TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - S6(35).2009
107
PHÓNG SỰ BÁO CHÍ VÀ PHÓNG SỰ VĂN HC -
ĐƯỜNG BIÊN THỂ TÀI
LITERATURE REPORT AND NEWSPAPER REPORT-
SIDELINES OF GENRES
Cao Thị Xuân Phượng
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Mối quan hệ giữa phóng svăn học phóng sự o ccó thể “như hai vòng tròn
cùng giao thoa một vòng cung”. Ngoài những điểm gặp gnhau về đối ợng phản ánh, về
tính xác thực thời sự, giữa chúng một khoảng cách nhất định bởi sự khác nhau về
phương thức biểu hiện. Phóng sự báo chí chỉ dừng lại chức năng tng tin skiện, “tường
thuật sự việc một cách trần trụi, không văn hoa”. Còn phóng svăn học luôn hướng đến sử
dụng một số hình thức biểu đạt của văn chương nhằm tạo sức năng động cho tác phẩm và hấp
dẫn người đọc. Ngoài chức năng thông tin sự kiện, phóng svăn học còn đảm nhiệm chức
năng thông tin thm mỹ.
ABSTRACT
The relationship between a literature report and a newspaper report can be compared
with “the interference of the two circles at an arc”. Apart from the similarities in terms of
reflection, reality and topicality, there are certain gaps between literature and newspaper reports
in respect with their modes of expression. The function of newspaper reports is mainly
concerned with event information-- “facts are reported nakedly, not in a flowery style”.
Contrarily, literature reports always aim at using some modes of literary expression in view of
creating dynamic contents for writings and fascination for readers. A literary report has not only
an event information function but an aesthetic information function as well.
1. Mđầu
Vẫn còn nhiều ý kiến xung quanh việc nên phân chia phóng sự thành phóng
svăn học phóng sự báo chí hay không? Phóng sự dạng thức phản ánh hiện thực
cuộc sống có tính chất lưỡng hợp, nằm ở miền giao thoa giữa văn chương và báo chí. Vì
thế, giữa chúng không cần thiết phải “thiết lập một giải phân cách” cố định. Một số nhà
nghiên cứu đã quan niệm như vy. Ngược lại, có ý kiến cho rằng: Mối quan hệ giữa văn
chương và báo chí là không thphủ nhận. Tuy nhiên, khác với mối quan hệ văn - báo
bất phân” trưc 1945, báo chí đương đại đang chuyển động theo xu ớng tách dần
khỏi “sphong toả của n học”. Hai ngành đã thc s ch ra độc lp. Tquan điểm
y, một số nhà luận, phê bình như Bùi Huy Phồn, Nôen Đuytơre, Đc Dũng, Hoài
Thanh,... khẳng định việc xác lập đường biên giữa phóng sự báo chí phóng sự văn
học cần thiết đối với việc phân định chức năng phản ánh, cũng như việc xác định
kênh giao tiếp phù hợp với mỗi thể phóng sự.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - S6(35).2009
108
Thế nhưng, lâu nay vấn đề này vn chưa được lý luận văn học và lý luận báo chí
quan tâm đến. Trong một s ng trình nghiên cứu v mối quan h giữa văn học báo
chí, s khác biệt giữa phóng s báo chí phóng s văn học cũng được điểm qua, song
ch những nhận xét sơ lược, thiếu tính h thống. Xuất phát t tính chất cấp thiết của
vấn đề, trên cơ s khảo sát tác phẩm, bài viết s đi đến xác lập ranh giới giữa phóng s
báo chí và phóng s văn học thông qua một s đặc điểm nhận diện c th sau.
2. Phóng sự báo chí
Phóng sự là thời đại. Nhiều nhà báo đã quan niệm như vy. Leonard Ray Teel và
Ron Taylor trong cuốn Bước vào nghề báo cho rằng: Nếu được nói một câu thật khái
quát vbáo chí, câu nói đó sẽ là “Cái gì mới?”. Thông tin thời sự yêu cầu của phóng
sự, song đối với phóng sự báo chí, u cầu đó càng được đặt ra nghiêm ngặt hơn. Phóng
sbáo chí phải thông tin hiện thực thế trực tiếp nhất, cận kề nhất. Khác với phóng
svăn học, đường biên hiện thực thể được nới rộng theo chiều quá khứ, tvấn đ
mà phóng sbáo chí quan tâm phải vấn đề hôm nay, những vấn đề, sự kiện nóng
hổi, mới nảy sinh, “là những ghi chép còn tươi rói những chất liệu của đời sống hiện
thực” [1, 24]. Thời gian sinh mệnh của phóng sự. Áp lực của yêu cầu thời sự đã qui
định phong cách người viết phóng sbáo chí: ng động, nhanh nhạy - nhanh nhy
trong nghe ngóng, dò tìm thông tin và nhanh nhạy, kịp thời chiếm lĩnh và công bố thông
tin vào thời điểm lý tưởng nhất, đem lại hiệu ứng cao nhất.
Là thloại “nổi bật bằng những sự thật xác thực, dồi dào nóng hổi”, phóng
s o c đưc xem như một tư liu sống có giá tr. Hin thực được dịch chuyển vào
phóng sphải một hiện thực “nguyên vẹn, một hiện thực còn chưa b“chưng cất”,
chính xác từng chi tiết, từng con số, từng địa chỉ . Bàn v đặc trưng của phóng sự,
Trọng Lang cho rằng: “Phóng sự phải đúng và thật. Đúng như một tờ biên bản của một
nhân viên có tuyên th đngười đọc thể tự động đi tìm đkiểm soát được ngày, giờ,
địa điểm sự việc đã xảy ra, tên tuổi nhân vật đã tả, cả cái không khí c đó. Thật như
một sự việc ghi trong hồ toà án” . Tính xác thực là nguyên tắc, là thưc đo giá trị tác
phẩm báo chí. vậy, một điều tối kỵ đối với ngưi viết phóng s báo c là anh ta
không được “sản xuất” thông tin, bịa đặt sự kiện, không đưc di chuyn không gian,
thời gian, không được thay hình, đổi dạng nhân chứng. Phóng sự báo chí không chấp
nhận cấu dưới bất cứ hình thức nào, kể cả hư cấu những miền không xác định.
Phóng sbáo chí thuyết phục người đọc bằng gic của sthật, “mô tđược hiện thực
điển hình đúng với những phẩm chất tinh thần bộ mặt của nó, nghĩa tác phẩm đã
tiếp cận đến với những phạm trù thẩm mỹ” [2, 51].
Xuất phát từ mục đích thông tin skiện nên ngôn ngữ phóng sự báo chí tính
chất thông báo, ng đến tả con người, sự việc. Tường minh, chính xác, cụ
thể,…là đặc trưng của ngôn ngữ phóng sự báo chí. Nếu như phóng sự văn học cho phép
sử dụng “ngôn ngữ của độ không xác định”, thì đối với phóng sự báo chí, mọi sự mơ h
vngôn ngữ, về hình ảnh đều không được chấp nhận. Phóng sự báo chí lôi cuốn người
đọc bởi sự tinh tế trong lựa chọn sắp xếp sự việc, chi tiết, bởi “cái tầm trong nhìn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - S6(35).2009
109
nhận đánh giá vấn đề của chủ thể sáng tạo, chớ không phải nhờ vào công nghệ luyện
chữ. Ngôn ngphóng sự báo chí “đến thẳng trực tiếp với người đọc, không thông qua
một trung gian nào. Không cần đến những hình thức diễn đạt quanh co gián tiếp, những
ẩn dụ, phóng dụ, những thách đố về chữ nghĩa, những trò chơi về ngôn từ” [3, 91]. Phóng
sbáo chí nhằm tạo ra văn bản đơn nghĩa. Ngoài tầng nghĩa hiển thị trực tiếp qua hệ
thống ký hiệu ngôn ngữ, phóng sự báo chí không gợi mở một trưng tư duy nào khác.
Phóng sbáo chí phản ánh và thẩm định hiện thực bằng cái tôi tỉnh táo và lý trí.
Trong phóng sbáo chí, cái tôi tác giả khi x uất hiện với cách là một nhân chứng
làm nhim vụ nối kết các dữ liệu thông tin đến bạn đọc, khi khác trong vai trò một bình
luận viên thẳng thắn bình bàn, luận xét vấn đề, không ít trường hợp làm công việc của
một chuyên gia hội học nghiên cứu, đxuất những giải pháp nhằm cải thiện thực
trạng. đứng ở vị trí nào thì cái tôi tác giả luôn tỏ ra khách quan và sáng suốt. Khác với
phóng svăn học, có thể thẩm định hiện thực thông qua cái tôi cảm xúc thẩm m, phóng
sbáo chí xuất phát từ cái tôi khách quan, lý giải hiện thực bằng một tư duy biện chứng
khoa học. Mọi kiến giải, mọi lập luận phóng sự báo chí đưa ra đều dựa trên những cứ
liệu có thực. Phóng sự báo chí tác động trực tiếp đến lý trí, nhận thức người đọc.
3. Phóng sự văn học
Cũng lấy sự chân xác và th ời sự làm thưc đo chuẩn mực, song không yêu cầu phải
mức đ tuyệt đối, phóng sự văn học cho phép tồn tại những miền không xác định”. Những
địa danh, những tên ngưi tính chất phiếm chỉ vẫn thxuất hiện trong phóng sự văn
học. Với phóng svăn học, thời sự không nghĩa hôm nay. Những vấn đhôm qua -
những vấn đtính chất vĩnh hằng vẫn thlà đối tượng của phóng sự văn học. Thiên
phóng sBuried Secrets, Brutal Truth (Bí mật chôn vùi, Sự thật tàn bạo) của Michael D.
Sallah và cộng sự được đăng trên tThe Blade (Mỹ) o giữa tháng 10 năm 2003 là mt
minh ch ng. Buried Secrets, Brutal Truth đã làm rúng động dư luận thế giới bởi đã lật lại,
đã xới tung một sự thật mà chính phủ Mđã ctình cn vùi hơn 36 năm qua. Đó là skiện
trung đội thám báo tinh nhuệ Tiger Force - nh H(Mỹ) trong suốt 7 tháng của năm 1967,
bằng nhiều hình thức giết người man rợ đã thm sát hàng trăm thường dân khu vực thung
lũng sông Vệ, thuộc tỉnh Quảng Ngãi (Việt Nam). Khi nói vý tưởng thực hiện phóng s
này, Michael D. Sallah cho bi ết: khai quật quá khchiến tranh Việt Nam, đưa ra ánh sáng
v vic b chìm vào quên lãng là đ những vụ việc như thế sẽ không bao gidiễn ra nữa.
Chúng ta hẳn không ai muốn nhiều năm sau li phải đọc những bài viết về một vụ thảm sát
như thế tại Iraq chẳng hạn. Lịch sử luôn ch lặp lại nếu chúng ta không biết cách xử
ngay từ hôm nay[4, 189]. Vì l đó mà câu chuy ện xảy ra hơn 36 năm vtrước, đến nay vẫn
còn ý nghĩa thời sự. Sau khi đăng trên t The Blade đoạt giải Pulizer - giải thưởng cao quí
nhất của báo chí Hoa kỳ vào năm 2004, Buried Secrets, Brutal Truth tiếp tc được đăng lại
trên nhi ều tờ báo danh tiếng của Mỹ. Hiện tượng Buried Secrets, Brutal Truth cho thy khái
niệm thời strong phóng sự văn học thể được hiểu rộng hơn. Thi s không hn là thc
tại. Phóng sự văn học thể lùi về với những vấn đ của quá khứ, song đó là những vấn đ
đang m “nhức nhối trí tuệ” cộng đồng.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - S6(35).2009
110
Khác với phóng sự báo chí, thời sự xác thực là yêu cầu tối thượng, phóng sự
văn học “có thể thoát ra khỏi áp lực của người thật, việc thật” để mở rộng biên độ phản
ánh bằng những liên tưng, tưởng tượng giàu tính thẩm m. So với phóng sự báo chí,
không gian sáng tạo trong phóng sự v ăn học rộng rãi hơn. Ngoài hư cấu kthuật - k
thuật lựa chọn, loại bỏ những được xem thừa thãi, không cần thiết, giống như
“rodin cắt bỏ phần thừa của tảng đá để tạo ra pho tượng”, phóng svăn học còn được
phép sdụng hư cấu nghệ thuật những thành phần không xác định (thế giới nội tâm
nhân vật, cảnh sắc thiên nhiên). Tuy nhiên, khác với tiểu thuyết truyện ngắn, hư cấu
trong phóng s v ăn học không phải sự t ưởng tượng, thêm thắt căn cứ. Trong
phóng sự văn học, trường tư duy, liên tưởng của nhà báo như “cánh diều luôn bị sợi dây
gichặt với mặt đất”. Phóng svăn học thcăn cvào “cái lõi của sự thật” đ
tưởng tượng, đsáng tạo thêm những chi tiết mới miễn không làm thay đổi bản chất
của sự kiện.
Phóng svăn học và phóng sự báo chí cònthể phân biệt ở cách thức sử dụng
ngôn t. Để chuyển tải thông tin đến người đọc, phóng sự báo chí chủ yếu sử dụng ngôn
ngsự kiện, trong khi đó phóng sv ăn học có thể chuyên chở hiện thực bằng kênh
ngôn nggiàu hình tượng thẩm mỹ, là lớp ngôn ngữ sống động, giàu sắc thái biểu cảm,
hàm ẩn nhiều tầng nghĩa thông qua nghệ thuật sử dụng ẩn dụ, hoán dụ, chơi chkhá
phbiến. Được tôi luyện, nung cháy, gọt giũa qua bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ,
ngôn ng trong phóng sự văn hc trở nên mềm mại, giàu sức biểu c ảm hơn. Nếu
phóng s báo c, mọi s mơ hvề mặt ngôn ngữ sẽ không được chấp nhận thì phóng
sự văn học cho phép vận dụng “ngôn ngữ của độ không xác định”, là cách diễn đạt khơi
gợi, kích thích khả ng tư duy, tạo cơ hội đngười đọc đồng sáng tạo. vậy, phóng
svăn học không tồn tại một cách hiểu duy nhất. Ý nghĩa của văn bản sẽ được phái
sinh, chuyển hoá tuthuộc vào trình độ nhận thức cuả người đọc. Phóng sự văn học
“như con ong, chchích một mũi rất nhẹ nhàng nhưng hiệu quả thì không phải một
[5, 252], nói một điểm nhưng ý nghĩa bao trùm nhiều chân trời của cuộc sống. Những
ưu thế trên đã tạo nên đặc điểm của phóng sự văn học là tính đa nghĩa của văn bản.
Phóng svăn học một thể tài cấu trúc mở, thể kết hợp nhiều phương
thức phản ánh như tsự, trữ tình, nghị luận. Sự đan xen, phối kết của nhiều cách thức
chuyển tải thông tin đem lại cho phóng s văn học kh năng “phsóng” đến nhiều
vùng hiện thực của cuộc sống, k c những vùng hiện thực được xem là nhạy cảm. Mặt
khác, s cộng hưởng, skết hợp uyển chuyển của các ph ương thc phản ánh đã qui
định tính chất của cái tôi trong phóng sự. Cái tôi trong phóng sự n học là cái tôi năng
động, linh hoạt. Ở đó, cái tôi cm xúc thẩm mỹ như một thứ gia vị không thể thiếu trong
quá trình phản ánh và thẩm định hiện thực, qui định sắc diện của phóng sựn học: sâu
sắc, mềm mại, nhân văn hơn.
Bản sắc của phóng sự văn học còn được nhận diện nghệ thuật di chuyển điểm
nhìn trần thuật. Nếu như phóng sự báo chí thường khởi động tại thời điểm hiện tại. Theo
đó, skiện lần lượt được mở ra theo dòng chảy tuyến tính, dòng trần thuật dường như
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - S6(35).2009
111
không còn chdành cho những suy t ư, hoài niệm tphóng sự v ăn hc trình tự trần
thuật nhiều khi không tuân thủ theo diễn biến của skiện. Thời gian, không gian có th
dịch chuyển, hoạt biến theo ý đồ nghệ thuật của chủ thể sáng tạo. Từ hiện tại, phóng sự
văn học có thể ngược dòng hồi ức trở về với quá khứ, đôi khi lại theo dòng tưởng tượng
để hướng đến tương lai. Bên cạnh đó, đường biên trần thuật còn được nới rộng bởi
nhiều nhánh phụ với những đoạn, tiểu đoạn miêu tả nội tâm nhân vật, cảnh sắc thiên
nhiên khá ấn tượng. vậy, bức tranh con người cuộc sống trong phóng sự n học
hiện lên khá sinh động và sắc nét.
4. Kết luận
Từ những tìm hiểu trên, có thể nhận thấy phóng sự báo chí và phóng sự văn học,
ngoài những điểm giống nhau về đối tượng phản ánh, tính xác thực thời sự, giữa
chúng vẫn một khoảng ch nhất định bởi sự khác nhau về phương thức biểu hiện.
Phóng s o c chỉ dừng li chức năng thông tin skiện, “tường thuật sự việc một
cách trần trụi, không văn hoa”. Còn phóng svăn học luôn hướng đến sử dụng một số
hình thức biểu đạt của văn chương nhằm tạo sức n ăng động cho tác phẩm, hấp dẫn
người đọc. Ngoài chức năng thông tin skiện, phóng sự v ăn học còn đảm nhiệm chức
năng thông tin thẩm mỹ.
Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử báo chí từ khi xuất hiện đến nay, một điều dễ dàng nhận
thấy văn học báo chí quan hệ, gắn như hai người bạn đồng hành. thế, sự
phân biệt phóng svăn học phóng sự báo chí cũng chỉ mức độ tương đối. Thực tế,
phóng sự văn học và phóng sự báo chí thường xuyên có sự chuyển hoá lẫn nhau.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đức Dũng, Ký văn học báo chí, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội ,
2003.
[2] Đức Dũng, Ký báo chí, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, 1992.
[3] Hà Minh Đức, Cơ sluận báo chí đặc tính chung phong cách, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000.
[4] Michael D. Sallah, Mitch Weiss, Joe Mahr, Bí mật chôn vùi, sự thật tàn bạo, N
xuất bản Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2005.
[5] Nhiều tác giả, Nghthuật viết truyện ngắn , Nhà xuất bản Thanh niên,
Nội, 2000.