BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VŨ THỊ MINH HUỆ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2024
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VŨ THỊ MINH HUỆ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8310110
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Vũ Thị Yến
HÀ NỘI, 2024
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản đề án “Quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi, chưa từng
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các số liệu và kết quả sử dụng trong đề
án là hoàn toàn trung thực và có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2024
TÁC GIẢ ĐỀ ÁN
Vũ Thị Minh Huệ
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học cao học và viết đề án tốt nghiệp, em đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn và góp ý nhiệt tình của Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Thương mại.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Viện đào
tạo Sau Đại học, Trường Đại học Thương mại đã tạo điều kiện tốt nhất cho em
trong quá trình học tập tại trường và thực hiện đề án này. Em xin gửi lời biết ơn sâu
sắc đến TS. Vũ Thị Yến - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn nghiên cứu và giúp em hoàn thành đề án tốt nghiệp này.
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ, viên chức Học viện Tư
pháp đã giúp đỡ em trong thời gian làm đề án tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân và đồng nghiệp đã
tạo điều kiện về thời gian để em có thể hoàn thành đề án này.
Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ và thời gian nghiên cứu nên đề án sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Học viên rất mong nhận được sự góp ý của Quý
Thầy, Cô giáo và các đồng nghiệp để đề án được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên thực hiện
Vũ Thị Minh Huệ
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................... v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ .................................................................. vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................ vii
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do lựa chọn chủ đề của đề án .......................................................................... 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề án .......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi của đề án .......................................................................... 2
4. Quy trình và phương pháp thực hiện đề án ....................................................... 3
5. Kết cấu đề án ......................................................................................................... 5
Phần 1: CƠ SỞ XẤY DỰNG ĐỀ ÁN ...................................................................... 6
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP ................................................................................................ 6
1.1.1 Các khái niệm cơ bản ....................................................................................... 6
1.1.2 Nội dung quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập................. 9
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP .............................................................................................. 13
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính trong các ĐVSNCL thuộc Bộ Tư pháp ....... 13
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với Học viện Tư pháp trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ........................................................................... 16
1.3 Cơ sở pháp lý về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập .......... 16
Phần 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN ......................................................................... 18
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HỌC VIỆN TƯ PHÁP ....................................................... 18
2.1.1 Giới thiệu về Học viện Tư pháp .................................................................... 18
2.1.2 Kết quả hoạt động của Học viện Tư pháp giai đoạn 2021-2023 ................ 23
iv
2.1.3 Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hoạt động quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp giai đoạn 2021-2023 ................................................................. 31
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP GIAI ĐOẠN 2021-2023 ...................................................................................................... 33
2.2.1 Xây dựng kế hoạch dự toán ........................................................................... 33
2.2.2 Thực hiện kế hoạch dự toán .......................................................................... 37
2.2.3 Quyết toán thu - chi........................................................................................ 43
2.2.4 Kiểm tra giám sát công tác tài chính ............................................................ 45
2.3 CÁC KẾT LUẬN QUA PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP GIAI ĐOẠN 2021-2023 .......................... 49
2.3.1 Những kết quả đạt được ................................................................................ 49
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân .................................................................... 50
2.4 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ ............. 52
2.4.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý tài chính ........................................................... 52
2.4.2 Thường xuyên tăng cường kiểm tra, giám sát công tác quản lý tài chính .... 53
2.4.3 Chủ động duy trì và nâng cao chất lượng công tác thu-chi ....................... 54
Phần 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................... 55
3.1. ĐỀ XUẤT TỔ CHỨC THỰC HIỆN .............................................................. 55
3.1.1 Bối cảnh thực hiện quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp....................... 55
3.1.2 Phân công trách nhiệm thực hiện quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp .......................................................................................................................... 59
3.2 Một số kiến nghị ................................................................................................ 60
3.2.1 Đối với Bộ Tư pháp ........................................................................................ 60
3.2.2 Đối với cơ quan Trung ương ......................................................................... 61
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Diễn giải nghĩa
1 ĐVSNCL Đơn vị sự nghiệp công lập
2 NSNN Ngân sách nhà nước
3 NCKH Nghiên cứu khoa học
4 NĐ-CP Nghị định - Chính phủ
5 Phòng TCKT Phòng Tài chính - Kế toán
6 KBNN Kho bạc Nhà nước
7 KHTC Kế hoạch - Tài chính
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 2.1: Số lượng đào tạo các chức danh tư pháp năm 2021-2023 ........................ 24
Bảng 2.2: Số lượng bồi dưỡng các chức danh tư pháp năm 2021-2023 ................... 25
Bảng 2.3: Hoạt động thu của Học viện Tư pháp năm 2021-2023 ............................ 29
Bảng 2.4: Hoạt động chi của Học viện Tư pháp năm 2021-2023 ............................. 30
Bảng 2.5: Dự toán của Học viện Tư pháp giai đoạn 2021-2023............................... 36
Bảng 2.6: Hoạt động thu dịch vụ của Học viện Tư pháp năm 2021-2023................ 37
Bảng 2.7: Nguồn thu từ NSNN của Học viện Tư pháp năm 2021-2023 .................. 39
Bảng 2.8: Hoạt động chi nguồn dịch vụ của Học viện Tư pháp năm 2021-2023 ..... 40
Bảng 2.9: Hoạt động chi nguồn NSNN của Học viện Tư pháp năm 2021-2023 ...... 41
Bảng 2.10: Chênh lệch thu - chi của Học viện Tư pháp ........................................... 43
Bảng 2.11: Quyết toán thu - chi giai đoạn 2021-2023 .............................................. 45
Bảng 2.12: Bảng phân phối kết quả hoạt động tài chính của Học viện .................... 45
Hình 1.1: Quy trình thực hiện đề án ............................................................................ 3
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy Học viện Tư pháp ......................................................... 21
Sơ đồ 2.2: Quy trình lập dự toán NSNN ................................................................... 35
vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhằm vừa giúp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và giảm gánh nặng chi tiêu cho ngân sách
nhà nước. Học viện Tư pháp là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Bộ Tư pháp,
được thực hiện tự chủ toàn bộ chi thường xuyên từ năm 2019 theo quyết định số
2806/QĐ-BTP ngày 6 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Đề án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập; chỉ ra vai trò, đặc điểm của công tác quản
lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, đề án còn đưa ra một số yếu
tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính, những kinh nghiệm về công tác quản lý tài chính tại một số các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tư pháp.
Đề án đã tiến hành phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Học viện Tư
pháp từ năm 2021-2023, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, cùng những tồn tại
hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế mà Học
viện Tư pháp đã gặp phải từ đó nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ tài chính, đồng thời
đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tài
chính tại Học viện Tư pháp trong thời gian tới.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn chủ đề của đề án
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhằm vừa
giúp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, vừa giảm gánh nặng chi
tiêu cho ngân sách nhà nước. Để triển khai hiệu quả chủ trương này, trong hơn 20
năm qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã nỗ lực hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các ĐVSNCL theo hướng ngày càng hiệu quả, đi vào thực chất.
Để tiếp tục hoàn thiện thể chế về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và
tổ chức lại hệ thống ĐVSNCL, đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho ĐVSNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của
ĐVSNCL. Nghị định này đã cụ thể hóa chủ trương, định hướng về cải cách tiền
lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW về việc sửa đổi cơ chế tính toán, chi trả tiền
lương; tạo động lực khuyến khích ĐVSNCL khai thác nguồn thu, nâng cao mức độ
tự chủ tài chính, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thủ trưởng các ĐVSNCL
trong quá trình quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính cho các hoạt động chuyên
môn; phân bổ hợp lý các khoản chi trong phạm vi dự toán ngân sách được giao; áp
dụng các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để tiết kiệm, tạo nguồn chi
thu nhập tăng thêm cho nhân viên; trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để
tái đầu tư, phát triển đơn vị, tăng nguồn thu của đơn vị so với giai đoạn trước khi tự
chủ, từ đó giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Cũng giống như các ĐVSNCL có thu khác, Học viện Tư pháp là đơn vị sự
nghiệp có thu trực thuộc Bộ Tư pháp, được thực hiện tự chủ toàn bộ chi thường xuyên từ năm 2019 theo quyết định số 2806/QĐ-BTP ngày 6 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và nâng cao chất lượng hiệu quả công tác của Học viện Tư pháp đòi hỏi công tác quản lý tài chính phải được chú trọng và ngày càng được chuẩn hóa. Vì vậy, việc hoàn thiện quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính sẽ giúp Học viện chủ động kiểm soát tốt tình
hình tài chính tại đơn vị, từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp cho sự phát
triển của Học viện trong thời gian tới.
2
Mặc dù công tác quản lý tài chính đã được Học viện Tư pháp quan tâm, tuy
nhiên trong quá trình vận dụng, triển khai trên thực tế vẫn còn tồn tại một số khó
khăn, trong đó đáng chú ý là việc sử dụng nguồn kinh phí cho các hoạt động chi có thời điểm còn lãng phí. Công tác thu và sử dụng nguồn thu đôi lúc chưa hiệu quả. Do
vậy, hoạt động quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ cần
được thường xuyên sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện kịp thời.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết nêu trên và từ thực trạng quản lý tài
chính tại Học viện Tư pháp, với mong muốn đề xuất và thực hiện một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính ngày càng hiệu quả, thiết thực và sát với
điều kiện thực tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của Học viện trong thời
gian tới, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ” để làm đề tài đề án tốt nghiệp.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề án
2.1. Mục tiêu của đề án
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xây dựng và hệ thống hóa các vấn đề lý
luận về quản lý tài chính tại các ĐVSNCL nói chung; phân tích và đánh giá thực
trạng quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp; từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Học viện trong điều kiện tự chủ.
2.2. Nhiệm vụ của đề án
Một là, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý tài chính tại các
ĐVSNCL.
Hai là, phân tích thực trạng quản lý tài chính của Học viện Tư pháp; đánh giá
thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quản lý tài chính của Học viện.
Ba là, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi của đề án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp
trong điều kiện tự chủ.
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại Học viện Tư pháp.
- Phạm vi về thời gian: Phân tích thực trạng quản lý tài chính của Học viện Tư pháp trên các số liệu thứ cấp được thu thập trong 03 năm (2021-2023), đề xuất
giải pháp tầm nhìn đến năm 2030.
- Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu các nội dung về quản lý thu, chi tài
chính của Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ, trong đó tập trung vào các nội
dung: thực trạng tài chính, xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai quản lý tài chính, các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp.
4. Quy trình và phương pháp thực hiện đề án 4.1.Quy trình thực hiện đề án Đề án đã tập trung khái quát cơ sở lý luận về hoạt động quản lý tài chính
trong các ĐVSNCL, vận dụng vào thực tế hoạt động quản lý tài chính của Học viện
Tư pháp giai đoạn 2021-2023, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên
nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý tài chính tại
Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ. Quy trình được sơ đồ hóa như sau:
lý Kết quả đạt được
Tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận tài chung về quản chính trong đơn vị sự nghiệp công lập Áp dụng cơ sở lý luận vào phân tích thực tiễn tại Học viện Tư pháp, phân tích các chỉ tiêu đã đưa ra (định tính và định lượng)
Hạn chế còn tồn tại
Nguyên nhân hạn chế
Đề xuất các giải pháp để khắc phục các nguyên nhân tồn tại nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp trong điều kiện tự chủ trong thời gian tới, định hướng giải pháp đến 2030
Hình 1.1 Quy trình thực hiện đề án (Nguồn: tác giả xây dựng)
4
4.2. Phương pháp thực hiện đề án
4.2.1 Phương pháp tiếp cận
Tiếp cận hệ thống: Từ lý luận, thực trạng, đưa ra giải pháp về quản lý tài chính.
Tiếp cận theo góc độ quản lý kinh tế: Vận dụng phương pháp luận, phương
pháp NCKH để làm rõ hoạt động quản lý tài chính.
4.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Đề án thực hiện thu thập dữ liệu thứ cấp về cơ sở lý luận và thực tiễn về
quản lý tài chính trong các ĐVSNCL. Các nội dung liên quan đến cơ sở lý luận về quản lý tài chính như: Khái niệm, nguyên tắc và các nội dung quản lý tài chính
trong các đơn vị sự nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính trong các
ĐVSNCL, kinh nghiệm quản lý tài chính trong các ĐVSNCL trong nước và các nước trên thế giới. Nguồn của các dữ liệu thứ cấp là các giáo trình, luận văn, luận
án, báo chí, báo cáo…
Thu thập dữ liệu thứ cấp những nội dung khái quát về Học viện Tư pháp (quá
trình hình thành và phát triển, các ngành đào tạo, quy mô đào tạo, kết quả đào tạo của
Học viện), cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp. Dữ liệu thu
thập từ các nguồn như các báo cáo hàng năm, các thông tin được cập nhật, đăng tải
trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Thu thập dữ liệu thứ cấp phản ánh về thực trạng quản lý tài chính tại Học
viện Tư pháp gồm có:
+ Thu thập dữ liệu về nguồn thu trong 3 năm từ 2021 đến 2023 tại Học viện
Tư pháp. Nguồn thu từ ngân sách nhà nước và ngoài ngân sách nhà nước. Các dữ
liệu về nguồn thu tại Học viện được thu thập thông qua các Báo cáo quyết toán tài chính Học viện Tư pháp từ năm 2021 đến năm 2023.
+ Thu thập dữ liệu phản ánh các khoản chi tại Học viện Tư pháp. Các khoản chi bao gồm một số khoản chính như: Chi quản lý hành chính, chi cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, chi hoạt động kinh tế. Cơ cấu các khoản chi trong tổng số chi hàng năm. Dữ liệu về các khoản chi được thu thập thông qua quy chế chi tiêu nội bộ
hàng năm của đơn vị và các Báo cáo quyết toán tài chính Học viện Tư pháp từ năm 2021 đến năm 2023.
5
+ Quản lý chênh lệch thu chi tại đơn vị. Thu thập thông tin về tổng thu và
tổng chi từ đó xác định được chênh lệch thu - chi tại đơn vị từ năm 2021 đến 2023.
4.2.3 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
4.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê: thống kê các hoạt động chủ yếu
của đơn vị, thống kê các chức danh đào tạo, quy mô đào tạo của đơn vị qua các
năm; Thống kê các khoản thu từ ngân sách nhà nước, ngoài ngân sách nhà nước và
tổng thu từ năm 2021 đến 2023 tại Học viện Tư pháp. Thống kê các khoản chi, nguồn tiền từ các khoản chi tại đơn vị.
Thống kê các ý kiến của các chuyên viên, nhà quản lý về thực trạng quản lý
thu chi, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu chi, những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động thu chi của đơn vị.
4.2.3.2 Phương pháp so sánh
So sánh số liệu thu, chi, chênh lệch thu chi qua các năm từ năm 2021 đến
2023 để theo dõi xu hướng biến động của các khoản thu, chi và chênh lệch thu chi.
Bên cạnh đó nghiên cứu còn so sánh số thu, chi, chệch lệch thu chi thực tế với kế
hoạch để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch và hiệu quả của quản lý thu chi tại
Học viện Tư pháp.
4.2.3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Dựa vào dữ liệu thu thập được, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích các dữ
liệu theo các nội dung về quản lý thu, quản lý chi, quản lý chêch lệch thu chi, các
nhân tố ảnh hưởng đến thu chi, các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó
làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thu chi tại Học viện Tư pháp trong thời gian tới. Tổng hợp dữ liệu các năm theo các nội dung phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp.
5. Kết cấu đề án Ngoài phần mở đầu giới thiệu chung và kết luận, đề án gồm có 3 phần như sau: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án
Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị
Phần 2: Nội dung của đề án
6
Phần 1: CƠ SỞ XẤY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN
VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
- Khái niệm: Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010 như sau: “ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có
thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo
quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản
lý nhà nước. ĐVSNCL hoạt động ở một số lĩnh vực như: Y tế, giáo dục, đào tạo, NCKH, thể dục thể thao, văn hóa, du lịch, thông tin truyền thông, lao động - thương
binh và xã hội và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định”.
Ngoài ĐVSNCL trong nước, tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định 120/2020/NĐ-CP
còn định nghĩa về ĐVSNCL ở nước ngoài như sau: “ĐVSNCL là đơn vị thuộc bộ,
cơ quan ngang bộ hoặc cơ quan thuộc Chính phủ do cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nước thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy
định pháp luật, trụ sở được đặt ở nước ngoài”.
- Vai trò: ĐVSNCL có vai trò cung cấp các dịch vụ công cộng đến cộng
đồng và người dân. Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công đã có nhiều
đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thể hiện:
+ Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao...có
chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần
cải thiện đời sồng vật chất và tinh thần cho nhân dân.
+ Thực hiện các nhiệm vụ chính được giao như: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao, khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe người dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ, cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật... phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
+ Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các ĐVSNCL đều có vai trò
chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
7
+ Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nước đã góp
phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa, xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy
sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động sự nghiệp của nhà nước, trong thời gian qua các sự nghiệp ở tất cả các lĩnh vực đã tích cực mở
rộng các loại hình, phương thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của nhân dân. Đồng thời qua đó cũng thực hiện xã hội hóa bằng cách thu hút sự
đóng góp của nhân dân đầu tư cho sự phát triển của hoạt động sự nghiệp.
Vai trò của ĐVSNCL là đáng kể trong việc phát triển và quản lý các lĩnh vực quan trọng của xã hội. Chính vì vậy, quản lý và hoạt động của ĐVSNCL cần được
thực hiện một cách chuyên nghiệp, trung thực, và phục vụ lợi ích cộng đồng.
Tóm lại, ĐVSNCL là những tổ chức được cơ quan có thẩm quyền thành lập nhằm cung cấp dịch vụ sự nghiệp trong những lĩnh vực Nhà nước chịu trách nhiệm
cung ứng cho nhân dân, hoặc các lĩnh vực mà khu vực phi Nhà nước không có khả
năng đầu tư, không quan tâm đầu tư. ĐVSNCL phải tuân thủ các quy định và quy
chế của Nhà nước, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, đơn vị cũng có trách nhiệm quản lý và sử dụng tài nguyên công cộng một
cách đúng quy định và tiết kiệm.
1.1.1.2 Khái niệm quản lý tài chính
Theo thuyết quản lý tài chính của Era Solomon (1965) cho rằng:
“Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình
trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các
kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân
công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó”.
Quản lý là nhu cầu tất yếu để đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của mọi quá trình và hệ thống kinh tế - xã hội: Thực chất của quản lý là thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và các biện pháp khác nhau, tác động một cách có ý thức tới đối tượng quản lý nhằm đạt đến kết quả nhất định. Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế - xã hội và là khâu quản lý mang tính chất tổng hợp.
8
Theo nghĩa rộng: Quản lý tài chính được nhìn nhận như là việc sử dụng tài
chính làm công cụ quản lý nền kinh tế quốc dân thông qua việc sử dụng các chức
năng vốn có của nó.
Theo nghĩa hẹp: Quản lý tài chính được quan niệm như là việc quản lý bản
thân hoạt động tài chính của một chủ thể nhất định: như là một ngành, một đơn vị
trường học...
Sự tác động bên ngoài của tài chính với tư cách là công cụ quản lý và tổ chức
bên trong của nó - quản lý bản thân tài chính, có mối liên hệ mật thiết với nhau. Quản lý bản thân tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu như nó tạo ra được
một cơ chế quản lý thích hơp có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế - xã hội
theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định.
Vậy quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý các
quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân
bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý và có hiệu quả theo các mục
đích đã định. Đồng thời quản lý tài chính cũng chính là thông qua các hoạt động kể
trên để tác động có hiệu quả nhất tới việc xử lý các mối quan hệ kinh tế - xã hội nảy
sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử
dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội.
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng để Nhà nước điều
hành và quản lý nền kinh tế đất nước, hình thành và đảm bảo các cân đối chủ yếu và
tỷ lệ phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ
chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các
phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính.
Tóm lại, quản lý tài chính là quản lý các hoạt động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác
nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế - tài
chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế đất nước. Quản lý
9
tài chính là việc sử dụng các công cụ quản lý tài chính nhằm phản ánh chính xác
tình trạng tài chính của một đơn vị, thông qua đó lập kế hoạch quản lý và sử dụng
các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu của hoạt động của đơn vị.
1.1.1.3 Khái niệm quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập Trong đơn vị sự nghiệp công lập. Nhà nước là chủ thể quản lý, đối tượng
quản lý là tài chính đơn vị sự nghiệp. Tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm các hoạt
động và quan hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh
vực sự nghiệp. Là chủ thể quản lý, Nhà nước có thể sử dụng tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ để quản lý hoạt động tài chính của các đơn vị sự
nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Quản lý tài chính trong các ĐVSNCL là việc tiến hành các bước trong quy trình quản lý bắt đầu từ việc xây dựng dự toán kế hoạch tài chính đến thực hiện dự toán, quyết
toán thu-chi và cuối cùng là việc kiểm tra, giám sát công tác quản lý tài chính.
1.1.2 Nội dung quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.2.1 Xây dựng dự toán kế hoạch tài chính
Các ĐVSNCL khi xây dựng dự toán quản lý tài chính của đơn vị mình cần
căn cứ vào định mức, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, căn cứ
vào nhiệm vụ được giao của đơn vị. Xây dựng dự toán tài chính có thể xác định dựa
trên cơ sở phân chia các nhóm mục chi: chi cho con người hay chi thanh toán cá
nhân; chi cho nghiệp vụ chuyên môn; chi mua sắm, sửa chữa trang thiết bị và các
khoản chi khác, tiến hành tính toán số chi thường xuyên cho từng nhóm mục tiêu
chi cụ thể dựa trên nhiệm vụ được giao và mức chi cho từng nhiệm vụ. Xây dựng
dự toán kế hoạch tài chính căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền
giao nhiệm vụ và tình hình thu, chi tài chính.
Dự toán thu: Lập dự toán thu là đơn vị sử dụng các nghiệp vụ tài chính, dựa trên hướng dẫn của cơ quan tài chính chủ quản để cụ thể hóa định hướng phát triển, kế hoạch hoạt động của đơn vị. Dự toán thu phải tuân thủ nguyên tắc nguồn thu đúng quy định.
Đơn vị căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và tỷ lệ được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng dự toán các khoản thu phí và lệ
phí; căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch vụ và mức thu do đơn vị quyết định hoặc
10
theo hợp đồng đơn vị đã ký kết để xây dựng dự toán thu với các khoản thu sự
nghiệp.
Chi thường xuyên: ĐVSNCL thực hiện xây dựng dự toán chi tiết cho từng loại nhiệm vụ theo quy định: chi thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà
nước giao, chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, chi hoạt động dịch vụ. Việc
xây dựng dự toán các khoản chi thường xuyên phải căn cứ vào nhiệm vụ được giao,
các chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách do Nhà nước quy định, quy chế chi
tiêu nội bộ của đơn vị và phải tính đến kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện. Đối với chi không thường xuyên đơn vị xây dựng dự toán của từng nhiệm vụ
chi theo quy định. Dự toán thu, chi của đơn vị phải có thuyết minh cơ sở tính toán,
chi tiết theo từng nội dung gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xem xét tổng hợp gửi Bộ, ngành chủ quản theo quy định của pháp luật. Xây dựng dự toán thu, chi
thường xuyên ĐVSNCL dựa vào quy định của nhà nước để xây dựng dự toán hoạt
động thường xuyên của đơn vị. Kinh phí NSNN đảm bảo hoạt động thường xuyên
theo mức kinh phí NSNN đảm bảo hoạt động năm trước liền kề.
Lập báo cáo thuyết minh dự toán: Trên cơ sở dụ toán thu và dự toán chi,
Phòng TCKT tiến hành lập Báo cáo thuyết minh dự toán. Trong đó nội dung sẽ bao
gồm: Căn cứ xác định các chỉ tiêu trong dự toán, cơ cấu thu chi, số liệu dự toán năm
kế hoạch so với năm báo cáo như thế nào, nguyên nhân. Các biện pháp để thực hiện
hiệu quả dự toán.
1.1.2.2 Thực hiện dự toán kế hoạch tài chính
Là quá trình vận dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính
nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi tài chính trong dự toán của đơn vị được thực hiện.
Các đơn vị căn cứ vào dự toán được giao, triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp
cần thiết để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được thu, chi đồng thời có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, chế độ tiết kiệm và hiệu quả.
Nguồn kinh phí cấp phát từ ngân sách nhà nước (NSNN) để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao. Đây là nguồn thu mang tính truyền thống và có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp. Tuy nhiên, với chủ trương đổi mới tăng cường tính tự chủ tài chính cho
các đơn vị sự nghiệp, tỷ trọng nguồn thu này trong các đơn vị sẽ có xu hướng giảm
dần nhằm làm giảm bớt gánh nặng đối với NSNN.
11
Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: gồm các khoản thu phí, lệ phí thuộc NSNN
theo quy định của pháp luật, theo chế độ được phép để lại đơn vị. Cùng với việc
chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính, tỷ trọng nguồn thu này trong các đơn vị sự nghiệp có xu hướng ngày càng tăng. Điều này đòi hỏi các đơn vị phải tổ chức khai
thác các nguồn thu hợp pháp này nhằm tăng cường năng lực tài chính của đơn vị.
Các khoản thu từ nhận viện trợ, biếu tặng, các khoản thu khác không phải
nộp ngân sách theo chế độ. Đây là những khoản thu không thường xuyên, không dự
tính trước được chính xác nhưng có tác dụng hỗ trợ đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Các nguồn khác như nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động
của cán bộ, viên chức trong đơn vị; nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Với các nguồn thu như trên, đơn vị sự nghiệp được tự chủ thực hiện nhiệm
vụ thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức
thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã
hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối
tượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy
định. Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các
khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ.
Thực hiện dự toán chi: Đối với chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền
giao, đơn vị được điều chỉnh nội dung chi cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn
vị, đồng thời gửi cơ quan cấp trên và Kho bạc Nhà nước. Trong quá trình chấp hành
dự toán chi thường xuyên, các ĐVSNCL cần căn cứ vào định mức chi của từng chỉ tiêu đã duyệt trong dự toán; khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi thường xuyên trong mỗi kỳ báo cáo; đồng thời dựa vào các chính sách, chế độ chi NSNN hiện hành. Đối với khoản chi không thường xuyên việc điều chỉnh nội dung chi, nhóm mục chi, kinh phí cuối năm chưa sử dụng hoặc sử dụng không hết thực hiện theo quy định của Luật NSNN.
Bên cạnh đó có một số tiêu chuẩn, định mức và mức chi đơn vị sự nghiệp
phải thực hiện đúng các quy định của nhà nước: tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô
12
tô, tiêu chuẩn định mức trang thiết bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại
di động, chế độ công tác phí nước ngoài, chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo
quốc tế ở Việt Nam, chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia, chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm
quyền giao, chế độ quản lý sử dụng vốn đối ứng dự án, vốn viện trợ thuộc nguồn
vốn NSNN; chế độ quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm,
sửa chữa tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm
quyền phê duyệt. Căn cứ vào tính chất công việc, khối lượng sử dụng, tình hình thực hiện qua các năm, thủ trưởng đơn vị quyết định phương thức khoán chi phí cho
từng cá nhân, bộ phận, đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc sử dụng. Phần kinh
phí tiết kiệm được đơn vị xác định chênh lệch thu chi sử dụng theo chế độ quy định.
Nhu cầu chi thường xuyên dự kiến năm kế hoạch phải xác định trong dự
toán. Đơn vị căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt để phân bổ và sử dụng các
khoản mục chi và hạch toán theo đúng quy định.
1.1.2.3 Quyết toán thu - chi
Quyết toán thu chi là công việc của chu trình quản lý tài chính. Đây là quá
trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơ sở
để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm cho các kỳ tiếp theo. Để có thể tiến hành quyết toán thu chi, các đơn vị phải
hoàn tất hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách.
Đảm bảo cho việc chi tiêu công từ các nguồn lực Nhà nước được thực hiện
một cách có hiệu quả, bên cạnh việc lập dự toán chi tiêu đầy đủ và hợp lý, tổ chức
thực thi dự toán đó một cách nghiêm túc và linh hoạt, cần theo dõi, giám sát và
kiểm tra việc chi tiêu một cách chặt chẽ để đảm bảo đáp ứng các mục tiêu ngân sách
đặt ra. Các công cụ để theo dõi giám sát, kiểm tra chi tiêu cơ bản và có hiệu lực là kế toán và báo cáo tài chính (hạch toán, quyết toán thu-chi), kiểm tra tài chính và kiểm toán. Còn hạch toán, quyết toán thu-chi là một trong các công cụ để theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chấp hành NSNN, thông qua đó giúp cho việc quản lý tài chính, tiền vốn của Nhà nước một cách có hiệu quả. Quyết toán chi NSNN được tiến hành theo quý và theo năm. Đến kỳ quyết toán các đơn vị phải lập đầy đủ các
biểu mẫu quyết toán theo quy định. Các cơ quan chủ quản cấp trên xét duyệt quyết
toán của các đơn vị cấp dưới trực thuộc, tổng hợp số liệu thành báo cáo quyết toán
13
của toàn ngành gửi cơ quan tài chính đồng cấp thẩm định và tổng hợp. Sau khi được
thẩm định và tổng hợp thì nó trở thành cơ sở để lập báo cáo quyết toán năm đó.
1.1.2.4 Kiểm tra, giám sát công tác quản lý tài chính
Sau mỗi quý, năm ngân sách đơn vị lập báo cáo kế toán quý, quyết toán năm
gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định. Quyết toán thu-chi tài chính là quá trình
kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình thực hiện dự toán trong kỳ báo cáo và là cơ
sở để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện dự toán từ đó rút ra bài học kinh nghiệm.
Trong quá trình thực hiện chu trình quản lý ngân sách tại đơn vị, việc kiểm tra kiểm soát cần được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trong suốt chu trình ngân
sách. Kiểm soát chi các đơn vị sự nghiệp được kho bạc nhà nước thực hiện theo quy
định hiện hành. Nội dung kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm kiểm soát tiền lương, tiền công; kiểm soát thu nhập tăng thêm, kiểm soát các
khoản chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ, kiểm soát chi mua sắm tài sản, trang
thiết bị, phương tiện, vật tư; các khoản chi phục vụ công tác thu phí, lệ phí và các
khoản chi khác. Việc kiểm soát được thực hiện theo quy định của nhà nước về kiểm
soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ, tư chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy. Cùng với sự kiểm soát kho bạc nhà nước, trong quá
trình thực hiện quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính, các đơn vị sự nghiệp
có trách nhiệm tự kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách của
mình. Công tác kiểm toán, quyết toán các khoản chi thường xuyên đảm bảo phải lập
đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo cho các cơ quan có
thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ quy định; số liệu trong các báo cáo tài chính
phải đảm bảo tính chính xác, trung thực. Nội dung các báo cáo phải theo đúng các
nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN đã quy định.
Báo cáo quyết toán của năm đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm theo dõi các khoản chi thường xuyên của NSNN.
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính trong các ĐVSNCL thuộc Bộ Tư pháp
1.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính của Trường Đại học Luật Hà Nội
14
Trường Đại học Luật Hà Nội là trường đại học công lập thuộc hệ thống giáo
dục quốc dân, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng đào tạo
trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ luật học và các ngành khác có liên quan phù hợp với mục tiêu và phương hướng phát triển của Trường; NCKH pháp lý; tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn pháp luật. Trường chịu sự quản lý, chỉ đạo
trực tiếp của Bộ Tư pháp, sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.Trường có con dấu và tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng theo
quy định của pháp luật. Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện quyền hạn và trách nhiệm quản lý toàn bộ tài sản được Nhà nước, Bộ Tư pháp trang bị, đầu tư.
Trường Đại học Luật Hà Nội được Bộ Tư pháp giao tự chủ thường xuyên từ
năm 2019, thực hiện quản lý tài chính theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSNCL.
Nguồn kinh phí hoạt động của Trường bao gồm: Nguồn NSNN giao rất nhỏ
kinh phí không thường xuyên chủ yếu theo đơn đặt hàng của nhà nước cho đào tạo
du học sinh Lào và Campuchia, miễn giảm học phí cho sinh viên. Nguồn kinh phí
chủ yếu là các khoản thu từ hoạt động dịch vụ như thu từ học phí, trông xe, cho thuê
hội trường, ký túc xá, lãi tiền gửi ngân hàng và các khoản thu khác…
Để đảm bảo có kinh phí hoạt động trong điều kiện giao tự chủ chi thường
xuyên, Trường đã có các giải pháp tăng nguồn thu bằng việc quản lý, sử dụng tài
chính, tài sản tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định; xây dựng phương án tăng thu học
phí; quản lý kinh phí đảm bảo đúng nhiệm vụ, nội dung, định mức chi. Chính vì thế
nguồn thu đã được cải thiện tương đối, đời sống nâng lên, khuyến khích viên chức,
người lao động làm việc có chất lượng, hiệu quả, thúc đẩy sáng tạo, đóng góp và
cống hiến của mỗi cá nhân cho sự nghiệp phát triển chung của nhà trường
Tuy nhiên mức thu học phí đã được tăng lên nhưng vẫn còn thấp do phải theo mức chung của Bộ giáo dục Đào tạo quy định, Trường không đa dạng nguồn thu, cơ sở vật chất còn hạn chế; cơ chế tài chính cho đơn vị sự nghiệp công lập là cơ sở giáo dục còn chưa đồng bộ giữa các quy định của pháp luật có liên quan đến tài chính, tài sản, thuế…, hạn chế nguồn lực để nâng cao mức độ tự chủ tài chính.
1.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính của Nhà xuất bản Tư pháp
Nhà xuất bản Tư pháp là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tư pháp,
hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, có chức năng xuất bản các xuất bản phẩm nhằm
15
phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu
pháp luật, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhà Xuất bản Tư pháp chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư pháp và
chịu sự quản lý nhà nước về xuất bản của Bộ Thông tin và Truyền thông. Nhà xuất
bản có trụ sở tại Hà Nội, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản được mở tại
KBNN và ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật.
Đơn vị được Bộ Tư pháp giao tự chủ thường xuyên từ năm 2018, thực hiện quản lý tài chính theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 quy
định cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSNCL.
Nguồn kinh phí hoạt động của Nhà xuất bản Tư pháp từ kinh phí NSNN giao không thường xuyên phục vụ việc in ấn sách theo đơn đặt hàng của Bộ và
nguồn kinh phí từ hoạt động dịch vụ.Trong đó, nguồn kinh phí hoạt động dịch vụ từ
in ấn, xuất bản các ấn bản phẩm theo các hợp đồng với đối tác và phát hành sách là
nguồn thu chủ yếu. Để đảm bảo tăng thu, Nhà xuất bản đã có các biện pháp như:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu xuất bản phẩm, mở rộng
mạng lưới khách hàng đi đôi với nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm thu hút số lượng
khách hàng ngày càng lớn; Duy trì, củng cố, xây dựng và phát triển mối quan hệ với
các tác giả, nhà khoa học có tên tuổi, có uy tín trong và ngoài Bộ Tư pháp để chủ
động khai thác các bản thảo có chất lượng, khả năng phát hành làm tốt; Chú trọng
công tác bản quyền, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả theo quy định của
pháp luật; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, số hoá hoạt động xuất bản với
tinh thần đổi mới tư duy, phát triển văn hoá đọc sách pháp luật, đáp ứng yêu cầu lưu
trữ, nghiên cứu, tìm hiểu, phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời đại công nghệ
4.0.Thực hiện chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm, hợp lý, tăng cường cho công tác chi chuyên môn, tập trung mua sắm, sửa chữa trang thiết bị cơ sở vật chất. Quy chế chi tiêu nội bộ được ban hành và sửa kịp thời khi có sự bất cập. Nhà xuất bản cũng thực hiện công tác kiểm tra tài chính nội bộ hàng năm giúp Nhà xuất bản phát hiện và điều chỉnh sai sót kịp thời. Chính vì thế Nhà xuất bản đã tạo ra nguồn thu tương đối tốt.
Tuy nhiên do hiện nay văn hóa đọc sách ngày càng giảm; chưa có biện pháp
mạnh để ngăn chặn tệ nạn in lậu sách trên thị trường; chi phí đầu tư xuất bản điện tử
lớn, nguồn thu đem lại chưa phải đã là tối đa.
16
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với Học viện Tư pháp trong điều
kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính
Trong điều kiện tự chủ chi thường xuyên của đơn vị, việc bảo đảm và phát triền nguồn kinh phí mang ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết đối với các
ĐVSNCL nói chung và Học viện Tư pháp nói riêng. Nó giúp đơn vị đảm bảo hoạt
động ổn đinh, giúp duy trì các hoạt động thường xuyên, tăng cường hiệu quả quản
lý về quản lý tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính của mình, thúc đẩy
đổi mới sáng tạo, cải tiến dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường, từ đó tạo điều kiện phát triển bền vững,
ổn định lâu dài.
Học tập kinh nghiệm từ trường Đại học Luật Hà Nội và Nhà xuất bản Tư pháp, đây là hai đơn vị sự nghiệp điển hình của Bộ Tư pháp được giao tự chủ chi
thường xuyên đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, Học viện Tư pháp đã tìm
hiểu và rút ra kinh nghiệm từ hai đơn vị trên như sau:
Một là, nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động dịch vụ
khác để tăng khả năng cạnh tranh đối với các đơn vị cũng có nhu cầu đào tạo, bồi
dưỡng các chức danh Tư pháp như Học viện hiện nay.
Hai là, sử dụng kinh phi tiết kiệm, hiểu quả, đúng quy định của pháp luật
giúp cho đơn vị hoạt động đạt hiệu quả, tăng tích lũy về tài chính và góp phần vào
sự phát triển chung trong toàn xã hội.
Ba là, xây dựng phương án tăng thu học phí và các hoạt động dịch vụ khác
theo lộ trình giúp cho Học viện có thêm nguồn kinh phí để nâng cao chất lượng dịch
vụ đào tạo, bồi dưỡng phục vụ người học một cách tốt nhất. Học viện cũng có thêm
kinh phí để củng cố, xây dựng nền tảng tài chính ngày càng vững chắc tạo đà cho sự tồn tại và phát triển lâu dài, bền vững.
Bốn là, tăng cường công tác truyền thông, áp dụng công nghệ thông tin. Đây là hoạt động hết sức cần thiết theo xu hướng công nghệ ngày càng phát triển như hiện nay giúp cho Học viện nâng cao hình ảnh và uy tín, quảng bá rộng rãi các hoạt động của mình ra ngoài xã hội.
1.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
17
Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25 tháng 6 năm 2015 của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21
tháng 12 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân
sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn có liên quan khác;
Luật Kế toán số 88/2015/QH ngày 20 tháng 11 năm 2015
Thông tư số 342/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tài
chính quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật ngân sách Nhà nước;
Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg ngày 25 tháng 02 năm 2004 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thành lập Học viện Tư pháp;
Quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 18 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thành lập Học viện Tư pháp; Quyết định số
2229/QĐ-BTP ngày 22 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Tư pháp;
Quyết định số 2806/QĐ-BTP Ngày 06 tháng 11 năm 2019 Bộ trưởng Bộ Tư
pháp về việc giao quyền tự chủ tài chính cho ĐVSNCL;
Căn cứ Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ
quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư
56/2022/TT-BTC ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số
nội dung về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; xử lý tài sản, tài
chính khi tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập;
Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn
chế độ kế toán hành chính sự nghiệp;
Quy chế chi tiêu nội bộ của Học viện Tư pháp.
18
Phần 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HỌC VIỆN TƯ PHÁP
2.1.1 Giới thiệu về Học viện Tư pháp
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Học viện Tư pháp Học viện Tư pháp là ĐVSNCL trực thuộc Bộ Tư pháp, được thành lập theo
Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg ngày 25 tháng 02 năm 2004 của Thủ tướng Chính
phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Đào tạo các chức danh tư pháp. Học viện Tư pháp
hoạt động theo Điều lệ trường đại học, có tư cách pháp nhân, có con dấu hình quốc huy, có tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, có trụ sở chính tại
Thành phố Hà Nội và Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thực hiện các nghị quyết của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng Học viện Tư pháp thành Trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư
pháp” theo Quyết định số 2083/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2013. Tiếp đó, ngày
28 tháng 7 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 1764/QĐ-BTP ban
hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 2083/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ, giao Vụ Tổ chức cán bộ và Học viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp làm
đầu mối, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện. Đáng chú
ý, tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2015 của Bộ Chính trị về
“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng
đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh, Bộ Chính trị đã
xác định phương hướng “Xây dựng Học viện Tư pháp thành Trung tâm lớn về đào
tạo cán bộ tư pháp”. Để hiện thực hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng, Ban cán
sự đảng và Lãnh đạo Bộ Tư pháp thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo Học
viện Tư pháp tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Quyết định số
2083/QĐ-TTg và đạt được những kết quả quan trọng.
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Học viện Tư pháp Theo Quyết định số 2229/QĐ-BTP ngày 22 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy như sau:
- Chức năng: (i) Đào tạo nghiệp vụ xét xử, nghiệp vụ kiểm sát, nghiệp vụ thi hành án dân sự, nghề luật sư, nghề công chứng, nghề đấu giá và các chức danh tư
pháp, bổ trợ tư pháp khác thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp cho các đối
tượng đã có bằng cử nhân luật và cử nhân chuyên ngành phù hợp chức danh đào tạo;
(ii) Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho
19
các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản
lý của Bộ Tư pháp và các đối tượng khác theo nhu cầu xã hội; (iii) Nghiên cứu khoa
học phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp và nhu cầu xã hội; (iv) Tư vấn pháp luật.
- Nhiệm vụ: Nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Tư pháp được giao
cụ thể trong Quyết định số 2083/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2013 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng Học viện Tư pháp thành Trung tâm lớn
đào tạo các chức danh tư pháp và Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ
luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010-2020”. Theo quy định, Học
viện Tư pháp thực hiện nhiệm vụ thuộc các nhóm sau:
+ Xây dựng kế hoạch, gồm: Kế hoạch, chiến lược phát triển, kế hoạch công
tác dài hạn, 05 năm và hằng năm của Học viện; tham gia xây dựng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển của Ngành Tư pháp; quy hoạch, kế hoạch về đào tạo, bồi
dưỡng, NCKH thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao; quy hoạch, kế hoạch
về tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội
ngũ công chức, viên chức và người lao động của Học viện theo quy định của pháp
luật và phân cấp của Bộ Tư pháp;
+ Chủ trì, tham gia xây dựng, góp ý các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp;
+ Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Gồm các hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng do ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
theo nhu cầu xã hội;
+ Tổ chức thực hiện các hoạt động NCKH, ứng dụng và phát triển kết quả
NCKH; Biên soạn, thẩm định, phát hành giáo trình, sách tham khảo, Tạp chí Nghề
luật, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và NCKH; Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện và các trang thiết bị đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và NCKH;
+ Đảm bảo chất lượng đào tạo; tổ chức tự đánh giá chất lượng đào tạo theo
quy định pháp luật;
+ Hợp tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong
hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tư vấn pháp luật và NCKH theo quy định của pháp luật
và theo phân cấp của Bộ Tư pháp, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Học viện;
20
+ Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, phổ biến giáo dục
pháp luật theo quy định của pháp luật, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Học
viện Tư pháp;
+ Thực hiện quy định về quản lý tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao.
- Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động :
+ Ban Giám đốc: (i) Giám đốc Học viện là người đại diện theo pháp luật của
Học viện, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của Học viện. Giám đốc Học viện do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, chịu trách nhiệm
trước Bộ trưởng Bộ Tư pháp và trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn được giao của Học viện; (ii) Phó Giám đốc Học viện là người giúp Giám đốc Học viện điều hành một số hoạt động của Học viện, được Giám đốc phân công
trực tiếp quản lý một số lĩnh vực, nhiệm vụ công tác. Phó Giám đốc Học viện do Bộ
trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Học viện và trước
pháp luật về những lĩnh vực, nhiệm vụ công tác được phân công. Số lượng Phó
Giám đốc Học viện không quá 03 người.
+ Các đơn vị chức năng trực thuộc gồm 16 đơn vị, cụ thể: (i) 04 Khoa
chuyên môn: Khoa Đào tạo chung nguồn Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; Khoa
Đào tạo Luật sư; Khoa Đào tạo Các chức danh thi hành án dân sự; Khoa Đào tạo
Công chứng viên và các chức danh tư pháp khác; (ii) 06 Phòng chức năng: Phòng
Tổ chức cán bộ; Phòng Hành chính, tổng hợp và Đối ngoại; Phòng Đào tạo và Công
tác học viên; Phòng TCKT; Phòng Quản trị; Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp
chí Nghề luật; (iii) 05 Trung tâm: Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ; Trung tâm Khảo thí
và Đảm bảo chất lượng đào tạo; Trung tâm Thông tin - Thư viện; Trung tâm Tư vấn
pháp luật; Trung tâm Liên kết đào tạo luật sư thương mại quốc tế; (vi) 01 Cơ sở tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Tổ chức đảng và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thuộc Học viện Tư pháp, bao gồm: Đảng bộ Học viện; Công đoàn; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chi hội Cựu chiến binh; Chi hội Luật gia; Chi hội Nhà báo Tạp chí nghề luật. Đảng bộ, các đoàn thể và tổ chức xã hội của Học viện được thành lập, tổ chức và hoạt động theo điều lệ của Đảng, điều lệ của các đoàn thể, tổ chức xã hội và
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
21
(Nguồn: Kỷ yếu kỷ niệm 25 năm Học viện Tư pháp, 2022)
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Học viện Tư pháp
22
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: Học viện Tư pháp có 2 cơ sở đào tạo tại
Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
+ Trụ sở tại Hà Nội: Địa chỉ tại số 9 phố Trần Vỹ, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, có diện tích đất là 14.680m² để xây dựng công trình
và 2.316m² đất làm đường sử dụng chung giao để làm đường đi vào thi công không
được sử dụng công trình kể cả tường rào khi thành phố thu hồi phải bàn giao lại.
Khuôn viên bao gồm 03 khối nhà chính có công năng riêng biệt (Toà nhà A - Nhà
hành chính thư viện; Toà nhà B - Nhà học đường, hội trường và Toà nhà C - Ký túc xá, nhà ăn) với tổng diện tích sàn xây dựng vào khoảng 28.522m². Ngoài ra, còn
khối phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật bao gồm ba nhà thường trực, bảo vệ, trạm bơm và
bể chứa nước ngầm, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống chiếu sáng, hệ thống phòng cháy chữa cháy, sân đường, tường rào, … Cơ sở vật chất (trụ sở) của Học viện đáp
ứng yêu cầu của cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp lớn nhất của Việt Nam.
+ Trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh: Địa chỉ tại số 821 đường Kha Vạn
Cân, phường Linh Tây, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, có tổng diện tích
đất là 2.166,6m², quy mô công trình xây dựng thuộc Nhóm B, bao gồm 1 toà nhà
cao 15 tầng, tổng diện tích đất xây dựng là 975m², với tổng diện tích sàn xây dựng
là 14.416m², mật độ xây dựng 45%, hệ số sử dụng đất 6,65 lần. Toà nhà đa năng,
bao gồm các khu: hiệu bộ, giảng đường, phòng nghỉ giảng viên và tầng hầm để xe.
+ Hệ thống tài sản của Học viện gồm: (i) 05 xe ô tô, 10 máy photocopy, 356
máy vi tính , 02 máy fax; 16 máy in các loại, 87 máy chiếu các loại, 05 bộ phông
chiếu, màn chiếu, 08 máy quét mã vạch, máy đọc thẻ từ phục vụ công tác điểm
danh, 03 máy scan; (ii) 02 hệ thống điều hòa trung tâm (01 hệ thống tại Thành phố
Hà Nội và 01 hệ thống tại Cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm: bộ điều khiển
trung tâm, dàn nóng, bộ chia gas dàn lạnh, điều hoà áp trần và hệ thống thông gió kèm theo, 243 máy điều hoà cục bộ; (iii) 35 bộ thiết bị âm thanh; 93 micro và bộ thu phát sóng; 100 loa, tăng âm các loại; 04 máy ảnh; 03 máy quay; 02 hệ thống camera quan sát; 55 ti vi, màn hình hiển thị, đầu video, các loại đầu thu phát tín hiệu kỹ thuật số khác; 05 bộ lưu điện các loại, 03 tổng đài nội bộ, hệ thống điện thoại để bàn thành viên; 08 máy bơm nước các loại; 21 thiết bị lọc nước các loại và một số
tài sản khác; (iv) Hệ thống thiết bị mạng, camera trực tuyến giữa trụ sở Học viện tại
Hà Nội với Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh; (v) Phần mềm: thư viện điện tử;
Cổng thông tin điện tử và một số phần mềm khác.
23
- Về đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên: Từ năm 2019, Học viên Tư pháp
được giao tự chủ chi hoạt động thường xuyên theo Quyết định số 2806/QĐ-BTP
ngày 06 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Hiện tại, Học viện Tư pháp có 171 cán bộ, viên chức (trong đó có 71 giảng viên cơ hữu). Bên cạnh đó, Học viện
Tư pháp còn xây dựng và phát triển được đội ngũ giảng viên thỉnh giảng khoảng
812 người là các chuyên gia đến từ các bộ, ngành, viện nghiên cứu hoặc các nhà sư
phạm giỏi của các học viện, trường đại học, thường xuyên tham gia giảng dạy các
khoá đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp.
- Về quy mô tài chính: Chế độ kế toán của Học viện được thực hiện theo quy
định tại Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Bộ Tài chính
hướng dẫn chế độ kế toàn hành chính sự nghiệp. Hằng năm, nguồn thu của Học viện khoảng 140 tỷ đồng; chi khoảng trên 80 tỷ đồng; phần chênh lệch dùng để trích
lập các quỹ như: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; Quỹ khen thưởng; Quỹ Phúc
lợi; Quỹ Bổ sung thu nhập... theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm
2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSNCL.
- Về các chương trình đào tạo: Hiện nay, Học viện có chương trình đào tạo
các chức danh tư pháp như chấp hành viên, công chứng viên, luật sư, đấu giá viên,
thừa phát lại, luật sự phục vụ hội nhập quốc tế, luật sư chất lượng cao, đào tạo
chung nguồn thẩm phán, kiểm soát viên, luật sư và trung cấp lý luận chính trị.
- Về quy mô tuyển sinh: Hằng năm, Học viện Tư pháp tuyển sinh theo loại
hình đào tạo dài hạn các chức danh tư pháp trong thời gian từ 12-18 tháng với số
lượng khoảng trên 3.000 học viên; bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp theo nhu cầu xã hội
và theo nhiệm vụ đào tạo-bồi dưỡng do Bộ Tư pháp giao khoảng trên 3.000 học
viên trên phạm vi toàn quốc.
2.1.2 Kết quả hoạt động của Học viện Tư pháp giai đoạn 2021-2023
2.1.2.1 Hoạt động đào tạo
Hằng năm, căn cứ vào nhiệm vụ và chỉ tiêu đào tạo được phê duyệt, Học
viện Tư pháp tiến hành tuyển sinh và đào tạo theo quy mô của các năm như sau:
24
Bảng 2.1: Số lượng đào tạo các chức danh tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị tính: Học viên
Năm Năm Năm STT Các chức danh đào tạo
So sánh 2022/2021
So sánh 2023/2022
2021 2022 2023
1 Chấp hành viên 92 142 150 50 8
2 Công chứng viên 1.731 800 760 -931 -40
3 Luật sư 3.165 1.890 1.650 -1275 -240
4 Đấu giá viên 113 100 108 -13 8
5 Thừa phát lại 147 114 164 -33 50
6 Luật sư phục vụ HNQT 104 39 83 65 44
7 Luật sư chất lượng cao 40 58 50 18 -8
8 Đào tạo chung TP, KSV, LS 155 208 316 53 108
9 Trung cấp lý luận chính trị 214 210 0 -4 -210
Tổng cộng 5.657 3.561 3.281 -2.096 -280
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
Năm 2021, Học viện đã chủ động triển khai các nhiệm vụ đào tạo theo kế
hoạch công tác được Bộ trưởng phê duyệt. Mặc dù dịch bệnh nhưng học viện đã
quyết tâm tiếp tục chuyển đổi và hoàn thiện phương thức tổ chức các khóa đào tạo
sang hình thức trực tuyến hoặc trực tiếp kết hợp với trực tuyến vì vậy số lượng học
viên tham gia khóa học là 5.657 học viên, vượt tương đối nhiều so với các năm.
Năm 2022 số lượng học viên là 3.561. Năm 2023 số lượng học viên là 3.281.
2.1.2.2 Hoạt động bồi dưỡng
Căn cứ vào nhiệm vụ bồi dưỡng các chức danh tư pháp theo nhu cầu xã hội và nhiệm vụ được Bộ Tư pháp giao, Học viện Tư pháp đã thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng với quy mô của các năm như sau:
25
Bảng 2.2: Số lượng bồi dưỡng các chức danh tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị tính: Học viên
STT Tổng số Ghi chú Năm thực hiện Số học viên theo nhu cầu xã hội Số học viên là CC,VC do BTP quản lý
1 Năm 2021 1.848 4.820 6.668
lớp. Tổng số 94 Trong đó: 14 lớp NSNN, 80 lớp theo nhu cầu xã hội lớp. Tổng số 70 Trong đó: 12 lớp NSNN, 58 lớp theo nhu cầu xã hội
2 Năm 2022 2.037 2.286 4.323
lớp. Tổng số 50 Trong đó: 15 lớp NSNN, 35 lớp theo nhu cầu xã hội
3 Năm 2023 1.748 1.801 3.549
So sánh 4 189 -2.534 -2.345 2022/2021
5 -289 -485 -774 So sánh 2023/2022
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
Các lớp bồi dưỡng theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Bộ Tư pháp cũng
như theo nhu cầu xã hội giảm so với Kế hoạch do một số nội dung không thể triển
khai thực hiện vì lý do khách quan hoặc số lượng học viên tham gia ít hơn dự kiến.
2.1.2.3 Hoạt động NCKH
Trong thời gian vừa qua, công tác NCKH tại Học viện liên tục được quan tâm và đẩy mạnh triển khai thực hiện, ngày càng thu hút số lượng lớn giảng viên tham gia, nhất là sự tham gia của giảng viên Cơ sở tại TP.HCM.
Năm 2021, Học viện triển khai triển khai 04 nhiệm vụ thực hiện đề tài NCKH, thực hiện 01 đề án khoa học cấp Bộ “Bồi dưỡng cán bộ tư pháp địa phương
bằng phương pháp trực tuyến” do BTP giao; Học viện bảo vệ thành công đề tài khoa học cấp Bộ năm 2020 “Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của ngành Tư pháp
26
đáp ứng yêu cầu đặt ra từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0” đạt loại xuất sắc.
Năm 2022, Học viện đã hoàn thành 06 đề tài NCKH cấp Học viện.
Năm 2023, Học viện đã hoàn thành 10 đề tài NCKH cấp Học viện.
2.1.2.4 Hợp tác quốc tế
Bên cạnh các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, NCKH, công tác hợp tác quốc tế
cũng là một trong những nhiệm vụ được Học viện quan tâm phát triển. Ngoài các
đối tác truyền thống như hợp tác với Pháp trong lĩnh vực công chứng, thừa phát lại;
Các chương trình, dự án hợp tác với Canada, Đức, Đài Loan... Đặc biệt, Học viện Tư pháp tiếp tục triển khai, chủ trì thực hiện Dự án Hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào từ
nguồn vốn ODA của Chính phủ Việt Nam hỗ trợ cho Chính phủ Lào theo nhiệm vụ
được BTP giao. Đến nay, Dự án đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu theo Văn kiện được hai chính phủ phê duyệt. Đang chuẩn bị các thủ tục phục vụ cho việc tổng kết,
đóng Dự án theo quy định.
Năm 2022, đối với Học viện Tư pháp Dự án Hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào
vẫn tiếp tục là một dự án chính của công tác hợp tác quốc tế. Đây là năm cuối
cùng thực hiện Dự án, ngoài yêu cầu phải đảm bảo tất cả các hoạt động phải
hoàn thành đúng tiến độ thì công tác chuẩn bị cho việc kết thúc, đóng dự án cũng
rất quan trọng.
Các hoạt động hợp tác quốc tế khác của Học viện với các đối tác khác như
Quỹ IRZ (Cộng hòa Liên bang Đức), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Học
viện Hoàng gia về đào tạo nghề tư pháp (RAJP), Campuchia, Học viện Tư pháp Đài
Loan, Dự án EU JULE. Tiếp tục tìm kiếm đối tác để mở rộng, đẩy mạnh hoạt động
hợp tác quốc tế như liên hệ, làm việc, trao đổi với Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, Cơ
quan Trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD).
2.1.2.5 Thực hiện nhiệm vụ tư vấn pháp luật
Trong năm 2021, Trung tâm Tư vấn pháp luật thuộc Học viện Tư pháp tiếp tục thực hiện các Hợp đồng dịch vụ pháp lý thường xuyên với 6 khách hàng. Ngoài ra, Trung tâm cũng thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý đối với
các khách hàng khác theo quy định của pháp luật.
Năm 2022, Trung tâm Tư vấn pháp luật thuộc Học viện Tư pháp tiếp tục
thực hiện các Hợp đồng dịch vụ pháp lý thường xuyên với các khách hàng truyền
27
thống. Ngoài ra, Trung tâm cũng tích cực tìm kiếm các khách hàng mới và tiếp tục
có kế hoạch thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý đối với các
khách hàng khác theo quy định của pháp luật.
Năm 2023, Trung tâm tiếp tục thực hiện các hợp đồng dịch vụ pháp lý thường
xuyên với các khách hàng truyền thống và tìm kiếm các khách hàng mới.
2.1.2.6 Quản lý tài chính
Học viện tư pháp là đơn vị dự toán cấp II, hàng năm nhận kinh phí từ
ngân sách Nhà nước cấp do Cục Kế hoạch Tài chính, Bộ Tư pháp, thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán và công khai tài chính theo quy định pháp luật hiện hành.
Trong giai đoạn này Học viện đã phát huy và thực hiện tốt quy định về tự chủ tài
chính của ĐVSNCL tự chủ 100% hoạt động chi thường xuyên.
a)Về nguồn thu
Các khoản thu của Học viện bao gồm:
Học phí của dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội, các khoản thu từ
học lại, thi lại, phúc khảo bài thi/ bài kiểm tra.
Nguồn thu từ hoạt động tham gia liên kết đào tạo, bồi dưỡng
Khoản thu từ dịch vụ cho thuê tài sản công
Khoản thu từ hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn
Khoản thu từ hoạt động tuyển sinh, cấp văn bằng, chứng chỉ
Khoản thu từ hoạt động sự nghiệp, cung cấp dịch vụ khác như thu dịch vụ ký
túc xá, bán giáo trình tài liệu
Nguồn Ngân sách nhà nước cấp
Các nguồn hợp pháp khác như vốn vay, vốn viện trợ, tài trợ được tặng cho từ các tổ chức, cá nhân; các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật (nếu có)
Hàng năm trên cơ sở nhiệm vụ công tác của đơn vị; các Quyết định giao dự
toán thu, chi NSNN do Cục Kế hoạch Tài chính, Bộ Tư pháp giao đầu năm, Lãnh đạo Học viện Tư pháp giao cho Phòng TCKT chủ trì xây dựng kế hoạch dự toán thu chi ngắn hạn, hàng năm; kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm của đơn vị. Kế hoạch
28
xác định rõ các mục tiêu chỉ số tài chính của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, NCKH:
tổng thu học phí, lệ phí tuyển sinh, thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch
vụ khác, các nội dung chi cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, hoạt động NCKH, nguồn thu theo đơn đặt hàng của Nhà nước
Nguồn tài chính của Học việm gồm các nguồn:
+ Nguồn thu từ ngân sách
+ Nguồn thu ngoài ngân sách
Về cơ bản, việc quản lý các nguồn thu tại Học viện Tư pháp dựa trên một số
nguyên tắc sau:
Mọi nguồn thu của đơn vị đều do Phòng TCKT tổ chức thu và thống nhất
tập trung quản lý theo quy định và quy chế quản lý nguồn thu của Học viện.
Về tổ chức thu được tổ chức theo ba hình thức thu là thu trực tiếp tại Phòng
TCKT, ủy quyền thu một số nguồn thu đặc thù cho một số đơn vị gắn với công việc
trược tiếp quản lý và thu qua ngân hàng.
Các đơn vị không được ủy quyền thu thì không được phép tự thu. Các đơn vị
ủy quyền thu theo sự hướng dẫn chuyên môn của Phòng TCKT và phải nộp tất cả các
khoản thu về Phòng TCKT, không được giữ tiền mặt và không được tự chi tại đơn vị.
Tất cả các khoản thu đều phải sử dụng chứng từ thu thống nhất của Học viện
do Phòng TCKT cấp, mọi khoản thu nếu không được phản ánh trên chứng từ quy
định, hoặc không được ủy quyền thu đều là khoản thu bất hợp lý.
Các loại phí, lệ phí và nguồn thu hợp pháp khác thực hiện theo hướng dẫn
của Nhà nước và quyết định của lãnh đạo Học viện.
Tổng hợp kết quả nguồn thu của Học viện trong 3 năm 2021-2023 như sau:
29
Bảng 2.3: Hoạt động thu của Học viện Tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị: Triệu đồng
Nội dung thu Năm Năm Năm So sánh So sánh
2021 2022 2023 2022/2021 2023/2022
I. 146.453 160.124 164.246 109.3% 102.6%
Thu từ hoạt động dịch vụ
II. Nguồn ngân sách nhà 12.229 15.906 4.772 130% 30%
nước
Tổng cộng 158.682 176.030 169.018 110.9% 96%
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
- Về nguồn thu hoạt động dịch vụ: cả 03 năm đều vượt chỉ tiêu dự toán. Năm
2021 thu 146.453 triệu đồng, tỷ lệ so với năm 2020 vượt hơn 34%; Năm 2022 thu vượt
hơn 9.3% so với năm 2021; Năm 2023 thu vượt hơn 2.9% so với năm 2022. Nhìn
chung 03 năm đều thu vượt chỉ tiêu so với dự toán được giao.
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp: Kinh phí cấp cho Học viện Tư pháp là
nguồn không thường xuyên, tổ chức đào tạo bồi dưỡng theo đơn đặt hàng của Bộ Tư
pháp như: Đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự; bồi dưỡng nghiệp vụ khác cho cán
bộ, công chức, viên chức của Bộ Tư pháp; dự án hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào và đào
tạo cán bộ Bộ Tư pháp Campuchia. Kinh phí được giao thay đổi vào nhiệm vụ từng
năm mà Bộ Tư pháp đặt hàng nên nguồn thu này Học viện không chủ động được.
b)Về nguồn chi
Học viện luôn công bố công khai việc phân bổ kinh phí cho từng hoạt động
cụ thể theo từng năm theo quy định như vào đầu tháng 1 năm sau, Học viên công
khai minh bạch số liệu tài chính, khó khăn, thuận lợi của năm tài chính trước và phương hướng, nhiệm vụ công tác tiếp theo cho toàn thể viên chức và người lao động nắm bắt.
Các khoản chi của Học viện gồm:
Các khoản chi cho các nhân: tiền lương, phụ cấp lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội. Đây là khoản chi bù đắp hao phí lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản
xuất sức lao động cho giảng viên, cán bộ công nhân viên của các đơn vị.
30
Chi quản lý hành chính gồm công tác phí, công vụ phí như điện, nước, xăng
xe, hội nghị
Chi nghiệp vụ chuyên môn: Đây là khoản chi có vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Hiện nay trong thời đại công nghệ phát triển
như vũ bão, nhu cầu thay đổi công nghệ phục vụ giảng dạy đang đòi hỏi 1 nguồn
vốn lớn. Vì vậy, việc tăng tỷ trọng chi cho giảng dạy và học tập là một trong những
điều kiện để giúp nền giáo dục tránh tụt hậu so với các quốc gia khác trong khu vực
và trên thế giới.
Chi NCKH;
Chi cho hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ, thực hiện nghĩa vụ với
NSNN;
Chi đầu tư phát triển như chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm, sửa chữa
tài sản cố định, trang thiết bị, công cụ dụng cụ; chi thực hiện các dự án đầu tư khác theo
quy định của Nhà nước;
Chi trả vốn vay, vốn góp;
Các khoản chi khác: chi trả tiền thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh
nghiệp, thuế đối với tài sản là quyền sử dụng đất vào mục đích kinh doanh, cho thuê
nếu có; chi khấu hao tài sản cố định chi hỗ trợ hoạt động cho công tác Đảng, Công
đoàn, Đoàn Thanh niên; chi lập quỹ dự phòng theo quy định của pháp luật nếu có
và các khoản chi hổ trợ khác...
Tổng hợp nguồn chi của Học viện Tư pháp trong 3 năm 2021-2023 như sau
Bảng 2.4: Hoạt động chi của Học viện Tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị: Triệu đồng
Nội dung chi Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023 So sánh 2022/2021 So sánh 2023/2022
I. Chi từ hoạt động dịch vụ 74.866 99.500 90.937 133% 91%
II. Chi từ ngân sách nhà nước 7.271 10.356 4.759 142% 45%
Tổng cộng 82.137 109.856 95.696 134% 87%
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
31
- Chi từ nguồn thu hoạt động dịch vụ năm 2021 là 74.886 triệu đồng, năm
2022 là 99.500 triệu đồng năm 2023 là 90.937 triệu đồng. Sở dĩ tổng chi của năm
2022 cao do đây là năm các hoạt động trở lại bình thường sau một thời gian tương đối dài phải tạm dừng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên yêu cầu phải
tăng cường bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa cơ sở vật chất, tài sản cố định. Năm
2022 cũng là năm chuẩn bị tiến tới lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Học viện Tư
pháp, phát sinh nhiều hoạt động phong trào cho cả viên chức, người lao động và
học viên.
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp: Kinh phí được sử dụng chi cho các hoạt
động mở lớp đào tạo, bồi dưỡng theo nhiệm vụ của Bộ Tư pháp giao.
Qua số liệu phân tích số liệu thu và chi, nguồn thu chủ yếu của Học viện Tư pháp là thu từ hoạt động dịch vụ, đáp ứng được đảm bảo chi thường xuyên cho đơn
vị, đồng thời giúp Học viện có đủ kinh phí mở rộng đầu tư trang thiết bị phục vụ
công tác đào tạo và NCKH, nâng cấp cơ sở vật chất, cải thiện thu nhập nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho viên chức và người lao động. Tuy nhiên trong thời gian
tới, Học viện cần nghiên cứu và xây dựng phương án tốt hơn để tăng nguồn thu
trong bối cảnh số lượng học viên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng các chức
danh tư pháp tại Học viện có xu hướng ngày càng giảm dần, nguy cơ Học viện phải
đối mặt với áp lực cạnh tranh nhằm thu hút học viên với các đơn vị đào tạo khác
trong lĩnh vực tư pháp là không tránh khỏi.
2.1.3 Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hoạt động quản lý tài
chính tại Học viện Tư pháp giai đoạn 2021-2023
2.1.3.1 Môi trường kinh tế- xã hội
Quản lý tài chính là một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp, là một bộ phận cấu thành trong công tác quản lý của Học viện Tư pháp và gắn bó mật thiết với các lĩnh vực quản lý khác như: quản lý đội ngũ, quản lý chương trình đào tạo, quản lý tổ chức các hoạt động. Quản lý tài chính là một trong những hoạt động đặc thù, có tính chất phức tạp. Đổi mới hoạt động quản lý tài chính trong các ĐVSNCL là một yêu cầu cấp thiết phù hợp với thực tiễn hiện
nay, nhất là trong giai đoạn nước ta đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Hoạt
động quản lý tài chính vốn đã phức tạp với hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật, liên quan trực tiếp đến việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực của
32
cải vật chất quan trọng trong từng cơ quan, đơn vị. Vai trò quản lý nhà nước về tài
chính trong nền kinh tế chịu sự chi phối của rất nhiều chủ thể trong xã hội càng làm
cho nội hàm về quản lý tài chính ngày càng phức tạp.
Bên cạnh đó, trong điều kiện vận hành cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cơ chế quản lý tài chính vẫn còn bộc lộ một số bất
cập cần sớm được khắc phục, cụ thể: (i) Một là, yếu tố liên quan đến giao quyền tự
chủ về tài chính (ii) Nội dung phân bổ NSNN chủ yếu dựa vào yếu tố đầu vào nên
chưa gắn kết chặt chẽ giữa kết quả sử dụng nguồn lực NSNN với kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm của Học viện.
2.1.3.2 Môi trường chính sách, luật pháp
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung và quản
lý tài chính trong các ĐVSNCL. Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong
khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất
đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ. Vì vậy, hệ thống pháp luật, các chính sách liên quan
đến quản lý tài chính trong các ĐVSNCL sẽ có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy hoạt
động quản lý quản lý tài chính trong các ĐVSNCL hiệu quả hay không hiệu quả.
Môi trường pháp luật là nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới quản lý tài chính trong
các ĐVSNCL. Việc triển khai thực hiện Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6
năm 2021 đã tạo điều kiện cho các Học viện được thực hiện cơ chế tự chủ tài chính,
chủ động tổ chức hoạt động chuyên môn, gắn việc quản lý, sử dụng nguồn lực tài
chính nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Trên cơ
sở Nghị định 60/2021/NĐ-CP, Học viện Tư pháp đã thực hiện việc kiểm soát, chi
tiêu nội bộ, phát huy tính dân chủ, chủ động, sáng tạo của lãnh đạo, cán bộ, giảng viên, công chức, viên chức trong Học viện, nâng cao kỹ năng quản lý, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, từng bước giảm dần sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính đối với hoạt động của Học viện, tạo điều kiện để Học viện phát huy các nguồn lực của đơn vị cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, trên cơ sở đó tạo nguồn chi trả tiền lương và thu nhập tăng thêm cho cán bộ,
giảng viên trong Học viện. Bên cạnh đó, nhờ cơ chế tự chủ tài chính, Học viện đã
phân bổ hợp lý các khoản chi trong phạm vi dự toán ngân sách được giao, áp dụng
33
nhiều biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để tạo nguồn chi thu nhập tăng
thêm cho giảng viên, cán bộ, viên chức, người lao động; trích lập quỹ phát triển
hoạt động sự nghiệp để tái đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy.
2.1.3.3 Môi trường khoa học công nghệ
Bên cạnh ảnh hưởng từ nhóm nhân tố môi trường kinh tế-xã hội, chính sách-
pháp luật, hoạt động quản lý tài chính trong các ĐVSNCL còn chịu tác động không
nhỏ từ nhóm nhân tố môi trường khoa học công nghệ, cụ thể:
Sự phát triển của khoa học công nghệ trở thành động lực và là lực lượng sản xuất trực tiếp góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc. Bối cảnh
hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng 4.0 như hiện nay là một cơ hội thuận lợi để
thực hiện cải cách đơn vị một cách nhanh chóng và thành công, đẩy mạnh cơ chế tự chủ, đáp ứng nhu cầu về dịch vụ.
Trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0 hiện nay, nếu Học viện
biết ứng dụng khoa học công nghệ thành công trong cải cách và tổ chức của đơn vị
thì sẽ dễ dàng phát triển đạt thành quả cao.
Thực tế đã chứng minh với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học vào
trong công tác quản lý tài chính sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc,
đảm bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đề
cho những quy trình cải cách về mặt nghiệp vụ tài chính một cách hiệu quả.
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP
GIAI ĐOẠN 2021-2023
2.2.1 Xây dựng kế hoạch dự toán
Học viện Tư pháp là ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên (đơn vị nhóm II theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập). Nguồn kinh phí hàng năm chủ yếu là từ nguồn hoạt động dịch vụ và một phần từ nguồn NSNN cấp.
Định kỳ hàng năm, căn cứ vào văn bản hướng dẫn lập dự toán của Cục Kế hoạch Tài chính, Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp triển khai công tác lập dự toán dựa
trên một số căn cứ sau: Các văn bản chế độ quản lý tài chính của Nhà nước; Quy chế chi tiêu nội bộ của Học viện Tư pháp; Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch công
tác năm trước và dự kiến kế hoạch công tác của năm như: chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng;
34
kế hoạch xuất bản tạp chí nghề luật; xây dựng, sửa đổi, bổ sung giáo trình tài liệu
phục vụ giảng dạy, các đề tài NCKH; kế hoạch mua sắm, sửa chửa tài sản cố định,
công cụ dụng cụ; Đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu chi ngân sách năm trước và dự kiến thu chi ngân sách của năm dự toán
Các căn cứ trên được thực hiện tương đối tốt trong công tác lập kế hoạch tài
chính. Tuy nhiên hiện nay trong quá trình lập kế hoạch tài chính Học viện Tư pháp
vẫn gặp một số khó khắn vướng mắc vì do các văn bản hướng dẫn hiện nay có
nhiều quy định chưa chi tiết, chưa phù hợp với đặc thù của đơn vị, định mức kinh tế kỹ thuật của các dịch vụ công còn khó khăn do lần đầu triển khai thực hiện nên còn
lúng túng. Vì Học viện là đơn vị sự nghiêp đầu tiên trong Bộ Tư pháp triển khai xây
dựng nên phải tự nghiên cứu, tìm hiểu. Khi trình lên đơn vị chủ quản thẩm định thì chính đơn vị cũng gặp lúng túng và chưa biết hướng dẫn thế nào về một số định
mức kinh tế kỹ thuật như cho chức danh Thi hành án dân sự.Với các căn cứ nêu
trên, Ban Giám đốc và Phòng TCKT Học viện chủ động xây dựng dự toán về kế
hoạch thu - chi hàng năm với mục tiêu kế hoạch thu bao giờ cũng lớn hơn kế hoạch
chi đảm bảo tự chủ chi thường xuyên.
Đối với dự toán thu, Phòng TCKT phối hợp với phòng Đào tạo và công tác
học viên, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ ước tính số lượng học viên tuyển sinh trong
năm, kế hoạch dựa trên số liệu đã thực hiện từ năm trước và chỉ tiêu được Bộ Tư
pháp phê duyệt, căn cứ vào lộ trình tính cơ cấu giá dịch vụ theo quy định của Nhà
nước. Ngoài ra, các nguồn thu khác theo dữ liệu của năm dự toán và năm kế hoạch,
Phòng TCKT tính toán, xây dựng dự toán nguồn thu.
Đối với dự toán chi, các đơn vị trong Học viện thống kê nhu cầu chi tiêu của
mình về hoạt động chuyên môn cũng như mua sắm sửa chữa tài gửi về phòng Quản
trị và phòng TCKT tổng hợp phục vụ cho công tác lập dự toánCăn cứ vào kế hoạch tuyển dụng và chính sách tăng lương nếu có, Phòng Tổ chức cán bộ lên kế hoạch về nguồn nhân lực gửi về Phòng TCKT xây dựng dự toán lương và các khoản phải nộp theo lương.
Sau khi có đủ các dữ liệu, Phòng TCKT sẽ lập dự toán báo cáo Giám đốc
Học viện xem xét phê duyệt
Quy trình lập dự toán của Học viện gồm có các bước như sau:
35
Sơ đồ 2.2 Quy trình lập dự toán NSNN
(Nguồn: Quy trình lập dự toán NSNN Học viện Tư pháp năm 2019)
STT Trách nhiệm Các bước lưu đồ
Tài liệu/biểu mẫu
Phòng TC - KT
Thông báo lập dự toán, biểu mẫu lập dự toán
Thông báo về việc lập dự toán 1
Các đơn vị
Báo cáo dự toán hoạt động theo mẫu
Phòng TC - KT
Tổng hợp dự toán
Lập dự toán ngân sách 2
Tiếp nhận, tổng hơp và xử lý dữ liệu
3
Phòng TC - KT, Ban Giám đốc
Quyết định phê duyệt dự toán ngân sách
Trình, phê duyệt dự toán 4
Bước 1. Thông báo về việc lập dự toán
Khi nhận được văn bản hướng dẫn lập dự toán NSNN của Cục Kế hoạch-Tài
chính, Bộ Tư pháp, Giám đốc sẽ chỉ đạo Phòng TCKT làm công văn hướng dẫn các
đơn vị trong Học viện lập dự toán ngân sách của đơn vị mình. Công văn quy định rõ nội dung, mẫu biểu và thời gian gửi dự toán để Phòng TCKT tổng hợp lập dự toán gửi cơ quan cấp trên.
Bước 2. Lập dự toán ngân sách
Các đơn vị lập dự toán kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ của
đơn vị mình.
Bước 3. Tiếp nhận, tổng hợp và xử lý dữ liệu
36
Phòng TCKT tiến hành tổng hợp nhu cầu của các đơn vị tiến hành nghiên
cứu, xem xét. Trong quá trình lập dự toán NSNN, phòng TCKT luôn bám sát các
chỉ tiêu của Cục KHTC và yêu cầu nhiệm vụ của Học viện để có những hướng dẫn, nắm bắt được nhu cầu thực tế và dự kiến phát sinh trong năm kế hoạch để có
phương án lập dự toán tối ưu và sát với thực tế nhất.
Bước 4. Trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán
Sau khi Học viện tổ chức cuộc họp các đơn vị với Ban giám đốc để thống
nhất dự toán. Giám đốc sẽ ký ban hành dự toán ngân sách và trình Cục Kế hoạch tài chính, Bộ Tư pháp rà soát và tổng hợp gửi cơ quan có thẩm quyền.
Bảng 2.5: Dự toán của Học viện Tư pháp giai đoạn 2021-2023
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu So sánh So sánh Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023 2022/2021 2023/2022
1. Nguồn thu
12.229 15.893 10.343 3.664 -5.550
NSNN cấp (kinh phí không thường xuyên)
95.276 100.139 110.458 4.863 10.319
Thu sự nghiệp và các khoản thu khác
2. Nguồn chi
12.229 15.893 10.343 3.664 -5.550
NSNN cấp (kinh phí không thường xuyên)
79.383 75.436 84.652 -3.947 9.216
Chi từ nguồn thu sự nghiệp và các khoản thu khác
15.893 24.703 25.806 8.810 1.103 3. Chênh lệch thu-chi
(Nguồn:Dự toán ngân sách nhà nước năm 2021-2023)
Dự toán các năm được Cục Kế hoạch-Tài chính, Bộ Tư pháp phê duyệt sát đúng với dự toán đơn vị lập, riêng nguồn chi từ hoạt động sự nghiệp Bộ Tư pháp
không phê duyệt, để đơn vị tự chi và quyết toán. Sở dĩ có được kết quả như trên do
Học viện Tư pháp chấp hành nghiêm túc các yêu cầu của công văn do Cục Kế
hoạch-Tài chính, Bộ Tư pháp gửi và hướng dẫn lập. Nguồn thu chủ yếu hàng năm
37
từ dịch vụ và các hoạt động khác, nguồn ngân sách cấp rất nhỏ, các nhiệm vụ ít nên
dễ thống nhất khi lập dự toán cho khoản này.
2.2.2 Thực hiện kế hoạch dự toán
2.2.2.1 Nguồn thu của Học viện Tư pháp
Nguồn thu của Học viện Tư pháp chủ yếu đến từ hoạt động đào tạo theo nhu
cầu xã hội, một phần từ hoạt động bồi dưỡng và một phần từ các hoạt động khai thác
cơ sở vật chất được giao quản lý, sử dụng của đơn vị theo Đề án cho thuê tài sản công
đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt theo Quyết định số 3236/QĐ-BTP ngày 06 tháng 11 năm 2019 và một phần do NSNN cấp theo đơn đặt hàng của nhà nước.
Bảng 2.6: Hoạt động thu dịch vụ của Học viện Tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị: Triệu đồng
Nội dung thu Năm Năm Năm So sánh So sánh
2021 2022 2023 2022/2021 2023/2022
1. Học phí đào tạo theo 124.340 136.035 133.269 11.695 -2.766
nhu cầu xã hội
2. Bồi dưỡng theo nhu cầu 11.141 10.637 10.834 -504 197
xã hội
3. Học lại 1.004 991 1.643 -13 652
4. Cho thuê hội trường 1.543 1.334 1.850 -209 516
(ngắn hạn và dài hạn)
5. Ký túc xá 1.689 3.110 4.121 1.421 1.011
6. Trông xe, căng tin 409 458 700 49 242
7. Văn bằng (bản chính) 460 984 713 524 -271
8. Xét tuyển 1.242 1.561 1.366 319 -195
4.625 5.014 9.750 389 4.736
9. Thu khác (lãi tài khoản tiền gửi, lãi hợp đồng tiền gửi)
III. Tổng cộng 146.453 160.124 164.246 13.671 4.122
( Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
38
Qua bảng trên ta thấy, Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ là nguồn thu chủ
yếu của Học viện Tư pháp. Tổng thể các khoản thu từ nguồn hoạt động dịch vụ
thực tế vẫn cao hơn dự toán thu được duyệt, khoản thu vượt trội nhất vào năm 2023 đó là thu từ lãi tiền gửi ngân hàng, tuy nhiên khoản thu từ học phí đào tạo theo nhu
cầu xã hội là nguồn thu lớn trong hoạt động thu dịch vụ có hiện tượng giảm dần.
Năm 2021 nguồn thu hoàn thành vượt chỉ tiêu được giao và nhỉnh hơn năm
2019, đạt 151% so với dự toán. Mặc dù tiếp tục bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-
19 kéo dài, diễn biến phức tạp, một số hoạt động phải tạm dừng hoặc hoạt động cầm chừng, không đạt theo dự toán như thu từ ký túc xá, căng tin, trông xe, cho thuê hội
trường phòng học nhưng do đơn vị chủ động tiếp tục hoàn thiện phương án, điều
kiện để chuyển đổi các khóa đào tạo, bồi dưỡng sang hình thức trực tuyến hoặc trực tiếp kết hợp trực tuyến đã thu hút được nhiều học viên tham gia, tăng cường đảm
bảo cơ sở vật chất, điều kiện nguồn nhân lực và do các lớp gối đầu chuyển sang
năm 2021 nhiều các chức danh đào tạo theo nhu cầu xã hội (luật sư, công chứng,
đấu giá viên và thừa phát lại) nên chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng vượt so với kế hoạch.
Đặc biệt, năm 2021 Học viện thực hiện chủ trương sử dụng nguồn kinh phí
nhàn rỗi, ký kết một số hợp đồng tiền gửi ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại do
Nhà nước làm chủ nên đã có được nguồn thu đáng kể (4.625 triệu đồng) góp phần
tăng thêm cho Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, tạo nguồn và điều kiện để đầu
tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất, và nguồn nhân lực. Kinh phí luôn được ưu tiên tối đa
nên đã hỗ trợ tốt cho việc hoàn thành các nhiệm vụ của học viện.
Năm 2022 là năm vẫn chịu hậu quả của dịch bệnh Covid-19, ảnh hưởng đến
hoạt động tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Học viện Tư pháp. Tuy nhiên Học viện
đã chủ động tiếp tục khắc phục khó khăn chủ động hoàn thiện các chương trình đào
tạo, bồi dưỡng phù hợp với tình hình thực tế. Học viện chủ động triển khai công tác tuyển sinh các lớp đào tạo các chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp hoàn thành vượt kế hoạch được giao. Ngoài việc tổ chức đào tạo các lớp tại trụ sở Hà Nội và cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện tiếp tục đẩy mạnh việc ký kết hợp đồng liên kết đào tạo tại các địa phương, bên cạnh đó trong năm 2022 Học viện có chính sách tăng thu học phí với các lớp đào tạo nên nguồn thu vẫn được đảm bảo. Tổng nguồn
thu là 160.124 triệu đồng, đạt tỷ lệ 162% so với dự toán giao là 100.139 triệu đồng.
Năm 2023, Bộ Tư pháp giao dự toán thu sự nghiệp cho Học viện Tư pháp là
39
110.458 triệu đồng nhưng học viện đã thực hiện được 164.246 triệu đồng, vượt hơn
so với dự toán được giao 167%. Do trong năm Học viện tổ chức 3 đợt tuyển sinh
các lớp đào tạo, đợt cuối năm tuyển sinh muộn nên số lượng học viên chuyển sang năm 2023 nhiều (khoảng hơn 3.000 học viên), tỷ lệ tuyển sinh mới trong năm 5.102
học viên vượt chỉ tiêu được giao hơn 1.000 học viên, đạt tỷ lên 142,72% so với kế
hoạch. Với các lớp bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội, Học viện cũng tăng cường tổ
chức chiêu sinh, triển khai các lớp với số lượng 3.566 học viên. Năm 2023 Học viện
tăng cường công tác truyền thông, quảng cáo tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng đáp ưng nhu cầu xã hội. Thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung chương trình tài
liệu giảng dạy đảm bảo cập nhật kịp thời. Học viên cũng tiếp tục chuyển đổi 100%
chương trình đào tạo sang hình thức tín chỉ. Đặc biệt, Học viện đã và đang tiếp tục thay đổi, hoàn thiện phương thức tổ chức các lớp từ trực tiếp sang trực tuyến, trực
tuyến kết hợp trực tiếp. Tuy nhiên, Học viện cũng cần chú trọng hơn về nguồn thu
cho đào tạo theo nhu cầu xã hội, không để tình trạng bị giảm dần trong các năm tới.
Cơ sở vật chất được tổ chức quản lý, khai thác theo quy định, đảm bảo hiệu
quả, không lãng phí. Học viện tổ chức xây dựng, sửa đổi, bổ sung quy chế chi tiêu
nội bộ làm cơ sở quản lý nguồn thu, thực hiện chi tiêu nhằm đảm bảo thu đúng, thu
đủ, chi tiêu phục vụ trực tiếp cho các nhiệm vụ với nội dung, định mức chi theo quy
định và góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Bảng 2.7. Nguồn thu từ NSNN của Học viện Tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị: Triệu đồng
Nội dung thu Năm Năm Năm So sánh So sánh
2021 2022 2023 2022/2021 2023/2022
1. Đào tạo Chấp hành viên 1.800 1.260 920 360 -340
4.391 2.783 3.367 -1.608 584
2. Bồi dưỡng công chức, viên chức do Bộ Tư pháp quản lý.
6.038 11.863 485 9.883 -11.378
3. Dự án hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào, đào tạo cán bộ của
Bộ Tư pháp Campuchia
Tổng cộng 12.229 15.906 4.772 8.637 -11.134
( Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
40
Với nguồn thu từ NSNN giao không thường xuyên, đây là nguồn thu thực
hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng, bao gồm 03 nhiệm vụ chính: Đào tạo nghiệp
vụ thi hành án dân sự; Bồi dưỡng công chức, viên chức theo kế hoạch được Bộ Tư pháp phê duyệt; Dự án hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào đến năm 2022 dự án này kết
thúc, đào tạo cán bộ Bộ Tư pháp Campuchia (năm 2023). Hằng năm nguồn thu này
có tỷ lệ nhỏ so với nguồn thu từ hoạt động dịch vụ và phụ thuộc vào số lượng kế
hoạch hàng năm của Bộ Tư pháp mà Học viên không chủ động được. Năm 2021
được giao 12.229 triệu đồng. Năm 2022 giao 15.906 triệu đồng. Sở dĩ năm 2022 dự toán tăng lên nhiều do hoạt động với Lào vào thời kỳ trọng điểm, các hoạt động giải
ngân diễn ra chủ yếu. Năm 2023 giao 4.772 triệu đồng, giảm rất nhiều do dự án với
Lào đã kết thúc để bắt đầu tiếp nối cho hoạt động đào tạo cán bộ của Bộ Tư pháp Campuchia
2.2.2.2 Nguồn chi của Học viện
- Nguồn thu sự nghiệp, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với ngân sách
Nhà nước được Học viện sử dụng chi chủ yếu cho hoạt động chuyên môn, quản lý,
chi cho bộ máy nhằm phục vụ hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chính trị được giao. Chi
phí khấu hao tài sản cố định cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn. Tổng chi phí
hàng năm dao động trong khoảng hơn 70% tổng thu.
Bảng 2.8: Hoạt động chi nguồn dịch vụ của Học viện Tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị: Triệu đồng
So sánh So sánh Năm Năm Năm Nội dung chi 2021 2022 2023 2022/2021 2023/2022
1. Chi tiền lương, tiền công 16.295 17.276 18.829 981 1.553
2. Chi hoạt động chuyên môn 24.562 34.224 42.816 9.662 8.592
3. Chi quản lý, mua sắm, sửa 34.009 48.000 29.292 13.991 -18.708
chữa và các khoản chi khác
Tổng cộng 74.866 99.500 90.937 24.634 -8.563
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
Qua số liệu ta thấy các khoản chi ngày càng tăng lên, Học viện đã chú trọng chi cho hoạt động chuyên môn nhằm tăng chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất cũng
41
được hoàn thiện hơn.
Trên tinh thần thực hiện dự toán chi thường xuyên được Học viện triển khai
tương đối tốt theo kế hoạch thực hiện nhiệm vụ. Từ khâu triển khai thực hiện dự toán được giao cho phòng TCKT hướng dẫn các đơn vị triển khai ngay từ đầu năm,
thường xuyên báo cáo Giám đốc (qua các cuộc họp giao ban định kỳ và bằng văn
bản) tình hình triển khai, thực hiện và đôn đốc nhắc nhở các đơn vị, cá nhân trực
tiếp thực hiện nhiệm vụ. Để tiết kiệm trong thực hiện dự toán chi thường xuyên,
Học viện còn lập dự toán chi tiết cho từng nhiệm vụ.
Thường xuyên sửa đổi quy chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp với thực tế. Năm
2022 ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ mới từ 28/2/2022. Trên tinh thần quan tâm
hơn đến đội ngũ giảng viên nhất là đội ngũ giảng viên thỉnh giảng nên định mức tiền giảng được tăng lên rất nhiều, lương cơ bản tăng, các khoản đóng góp theo
lương, chế độ công tác phí tăng...Nhưng với tinh thần ưu tiên triệt để cho nhiệm vụ
chính trị, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng tiết kiệm trong chi tiêu, thu nhập
tăng thêm của người lao động được nâng lên, động viên tinh thần cho người lao
động cống hiến nhiều hơn cho Học viện.
Bảng 2.9: Hoạt động chi nguồn NSNN của Học viện Tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị: Triệu đồng
Năm Năm Năm So sánh So sánh Nội dung chi 2021 2022 2023 2022/2021 2023/2022
1. Đào tạo nghiệp vụ Thi 900 1.620 920 720 -700
hành án dân sự
2. Đào tạo, bồi dưỡng công 4.391 2.645 3.354 -1.746 709
chức, viên chức do Bộ Tư pháp quản lý
1.980 6.091 485 4.111 -5.606
3. Dự án hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào, cán bộ Bộ Tư pháp Campuchia
Tổng cộng 7.271 10.356 4.759 3.082 -5.597
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
Năm 2021, Học viện được NSNN giao 12.229 triệu đồng, đã giải ngân 7.271
triệu đồng đạt tỷ lệ 59,5% so với dự toán được giao. Trong đó: Nhiệm vụ đào tạo
42
nghiệp vụ Thi hành án dân sự do số học viên được cử đi học ít hơn dự kiến nên
chỉ tổ chức được 2 lớp chia đều cho 2 miền vì vậy số kinh phí giải ngân chỉ đạt
gần 50% chỉ tiêu kế hoạch. Kinh phí giảm trong năm 180 triệu đồng và hủy tại KBNN là 720 triệu đồng. Đối với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên
chức cho Bộ Tư pháp, Học viện đã hoàn thành theo kế hoạch đảm bảo giải ngân
100% dự toán được giao. Dự án Hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào: đạt khoảng 24%.
Năm 2022, được giao 15.906 triệu đồng, giải ngân 10.356 triệu đồng đạt
tỷ lệ 65% so với dự toán được giao. Trong đó: Nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ Thi hành án dân sự đã giải ngân hoàn thành 100% dự toán được giao. Nhiệm vụ Bồi
dưỡng công chức, viên chức của Bộ Tư pháp tỷ lệ giải ngân được đạt tỷ lệ 95,4%
dự toán được giao, dự toán hủy tại KBNN 138 triệu đồng do một số nhiệm vụ bị hủy, điều chỉnh hoặc thay đổi hình thức tổ chức.
Dự án hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào tỷ lệ giải ngân đạt 44,93% dự toán được
giao. Dự toán hủy tại KBNN 6.374 triệu đồng, dư tạm ứng tại Ban Quản lý dự án
Lào 159 triệu đồng.
Năm 2023, được giao 4.772 triệu đồng, giải ngân 4.759 triệu đồng đạt tỷ lệ
gần 99% so với dự toán được giao. Trong đó: Nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ Thi hành
án dân sự đã giải ngân hoàn thành 100% dự toán được giao; Nhiệm vụ Bồi dưỡng
công chức, viên chức của Bộ Tư pháp tỷ lệ giải ngân được đạt tỷ lệ hơn 99% dự
toán được giao, dự toán hủy tại KBNN gần 13 triệu đồng do một số nhiệm vụ bị
thay đổi; Dự án hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào năm 2022 đã kết thúc. Học viện được
cấp 485 triệu đồng cho nhiệm vụ mới đào tạo cán bộ Bộ Tư pháp cho Campuchia
nhưng không triển khai được.
2.2.2.3 Chênh lệch thu - chi
Cuối năm ngân sách, các khoản NSNN cấp để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên nếu đơn vị không sử dụng hết thì hủy bỏ hoặc được phép chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Nguồn kinh phí còn lại sau khi trang trải các khoản chi phí nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch lớn hơn chi đơn vị được sử dụng để trích lập các quỹ và chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động.
Qua các năm 2021-2023, Học viện luôn có số chênh lệch thu lớn hơn chi,
mức chênh lệch qua các năm ở mức độ cao và tăng qua các năm cụ thể năm 2021 là
43
71.629 triệu đồng, năm 2022 là 60.624 triệu đồng, năm 2023 là 73.309 triệu đồng.
Kết quả này cho thấy hoạt động của đơn vị có hiệu quả và ngày càng phát triển, qua
đó thu nhập của các cán bộ, giảng viên trong Học viện cũng tăng lên hàng năm.
Bảng 2.10: Chênh lệch thu - chi của Học viện Tư pháp
Đơn vị tính: triệu đồng
STT Nội dung Năm Năm Năm So sánh So sánh
2021 2022 2023 2022/2021 2023/2022
Tổng thu 146.453 160.124 164.246 13.671 4.122 1
74.866 99.500 90.937 24.634 -8.563 2 Tổng chi
71.629 60.624 73.309 -11.005 12.685 3 Chênh lệch
thu - chi
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
2.2.3 Quyết toán thu - chi
Sau khi kết thúc năm tài chính, Phòng TCKT thực hiện lập báo cáo quyết
toán gửi Cục KHTC Bộ Tư pháp xét duyệt theo quy định hiện hành. Kết quả quyết
toán thu chi của Học viện Tư pháp như sau:
Bảng 2.11: Quyết toán thu, chi giai đoạn 2021-2023
Đơn vị tính: triệu đồng
duyệt
duyệt
duyệt
Năm 2021 Đơn vi lập Cục KHTC Năm 2022 Đơn vi lập Cục KHTC Năm 2023 Đơn vi lập Cục KHTC Chỉ tiêu quyết toán
I. Tổng thu 158.682 158.682 176.030 176.030 172.883 172.883
1. NSNN cấp 12.229 12.229 15.906 15.906 8.637 8.637
146.453 146.453 160.124 160.124 164.246 164.246
2. Thu từ hoạt động dịch vụ và các khoản chi khác
II. Tổng chi 82.137 82.137 109.856 109.856 95.696 95.696
1. Chi không thường xuyên 7.271 7.271 10.356 10.356 4.759 4.759
2. Chi từ hoạt động dịch vụ 74.866 74.866 99.500 99.500 90.937 90.937
và các khoản chi khác
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023
Quyết toán thu chi giai đoạn 2021-2023 được Cục Kế hoạch – Tài chính Bộ
44
Tư pháp (KHTC) thẩm tra và xét duyệt quyết toán hàng năm tại đơn vị, việc thẩm
tra quyết toán của Cục KHTC dựa trên báo tài chính và chứng từ tại đơn vị. Kết quả
kiểm tra quyết toán cho thấy đơn vị thực hiện tương đối tốt, số quyết toán Học viện lập đều được Cục KHTC phê duyệt không có khoản chi phí nào bị xuất toán.
Hằng năm, căn cứ kết quả hoạt động tài chính trong năm, sau khi trang trải
các khoản phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định; phần kinh phí tiết
kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của hoạt động dịch vụ (nếu có), đơn vị sử dụng
theo trình tự: Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, chi khen thưởng định kỳ, đột xuất tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích
đóng góp vào hoạt động đơn vị; chi trợ cấp khó khăn, đột xuất cho người lao động
kể cả các trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức trong năm.; chi tăng cường cơ sở vật chất của đơn vị; lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Chênh lệch thu, chi hàng năm của Học viện tương đối ổn định. Kết quả hoạt
động tài chính được Học viện thực hiện phân phối theo quy định của pháp luật có liên
quan và Quy chế chi tiêu nội bộ của Học viện theo thứ tự: Trích lập Quỹ phát triển hoạt
động sự nghiệp tối thiểu 25% chênh lệch thu chi; Trích lập Quỹ thi đua khen thưởng và
Quỹ phúc lợi không quá 03 tháng tiền lương, tiền công bình quân; Trích lập quỹ bổ
sung thu nhập; Bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với phần chệnh
lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định.
Chênh lệch thu chi qua các năm có như vậy vì một phần do Học viện tiếp tục
có chính sách hỗ trợ học phí đối với các lớp thuộc chương trình đào tạo nghề luật sư
phục vụ hội nhập quốc tế; chương trình đào tạo chung nguồn thẩm phán, kiểm sát
viên mở từ những năm trước chuyển sang và mở mới lớp của chương trình đào tạo
luật sư chất lượng cao. Một phần, đối với các lớp đào tạo theo chương trình tiêu
chuẩn, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Học viện đã chủ động giảm sĩ số của các lớp. Học viện cũng tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, bao gồm bổ sung trang thiết bị cho các hội trường phòng học và thay thế những trang thiết bị cũ, hỏng không đáp ứng nhu cầu giảng dạy theo hình thức trực tuyến. Năm 2023 cũng là năm Học viện tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy nên yêu cầu phải tăng cường đầu tư, đối mới toàn diện cho tất cả các nội dung từ chương trình, giáo trình, tài liệu; đội ngũ
giảng viên, nhân sự quản lý; cơ sở vật chất.
45
Bảng 2.12: Bảng phân phối kết quả hoạt động tài chính của Học viện
Tư pháp năm 2021-2023
Đơn vị: Triệu đồng
So sánh So sánh Năm Năm Năm Phân phối kết quả 2022/2021 2023/2022 2021 2022 2023
1. Trích lập quỹ phát triển 38.501 29.476 38.351 -9.025 8.875
hoạt động sự nghiệp
2. Trích lập quỹ bổ sung thu 29.988 26.829 30.251 -3.159 3.422
nhập
3. Trích lập quỹ khen 4.073 4.319 4.707 246 388
thưởng, quỹ phúc lợi
3. Trích lập quỹ khác (nếu có) 0 0 0 0 0
Tổng cộng 71.629 60.624 73.309 -11.005 12.685
(Nguồn: Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp các năm 2021, 2022, 2023)
2.2.4 Kiểm tra giám sát công tác tài chính
Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quản lý tài chính tại Học viện
được tiên hành trong suốt chu trình ngân sách, từ khi xây dựng dự toán kế hoạch tài
chính, thực hiện dự toán và quyết toán hoạt động quản lý tài chính của đơn vị, bao
gồm cả hoạt động tự kiểm tra, hoạt động kiểm toán của cơ quan kiểm toán nhà nước
và hoạt động kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước.
Học viện Tư pháp đã thành lập Ban Thanh tra nhân dân, có chức năng,
nhiệm vụ thanh tra các hoạt động liên quan đến công tác quản lý tài chính của Học
viện hoạt động mua sắm trang thiết bị cơ sở vật chất, sửa chữa trụ sở.
Hàng năm cơ quan quản lý cấp trên, hay kiểm toán Nhà nước có đoàn kiểm toán, thanh kiểm tra hoạt động tài chính của Học viện, qua đó sẽ phát hiện kịp thời những sai sót trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính từ đó kịp thời điều chỉnh hoạt động cho đúng quy định của pháp luật.
Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm toán của các cơ quan cấp trên tại Học viện
Tư pháp:
46
- Tháng 6 năm 2022, Cục kế hoạch tài chính, Bộ Tư pháp thông báo kế
hoạch xét duyệt/thẩm định quyết toán NSNN năm 2021 nội dung: kiểm tra việc
chấp hành chế độ hạch toán kế toán; đối chiếu số liệu quyết toán và tình hình thực hiện dự toán thu, chi ngân sách nhà nước.
Kết quả nhận xét và kiến nghị như sau:
Báo cáo của đơn vị được tập hợp đầy đủ, thực hiện theo mẫu quy định tại
thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2017
Đơn vị hạch toán, phản ánh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên hệ
thống sổ sách kế toán; hạch toán đúng theo mục, tiểu mục của Mục lục NSNN.
Chứng từ kế toán được tập hợp đầy đủ, nhìn chung các khoản thanh toán
được đơn vị thực hiện chặt chẽ.
Các khoản chi trong năm đơn vị chi theo định mức, tiêu chuẩn quy định của
Nhà nước và Quy chế chi tiêu nội bộ, về cơ bản đơn vị chấp hành tương đối tốt các
quy định, tuy nhiên còn một số tồn tại sau:
Học viện Tư pháp là đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên,
ngoài nguồn thu khai thác cơ sở vật chất, thu đào tạo theo nhu cầu xã hội (đào tạo
công chứng viên, thừa phát lại, luật sư…), đơn vị còn thực hiện nhiệm vụ nhà nước
giao trong việc đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp (chấp hành viên, thẩm tra
viên, thư ký thi hành án...), tuy nhiên đơn vị chưa xây dựng tiêu chí phân bổ chi phí
quản lý chung như điện, nước, bảo vệ, khấu hao… để xác định đơn giá từng loại dịch
vụ làm cơ sở cho Bộ Tư pháp cấp tiền thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao.
Đơn vị chưa hoàn thành việc xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật đối với
các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo
Quyết định của Bộ Tư pháp ban hành Quy định về xây dựng, thẩm định và ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật đối với các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Đơn vị đã thực hiện công khai dự toán được Bộ giao, quyết toán được Bộ
duyệt theo quy định.
Đơn vị đã thực hiện công khai tình hình quản lý, xử lý và sử dụng tài sản công năm 2021 và công khai tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao thuê tài sản
công năm 2021 theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công ngày 21 tháng
47
6 năm 2017 và Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Bộ
Tài chính quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công tại
Hội nghị công chức, viên chức hàng năm.
- Tháng 4 măm 2023, Đoàn kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đã thực hiện
kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính nước năm 2022. Nội dung kiểm toán bao
gồm: Kiểm toán việc lập, phân bổ dự toán; Kiểm toán việc chấp hành trong quản lý,
sử dụng NSNN; Kiểm toán quản lý, sử dụng các khoản thu, chi hoạt động sự nghiệp,
inh doanh, dịch vụ; Kiểm toán quản ký, sử dụng tài sản; Kiểm toán công tác kế toán, lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán; Đánh giá việc thực hiện cơ chế tự chủ của
đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2021)
Kết quả kiểm toán như sau:
Đơn vị mở đầy đủ sổ kế toán, hạch toán kế toán và lập báo cáo tài chính,
báo cáo quyết toán theo hướng dẫn của Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10
tháng 10 năm 2017 của Bộ Tài chính.
Học viện Tư pháp là đơn vị được giao tự chủ tài chính về chi thường
xuyên, đơn vị đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý, sử dụng tài
sản công kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức. Năm 2022, đơn vị
đã tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
theo nhiệm vụ Bộ giao và đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp theo nhu
cầu xã hội. Việc quản lý tài chính, tài sản được thực hiện theo quy định của Học
viện: Cơ bản các khoản thu, chi được kịp thời, không phát sinh công nợ tồn
đọng; Nguồn thu vượt so với dự toán, thu nhập của người lao động được đảm
bảo ở mức cao, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp được tăng thêm hàng năm.
Tuy nhiên việc quản lý tài chính đối với tài sản cho thuê theo các hợp đồng đã ký chư được đôn đốc thu để đảm bảo đầy đủ, kịp thời làm ảnh hưởng đến số thu trong niên độ của đơn vị; chưa tuân thủ dự toán chi của các lớp đào tạo mà vẫn quyết toán làm ảnh hưởng tới kinh tế của nhiệm vụ giao.
Qua số liệu cho thấy đơn vị lập dự toán chưa sát với thực tế đã thực hiện năm trước. Học viện hạch toán theo số thực thu, phân bổ số thu gắn với thời gian đào tạo, tuy nhiên việc phân bổ chưa được quy định trong Quy chế chi tiêu nội
bộ của Học viện.
48
Việc trích lập và sử dụng các quỹ chưa đúng với cơ chế tự chủ theo Nghị
định số 60/2021/NĐ-CP, nguyên nhân là do việc xác định cơ sở tính trích của
đơn vị chưa đúng như tính trích bổ sung thu nhập từ khoản chi phụ cấp làm đêm, thêm giờ. Việc sử dụng các quỹ còn trường hợp chi chưa đúng tính chất quỹ thu
nhập tăng thêm, phải điều chỉnh từ Quỹ Bổ sung thu nhập sang Quỹ phúc lợi các
khoản chi: Chi tiền hè, Tết Dương lịch cho viên chức và người lao động.
- Tháng 3 năm 2024, Cục kế hoạch tài chính, Bộ Tư pháp thông báo kế
hoạch xét duyệt/thẩm định quyết toán NSNN năm 2023 nội dung: Kiểm tra việc chấp hành chế độ hạch toán kế toán; đối chiếu số liệu quyết toán và tình hình thực
hiện dự toán thu, chi NSNN.
Kết quả nhận xét và kiến nghị như sau:
Báo cáo của đơn vị được nộp đúng thời gian quy định. Báo cáo tài chính
của đơn vị được tập hợp đầy đủ, thực hiện theo mẫu quy định tại thông tư
107/2017/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Bộ Tài chính.
Đơn vị hoạch toán, phản ánh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên hệ
thống sổ sách kế toán; hoạch toán đúng theo mục, tiểu mục của Mục lục NSNN.
Chứng từ kế toán được tập hợp đầy đủ các nghệp vụ kinh tế phát sinh trên hệ
thống sổ sách kế toán; hoạch toán đúng theo mục, tiểu mục của Mục lục NSNN.
Chứng từ kế toán được tập hợp đầy đủ, nhìn chung các khoản thanh được
đơn vị thực hiện chặt chẽ.
Các khoản chi trong năm đơn vị chi theo định mức, tiêu chuẩn quy định của
Nhà nước và Quy chế chi tiêu nội bộ. Về cơ bản, chấp hành tương đối tốt các quy
định, tuy nhiên còn một số tồn tại sau:
Đơn vị chưa hoàn thành việc xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật đối với các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo Quyết định số 2302/QĐ-BTP ngày 18 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy định xây dựng, thẩm định, ban hành định mức kinh tế-kỹ thuật đối với các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà
nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp
Đối với các lớp đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự được Bộ trưởng Bộ Tư
pháp giao nhiệm vụ theo đề xuất của đơn vị tổ chức 03 lớp với số lượng 150 người,
49
tuy nhiên, do Tổng cục Thi hành án dân sự chỉ cử 119 người tham dự vì vậy trên cơ
sở đề nghị của Học viện, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã phải ban hành Quyết định thay
thế. Việc Tổng cục Thi hành án dân sự cử người không đúng kế hoạch ban đầu diễn ra nhiều năm nay, từ đó ảnh hưởng lớn đến kế hoạch và kinh phí mở lớp.
Đơn vị đã thực hiện công khai dự toán được Bộ giao, công khai tình hình
thực hiện dự toán và quyết toán được Bộ phê duyệt theo quy định.
Đơn vị đã thực hiện công khai tình hình quản lý, xử lý và sử dụng tài sản
công năm 2023 và công khai tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao thuê tài sản công năm 2023 theo quy định của Luật Quản lý sử dụng tài sản công ngày 21 tháng
6 năm 2017 và Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Bộ
Tài chính quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tà sản công tại Hội nghị công chức, viên chức hàng năm.
2.3 CÁC KẾT LUẬN QUA PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP GIAI ĐOẠN 2021-2023
2.3.1 Những kết quả đạt được
Công tác quản lý tài chính của Học viện Tư pháp giai đoạn 2021-2023 đạt
được những kết quả tích cực như sau:
- Học viện Tư pháp đã hoàn thành tốt, có mặt xuất sắc các chỉ tiêu giao thu
sự nghiệp, công tác giải ngân kinh phí thường xuyên được thực hiện nghiêm túc về
mặt tiến độ và chất lượng. Thể hiện qua việc phục vụ hoàn thành tốt các nhiệm vụ
được giao như hoàn thành tốt các khóa đào tạo nghiệp vụ thi hành ánh và các lớp
đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội, cùng các nhiệm vụ thường xuyên khác.
- Nguồn thu hoạt động dịch vụ vượt cao hơn so với chỉ tiêu được giao.
Nguyên nhân do Học viện Tư pháp đã kịp thời chuyển đổi phương thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng từ trực tiếp sang kết hợp đào tạo từ xa, nên mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh Covid-19 nhưng nguồn thu vẫn đảm bảo tăng hơn so với khi chưa có dịch bệnh.
- Công tác chi được tổ chức quản lý, điều hành có hiệu quả, không để xảy ra
những sai sót đáng tiếc. Công tác tài chính phục vụ cho việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ thường xuyên của Học viện Tư pháp. Nội dung chi cũng như định mức
chi được quy định rõ ràng tại quy chế chi tiêu nội bộ của Học viện.
50
- Bên cạnh việc công tác tài chính hỗ trợ hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị,
đóng góp vào sự phát triển của Học viện, công tác tài chính còn góp phần để Học
viện hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị trung tâm được giao, khích lệ tinh thần sáng tạo “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, từng bước cải thiện đời sống
cán bộ, viên chức, người lao động, tạo không khí phấn khởi góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Tư pháp.
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh đó, công tác quản lý tài chính của Học viện giai đoạn 2021-2023
cũng bộc lộ một số hạn chế cần phải nhanh chóng khắc phục, cụ thể:
- Đối với việc thực hiện dự toán ngân sách hằng năm:
+ Hầu hết các nhiệm vụ thực hiện những tháng đầu năm còn chậm so với kế hoạch, tỷ lệ giải ngân thấp, kéo dài, thường tập trung vào thời điểm cuối năm, nên
ảnh hưởng nhất định đến công tác lập báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính cũng như
thực hiện báo cáo quyết toán với cơ quan thuế, mặc dù đã được Ban giám đốc Học
viện chỉ đạo quyết liệt để triển khai theo kế hoạch đã được phê duyệt. Nguyên nhân
ảnh hưởng bao gôm cả chủ quan lẫn khách quan, như do còn ảnh hưởng của dịch
Covid-19 (giai đoạn 2021-2023) nên một số hoạt động không thể triển khai (hội nghị,
hội thảo, hoạt động khảo sát...), một số tập thể, cá nhân chưa chủ động trong triển
khai công việc; một số nhiệm vụ yêu cầu có sự phối hợp của nhiều đơn vị liên quan,
khi triển khai còn chậm do thủ tục phối hợp phức tạp.
+ Đối với nguồn NSNN cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên như đào
tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự, Học viện chưa có quyền chủ động trong việc thực
hiện chi tiêu của khóa đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự (do Tổng cục Thi hành
án phái cử), thời gian mở lớp thường được tiến hành vào thời điểm gần giữa năm, kéo dài đến cuối năm.
+ Đối với nhiệm vụ tổ chức các lớp bồi dưỡng cho công chức, viên chức Bộ Tư pháp quản lý, nhiệm vụ thường thay đổi nhiều lần trong năm (gồm cả tiến độ và số lượng), có nhiệm vụ phải hủy do không đủ số lượng học viên tham gia.
+ Dự án hỗ trợ Học viện Tư pháp Lào, dự án kinh phí thường nhận được muộn. Năm 2022, các hoạt động chủ yếu diễn ra tại Lào nên việc phối hợp gặp
nhiều khó khăn, kể cả trong khâu tổ chức và thực hiện thanh quyết toán.
51
+ Năm 2021, do ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 nên đa số các lớp đào
tạo đều bị kéo dài thời gian đào tạo hơn so với chương trình được phê duyệt. Vì vậy
năm 2022 công tác tuyển sinh phải lùi lại chậm hơn so với dự kiến để tập trung nguồn lực đào tạo các lớp năm 2021 chuyển sang năm 2022. Từ đó dẫn đến kế hoạch tuyển
sinh năm 2023 cũng bị ảnh hưởng theo xu hướng nguồn thu cũng bị giảm tương đối.
+ Việc áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính còn hạn
chế. Công tác theo dõi nguồn thu còn thủ công, chưa có phần mềm liên thông giữa
các phòng ban có liên quan dẫn đến việc theo dõi phải làm thủ công, mất nhiều thời gian và gặp khó khăn nhất định. Về kỹ thuật, khi triển khai thực hiện thanh toán trên
dịch vụ công cũng gặp khó khăn, biểu mẫu phải nhập quá nhiều thông tin chi tiết, hệ
thống thường xuyên bị quá tải, làm mất nhiều thời gian, lao động để thực hiện.
- Đối với nguồn thu hoạt động sự nghiệp dịch vụ:
+ Nguồn học viên sẽ ngày càng giảm do thời gian vừa qua Học viện Tư pháp
đã đào tạo cho xã hội môt lượng tương đối lớn các chức danh tư pháp, xã hội bị bão
hòa. Một số cơ sở đào tạo chức danh tư pháp trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao,
Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao đã và đang xây dựng cơ sở vật chất sẵn sàng cạnh
tranh với Học viện Tư pháp trong việc thu hút tuyển sinh, dẫn đến nguồn thu của
Học viện Tư pháp cũng bị ảnh hưởng.
+ Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy
định cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSNCL được ban hành thay thế Nghị định số
43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn đối
với các ĐVSNCL. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện
Nghị định 60/2021/NĐ-CP vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của các
ĐVSNCL. Khi triển khai thực hiện một số nội dung đơn vị dự toán rất lúng túng,
nội dung văn bản hướng dẫn chưa được chi tiết, chưa phù hợp với đặc thù của đơn vị nhất là việc triển khai xây dựng các định mức kinh tế-kỹ thuật của các dịch vụ công gặp khó khăn do là lần đầu tiên triển khai thực hiện, nội dung văn bản hướng dẫn chưa được chi tiết, chưa phù hợp với đặc thù của Học viện.
* Nguyên nhân hạn chế:
- Việc hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ chưa được Học viện quan tâm
đúng mức, chưa sửa đổi kịp thời cho phù hợp với nghị định số 60/2021/NĐ-CP như
về chi lương, thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ. Quy chế chi tiêu nội bộ của
52
Học việc có vai trò rất quan trọng, nó là một công cụ quản lý trong thực hiện các
nhiệm vụ của Học viện. Việc thường xuyên rà soát, đánh giá triển khai thực hiện
Quy chế chi tiêu nội bộ sẽ giúp Học viện phát hiện ra những điểm chưa hợp lý.
- Công tác thanh, kiểm tra còn hạn chế. Thành viên của ban thanh tra chủ yếu
là các giảng viên, chuyên viên được đề cử từ nhiều khoa và các phòng ban chức
năng khác nhau, do đó thiếu chuyên môn và kinh nghiệm về tài chính dẫn đến việc
thanh tra thiếu hiệu quả.
- Trình độ cán bộ nhân viên kế toán trong đơn vị còn thiếu đồng đều do công tác tuyển chọn ban đầu chưa thực sự chặt chẽ dẫn đến vấn đề luân chuyển, kiểm tra
và xử lý chứng từ còn nhiều chậm trễ.
- Chưa khai thác được hết hiệu quả của công nghệ thông tin trong tổ chức hạch toán kế toán. Việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa hiệu quả, không có liên
kết, thiếu cập nhật, sửa đổi làm hạn chế chất lượng thông tin kế toán tài chính.
2.4 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ
2.4.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý tài chính
Trong quản lý, cơ cấu tổ chức bộ máy là yếu tố quyết định đến kết quả hoàn
thành tất các nhiệm vụ được giao. Do đó, một tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả
phải được xây dựng và nhanh chóng đi vào hoạt động là tất yếu và rất cấp thiết,
nhằm đa dạng hóa nguồn thu, tăng mức tự chủ tại đơn vị, giảm bớt gánh nặng bao
cấp của Nhà nước, góp phần cải thiện đời sống cho cán bộ công chức viên chức.
Thời gian vừa qua, Học viện Tư pháp đang từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý tài
chính nhằm thực hiện hiệu quả Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm
2021 của Chính phủ, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về công tác quản lý tài chính của Học viện. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý tài chính của Học viện trong điều kiện tự chủ thời gian tới.
- Học viện Tư pháp khẩn trương hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài chính, tập trung vào việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm
đầy đủ, chặt chẽ, bao gồm quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy trình thực hiện quản lý tài chính; thường xuyên cập nhật hệ thống văn bản quy
phạm theo kịp thời để phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tế của
53
đơn vị; công khai hệ thống văn bản quy phạm về quản lý tài chính cho viên chức,
người lao động trong đơn vị.
- Học viện Tư pháp cần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý tài chính tại đơn vị, trong đó chú trọng khâu Tổ chức đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản
lý tài chính theo định kỳ; khuyến khích cán bộ tham gia các khóa học chuyên sâu về
quản lý tài chính tại các học viện/nhà trường chuyên ngành; áp dụng các phương
pháp quản lý tài chính hiện đại, tiên tiến.
- Học viện Tư pháp phải thường xuyên nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
của cán bộ, nhân viên trong đơn vị: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật về quản lý tài chính cho cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp. Xây dựng môi trường làm việc tuân thủ pháp luật.
2.4.2 Thường xuyên tăng cường kiểm tra, giám sát công tác quản lý tài chính
Kiểm tra, giám sát báo cáo quyết toán các khoản thu-chi là một trong những
công cụ quan trọng đối với công tác quản lý tài chính. Học viện Tư pháp phải nhận
thức đầy đủ và đánh giá đúng vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động kiểm soát thu
chi trong công tác quyết toán, trong đó:
- Duy trì và thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của Phòng TCKT: là
đơn vị trực tiếp tham mưu cho Ban giám đốc Học viện, đồng thời trực tiếp giải
quyết tất cả các hoạt động liên quan đến vấn đề tài chính của Học viện, do đó phải
thường xuyên nâng cao trách nhiệm trong kiểm soát nội bộ chặt chẽ các chứng từ,
đối chiếu kho bạc, công nợ… Trường hợp có sai lệch phải khẩn trương báo cáo
Ban giám đốc Học viện, có nhiệm vụ xác định nguyên nhân và khắc phục theo quy
định hiện hành.
+ Chế độ báo cáo tài chính của Học viện phải đảm bảo được thực hiện nghiêm túc, cẩn trọng với đầy đủ biểu mẫu. Đặc biệt, nội dung báo cáo tài chính để công khai cho toàn thể cán bộ, công chức viên chức nhà trường phải có bản thuyết minh kèm theo, một mặt thể hiện tính minh bạch, mặt khác giúp cán bộ, viên chức hiểu rõ tình hình tài chính của trường.
+ Học viện cần xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức tuyên truyền phổ biến và quán triệt đến toàn thể cán bộ công chức viên chức về ý thức tiết kiệm góp phần
54
nâng cao hiệu quả lao động trong quản lý tài chính. Bên cạnh đó, cũng cần có chính
sách khuyến khích, động viên kịp thời đối với những cán bộ làm công tác quản lý
tài chính, công tác kế toán như xét nâng lương trước thời hạn, chế độ phụ cấp đặc thù được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ.
- Triển khai hiệu quả hoạt động của Ban thanh tra nhân dân nhằm tăng cường
kiểm tra, giám sát công tác quản lý tài chính tại Học viện. Để hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp, trước hết
phải chú trọng hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Học viện. Muốn vậy, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tài chính của Học viện Tư
pháp: Lập kế hoạch kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính định kỳ và đột xuất. Thực
hiện kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính theo kế hoạch đã được phê duyệt. Xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động quản lý tài chính. Tăng cường phối hợp với các
cơ quan quản lý nhà nước: Báo cáo hoạt động quản lý tài chính cho các cơ quan quản
lý nhà nước theo quy định. Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý
vi phạm. Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện Tư pháp cần thường xuyên quan tâm và
chú trọng đến công tác quản lý tài chính tại Học viện, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ
phận quản lý tài chính thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao: Thường xuyên
kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý tài chính và kịp thời xử lý các vi phạm.
2.4.3 Chủ động duy trì và nâng cao chất lượng công tác thu-chi
Trong giai đoạn tiếp theo, dự báo tình hình thế giới sẽ tiếp tục diễn biến phức
tạp, khó dự báo. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư diễn biến nhanh, đột phá, tác động sâu rộng và đa
chiều đến hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế toàn cầu. Trong nước, mặc dù đã đạt
được những thành tựu to lớn, song nền kinh tế vẫn còn những tồn tại, hạn chế và
tiềm ẩn nhiều rủi ro; năng lực tiếp cận nền kinh tế số, xã hội số còn hạn chế. Bối cảnh đó mở ra cơ hội, tiềm năng cho việc tiếp cận các kinh nghiệm và công nghệ hiện đại trong lĩnh vực quản lý tài chính- ngân sách. Học viện phải đổi mới tư duy phát triển, thay đổi cách làm việc, đẩy mạnh cải cách thể chế, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thực hiện quyết liệt chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, thực hiện kiểm soát thu chi theo kết quả thực hiện
nhiệm vụ,... để nhanh chóng bứt phá, rút ngắn khoảng cách với khu vực và thế giới.
Để bắt kịp tình hình trong nước và thế giới trước những cơ hội và thách thức
55
ở phía trước. Với nguồn thu như hiện nay, Học viện Tư pháp được giao là đơn vị sự
nghiệp tự đảm bảo chi thường xuyên tiến tới tự chủ chi đầu tư thì việc đảm bảo tài
chính để hoạt động là điều hết sức quan trọng. Ý thức được điều này, Học viện cần phải tăng cường công tác tuyển sinh, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đảm
bảo khi ra trường học viên được trang bị đầy đủ kiến thức nghề và kiến thức xã hội
để hành nghề một cách độc lập tốt nhất. Chất lượng dịch vụ cũng phải đổi mới hơn.
Chú trọng cơ chế quản lý nguồn vốn của Học viện, có cơ chế quản lý, phân
bổ nguồn vốn hiệu quả. Tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính. Thường xuyên cập nhật chế độ, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn về công tác tài chính.
Trước tình hình nguồn học viên có thể ngày càng giảm do nhiều nguyên nhân
chủ quan và khách quan, ảnh hưởng lớn đến nguồn thu của Học viện Tư pháp. Yêu cầu phải đưa ra được các giải pháp để duy trì nguồn thu như hiện nay và gia tăng
nguồn thu tạo tích lũy tài chính vững chắc cho Học viện trong bối cảnh tự chủ. Thay
vì hiện nay Học viện tập trung đào tạo, bồi dưỡng các chức danh ở trụ sở chính Hà
Nội và cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh thì cần đẩy mạnh hơn nữa liên kết đào tạo với
các địa phương để thu hút tối đa nguồn học viên tại chỗ và các vùng lân cận; tăng thu
học phí theo lộ trình; đa dạng hóa các danh đào tạo chung; xây dựng đề án trình cấp
trên về sự cần thiết đào tạo tập trung hai chức danh Thẩm phán và Kiểm sát viên như
trước đã được giao nhiệm vụ thay vì giao về cho Tòa án Nhân dân tối cao và Viện
kiểm sát Nhân dân tối cao như hiện nay.
Phần 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. ĐỀ XUẤT TỔ CHỨC THỰC HIỆN
3.1.1 Bối cảnh thực hiện quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp
Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2015 của Bộ Chính trị khóa XII về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh, Bộ Chính trị đã xác định phương hướng “Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm
lớn về đào tạo cán bộ tư pháp”. Thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngày 08 tháng 11 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng Học viện Tư pháp
thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp” theo Quyết định số 2083/QĐ-
56
TTg ngày 08 tháng 11 năm 2013. Ngày 28 tháng 7 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp đã ký Quyết định số 1764/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện
Quyết định số 2083/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Cùng với sự phát triển của Học viện Tư pháp theo các chủ trương, định
hướng lớn của Đảng và Nhà nước, hoạt động quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp
đã và đang có một số thuận lợi căn bản như sau:
Thứ nhất, trong thời gian vừa qua, công tác đào tạo các chức danh tư pháp,
bổ trợ tư pháp đã đạt được nhiều thành tích ấn tượng như: quy mô đào tạo tăng trưởng mạnh mẽ; Học viện đã xây dựng và triển khai thực hiện 02 chương trình đào
tạo mới là đào tạo chung nguồn thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư và đào tạo luật sư
thương mại quốc tế; xây dựng mới toàn bộ các chương trình đào tạo, chuyển đổi từ chương trình đào tạo theo niên chế sang chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ;
xây dựng mới toàn bộ hệ thống giáo trình, tài liệu, hồ sơ tình huống cho các chương
trình đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; nghiên cứu và đưa vào áp dụng
các phương pháp đào tạo, bồi dưỡng tiên tiến, hiện đại nhằm đảm bảo và không
ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu
và giảng viên thỉnh giảng cả về số lượng và chất lượng.
Thứ hai, trong giai đoạn hiện nay, hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp,
bổ trợ tư pháp của Học viện Tư pháp đặt trong bối cảnh đang có những thay đổi đòi
hỏi hoạt động đào tạo cần được tiếp tục đổi mới. Cụ thể là: (i) Hoạt động đào tạo
các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp của Học viện Tư pháp được thực hiện trong
bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực, khẩn trương triển khai thực
hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với nhiều chủ
trương, định hướng lớn về con đường phát triển của đất nước trong giai đoạn hội
nhập quốc tế sâu rộng, đất nước ta đang đứng trước những vận hội mới. Về xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp, Nghị quyết Đại hội Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương, định hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả; tiếp tục cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp của Học viện Tư
pháp được thực hiện trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng
57
trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật và tư pháp. Kết quả hội
nhập kinh tế, quốc tế ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, hoạt động thương mại, đầu
tư quốc tế tại Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và đa dạng hơn về hình thức, lĩnh vực hoạt động, trong đó có các hoạt động tương trợ, hợp tác về tư pháp.
Bên cạnh đó, hoạt động quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp trong điều
kiện tự chủ cũng phải đối mặt với một số thách thức cần sớm vượt qua. Đó là:
Một là, tranh chấp dân sự, thương mại, đầu tư có yếu tố nước ngoài cũng
ngày càng gia tăng. Số lượng các tranh chấp thương mại quốc tế, yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài rất phức tạp về tính chất
và ngày càng tăng. Mặc dù đội ngũ cán bộ tư pháp giải quyết các tranh chấp có
yếu tố nước ngoài ngày càng được tăng cường về năng lực, tuy nhiên, nhiều cán bộ tư pháp của Việt Nam chưa tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm, đặc biệt là
kiến thức áp dụng pháp luật quốc tế khi giải quyết các loại vụ việc tranh chấp
thương mại. Hội nhập quốc tế đòi hỏi đội ngũ cán bộ pháp luật nói chung và các
chức danh tư pháp nói riêng phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ
chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ, kỹ năng tin học, ứng dụng công nghệ
thông tin, có kiến thức chuyên sâu về pháp luật quốc tế hoặc đã từng tham gia
các vụ việc tranh chấp quốc tế. Từ đó, đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác
đào tạo các chức danh tư pháp.
Hai là, hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp của Học
viện Tư pháp chịu tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nhiều thành tựu quan trọng về khoa
học, cộng nghệ mà trụ cột là trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu
lớn (Big Data), chuỗi khối (blockchain) tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời
sống trong đó có giáo dục đào tạo. Xu thế phát triển nền giáo dục 4.0 làm thay đổi tích cực về mục tiêu và cách thức giáo dục đào tạo nói chung và các chức danh tư pháp nói riêng. Người dạy chuyển sang vai trò mới là người thiết kế, xúc tác, cố vấn và tạo môi trường học tập. Với nội dung học tập được số hóa, người học sẽ có một lộ trình học tập riêng, có thể lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đào tạo. Hệ thống học tập số hóa đặt ra yêu cầu mới về nguyên lý, phương
thức, chất lượng, hiệu quả đào tạo các chức danh tư pháp. Trong bối cảnh đó,
việc xây dựng, hoạch định những định hướng chiến lược để đổi mới hoạt động
đào tạo các chức danh tư pháp gắn liền với việc thực hiện định hướng đổi mới
58
căn bản, toàn diện nền giáo dục nước ta và hướng tới xây dựng nguồn nhân lực
tư pháp đáp ứng mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, cải cách tư pháp theo định hướng của Đại hội XIII là yêu cầu cấp thiết.
Trên cơ sở nhận thức về bối cảnh nêu trên, đánh giá toàn diện nhu cầu đào
tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp trong thời gian tới và tổng kết việc thực
hiện Đề án 2083 với những đánh giá chính xác, khách quan về cả những ưu điểm và
những hạn chế, Học viện Tư pháp đã xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê
duyệt Đề án “Tiếp tục xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp” với mục tiêu kết nối, phát huy được những thành quả, khắc phục
được những hạn chế của giai đoạn trước, tránh gây lãng phí những nguồn lực đã tạo
dựng được, đồng thời đề ra được những mục tiêu, nhiệm vụ mới phù hợp với bối cảnh mới của giai đoạn 2021 - 2030.
Mục tiêu của việc tiếp tục xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn
về đào tạo các chức danh tư pháp được xác định gồm:
- Khẳng định vị trí, vai trò của Học viện Tư pháp là trung tâm lớn về đào
tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, công chức, viên chức thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, cán
bộ làm công tác pháp luật, pháp chế của các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá
nhân khác có nhu cầu. Đến năm 2030, Học viện Tư pháp thực sự trở thành trung
tâm lớn, có uy tín trong đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, công
chức, viên chức, cán bộ làm công tác pháp luật, pháp chế ở Việt Nam và có vị trí
xứng tầm trong khu vực.
- Tiếp tục thực hiện một số mục tiêu, nhiệm vụ tại Đề án “Xây dựng Học
viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp” được phê duyệt
theo Quyết định số 2083/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở có sự điều chỉnh hợp lý; đồng thời bổ sung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mới phù hợp với bối cảnh và yêu cầu thực tiễn trong thời gian tới.
- Tổng quy mô đào tạo đến năm 2030 đối với các chức danh đang tổ chức đào tạo (chấp hành viên, luật sư, công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên, đào tạo chung nguồn thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư) đạt khoảng 28.000 - 31.000
người (trung bình khoảng 3.200 - 3.500 người/năm). Trong đó, giảm dần số lượng
59
đào tạo trong giai đoạn 2026 -2030 để tập trung nâng cao chất lượng đào tạo (tăng
cường đào tạo chất lượng cao) và phù hợp với nhu cầu xã hội.
- Tổng quy mô đào tạo đến năm 2030 đối với các chức danh mới (thẩm tra viên thi hành án dân sự, thư ký thi hành án dân sự, đăng ký viên giao dịch bảo đảm,
trợ giúp viên pháp lý, thư ký nghiệp vụ thừa phát lại, trọng tài viên thương mại, hòa
giải viên thương mại, công chức tư pháp - hộ tịch, quản tài viên) đạt khoảng 2.700
người (trung bình 300 người/năm).
- Tổng quy mô bồi dưỡng đến năm 2030 đối với công chức, viên chức ngành Tư pháp và đội ngũ làm công tác pháp luật, pháp chế, đội ngũ hành nghề tư pháp
(công chứng, luật sư, thừa phát lại, hoà giải viên thương mại…) đạt khoảng 45.000
người (5.000 lượt người học/năm).
- Đột phá trong nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, coi đây là lợi thế
cạnh tranh, xây dựng thương hiệu, đồng thời xác định chất lượng đào tạo là tiêu chí
chủ yếu để xác định Học viện Tư pháp là trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư
pháp ở Việt Nam.
3.1.2 Phân công trách nhiệm thực hiện quản lý tài chính tại Học viện
Tư pháp
Phân công rõ ràng trách nhiệm quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp là việc
làm cần được tiến hành thường xuyên và liên tục; nhấn mạnh việc phân công trách
nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, bộ phận, phòng ban trong việc thực hiện các công
việc quản lý tài chính; xây dựng quy trình phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận,
phòng ban liên quan trong hoạt động quản lý tài chính. Trong đó:
- Ban Giám đốc Học viện: Ban hành các chiến lược, chính sách, quy định về
quản lý tài chính Học viện. Phê duyệt phương án hoạt đông tạ. Quyết định các vấn đề quan trọng về tài chính của Học viện theo quy định hiện hành.
- Ban Thanh tra nhân dân Học viện: Giám sát việc thực hiện kế hoạch tài chính. Giám sát việc thu chi, thanh toán, quản lý tài sản, vốn Học viện; Giám sát việc thực hiện các quy định về kế toán, kiểm toán tại đơn vị; Phát hiện và kiến
nghị Ban lãnh đạo khắc phục các vi phạm trong hoạt động quản lý tài chính. Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ hoạt động tài chính; Thực hiện kiểm tra nội bộ hoạt
động thu chi, thanh toán, quản lý tài sản, vốn; Thực hiện kiểm tra nội bộ việc
60
thực hiện các quy định về kế toán, kiểm toán; Báo cáo kết quả kiểm tra nội bộ
cho Ban lãnh đạo và cơ quan quản lý nhà nước theo quy định; Thẩm định báo
cáo tài chính trước khi trình cơ quan quản lý nhà nước phê duyệt; Báo cáo ý kiến về tính hợp pháp, trung thực và đầy đủ của báo cáo tài chính cho cơ quan quản lý
nhà nước theo quy định.
- Giám đốc Học viện: Chịu trách nhiệm trước Học viện về công tác quản lý
tài chính; tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách, quy định về quản lý tài
chính của Học viện; Phê duyệt các phương án hoạt động theo thẩm quyền; Báo cáo Ban giám đốc Học viện về tình hình công tác quản lý tài chính của Học viện định
kỳ và đột xuất theo yêu cầu.
- Phó Giám đốc Học viện phụ trách tài chính: Giúp Giám đốc thực hiện công tác quản lý tài chính của Học viện; báo cáo Giám đốc về tình hình quản lý tài chính
của Học viện định kỳ và đột xuất theo yêu cầu.
- Phòng TCKT: Là đơn vị chuyên trách có chức năng tham mưu cho Giám đốc
Học viện về công tác quản lý tài chính; Tổ chức thực hiện các công việc cụ thể về
quản lý tài chính như: lập kế hoạch tài chính, dự toán ngân sách, quản lý thu chi,
thanh toán, kiểm soát nội bộ, theo dõi tình hình tài chính; Báo cáo Giám đốc Học
viện về tình hình quản lý tài chính định kỳ và đột xuất theo yêu cầu.
- Các phòng, khoa và đơn vị khác trong Học viện: Phối hợp với Phòng
TCKT trong việc thực hiện công tác quản lý tài chính theo đúng quy định của Nhà
nước, cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, số liệu liên quan đến hoạt động tài
chính của đơn vị cho Phòng TCKT; thường xuyên rà soát, bổ sung kịp thời các văn
bản liên quan của đơn vị nhằm bảo đảm hoạt động thu chi đúng quy định.
3.2 Một số kiến nghị
3.2.1 Đối với Bộ Tư pháp
- Đẩy mạnh cải cách khung pháp lý: Đề xuất hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến quản lý tài chính, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, đồng bộ cho các ĐVSNCL thực hiện quyền tự chủ, nhất là những nội dung mang tính chất riêng của
những đơn vị đào tạo nghề đặc thù như Học viện Tư pháp.
- Tăng cường hướng dẫn cụ thể về chế độ quản lý tài chính: Tập trung cung
cấp hướng dẫn chi tiết về chế độ kế toán, quản lý tài chính cho các ĐVSNCL thực
61
hiện quyền tự chủ tài chính, giúp đơn vị tực hiện một cách hiệu quả và chính xác.
Thường xuyên hướng dẫn, cung cấp các hướng dẫn chi tiết về quy trình quản lý tài
chính, từ thu, chi đến báo cáo tài chính, nhằm giúp các đơn vị thực hiện một cách nhất quán và hiệu quả.
- Thúc đẩy tự chủ tài chính: Nghiên cứu, xem xét sửa đổi các quy định liên
quan đến cơ chế tự chủ tài chính, tạo điều kiện cho các đơn vị tăng cường trách
nhiệm và quyền hạn trong quản lý tài chính.
- Tăng cường hỗ trợ đào tạo và phát triển năng lực: Tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về quản lý tài chính cho cán bộ tại các ĐVSNCL, nâng cao năng
lực chuyên môn.
- Phát triển nguồn thu đa dạng: Thường xuyên Hỗ trợ các đơn vị trong việc xây dựng các phương án phát triển nguồn thu bền vững và hợp pháp, giảm phụ
thuộc vào ngân sách nhà nước.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin: Khuyến khích các ĐVSNCL áp
dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài chính, bao gồm hệ thống phần mềm
quản lý tài chính hiện đại.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát: Giao Thanh tra Bộ Tư pháp thành lập các
đoàn kiểm tra độc lập để giám sát, đánh giá việc thực hiện các quy định tài chính tại
các ĐVSNCL, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.
- Định kỳ rà soát và đánh giá: Giao Vụ Kế hoạch-Tài chính định kỳ rà soát,
đánh giá hiệu quả của các chính sách tài chính hiện hành, từ đó có điều chỉnh phù
hợp. Rà soát và sửa đổi chính sách: Đề nghị xem xét, điều chỉnh các chính sách hiện
hành về quản lý tài chính để đảm bảo phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của các đơn
vị sự nghiệp có thu.
3.2.2 Đối với cơ quan Trung ương
- Hoàn thiện thể chế các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý tài chính trong các ĐVSNCL nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong công tác quản lý tài chính, đảm bảo chặt chẽ, minh bạch, đúng quy định.
- Thực hiện phân cấp, phân quyền trên tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các bộ, ngành địa phương trong công tác quản lý tài chính trong các ĐVSNCL
62
- Chính phủ và các Bộ chủ quản cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật hướng dẫn quản lý tài chính trong các ĐVSNCL.
- Chính phú và các bộ ngành thường xuyên tiến hành rà soát, hoàn thiện hệ
thống văn bản pháp quy về quản lý tài chính trong các ĐVSNCL.
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán, giám sát việc chấp hành các quy
định về quản lý tài chính trong các ĐVSNCL: Kiểm soát chặt chẽ mục tiêu, hiệu
quả sử dụng các nguồn ngân sách thu-chi, tài sản công, quản lý và sử dụng tài chính
theo đúng các quy định của pháp luật.
- Xây dựng bộ tiêu chí khung chuẩn về quy trình quản lý tài chính trong các
ĐVSNCL, trong đó quy định rõ thứ tự thực hiện từng khâu trong quá trình phê
duyệt và thực hiện dự toán để làm căn cứ giám sát; trong mỗi khâu của quá trình quản lý vốn, cần đưa ra các hướng dẫn đánh giá cụ thể nhằm xác định, phân tích,
đánh giá hàng năm, tạo cơ sở cải thiện chất lượng từng khâu, quan trọng nhất là các
tiêu chí dành riêng cho các khâu yếu kém.
- Khuyến khích hợp tác công tư: Xây dựng cơ chế khuyến khích hợp tác giữa
nhà nước và khu vực tư nhân trong các hoạt động quản lý tài chính, tăng cường
nguồn lực cho các ĐVSNCL.
63
KẾT LUẬN
Quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp là một trong những nội dung quan
trọng trong công tác quản lý chung của các trường đại học công lập nói chung. Vấn đề quản lý tài chính luôn được sự quan tâm của những người làm công tác giáo dục
đào tạo. Trong phạm vi đề tài sau khi hệ thống một số vấn đề lý luận chung quản lý
tài chính trong ĐVSNCL, vấn đề quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp được phân
tích trên các khía cạnh về cơ chế quản lý, nội dung quản lý tài chính tại trường. Nội
dung quản lý tài chính tại Học viện Tư pháp được phân tích cụ thể ở nội dung: lập dự toán thu- chi tài chính, đồng thười phản ánh việc thanh, kiểm tra giám sát hoạt
động tài chính tại Học viện Tư pháp. Từ đó rút ra được những kết quả đạt được,
những hạn chế và nguyên nhân để đưa ra các giải phap hoàn thiện quản lý tài chính. Giải pháp khai thác nguồn thu và sử dụng nguồn tài chính một cách hợp lý, hoàn
thiện quy chế tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ hàng năm cho phù hợp.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng cũng không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định khi thực hiện đề tài. Kính mong nhận được
sự đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm để đề án được
hoàn chỉnh hơn./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật NSNN (số
83/2015/QH13 năm 2015)
2. Chính phủ (2021), Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy
định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập
3. Phạm Văn Khoan, Phạm Thị Hoàng Phương (2016), Giáo trình
Quản lý tài chính công
4. Học viện Tư pháp, Báo cáo công khai tài chính năm 2021, năm
2022, năm 2023
5. Học viện Tư pháp, Báo cáo tài chính Học viện Tư pháp năm 2021,
năm 2022, năm 2023
6. Học viện Tư pháp, Dự toán ngân sách nhà nước của Học viện Tư
pháp năm 2021, năm 2022 và năm 2023
7. Học viện Tư pháp, Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh
doanh, cho thuê tại Học viện Tư pháp năm 2021
8. Học viện Tư pháp (2022), Phương án tự chủ tài chính của Học viện
Tư pháp giai đoạn 2023-2027
9. Học viện Tư pháp (2022), Đề án “Tiếp tục xây dựng Học viện Tư
pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp” 10. Học viện Tư pháp (2022), Kỷ yếu 25 năm Học viện Tư pháp 11. Học viện Tư pháp (2023), Quy chế chi tiêu nội bộ 12. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2020), “Quản lý tài chính theo cơ chế tự
chủ tại Trung tâm y tế huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”
13. Phạm Thị Hoa (2023), “Quản lý tài chính tại trường Đại học Tài
nguyên môi trường”
14. Nguyễn Thị Kim (2019), “Quản lý tài chính tại trường cao đẳng sư
phạm Lạng Sơn”.

