intTypePromotion=1
ADSENSE

Mối tương quan giữa đề kháng insulin và tăng huyết áp ở nhóm công chức - viên chức Quận 10 TP.HCM

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

46
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát mối tương quan giữa đề kháng insulin và tăng huyết áp, 498 đối tượng tuổi từ 20-60 được đưa vào nghiên cứu, các đối tượng tham gia không có tiền sử bệnh đột quỵ, cơn thoáng thiếu máu não, nhồi máu cơ tim, đau ngực, hoặc suy thận.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mối tương quan giữa đề kháng insulin và tăng huyết áp ở nhóm công chức - viên chức Quận 10 TP.HCM

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỀ KHÁNG INSULIN VÀ TĂNG HUYẾT ÁP Ở<br /> NHÓM CÔNG CHỨC–VIÊN CHỨC QUẬN 10 TP. HCM<br /> Nguyễn Thành Thuận*, Nguyễn Thy Khuê**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Khảo sát mối tương quan giữa đề kháng insulin và tăng huyết áp.<br /> Đối tượng–Phương pháp nghiên cứu: 498 đối tượng tuổi từ 20-60 được đưa vào nghiên cứu, các đối<br /> tượng tham gia không có tiền sử bệnh đột quỵ, cơn thoáng thiếu máu não, nhồi máu cơ tim, đau ngực, hoặc suy<br /> thận. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện để tìm mối tương quan giữa đề kháng insulin và THA. Đề kháng<br /> insulin được đánh giá bằng chỉ số HOMA-IR.<br /> Kết quả: Tỉ lệ THA là 29,1%. HOMA-IR tương quan có ý nghĩa với huyết áp tâm thu (r=0,171) và huyết<br /> áp tâm trương (r=0,131). HOMA-IR ≥ 1,41, tăng Triglyceride ≥ 150mg/dl, hội chứng chuyển hóa, acid uric máu<br /> >5,5mg/dl, đường huyết đói ≥ 100mg/dl, tuổi, nam giới, BMI ở nhóm THA cao hơn nhóm không THA. Phân<br /> tích hồi quy đa biến cho thấy HOMA-IR liên quan với THA và độc lập với các yếu tố khác.<br /> Kết luận: đề kháng insulin liên quan có ý nghĩa với THA.<br /> Từ khóa: Đề kháng insulin,HOMA-IR, tăng huyết áp.<br /> <br /> ABTRACT<br /> THE RELATIONSHIP BETWEEN INSULIN RESISTANCE AND HYPERTENSION IN WHITE COLLAR<br /> IN DISTRICT 10, HO CHI MINH CITY<br /> Nguyen Thanh Thuan, Nguyen Thy Khue<br /> *Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 383 - 389<br /> Objectives: we aimed to determine whether insulin resistance was associated with risk of hypertension.<br /> Methods: Of the 498 subjects aged 20–60 years enrolled in this study, participants without a clinical history<br /> of stroke, transient ischemic attack, myocardial infarction, angina, or renal failure were recruited. We examined<br /> the cross-sectional relationship between insulin resistance and hypertension. Insulin resistance was evaluated by<br /> homeostasis of minimal assessment of insulin resistance(HOMA-IR).<br /> Results: Overall, the prevalence of hypertension was 29.1%. The HOMA-IR correlated significantly with<br /> systolic (r=0.171) and diastolic (r=0.131) blood pressures. HOMA-IR≥1.41, Triglyceride≥150mg/dl, metabolic<br /> syndrome, serum uric acid >5.5mg/dl, FBG ≥100mg/dl, age, male, BMI showed the highest crude OR for<br /> progression form normotension to hypertension. Multivariate logistic regression analysis showed that HOMA-IR<br /> was independently associated with the presence of hypertension.<br /> Conclusions: Insulin resistance was significantly associated with hypertension in the general population.<br /> Keywords: Insulin resistance, HOMA-IR, hypertension.<br /> lệ THA ngày càng tăng nhanh. Theo cuộc điều<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> tra sức khỏe và dinh dưỡng tại Mỹ năm 1999–<br /> Cùng với sự gia tăng của béo phì và ĐTĐ, tỉ<br /> 2000 tỉ lệ THA là 31% trong dân số (17). Tại các<br /> <br /> <br /> Bệnh viện Đại Học Y Dược TP. HCM; ** Bộ Môn Nội Tiết - Đại Học Y Dược TP. HCM<br /> <br /> Tác giả liên lạc BSCK1. Nguyễn Thành Thuận<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa II<br /> <br /> ĐT: 0908370394<br /> <br /> Email: thuan.nt@umc.edu.vn<br /> <br /> 383<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> nước Châu Á, tỉ lệ THA tại Trung Quốc 24%,<br /> Singapore (27%), Thái Lan (22%), Hàn quốc<br /> (22,9%)(5). Cơ chế bệnh sinh của THA vô căn vẫn<br /> chưa rõ ràng, có thể chịu tác sự tác động bởi các<br /> yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường (như<br /> béo phì, đề kháng insulin, rối loạn lipid máu, và<br /> thói quen).<br /> Mặc dù đã có nhiều giả thuyết về cơ chế<br /> bệnh sinh được đưa ra để giải thích mối liên<br /> quan giữa tình trạng đề kháng insulin và THA,<br /> nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều tranh luận.<br /> Một số công trình nghiên cứu cho thấy bệnh<br /> nhân THA có nồng độ insulin máu cao hơn<br /> người không THA. Và một số khác sử dụng kĩ<br /> thuật “kẹp hay cố định” để chẩn đoán đề kháng<br /> insulin cho thấy những bệnh nhân đề kháng<br /> insulin có tỉ lệ THA cao hơn. Nhưng các kết quả<br /> không tương đồng nhau, có kết quả tìm thấy có<br /> sự liên quan, và có kết quả không cho thấy sự<br /> liên quan giữa hai vấn đề này. Do vậy chúng tôi<br /> quyết định tiến hành nghiên cứu này để đánh<br /> giá mối tương giữa đề kháng insulin và THA và<br /> các yếu tố nguy cơ khác của THA.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu:<br /> Thời gian lấy mẫu từ tháng 10/2009 đến<br /> tháng 6/2010. Chúng tôi chọn tất cả các trường<br /> học trên địa bàn quận 10 và ủy ban nhân dân<br /> quận 10, tổng cộng có 509 đối tượng ở 8 trường<br /> học và 1 ủy ban nhân dân quận đồng ý tham gia<br /> nghiên cứu. Sau khi khám và làm xét nghiệm<br /> chúng tôi loại ra 11 đối tượng, còn lại 498 đối<br /> tượng được đưa vào phân tích. Tiêu chí loại trừ<br /> bao gồm: đối tượng đang bị bệnh cấp tính, hoặc<br /> có tình trạng viêm nhiễm khi CRP ≥10mg/L hoặc<br /> bạch cầu trong máu tăng >12.000/µL, đã được<br /> chẩn đoán ĐTĐ và đang điều trị bằng insulin,<br /> suy thận với độ lọc cầu thận ≤30ml/phút/1,73 m2<br /> da, tiền sử bệnh nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt<br /> ngực, đột quỵ, cơn thoáng thiếu máu não.<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu quan sát: cắt ngang, mô tả và<br /> phân tích.<br /> <br /> 384<br /> <br /> Thu thập số liệu:<br /> Các thông tin về đặt trưng cơ bản và các yếu<br /> tố nguy cơ được thu thập trong lần thăm khám<br /> trên cùng một mẫu bệnh án. Hút thuốc lá được<br /> định nghĩa là khi còn đang hút thuốc lá hoặc<br /> tiền sử hút thuốc nhưng ngưng < 1 năm. Uống<br /> rượu bia được định nghĩa là khi uống >1 đơn vị<br /> rượu/ngày (1 đơn vị rượu tương đương 300ml<br /> bia hoặc 60 ml rượu mạnh). Chúng tôi dùng<br /> cùng một máy đo huyết áp kế điện tử OMRON,<br /> nếu nghi ngờ chúng tôi sẽ kiểm tra lại bằng máy<br /> đo huyết áp kế thủy ngân. Giáo viên ngồi nghỉ ít<br /> nhất 10 phút, đo ở tư thế ngồi, đo ở tay phải, tay<br /> đặt ngang bàn, khoảng cách giữa 2 lần đo là 2<br /> phút. Nếu sai số giữa 2 lần đo >10mmHg chúng<br /> tôi sẽ đo lại bằng máy huyết áp kế thủy ngân và<br /> lấy trung bình 2 trị số gần nhau nhất. Phân loại<br /> huyết áp theo JNC VII(4): bình thường khi HA<br /> tâm thu 1,41 là<br /> điểm cắt để chẩn đoán đề kháng insulin trong<br /> nghiên cứu.<br /> Bảng 1: Mô tả đặc trưng cơ bản phân theo THA và<br /> không THA (HA bình thường và tiền THA)<br /> Không THA<br /> THA (n=145) Giá trị p<br /> (n=353)<br /> Tuổi (năm)<br /> 42,2±9,2<br /> 48,6±7,7<br /> 0,000<br /> Giới: Nam<br /> 90(25,5%)<br /> 64(44,1%)<br /> 0,000<br /> 2<br /> BMI (kg/m )<br /> 22,1±3,03<br /> 24,02±3,18<br /> 0,000<br /> Vòng eo (cm)<br /> 75,2±9,1<br /> 81,1±8,9<br /> 0,000<br /> Béo bụng n(%)<br /> 68(19,3)<br /> 47(32,4)<br /> 0,019<br /> Hút thuốc lá n(%)<br /> 48(13,6)<br /> 32(22,1)<br /> 0,037<br /> Rượu bia n(%)<br /> 22(6,2)<br /> 18(12,4)<br /> 0,021<br /> Sống tĩnh tại n(%)<br /> 105(29,8)<br /> 38(26,2)<br /> 0,428<br /> TSGĐ THA n(%)<br /> 204(57,8)<br /> 99(68,3)<br /> 0,029<br /> Các chỉ số xét nghiệm<br /> Cholesterol<br /> 5,54±1,06<br /> 5,82±1,02<br /> 0,007<br /> TP(mmol/L)<br /> Triglyceride<br /> 1,29[0,94–<br /> 1,81[1,23–<br /> 0,000<br /> (mmol/L)*<br /> 1,97]<br /> 2,64]<br /> LDL-C(mmol/L)<br /> 3,16±0,81<br /> 3,33±0,88<br /> 0,041<br /> HDL-C(mmol/L)<br /> 1,29±0,31<br /> 1,21±0,27<br /> 0,004<br /> Rối loạn lipid máu<br /> 262(74,2)<br /> 133(91,7)<br /> 0,000<br /> n(%)<br /> Hội chứng chuyển<br /> 53(15)<br /> 82(56,6)<br /> 0,000<br /> hóa n(%)<br /> 4,82[4,14–<br /> 5,43[4,74–<br /> Acid uricmg/dL *<br /> 0,000<br /> 5,92]<br /> 6,96]<br /> 1,78[0,63–<br /> 2,12[0,72–<br /> CRPmg/L *<br /> 0,401<br /> 3,42]<br /> 3,69]<br /> Đường huyết<br /> 4,82[4,45–<br /> 4,99[4,63–<br /> 0,000<br /> đói(mmol/L)*<br /> 5,15]<br /> 5,61]<br /> Insulin(micro U/ml)* 6,9[5–10]<br /> 7,9[6,2–11,9] 0,000<br /> 1,48[1,04–<br /> 1,83[1,41–<br /> HOMA-IR*<br /> 0,000<br /> 2,20]<br /> 2,64]<br /> HOMA-IR>1,41<br /> 188(53,3)<br /> 108(74,5)<br /> 0,000<br /> n(%)<br /> Rối loạn<br /> đườnghuyết đói<br /> 25(7,1)<br /> 21(14,5)<br /> 0,001<br /> n(%)<br /> Đái tháo đường<br /> 10(2,8)<br /> 17(11,7)<br /> 0,001<br /> n(%)<br /> Chú thích: * trung vị [khoảng tứ phân vị], trung bình ±1 độ<br /> lệch chuẩn<br /> Biến số<br /> <br /> Tỉ lệ THA là 29,1%. trong nhóm THA có tuổi<br /> trung bình, BMI, vòng eo, tình trạng hút thuốc<br /> lá, uống rượu bia, tiền sử gia đình THA cao hơn<br /> <br /> 385<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> nhóm không THA. Nam giới có tỉ lệ THA cao<br /> hơn nữ giới (44,1% so với 23,6%). Tỉ lệ béo bụng<br /> trong nhóm THA cao hơn nhóm không THA<br /> (32,4% so với 19,3%). ở nhóm THA có các chỉ số<br /> xét nghiệm: ĐH đói, insulin máu, và HOMA-IR,<br /> Triglyceride, LDL-C, cholesterol toàn phần, acid<br /> uric cao hơn và HDL-C thấp hơn so với nhóm<br /> không THA. Nhóm THA có tỉ lệ đề kháng<br /> insulin cao hơn nhóm không THA (74,5% so với<br /> 53%). Tỉ lệ hội chứng chuyển hóa trên đối tượng<br /> THA cũng cao hơn nhóm không THA (56,6% so<br /> với 15%).<br /> <br /> Tăng huyết áp<br /> <br /> Biến số<br /> <br /> OR(95%khoảng tin cậy) Giá trị p<br /> <br /> Tiền sử gia đình đái<br /> tháo đường<br /> Tiền sử gia đình rối<br /> loạn lipid<br /> Tăng Cholesterol toàn<br /> phần<br /> Tăng Triglyceride<br /> ≥150mg/dl<br /> Tăng LDL-C<br /> <br /> 1,01(0,66–1,53)<br /> <br /> 0,973<br /> <br /> 0,91(0,56–1,49)<br /> <br /> 0,704<br /> <br /> 1,84(1,15–2,95)<br /> <br /> 0,011<br /> <br /> 2,52(1,70–3,74)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,33(0,90–1,96)<br /> <br /> 0,151<br /> <br /> Giảm HDL-C<br /> <br /> 1,36(0,92–2,01)<br /> <br /> 0,118<br /> <br /> Rối loạn lipid máu<br /> <br /> 3,85(2,04–7,28)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,62(1,04–2,54)<br /> <br /> 0,034<br /> <br /> 2,06(1,39–3,06)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 3,23(1,94–5,37)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 7,37(4,75–11,43)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 2,56(1,67–3,93)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> Tăng TG và giảm<br /> HDL-C<br /> Tăng acid uric<br /> >5,5mg/dl<br /> Đường huyết<br /> ≥5,6mmol/l<br /> Hội chứng chuyển<br /> hóa<br /> HOMA–IR >1,41<br /> <br /> Bảng 3: Phân tích hồi quy logistic đa biến các yếu tố<br /> liên quan đến THA (hiệu chỉnh cho tất cả các biến<br /> trong bảng)<br /> Tăng huyết áp<br /> Biến số<br /> <br /> OR (95%khoảng<br /> tin cậy)<br /> <br /> Giá trị p<br /> <br /> Tuổi (năm)<br /> <br /> 1,10(1,07–1,14)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> Giới: Nam<br /> <br /> 2,65(1,29–5,47)<br /> <br /> 0,008<br /> <br /> BMI (kg/m )<br /> <br /> 1,12(1,02–1,24)<br /> <br /> 0,018<br /> <br /> Hút thuốc lá<br /> <br /> 0,62(0,29–1,33)<br /> <br /> 0,221<br /> <br /> Rượu–bia<br /> <br /> 2,05(0,86–4,88)<br /> <br /> 0,105<br /> <br /> Tiền sử gia đình THA<br /> <br /> 1,63(1,02–2,60)<br /> <br /> 0,039<br /> <br /> Tăng triglyceride ≥150mg/dl<br /> <br /> 1,04(0,62–1,74)<br /> <br /> 0,883<br /> <br /> Giảm HDL-C<br /> <br /> 1,46(0,89–2,39)<br /> <br /> 0,132<br /> <br /> Tăng acid uric >5,5mg/dl<br /> <br /> 0,83(0,47–1,44)<br /> <br /> 0,502<br /> <br /> Đường huyết ≥5,6mmol/l<br /> <br /> 1,52(0,84–2,77)<br /> <br /> 0,167<br /> <br /> HOMA–IR >1,41<br /> <br /> 1,74(1,04–2,93)<br /> <br /> 0,035<br /> <br /> 2<br /> <br /> Bảng 2: Phân tích hồi quy logistic đơn biến các yếu tố<br /> liên quan đến tăng huyết áp<br /> Tăng huyết áp<br /> <br /> Biến số<br /> <br /> OR(95%khoảng tin cậy) Giá trị p<br /> <br /> Tuổi(năm)<br /> <br /> 1,09(1,06–1,13)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> Giới: Nam<br /> <br /> 2,31(1,54–3,46)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> BMI (kg/m )<br /> <br /> 1,21(1,13–1,29)<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> Béo bụng<br /> <br /> 2,01(1,29–3,13)<br /> <br /> 0,002<br /> <br /> Hút thuốc lá<br /> <br /> 1,80(1,10–2,95)<br /> <br /> 0,019<br /> <br /> Rượu–bia<br /> <br /> 2,13(1,11–4,11)<br /> <br /> 0,024<br /> <br /> Sống tĩnh tại<br /> <br /> 0,84(0,54–1,30)<br /> <br /> 0,428<br /> <br /> Tiền sử gia đình THA<br /> <br /> 1,57(1,05–2,37)<br /> <br /> 0,030<br /> <br /> 2<br /> <br /> 386<br /> <br /> HOMA-IR tương quan với huyết áp tâm thu<br /> (r=0,171) và huyết áp tâm trương (r=0,131) có ý<br /> nghĩa thống kê với p 5,5mg/dl, hội chứng chuyển hóa, HOMA-IR<br /> >1,41 là các yếu tố nguy cơ của THA.<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa II<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> Sau khi hiệu chỉnh cho tuổi, giới, BMI, hút<br /> thuốc lá, uống rượu bia, tiền sử gia đình THA,<br /> tăng Triglyceridde ≥150mg/dl, giảm HDL-C<br /> 1,41, tuổi, giới, BMI,<br /> tiền sử gia đình THA là yếu tố nguy cơ của THA<br /> và độc lập với các yếu tố khác.<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Tỉ lệ THA và tiền THA trong nghiên cứu<br /> chúng tôi là 145/498 (29,1%) và 221 (44,4%). Tỉ lệ<br /> này tương tự như các quốc gia khác: Tại Mỹ,<br /> trong cuộc điều tra sức khỏe và dinh dưỡng, tỉ lệ<br /> THA là 31% và tiền THA là 32%(17). Tương tự, tại<br /> các nước phương Tây: tỉ lệ THA tại Anh (42%),<br /> Thụy Điển (38%), Canada (27%)(18). Ở các nước<br /> Nam Á tỉ lệ THA cũng cao tương tự: Singapore<br /> 27%, Thái Lan 22% , Hàn Quốc 22,9%(5), tại Nhật<br /> tỉ lệ THA là 30% và tỉ lệ tiền THA 31%(9). Tại<br /> Trung Quốc tỉ lệ THA là 36,7%, tiền THA là<br /> 44,4%(16). Nhìn chung, chúng tôi thấy tỉ lệ THA<br /> ngày càng gia tăng trong cộng đồng ở cả các<br /> nước phát triển và nước đang phát triển.<br /> Nghiên cứu chúng tôi góp phần cho thấy<br /> đề kháng insulin có liên quan với THA. Mối<br /> liên quan giữa hai vấn đề này đã được mô tả<br /> từ rất lâu, và trên nhiều phương pháp đánh<br /> giá đề kháng insulin khác nhau, cũng như<br /> những giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của đề<br /> kháng insulin đối với HA. Trên những bệnh<br /> nhân THA có nồng độ insulin máu cao hơn<br /> người không THA đã được chứng minh trong<br /> nhiều nghiên cứu(11, 15). Theo Saad và cộng<br /> sự(15), bệnh nhân THA có nồng độ insulin máu<br /> trung bình 117 pmol/L cao hơn so với nhóm<br /> không THA 106 pmol/L. Tương tự Kawamoto<br /> cũng cho thấy nồng độ insulin máu trung<br /> bình trên bệnh nhân THA 5,6microUI/ml cao<br /> hơn so với nhóm HA bình thường<br /> 4,4microUI/ml(9). Trong nghiên cứu tiến cứu<br /> ARIC của Liese và cộng sự, bệnh nhân có<br /> nồng độ insulin máu tăng cao có khả năng<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa II<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> tiên đoán THA (với HR=2,4; 95% khoảng tin<br /> cậy 1,5–3,9)(11).<br /> Ngoài ra, một số nghiên cứu đánh giá đề<br /> kháng insulin và THA bằng kĩ thuật “kẹp hay cố<br /> định” cũng cho thấy mối tương quan giữa THA<br /> và đề kháng insulin. Theo nhóm nghiên cứu đề<br /> kháng insulin ở Châu Âu, trên bệnh nhân THA<br /> khả năng thu nạp glucose thấp hơn so với nhóm<br /> không THA(6). Goff và cộng sự đánh giá đề<br /> kháng insulin và THA bằng chỉ số nhạy cảm<br /> insulin (ISI: insulin sensitivity index), kết quả<br /> cũng tương tự như các phương pháp khác, bệnh<br /> nhân THA có chỉ số ISI thấp hơn nhóm không<br /> THA có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)(8).<br /> Do sự bất tiện của kĩ thuật kẹp cố định và<br /> khó áp dụng trong nghiên cứu cộng đồng, nên<br /> nhiều tác giả đã sử dụng chỉ số HOMA-IR để<br /> đánh giá đề kháng insulin, đồng thời chỉ số<br /> HOMA-IR có tương quan khá tốt với kĩ thuật<br /> “kẹp hay cố định” với r=0,85. Trong nghiên cứu<br /> chúng tôi, bệnh nhân THA có chỉ số HOMA-IR<br /> trung vị 1,83 (1,41–2,64) cao hơn nhóm không<br /> THA 1,48 (1,04–2,2) có ý nghĩa thống kê<br /> (p=0,000). Galletti và cộng sự cũng cho kết quả<br /> tương tự, trên bệnh nhân THA chỉ số HOMA-IR<br /> trung bình cao hơn so với nhóm không THA<br /> (2,2 so với 2, p < 0,001)(7).<br /> Mặc dù đề kháng insulin và chỉ số huyết áp<br /> có mối tương quan với nhau, nhưng mối tương<br /> quan tương đối yếu. Trong nghiên cứu chúng<br /> tôi, hệ số tương quan giữa HOMA-IR với HA<br /> tâm thu bằng 0,17 và HA tâm trương bằng 0,13.<br /> Meshkani và cộng sự cũng cho kết quả tương tự,<br /> HOMA-IR có tương quan yếu với HA tâm thu<br /> và HA tâm trương với hệ số tương quan 0,17 và<br /> 0,2(12). Nghiên cứu của Kawamoto và cộng sự<br /> cũng không ngoại lệ, kết quả cho thấy hệ số<br /> tương quan giữa HOMA–IR và HA tâm thu là<br /> 0,17 và HA tâm trương là 0,17(9). Trong nghiên<br /> cứu IRAS, Saad và cộng sự sử dụng chỉ số nhạy<br /> cảm insulin (ISI: insulin sensitivity index), kết<br /> quả cho thấy ISI có tương quan nghịch với HA<br /> tâm thu và HA tâm trương với hệ số tương quan<br /> 0,21 và 0,17(15).<br /> <br /> 387<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2