
1
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI :
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT VÁN GHÉP THANH
DẠNG FINGER JOINT
TỪ GỖ MỠ (MANGLIETIA GLAUCA ANET)

2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây ở nước ta do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự gia
tăng không ngừng của dân số, mức độ đô thị hoá ngày càng cao làm tăng nhanh nhu
cầu về gỗ.Trong khi đó, diện tích rừng tự nhiên đang bị thu hẹp dần, trữ lượng gỗ
ngày càng giảm. Ngành công nghiệp Chế biến Lâm sản đứng trước thực trạng bị
thiếu nguyên liệu trầm trọng. Vì vậy, việc chuyển đổi sang sử dụng gỗ mọc nhanh
rừng trồng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất cộng với việc sử dụng gỗ hợp lí
và có hiệu quả là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay trong chế biến
gỗ. Các hướng nghiên cứu phục vụ mục đích này là tìm kiếm nguồn nguyên liệu,
tìm kiếm loại sản phẩm mới cũng như nâng cao, đổi mới công nghệ, thiết bị để cho
ra sản phẩm mới phù hợp với yêu cầu sử dụng.
Để thực hiện thành công mục tiêu chiến lược phát triển của ngành đến năm 2010
phấn đấu đạt 1 triệu m3 ván nhân tạo [10], ngay từ bây giờ chúng ta phải sử dụng
đồng bộ và kết hợp nhiều chương trình, kế hoạch khác nhau như:
+ Tăng nhanh diện tích rừng trồng các loại gỗ mọc nhanh, thích hợp vói điều
kiện khí hậu, đất đai từng vùng của Việt Nam;
+ Đa dạng hoá nguồn nguyên liệu và các sản phẩm từ gỗ, không ngừng nâng
cao hiệu quả sử dụng đất, sử dụng nguyên liệu;
+ Tạo ra, duy trì và phát triển những loại cây gỗ có khả năng sinh trưởng nhanh,
cung cấp nguồn nguyên liệu có đặc điểm và tính chất phù hợp với các chỉ tiêu, yêu
cầu của công nghệ sản xuất ván nhân tạo;
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới có khí hậu nóng, ẩm rất thích hợp cho sự sinh
trưởng và phát triển của nhiều loại cây trong đó có cây Mỡ (Manglietia glauca
anet). Việc nghiên cứu một cách kĩ lưỡng, tỉ mỉ về đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm
cấu tạo, các tính chất chủ yếu của cây Mỡ, từ đó có định hướng sử dụng đúng là
việc làm cần thiết
Một trong những hướng sử dụng gỗ hợp lí đó là dùng gỗ để sản xuất ván ghép
thanh. Đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về ván ghép thanh trên thế giới
cũng như ở Việt Nam đối với nhiều loài cây nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu

3
một cách ít nhiều về gỗ Mỡ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên
cứu công nghệ sản xuất ván ghép thanh dạng Finger joint từ gỗ Mỡ”, nhằm đóng
góp một phần cho việc mở đường tiến hành những công trình nghiên cứu đầy đủ và
toàn diện hơn về gỗ Mỡ cũng như công nghệ sản xuất ván ghép thanh dạng Finger
joint từ gỗ Mỡ sau này.Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng sẽ cố gắng đưa
ra được những thông số công nghệ hợp lí để sản xuất loại ván này.

4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử quá trình nghiên cứu
Ván ghép thanh là một loại hình sản phẩm ván nhân tạo, nó xuất hiện từ tất sớm
nhưng nó chỉ được phát triển mạnh sau năm 1970. Khu vực có khối lượng lớn nhất
là Châu Âu, tiếp theo là Châu Mỹ, ở Châu Á thì Nhật Bản là nước sản xuất ván
ghép thanh nhiều nhất sau đó đến Hàn Quốc, Inđônêxia.
Ở Việt Nam ngành công nghệ sản xuất ván nhân tạo vói chung và ván ghép thanh
nói riêng tuy đã được quan tâm, nhưng sản xuất vẫn còn ở quy mô nhỏ. Để có được
những cơ sở khoa học đưa vào sản xuất, nhằm nâng cao năng xuất và chất lượng
sản phẩm, từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước.
Góp phần vào việc nghiên cứu, trường Đại học Lâm nghiệp đã có rất nhiều đề tài
nghiên cứu về ván nhân tạo, trong đó có một số lượng không nhỏ các đề tài nghiên
cứu về công nghệ sản xuất ván ghép thanh ví dụ : các đề tài nghiên cứu về công
nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ Bồ Đề, từ gỗ Keo Lá Tràm, từ gỗ Bạch Đàn,
Thông Trắng… Hơn nữa còn rất nhiều đề tài chuyên nghiên cứu một cách cụ thể
những yếu tố công nghệ ảnh hưởng tới quá trình sản xuất ván ghép thanh như : Bề
rộng thanh ảnh hưởng tới cường độ ván, lượng keo ảnh hưởng tới cường độ ván…
Sự ảnh hưởng của các chất bảo quản tới cường độ ván, tới khả năng trang sức
ván…
1.2 Nguyên liệu và sản phẩm trong sản xuất ván ghép thanh
1.2.1 Nguyên liệu
Nguyên liệu để sản xuất ván ghép thanh, chủ yếu là việc tận dụng từ các loại gỗ
phi tiêu chuẩn như bìa bắp của phân xưởng xẻ, lõi gỗ bóc, gỗ có đường kính nhỏ và
một số loại gỗ tận dụng khác.Yêu cầu nguyên liệu để sản xuất không được mục nát,
mọt, phải giới hạn các khuyết tật như : mắt sống, mắt chết, phải phân loại gỗ chính
phẩm riêng, bìa bắp và lõi gỗ riêng khi đưa vào sản xuất.

5
Để đảm bảo yêu cầu nguyên liệu ta cần quan tâm đến các chỉ tiêu về chất lượng
thanh như sau:
- Các thanh ghép thành phần phải cùng một loại cây hoặc các cây có tính chất gần
giống nhau, không cho phép ghép lẫn gỗ mềm với gỗ cứng;
- Các thanh ghép thành phần phải được sấy đến độ ẩm từ 6 - 12%;
- Vết nứt trên thanh ghép thành phần nhỏ hơn 200mm, không cho phép mục mọt;
- Nếu thanh ghép có đường kính mắt lớn 10mm phải được cắt bỏ;
- Hai thanh ghép liền kề nhau không được trùng mạch ghép, khoảng cách các
mạch ghép theo chiều dài lớn hơn 50mm;
- Khe hở giữa các thanh ghép thành phần trên mặt chính nhỏ hơn 1mm, mặt cạnh
nhỏ hơn 3mm;
1.2.2. Sản phẩm
Sản phẩm ván ghép thanh có rất nhiều dạng với nhiều tên gọi khác nhau, nếu định
nghĩa theo tiêu chuẩn BS 6100-1984 ván ghép thanh chia thành một số dạng chủ
yếu sau:
- Ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt (Laminated board).
- Ván ghép thanh khung rỗng (Veneer spaced lumber).
- Ván ghép thanh lõi đặc có phủ bề mặt (Core plywood/ Block board/ Lamin
board).
a. Ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt
Là loại sản phẩm thu được bằng cách ghép các thanh gỗ có kích thước nhỏ, ngắn
lại với nhau nhờ chất kết dính trong điều kiện nhất định. Loại sản phẩm này yêu cầu
nguyên liệu có chất lượng tương đối cao, màu sắc đồng đều. Ở Việt Nam hiện nay
thường sản xuất từ gỗ Thông, Cao Su, Vạng Trứng, Pơ Mu. Mục đích sử dụng
thường sản xuất ván sàn, các sản phẩm thủ công mĩ nghệ…
Hiện nay loại hình sản phẩm ván ghép thanh không dán phủ bề mặt sản xuất ít
hơn các loại hình sản phẩm ván ghép thanh khác bởi vì do yêu cầu chất lượng bề
mặt thanh ghép nên tỉ lệ lợi dụng không cao, xu hướng trong những năm tới ván
ghép thanh không dán phủ bề mặt mà chủ yếu là dạng ghép ngón (Finger joint) sẽ
rất được phát triển.

