ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN
TRUNG TÂM GDNN - GDTX
GIÁO TRÌNH
CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM
Mã Số: 40620106
Trình độ: Dạy nghề thường xuyên
Hàm Yên, tháng 05 năm 2017
Bài 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
I. Khái niệm về an toàn lao động
An toàn lao động chỉ việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động,
gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động.
Vệ sinh lao động chỉ việc ngăn ngừa bệnh tật do những chất độc hại tiếp xúc trong
quá trình lao động gây ra đối với nội tạng hoặc gây tử vong cho người lao động.
2. Ý nghĩa của việc quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động Việc quy định
vấn đề an toàn lao động và vệ sinh lao động thành một chế định trong luật lao động có
ý nghĩa có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn.
Trước hết, biểu hiện sự quan tâm của nhà nước đối với vấn đề bảo đảm sức khỏe
làm việc lâu dài cho người lao động.
Thứ hai, các quy định về đảm bảo an toàn lao động vệ sinh lao động trong doanh
nghiệp phản ánh nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động trong vấn đề
bảo đảm sức khỏe cho người lao động. dụ: Việc trang bị các phương tiện che chắn trong
điều kiện có tiếng ồn, bụi...
Thứ ba, nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất tinh thần cho người lao động
thực hiện tốt nghĩa vụ lao động. Cụ thể, việc tuân theo các quy định về an toàn lao động
vệ sinh lao động đòi hỏi người sử dụng lao động trong quá trình sử dụng lao động phải đảm
bảo các điều kiện này (Ví dụ: Trang bị đồ bảo hộ lao động, thực hiện các chế độ phụ cấp...)
Đối tượng áp dụng chế độ ATLĐ (an toàn lao động) VSLĐ (vệ sinh lao động):
Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động được áp dụng đối với mọi tổ chức,
nhân sử dụng lao động, mọi công chức, viên chức, người lao động kể cả người học nghề,
tập nghề, thử việc trong các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, trong lực lượng trang
các doanh nghiệp, tổ chức, quan nước ngoài, tổ chức quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt
Nam.
An toàn lao động vệ sinh lao động những chế định của luật lao động bao gồm
những quy phạm pháp luật quy định việc đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động nhằm
bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, đồng thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu
dài của người lao động. An toàn lao động không tốt thì gây ra tai nạn lao động, vệ sinh lao
động không tốt thì gây ra bệnh nghề nghiệp.
3. Thực trạng công tác phòng ngừa TNLĐ trong chăn nuôi
Theo số liệu điều tra của Cục Chăn nuôi cho thấy: Khi chưa quan, tổ chức nào
đứng ra đảm bảo phòng ngừa TNLĐ cho người chăn nuôi thì bản thân NLĐ trong chăn nuôi
cũng đã rất có ý thức trong việc phòng ngừa tai nạn khi lao động của mình, đã xác định nhu
cầu rất ràng muốn được trang bị BHLĐ (92,6%/tổng số hộ điều tra đại diện các tỉnh trên
toàn quốc) nhưng điều kiện kinh tế còn quá khó khăn nên tự bản thân người chăn nuôi
chưa trang bị đồng bộ BHLĐ cho mình được (71,5%). Đây thể một nghịch khi
người lao động trong chăn nuôi chưa nhận thức được đầy đủ mọi trang thiết bị bảo hộ
cần thiết cho công việc sản xuất của mình nhưng hơn 90% đều nhu cầu được bảo hộ
song thực tế chỉ hơn 20% sử dụng bảo hộ lao động chỉ khoảng 1,5% được bảo hộ lao
động đầy đủ.
II. BẢO HỘ LAO ĐỘNG
1. Khái niệm về bảo hộ lao động:
- Bảo hộ lao động là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề hệ thống các văn bản pháp
luật, các biện pháp về tổ chức Kinh tế - hội khoa học công nghệ để cải tiến điều kiện
lao động nhằm:
Bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người trong lao động. Nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm. Bảo vệ môi trường lao động nói riêng môi trường sinh thái nói chung
góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.
- Từ khái niệm trên thể thấy tính pháp lý, tính khoa học, tính quần chúng của
công tác bảo hộ lao động luôn gắn mật thiết với nhau nội dung của công tác bảo hộ
lao động nhất thiết phải thể hiện đầy đủ các tính chất trên.
2. Mục đích bảo hộ lao động:
- Bảo đảm cho mọi người lao động những điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, thuận
lợi và tiện nghi nhất.
- Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tạo nên cuộc sống hạnh phúc cho người
lao động.
- Góp phần vào việc bảo vệ và phát triển bền vững nguồn nhân lực lao động.
- Nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người trước hết của người
lao động. Đây cũng chính sách đầu cho chiến lược phát triển kinh tế, hội trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3. Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động:
* Ý nghĩa về mặt chính trị:
- Làm tốt công tác bảo hộ lao động sẽ góp phần vào việc cũng cố lực lượng sản xuất
và phát triển quan hệ sản xuất.
- Chăm lo đến sức khoẻ, tính mạng, đời sống của người lao động.
- Xây dựng đội ngũ công nhân lao động vững mạnh cả về số lượng và thể chất.
* Ý nghĩa về mặt pháp lý:
- Bảo hộ lao động mang tính pháp lý vì mọi chủ trương của Đảng, Nhà nước, các giải
pháp khoa học công nghệ, các biện pháp tổ chức hội đều được thể chế hoá bằng các quy
định luật pháp.
- bắt buộc mọi tổ chức, mọi người sử dụng lao động cũng như người lao động
thực hiện.
* Ý nghĩa về mặt khoa học:
- Được thể hiện ở các giải pháp khoa học kỹ thuật để loại trừ các yếu tố nguy hiểm
có hại thông qua việc điều tra, khảo sát, phân tích và đánh giá điều kiện lao động, biện pháp
kỹ thuật an toàn, phòng cháy chữa cháy, kỹ thuật vệ sinh, xử ô nhiễm môi trường lao
động, phương tiện bảo vệ cá nhân.
- Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ tiên tiến để phòng ngừa,
hạn chế tai nạn lao động xảy ra.
- còn liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường sinh thái, thế hoạt động khoa
học về bảo hộ lao động góp phần quyết định trong việc giữ gìn môi trường trong sạch.
* Ý nghĩa về tính quần chúng:
- mang tính quần chúng đó công việc của đông đảo những người trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất. Họ người khả năng phát hiện đề xuất loại bỏ các
yếu tố có hại và nguy hiểm ngay chỗ làm việc.
- Mọi cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật... đều trách nhiệm tham gia vào việc thực
hiện các nhiệm vụ của công tác bảo hộ lao động.
- Ngoài ra các hoạt động quần chúng như phong trào thi đua, tuyên truyền, hội thi,
hội thao, giao lưu liên quan đến an toàn lao động đều góp phần quan trọng vào việc cải
thiện không ngừng điều kiện làm việc, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
* Vai trò của công tác bảo hộ lao động trong chăn nuôi trang trại, hướng công
nghiệp.
Nước ta đông dân, với gần 70% số dân sống dựa vào nông nghiệp, trong đó đến
45% số dân sống dưới mức nghèo (theo chuẩn mới) mới. Chăn nuôi lợn gia cầm hiện
nay góp phần làm tăng thu nhập trung bình tính theo từng huyện cao nhất một số vùng
nghèo nhất Việt Nam. Ngành chăn nuôi phổ biến quy nhỏ dựa trên hộ gia đình, năng
suất thấp, giá thành lại cao, vệ sinh thực phẩm kém. Chăn nuôi nhỏ rải rác gây mất vệ sinh
môi trường, nhất các làng nghề (làm bột, bánh, nấu rượu) nơi chăn nuôi lợn phát triển.
Việc giết mổ phân tán cũng làm tăng ô nhiễm môi trường. Tuy chăn nuôi, trồng trọt được
liên kết chặt chẽ giúp nông dân nghèo sử dụng tốt thức ăn sẵn có, ít rủi ro, nhưng sản xuất
nhỏ không tạo được sức mạnh thị trường. Các sản phẩm chăn nuôi hầu hết cung cấp cho
thị trường nội địa, phần xuất khẩu còn nhỏ do giá thành cao các rào cản về vệ sinh an
toàn.
Trong những năm tới, ngành chăn nuôi nước ta sẽ có những biến đổi sâu sắc:
Một là, sự co hẹp của chăn nuôi nông hộ, số lượng các trang trại nhỏ sẽ giảm dần, các
trang trại vừa và lớn sẽ nhiều hơn.
Hai là, sự liên kết trong sản xuất sẽ được tăng cường, hình thức chăn nuôi hợp đồng
sẽ phát triển để hòa nhập với thị trường;
Ba là, chăn nuôi hữu (gà vườn, vịt đồng) sẽ bị giảm đáng kể do nhu cầu phòng
dịch.
* Vấn đề bảo hộ lao động cho người lao động trong chăn nuôi thật sự cấp bách
và bức thiết vì những lý do cơ bản sau:
- Đối tượng sản xuất vật nuôi nên nguy bị tấn công bởi các bộ phận tự vệ
trên cơ thể vật nuôi (cựa, răng, sừng, móng,..).
- Phương thức sản xuất hiện tại chủ yếu vẫn là quy mô nông hộ (chiếm trên 70%) nên
phương thức sản xuất nhiều công đoạn trùng lặp với đời sống sinh hoạt của người dân.
Đây là nguy cơ gây ô nhiễm, phát sinh bệnh tật cao hơn so với các ngành khác.
- Chất thải trong chăn nuôi rất lớn và mức gây ô nhiễm ảnh hưởngphạm vi rộng
hầu hết các loại tài nguyên thiên nhiên. Hiện tại chưa được kiểm soát hiệu quả nên cũng
là nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ của người chăn nuôi và cộng đồng.
- Đầu cho chăn nuôi loại đầu sản xuất lớn, đầu ra bấp bênh, rủi ro cao nên
người chăn nuôi thường bỏ qua khâu đầu cho công tác bảo hộ lao động. Chăn nuôi
ngành mà người lao động có nguy cơ lây nhiễm cao nhiều bệnh từ vật nuôi.
- Chưa hề bất quan nào quản lý, hỗ trợ đầu cho công tác BHLĐ cho
người chăn nuôi.
Vì vậy nếu được chú ý đầu tư thì Chương trình BHLĐ quốc gia cũng như các chương
trình, đề tài, dự án khác sẽ hỗ trợ tích cực được khoảng 20 triệu người lao động tham gia
sản xuất chăn nuôi một cách hiệu quả thiết thực. Đồng thời góp phần thực hiện công tác
bảo vệ môi trường sức khỏe cộng đồng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho tiêu
dùng hội. Lao động sản xuất trong chăn nuôi rất đa dạng nhiều hình thức tổ chức
phương thức, quy chăn nuôi. Các loại hình lao động trong chăn nuôi cũng khá phức tạp
tiềm ẩn nhiều nguy nguy hiểm do phải tiếp xúc với nhiều chất thải, hoá chất khử
trùng, phải sử dụng nhiều dụng cụ cơ khí như dao, máy thái, máy nghiền, máy phát điện,...
Ở quy mô chăn nuôi nhỏ, các loại hình lao động dễ gây tai nạn và ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe cho người chăn nuôi như thu lượm thức ăn xanh, tận dụng phụ phẩm, gia cố
chuồng trại, quét dọn vệ sinh, xử chất thải, bắt trói vật nuôi khi loại thải, vắt sữa,… song
hầu như chưamột nghiên cứu nào về bảo hộ lao động cho người sản xuất ở quynhỏ.
Trong khi nguy bị xâm hại sức khoẻ người lao động rất lớn những người lao động
nhỏ thường không chú ý hoặc không đủ kinh phí đầu phù hợp hiệu quả cho mình
trong việc bảo hộ lao động.
quy chăn nuôi lớn, người lao động trong chăn nuôi phải đối mặt với những
nguy cơ tai nạn khi thực hiện các công việc chế biến thức ăn như sử dụng máy thái cỏ, máy
nghiền viên, máy trộn thức ăn TMR,… vận hành các loại máy vắt sữa, máy sấy, quạt sưởi,
quạt mát, hầm Biogas,… Trong khi cũng chưa một nghiên cứu nào đề cập đến việc bảo
hộ lao động phòng tránh các bệnh nghề nghiệp cho người lao động trong chăn nuôi, đặc
biệt ở quy mô lớn thì mức tiếp xúc với nguy hại lớn hơn do sử dụng nhiều máy móc, do tiếp
xúc với vật nuôi nhiều hơn (bởi quy sản xuất lớn, số đầu con nhiều), tiếp xúc với các
hoá chất sát trùng, các loại vacxin nhiều hơn,..Môi trường chuồng trại, bãi chăn thả trong
chăn nuôi thường xuyên chất thải nên khá ẩm ướt, ngoài ra còn một lượng lớn các khí
độc chuồng nuôi như khí H,S, NH3, CH4,..; các loại bụi cơ, bụi hữu cơ, bụi lông,… dẫn
đến người chăn nuôi thường mắc các bệnh nghề nghiệp như nấm da, nấm đầu, lở ngứa, hắc
lào, đau mắt, các bệnh về đường ruột, đường phổi,… Thậm chí còn thể mắc một số bệnh
nguy hiểm như sảy thai truyền nhiễm, bệnh lao, bệnh Nepto,… Các bệnh dễ truyền nhiễm
từ động vật sang người như bệnh cúm gà H5N1, bệnh dại, bệnh giun,…
* Giai đoạn tới, ngành chăn nuôi có định hướng như sau:
- Chuyển đổi dần phương thức chăn nuôi nhỏ, phân tán sang chăn nuôi theo hướng
trang trại gắn với công nghiệp hoá. Hình thành các vùng chăn nuôi trọng điểm gắn với bảo
vệ môi trường an toàn sinh học. Nâng cao khả năng kiểm soát bệnh dịch vệ sinh thực
phẩm đối với chăn nuôi nông hộ.