
62 Khoa học Kiểm sát Số 01 - 2023
1. Quy định về người thừa kế không
phụ thuộc vào nội dung di chúc trong
pháp luật dân sự Việt Nam
Cá nhân có quyền định đoạt tài sản
được pháp luật quy định trong Hiến
pháp1, pháp luật dân sự2 và các quy định
của pháp luật khác có liên quan. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp, người
có tài sản vẫn bị hạn chế trong việc định
đoạt của mình, cụ thể vấn đề về “lưu sản”
trong việc định đoạt di sản thừa kế.
Quy định về “lưu sản” được thừa
nhận trong một số hệ thống pháp luật
như Bungari, Pháp, Cameroon, Sénégal
hay Thụy Sỹ3. Pháp luật Trung Quốc, Tây
1 Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013: “Quyền sở
hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.
2 Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân có
quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài
sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di
sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
3 Xem Revue internationade du droit comparé 1994,
tr. 921.
Ban Nha cũng có quy định liên quan đến
chế độ này4. Theo một số tài liệu, trước
đây ở nước ta không có khái niệm “lưu
sản”5. Theo Bộ dân luật Bắc Kỳ và Trung
Kỳ “Nói rõ rằng người lập di chúc có thể sử
dụng toàn thể tài sản của mình. Không có
luật lệ nào bó buộc người quá cố phải giành
một phần di sản cho người thừa kế của mình,
dù thừa kế ấy là con cháu hay cha mẹ ông
bà, là những người thân thuộc mà luân lý
và pháp luật người ấy phải cấp dưỡng hay
phụng dưỡng”6. Tục lệ Việt Nam cũng
không có ý niệm về lưu sản, kể cả trong
* Email: Ngovanluong.law@gmail.com
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
4 JurisClasseur Droit comparé, Fas 25 (Chine), 2010,
phần số 102; JurisClasseur Droit comparé, Fas 2
(Espagne), 2010, phần số 68 và tiếp theo.
5 Nguyễn Văn Thành, Dân luật, Luật khoa Đạo học
Sài Gòn, Quyển 2, tr. 93, 94.
6 Đỗ Văn Đại (2016), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án
và bình luận bản án (tái bản lần thứ 4), NXB. Hồng
Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 1, tr. 334.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIA THỪA KẾ
CHO ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN BẮT BUỘC
THEO ĐIỀU 644 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
NGÔ VĂN LƯỢNG*
Tóm tắt: Trong chế định thừa kế, vấn đề xác định di sản và đối tượng thừa kế bắt buộc chưa
quy định đầy đủ, còn nhiều quan điểm khác nhau, dẫn đến quá trình áp dụng pháp luật chưa
thống nhất, đồng bộ. Bài viết chỉ ra một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện một số vấn đề về chế
định thừa kế cho đối tượng được hưởng di sản bắt buộc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ khóa: Thừa kế, di sản thừa kế, người thừa kế bắt buộc.
Ngày nhận bài: 04/01/2023; Biên tập xong: 20/02/2023; Duyệt đăng: 20/02/2023
SEVERAL MATTERS ON INHERITANCE FOR OBLIGATORY HEIRS
UNDER ARTICLE 644 OF THE 2015 CIVIL CODE
Abstract: In the inheritance regime, the issue of determining the estate and the obligatory
heirs has not been fully regulated and still remained different views that led to the inconsistent
application of the law. The article points out several shortcomings and proposes some
recommendations to improve this matter according to Article 644 of the 2015 Civil Code.
Keywords: Inherit, estate, obligatory heir.
Received: Jan 04th, 2023; Editing completed: Feb 20th, 2023; Accepted for publication: Feb 20th, 2023
NGÔ VĂN LƯỢNG*

NGÔ VĂN LƯỢNG
63Số 01 - 2023 Khoa học Kiểm sát
Bộ dân luật 1972 cũng không có quy định
về phần lưu sản7.
Được quy định từ Thông tư số 81/
TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân
dân tối cao (TANDTC)8, sau đó quy định
trong pháp lệnh thừa kế năm 1990 (Điều
20) và cụ thể trong các Bộ luật Dân sự
(BLDS)9, nhưng trên thực tế, chế định này
đã được Tòa án vận dụng đối với di chúc
được lập vào thời điểm mở thừa kế trước
Thông tư số 81/TANDTC10 và thực tiễn áp
dụng pháp luật đã gặp phải một số vướng
mắc, khó khăn. Do đó, tác giả phân tích
làm sáng tỏ quy định tại khoản 1 Điều
644 BLDS năm 2015 và đưa ra những kiến
nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp
luật về thừa kế không phụ thuộc nội dung
di chúc để tạo ra sự thống nhất trong áp
dụng pháp luật.
Khoản 1 Điều 644 BLDS năm 2015
quy định: “Những người sau đây vẫn được
hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của
một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản
7 Nguyễn Văn Thành, Dân luật, Luật khoa Đại học
Sài Gòn, Quyển 2, tr. 93, 94.
8 “Người lập di chúc phải dành lại một phần tài sản cho
những người thừa kế bắt buộc (nếu có). Những người
thừa kế bắt buộc gồm: Vợ góa hoặc chồng góa, con chưa
thành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng không có khả
năng lao động, bó mẹ già yếu và túng thiếu.
Phần di sản phải dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc,
ít nhất là 2/3 xuất của thừa kế theo luật. Nếu di chúc truất
quyền thừa kế của người thừa kế bắt buộc hoặc phần dành
lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc ít hơn 2/3 xuất thì phải
trích chia cho đủ 2/3.
Sau khi đã trích chia cho những người thừa kế bắt buộc,
Tòa án vẫn chiếu theo di chúc để phân chia số di sản còn
lại cho những người được chỉ định trong di chúc, theo tỷ
lệ phân quyền của họ”.
9 Điều 672 BLDS năm 1995; Điều 669 BLDS năm 2005;
Điều 644 BLDS năm 2015.
10 Bản án số 663/2011/DSST ngày 18-5-2011 của Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: “Ông
Siu chết 1978 có lập di chúc ngày 14-12-1976 để lại toàn
bộ 04 căn nhà cho 6 người con… Bà Anh là vợ ông Siu
được nhận phần 2/3 suất thừa kế bắt buộc…”.
được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ
không được người lập di chúc cho hưởng di
sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai
phần ba suất đó: Con chưa thành niên, cha,
mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không có
khả năng lao động”.
2. Những quy định chưa rõ và vận
dụng pháp luật trên thực tiễn
Quy định tại khoản 1 Điều 644 BLDS
năm 2015 cho thấy pháp luật đã dự liệu một
số trường hợp để bảo vệ nhóm người có
nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trong quan
hệ hôn nhân và gia đình. Bởi quy định chưa
rõ, chưa đầy đủ nên trên thực tiễn có nhiều
quan điểm trái chiều, chưa áp dụng thống
nhất đối với quy định này, cụ thể:
2.1. Đối tượng hưởng di sản là người
không có khả năng lao động
Một trong các chủ thể thừa kế không
phụ thuộc vào nội dung di chúc là con
thành niên mà không có khả năng lao
động. Một cá thể như thế nào để được xác
định không có khả năng lao động hiện
chưa được quy định trong BLDS. Vì thế,
khi áp dụng trên thực tiễn, Tòa án dựa theo
quy định tại Điều 6 BLDS năm 2015 về áp
dụng tương tự pháp luật để giải quyết nên
việc nhận định người không có khả năng
lao động cũng còn theo ý chí chủ quan của
Hội đồng xét xử hay Thẩm phán.
Cuộc sống xã hội cho thấy khả năng
lao động của một con người không chỉ
giới hạn ở chân tay mà có thể lao động
qua hoạt động trí tuệ. Có thể hiểu “Sức
lao động là một khái niệm trọng yếu trong
kinh tế chính trị Mác-xít. Mác định nghĩa
sức lao động là toàn bộ những năng lực thể
chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ
thể, trong một con người đang sống, và được
người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra
một giá trị thặng dư nào đó”. Trong thời đại
công nghệ 4.0, khả năng lao động của một

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIA THỪA KẾ...
64 Khoa học Kiểm sát Số 01 - 2023
cá thể có thể thực hiện được bởi những
người khiếm thị, người không có chân
hoặc không có tay mà họ vẫn có thể lao
động tạo ra tài sản hoặc để mưu sinh.
Khi áp dụng pháp luật tương tự, mục
1.4 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy
định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng (gọi tắt là Nghị quyết
số 03/2006/NQ-HĐTP) quy định: “Trong
trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại
mất khả năng lao động và cần có người thường
xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn
khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai
mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường
hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh
viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí
hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại”.
Về bản chất, 03 cụm từ “mất khả năng
lao động” và “không còn khả năng lao
động” hay “không có khả năng lao động”
đều đưa đến hậu quả là ở chủ thể đó sẽ
không tồn tại khả năng lao động. Do vậy,
nếu căn cứ vào Nghị quyết số 03/2006/NQ-
HĐTP, để được xác định là “người không
có khả năng lao động” thì họ phải rơi vào
các trường hợp bị: Liệt cột sống, mù hai
mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các
trường hợp khác do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả
năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên.
Ngoài ra, theo điểm e khoản 1 Điều
8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày
15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành một số điểm của Luật thuế thu nhập
cá nhân, có quy định về khái niệm có liên
quan là “người khuyết tật không có khả
năng lao động” khi xét giảm trừ gia cảnh
về thuế thu nhập như sau: “Người khuyết
tật, không có khả năng lao động theo hướng
dẫn tại tiết đ.1.1, điểm đ, khoản 1, Điều này
là những người thuộc đối tượng điều chỉnh
của pháp luật về người khuyết tật, người mắc
bệnh không có khả năng lao động (như bệnh
AIDS, ung thư, suy thận mãn,...)”.
Từ đó cho thấy, nếu người khuyết
tật (là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều
bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng
được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao
động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn)11 mà
mắc một số bệnh mà dẫn đến không có
khả năng lao động như: AIDS, ung thư,
suy thận mãn… thì được xem là người
không có khả năng lao động.
Nếu theo Bộ luật Lao động quy định
về điều kiện sử dụng lao động trong pháp
luật thì độ tuổi người lao động được giới
hạn đối với nữ là 60 và nam là 62 tuổi12.
Như vậy, nếu người ngoài độ tuổi này có
được xác định là người không có khả năng
lao động hay không. Trong thực tiễn cuộc
sống hằng ngày, xung quanh chúng ta, rất
nhiều người qua độ tuổi lao động theo quy
định của pháp luật lao động, đã được nghỉ
hưu nhưng họ vẫn có khả năng lao động
và thực tế họ vẫn tham gia lao động tạo
ra nguồn của cải vật chất cho xã hội, nhất
là trong điều kiện Việt Nam đang chuyển
hóa sang thời kỳ dân số già. (Người già
được xác định là người từ 70 tuổi trở lên)13.
11 Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010
được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 32/2013/QH13
ngày 19/6/2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
12 Khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng
quy định tuổi nghỉ hưu: “Tuổi nghỉ hưu của người lao
động trong điều kiện lao động bình thường được điều
chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động
nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào
năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao
động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi
03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối
với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng
đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.”
13 Mục 2.4. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày
12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng
dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Hình sự.

NGÔ VĂN LƯỢNG
65Số 01 - 2023 Khoa học Kiểm sát
Như vậy, khả năng lao động của con
người là tổng hợp năng lực về thể chất và
tinh thần, hay nói cách khác chính là sức
lao động của con người được vận dụng
trong quá trình lao động tạo ra của cải,
vật chất. Một người thành niên có thể
có khả năng lao động hay không có khả
năng lao động tùy vào suy giảm thương
tích, do bệnh, tật, do bệnh nghề nghiệp,
hay do tuổi cao đến một một chừng mực
nào đó, nhưng chừng mực đó chưa được
pháp luật quy định mà dựa vào sự viện
dẫn tương tự của pháp luật hay nhận thức
chủ quan của người áp dụng pháp luật.
Để pháp luật được thực thi thống
nhất, tránh áp lực cho người áp dụng
pháp luật khi nhận thức trường hợp nào
là không có khả năng lao động trong giải
quyết vụ án, tránh án giải quyết bị hủy
sửa, kéo dài thời gian…, tác giả nhận thấy
cần đưa ra một chuẩn mực nhất định đối
với cá thể được xem là không có khả năng
lao động qua độ tuổi, sức khỏe cũng như
một số điều kiện khác có liên quan là điều
kiện pháp luật công nhận có thể tạo ra tài
sản thiết yếu.
2.2. Quy định về trích di sản
Xác định thừa kế bắt buộc theo Điều
644 BLDS năm 2015 tuy là quy định bất
chấp ý chí của người lập di chúc và “chống
lại” những người hưởng thừa kế khác14
nhưng việc xác định mức di sản đối với
người thừa kế bắt buộc về cơ bản được áp
dụng thống nhất. Cụ thể, đối với thừa kế
những người được hưởng di sản bắt buộc
được lấy tổng di sản gốc là phần còn lại để
chia di sản thừa kế sau khi đã thanh toán
toàn bộ nghĩa vụ về tài sản của người chết
để lại theo thứ tự ưu tiên thanh toán được
quy định tại Điều 648 BLDS năm 2015,
14 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ
luận dân sự năm 2015, NXB. Công an nhân dân, tr.990.
gồm: Chi phí hợp lý theo tập quán cho
việc mai táng cho người chết cho người
đó; các khoản cấp dưỡng còn thiếu; các
khoản bồi thường thiệt hại về tính mạng,
sức khỏe, tài sản của người khác… Phần
di sản còn lại được hiểu là di sản để chia
thừa kế là phần di sản gốc đem chia cho
những người thừa kế gốc tại hàng thừa kế
thứ nhất có quyền hưởng, được bao nhiều
nhân với 2/3 của suất đó và người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc được hưởng phần đã được xác định
theo cách tính này.15
Theo quy định tại Điều 644 BLDS
năm 2015, chỉ khi những người thuộc diện
hưởng di sản bắt buộc nhận thừa kế không
bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật thì
phải trích phần di sản cho đảm bảo đủ định
suất. Tuy nhiên, chưa có quy định trích từ
khoản nào. Có quan điểm cho rằng: Nếu
di sản chưa chia thì trước khi chia di sản,
trích từ di sản thừa kế cho mỗi người được
hưởng theo Điều 644 BLDS năm 2015 một
phần di sản bằng phần di sản được tính.
Nếu di sản đã được chia thì mỗi người
thừa kế được nhận di sản phải trích một
phần tương ứng với số di sản nhận sao
cho đủ với kỷ phần mà người thừa kế theo
Điều 644 BLDS năm 2015 được hưởng.
Cũng có quan điểm khác cho rằng, phần di
sản mà người thừa kế theo Điều 644 BLDS
năm 2015 được hưởng trích từ phần di sản
thừa kế được hưởng theo di chúc và tương
ứng với phần vượt trội so với suất thừa
kế theo pháp luật mà họ được hưởng với
trích từ người nhận di sản trong di chúc,
có trường hợp trích từ tất cả người nhận
di sản16. Một quan điểm khác, phần di sản
15 Phùng Trung Tập, Pháp luật thừa kế ở Việt Nam nhận
thức và áp dụng, NXB chính trị quốc gia sự thật, tr.121.
16 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang, Pháp luật về thừa
kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, NXB. Tư pháp, tr.
225, 226.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIA THỪA KẾ...
66 Khoa học Kiểm sát Số 01 - 2023
mà người thừa kế ở Điều 644 BLDS năm
2015 được hưởng trích từ phần di sản thừa
kế được hưởng theo di chúc và tương ứng
với phần thừa kế theo di chúc của những
người nhận di sản trong di chúc17.
Theo TANDTC, sau khi đã trích chia
cho những người thừa kế bắt buộc, Tòa
án dẫn chiếu theo di chúc để phân chia số
di sản còn lại cho những người được chỉ
định trong di chúc theo tỷ lệ phân quyền
của họ18. Điều này dẫn đến những người
thừa kế theo pháp luật xem như đã lấy
phần di sản của mình để bù trừ cho đối
tượng ở Điều 644 BLDS năm 2015, trái
ngược với quan điểm trên.
Ví dụ: Ông A và bà B có 4 người con
chung là C, D, E và F (trong đó F vừa đủ 16
tuổi). Ông A qua đời có để lại di chúc cho
anh C 500.000.000 đồng di sản; cho bà B và
T mỗi người 200.000.000 đồng di sản. Sau
khi ông A qua đời, Toà án xác định được di
sản của ông A có 1.500.000.000 đồng.
Quan điểm thứ nhất: Thực hiện việc
chi cho người thừa kế bắt buộc trước khi
phân chia di sản:
Dựa theo Điều 651 và Điều 644 BLDS
năm 2015, kỷ phần thừa kế của bà B và F
không được thấp hơn: 1.500.000.000: 5 x
2/3= 200.000.000 đồng.
Nên phần di sản khấu trừ trước cho B và
T là 400.000.000 đồng, còn lại 1.100.000.000
đồng được chia theo di chúc, cụ thể: Anh
C 500.000.000 đồng; bà B và F mỗi người
200.000.000 đồng; còn lại 200.000.000 đồng
chia theo pháp luật cho B, C, D, E và F mỗi
người được 40.000.000 đồng.
17 Phùng Trung Tập, Pháp luật thừa kế ở Việt Nam
nhận thức và áp dụng, NXB. Chính trị quốc gia sự
thật, tr. 287.
18 Mục B.IV Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981
của TANDTC hướng dẫn giải quyết các tranh chấp
thừa kế.
Nếu theo cách chia này, những người
hưởng di sản của A có được như sau:
B: 440.000.000 đồng (200.000.000 đồng
thừa kế bắt buộc + 200.000.000 đồng theo
di chúc + 40.000 đồng theo pháp luật);
C: 540.000.000 đồng (500.000.000
đồng theo di chúc + 40.000.000 đồng theo
pháp luật);
D = E = 40.000.000 đồng.
F: 240.000.000 đồng (200.000.000 đồng
+ 40.000.000 đồng);
T: 200.000.000 đồng;
Quan điểm thứ hai: Rút di sản từ
những người thừa kế theo di chúc:
Việc chia di sản sẽ thực hiện theo ý
chí của ông A thì di sản được chia cho
C 500.000.000 đồng; B và T mỗi người
200.000.000 đồng, còn lại 600.000.000 đồng
chia theo pháp luật cho B, C, D, E và F mỗi
người được 120.000.000 đồng.
Vấn đề đặt ra đối với những người
được hưởng thừa kế bắt buộc theo Điều
644 BLDS năm 2015 là bà B và F có đảm
bảo mức thừa kế 2/3 suất thừa theo pháp
luật hay chưa? Và việc chia di chúc theo
di sản nào?
Dựa theo Điều 651 và Điều 644 BLDS
năm 2015 thì kỷ phần thừa kế của bà B và
F không được thấp hơn: 1.500.000.000: 5 x
2/3= 200.000.000 đồng.
Trong trường hợp trên, C được
nhận di sản từ ông A là 620.000.000
đồng (500.000.000 đồng theo di chúc và
120.000.000 đồng theo pháp luật), bà B
là 320.000.000 đồng (200.000.000 đồng
theo di chúc và 120.000.000 đồng theo
pháp luật), T được 200.000.000 đồng theo
di chúc, D, E và F được nhận mỗi người
120.000.000 đồng theo pháp luật. Vấn đề
đặt ra đối với F là để đảm bảo kỷ phần
thừa kế thì rút từ phần di sản của ai. Dựa

