Tập 18 Số 4-2024, Tp chí Khoa học Tây Nguyên
57
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA Ở HUYỆN KRÔNG BÔNG, TNH ĐẮK LẮK
THEO HƯỚNG LIÊN KẾT CHUI
Lê Văn Tất Thành1, Nguyễn Hữu Phương2, Đỗ Thị Nga3
Ngày nhận bài: 24/7/2024; Ngày phản biện thông qua: 22/8/2024; Ngày duyệt đăng: 23/8/2024
TÓM TẮT
Nghiên cứu này đánh giá thực trạng phát triển sản xuất la ở huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk (ở cả
khía cạnh số lượng hiệu quả kinh tế, xem xét yếu tố liên kết). Nguồn số liệu dùng trong nghiên
cứu được thu thập từ các cơ quan quản lý, hợp tác xã khảo sát các hộ nông dân sản xuất la ở địa bàn
nghiên cứu (bao gồm hộ liên kết hộ không liên kết). Quy sản xuất la của huyện Krông Bông
tăng nhanh trong giai đoạn 2010 - 2022 cả về diện tích và sản lượng. Mô hình liên kết trong sản xuất
tiêu thụ la giữa hộ nông dân với hợp tác xã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho nông
dân. Tuy vậy, quy mô liên kết còn hạn chế, năm 2022, toàn huyện chỉ có 1 hợp tác xã tham gia liên kết
với hộ nông dân với số lượng thành viên là 580 hộ, diện tích liên kết là hơn 760 ha (chiếm 15,88% tổng
diện tích canh tác la của huyện). Nghiên cứu cũng đã đề xuất các biện pháp chủ yếu nhằm thc đẩy phát
triển sản xuất la theo hướng liên kết chuỗi ở địa bàn nghiên cứu.
Từ khóa: Phát triển, sản xuất lúa, liên kết, huyện Krông Bông.
1. MỞ ĐẦU
Việt Nam nước sản xuất la gạo quan trọng
của thế giới, thuộc top 5 quốc gia quy sản
xuất lớn nhất với 42,67 triệu tấn đứng thứ 3
về xuất khẩu gạo với mức sản lượng 5,6 triệu tấn
năm 2022 (Faostat, 2024). Thách thức trong sản
xuất la gạo của Việt Nam quy nhỏ lẻ, sản
xuất theo tập quán cũ, tiêu thụ bị động thông qua
thương lái, dẫn đến lợi nhuận thấp (Lê Cảnh Dũng
Văn Tuấn, 2014). Nếu khắc phục được
những thách thức của nền sản xuất la quy mô nhỏ
lẻ thì hội sinh kế của nông dân trồng la sẽ được
cải thiện (Võ Văn Tuấn cs., 2020). các vùng
sản xuất la trọng điểm của Việt Nam như Đồng
bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Hồng,
việc phát triển mô hình cánh đồng lớn khẳng định
hiệu quả tốt hơn so với hình canh tác la truyền
thống cả ba phương diện kinh tế, hội môi
trường (Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2017). Nông hộ
tham gia cánh đồng lớn sản xuất hiệu quả hơn
so với nông hộ ngoài cánh đồng lớn (Nguyễn Tuấn
Kiệt Trịnh Công Đức, 2017; Nguyễn Ph Son
cs., 2017). Việc tham gia vào các tổ hợp tác,
hợp tác gip nâng cao chất lượng hiệu quả
sản xuất la của các hộ nông dân (Lê Cảnh Dũng
cs., 2019). Liên kết sản xuất theo hợp đồng gip
sản phẩm dễ tiêu thụ xuất khẩu, lợi nhuận cao
hơn so với sản xuất không theo hợp đồng (Nguyễn
Viết Tuân, 2017). Liên kết trong sản xuất tiêu
thụ la cũng gip các doanh nghiệp xây dựng
nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu cho chế
biến xuất khẩu (Nguyễn Huỳnh Phước, 2023).
Krông Bông một huyện vùng sâu của tỉnh
Đắk Lắk, nằm vị trí tiếp giáp giữa cao nguyên
Buôn Ma Thuột với dãy Trường Sơn Nam nên địa
hình bị chia cắt mạnh, bao gồm 3 loại chính là ni
cao, ni thấp thung lũng. Địa hình thung lũng
với diện tích gần 22 nghìn ha, chiếm hơn 17% diện
tích tự nhiên của huyện, phân bố ven các sông lớn.
Thổ nhưỡng chủ yếu đất phù sa đất xám, thích
hợp với canh tác la và các cây công nghiệp ngắn
ngày. Tổng diện tính gieo trồng la của huyện năm
2022 9.031 ha, sản lượng 59.529 tấn (Phòng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông
Bông, 2023). Krông Bông đã trở thành vùng sản
xuất la hàng hóa chuyên canh quan trọng của tỉnh
Đắk Lắk và mang lại nguồn thu nhập ổn định cho
người nông dân. Việc phát triển hình thức liên kết
chuỗi đã góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng
sản xuất la gạo. Loại gạo ST24 do hợp tác xã liên
kết với hộ nông dân sản xuất đã đạt chứng nhận
sản phẩm OCOP 4 sao năm 2020. Tuy vậy, quy
diện tích la sản xuất theo hình thức liên kết
của huyện còn thấp, chiếm dưới 16% tổng diện
tích canh tác la của toàn huyện, sản xuất manh
mn, khó tiếp cận thị trường đầu vào đầu ra,
ảnh hưởng đến phát triển bền vững.
Mục tiêu của bài viết này đánh giá thực trạng
phát triển sản xuất la huyện Krông Bông, tỉnh
Đắk Lắk, trên sở đó đề xuất các hàm ý thc đẩy
phát triển sản xuất la theo hướng liên kết chuỗi ở
địa bàn nghiên cứu.
1Huyện đoàn Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk;
2UBND thị trấn Krông Kmar, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk;
3Khoa Kinh tế, Trường Đại học Tây Nguyên;
Tác giả liên hệ: Đỗ Thị Nga, ĐT: 0914056482, Email: dothinga@ttn.edu.vn.
Tập 18 Số 4-2024, Tp chí Khoa học Tây Nguyên
58
2. VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Bài viết sử dụng nguồn số liệu thứ cấp số
liệu cấp để đánh thực trạng phát triển sản xuất
la của huyện Krông Bông. Số liệu thứ cấp được
thu thập từ các quan quản như Cục Thống
tỉnh Đắk Lắk, Phòng Nông nghiệp Phát
triển nông thôn huyện Krông Bông, hợp tác xã
Trung tâm Thống kê của Tổ chức Nông Lương thế
giới (FAOSTAT). Số liệu sơ cấp được khảo sát từ
các hộ nông dân sản xuất la trên địa bàn huyện
Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk (do sản xuất la địa
phương được thực hiện chủ yếu bởi hộ nông dân).
Các hộ khảo sát thuộc 3 xã Yang Reh, Hòa Sơn và
Ea Trul. Đây 3 sản xuất la trọng điểm của
huyện Krông Bông, cũng các địa phương được
hợp tác lựa chọn để liên kết sản xuất với hộ
nông dân. Số lượng hộ tối thiểu cần khảo sát được
xác định theo công thức của của Yamane (1967)
2
2
(1 )pp
nZ e
=
, với z là giá trị phân phối tương
ứng với độ tin cậy lựa chọn, p ước tính tỷ lệ %
của tổng thể, q = 1-p (thường tỷ lệ p q được
ước tính 0,5/0,5 khả năng lớn nhất thể xảy
ra của tổng thể), e sai số cho phép. Chọn độ
tin cậy 90%, tương ứng e = 0,1 z = 1,645, do
đó n được xác định 68. Để bảo đảm độ tin cậy,
số lượng hộ khảo sát 100 hộ, sau khi làm sạch
phiếu khảo sát, 8 hộ bị loại do không đạt yêu cầu.
Do vậy số lượng mẫu sử dụng trong nghiên cứu là
92 hộ trong đó 46 hộ liên kết với hợp tác xã và 46
hộ không liên kết.
Kiểm định T-test với phương sai đồng nhất
(t-Test: Two-Sample Assuming Equal Variances)
hoặc phương sai không đồng nhất (t-Test: Two-
Sample Assuming Unequal Variances) để so sánh
giá trị trung bình các chỉ tiêu kết quả hiệu quả
sản xuất của hai nhóm hộ liên kết không liên
kết.
Hàm sản xuất Cobb-Douglas được sử dụng để
phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến
năng suất la, với mô hình như sau:
3
12 4 5
12345
b
bb b bD
Y AXXXXXe
α
=
Trong đó, biến phụ thuộc Y năng suất la;
Ahệ số hồi quy; các biến độc lập X1, X2,…,
X5 tương ứng số lượng công lao động (công/
ha), diện tích la (ha/hộ), chi phí phân bón hóa
học (nghìn đồng/kg), lượng phân hữu (kg/
ha), chi phí thuốc bảo vệ thực vật (nghìn đồng/
ha); b1, b2,…, b5 hệ số co giãn của đầu ra
theo các biến đầu vào (độc lập) tương ứng; D
là yếu tố đầu vào định tính về phương thức sản
xuất la (hộ liên kết 1, hộ không liên kết
tương ứng 0); α tham số của biến định
tính.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản
xuất la bao gồm năng suất bình quân/ha; hiệu
quả sử dụng đất (giá trị sản xuất-GO, thu nhập-
MI lợi nhuận-Pr bình quân 1 ha); hiệu quả
đầu (tỷ suất giá trị sản xuất, thu nhập lợi
nhuận trên vốn đầu tư). Tổng chi phí sản xuất
la (TC) bao gồm chi phí trung gian (IC) như
giống, làm đất, vật đầu vào, thu hoạch, thuê
lao động, các chi phí khác; khấu hao máy móc
giá trị lao động gia đình. Thu nhập hỗn hợp
bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
khấu hao. Lợi nhuận bằng thu nhập hỗn hợp trừ
giá trị lao động gia đình, hay lợi nhuận bằng giá
trị sản xuất trừ tổng chi phí.
3. KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1. Biến động diện tch, năng suất và sản lượng
lúa của huyện Krông Bông
Năm 2022 diện tích gieo trồng la nước của
huyện Krông Bông đạt 9.031 ha, tăng 2.736 ha
so với năm 2010 (tương ứng với 30,3%). Tốc
độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010 - 2022
3,05% năm (Bảng 1). Sản xuất la huyện
Krông Bông được thực hiện 2 vụ, Đông Xuân
Thu. Vụ Đông Xuân được thực hiện vào
mùa khô, thiếu nước tưới nên một phần diện tích
được chuyển đổi sang trồng các loại cây hoa
màu. Do vậy, cơ cấu diện tích gieo trồng la
sự chênh lệch theo vụ. Cụ thể năm 2010, diện
tích gieo trồng la vụ Đông Xuân chiếm 35,19%
xu hướng tăng dần, đến năm 2022 tỷ lệ
tương ứng là 44,81%. Vụ Hè Thu được canh tác
vào mùa mưa, bảo đảm nước tưới nên quy
diện tích lớn hơn vụ Đông Xuân. Từ năm 2017,
các giống la năng suất ổn định, chất lượng
gạo ngon được đưa vào gieo trồng đại trà bao
gồm các giống Đài Thơm 8, RVT, N25. Đến năm
2020 các giống mới như ST24, ST25 được đưa
vào sản xuất, trong đó giống ST24 đã được công
nhận sản phẩm OCOP 4 sao. Đến năm 2022, các
giống la chất lượng cao chiếm 70% tổng diện
tích gieo trồng la của toàn huyện, trong đó các
giống ST24 ST25 chiếm 60% diện tích gieo
trồng la.
Tập 18 Số 4-2024, Tp chí Khoa học Tây Nguyên
59
Bảng 1. Biến động diện tích sản xuất lúa của huyện
Diễn giải ĐVT 2010 2015 2020 2021 2022 Tăng BQ (%)
Tổng diện tích gieo trồng Ha 6.295 7.297 8.536 8.385 9.031 3,05
Vụ Đông Xuân Ha 2.215 2.814 3.701 3.628 4.047 5,15
Cơ cấu (%) 35,19 38,56 43,36 43,27 44,81
Vụ Hè Thu Ha 4.040 4.483 4.835 4.757 4.984 1,77
Cơ cấu (%) 64,18 61,44 56,64 56,73 55,19
Nguồn: Cục Thống kê Đắk Lắk; Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Krông Bông.
Năng suất la bình quân của huyện Krông
Bông năm 2010 đạt 4,99 tấn/ha, đến năm 2022 đạt
6,59 tấn/ha (Bảng 2). Tốc độ tăng trưởng năng suất
bình quân của toàn huyện trong giai đoạn 2010 -
2022 là 2,35%. Xét theo vụ thì vụ Đông Xuân đạt
năng suất cao hơn tốc độ tăng nhanh hơn vụ
Hè Thu. Cụ thể, năm 2022 năng suất la vụ Đông
Xuân đạt 7,54 tấn/ha, tăng bình quân 2,7% năm
trong giai đoạn 2010-2022; vụ Thu năng suất
la tăng bình quân 1,72% năm. do là vụ Đông
Xuân được gieo trồng sau khi đất được nghỉ ải,
dinh dưỡng đất tốt hơn điều kiện khí hậu cũng
thích nghi hơn nên năng suất cao hơn. Vụ Hè Thu
được gieo trồng vào mùa mưa, thường xuyên bị
ngập ng nên năng suất thấp. Năm 2020 năng suất
la của huyện đạt cao nhất trong 12 năm do
huyện đưa giống la chất lượng cao ST24 và ST25
vào gieo trồng đại trà. Năm 2021 - 2022, năng suất
la giảm st so với năm 2020 là do ảnh hưởng của
thiên tai và sâu bệnh hại.
Bảng 2. Biến động năng suất lúa của huyện
Đơn vị tnh: Tấn/ha
Diễn giải 2010 2015 2020 2021 2022 Tăng BQ (%)
Năng suất chung 4,99 5,65 7,52 6,67 6,59 2,35
Vụ Đông Xuân 5,41 5,58 8,10 7,09 7,45 2,70
Vụ Hè Thu 4,81 5,70 7,07 6,35 5,90 1,72
Nguồn: Cục Thống kê Đắk Lắk; Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Krông Bông.
Biến động sản lượng cấu sản lượng la của
huyện được trình bày Bảng 3. Tổng sản lượng la của
huyện tăng nhanh trong hơn 10 năm qua. Năm 2010
sản lượng la đạt 31,4 nghìn tấn, đến năm 2022 sản
lượng đạt 59,5 nghìn tấn, tăng 1,9 lần. Trong 12 năm,
sản lượng la tăng bình quân 5,47%. Vụ Đông Xuân,
sản lượng tăng nhanh, năm 2022 đạt 30.142 tấn, bình
quân mỗi năm tăng 7,99%. Vụ Thu có tốc độ tăng
sản lượng thấp hơn, bình quân mỗi năm tăng 3,51%
trong giai đoạn 2010 - 2022. Sản lượng la của huyện
tăng nhanh một mặt là do tăng diện tích gieo trồng, mặt
khác và quan trọng hơn là do tăng năng suất.
Bảng 3. Biến động sản lượng và cơ cấu sản lượng lúa của huyện
Diễn giải ĐVT 2010 2015 2020 2021 2022 Tăng BQ (%)
Tổng sản lượng Tấn 31.403 41.240 64.182 55.905 59.529 5,47
Vụ đông xuân Tấn 11.979 15.691 29.992 25.707 30.142 7,99
Cơ cấu (%) 38,15 38,05 46,73 45,98 50,63
Vụ hè thu Tấn 19.424 25.549 34.190 30.198 29.387 3,51
Cơ cấu (%) 61,85 61,95 53,27 54,02 49,37
Nguồn: Cục Thống kê Đắk Lắk; Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Krông Bông.
3.2. Tổ chức sản xuất liên kết trong sản xuất
và tiêu thụ lúa của huyện Krông Bông
Về hình thức tổ chức, sản xuất la huyện Krông
Bông được thực hiện chủ yếu các hộ nông dân. Từ
năm 2019 có loại hình hợp tác xã tham gia sản xuất
la. cấu diện tích la do hộ nông dân quản lý sản
xuất giảm từ 100% năm 2018 xuống còn 84,13%
năm 2022. Diện tích la do hợp tác xã quản lý tăng
từ 1,75% năm 2019 lên 15,88% năm 2022 (Bảng 4).
Hạn chế trong tổ chức sản xuất la ở huyện Krông
Bông tình trạng phát triển sản xuất ạt không
theo quy hoạch, các mối quan hệ liên kết trong sản
xuất tiêu thụ sản phẩm còn ít, dẫn đến khủng
hoảng thừa sản phẩm. Tình trạng “được mùa mất
giá” vẫn diễn ra. Nhiều hộ dân chưa quan tâm đến
việc chuyển đổi hình thức sản xuất theo hướng liên
kết với các doanh nghiệp, hợp tác xã. Diện tích sản
xuất la manh mn, không tập trung. Nguyên nhân
của hạn chế là do thói quen sản xuất của người dân
trên địa bàn huyện vẫn còn sản xuất tự do, không
Tập 18 Số 4-2024, Tp chí Khoa học Tây Nguyên
60
muốn bị ràng buộc với các điều kiện, yêu cầu về quy trình sản xuất theo hợp đồng liên kết.
Bảng 4. Diện tích lúa theo hình thức tổ chức sản xuất
Hình thức tổ chức 2018 2019 2020 2021 2022
Hộ gia đình quản lý (ha) 3.989 3.919 4.112 3.800 4.038
Tỷ lệ (%) 100 98,25 98,09 90,48 84,13
Hợp tác xã quản lý (ha) 0 70 80 400 761,5
Tỷ lệ (%) 0 1,75 1,91 9,52 15,88
Nguồn: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Bông.
Về liên kết sản xuất tiêu thụ la, trên địa bàn
huyện 1 hợp tác liên kết với hộ nông dân trong
sản xuất tiêu thụ sản phẩm hợp tác dịch vụ
tổng hợp nông nghiệp Thăng Bình. Hợp tác này
được xây dựng từ tổ liên kết sản xuất nông sản của
nông dân vào năm 2013. Thời gian đầu, hợp tác xã chỉ
liên kết với hộ nông dân để sản xuất và tiêu thụ nông
sản nguyên liệu. Đến năm 2019, hợp tác đã đầu
xây dựng nhà máy chế biến la gạo, với nhà xưởng
chế biến rộng 1.750m2, hệ thống lò sấy la công nghệ
nhiệt sạch, dây chuyền xay xát gạo, hệ thống xuất
nhập liệu tự động các máy móc, thiết bị phục vụ
sản xuất. Công suất chế biến tối đa đạt 4.000 tấn sản
phẩm/năm. Như vậy, vai trò của hợp tác được mở
rộng hơn, bao gồm cung ứng dịch vụ cơ giới (làm đất,
tưới thu hoạch); quản sản xuất (lịch thời vụ, kỹ
thuật sản xuất); cầu nối giữa doanh nghiệp cung ứng
giống, vật nông nghiệp với hộ nông dân; sơ chế, chế
biến kết nối tiêu thụ sản phẩm cho hộ nông dân.
Đến năm 2022, hợp tác xã đã xây dựng được 6 tổ liên
kết, với tổng số thành viên 580, tổng diện tích liên
kết với hộ nông dân là hơn 760 ha. Từ vụ Đông Xuân
2019 - 2020, hợp tác liên kết với hộ nông dân sản
xuất 70 - 100 ha la chất lượng cao (các giống ST24
ST25) theo tiêu chuẩn VietGAP, đặc biệt gạo sạch
được sản xuất từ giống la ST24 đã đạt chứng nhận
sản phẩm OCOP 4 sao vào năm 2020. Tuy vậy, năng
lực hiện tại của hợp tác xã khó có thể tiếp tục mở rộng
quy liên kết nếu không được đầu thêm nguồn
lực tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực.
3.3. Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện
Krông Bông
Chi phí sản xuất la có sự khác biệt giữa 2 nhóm hộ
liên kết không liên kết (Bảng 5). Nhóm hộ liên kết sản
xuất la theo quy trình được quản lý bởi hợp tác xã theo
hướng an toàn (chuyển dần một phần từ việc sử dụng
phân bón thuốc bảo vệ thực vật hóa học sang các
loại phân bón và chế phẩm hữu cơ), có mức đầu chi
phí cao hơn nhóm hộ còn lại. Bên cạnh đó, các hộ liên
kết cũng trang bị máy móc thiết bị tốt hơn. Do vậy, tổng
chi phí sản xuất của nhóm hộ liên kết cao hơn nhóm hộ
không liên kết 2,91 triệu đồng/ha, sự khác biệt này
ý nghĩa thống ở mức 99%. Về cấu các khoản chi
phí, chi phí trung gian chiếm tỷ lệ 74 - 75% được
cấu thành chủ yếu bởi các khoản như làm đất, giống,
phân bón thu hoạch. Các hộ liên kết sử dụng nguồn
giống bảo đảm chất lượng các dịch vụ như làm đất,
thu hoạch và tưới tiêu, được cung cấp bởi hợp tác xã.
Bảng 5. Chi phí sản xuất lúa của nông hộ
Đơn vị tnh: Nghìn đồng/ha
Các khoản chi phí Liên kết (1) Không liên kết (2) So sánh (1-2)
Chi ph trung gian (IC) 26.556 24.661 1.891***
Làm đất 4.606 4.739 -133
Giống 3.693 3.031 662
Phân bón hóa học 7.776 7.372 404
Phân hữu cơ 1.916 1.577 339
Thuốc BVTV 2.417 2.350 67
Thu hoạch 4.959 4.555 404
Thuê lao động 363 333 30
Chi khác 824 706 118
Khấu hao 4.186 2.934 1,252
Lao động gia đình 5.041 5.278 -237
Tổng chi phí (TC) 35.783 32.873 2.910***
*** Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 99%
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ nông dân
Tập 18 Số 4-2024, Tp chí Khoa học Tây Nguyên
61
Bảng 6. Hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ
ĐVT Liên kết (1) Không liên kết (2) So sánh (1-2)
Năng suất Tấn/ha 7,13 6,29 0,84***
Giá trị sản xuất (GO)
Nghìn đồng/
ha
49,92 42,14 7,78***
Thu nhập (MI) 19,18 14,54 4,64***
Lợi nhuận (Pr) 14,14 9,27 4,87***
GO/TC
Lần
1.40 1.28
MI/TC 0.54 0.44
Pr/TC 0.40 0.28
GO/Công lao động Nghìn đồng/
công lao
động
1,848 1,502 345***
MI/Công lao động 710 519 191***
Pr/Công lao động 523 330 193***
*** Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 99%.
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ nông dân.
Bảng 6 tả hiệu quả sản xuất la của hai
nhóm hộ. Quy diện tích canh tác la bình
quân của nhóm hộ liên kết 1,23 ha/hộ, nhóm
hộ không liên kết 0,99 ha/hộ. Do được sản
xuất theo quy trình mức đầu cao hơn nên
nhóm hộ liên kết đạt năng suất la cao hơn
0,84 tấn/ha (khác biệt có ý nghĩa thông mức
99%). Giá bán la bình quân giữa hai nhóm hộ
chênh lệch nhau 200 đến 300 nghìn đồng/tấn,
riêng la chất lượng cao sản xuất theo tiêu chuẩn
VietGAP chênh lệch từ 1,5 đến 2 triệu đồng/tấn.
Tất cả các chỉ tiêu hiệu quả đều ghi nhận nhóm
hộ liên kết cao hơn nhóm không liên kết, với
mức ý nghĩa thống 99%. Cụ thể, hiệu quả
sử dụng đất của các hộ liên kết cao hơn các hộ
còn lại từ 4,64 đến 7,78 triệu đồng/ha; hiệu quả
sử dụng lao động cao hơn từ 191 đến 345 nghìn
đồng/công lao động. Khó khăn trong thực hiện
liên kết gây ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
la đó tình trạng tranh mua của các thương lái
vào những vụ giá la tăng cao. Để thu mua được
số lượng lớn, các thương lái đã trả giá cao hơn
mức giá của hợp tác một số hộ nông dân
sẵn sàng phá bỏ hợp đồng để bán la ra ngoài
hợp tác xã.
3.4. Ước lượng các yếu tố đầu vào ảnh hưởng
đến năng suất lúa ở huyện Krông Bông
Năng suất yếu tố quan trọng cấu thành nên
hiệu quả sản xuất la của các nông hộ. Các yếu
tố ảnh hưởng đến năng suất la được xem xét
trong hàm Cobb-Douglas bao gồm diện tích bình
quân hộ; số công lao động, mức đầu tư phân bón
hóa học, lượng phân hữu cơ, chi phí thuốc bảo
vệ thực vật bình quân ha. Ngoài ra phương thức
sản xuất (yếu tố liên kết) cũng được đưa vào
hàm sản xuất để xem xét ảnh hưởng của việc
liên kết đến năng suất la. Kết quả phân tch hồi
quy được tả Bảng 7. Trên sở kết quả
hàm hồi quy chuyển Ln-Ln, hình hồi quy
được xác định như sau:
Ln(NS)= 0,2634 - 0,0129Ln (LĐ) +
0,0878Ln(DT) + 0,0824Ln(PBHH) +
0,0484Ln(PBHC) + 0,0153Ln(BVTV) + 0,0853D
Kết quả cho thấy các biến diện tích (X2),
phân bón hóa học (X3), phân hữu (X4) tác
động đến năng suất ý nghĩa thống kê,
tương ứng với mức ý nghĩa 99% và 90%. Riêng
lao động và thuốc bảo vệ thực vật tác động đến
năng suất nhưng không ý nghĩa thống kê. Quy
sản xuất la càng lớn, năng suất càng cao,
cụ thể diện tích canh tác la tăng 1% gip năng
suất la tăng 0,0878% (trong trường hợp các yếu
tố khác không đổi). Mức đầu phân bón cũng
quan hệ thuận với năng suất la, cứ 1% tăng về
phân bón hóa học và phân hữu cơ, năng suất la
tăng tương ứng 0,0824% 0,0484%. Hơn
nữa, biến D quan hệ thuận với năng suất (có
ý nghĩa thống kê ở mức 99%), nghĩa là việc lựa
chọn phương thức sản xuất liên kết cũng góp
phần tăng năng suất la (các hộ liên kết đạt năng
suất la cao hơn nhóm hộ không liên kết). Như
vậy, đối với các nông hộ sản xuất la huyện
Krông Bông, việc tăng quy sản xuất, tăng
mức đầu tư phân bón và tham gia liên kết là cần
thiết để tăng năng suất, góp phần gia tăng hiệu
quả sản xuất la.