intTypePromotion=1

Luận văn Thạc sỹ: Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Chia sẻ: Nguyễn Đình Quỳnh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:128

0
226
lượt xem
68
download

Luận văn Thạc sỹ: Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sỹ: Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam nhằm dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý CTSV ở Trường ĐHHHVN, nghiên cứu đề xuất các biện pháp QLSV nội trú tại Trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác QLSV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường.

 

 

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sỹ: Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

  1. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo   của mỗi quốc gia  đóng vai trò then chốt, trọng yếu trong việc  đào tạo  nguồn nhân lực phục   vụ  cho sự  nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trải qua  gần 30 năm đổi mới, Đảng sớm thấy được vai trò to lớn của nguồn nhân   lực đối với phát triển kinh tế  ­ xã hội và việc phát triển nguồn nhân lực  thông qua giáo dục và đào tạo. Đảng ta giáo dục và đào tạo coi cùng với  khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của   CNH, HĐH. Cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá   độ lên CNXH năm 2011 (tại Đại hội XI) xác định: “Phát triển và nâng cao  chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá  chiến lược”.  Đặc biệt, tháng 11 năm 2013, tại Hội nghị  lần thứ  8 Ban   Chấp hành Trung  ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị  quyết số  29­ NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”. Trong đó,  “phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ  tiên tiến  trong khu vực”. Giáo dục Đại học có một sứ  mệnh rất to lớn là đào tạo nguồn nhân  lực để  phát triển đất nước theo yêu cầu của Đảng. Giáo dục Đại học   không chỉ nghiêng về đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà phải hết   sức chú ý đến giáo dục đạo đức, lý tưởng làm người. Muốn vậy Nhà  trường   Đại  học phải  coi  trọng quản lý  công tác sinh viên,   đây là một   nhiệm vụ quan trọng, phức tạp, nặng nề có tác dụng mạnh mẽ đối với chất  lượng đào tạo của các Trường đại học. Trường  Đại   học   Hàng   hải  được   thành   lập   theo   Quyết   định  số  2624/QĐ­TC ngày 7 tháng 7 năm 1976 của Bộ  trưởng Bộ  giao thông vận  tải.  Ngày 03 tháng 7 năm 2013, Thủ  tướng Chính phủ  ra Quyết định số  1056/QĐ­TTg về  việc đổi tên Trường Đại học Hàng hải thành Trường   Đại học Hàng hải Việt Nam. Là một Trường công lập, tọa lạc tại Thành 
  2. 2 phố Hải Phòng, một thành phố đang ra sức hội nhập, phát triển, một thành   phố năng động nhưng cũng bị  tác động thường xuyên của mặt trái cơ  chế  thị  Trường. Một Nhà trường có tính chất quản lý theo phương thức bán  quân sự, có 2 khu KTX để sinh viên ở nội trú, gần 20% SV của Nhà trường  ở   trong   KTX,   do   vậy,   Trường  ĐHHHVN   luôn   coi  CTSV   là   một   trong  những nhiệm vụ trọng tâm. Nhà trường chăm lo, tạo mọi điều kiện thuận  lợi cho SV trong học tập, nghiên cứu và sinh hoạt, nhằm thực hiện mục   tiêu là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức   khỏe và ý thức nghề nghiệp cao, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc   và CNXH, sớm có khả  năng đáp  ứng thích nghi với yêu cầu và thực tiễn  của ngành Hàng hải. Quản lý CTSV được xây dựng trên cở sở cụ thể hóa   Thông tư, Quyết định của Bộ  Giáo dục và Đào tạo và bổ sung thêm một  số  điều khoản để  phù hợp với những đặc điểm của Nhà trường bán quân  sự. Từ  năm 2010, Tổ  chức Hàng hải Quốc tế  (IMO) triển khai kiểm tra  việc thực hiện các công  ước quốc tế  quy định về  vấn đề  đào tạo thuyền  viên, việc cấp các chứng chỉ có liên quan cho thuyền viên tại các cơ sở đào  tạo có đáp  ứng các yêu cầu đề  ra trong công  ước quốc tế  không?. Như  vậy, việc rèn luyện SV có tác phong quân sự  của Trường ĐHHHVN ngày  càng trở nên cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu công việc trên các tàu trong khu   vực và trên thế giới. Đã có các công trình nghiên cứu về  việc nâng cao công tác QLSV  nhằm theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của SV, tuy nhiên việc   phân tích, đánh giá hiện trạng và đề  ra giải pháp nhằm QLSV nội trú tại   Trường ĐHHHVN thì chưa có công trình nào được công bố.  Là một người  trực tiếp làm công tác quản lý sinh viên, với mong muốn ứng dụng những   kiến thức đã học cao học cũng như  với kinh nghiệm của bản thân, góp  phần nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý của Nhà trường, vì  vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại   Trường Đại học Hàng hải Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
  3. 3 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng  quản lý CTSV  ở  Trường  ĐHHHVN,  nghiên cứu  đề  xuất  các biện pháp  QLSV nội trú tại Trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác QLSV,  góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ­ Xác định cơ sở lý luận về QLSV nội trú tại các Trường ĐH. ­  Khảo   sát,   đánh   giá   thực   trạng   công   tác   QLSV   nội   trú   ở   Trường   ĐHHHVN. ­ Đề xuất các biện pháp QLSV nội trú tại Trường ĐHHHVN. ­ Thăm dò tính khả thi của biện pháp QLSV nội trú. 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ­ Khách thể nghiên cứu: CTSV ở Trường ĐH. ­ Đối tượng nghiên cứu: QLSV nội trú tại Trường ĐHHHVN. 5. Vấn đề nghiên cứu Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau: ­ QLSV gồm những nội dung nào?. Nói cách khác đề  tài phải làm rõ   các nội dung trong QLSV nội trú. ­ Để đảm bảo hiệu quả trong quản lý CTSV nội trú có cần thiết phải   có các biện pháp quản lý phù hợp hay không và biện pháp như thế  nào thì  hợp lý và có tính khoa học?. 6. Giả thuyết khoa học Hiện nay, nếu có các biện pháp quản lý CTSV nội trú phù hợp với quy  luật khách quan, xây dựng và triển khai đồng bộ thì sẽ  góp phần nâng cao  hiệu quả quản lý CTSV nội trú ở Trường ĐHHHVN. 7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
  4. 4 ­ Đề tài giới hạn ở phạm vi học tập và rèn luyện tại KTX của SV nội   trú. ­ Khảo sát và sử dụng số liệu từ năm 2009 trở lại đây. 8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ­ Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa các lý luận QLSV nội trú, chỉ ra những  bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để có đề xuất   các biện pháp QLSV. ­ Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các  Trường ĐH khác đang quản lý sinh viên. Luận văn là tài liệu tham khảo có   giá trị cho các nhà quản lý giáo dục. 9. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:   ­ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổ  hợp các công  trình khoa học về  QLSV và biện pháp quản lý CTSV; các văn kiện của  Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, Quy chế, Quy định của Bộ Giáo  dục và Đào tạo, Bộ Giao thông vận tải. ­  Nhóm   phương  pháp  nghiên  cứu  thực  tiễn:  Phương  pháp   điều  tra  bằng phiếu hỏi; quan sát, khảo sát thực tế; phương pháp tham vấn chuyên  gia; phương pháp phỏng vấn, trao đổi giữa cán bộ quản lý và SV. ­ Nhóm phương pháp xử  lý thông tin nghiên cứu:  Phương  pháp sử  dụng các ứng dụng tin học, toán thống kê; phương pháp phân tích, so sánh,   tổng hợp. 10. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở  đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và  phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên ở các Trường Đại học Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên nội trú tại Trường  Đại học Hàng hải Việt Nam 
  5. 5 Chương 3:  Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú  tại Trường Đại  học Hàng hải Việt Nam CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ  SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, đượ c thực hiện  một cách tự  giác, vượt qua ngưỡng “t ập tính” của các giống loài động  vật bậc thấp khác. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người,   sự  ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự  ra đời của hoạt độ ng   quản lý giáo dục và từ  đó cũng xuất hiện khoa học về  QLGD. Ng ười   học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất  lượng   đào   tạo   ngoài   việc   xem   xét   các   yếu   tố   người   dạy,   nội   dung,   chương trình, cơ  sở  vật chất... thì không thể  không nghiên cứu trực tiếp  là đối tượng người học. Xung quanh v ấn đề  người học có rất nhiều vấn 
  6. 6 đề  cần nghiên cứu trong đó có vấn đề  người học trong quá trình đào tạo  tại các cơ sở giáo dục ở trong KNT. Năm   1997,  Bộ  GD&ĐT   ban  hành  “Quy  chế   học  sinh,   SV  nội  trú  trong các Trường ĐH, cao đẳng, TCCN” nhằm quy định rõ trách nhiệm   và quyền hạn của các Trường trong việc tổ ch ức qu ản lý KNT, quyền và   nghĩa vụ  của học sinh, SV trong các khâu liên quan đến việc ăn,  ở, học  tập, sinh hoạt... trong khuôn viên nội trú của các trường đào tạo. Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18 tháng  10 năm 2002, Bộ  trưởng Bộ  GD&ĐT đã ký Quyết định số  41/2002/QĐ­ BGD&ĐT về việc sửa đổi bổ xung công tác HSSV nội trú.  Trên cơ  sở  các văn bản quy định của Nhà nước, quy chế  về  công tác  HSSV   của   Bộ   Giáo   dục   và   Đào   tạo   ban   hành   kèm   theo   Quyết   định   số  42/2007/QĐ­BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục  và Đào tạo, các quy chế  về  QLSV nội trú, ngoại trú; Quy chế  đánh giá kết  quả  rèn luyện của SV, các văn bản về  việc thực hiện chế  độ  ưu đãi trong  giáo dục đối với SV diện đối tượng chính sách, chế độ miễn giảm học phí... Ngày   26/7/2011   Bộ   Giáo   dục   và   Đào   tạo   đã   ký   Thông   tư   số  27/2011/TT­BGD&ĐT về  việc Ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú  tại các cơ  sở  giáo dục thuộc hệ  thống giáo dục quốc dân. Thông tư  này   có hiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8 năm 2011 và thay thế Quyết định số  2137/GD­ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ tr ưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về  việc ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú trong các Trường ĐH, Cao  đẳng,   Trung   học   chuyên   nghiệp   và   dạy   nghề;   Quyết   định   số  41/2002/QĐ­BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ tr ưởng B ộ Giáo  dục và Đào tạo. Trước đây, phần lớn SV đến học tại các Trường ĐH, Cao đẳng hầu  hết đều được ở trong KTX nhưng hiện nay nhu cầu  ở KTX của SV tại các  cơ sở GDĐH không đáp ứng được vì quy mô đào tạo của các Trường ĐH,   Cao đẳng trong những năm gần đây phát triển không ngừng. Vấn đề nghiên  cứu về  quản lý SV nội trú ít được đề  cập; có chăng cũng chỉ  là những 
  7. 7 nghiên cứu liên quan đến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc  học khác nhau như: Nguyễn Hữu Hợp (chủ  biên), Nguyễn Dục Quang ­   “Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp  ở  Trường tiểu học” (Giáo trình dành  cho hệ tại chức đào tạo giáo viên tiểu học) ­ Trường ĐH Sư phạm Hà Nội,   Hà Nội, 1995.   Quản lý SV nội trú là vấn đề  mới chưa được nghiên cứu nhiều tuy  nhiên có một số tác giả nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau   về  quản lý người học. Có thể  kể  đến các công trình sau: Đề  tài luận văn   thạc sỹ QLGD: “Biện pháp quản lý học sinh nội trú ở Trường trung cấp kỹ   thuật nghiệp vụ  Hải Phòng” của Nguyễn Thị Xuân năm 2011 đã đánh giá  thực trạng công tác quản lý học sinh nội trú tại Trường Trung cấp kỹ thuật   nghiệp vụ Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao công   tác quản lý đối với SV nội trú; Đối với đề  tài nghiên cứu việc QLSV nội   trú vùng miền núi phía bắc có công trình nghiên cứu của Nguyễn Thanh   Bình: “Biện pháp QLSV nội trú ở Trường CĐSP Yên Bái” năm 2012 đã đánh  giá thực trạng công tác quản lý SV nội trú của Trường CĐSP Hòa Bình và  đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao biện pháp quản lý SV nội trú;  luận văn thạc sĩ QLGD: “Biện pháp quản lý CTSV tại Trường Cao đẳng du   lịch Hà Nội” của tác giả Nguyễn Huyền Trang năm 2012 đề  cập đến một  số  biện pháp hoàn thiện công tác QLSV tại Trường Cao đẳng du lịch Hà  Nội. Một số  nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trên  nhiều lĩnh vực của các Nhà trường và đề  xuất các biện pháp quản lý, góp  phần vận dụng những hiểu biết về quản lý, quản lý giáo dục vào công tác   QLSV trong các Trường ĐH, cao đẳng để từng bước nâng cao chất lượng  Giáo dục và Đào tạo theo yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.  Công tác học sinh, SV là một trong những nội dung quan trọng trong  việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Nhà trường Muốn phát triển  kinh tế  ­ xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược  phát triển toàn diện con người. Ở Việt Nam hiện nay, khi chuyển sang nền   kinh tế  thị  trường, đời sống vật chất của dân ta được cải thiện và ngày  
  8. 8 càng được nâng cao, nhân cách của con người đã có những biến đổi, bên  cạnh mặt tích cực cũng có những mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác  giáo dục trong Nhà trường. Tình trạng suy thoái về  lối sống, đạo đức của  một bộ  phận SV,  ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chán học, hay bỏ  học, động cơ  học tập chưa rõ ràng, các tệ  nạn xã hội len lỏi vào Nhà   trường, đây cũng là một trong những vấn đề xã hội trong thời gian gần đây.  Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trong  đó có QLSV nội trú và từ  đó đề  xuất các biện pháp quản lý. Tuy nhiên   những nghiên cứu cụ  thể  áp dụng trong những môi trường cụ  thể, của   từng Trường trong khi đó công tác quản lý SV nội trú lại phụ  thuộc vào   đặc thù của từng Nhà trường Trường ĐHHHVN cũng gặp phải vấn đề  trong công tác quản lý SV   như  các Trường khác nói chung nhưng xuất phát từ  đặc điểm riêng của   Trường nên không thể áp dụng biện pháp quản lý của một Trường khác.  Do vậy, vấn đề  “Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại   học Hàng hải Việt Nam” là vấn đề cần được nghiên cứu. 1.2. Một số khái niệm cơ bản 1.2.1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và  hoạt động ngày càng phát triển trong xã hội. Trong quá trình lãnh đạo, đấu  tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, con người cần phải hợp sức  nhau lại để tự bảo vệ và kiếm kế sinh sống. Những hoạt động tổ chức, chỉ  đạo, điều khiển... các hoạt động của con người nhằm thực hiện những  mục tiêu chung là những dấu hiệu đầu tiên của quản lý. Như  vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ  rất sớm và trải qua tiến   trình phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, thì hoạt động quản  lý cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện và trở  thành một hoạt động phổ  biến. F.W. Taylor và Henri Fayol thường được xem là cha đẻ  của thuyết   quản lý khoa học. Các ông đã khẳng định hoạt động quản lý  ở  bất kỳ  tổ 
  9. 9 chức nào cũng đều có các hoạt động cơ  bản liên quan đến các chức năng  kế  hoạch, tổ chức, chỉ đọa và kiểm tra trên cơ  sở  thu thập và xử  lý thông  tin. Khoa học quản lý phát triển khá mạnh trong giai đoạn cuối thế kỷ XX,   đầu thế kỷ XXI và nhiều quan điểm mới đã xuất hiện. Còn nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về  nội dung,  thuật ngữ “quản lý”, có thể nêu một số định nghĩa như sau: ­ Theo lý luận của chủ nghĩa Mác ­ Lênin về quản lý: Quản lý xã hội   một cách khoa học là sự  tác động có ý thức của chủ  thể  quản lý đối với  toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận   thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó  nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra. ­ Quản lý là nghệ  thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm   cái đó như  thế  nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ  nhất (William ­ Tay  Lor). ­ Chủ tịch Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm riêng nào về quản  lý, nhưng bằng những lời dạy của Người, đặc biệt qua tác phẩm “Sửa đổi   lối làm việc”, viết tại chiến khu Việt Bắc năm 1947, “Ngục trung nhật   ký” viết năm 1942 ­ 1943, và một số  bài nói; Đặc biệt là tấm gương đạo  đức  ứng xửu của Người trong suốt cuộc đời, Người đã tạo nên một tập  “Đại thành” về quản lý. Với Hồ  Chí Minh: Quản lý là sự  đi thức tỉnh tâm   hồn con người (mỗi con người đều có cái thiện, cái ác trong người, ta phải  làm thế  nào cho phần thiện tốt tươi như  hoa mùa xuân và phần xấu mát  dần đi); Quản lý phải đúng và khéo; Quản lý phải cần song phải cẩn (Cần   là siêng năng, cẩn là cẩn thận).  ­ Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn  Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến  mục tiêu của tổ  chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế  hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [3, tr. 1]. ­ Tác giả  Đặng Xuân Hải ­ Nguyễn Sỹ  Thư:   Quản lý là một hoạt   động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ  lực hoạt động cá nhân 
  10. 10 nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình  thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích   của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. ­ Quản lý là dạng dao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính  tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống  nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng  đểtạo hiệu quả quản lý (Mai Hữu Khuê ­ Học viện Hành chính quốc gia). ­ Quản lý là một hệ  thống xã hội mang tính khoa học và nghệ  thuật  tác động vào từng thành tố  của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt  mục tiêu đã đề  ra (Nguyễn Văn Lê ­ ĐH Quốc gia Thành phố  Hồ  Chí   Minh). ­ Tác giả  Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị  Mỹ  Lộc: “Quản lý là sự  tác động có định hướng, có chủ  đích của chủ  thể quản lý (người quản lý)  đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức ­ nhằm làm cho tổ  chức vận hành và đạt được mục đích của tổ  chức”. Cũng theo đó các tác   giả  còn phân định rõ hơn về  hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục   tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế  hoạch  hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [10, tr. 1]. ­ Trong cuốn:  “Khoa học  tổ  chức  và  quản lý” của nhiều tác giả:  Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí, cho rằng: “Hoạt  động quản lý nhằm làm cho hệ  thống vận động theo mục tiêu đặt ra tính   đến trạng thái có chất lượng mới” [3, tr. 176]. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về  quản lý, song một cách tổng quát nhất có thể  khái quát: Quản lý là cách  thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích...) của chủ thể quản lý  lên chủ thể bị quản lý bằng các chế  định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân  lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ  quan quản lý hoặc người   quản lý nhằm sử  dụng có hiệu quả  nhất các tiềm năng, các cơ  hội của tổ  chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động. * Chức năng quản lý: 
  11. 11 ­ Lập kế hoạch (thiết kế mục tiêu, chương trình hành động). ­ Tổ chức thực hiện (phân công công việc, sắp xếp con người). ­  Chỉ đạo điều hành. ­ Kiểm tra (giám sát hoạt động của bộ máy nhằm kịp thời điều chỉnh  sai sót, đưa bộ máy đạt mục tiêu đã xác định). ­ Thông tin (là công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý, cần  thiết cho tất cả các chức năng quản lý. Đây là quá trình hai chiều, trong đó  mỗi người vừa là nguồn phát vừa là nguồn thu nhận) [26, tr. 2]. Có bốn chức năng cơ  bản của quản lý liên quan mật thiết với nhau,   đó là: lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực  hiện; kiểm tra đánh giá, trong đó  thông tin là trung tâm của quản lý. Bốn chức năng trên quan hệ  với nhau tạo thành một chu trình quản  lý, được biểu diễn bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý Kế hoạch Kiểm tra  Thông tin  Tổ chức  quản lý  Chỉ đạo  ­ Lập kế hoạch: Bao gồm việc xác định sứ mệnh, nhiệm vụ, dự báo  xu hướng trong tương lai của tổ chức trên cơ  sở  thu thập và phân tích các   thông tin và điều kiện thực tế  của tổ  chức. Từ đó, xác định các mục tiêu,  các kế  hoạch mang tính chiến lược, chiến thu ật d ựa trên việc tính toán  về  điều kiện thực tế  các nguồn lực của tổ  chức và xây dựng các giải  pháp thực hiện. Thực chất c ủa vi ệc l ập k ế  ho ạch là xác định mục tiêu  
  12. 12 của tổ chức và cách thức hoạt động, thực hiện của tổ chức để  đặt đượ c   mục tiêu đó trong điều kiện nhất định. ­ Tổ chức: Chức năng này được xem như là công cụ  của quản lý và  có ý nghĩa quan trọng nhất trong hoạt động quản lý. Hoạt động quản lý có  đạt được mục tiêu hay không, có thực hiện được kế hoạch hoặc không thì  công tác tổ chức giữ vai trò quyết định, đó chính là việc sắp xếp, lựa chọn  các nguồn lực và xây dựng một cơ  cấu hợp lý dựa trên việc phân tích các  nhiệm vụ nhằm thực hiện được kế hoạch mục tiêu đã đề ra. ­ Lãnh đạo: Việc thống nhất một đường lối hành động mà mọi bộ  phận của tổ  chức phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu cần thiết.  Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này thì chức năng lãnh đạo của nhà  quản lý phải được thực hiện một cách có hiệu quả. Đó là quá trình điều   hành, điều khiển người bị lãnh đạo hoạt động theo sự lãnh đạo thống nhất  thông qua việc hướng dẫn, động viên giúp cho họ nhiệt tình, hăng say và có   ý thức tự giác sáng tạo, hoàn thành các công việc được giao. ­ Kiểm tra: Đối với hoạt động quản lý thì kiểm tra, đánh giá là khâu   quan trọng, then chốt giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả  thực hiện   mục tiêu kế hoạch trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn theo quy định. Mặt   khác, kiểm  tra  đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý phát hiện  được  những hạn chế  của hệ  thống để  kịp thời điều chỉnh hoạt động và trong  những Trường hợp cần thiết có thể phải điều chỉnh cả mục tiêu để  thông   qua việc điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo để hoạt động quản lý đạt   được mục tiêu quản lý. Bên cạnh 4 chức năng cơ bản của quản lý, còn rất nhiều vấn đề liên   quan khác như: Dự  đoán; động viên; điều chỉnh, đánh giá, thông tin phản   hồi, ra quyết định... Các chức năng cơ  bản của quản lý tạo thành một hệ  thống thống nhất, không được coi nhẹ  một chức năng nào. Để  các chức   năng của quản lý vận hành có hiệu quả, vấn đề  thông tin đóng vai trò là   trung tâm; tất cả các chức năng của quản lý thực hiện được đều phải đảm   bảo sự thu thập thông tin; phân tích thông tin và ra quyết định quản lý cho  
  13. 13 đúng đắn. Vì thông   tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý   đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo. Công tác kiểm tra có 3 yếu tố cơ bản: + Xây dựng chuẩn kiểm tra. + Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn kiểm tra. + Điều chỉnh hoạt  động hoặc điều chỉnh mục tiêu (trong Trường   hợp cần thiết). ­ Ngoài 4 chức năng quản lý cơ  bản trên, trong thực hiện quá trình  quản lý không thể không đề cập đến thông tin quản lý và quyết định quản  lý. + Thông tin quản lý là những dữ  liệu về  tình hình thực hiện các  nhiệm vụ  đã đượ c xử  lý giúp ngườ i quản lý hiểu đúng về  đối tượ ng  quản lý mà họ  đang quan tâm để  phục vụ  cho việc  đưa ra các quyết  định quản lý cần thiết. + Quyết định quản lý, là sản phẩm của người quản lý trong quá trình  thực hiện các chức năng quản lý. Mỗi chức năng có vị trí, vai trò riêng, song  nó luôn quan hệ  khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành chu trình  quản lý, trong đó chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là  thông tin quản lý và quyết định quản lý. * Phương pháp quản lý: Phương pháp quản lý là cách thức tác động  của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đặt   ra. Trong quản lý hiện đại, phương pháp quản lý được đúc kết từ  nhiều   lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội và khoa học hành vi. Phương pháp  quản lý rất phong phú, đa dạng và tùy theo từng tình huống cụ  thể  mà sử  dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau. ­ Phương pháp thuyết phục: là phương pháp dùng lý lẽ  để  tác động  đến nhận thức của con người. ­ Phương pháp kinh tế: là sự  tác động của chủ  thể  đến đối tượng   thông qua các lợi ích kinh tế.
  14. 14 ­ Phương pháp hành chính tổ chức: là cách thức tác động của chủ  thể  tới đối tượng trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính. ­ Phương pháp tâm lý, giáo dục: đây là cách thức tác động đến đối  tượng thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng. 1.2.2. Quản lý giáo dục  Giáo dục  là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự  truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử  ­ xã hội của các thế  hệ  loài  người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn   hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội  loài người không ngừng tiến lên  41, tr. 9 . Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý mọi  hoạt động giáo dục trong xã hội. Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục theo cách tiếp  cận khác nhau:  Theo tác giả Khuđôminski: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống,  có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác  nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo   dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và  hài hòa của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có  của CNXH cũng như  những quy luật khách quan của quá trình dạy học ­  giáo dục, của sự  phát triển về  thể  chất và tâm lý của trẻ  em, thiếu niên  cũng như thanh niên” [22, tr. 10]. Có tác giả  nói: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động  điều hành, phối hợp các lực lượng trong xã hội nhằm thúc đẩy mảng công  tác đào tạo thế  hệ  trẻ  theo yêu cầu phát triển xã hội. Bên cạnh đó có tác  giả cho quản lý giáo dục là quản lý Trường học, thực hiện đường lối giáo  dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa Nhà trường   vận hành theo nguyên lý giáo dục để  tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu   đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Từ các   quan điểm trên có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống những  
  15. 15 tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong  hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ  sở  giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi  dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực  lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thể  hệ  trẻ  theo yêu cầu phát triển xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời luôn coi trọng giáo dục, Người đã dày  công chỉ  đạo và xây dựng nền giáo dục Việt Nam phát triển trong sự  gắn   bó với quá trình bảo vệ đất nước, xây dựng nền văn hóa mới, nền kinh tế  mới. Với sự  chỉ  đạo của Người, Việt Nam đã xây dựng nhanh được nền  giáo dục toàn dân, quán triệt tính dân tộc, tính đại chúng, tính nhân văn, tính  khoa học với mục tiêu cao cả là phát triển giáo dục vì lợi ích của đất nước,   lợi ích của người học. Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở  thành cơ  sở  lý luận cho đường lối chính sách giáo dục, cho sự  phát triển   khoa học giáo dục Việt Nam, cho việc phát triển Nhà trường Tư tưởng của   Người là kim chỉ nam cho quan điểm hành động của mỗi cán bộ  giáo dục   từ  người điều hành vĩ mô, người làm chính sách giáo dục, người quản lý  Nhà trường đến mỗi thầy cô giáo trên bục giảng. Do đó công tác quản lý   giáo dục càng cần được coi trọng. Nói một cách khái quát: Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội,  đồng thời là một dạng lao động đặc biệt, mà những nét đặc trưng của nó là   tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục   đích đặt ra có kết quả là sự cải biến hiện thực. Do đó chủ thể quản lý phải   biết sử dụng không chỉ những chuẩn mực pháp quyền, mà còn sử dụng cả  những chuẩn mực đạo đức, xã hội, tâm lý... nhằm đảm bảo sự thống nhất   và những mối quan hệ trong quá trình quản lý [23, tr. 18]. Chính sách quản lý nhà nước về  giáo dục được quy định tại Điều 14   của luật giáo dục năm 2005 là: Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo  dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu   chuẩn nhà giáo, quy chế  thi cử, hệ  thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung  
  16. 16 quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp QLGD, tăng   cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục. Quản lý giáo dục có những đặc trưng sau đây: ­ Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên   quản lý giáo dục không phải dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản   phẩm, cũng như không được phép tạo ra phế phẩm. ­ Quản lý giáo dục chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm sư phạm so  với lao động xã hội nói chung. ­ Quản lý giáo dục đòi hỏi những yêu cầu cao về  tính toàn diện, tính  thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển. ­  Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, quản lý giáo dục phải quán  triệt quan điểm vì quần chúng [32, tr. 7]. Tuỳ  theo việc xác định đối tượng quản lý mà quản lý giáo dục có  nhiều cấp độ  khác nhau cả  về  tầm vĩ mô và tầm vi mô.  Ở  tầm vĩ mô,   người ta thường nói đến quản lý hệ  thống giáo dục quốc dân ở tầm quốc  gia, trong phạm vi một cơ  sở  giáo dục, người ta thường nói đến quản lý  Nhà trường hay còn gọi là quản lý Trường học. 1.2.3. Quản lý Nhà trường  Tại Điều 48, Luật Giáo dục năm 2005 quy định Nhà trường trong hệ  thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây: ­ Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật   chất, đảm bảo kinh phí cho nhiệm vụ chi thường xuyên. ­ Trường dân lập do cộng đồng dân cư  ở  cơ sở  thành lập, đầu tư  xây  dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động. ­ Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội ­ nghề nghiệp,   tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và   bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước. Trong hệ  thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều  được   thành lập theo quy hoạch, kế  hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự  nghiệp giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện để  trường công lập giữ  vai trò 
  17. 17 nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường là thiết chế  xã hội, là một tổ  chức chuyên biệt trong xã   hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ  cho sự  duy trì và   phát triển của xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản. Quản lý Nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt   liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi Nhà trường. Đó là một hệ  thống những hoạt động có mục đích, có kế  hoạch hợp quy luật của chủ  thể  quản lý giáo dục để  đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng giai  đoạn phát triển của đất nước. Quản lý Nhà trường là một khoa học được thực hiện trên những quy  luật chung của khoa học quản lý, đồng thời có nét đặc thù riêng. Đó cũng là  những nét quy định của bản chất của sự lao động. Theo tác giả  Phạm Minh Hạc: “Qu ản lý Nhà trường  ở  Việt Nam là  thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của  mình, tức là đưa Nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để  tiến   tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế  hệ trẻ và từng học sinh” [17, tr. 34]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý Nhà trường là quản   lý quá trình dạy và quá trình học, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái này   sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục đích giáo dục” [26, tr. 34].  Lao động ở môi trường giáo dục là lao động sư  phạm của người giáo  viên mà đối tượng tác động chính là học sinh. Học sinh vừa là chủ  thể,  khách thể  của hoạt động dạy và hoạt động. Sản phẩm đào tạo của Nhà  trường chính là nhân cách, phẩm chất. Nói cách khác quản lý Nhà trường   chính là quá trình tổ  chức giáo dục và đào tạo nhằm hoàn thiện và phát  triển nhân cách của học sinh một cách khoa học, có hiệu quả, đạt chuẩn   để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.  Vậy bản chất của quản lý  Nhà trường là quản lý hoạt động dạy và hoạt động học, tức là tác động làm  sao đưa hoạt động đó từ  trạng thái này tới trạng thái khác để  dần tiến tới  hoàn thành mục tiêu giáo dục, mục tiêu  đào tạo trên phạm vi của một 
  18. 18 Trường. 1.2.4. Sinh viên và sinh viên nội trú Sinh viên Điều 83 Luật giáo dục năm 2005 quy định: Người học là người đang  học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Người học bao   gồm: a) Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non; b) Học sinh của cơ  sở  giáo dục phổ  thông, lớp dạy nghề, trung tâm  dạy nghề, Trường trung cấp, Trường dự bị ĐH; c) SV của Trường Cao đẳng, Trường ĐH; d) Học viên của cơ sở đào tạo thạc sỹ; đ) Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sỹ; e) Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên. Như  vậy, SV là người đang học tại các Trường ĐH và cao đẳng [38,  tr. 116]. SV là một trong các thành tố  quan trọng, là yếu tố  trung tâm của  quá trình giáo dục [38, tr. 19]. Như vậy, tất cả những người học ở bậc Cao đẳng và ĐH đều được   gọi là SV. Ngày nay, “Học, học nữa, học mãi” (V.I.Lênin) là khẩu hiệu của toàn  xã hội và học tập là công việc suốt đời. Các Trường Cao và ĐH mở  rộng  cửa cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa  tuổi, giới tính, giàu nghèo.... đều có thể  học bằng nhiều con đường, hình   thức khác nhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2... Do đó, với khái niệm SV   như trên thì ngoại diên của nó rất rộng. Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng  là SV hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau: ­ Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông ­ Người đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào Trường ĐH và đỗ vào Trường  ­ Người thuộc nhóm thanh niên, nam nữ từ 18 đến 25 tuổi
  19. 19 ­ Người chưa có nghề  nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ  thuộc  gia đình về kinh tế ­ Người là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các  tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp  chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ. Sinh viên nội trú SV nội trú là những SV ĐH hệ  chính quy đang học tập tại Trường,  hiện đang ở trong KNT của Trường. SV  đăng ký ở nội trú nếu số người có  nguyện vọng vào ở nội trú lớn hơn khả năng tiếp nhận của KNT thì thứ tự  ưu tiên theo đối tượng HSSV như sau: 1. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động, thương   binh bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, SV khuyết tật 2. Con liệt sỹ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng   chính sách thương binh, con của người có công. 3. SV có hộ  khẩu thường trú tại vùng cao, vùng có điều kiện kinh tế  xã hội đặc biệt khó khăn. 4. Người cha hoặc người mẹ là dân tộc thiểu số. 5. Con mồ côi cả cha lẫn mẹ. 6. SV là con hộ nghèo, cận nghèo theo quy định hiện hành của nhà nước. 7. SV nữ. 8. SV tích cực tham gia các hoạt động do Nhà trường, Đoàn TNCS Hồ  Chí Minh, Hội SV, KNT hoặc các tổ chức xã hội tổ chức [33, tr. 4]. SV nội trú phải chịu sự  quản lý của Nhà trường, có nghĩa vụ  thực   hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước và Quy   định CTSV nội trú hiện hành của Nhà trường  1.2.5. Biện pháp quản lý sinh viên nội trú  Biện pháp quản lý SV nội trú là nội dung, cách thức giải quyết vấn đề  SV nội trú của Nhà trường cùng những lực lượng ngoài Nhà trường có liên  quan đến SV nội trú nhằm hình thành nhân cách của SV theo yêu cầu, mục  tiêu đào tạo.
  20. 20 Chủ thể chính thực hiện biện pháp quản lý SV nội trú là phòng CTSV,  BQL KNT, chịu trách nhiệm phối hợp với các tổ  chức đoàn thể  trong Nhà   trường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV, các khoa, bộ môn chuyên môn,  chính quyền địa phương... nhằm thực hiện các biện pháp quản lý do mình  hoạch định đối với đối tượng chịu quản lý là SV nội trú theo yêu cầu của   công tác này. Để đạt các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp,  khích lệ động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý  vào mục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các   công cụ quản lý. Như  vậy, xét cho cùng thì biện pháp quản lý SV nội trú chính là một  loại công cụ quản lý, nhằm từng bước đưa SV nội trú đi đến mục tiêu của   công tác SV nội trú. Bởi công cụ quản lý là những phương tiện, những giải   pháp của chủ  thể  quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa,  phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng trong việc đạt được mục tiêu   đề ra. 1.3. Công tác quản lý sinh viên ở các trường Đại học 1.3.1. Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường   Đại học CTSV là một trong những công tác trọng tâm của Nhà trường Trường   chăm lo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho SV trong học tập, nghiên cứu và  sinh hoạt, nhằm thực hiện mục tiêu là đào tạo con người phát triển toàn  diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và ý thức nghề nghiệp cao, trung thành   với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, sớm có khả  năng đáp  ứng, thích  nghi với yêu cầu và thực tiễn lao động sản xuất. CTSV phải thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật  của Nhà nước, các quy định của Bộ  giáo dục và Đào tạo và các quy định  khác của Trường. CTSV phải đảm bảo khách quan, công bằng, công khai, minh bạch,   dân chủ trong các khâu có liên quan đến SV.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2