LÝ LUẬN VĂN HỌC:
TỪ NHỮNG HỆ QUY CHIẾU BẤT BÌNH ĐẲNG
ĐẾN MỘT CÁCH TIẾP CẬN TỔNG THỂ
I.1. ỢC ĐỒ CÁC THUYẾT VĂN HỌC
Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo những cách khác nhau và có th được phân loại
theo nhng tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, có một đim chung tối quan trọng không thể chi cãi:
tác phm văn học là mt hin tượng sử dụng ngôn ngữ trong đó không ththiếu vai trò của tác
giả, độc giả cũng như thực tại, cho dù mi yếu tố tham gia ở những mức độ khác nhau. Điều này
có th được mô tả bng mt mô hình thường được gọi Sơ đồ Aristotle:
Hình. 1. Sơ đồ Aristotle
M. H. Abrams, trong Chiếc gương và ngọn đèn: Lý thuyết Lãng mn và Truyn thống Phê Bình
(The Mirror and the Lamp: Romantic Theory and the Critical Tradition), ch ra rằng tất cả các lý
thuyết văn hc đều khảo sát vai trò và mi quan hệ giữa bn yếu tố này. Ông nhận xét:
Mặc dù bất kỳ thuyết khả nào cũng đều nh đến cả bốn yếu tố, hầu n
tất cả các thuyết, như chúng ta sẽ thấy, chỉ chủ yếu hướng đến một yếu tố mà
thôi. Điều này nghĩa là, nphê bình xu hướng lấy một trong bốn yếu tố
làm sở cho việc định nghĩa, phân loại và phân tích một tác phẩm nghệ thuật,
cũng như làm tiêu chí chính để đánh giá. Việc áp dụng đồ phân ch này,
thế, sẽ phân các nlực lý giải bản chất và giá trtác phẩm nghệ thuật thành bốn
nhóm ln. Ba trong số đó lý giải tác phẩm nghệ thuật bằng cách đặt nó trong mối
quan hvới một yếu tố khác: thế giới, người tiếp nhận, hoặc nghệ sĩ. Nỗ lực thứ
lý giải tác phẩm bằng việc nghiên cu một cách riêng rẽ, như là một chỉnh
thể độc lập có ý nghĩa và giá trị tự thân[1]. (6-7)
Abrams đã làm đúng như thế. Dựa trên Sơ đồ Aristotle, ông phân biệt bốn nhóm thuyết văn
học: a. Các lý thuyết Mô phỏng (Mimetic), tập trung vào mi quan hgiữa văn bn và thực tại;
b. Các lý thuyết Biểu cảm (Expressive) tập trung vào mối quan hệ giữa văn bn và tác gi; c. Các
thuyết Khách quan (Objective) xem xét văn bản độc lập với mi hệ quy chiếu; và d. các lý
thuyết Thực dụng (Pragmatic), tập trung vào quan hệ giữa văn bản và người đọc (7).
1. Các lý thuyết Mô phỏng: Những đoạn văn bản sớm nhất còn ghi lại được của các thuyết mô
phỏng có thtìm thấy trong các tác phẩm của Plato và mun hơn là trong Nghệ thuật thi ca của
Aristotle. Trong phúng dụ nổi tiếng về cái hang, Plato viết rằng thế giới của chúng ta chỉ là s
phản ánh của những Ý niệm bất biến và vĩnh cửu, và đến lượt mình, thế gii lại được phản ánh
qua nghệ thuật, cũng như qua gương, bóng râmmặt nước (227).
Vic hình nh chiếc gương được sử dụng như là một ẩn dụ trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của
nghệ thuật, trong đó có văn chương, cho thấy mc độ ảnh hưởng của lý thuyết này. "Ngh thuật
là tm gương phản ánh thực tại" – tuyên bố này chúng ta không ngng được nghe, thm chí ngay
cả hôm nay. Trong cuộc sống hàng ngày, không khó khăn gì chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng
rất nhiều người, trong đó có cả nhng nhà nghiên cứu văn hc, vn thường sử dụng nó, một cách
ngầm ẩn hoặc hiển ngôn, khi đánh giá các tác phẩmn hc. nh hưởng của thuyết mô phỏng
sâu sắc và cũng tinh tế đến nỗi người ta có cảm giác đó là chân lý hin nhiên. Robert L.
McLaughlin, trong lời i đầu tập Cách tân: Hợp tuyển truyn hiện đại và đương đại
(Innovations: Anthology of Modern and Contemporary Fiction), viết: Trong lớp Anh văn bậc
đại học của tôi, mt cách vô thức, sinh viên thường coi chnghĩa hiện thực như là hòn đá thử
vàng để đánh giá tác phẩm khi đọc truyn”[2] (xiv).
2. Các lý thuyết Thực dụng. Các lý thuyết này đánh giá tác phẩm văn học dựa trên căn cứ là các
mục đích xã hi. Đối vớic nhà tư tưởng châu Á, mục đích của văn chương trước hết là để
truyền tải tư tưởng, “Văn dĩ tải đạo". Nói cách khác, giá trị của tác phm trước hết là giá tr xã
hi.
Ở Phương Tây, Cicero và Horace cũng áp dụng tu t học của họ vào văn chương với những mc
đích thực dụng tương tự. Các nhà Khai Sáng t tin, và đòi hi, khnăng của văn chương trong
việc go dục quần chúng. Quan niệm thực dụng cũng ngầm ẩn trong tư tưởng của Sir Philip
Sidney, người nối tiếp truyền thng Hy Lạp khi viết trong Bênh vực thơ ca (An Apology for
Poetry), rằng văn chương “mô phỏng nhằm cả hai mục đích là làm vui thích và giáo dục; làm vui
tch để khiến con người nhn lấy điều tốt đẹp trong tầm tay mà nếu không có niềm vui tch họ
sẽ bỏ qua như mt kẻ xa lạ, và giáo dục để khiến con người nhận biết điều tốt đẹp mà hhướng
tới[3] (158)
Trong thế kỷ XX, chúng ta cũng nhiều lần nghe thấy những li khẳng định rằng giá tr văn
chương gắn liền với g trị xã hi, chẳng hn trong khái niệm “văn hc dấn thân” (litérature
engagée) của Jean-Paul Sartre, hay trong khái niệm “nghệ thuật vị nhân sinh” mà nhà phê bình
Marxist Hi Triều sử dụng để phê phán “nghệ thuật vị nghệ thuật” trong cuc tranh luận ni
tiếng với Hoài Thanh ở Việt Nam những năm 1930.
3. Các lý thuyết Biểu cảm. Các lý thuyết này coi tác phẩm văn học như là mt sản phẩm đặc biệt
của tình cm và tư duy của tác giả. Cho đến tận ngày nay, ở phương Đông cũng như ở phương
y, chúng ta không ngng được nghe rằng thơ là sự biểu l cảm xúc thăng hoa” của nhà thơ.
Quan niệm này chính là cơ sở để Longinus, trong On the Sublime, ca ngợi Sappho (83), hay
Hoài Thanh, trong Thi Nhân Việt Nam, lựa chn các tác giả. Trong lời i đầu cho Lyrical
Ballads, Wordsworth cũng định nghĩa thơ như là “sự tuôn trào của nhng cảm xúc mnh mẽ
(trích theo Abrams 21)[4].
Nói tóm lại, theo thuyết Biểu cảm, tác giả ging như là Thượng Đế, kẻ sáng tạo ra mt thế giới
của riêng mình. Như vậy vai trò của người đọc chỉ đơn thuần là “tìm hiểu”, “khám phá” những gì
tác gimuốn truyền đạt qua tác phẩm. Thuyết Biu cảm đóng vai trò đặc biệt quan trọng đi với
chnghĩa Lãng mạn châu Âu thế k XIX. Tuy nhiên, một số tác giả cuối thế k XX, như Roland
Barthes, đã đặt li vấn đề. Họ lập luận rằng “tác giả là mt nhân vật thời hiện đại, mt sản phẩm
của xã hội như nó đã và đang tồn tại, nổi lên từ thời Trung cổ cùng với chủ nghĩa thực chứng
Anh, chủ nghĩa duy Pháp và đức tin cá nhân của Cải cách tôn giáo”[5] (143),
4. Các thuyết Khách quan: Nhng lý thuyết này nghiên cứu tác phẩm văn chương mt cách
độc lập với các hquy chiếu bên ngoài, coi tác phẩm là một đối tượng tự thân, với giá trị được
quyết định hoàn toàn bi những đặc điểm nội tại và mi quan hệ giữa các b phận cấu thành tác
phẩm. Nói cách khác, tác phẩm có thể được đánh giá hoàn toàn bởi những đặc đim riêng của
nó. Quan nim khách quan là cốt lõi của Chủ nghĩa hình thức, Phê bình Mới (New Criticism), và
trong chừng mực nào đó cả Cấu trúc luận và Tín hiệu học.
Chnghĩa hình thức (Formalism) hình thành và nổi lên vào các thập niên 1910-1920 và cn
mui vào các thập niên 1930-1940 với những tên tui chủ cht như Eikhenbaum, Shklovsky,
Tomashevsky, và Jakobson. Shklovsky lập luận rằng văn học, cũng như nghệ thuật nói chung, về
bản chất như là quá trình "lạ hóa” странение, estrangement) ngôn ngữ thường ngày (6).
Jakobson thì định nghĩa văn học như là "mt sự phá hoi tổ chức đối với ngôn ngữ thông
thường"[6]. thế, theo h, bản chất văn học nằm ở các “thpháp” hình thức của nó.
Phê bình Mi pt trin rực rỡ nhất vào các thập niên 1940-1950, chyếu tại các quốc giai
tiếng Anh (cái tên Phê bình Mới xuất hin ln đầu tiênm 1941 trong tác phẩm The New
Criticism của John Crowe Ransom). Phê bình Mới được đặt nền móng bởi I. A. Richards,
William Empson, T. S. Eliot, được phát trin bởi nhiều tác giả tên tuổi như R. P. Blackmur,
Cleanth Brooks, John Crowe Ransom, Allen Tate, Robert Penn Warren, và William K. Wimsatt.
Cũng như các nhà Hình thức chủ nghĩa, các thuyết gia Phê nh Mới coi tác phẩm như là
những đối tượng độc lập, tự quy chiếu. Cleanth Brooks, chẳng hn, tuyên bố trong Phê bình và
Lịch sử Văn học: Horation Ode của Marvell (Criticism and Literary History: Marvell's Horation
Ode) rằng “bài thơ có đời sống riêng, và một ý nghĩa trong đó bản thân nó cung cấp tiêu chí duy
nht để đánh giá những gì nó mang tải[7] (200).
Mặc dù bốn cách tiếp cận mà Abrams mô tả cho phép ta nghiên cứu nhng khía cạnh hữu ích
không thể phủ nhận của văn bản (mi tác phẩm đều phản ánh thực tại bằng cách nào đó, đều có
những mc đích xã hi nhất định, đều trực tiếp hay gián tiếp thể hiện những ý đồ và tình cảm của
tác giả, và đều có nhng đặc điểm hình thức của riêng nó), không cách tiếp cận nào cho phép
chúng ta nhn thức một cách trọn vẹn và năng động vquá trình sáng tác và tiếp nhận tác phm.
Như Abrams đã nhận xét, mi cách tiếp cận đều dựa trên mt hay một nhóm các tiêu chí -
thường khô cứng, giản lược và phiến diện. Lý do sâu xa của tình trạng này, theo tôi, là ở chỗ tt
cả các lý thuyết nói trên đều xem xét tác phẩm như là nhng sản phẩm đã hoàn thiện với mt số
đặc điểm bất biến mà người đọc có thể khảo sát một cách khách quan. Thêm nữa, những đặc
điểm của tác phẩm, cho dù có được nhìn nhận theo quan đim mô phỏng, khách quan, biểu cảm
hay thực dụng, đều được quan nim như một th“chân lý”, ging như chân lý trong khoa học t
nhiên, mà những người đọc khác nhau có thcảm nhn hoàn toàn giống nhau, chẳng khác gì
chúng ta cm nhận những đặc đim của mt chiếc ghế hay mt que kem.
Được tiến hành vào nhng năm giữa thế k XX, các nghiên cứu của Abrams dĩ nhiên không th
đề cập đến những lý thuyết quan trọng nổi lên vào những thập niên sau đó. Một trong những lý
thuyết đó là Lý thuyết Tiếp nhận (hay đôi khi còn gi là thuyết Hồi ứng độc giả, reader-
response”, với ít nhiều khác biệt). Được khởi đầu bi Roman Ingarden và Louise Rosenblatt, lý
thuyết Tiếp nhận được phát triển nhờ những nỗ lực của Wolfgang Iser, Hans Robert Jauss và
Stanley Fish. Lý thuyết tiếp nhận chịu ảnh hưởng sâu sắc của Husserl và Hiện tượng luận, theo
đó thế giới bao giờ cũng là thế gii đã được ý thức ấn đnh, hay dự kiến; ngược lại, ý thc bao
gi cũng là ý thức vđiều gì đó. Ý nghĩa của tác phm, theo quan đim hiện tượng luận, cũng là
mt đối tượng được dự kiến”, "intended object", như vậy: lý thuyết tiếp nhận nhn mạnh vai trò
của độc giả và coi tác phm văn hc như i gì đó chỉ tồn tại trong đầu độc gimà thôi.
Gần như đồng thời với thời gian ra đời và phát trin của lý thuyết tiếp nhận, nhiều nhà tư tưởng,
trước hết là các lý thuyết gia Hậu cấu trúc (poststructuralists), Giải tạo luận (deconstructionists),
Hậu hiện đại (postmodernists) - nhng thuật ngữ này thường giao thoa, hay thậm chí đồng
nht đã công bnhiều công trình nghiên cứu quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến luận phê
bình văn học. Là những nhà cách mạng tư tưởng hết sức triệt để, thm c cực đoan, nhng tác
giả chủ cht của của các lý thuyết nói trên thách thức và đảo ln tất cả các quan nim truyn
thng vtác giả, độc, văn bản, thực tại, cũng như mi quan hệ giữa chúng. Quan đim chủ đạo
của các nhà tư tưởng hậu hiện đại, như Jacques Derrida, là văn bản văn chương không có mt ý
nghĩa xác định. Theo họ, thay vì phn ánh thực tại, văn bn văn chương bao giờ cũng mang tính
t kỷ trung tâm (self-centered). “Việc viết ngày nay, Michel Foucault viết trong Ngôn ngữ,
Phản-kí ức (Language, Counter-memory), đã tự giải thoát khi nhu cầu ‘din đạt’; nó chỉ còn
quy chiếu đến cnh nó.[8] (117) Cũng trong mt mạch đó, Roland Barthes tuyên bố rằng tác
giả đã chết, nhường chỗ cho người đọc. Julia Kristeva, một học trò của Barthes, thì thay thế văn
bản bằng mt chuỗi bất tận của của liên văn bản (intertextuality). Bà viết: “mi văn bn đều
được cấu to như là mt bức khm từ nhng đoạn tch dẫn; mi văn bn đều là shấp thụ và
biến đổi của một văn bản khác. Khái niệm liên văn bản thay thế cho khái niệm liên chthể, và
ngôn ngữ thơ phi được đọc ít nhất dưới dạng ngôn ngữ kép.”[9] (66)
Ngay cả các thuyết mới này cũng chưa có khả năng đưa ra mt bức tranh đầy đủ về quá trình
sáng to và tiếp nhận văn chương, bởi lchưa quan tâm đúng mc đến mối quan hệ biện chứng
tương tác giữa bn thành tố tác giả, độc giả, văn bn và thực tại. Trên thực tế, lý thuyết tiếp
nhậnng như các lý thuyết hậu hin đại chỉ huyền bí hóa tác phẩm văn chương. Dưới đây, tôi
scgắng khảo sát kỹ hơn những lý thuyết mới này, tập trung vào hai điểm: 1. Mối quan hệ
giữa Tác givà Độc giả; 2. Mối quan hệ giữa Văn bản và Thực tại.
I.2. NHNG HỆ QUY CHIẾU BẤT BÌNH ĐẲNG:
mỐI QUAN HỆ GIỮA TÁC GIẢ VÀ ĐỘC GI
Mối quan hgiữa Tác givà Độc giả thường không được quan tâm thỏa đáng. Trên thực tế là
cho đến nay, rất ít nhà nghiên cứu chú trọng đến việc lý thuyết hoá mi quan hệ này. Nếu đôi khi
đề cập đến mối quan hnày, h cũng thường không coi Tác givà Độc giả có vai trò bình đẳng.
Đối với các thuyết Thực dụng, mi quan hệ này là gián tiếp: văn bn đóng vai trò mt thứ
công cụ của tác giả, đứng ở vị t của người chủ động, thm chí là của người thầy. Thuyết Biểu
cảm lại càng đề cao vai trò của Tác giả: tác giả chính là một vị Thượng Đế toàn năng, kẻ độc lập
sáng to ra tác phẩm. Mặc dù trong vài thập kỷ gần đây, quan niệm gần như đã trthành truyền
thng này b nhiu người phê phán, smất cân đối - mà tôi xin gi là sbất bình đẳng văn học -
này vẫn tồn tại dai dẳng và khá hiển nhiên. Điều này thật đáng ngạc nhiên, bi lẽ aing thấy
rằng sẽ chng có văn chương nếu không có tác giả và độc giả.
Một dụ là môn Tường gii học (hermeneutics) của nhà luận Hoa Kỳ E. D. Hirsch. Trong tác
phẩm Hiệu lực của sự diễn giải (Validity in Interpretation, 1967). Hirsch lập luận rằng chúng ta
cần phải phân biệt giữa ý (meaning) và ý nghĩa (significance). Theo Hirsch, mi cuốn sách chỉ