
QUAN NIỆM CỦA I.KANT VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢO (*)
Để làm rõ quan điểm triết học lịch sử của I.Kant nói chung, quan niệm của ông
về động lực phát triển của lịch sử nhân loại nói riêng, trong bài viết này, tác
giả đã đưa ra và luận giải tư tưởng, luận điểm của ông về: 1) Các phương tiện,
phương thức đạt tới trạng thái lý tưởng của nhân loại; 2) Tự do cá nhân; 3)
Đối kháng xã hội và vai trò tích cực của cái ác trong lịch sử nhân loại; 4) Vai
trò của văn hoá trong phát triển xã hội.
Chúng ta đều biết, triết học I.Kant đóng một vai trò quan trọng trong việc khái
quát về mặt lý luận những cơ sở của xã hội và của tồn tại người, tức hệ thống
những giá trị tinh thần của xã hội phương Tây, trong điều kiện phát triển của
nền văn minh công nghiệp. Không chỉ thế, triết học của ông còn mở ra một giai
đoạn phát triển quan trọng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại - giai đoạn
triết học cổ điển Đức, giai đoạn thể hiện trong nó mọi mặt tích cực và tiêu cực
của nền văn minh công nghiệp và do vậy, nó đã trở thành một trong những tiền
đề lý luận của triết học Mác – triết học đã chỉ ra phương thức khắc phục những
hạn chế lịch sử mang tính nguyên tắc của nền văn minh công nghiệp và vạch ra
con đường dẫn đến một loại hình văn minh hơn, nhân văn hơn.
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong công cuộc này, việc
tiếp thu có sàng lọc những giá trị tinh thần chung của nhân loại và phương Tây,
có thể coi là cần thiết. Do vậy, việc nghiên cứu quan điểm triết học lịch sử của
I.Kant nói chung, quan niệm của ông về động lực phát triển của lịch sử nói
riêng không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Đây
cũng chính là mục đích của bài viết này.

Có thể nói, những tư tưởng của I.Kant về các phương tiện, phương thức đạt tới
trạng thái lý tưởng của nhân loại là rất quan trọng. Luận chứng cho lý tưởng
đạo đức – pháp lý và chính trị của mình, I.Kant đã đưa ra những luận điểm mà
sau đó được Hêghen hoàn thiện trong luận điểm về “tính ranh mãnh của lý tính
lịch sử” với tư cách là lý tính sử dụng các cá nhân cùng với lý tính hữu hạn của
họ trong một “trò chơi” mà họ không hiểu. Theo I.Kant, những con người riêng
biệt, thậm chí, cả một dân tộc ít khi nghĩ về việc họ phải theo đuổi một mục
đích nào đó và do vậy, họ cũng ít khi nghĩ về việc phải làm thế nào để đạt được
mục đích đó, để thúc đẩy mục đích đó; thậm chí cả khi biết rõ mục đích đó là gì
thì họ cũng ít quan tâm đến nó(1).
Vấn đề dung hợp các quy luật phát triển khách quan, có mục đích của xã hội
với hoạt động tự do, mang tính chủ quan của con người luôn đòi hỏi phải được
giải quyết. Nỗ lực né tránh định mệnh luận, nhưng I.Kant cũng buộc phải thừa
nhận sự tác động mang tính định mệnh của lực lượng “đạo đức thần thánh” siêu
việt, không chịu sự chi phối của ý chí con người. Thí dụ, ông nhận xét: “Khi tôi
nói về tự nhiên rằng, nó muốn một cái gì đó diễn ra, thì điều này không có
nghĩa là tự nhiên đã trao cho chúng ta bổn phận làm việc đó (chỉ có lý tính thực
tiễn tự do mới có thể trao cho chúng ta nghĩa vụ). Tự nhiên tự làm điều đó, cho
dù chúng ta có muốn hay không muốn”(2).
Suy luận của I.Kant ở đây là suy luận trong khuôn khổ của một trong những
phản đề mà ông đã đưa ra. Phản đề đó là: Tự do kinh nghiệm với tư cách tự do
chỉ dẫn đến sự đối kháng hoàn toàn giữa người với người, đối lập với tự do đạo
đức với tư cách tự do đòi hỏi phải dung hoà tự do của một cá nhân với tự do
của những cá nhân khác. Chính phản đề này, theo I.Kant, là cái đảm bảo công
bằng cho xã hội dân sự.
I.Kant cho rằng, tự do với tư cách tự do theo kiểu cá nhân chủ nghĩa, được biểu
thị qua luận điểm: “Tôi muốn gì thì tôi làm nấy”. Bên cạnh đó, còn có một thứ
tự do khác. Đó là tự do khi con người “chỉ phục tùng sự lập pháp riêng của

mình và đồng thời cũng là sự lập pháp chung”, khi “con người có nghĩa vụ
hành động phù hợp với ý chí riêng của mình, song ý chí này lại xác lập các qui
tắc chung một cách phù hợp với mục đích của tự nhiên”(3). Với quan niệm đó,
I.Kant cho rằng, hai thứ tự do đối lập với nhau này, lúc đầu còn có thể dung hoà
được trong một hệ thống xã hội thống nhất, nhưng sau đó, tự do đạo đức hoàn
toàn giành thắng lợi trong cuộc sống con người, “giống như kế hoạch hoàn
toàn bí ẩn của tự nhiên - thực hiện một chế độ nhà nước vốn dĩ là hoàn hảo và
cũng là ngoại tại đối với mục đích ấy như một trạng thái mà trong đó, tự nhiên
có thể phát triển đầy đủ những mầm mống được nó đưa vào xã hội loài
người”(4).
I.Kant đã chứng minh kết luận lạc quan này một cách không đầy đủ do nhị
nguyên luận của chính ông. Cả Hêghen cũng không thể hoàn toàn khắc phục
được nhị nguyên luận trong vấn đề này. Sau này, chỉ có chủ nghĩa duy vật biện
chứng, như chúng ta đều biết, mới giải quyết được triệt để vấn đề mối quan hệ
giữa tự do và tất yếu, giữa con người và xã hội.
Một vấn đề đặc biệt quan trọng được I.Kant đặt ra là vấn đề đối kháng xã hội.
Khi cho rằng, với tư cách thực thể của thế giới kinh nghiệm, con người không
thể chỉ hoàn toàn tuân thủ “mệnh lệnh tuyệt đối” trong hành động của mình ở
một thời điểm cụ thể và trong tương lai; rằng, lối ứng xử như vậy với toàn bộ
tính toàn vẹn của nó là sự “thần thánh” mà chúng ta chỉ có thể chờ đợi ở Chúa,
I.Kant vẫn tìm ra phương tiện để đạt tới các mục đích mà ông đề ra cho lịch sử
nhân loại. Chính ông đã đưa ra tư tưởng biện chứng về sự vận động trong xã
hội thông qua việc giải quyết mâu thuẫn không ngừng xuất hiện giữa người với
người. Khi cho rằng, các mặt đối lập hiện thực không thủ tiêu lẫn nhau nhờ
tương tác với nhau, chúng đem lại một kết quả trung lập nhưng hoàn toàn quan
trọng, I.Kant đã đi đến kết luận: con người có thể định hướng các thiên hướng
vị kỷ trái ngược nhau đó “để mỗi một thiên hướng hoặc là kiềm chế tác động
phá huỷ của thiên hướng khác, hoặc là thủ tiêu tác động ấy”(5). Rằng, xung đột

giữa lợi ích cá nhân có thể vô hiệu hoá lẫn nhau để kết quả của hành vi xã hội
không phụ thuộc vào sự hiện diện hay không hiện diện một cách “ác ý” ở mọi
người.
I.Kant đã tổng kết những suy tư của mình theo hướng này một cách thực sự
tuyệt vời: “ Cái ác đạo đức có một thuộc tính không tách rời bản chất của mình
là, xét về các mục đích của mình (đặc biệt là đối với những người khác cũng có
lối suy nghĩ như vậy), nó luôn có mâu thuẫn nội tại và tự huỷ diệt và do vậy,
mặc dù diễn ra một cách chậm chạp, nhưng nó tất yếu nhường chỗ cho cái thiện
đạo đức”(6).
Tư tưởng này của I.Kant về vai trò tích cực của cái ác trong lịch sử loài người
đã chuẩn bị cho kết luận về tính tương đối của các nhân tố tích cực và tiêu cực,
về sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong lịch sử. Chính Hêghen
cũng đã xây dựng triết học lịch sử của mình dựa trên tư tưởng này. Tiếp tục
phát triển tư tưởng của I.Kant, Hêghen viết: “Không ở đâu lại cần đến nhận
thức mang tính dung hoà ấy (của tinh thần đang tư duy với cái ác –N.T.H.) như
trong lịch sử toàn cầu. Sự dung hoà này chỉ có thể đạt được bằng con đường
nhận thức cái tích cực mà ở đó, cái tiêu cực dần biến mất khi trở thành một cái
gì đó lệ thuộc và vốn được khắc phục, một phần, nhờ ý thức về cái thực sự là
mục đích tối hậu của thế giới, và phần khác, nhờ ý thức rằng mục đích tối hậu
được thực hiện trong thế giới và rốt cuộc, cái ác không thể duy trì được ý nghĩa
của mình bên cạnh cái mục đích tối hậu ấy của thế giới”(7). Tư tưởng này của
I.Kant đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đánh giá cao(8).
Không chỉ thế, với quan niệm về vai trò tích cực của cái ác trong lịch sử loài
người, I.Kant còn cho rằng, “phương tiện mà tự nhiên sử dụng để phát triển mọi
năng lực của con người - đó là đối kháng giữa họ trong xã hội, bởi rốt cuộc, nó
trở thành nguyên nhân tạo ra pháp chế của họ”(9).
Theo đó, có thể nói, những tư tưởng này của I.Kant chính là một thử nghiệm

nhằm giải phóng mục đích tối cao, “đạo đức thần thánh” khỏi tính thần bí và
tìm ra con đường dẫn tới trạng thái mà trong đó, những lợi ích đối lập của các
cá nhân xung đột với nhau sẽ dẫn đến một kết quả mới.
Như chúng ta đã rõ, bất cứ thành tố nào của hệ thống cũng phải phục tùng các
hoạt động của hệ thống đó; nó chỉ thể hiện tính độc lập của mình trong khuôn
khổ của mức độ tự do mà hệ thống với tư cách chỉnh thể dành cho nó. Tương tự
như vậy, bất cứ tư tưởng riêng biệt nào trong thành phần của một hệ thống triết
học cũng chỉ bộc lộ nội dung của mình trong khuôn khổ được các nguyên lý cơ
bản của toàn bộ hệ thống cho phép.
Chính vì hiểu rõ điều đó, nên khi nhận thấy tư tưởng về các mâu thuẫn của lợi
ích xã hội với tư cách phương thức vận động của xã hội theo con đường tiến bộ
có thể dẫn đến sự phá vỡ toàn bộ hệ thống của mình, I.Kant không thể không
giả định rằng, tư tưởng này chỉ có thể triển khai và hiện thực hoá trong các điều
kiện xã hội khác. Và, cũng do vậy, I.Kant đã đưa tư tưởng này vào cái vỏ lược
đồ truyền thống của ông: thế giới noumen (bản chất) siêu việt trao cho con
người quyền tự giải quyết vấn đề đạt tới trạng thái lý tưởng (“vương quốc mục
đích”) nhờ sử dụng “thiên hướng giao tiếp” mà nhìn chung, luôn đi liền với sự
phản kháng của nhiều người và thường xuyên đe doạ sự ổn định của xã
hội”(10). Để làm được điều đó, theo I.Kant, tự nhiên cần ban tặng cho loài
người mọi phẩm chất cần thiết để con người có thể tự tạo ra mọi cái cần thiết
cho cuộc sống của họ, ngoài việc tổ chức sinh hoạt một cách máy móc, để họ
xứng đáng với hạnh phúc hay sự hoàn hảo mà họ tự sáng tạo ra một cách không
phụ thuộc vào bản năng và lý tính của mình... Rằng, tự nhiên không muốn để
con người phải tuân thủ bản năng hay được đảm bảo nhờ những hiểu biết bẩm
sinh và buộc phải thích nghi với chúng, tự nhiên muốn con người tạo ra mọi cái
từ bản thân mình, từ việc tìm kiếm phương tiện sinh tồn, quần áo, nhà cửa đến
việc đảm bảo an ninh bên ngoài... Tự nhiên luôn mong muốn con người tự làm
cho cuộc sống của mình trở nên dễ chịu. Thậm chí, cả sự sáng suốt, trí tuệ và

