà chua xót và căm phẫn. Công lao của những thương binh trong chiến trận như Phục

không được xem xét bởi sự vô tâm của những người thi hành chính sách. Còn ả Tuynh thì

đến khi lưng còng, tóc trụi, đến giờ phút sắp chết vẫn còn mơ về món tiền trợ cấp chưa đòi

được.

Phanh phui những sự thật có thể khiến lương tâm của con người căm phẫn, nhà văn

cũng muốn cất lên tiếng nói đòi công lí cho những kiếp người bất hạnh.

2.2.4. Hình ảnh những người phụ nữ góa bụa, cô đơn – sự ám ảnh khôn nguôi về nỗi đau chiến tranh

Sau cuộc chiến, những bi kịch của con người khi đối diện với chiến tranh dường như

vẫn còn đeo bám, không chỉ với chính bản thân người lính mà cả những người thân của họ.

Đặc biệt là những người phụ nữ. Được ví như những hiền nhân “không tan trong thời gian,

họ là những người đầu tiên kêu gọi nhân loại hãy phỉ nhổ sự đẫm máu, bằng bản năng mềm

yếu đầu tiên của giống yếu. Nhưng khi cuộc chiến xảy ra, thì họ lại chính là những người

nhoi ra khỏi nó muộn nhất, và gần như không bao giờ họ nhoài ra được cái vũng đẫm máu

ấy”[92, 71,72].

Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, những người phụ nữ có chồng hoặc người thân đi

chinh chiến hầu hết đều trở thành những người phụ nữ góa bụa, hoặc không còn khả năng

sống hạnh phúc bên cạnh người đàn ông vừa trở về từ cuộc chiến.

Trong truyện ngắn Hồn trinh nữ có đến ba thế hệ người phụ nữ chờ chồng đi trận

trong một gia đình. Hai kiếp thứ nhất, hai người đàn ông lần lượt ra đi nhưng người về thì

chỉ một, người đàn bà đón chồng mà chỉ biết khóc thầm trong dạ: “Cân đai, mũ áo, bổng

lộc vua ban… tất cả đều đẹp, nhưng đầu ta và ông ấy đã ngã màu sương”[92, 74, 75]. Tuổi

xuân và hạnh phúc của họ thật sự đã tàn phai. Kiếp đàn bà thứ ba ra đời, cả nhà đã quyết sẽ

không gả nó cho người lính nào nữa cả, bởi họ đã quá ngán ngẩm cái cảnh đợi chờ. Vậy mà

rồi cô bé cũng đã yêu và chờ đợi một người đi chiến trận suốt mười bảy năm trời để rồi trả

về cho cô là một người đàn ông có “gương mặt không biết cười” và “đôi bàn tay đầy máu”.

Người đàn ông không thể hòa nhập với cuộc sống trong đêm tân hôn đã bỏ đi biệt tích. Cô

gái trở thành nàng trinh nữ lỡ thì, sống âm thầm như cái bóng. Nàng chết mà vẫn là trinh nữ,

rồi linh hồn hóa thành cây cỏ gai xấu hổ ở bên đường, loài hoa với những nụ hoa tròn màu

tím buồn man mác như cuộc đời nàng.

Trong truyện Trận gió màu xanh rêu người phụ nữ lấy chồng chẳng được mấy hôm là

anh ra trận, sau hai tháng đã có giấy báo tử, lúc này chị đã có mang. Bao năm trôi qua, con

gái đã mười lăm, mười sáu tuổi chị vẫn chưa tin là anh chết vì hài cốt của anh vẫn còn đang

thất lạc. Cho đến một ngày, sau bao cuộc tìm kiếm, cứ ngỡ đã tìm được anh, nào ngờ đào

mộ lên chỉ thấy xác của một con thú rừng, chị ngất xỉu hóa điên hóa dại và bỏ làng đi lang

thang. Đến làng Đẽo, nhìn thấy hàng đoàn người phụ nữ góa của làng Đẽo, đầu chít khăn

tang, với những mâm cỗ và khói nhang nghi ngút trong “ngày giỗ chung” chị mới giật mình

choàng tỉnh cơn điên. Rồi cuối cùng “nhập cư” luôn vào cái làng đó, ngôi làng của những

người phụ nữ góa bụa, nói như Đoàn Cầm Thi, “thay vì yêu đương và sinh đẻ họ lại suốt

ngày ngồi tạc những tượng đá mang dáng khum khum của đầu và vai người, đó là những

chiếc bia mộ”[73]. Họ bất hạnh biết là bao.

Hình ảnh những người phụ nữ này còn xuất hiện ở một vài truyện khác, trở thành một

ám ảnh về chiến tranh trong cái nhìn của Võ Thị Hảo. Chiến tranh đã cướp đi những người

đàn ông, đồng nghĩa với việc cướp đi hạnh phúc có một mái ấm, hạnh phúc được làm vợ

làm mẹ của những người phụ nữ. Những bi kịch của cuộc đời họ chính là nỗi mất mát ghê

gớm của dân tộc Việt Nam.

Số phận con người khi đối diện chiến tranh là một đề tài quen thuộc trong văn học

nhưng qua sáng tác của Võ Thị Hảo người đọc vẫn tìm thấy nhiều điều mới mẻ. Cái mới ở

đây không chỉ xuất phát từ tư duy và quan niệm sáng tác mà còn bởi tấm lòng biết nhìn

thẳng vào nỗi đau để đồng cảm sẻ chia với những mất mát, những bi kịch của con người.

Chân dung những người lính trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo không lấp lánh những

ánh hào quang, mà gẫn gũi, chân thực và có khi trần trụi đến khốc liệt nhưng vẫn dành được

sự trân trọng, sẻ chia nơi người đọc.

Một lần nữa, văn chương của Võ Thị Hảo cùng với văn học sau đổi mới đã góp thêm

cái nhìn khác về bản chất của chiến tranh, đó không hẳn là cái nhìn thiên lệch khi nhà văn

chỉ mô tả toàn những mất mát, đau thương, những bi kịch cuộc đời. Nó là tiếng nói bổ sung

cho văn học viết về kháng chiến, một sự bù đắp thật sự xứng đáng cho những đè nén, dồn tụ

trước đây. Bởi nó chính là sự thật cuộc đời, một cuộc đời luôn có niềm vui và nỗi buồn,

hạnh phúc và khổ đau, nó chẳng cần ai phải tô hồng hay bôi đen.

2.3. Con người tham vọng và tha hoá

2.3.1. Con người tham vọng

Người ta thường hay nhầm lẫn giữa “tham vọng” và “khát vọng” ở chỗ cả hai đều là

những mong muốn gắt gao. Tuy vậy hai khái niệm này có ranh giới tương đối rõ ràng, khát

vọng cũng là những mong cầu, những ao ước lớn lao nhưng đó là những ao ước mà con

người có thể đạt được trong khả năng của mình, là động lực giúp con người tiến bộ và làm

cho xã hội phát triển. Còn tham vọng là “ham muốn trên sức mình”, nói rõ hơn đó là lòng

ham muốn, mong ước quá lớn, thường vượt xa khả năng thực tế, khó có thể đạt được. Tham

vọng thường khiến con người bất chấp tất cả để đạt được cái mình muốn, kể cả thỏa hiệp

với cái xấu, sẵn sàng làm điều xấu và có thể trở thành nô lệ cho cái ác.

Trong thế giới nghệ thuật do Võ Thị Hảo dựng nên, con người thường hay hoang

mang trước những chân giá trị của cuộc sống. Mọi chuẩn mực dễ trở nên méo mó trong một

thế giới xô lệch đa chiều. Khi những ham hố vô biên trỗi dậy, con người lao vào những cuộc

kiếm tìm các yếu tố giúp họ thỏa mãn những mong cầu đang ngày một lớn dần cả về vật

chất lẫn tinh thần. Và đến khi những mong cầu đó trở thành không giới hạn, biến thành

những tham vọng điên cuồng thì cũng chính là lúc họ phải trả giá bằng những bi kịch của

cuộc đời mình.

2.3.1.1. Tham vọng được sống nhiều kiếp

Nhân vật Từ Đạo Hạnh trong tiểu thuyết Giàn thiêu có thể xem là một bi kịch

lớn của con người trong bể trầm luân vô tận. Từ đã trải qua hai kiếp nhân sinh và có

thể nói là đã sống qua ba cuộc đời nhưng vẫn cứ loay hoay trong những mong cầu

không bao giờ thỏa mãn.

Từ Lộ là một con người bất hạnh, vừa lớn lên với giấc mộng tình yêu và tương

lai sáng lạn, phút chốc trở thành kẻ trắng tay, tan cửa nát nhà, mất cả tình yêu. Hận

thù và đau khổ đã cướp mất tuổi trẻ của chàng, cả trái tim yêu thương cũng trở nên

chai sạn. Khước từ tình yêu của Nhuệ Anh, chàng dấn thân vào cuộc hành trình khắc

nghiệt để học đạo báo thù. Nhưng sau mười ba năm trải bao gian lao khó nhọc tưởng

chừng chết đi sống lại, đắc đạo trở về thì kẻ thù cũng đã tự mình hủy hoại. Diên

Thành hầu kẻ chủ mưu ám hại cha chàng thì sống dở chết dở vì đứa con trai thừa tự

duy nhất của ông ta đã trở nên điên dại. Còn pháp sư Đại Điên trở thành một kẻ già

nua sống vất vưởng bằng những trò bịp bợm. Giết được Đại Điên, trả được thù nhà,

nhưng Từ Lộ đau đớn nhận ra rằng cuộc đời của chàng đã bị cướp đoạt, hạnh phúc

của chàng đã bị giằng xé mất, chàng đã phí mất cả một kiếp người. Con người chàng

tràn ngập một cảm giác trống rỗng, chàng bỗng như kẻ bị lạc đường. Muốn lao đầu

xuống thác Oán để kết thúc cuộc đời, nhưng rồi những kỉ niệm về cuộc ân ái với

Nhuệ Anh trên bè nứa sông Gâm khiến ngọn lửa dục trong con người chàng trỗi dậy

mãnh liệt. Không đủ can đảm để chết, cũng không biết sống để làm gì, Từ Lộ rơi vào

trạng thái “châng lâng”, đó là bi kịch của một con người không tìm thấy ý nghĩa của

sự tồn tại.

Quyết định dấn thân vào con đường “diệt dục” để tìm kiếm “chân tâm”, Từ Lộ

trở thành một Đạo Hạnh thiền sư được mọi người suy tôn như bậc thánh. Nhưng khi

tưởng chừng đã công đức vẹn toàn, người đàn ông trong Từ vẫn còn hết sức hoang

mang, “đôi lần ngẫm thân phận mình trong lòng sao bỗng xót xa như chưa kịp sống,

chưa được sinh ra trên cõi đời này” [95, 472]. Cảm thấy nuối tiếc, bởi cuộc đời “như

một ngọn bấc sắp tàn” mà ông ta thì vẫn “chưa có một ngày sống cho mình”. Con

người đó bao đêm đã từng “nghiến chặt răng trên giường đá của tăng viện, cắn nát

cả một bên tay để diệt ngọn lửa dục” với mong muốn tu hành đắc đạo để “kiếp sau

sẽ trở thành người có quyền lực lớn nhất thiên hạ” đồng thời lại cũng không ngừng

bị thôi thúc bởi khát khao được hưởng lạc ngay chính ở kiếp này.

Như vậy dù là Từ Lộ hay khi đã trở thành Đạo Hạnh thiền sư, nhân vật này

luôn bị bủa vây bởi những tham cầu không được thỏa mãn. Đứng trước sự lựa chọn

giữa một bên là sống khắc khổ diệt dục với một bên là hưởng lạc, Từ Đạo Hạnh đã

chọn con đường thứ hai, vì không thể buông bỏ những tham ái càng ngày càng thiêu

đốt ông ta, có lúc khiến ông ta cảm thấy mình trở thành một kẻ đạo đức giả. Cuộc

chuyển kiếp luân hồi của Từ Đạo Hạnh thực chất là cuộc hồi hương của con người

trong hành trình đi tìm bản ngã và có lẽ đó mới là con đường nhận diện “chân tâm”

đích thực.

Tuy nhiên kiếp sau của Từ Đạo Hạnh là Thần Tông – Dương Hoán mặc dù

được thỏa cái tham vọng hưởng lạc nhưng nhân vật này lại rơi vào một chuỗi bi kịch

khác.

Ngay từ khi mới ra đời, Dương Hoán đã là một đứa trẻ yếu ớt. Sớm chứng kiến

những nhiễu nhương của thời cuộc, cũng như không thể thay đổi được cục diện của

thời thế, chàng nhanh chóng trở thành con rối trong tay bọn quan lại lộng quyền.

Giữa đám cung tần mĩ nữ với đủ trò ăn chơi trác táng do những kẻ thân cận dựng nên,

Thần Tông nhanh chóng bị vắt kiệt sức lực ngay khi đang còn trong tuổi thanh xuân.

Và đau khổ hơn là, những ham hố trong con người chàng lại luôn quá lớn trong khi

cơ thể thì ngày càng suy kiệt. Những cơn mây mưa khiên cưỡng không hề mang lại

cho chàng sự giải phóng và cảm xúc bình yên. Lại thêm mối tình dang dở với Nhuệ

Anh được gieo từ kiếp trước khiến cho chàng luôn thường trực một cảm giác không

thỏa mãn trong tiềm thức. Chàng luôn cảm thấy thiếu một cái gì đó thật mơ hồ. Cho

nên mối duyên kì ngộ với cung nữ Ngạn La và cuộc gặp lại Nhuệ Anh – sư bà động

Trầm, chính là bi kịch lớn nhất cuộc đời nhà vua trẻ.

Mỗi lúc muốn gần gũi Ngạn La, Thần Tông luôn nhìn thấy đôi mắt u sầu tuyệt

vọng của Tiên vương cùng những ngón tay xương xẩu, gương mặt già nua đáng sợ

như đang đòi nợ chàng. Một nỗi sợ hãi bám riết chàng như định mệnh. Trong con

người chàng luôn có xung đột giữa niềm ham muốn vô biên với khả năng thực tế, lại

thêm nỗi lo sợ dày vò khiến cho cuộc sống của chàng là những ngày dài u tối, không

có niềm vui và hạnh phúc.

Gặp lại Nhuệ Anh, những ẩn ức được giải tỏa, cảm giác thiếu vắng từ lâu

chàng kiếm tìm giờ đã gặp. Nhưng Nhuệ Anh bây giờ đã không còn là nàng tiểu thư

sẵn sàng chết theo chàng khi lao đầu xuống thác Oán năm xưa. Nàng đã trở thành

ngọn gió hoang, sống kiếp vân du, nàng không chấp nhận một Thần Tông ngạo nghễ

trên ngai vàng. Bị đọa đày trong lốt hổ, Thần Tông hoang mang giữa hai kiếp để rồi

cuối cùng quyết định quay trở về với cung điện lầu son, sống nốt những ngày tháng

cuối cùng trong bi kịch. “Ngày ngày làm những việc theo bổn phận, theo những tham

vọng mà cứ phải ngẩn ngơ nhớ tiếc một người, đó là mình (…) Ngày ngày lại điên

cuồng thụ hưởng lạc thú, xót xa linh cảm về một cuộc đời hữu hạn, thấy cõi Niết bàn

mà mình hằng ngõm ngọi đang mỗi ngày một lùi xa” [95, 148]. Nói chung, sự lựa

chọn của Thần Tông không mang lại hạnh phúc cho chàng mà lại khiến chàng rơi vào

hoang mang cực độ, mọi lạc thú nơi cung son cuối cùng cũng không thể thỏa mãn

được chàng. Chàng mãi cô đơn cùng giấc mơ tuyệt vọng về Ngạn La và đau đớn với

trái tim một Từ Lộ tiếc nhớ Nhuệ Anh và những mảnh tâm hồn mình.“Dằn vặt trong

lòng, một Thần Tông nuối nhớ Đạo Hạnh. Rồi một Đạo Hạnh hoang mang nuối nhớ

Từ Lộ. Và Từ Lộ lại da diết nhớ cái giọt linh hồn lơ lửng không thuộc về ai, trôi dạt

giữa cõi trời và cõi người(…)” [95, 148]. Cái giọt linh hồn lơ lửng ấy đã trải qua mấy

kiếp mà vẫn chưa tìm thấy được thân xác nào để trú ngụ. Thần Tông chết đi, lửa giàn

thiêu lại nhuốm máu, chờ đợi những cuộc thanh trừng khốc liệt kế tiếp. Còn ở hang

Phật Tích, cái thân thể của Đạo Hạnh thiền sư với những dấu chân, bàn tay còn xiết

vào vách đá báo hiệu linh hồn ngài vẫn còn đang nổi trôi trong bể trầm luân chưa tìm

ra lối thoát.

Tóm lại, hành trình của Từ Lộ là hành trình của một con người loay hoay đi

tìm ý nghĩa sự tồn tại của mình trong cõi nhân gian. Dù tồn tại trong kiếp nào, nhân

vật này vẫn không tránh khỏi những bi kịch ám ảnh như là định mệnh. Trong cuộc

luân hồi vô thủy vô chung của Đạo Hạnh – Thần Tông quả khó nói được là cái gì làm

cho con người thỏa mãn. Chân lí là cái gì đó thật bấp bênh, hạnh phúc cũng chỉ là

quan niệm, con người chơi vơi trong thân xác bé nhỏ, mệt mỏi vì phải cõng trên nó

những tham vọng không cùng. Tham vọng được sống nhiều kiếp của Từ Đạo Hạnh

chính là giấc mộng hoang đường, là bi kịch lớn nhất của ông ta. Nhà văn như muốn

cảnh tỉnh con người, kéo họ trở về với thực tại để sống cho trọn vẹn kiếp nhân sinh

hiện hữu. Ngoài ra, số phận đầy bi kịch của Từ Lộ – Thần Tông cũng hé lộ một thế

giới hiện thực hết sức phức tạp và nhiều cám dỗ đang bao quanh, nếu không sáng

suốt con người dễ rơi vào bi kịch bởi chính những tham vọng đầy ảo tưởng của mình.

2.3.1.2. Tham vọng trong công danh, sự nghiệp

Võ Thị Hảo xây dựng không nhiều những chân dung con người đầy tham vọng

trên con đường tạo dựng công danh, sự nghiệp. Tuy nhiên mỗi chân dung thuộc chủ

đề này đều tạo được một dấu ấn đậm nét đối với độc giả.

Trong tiểu thuyết Giàn thiêu xuất hiện rất nhiều những con người vì mưu cầu

danh lợi mà trở nên điên cuồng, bất chấp thủ đoạn.

Đó là Lý Trác – một anh học trò nghèo từng bước leo lên những nấc thang

danh vọng, trở thành vị quan nhất phẩm triều đình, mà trong mỗi bước đi, ông ta đã

giẫm đạp lên không biết bao nhiêu máu và nước mắt của người vô tội.

Nạn nhân đầu tiên của Lý Trác chính là Lê Thị Đoan. Người đàn bà tài cao

học rộng vì giả trai đi thi mà bị Lý Trác dùng mưu lột khăn áo giữa chốn công đường

để rồi phải bị đày đi biệt xứ.

Hòng nhanh chóng tiến thân trên con đường danh lợi, Lý Trác không một chút

đắn đo nhận lời lấy tiểu thư của một gia đình hoàng tộc mà ông ta chẳng chút yêu

thương. Mối tình với người con gái của ân nhân trong buổi hàn vi, nguy khốn cuối

cùng chỉ còn rơi rớt lại chút lòng hoài niệm đáng thương.

Ngay cả đứa em gái cũng trở thành bánh xe lót đường cho Lý Trác. Ông ta đưa

em mình vào hầu hạ Thái hậu để mua chuộc lòng tin yêu của Thái hậu mà được cất

nhắc vượt bậc. Rồi không một chút xót thương nhìn đứa em của mình bị chôn sống

khi Hoàng thái hậu qua đời.

Có thể nói, Lý Trác là một kẻ xu phụ quyền lực. Tất cả những ai không hợp ý,

dám có lời khác với ý ông ta hoặc không chịu cung đốn, quỵ lụy đều bị ông ta vu cho

tội bất trung mà hãm hại. Tham vọng quyền lực khiến ông ta điên cuồng thực thi

những luật lệ hà khắc, nhân danh kỉ cương phép tắc mà thao túng cả triều đình.

Dưới mắt ông ta, một Ngạn La ngời ngời sức sống, một mầm xanh vươn lên

quyết liệt chống trả với ngọn lửa giàn thiêu, bất chấp cả uy quyền chính là một điều

khó chấp nhận được. Ngạn La chính là cái gai trong mắt khiến ông ta không thể nào

sống yên ổn được. Oan nghiệt thay cái gai mà ông ta tìm mọi cách để nhổ đi đó chính

là giọt máu duy nhất của ông ta còn lại trên thế gian này. Cuộc đối đầu giữa cha và

con chính là bi kịch đau đớn nhất của Lý Trác và nó cũng cho thấy tính người cũng

như sức mạnh tình thân trong con người Lý Trác đã dần dần bị hủy diệt bởi tham

vọng điên cuồng, vô lối của ông ta.

Như một con quái thú đã trót lao vào bẫy rập do chính tay mình tạo ra, ông ta

không còn khả năng để thoái lui nữa. Khi lờ mờ nhận ra dấu vết người yêu xưa trên

mình Ngạn La, ông ta cũng không đủ can đảm đứng ra làm rõ mà cố tình xua đuổi ý

nghĩ đó đi. Đến khi chứng thực được nàng là con gái cũng là lúc ông ta đối diện với

những lời nguyền rủa của nàng. Nhìn theo cái bóng của con gái biến mất trên giàn

thiêu, vị quan thái bảo quyền uy chỉ khẽ nấc lên trong miệng hai tiếng “con ta” nhưng

đôi môi thì vẫn mím chặt, “con mắt độc nhỡn vẫn mở trừng trừng”, “hai bàn tay khô

khỏng áp chặt lên ngực mà cảm thấy từng nhát từng nhát cái miệng và bốn móng sắc

nhọn của con thạch sùng đen cấu xé trong tim” [95, 541]. Chính ông ta đã góp tay

bóp chết giọt máu duy nhất của mình rồi trở thành kẻ tuyệt tự, ôm nỗi đau lớn nhất

của một người đàn ông không có người nối dõi.

Những tham vọng điên cuồng của quan thái bảo Lý Trác biểu hiện cho niềm

đam mê quyền lực đến khủng khiếp bất chấp tất cả của con người. Kết cục của tham

vọng đó chính là cảm giác “vong thân” mù quáng, con người rơi vào nỗi cô đơn và sự

trống rỗng tột cùng. Khi đối diện với thế giới quyền lực xô bồ, nhiều cám dỗ, bản

thân họ đã tự đánh mất cái thiện vốn mong manh và ít ỏi trong con người mình. Tham

vọng quyền lực nhiều lúc còn khiến họ trở thành những kẻ đạo đức giả mà không

hay.

Linh Nhân hoàng thái hậu cũng là một con người nhiều tham vọng trong tiểu

thuyết Giàn thiêu. Bằng cách tiếp cận lịch sử từ góc độ con người cá nhân, Võ Thị

Hảo đã tiểu thuyết hóa hình tượng Ỷ Lan, tạo hiệu ứng đa chiều trong cách nhìn và

đánh giá về người đàn bà quyền lực và có ảnh hưởng rất lớn trong triều đình nhà Lý

này.

Ỷ Lan trong Giàn thiêu không chỉ là người phụ nữ tài năng, thông minh xuất

chúng mà còn là một con người nhiều thủ đoạn, sẵn sàng gạt phăng những chướng

ngại trên đường đi của mình để leo lên đỉnh cao quyền lực. Bàn tay bà ta đã vấy máu

của Dương hoàng hậu và mấy chục cung nhân, đến cuối đời không ngừng bị những

linh hồn oan khuất này ám ảnh đòi mạng. Ỷ Lan dù có ngụy biện đã làm bao việc

thiện, xây bao nhiêu chùa, tích nhân tích đức nhưng vẫn không thoát khỏi tòa án

lương tâm, quyền lực tối thượng của lương tri con người. Người đàn bà trên tột đỉnh

vinh quang đó đã lập nên bao nhiêu công trạng lẫy lừng cuối cùng con trai vẫn không

có người nối dõi, một mình không thể nào ngăn được sự suy thoái của vương triều,

cuối cùng bà cũng nhận ra những giới hạn mà con người không thể vượt qua. Cái

chết không yên ổn và những dằn vặt cuối đời của hoàng thái hậu chính là trạng thái

đầy bi kịch của kiếp nhân sinh.

Phanh phui đến tận cùng những số phận cá nhân đầy bi kịch, Võ Thị Hảo cũng

vạch trần bản chất giả dối đôi lúc được ngụy trang bằng những vỏ bọc hào nhoáng

của con người. Nhà văn không thi vị hóa hay thần thánh hóa những nhân vật đã trở

thành tượng đài bất biến. Lịch sử có cách đánh giá của lịch sử, còn nhà văn có cách

nhìn nhận của riêng mình. Những chân dung lịch sử đi vào sáng tác của Võ Thị Hảo

trở thành những hình tượng sống động, đa chiều trong cái nhìn và cách lí giải dựa

trên số phận con người của nhà văn. Phơi bày những bi kịch cá nhân của những chân

dung lịch sử đã được người đời phong thánh, nhà văn không chỉ đưa họ trở về gần gũi

với cuộc sống đời thường mà thông qua đó còn giúp người hôm nay nhìn nhận và

đánh giá cuộc đời một cách bình tĩnh và sáng suốt hơn.

Nếu trong Giàn thiêu là những chân dung con người tham vọng quyền lực

không từ thủ đoạn, thì trong nhiều truyện ngắn của Võ Thị Hảo lại xuất hiện những

người đàn ông vì chạy theo những tham vọng công danh mà hi sinh tuổi trẻ, đánh mất

tình bạn, tình yêu và hạnh phúc gia đình. Con đường lập công, lập danh của người

lính trong truyện Hồn trinh nữ được gom lại trong một nhiệm vụ duy nhất: chém giết

và thanh trừng. Để nhận được phần thưởng một chiếc đai vàng của nhà vua, anh ta

chẳng chút run tay đâm vào lưng người bạn cũ. Đánh mất tình bạn, anh ta cũng không

còn khả năng được yêu và sống hạnh phúc. Người đàn ông cay đắng nhận ra rằng

phần thưởng cuối cùng cho người lính quá nửa đời phụng sự đấng quân vương chính

là đêm tân hôn vĩnh biệt.

Những con người mê mải chạy theo tham vọng công danh, đam mê quyền lực

trong sáng tác của Võ Thị Hảo thường bị cuốn theo guồng quay của cả hệ thống

chính trị, nhiều lúc trở thành nạn nhân của thời cuộc. Bản thân họ có thể thỏa mãn cái

tham vọng lập công danh hiển hách, nhưng đứng trên phương diện một con người cá

nhân, họ luôn phải trả giá cho những tham vọng của mình. Bi kịch cuộc đời họ chính

là bài học cho những ai quá điên cuồng kiếm tìm công danh, chạy theo quyền lợi mà

bất chấp tất cả. Nhà văn dường như cũng muốn đối thoại với người đọc rằng: khát

vọng kiếm tìm công danh, lập thân, lập nghiệp là điều đáng trân trọng nhưng quá

tham vọng công danh, để đạt được công danh mà bất chấp thủ đoạn thì sẽ phải trả giá

đắt. Bởi danh lợi và quyền lực không mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Ở

bất kì thời đại nào thì lương tri và đạo đức vì con người mới là điều đáng được suy

tôn; những thứ đi ngược lại lương tri và đạo đức đó thì dù có nhân danh bất cứ quyền

lực nào cũng sẽ bị diệt vong.

2.3.1.3. Tham vọng trong tình yêu

Không chỉ trong công danh, sự nghiệp, kiểu người tham vọng trong văn xuôi

Võ Thị Hảo còn xuất hiện thông qua các mối quan hệ tình cảm như tình vợ chồng,

tình yêu đôi lứa.

Con người tham vọng trong tình yêu luôn đòi hỏi những khao khát vô biên

cũng như sự chiếm hữu tuyệt đích một cách ích kỷ. Khi đối diện với người khác phái

họ thường đặt cái tôi của mình lên trên hết, luôn đòi hỏi ở người khác sự cho đi vô

điều kiện. Chính tham vọng quá lớn khiến họ luôn không biết giới hạn, sự đòi hỏi

ngày một tăng lên khiến con người dễ đánh mất tình yêu và hạnh phúc.

Chàng trai trong truyện Nàng tiên xanh xao đã đánh mất người vợ trong đêm

tân hôn bởi vì trong cơn say “tính tham lam vô độ của giống đực từ thuở hồng hoang

trỗi dậy”, chàng đùa giỡn với những người con gái khác, “những cô gái có đôi má đỏ

hồng”, cùng họ “chơi trò ú tim trong gian buồng lộng lẫy” bỏ mặc người vợ mới cưới

cô đơn với sự hụt hẫng bẽ bàng. Đến lúc nàng bỏ đi, chàng mới vội vã chạy theo níu

kéo chỉ với lời biện hộ rằng “đàn ông đôi khi vẫn thế”. Chàng cầu xin Thần Núi cho

chàng trăm ngàn vòng tay để quấn chặt lấy nàng dù Thần Núi đã nói rằng chàng chỉ

có thể giữ được thân hình của nàng, còn tình yêu của nàng thì đã ra đi mãi mãi. Khi

người con gái cố thoát khỏi vòng tay của chàng trai, nàng vươn lên cao hóa thành

những bông hoa trắng muốt, chàng trai vẫn chưa từ bỏ, chàng biến thành những cái

gai nhọn mọc quanh thân cây, mặc dù mãi mãi không thể chạm tới những cánh hoa

trắng muốt trên kia nhưng nó cũng không muốn bất kì kẻ nào sở hữu được đóa hoa

thơm ngát đó. Nó cứ bám chặt không rời và không thôi thì thầm những lời có cánh

“ta giữ cho em khỏi những bàn tay phàm tục, để em chỉ là của riêng ta, chỉ của riêng

ta mà thôi” [93, 60].

Điều này cho thấy, ngay cả khi không đủ khả năng để níu kéo, con người vẫn

khát khao được chiếm hữu và không ngừng đòi hỏi. Nhà văn đã chỉ rõ rằng bản chất

tham lam và ích kỉ chính là chất độc giết chết tình yêu và hạnh phúc của con người.

Y Nhớt trong truyện Khát của muôn đời từ đa nghi, hẹp hòi mà trở thành người

đàn ông độc ác trong tình yêu cũng bởi vì lẽ đó. “Chàng làm điều ác một cách hồn

nhiên và tưởng đó là cách duy nhất để thể hiện tình yêu”[92, 109]. Người phụ nữ bị

chàng nghi ngờ dằn vặt và phụ bạc, cuối cùng phải bỏ nhà ra đi, rồi biến thành cây

chanh cô đơn bên bờ suối cạn. Còn chàng ta thì vẫn ở lại buôn làng, “lấy vợ, có con

đàn cháu đống, rồi có chắt, chút, chít rải khắp mặt đất này” [92, 108].

Ba người đàn ông trong truyện ngắn Tim vỡ đều có công lao tạo ra người con

gái đẹp tuyệt trần để rồi chính họ đã giết chết nàng bằng những tranh giành ích kỉ. Ai

cũng muốn có được nàng. Khi nàng quyết định chọn người đàn ông thứ ba cũng

chính là lúc nàng luôn bị dằn vặt vì những lời kể công của hai người đàn ông còn lại.

Cho đến một ngày khi nàng tự mình hủy hoại sắc đẹp do chính tay họ tạo ra, hai

người đàn ông đầu tiên trông thấy nàng đã hoảng hồn bỏ chạy. Không có sắc đẹp,

nàng vẫn còn một trái tim, nhưng trớ trêu thay, người chồng nàng cũng kinh tởm cả

cái tâm hồn mà chàng luôn tự hào đã dày công tác tạo. Lúc này nàng mới vỡ ra:

người đàn ông này đã đi qua biết bao linh hồn như nàng vậy, “chẳng cần biết linh hồn

đó có tự xoay xỏa lấy được với cái thân xác nặng nề của nó hay không” [92, 61].

Khốn khổ thay cho đàn bà! Kiếp người ngắn ngủi mà họ cứ suốt đời “đuổi theo

những cao siêu mây gió” trong khi đàn ông thì “chỉ dừng lại nơi làn môi, khóe mắt và

thân xác hứa hẹn đầy lạc thú” của họ mà thôi!

Chỉ ra những tham vọng của con người trong tình yêu, Võ Thị Hảo không chỉ

cho thấy sự khác biệt rất lớn trong quan niệm về tình yêu của nam và nữ mà còn bộc

lộ thái độ rõ ràng đối với cách ứng xử của con người với tình yêu. Trong tình yêu,

nếu tham vọng và đòi hỏi quá nhiều sẽ chỉ khiến con người rơi vào bi kịch, tự mình

đánh mất tình yêu và hạnh phúc, đánh mất bản thân, hoặc làm khổ người mình yêu,

khiến họ cô đơn và dở dang mãi mãi. Nhà văn phê phán thói tham lam, ích kỉ của con

người, đồng thời gởi gắm khát vọng về một tình yêu chân chính với cảm xúc giao

hòa, tình thương, sự vị tha, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

2.3.2. Sự tha hóa của con người

Văn học sau đổi mới quan tâm nhiều đến hình tượng con người tha hóa. Điều

này bắt nguồn từ thực tại xã hội thời hậu chiến vốn nhiều biến động và phức tạp khó

lường. Giữa muôn mặt đời thường, thiện – ác không còn rạch ròi đơn giản như trong

thời kháng chiến. Cái ác len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống, tồn tại dưới nhiều

hình thức khác nhau, có khi được ngụy trang dưới nhiều lí do, lí thuyết. Hàng loạt tác

phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ

Duy Anh… đã phanh phui, mổ xẻ những cái xấu, cái ác cũng như quá trình tha hóa,

biến dạng của rất nhiều những số phận cá nhân, thông qua đó phản ánh bi kịch tha

hóa của xã hội.

Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, sự tha hóa của con người không hiện diện một

cách lạnh lùng và khốc liệt như trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị

Hoài. Cũng không được miêu tả một cách trực tiếp thông qua những số phận cá nhân

có tính chất trung tâm. Nhà văn thường đặt sự tha hóa của con người trong những

mối quan hệ cộng đồng, có tính bao quát, chẳng hạn như sự suy thoái biến chất của

những ông quan tham, hay sự vô cảm, thờ ơ của những người cùng sống chung trong

một cộng đồng đối với một vài cá nhân nào đó… Cũng có khi nhà văn đặt con người

giữa ranh giới của Thiện – Ác để họ lựa chọn và cũng là để thức tỉnh lương tri của họ.

Đọc những trang văn của Võ Thị Hảo, ta có thể thấy rõ: những cảnh ăn chơi

trác táng được phanh phui, những trò tham ô, ăn chặn được phơi bày, những màn hối

lộ, đút lót tinh vi bị lật tẩy, thế giới của những bất công, tha hóa cùng với những kẻ

chủ mưu bị vạch mặt chỉ tên. Chính sự thoái hóa, biến chất của con người, đặc biệt là

những kẻ nắm giữ chức quyền là nguyên nhân gây ra nỗi đau và bi kịch cho những

con người thấp cổ bé họng.

Người đọc không thể quên những trò cướp “thịt bò” lộ liễu và trắng trợn trong

truyện ngắn Những người chăn bò thần thánh hay cái cách mà các vị thi hành chính

sách của xã, huyện, tỉnh rồi trung ương trả lời cho mẹ con ả Tuynh về chế độ thương

binh cho anh Phục (Dệt cỏ).

Có lúc những lợi nhuận từ việc chia chác các dự án lại chảy vào các bữa tiệc

hoang phí, đẩy sự hưởng thụ của con người đến chỗ tha hóa về nhân tính. Trong

truyện Dã nhân nhà văn miêu tả bữa tiệc óc khỉ có cái tên hết sức cung đình: “Nhất

dạ đế vương”, một bữa tiệc pha tạp các kiểu phong cách để thết đãi các bên liên quan

trong một dự án. Sự hả hê vui sướng của các thực khách trước ánh mắt như van lơn

khiếp đảm của những con khỉ khiến người đọc có cảm giác nhân tính của những kẻ

trong bữa tiệc này dường như cũng đang bị ăn mòn từng chút một.

Câu chuyện Chuỗi người đi trong đầm lầy là điềm dự báo về một xã hội mà

nhân tính bị tha hóa trầm trọng, bản chất dã thú phát lộ mạnh mẽ trong con người

biến họ thành những kẻ “ăn thịt người” đầy ghê rợn. Nhân vật Pạng trong truyện có

thể xem là một nỗi ám ảnh man rợ của quá khứ. Tiếng súng đạn của những trận kịch

chiến đã qua ba mươi năm nhưng câu chuyện rùng rợn về những cuộc diễu hành của

chuỗi người đi trong đầm lầy li kì vẫn còn truyền mãi trong dân gian. Pạng là một

bóng ma của quá khứ, xuất hiện để xác thực cho câu chuyện huyễn hoặc ma quái về

đoàn người đi đòi tai và gan bàn chân, bàn tay của mình đã từng bị xẻo trong những

ngày chiến tranh ở đặc khu Thủy Yến. Hắn tự nhận mình là một kẻ thích ăn thịt

người, hắn thèm những bữa tiệc tai người, bởi vì từ nhỏ hắn đã ăn như vậy. Ông chủ

của hắn dạy hắn cách đi bắt người như bắt chuột, rồi vác về đặc khu, ông ta dạy hắn

cách làm nộm tai người. Được vợ chồng Ba Xà cứu sống, về ở với Ba Xà đã mấy

năm nhưng cái bản chất dã thú trong con người Pạng vẫn âm ỉ đốt cháy phần người ít

ỏi trong hắn. Một hôm Ba Xà đi vắng, hắn lẻn vào xóm, cắt tai một bà già xỏ sâu đeo

lủng lẳng trước ngực và cắp đứa con nhỏ của Ba Xà leo tuốt lên ngọn cây. Hắn nhìn

con mồi trong tay, “răng nhe ra sáng lóa, cái miệng đẹp phát ra những âm thanh

nghe không giống tiếng người”[94, 66], tiếng khóc của hắn là những tiếng hú, khuôn

mặt hắn là mặt của một kẻ săn người khát máu: “riết chặt con mồi trong vòng tay,

mắt nhìn trừng trừng, nước miếng chảy ròng ròng qua khóe mép. Họng nó nhẩy nhẩy

lên xuống bật ra những tiếng hực hực thèm khát”[94, 69]. Đến khi đối diện với Ba

Xà, tính người trong Pạng thức tỉnh, cũng chính là lúc hắn nhận ra rằng không thể

nào tiếp tục sống với con người được nữa, hắn chỉ còn cách chọn cái chết mà thôi.

Trước khi chết Pạng nhìn về phía đầm lầy hun hút trong rừng sâu, cất lên tiếng rú não

nùng. Bi kịch của Pạng là bi kịch của kẻ đã bị chất dã thú lấn át mạnh mẽ, không thể

sống cuộc sống của một con người bình thường. Cuộc đời của Pạng rất đáng để

chúng ta suy ngẫm về khả năng “hóa thú” của con người.

Điều đó rất cần thiết bởi cùng với sự tha hóa, biến chất của con người là dấu

hiệu của một xã hội có nguy cơ bị biến dạng. Trong truyện ngắn Miền bọt, từ chỗ

chứng kiến sự trơ trẽn của những vị khách và các cô tiếp viên trong bữa tiệc karaoke

tại một nhà hàng sang trọng của Hạ Long, nhân vật Phan đã khám phá ra một Hạ

Long khác đầy rác rưởi, ô tạp với “đám ca pốt da người”, với những “vỏ lon bia”,

“đám ngón tay nhơn nhớt” của những cái bao cao su, rồi “vỏ cam Trung Quốc, đám

ruột cá, chiếc váy ngắn sũng nước của cô ca ve… tất cả ập sâu vào bờ biển”[92,

193]. Ở đó, con người vì mưu sinh mà bị cuốn vào dòng thác của sự sa đọa, đánh mất

nhân cách và sự lương thiện vốn có. Những người đàn ông điên cuồng chạy theo dục

vọng, những cô gái mới lớn thì trở thành những cô cave nói ngọng “n, l” nhưng sành

sỏi trong những màn khêu gợi lả lơi. Và phía sau những ánh đèn màu rực rỡ của

những nhà hàng sang trọng là ánh đèn dầu leo lét trên những chiếc thuyền câu với

những mảnh đời bấp bênh của người dân xóm biển.

Giống như một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, trong

sáng tác của Võ Thị Hảo cộng đồng giờ đây không còn ràng buộc bằng những mối

quan hệ như “tối lửa tắt đèn có nhau” hay sự đề cao “tình làng nghĩa xóm” mà thay

vào đó là những sự vô cảm, thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại. Rồi cùng với sự thờ ơ

đó, con người trở nên tàn nhẫn lúc nào không hay.

Trong truyện Người gánh nước thuê nhà văn đã đau đớn nói rằng: “Một thời,

chúng ta đã ghê tởm những từ “con ở”, “đầy tớ”, “gái điếm”… nhưng giờ đây,

những từ đó đã và đang lặng lẽ trở về nhắc nhở người ta rằng, chúng có mặt trên

đời”. [91, 60]. Những gia đình có máu mặt thuê bà Diễm gánh nước với những đồng

lương rẻ mạt, nhưng thái độ của họ đúng là thái độ của những “ông chủ hách dịch”

đối với những người được xem là “đầy tớ”: “họ săm soi xem thùng nước bà gánh về

có trong không. Có đáng đồng tiền của họ bỏ ra không. Có người nghi ngờ, bắt bà

tháo cả bể nước đầy ra gánh lại, lấy cớ là bà đã lấy nước bẩn vào bể của họ. Cũng

có người trả tiền sòng phẳng, hậu hĩ là khác, nhưng họ đưa tiền cho bà rồi vội quay

đi như chỉ sợ dềnh dàng bà nhỡ mồm bắt chuyện thì mất cả thì giờ và mất cả thể diện

nữa” [91, 59-60].

Trong Phiên chợ người cùi những người bị bệnh hủi cũng bị chính đồng loại

của mình xa lánh, phải sống cách li với xã hội bên ngoài, người mẹ bị cắt đứt mối dây

thâm tình với đứa con duy nhất, bị người chồng ruồng bỏ không một chút xót thương.

Cùng với sự lạnh nhạt của những mối quan hệ cộng đồng, đạo đức gia đình

cũng theo đó mà xuống cấp. Những người chồng thay vì chăm sóc gia đình vợ con thì

lại đi ngoại tình, những người mẹ lúc nào cũng được ngợi ca là đảm đang, đức hạnh,

thủy chung, với tình mẫu tử thiêng liêng, thì lại trở thành những người phụ nữ cay

độc, nhẫn tâm, kẻ thì chạy theo những người đàn ông giàu có, kẻ thì để con cái phải

gánh tội tù thay mẹ (Phúc Lộc Thọ lên trời). Những đứa trẻ như bé Phin lớn lên ngơ

ngác và hoang mang trước cuộc đời, bức tượng Đức Mẹ nhân từ do nó tạc ra cũng trở

nên méo mó “với đôi môi mím chặt mang dáng hình đôi môi mỏng hằn vết hai bên

khóe của mẹ nó” [91, 165]. Trong tâm trí non nớt sớm bị dày vò của nó thì Đức Mẹ

và cả những vị như Phúc Lộc Thọ đều đã bay lên trời hết cả, trần gian này chỉ toàn

những gương mặt của những người mẹ khắc nghiệt và những ông bố ngoại tình.

Bố mẹ đã thế nên những đứa con tham tiền, bất hiếu cũng xuất hiện ngày càng

nhiều hơn. Thằng Xuân trong Đường về trần sau ba năm bỏ đi biền biệt trở về gặp

người mẹ đang trong cơn hấp hối chỉ bận tâm duy nhất một điều “xin mẹ kí vào bản

di chúc để lại cho con tất cả số tiền gửi ở ngân hàng” [93, 181]. Tuấn trong Mắt miền

Tây từ một đứa thông minh, được cha mẹ kì vọng, gom góp tiền cho đi xuất khẩu lao

động, trở thành con người bội bạc, quên mất cội nguồn.

Có thể thấy, Võ Thị Hảo đã nối tiếp “nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc

khoải về con người” được gieo trên những trang văn của Nguyễn Minh Châu từ

những năm 80 để tiếp tục lên tiếng cảnh tỉnh lương tri con người trước sức mạnh tha

hóa đang ngày càng lớn dần trong xã hội Việt Nam. Nếu con người không biết nhìn

lại, không biết lên tiếng trước “cái ác và sự dửng dưng với cái ác” thì sự méo mó

biến dạng sẽ còn lan rộng và tiếp tục hủy diệt nhân tính con người.

Cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên những trang văn của Võ Thị Hảo đi liền với

cảm hứng nhân đạo xuất phát từ trách nhiệm của một người cầm bút có lương tâm.

Nhà văn một mặt chỉ ra sự tha hóa biến chất của con người, một mặt kêu gọi con

người hãy cứu lấy lương tri và bảo toàn nhân cách. Những câu chuyện của chị khiến

người đọc vừa căm phẫn, vừa đau đớn xót xa, lặng lẽ gieo vào lòng mỗi chúng ta tình

yêu cái thiện, đánh thức trong ta những cảm xúc tốt đẹp để nhắc nhở con người

không thể vô cảm với cái ác và thờ ơ trước nỗi đau do nó gây ra.

2.4. Con người bé nhỏ Quan tâm đến số phận những con người bé nhỏ là một trong những nội dung

thể hiện rõ giá trị nhân đạo trong sáng tác của nhà văn Võ Thị Hảo. Những số phận

không may, những mảnh đời tật nguyền bất hạnh, những kiếp người nghèo khổ, chật

vật trong cuộc mưu sinh khốn khó hiện lên sống động và nhiều vẻ qua ngòi bút cảm

thông trân trọng và yêu thương của nhà văn. Đây là đối tượng được quan tâm nhiều

nhất trong sáng tác của chị và cũng khiến chị phải xót xa đến bất lực nhiều lần.

2.4.1. Nhóm người thứ nhất là những con người dị dạng, khuyết tật nhưng lương

thiện. Họ không may sinh ra trong những hình hài dị dạng, xấu xí hoặc cũng có thể

vì những cay đắng cuộc đời khiến họ mang bệnh tật hiểm nghèo. Họ không chỉ phải

chịu đựng sự dày vò của nỗi đau thể xác mà điều đau đớn nhất là họ thường bị cộng

đồng xa lánh, rẻ khinh, có khi là xua đuổi. Nhưng trên hết, ở họ luôn tỏa sáng những

phẩm chất tốt đẹp và khát vọng được sống một cuộc sống bình thường như bao người

khác.

Rân trong Người đàn ông duy nhất là một người đàn ông tật nguyền, “một đứa

trẻ ba mươi hai tuổi có khuôn mặt đàn ông tuyệt đẹp như mặt lực sĩ ném đĩa. Khuôn

mặt ấy được gắn trên chiếc cổ và đôi vai của một đứa trẻ tám tuổi. Thân hình ấy kết

thúc không có hậu bằng đôi chân của đứa trẻ ba tuổi trắng muốt chảy thõng” [93,

31]. Rân bỏ nhà ra đi đã nhiều năm nay, hắn cũng khát một mái nhà nhưng lại không

thể chịu đựng nổi ý nghĩ sống ăn bám vào người khác, trở thành “của nợ” cho cha

mẹ. Hắn đã ra đi chỉ vì muốn được “sống và chết bằng đôi bàn tay mình”. Đặc biệt

trong trái tim người đàn ông tật nguyền ấy cũng có một tình yêu nồng hậu với cô gái

tốt bụng đã cho hắn vay tiền mua xe lăn. Khi tất cả những người khác lạnh lùng nhìn

nàng bị chồng hành hạ, chỉ có hắn dám đứng ra bảo vệ nàng bằng chính đôi tay bé

nhỏ tật nguyền. Hắn là người đàn ông duy nhất mà nàng vị nể trên đời này. Nhưng

nàng không bao giờ là người đàn bà dành cho hắn. Rồi nàng bỏ đi, hắn lại lang thang

với chiếc xe lăn và một ước mơ cháy bỏng về một ngày gặp lại, nàng sẽ kêu tên hắn

“rồi ngả đầu tin cậy trên ngực tim gầy”, để hắn có thể chăm sóc nàng suốt đời.

Ông Tiếu và bà Diễm trong Người gánh nước thuê là những người mà cái tên

của họ chính là sự tương phản đến trớ trêu với diện mạo bên ngoài. Một người đàn bà

lẩn thẩn, “dáng người bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con

mắt”, cái lưng còng mỗi lần đi cứ lắc lư qua lại. Một người đàn ông có một khuôn

mặt khắc khổ lạ lùng: có đến hàng vạn nếp nhăn trên khuôn mặt đó, đôi mắt thì “biểu

lộ một nỗi đau khổ bất thường như đã đông cứng”, còn cái miệng thì trớ trêu làm sao,

“luôn mỉm một nụ cười bất biến”. “Nụ cười ấy giữa khuôn mặt ấy là một nghịch lí,

như là đang khóc với một nỗi đau xé ruột, mà có một kẻ tàn ác nào đó cứ nhất định

cù vào nách cho ta phải cười rũ ra mới thôi” [91, 62]. Hai con người cô đơn khốn

khổ đó đã đến với nhau, có mặt bên nhau, với những thùng nước nặng trĩu trên vai,

họ chăm sóc nhau những khi đau yếu. Và rồi họ cũng không thể nào vượt qua cái

hàng rào quái ác của những tiếng thị phi, người ta trêu chọc hai người “đẹp đôi như

Chí Phèo – Thị Nở”. Ông Tiếu qua đời mà vẫn ôm trong lòng nỗi niềm u uẩn vì chưa

tìm được đứa con bị thất lạc trong chiến tranh, đưa cho nó một trăm đồng bạc ông đã

cất công dành dụm bấy lâu nay. Bà Diễm tiếp tục cái tâm nguyện của ông, bà đi tìm

con cho ông, dù có đói đến mấy cũng không lấy số tiền đó ra dùng. Cho đến khi bị

lẫn bà vẫn ôm khư khư cái bọc tiền và tấm ảnh của đứa bé đã ố vàng. Hai ông bà đã

sống một cuộc đời lương thiện và trọn vẹn nghĩa tình.

Tâm trong Máu của lá ngay từ nhỏ đã không toàn vẹn về dáng hình. “Cô gái

nhỏ xíu, chỉ cao khoảng hơn một một mét. Ngực lép, đôi mắt tròn mở rưng rưng. Làn

môi trên hằn một vết sẹo trắng kéo miệng hơi xếch về bên trái (…) Dáng đi khập

khiễng của cô khiến người ta nghĩ đến con chim sâu đang nhảy chon von trên đường,

mỏ cắp một cành lá lệch người” [91, 132, 133]. Lần đầu tiên nhìn thấy hình dáng của

mình trong chiếc gương lớn đầu tiên bố mua về, cô suýt uống cả bát nước lá trúc vì

kinh hãi. Tâm luôn mặc cảm với diện mạo của mình, cô sống thu lu trong ốc đảo

không tiếp xúc với ai, mỗi khi có khách tới nhà cô luôn tìm cớ lánh mặt. Thi vào đại

học “đạt điểm ưu nhưng không một trường nào nhận vì lỗi hình thể”, Tâm chỉ còn

biết quanh quẩn ở nhà với “nồi niêu, những con mèo và đám tiểu thuyết”, để đêm

đêm nuôi mình trong giấc mơ về một chàng trai khổng lồ đến cứu giúp đời cô. Vậy

mà “ngay cả trong mơ, trời cũng cắt xén của em, trời không cho em hưởng trọn vẹn

một giấc mơ nào”. Đau đớn nhất là trời đã “thổi vào cái vỏ tật nguyền đó một lương

tri” để cô luôn thấm thía nỗi đau và sự bất hạnh của đời mình. Nhiều lúc cô chỉ cầu

cho mình hóa điên, vì người điên họ không nhận ra chính mình.

Bằng tình thương và niềm đồng cảm, nhà văn đã không để cuộc đời bất hạnh

của Tâm trôi đi trong vô nghĩa. Tác giả không chỉ trân trọng những ước mơ nhiều lúc

“dị thường” của cô gái mà còn “phái” đến rất nhiều những “người khổng lồ” để hoàn

thành mơ ước của cô. Tâm cũng đã được an ủi rất nhiều bởi tình thương và sự ấm áp

trong những lá thư mà lần lượt những người anh tốt bụng ở chiến trường đã thay nhau

gởi đến, mặc dù từ lâu cô đã nhận ra đó chỉ là cách thức mà người anh trai yêu dấu

của mình dùng để động viên em gái, để cho cô còn thấy ý nghĩa của cuộc đời, không

đánh mất niềm tin vào những điều tốt đẹp.

Có thể thấy, trong nhiều truyện ngắn của Võ Thị Hảo, những ước mơ nhỏ nhoi,

giản dị của những con người tật nguyền đã trở nên thánh thiện và lớn lao vô cùng khi

được nhà văn chăm chút nâng niu một cách chân thành. Hằng, cô gái bị mù bẩm sinh

trong Làn môi đồng trinh là một cô gái giàu cảm xúc với một tâm hồn luôn khát khao

giao cảm với thiên nhiên và con người. Hai mươi chín tuổi đầu vẫn chưa biết đến một

nụ hôn, Hằng chỉ có thể cảm nhận được nó qua một lần tiếp xúc với mưa để cho cơ

thể của cô giao hòa cùng trời đất. Khi những giọt mưa lây phây nhẹ bỗng đậu xuống

má, đáp lên làn môi, Hằng “rùng mình bởi một cảm giác xao xuyến mơ hồ”, cô

“thoáng nghĩ đến một thiên thần trong suốt vừa lướt qua và đặt lên môi mình một

chiếc hôn vô tình”. Từ lúc đó trong trái tim Hằng luôn tin có một ngày người đàn ông

thiên thần sẽ đến mang cô đi. Hàng ngày cô vẫn thầm cầu khẩn: “Người đàn ông

thiên thần ơi! Hãy mang em đi! Mang đi khỏi cuộc đời này để mẹ em đỡ khổ vì em.

Hãy mang em đi, ban cho một lần hạnh phúc, rồi đừng quẳng em bên vệ đường, mà

hãy giết em, để em khỏi sống mù lòa cả đời và trở thành gánh nặng cho mẹ em” [92,

96]. Lời khấn nguyện của cô là giấc mơ đầy đau đớn của những kẻ tật nguyền tội

nghiệp. Hằng đã có được nụ hôn của một người đàn ông, nhưng nỗi trăn trở của nhà

văn về số phận của kẻ tật nguyền như cô vẫn còn da diết mãi, bởi “bây giờ còn ai nữa

không, dám cúi xuống bên một người tàn tật và mang đi trên đôi cánh tay hữu hạn

của mình tình yêu cũng như nỗi đau của một kiếp khác?” [92, 95].

Ngoài số phận của những kẻ tật nguyền bẩm sinh, Võ thị Hảo còn quan tâm tới

số phận của những người mà những cay đắng cuộc đời cũng như những căn bệnh

hiểm nghèo quái ác làm cho cuộc sống của họ trở nên bế tắc đáng thương.

Đọc truyện Phiên chợ người cùi có những nét lặng buồn cứ đọng mãi trong

tâm tư người đọc.

Cát Quy Hòa thì trắng

Biển Quy Hòa thì xanh

Chợ người cùi thì vắng

Đời người cùi buồn tênh… [93, 186]

Cái điệp khúc này cứ ngân đi ngân lại như thở than cho số phận bất hạnh của

người đàn bà đẹp tên Phương. Bị căn bệnh cùi hành hạ đau đớn, từ chỗ được chìu

chuộng nâng niu như “nữ hoàng”, Phương trở thành một “người khách lạ” ngay trong

chính ngôi nhà của mình. Sau mấy tháng điều trị, chị trở về với bàn tay bị rụng đi hai

ngón, người chồng ruồng bỏ chị một cách mau chóng, gia đình chồng ghê sợ, cả đứa

con gái cũng bị bắt phải cách li. Chị không sống nổi với sự ghẻ lạnh của mọi người

bèn âm thầm trở lại trại phong, “cố gắng dự cho hết đời mình những “phiên chợ

người cùi” và tìm quên trong công việc của một hộ lý giúp đỡ những bệnh nhân nặng

nhất”. Rồi vài năm sau, chị qua đời trong nỗi nhớ thương con da diết.

Không được may mắn như Phương còn có được tình yêu của người bác sĩ tốt

bụng trong những ngày cuối đời, người đàn bà trong truyện Biển cứu rỗi dường như

trắng tay hoàn toàn khi cố bấu víu vào người đàn ông khắc nghiệt trên đảo đèn. Số

phận đẩy đưa cô đến bước đường cùng, trở thành cô gái điếm đã thiu, bị liệng ra bãi

thải, ốm nhách và vô phương sinh sống vì bị bệnh hoại huyết nhưng cô vẫn cố bám

víu vào tia hi vọng cuối cùng để có được hai bữa cơm no mà sống nốt những ngày

còn lại. Người đàn bà bị cuộc đời dồn vào chân tường không nơi bấu víu đó ý thức rất

rõ mình bị khinh rẻ như thế nào qua cái nhìn đầu tiên của người đàn ông khi chị vừa

đặt chân lên đảo. Và chị đã phải nếm trải nỗi nhục nhã tận cùng của thân phận “một

con điếm mạt hạng” trong lần quan hệ đầu tiên với anh ta, cảm giác đau đớn “như

đang bị cầm kìm rứt từng khúc ruột”. “Trong đời hành nghề của thị, thị chưa bao giờ

cảm thấy đau đớn đến như thế trước sự hạ nhục của trò chăn gối” [91, 49]. Ở người

đàn bà này dường như khát vọng được sống nó lấn át tất cả. Nhưng rồi ngay cả người

đàn ông khắc nghiệt trên đảo đèn, cái phao cuối cùng mà chị đã đánh đổi chút lòng tự

trọng còn lại để bám vào đó, cũng xua đuổi chị. Người đàn bà bất hạnh chỉ còn biết

nguyền rủa tất cả đàn ông trên cõi đời này rồi lao đầu xuống biển, để biển “cứu rỗi”

thân xác của chị, và để cái chết của chị có thể “cứu rỗi” cho linh hồn cay nghiệt của

người đàn ông kia, đánh thức lương tri của anh ta, đưa anh ta trở lại với cuộc sống

đời thường.

Có thể nói, mỗi người là một số phận đầy bất trắc, nhưng điểm chung ở những

con người tật nguyền ấy là họ luôn biết vươn lên để sống tốt đẹp và nghĩa tình. Nhìn

thấy những phẩm chất tốt đẹp trong những con người bé nhỏ, cùng họ đau nỗi đau

thân phận con người, Võ Thị Hảo cũng đã tiếp nối cái truyền thống nhân văn của văn

học Việt Nam, phát hiện thêm những “hạt ngọc” ẩn giấu bên trong nhiều thân phận

giữa cuộc sống đời thường.

2.4.2. Nhóm thứ hai trong thân phận những người bé nhỏ chính là những người

lao động nghèo khổ, chật vật mưu sinh.

Xét về số lượng thì những người nghèo khổ chiếm đa số trong sáng tác của nhà

văn Võ Thị Hảo. Quan tâm đến số phận những người nghèo dường như là mối lo

thường trực của nhà văn nữ giàu cá tính này. Có thể từ cuộc đời làm báo đi nhiều,

thấy nhiều, những mảnh đời lam lũ đói nghèo đã đập vào mắt chị thường xuyên đến

trở thành một ám ảnh, khiến chị không thể nào không nghĩ, không viết về họ. Bởi xét

cho cùng thì họ vẫn là lực lượng chiếm số đông trong xã hội Việt Nam.

Số phận của những người nghèo hiện lên trong sáng tác của Võ Thị Hảo cũng

muôn màu muôn vẻ. Đó là ả Tuynh, người đàn bà quê mùa ít học, vất vả nuôi con

(Dệt cỏ); là những người dân Tây Nguyên cơ cực phải từ bỏ cả tín ngưỡng của mình

vì miếng cơm manh áo (Phút chối Chúa); là người đàn bà vắt từng giọt máu của mình

đem bán để cho chồng con thỉnh thoảng có một ngày không phải mút tay (Ngày

không mút tay); là những người trí thức loay hoay với việc làm (Bán cốt, Vũ điệu địa

ngục), người trẻ thì đi bán máu để kiếm tiền chạy việc, người già thì đi bán cốt để có

tiền vẽ tranh… Phần lớn họ đều rơi vào bi kịch. Họ sống khổ sở và chết trong bế tắc.

Ả Tuynh là người đàn bà nông dân lam lũ, làm lụng quanh năm mà chưa một

ngày nào có đủ cơm no. Cái đất miền Trung khắc nghiệt, khô cằn lại lắm thiên tai và

dịch bệnh chưa bao giờ dành sự ưu ái cho người nông dân như ả. Món ăn sau mỗi

trận bão của mẹ con ả chính là những “lõi cây đu đủ” kho với nước cà đi xin, “ăn với

cháo khoai khô nấu lẫn vài hạt gạo”. Người mẹ nghèo khổ ấy ngồi nhìn “những đứa

con tranh nhau húp xì xụp” và “chờ cho chúng ăn xong mới ngồi vét nồi lấy vài lưng

bát”. “Những ngón tay cong queo đen đúa cầm chiếc thìa đã mòn vẹt cố nạo mãi vào

đáy nồi” không chỉ ám ảnh tác giả mà còn gieo vào lòng người đọc niềm trắc ẩn xót

xa. Bao nhiêu cay đắng đổ dồn lên đầu ả. Anh Lèn chồng ả, một công nhân làm

đường nổ mìn phá đá chết từ năm 1956 mà không được một đồng tiền đền bù tai nạn

lao động. Thằng con trai đi lính bị thương phải vào viện tâm thần mà chế độ thương

binh cũng không được xét. Sau mười tám năm chờ đợi, ả Tuynh đã “đủ tỉnh táo để

không còn ngõm ngọi” về món tiền đền tai nạn của chồng nữa, “song đến chết, ả vẫn

chưa quên nổi giấc mơ có ngày nhận được gói tiền trợ cấp thương tật dồn lại gần hai

mươi năm của thằng con trai đi lính”[91, 22].

Ả Tuynh là người đàn bà đôn hậu và chất phác, mà những người như vậy thì

luôn phải chịu thiệt thòi trong xã hội còn nhiều người sống bằng giả dối, đua chen,

lừa lọc. Ả thật dại khờ khi tin rằng “Thân sẽ giúp ả tìm lại được món tiền lang bạt, hư

ảo, như có như không, trôi dạt giữa muôn ngàn ngón tay. Ả có biết đâu rằng mỗi

ngón tay ngoan hiền là thế bỗng phút chốc biến thành một con đỉa ngo ngoe rượt

theo mùi tanh của máu người” ”[91, 22]. Cái suy nghĩ rất nông dân của ả “Chưa nấu

cơm thì gạo vẫn còn đó” dường như trở nên lạc lõng trong cuộc sống hôm nay. Có lẽ

đó chỉ là cách tự ru mình một cách đáng thương của những con người nghèo khổ, bất

lực trước giông bão cuộc đời.

Vừa chia sẻ, vừa xót thương nhưng Võ Thị Hảo cũng vừa cảnh tỉnh con người

một cách đau đớn rằng không thể sống bằng những kinh nghiệm cũ giản đơn khi xã

hội đã thay đổi. Đã đến lúc con người phải tỉnh táo để nhận diện những phức tạp và

muôn mặt của cuộc đời.

Viết về những người dân Tây Nguyên vì cái nghèo đeo bám mà phải từ bỏ tín

ngưỡng của mình, nhà văn đã chỉ ra rằng: những con người nghèo đói này có thể

quay lưng với tín ngưỡng lâu đời của tổ tiên chỉ vì miếng cơm manh áo. Bi kịch lớn

nhất của họ chính là mỏi mòn chờ đợi một Người Khổng Lồ không có thực đến giải

lời nguyền hàng vạn năm nay để dân làng họ thoát cảnh đói nghèo. Nhiều lúc tưởng

Chúa chính là Người Khổng Lồ đó họ đã đi theo Chúa, thay vì đánh chiêng, đánh

trống, hát những điệu hát dân gian quen thuộc, họ đến Nhà thờ và hát Thánh ca. Lễ

rửa tội thay cho lễ thổi tai, lễ gọi hồn thần Lúa; những Lễ Bỏ mả, Lễ Đâm trâu bị gọi

là man rợ có nguy cơ bị xóa sổ; những bộ chiêng quý xưa kia ông bà cha mẹ họ đổi

được bằng trâu, bằng voi và bằng máu nay được mang đi bán đồng nát. Và họ thì vẫn

cứ nghèo đói quanh năm. Chúa vẫn chưa giải được lời nguyền của thần sông Sê-san.

Niềm tin ngây thơ về một bậc thánh toàn năng chỉ có thể an ủi phần hồn bơ vơ đang

dần trở nên tiều tụy của họ mà thôi. Tác giả cho chúng ta thấy rằng khi con người bị

đói khổ, thất học, đời sống dân trí thấp thì nguy cơ từ bỏ cội nguồn có thể sẽ xảy ra,

con người sẽ rơi vào bi kịch của sự “vong bản”.

Trong Vũ điệu địa ngục, nhà văn mô tả quá trình con người đấu tranh với cái

ác để giữ gìn nhân phẩm để rồi cuối cùng cũng bất lực. Cô gái trẻ xinh đẹp Thùy

Châu sau nhiều lần kinh tởm những kẻ buộc cô phải “đổi chác” để nhận được việc

làm, cuối cùng cũng cay đắng xuôi theo và bị lừa một cách đểu trá. Không còn đường

để sống cô phải đi bán máu kiếm tiền rồi mắc chứng suy tủy, cuối cùng tuyệt vọng

mà tự tìm đến cái chết một cách thê thảm. Trong thư tuyệt mệnh của mình cô viết cho

mẹ những dòng đay nghiến đến thương tâm: “Con rút máu trong huyết quản của

mình nên thấy đau hơn so với những người rút ruột của người khác. Không phải ruột

mình nên họ không đau” [92, 152]. Với những con người bé nhỏ, nghèo khổ, sức

mạnh của cái ác quả là khủng khiếp.

Cũng giống Thùy Châu, Ngần trong Ngày không mút tay bị nghèo đói bủa vây

đến bước đường cùng phải lấy máu của mình để đổi lấy chén cơm cho chồng con có

được một ngày ăn thịt, không phải mút tay (vì chẳng có thức ăn). Người phụ nữ ấy

vất vả tối ngày với nghề bán ốc luộc nuôi người chồng bị mất sức lao động và một

bầy con nhóc nheo nhiều bệnh tật. Nước mắt để khóc cũng chẳng còn, chị chỉ còn

biết ngước nhìn chồng con một cách đầy tuyệt vọng. Thế nên mặc cho chồng có lúc

đã ngờ vực, “cứ độ ba tháng một lần Ngần ra đi từ rất sớm và về rất muộn, với vẻ

mặt bơ phờ, một xâu thịt trong tay và một nắm tiền” [91, 109]- số tiền mà chị đã phải

rút từng giọt máu trên cơ thể mình để đổi lấy. Nỗi đau vỡ òa khi cả hai vợ chồng gặp

nhau tại nơi bán máu. Bi kịch của vợ chồng Ngần cũng giống như ả Tuynh, Thùy

Châu, hay dân làng Tây Nguyên, đó là bi kịch của kiếp người bị miếng cơm manh áo

ghì sát đất không thể ngóc đầu lên được. Cuộc đời của họ sao cứ khiến mỗi người

chúng ta phải băn khoăn buồn thương da diết.

Những người trẻ thì có máu để bán, còn những người già chỉ có da bọc xương

thì họ đi bán cốt. Ông họa sĩ Xuân Tư nghèo khổ không có đủ tiền để hoàn thành bức

tranh sơn mài mà ông tâm đắc nhất trên đời, cứ để nó dở dang trên giá vẽ hết ngày

này qua ngày khác. Cùng với những người bạn già, ông được giới thiệu đến chỗ bán

cốt, sau khi chết, bộ xương khô của ông sẽ thuộc về phòng thí nghiệm của bệnh viện.

Văn sĩ Diệu, người bạn thân của ông Xuân Tư đau khổ thốt lên rằng: “trong khi

chúng ta – những người chủ của những bộ xương, còn sống, thì cái miệng tội vạ của

chúng ta lại được gặm những khúc xương của chính mình” [91, 198]. Thật quá xót

xa!

Nhưng đáng quý là dù bị cái nghèo đeo bám, những con người này vẫn cố níu

kéo để giữ gìn cái phần hồn thiện lương tưởng đã bị cuộc sống bào mòn trong con

người của họ. Ở Y Prao đó là việc trở về với tâm linh cội nguồn qua tiếng trống

thiêng liêng. Đến phút hấp hối, Y Prao vẫn không thể nào thanh thản ra đi trong lời

kinh nguyện cầu của Chúa, chỉ có tiếng trống Hgơr và điệu Chok tiễn đưa của người

Ê-đê mới khiến ông không còn đau đớn và linh hồn mới bình yên trở về với đất, yên

nghỉ trong buôn vĩnh hằng của tổ tiên. Hay ở những người như Ngần (Ngày không

mút tay), ông họa sĩ Xuân Tư (Bán cốt) thì dù có đến bước đường cùng họ cũng

không dễ dàng bán rẻ lương tâm. Nhà văn để cho họ đi bán máu, bán cốt chứ không

để họ bán đi linh hồn của mình. Trong cùng cực của nỗi đau, họ vẫn hướng về cái

thiện, dù có đay nghiến, cay nghiệt với cuộc đời thì họ vẫn cố bám vào cuộc đời để

sống, để vươn lên và làm được việc có ích. Tình yêu chồng, thương con (ả Tuynh,

Ngần), sự hiếu thảo với cha mẹ (Thùy Châu), niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật (họa

sĩ Xuân tư), hay ý thức về sức mạnh cội nguồn (Y Prao) khiến cho những nhân vật

này xứng đáng nhận được sự cảm thông, trân trọng và sẻ chia nơi người đọc.

2.4.3. Nhóm thứ ba là những con người bé mọn, phụ thuộc, sống dưới đáy xã

hội.

Võ Thị Hảo từng nói rằng những ám ảnh được tiền nhân gieo trong tiềm thức

về thân phận đàn bà cũng ảnh hưởng rất nhiều đến các nhân vật nữ mà chị tạo nên

trong tác phẩm. Những người phụ nữ nghèo khổ, ít học trong tác phẩm của chị phần

lớn đều là những thân phận phụ thuộc, dường như họ bị cái thiên kiến của xã hội

“trọng nam” ám ảnh quá lâu trong tiềm thức, sức mạnh của họ quay tới quay lui cũng

chỉ trong mấy chữ nhẫn nhịn, yêu thương, hi sinh và phục tùng.

Bà Vang trong truyện Đường về trần là một người đàn bà bất hạnh, cả đời

không biết đến cảm giác được yêu thương vì sống với một người chồng khắc nghiệt.

Hãy nghe câu chuyện của bà: “Tôi ở cùng nhà với người chồng đã ngoài chín mươi

xuân nhưng tiếng nói còn vang như sấm. Tôi ở với ông đã trên nửa thế kỉ. Nửa thế kỉ

ông lấy ngày làm đêm. Ngày ông thiu thiu ngủ, chiều ông đọc báo, tối ông ngáy từ

đầu hôm tới chín giờ trở dậy và vào lúc mẹ con chúng tôi lên giường thì ông bắt đầu

sùng sục rít thuốc, đá thúng đụng nia và chửi rủa. Ông nguyền rủa những giấc ngủ

say như chết của mẹ con tôi – những kẻ ngày ngày phải quần quật lam làm”[93, 171].

Bà cảm nhận được mình chỉ là “một kẻ phục dịch”, là “chỗ để ông giày vò cho hả

giận”. Những ngày cuối đời bà bệnh nằm một chỗ, nhiều đêm ông lại tới soi đèn nhìn

bà dần đi vào cõi chết. Và ông sợ. Chẳng phải vì xót thương, mà vì ông sợ sự trống

trải bà để lại. Người đàn bà tội nghiệp đó vì thương con mà nhẫn nhịn sống trong

nơm nớp lo sợ như vậy suốt mấy chục năm trời, khi sắp chết cũng không được yên

ổn.

Cũng có những người phụ nữ, vì mặc cảm với cái nghèo và hoàn cảnh mà trở

nên đáng thương và tội nghiệp, như người đàn bà vớt giun trong truyện ngắn Khăn

choàng sương. Người đàn bà đó không bao giờ dám mơ đến một tấm chồng vì nghĩ

cái nghề của mình nó thấp hèn và bần tiện. Đàn ông làng chị ai cũng chê cái nghề vớt

giun bẩn thỉu. Ông Tần, một văn sĩ nổi tiếng, một người đàn ông cô đơn không tìm

thấy hạnh phúc bên vợ và người tình bỗng đâu được quẳng vào cuộc đời của chị

trong một cơn say và được chị nâng niu như báu vật. Túp lều nát của chị trở thành nơi

để ông đi về sau những cơn say. Người đàn bà bé mọn, nghèo khổ và dốt nát đó chỉ

còn mong con mình sau này thoát kiếp vớt giun chứ cuộc đời của chị thì đã yên phận

vậy rồi.

Có thể thấy, để những người nghèo hết khổ và những người phụ nữ vượt lên

được thân phận phụ thuộc bé mọn của mình thật là điều không dễ. Những người phụ

nữ bé nhỏ, mỏng manh như dì Lâm San trong truyện Tình yêu mây trắng thật không

đủ sức để thoát khỏi thân phận của một cây tầm gửi. Bốn tuổi mẹ chết, bố lấy vợ kế,

bà đón về quê nuôi, lên bảy thì bà cũng qua đời, phải đi ở nhờ nhà ông chú. Người

chú này vỡ nợ, cuối cùng đã gán Lâm San cho một ông trùm giết mổ lợn giàu có tuổi

gấp đôi cô. Người con gái ấy vừa lớn lên với giấc mơ về một tình yêu mây trắng cũng

vội tan theo sương khói.

Những người phụ nữ này không chỉ phụ thuộc đàn ông về mặt kinh tế, mà sâu

xa hơn ở họ còn là sự phụ thuộc cố hữu về mặt tinh thần. Cái nhu cầu được “làm một

dây leo đẹp quấn quanh cây cổ thụ” đã ăn sâu vào ý thức. Nếu gặp được người đàn

ông tốt thì may mắn và hạnh phúc cho họ, còn nếu gặp phải một người chồng chẳng

ra gì thì bi kịch tất yếu sẽ đến. Điều quan trọng là nhiều người không nhận thấy đó là

bi kịch. Có lẽ ở quá lâu trong cái nghèo, cái khổ và cái thân phận phụ thuộc, họ tự

nhiên biết cách an ủi mình bằng những nguyên lí giản đơn thuộc về số phận. Ở điểm

này, văn xuôi Võ Thị Hảo cũng bộc lộ sự bất lực đầy đau đớn của nhà văn về thân

phận con người. Qua những trang viết của chị, người đọc hiểu rằng những con người

bé nhỏ có thể vươn lên sống tử tế trong xã hội hay không phụ thuộc rất nhiều vào

việc họ phải tự mình vượt qua cái ý thức về số phận đã được mặc định quá lâu trong

tiềm thức.

Nhìn chung, với những con người bé nhỏ, nhà văn luôn cố gắng phát hiện và

trân trọng những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn của họ, chia sẻ nỗi đau với họ bằng

một trái tim cảm thông, ấm áp. Có lúc chị lại cảnh tỉnh họ bằng những liều thuốc

đắng để họ tự nhận thức được bi kịch của đời mình. Điều quan trọng là thông qua số

phận những con người bé nhỏ, nhà văn đối thoại với người đọc về những vấn đề nhân

sinh mà mình đặt ra. Trông vào những thân phận bé nhỏ, đáng thương người đọc

được tiếp xúc với muôn mặt cuộc sống đời thường để cảm nhận những nỗi đau và sẻ

chia bất hạnh vốn dĩ còn quá nhiều trong xã hội. Những trang văn của Võ Thị Hảo

mặc dù đi thẳng vào những mảng khuất tối của cuộc đời vẫn ấm áp tình người và

khơi dậy được lòng trắc ẩn sâu xa nơi trái tim người đọc.

2.5. Người phụ nữ cô đơn

Phần lớn những nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo đều cô đơn. Trần

Thúy An khi nghiên cứu về người phụ nữ hiện đại trong sáng tác của Võ Thị Hảo gọi

kiểu phụ nữ cô đơn là “những người phụ nữ tắt lửa lòng”. Đó là những người đàn bà

đẹp, thành đạt và có sức hấp dẫn nhưng thường lạnh lùng, thờ ơ,“vô cảm” trước đàn

ông. Tuy nhiên, theo sự nhận định của chúng tôi, đây không phải là những người phụ

nữ không còn cảm xúc yêu đương. Họ đều là những người phụ nữ mẫn cảm, giàu tình

yêu và cảm xúc. Đối với những con người này, những nhu cầu về tình cảm cũng như

quan niệm về hạnh phúc không hề giản đơn. Có thể đã trải qua những thăng trầm

trong tình yêu nên họ e dè hơn trước sự săn đón của đàn ông cũng như trong việc đón

nhận một tình cảm mới. Nhưng quan trọng hơn, cô đơn đôi lúc chỉ là trạng thái tạm

thời trong quá trình họ không ngừng tìm kiếm tình yêu và hạnh phúc đích thực của

đời mình.

Bên cạnh đó, xét tổng thể các sáng tác của Võ Thị Hảo, chúng tôi nhận thấy có

rất nhiều trạng thái khác nhau trong số phận của những người phụ nữ cô đơn. Ở đây,

cô đơn không chỉ với cái nghĩa là sống lẻ loi trơ trọi mà còn là trạng thái không thể

hòa hợp với những người đang cùng chung sống. Kiểu nhân vật này xuất hiện rất

nhiều trong văn học sau thời kì đổi mới với hàng loạt những sáng tác của Nguyễn

Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái… Đó là những kẻ lạc thời,

những con người xa lạ giữa cộng đồng. Võ Thị Hảo không đề cập nhiều đến những

chủ đề có tính chất rộng như các nhà văn trên, các chân dung con người cô đơn trong

sáng tác của chị thường xoay quanh vấn đề tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà trọng

điểm là cảm xúc của những người phụ nữ cô đơn, lẻ loi, trơ trọi.

Có nhiều con đường dẫn người phụ nữ tới cuộc sống lẻ loi trơ trọi. Đôi khi là

sự xô đẩy của số phận, đôi khi lại chính là sự lựa chọn của bản thân họ. Trạng thái

không hòa hợp giữa họ và những người cùng chung sống có thể xuất phát từ nhiều

yếu tố. Đó có thể là từ quan niệm khác nhau về tình yêu thuộc về giới tính, cũng có

thể là do những hệ lụy của truyền thống đạo đức “tam tòng” trong xã hội phương

Đông. Hay cũng có thể đó là cách thức phản kháng theo một kiểu rất riêng của người

phụ nữ đối với những bất công và ngang trái ở đời. Sau những nếm trải cay đắng

trong tình yêu kết hợp với những bất công thuộc về số phận, những người phụ này

thường lựa chọn con đường ra đi và sự cô đơn chính là cách thức phản kháng theo

kiểu riêng của họ.

Luận văn xét thấy có hai kiểu phụ nữ cô đơn trong sáng tác của Võ Thị Hảo.

Kiểu người phụ nữ cô đơn thứ nhất là những người phụ nữ chấp nhận sống

lẻ loi, trơ trọi vì hy sinh cho hạnh phúc của người khác. Đó là những người phụ

nữ lao động sống chủ yếu vì con cái như ả Tuynh (Dệt cỏ), người vợ cả (Chuông

vọng cuối chiều), bà Vang (Đường về trần)… Phần lớn họ không tìm thấy tình yêu và

hạnh phúc bên cạnh người chồng, họ luôn ở trong trạng thái không thể hòa hợp với

chồng. Họ sống chủ yếu vì bổn phận, dường như họ rất ít quan tâm đến hạnh phúc

của cá nhân mình. Vẫn biết không tìm thấy hạnh phúc bên chồng nhưng họ không có

khả năng cũng như không có suy nghĩ sẽ phá bỏ cuộc hôn nhân của mình. Quan niệm

của họ về tình yêu rất giản đơn và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo đức phong kiến.

Cuộc hôn nhân hiện tại chính là duyên phận duy nhất của họ. Rồi khi người chồng

của họ mất đi, họ tiếp tục ở vậy nuôi con một mình.

Không giống như những người sống vì gia đình ở trên, Hải trong Mắt miền Tây

lại cô đơn trong chính lòng tốt đáng thương của chị dành cho Tuấn, người đàn ông

lêu lổng nơi đất khách quê người. Tuấn đã ám vào cuộc đời của Hải như một định

mệnh mà chị thấy mình có trách nhiệm phải cưu mang. Mặc dù không hạnh phúc, chị

vẫn hy vọng với lòng tốt của mình sẽ khiến Tuấn thay đổi, nhưng cuối cùng hắn cũng

chỉ là một kẻ vô ơn, lợi dụng và ăn mòn tình thương của chị.

Quan tâm đến cảm xúc cá nhân của những người phụ nữ không tìm thấy hạnh

phúc trong đời sống vợ chồng, nhà văn cũng muốn đối thoại với các nhân vật của

mình về quyền được yêu và được sống hạnh phúc của con người. Bên cạnh trách

nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận, người phụ nữ thời nay cũng cần ý thức được rằng: trân

trọng và yêu quý chính bản thân mình là vô cùng cần thiết. Nhìn ra được bi kịch trong

đời sống vợ chồng của những người phụ nữ này, Võ Thị Hảo như ngầm gửi đến

người đọc một thông điệp “không thể tiếp tục sống như vậy”. Nhà văn muốn làm một

cuộc tranh luận với số phận nên rất nhiều lần để cho nhân vật của mình “nổi loạn”.

Những nhân vật có xu hướng “nổi loạn” xuất hiện trong kiểu phụ nữ cô đơn

thứ hai, người phụ nữ cô đơn với quan niệm về tình yêu lí tưởng và lựa chọn cô

đơn như một sự phản kháng.

Những người phụ nữ này phần lớn đều có những phẩm chất đáng yêu đáng

quý, họ ý thức được giá trị của mình, luôn khao khát được yêu và mong muốn đem

lại hạnh phúc cho người khác.

Đó là tiểu thư Nhuệ Anh trong Giàn thiêu, người con gái trong sáng, thủy

chung. Nàng sẵn sàng từ bỏ công tử Lý Câu giàu có nức kinh thành để đi theo Từ Lộ,

nguyện đem tình yêu của nàng xoa dịu nỗi đau và lòng hận thù thiêu đốt cuộc đời

chàng trai tội nghiệp.

Đó là nàng Hơ Điêu (Khát của muôn đời) sẵn sàng đi tìm người mình yêu

thương không quản ngại cái chết. Mặc dù bản thân đau khổ, bất hạnh trong tình yêu

nhưng vẫn khát khao yêu đến cháy bỏng bởi nàng thấu hiểu được điều kỳ diệu của

tình yêu: “khi yêu, con người ta vừa như mới sinh ra và người già cũng lập tức trở

thành vụng dại như trẻ nhỏ”. Nàng sẵn sàng chấp nhận những chua chát về mình để

giúp con người nhận diện được tình yêu “Chính trái cây em làm nỗi đau trong tim họ

dịu lại. Và sau đó ai ăn trái chanh Hơ Điêu người đó sẽ biết quên mình và vậy là

người đó biết yêu” [92, 86].

Đó là nàng tiên xanh xao vì cứu một người đàn ông xa lạ mà chấp nhận mất đi

một nửa số máu trong người, trở thành người đàn bà có làn da tái xanh đáng sợ.

Là Trang (Bàn tay lạnh) khao khát hạnh phúc vô cùng, vì bà và mẹ nàng đã

không hạnh phúc, nàng “nhất định phải hạnh phúc”, để gia đình nàng “không có kiếp

đàn bà bất hạnh thứ ba” [93, 69]. Là Thuận, là Hạnh luôn lẩn trốn tình yêu mà vẫn

yêu đến quắt quay cả cõi lòng…

Với những người phụ nữ này, tình yêu và hạnh phúc phải luôn là những cảm

xúc mới mẻ và không ngừng khám phá về nhau. Khác với những người phụ nữ an

phận, họ thường không chấp nhận cuộc đời bằng phẳng với những sự lặp đi lặp lại

đến là đơn điệu. Họ sẵn sàng vượt lên dư luận, đạo đức để được sống thực với cảm

xúc của mình. Nhưng sự lựa chọn của họ đôi khi chỉ đem đến cho họ bi kịch. Và họ

thường cô đơn trong chính khát vọng mang tính chất lí tưởng của mình.

Sải trong Con dại của đá là đóa hoa xinh đẹp của núi rừng, ở nàng dậy lên một

sức sống của tuổi thanh xuân và niềm khát khao những “miền ngái lạ”. Nàng như con

ngựa tía hoang tàng - đứa con dại khờ của đá. “Nó không biết làm lành với đá, luôn

lồng lên khi thoáng nhận ra mùi lạ và cứ vùng vằng xông tới đó bằng được” [93,

193]. Thay vì chấp nhận một cuộc sống yên ả, chờ đợi đến ngày về làm vợ Hùng De,

sống cuộc sống của người đàn bà Mông suốt đời đi theo cái đuôi ngựa của chồng,

nàng lại không ngừng bị thôi thúc bởi những cảm xúc “chông chênh” mà vô cùng hấp

dẫn đối với người đàn ông nguy hiểm Cáo Tờ Quẩy. Nàng bị “thôi miên” vì cái “vị

mặn nồng xa lạ của biển” tỏa ra từ người đàn ông sành sỏi này, kẻ đã quen lên rừng

xuống biển, từng đi khắp nơi với biết bao nhiêu trải nghiệm thú vị. “Ánh mắt của hắn

vằn những tia đỏ của rượu, thuốc phiện và những ham hố”. Nhưng nàng lại thấy trong

mắt hắn “những miền xa vời vợi mà nàng chưa biết tới”, nó khác với ánh mắt trong

veo của nàng và người chồng sắp cưới của nàng “quanh năm chỉ in da trời của một

miền quê” nơi chỉ có rừng cây và đá núi. Cáo Tờ Quẩy hứa đưa nàng xuống biển,

“nàng sẽ sung sướng hơn cả mẹ nàng và bà nàng ngày xưa” vì đàn bà con gái trong

bản này chưa ai xuống tới biển. Sải đã chạy khỏi đêm tân hôn của đời mình để đi tìm

Cáo Tờ Quẩy, nàng không chịu được cảm giác phải sống trong sự lừa dối với chồng.

Nàng muốn bỏ đi cùng Cáo Tờ Quẩy nhưng rồi lại bị hắn lừa bán cho bọn nghiện hút.

Người đàn bà bị dồn đến bước đường cùng đã giết chết gã đàn ông tráo trở rồi biến

mất trên bờ vực thẳm, để lại “tiếng khóc vỡ ngực” và nỗi đau âm vào núi đá của

những người đàn bà Mông tội nghiệp.

Võ Thị Hảo xây dựng rất nhiều số phận người phụ nữ cô đơn mà bi kịch đều

bắt đầu bằng sự “nhẹ dạ và cả tin rất đàn bà” như Sải. Tác phẩm Vườn yêu cho thấy

rất rõ bản chất hay “ảo tưởng” của người phụ nữ. Những người đàn bà nhẹ dạ từ thế

hệ này sang thế hệ khác nối tiếp nhau đi vào “vườn yêu” để rồi vỡ mộng với những gì

nhìn thấy được. Bởi họ bước vào tình yêu bằng tâm hồn trong trắng, họ ngây thơ tin

vào những tín điều do mình tự dệt nên để rồi hoang mang hụt hẫng trước sự thật bày

ra trước mắt. Nhân vật tôi trong Vườn yêu đi từ hoang mang đến thất vọng ngỡ ngàng

khi cùng với người yêu vào khu vườn của những kẻ yêu nhau trong lần hẹn đầu tiên.

Với cô, yêu là một cái gì đó mang ý nghĩa tâm linh cao cả, cô chờ đợi những câu

chuyện tâm tình trong cuộc hẹn đầu tiên, nhưng thay vào đó lại là một nụ hôn cuống

quít vội vàng; và đôi tay của người bạn trai thì háo hức khám phá cơ thể mà cô đã cất

công giữ gìn từ khi mới lớn. Thay vì hạnh phúc, cô cảm giác như mình bị sỉ nhục. Ở

lâu hơn chút nữa, cô còn chứng kiến một người con gái thản nhiên đi đến chỗ hẹn rồi

quan hệ với rất nhiều đàn ông. Cô chạy khỏi khu vườn ghê sợ đó trở về ẩn náu trong

vườn nhà. Tại đây cô lại lần lượt gặp rất nhiều những kiếp đàn bà bất hạnh vì yêu

trong gia đình mình. Những người đàn bà đã chế cho mình liều huyết thanh đề kháng,

có khả năng miễn nhiễm với sự cám dỗ của tình yêu. Họ tiêm cho cô nhưng thuốc

trào ngược trở ra không có tác dụng, người dì xinh đẹp của cô ngán ngẩm lắc đầu bỏ

đi. Và cô gái lại bước vào cuộc tình thứ hai giống bao nhiêu người con gái khác ở

vườn yêu.

Người đàn bà trong truyện Tim vỡ cũng tin vào những điều tốt đẹp của tâm hồn

để rồi đau khổ nhận ra đàn ông chỉ dừng lại “nơi khóe mắt, làn môi và thân xác hứa

hẹn đầy lạc thú” của người phụ nữ. Với đàn ông, “tâm hồn chỉ là những thứ vô hình,

vô ích, như một làn khói mỏng tan”, còn “thân xác và lạc thú mới là điều có thực”.

Ôm nỗi đau của cả thế giới đàn bà chứa chấp trong trái tim nhỏ bé, người con gái chết

đi biến thành loài hoa màu hồng mang hình tim vỡ đi rải những trái tim đau khổ khắp

muôn nơi.

Có thể thấy, chính sự khác biệt trong quan niệm về tình yêu mà rất nhiều

những người phụ nữ trong văn xuôi Võ Thị Hảo không thể nào hòa hợp với người

đàn ông của mình. Quan niệm mang tính chất lí tưởng khiến họ cứ mải miết đi tìm

thứ tình yêu dường như không có khả năng tồn tại, chỉ sau khi vỡ mộng họ mới biết

rằng cuộc sống thường không dung chứa những điều quá ư lí tưởng và họ phải học

cách để chấp nhận nếu không muốn bị xa lạ ngay trong chính suy nghĩ của mình. Nhà

văn không chỉ cảm thông và chia sẻ với những bi kịch của người phụ nữ, mà còn

cảnh tỉnh họ bằng những liều thuốc đắng để họ tỉnh táo nhận diện chân tướng của

cuộc đời.

Một thực tế khác rất đáng lưu tâm là, số phận thường dành cho người phụ nữ

cô đơn những người đàn ông ích kỉ và bội bạc. Xung quanh họ thì đầy rẫy những

người đàn bà bất hạnh. Việc nhiều người phụ nữ mất niềm tin vào đàn ông và có cái

nhìn “không thiện cảm” đối với đàn ông nói chung cũng là một chuyện tất nhiên.

Chính vì điều này mà nhiều người nhận xét hình tượng người đàn ông trong tác phẩm

của Võ Thị Hảo thường méo mó, cũng như cái nhìn về đàn ông của tác giả thường

thiên lệch, một chiều, mất đi tính chất khách quan. Tuy nhiên, Võ Thị Hảo đã làm

một cuộc lội ngược dòng lịch sử để xâu chuỗi số phận của những người đàn bà bất

hạnh và những đúc kết của chị không phải là không có lí. Từ số phận của bà Dạ Dần

cho đến mẹ Âu Cơ rồi tiếp nối là nhan nhản những người đàn bà Âu Lạc từ xa xưa

đến thế kỉ giải phóng phụ nữ, Võ Thị Hảo đã chứng minh rằng xã hội càng văn minh,

thì cái gánh trên vai người phụ nữ càng nặng. Vấn đề giải phóng phụ nữ và bình đẳng

giới vẫn đang còn được hiểu sai và việc thực hiện nó vẫn còn nhiều bất cập. Mặt

khác, khi cuộc sống vẫn còn đầy rẫy sự bất công, khi cái ác còn nhân danh nhiều thứ

để nhởn nhơ tồn tại thì số phận của người phụ nữ sẽ vẫn còn bất hạnh. Mà họ thì quá

yếu đuối, cho nên sự cô đơn đôi khi cũng là cách “tự vệ” theo một kiểu rất riêng của

họ. Đó là sự phản kháng trước những điều mà họ cho là bất công, vô lí; là sự lên tiếng

của lương tri và cũng là cách thức để họ giữ gìn sự tự tôn của mình trước đàn ông.

Chẳng hạn như Nữ hoàng Pháp luật từ chối tất cả những người đàn ông cầu

hôn mình bởi vì nàng không thể thuộc về ai, số phận đã lựa chọn cho nàng sự bất tử

và cô đơn mãi mãi. Cô đơn là cách duy nhất để nàng còn được là chính mình và thế

giới này còn giữ được niềm tin vào công lý cũng như lòng chính trực. Câu chuyện

của vị nữ hoàng sắc đẹp lộng lẫy và cô đơn ngàn đời thể hiện rất rõ thông điệp của tác

giả về một xã hội công bằng, dân chủ.

Nàng Hơ Điêu không muốn tiếp tục sống kiếp đàn bà nhẹ dạ rồi bị người đàn

ông ích kỉ lừa dối và dày vò trong đau khổ.

Hạnh (Tiếng vạc đêm) mặc dù rất có cảm tình với Thụ vẫn cố gắng khép chặt

lòng mình, cố giữ cự li vừa phải để “không bao giờ bị nuốt chửng” trước đàn ông –

những “con sói” tham lam và nguy hiểm.

Trang sau một lần trải nghiệm sự lừa dối (Bàn tay lạnh) đã tâm niệm thà làm

một người đàn bà cẩm thạch còn hơn để cuộc đời này có thêm một kiếp đàn bà bất

hạnh.

Thuận (Góa phụ đen) thì hoàn toàn không định lấy chồng. “Nàng chỉ thích

nếm lại cảm giác vờn một đấng nam nhi để đến khi anh ta bị thôi miên rồi thì lại

ngẩng cao đầu, nhón gót bỏ đi không nhìn lại”. “Nàng trả thù cho mẹ nàng đã lấy

phải một người chồng ti tiện. Trả thù cho em gái nàng đã mang bầu với một gã Sở

Khanh. Trả thù cho những người đàn bà hàng xóm đầu tắt mặt tối nuôi chồng mà vẫn

bị chồng đánh đập”. [93, 153]

Ta cũng hiểu rằng vì sao một tiểu thư Nhuệ Anh thiết tha với Từ Lộ như thế lại

từ chối Thần Tông, một Từ Lộ ở kiếp sau. Vì hơn ai hết, nàng hiểu rằng với cách

sống hưởng lạc của Thần Tông chỉ đem đến sự đau khổ và dày vò cho những người

đàn bà bên cạnh ông ta mà thôi. Sự lựa chọn của nàng đã chứng minh một điều: uy

quyền và sự ích kỉ tham lam không thể giữ được tình yêu và hạnh phúc.

Một đặc điểm chung nữa ở những người phụ nữ cô đơn dạng này là họ thường

rất quyết liệt trong những cuộc ra đi. Họ rất ít khi chọn con đường thỏa hiệp hoặc

dùng dằng. Ta có thể thấy rõ điều này trong những cuộc ra đi của Thảo trong Người

sót lại của rừng cười, Trang trong Bàn tay lạnh, Nhuệ Anh trong Giàn thiêu, Sải

trong Con dại của đá, cô gái trong Nàng tiên xanh xao… Đó là những nét rất riêng

trong sáng tác của Võ Thị Hảo khi viết về phụ nữ. Rất nhiều nhân vật nữ trong sáng

tác của chị đã vượt lên được những yếu đuối và ủy mị thường ngày. Họ có thể vươn

ra khỏi thân phận phụ thuộc, tự định đoạt lấy số phận của mình mặc dù sự lựa chọn

của họ có thể là sai lầm hoặc có thể sẽ dẫn họ tới bi kịch.

Võ Thị Hảo đã từng nói: “Nỗi đau khổ của đàn bà cũng như một sự cứu chuộc

thế giới”[92, 72]. Rất nhiều nhân vật nữ trong văn xuôi Võ Thị Hảo trở thành những

“thiên thần” gánh trên vai sứ mệnh cứu rỗi cuộc đời bằng những nỗi đau rất đàn bà

của họ.

Chấp nhận cô đơn, đối diện với nỗi đau và bất hạnh để giữ được sự tôn nghiêm

của mình, những người phụ nữ cô đơn trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo thật

quyết liệt, mạnh mẽ và đầy tự chủ. Tuy nhiên không vì thế mà họ đánh mất thiên tính

nữ vốn dịu dàng và nhạy cảm. Trong trái tim họ vẫn cồn cào một niềm mong mỏi

được bình yên và hạnh phúc. Chính vì thế ta thấy họ bất hạnh và đáng thương hơn lúc

nào. Bởi vì, thoạt nhìn bề ngoài, sự “nổi loạn” như là một điểm mạnh của họ, nhưng

xét đến cùng thì đó cũng chỉ là những sự phản kháng “đáng thương”. Rốt cuộc, chính

họ tự làm đau mình nhiều nhất mà thôi. Bởi đằng sau những trái tim tưởng như lạnh

lùng hóa đá kia vẫn là một niềm khát khao hạnh phúc cháy bỏng.

Qua câu chuyện của Thảo, ta hiểu rằng cô đau đớn biết bao khi hàng đêm tự

dày vò mình trong hình ảnh Thành đang hạnh phúc bên người vợ trẻ. Sự ra đi của cô

có quyết liệt đến thế nào cũng chỉ là một sự chạy trốn đáng thương.

Đọc câu chuyện của Trang, người đàn bà cẩm thạch với đôi bàn tay và ánh mắt

giá băng, người đọc không khỏi xót xa vì cái cách cô tự thu mình trong vỏ ốc cô đơn

và xa lạ để mặc cho tuổi xuân trôi đi.

Thuận thì luôn buồn sau những mối tình thoảng qua như cơn gió, đứng giữa

đám đông mà lúc nào cũng thấy cô đơn. Nàng đã luyện cho mình thói quen sống

không có đàn ông, đến khi tìm được một người có thể tin tưởng dựa vào thì số phận

cũng cướp đi mất.

Hạnh đã từ chối Thụ nhưng lòng nàng cũng đau như cắt, nàng tự nhận mình là

kẻ có trái tim tật nguyền, cứ mãi co ro trong cơn rét của lòng kiêu ngạo và vẫn

thường khó ngủ trong những đêm cuối thu với “gió heo may thổi về thảng thốt”.

Một lần nữa, con người vẫn không hết băn khoăn trước duyên phận trớ trêu.

Con đường đi tìm hạnh phúc cho người phụ nữ sao vẫn còn xa thăm thẳm!

Tóm lại, người phụ nữ cô đơn trong sáng tác của Võ Thị Hảo phần lớn đều bị

mất điểm tựa, họ phải tự đứng và bước đi trên đôi chân của chính mình. Trong cuộc

sống muôn mặt đời thường, họ không ngừng cố gắng vươn lên để khẳng định vị trí

của mình, tuy nhiên họ vẫn thuộc về số đông những con người bất hạnh và chịu thiệt

thòi. Ở họ luôn thường trực ý thức tự khẳng định mình trước người khác phái và xã

hội. Họ luôn khát khao tìm kiếm tình yêu và hạnh phúc đích thực, nhưng thường thì

họ lại cô đơn trong chính những mong mỏi đó của mình.

Cùng với nhiều nhà văn nữ khác, Võ Thị Hảo đã phác thảo một diện mạo mới

về chân dung người phụ nữ hiện đại trong văn chương: tự chủ, thành đạt, có khả năng

tự quyết và lấp lánh vẻ đẹp dịu dàng, nữ tính. Chính bản chất đôn hậu và thiện lương

trong những trái tim đàn bà đa đoan nhiều cảm xúc khiến cho những nhân vật nữ

trong văn xuôi Võ Thị Hảo trở nên gần gũi và tìm được niềm đồng cảm nơi người

đọc, đặc biệt là những người cùng giới.

CHƯƠNG 3 : TỰ SỰ ĐẦY MA LỰC VÀ ÁM ẢNH

Theo khảo sát của luận văn, Võ Thị Hảo là nhà văn mạnh dạn, táo bạo trong

các thể nghiệm, sáng tạo nghệ thuật, nhất là thể nghiệm, sáng tạo về phương thức tự

sự. Đó là những phương thức tự sự rất tương ứng với các nội dung tự sự trong sáng

tác của chị. Có thể khái quát đặc điểm chính của phương thức tự sự Võ Thị Hảo bằng

các mệnh đề sau: biểu tượng ám ảnh, khung cảnh “Liêu trai”, triết luận riết róng.

Nhà nghiên cứu Trần Lê Bảo trong một bài viết đã khẳng định: “có một hiện tượng

văn học liêu trai hiện đại Việt Nam trong dòng chảy văn học hiện đại Việt Nam. Nó phản

ánh nhu cầu nhận thức lại thực tại, phát hiện ra thế giới tâm linh đa chiều, bí ẩn [9, 315].

Trần Viết Thiện trong chuyên luận “Một ngả rẽ thú vị của truyện ngắn Việt Nam sau 1986”

cũng thừa nhận: “Từ sau 1975, nhất là từ sau đổi mới, chúng ta chứng kiến sự tái xuất đầy

ấn tượng của huyền thoại trong đời sống văn học nghệ thuật (…) Huyền thoại thực sự đã tạo

nên một hình thể truyện ngắn mới ở Việt Nam” [49, 437]. Có thể kể đến rất nhiều nhà văn

tiêu biểu cho khuynh hướng này như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo,

Nguyễn Thị Ấm, Đỗ Hoàng Diệu, Phạm Hải Vân, Lưu Sơn Minh, Thái Bá Tân, Hòa Vang,

Y Ban, Đoàn Lê, Nguyễn Hiệp… Trong các sáng tác của họ những yếu tố lung linh, hư ảo

với hàng loạt những trầm tích huyền thoại được tái hiện, vừa như là kết quả của “những hồi

ức văn học” vừa như là những thử nghiệm mới mẻ trong quá trình cách tân văn học. Một

đặc điểm chung là những huyền thoại nguyên thủy xuất hiện trong văn học đương đại không

còn tồn tại dưới dạng nguyên phiến mà được khúc xạ dưới góc nhìn của những con người

hiện đại với những triết mĩ đương thời. Đó là kiểu tác phẩm “giả huyền thoại”, “giả cổ tích”,

hay còn gọi là “truyện cổ viết lại”.

Võ Thị Hảo được xem là một trong những cây bút khá thành công trong xu hướng

sáng tác này. Văn xuôi nghệ thuật của chị đưa người đọc vào “xứ sở của lối văn chương mê

hoặc” trước hết thông qua cách dựng truyện huyền ảo, giàu kịch tính. Nhà văn đã phục dựng

một thế giới dã sử đậm chất huyền tích trong Giàn thiêu, viết lại nhiều câu chuyện cổ tích,

đồng thời sử dụng các yếu tố hoang đường, kì ảo để dựng truyện tạo nên một thế giới nghệ

thuật đa chiều mà chất hiện thực và kì ảo đan xen nhau trong những câu chuyện giàu kịch

tính.

3.1. Khung cảnh “Liêu Trai” và lối dựng truyện huyền ảo, giàu kịch tính

3.1.1. Thế giới dã sử đậm chất huyền tích trong Giàn thiêu

Giàn thiêu hấp dẫn người đọc không chỉ ở cảm quan lịch sử mới mẻ mà còn ở

khung cảnh dã sử đậm chất huyền thoại. Võ Thị Hảo đã dựa vào những sử liệu của

giai đoạn 1083 – 1138 dưới hai triều đại Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông được ghi

trong Đại Việt sử kí toàn thư và tận dụng các truyền thuyết trong Thiền uyển tập anh

để dày công hư cấu, thiết kế lại quá khứ, tạo ra một thế giới của riêng mình.

Không gian và bối cảnh lịch sử làm nền cho câu chuyện được tái hiện bằng

những lát cắt xen kẽ với số phận của nhân vật chính trải qua hai kiếp Từ Lộ và Thần

Tông. Qua những nét phác thảo thỉnh thoảng xen vào “như tiện tay thì viết”, người

đọc có thể hình dung được đời sống tinh thần – xã hội những năm cuối thế kỉ X đầu

thế kỉ XI với khung cảnh hừng hực khí thế của quân dân Đại Việt những năm phá

Tống bình Chiêm với sự xuất hiện của những yếu nhân như Lý Nhân Tông, Nguyên

phi Ỷ Lan, Lý Thường Kiệt. Đồng thời cũng cảm nhận được không gian oi nồng,

ngột ngạt của những cuộc thanh trừng khốc liệt giữa triều đình, chốn hậu cung xoay

quanh vương quyền cùng với sự lầm than cơ cực của bách tính nơi chốn nhân gian…

Tuy nhiên, điểm thu hút đặc biệt ở Giàn thiêu không phải là một không thời

gian sự kiện đơn thuần với những cứ liệu lịch sử khô cứng mà chính là chất tiểu

thuyết đậm đặc, đem đến cho người đọc cảm giác trải nghiệm rất mới mẻ qua từng

chương sách nhờ tài phục dựng lịch sử một cách huyền ảo của nhà văn. Có thể thấy,

không thời gian, sự kiện và nhân vật trong Giàn thiêu biến ảo kỳ diệu và đẫm chất

huyền thoại.

Trước hết, lịch sử là câu chuyện thời gian, thế nhưng trong Giàn thiêu, thời

gian đã không còn thuộc về lịch sử. Thời gian trần thuật và diễn biến sự kiện trong

cuộc đời nhân vật không có sự ăn khớp nhịp nhàng. Cái mở đầu không phải là cái bắt

đầu của số phận, một Thần Tông xuất hiện trong chương một với khung cảnh chết

chóc của giàn thiêu cung nữ sẽ còn quay trở lại với tiền kiếp của mình là Từ Lộ để

nếm trải những nỗi đau của một cuộc đời khác ở những chương sau. Và sự kết thúc

số phận của Thần Tông trong chương cuối chỉ mới là sự chấm dứt một kiếp luân hồi

của Đạo Hạnh, mở đầu cho vòng trầm luân không có hồi kết thúc của con người trong

cõi nhân gian. Cấu trúc đan xen và đồng hiện của truyện kể khiến thời gian của tác

phẩm luôn ở trạng thái chưa hoàn kết. Thời gian hồi cố cũng được tăng cường tạo

những đoạn đan xen gãy khúc liên tục. Câu chuyện được kể tưởng như được kể ở

đoạn không đầu không cuối, lửng lơ vô hồi trong thời gian vô hạn.

Thứ hai, không gian của Giàn thiêu là một không gian dã sử đậm chất huyền

thoại. Tác giả dẫn dắt người đọc đến với khung cảnh của một thời quá vãng vàng son

trong những năm đầu của vương triều Đại Việt được bao bọc trong không khí huyền

thoại tôn giáo. Một trong những không gian huyền thoại rất đặc trưng trong Giàn

thiêu là không gian nghi lễ. Tác giả đề cập đến nhiều loại nghi lễ như: lễ cầu an, lễ

cầu mưa, lễ Mở cửa rừng của dân làng Quý Võ, lễ tế thần Sao Chổi, Lễ phóng diệm

khẩu của nhà Phật và lễ hiến tế giàn thiêu.

Những nghi lễ mang tính chất hướng thần như lễ cầu mưa, cầu an được những

người đứng đầu của triều đình và các chức sắc tôn giáo thực hiện khi đất nước có

điềm dữ được nhắc đến hai lần. Lần thứ nhất vào thời gian năm Hội Phong thứ bẩy,

mùa thu, khi sao Chổi hiện ra phía bắc kinh thành. Lần thứ hai vào thời điểm “Mậu

Ngọ, Thiên Chương Bảo Tự năm thứ sáu. Tháng Ngâu. Khô hạn ba tháng ròng,

ruộng vườn hết thảy nứt nẻ”[95, 474]. Nhìn chung, những nghi lễ kiểu này trong

Giàn thiêu thường không mang đến sự an lạc, bình tâm mà chỉ nối dài cảm giác về

một không khí oi bức, bất an bao bọc xung quanh triều đình và lan tỏa ra đời sống

của nhân dân. Bởi vì bất chấp những lễ cầu an, hàng loạt những lời đồn vẫn “lan

truyền như dịch bệnh”, không khí ma quái bao trùm cuộc sống nhân dân, “khắp nước

đầy rẫy những hồn ma dật dờ”, “thiên hạ nói năm nay âm thịnh, ma thích đội đất

chui lên đi lại buôn bán làm ăn với người”. “Có gã phù thủy nọ cả quyết rằng hôm

qua khi hắn sờ tay vào vại cà thì bốc phải một nắm nhơn nhớt, rút tay ra thì hóa ra

đó là một nắm ma ngoe nguẩy. Con nào con đó đói lõm xác, tay cứ bốc cà muối mà

nuốt” [95, 375]. Hàng loạt những âm hồn đói rách vất vưởng đội mồ đi lại chốn

dương gian cho thấy lúc sống họ đều là những kẻ bần cùng, bất hạnh. Ở đây, niềm tin

về những đàn tràng cầu an dường như có nguy cơ bị đánh đổ hoàn toàn. Cầu an mà

chỉ thấy bất an, cầu mưa mà mưa không đến từ những giàn cầu đảo của nhà vua hay

những pháp sư với những bài kinh tụng niệm, mà đến từ Nhuệ Anh một người đàn bà

biết yêu với bài hát gọi mưa, bài ca đi đòi nước mắt nhân gian.

Có thể thấy, trong Giàn thiêu phần lớn những cuộc lễ đều mang tính chất giải

thiêng huyền thoại. Rất nhiều những nghi lễ bị biến màu rõ rệt. Lễ tế Thần Sao chổi

do Pháp sư Đại Điên chủ trì tại đền Cổ Phong là một cuộc hành xác đến rợn người.

Trong bầu không khí thâm u của buổi chiều tối trùm lên ngôi đền, một đám đông

nhảy múa cuồng loạn xung quanh đống lửa phừng phực cháy. Từng người một

“tranh cướp nhau để lấy những chiếc thuốn dài và to nhất, rú lên những tiếng tuyệt

vọng như chó rừng, rồi tự đâm vào má, vào vai, vào lưng, vào ngực… (…) Những kẻ

không may mắn giằng giật được thuốn sắt bỗng lăn lộn trên đất hoặc bò bốn chân

như chó lợn. (…) Có kẻ nhặt những con rắn cho vào mồm nhai ngon lành, có kẻ nuốt

cả rết sống, kẻ nuốt cả than hồng, kẻ đến đấu mảnh chai nhặt ăn rau ráu. (…) Cho

tới khi kiệt sức vì nhảy múa, từng người gục xuống, nằm bất động như một xác chết”

[95, 379] .

Nhà văn đã giữ lại cái vỏ huyền bí, khác lạ không thể giải thích nổi bằng sự

suy lí thông thường để tạo nên không khí tôn giáo huyễn hoặc cho buổi lễ tế thần Sao

Chổi. Còn cái lõi của nó, tư duy huyền thoại, thực chất đã không còn là kiểu tư duy

nguyên thủy. Niềm tin thiêng liêng ngây thơ mang tính chất hướng thần đã bị đánh

đổ, thay vào đó là cái nhìn “cười nhạo trên mọi sự điên rồ của con người” như lời của

pháp sư Đại Điên. Bởi những kẻ đi theo ông ta “lấy sự hành xác dâng lòng thành

kính lên đức Phật” chẳng qua cũng là “đem sự khổ hạnh để mua chuộc đức Phật,

hòng lấy sự an lạc của kiếp sau” mà thôi [95, 396]. Có thể nói, bằng cách sử dụng

huyền thoại như một phương tiện nghệ thuật, tác giả Giàn thiêu đã góp thêm tiếng nói

cảnh báo về “sự khủng hoảng niềm tin của con người” trong văn học Việt Nam sau

những năm đổi mới.

Thế nên, cuộc lễ lớn nhất của tác phẩm chính là lễ hiến tế giàn thiêu hiện ra với

đầy đủ tính chất man rợ của những cuộc thanh trừng khốc liệt được ngụy trang bằng

những nghi lễ linh thiêng. Đến với Giàn thiêu, người đọc đến với không gian của lửa

địa ngục. Không phải thứ lửa hủy diệt có chức năng tái sinh như mẫu gốc trong

những thần thoại cổ, lửa trong giàn thiêu đã bị khúc xạ bởi một ý nghĩa khác. Nó là

sự tái sinh không trọn vẹn, sự hồi sinh không hoàn kết, không có điểm dừng. Tính

chất hiến tế bị bóp méo và sự linh thiêng tuyệt đối biến thành sự đau đớn tàn khốc,

chức năng tái sinh của cái chết biến thành công cụ hủy diệt sự sống.

Không gian lễ hiến tế giàn thiêu hết sức rùng rợn và u ám được miêu tả hai lần,

một ở đầu truyện và một ở kết thúc như một sự sắp đặt có chủ ý rõ rệt. Nó tạo cho tác

phẩm một không gian chết chóc rùng rợn với những ám ảnh kéo dài. Lần thứ nhất.

Quang cảnh giàn hiêu hiện ra với một đám rước khổng lồ nặng nhọc chuyển đi trong

tiếng cầu kinh da diết phả vào tiếng chuông chùa ảo não. Hòa theo đó là những tiếng

kèn, tiếng thanh la não bạt chen với giọng khóc thương ai oán của con người. Những

kẻ sắp bị đưa lên giàn thiêu thì “linh hồn dường như đã chơi vơi ra ngoài thân xác,

nửa nổi nửa chìm trong ngoài địa ngục”, “vẻ đẹp u ám của những cung nữ và những

khuôn mặt đợi giờ chết của họ rực lên trong tang tóc” [95, 29]. Cung nữ Ngạn La cố

vùng vẫy để thoát khỏi giàn thiêu, tiếng gào xé ruột của nàng đánh thức những người

sắp chết, báo cho họ biết rằng “họ và nàng đang là những linh thể sống”. Và “bốn

mươi tám cái cổ đồng loạt rú lên bốn mươi tám tiếng rú tắc nghẹn. Tiếng rú được nối

dài bởi hàng ngàn tiếng rú phẫn uất của rừng người.

(…) Lửa lập tức bùng lên. Những lưỡi đỏ khổng lồ thèm khát rần rật liếm giàn

thiêu. Sạn đạo bùng cháy như một con giao long khổng lồ quằn quại há cái miệng

ngùn ngụt lửa đỏ mà nuốt trọn đảo Âm Hồn.

(…) Nối dài những tiếng gào thét, các đôi công, trĩ, uyên ương bị trói chân

trên nóc giàn thiêu cũng đồng loạt bật lên những tiếng xé ruột (…) những bóng đàn

bà nhẩy dựng lên trên những phiến gỗ thông ngùn ngụt cháy, chới với hai cánh tay

lên trời rồi lảo đảo gục xuống, bùng lên như những bó đuốc. Mùi tanh lợm của thịt

người, của lông chim cháy cuồn cuộn bốc lên phủ khắp vùng.

(…) Khói giàn thiêu bốc đọng thành một đám mây hình lưỡi tầm sét õng máu

treo lơ lửng ngang trời Na Ngạn” [95, 37, 38].

Qua đoạn văn trên, không gian nghi lễ của giàn thiêu hiện lên dữ dội với đầy

đủ màu sắc, âm thanh, đường nét, hình hài. Những gam màu của sự chết chóc ghê

rợn, những tiếng rú không phải tiễn đưa, reo mừng trước sự tái sinh vào cõi vĩnh hằng

mà là những tiếng rú thê lương dự báo sắp có những oan hồn không siêu thoát. Nó

lên án tính chất độc đoán ích kỉ của những ông hoàng bà chúa khát khao ôm mộng

thỏa mãn bá quyền và kéo dài cuộc sống hưởng thụ sau khi chết. Giấc mộng hoang

đường đó chỉ làm nối dài thêm những cuộc thanh trừng đẫm máu cho những người

đang sống mà thôi.

Tính chất thanh trừng khốc liệt này được tác giả mô tả rất rõ trong chương cuối

của truyện sau cái chết của Thần Tông. Giàn thiêu biến thành nơi trút hận của Lê

Thái Hậu, một Ỷ Lan thứ hai, đang trên đà thắng thế. Nhìn những kẻ sắp đi vào họng

tử thần, “trên môi Lê Thái hậu nở một nụ cười. Những kẻ ngày xưa được vua yêu

chiều, nay sẽ đến lượt phải quằn quại trong lưỡi lửa giàn thiêu. (…) Lê Thái hậu nhìn

chằm chằm vào mặt cung nữ Ngạn La. Đắc ý trước một nhan sắc có thể làm xiêu

lòng đến cả Diêm Vương sắp bị tận diệt. (…) Thái hậu hăm hở cầm lấy dùi chuông,

thẳng tay giáng lên một hồi chín tiếng. (…) Quan thủ lễ cầm dao run rẩy cắt cổ đôi

uyên ương (…) lần lượt vạch từng hình tam giác máu lên trán mỗi cung nữ. Khi vạch

đến trán phi tần thân sinh Minh đạo vương Thiên Lộc và cung nữ Ngạn la, hai người

mà Thái hậu đã lệnh cho phải đưa lên giàn thiêu cuối cùng để họ phải bị tra tấn vì

chứng kiến cảnh quằn quại đau đớn của các cung nữ khác, những ngón tay quan thủ

lễ run lên, đường máu trên trán họ ngoằn nghoèo biến dạng(…)” [95, 537, 536].

Có thể thấy, nghi lễ hỏa thiêu cung nữ theo vua trong Giàn thiêu mang bóng

dáng của những nghi lễ hiến tế cổ xưa, gợi cảm giác về một thời kì hoang dã của loài

người, nó thể hiện đậm nét nhất sự ngưng đọng của những huyền thoại cổ theo thời

gian. Võ Thị Hảo đã thành công trong việc sử dụng thủ pháp huyền thoại hóa trong

văn học, phục dựng lại không khí của thời xa xưa. Đồng thời đặt trong cuộc đối thoại

xuyên thời gian, việc thể hiện tính chất dở dang không hoàn kết của các nghi lễ này

bộc lộ rõ quan điểm của nhà văn về lịch sử và huyền thoại. Với nghi lễ giàn thiêu, tác

giả đã làm một cuộc “đại giải thiêng huyền thoại”, vạch trần những âm mưu thâm

độc, những tội ác dã man nhân danh thần thánh. Lời tố cáo mạnh mẽ của Lê Thị

Đoan cũng như lời nguyền của cung nữ Ngạn La trước khi đi vào cõi chết thể hiện rõ

điều này, cho nên “cung điện này không bao giờ thoát khỏi những cơn điên và các

linh hồn xõa tóc đòi mạng” là vì vậy.

Bên cạnh những không gian nghi lễ có tính chất linh thiêng bày ra trước bàn

dân thiên hạ, nhà văn còn dựng lên không gian của lãnh cung thâm u với những hồn

ma hiện hình đối thoại với nhau. Lãnh cung trong Giàn thiêu được hình dung như

một ngôi cổ mộ đầy rẫy những oan hồn kêu gào đòi nợ và kẻ mắc nợ thì đến thời

khắc nhất định phải đến để chịu tội trước các oan hồn, trả món nợ đã vay trong lúc

sống. Đây là một dạng không gian phán xử ở cõi âm nhưng hiện ra vô cùng sống

động trước mắt một người trần mắt thịt vô tình được chứng kiến là cung nữ Ngạn La.

Lãnh cung u ám, lạnh lẽo đột nhiên sáng lòa “rồi nền nhà hoác ra thành miệng một

hầm mộ” dưới đó là những con chuột “to bằng bắp chân, bằng cột nhà” đang nằm

ngủ im thin thít bên cạnh ngổn ngang những bộ xương vừa bị gặm hết thịt da. “Khi

những tiếng thì thào vừa dứt, những bộ xương cẳng tay cẳng chân, đầu lâu từ từ

dựng dậy nối nhau chuyển động xếp lại theo trật tự răm rắp, thành hình người. Từ

miệng những con chuột đang ngủ, một dòng da thịt chảy ra, đắp vào những bộ xương

đó. Có bẩy mươi bẩy bộ xương. Và những bộ xương khô vừa được chắp thịt đã trở

thành những đàn bà con gái đẹp lộng lẫy”. Thái hậu họ Dương với “gương mặt

trắng bệch chỉ có đôi môi đỏ chót và một sợi dây lụa trắng vấy máu lòng thòng từ cổ

buông xuống trước ngực” đi lại nói chuyện với Ngạn La. Lát sau Thái hậu Ỷ Lan

cũng xuất hiện với “gương mặt già nua, đầy nếp nhăn, co rúm lại vì đau đớn”, dưới

chân bà ta “những con chuột to bằng thân cây chuối đang ngoạm những chiếc mõm

nhọn hoắc vào bắp chân, máu tuôn đỏ lòm thành vũng” [95, 232]. Trong không gian

này, thái hậu họ Dương trở thành người buộc tội với những lời lẽ đanh thép, còn Ỷ

Lan kẻ bị buộc tội phải chịu đau đớn dày vò. Với không gian cõi âm, nhà văn đã để

cho thái hậu Ỷ Lan một lần nữa phải đối diện với lương tâm của mình, đối diện với

những tội ác mà mình đã gây ra trên dương thế. Không chỉ thể hiện quan niệm “nhân

quả báo ứng” truyền thống của dân gian, kiểu không gian này còn là mảnh đất màu

mỡ để nhà văn làm một cuộc đối thoại lớn với lịch sử thông qua những yếu nhân đầu

triều. Ở đây, Ỷ Lan đã bộc lộ bản chất của một người đàn bà đầy thủ đoạn với tham

vọng bá quyền bất chấp tất cả. Từ cái nhìn của Ỷ Lan, nhà văn khái quát rằng: “Thời

nào cũng vậy, mạng người quá rẻ trong tay các bậc đế vương” và “cái bức đại vóc

đẹp đẽ của triều đình bao giờ cũng dệt nên bởi những mưu mô và thủ đoạn được kéo

ra từ những con kén ngậm máu và nước mắt” [95, 236, 237]. Như vậy, đằng sau cái

màn u linh ma quái là những thông điệp của nhà văn về trách nhiệm của những con

người nắm giữ vận mệnh của dân tộc. Chất phản biện xã hội hết sức mạnh mẽ trên

từng câu chữ của nhà văn.

Không gian huyền thoại, ma quái chết chóc trong giàn thiêu cũng chính là

không gian tồn tại của rất nhiều nhân vật đã được “huyền thoại hóa”.

Đó là những nhà sư tu luyện đắc đạo như Tzu, Từ Đạo Hạnh, Giác Hải, Minh

Không… Họ xuất hiện như những người có những năng lực huyền ảo đặc biệt. Sư

Tzu là kiểu nhân vật bán thần, sau mười hai năm tu luyện ông đã đi qua ngưỡng cửa

của cái chết để tái sinh, thân thể chỉ còn là bộ xương cử động, đôi mắt thì mù lòa

nhưng lại phát ra thần quang có khả năng cứu giúp kẻ khác, giọng nói cất lên từ bụng

có thể làm rúng động tâm thần người khác, bàn tay đặt lên đầu người khác có thể

truyền năng lượng đem lại bằng an, là người thấu hiểu quá khứ, đoán định được

tương lai, nhìn xuyên sáu cõi, ta bà và địa ngục đều thông suốt. Còn Đạo Hạnh đại sư

sau khi đắc đạo trở thành người có phép lục thông, có thể đi mây về gió, sai khiến

được âm hồn, nghe hiểu tiếng chim hót, tiếng dã nhân, có khả năng thoát xác đầu thai

tái sinh sang kiếp khác. Minh Không đại sư thì không chỉ tài giỏi siêu quần mà còn là

hiện thân cho cái Thiện, là thánh sống cứu độ chúng sinh. Hành tung của ngài bí ẩn

khó lường, thường đi mây về gió, có thể tàng hình, xuyên qua đất đá, sau một tiếng

thét có thể phi thân lên không trung, tay chạm mặt trời mặt trăng, mỗi khi trời làm

hạn hán, lụt lội đều có thể trai giới cầu đảo được mưa được nắng…

Trong không gian Giàn thiêu còn có những nhân vật nửa người nửa quỷ như

pháp sư Đại Điên có pháp lực hơn người nhưng lại chuyên làm việc hại người tà ác.

Có những nhân vật bán nhân như chàng Cá Bơn nửa người nửa cá, chuyên sống dưới

nước, thờ cá làm mẹ. Có Dã nhân nửa người nửa thú với tình yêu vô vụ lợi, cưu mang

Từ Lộ trên Thập Vạn Đại Sơn, trở thành người mẹ thứ hai của Từ...

Bên cạnh những nhân vật xuất hiện trong các huyền thoại dân gian như Đạo

Hạnh, Minh Không, Đại Điên… nhà văn cũng đã sáng tạo ra nhiều nhân vật nữ có vẻ

đẹp huyền ảo, khác thường, tiêu biểu là tiểu thư Nhuệ Anh và cung nữ Ngạn La.

Nhuệ Anh mang vẻ đẹp của khói sương mờ ảo, là người đàn bà không tuổi, thu hút

rất nhiều những người đàn ông đi theo bà, với họ bà vừa là Thần Nữ vừa là Phù

Thủy. Còn Ngạn La mang vẻ đẹp hoang dại của tự nhiên với cặp mắt mèo hoang và

cái rốn chu sa khơi nguồn bất tận cho niềm đam mê và lạc thú cõi trần, sắc đẹp ấy có

thể làm cả Diêm Vương mê đắm, người người ngất ngây.

Thế giới nhân vật của Giàn thiêu như hư như ảo, tồn tại đó mà như không tồn

tại, sống kiếp này nhưng lại lửng lơ trong kiếp khác, có khi cùng lúc phải trải qua

mấy kiếp. Cuộc đời của nhân vật Từ Lộ - Thần Tông được tạo nên bởi màn sương

huyền thoại lửng lơ như vậy. Sự biến đổi liên tục các số phận được đẩy lên cao trào

trong đoạn vua Thần Tông hóa hổ. Khi được đại sư Minh Không và sư bà Nhuệ Anh

giúp phục hồi kí ức của kiếp trước, dung mạo của nhà vua hổ biến ảo khôn lường.

Nhớ lại đoạn đường học đạo, những giọt sữa Dã nhân, cái chết của dã nhân vì ăn hạt

độc, nhà vua trong lốt một con hổ mà lại nhang nhác một con dã nhân. Khi con hổ -

dã nhân trông thấy cây sáo của Từ Lộ năm xưa hình dạng bắt đầu có vẻ giống người,

cầm cây sáo ngày xưa lên thổi. Nước mắt của Nhuệ Anh chảy xuống gột sạch những

đám lông trên người con hổ - dã nhân thì hiện ra cơ thể chàng nho sinh Từ Lộ. Minh

Không lên tiếng gọi tên Đạo Hạnh đại sư, gương mặt Từ Lộ bỗng chốc vặn xoắn,

biến dạng, thân mình rắn lại, dẻo như một bó gân khô, vầng trán mang đầy những nếp

nhăn phong sương... [giàn, 463]. Người đàn ông lúc này xuất hiện dưới rất nhiều vai,

một Từ Lộ thương tiếc mối tình ngọt ngào với Nhuệ Anh, một Đạo Hạnh từng trải

với những tham vọng điên cuồng, một Thần Tông ham hố hưởng lạc trên ngôi cao

chín bệ… Không gian tồn tại của Từ Lộ không chỉ là không gian của cung son mà

còn là kiểu không gian vô thức với vô vàn những ẩn ức, những giấc mơ nối dài, mê

rồi lại tỉnh. Tính chất mờ hóa đó tạo sự bí ẩn cho hành tung của nhân vật, khiến người

đọc bị lôi cuốn phải đọc một mạch quyển sách từ đầu tới cuối.

Cùng với những số phận đầy biến ảo của các nhân vật, khung cảnh huyền ảo

của Giàn thiêu còn hiện lên qua con đường hành cước mịt mờ của các Tỳ kheo với

bao thác cao vực sâu, xuất hiện hàng loạt những không gian xa xôi của rừng thiêng

nước độc, những vách đa cheo leo trên những ngọn núi tuyết quanh năm không có

người qua lại, nơi sinh sống của những bộ lạc còn hoang dã với những lễ điểu táng

rợn người…

Bằng những nét vẽ vừa gân guốc vừa mềm mại, Võ Thị Hảo đã dựng lên một

khung cảnh vừa hiện thực khốc liệt vừa phiêu diêu lãng đãng, phủ lên không gian dã

sử một lớp sương huyền thoại “vừa ngột vừa bỏng rát” dẫn dắt người đọc vào thế giới

của những cuộc đối thoại triền miên không dứt.

3.1.2. Thế giới cổ tích đậm chất hiện thực

Trong văn học đương đại xét riêng ở mảng truyện ngắn, rất nhiều cây bút có xu

hướng phục dựng những huyền thoại cổ, sáng tạo những huyền thoại mới như

Nguyễn Huy Thiệp với Trương Chi, Con gái thủy thần, Những truyện ở bản Hua Tát;

Lê Minh Hà với Sơn Tinh Thủy Tinh, An Dương Vương, Ngày xưa, cô Tấm;Y Ban

với Bức thư gửi mẹ Âu Cơ; Hòa Vang với Bụt mệt, Sự tích những ngày đẹp trời; Nhật

Chiêu với Con quạ…

Trong dòng chảy trên, Võ Thị Hảo có riêng một mảng truyện “giả cổ tích” nói

về sự tích các loài như: sự khai thiên lập địa, sự kiến tạo con người và vũ trụ, sự ra

đời của các vị thần (Nữ hoàng cô đơn), sự xuất hiện của những vực sâu, thác nước dữ

dội (Phút chối Chúa), sự tiếp nối về huyền thoại sáng thế qua chân dung và gánh

hành trang của những người đàn bà Âu Lạc từ cổ chí kim (Hành trang của người đàn

bà Âu Lạc), hay về sự tích của những loại cây, loại hoa như: cây bưởi (Nàng tiên

xanh xao), cây chanh (Khát của muôn đời), hoa Ti-gôn (Tim vỡ), hoa trinh nữ (Hồn

trinh nữ)…

Hình dáng của những câu chuyện này không khác gì những câu chuyện thần

thoại, những cổ tích xa xưa thể hiện ở bối cảnh, thời gian, không gian, sự kiện, nhân

vật mang tính chất kì ảo… Nhà văn dựng lên một thế giới cổ tích với hàng loạt những

chi tiết thần kì, biến hóa ảo diệu. Những chi tiết thần kì này tham gia vào cốt truyện,

đem lại những cuốn hút bất ngờ, kì lạ cho người đọc.

Trong thế giới ấy, thời gian bị mờ hóa với những từ ngữ mang tính phiếm chỉ.

Nhà văn thường mở đầu truyện bằng cách đưa con người vào một khoảng không thời

gian lửng lơ không đầu không cuối: “không biết đã qua mấy lần ba trăm sáu mươi

năm, chỉ biết rằng có người đàn ông nhặt được một khúc gỗ trôi dạt…” (Tim vỡ),

“Thuở ấy, nhà nọ từng có hai kiếp đàn bà” (Hồn trinh nữ), “Người đàn bà Âu Lạc

xuất hiện không sớm không muộn” (Hành trang của người đàn bà Âu Lạc), Có người

con gái mồ côi sống lẻ loi trong rừng sâu, một buổi sáng, nghe chim hót, nàng bừng

mắt dậy (Nàng tiên xanh xao)…

Khung cảnh bao quanh con người là một vũ trụ hỗn mang, là thế giới của

những vùng đất xa xôi nơi những vị thần đầy quyền năng ngự trị. Nơi đó, đấng khai

thiên lập địa đã sáng tạo ra con người, rồi tạo ra các vị thần từ những giọt nắng đầu

tiên của vừng dương buổi sáng (Nữ hoàng pháp luật).

Vào những năm tháng xa xưa ấy, những thác nước được hình thành từ sự giận

dữ của thần sông (Phút chối Chúa). Người ta thì tin rằng có sự tồn tại của ba cõi, với

sự cai quản của Trời, người đàn ông “chẳng bao giờ già”, sống ở Thiên cung, nơi

“ngàn vạn năm chẳng có ai được sinh ra và chẳng ai chết đi” (Khát của muôn đời)…

Trong thế giới của những câu chuyện ấy, con người có thể nói chuyện với Trời

và thần, có thể cầu xin thần ban cho những năng lực siêu phàm giúp người sắp chết

hồi sinh, có thể mọc ra hàng trăm cánh tay để níu giữ người yêu (Nàng tiên xanh

xao).

Và nếu con người khiến thần nổi giận thì cũng sẽ lãnh đủ những đòn trừng phạt

khốc liệt. Trong Phút chối Chúa nàng Ly vì không giữ lời hứa với thần sông mà bị

trừng phạt phải ngàn đời chết khát trên dòng sông đầy nước.

Con người trong thế giới ấy cũng tin vào những lời nguyền, những lời tiên tri

với một niềm tin ngây thơ rất thật. Chẳng hạn như dân làng Tây Nguyên trong truyện

Phút chối Chúa bị ám ảnh bởi lời nguyền của thần sông, khắc khoải đợi chờ cái ngày

lời tiên tri thành sự thật, một Người Khổng Lồ sẽ đến để hóa giải lời nguyền của thần

sông, để dân làng hết đói và để người con gái đẹp nhất ngày xưa sống lại…

Có thể thấy, nhà văn đã làm sống lại thế giới cổ tích lung linh, đưa con người

trở lại với những khoảnh khắc thăng hoa của trí tưởng tượng diệu kỳ.

Điểm nhấn ở những câu chuyện cổ tích hiện đại này chính là sức dung chứa

những yếu tố hiện thực mang bóng dáng của một xã hội đương đại cũng như chuyên

chở những tầng hàm ngôn mới, bộc lộ quan điểm, tư tưởng của nhà văn, thường có

tính chất “giải huyền thoại”, “giải cổ tích”.

Chẳng hạn như quan điểm Thiện – Ác, cán cân công lý và tính nghiêm minh

của pháp luật thể hiện trong truyện Nữ hoàng cô đơn mang đậm dấu ấn của tư duy

hiện đại. Nhà văn cho người đọc thấy được bản chất của con người với cái Thiện lẫn

cái Ác đã hình thành từ thuở hồng hoang: “ngày ấy vũ trụ còn hỗn mang. Xuất hiện

cha Trời, mẹ Đất, rồi chia ra Người, rồi phân ra vật. Nhưng người còn cắn xé nhau,

chẳng khác gì vật” [93, 86]. Trước cảnh người ăn thịt người, thế gian ù ào đầy tiếng

khóc bi ai, mẹ Đất trách cha Trời đãng trí sao sinh người mà chẳng sinh tim óc. Thế

là còn mảnh kim cương cuối cùng, cha Trời tạo ra Nữ hoàng pháp luật – người duy

nhất có khả năng phán xét cả thiên cung và hạ giới để cho trần gian “người lại thành

Người, vật vẫn nguyên là vật, kẻ yếu không bị xâu xé”. Nữ hoàng Pháp luật là bất tử

và cũng cô đơn tuyệt đối, nàng không thể thuộc về ai cũng như cán công công lý

không thể bị chi phối bởi Tiền Tài và Dục Vọng.

Trong Khát của muôn đời, nhà văn để cho Trời làm một cuộc ngao du xuống

hạ giới được nếm trải cảm giác đói khát, được nghe câu chuyện bất hạnh của một cây

chanh, để cho Trời biết đến nỗi đau của con người trần thế mà bớt thờ ơ, vô cảm với

bất hạnh của con dân do mình cai quản. Đó chính là thông điệp có ý nghĩa thiết thực

đối với những người có trách nhiệm với nhân dân…

Một trong những yếu tố giải cổ tích trong những câu chuyện này thể hiện ở chỗ

số phận của con người được nhà văn bọc trong lớp vỏ cổ tích, được lí giải một cách

huyền ảo nhưng đều là những bi kịch không lối thoát, những kết thúc không có hậu,

“ở hiền chẳng gặp lành”. Những truyện về sự tích các loài cây thường có một kết cấu

chung đó là mỗi loại cây, loại hoa đều là kết quả của một số phận bất hạnh, một câu

chuyện tình dở dang. Cây bưởi với những bông hoa trắng muốt là sự hóa thân của

nàng tiên xanh xao, còn những chiếc gai nhọn là người chồng của nàng. Cây chanh

H’Điêu là hóa thân của nàng H’Điêu đi tìm chồng rồi chết bên bờ suối cạn. Hoa

Tigôn là hóa thân của người đàn bà ôm nỗi đau vỡ ngực. Còn Hoa trinh nữ mọc bên

đường chính là hóa kiếp của người trinh nữ luôn khiếp sợ trước bàn tay vấy máu và

gương mặt không biết cười của chồng. Sự tích sông Sê-san gắn liền với cuộc đời

nghèo đói của dân làng Tây Nguyên…

Nhìn chung các câu chuyện kiểu cổ tích trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo

thường tạo nên tính đa nghĩa, bắt buộc người đọc cùng suy ngẫm và đi tìm những lời

giải. Nhà văn đã tạo ra một thế giới huyền ảo mà những người đọc tỉnh táo có lẽ

chẳng ai tin là tồn tại. Thế nhưng chính thế giới ấy lại giải phóng sức tưởng tượng

của con người, biến những điều không thể thành có thể. Và cái vỏ cổ tích ấy lại

chuyên chở được những điều mà nhà văn muốn gửi gắm về thân phận của con người

trong xã hội hôm nay.

Với việc sáng tạo nên những huyền thoại mới, nhà văn đã chứng tỏ rằng khả

năng mở rộng của huyền thoại là vô tận và xuyên thời gian. Võ Thị Hảo xứng đáng là

một trong những người viết truyện cổ tích hiện đại hấp dẫn. Tuy nhiên đôi lúc quá sa

đà vào những cuộc đối thoại mà một vài tác phẩm kiểu này còn mang “hơi hướng”

luận đề khá lộ, có lúc không tránh khỏi sự áp đặt về mặt tư tưởng lên độc giả, khiến

cho sự đón nhận tác phẩm nhiều khi trở nên khiên cưỡng.

3.1.3. Tăng cường các yếu tố kỳ ảo, “liêu trai” vào bối cảnh hiện đại

Võ Thị Hảo không chỉ viết lại nhiều câu chuyện cổ tích để lí giải cuộc sống

hiện thực đương đại mà còn tạo ra một thế giới ma quái, liêu trai dẫn dắt người đọc

vào một không gian chết chóc, mộng ảo. Có lúc tác giả còn đưa vào những câu

chuyện lấy bối cảnh ở thế giới hiện đại nhiều yếu tố tâm linh, hoang đường, tạo

những bước thắt nút và mở nút cho câu chuyện.

Rất nhiều tác phẩm của Võ Thị Hảo dựng lên những không gian ma quái,

không gian của người chết, không gian của những linh hồn phiêu diêu trên trần thế.

Vườn yêu là thế giới của những bóng ma. Người ta đi vào đó trên những đôi

giầy giấy và những bộ quần áo giấy, những bộ quần áo có thể tan chảy và nhăn nhúm

bằng một tia nhìn. Khung cảnh truyện hết sức liêu trai, người ma lẫn lộn, nơi đó

những con ma nữ đến kể chuyện về tình yêu và than thở về số kiếp bất hạnh. Ngay cả

nhân vật tôi là người hay một bóng ma cũng là một sự mập mờ. “Tôi” đi vào vườn

yêu trong bộ đồ giấy, gặp nhiều người cũng mặc đồ giấy, “tôi” về vườn nhà gặp

người dì đã chết vì bị băng huyết nhiều năm trước trong chiếc váy lụa thâm có pha

màu đỏ máu, người đã pha chế ra loại thuốc kháng sinh có tên là máu lạnh, ai tiêm

vào sẽ không phải khổ vì tình. Khung cảnh yêu ma trong truyện thực chất là nơi để

con người bày tỏ những nỗi đau về thân phận đàn bà, trở thành một cầu nối đắc dụng

xâu chuỗi những nỗi đau từ quá khứ đến hiện tại.

Truyện Đêm bướm ma đậm đặc không gian giao hoan giữa người và yêu với

những chi tiết đầy hư ảo. Bối cảnh của truyện là một biệt điện của vương triều xưa,

nay là một khu hội thảo, không gian như lẩn khuất những linh hồn các ông hoàng bà

chúa một thời dìu nhau về ân ái nơi đây. Nhân vật nữ tên Thuận trong một lần đi dự

hội thảo đã cứu một con bướm sắp chết mang về phòng. Đêm đó, nàng bị mùi hương

xa lạ lôi cuốn rồi trải qua một khung cảnh nửa mơ nửa thực, trong cảm giác giao hoan

với một người đàn ông bí ẩn, nàng được một con bướm giải thoát, tỉnh dậy nàng nhìn

thấy xác con bướm ma trên gối, bên má thì in hai quầng nâu nhạt hệt đôi cánh bướm.

Truyện vừa tạo được cảm giác phiêu diêu ma mị, vừa góp phần bộc lộ những khát

khao thầm kín của nhân vật. Nhà văn phóng chiếu bản năng con người thông qua

những ảo giác, đưa nhân vật vào trạng thái chập chờn của ý thức, khiến câu chuyện

được kể trở nên “bán tính bán nghi” hấp dẫn người đọc.

Tác phẩm Đường về trần kể những chuyện của bà Vang trong lúc sống nhưng

trên cái nền chung là lời tự sự của một con ma bị bịt kín đường quay lại dương thế để

đi đầu thai.

Khung cảnh của truyện Đêm Vu lan gắn liền với nghi lễ xá tội vong nhân của

nhà Phật, đêm duy nhất trong năm những linh hồn trở về dương thế. Cấu trúc của

truyện xoay quanh chi tiết đoàn quân ma cụt đầu lang thang đi hỏi về sự siêu thoát

cho linh hồn những con người chết trận.

Còn trong Giọt buồn giáng sinh nhà văn để cho một giọt linh hồn bay lơ lửng

trong không trung tìm chỗ đầu thai kể lại những điều tai nghe mắt thấy về số phận

của mình cũng như triết lí về cuộc sống…

Những khung cảnh ma quái cùng đầy dẫy những linh hồn xuất hiện trong

những câu chuyện của Võ Thị Hảo gợi nhắc cho người đọc thế giới liêu trai ma quỷ

trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ hay truyện liêu trai của nhà văn Trung

Quốc Bồ Tùng Linh. Điểm chung của những truyện này chính là số phận của những

con ma bất hạnh, lúc sống họ không được hạnh phúc và chết đi biến thành những linh

hồn bơ vơ. Ở thế giới nào thì họ cũng lao đao trong những cuộc vật vã với số phận.

Do đó, thế giới ma quái trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo thực chất là những góc

khuất của cuộc sống hiện đại được nhà văn trải ra trong sáng tác của mình.

Ngoài việc xây dựng cốt truyện bằng khung cảnh ma quái, ảo giác nhà văn

thỉnh thoảng đưa vào các câu chuyện lấy bối cảnh đời thường những chi tiết tâm linh

để tạo điểm thắt nút hoặc mở nút cho câu chuyện.

Trong truyện Dây neo trần gian người con gái vì muốn níu giữ người bạn trai

ở lại cõi trần, hết cách phải tìm đến một bà đồng bóng và được chỉ dẫn rằng: ban

đêm, lấy tóc của chính cô bện chín sợi một thành từng bím rồi nối chúng lại với nhau,

quấn xung quanh tấm ảnh của người đàn ông, sau đó đặt lên bàn thờ khấn. Và quả

nhiên, bằng niềm tin cô gái đã neo được người cô yêu ở lại trần gian. Chính chi tiết

mang yếu tố tâm linh trên đã tạo ra một bước ngoặt để tác giả giải quyết câu chuyện.

Đằng sau chi tiết có tính chất “điên khùng” này là sự hi sinh quên mình của người

phụ nữ cho người đàn ông mà họ yêu. Có lẽ, theo nhà văn, chỉ có sự quên mình mới

đem đến niềm cứu rỗi thực sự.

Trong truyện ngắn Ngậm cười, chi tiết Lý trưởng Tiện cấu kết với bà đồng

Thạo sử dụng việc lên đồng để hại nàng Hương là một chi tiết đậm tính tâm linh. Sự

bất hạnh của nàng Hương được đẩy lên tới cao trào, chính sự kiện này đã dẫn đến cái

chết oan khuất của người con gái bến Vân xinh đẹp. Việc những người dân bến Vân

vì thiếu hiểu biết nên tin vào những lời đồng bóng được cho là lời của Thánh thần đã

được tác giả mổ xẻ một cách không khoan nhượng. Chi tiết này bộc lộ một cái nhìn

phê phán đối với những kẻ lợi dụng tâm linh để làm việc ác.

Cũng có lúc nhà văn còn sử dụng những chi tiết tâm linh để “chiêu tuyết” cho

những người đàn bà bất hạnh. Chi tiết xác người đàn bà bị ruồng bỏ nổi lên như hình

hài của một Nữ thần trong truyện Biển cứu rỗi tạo tiền đề quan trọng cho việc lí giải

tác phẩm. Từ giây phút chứng kiến cảnh tượng ấy, người đàn ông bắt đầu thay đổi

cách suy nghĩ về đàn bà, lần đầu tiên anh suy nghĩ về số phận của người phụ nữ này,

nghĩ về người vợ bên đường chiến tranh và cuối cùng anh cũng quyết định quay lại

ngôi nhà cũ với người vợ mà anh khinh bỏ. Chi tiết này đồng thời cũng là một sự cứu

rỗi cho thân xác của một người kỹ nữ bất hạnh, biến một con người bị xua đuổi đến

bước đường cùng trở thành một Nữ Thần Trôi Dạt được thờ cúng trên đảo đèn.

Không chỉ “bắt người ta phải thương phải xót cho số phận những người phụ nữ”, Võ

Thị Hảo còn bất tử hóa nỗi đau khổ của con người qua những chi tiết đậm yếu tố tâm

linh thế này.

Ngoài những yếu tố tâm linh, giấc mơ cũng là một trong những chi tiết quen

thuộc được Võ Thị Hảo dùng để tạo dựng cốt truyện, tạo cho khung cảnh các câu

chuyện mờ mờ ảo ảo, vừa xa lạ khó nắm bắt vừa rất quen thuộc như đã từng trải qua,

vừa lộn xộn không đầu không cuối vừa như một trường đoạn có bố cục rõ ràng. Xét

riêng trong 44 truyện ngắn, nhà văn có 15 lần đề cập đến giấc mơ. Những giấc mơ

trong tác phẩm của Võ Thị Hảo thường chứa đựng một ý nghĩa quan trọng đối với

cuộc đời nhân vật. Có khi là những nỗi ám ảnh (ám ảnh của chiến tranh, ám ảnh của

tình yêu dở dang, hoặc tình dục không thỏa mãn). Có khi là khát vọng về công lí

(giấc mơ của cậu bé Nhạ đi đòi công lí cho lão Nhát - Vầng trăng mồ côi). Có khi là

một sự sám hối (người đàn ông mơ thấy Nữ Thần Trôi Dạt tay cầm một vỏ chai bia

màu xanh - Biển cứu rỗi). Có khi là cả một câu chuyện bi kịch về cuộc đời túng thiếu

(Người họa sĩ mơ thấy bà vợ đã chết đi bán mình để lấy tiền cho ông mua màu vẽ -

Bán cốt). Và cũng có khi thông qua giấc mơ, nhà văn đánh đổ những niềm tin ngây

thơ của con người (Trong Đường về trần con gái của bà Vang mơ thấy mẹ trở thành

một bà tiên trên trời vì nghĩ lúc sống bà đã không làm điều ác, lại bị giam hãm trong

tù ngục thì khi chết bà phải được sung sướng, nhưng nó cũng nhầm nốt vì bà chỉ là

một con cánh cam bị giam hãm trong quầng ánh sáng tím, bị bịt kín đường về trần)…

Tóm lại, thông qua khung cảnh liêu trai, cùng với các yếu tố kỳ ảo, hoang

đường, tâm linh, mộng mị, thế giới hiện thực trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo

hiện lên đa chiều phức tạp, những tội ác được lột trần, đời sống cá nhân của nhân vật

được khơi sâu, thế giới tâm linh bí ẩn của con người phát lộ. Qua những cái phi lí để

đi tìm những điều có lí, nhà văn từng bước lí giải số phận nhân vật, bộc lộ tư tưởng

tình cảm cũng như triết luận về nhân sinh...

3.1.4. Kết thúc bất ngờ, để ngỏ, nhiều bi kịch

Văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo có nhiều kiểu kết thúc khác nhau.

Xét trên số phận nhân vật, phần lớn tác phẩm của Võ Thị Hảo đều là những

kết thúc bi kịch. Trong tiểu thuyết Giàn thiêu phần lớn các nhân vật đều gặp bất

hạnh, hoặc chết, hoặc bỏ đi, hoặc cô đơn, hoặc sống để đợi chờ báo ứng… Còn trong

truyện ngắn, nhân vật bị chết: 21/44 truyện; nhân vật bị cô đơn, dở dang: 11/44

truyện; nhân vật bị vỡ mộng: 2/44 truyện; nhân vật bị ám ảnh: 2/44 truyện.

Xu hướng kết thúc không có hậu này thường xuất hiện trong rất nhiều truyện

ngắn của văn học Việt Nam đương đại. Điều này thể hiện cách nhìn cũng như sự lý

giải của nhà văn về bản chất cuộc đời. Cuộc đời đầy dẫy những khổ đau và bất hạnh,

nhà văn cũng như con người cần phải nhìn sâu vào nó để nuôi dưỡng tâm hồn, không

thể tô hồng nó lên nhằm ru ngủ bản thân và người khác, để rồi một lúc nào đó bị vỡ

mộng một cách đau đớn. Những kết thúc bi kịch của các nhân vật không phải để làm

người đọc bi quan, chán nản mà là lời cảnh tỉnh cho con người, bắt họ phải nhìn

thẳng vào thực trạng để trở nên mạnh mẽ hơn và có những sự lựa chọn đúng đắn,

tránh phải rơi vào bi kịch.

Xét về mặt kết cấu và tính chất mở của truyện kể, thứ nhất, nhiều tác phẩm

của Võ Thị Hảo thường có cách kết thúc bất ngờ, bỏ ngỏ, câu chuyện kể dường như

vẫn còn chưa hoàn kết. Bi kịch con người vì thế vẫn còn khả năng nối dài, tính chất

đối thoại của câu chuyện được mở rộng vượt khỏi giới hạn chật hẹp của một câu

chuyện kể.

Ví dụ: Trong Ngậm cười, kết thúc là cảnh Chúa Trịnh Tùng kéo quân về rửa

oan cho nàng Hương, kẻ ác đã bị trừng phạt, người ta bảo chắc nàng đã ngậm cười

nơi chín suối, dân làng bến Vân tạc tượng lập đền thờ nàng Hương nhưng “pho tượng

thờ trong đền thì vẫn lạ hoắc” với “đôi mắt thủy tinh không buồn không vui”. Ở đây,

tính chất của triết lí dân gian “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão” không còn nguyên

cái tinh thần lạc quan hồn nhiên như những câu chuyện cổ, kẻ ác cuối cùng bị trừng

trị, nhưng nàng Hương, biểu tượng cái đẹp của bến Vân, mãi mãi đã không còn.

Huyền thoại chỉ còn là cái vỏ, giống như bức tượng vô hồn, bởi linh hồn của nó đã

chết cùng với nàng Hương.

Không cần đến việc giải thiêng huyền thoại nhưng kết thúc truyện Đêm Vu lan

cũng khá bất ngờ. Linh hồn vị tướng chết trận gặp cô gái câm, giải được nghi vấn bao

năm, đầu đã liền trên cổ, nhưng rồi sau khi phi ngựa về hướng kinh thành, vị tướng

quay trở lại cùng đoàn quân ma với khuôn mặt buồn thiu và những chiếc đầu “chỉ bay

là là hờ hững trên cổ”. Phải chăng câu hỏi về số phận của những linh hồn chết trận

ngàn năm vẫn còn treo lơ lửng như những chiếc đầu bị chặt không bao giờ liền lại

được.

Kết thúc truyện Đêm bướm ma là một lời xác thực cho giấc mơ ma mị của

Thuận. Nhân vật tỉnh dậy và câu chuyện về người đàn ông định chiếm đoạt cô có lẽ

chỉ là một giấc mơ, nhưng kì lạ là bên gối, con bướm ma đã chết, đôi mắt nó vẫn mở

to lặng lẽ. Thuận nhìn vào gương, giật mình thấy má in hai quầng nâu nhạt hệt đôi

cánh bướm. Cách kết thúc như vậy tạo nên sự li kì cho chuyện kể, gây được sự “bán

tín bán nghi” trong lòng người đọc, nối dài cảm giác về những điều chưa biết hết đối

với thế giới đang tồn tại xung quanh con người.

Truyện Hồn trinh nữ kết lại số phận người chiến binh bằng những lời đồn đại.

Có người đồn anh ta đã đi tìm nhà vua trả thù và bị vua giết chết, có người bảo anh ta

lại tiếp tục lao vào những cuộc chém giết mới điên cuồng hơn. Dù chọn cách kết thúc

nào cho nhân vật này thì cũng là con đường bế tắc. Cách kết thúc như vậy tạo cho

người đọc cảm giác rằng: với những người như anh ta, con đường để trở lại làm một

người bình thường mãi mãi đã bị chôn vùi dưới chân những bậc quân vương.

Truyện Hành trang của người đàn bà Âu Lạc kết thúc bằng một câu bỏ ngỏ

“Cho đến sáng hôm nay…” như dự báo một sự đổi thay và mở ra một trang khác cho

cuộc đời của người đàn bà Âu Lạc.

Với kiểu kết thúc bỏ ngỏ mang tính mở cao, người đọc có thể bằng trí tưởng

tượng của mình nghĩ đến những chặng đường tiếp theo của các nhân vật. Chính lối

kết cấu này của truyện ngắn đương đại nói chung và truyện ngắn Võ Thị Hảo nói

riêng không chỉ mở rộng khả năng khái quát hiện thực của truyện ngắn mà còn cho

thấy khuynh hướng phát triển của lối viết theo hướng mở thấm đẫm tư duy đối thoại

của thời kì đổi mới là lối viết được ưa chuộng và sẽ còn tiếp tục phát triển.

Điểm thứ hai xét về mặt kết cấu, ở mảng truyện ngắn, đôi khi tác giả cũng kết

thúc tác phẩm của mình bằng một suy nghĩ, một nhận xét của nhân vật hoặc người kể

chuyện. Những dòng tâm tư đó thường buộc người đọc phải suy nghĩ, phải đối thoại

với tác giả và có khi đọng lại rất lâu trong trái tim người đọc.

Kết thúc truyện Người sót lại của rừng cười, nhân vật Thành chua xót: “Rừng

Cười ơi! Đã no nê máu và nước mắt, lẽ nào người cướp nốt của ta con chim yến nhỏ

nhoi!” [91, 107]. Nó không chỉ thể hiện bi kịch về số phận của Thảo mà còn cho thấy

sự ám ảnh nối dài của nỗi đau chiến tranh trong đời sống của con người Việt Nam.

Trong Tim vỡ, nhà văn viết: “Thế đấy. Điều phi thường của ba trăm sáu mươi

năm ấy đã kết thúc bằng loài “tim vỡ”. Ba trăm sáu mươi năm sau, sẽ mở đầu bằng

gì?” [92, 64].

Nhân vật “tôi” trong truyện Bàn tay lạnh sau khi chứng kiến bi kịch cuộc đời

Thùy Trang đã chất vấn: “Những người đàn ông may mắn! Lúc nào rỗi rãi, hãy mở

những bộ sưu tập của các ngài ra. Có dám đoan chắc với tôi rằng, trong đời mình đã

không từng làm lạnh giá một bàn tay?!” [93, 78].

Đó là những câu hỏi day dứt trái tim con người và cũng là tiếng nói đánh động

lương tri, thể hiện niềm mong mỏi về một cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc.

Thứ ba, nhiều tác phẩm của Võ Thị Hảo còn kết thúc bằng sự lặp lại theo kiểu

mô phỏng khởi đầu, tạo nên một vòng quay khép kín, ám ảnh người đọc (Tiêu biểu là

những tác phẩm: Giàn thiêu, Giấc cú, Người chăn bò thần thánh, Khát của muôn

đời…). Những người chăn bò thần thánh mới sắp sửa ra đời; những đứa trẻ lớn lên

ám ảnh bởi giấc cú, tiếp tục thổi tiêu, tiếp tục sống như người chú mình đã từng;

những giàn thiêu cung nữ lại tiếp tục được dựng lên, những linh hồn đòi mạng đời

đời không dứt; những cây chanh H’Điêu ngàn đời cứ đứng cô đơn bên bờ suối cạn…

Những sự lặp lại trong các câu chuyện trên đây không chỉ tạo ra một vòng tuần hoàn

về mặt kết cấu, mà còn gợi cảm giác về những nỗi đau kéo dài, những ám ảnh không

dứt được về mặt thân phận con người.

Nhìn chung, kết thúc những tác phẩm của Võ Thị Hảo dù là bi kịch hay tốt đẹp

thì cũng ít khi nào là một sự xong xuôi. Nhà văn thường tìm cách lưu lại dấu ấn thật

sâu trong lòng người đọc bằng việc khơi gợi những tình cảm khác nhau, bắt người

đọc phải thương phải nhớ, phải đau cùng nỗi đau của từng nhân vật cũng như phải lên

tiếng với những bất công trong cuộc đời. Đằng sau những kết thúc đó, người đọc

nhận ra được tính chất phức tạp, muôn mặt của dòng chảy đời người cùng những nỗi

đau nhân tình thế thái luôn ấp ủ trong trái tim một nhà văn giàu tình thương và cảm

xúc.

3.1.5. Lời văn huyền ảo, mê hoặc, rùng rợn

Để tạo được hồn cốt của những câu chuyện đậm chất liêu trai với không khí

phiêu diêu huyễn hoặc, Võ Thị Hảo đã rất dày công trong việc trau chuốt lời văn

nghệ thuật trong những sáng tác của mình. Có thể thấy đặc trưng của thế giới huyền

thoại cũng chi phối rất rõ cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn, tạo cho lời văn trong

sáng tác của Võ Thị Hảo trở nên huyền ảo, mê hoặc, đậm chất liêu trai, rùng rợn.

Trước hết là sự tham gia dày đặc của lớp từ ngữ bồng bềnh, huyễn hoặc như:

kỳ dị, kỳ lạ, kinh dị, dị thường, bí ẩn, bí hiểm, hoang đường, huyền hoặc, lơ lửng,

châng lâng, lung linh, lâng châng, phiêu diêu, phiêu lãng, bồng bềnh, ảo ảnh, biến

ảo, mờ ảo, ma thuật, ma quái, mung lung, siêu thoát…

Đan xen vào đó là những từ ngữ liên quan đến thế giới tâm linh, huyền ảo, liêu

trai như: tà ma, yêu quái, quỷ sứ, bóng ma, hồn ma, linh hồn, lũ ngạ quỷ, cửa địa

ngục, điệu nhạc địa ngục, hầm mộ, âm phủ, sọ người, con sông máu, những bữa tiệc

máu, những bữa tiệc máu âm phủ, chiếc đò sọ người, vườn yêu, thần chú, lời nguyền,

giọt sương máu, đêm vu lan, phép thuật, lên đồng, nhập cốt, nghiệp chướng, cúng cô

hồn, lễ phóng diệm khẩu, lễ tế thần…

Đồng thời để đưa người đọc đến với khung cảnh rùng rợn, chết chóc, nhà văn

thường dùng những động từ mạnh gây cảm giác bất ngờ và kinh hoàng như: phun, rú,

thét, gào, ré, xẻo, rạch, nuốt, ăn thịt, xẻo thịt…

Hãy xét một đoạn văn tiêu biểu sau đây. Chỉ trong một đoạn ngắn, cảnh tượng

chết chóc trên giàn thiêu được gợi lên qua rất nhiều từ ngữ miêu tả âm thanh khốc

liệt: “Bốn mươi tám cái cổ họng đồng loạt rú lên những tiếng rú tắc nghẹn. Tiếng rú

được nối dài bởi hàng ngàn tiếng rú phẫn uất của cả rừng người (…) Nối dài những

tiếng gào thét, các đôi công trĩ uyên ương bị trói chân trên nóc giàn thiêu cũng đồng

loạt bật lên những tiếng kêu xé ruột…” [95, 36, 37]. Âm thanh chủ đạo trong đoạn

văn là tiếng kêu, tiếng rú, tiếng gào thét của những sinh linh đang quằn quại trong

lưỡi lửa, sắc thái của các từ ngữ đi kèm những tiếng kêu, tiếng rú, tiếng gào như tắc

nghẹn, phẫn uất, xé ruột biểu thị sự đau đớn cùng cực của con người cũng như sự bất

bình phẫn nộ của những người chứng kiến. Cách sử dụng từ ngữ với nhiều sắc thái

như thế làm bật tính chất dã man của những điển lệ sát máu kinh hoàng.

Ngoài những động từ mạnh, tác phẩm của Võ Thị Hảo cũng liên tiếp xuất hiện

những phó từ, trạng từ chỉ tính chất bất bình thường, diễn tả sự xuất hiện đột ngột

như: bỗng, bỗng nhiên, chợt, đột ngột, bất giác, bất thình lình… và đi kèm theo

chúng thường là những từ ngữ gợi cảm giác lo âu, bất an, sợ hãi như: rùng rợn, rờn

rợn, rùng mình, kinh hoàng, kinh hãi, thê lương, hãi hùng, hốt hoảng, chân nhũng

xuống, ngay đơ như khúc gỗ, run rẩy, run bắn, cứng đờ người, lạnh toát người, tóc

gáy dựng ngược…

Cũng có lúc để mờ hóa sự việc và các khung cảnh, nhà văn còn sử dụng thêm

những từ ngữ có tính chất không chắc chắn, tạo trạng thái nhập nhằng giữa mê và

tỉnh, tiêu biểu như: dường như, hình như, mơ màng nhận ra, lờ mờ cảm thấy... Xét

một ví dụ tiêu biểu, trong truyện Đêm bướm ma, đoạn văn miêu tả trạng thái nhân vật

Thuận cảm nhận về sự xuất hiện của “một người đàn ông bí ẩn” có rất nhiều câu đều

mở đầu bằng cụm từ lấp lửng “hình như”: “Tất cả diễn ra lờ mờ trong sương. Hình

như có ai đó bế nàng vào phòng. Hình như nàng được ẵm trên một cánh tay đàn ông

trong nhịp bước đu đưa tình tứ. Hình như người đó mặc áo choàng lụa và có những

nếp nhàu rên lên êm ái dưới sức nặng của thân mình nàng. Hình như có một bàn tay

vuốt dài từ trán, xuống ngực, qua bụng, qua đùi và dừng lại ở gót chân tái nhợt của

nàng khiến chúng ửng hồng. Hình như có ai đó đã nằm xuống cạnh nàng bên gối…”

[94, 12]. Tính chất mơ hồ, nửa mê nửa tỉnh gợi lên từ câu chữ khiến người đọc luôn ở

trong trạng thái vừa hư vừa thực, rất khó đoán định.

Bên cạnh những từ ngữ “đầy ma lực”, những động từ mạnh, gây cảm giác rùng

rợn, bất ngờ, những từ ngữ không chắc chắn, trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo

còn xuất hiện rất nhiều những kết hợp lạ tạo ra những hình ảnh rùng rợn, li kỳ chẳng

hạn như: ánh sáng huyễn hoặc, cái nhìn bạch cốt, khói mang màu nước biển, mặt bùn

nhão sệt nham hiểm, một nắm ma ngoe nguẩy, vầng trăng đỏ bầm, ánh mặt trời hấp

hối, dòng máu đen đặc, những tia nắng rụng, những đốt ngón tay chạy vằn vèo trên

những câu thơ, xương trôi bồng bềnh trong bể nước, chân trời hừng hực ráng màu đỏ

máu, bình minh nhuộm chân trời đỏ máu, một chiều nắng trải trên biển mang màu

trắng gở …

Về mặt câu văn, tác phẩm của Võ Thị Hảo xuất hiện nhiều câu văn miêu tả, gợi

cảm giác, chú trọng đến việc kích thích vào các giác quan của người đọc. Không theo

xu hướng phá vỡ cấu trúc như một số nhà văn đương đại, câu văn của Võ Thị Hảo

nhìn chung tuân thủ các kiểu câu truyền thống, tuy nhiên nhà văn tạo nên sự khác biệt

cho riêng mình bằng cách phủ lên các câu văn của mình trạng thái phiêu diêu, lấp

lửng đầy ám ảnh.

Có những câu văn đưa con người vào những khoảng không thời gian bồng

bềnh, chông chênh giữa đôi bờ hư – thực:

- “Những đêm ngày dài dặc mung minh” (Giàn thiêu).

- “Tôi nặng nhọc bay dưới bầu trời tái trong đêm giáng sinh. (…) Để tận

hưởng những khoái cảm của nỗi sợ hãi tận thế, chạm đất trong quằn quại đau thân

xác, để hủy hoại thân tôi một giọt buồn” (Giọt buồn giáng sinh).

- “Tiếng gà gáy trưa loang dài cũng vàng rười rượi” (Chuỗi người đi trong

đầm lầy).

- “Lâm thâm đâu đây có những linh hồn nhỏ xíu nương ánh trăng rằm đậu về

trên môi run run của chị tôi” (Mắt miền tây).

- “Thảo thấy ngọn đèn dầu nhòe dần và trước mắt cô một quả cà chua chín đỏ

lịm hình trái tim chập chờn chập chờn” (Người sót lại của rừng cười).

Có những câu văn dẫn dắt con người vào xứ sở thê lương, chết chóc:

- “Đoàn người không rõ hình hài, được xâu thành chuỗi qua lòng bàn tay

bằng một sợi thép gai rỉ bê bết máu khô lẫn máu tươi. Nhìn kỹ, chuỗi người bị xâu

đều thiếu gan bàn tay, gan bàn chân. Thiếu tai. Máu đổ ri rỉ chảy dọc lối họ qua”

(Chuỗi người đi trong đầm lầy).

- “Xa xa, cửa Càn Nguyên điện nhuộm vàng. Hoàng hôn rớt lại trong một vệt

ráng chiều thấm máu trên đường chân trời”(Giàn thiêu).

Có khi nhà văn cũng xen kẽ vào truyện những câu thơ đầy ma mị. Chẳng hạn,

mở đầu truyện ngắn Đêm vu lan là bốn câu thơ như những câu hát khi gần khi xa:

“Vu lan Vu lan hầy, Vu lan

Dật dờ hồn khô cốt tàn

Sương đầm đìa máu

Rắn nhầy nhụa trăng…” [94, 42].

Những câu thơ với hàng loạt từ ngữ ma trơi như mời gọi các linh hồn từ cõi

chết trở về trần thế.

Ngoài ra, nhiều tác phẩm của Võ Thị Hảo xuất hiện những câu văn kích thích

trí tưởng tượng của người đọc bằng các thủ pháp nghệ thuật đa dạng tạo hiệu ứng “lạ

hóa” cho đối tượng được miêu tả. Chẳng hạn đây là đoạn viết về không gian thơ của

một vị thiền sư: “Đêm không trăng, thơ tôi chăng tơ như nhện. Chúng lóng lánh, óng

chuốt và mỏng như làn gió, vướng vào các cành sim mua. Ai cũng có thể giẫm đạp

lên thơ tôi vào ban ngày. Song ban đêm chúng trỗi dậy, bò đi chơi và nhả tơ óng ánh

như đàn nhện. Tôi gọi chúng là Mẹ Nhện Vĩ Đại” [94, 14]. Thơ ở đây như một thực

thể có linh hồn, là cái tôi thứ hai của thiền sư, nó sống với không gian riêng của

mình, thoát khỏi con người đạo đức của một bậc chân tu, tìm kiếm và hướng đến một

sự tự do đích thực.

Thêm vào đó, thủ pháp so sánh được dùng với tần suất cao tạo cho lời văn vẻ

bóng bẩy, mượt mà trong những liên tưởng đầy bất ngờ. Rất nhiều hình ảnh so sánh

mang dáng vẻ huyễn hoặc, rùng rợn, chết chóc:

- đôi mắt tráng sĩ sầm tối, hun hút nỗi tuyệt vọng dài như cả trăm kiếp người

chết trận (Đêm Vu lan);

- gió đập vào cánh cửa rồi đi qua như một tiếng rên dài ảo não (Góa phụ

đen);

- nước mắt như những giọt thủy ngân khó nhọc lăn ra (Người sót lại của rừng

cười);

- hai dòng nước mắt như hai giọt nến màu trắng tuôn rơi (Bán cốt);

- không khí loãng ra mùi hoai hoải như xương người để trong quách đã trăm

năm (Giàn thiêu);

- ánh đỏ lục của chiếc cầu vồng hắt xuống bồn tắm như một dải vòi oan

nghiệt kéo dòng máu từ trong bồn tắm vụt lên trời (Vũ điệu địa ngục);

- đàn muỗi cất mình lên như đám mây nặng trĩu giọt sương máu từ đầm lầy

(Chuỗi người đi trong đầm lầy)…

Có thể nói, đằng sau lớp ngôn từ huyền ảo, mê hoặc, đậm chất liêu trai, rùng

rợn cùng với những liên tưởng, so sánh bất ngờ trong lời văn của các tác phẩm, rất

nhiều những ý nghĩa, những thông điệp đã được truyền đi. Tất cả đã tạo nên bầu sinh

quyển âm u rợn ngợp, đầy huyễn hoặc của hiện thực trên trang văn Võ Thị Hảo. Nó

góp phần thể hiện nỗi lo âu của con người hôm nay về những điều chưa biết hết, về

khả năng có hạn và sự nhỏ bé của con người, về thân phận mong manh của họ. Ngôn

ngữ trong tác phẩm của Võ Thị Hảo vì thế cũng trở nên u trầm, nhiều lúc bàng bạc

một nỗi sầu ảo não, nhiều lúc day dứt đến đay nghiến xót xa. Cùng với nhà văn phiêu

diêu trong lớp vỏ ngôn từ cổ kính, tâm linh, con người như trở về cội nguồn, tìm lại

bản thể và bắt gặp tầng ngầm văn hóa dân tộc được khơi lên từ những cõi xa xăm

huyền ảo.

3.2. Một thế giới nghệ thuật được chạm khắc chủ yếu bằng biểu tượng Biểu tượng là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học sử dụng với những

nội hàm khác nhau. Hiểu một cách chung nhất, biểu tượng là một loại tín hiệu thường

có hai mặt là cái biểu trưng và cái được biểu trưng, trong đó cái biểu trưng là mặt tồn

tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người,

còn cái được biểu trưng là mặt ý nghĩa có quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm

tính nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này.

Trong văn học nghệ thuật, nhà văn sáng tạo tác phẩm là tổ chức các tín hiệu

thẩm mĩ hướng tới việc khắc họa nổi bật hình tượng nghệ thuật, cũng từ đó mà thể

hiện một lối tư duy nghệ thuật riêng, một phong cách sáng tạo riêng. Ngôn ngữ chính

là một hệ thống có tính chất trung gian chuyển hóa các tín hiệu thẩm mĩ vào hệ thống

ngôn từ cho nên bản chất đã mang tính biểu tượng. Tuy nhiên, biểu tượng trong văn

học luôn vượt lên tính trực quan của biểu tượng rút gọn và tính công thức ước lệ của

biểu tượng quy ước. Hệ thống biểu tượng trong văn học không chỉ ẩn chứa cái hiện

hình, cái dễ nhận biết của đời sống mà biểu đạt cái vô hình, khó nắm bắt của tư

tưởng, xúc cảm trong sâu thẳm tâm hồn người, từ đó gợi mở những xúc cảm thẩm mĩ

trong tư tưởng, tình cảm của bạn đọc. Ở góc độ văn học, một loại hình nghệ thuật

ngôn từ, có thể nói biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, là một

loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn. Biểu tượng là một phương

tiện thẩm mĩ giúp nhà văn thâm nhập vào thế giới bên trong con người, tạo nên một

phương thức khám phá, chiếm lĩnh đời sống theo chiều sâu.

3.2.1. Biểu tượng trong văn xuôi nghệ thuật của Võ Thị Hảo như là kết quả của

những hư cấu nghệ thuật. Nhà văn sáng tạo trong thế giới nghệ thuật của mình cả một

“rừng” biểu tượng. Mỗi tác phẩm là một biểu tượng đặc sắc đồng thời ẩn chứa bên

trong rất nhiều biểu tượng khác nhau. Tìm hiểu và giải mã hết thế giới biểu tượng

trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo là điều rất khó, ở đây chúng tôi chỉ sơ bộ

thống kê những biểu tượng có tần số xuất hiện phổ biến và tiến hành phân loại thành

một số hệ thống tiêu biểu dựa trên nội dung và những lĩnh vực mà biểu tượng phản

ánh.

Thứ nhất là hệ thống biểu tượng về thiên nhiên như: lửa, nước, sông, hồ, ao,

suối, biển, mưa, gió, trăng, mây, đá, núi… trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến nước

và lửa như là những mẫu gốc bao quanh chúng hàng loạt những biến thể, hình thành

một chuỗi hệ thống biểu tượng đặc thù có khả năng truyền tải những thông điệp văn

chương của nhà văn.

Lửa là một biểu tượng phổ biến trong các huyền thoại cổ, cùng với Nước được

xem là một trong những mẫu gốc có tính nguyên thủy nhất. Trong văn hóa nhân loại,

mẫu gốc Lửa được giải thích với những nghĩa chính như sau: lửa - bản thể, lửa - thần

thánh, lửa - tẩy uế và tái sinh, lửa - dục vọng, lửa - hủy diệt, lửa - giác ngộ, lửa - giới

tính, lửa - phương tiện vận chuyển… Nhìn chung các phương diện biểu hiện ý nghĩa

của mẫu gốc Lửa chủ yếu là: tẩy uế, tái sinh và nhiệt huyết. Biểu tượng Lửa xuất hiện

trong văn xuôi Võ Thị Hảo dưới nhiều biến thể khác nhau trong các không gian và

thời gian cụ thể, bao gồm: lửa thực thể, giàn thiêu, hội hoa đăng, địa ngục, máu, màu

đỏ, mùi khét, trái tim, lửa mặt trời, sấm sét, lửa tinh thần… Về mặt ý nghĩa, lửa trong

văn xuôi Võ Thị Hảo biểu hiện những ý cơ bản sau:

Lửa – sự hận thù. Tiêu biểu ở tác phẩm Giàn thiêu lòng hận thù của Từ Lộ là

ngọn lửa oán bốc cao ngùn ngụt, tạo nên sức mạnh ý chí khổng lồ giúp chàng vượt

bao gian khó để tầm sư học đạo báo thù và cũng đã thiêu đốt luôn tuổi trẻ, tình yêu và

hạnh phúc của đời chàng.

Lửa – dục vọng: thường xuất hiện ở những nhân vật có tham vọng về quyền

lực (như: Ỷ Lan, Lý Trác, Đỗ Anh Vũ, Lê thái hậu…) và những người ham muốn

hưởng thụ lạc thú trần gian (chủ yếu là thú vui xác thịt, tiêu biểu như: hai người đàn

ông trong Miền bọt, Cáo Tờ Quẩy trong Con dại của đá, người chồng trong Nàng

tiên xanh xao, Thần Tông trong Giàn thiêu…). Con người với dục vọng trong lòng

luôn là một mẫu hình có tính phổ biến trong đời sống xã hội hiện đại, nó đi vào tác

phẩm văn học như kết quả tất yếu trong nhận thức của nhà văn về hiện thực.

Lửa – hủy diệt: ngọn lửa giàn thiêu với khả năng đốt cháy, thiêu hủy, tàn phá

bằng sức mạnh của cả một con giao long khổng lồ, treo lửng lơ toàn bộ thiên tiểu

thuyết Giàn thiêu chính là biểu tượng của sự hủy diệt lặp đi lặp lại đầy ám ảnh. Ngoài

ra ý nghĩa này còn tồn tại trong hàng loạt các sáng tác về chiến tranh của Võ Thị Hảo.

Ở ý nghĩa hủy diệt, biểu tượng Lửa xuất hiện dưới ba trạng thái chủ yếu là lửa thực

thể, máu và ánh mặt trời nhuốm máu. Hơn 90% các tác phẩm của Võ Thị Hảo đều

xuất hiện một trong ba thực thể này. Lửa trong sáng tác của Võ Thị Hảo thường mất

đi tác dụng thanh tẩy và tái sinh của huyền thoại cổ. Ở đây có thể thấy Võ Thị Hảo đã

nói được khía cạnh rất phổ biến của huyền thoại về Lửa, đó là: lửa nếu ở trong tay ma

quỷ sẽ trở thành công cụ của quỷ, nhân lên rất nhiều lần sức mạnh tà đạo.

Lửa – chính khí: mặc dù le lói và còn yếu ớt so với trạng thái hủy diệt, nhưng

ngọn lửa chính khí trong văn xuôi Võ Thị Hảo nhiều lúc cũng được thổi bùng lên dữ

dội. Trong Giàn thiêu, ngọn lửa phẫn nộ, muốn được cất lên tiếng nói tự do trong

lòng Lê Thị Đoan, ngọn lửa tình yêu mạnh mẽ và ấm áp trong tim Nhuệ Anh, hay

ngọn lửa khát khao sống mãnh liệt của Ngạn La, chính là những ngọn lửa chính khí

đáng trân trọng, có khả năng lay tỉnh lòng người, cứu chuộc những tâm hồn lầm lạc,

khổ đau. Ngọn lửa nhiệt huyết trong nhân vật chú San (Giấc cú) trở thành niềm

ngưỡng vọng và được tiếp nối nơi người cháu, chính là sự bất tử hóa lòng chính trực

của một người đàn ông khí phách. Ngọn lửa chính khí một khi đã cháy lên trong lòng

những người yêu lẽ công bằng và khát vọng tự do thì có sức lay động lòng người,

truyền cho chúng ta sức mạnh chiến đấu chống lại các thế lực đen tối, xấu xa.

Mẫu gốc thiên nhiên tiêu biểu thứ hai là Nước. Trong các biểu tượng văn hóa

của nhân loại, Nước tượng trưng cho nguồn sống, dòng thời gian – dòng đời, phương

tiện thanh tẩy và tái sinh. Đi vào tác phẩm của Võ Thị Hảo, mẫu gốc Nước một mặt

giữ nguyên được những ý nghĩa tượng trưng tiêu biểu trên, một mặt được bổ sung

những nét nghĩa mới.

Nước không chỉ là dòng đời mà còn là ranh giới cuộc đời, thể hiện sự lựa chọn

của nhân vật. Từ Lộ (Giàn thiêu) bắt đầu con đường hành cước gian nan của mình là

đối mặt với thác Oán, sông Gâm, tại đây chàng cũng đã hai lần lựa chọn, một là từ bỏ

tình yêu với Nhuệ Anh, hai là từ bỏ ý nghĩ tìm đến cái chết, trở thành một Đạo Hạnh

thiền sư, để rồi đi vào cõi trầm luân vô tận. Nàng Ly (Khát của muôn đời) đứng trước

sự lựa chọn giữa lời hứa với thần Sông và nguy cơ chết khát của dân làng đã lựa chọn

cái chết đầy đau đớn trên dòng sông đầy nước.

Một trạng thái của Nước được Võ Thị Hảo rất chăm chút là biểu tượng Nước

mắt. Có hơn 100 lần nhà văn đề cập đến biểu tượng nước mắt trong các tác phẩm của

mình. Xét trên ý nghĩa biểu tượng, nước mắt là cái giọt sẽ tan đi, sẽ biến thành hơi,

sau khi đã làm chứng, là biểu tượng của nỗi đau và sự can thiệp giúp đỡ. Biểu tượng

nước mắt trong văn xuôi Võ Thị Hảo đem đến cho người đọc nhiều cảm giác. Có sự

bao dung, tha thứ và có cả oán hờn, trách móc; có sự đau đớn, bất an và cũng có sự

thanh lọc, gột rửa những bụi bặm trần gian. Ý nghĩa thanh tẩy và hóa giải của nước

biểu hiện nổi trội và rõ nét nhất ở dạng tồn tại này. Nước mắt có thể được dùng làm

vật để cầu mưa. Có thể mang đến sự cứu rỗi tội lỗi cho những con người lầm lạc, cứu

rỗi sự bất hạnh cho những con người bé nhỏ đáng thương. Ấy là khi nước mắt được

chưng cất từ những tâm hồn cao cả, vị tha, từ những trái tim bao dung, nhân ái. Võ

Thị Hảo thường đặt sự cứu rỗi đó trong những giọt nước mắt của giai nhân, những

người đàn bà biết yêu và nếm trải quá nhiều đau khổ của cuộc đời. Ở cấp độ này, biểu

tượng nước đã trả lại cho đời sự thanh khiết nguyên sơ, giúp con người tìm về với

miền thẳm sâu thanh sạch của tâm hồn, tìm được sự bình yên giữa cuộc sống xô bồ,

vụ lợi, đầy cám dỗ và nguy cơ tha hóa.

Thứ hai là hệ thống biểu tượng về cõi âm như: ma quỷ, linh hồn, xương cốt,

địa ngục, đầu lâu, hầm mộ, sông máu… Đây vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng,

mang tính huyễn hoặc rõ nét, biểu hiện niềm tin tâm linh của con người về sự tồn tại

của những thế giới khác ngoài cõi trần gian. Biểu tượng về cõi âm trong tác phẩm của

Võ Thị Hảo phổ biến nhất là ma quỷ. Ma quỷ có khi biểu trưng cho cái ác, cái xấu,

mặt khuất tối của con người và xã hội (gã khổng lồ trong Miền Bọt, hồn ma Ỷ Lan,

linh hồn Đại Điên trong Giàn thiêu); có khi biểu trưng cho nỗi đau và bất hạnh của

con người khi tại thế (những con ma đói, những con ma cụt đầu, những hồn ma nữ bị

phụ bạc…). Hồn ma trong tác phẩm của Võ Thị Hảo phần đông biểu trưng cho sự trở

lại của con người trong một hình dạng khác, tự do hơn, quyền năng hơn, để giải tỏa

những ẩn ức, oan khiên, bất công mà họ phải chịu đựng trước đó. Sự xuất hiện biểu

tượng hồn ma trong văn xuôi Võ Thị Hảo cho thấy khả năng lột tả hiện thực đời sống

của dạng biểu tượng này là rất lớn. Nó như bản sao mặt khuất tối của hiện thực, là

minh chứng cho nỗi bất hạnh của con người và sự khiếm khuyết của xã hội.

Thứ ba là hệ thống biểu tượng động thực vật bao gồm: cây chanh, cây bưởi,

cây trinh nữ, cỏ dại, hoa Ti gôn, hoa ngọc lan, bướm ma, cú mèo, chim lợn, dơi, quạ,

chó, lợn, chuột ăn thịt người, mèo hoang, dã nhân, hổ, điểu, bò, ve, mòng, dĩn, rận…

Nhìn chung biểu tượng về động thực vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo đều là

những loài “có cá tính”, các loài cây thường gây cảm giác “gai góc”, ma mị, “khó

tiếp cận”; còn các loại động vật thì gợi cảm giác bất an, chết chóc, hủy diệt. Ngoài ra

mỗi loại còn chứa đựng những ý nghĩa biểu trưng riêng.

Các loại cây có loại biểu trưng cho nỗi đau của con người (hoa Ti gôn, cây

trinh nữ), có loại biểu trưng cho sự phản kháng mạnh mẽ của người phụ nữ (cây bưởi,

cây chanh), có loại biểu trưng cho sự cám dỗ ma mị (ngọc lan), có loại biểu trưng cho

sức mạnh vươn lên của con người (cỏ dại)...

Còn trong các biểu tượng động vật, chim cú là biểu tượng mang ý nghĩa biểu

trưng khá sâu sắc, giúp nhà văn truyền tải nhiều thông điệp quan trọng. Khác với

quan niệm dân gian thông thường xem chim cú là biểu tượng của sự xấu xí, rủi ro,

bóng đêm và chết chóc, trong tác phẩm của Võ Thị Hảo, chim cú là biểu tượng của

sự nhận biết lí trí, biểu trưng cho sự thấu thị và khả năng tiên tri. Tiếng kêu của chim

cú không chỉ dự báo điềm dữ mà còn là tiếng kêu thức tỉnh con người đang có nguy

cơ bị ru ngủ bởi những lời ca hoa mĩ, du dương. Nó là tiếng nói phản kháng đối với

những điều giả tạo được bọc trong những cái vỏ hào hoa. Nó nhắc nhở con người

sống thực tế và biết chấp nhận những điều không may. Biểu tượng chim cú cho thấy

cách suy nghĩ của nhà văn cũng như tư duy nghệ thuật trong văn học đương đại đã có

sự khác biệt đáng kể so với nền văn học trước 1975.

Thứ tư là hệ thống biểu tượng về thế giới Thần thánh như: cha Trời, mẹ Đất,

bà Dạ Dần, cha Lạc, mẹ Âu, thần Sông, thần Núi, thần Tiền Tài, thần Dục Vọng, Nữ

hoàng Pháp Luật, cổng thiên đàng, thiên cung, tiên nữ… Phần lớn các biểu tượng này

đều có tính chất giải thiêng hình tượng. Ý nghĩa thần thánh cổ xưa đã nhạt nhòa,

những bậc tiên thánh cũng biết vui, biết buồn, biết đau khổ, mất mát, cũng có những

dục vọng hết sức tầm thường. Có những biểu tượng thần thánh biểu trưng cho những

phẩm chất của con người (dục vọng, tình yêu, sự tham lam, ích kỉ…); cho khát vọng

về lẽ công bằng, tự do (Nữ hoàng Pháp Luật)… Nhà văn không chỉ kéo thế giới thần

thánh lại gần hơn với cuộc sống con người mà còn tạo ra một thế giới thần thánh theo

cách nghĩ của những người hiện đại, đó là cái bóng của xã hội loài người.

Thứ năm là hệ thống biểu tượng về cơ thể người, trong đó nhà văn chú ý

nhiều đến hai loại: thứ nhất là biểu tượng cơ thể dị dạng (gương mặt xấu xí, cơ thể

teo tóp, người mù bẩm sinh, người bị cụt tay, cơ thể bệnh hoạn…), thứ hai là biểu

tượng cơ thể nữ đẹp kì ảo (trong loại này tần số xuất hiện nhiều là biểu tượng thân

hình, biểu tượng đôi mắt và biểu tượng mái tóc). Xây dựng những biểu tượng về cơ

thể dị dạng, nhà văn nhìn sâu hơn vào nỗi đau của con người, phơi bày hiện thực về

cuộc sống của những con người bất hạnh. Còn đối với những cơ thể nữ đẹp kì ảo, nhà

văn gửi gắm những khát vọng về tình yêu, hạnh phúc, khơi gợi nguồn cảm xúc dồi

dào về thiên tính nữ đậm chất nhân văn. Biểu tượng thân hình (những đường nét gợi

cảm, bộ phận sinh dục) của những cơ thể nữ đẹp kì ảo không chỉ biểu trưng cho sự

sinh sôi nảy nở giống nòi mà còn biểu trưng cho sức mạnh bản thể của người phụ nữ,

cho khả năng tự ý thức về vẻ đẹp cơ thể của những người phụ nữ hiện đại. Còn biểu

tượng mái tóc và đôi mắt vừa là biểu tượng cho vẻ đẹp đặc trưng của giới tính nữ,

vừa dung chứa những triết lí về ánh sáng cứu rỗi, về vẻ đẹp, về cuộc sống và những

huyền năng. Một đôi mắt đẹp của giai nhân có thể là biển hồ chứa nỗi đau nhân thế,

còn mái tóc dài của người phụ nữ thì có khả năng níu giữ một linh hồn lơ lửng neo lại

bến trần gian.

Thứ sáu là hệ thống biểu tượng âm thanh gồm: tiếng kêu, tiếng rú, tiếng thét

(hét), tiếng gào, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng hát, tiếng sáo, tiếng gió, tiếng cầu kinh,

tiếng chuông chùa… Võ Thị Hảo thường chú ý nhiều đến những âm thanh biểu lộ sự

đau đớn, phẫn nộ của con người (tiếng rú, tiếng thét, tiếng gào, tiếng la). Nhìn chung,

những biểu tượng âm thanh này đều biểu thị sự phản kháng mạnh mẽ, bộc lộ ra bên

ngoài của con người trước những bất công ngang trái; là tiếng nói của sự sống, tiếng

nói đòi quyền sống và cũng là biểu tượng của tình yêu cuộc sống. Ngoài ra, trong hệ

thống biểu tượng âm thanh, tiếng cười trong tác phẩm của Võ Thị Hảo cũng là một

biểu tượng đầy ám ảnh. Đó là những cái cười méo mó, biểu tượng cho nỗi đau và sự

tha hóa của con người.

3.2.2. Có thể nói tác phẩm của Võ Thị Hảo chứa đựng một hệ thống biểu tượng đặc

sắc, góp phần tạo nên tính hình tượng cho tác phẩm, tạo nên sự đa dạng phong phú

cho hiện thực tác phẩm, thể hiện năng lực quan sát và trình độ sáng tạo của nhà văn

trong việc hiện thực hóa những yếu tố tinh thần của tác phẩm. Những hình ảnh quen

thuộc trong đời sống hàng ngày qua bàn tay nhào nặn của nhà văn như được thổi linh

hồn để khoác lên một vẻ đẹp mới, chứa đựng những ý nghĩa mới, đem lại niềm vui

khám phá cho người tiếp nhận. Hệ thống biểu tượng trong văn xuôi Võ Thị Hảo vừa

có sự tiếp thu ý nghĩa nguyên khởi của mẫu gốc, vừa là sự điều chỉnh, sáng tạo của

nhà văn vì vậy chúng một mặt thấm đẫm cảm quan của văn hóa truyền thống Việt

Nam, mặt khác bộc lộ quan niệm thẩm mĩ rất riêng của một nhà văn hiện đại.

Thông điệp văn chương của Võ Thị Hảo thường được truyền tải bằng biểu

tượng mà biểu tượng thường đa nghĩa cho nên tiếng nói về con người ở đây cũng trở

nên “đa thanh”. Việc giải mã các biểu tượng trong sáng tác của Võ Thị Hảo không

chỉ giúp chúng ta hiểu được những giá trị riêng biệt độc đáo của tác phẩm mà còn

khám phá khả năng biểu đạt vượt lên giới hạn thông thường của ngôn từ để mở ra

những chân trời liên tưởng mới lạ, đầy mơ hồ và huyễn hoặc. Thông qua hệ thống

biểu tượng phong phú, nhà văn đã hé mở một thế giới hiện thực đa chiều, phức tạp,

trong đó thế giới tâm linh bí ẩn của con người cũng được khơi sâu. Hình tượng nhân

vật như được phủ thêm lớp voan huyền ảo của những cổ mẫu, truyền thuyết, huyền

thoại khiến cho việc giãi mã chúng không chỉ bằng lí trí tỉnh táo mà phải là sự huy

động của tổng thể các giác quan. Ở đây ta cũng bắt gặp một cái tôi nhà văn không

ngừng trăn trở, suy tư về tình yêu, hạnh phúc và quyền sống của con người bằng

những dự cảm khác thường thông qua hệ thống các biểu tượng. Số phận của con

người vì thế cũng hiện lên đa dạng, phong phú trong những hoàn cảnh khác nhau với

những ao ước âm thầm, những khát vọng cháy bỏng, những cảnh đời bất hạnh, những

tiếng kêu bi thiết…

Giống như người lính trinh sát bị ám ảnh bởi tiếng cười man dại của những cô

gái ở Rừng Cười, thế giới biểu tượng trong văn xuôi Võ Thị Hảo cũng để lại những

ám ảnh đầy ma mị cho người tiếp nhận. Những hình ảnh ấy liên tục đeo bám, buộc

chúng ta phải không ngừng suy nghĩ về nó. Có khi người đọc liên tục trải qua những

cảm giác rùng rợn khác nhau khi bước vào thế giới u linh và chết chóc, chứng kiến sự

hủy diệt tàn khốc của lửa giàn thiêu và chiến tranh, cùng băn khoăn với nỗi lo về thân

phận con người trong thế giới nhiều bất trắc. Hoặc cũng có khi những giọt nước lung

linh thanh tẩy nhiều lần đọng lại ở bàn tay để chúng ta cùng cảm nhận sự thanh khiết

của đất trời, để còn nhân lên niềm hi vọng về những điều cứu rỗi. Và rồi sau mỗi lần

đọc lại, ta sẽ tìm thấy niềm vui được khám phá thêm những tầng vỉa ẩn sâu trong

từng biểu tượng. Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Võ Thị Hảo đã góp phần đem

đến cho người đọc những “thực đơn mới” về những không gian lạ tồn tại bên cạnh

thế giới hiện hữu thường ngày.

Tác phẩm nghệ thuật có khả năng lay động lòng người hay không chính là ở những

tư tưởng kết tinh qua từng trang viết. Nó chính là thừa số chung mà người nghệ sĩ đã rút ra

được từ vô vàn phép cộng của cuộc sống, được chưng cất từ trái tim thiết tha với cuộc đời

của một nhà văn tâm huyết. Tác phẩm của Võ Thị Hảo đậm chất triết lý và suy tưởng qua

nghệ thuật xây dựng chân dung nhân vật vừa chú trọng vẻ bên ngoài vừa đi sâu khai thác

đời sống nội tâm nhiều bí ẩn, qua ngôn ngữ đối thoại và cả độc thoại nội tâm cũng như qua

giọng văn đa thanh, giàu cảm xúc. Đó là những khái quát chân thực về con người và cuộc

đời, gợi mở nơi người đọc nhiều trải nghiệm thú vị.

3.3.1. Triết luận qua những nét vẽ chân dung

Phần lớn các nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo đều phản ánh một khía cạnh

nào đó về cách nhìn của nhà văn. Thông qua diện mạo và hành động, chân dung nhân vật

hiện lên sống động và đa dạng với những loại tính cách khác nhau. Mỗi người là một gương

mặt của đời sống muôn màu muôn vẻ, là đại diện cho những nỗi đau muôn hình vạn trạng

của con người, là biểu trưng cho sự thánh thiện, hoặc là hiện thân của cái ác, của bản năng

dã thú, của tham vọng điên cuồng...

Triết lí về nỗi đau và sự bất hạnh thường được gửi gắm trong chân dung những nhân

vật nữ. Và thông thường số phận của nhân vật như đã định sẵn ngay khi nhà văn phác thảo

3.3. Những triết luận u trầm, riết róng

những đường nét đầu tiên về diện mạo. Một ánh mắt, một bàn tay, một giọng cười, một

dáng đi, một mái tóc… của người phụ nữ đều là những khái quát mang tính “đóng khuôn”

chắc nịch cho cuộc đời của họ.

Đọc Giàn thiêu người đọc ấn tượng với chân dung tiểu thư Nhuệ Anh, người đàn bà

đẹp nhiều đau khổ được khắc họa qua “đôi mắt buồn thăm thẳm”, “nét mày đa đoan nằm

ngang trên đôi mắt long lanh, mới nhìn như vui, ngắm kỹ lại như u uẩn sầu đong” [95,

118], “đôi mắt không khóc mà ướt rượt nước, lông mày màu khói vương… Người như vậy

thì lắm mối đa đoan, hễ đàn ông nhìn thấy thì ngày mong đêm nhớ như điên như dại, chỉ

những mong đoạt lấy làm của riêng. Người như vậy là mối bấp bênh, không vượng phu ích

tử”[95, 394]. Khi đã thành sư bà chùa Trầm ngẫm nghĩ lại cuộc đời của mình Nhuệ Anh

cũng nhận ra rằng“chính vẻ đẹp mong manh và hư vô của bà, như sương khói, như tuyết

ngưng, cũng lại là một mãnh lực làm nổi ba đào cho suốt cuộc đời bà, ngay cả đến khi

xuống tóc vào chùa đi tu vẫn không được yên ổn”[95, 314].

Nhân vật “tôi” trong truyện Bàn tay lạnh đã nhận xét rằng “ai có bàn tay lạnh thì có

trái tim nóng” [93, 62]. Qua đôi bàn tay lạnh giá của Trang có thể thấy rõ trái tim bất hạnh

của người đàn bà không tìm thấy chỗ dựa trong tình yêu này.

Có lúc, thông qua tiếng cười, người đọc cảm nhận rằng có những người đàn bà sinh ra

đã được định sẵn cái số phần “bạc mệnh”. Trong truyện Người đàn ông duy nhất, nhà văn

miêu tả tiếng cười của người đàn bà trong thân phận “con của một gái làng chơi” như sau:

“Nàng có tiếng cười sáng như một quý phu nhân lọc lõi trên đường giao đãi và lả lơi như

một gái lầu xanh. Chính cái vẻ sau ấy của tiếng cười nàng giết chết chất sang trọng của vẻ

trước. (…) Tiếng cười ấy là nghiệp chướng của mẹ nàng truyền lại cho nàng thừa hưởng

[94, 31]. Trong truyện Vườn yêu người mẹ nhận xét về đứa con gái của mình rằng: “con gái

gì mà cười tít mắt thế? (...) Con mắt có đuôi thế rồi khổ thôi” [94, 9].

Nhiều nhân vật nữ của Võ Thị Hảo được miêu tả như những kiếp hồng nhan bị đọa xứ,

dung nhan của họ lạc lõng trong thế giới hiện hữu xô bồ, khắc nghiệt. Ngạn La trong Giàn

thiêu là một vưu vật lạ lẫm, một con mèo uyển chuyển và hoang lạ, là nguồn cảm xúc bất

tận cho cuộc đời và nàng hết sức cô đơn giữa chốn hoàng cung lộng lẫy. Dung nhan của

nàng đầy vẻ cô tịch, xa xăm quá trong thế giới này. Còn trong truyện Góa phụ đen, người

đàn bà được mệnh danh là “góa phụ đen kỳ bí” với cái nhìn ảo não, nguy hiểm và quyến rũ

như thôi miên đàn ông lại là một người đàn bà với “một đôi vai nhỏ, vẻ ưu tư hằn trên khóe

môi đằm thắm”, “đang đứng giữa đám đông trông càng cô đơn” [93, 155].

Nhìn chung những triết lí về nỗi khổ của đàn bà qua những nét vẽ chân dung trong văn

xuôi Võ Thị Hảo thường không mới, đó là những kinh nghiệm nhìn người rất quen thuộc

của dân gian. Tuy nhiên Võ Thị Hảo đã biến những triết lí dân gian thành cuộc đời, thành số

phận của con người; có khi thông qua thủ pháp lạ hóa, chân dung những nỗi đau khổ của

con người cũng trở nên nhiều vẻ, có lúc trở nên bí ẩn khác thường, tạo nên sức hút đặc biệt

cho người đối diện.

Nếu những triết lí về nỗi đau của con người thường được phác thảo bằng những nét vẽ

mềm mại, lãng đãng như sương như khói thì những triết lí về cái ác, về bản chất dã thú, về

tham vọng điên cuồng của con người lại được tạc bằng những nét gân guốc, dữ tợn.

Nhiều nhân vật được nhà văn chú ý lột tả tính cách qua đôi mắt. Đôi mắt là cửa sổ mở

vào tâm hồn con người, qua đôi mắt nhà văn có thể khái quát nhiều đặc điểm quan trọng của

nhân vật. Bà Vang (Đường về trần) tâm sự về đôi mắt của chồng mình rằng: mắt ông như

mắt rắn, nhìn ai như dán vào người đó như thôi miên, suốt đời tôi không chạy trốn nổi cặp

mắt rắn của ông [93, 184]. Chân dung quan thái bảo Lí Trác – kẻ xu phụ quyền lực tiêu

biểu trong tiểu thuyết Giàn thiêu được nhà văn tô đậm trong những hoạt động của đôi mắt:

đôi mắt khi giận dữ thì trợn trừng, khi thị uy thì quắc mắt, khi quan sát kẻ địch thì đảo

tròng, có lúc lại mở trừng trừng chết lặng, khi tìm cách để diệt trừ cái gai trong mắt thì đôi

con ngươi vằn máu rồi thu nhỏ lại, sắc lạnh như cọp bắt mồi. Cái nhìn của ông ta chứa

đựng vẻ nham hiểm, sự hủy diệt và chết chóc ghê rợn. Đôi mắt của Pạng (Chuỗi người đi

trong đầm lầy) là đôi mắt đen, sâu, hoang dại nhưng hiền như mắt bò non. Khi bản chất dã

thú trỗi dậy, đôi mắt bò non ấy bỗng sần lên những tia khoái trá trợn trừng, lừ lừ hắt ra

màu xanh như màu rắn lục. Đến khi không thể tiếp tục cuộc sống hoang dã và cũng không

còn đường trở về cuộc sống con người, Pạng đã chọn lấy cái chết, trong đôi mắt bò non mở

trừng trừng của hắn in hình một gương mặt trắng bệch với đôi môi nhành ra trong một nụ

cười khó tả. Chân dung của Pạng là chân dung của một con người luôn phải đối diện giữa

hai thái cực người và dã thú với sự lựa chọn khốc liệt nhất.

Nhà văn thường tạo nên mối liên tưởng giữa vẻ ngoài của con người và đặc tính của

một số loài vật khi miêu tả chân dung, trong đó chất dã thú của con người rất hay được so

sánh với những con vật độc dữ. Có thể thấy, những đôi mắt trong tác phẩm của Võ Thị Hảo

phần lớn đều là những “đôi mắt biết nói”, có khả năng khái quát những số phận của con

người.

3.3.2. Triết luận qua ngôn ngữ nhân vật

Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, dung lượng dành cho những lời phát ngôn của nhân

vật chiếm khoảng 1/4 tổng số lời văn. Mặc dù dung lượng không nhiều nhưng chúng giữ vai

trò khá quan trọng trong việc truyền tải những quan điểm của nhân vật và nhà văn về quá

khứ, hiện tại và nhiều vấn đề nhân sinh khác. Lớp ngôn ngữ mang màu sắc triết luận này

xuất hiện trong những lời đối thoại và cả độc thoại nội tâm của nhân vật.

Trước hết là những cuộc đối thoại, tranh luận xoay quanh vấn đề trị nước an dân trong

tác phẩm Giàn thiêu. Nhìn chung, những tư tưởng trị quốc trong tác phẩm này thấm đẫm

tinh thần Phật giáo. Điều này được thể hiện rõ trong ngôn ngữ của các bậc đế vương, những

người đứng đầu vương thất, cũng như những lời triết luận của các nhà sư. Tuy nhiên thông

qua những cuộc đối thoại giữa các nhân vật với vị trí và cách nhìn riêng của từng người,

nhiều nhân vật cũng bộc lộ thái độ phản biện xã hội mang bóng dáng của tinh thần dân chủ

thời kì đổi mới hết sức sâu sắc.

Bàn về mối quan hệ giữa đạo từ bi và phép trị quốc, Thần Tông nói với sư bà Nhuệ

Anh: “Sư bà là kẻ tu hành lẽ nào chẳng hiểu đạo từ bi có thể cải hóa khắp lượt chúng sinh.

Tôn vinh Phật đạo và cai trị bằng cách giáo hóa Phật đạo khắp trong thiên hạ, phép trị

quốc của ta vậy là đã đầy đủ”. Nhuệ Anh đáp: “Vậy bệ hạ nghĩ sao về những kẻ đã được

hưởng ân sủng của Ngài mà trở lại làm điều thất đức? Bởi vì hạt thiện mà gieo không đúng

chỗ ắt sẽ mọc lên mầm ác” [95, 285].

Lê Thị Đoan thì cực lực đả phá những điển lệ dã man của triều đình, bà cảm thán nói

rằng: “Chùa chiền mà làm gì. Đạo học mà làm gì… nếu người ta không thực hành thiện, mà

chỉ mượn cái vỏ từ bi để che giấu cho những việc tàn bạo…!”[95, 50]. Dương Hoàng hậu

cũng chất vấn thái hậu Ỷ Lan rằng: "Ngươi có thực sự tin rằng Phật đang ngự trị tại những

ngôi chùa mà ngươi xây nên không? Ta tin rằng đức Phật từ bi không ngự ở những nơi mà

Phật có đốt đuốc đi tìm cũng chẳng thấy hai chữ từ bi…!” [95, 239].

Trong những câu nói có tính chất suy ngẫm, triết lí của các nhân vật về vấn đề trị

nước, số phận của người dân cũng hiện lên nhiều chiều, nhiều vẻ khác nhau. Dân đen là đối

tượng mà những người nắm giữ bộ máy cai trị luôn coi là cỏ rác, thường được ví với những

loài nhỏ bé, yếu ớt, trong mắt của những kẻ cầm quyền không có lương tâm họ chẳng qua

cũng chỉ là tấm bia đỡ đạn, là những người có nhiệm vụ duy nhất là đem máu và nước mắt

để tô điểm cho những bức đại vóc đẹp đẽ của vương triều [95, 235]. Trong cái nhìn của

những kẻ có thế lực, lắm của nhiều tiền như Diên Thành hầu thì “dân đen chỉ là cây cỏ. Khi

gặp mưa to gió lớn, cây cỏ thấp lùn không bao giờ làm được chỗ dựa cho một bậc quân tử”

[95, 101]. Thái hậu Ỷ Lan cũng thừa nhận “thời nào cũng vậy thôi, mạng người quá rẻ

trong tay các bậc đế vương” [95, 236]. Cho nên “cái người điều binh khiển tướng khi mở

đường máu cho một đại quân thì không được quá quan tâm đến tiếng kêu của kiến và cỏ…”

[95, 237].

Trị nước như thế nào để an dân luôn là nỗi băn khoăn của Thần Tông vì bủa vây chàng

là rất nhiều tư tưởng, rất nhiều triết lí. Qua sách vở, chàng biết Khổng Tử đã nói “Nhân chi

sơ tính bản thiện”. Nhưng thái sư cha chàng – Sùng Hiền hầu hoàng thân đã dạy: “Nhân chi

sơ tính bản ác”. “Nếu không lấy uy trị nước, cái ác ở trong dân chúng sẽ trỗi lên thành ác

loạn”[95, 51]. Lý Trác, kẻ tự xưng là bậc tôi trung, bao phen quyết liệt bảo vệ uy nghiêm

triều đình cũng tâu rằng “Nghiêm minh là điều tối trọng của phép trị nước” [95, 44]. “Tự

cổ chí kim chưa có một vị hoàng đế nào trị nước giỏi mà không giữ nghiêm phép nước” [95,

51]. Thế nhưng khi nhìn những thân hình đẹp đẽ bước lên giàn thiêu mà sự khốc liệt của

những luật lệ triều đình khiến cho quần thần của ngài không một ai đủ can đảm can ngăn,

Thần Tông thật không khỏi nghi ngờ chính những điều nhân nghĩa được ghi chép trong các

sách thánh hiền hàng ngày vẫn đọc.

Mỗi người một cách lập luận riêng để bảo vệ cho quan điểm của mình. Những bề tôi

tâm huyết với vận mệnh đất nước như thái sư Lý Đạo Thành cũng nhiều lần bày tỏ thái độ

của mình bằng những câu triết lí. Lúc khảng khái vạch tội tên quan tham biến chất Phụ

Quốc, ông nói: “Đánh trận có thể chỉ cần dũng mãnh. Nhưng việc tra xét án đồ, định danh

tội trạng thì phải là những kẻ có học, có liêm có chính” [95, 90]. Khi tâu bày kế sách để giữ

yên lòng dân, ông cũng dùng những lời ngắn gọn mà đầy nhiệt huyết: “Mọi kế sách của

triều đình lúc này là làm sao cho no cái bụng của người dân. Dân có no thì nước mới mạnh

(…) Không lúc nào bằng lúc này triều đình cần lời nói thẳng” [95, 132, 133].

Thông qua những lời thoại có tính chất triết luận như vậy, mỗi nhân vật không chỉ đem

đến những cách nhìn khác nhau về thế cuộc, về dân tình, mà còn giúp cho người đọc hiểu

thêm về tính cách, tư tưởng của từng nhân vật. Những triết luận như thế chính là tiếng nói

đầy tâm huyết của nhà văn về những vấn đề đang đặt ra với thời đại và cuộc sống hôm nay.

Bên cạnh những triết luận về quốc gia đại sự, trên những trang văn của Võ Thị Hảo

cũng thấp thoáng nhiều triết lí về thân phận của người phụ nữ, thường được bộc lộ qua cách

suy nghĩ, cách cảm nhận của chính họ, những người đàn bà thuộc nhiều thế hệ, thời đại khác

nhau.

Tôn Trinh phu nhân tìm cách thuyết phục Nhuệ Anh chấp nhận cuộc hôn nhân với

công tử Lý Câu bằng những câu đầy triết lí về thân phận: “Công tử Lý Câu cũng là người

khôi ngô, con nhà danh giá. Con gái có thì…Chuyện ăn chơi đối với đám công tử con nhà

quyền thế như vậy âu cũng là lẽ thường tình. Đàn bà là phận tôi mọi, nếu để bụng chuyện

ấy thì không sống nổi đâu con ạ” [95, 109]. Vả chăng đó là cái số phận đã mặc định cho

người phụ nữ từ rất lâu rồi. Cho nên mỗi lúc mắc phải sai lầm, họ luôn là người bị chì chiết

nặng nề nhất. Bởi đàn ông có thể năm thế bảy thiếp, có quyền được phụ bạc đàn bà, có lỗi

vẫn có thể lấp liếm được bằng cách này cách khác, còn “người đàn bà lầm lỡ không giá trị

hơn một chiếc vòng tay bằng hạt cỏ”[93, 194].

Rất nhiều người đàn bà trong tác phẩm của Võ Thị Hảo thường tỏ ra cay đắng và bất

lực về sự phụ thuộc đối với đàn ông. Sải trong Con dại của đá đau đớn nghĩ rằng: “Đàn bà

là thế. Đã trót thất thân với một người đàn ông rồi sẽ theo hắn, dù muốn dù không, dù trên

thể xác hay trong tâm tưởng, như một con chó theo đuôi chủ” [93, 191]. Vợ Cáo Tờ Quẩy là

đại diện tiêu biểu nhất cho người đàn bà Mông suốt đời cắm mặt xuống đất đi sau cái đuôi

ngựa của chồng. Có những ràng buộc khắc nghiệt mà bà không bao giờ dám nghĩ đến việc

bỏ chồng dù bị đối xử tệ bạc. Bà nói với Sải: “Chồng tao đối với tao không hơn gì với con

ngựa, con chó. Nhưng còn nó, tao còn cái đuôi để mà đi theo trong buổi chợ. Đàn bà Mông

không chồng, đến hòn đất còn bắt nạt được” [93, 203].

Người đàn ông trong truyện tim vỡ đã nhận xét: “Đàn bà muôn đời vẫn vậy, vẫn không

thoát khỏi dây xích của sự nhẹ dạ” [93, 51]. Nhiều lúc tưởng chừng họ rất mạnh mẽ, nhưng

thực chất cũng chỉ là những sinh linh nhỏ bé và yếu ớt. Có lẽ điều để nhiều người quan tâm

nhất trong đời là việc chọn được một tấm chồng vừa ý. Nhân vật Rân trong truyện Người

đàn ông duy nhất đã chua chát bảo rằng: “Đàn bà có mỗi một nghề nhàn nhất mà đem lại

mối lợi lớn nhất là lấy chồng. Giỏi nghề thì một bước lên bà. Chẳng may sa cơ lỡ vận thì

một bước xuống ăn mày” [93, 37]. Nghe sao thật chua chát!

Thế nhưng nhân vật tôi trong Giọt buồn giáng sinh lại có một khái quát rất lạ rằng:

“nỗi đau khổ của đàn bà cũng như một sự cứu chuộc thế giới” [92, 72]. Có lẽ cuộc đời còn

cần lắm những sự cứu chuộc như thế.

Những khái quát tưởng chừng nghịch lí, tưởng như chỉ là sự giễu cợt, nhưng ngẫm lại

và nhìn rộng ra thì thật sự cũng đáng để người ta suy nghĩ mà giật mình xót xa.

Bên cạnh việc đưa nhân vật vào các cuộc tranh luận để bộc lộ quan điểm, tình cảm của

mình, Võ Thị Hảo còn để cho nhân vật độc thoại với chính mình, phơi bày những trải

nghiệm, những đánh giá rất riêng về cuộc sống, cũng như những triết lí về bản thể. Nhiều

màn độc thoại là cuộc hành trình tìm kiếm chính mình, đào sâu vào những bí ẩn của cái tôi

với những day dứt, ăn năn, những trăn trở, hoài nghi về sự tồn tại của con người.

Từ Đạo Hạnh hàng ngày khuyên giải những tăng ni Phật tử coi khinh vật dục, chịu nạn

ở kiếp này để hưởng sung sướng nơi Niết bàn nhưng trong lòng lúc nào cũng băn khoăn tự

hỏi: “Ta có thật lòng tin vào Niết bàn? Dường như càng đi, đường đến Niết Bàn càng xa.

Ta nay đã ngoài tứ thập. “Tứ thập nhi bất hoặc”. Vậy mà đôi lần ngẫm thân phận mình,

trong lòng sao bỗng xót xa như chưa kịp sống, chưa được sinh ra trên cõi đời này. Tại sao

cuộc đời ta mấy chục năm nay lại chứa đầy những hành xác và khổ ải? (…) Ta có cạn lòng

để đến được tâm Không?” [95, 427, 428]. Nghĩ về những điều thiện ác mà Phật răn dạy,

thiền sư ngẫm nghĩ: Cớ sao đức Phật nói về làm điều thiện mà lại dùng những từ ác như

giết chóc? Phải chăng trên thế gian này không có điều thiện nào không kéo thêm một điều

ác? Con rắn độc phiền não nó thức dậy trong lòng ta chăng? Bao năm nay, ta cũng tự hành

xác như đức Phật, khinh rẻ vật dục. Ta vẫn thức đấy chứ? Nào có dám ngủ! Có lẽ vì ta thức,

nên ta đã thấy quá nhiều…” [95, 430]. Những suy tư trăn trở của Từ Đạo Hạnh cho thấy

cuộc đời con người này là một cuộc vật vã kiếm tìm để đối diện với cái tôi đích thực của

mình, con người ấy không ngừng đào sâu vào nhận thức, lật lại những kinh nghiệm xưa cũ

để tìm kiếm chân tâm. Con người ấy là con người luôn luôn hoài nghi, luôn luôn kiếm tìm

và cũng là con người đầy chất hiện sinh. Cho nên khi nhận ra những giả dối, yếu đuối của

bản thân, thiền sư đã không ngừng tự vấn, tự day dứt mình đầy đau đớn. Khi thuyết giảng về

Thanh tịnh đạo, bắt gặp cái nhìn thành kính tin tưởng của chúng tăng, những đôi mắt ngấn

lệ vì cảm động trước lẽ thấu đáo của Phật đạo, chính thiền sư lại chột dạ:

“Chế ngự được lòng tham ái ư? Ta đang nói dối chăng? Nếu những kẻ đang đứng

trước mặt ta đây biết rằng, ta đang sắp sửa đổi kiếp sống này – một khoảnh khắc hiện hữu

của bánh xe luân hồi chạm đất – để đổi lấy một kiếp sống khác, để bù đắp cho những oan

khổ thiệt thòi mà ta phải chịu đựng ở kiếp này! (…) Nếu họ biết ta đang sắp rời bỏ họ, làm

ngược lại những điều ta đã khuyến dụ họ lâu nay, đổi lấy kiếp khác để được nếm trải tột

đỉnh vinh hoa phú quý, tột đỉnh quyền lực, để có được thiên hạ trong tay, thì họ sẽ làm gì

nhỉ? (…) Ta đã lừa dối họ! Ta đã bỏ rơi họ. Cả đời họ đã theo ta để bị ta lừa dối ư? Họ sẽ

sống ra sao với sự lừa dối của ta? (…) Ta đã tự dối mình và dối người quá nhiều” [95, 448,

449, 450].

Màn độc thoại không chỉ làm lộ rõ cuồng vọng tham ái của thiền sư mà còn giúp người

đọc thấu suốt cõi bất an đang thiêu đốt ông ta, nó cho thấy sự yếu đuối của con người đồng

thời truy vấn nguyên nhân những bi kịch của Thần Tông đã được nhắc đến trong các

chương phía trước.

Những màn độc thoại trong văn xuôi Võ Thị Hảo cho thấy những bất lực đau đớn của

nhà văn trước những nỗi khổ của con người. Trong thế giới hiện hữu này, niềm tin là một

cái gì quá đỗi mong manh. Con người không ngừng cảm thấy hoang mang khi đối diện với

cuộc đời rộng lớn. Bằng hình thức độc thoại, các nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo có dịp

đối diện với những mảng khuất tối của tâm hồn, bày tỏ những suy nghĩ chân thật, thầm kín

của bản thân, chân dung nhân vật vì thế đạt đến khả năng tự phô diễn, tự khám phá một

cách sống động, chân thực và khách quan.

3.3.3. Triết luận xen phối với trữ tình

Đối với tác phẩm văn học, giọng điệu trần thuật giữ vai trò quan trọng trong việc thể

hiện nhận thức, thái độ, tình cảm, lối sống và cả nội lực của nhà văn, là một trong những

yếu tố quan trọng để xác định phong cách của một nhà văn. Trong dòng chảy của văn học

sau thời kỳ đổi mới, khi lập trường xã hội, tình cảm, thị hiếu thẫm mỹ thay đổi thì giọng văn

trong sáng tác của Võ Thị Hảo cũng có những đổi mới quan trọng, trong đó giọng giễu nhại

và tâm tình thương cảm là hai yếu tố thẫm mỹ nổi bật bộc lộ rõ chất triết luận của văn xuôi

Võ Thị Hảo.

3.3.3.1. Giọng giễu nhại và tiếng cười mỉa mai châm biếm

Giọng giễu nhại xuất hiện trở lại trong văn xuôi sau thời kỳ đổi mới gắn liền với sự

lên án, tố cáo những thói hư tật xấu của thế thái nhân tình giữa thời buổi nhiều sự đổi thay

về thang giá trị. Tính chất giễu nhại thường đi liền với tiếng cười hóm hỉnh và đả kích châm

biếm. Đối tượng mà văn xuôi Võ Thị Hảo hay hướng đến là những kẻ tham lam biến chất,

lộng quyền cũng như thói hư vinh, giả dối, tính ưa hình thức của con người. Thông qua

tiếng cười giễu nhại, nhà văn đòi hỏi sự thẳng thắn và chân thật trong cách đánh giá và cư

xử giữa người với người cũng như khơi gợi ở họ can đảm nhìn thẳng vào sự thật cuộc đời.

Hàng loạt những câu chuyện nhại cổ tích của Võ Thị Hảo chứa đựng trong đó rất

nhiều giọng điệu giễu nhại. Trong truyện Nữ hoàng cô đơn rất nhiều các vị thần “mới lạ và

hiện đại” như thần Tiền Tài, thần Dục Vọng, nữ hoàng Pháp Luật… xuất hiện như một cầu

nối giữa cổ tích và thế giới đương đại, vừa có tác dụng ẩn giấu nụ cười giải thiêng, vừa giúp

nhà văn “mượn xưa để nói nay” một cách hóm hỉnh mà độc đáo. Nhà văn mở đầu truyện

ngắn Khát của muôn đời bằng những câu văn hóm hỉnh viết về Trời, vị thần cai quản ba cõi

nhân gian như sau:

“Người ta gọi Trời bằng “ông”, vậy là oan cho Trời lắm, bởi vì Trời còn trẻ. Trời

chẳng bao giờ già, cả đến bây giờ cũng vậy. Trời luôn ăn đào tiên (…) Ở ngôi cao, Trời

thường nghiêng mái đầu nhìn xuống trần gian. Trời nhìn thấy cảnh người ta đánh giết nhau

và người ta yêu nhau. Cảnh yêu nhau làm cho Trời thấy thích lắm, lạ lắm. Trời quyết định

biến thành một chàng trai phàm trần để nếm mùi vị của tình yêu” [92, 102, 103].

Có một giọt buồn bay trong đêm Giáng sinh đã kể: “ tôi nhìn thấy Mẹ Âu và Cha Lạc.

Hai người li dị đã lâu, từ ngày Cha đem năm mươi người con xuống biển và Mẹ đem năm

mươi người con lên núi” [92, 70]. Ở truyện Hành trang của người đàn bà Âu Lạc, người

đọc không khỏi bật cười khi chứng kiến cái cảnh: trong gánh hành trang của mẹ Âu Cơ là

“cha Lạc Long Quân cùng năm mươi người con trai đang ngồi vắt vẻo. Và tay cha cầm một

tờ báo có in dòng chữ còn chưa ráo mực: “Phụ nữ ngày nay đã được giải phóng”. Cha

cũng luôn mồm giục “Đi nào! Đi nào! Người đàn bà của ta đi nào!””[93, 84]. Hóa ra cái

chuyện giải phóng phụ nữ chẳng qua cũng là hình thức để chứng tỏ sự văn minh tiến bộ của

con người. Chất giễu nhại trong những câu chuyện giả cổ tích thường hướng con người đến

những vấn đề đang đặt ra của người hiện đại, nhà văn không tách rời nó với tinh thần phê

phán và thái độ xây dựng thực sự khách quan cầu thị.

Câu chuyện về giống bò tập thể kỳ lạ trong tác phẩm Người chăn bò thần thánh thấp

thoáng bóng dáng của thời kỳ hợp tác xã không ít những chuyện cười ra nước mắt. Đây là

câu văn viết về vị giám đốc:

“Tất nhiên, là giám đốc, ông chỉ chăn bò về phần hồn, còn thì phần xác bò đã có

người lo: kẻ cắt cỏ, kẻ đi chăn… Sau đó vì bận họp hành thù tạc, ông dần dần quên đi

không khí trang trọng và cảm động của buổi lễ “khánh thành bò” đã diễn ra cách đây

không lâu” [94, 30, 31] (…)

Đến lúc đàn bò chỉ còn lại những cái xác bong bóng, ông giám đốc lại tìm cách chối

bỏ trách nhiệm: “Người ta nói rằng, “lộc bất hưởng tận”. Ông giám đốc nghĩ vậy và kiếm

cách giao lại đàn bò cùng chức tước cho người khác, rồi được cất nhắc sang làm giám đốc

một nông trường to hơn. Đại khái, đấy có thể là nông trường chăn voi ngoại”[94, 35].

Trong truyện Dã nhân, nhà văn nhận dạng những thực khách trên bàn tiệc “Nhất dạ đế

vương” thông qua những con số lặp đi lặp lại:

“Khổ chủ này có hai con đi du học ở Anh Quốc, có hai ô tô đời mới, hai con chó ngao

bụng thon chân cao như ngựa vằn, hai ngôi biệt thự mỗi ngôi cỡ vài ngàn cây vàng, một vợ

một nhân tình. Cái gì cũng hai. Dự án cũng vậy, luôn là hai chiếc song song. Lân là bạn

của khổ chủ, vừa là người thẩm định, vừa là con thoi đi lại giữa A và B. Cái gì cũng có một.

Nhưng cũng có một vợ một nhân tình, đúng mốt” [93, 142, 143].

Tóm lại, giọng điệu giễu nhại đã thể hiện rõ chức năng chỉnh lí hình tượng thông qua

tiếng cười, giúp nhà văn truyền tải những triết lí về con người và xã hội, góp phần mang lại

sự cởi mở thoải mái và dân chủ trong lối viết của nhà văn. Nhờ có giọng giễu nhại mà

những mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại được xâu chuỗi, nhà văn có thể đứng cao hơn

những cái giả dối tầm thường để chiêm nghiệm về nó, cất tiếng cười đả phá và chế giễu nó

một cách tự do. Đây cũng chính là nhân tố quan trọng tạo nên tinh thần dân chủ cho văn

xuôi sau đổi mới.

3.3.3.2. Giọng tâm tình, thương cảm, xót xa

Trong thế giới của những nỗi đau và mất mát, văn xuôi Võ Thị Hảo nổi bật giọng

văn tâm tình, thương cảm, xót xa. Cảm hứng nhìn lại tạo cho những câu chuyện viết về lịch

sử và chiến tranh của Võ Thị Hảo thấm đẫm chất quan hoài da diết. Niềm thương cảm xót

xa đọng lại trên những nỗi đau kéo dài của con người sau cuộc chiến, những nỗi ám ảnh

triền miên, những trầm ngâm về lẽ sống, nỗi cô đơn, lạc loài của con người khi về lại cuộc

sống đời thường… tất cả tạo thành một làn sóng dìu dặt mà xót xa đến tận tâm hồn.

Tâm sự của những người trong cuộc bộc bạch trong một giọng điệu có lúc mệt mỏi,

chán chường (Dây neo trần gian), có lúc cay đắng, thất vọng (Biển cứu rỗi), có lúc mặc cảm

đến tự thương (Người sót lại của rừng cười). Những câu văn cảm thán về chiến tranh, những

tiếng thở dài xót xa, những uất ức dồn tụ, khiến cho giọng điệu trong nhiều câu chuyện của

Võ Thị Hảo như chất chứa hồn cốt của những nỗi buồn u uất: “Tiếng máy bay gầm rú dọc

đường Một. Tiếng bom nổ thâu đêm. Cả làng trắng đàn ông, chỉ còn lại đây đó các ông già

lụ khụ. Ra trận và ra trận! Đàn bà vác cày, cầm súng, đi lấp hố bom và bị buộc phải trở

thành đàn ông” [91, 55]. “Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào chiến cuộc thật

khủng khiếp” [91, 96]. “Em là người sót lại của rừng cười, nhưng hạnh phúc chẳng còn sót

lại nơi em” [91, 104]…

Lật lại những trang sử xa xưa, bên cạnh cái khốc liệt của những cuộc thanh trừng đẫm

máu là tiếng khóc ai oán bi thương của những kiếp người bị đọa đày trong đau khổ. Những

câu chất vấn dày đặc như muốn vươn tới cõi vô cùng, tạo cho Giàn thiêu giọng văn bi thiết:

“Và có kẻ nào thương xót cho cô bé này không? Lẽ nào bốn mươi chín cái chết thiêu đau

đớn nhỡn tiền không mảy may rung động một thớ nhỏ nào trong tim họ? (…) Biết bao chùa

chiền nguy nga đã dựng lên từ đời đức Thái Tổ sáng nghiệp, chùa nào cũng thờ hai chữ Từ

bi. Vậy mà sao những con người trước mặt ta kia lại cứ câm lặng trước một sinh linh nhỏ

bé vô tội sắp lìa đời?” [95, 44, 45]. Cảm giác tiếc nuối cho cái đẹp bị hủy diệt, bị đọa đày

trong lửa địa ngục tạo thành những thanh âm thê lương trong giọng điệu của Giàn thiêu.

Hàng loạt những bi kịch của con người hiện lên trong lối văn kể và tả dẫn dắt người đọc

đắm chìm trong những cơn cuồng phong ngột ngạt và da diết u hoài. Nỗi nhớ tiếc của Thần

Tông, niềm xót xa của Nhuệ Anh, tấm lòng của Dã Nhân, tình yêu cao thượng của Cá Bơn,

chất phiêu diêu toát ra từ thần thái của Ngạn La… được dệt lên bằng những câu văn mềm

mại vừa gợi niềm thương cảm vừa gợi nỗi buồn da diết. Hãy nghe! Những dòng cảm xúc

của Ngạn La, những bài đồng dao thơ trẻ của nàng khi nàng cất lời ru tiễn ông vua hóa hổ

như những khúc nhạc lòng êm ả, xoa dịu những cơn đau:

“…Nu nống nu na

Mưa rơi xuống đá

Mưa làm nát đá

(…) những lời hát của nàng sẽ ấm êm như một lối đi rải đá để linh hồn bé bỏng,

thương tổn và lầm lạc của Ngài ngự được dẫn về trời (…) nàng dẫn ông ta lên bầu trời của

nàng để trên đó ông ta sẽ trở lại là một đứa trẻ chăn những con trâu bằng mây trắng ...

Mưa trở về trời

Nu na nu nời

Ru trời

Trời rơi…” [95, 338, 339].

Những số phận đàn bà, những nỗi đau tật nguyền cũng làm cho giọng văn trong

nhiều tác phẩm của Võ Thị Hảo trở nên thương cảm đến nao lòng. Trong đó có âm điệu

lạnh lùng mà buồn bã khi viết về những người đàn bà không hạnh phúc (Bàn tay lạnh, Con

dại của đá, Người đàn ông duy nhất…), có giọng khắc khoải đợi chờ của những kẻ yêu nhau

không đến được với nhau (Khăn choàng sương, Tiếng vạc đêm), có giọng chơi vơi, hụt

hẫng của những kẻ tưởng chừng nắm bắt hạnh phúc trong tay nhưng bất ngờ lại tuột mất

(Góa phụ đen), có giọng cay đắng, đay nghiến của những người đàn bà vỡ mộng (Con dại

của đá, Tim vỡ), có giọng hi vọng đợi chờ, tin tưởng ở ngày mai của những con người bất

hạnh (Mắt miền Tây, Người đàn ông duy nhất), và có giọng sẻ chia thương xót với những

kiếp tật nguyền (Máu của lá, Làn môi đồng trinh)… Những cung bậc của nỗi buồn tủi, xót

xa cay đắng có lúc khiến cho những trang văn như chùng xuống, nặng trĩu và bi thương.

Nhưng người đọc cũng đồng cảm với nhà văn ở một điều rằng “đừng mơ hạnh phúc để xoa

dịu đau khổ. Hãy lấy nỗi đau để xoa dịu nỗi đau” [93, 36]. Có lẽ chỉ có những nỗi đau lớn

về con người mới khiến con người mạnh mẽ và trưởng thành hơn.

Nhìn chung, trong văn xuôi Võ Thị Hảo, giọng điệu tâm tình có lúc được đặt trong

điểm nhìn của những nhân vật xưng tôi, ngôi kể thường là ngôi thứ nhất. Nhân vật “tôi” có

khi trực tiếp kể chuyện về chính mình, có khi lại đóng vai một chủ thể gần gũi quan sát, nêu

lên những cảm nhận, đánh giá của mình khi kể chuyện về người khác. Cách kể này chiếm

khoảng 1/3 số lượng các tác phẩm. Còn đa phần các câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba,

điểm nhìn được đặt vào nhân vật, người kể đã hòa mình vào nhân vật đến mức khó nhận ra

giọng kể của tác giả và giọng kể của nhân vật. Bằng cách này nhà văn có điều kiện thâm

nhập vào đời sống nội tâm nhân vật, mặc khác cũng có thể kín đáo bày tỏ thái độ của mình

mà vẫn giữ được tính chất khách quan cho câu chuyện. Cho nên, giọng điệu thương cảm xót

xa trong tác phẩm của Võ Thị Hảo vừa là niềm tự thương, tự cảm của nhân vật, vừa hòa trộn

tấm lòng trắc ẩn của nhà văn.

KẾT LUẬN

1. Võ Thị Hảo là một trong những tác giả nữ giàu cá tính của văn học đương đại Việt

Nam, có quan niệm văn chương tiến bộ và luôn ý thức được sứ mệnh của người nghệ sĩ đối

với xã hội. Trong quan điểm của Võ Thị Hảo, văn chương và hiện thực luôn có mối quan hệ

mật thiết với nhau. Văn chương phải phản ánh được những nỗi đau và mất mát của con

người, nhà văn phải tôn trọng sự thật, tôn trọng cuộc đời như nó vốn có và là người gánh

vác sứ mệnh thiêng liêng của cuộc đời, sứ mệnh sẻ chia và thức tỉnh. Với chị, văn chương

như một thánh đường mà ở đó người ta trân trọng sự thiêng liêng trong nỗi đau của sự thật

và khát vọng của con người đến mức nhà văn không thể viết chỉ để thỏa mãn riêng mình và

cũng không thể viết dối trá. Chị viết văn như một sự nguyện cầu, một lời cầu nguyện gửi

đến mọi người để mong thế giới này tốt đẹp hơn.

Tiếp nhận tinh thần của thời kỳ đổi mới cùng với quan niệm mới về con người, nhà

văn nhận thức được rằng con người vốn đa dạng phức tạp, cần phải được nhìn nhận, soi rọi

từ nhiều phía. Trong cái nhìn của Võ Thị Hảo, cuộc sống còn quá nhiều đau khổ, đặc biệt

với những con người hiện hữu trong thế giới hiện đại, dường như họ thường dễ bị tha hóa

hơn, dễ có nguy cơ đánh mất mình hơn, họ trở nên nhỏ bé, đáng thương hơn. Thế giới của

con người là thế giới của những bi kịch và mất mát triền miên, nguy cơ đổ vỡ là vô cùng

lớn. Nhà văn đặc biệt quan tâm đến số phận và vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Họ

vừa là những con người nhỏ bé, phụ thuộc vừa đang từng bước vươn lên, khẳng định mình.

2. Cảm hứng phản biện, nhận thức lại một số giá trị, chuẩn mực của thời đã qua cùng

với cảm hứng đời tư thế sự và quan niệm về con người cá nhân là đối tượng chiếm lĩnh của

văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo. Với cái nhìn đa diện về con người, văn xuôi Võ Thị Hảo

đề cập đến nhiều nội dung tự sự, trong đó, con người với những bi kịch cá nhân là nội dung

tự sự chính trong sáng tác của chị. Võ Thị Hảo đã phát hiện những bi kịch cá nhân khi đối

diện với nỗi đau chiến tranh, hoặc khi chìm đắm trong những tham vọng điên cuồng, những

ước mơ không giới hạn của con người; chỉ ra con đường dẫn họ đến sự tha hóa, cùng cực.

Thông qua những bi kịch cá nhân đó, nhà văn khái quát số phận của con người và bức tranh

hiện thực xã hội đương đại. Ngòi bút của chị đã phơi bày những ngõ ngách sâu kín của đời

sống xã hội và tâm hồn con người, cả cái thiện lẫn cái ác để thức tỉnh lương tri con người,

cảnh báo những ảo tưởng, ngộ nhận của con người, hướng họ đến những giá trị cao đẹp. Tác

phẩm của chị chứa đựng giá trị nhân văn, nhân đạo và nhiều triết lí sống đáng để chúng ta

suy ngẫm.

Võ Thị Hảo là nhà văn của những con người bé nhỏ, những con người cô đơn, nhiều

đau khổ và bất hạnh. Nhà văn đã dành nhiều tình thương và sự trân trọng cho những kiếp

người tật nguyền, nghèo khổ, đồng cảm và chia sẻ với những số phận không may, đặc biệt

là phụ nữ. Người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo đầy bản lĩnh và cá tính, giàu

lòng yêu thương và nghị lực. Trong cuộc sống, họ không ngừng cố gắng vươn lên nhưng

vẫn luôn chịu nhiều thua thiệt. Để đạt được sự tự chủ và độc lập trong cuộc sống đôi lúc họ

cũng dám chấp nhận khổ đau cũng như sự cô đơn, mất mát. Niềm khao khát tình yêu và

hạnh phúc luôn thường trực trong họ nhưng họ không bất chấp tất cả để đạt được nó. Với

họ, điều đáng quý nhất là giữ được sự tự tôn và giá trị con người mình.

3. Văn xuôi Võ Thị Hảo chứa đựng hơi thở của cuộc sống đời thường hấp dẫn người

đọc bởi lối viết huyền ảo thông qua thế giới hình tượng huyền bí, liêu trai; cách dựng truyện

khách quan, giàu kịch tính, cách kết thúc mở, gọi mời sự đối thoại nơi người đọc… Nhà văn

đã rất khéo léo trong việc sử dụng những chất liệu của cổ tích và lịch sử cũng như các yếu

tố kỳ ảo để khắc họa nhân vật, diễn đạt tình cảm, tư tưởng, quan niệm nghệ thuật và những

triết lí nhân sinh. Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm của Võ Thị Hảo được trau chuốt cẩn

trọng, vừa cổ kính vừa hiện đại; vừa đời thường vừa trang nghiêm; vừa có sức gợi mở, có

khả năng khái quát cao vừa giàu chất suy tưởng, triết lí. Văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo

ám ảnh người đọc bằng những biểu tượng đa thanh, tầng sâu tư tưởng và cảm giác phiêu

diêu của ngôn từ. Chất triết luận không chỉ bộc lộ qua các ẩn ý của lời văn, qua hệ thống

biểu tượng đa thanh, giàu tính hình tượng mà còn ở lời thoại và giọng văn nghệ thuật. Lời

thoại nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo là sự kết hợp đa dạng giữa đối thoại và độc

thoại nội tâm. Đó là những cuộc đối thoại triền miên không dứt. Con người không chỉ đối

thoại với lịch sử, đối thoại với hiện tại mà còn đối thoại với chính lương tri của mình. Nhà

văn cũng tham gia vào cuộc đối thoại lớn với người đọc bằng giọng văn giễu nhại và tâm

tình thương cảm xót xa đến day dứt lòng người.

4. Văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo đã chuyển tải thành công những quan niệm nghệ

thuật của tác giả, cũng như đã phản ánh rõ nét tinh thần dân chủ, khát vọng tự do, dám nhìn

thẳng vào sự thật của văn xuôi thời kỳ đổi mới. Là một nhà văn tâm huyết với nghề, Võ Thị

Hảo luôn ý thức rõ sứ mệnh của người cầm bút khi sáng tác. Cùng với sự vận động và phát

triển hướng về chiều sâu của văn học, Võ Thị Hảo vẫn đang không ngừng tự làm mới mình

sau mỗi trang bản thảo, nhà văn vẫn luôn khao khát kiếm tìm những hình thức thể hiện mới

để cách tân nghệ thuật. Đôi lúc khá gai góc và cá tính nhưng vẫn không đánh mất thiên tính

nữ vốn dịu dàng, nhạy cảm, sáng tác của Võ Thị Hảo đã đem đến cho người đọc một cái

nhìn riêng về cuộc đời và số phận của con người. Đặc biệt, những mong mỏi được đồng

cảm và sẻ chia qua từng trang viết của nhà văn thực sự rất đáng để người đọc hôm nay và

mai sau trân trọng, sự trân trọng xứng đáng dành cho người tình nguyện “vác cây thập giá

chữ” trên đôi vai vốn gầy guộc mỏng manh đến điệu đà của người đàn bà viết văn xứ Nghệ.

--------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A.TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH

1. Trần Thúy An (2007), Người phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số nhà văn

nữ, luận văn Thạc sĩ văn học, Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh.

2. Vũ Tuấn Anh (2001), “Đời sống văn học đương đại”, Văn học Việt Nam hiện

đại, nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

3. Tuấn Anh (2008), “Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ

trong văn học nghệ thuật”, Tạp chí Sông Hương, (236).

4. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học

quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

5. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

6. Lại Nguyên Ân (2009), “Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện

đại”, Mênh mông chật chội (Phê bình – Tiểu luận), Nxb Tri thức, Hà Nội.

7. Lại Nguyên Ân (2009), “Tiểu thuyết và lịch sử” (Nhân đọc “Giàn thiêu” của Võ

Thị Hảo)”, Mênh mông chật chội (Phê bình – Tiểu luận), Nxb Tri thức, Hà Nội.

8. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca (nhiều tác giả dịch và giới thiệu)

- Lưu Hiệp (1999), Văn tâm điêu long (Phan Ngọc dịch, chú giải và giới thiệu),

Nxb Văn học, Hà Nội.

9. Trần Lê Bảo (2005), ““Liêu trai” hiện đại Việt Nam”, Văn học Việt Nam sau

1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

10. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn

học, (9).

11. M. Bakhtin (1992), Lí luận, thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du

xuất bản, Hà Nội.

12. Gordon E. Bigelow (1961), “Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh”, Cao Hùng Lynh

dịch, đăng trên College Enghlish, số tháng 12, bản điện tử: talawas.org.

13. Nguyễn Thị Bình (2005), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam

từ cuối thập kỉ 80 đến nay”, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên

cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

14. Thảo Chi (thực hiện) (2004), “Trách nhiệm của người viết là không né tránh sự

thật”, Báo Người lao động, nguồn: nld.com.vn.

15. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học – Lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

16. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

17. Trần Thị Kim Dung (2010), “Đi tìm thân phận người phụ nữ trong sáng tác của

Võ Thị Hảo”, Tạp chí điện tử của Sở thông tin và truyền thông Đà Nẵng,

Chuyên mục Câu chuyện truyền thông.

18. Bùi Tiến Dũng (thực hiện) (2010), “Nhà văn Võ Thị Hảo: Phụ nữ cần thoát khỏi

những nô lệ, tự ti và định kiến”, Báo thế giới mới, Nguồn:

tgm007.wordpress.com.

19. Nguyễn Đăng Điệp (2006), Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn

học Việt Nam đương đại, Hội thảo quốc tế 2006, Nguồn: Việnvănhọc.org.vn.

20. Hoàng Dĩ Đình (2008), “Ngôn ngữ trần thuật của tác phẩm Hồn trinh nữ - điểm

nhìn và nhân xưng”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, (24).

21. Minh Đức (thực hiện) (2005), “Võ Thị Hảo: Tôi không định mê hoặc…”, Báo

Người đại biểu nhân dân, (3).

22. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

23. Hà Minh Đức (1998), Chặng đường mới của văn học Việt Nam, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

24. Hà Minh Đức (2001), Văn chương, tài năng và phong cách, Nxb Khoa học Xã

hội, Hà Nội.

25. Nhị Hà (thực hiện) (2005), “Tôi ngồi bệt trên đất và viết”, Người sót lại của

rừng cười, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.

26. Hồ Thế Hà (2008), “Hướng tiếp cận từ phân tâm học trong truyện ngắn Việt

Nam sau 1975”, Tạp chí Sông Hương, (232).

27. Phùng Hữu Hải (2006), Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau

1975, evan.com.vn.

28. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1996), Lý luận văn học – vấn đề và suy

nghĩ, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.

29. Nguyên Hằng (thực hiện) (2005), “Suốt đời chỉ mơ một giấc”, Tuần báo Công

nghiệp Việt Nam, (6).

30. Hêghen (1999), Mỹ học, tập I, II (Phan Ngọc dịch và giới thiệu), Nxb Văn học,

Hà Nội.

31. Cao Thị Thu Hoài (2009), Yếu tố kì ảo trong sáng tác của Võ Thị Hảo qua tiểu

thuyết Giàn thiêu và tập truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm,

Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

32. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trường viết văn Nguyễn

Du, Hà Nội.

33. Hoàng Ngọc Hiến (2009), “Đặc điểm của truyện ngắn hiện đại”, Hoàng Ngọc

Hiến, tác phẩm chọn lọc, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

34. Đỗ Đức Hiểu (1993), Đổi mới phê bình văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

35. Văn Công Hùng (2010), “Võ Thị Hảo: Nét duyên chân đất”, Báo Doanh nhân

Sài Gòn online.

36. Đinh Thị Huyền (2008), “Nhân vật của tiểu thuyết hậu chiến”, Tạp chí Nghiên

cứu Văn học, (10).

37. Lê Thị Hường (1994), “Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm

nay”, Tạp chí Văn học, (2).

38. Lê Thị Hường (1995), Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai

đoạn 1975 – 1995, Luận án PTS Khoa học Ngữ văn, trường Đại học KHXH và

NV, Hà Nội.

39. Hoàng Hoa (2001), “Nhà văn Võ Thị Hảo: tôi ngồi bệt trên đất và viết”, Tạp chí

Nghề báo, (1).

40. Nguyễn Văn Kha (2007), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt

Nam 1975 – 2000, Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh.

41. Khraptrenko (1985), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, Nxb Khoa học

Xã hội, Hà Nội.

42. Nguyễn Thị Dư Khánh (2000), Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp,

Nxb Giáo Dục, Tp Hồ Chí Minh.

43. Thụy Khê (2005) “Lời giới thiệu”, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm,

Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

44. Milan Kundera (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Đà

Nẵng.

45. Lê Đình Kỵ (1984), Tìm hiểu văn học, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

46. Ngô Tự Lập ( 1999), “Những đường bay của mê lộ” (Về văn học kỳ ảo), Tạp chí

Sông Hương, (127).

47. Nguyễn Tường Lịch (1997), “Huyền thoại và sức sống của huyền thoại trong

văn chương xưa và nay”, Tuần báo Văn nghệ, (9).

48. Nguyễn Văn Long (chủ biên), Nguyễn Thị Bình, Lã Thị Bắc Lý, Mai Thị

Nhung, Trần Đăng Suyền (2008), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, Tập II

(Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

49. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (Đồng chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam

sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.

50. Phương Lựu (chủ biên) (2004), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

51. Nguyễn Đăng Mạnh (1994). Con đương đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

52. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2009), E.M. Meletinxky (2004), Thi pháp của huyền

thoại, Trần Nho Thìn và Song Mộc dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

53. Ngô Thị Quỳnh Nga (2010), “Sự đan cài các lớp ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch

sử sau 1975”, Nguồn: hoinhavanvietnam.vn.

54. Blog của Lê Thanh Nga (2007), Giàn thiêu của Võ Thị Hảo.

55. Lương Thị Bích Ngọc (2004), “Võ Thị Hảo giữa những trang viết trang đời”,

Báo Thể thao và Văn hóa, (53).

56. Phạm Xuân Nguyên (1994), “Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay”, Tạp chí văn

học, (2).

57. Phạm Xuân Nguyên (sưu tầm và biên soạn) (2001), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp,

Nxb Văn hóa thông tin.

58. Vương Trí Nhàn (2001), Sổ tay truyện ngắn, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh.

59. Trần Thị Mai Nhân (2007), “Vấn đề tâm linh trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ

đổi mới”, Tạp chí Sông Hương, (224).

60. Thụ Nhân (2005), Tọa đàm về sáng tác của Võ Thị Hảo, www.vn/vanhoa/tintuc.

61. Phùng Quý Nhâm (1991), “Một số vấn đề đặt ra trong sáng tác văn học hiện

nay”, Thẩm định văn chương, Nxb Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.

62. Mai Hải Oanh (2004), “Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt

Nam thời kỳ đổi mới”, (Kỷ yếu) Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần II.

63. Huỳnh Như Phương (1988), “Cảm hứng phê phán trong văn chương hiện nay”,

Báo Văn nghệ, (24).

64. Huỳnh Như Phương (1991), “Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa

nền văn học”, Tạp chí Văn học, (4).

65. G. Pospelov (chủ biên) (1993), Dẫn luận nghiên cứu văn học (2 tập), Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

66. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ GD & ĐT, Vụ

giáo viên, Hà Nội.

67. Trần Đình Sử (chủ biên) (2000), Tự sự học một số vấn đề lý luận và lịch sử (2

tập), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.

68. Tzvetan Todorov (2008), Thi pháp văn xuôi, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội.

69. Nguyễn Thị Kim Tiến (2010), “Tiểu thuyết lịch sử đương đại với quan niệm

nghệ thuật về con người”, Tạp chí Sông Hương, (256).

70. Phạm Xuân Thạch (2004), “Quá trình cá nhân hóa hư cấu – Tự sự đương đại về

đề tài lịch sử”, (Kỷ yếu) Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần II.

71. Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể

loại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

72. Bùi Việt Thắng (2002), “Tứ tử trình làng” (Lời giới thiệu), Truyện ngắn bốn cây

bút nữ, Nxb Văn học, Hà Nội.

73. Đoàn Cầm Thi (2004), Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam

đương đại, Nguồn: evan.vnexpress.net

74. Nguyễn Thành Thi (2010), Văn học – thế giới mở, Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh.

75. Nguyễn Huy Thiệp (2010), Giăng lưới bắt chim (Tập tiểu luận), Nxb Thanh

niên, Hà Nội.

76. Bích Thủy (thực hiện) (2005), “Võ Thị Hảo: sứ mệnh nhà văn là thức tỉnh lương

tri”, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, NXB Phụ Nữ, Hà Nội.

77. Bùi Thị Thủy (2008), “Dấu hiệu nữ quyền trong văn nữ Việt Nam đương đại”,

Hội nhà văn Việt Nam, Nguồn: phienbancu.vanvn.net.

78. Khuất Quang Thụy (1989), “Sự thật về con người – một đòi hỏi khe khắt của

nghệ thuật tiểu thuyết”, Văn nghệ, (32).

79. Phùng Gia Thế ( 2007), “Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau

1986”, Văn nghệ, (8/12/2007).

80. Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương thẫm mĩ và văn hóa, Nxb Giáo dục, Tp Hồ Chí

Minh.

81. Bùi Thanh Truyền (2008), “Sự đổi mới của truyện có yếu tố kỳ ảo sau 1986 qua

hệ thống ngôn từ”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (12).

82. Hoàng Thị Văn (2001), Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập

niên 90, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh.

A. TÁC PHẨM VĂN HỌC

83. Tạ Duy Anh (1990), Bước qua lời nguyền, Nxb Văn học, Hà Nội.

84. Tạ Duy Anh (1994), Luân hồi, Nxb Văn học, Hà Nội.

85. Hoài Anh (2006), Tuyển tập truyện lịch sử (Mê Linh tụ nghĩa, quyển 3), Nxb

Văn học, Hà Nội.

86. Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ (2002), Truyện

ngắn bốn cây bút nữ, Nxb Văn học, Hà Nội.

87. Nguyễn Văn Bình (2009), Lững thững với ngàn năm (tản văn), Nxb Phụ nữ, Hà

Nội.

88. Nguyễn Minh Châu (1994), Tuyển tập Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn học, Hà

Nội.

89. Trung Trung Đỉnh (2009), Sống khó hơn là chết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

90. Trung Trung Đỉnh (2010), Lạc rừng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

91. Võ Thị Hảo (2005), Người sót lại của rừng cười (Tập truyện ngắn), Nxb Phụ

Nữ, Hà Nội.

92. Võ Thị Hảo (2005), Hồn trinh nữ (Tập truyện ngắn), Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.

93. Võ Thị Hảo (2005), Góa phụ đen (Tập truyện ngắn), Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.

94. Võ Thị Hảo (2005), Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm (Tập truyện

ngắn), NXB Phụ Nữ, Hà Nội.

95. Võ Thị Hảo (2005), Giàn thiêu (tiểu thuyết), Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.

96. Nguyễn Thị Hậu (2010), Quay qua quay lại (tản văn), Nxb Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh.

97. Phạm Thị Hoài (1989), Mê lộ (Tập truyện ngắn), Nxb Tổng hợp Phú Khánh,

Phú Khánh.

98. Phạm Thị Hoài (1995), Thiên sứ (tiểu thuyết), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

99. Trầm Hương (1994), Người đàn bà trong thu tím (Tập truyện ngắn), Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội.

100. Dương Hướng (2005), Bóng đêm và mặt trời, Bến không chồng (tiểu thuyết),

Nxb Công an nhân dân.

101. Nguyễn Bình Phương (2002), Những đứa trẻ chết già, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

102. Nguyễn Bình Phương (2004), Thoạt kỳ thủy, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

103. Ma Văn Kháng (2005), Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết), Nxb

Công an nhân dân.

104. Nguyễn Xuân Khánh (2006), Mẫu thượng ngàn (tiểu thuyết), Nxb Phụ Nữ, Hà

Nội.

105. Lê Minh Khuê (2008), Những ngôi sao, trái đất và dòng sông (Tập truyện

ngắn), Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.

106. Lý Lan (2009), Bày tỏ tình yêu (Tập truyện ngắn), Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí

Minh.

107. Lý Lan (2010), Tiểu thuyết đàn bà (tiểu thuyết), Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí

Minh.

108. Phạm Xuân Nguyên (tuyển chọn) (2007), Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam (1975

– 2007), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

109. Nhiều tác giả (2003), Truyện ngắn Việt Nam thế kỷ XX giai đoạn 1976 – 2000 (2

tập), Nxb Kim Đồng, Đà Nẵng.

110. Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn nữ 2000 – 2009, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

111. Trần Thùy Mai (2009), Trăng nơi đáy giếng (Tập truyện ngắn), Nxb Thanh niên,

Hà Nội.

112. Nguyễn Thị Miền (2005), Cúc tần (Tản văn và truyện), Nxb Hội nhà văn, Hà

Nội.

113. Bảo Ninh (2006), Nỗi buồn chiến tranh (tiểu thuyết), Nxb Văn học, Hà Nội.

114. Dạ Ngân (2006), Gia đình bé mọn (tiểu thuyết), Nxb Thanh niên, Tp Hồ Chí

Minh.

115. Dạ Ngân (2010), Gánh đàn bà (tạp văn), Nxb Thanh niên, Tp Hồ Chí Minh.

116. Nguyễn Huy Thiệp (2005), Tập truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

117. Trần Nhã Thụy (2010), Cuộc đời vui quá không buồn được (tản văn), Nxb Phụ

nữ, Hà Nội.

118. Nguyễn Ngọc Tư (2008), Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn), Nxb Trẻ, Tp Hồ

Chí Minh.

119. Nguyễn Ngọc Tư (2010), Yêu người ngóng núi, Nxb Trẻ, Tp Hồ CHí Minh.

120. Hòa Vang (2009), Sự tích những ngày đẹp trời (Tập truyện ngắn), Nxb Văn hóa

dân tộc, Hà Nội.

---------------------------------------------------