Những điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá tra và basa trong bè
NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ PHÁT TRIỂN NUÔI TRA VÀ
BASA TRONG BÈ
- Chất lượng và dòng chảy của sông Tiền và sông Hậu (sông Cửu Long -
ĐBSCL) tch hợp cho việc nuôi cá bè
- Yếu tố thuận lợi về nguồn thức ăn, nguồn ging tự nhiên
- Kinh nghiệm nuôi bè được tích lũy qua nhiều năm của nhân dân địa phương.
- tra basa cũng đã được thị trường xuất khẩu với nhu cầu số lượng
lớn.
I - ĐIỀU KIỆN THỦY VĂN VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC:
Lưu lượng: vào mùa mưa lũ, lưu lượng nước sông Cửu Long dao động t
18.8000 m3/giây đến 48.700 m3/giây (sliệu đo tại Phnôm Pênh - Campuchia), cao gấp
9-23 lần so với lưu lượng vào mùa khô.
Vận tốc dòng chảy: vào mùa lũ 0,5-0,6m/giây, mùa khô 0,1 - 0,2m/giây. Vn
tốc nước chảy qua bè đặt gần bờ sẽ thấp hơn giá trị này. Từ bờ ra lòng sông khoảng 50m,
người ta có thể đặt 2 -3 hàng bè ni nhau.
Nhiệt độ: nước biến thiên không nhiều, cao nhất là 310C vào tháng 5 tháng
10, thấp nhất 260C vào tháng gng. Biên độ chênh lệch trong ngày khoảng 1,5 độ C,
nhiệt độ trên tầng mặt cao hơnới đáy 2 - 30C
Độ trong và pH: trong mùa khô, độ trong của nước t40 - 60 cm và pH khoảng
7,5. Mùa mưa, độ trong chỉ 8-10cm và pH ớc sông khá n định đặc điểm rất li
cho đời sống của thủy sinh vật và cá.
Độ cứng: dao động từ 2-5 đ (độ Đức), chyếu được hình thành trên cơ sở muối
cacbonat canxi và thuc dạng nước ít muối khoáng.
Các chất khí hòa tan: sông Tiền và sông Hu nước tương đối thoáng sạch,
dưỡng khí đầy đủ (4,3 - 9,7 mg/lít), hàm lượng khí cacbonic thấp (1,7 - 5,2mg/lít) nghĩa
nằm dưới giới hạn hại đối với cá và sinh vật dưới nước. Ngoài ra không có các khí
độc trong nước sông
II NGUỒN THỨC ĂN
Nuôi cá bè là nh thức nuôi công nghiệp, chủ động và tính tập trung. Tại c
khu vực nuôi bè tra và basa tập trung hiện nay (ch yếu An Giang Đồng Tháp)
nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho rất phong phú. Khu vực t giác Long Xuyên,
Đồng Tháp Mười, đất đai màu m, tch hợp cho canh tác các loại nông sản và là ngun
cung cấp chủ yếu nguyên liệu nông sản để chế biến thức ăn cho nuôi bè (cám, tm,
đậu, bắp...) Một thuận lợi nữa là vào cui mùa g Tây - Nam hàng m (sau đỉnh lũ)
nước sông tthượng nguồn đổ xiết về hạ lưu mang về nguồn lợi tnhiên rất dồi
dào cả về số lượng lẫn chủng loại. Nhiều nhất là cá linh (Labeobarb siamensis) và nhiu
loi tnhiên khác. Ngoài ngun tnhiên nước ngọt, các loại tạp đánh bắt t
biển Rạch Giá được chuyển đến khu vực nuôi bè với đoạn đường ngắn, giá cả phù hợp
thường xuyên. Ngoài ra, điều kiện giao thông thủy và bthuận tin ng giúp cho
việc vận chuyển nguyên vật liệu chế biến thức ăn cho cá được dễ dàng và kịp thời.
III. CÁ GIỐNG PHỤC VỤ CHO NGHỀ NUÔI:
Nhiều năm trước đây và cả đến khi nuôi cá bè thịnh hành và phát trin, con ging
cung cấp cho nuôi trong bè chyếu được vớt từ thiên nhiên, trên sông Cửu Long. Các
loài nuôi trong bè đều thuộc nhóm cá địa phương, sống trong sông và các thủy vực nước
ngọt. Đa s chúng đều tch hợp với môi trường nước chảy.
Hàng năm vào mùa mưa, các bt các li được vớt trên sông ương nuôi trong
ao, hầm thành ging và cung cấp cho các bè nuôi. tra basa cũng được vớt trên
sông như các li cá khác. Hàng năm có khoảng từ 200 - 500 triệu bột cá tra được vớt và
ương ni, sau đó cá giống được chuyển đi bán cho người nuôi khắp các tỉnh Nam bộ và
cho nuôi bè tại chỗ. Riêng basa t hoàn toàn phải thu gom cỡ cá ging tng (bằng
câu, lưới) và phần lớn phải mua t Campuchia. Mỗi năm nhu cầu với mt số lượng
giống cá basa từ 10 - 15 triu con.
Hiện nay đã chđộng cho sinh sản nhân tạo 2 loài trên. Trong năm 1999 các
đa phương đã cho đẻ nhân to được 500 triệu bộttra, do đó giảm hẳn nghề vớt tra
trên sông trong tương lai một vài năm tới thể hoàn toàn bãi bviệc vớt tra t
nhiên.
Đối với basa ng đang từng ớc nâng cao sản lượng bột sinh sản nhân
to. Năm 1999 đẻ nhân tạo mới chỉ cung cấp được khoảng 10% nhu cầu về ging
nuôi. Hy vọng trong một số năm tới chúng ta sẽ chủ động hoàn toàn vnguồn ging loài
cá này.
Trị bệnh cụt vây, cụt đuôi cá ba sa nuôi trong bè
Mầm bệnh lan truyền trong nước hay sẵn trong cá nuôi. Khi điều kiện thuận lợi
mầm bệnh phát triển gây bệnh cả khu vực rộng lớn.
Biểu hiện bên ngoài: Da sm màu. y đuôi rách, thấy các hạt tròn đỏ xuất
hiện xung quanh vết rách. Các vây hậu môn, vây ngực, y ng có biểu hiện tương t
nhưng mức độ nh hơn. Bắt lên khi mặt nước, máu loãng tcác vết rách chảy ra
nhiều. Bệnh nặng gai cứng bị gãy hay dấu hiệu ng đỏ gốc gai. Hậu môn ng đỏ,
li.
Biểu hiện bên trong: Gan bầm, mật sưng căng, xoang bụng xuất huyết, ruột viêm
từng đoạn tập trung ở đoạn ruột sau.
Phòng bệnh: Quạt bè khi dòng nước chảy yếu; rời đến nơi thoáng t; cho ăn
đầy đủ, b sung rau xanh hoặc các loại vitamin, khoáng vi ợng; vớt cỏ rác tập vào bè,
loi bỏ cá chết.
Điều trị:
- Dùng cmực 1 kg + muối ăn 0,2 kg cho 1 tấn cá (cỏ mực đập t trộn với muối
rải đều vào thức ăn). Thời gian 7-10 ngày.
- Dùng 15 mg Furazolidon + 3 mg Oxytetracyclin trn đều vào thức ăn cho 100
kg cá. Tr liên tục từ 5-7 ngày.
- Dùng 2g Oxytetracyclin + 1g Chloramphenicol cho 100 kg cá. Trn thuốc vào
thức ăn đã nấu chín để nguội, bổ sung bã rượu giúp cho ăn ngon, dễ tiêu hóa
nhanh chóng phục hồi tạp khuẩn đường ruột. Thời gian điều tr liên tục 5-7 ngày.
Phòng trừ các bệnh thường gặp ở cá tra, basa
tra, basa cũng như nhiều loài nước ngọt khác, dễ bnhiễm nhiều loại bệnh
phbiến. Các tác nhân gây bệnh cho gồm 2 nhóm là các bệnh truyền nhiễm (do virus,
vi khun và ký sinh trùng) tác nhân không truyền nhiễm do môi trường, dinh ỡng
hoặc do các vi sinh vật gây ra.
Bệnh trắng da (hay bệnh đốm trắng)
Bệnh dễ xuất hiện khi bị sây sát do đánh bắt, san ao, vận chuyển hoặc do nhiệt
độ môi trường nước thay đổi đột ngột và quá cao. bnhiễm bệnh thường bỏ ăn, gốc
vây lưng xuất hiện vết đốm trắng sau đó lan dần đến cuống đuôi và toàn thân. bbệnh
nặng thường bơi lờ đờ ngang mặt nước, rồi ln đầu xuống và chết. Bệnh này xảy ra rất
nhanh n phát hiện và phòng bnh sớm là rất cần thiết. Để trị bệnh dùng mt số kháng
sinh thuốc điều trị (thế hệ mới) trộn vào thức ăn TCB (thức ăn hỗn hợp tchế) hoặc
nghiền mịn và pha tnh dung dịch ngâm thức ăn viên để cho ăn: Sunfadimezin 5g +
Oxytetracyclin 2g/100 kg kết hợp trộn vào thức ăn Superfact 250g/100kg thức ăn. Từ
ngày thứ 3, liều dùng giảm đi một nửa. Cá có thể khi bệnh sau 5 ngàyng thuc.
Bệnh huyết đường ruột
Xuất hiện chủ yếu vào các tháng mùa khô. bbệnh bụng chướng to, hậu môn
li, ng đỏ, vây bụng xung huyết. bơi lờ đờ, tách đàn, biếng ăn. Để phòng bệnh
thdùng c mực thái nhỏ và nấu chung với thức ăn TCB cho ăn, liều lượng 1 kg cỏ
mực + 70kg thức ăn. Cứ cách 1 tuần cho ăn một ln nhằm phòng bệnh đường ruột rất tốt.
Trbệnh cho nên dùng Sunfathiazon 6g+0,5g Thiromin/100kg cá, hoặc Sunfaguanidin
10g/70kg thức ăn TCB. Cho ăn liên tục 5 ngày liền, tngày th3 giảm lượng thuốc đi
mt nửa.
Bệnh nấm thủy mi
Bệnh gây hại cho ttrứng đến trưởng thành. Những ao bị nhiễm bẩn, ni
quá y đều thể xuất hiện bệnh nấm. Tr bệnh dùng xanh Malachite nồng độ 0,05 -
0,1mg/t (thuốc này đã b cấm sử dụng theo 20/2003/QĐ-BTS) để diệt nấm trong bể
ấp, với hương ging, tm cho trong nước muối 2 - 3% hoặc dung dịch thuốc tím
20mg/lít trong 10 - 15 phút, hoặc dung dịch xanh Malachite 1 - 2mg/lít trong 30 - 60
phút (thuốc này đã bcấm sử dụng theo 20/2003/QĐ-BTS). Ao ương nên thay nước
mới sạch để hạn chế ngay sự phát triển của nấm thủy mi.
Bệnh trùng bánh xe
Bệnh phổ biến giai đoạn ging. Khi mới nhiễm bệnh thân cá lớp nhớt i
trắng đục, thường nổi và thích tập trung nơi nước chảy. bệnh nặng lờ đrồi chìm
xuống đáy ao và chết. Không nên nuôi ương với mật độ quá dày, gimôi trường nuôi
sạch. Trị bệnh dùng nước muối 2 - 3% tắm cho bệnh 5 - 15 phút. Dùng Sulphat đồng
nồng độ 2 - 5 mg/lít tắm cho 10 - 15 phút hoặc phun trực tiếp xuống ao nồng độ 0,5 -
0,7 g/m3 nước. Dùng Malachite nồng độ 0,1 - 0,2 g/m3 (thuốc này đã bcấm sử dụng
theo 20/2003/QĐ-BTS) tắm t 30 - 60 phút. Phối hợp Sunphat đồng 0,5g/m3
+ xanh Malachite 0,01 - 0,02 g/m3 (thuc này đã b cấm sử dụng theo 20/2003/QĐ-
BTS) phun hoặc rắc đều xuống ao nhằm tiêu diệt trực tiếp trùng nh xe trong nước và
ký sinh trên cá.