intTypePromotion=1
ADSENSE

Phương pháp dạy học theo dự án

Chia sẻ: Hoàng Văn Kiên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:10

1.426
lượt xem
303
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Phương pháp dạy học theo dự án của TS. Lưu Thu Thủy thuộc Viện KHGD Việt Nam nhằm giới thiệu về phương pháp dạy học theo dự án. Để hiểu được phương pháp trên, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết của phương pháp dạy học theo dự án như khái niệm, đặc điểm, thế nào là dạy học theo dự án, mục tiêu, cách thức thực hiện, ưu nhược điểm và các nội dung khác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phương pháp dạy học theo dự án

  1. TS. Lưu Thu Thủy Viện KHGD Việt Nam 1. Khái niệm dự án và dạy học theo dự án a) Khái niệm dự án Thuật ngữ dự án trong tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội... Dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Dự án có tính phức hợp, tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt. Một dự án nói chung có những đặc điểm cơ bản sau: - Có mục tiêu được xác định rõ ràng, - Có thời gian qui định cụ thể. - Có nguồn tài chính, vật chất, nhân lực giới hạn. - Mang tính duy nhất (phân biệt với các dự án khác). - Mang tính phức hợp, tổng thể - Được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt Có nhiều loại dự án khác nhau. Dựa theo nội dung của dự án có thể phân biệt các loại sau: - Dự án đầu tư – xây dựng: đầu tư xây dựng, đầu tư trang thiết bị - Dự án nghiên cứu - phát triển: nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm mới, các máy móc, thiết bị, kết cấu kỹ thuật; xây dựng các chương trình, phần mềm .v.v… - Dự án tổ chức: xây dựng tổ chức mới, thay đổi tổ chức, … - Dự án hỗn hợp: bao gồm một số nội dung đã nêu trên. Quá trình thực hiện một dự án được phân chia thành các giai đoạn khác nhau. Cách phân chia phổ biến bao gồm 4 giai đoạn cơ bản sau đây: - Xác định mục tiêu dự án (giai đoạn chuẩn bị / giai đoạn khả thi) - Lập kế hoạch dự án (lập kế hoạch và thiết kế dự án) - Thực hiện dự án (thực hiện và kiểm tra) - Kết thúc dự án (đánh giá) b) Khái niệm dạy học theo dự án Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học. Khái niệm Project được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc- xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ 16. Từ đó tư tưởng dạy học theo dự án lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong các trường đại học và chuyên nghiệp. Đầu thế kỷ 20 các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sơ lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy giáo là trung tâm. Ban đầu, phương pháp dự án (PPDA) được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các môn khoa học
  2. xã hội. Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, hiện nay PPDA được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển. Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học theo dự án. Tuy vậy trong lĩnh vực lý luận dạy học, PPDH này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao. Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án. Ngày nay DHDA được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều PPDH cụ thể được sử dụng. Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH, người ta cũng gọi là PP dự án, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng, một PPDH phức hợp. Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập. Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của DHDA. 2.Đặc điểm của dạy học theo dự án Trong các tài liệu về DHDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra. Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm. Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau: - Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học. - Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực. - Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. - Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp. - Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học. - Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ. - Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án. Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội.
  3. - Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu. 3. Mục tiêu của dạy học theo dự án a). Tạo ra một sản phẩm (Ví dụ: Tổ chức buổi hòa nhạc cho người cao tuổi; Tổ chức giới thiệu một thành tựu cải cách giáo dục; Tổ chức các sự kiện cho “Tuần lễ ẩm thực” của trường v.v). b). Thực hành nghiên cứu (Ví dụ: Động vật và phân loại; Tác động của âm nhạc đối với bò sữa; Dự án nghiên cứu về rác và cách giảm bớt rác trong nhà trường; Nghiên cứu và so sánh cây phả hệ v.v). c). Giải quyết một vấn đề (Ví dụ: Làm thế nào để các phụ huynh học sinh tham gia vào các hoạt động của nhà trường; Tại sao loài khủng long lại biến mất; Video trong dạy học v.v). 4. Các dạng của dạy học theo dự án DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án: a. Phân loại theo chuyên môn - Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học. - Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau. - Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường. b. Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân. Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học. c. Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV. d. Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau: - Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học; - Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học; - Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”). Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông. Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn. e. Phân loại theo nhiệm vụ: Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau: - Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng; - Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình; - Dự án thực hành (dự án kiến tạo sản phẩm): trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác; - Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên. Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng.
  4. 5. Tiến trình dạy học theo dự án Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia tiến trình của DHDA làm nhiều giai đoạn khác nhau. Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy hoc theo dự án theo 5 giai đoạn. a. Xác định chủ đề và mục đích của dự án: GV và HS cùng nhau đề xuất ý tưởng, xác định chủ đề và mục đích của dự án. Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống. Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài. GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hoá. Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS. Giai đoạn này còn được mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận về sáng kiến. b. Xây dựng kế hoạch thực hiện: trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm. c. Thu thập thông tin: Học cách nhìn đúng chỗ với cái nhìn nhiều chiều (phỏng vấn nhân chứng; quan sát; mạng Internet, thư viện, bảo tàng,…; Sách, tạp chí, phim ảnh,…; trao đổi thư tín – các mối liên hệ với quốc tế,…). d. Thực hiện dự án: các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra. e. Trình bày sản phẩm dự án: kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, bài báo... Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành. Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội. f. Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo. Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài. Việc đánh giá sẽ gồm các mặt sau: + Nội dung (tiêu chí) – giá trị của sản phẩm là ở chỗ nào? + Rút ra được bài học gì? (kiến thức, kĩ năng, thái độ,…) + Làm việc tập thể như thế náo? + Sự thoải mái và tích cực tham gia ở mức độ nào? + Điều gì cần tiếp tục phát huy ở những lần sau? + Điều gì cần thay đổi? Những điểm nào cần được cải thiện? Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối. Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án. Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án. Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung
  5. thành một giai đoạn. Khi đó tiến trình dự án có thể được mô tả theo 4 giai đoạn: xác định chủ đề và mục tiêu dự án; lập kế hoạch; thực hiện; đánh giá dự án. 6. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án Ưu điểm Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của phương pháp dạy học này. Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án: - Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; - Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học; - Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; - Phát triển khả năng sáng tạo; - Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp; - Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn; - Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc; - Phát triển năng lực đánh giá. Học theo dự án có những ưu điểm nổi bật là: Tập trung vào một câu hỏi lớn hoặc một vấn đề quan trọng; có thể bao gồm nhiều quan điểm liên quan tới nhiều bộ môn khác nhau; là cơ hội đưa ra sáng kiến và thực hiện nhiều hoạt động khác nhau; dựa trên các thông tin có thể tiếp cận được; đòi hỏi thực hiện trong một thời gian nhất định; phát huy sự hợp tác. Nhược điểm - DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản; - DHDA đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy DHDA không thay thế cho PP thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống. - DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp. Tóm lại DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như: định hướng vào người học, định hướng hành động, DH GQVĐ và quan điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học. Thiết kế dự án hiệu quả: Các đặc điểm của dự án Lợi ích của Dạy học theo Dự án Tổng quan Dạy học theo Dự án Giới thiệu Việc đưa dự án vào trong chương trình dạy học không phải là ý tưởng mới lạ hay mang tính cách mạng trong giáo dục. Tuy nhiên, trong thập kỷ vừa qua, việc triển khai dự án trong thực tế đã được phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học. Dạy học theo dự án đã chiếm được vị thế đáng nể trong lớp học sau khi các nhà nghiên cứu hệ thống lại những điều giáo viên vốn đã biết từ lâu: Học sinh sẽ hứng thú hơn với việc học khi có cơ
  6. hội thâm nhập vào những vấn đề phức tạp, mang tính thách thức cao, và đôi khi đầy rẫy vấn đề nhưng rất sát với thực tế đời sống. Dạy học theo dự án vượt xa hơn việc tạo nên sự hứng thú trong học sinh. Những dự án được thiết kế tốt sẽ khuyến khích việc tìm hiểu tích cực và tư duy bậc cao. (Thomas, 1998). Những nghiên cứu về bộ não đã nhấn mạnh giá trị của những hoạt động học tập này. Khả năng tiếp nhận những hiểu biết mới sẽ được thúc đẩy khi người học được “nối kết với những hoạt động giải quyết vấn đề, và khi học sinh được hỗ trợ để hiểu vì sao, khi nào và bằng cách nào các sự kiện và kỹ năng có liên quan đến nhau” (Bransford, Brown, & Conking, 2000, tr.23). Thế nào là dạy học theo dự án? Dạy học theo dự án là một mô hình dạy học trong đó học sinh tham gia vào việc tìm hiểu những vấn đề hấp dẫn và cuối cùng phải tạo ra được những sản phẩm thực tế. Các dự án cho phép tạo ra nhiều cơ hội học tập tại lớp hơn, rất đa dạng về chủ đề và quy mô, có thể được tổ chức rộng rãi ở các cấp học khác nhau. Tuy nhiên, các dự án thường có cùng những đặc điểm chung. Dự án được phát triển từ những vấn đề mang tính thách thức, không thể giải quyết chỉ bằng kiến thức học vẹt. Dự án đặt học sinh vào những vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo. Dự án nhắm đến những mục tiêu giáo dục quan trọng và đặc thù chứ không phải chỉ là trò giải trí hoặc bổ sung cho chương trình “thực”. Dạy học theo dự án có liên hệ thế nào đến việc khám phá tìm hiểu? Quá trình khám phá tìm hiểu bao gồm một loạt các hoạt động để thỏa mãn óc tò mò bẩm sinh của con người về thế giới. Trong bối cảnh giáo dục, việc khám phá tìm hiểu này mang một ý nghĩa cụ thể hơn. Giáo viên sẽ áp dụng việc khám phá tìm hiểu như một chiến lược dạy học nhằm khuyến khích học sinh đặt câu hỏi, lập kế hoạch, tiến hành tìm hiểu, quan sát và suy nghĩ về những gì mình đã khám phá. Tuy nhiên, đây không phải là một định nghĩa khô cứng. Ngay cả trong một lớp học riêng lẻ, các hoạt động tìm hiểu vẫn có thể diễn ra một cách liên tục, từ những hoạt động theo định hướng của giáo viên đến những hoạt động mở rộng theo sở thích của học sinh (Jarret, 1997). Sẽ dễ dàng hơn nếu coi dạy học theo dự án là một tập con trong dạy học khám phá. Một nghiên cứu về dạy học theo dự án đã kết luận rằng những dự án như vậy thường tập trung vào những câu hỏi hoặc vấn đề “thôi thúc học sinh phải đối mặt (và “chiến đấu”) với những khái niệm và nguyên tắc trọng tâm của môn học” (Thomas, 2000, tr.3). Hơn nữa, những hoạt động chính trong dự án đã bao hàm quá trình khám phá tìm hiểu và kết cấu kiến thức của học sinh (Thomas, 2000). Học sinh vẫn thường có sự lựa chọn khi thiết kế dự án, cho phép các em theo đuổi ý thích và trí tò mò của mình. Trong quá trình trả lời những câu hỏi do chính bản thân đặt ra, học sinh đã có thể khám phá tìm hiểu thêm về các chủ đề vốn chưa được giáo viên đặt ra như mục tiêu dạy học. Lợi ích của Dạy học theo dự án là gì? Dạy học theo dự án mang lại rất nhiều lợi ích cho cả giáo viên lẫn học sinh. Ngày càng
  7. nhiều các nghiên cứu lí luận ủng hộ việc áp dụng việc dạy học theo dự án trong trường học để khuyến khích học sinh, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập (Quỹ Giáo dục George Lucas, 2001). Đối với học sinh, những ích lợi từ dạy học theo dự án gồm: • Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập (Thomas, 2000) • Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác do khi được tham gia vào dự án học sinh sẽ trách nhiệm hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học (Boaler, 1997; SRI, 2000) • Có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp, như tư duy bậc cao, giải quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp (SRI, 2000) • Có được cơ hội rộng mở hơn trong lớp học, tạo ra chiến lược thu hút những học sinh thuộc các nền văn hóa khác nhau (Railsback, 2002) Với nhiều học sinh, tính hấp dẫn của hình thức học này xuất phát từ tính thực tiễn của kinh nghiệm. Học sinh đóng vai và thực hiện hành vi của những người đang hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể. Khi thực hiện một đoạn video tài liệu về vấn đề môi trường, thiết kế tờ rơi hướng dẫn du lịch, quảng bá về các di tích lịch sử quan trọng ở địa phương, hay thiết kế bài trình bày đa phương tiện về những mặt lợi và hại trong việc xây dựng phố mua sắm, học sinh đã được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học. Đối với giáo viên, những ích lợi mang lại là việc nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với học sinh (Thomas, 2000). Bên cạnh đó, nhiều giáo viên cảm thấy hài lòng với việc tìm ra được một mô hình triển khai, cho phép hỗ trợ các đối tượng học sinh đa dạng bằng việc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong lớp học. Giáo viên cũng nhận thấy rằng người được hưởng lợi nhiều nhất từ dạy học theo dự án là những học sinh không học tốt được theo cách dạy học truyền thống. Mô hình dạy học này làm thay đổi lớp học truyền thống như thế nào? Báo cáo về phát triển chuyên môn của chương trình Dạy học cho Tương lai Intel® (2003) đã mô tả lớp học trong đó giáo viên áp dụng hiệu quả mô hình dạy học theo dự án như sau: • Không có giải pháp định sẵn cho một vấn đề • Một không khí học tập chấp nhận sai sót và thay đổi • Học sinh ra quyết định trong khuôn khổ chương trình • Học sinh thiết kế quá trình tìm kiếm giải pháp • Học sinh có cơ hội thực hành • Việc đánh giá diễn ra liên tục • Có sản phẩm cuối và được đánh giá chất lượng Đối với những học sinh đã quá quen với các lớp học truyền thống, điều này là sự chuyển đổi từ việc làm theo mệnh lệnh sang thực hiện các hoạt động tự định hướng; từ việc ghi nhớ, nhắc lại sang khám phá, tích hợp và trình bày; từ chỗ lắng nghe và thụ động sang giao tiếp, chịu trách nhiệm; từ việc chỉ biết đến sự kiện, thuật ngữ và nội dung sang thông hiểu các quá trình; từ lý thuyết sang vận dụng lý thuyết; từ chỗ lệ thuộc vào giáo viên sang
  8. được trao quyền. Giáo viên sẽ đương đầu với những thách thức nào? Giáo viên nếu muốn đưa dạy học theo dự án vào lớp học có thể phải áp dụng những chiến lược dạy học mới để đạt được thành công. Việc giáo viên làm người hướng dẫn hay hỗ trợ không phải là vai mà phần đông giáo viên từng được học qua, hoặc thậm chí cũng không phải là thứ vai trò mà họ được đào tạo để đi dạy. Các phương pháp dạy học trực tiếp lệ thuộc vào giáo trình, thuyết giảng, và các cách đánh giá truyền thống thường không hiệu quả trong thế giới mở ngỏ, liên môn của phương pháp dạy học theo dự án. Đúng hơn, người giáo viên thực hiện việc hướng dẫn và làm mẫu nhiều hơn là “kể lể” Họ cần phải thoải mái hơn trước những lần học sinh “rẽ sai” trên con đường hoàn thành dự án (Intel, 2003). Người giáo viên cũng có thể nhận thấy mình cũng đang học cùng với học sinh khi dự án mở ra. Những thử thách cụ thể giáo viên sẽ gặp phải gồm: • Nhận diện các tình huống để đem lại sự thành công cho dự án • Cấu trúc các vấn đề thành những cơ hội học tập • Hợp tác cùng đồng nghiệp để phát triển các dự án liên môn • Quản lý quá trình học • Tích hợp công nghệ hợp lý • Phát triển các phương pháp đánh giá thực tế Thực ra, người giáo viên cần sẵn sàng chấp nhận rủi ro để có thể vượt qua những thử thách ban đầu. Nhà quản lý có thể hỗ trợ bằng cách cho áp dụng lịch trình hay thời gian làm việc dự kiến của nhóm linh động hơn, tạo cơ hội cho giáo viên phát triển chuyên môn. Nguồn tài nguyên, Nghiên cứu và Tài liệu tham khảo Autodesk Foundation http://web.archive.org/web/20030812124529/www.k12reform.org/foundation/pbl/research/* Trong một bài tổng luận, TS. John W. Thomas đã tiến hành khảo sát cơ sở lí luận cho nghiên cứu về phương pháp dạy học theo dự án. Nhà xuất bản Autodesk Foundation cũng tài trợ cho mạng lưới dạy học theo dự án và xuất bản sách về các trường hợp đã áp dụng thành công phương pháp này. Viện nghiên cứu Giáo dục Buck http://www.bie.org* Viện Buck tổ chức đào tạo và xuất bản sổ tay hướng dẫn các giáo viên trung học tích hợp dạy học theo dự án vào chương trình học. Trang Web cũng bao gồm những nguồn tài nguyên và nghiên cứu về tính hiệu quả của PP dạy học dự án. Tổ chức Giáo dục George Lucas www.edutopia.org* Tổ chức Giáo dục George Lucas đưa ra bài tóm tắt về nghiên cứu dạy học theo dự án cùng
  9. với gian trưng bày các mẫu dự án (ở dạng ấn phẩm và video). Dự án đa phương tiện: Dạy học theo dự án sử dụng công cụ đa phương tiện http://pblmm.k12.ca.us/PBLGuide/MMrubric.htm* Dự án Đa phương tiện “Thách thức năm 2000” (Challenge 2000 Multimedia Project) được chính phủ liên bang tài trợ kéo dài từ năm 1996 đến 2001, được mô tả và giải thích chi tiết trong bối cảnh sáng kiến cải cách hệ thống trường học ở Silicon Valley. Trang web bao gồm danh mục những nguồn tài nguyên, bao gồm các kỹ thuật thực hiện, những mẫu dự án đoạt giải , và bản đánh giá được xuất bản bởi SRI. Tổ chức Phát triển Giáo dục Quốc gia http://www.nfie.org/publications/ctb5.pdf* (PDF; 22 pages) Cuốn Gắn kết các mảnh nhỏ (2000) bao gồm một chương về “Dạy học theo dự án và Công nghệ thông tin” Cách tiếp cận Dự án http://www.project-approach.com* Trang web được duy trì bởi Sylvia Chard, giáo sư trường Đại học Alberta và đồng tác giả cuốn Kích thích óc tư duy của trẻ: Cách tiếp cận dự án (2000). [GHI CHÚ: Trang web cũng có phiên bản tiếng Trung] Tài liệu tham khảo Boaler, J. (1999, March 31). Toán học cho thời điểm hiện tại hay cho thiên niên kỷ ? Nhật báo giáo dục. Bransford, J., Brown, A., & Cocking, R. (2000). Con người học như thế nào: Trí não, trí tuệ, kinh nghiệm và nhà trường. Washington, DC: Ấn phẩm của viện hàn lâm quốc gia. Goodrich, H. A. (1997). Chuyên khảo. Lãnh đạo trong giáo dục,54(4). http://www.middleweb.com/rubricsHG.html* George Lucas Educational Foundation. (2001, November 1). Nghiên cứu PP dạy học theo dự án. Edutopia. www.edutopia.org* Intel® Teach to the Future. (2003). Lớp học theo dự án: Kết nối giáo dục với công nghệ. Tài liệu tập huấn cho những giáo viên cốt cán và khu vực. Jarrett, D. (1997). Chiến lược khám phá trong dạy học tóan và các môn khoa học tự nhiên. Portland, OR: Phòng Thí nghiệm giáo dục khu vực tây bắc. http://www.nwrel.org/msec/images/resources/justgood/05.97.pdf* . (PDF; 42 pages) Lewin, Larry, Betty Jean Shoemaker (1998). Dạy học hiệu quả: thiết kế các hoạt động đánh giá trên lớp học. Virginia: Tổ chức giám định và phát triển chương trình giảng dạy.
  10. Marzano, Robert J, Jay McTighe, Debra J. Pickering (1993). Đánh giá năng lực của học sinh: Đánh giá hoạt động theo bình diện học tập. Virginia: Tổ chức giám định và phát triển chương trình giảng dạy. Uỷ ban Nghiên cứu Quốc gia. (1996). Chuẩn quốc gia trong dạy học các môn khoa học tự nhiên. Washington, DC: Ấn phẩm của viện hàn lâm quốc gia. Railsback, J. (2002). Dạy học theo dự án: Tạo hứng thú cho việc học. Portland, OR: Phòng nghiên cứu giáo dục khu vực tây bắc. http://www.nwrel.org/request/2002aug/index.html* SRI International. (2000, January). Thung lũng Silicon: Thách thức năm 2000: Báo cáo năm thứ 4. San Jose, CA: Joint Venture, Mạng lưới Silicon Valley. http://pblmm.k12.ca.us/sri/Reports.htm* Thomas, J.W. (1998). Dạy học theo dự án: Tổng quan . Novato, CA: Viện giáo dục Buck. Thomas, J.W. (2000). Điểm lại các nghiên cứu về PP dạy học dựa theo dự án. San Rafael, CA: Autodesk. http://web.archive.org/web/20030812124529/www.k12reform.org/foundation/pbl/research/* Wiggins, G. & McTighe, J. (2001). Chiếm lĩnh tri thức thông qua việc thiết kế. New Jersey: Prentice-Hall, Inc. Wiggins, G. & McTighe, J. (2004). Chiếm lĩnh tri thức thông qua thiết kế bài tập phát triển chuyên môn. Virginia: Tổ chức giám định và phát triển chương trình giảng dạy.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2