Phòng, chống bệnh tiên mao trùng và sán lá
gan trâu, bò ở Việt Nam
Cụm ng trình phòng chng hai bệnh ký sinh trùng chyếu gây hại:
Bệnh tiên mao trùng n gan trâu Việt Nam của các nhà khoa học
thuộc Viện Ty quốc gia đã được trao Giải thưởng Nnước về khoa học
và công nghm 2005.
Cụm ng trình được thực hiện tm 1960 đến 2004. Các tác gi
gm: GS Trịnh n Thịnh, TS Ðoàn Văn Phúc, PGS.TS Phan Ðịch Lân,
PGS.TS Phm SLăng, TS Lương Tổ Thu, TS Lê Ngọc Mỹ, PGS.TS Phm
Văn Khuê.
Trong những m 1960 - 1970, cqua vụ Đông Xn giá rét, các tỉnh
đồng bằng và trung du Bắc bộ mi m có khoảng từ 15 đến 20 nghìn trâu
chết. Các địa phương thường gọi là trâu đổ ngã vĐông Xuân hoặc
"trâu ngã nước", những tlệ trâu bò chết đến 50%. Hậu quả nói trên
đã ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất của đàn trâu bò. Kết quả khảo sát
bước đầu cho thấy, hin tượng nêu trên liên quan đến hai bệnh tiên mao
trùng (TMT) n gan (SLG). Tập thể cán bký sinh trùng, Viện Ty
được giao nhiệm vụ nghiên cu phòng chng các bệnh ký sinh trùng ktrên
nhm khắc phục hiện tượng tu bò đổ ngã trong vĐông Xn, bảo vệ đàn
trâu bò cày kéo phục vụ nông nghiệp.
Công trình nghiên cứu đã hoàn thành đáp ứng được các vấn đề khoa
học đặt ra. Qua nghiên cứu xét nghiệm hơn 20 nghìn bnh phẩm t20 tỉnh,
thành phphía Bắc đã xác định được nguyên nhân tu chết hàng loạt
trong các v Đông Xuân chính là do hai bệnh TMT và SLG. Các nhà khoa
học đã nm được đặc điểm dịch tễ học của hai bệnh này ở Việt Nam từ đó đề
ra quy trình png bnh. Ðng thời, c nhà khoa học đã xác định được 63
li mòng hTabanidae và bn loài ruồi họ phụ Stomoxydinae khả năng
truyền bệnh TMT, trong đó có mười loài mi tìm thấy Việt Nam. Ðã xác
định được hai loài ốc chủ trung gian của SLG là Lymnaea viridis
L.swinhoei. Thiết lập và sdụng nhiều phương pháp huyết thanh học hiện
đại như: ELISA, IFAT, SAT, CATT đáp ứng được yêu cu chẩn đoán
nhanh, chính xác. Tđó, các quy trình này được ứng dụng rộng rãi để chẩn
đoán phát hiện bệnh tại các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hòa Bình,
Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hải Dương,
Hưng Yên, Nam Ðịnh, Hà Nam và các vùng quanh Hà Ni.
Trong qtrình thực hiện đề tài c tác giđã phát huy tính sáng tạo
tchế được một số chế phẩm mới dùng trong chẩn đoán như: chế Conjugate
huỳnh quang dùng trong chn đoán TMT; kháng nguyên chất tiết dùng trong
chẩn đoán SLG; đề ra quy trình bảo quản giống kháng nguyên TMT nhiệt
độ âm u (Ni-lỏng), thay thế việc giữ giống truyền đời trên chut; chọn
lựa các chủng TMT các địa phương tập hợp kháng nguyên đa chủng chế
kháng nguyên để chẩn đoán TMT; kịp thời nghiên cu ứng dụng các loại
thuốc mi điều trị hai loại bệnh SLG và TMT; xây dng và áp dụng rộng rãi
quy trình phòng chống bệnh TMT và bnh SLG.
Kết quả nghiên cu khoa học đạt được của Đề tài 02B m 1985
KN02 - 16 năm 1990 - 1995 được Hội đồng khoa học Bộ ng nghiệp và
Phát trin ng thôn và BKhoa học, ng nghvà Môi trường trước đây,
nay là Bộ Khoa học và Công nghệ, nghiệm thu và đánh giá xuất sắc.