
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ ƯƠNG ẤU
TRÙNG TÔM CÀNG XANH THÍCH
HỢP CHO QUY TRÌNH NƯỚC
TRONG HỞKẾT HỢP SỬDỤNG
OZONE
Sinh viên thực hiện:
Đoàn Ngọc Dung
Cán bộhướng dẫn
Th.s Tăng Minh Khoa

2
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là một trong những đối tượng quan
trọng trong nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới. Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm càng
xanh đang dần trở thành đối tượng nuôi chính tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL).
Theo Lê Xuân Sinh và ctv (2006), quy trình nước trong hở là một trong các quy trình
sản xuất giống tôm càng xanh được lựa chọn sử dụng nhiều nhất ở ĐBSCL. Quy trình
này có đặc điểm là thay nước hằng ngày để đảm bảo môi trường nước sạch cho ấu
trùng tôm phát triển (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003), nên chỉ thuận lợi cho các
trại giống gần biển. Tuy nhiên, đa số các trại sản xuất giống tôm càng xanh ở ĐBSCL
đều nằm ở nội địa (Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, An Giang…) (Lê Xuân Sinh và
ctv, 2006), nơi nguồn nước mặn không có sẳn nên việc áp dụng quy trình này gặp
nhiều khó khăn. Nhưng, nếu giảm lượng nước thay hay giảm tần suất thay nước trong
quá trình ương, nước trong bể ương sẽ nhanh chóng bị ô nhiễm do thức ăn thừa và
chất thải của ấu trùng, làm ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của ấu trùng và hiệu quả sản xuất.
Do đó, việc tìm giải pháp nhằm hạn chế lượng nước sử dụng trong quá trình ương
nhưng vẫn đảm bảo duy trì chất lượng nước cho bể ương và hiệu quả sản xuất là vấn
đề cần giải quyết khi sử dụng quy trình nước trong hở.
Bên cạnh đó, ozone là chất oxi hóa mạnh, từ lâu đã được con người sử dụng để thanh
lọc nước và không khí. Trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất
giống tôm sú ở Đồng bằng sông Cửu Long, ozone thường được ứng dụng để xử lý
nước thải và phòng bệnh. Do đó, ozone hoàn toàn có thể áp dụng vào quy trình nước
trong hở để xử lý môi trường ương thay thế cho việc thay nước hàng ngày. Chính vì
thế, quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone (NTH – Ozone) đã ra đời. Theo
Lương Thị Bảo Thanh (2009), so với quy trình nước trong hở truyền thống, quy trình
NTH – Ozone định kỳ xử lý ozone 2 ngày/lần kết hợp rút cặn, bổ sung 5% nước trong
bể ương là phương pháp cho hiệu quả sử dụng cao hơn, đồng thời khi ương tôm càng
xanh ở mật độ cao (150 – 250 ấu trùng/l) quy trình NTH - Ozone có thể tăng năng
suất ương lên 1,5 – 2,5 lần so với quy trình nước trong hở truyền thống.
Tuy nhiên, đề tài vẫn còn hạn chế là chưa xác định được mật độ tối ưu cho quy trình.
Vì thế nhằm tạo tiền đề cho các nghiên cứu để tăng mật độ ương cho quy trình NTH –
Ozone ở bể ương có thể tích lớn, việc thực hiện đề tài ‘‘Xác định mật độ ương ấu
trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) thích hợp cho quy trình nước
trong hở kết hợp sử dụng ozone” là cần thiết.

3
1.2. Mục tiêu của đề tài:
Xác định mật độ ương thích hợp trong sản xuất giống tôm càng xanh theo quy trình
nước trong hở kết hợp sử dụng ozone trong bể ương 50l.
1.3. Nội dung nghiên cứu:
- Khảo sát ảnh hưởng của mật độ đến hiệu quả ương ấu trùng tôm càng xanh theo
quy trình nước trong hở kết hợp sử dụng ozone trong bể ương 50l.
- Xác định mật độ ương ấu trùng hiệu quả nhất cho quy trình nước trong kết hợp
sử dụng ozone.

4
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm sinh học tôm càng xanh
2.1.1. Phân loại và phân bố tôm càng xanh
Với kích thước lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii) đã và đang trở thành đối tượng nuôi thâm canh ở các quốc gia trên thế
giới như: Châu Á gồm Ấn Độ, Sri Lanka, Birma, Indonesia, Thái Lan, Campuchia,
Việt Nam, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Hawaii, Palau, Châu Úc, Châu Phi
(Malawi, Mauritius, Seychelles), Châu Mỹ (Mỹ, Mexico, Puerto Rico, Honduras,
Colombia), và thậm chí tại Anh ở Châu Âu (Holthuis, 1980, trích dẫn bởi Lương Thị
Bảo Thanh, 2009).
Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv (2001), tôm càng xanh có vi trí phân loại như sau:
Ngành: Arthopoda
Lớp: Crusracae
Bộ: Decapoda
Phân bộ: Caridea
Họ: Palaemonidae
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobrachium rosenbergii De Man 1879
Trong tự nhiên, tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới, tập trung ở khu vực Ấn Độ
Dương và Tây Nam Thái Bình Dương, chủ yếu từ Châu Úc đến New Guinea, Trung
Quốc và Ấn Độ. Ở Việt Nam, chúng phân bố tự nhiên chủ yếu các tỉnh Nam Bộ, đặc
biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
2.1.2. Vòng đời tôm càng xanh
Tôm càng xanh trưởng thành sống chủ yếu ở nước ngọt, vòng đời tôm càng xanh có 4
giai đoạn bao gồm: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành. Ấu trùng nở ra
sống phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành hậu ấu trùng PL (postlarvae)
(xem Hình 2.1 và Bảng 2.1). PL có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt như sông rạch,
ao hồ…, ở đó chúng sống và lớn lên, khi trưởng thành lại di cư ra vùng nước lợ nơi có
độ mặn thích hợp để sinh sản và vòng đời tiếp tục (New, 2002; Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2003; Nandlal et al., 2005).
Thời gian và tốc độ tăng trưởng ở mỗi giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi môi trường, đặc
biệt là nhiệt độ nước và thức ăn (Nandlal et al., 2005).

5
Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III
Giai đoạn IV Giai đoạn V Giai đoạn VI
Giai đoạn VII Giai đoạn VIII Giai đoạn IX
Giai đoạn X Giai đoạn XI Giai đoạn Postlarvae (PL)
Hình 2.1. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh
(Nguồn: Takuji Fujimura, trích bởi Nandlal et al., 2005)

