
Luật về thươn mại điện tử.
1. Tổng quan pháp luật về thương mại điện tử
Trong bối cảnh công nghệ phát triển với một tốc độ nhanh chóng, pháp luật cần
phải được xây dựng để kịp thời điều chỉnh những hiện tượng xã hội mới phát sinh.
Việc thiếu khung khổ pháp lý trong nhiều hệ thống xét xử để điều chỉnh những vấn
đề liên quan tới hiệu lực pháp lý của các giao dịch điện tử là rào cản rất lớn đối với
sự phát triển của thương mại điện tử.Thực tế, trong những giao dịch thương mại
điện tử, chào hàng, đặt hàng hoặc hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện
tử đã tạo nên một giao dịch điện tử hoàn chỉnh. Tuy nhiên, rất nhiều quy định pháp
lý, liên quan tới hợp đồng và những giao dịch thương mại khác đưa ra đòi hỏi tài
liệu phải ở dạng văn bản, được ký, lưu trữ hoặc dưới hình thức bản gốc.
1.1. Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL

Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996 Uỷ ban Luật
Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một luật mẫu
về thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý
của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho những tổ chức, cá nhân
mong muốn tham gia thương mại điện tử. Luật mẫu có thể được sử dụng như một
tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật về thương mại
điện tử của mình. Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại
điện tử được thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động
thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao dịch bằng phương tiện
điện tử.
Luật mẫu được soạn thảo dựa trên sáu nguyên tắc cơ bản, gồm:
- Tương đương thuộc tính: tài liệu điện tử có thể được coi có giá trị pháp lý như tài
liệu ở dạng văn bản nếu thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;
- Tự do thoả thuận hợp đồng;
- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;
- Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình
thức hợp đồng: những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khả năng
được thi hành phải được tôn trọng;
- Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung: luật chỉ áp dụng đối với
hình thức hợp đồng, mà không đề cập nội dung, trên cơ sở phải thoả mãn những
đòi hỏi pháp lý nhất định;

- Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước. Nhiều quốc gia đã thể hiện các
nguyên tắc và nội dung của Luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật quốc gia
của mình.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới đã khái quát năm vấn đề pháp lý về
thương mại điện tử cần được quy định trong pháp luật quốc gia gồm:
- Thừa nhận các thông điệp dữ liệu: đưa ra các quy định pháp lý đối với các nội
dung giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử;
- Quy định kỹ thuật về chữ ký điện tử nhằm bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, bảo
mật của thông tin được trao đổi trong thương mại điện tử;
- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử;
- Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử;
- Tội phạm và vi phạm trong thương mại điện tử.
1.2. Thừa nhận pháp lý đối với thông điệp dữ liệu
Thông điệp dữ liệu là hình thức thông tin được trao đổi qua phương tiện điện tử
trong các giao dịch thương mại điện tử. Thừa nhận giá trị pháp lý của các thông
điệp dữ liệu là cơ sở cho việc thừa nhận các giao dịch thương mại điện tử, thể hiện
dưới các khía cạnh: có thể thay thế văn bản giấy (hoặc văn bản kèm chữ ký), có giá
trị như bản gốc, có giá trị lưu trữ và chứng cứ, xác định trách nhiệm các bên và
thời gian, địa điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu.
Tài liệu giấy thông thường luôn được coi là cơ sở pháp lý đáng tin cậy, sao chụp
được và không thể biến đổi trong các giao dịch sử dụng nó. Những cơ sở nêu trên

cũng được thừa nhận đối với một tài liệu điện tử khi thoả mãn những quy định
pháp luật yêu cầu thông tin phải dưới dạng chữ viết và có thể truy cập được.Để bảo
đảm khả năng truy cập được, phần mềm sử dụng cho việc truy cập phải có khả
năng bảo đảm việc lưu giữ tài liệu đó.
Nhằm chứng minh ý định giao kết hợp đồng dưới dạng văn bản thông thường, toà
án có thể căn cứ vào các bằng chứng ngoài hợp đồng như biên bản ghi những cuộc
đàm phán giữa các bên. Theo cách này, pháp luật cần thừa nhận giá trị bằng chứng
của thư điện tử hoặc bản ghi được lưu trữ trên phương tiện điện tử thể hiện ý định
giao kết hợp đồng giữa các bên.
Để xác định thời điểm và địa điểm gửi, nhận thông tin bằng phương tiện điện tử,
pháp luật đưa ra phương pháp giả định. Theo đó, thời gian gửi tài liệu điện tử phụ
thuộc việc người nhận có thông báo với người gửi về hệ thống thông tin được chỉ
định trước hay không. Nếu có chỉ định trước, tài liệu điện tử sẽ được truyền theo
thoả thuận đó, tài liệu coi là được nhận khi nó vào hệ thống thông tin được chỉ
định. Trong các trường hợp khác, tài liệu sẽ được nhận khi nó lọt vào phạm vi
kiểm soát của người nhận. Vị trí gửi, nhận được xác định là tại trụ sở kinh
doanh.Việc gửi tài liệu điện tử sẽ được coi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của
người gửi (hoặc nơi cư trú trong trường hợp không có trụ sở kinh doanh).Tương tự,
việc nhận tài liệu được coi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của người nhận. Nếu
một bên có nhiều trụ sở kinh doanh, vị trí gửi hoặc nhận sẽ là trụ sở kinh doanh có
quan hệ gần gũi nhất với giao dịch được thực hiện.
1.3. Quy định về chữ ký điện tử
Chữ ký điện tử là một công nghệ cho phép xác nhận người gửi và bảo đảm tính
toàn vẹn của thông điệp dữ liệu. Về bản chất, chữ ký điện tử tương đương chữ ký

tay, có các thuộc tính như: khả năng nhận dạng một người, tạo tính chắc chắn về
mối quan hệ của người đó với hành vi ký và cho thấy việc người đó chấp nhận nội
dung tài liệu ký. Có nhiều loại chữ ký điện tử khác nhau như chữ ký số, chữ ký
sinh trắc học, chữ ký dựa trên số nhận dạng cá nhân (số PIN), chữ ký tạo bằng thẻ
thông minh … Hiện nay, chữ ký số là loại chữ ký điện tử được sử dụng phổ biến
nhất.
Pháp luật thương mại điện tử cần có các quy định thừa nhận giá trị pháp lý của chữ
ký điện tử, cụ thể hoá các tiêu chí kỹ thuật và xác định trách nhiệm của nhà cung
cấp dịch vụ chứng thực điện tử. Có hai phương pháp xây dựng pháp luật về chữ ký
điện tử: quy định chung dựa trên nguyên tắc trung lập về mặt công nghệ và quy
định cụ thể về chữ ký số. UNCITRAL khuyến nghị sử dụng phương pháp thứ nhất
để dự trù khả năng hình thành các công nghệ chữ ký điện tử mới. Hầu hết các nước
theo khuyến nghị này.
1.4. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử
Với sự xuất hiện của nhiều công nghệ mới, đặc biệt là các ứng dụng công nghệ
thông tin, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng. Phần lớn các đối
tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ như tác phẩm văn học - nghệ thuật, tài liệu khoa
học - kỹ thuật, chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu có tính sáng tạo, nhãn hiệu
thương mại, bí mật thương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế kiểu dáng công nghiệp …
đều có thể xuất hiện dưới hình thức cho phép truyền tải dễ dàng qua Internet và các
mạng mở khác. Nhiều vấn đề mới liên quan tới tên miền; tính năng liên kết, dẫn
chiếu giữa các tài liệu trên môi trường nối mạng, trách nhiệm của các nhà cung cấp
dịch vụ mạng… khiến các quy định về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trước
đây không còn phù hợp.

