
Mười xu hướng trong dạy
học vật lí
Kiến thức trong sách vật lí phổthông chủyếu là những kiến thức vật lí
học cổ điển (với nghĩa là các kiến thức cho tới thếkỉ19). Đến lớp 12 mới
đượcđưa một sốkiến thức rất quan trọng thuộc nửađầu thếkỉ20 như:
Thuyết tương đối, cơhọc lượng tử...
1.Đựa nội dung vật lí thếkỉ20 vào dạy học
2. Chú ý tới kiến thức, kinh nghiệm sẵn có của học sinh
3. Gắn nội dung dạy học vật lí với những bối cảnh cuộc sống thực
4. Dạy học tích hợp
5. Sửdụng thí nghiệm trong dạy học
6. Song hành giữa bài tậpđịnh tính (phân tích bản chất vật lí) và bài tập tính toán
7. Bình đẳng giới trong dạy học vật lí (chú trọng nâng cao hứng thú của nữsinh với
môn vật lí)
8. Phát triển năng lực hợp tác và khảnăng giao tiếp (trao đổi)
9. Đổi mới kiểm tra, đánh giá
10. Hướng dẫn, nâng cao sựtựhọc
Dướiđây là phân tích của một số điểm nói trên
1 .Đựa nội dung vật lí thếkỉ20 vào dạy học

Kiến thức trong sách vật lí phổthông chủyếu là những kiến thức vật lí học cổ điển
(với nghĩa là các kiến thức cho tới thếkỉ19). Đến lớp 12 mớiđượcđưa một sốkiến
thức rất quan trọng thuộc nửađầu thếkỉ20 như: Thuyết tương đối, cơhọc lượng
tử...
Tuy nhiên vật lí cũng nhưmọi khoa học khác không bao giờdừng lại, nó tiếp tục
phát triển, những lí thuyết quan trọng tiếp tụcđược tìm ra. Và hiển nhiên nếu chỉ
dừng ởnhững kiến thức cổ điển thì không thể đem tới người học cái nhìn tổng thể,
những phương pháp nghiên cứu hiệnđại. Do đó việcđưa những kết quảnghiên
cứu mới vào dạy bậc phổthông là rất cần thiết.
Hơn thếnữa, khi đưa những kiến thức mới này, những nghiên cứu gầnđây chỉra
rằng, học sinh rất hứng thú với những kiến thức mớiđó.
Vấnđề đặt ra là cầnđưa kiến thức nào và ởmứcđộ nhưthếnào để người học có
thểnắm bắtđược các tưtưởng vật lí, phương pháp nghiên cứu với trình độ toán
học tối thiểu nhất. Đó chính là vấnđề cầnđược nghiên cứu. Hiện nay một sốnước
đã đưa thêm vào những kiến thức mới như: lý thuyết hỗn loạn (Chaos), thuyết
tương đối rộng, bức xạnền ...
2. Chú ý tới kiến thức, kinh nghiệm sẵn có của học sinh
Quan điểm này vừa mới mà lại không mới. Không mớiởchỗquan niệm này trong
tâm lí họcđã nói từrất lâu rồi, và cũng đã có nhiều người nghiên cứu, cái mới là ở
góc độ vận dụng cụthểthì hầu nhưít có.
Học sinh đến trường không phải nhưtrang giấy trắng mà là một thực thểsống
động, mang trong mình đầyđủ những quan niệm, kiến thức sẵn có. Những quan
niệm này, vềmặt khoa học có thể đúng, có thểsai, nhưng chắc chắn không là tờ
giấy trắng để thầy (cô) muốn vẽgì thì vẽ.
Việc nghiên cứu xem học sinh trước khi học nội dung A, nội dung B thì nghĩgì,
quan niệm thếnào vềA, vềB là rất cần thiết và cầnđược nghiên cứu, một sốví dụ:
viewtopic.php?f=49&t=207
3. Gắn nội dung dạy học vật lí với những bối cảnh cuộc sống thực.
Vấnđề này khá mới không chỉ ở nước ta mà mới cảvới thếgiới. Quan niệm dạy

học gắn liền với những bối cảnh thựcđặc biệt nởrộkhi tình trạng học sinh quay
lưng với những môn khoa học tựnhiên nhưlí, hóa, sinh, khi mà họhọc lí hóa sinh
nhưnhững môn phụcủa toán hay ví von hơn thì nhưlà sân sau của toán học.
Học sinh được giảng lí thuyết và vận dụng toán họcđể giải bài tập. Cách dạyđó làm
những môn học này "chết" dần.
Đặc biệt khi mà giới trẻcó nhiều thứ"cám dỗ" hơn. Học sinh muốnđược làm gì đó,
muốnđược thểhiện mình, muốn có những phá cách riêng biệt.
Những nhà nghiên cứuđề ra cách dạy gắn liền với những bối cảnh thực, với những
sởthích của học sinh. Chẳng hạnởnhiều trường học các tiết học không diễn ra
tuần tựtheo như đề mục sách giáo khoa mà mỗi bài giảng là một bối cảnh thực
trong cuộc sống. Những bối cảnh đó gắn liền với những kiến thức có sẵn theo yêu
cầu.
Chẳng hạn khi học vềlực ma sát thì bối cảnh được lựa chọn là một vụtai nạn giao
thông mà lái xe đã bỏtrốn. Dựa trên chiều dài vệt phanh xe để trên đường, xác
định vận tốc ô tô.
Hoặc khi học vềnhững kiến thức vềsựchuyển thể, chuyển trạng thái rắn lỏng khí,
thì bối cảnh lớp học sẽ được sửdụng là một bếp vơi nồi niêu xong chảo và những
hiện tượng vật lí có liên quan.
Với những bối cảnh nhưvậy giáo viên đã không chỉkéo học sinh "trởlại" với vật lí
mà còn phát triểnởhọc sinh nhiều năng lực, nhiều kiến thức sống động.
Khi học theo quan điểm này thì những bài tậpđưa ra sẽkhông còn là : cho một vật
khối lượng M = ... , vận tốc v = ...
Mà khi đó sẽlà: Tính vận tốc trung bình của em sáng nay khi em đi từnhà đến
trường.
Cách tiếp cận nhưvậy, có thểhọc sinh không thu được cảmột mớkiến thức ngăn
nắp, nhưng chắc chắn rằng những gì học sinh thu nhậnđược là có ích và sẽcòn đọng
lại mãi. Chứmớkiến thức ngăn nắp kia, thửhỏi một vịgiáo sưbất kì nào vềvăn
hoặc vềsử, chắc gì ông ấy nhớ được.

Dạy bài tập Vật lý theo phương
pháp LAMAP
Từnăm 1996, các nhà khoa học Pháp đã đề xuất một chiến lược dạy
học các môn khoa học tựnhiên viết tắt LAMAP. So với phương pháp dạy học
truyền thống, dạy học theo phương pháp “LAMAP” có nhiềuưuđiểm như
phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng chúng tôi còn phát hiện thấy với
hình thức thi trắc nghiệm, dạy học theo phương pháp “LAMAP” giúp cho học sinh
mởrộng sửhiểu biết, phương pháp tưduy linh hoạt hơn và nhạy cảm.
Theo GS TS Đinh Quang Báo: “LAMAP có thểcoi là sựquy trình hóa một cách
logic phương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từchưa biếtđến biết. Giáo viên sẽ
cho học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự
mình tiến hành nghiên cứu qua thực nghiệm. Theo GS Jean Trần Thanh Vân: "Có
thểhọc sinh sẽ được yêu cầu tiến hành đođạc nhiều lầnđối với cùng một hiện
tượng.

Qua đối chiếu kết quảcác lầnđo, các em sẽnhận thấy rằng giữa các kết quả
với nhau vẫn có sai số, dù nhỏ. Nhờvậy, các em sẽhình thành tưduy "không có cái
gì là tuyệtđối", vì vậy các em sẽtrởnên thận trọng đối với từng lời nói, việc làm
của mình sau này".
Hình thức thi trắc nghiệm khách quan tuyển sinh đại học, đề thi có thểphủ
kín phạm vi kiến thức của một môn học trong chương THPT. Vì vậy, không thểdạy
“tủ” học “tủ” mà phải học toàn diện dạy kín chương trình. Để làm bài thi trắc
nghiệm hiệu quả, thí sinh cần rèn luyện kỹnăng tưduy và khảnăng vận dụng kiến
thức bởi thi trắc nghiệmđòi hỏi thí sinh phải xửlý nhanh hơn khi làm bài trắc
nghiệmđể tiết kiệm thời gian.
Theo đề xuất của nhóm tác giả(1), tiến trình dạy học gồm 5 pha được sơ đồ
hóa nhưhình bên.
Dựa theo tiến trình này, chúng tôi vận dụng để thiết kếhoạtđộng nhận thức
cho các chuyên đề giải các dạng bài tập.
Trong quá trình giảng dạy
chúng tôi nhận thấy, khi vận dụng phương pháp LAMAP dẫn dắt học sinh giải bài
tập vật lí từ đơn giảnđến phức tạp. Sau đó dẫn dắt học sinh phát hiện dấu hiệu bản
chất của từng dạng toán cụthểvà đề xuất một “QUY TRÌNH GIẢI NHANH” của dạng

