intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu khả năng sản xuất, chất lượng thịt của gà mèo nuôi tại Quảng Yên - Quảng Ninh

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

27
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thí nghiệm được tiến hành trên 750 gà Mèo thuần, nuôi phương thức bán nuôi nhốt đến 20 tuần tuổi ở 3 hộ gia đình tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh với mục tiêu khảo sát sức sản xuất thịt, cung cấp thực phẩm đặc sản cho thành phố du lịch. Kết quả thu được là: Tỷ lệ nuôi sống là 94,0 %. Khối lượng sống tính chung trống mái là: 1714,74 g/con. Sinh trưởng tuyệt đối bình quân là 12,04 g/con/ngày. Khả năng tiêu thụ thức ăn bình quân/ngày là 60,52 g/con/ngày; Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 5,06. Chỉ số sản xuất (PI) của gà là 22,78.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu khả năng sản xuất, chất lượng thịt của gà mèo nuôi tại Quảng Yên - Quảng Ninh

Trần Thanh Vân và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 123(09): 67 - 76<br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT<br /> CỦA GÀ MÈO NUÔI TẠI QUẢNG YÊN - QUẢNG NINH<br /> Trần Thanh Vân1*, Nguyễn Tiến Hưng2, Nguyễn Thị Thuý Mỵ3<br /> 1Đại học<br /> <br /> Thái Nguyên, 2Phòng kinh tế Quảng Yên, Quảng Ninh,<br /> 3Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Thí nghiệm được tiến hành trên 750 gà Mèo thuần, nuôi phương thức bán nuôi nhốt đến 20 tuần<br /> tuổi ở 3 hộ gia đình tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh với mục tiêu khảo sát sức sản xuất thịt,<br /> cung cấp thực phẩm đặc sản cho thành phố du lịch. Kết quả thu được là:<br /> Tỷ lệ nuôi sống là 94,0 %. Khối lượng sống tính chung trống mái là: 1714,74 g/con. Sinh trưởng<br /> tuyệt đối bình quân là 12,04 g/con/ngày. Khả năng tiêu thụ thức ăn bình quân/ngày là 60,52<br /> g/con/ngày; Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 5,06. Chỉ số sản xuất (PI) của gà là 22,78.<br /> Tỷ lệ thân thịt đạt 71,29 - 72,11 %, tỷ lệ thịt đùi + ngực là 38,41 % - 38,88 %, tỷ lệ mỡ bụng<br /> 1,08% - 2,03 %. Tỷ lệ vật chất khô 25,98 % - 26,33% ở cơ ngực và 26,30% - 26,36% ở cơ đùi; Tỷ lệ<br /> protein thô là 23,72% - 24,07% ở cơ ngực và 20,74% - 21,92% ở cơ đùi. Tỷ lệ mất nước chế biến của<br /> thịt gà là 17,28 %, tỷ lệ mất nước tổng số là 18,71 %, giá trị pH của thịt trong khoảng 5,76 - 6,26,<br /> màu sắc thịt mang đặc trưng của giống gà Mèo với màu sáng (L), màu đỏ-đen (a) và màu vàng (b)<br /> tương ứng là 41,17 - 5,53 - 4,67, độ dai của thịt là 2,58 kg.<br /> Một số món ăn chế biến từ thịt gà Mèo được người tiêu dùng chấp thuận và đánh giá cao, phù hợp<br /> thị hiếu với tổng điểm trung bình có trọng số với món gà luộc, gà hấp muối và gà nấu canh gừng<br /> lần lượt là 22,17 - 21,17 - 19,61 trên tổng số 22,75 điểm.<br /> Từ khoá: bán nuôi nhốt, chất lượng thịt, gà Mèo, Quảng Yên-Quảng Ninh, sức sản xuất thịt<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Một trong những giống bản địa phù hợp với<br /> những nhu cầu, thị hiếu nêu trên là giống gà<br /> Mèo, với đặc điểm thịt đen, xương đen, phủ<br /> tạng đen, hàm lượng mỡ rất ít, thịt dai, chắc,<br /> thơm ngon, hàm lượng đạm khá cao so với<br /> các giống khác; ngoài việc sử dụng làm thực<br /> phẩm, giống gà này còn dùng để chữa bệnh<br /> hoặc nấu cao. Gà Mèo mang nhiều đặc điểm<br /> quý như khả năng chống chịu cao, ít đòi hỏi<br /> về chế độ ăn và chế độ chăm sóc cầu kỳ,<br /> nhưng lại cho tốc tộ sinh trưởng tương đối<br /> nhanh. Trước đây giống gà này chỉ nuôi ở<br /> vùng núi cao phía Bắc với số lượng không<br /> nhiều; năm 2003, nhằm bảo tồn và phát triển<br /> giống gà Mèo, Viện Chăn nuôi thực hiện dự<br /> án "Hoàn thiện quy trình công nghệ chăn nuôi<br /> vịt Bầu Quỳ và gà Mèo". Dự án này đã hoàn<br /> thành và được Hội đồng Khoa học công nghệ<br /> cấp Nhà nước nghiệm thu cho phép nhân rộng<br /> ra sản xuất, giống gà Mèo đã được đưa vào<br /> danh sách nuôi giữ giống gốc tại Viện chăn<br /> *<br /> <br /> Tel: 0912 282816, Email: tranthanhvan@tnu.edu.vn<br /> <br /> nuôi quốc gia để phát triển cung cấp con<br /> giống phục vụ sản xuất chăn nuôi.<br /> Nhằm khai thác hiệu quả và bảo vệ sự phong<br /> phú giống vật nuôi bản địa thì việc nuôi thí<br /> nghiệm giống gà Mèo tại địa bàn thị xã<br /> Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh là rất cần thiết,<br /> với mục đích mở rộng được phạm vi phân bố<br /> của giống, qua đó nghiên cứu một số đặc<br /> điểm sinh học, sự thích nghi, khả năng sản<br /> xuất và chất lượng thịt của chúng. Từ kết quả<br /> thành công của việc nuôi thí nghiệm tiến đến<br /> nhân rộng sản xuất tại địa bàn để đáp ứng nhu<br /> cầu rất lớn hiện nay về các thực phẩm quý<br /> hiếm, đặc sản có giá trị dinh dưỡng, giá trị<br /> dược liệu cao đang ngày một tăng tại tỉnh<br /> Quảng Ninh, một tỉnh có du lịch phát triển,<br /> hàng năm đón hơn 5 triệu khách trong và<br /> ngoài nước đến thăm quan, nghỉ dưỡng. Từ<br /> cơ sở khoa học và yêu cầu thực tiễn trên,<br /> chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này. Mục<br /> tiêu của đề tài: Góp phần bảo tồn và phát triển<br /> giống gà đặc sản Mèo bằng việc mở rộng<br /> phạm vi phân bố của giống; Nghiên cứu sự<br /> thích nghi, khả năng sản xuất và chất lượng<br /> 67<br /> <br /> Trần Thanh Vân và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> thịt của giống gà Mèo nuôi tại tỉnh Quảng<br /> Ninh; Khảo sát, đánh giá chất lượng thịt để<br /> xác định được giai đoạn tuổi gà đưa vào khai<br /> thác hiệu quả nhất từ đó đưa ra khuyến cáo<br /> định hướng sản xuất vừa đảm bảo hiệu quả<br /> kinh tế vừa đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu<br /> người tiêu dùng.<br /> Đối tượng, địa điểm, nội dung, phương<br /> pháp nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu: Giống gà Mèo<br /> thuần, lông, da, thịt, xương màu đen của<br /> Viện chăn nuôi;<br /> Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2012 đến<br /> tháng 8/2013.<br /> Địa điểm nghiên cứu: Tại thị xã Quảng Yên,<br /> tỉnh Quảng Ninh.<br /> Nội dung nghiên cứu: Nuôi khảo sát gà Mèo<br /> thuần nhóm có da, thịt, xương đen; từ 1 - 20<br /> Sơ đồ bố trí thí nghiệm<br /> STT<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> 123(09): 67 - 76<br /> <br /> tuần tuổi ở nông hộ theo phương thức bán<br /> chăn thả để đánh giá một số đặc điểm sinh<br /> học, tính thích nghi, khả năng sản xuất, khả<br /> năng cho thịt của gà Mèo nuôi tại thị xã<br /> Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm được<br /> bố trí 3 lô, đảm bảo sự đồng đều về các yếu<br /> tố: Cùng thời điểm, giống, tuổi, tính biệt, thức<br /> ăn và quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng.<br /> Các chỉ tiêu theo dõi: Tỉ lệ nuôi sống; Sinh<br /> trưởng tích lũy; Sinh trưởng tuyệt đối; Khả<br /> năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn; Chỉ số<br /> sản xuất; Chỉ tiêu giết mổ; Chất lượng thịt.<br /> Phương pháp xử lý số liệu<br /> Số liệu thu được chúng tôi tiến hành xử lý<br /> theo phương pháp thống kê sinh vật học của<br /> Nguyễn Văn Thiện và cs (2002) trên phần<br /> mềm Minitab ver 16.<br /> <br /> Diễn giải<br /> Số hộ nuôi gà (hộ)<br /> Số gà/ hộ (con)<br /> Thời gian nuôi (tuần)<br /> Phương thức nuôi: 01 - 24 ngày<br /> 25 - 140 ngày<br /> - Thời gian mổ khảo sát<br /> - Số lượng gà mổ khảo sát, phân tích TPHH,<br /> chất lượng thịt lần 1<br /> - Số lượng gà mở Hội nghị thử nếm<br /> <br /> Số lượng<br /> 03<br /> 250 con<br /> 20<br /> Nhốt - cho ăn tự do cả ngày<br /> Bán chăn thả - cho ăn 2 bữa /ngày<br /> - 13 / 17/ 20 tuần tuổi<br /> - 3 trống + 3 mái /mỗi lần<br /> - 3 trống + 3 mái/mỗi lần<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> Kết quả theo dõi về khả năng thích nghi<br /> Bảng 1. Tỷ lệ sống cộng dồn của gà thí nghiệm (%)<br /> Tuần tuổi<br /> <br /> X  mX<br /> <br /> Cv %<br /> <br /> 1<br /> 5<br /> 10<br /> 15<br /> 20<br /> <br /> 98,27  0,35<br /> 95,33  0,13<br /> 94,40  0,46<br /> 94,13  0,27<br /> 94,00  0,23<br /> <br /> 0,62<br /> 0,24<br /> 0,85<br /> 0,49<br /> 0,43<br /> <br /> Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn tính chung của 03 lô là 94,00%, trong suốt thời gian nuôi, chúng tôi<br /> không thấy gà có biểu hiện khác thường về sức khoẻ cũng như bệnh tật, như vậy, gà Mèo thích<br /> hợp với điều kiện khí hậu biển Đông bắc của Quảng Yên - Quảng Ninh và quy trình nuôi dưỡng<br /> của chúng tôi. So sánh với kết quả nghiên cứu tỷ lệ nuôi sống ở 20 tuần tuổi trên gà Mèo thuần<br /> nuôi tại Sa Pa, Lào Cai (Ngô Xuân Cảnh, 2011) [1] thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn.<br /> So sánh kết quả nghiên cứu trên gà Mèo thuần nuôi tại Thái Nguyên của Nguyễn Thu Quyên,<br /> 2008 [4] thì kết quả của chúng tôi thấp hơn (2-4%); kết quả của chúng tôi tiệm cận so với nơi<br /> xuất phát của giống (94,63 % - 97,30 %) (Võ Văn Sự và cộng sự, 2005) [5].<br /> 68<br /> <br /> Trần Thanh Vân và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Sinh trưởng của gà thí nghiệm<br /> <br /> 123(09): 67 - 76<br /> <br /> Trần Thanh Vân và cs (2006) [9] gà Mèo<br /> thuần nuôi tại Hà Giang lúc 20 tuần tuổi có<br /> khối lượng bình quân con trống đạt 1780,83<br /> g/con, con mái đạt 1522,05 thì kết quả của<br /> chúng tôi cao hơn. So sánh với kết quả nghiên<br /> cứu của Nguyễn Duy Hoan và cs (2008) [11],<br /> gà Mèo thuần (có nguồn gốc từ Yên Bái) nuôi<br /> khảo sát tại Yên Phong, Bắc Ninh lúc 20 tuần<br /> tuổi có khối lượng bình quân con trống đạt<br /> 2225,53 g/con, con mái đạt 1904,66 g/con thì<br /> kết quả của chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên<br /> cứu của tác giả.<br /> <br /> Sinh trưởng tích lũy<br /> Qua bảng 2 cho thấy gà Mèo có khối lượng<br /> mới nở bình quân là 29,59 g/con. Khối lượng<br /> cơ thể tính chung trống mái và tính riêng<br /> trống, mái của gà khảo nghiệm tăng dần qua<br /> các tuần tuổi, ở các lô thí nghiệm gà đều sinh<br /> trưởng tốt, phù hợp với quy luật sinh trưởng<br /> của gia cầm. Tại thời điểm 12 tuần tuổi, khối<br /> lượng con trống và con mái lần lượt là<br /> 1270,11 g/con và 1091,87 g/con, khối lượng<br /> bình quân trống mái là 1185,85 g/con. Kết<br /> thúc thí nghiệm ở 20 tuần tuổi, khối lượng cơ<br /> thể của gà thí nghiệm đạt bình quân 1714,74<br /> g/con; trong đó con trống đạt 1819,99 g/con,<br /> con mái đạt 1608,11 g/con. So sánh với kết<br /> quả nghiên cứu của các tác giả Phạm Công<br /> Thiếu và cs (2001) [7], Ngô Kim Cúc và cs<br /> (2002) [2], Phan Đình Thắm và cs (2003) [6]<br /> và Trần Thanh Vân (2005) [8] về khối lượng<br /> gà Mèo lông đen lúc 12 tuần tuổi, thì khối<br /> lượng gà thí nghiệm của chúng tôi cao hơn.<br /> <br /> Hình 1 cho thấy đường biểu diễn khối lượng<br /> cơ thể của gà Mèo của cả 3 lô thí nghiệm luôn<br /> tương đương nhau, gà Mèo giai đoạn 1 - 3<br /> tuần tuổi khối lượng cơ thể tăng chậm nên độ<br /> dốc của đồ thị ít, nhưng từ tuần tuổi thứ 4<br /> khối lượng cơ thể của gà Mèo bắt đầu tăng<br /> nhanh nên độ dốc của đồ thị cũng tăng nhanh,<br /> đến giai đoạn 14 - 15 tuần tuổi có dấu hiệu<br /> khối lượng cơ thể tăng chậm dần lại, đến giai<br /> đoạn 18 - 20 tuần tuổi có chiều hướng đạt gần<br /> đỉnh của quá trình sinh trưởng tích lũy, đồ thị<br /> phát triển theo chiều ngang và ít có độ dốc hơn<br /> so với các tuần tuổi trước đó.<br /> <br /> So sánh với kết quả của Ngô Xuân Cảnh<br /> (2011) [1], gà Mèo thuần nuôi tại Sa Pa Lào<br /> Cai, lúc 20 tuần tuổi có khối lượng cơ thể<br /> bình quân đạt 1491,81 g/con và của tác giả<br /> <br /> Bảng 2. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm (g)<br /> Con trống<br /> Tuần<br /> tuổi<br /> 6<br /> 7<br /> 11<br /> 12<br /> 15<br /> 16<br /> 19<br /> 20<br /> <br /> n<br /> <br /> X  mx<br /> <br /> 84<br /> 84<br /> 78<br /> 87<br /> 81<br /> 84<br /> 83<br /> 77<br /> <br /> 547,81 ± 6,96<br /> 673,35 ± 9,66<br /> 1177,87 ± 15,61<br /> 1270,11 ± 15,64<br /> 1612,07 ± 20,66<br /> 1666,99 ± 20,38<br /> 1788,22 ± 20,49<br /> 1819,99 ± 20,82<br /> <br /> Chung trống mái<br /> <br /> Con mái<br /> Cv<br /> (%)<br /> 11,64<br /> 13,31<br /> 11,70<br /> 11,48<br /> 11,53<br /> 11,21<br /> 10,44<br /> 10,04<br /> <br /> n<br /> <br /> X  mx<br /> <br /> Cv (%)<br /> <br /> X<br /> <br /> 76<br /> 82<br /> 78<br /> 78<br /> 79<br /> 73<br /> 70<br /> 76<br /> <br /> 404,99 ± 4,40<br /> 522,25 ± 5,57<br /> 999,55 ± 9,49<br /> 1091,87 ± 10,05<br /> 1352,04 ± 14,52<br /> 1404,58 ± 16,21<br /> 1572,66 ± 16,88<br /> 1608,11 ± 14,89<br /> <br /> 9,48<br /> 9,57<br /> 8,39<br /> 8,13<br /> 9,54<br /> 9,86<br /> 9,04<br /> 8,07<br /> <br /> 480,40<br /> 600,54<br /> 1088,71<br /> 1185,85<br /> 1483,68<br /> 1548,98<br /> 1688,84<br /> 1714,74<br /> <br /> 2000<br /> 1800<br /> 1600<br /> <br /> Gam/con<br /> <br /> 1400<br /> 1200<br /> Lô 1<br /> <br /> 1000<br /> <br /> Lô 2<br /> <br /> 800<br /> <br /> Lô 3<br /> <br /> 600<br /> 400<br /> 200<br /> 0<br /> SS<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 10<br /> <br /> 11<br /> <br /> 12<br /> <br /> 13<br /> <br /> 14<br /> <br /> 15<br /> <br /> 16<br /> <br /> 17<br /> <br /> 18<br /> <br /> 19<br /> <br /> 20<br /> <br /> Tuầ n tuổi<br /> <br /> Hình 1. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm<br /> <br /> 69<br /> <br /> Trần Thanh Vân và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm<br /> <br /> Kết quả theo dõi cho thấy ở giai đoạn 0 - 1<br /> tuần tuổi sinh trưởng tuyệt đối gà thí nghiệm<br /> đạt bình quân là 4,72 g/con/ngày; Sinh trưởng<br /> tuyệt đối của gà thí nghiệm tăng dần trong<br /> những tuần đầu và đạt giá trị cao nhất vào giai<br /> đoạn 7 - 8 tuần tuổi (17,70 g/con/ngày). Điều<br /> này có thể lý giải theo quy luật sinh trưởng<br /> theo giai đoạn của gia cầm, sinh trưởng tuyệt<br /> đối tuân theo quy luật và tương đồng với kết<br /> quả sinh trưởng tích luỹ.<br /> <br /> Trên cơ sở số liệu về khối lượng cơ thể,<br /> chúng tôi tiến hành tính toán sinh trưởng<br /> tuyệt đối của gà thí nghiệm qua 20 tuần tuổi.<br /> Kết quả được trình bày tại bảng 3 và hình 2.<br /> Bảng 3. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm<br /> (g/con/ngày)(Chung trống mái của 3 đàn)<br /> Giai đoạn<br /> (tuần tuổi)<br /> <br /> X  mx<br /> <br /> Cv%<br /> <br /> 0-1<br /> 1-2<br /> 6-7<br /> 7-8<br /> 10 - 11<br /> 11 - 12<br /> 14 - 15<br /> 15 - 16<br /> 18 -19<br /> 19-20<br /> 1-20<br /> <br /> 4,72 ± 0,06<br /> 5,02 ± 0,07<br /> 17,19 ± 0,25<br /> 17,70 ± 0,61<br /> 17,00 ± 5,03<br /> 14,12 ± 7,90<br /> 11,90 ± 0,90<br /> 8,00 ± 0,57<br /> 6,95 ± 0,758<br /> 4,35 ± 0,37<br /> 12,05 ± 0,01<br /> <br /> 2,12<br /> 2,31<br /> 2,56<br /> 5,96<br /> 7,07<br /> 3,13<br /> 13,04<br /> 12,28<br /> 14,41<br /> 14,54<br /> 0,14<br /> <br /> 123(09): 67 - 76<br /> <br /> Kết quả theo dõi thí nghiệm cho thấy sinh<br /> trưởng tuyệt đối cả giai đoạn của gà thí<br /> nghiệm (từ 1 - 20 tuần tuổi) bình quân chung<br /> của 3 đàn là 12,05 g/con/ngày.<br /> Biểu đồ ở hình 2 cho thấy gà thí nghiệm có sinh<br /> trưởng tuyệt đối cực đại ở giai đoạn từ 7 - 8 tuần<br /> tuổi (17,70 g/con/ngày), sau giai đoạn đó sinh<br /> trưởng tuyệt đối có xu hướng giảm dần.<br /> <br /> 20,00<br /> 18,00<br /> 16,00<br /> <br /> g/con/ngày<br /> <br /> 14,00<br /> 12,00<br /> <br /> Lô 1<br /> <br /> 10,00<br /> <br /> Lô 2<br /> <br /> 8,00<br /> <br /> Lô 3<br /> <br /> 6,00<br /> 4,00<br /> 2,00<br /> <br /> 9<br /> 18<br /> <br /> -1<br /> <br /> 7<br /> 16<br /> <br /> -1<br /> <br /> 5<br /> 14<br /> <br /> -1<br /> <br /> 3<br /> <br /> 9<br /> 8-<br /> <br /> -1<br /> 12<br /> <br /> 7<br /> 6-<br /> <br /> 1<br /> <br /> 5<br /> 4-<br /> <br /> -1<br /> <br /> 3<br /> 2-<br /> <br /> 10<br /> <br /> 1<br /> 0-<br /> <br /> 0,00<br /> <br /> Tuần tuổi<br /> <br /> Hình 2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm<br /> <br /> Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn<br /> Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm<br /> Bảng 4. Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà<br /> <br /> 70<br /> <br /> Tuần tuổi<br /> <br /> X  mx<br /> <br /> X  mx<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 18<br /> 20<br /> Bình quân 20 tuần<br /> Tổng TA tiêu thụ 20 tuần (g)<br /> <br /> (g/con/ngày)<br /> 6,74 ± 0,39<br /> 11,17 ± 0,04<br /> 95,12 ± 0,01<br /> 108,29 ± 0,07<br /> 60,52 ± 0,45<br /> 8473,00 ± 62,75<br /> <br /> (g/con/tuần)<br /> 47,20 ± 2,71<br /> 78,16 ± 0,27<br /> 665,86 ± 0,05<br /> 758,04 ± 0,51<br /> 423,65 ± 3,14<br /> 8473,00 ± 62,75<br /> <br /> Trần Thanh Vân và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Số liệu bảng 4 cho thấy: Lượng thức ăn thu<br /> nhận của đàn gà Mèo tăng dần qua các tuần<br /> tuổi, đến 20 tuần tuổi tiêu thụ thức ăn của gà<br /> ở 3 lô thí nghiệm bình quân là 108,29<br /> g/con/ngày; Lượng thức ăn tiêu thụ bình quân<br /> trong 20 tuần của gà thí nghiệm là 60,25<br /> g/con/ngày. Tổng lượng thức ăn tiêu thụ trong<br /> 20 tuần tuổi của gà thí nghiệm là 8473,00<br /> g/con. Kết quả theo dõi của chúng tôi về tổng<br /> lượng thức ăn tiêu thụ của gà Mèo là tương<br /> đối cao, điều này lý giải nguyên nhân là do gà<br /> được nuôi trong các nông hộ theo phương<br /> thức bán chăn thả nên lượng thu nhận thức ăn<br /> lớn. So sánh khả năng tiêu thụ thức ăn của gà<br /> khảo nghiệm với kết quả nghiên cứu trên gà<br /> Mèo thuần nuôi tại Sa Pa, Lào Cai (Ngô Xuân<br /> Cảnh, 2011) [1] đến 20 tuần tuổi lượng thức<br /> ăn thu nhận của gà Mèo trong khoảng từ<br /> 95,00 - 101, 21 g/con/ngày thì kết quả theo<br /> dõi của chúng tôi tương tự.<br /> Khả năng chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm<br /> Kết quả ở bảng 5 cho thấy tiêu tốn thức ăn<br /> cộng dồn của gà thí nghiệm tuân theo quy luật<br /> tăng dần qua các tuần tuổi; kết quả theo dõi ở<br /> 3 lô thí nghiệm cho thấy chỉ số tiêu tốn thức<br /> ăn tại các lô là tương đương nhau, tiêu tốn<br /> thức ăn của gà thí nghiệm cao nhất ở 20 tuần<br /> tuổi là 5,06 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. So<br /> sánh với kết quả nghiên cứu của Ngô Xuân<br /> Cảnh (2011) [1] trên gà Mèo thuần nuôi tại Sa<br /> Pa, Lào Cai có tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối<br /> <br /> 123(09): 67 - 76<br /> <br /> lượng trung bình đến 20 tuần tuổi là 4,39 kg,<br /> thì kết quả theo dõi tiêu tốn thức ăn/kg tăng<br /> khối lượng của chúng tôi cao hơn một chút<br /> (5,06 kg). So sánh với kết quả nghiên cứu của<br /> Nguyễn Thu Quyên (2008) [4] trên gà Mèo<br /> thuần nuôi tại Thái Nguyên có tiêu tốn thức<br /> ăn/kg tăng khối lượng ở 12 tuần tuổi là 3,74<br /> kg, kết quả nghiên cứu của Trần Thanh Vân<br /> và cs (2006) [9] trên gà Mèo nuôi tại Hà<br /> Giang có tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng<br /> ở 12 tuần tuổi là 3,39 kg thì kết quả tiêu tốn<br /> thức ăn của chúng tôi thấp hơn (3,04 kg).<br /> Bảng 5. Tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng<br /> cộng dồn của gà thí nghiệm (kg)<br /> Chung cả 3 lô<br /> Tuần tuổi<br /> 5<br /> 9<br /> 12<br /> 20<br /> <br /> X  mx<br /> <br /> Cv %<br /> <br /> 1,81 ± 0,08<br /> 2,54 ± 0,08<br /> 3,04 ± 0,09<br /> 5,06 ± 0,04<br /> <br /> 7,88<br /> 5,24<br /> 5,06<br /> 1,40<br /> <br /> Chỉ số sản xuất (PI) của gà thí nghiệm<br /> Thông qua các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của<br /> gà thí nghiệm chúng tôi tính chỉ số sản xuất,<br /> kết quả chỉ số sản xuất thể hiện ở bảng 6.<br /> Bảng 6. Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm<br /> Bình quân 3 lô<br /> <br /> Tuần tuổi<br /> <br /> X  mx<br /> <br /> 9<br /> 15<br /> 20<br /> <br /> 49,38 ± 0,70<br /> 36,71 ± 1,06<br /> 22,78 ± 0,54<br /> <br /> 60,000<br /> <br /> 50,000<br /> <br /> 40,000<br /> <br /> PI<br /> <br /> Lô 1<br /> 30,000<br /> <br /> Lô 2<br /> Lô 3<br /> <br /> 20,000<br /> <br /> 10,000<br /> <br /> 0,000<br /> 9<br /> <br /> 10<br /> <br /> 11<br /> <br /> 12<br /> <br /> 13<br /> <br /> 14<br /> <br /> 15<br /> <br /> 16<br /> <br /> 17<br /> <br /> 18<br /> <br /> 19<br /> <br /> 20<br /> <br /> Tuần tuổi<br /> <br /> Hình 3. Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm<br /> <br /> Kết quả ở bảng 6 và hình 3 cho thấy chỉ số PI giảm dần qua các tuần tuổi, đạt cao nhất ở 9 tuần<br /> tuổi (49,38), đến 20 tuần tuổi, chỉ số sản xuất giảm thấp nhất (22,78). So sánh với chỉ số sản xuất<br /> của giống gà này nuôi tại Thái Nguyên năm 2004-2005 [8], thì tương đồng với chỉ số sản xuất gà<br /> Mèo của chúng tôi nghiên cứu.<br /> 71<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2