
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------
MÔN HỌC: NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH
QUÁN CÀ PHÊ KẾT HỢP CÂU LẠC BỘ
TIẾNG ANH TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Nguyễn Phương Nam
Nhóm NCTT SỐ 1 thực hiện: ĐẶNG THỊ THÚY HẰNG (NT)
NGUYỄN LÂM SƠN
NGUYỄN VIẾT PHẨM
HUỲNH THỊ MINH NHẬT
HỒ ANH MINH
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
HUỲNH THANH BÌNH
HUỲNH LÊ HẠNH ĐÀN
ĐOÀN THỊ NGỌC HÂN
[ TP.HCM 05/2012]

2
CHƯƠNG 1.
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở hình thành đề tài:
Trong tình hình hội nhập kinh tế và văn hóa như hiện nay, “ những ai, những cộng đồng
nào, quốc gia nào muốn phát triển nhanh, muốn mở rộng quan hệ quốc tế, muốn mở cửa, muốn
tiếp nhận thành tựu về mọi mặt của nhân loại, không thể không biết tiếng Anh, và không thể
không có chiến lược học ngôn ngữ này một cách cẩn trọng”… Ở Việt Nam cũng vậy, ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường, mọi học sinh, sinh viên cũng nhận thức được tầm quan trọng của
việc học tiếng Anh vì đó là cơ hội và là yêu cầu bắt buộc để ra trường. Cụ thể ở một số trường
đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay sinh viên phải đối mặt trực tiếp với yêu cầu nhất định về
trình độ tiếng Anh nếu muốn tốt nghiệp và tìm được một công việc tốt.
Trong khi đó tại TP HCM hiện nay lại có quá ít không gian để sinh viên được luyện tập,
học hỏi tiếng Anh trực tiếp, ở trường thì thời khóa biểu không đủ thời lượng, đến các trung tâm
Anh ngữ thì ngại về chi phí, đông người... Chính vì những lý do đó mà phần lớn sinh viên Việt
Nam học tốt ngữ pháp tiếng Anh nhưng lại rất lúng túng, tự ti với khả năng nghe, nói, giao tiếp
trực tiếp. Xuất phát từ nhu cầu học tiếng Anh, nhiều hình thức học tập khác nhau đã ra đời như:
học ở các trung tâm tiếng Anh, ra công viên nói chuyện với người nước ngoài, thực hành ở các
câu lạc bộ tiếng Anh nhưng thời lượng và không gian để sinh hoạt còn nhiều hạn chế.
Từ những hạn chế và nhu cầu như trên, nhóm NCTT SỐ 1 đưa ra ý tưởng phát triển mô
hình kết hợp giữa việc uống cà phê, giải trí, kết bạn và học tiếng Anh. M ô hình quán cà phê này
đã ra đời tại TPHCM nhưng chưa phát triển rộng, trong khi đó quán cà phê ở TP HCM thì rất
nhiều, nhóm cho rằng tại sao chúng ta không phát triển rộng để khai thác nhu cầu của lượng
khách hàng tiềm năng này. Quán như một ngôi nhà chung cho tất cả mọi người đặc biệt là những
người yêu thích và muốn học tiếng Anh. Vào thời gian rảnh rỗi, ngoài việc được thưởng thức cà
phê trong một không gian ấm cúng, gần gũi, mọi người còn có thể trau dồi thêm vốn ngoại ngữ
cho mình, lại có thể kết thêm nhiều bạn mới và luyện tập sự tự tin trong giao tiếp cho mình. M ục
đích của các quán là làm cho việc học tiếng Anh trở nên tự nhiên như là uống cà phê nói chuyện
hàng ngày, mỗi ngày nhâm nhi một chút ắt sẽ tiến bộ.
Nắm bắt và thỏa mãn được nhu cầu này sẽ mang lại lợi nhuận và lợi thế khá cao cho những
người dẫn đầu. Đứng trước tiềm năng đó, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển loại
hình quán cà phê kết hợp với câu lạc bộ Tiếng Anh tại TP HCM” nhằm giúp mô hình kinh doanh
đầy thú vị này ngày càng được nhân rộng và hoàn chỉnh hơn để có thể mang lại thật nhiều tri
thức, thật nhiều cơ hội mới cho người Việt Nam nói chung và người dân sống ở thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng.

3
1.2. Lợi ích – giá trị của đề tài:
Nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta có thể nắm bắt được nhu cầu của nhóm khách hàng
mục tiêu, cụ thể là những thanh niên có thu nhập trung bình (sinh viên và những người đã đi
làm) về việc tìm đến các quán cà phê sau giờ làm việc hay học tập căng thẳng để giải trí, làm
quen kết bạn vừa giúp cải thiện và nâng cao trình độ tiếng Anh.
Kết quả của nghiên cứu này giúp chúng ta biết được nên hay không nên phát triển mô hình
này, những nhu cầu nào của quán mà khách hàng yêu cầu ...Từ đó chúng ta đưa ra các quyết
định đầu tư hợp lý, quyết định xây dựng, hoàn thiện dịch vụ như thế nào để thỏa mãn khách
hàng mục tiêu và giúp chúng ta đạt được thành công khi kinh doanh loại hình quán cà phê kết
hợp với CLB Tiếng Anh tại thị trường Tp.HCM hiện nay và trong tương lai.
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Xác định cụ thể bao nhiêu phần trăm khách hàng có nhu cầu và động cơ tìm đến các quán cà
phê tiếng Anh, loại hình dịch vụ nào trong quán thu hút khách hàng nhất, yêu cầu gì về sản phẩm
mà khách hàng đề cao chúng ta sẽ quyết định danh mục sản phẩm phục vụ trong đó có sản phẩm
mục tiêu, dựa trên thu nhập của khách hàng và khả năng sẵn sàng chi trả để xây dựng bảng giá
phù hợp cho các sản phẩm, dịch vụ đó.
Thông qua các yếu tố trên để xác định lượng khách hàng trung thành cũng như các sản phẩm,
dịch vụ kèm theo. Nói cách khác mục tiêu cần nghiên cứu của nhóm là đi tìm kiếm nhu cầu
khách hàng để đưa ra quyết định cho việc phát triển mô hình quán cà phê kết hợp CLB tiếng
Anh.
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về nhu cầu, động cơ và mức độ thỏa mãn của khách hàng
về loại hình cà phê có CLB tiếng Anh, từ đó biết được tại sao họ chọn loại hình cà phê này và
chọn quán này hay quán khác, họ chú ý đến những điều gì để thiết kế mô hình phù hợp và có
hướng đi chiến lược cho mình.
Phạm vi nghiên cứu: Sinh viên và người đi làm có nhu cầu giải trí và cải thiện, nâng cao trình
độ tiếng Anh trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
1.4. Thuận lợi và khó khăn và khi nghiên cứu:
Thuận lợi:
Đề tài này hấp dẫn với đại đa số các thành viên của nhóm NCTT1 và thu hút nhiều sự quan
tâm của các đối tượng được khảo sát nên trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập
được nhiều ý kiến đóng góp hay, cụ thể, thiết thực,.. nhằm đưa ra hướng giải quyết nhu cầu hiện
tại của các đối tượng được khảo sát về một quán cà phê kết hợp CLB Tiếng Anh lý tưởng.
Khó khăn:

4
Số lượng thành viên đội ngũ nghiên cứu ít
Địa bàn điều tra khá rộng so với nhóm
Thời gian tương đối eo hẹp
CHƯƠNG 2.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp 2 phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong việc thảo luận thiết kế
bảng câu hỏi và khảo sát thực tế, thu thập dữ liệu xử lý và ra kết quả nghiên cứu.
Chọn mẫu: Kích thước mẫu: 135 người
Bảng câu hỏi được thiết kế theo 5 bước sau:
1) Xác định những dữ liệu cần thu thập
2) Xác định các tiêu chuẩn lựa chọn nội dung câu hỏi
3) Quyết dạng câu hỏi và câu trả lời
4) Xác định cấu trúc bảng câu hỏi
5) Phỏng vấn thử một số đối tượng Chỉnh sửa những sai sót Quyết định bảng
câu hỏi chính thức.
2.2. Cách thức tiến hành và quản lý việc nghiên cứu
Các đối tượng điều tra được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phi xác suất.
Các thành viên trong nhóm sẽ thực hiện điều tra 15 đối tượng/1thành viên dựa trên bảng câu
hỏi thống nhất. Nhóm có 9 thành viên, số lượng người được điều tra là 135 người. Kết quả: thu
được 120 bảng hỏi đạt yêu cầu trả lời đủ thông tin/ 135 bảng câu hỏi được phát ra.
Các thành viên trong nhóm nghiên cứu được phân bổ ở từng địa điểm khác nhau, và tuyệt
đối không có quen biết với các đáp viên. Kết quả khảo sát được tổng hợp lại và xử lý bằng
phần mềm SPSS 11.5.
2.3. Phương pháp lấy mẫu
Nhóm quyết định chọn phương pháp chọn mẫu phi xác suất đó là chọn mẫu thuận tiện
(convenience sampling) cho người điều tra để thực hành trong đề tài này.
Đây là phương pháp lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối
tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng. Chẳng hạn
nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ người nào mà họ gặp ở trung tâm thương mại, đường
phố, cửa hàng, ... để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được phỏng vấn không đồng ý
thì họ chuyển sang đối tượng khác. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu
khám phá, để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng

5
câu hỏi nhằm hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm mà
không muốn mất nhiều thời gian và chi phí.
Quá trình tổ chức điều tra chọn mẫu thường gồm 6 bước sau:
- Xác định tổng thể chung (ta phải xác định rõ tổng thể chung, bởi vì ta sẽ chọn mẫu
từ đó) là sinh viên và người đã đi làm tại Tp HCM
- Xác định khung chọn mẫu hay danh sách chọn mẫu là 135 đáp viên
- Xác định quy mô mẫu (sample size) là 135
- Xác định các chỉ thị để nhận diện được đơn vị mẫu trong thực tế.
- Kiểm tra quá trình chọn mẫu.
2.4. Phương pháp thu thập dữ liệu.
Thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi điều tra.
Cách tiếp xúc: Phỏng vấn bằng bảng câu hỏi.
Về nội dung: Liên quan trực tiếp đến nhu cầu thông tin để thực hiện mục tiêu của cuộc
nghiên cứu là xác định cụ thể nhu cầu, động cơ khách hàng tìm đến các quán cà phê có CLB
tiếng Anh của các đối tượng được điều tra.
Về hình thức:
- Sử dụng câu hỏi đóng.
- Từ ngữ đơn giản đơn nghĩa.
- Về thứ tự câu hỏi: được sắp xếp khoa học, tạo sự thuận tiện cho người điều tra
trong quá trình xử lý dữ liệu.
Ưu điểm:
- Giúp đáp viên có thể lựa chọn nhanh chóng
- Tốt để đánh giá trực tiếp suy nghĩ của đáp viên
- Dễ dàng để thu thập dữ liệu định lượng khối lượng lớn
- Giảm thiểu tác động của yếu tố chủ quan trong quá trình thu thập thông tin
- Tốt để thu thập dữ liệu có thể so sánh và phân loại theo mức độ quan trọng tương
đối.
Hạn chế:
- Không phù hợp để thu thập thông tin chính xác từ những đáp viên mù chữ.
- Có khả năng không điền hết bản điều tra, bỏ trống vài mục hỏi
- Thường không phải tất cả những người nhận bản câu hỏi để trả lời và trả lại cho
nhà nghiên cứu.
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp xử lý dữ liệu bằng máy tính thông qua phần mềm SPSS. 135 Bảng
câu hỏi thu thập từ cuộc khảo sát thực tế được kiểm tra và loại bỏ các bảng không đạt yêu cầu,

