Nghề In Và Đồ Họa Sách Thời Nguyễn
Khi tìm hiu về nghề in sách ở Việt Nam thời xưa không thể không nhắc đến
Lương NHộc và nghlàm giy của ta.
Phn Chư Công nghệ Tổ sư sách Liệt Tiên truyn có chép, Hộc người Hồng
Lục huyện Trường Tân lộ Hải Dương, đỗ Thám hoa khoa Nhâm Tut niên
hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), quan đến chức Đô ngự sử, từng hai lần sang sứ
Trung Quốc và học đượcch chế bản in. Đi sứ về, Hộc dạy cho dân Hồng
Lục và Liu Tràng (Hồng Liễu), vì thế dân có nghề này. Sau Hộc mất, n
lập đền thờ tôn làm Tổ sư, Triều đình cũng sắc chỉ phong cho làm Phúc
thần.
Điều này không có nghĩa là trước đó tại Việt Nam không có nghề khắc in
mộc bản. Nhưng trên thực tế mà nói, sự hoạch định thành phường hội, làng
nghề phải nói có từ
sau khi Hộc đi sứ về.
Có thuyết cho rằng
suốt từ thế kỷ I đến
thế kỷ III, đất Luy Lâu
đã là một trung m
Phật giáo và đã từng
cho khắc in kinh Phật.
XemHoặc luận
của Mâu Bác, hay qua
chùm thư tranh luận giữa bọn Đạo Cao, Pháp Minh, Lý Miễu cũng đủ biết
Phật giáo ta thời Bắc thuộc như thế nào. Còn ăn cứ vào ngôn từ trong
thư của Đàm Thiên gửi Tùy Văn Đế nói về việc in khắc các bộ kinh ở Giao
Châu cơ hồ ít chứng liệu để chúng ta có một ý niệm tự hào vlịch sử ngành
in nước nhà. Vì thế, để kết luận và khng định một cách khoa học lại là điều
phải dè dt rất nhiều. Bởi Trung Quốc vào đầu thế kỷ II Sai Luân mới cải
tiến phương pháp làm giấy, mãi đến trước sau thế kỷ VIII họ mới phát minh
ra công nghin ván khắc. Vì thế thuyết nói trên là không thực, công nghệ
khắc in sách ở ta qua các bộ sử lớn đều có đề cập đến, nhất là vào thời -
Trần, khi mà Phật giáo đang được sủng ái nơi chốn triều trung đã li dụng
cho san khắc nhiều lần bộ Đại Tạng kinh thỉnh từ Trung Quốc về phổ biến
cho các tviện trong nước. Nhưng tất cả những gì chúng ta được vào giai
đoạn này đều bị Minh Thành Tổ ra sắc lệnh hủy diệt, nhất là khi Trương Phụ
sang nước ta lần hai.
Phổ môn xuất tướng đồ. Kinh in năm Thành Thái 8
(1896). Kinh xếp, 30cmx12cm, 112tr, 42 đồ hình
theo dng nhất tnhất họa liên hoàn
Suốt một thời kỳ từ lúc Nguyễn Trãi
đọc Cáo Bình Ngô cho đến khi Nguyễn
Ánh ngi rũ áo trên ngôi với bao nhiêu
biến cố thăng trầm, vì nhiều lý so khiến
cho sách vở của nước ta mất mát nhiều.
Theo bước thống kê ban đầu thì 70% s
sách còn lại thuộc di sản Hán Nôm là
sách chép tay, ssách còn lại là sách in
có niên đại sớm nhất vào thời Lê trung
hưng trở lại (trong đó số sách in vào
thời Nguyễn chiếm đa phần).
40 năm đầu của Gia Long và Minh
Mạng là thời kỳ vàng son trong sự trì
trệ chung của thế cuộc nhà Nguyn, cho dù những thành công ghi nhn
về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,… Nhưng do bản chất lạc hậu, nền tảng tư
tưởng chậm so với lịch sử cho nên Nho giáo chỉ còn là nhng công thức
ràng buộc, Phật giáo ở làng vi h Tam giáo đồng đường cũng đã nhạt nhẽo
đi không còn là chỗ dựa tinh thần thực sự của trí thức và dân lao động. Nếu
như công nghệ xuất bản sách ở Trung Quốc hưng thịnh nhất vào thời Tống-
Minh thì Việt Nam đỉnh cao đó li được đúc kết ở vương triều phong kiến
cuối cùng này. Theo thống kê của Mai Hồng và Nguyễn Hữu Mùi thì ở ta
tới 318 “nhà in”, đại bộ phận mang niên đại Nguyễn. Có một số sách gn với
một vài cơ sở in có tiếng và tui thọ khá lâu như phường in Hồng Liễu 211
tuổi (1683-1904), Đa Bảo tự 216 tuổi (1665-1881), Vĩnh Khánh tự 157 tuổi
(1750-1907), Đoan Nghiêm tự 140 tuổi (1763-1903), Quốc Tử Giám 89 tuổi
(1820-1909), Liễu Văn đường 91 tuổi (1834-1925),… Gắn với một số nhân
vật khởi xướng phục hưng công nghệ in khắc trong giai đoạn này như hòa
thượng Phúc Đường (chùa Liên Phái), Trần Công Hiến (Hải Học đường),
Kiều Oanh (Ánh Hiên hiu), tổng tài Trương Đăng Quế, Cao Xuân Dục,…
Chưa bao giờ nghề in phát triển nở rộ như giai đoạn này. Xét về tính chất
học thuật cùng nội dung các sách được in liên quan ti nhiều vấn đề, từ tôn
giáo, chính trị, xã hội, văn, sử cho đến pháp chế, nghệ thuật,… Sách in ra
được chia theo Tạng (Phật giáo) hoặc theo c bộ Kinh, sử, tử, tập, cử nghệ
(Nho giáo) lưu trữ trong các thư viện lớn thời Nguyễn như Thư viện Tụ
Khuê (1820-1840), thư viện Quốc Sử quán (1841), tviện gia đình
Nguyên Trung (1846), thư viện Nội các, thư viện Học viện Viễn đông Bác
cổ (Ecole Francaise d’ Extrême-Orient),… chưa kể đến những thư viện và
những nơi làng bản thuộc các tổ đình ln như chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc
Giang), Bổ Đà (Bắc Ninh), Vĩnh Khánh (Hải Dương), Bích Động (Ninh
Bình), chùa Liên Phái, Bà Đá, Hoằng Ân (Hà Ni),...
Quan đế bảo huấn tượng chú. B
n
khắc lại năm Tự Đức Quý Dậu
(1873) ti chùa Liên Phái (Hà Ni),
theo bn in năm Đạo Quang 2
(1822)
Tóm lược lại, tathể phân hoạch các đầu sách được in thuộc 3 khu vực: 1.
Do triều đình phong kiến tổ chức và quản lý; 2. Do đình, chùa, quán, miếu
tiến hành; 3. Do các phường hội, tổ chức nhân đảm nhiệm.
Sự ưu việt về tài chính giúp cho các sở do nhà nước quản lý tiến hành in
các bộ sách đồ sộ và có giá trị, điển hình như các bộ Đại Nam thực lục,
Khâm định Việt sử thông giám, cương mục, hay các bộ Đại Nam liệt truyện,
Đăng khoa lục,… cùng một số sách khác đều do Quốc Sử qn đảm nhận in
khắc.
Khác với những ch do triều đình phong kiến ấn hành, kinh sách thuộc
phm vi nhà chùa, từ, quán đảm nhận thì tính chất học thuật phần lớn liên
quan ti tôn giáo, điều này không có nghĩa là Đạo giáo và Phật giáo không
khắc các đầu sách liên đới. Điển hình như bộ Hải thượng Y tông tâm lĩnh
của Lê Hữu Trác được khắc in ngay tại chùa Đồng Nhân (Bắc Ninh), ván in
phần lớn các bộ kinh lớn hiện được tàng bn ở các chùa Vĩnh Khánh, Bổ Đà,
Dư Hàng, Đá, Liên Phái, Bích Động,… có nơi chỉ in một hai đầu sách
nhưng có những nơi như đền Ngọc Sơn có cmột quyển tmục sách do
bản đều in ra, đủ minh chứng khối lượng sách Tôn giáo được in ra vào giai
đoạn này nhiu như thế nào!
Khi nói đến phần sách thuộc khu vực
nhân tổ chức không thể không nói
đến hai phường in Hồng- Liu (Hải
Hưng), sự kỳ cựu về tay nghề khiến
họ có tên hầu hết các bộ sách thuộc
mọi khu vực quản lý. Sự đóng góp
không nhbởi những hội chủ hưng
công có tước vị nơi chốn triều trung.
Sự lỏng lẻo về vương quyền bên cnh
sự biến chuyển dữ dội của xã hội Việt
Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,
khiến nhu cầu về sách vở, và các tri
thức khoa học trở nên thiết yếu khiến
cho hàng loạt những hiệu, đường, trai, lâu ra đời, báo hiệu một thời kỳ nở rộ
của nghề in kéo theo sự lụi tàn “di già” của nền Nho học nước nhà. Những
nhà in tương đối có tiếng như Quán Văn đường, Liu Văn đường, Áng Hiên
hiệu (Hà Ni),… Hải Học đường, Hướng Thiện đường (Hải Hưng), Ninh
Phúc đường (Hà Nam Ninh), nhà in Đắc Lập (Huế),… đã đáp ứng đầy đủ
những sách theo đơn đặt hàng. Bên cnh những tác phẩm in ra có thể gọi là
thin bn, chân bản, không ít những tác phẩm cạnh tranh thiếu sự khảo đính
dẫn đến tình trạng chữ tác đánh chữ tộ, ngộ thành quá.
Kiểu thức sách ở ta chủ yếu có hai loại: Loại kinh xếp là loi sách đóng gáy.
Tây Phương công cứ. Chùa Bồ Đà
(Tứ Ân tự, Việt Yên, Bắc Giang) tổ
chức in khắc kinh vào cuối TK 18.
Bản in lại năm 1995.
Sự triệt để trong cách trình bày một trang sách đã được người Trung Quốc
chuẩn hóa từ biên lan (vin trang), thư nhĩ (tai sách), bản tâm (lòng sách),
ngư vĩ (đuôi cá),… ý thức bố cục các loại sách có đồ hình minh họa theo
dạng thượng đồ hạ văn, nhất thư nhất họa, trừu đồ hay là dạng thượng
phương đồ mục lưỡng bàng liên cú.
Những công đoạn khắc in sách được phân việc một cách cụ thể, từ người
viết chữ đến thợ khắc n, đôi khi cần có cả thợ vẽ, cuối cùng mới đến
người in đóng. Thợ khắc ván Hồng Liễu trước thời Nguyễn kng ít những
ngườikhả năng kiêm tt c công vêc từ viết vẽ đến khắc in. Xét cho
cùng thì dù là sách Nho học hay tôn giáo, sách thuộc phạm vi quản lý nào đi
chăng nữa thì cũng do đôi bàn tay của người thợ khắc mà ra, bởi lẽ họ không
thuộc quyền quản lý của ai cả. Ai trưng dụng, ai thuê mướn và ai trả tiền
thích đáng thì làm.
Nếu như ở cuối thời Lê, triu đình ra sắc lệnh cấm dân chúng dùng glàm
ván khắc kinh kệ của Phật, Lão hoặc tvăn trái với quan điểm chính thống
của triều đình thì sang thời Nguyễn, vào năm 1820, việc in ấn lại được tập
trung kinh đô Huế, ai muốn gì thì phi gửi đơn từ cùng giấy mực lên cho
Sử quán xem xét. Qua đây chứng tỏ ý thức tàng bn đồng nghĩa với việc giữ
bản quyền và qun lý việc in khắc tràn lan. Hình thái này vốn dĩ xuất hiện t
khá lâu trong các tviện và đạo qn.
Người xưa có câu “Khán đồ thức tự” (xem tranh biết được chữ), qua đây đ
biết công năng giáo dục của đồ hình minh họa sách lớn như thế nào! Hay nói
như cách nói của Trịnh Chấn Đạch: “Một bức tranh đẹp, cũng giống như
một áng văn trác tuyệt, khiến cho người xem như đang đứng ở trong cảnh”.
Từ mối tương thông, tương hỗ giữa tranh và chữ, những người thợ khắc như
phường Kiến An- Phúc Kiến- Trung Quốc đã độc sáng ra cách trình bày theo
li thượng đồ hạ văn và nhất thư nhất họa có ảnh hưởng lớn đến bố cục một
tay sách Việt Nam sau này. Vào nửa cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII
với việc Thái tể Tuyên quận công là Trịnh Quán cho khắc (?) bộ Phật thuyết
Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh theo lối bố cục thượng đồ hạ văn, có thể tạm
coi đây là những cuốn sách sơ khai cho lối bố cục này còn lưu giữ đến ngày
nay (xem đồ hình). Năm Minh Mệnh thứ hai (1821) Tỷ khiêu Tính Tình
chùa Thiên Hòa (Huế) cho khắc in bộ Diệm khẩu Du già tập yếu thí thực
khoa nghi và bộ Phật thuyết cứu bạt Diệm ngạ quỷ Đà la ni kinh, hai trong
những bộ sách Phật giáo tiêu biểu đại din cho lối trình bày trên vào thời
Nguyễn. Cũng vào thời vua Minh Mệnh thứ 13 (1832) Sa di Phổ Hòa chùa
Bảo Quang cho khắc in bộ Ngự chế Như Lai ứng hiện đtheo lối nhất t
nhất họa có tính liên hoàn hoành tráng tinh xảo về cách trình bày, minh họa,
kỹ thuật khắc chữ. Cùng dng với lối trình bày này cũng phải kể đến những
bộ kinh có quy mô không kém như bộ Quan Âm xuất tướng đồ, Phổ môn
xuất tướng đồ, Đạo gia có các sách Văn đế toàn thư, Âm chất văn chú,…
Nếu xét về nội dung biểu đạt thì phần lớn tranh nằm trong sách Phật giáo.
Việc phân loại tranh cho thấy sự phong p hết cỡ về thể loại, cấu đồ, phong
cách. Tóm li, ta có my loại tranh sau:
Đồ họa sách Phật giáo:
Tranh tượng Phật, Bồ Tát, La Hán,…
Cao ng
Tranh truyn nhà Phật
Tranh Kinh biến
Tranh csự
Tranh bn sinh
Tranh phong cnh chùa chiền
Tranh Man-đồ-la
Tranh Thủy lục
Tạp loại
Đồ họa sách Đạo giáo:
Tranh tiểu truyện
Tranh nhân vật
Tranh Bùa
Đồ họa sách Nho giáo:
Tranh tiểu truyện
Nhân vật
Tạp loại
Ngoài ra, số đồ minh họa cho các sách truyện, thơ Nôm, n học, cùng các
sách y học, địa lý, toán số cũng không phải là ít.
Việc lợi dụng kỹ thuật ấn loát bằng ván
khắc đang thịnh hành trong dân gian làm
công cụ truyền giáo hoặc phổ cập kiến
thức là công việc không của riêng chùa
viện và tín đồ Phật giáo, nhưng để đưa ra
định hình mng tranh đồ họa sách của
một thời đại thì cơ bản vẫn là dòng tranh
đồ họa trong sách Phật giáo.
Phn ln các sách được in khắc ở Việt
Nam khắc li theo sách của người Trung
Quốc. Bởi lẽ sách do người Việt làm ra
đại bộ phận là sách chép tay, hình vẽ tay
cũng không có nhiu sách được cho khắc
ván. Cho nên khi ta xem mảng đồ họa
phần lớn chịu ảnh hưởng và rập khuôn
Vân Mã. Bộ ván in Thập vật
chùa
Bút Tháp (Ninh Phúc tự, Thuận
Thành, Bắc Ninh) TK18. Bản in
do chọa sỹ Nguyễn Trọng Hợp
in lại năm 1974