NGUYÊN VĂN ĐỨC Năng suât sinh sản, sản xuất của lợn Móng Cái ....
29
NĂNG SUẤT SINH SẢN, SẢN XUẤT CỦA LỢN MÓNG CÁI, PIETRAIN,
LANDRACE, YORKSHIRE VÀ ƯU THẾ LAI CỦA LỢN LAI F1(LRxMC),
F1(YxMC) VÀ F1(PixMC)
Nguyễn Văn Đức1*, Bùi Quang H2, Giang Hồng Tuyến3, Đặng Đình Trung1
,
Nguyn Văn Trung1, Trần Quốc Việt1 và Nguyễn Thị Viễn4
1Viện Chăn nuôi;2Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghip và PTNT
3Trường Đại học Dân lp Hải Phòng
4Viện Khoa học K thuật Nông nghiệp miền Nam
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Đức. Viện Chăn nuôi - Thụy Phương - Từ liêm - Hà Nội
Tel: 098.642.2026 ; Email: nvanduc48@gmail.com
ABSTRACT
Reproductive and production trait and their heterosis from Mong cái crossbreds
F1(PIxMC), F1(LRxMC) and F1(YxMC)
Data set collected from 630 parities, 180 fattening and 48 slaughtering of MC, Pi, LR, Y, F1(PixMC),
F1(LRxMC) and F1(YxMC) pigs from 2004 to 2008 rearing in Dong Anh-Ha Noi was used for this study.
Number born alive of MC, Pi, LR, Y, F1(PixMC), F1(LRxMC) and F1(YxMC) sows was 11.671.71, 9.611.01,
10.631.67, 10.141.45, 12.521.30, 12.181.28, 12.131.20 piglet/litter and weight at weaning was 6.040.56,
14.430.99, 14.220.97, 14.290.96, 11.191.20, 11.011.10 and 11.021.06 kg/piglet, respectively. Average
daily gain was 320.0431.23, 704.3370.41, 674.2764.26, 675.6064.30, 519.8956.60, 509.5954.08 and
510.5655.11 g/day for MC, Pi, LR, Y, F1(PixMC), F1(LRxMC) and F1(YxMC) pigs, respectively. Heterosis for
number born alive was 12.97%, 4.12%, 4.26% and average daily gain was 2.49%, 2.50%, 2.56% for F1(PixMC),
F1(LRxMC) and F1(YxMC) pigs, respectively.
Keywords: Pigs, Mong Cai Crossbreds, Reproductive and production traits, Heterosis.
MỞ ĐẦU
Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi nói riêng nông nghiệp nói
chung nước ta. Năng suất ngành chăn nuôi lợn nước ta trong thời gian qua đã không
ngừng được nâng lên rõ rệt, trong đó ng tác giống. Trong lĩnh vực giống, các nhà khoa
học đã chọn lọc giống ln thuần ni địa như ng Cái (MC) các giống nhập nội cao sản
như Landrace (LR), Large White (Y), Pietrain (Pi) đđưa năng suất đàn lợn tăng lên. Ln
MC là một giống lợn nội rất phổ biến, được hình thành và pt triển từ lâu trong điều kiện khí
hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, chủ yếu làm nái nền, lai vi đực ngoại tạo nên các thợp lợn
lai nuôi thịt có hiệu quả cao vì giống MC có nhiều ưu điểm về sinh sản như đẻ sớm, số con sơ
sinh và cai sa cao. Song, lợn MC cũng có nhược điểm: ng khối lượng (TKL) thấp, tiêu tốn
thức ăn (TTTA) cao và t lệ nạc (TLN) thấp dẫn đến nuôi chúng để khai thác thịt là không
thích hợp. Để những nh trạng sinh sn và sản xuất của các tổ hp lai đạt năng suất cao và
cht lượng tốt, chúng cn phải được chn lọc và lai tạo các thợp lai. Hơn na, do nhu cầu
tiêu ng thịt lợn chất ng cao của cộng đồng và thtrường xuất khẩu ngày mt cao,
hàng loạt các giống lợn có năng suất cao được nhập vào nước ta: LR, Y, DR nhằm đáp ứng
nhu cầu cấp bách đó. Bước đầu, các giống ln cao sản nhập ngoại y được nhân thuần, lai
tạo vi nhau tạo các tổ hợp lợn lai nuôi thịt đóng góp lớn cho vic làm ng nhanh TKL
TLN, giảm TTTA và hiệu quả chăn nuôi cao.
Sử dụng nguồn gen cao sản nhập ngoại lai với MC đã được chọn lọc nhằm khai thác tối đa ưu
thế lai (ƯTL) một trong những hướng ng tác giống của ngành chăn nuôi lợn nước ta.
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2 - 2010
30
Trong những năm qua, một số tổ hợp lai giữa lợn LR và Y với lợn MC đã được tạo ra đưa
năng suất và hiệu quchăn nuôi lợn tăng lên rệt. Ngoài ngun gen LR và Y cao sản, Pi là
giống lợn ngoại TKL cao, TTTA thấp và TLN rất cao được chn làm nguyên liệu lai nhằm
cải thiện những nhược điểm của lợn MC trong các tổ hợp lai đcác tổ hợp MC lai đạt năng
suất cao và chất lượng tốt. Với những do chính đáng này, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu kh năng sinh trưởng, sản xuất ưu thế lai trên lợn MC, Pi, LR, Y,
F1(LRxMC), F1(YxMC) F1(PixMC)" nhằm:
Xác định chất lượng các giống lợn thuần MC, Pi, LR, Y và các thợp lợn lai F1(LRxMC),
F1(YxMC) và F1(PixMC) nuôi trong nông h tại Huyn Đông Anh, Thành phố Hà Nội
Xác định được ưu thế lai của một số tính trạng trên các t hợp lai F1(LRxMC), F1(YxMC)
F1(PixMC) về khả năng sản xuất: SCSSS, SCCS, KLss, KLcs, TKL, TTTA và TLN.
VT LIỆU VÀ PƠNG PP NGHIÊN CU
Vt liệu nghiên cứu
Đối tựơng nghiên cứu
Các giống lợn thuần MC (Nhóm MC3000), Pi, Y, LR và các tổ hợp lai F1(LRxMC), F1(YxMC)
và F1(PixMC).
c tính trạng nghiên cứu
Số con sơ sinh còn sống/lứa (SCSSS); S con cai sữa/lứa (SCCS) ở 42 ngày tui.
Khối lượng sơ sinh (KLss); Khối lượng cai sữa (KLcs)
Tăng khối lượng (TKL); Tiêu tn thức ăn (TTTA); T lệ nạc/thịt xẻ (TLN)
Thời gian nghiên cứu
Từ năm 2004 đến năm 2008
Địa điểm nghiên cứu
Các nông hnuôi lợn nái và lợn thịt trong Huyn Đông Anh - Hà Nội
Phương pp nghiên cứu
Theo dõi năng suất sinh sản của 375 lứa đcủa giống lợn thuần MC, Pi, LR, Y và lợn thuần
MC phối với tinh lợn ngoại Pi, LR, Y; khả năng sản xuất thịt của lợn thuần MC, Pi, LR, Y và
của các tổ hợp lợn lai F1(LRxMC), F1(YxMC) F1(PixMC) theo phương pháp ghi chép số
liệu thông dụng trong các hộ chăn nuôi tại Huyện Đông Anh - Ni từ năm 2004 đến năm
2008.
Với 340 lợn MC, Pi, LR, Y, F1(LRxMC), F1(YxMC) và F1(PixMC) được nuôi v béo tại
nông h Đông Anh để xác định TKL, TTTA và TLN. Thí nghiệm vỗ béo bắt đầu lúc lợn đạt 3
tháng tui và kết thúc lúc 7 tháng tuổi; Cân lượng thức ăn cho vào thừa; Chế đ ăn tự do;
Cân lợn hàng tng; M khảo sát 170 lợn để đánh giá TLN bằng cách cân trước khi giết thịt,
móc hàm, thịt xẻ, tách các phn thịt nạc, mỡ, xương và da.
Xlý s liệu
Số trung bình bình phương nhỏ nhất (LSM) và Sai s chuẩn (SE) theo SAS (1993). Ưu thế lai
được xác đnh theo công thc của Falconer và Mackay (1996). So sánh mức đ sai khác giữa
NGUYÊN VĂN ĐỨC Năng suât sinh sản, sản xuất của lợn Móng Cái ....
31
các s trung bình được xác định theo phương pháp LSD của Nguyễn Văn Đức và Thanh
Hải (2002).
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
ng suất sinh sản
Số con sơ sinh sng/lứa
Đối với lợn nái, SCSSS là nh trng quan trọng nhất, là chìa khoá quyết định năng suất, chất
lượng đàn nái hiệu quả kinh tế chăn nuôi ln nái. i chung, lợn nái đcàng nhiều con
càng tốt. SCSSS ca nhóm ln nái MC nuôi trong nông hộ Đông Anh là 11,67 con/lứa, cao
hơn so với 11,07 con/lứa ca Nguyễn Văn Thiện và cng s(1999). SCSSS ca 3 giống Pi,
LR Y 9,61; 10,63 10,14 con/lứa, cao hơn kết qu9,03 con/lứa của Trần Thị n
(2000), phânch sliệu của trại heo công nghiệp nuôi tại Thành phHồ Chí Minh.
Bảng 1. Các tính trạng sinh sản của các giống lợn nái thuần phi cùng ging và khác giống
Giống lợn thuần và t hợp lợn lai
nh
trạng
Tham
s MCxMC
PixPi LRxLR YxY LRxMC YxMC PixMC
SCSSS
(con)
Số lứa
LSM
SE
150
11,67
1,71
15
9,61
1,01
15
10,63
1,67
15
10,14
1,45
60
12,14
1,28
60
12,13
1,20
60
12,52
1,30
SCCS
(con)
Số lứa
LSM
SE
150
9,44
1,02
15
8,82
1,07
15
9,00
1,12
15
8,85
1,10
60
9,60
1,13
60
9,54
1,11
60
10,19
1,24
KLss
(kg)
Số lứa
LSM
SE
150
0,60
0,06
15
1,48
0,06
15
1,42
0,07
15
1,43
0,08
60
1,10
0,11
60
1,12
0,12
60
1,15
0,13
KLcs
(kg)
Số lứa
LSM
SE
150
6,04
0,56
15
14,43
0,99
15
14,22
0,97
15
14,29
0,96
60
11,01
1,10
60
11,02
1,06
60
11,19
1,20
SCSSS của lợn nái MC phối với tinh các giống lợn ngoại để tạo các tổ hợp lợn lai
F1(LRxMC), F1(YxMC) và F1(PixMC) đạt rất cao, đó là 12,14; 12,13 và 12,52 con/lứa. Sự sai
khác vSCSSS giữa các nhóm lợn biểu hiện rõ rt (p<0,01), ngoi trgia MC phối vi lợn
ngoại. Kết quả này cao hơn so với 10,39 con/lứa tìm được khi phân tích bộ số liệu của đàn lợn
c nước (Nguyn Văn Đức, 1999); 10,50-9,90 con/lứa đàn nuôi tại Thái Nguyên của
Nguyễn Văn Vượng (2000); 11,00 con/lứa của Đặng Bình và Nguyn Văn Thắng (2002)
Hà Nội và Hưng Yên.
Số con cai sữa/lứa
Scon cai sữa/lứa c 42 ngày tui tương ứng ca mỗi giống thuần nuôi trong nông hộ tại
Đông Anh là 9,44 con/lứa (MC); 8,82 con/lứa (Pi); 9,00 con/la (LR) và 8,85 con/lứa (Y). Sở
dĩ, SCCS của lợn MC chỉ đt 9,44 con/lứa là do khi lượng lợn i MC nhỏ nên người ta giữ
lại số con đ nuôi thấp và ưu tiên lợn cái cho dù KLss nhvì lợn đực hậu bị MC khó bán hoặc
bán với giá rất thấp. Khi nghiên cứu vkhả năng sinh sản của lợn nái MC, Lê Hồng Minh
(2000) thông báo vkết quả thực hiện ở Tuyên Quang đạt 9,18 con/lứa. SCCS 42 ngày ca 3
nhóm lợn F1(LRxMC), F1(YxMC) và F1(PixMC) nuôi tại Đông Anh - Nội là 9,60; 9,54 và
10,19 con/lứa. Sự sai khác về SCCS giữa các nhóm biểu hiện rõ rệt (p<0,01). Kết quả này cao
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2 - 2010
32
hơn so với kết quả 9,31 con/lứa (Nguyễn Văn Đức, 1997) khi phân tích bộ số liệu của cả nước
của nái F1(LRxMC) và F1(YxMC) t năm 1985-1996.
Khi lượng sơ sinh
KL sơ sinh ca các giống lợn thuần MC thấp nhất, đó là 0,60 kg, trong lúc đó, Pi, LR và Y
1,48; 1,42 và 1,43 kg. Ssai khác về KL giữa các giống lợn thuần và các thợp lai biểu hiện
rất rõ rệt (p<0,01). KL sơ sinh của đàn ln sinh ra từ lợn nái MC phối với tinh ln ngoại tạo ra
F1(LRxMC) và F1(YxMC) là 1,100,11 kg 1,120,12kg thấp hơn so vi 1,150,13 kg của
F1(PixMC). Sự sai khác này tuy nh, song về mặt thống kê có ý nghĩa rõ rệt (p<0,05). Kết quả
này nhhơn so vi kết qu1,23kg, nh toán được của Nguyễn Văn Đức (1997) của toàn b
s liệu MC lai của cả nước.
Khi lượng cai sữa
KLcs lúc 42 ngày tui của giống lợn MC, Pi, LR và Y 6,04 kg; 14,43; 14,22 14,29 kg.
Đối vi tổ hợp lợn lai F1(YxMC), F1(LRxMC) F1(PixMC), KLcs đạt tới 11,01; 11,02 và
11,19 kg. So sánh Pcs giữa 3 nhóm ln lai cho thy, lợn con cai sữa 42 ngày ca F1(PixMC)
cao hơn 2 nhóm F1(YxMC) F1(LRxMC) (P<0,01). Kết quả này chng tỏ rằng lợn Pi đã
được chọn lc rất tốt, khả năng làm tăng khi ợng trong các con lai cao hơn lợn Y hoặc
LR đang nuôi tại Đông Anh. Hơn nữa, nhóm lợn lai F1(PixMC) lớn nhanh có thể do ưu thế lai
lớn hơn nhóm F1(YxMC) F1(LRxMC). KLcs của t hợp lai F1(PixMC) 11,19 kg nếu sử
dụng đực Pi. Trong đó, nếu phi vi đực LR đực Y thì Pcs là 11,01 11,02 kg. Ssai
khác này rõ rệt (p<0,05). Khi lượng này cao n kết qu10,91 kg, tìm được của Nguyễn
Văn Đức (1997) ca s liệu thu được trông toàn b đàn lợn MC lai của cả nước. Với những
kết quban đầu về SCSSS, SCCS, KLss và KLcs cho pp kết luận tổ hợp lai Pi với MC
thể là mt tổ hợp MC lai tốt nhất. Sử dng đực Pi phối với nái MC sẽ mang lại năng suất sinh
sản cao, chắc chn dẫn đến hiệu qukinh tế cao. Đàn lợn con F1(PixMC) ngoại hình rất
đẹp, khoẻ mạnh và kh năng phát triển tốt vì khối lượng lúc cai sữa 42 ngày tui đã cao
hơn nhóm lợn F1(YxMC) và F1(LRxMC).
Khnăng sản xuất thịt của lợn thuần và lai
Tăng khối lượng
Bảng 2. Khả năng sản xuất thịt của các giống lợn thuần và lai
Giống ln thuần và thợp lai
nh
trạng
Tham
s MCxMC PixPi LRxLR YxY LRxMC YxMC PixMC
TKL
(g/ngày)
n
LSM
SE
60
320,04
31,23
40
704,33
70,41
60
674,27
64,26
60
675,60
64,30
40
509,59
54,08
40
510,56
55,11
40
519,89
56,60
TTTA
(kg/kg)
n
LSM
SE
60
4,20
0,33
40
3,30
0,28
60
3,32
0,31
60
3,34
0,32
40
3,65
0,32
40
3,66
0,35
40
3,60
0,33
TLN
(%)
n
LSM
SE
30
34,01
3,01
20
58,75
4,26
30
55,66
4,12
30
55,72
4,19
20
45,60
4,65
20
45,14
4,78
20
47,38
4,66
Ghi chú: LSM là trung bìnhnh phương nhỏ nhất và SE là sai s chuẩn.
TKL là 1 trong những tính trạng rất quan trọng trong chăn nuôi ln thịt. Lợn nuôi thịt có TKL
nhanh scho người chăn nuôi thu được nhiều lời hơn vì giảm thi gian nuôi, giảm thời gian
NGUYÊN VĂN ĐỨC Năng suât sinh sản, sản xuất của lợn Móng Cái ....
33
vốn đầu tư, giảm công nuôi, giảm thời gian chiếm dụng chuồng trại và giảm thc ăn cho duy
trì ca lợn, vv. TKL của lợn MC đt 320,04 g/ngày, cao hơn so vi kết qucác báo cáo 0,28
kg/ngày tìm được của Nguyễn Văn Đức (1997).
TKL ở 3 giốngPi, LR và Y là 704,33; 674,27 và 675,60, cao hơn so với các giá trị tìm được
các nghiên cứu trên Y LR, đó 0,52 kg/ngày của Nguyn Văn Đức (1997); 578,28 và
597,76 g/ngày ca Nguyễn Văn Đức và cng sự (2000). Trong lúc đó, TKL của tổ hợp lợn lai
F1 giữa LR, Y, Pi vi MC 509,59; 510,56 và 519,89 g/ngày. Điều này cho thấy tổ hợp lai
F1(PixMC) đạt tốc độ TKL cao hơn so với F1(LRxMC) F1(YxMC). Các kết qunày cao
hơn so với 0,44 kg/ngày ca Nguyễn Văn Đức (1997); 477,62 và 487,21 g/ngày ca Nguyn
Văn Đức và cộng sự (2000); 449,65 g/ngày ca Đặng Vũ Bình và Nguyn n Thắng (2002).
Tiêu tốn thức ăn
Lợn MC nuôi trong nông h Đông Anh mức TTTA cao, đó là 4,20 kg:kg. Tuy vy, kết
qunghiên cứu này thấp hơn kết quả nghiên cứu trên MC, đó 4,65 kg:kg của Nguyn
Quế i (1996); 5,18 kg:kg của Nguyễn Văn Đức (1997); 4,33 kg:kg của Nguyễn n Đức
và Nguyn Văn Hà (2000); 4,30 kg:kg của Nguyễn Văn Đức và cộng sự (2001).
TTTA ở 3 ging Pi, LR và Y nuôi trong nông hộ ở Đông Anh là 3,30; 3,32 và 3,34 kg:kg. Kết
qunày tuy cao, song vẫn nằm trong phạm vi cho phép, tương đương với kết quả đã công b
trong nghiên cứu trên giống LR và Y, biến động t2,41 đến 3,57 kg:kg (McPhee và cộng sự,
1994), nhưng thấp hơn kết quả công bố của Nguyễn Văn Đức (1997) là 3,43 kg:kg đối với LR
và 3,45 kg:kg đối với Y.
Trong lúc đó, TTTA của tổ hợp lợn lai F1(LRxMC), F1(YxMC) và F1(PixMC) là 3,65; 3,66 và
3,60 kg:kg. Điều này cho thy các tổ hợp lai F1 có mức TTTA thấp hơn so với trung bình b
mẹ chúng. Các kết quả này phợp với hầu hết kết quả các báo o trước đây, nhưng cao hơn
so với kết qu3,42 kg:kg tìm được trên đàn lợn lai F1(PixMC) nuôi Hưng n Hà Nội
của Đặng Bình Nguyễn Văn Thắng (2002).
Tỷ lệ nạc
TLN ca ln MC thí nghiệm nuôi trong nông hộ Đông Anh này 34,01%. Tkết qu
này cho phép chúng ta sơ b kết luận rằng nhóm lợn MC3000 đã thành công mục tiêu chn lọc.
Kết quả trong nghiên cứu này cao hơn kết quả trong nghiên cứu tổng hợp ging lợn MC, đó là
33% của Nguyễn n Đức (1997). Kết qunày thp hơn kết qu39,21% ca Nguyn Văn
Đức và cng s(2001) nghiên cứu trên nhóm ln MC15 là nhóm MC cao sản về TLN. TLN
3 giống Pi, LR và Y là 58,75; 55,66 và 55,72%. Kết quả này tương đương với kết quả đã công
btrong nghiên cứu trên giống LR và Y, biến động t51,3 đến 58,5% (Nguyễn Văn Đức và
cộng sự, 2001) .
TLN ca các tổ hợp lợn lai F1(LRxMC), F1(YxMC) và F1(PixMC) là 45,60; 45,14 và 47,38%.
Các kết quy cao hơn so với hầu hết kết qu40,05% của tổ hợp lai F1(YxMC) nuôi tại
nông h tỉnh Thái Nguyên (Nguyn Văn Vượng, 2000). Sở dĩ, kết qunày cao hơn so vi các
kết qu42,95% của Đặng Bình và Nguyễn Văn Thắng (2002) và 44,9% của Nguyễn Văn
Đức và cng sự (2001) cùng nghiên cứu trên ln lai F1(PixMC) có thdo ngun gen được cải
tiến và môi trường chăn nuôi tốt hơn so với trước đây.
ƯTL của các tổ hp lợn lai F1(LRxMC), F1(YxMC) và F1(PixMC)
Trong chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng, vic khai thác tối đa ƯTL nhằm nâng cao
năng sut vật nuôi và chất ng sản phẩm là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế. Vì