Quy luật nhận thức Marketing là cuộc
chiến về nhận thức
Họ phân tích tình hình để tin chắc rằng mình nhn định đúng. Sau đó, họ tự
tin giương cờ tiến vào chiến trường marketing, với niềm tin rằng mình cung
cấp sản phẩm tốt nhất, và sản phm tốt nhất này sẽ giành chiến thắng.
Nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Khôngyếu tố khách quan nào đây cả. Không
có dliu thực tế nào c. Cũng không có sản phm nào là sản phẩm tốt nhất
c! Tất cnhững gì tồn tại trong thế gii marketing chỉ là nhận thức – cái tn
tại trong ý thức khách hàng tim năng. Nhn thức ca khách hàng mới chính
là thực tế và quan trng nhất. Tất cả những cái khác đều là ảo tưởng.
Mọi chân đều mang tính tương đối, tùy thuộc vào nhận thức của từng cá
nhân. Khi bạn nói: “Tôi đúng, người kia sai” thực ra là bn đang khng định
nhận thức của bạn. Trong thực tế, có nhiều người luôn tự cho rằng họ có
nhận thức đúng đắn n nhng người khác. Họ có cảm giác rằng mình
không thể sai. Nhận thức ca họ chính xác hơn ca người đồng nghiệp, của
hàng xóm hay của bạn người thân. Hlầm lẫn giữa chân và nhn thức
nhân. Với họ, hai khái niệm này dường như khôngsự khác bit nào.
Nhưng việc phân biệt hai khái nim thật ra cũng không phi dễ dàng. Và để
đương đầu vi thực tế đáng sợ là mình trthành mt cá thể cô đơn trong
trụ, con người bắt đầu phản chiếu cái tôinhân của mình ra thế giới bên
ngoài. Họ “sống” trong thế giich, phim ảnh, truyền hình, báo c. H
thuộc về” những câu lạc bộ, tổ chức, đoàn thể, thể chế. Cái thế giới bên
ngoài này dường như li thật hơn chính cái thế gii tồn tại thật sự trong nhận
thức của họ. Thế nhưng thực tế duy nhất mà bnthtin tưởng một cách
chắc chắn li chính là nhận thức, là quan nim riêng của bạn. Nếu vũ trụ tồn
tại, nó tồn tại trong nhn thức của bạn. Đó là một thực tế mà các chương
trình marketing phi đối diện. Marketing chính là nghệ thuật xử lý những
quan nim, những nhn thức đó.
Nhiều sai lầm trong marketing xut phát từ ảo tưởng rằng chúng ta đang đua
tranh vchất lượng sản phẩm và cuộc đua đó gắn chặt với thực tế. Tất cả
những nguyên tắc marketing mà cuốn sách này nêu ra lại xuất phát từ quan
điểm hoàn toàn trái ngược.
Điều mà một số người làm marketing xem là “quy luật tự nhiên” của
marketing t li dựa trên giả thuyết không hoàn toàn đúng rằng chất lượng
sản phẩm là mu chốt của chiến lược marketing, và rng việc bạn thắng hoặc
thua hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm. Đó chính là lý do ti sao
những hoạt động marketing sản phẩm, được triển khai một cách tự nhiên và
hợp lô-gíc, nhưng lại không đạt hiệu qunhư mong đợi.
Chỉ có thông qua vic nghiên cứu cơ chế hình thành nhận thức khách hàng
và tập trung tất cả các chương trình marketing vào những nhn thức ấy, thì
bạn mớithể chiến thng được những hình thức marketing theo lối mòn
trước đây.
Người làm marketing chú ý nhiu đến dữ liệu thực tế bởi họ tin vào thực tế
khách quan. Hơn nữa, người làm marketing thường luôn cho rằng mình
đúng. Nếu đã nghĩ “phải có sản phẩm tốt nhất thì mi chiến thắng trong cuộc
chiến marketing”, thì bạn cũng rất dễ dàng tin rng mình đã có trong tay sản
phm tốt nhất. Ở đây, điu cần làm là hãy thay đổi quan đim của bạn.
Việc thay đổi nhận thức của khách hàng li là một vn đề khác. Sau khi có
chút ít kinh nghim sử dụng một sản phm nhất định, khách hàng khẳng
định ngay rằng hluôn đúng. Nhận thức tồn tại trong tâm trí họ thường được
diễn giải như chân lý phổ quát.
Bạn hãy xem xét tình hung sau để nhn thấy sức mạnh ca nhận thức mà
khách hàng áp đặt cho cùng một chủng loại sản phẩm.
Ở thị trường M, ba thương hiu xe hơi Nhật Bản bán chạy nhất là Honda,
Toyota và Nissan. Nhiều người làm marketing cho rằng cuộc cạnh tranh
giữa ba thương hiu này dựa trên các tiêu chí chất ng, kiểu dáng, công
suất và giá cả. Nhưng thực tế không như vy. Tiêu c quyết định thương
hiệu nào sẽ thắng thế phụ thuộc vào việc mọi người nghĩ như thế nào v
Honda, Toyota và Nissan. Rõ ràng, marketing là cuộc chiến vnhận thức.
Các nhà sản xuất xe hơi Nhật bán ra thị trường Mỹ cùng loại xe mà họ bán ở
Nhật. Nếu marketing quả thật là cuộc chiến về sản phm, bạn ắt phải nghĩ
rằng ở cả hai thị trường thứ tự về doanh thu của các hãng sẽ như nhau. Cùng
chất ng, cùng kiung, cùng công suất, và giá ctương đương sẽ cho
doanh thu tương đương nhau ở Nhật cũng như ở Mỹ. Nhưng ở Nhật,
Honda không phi là công ty hàng đầu vxe hơi. Tại đây, Honda chỉ giữ vị
trí thứ ba, sau Toyota và Nissan. Doanh số của Honda chỉ bằng 1/4 doanh số
của Toyota.
Như vy, có điều gì khác biệt giữa Honda ở Nhật và Honda ở Mỹ? Đó chính
là: sn phẩm giống nhau, nhưng nhận thức của khách hàng trên hai th
trường này lại khác nhau. Nếu bạn khoe với bạn bè mình New York rằng
bạn vừa mua một chiếc Honda, họ sẽ hỏi bạn: “Cậu mua xe hơi gì? Civic?
Accord? Prelude?”. Còn nếu bạn kể với bạn bè mình Tokyo rằng bạn đã
mua một chiếc Honda, họ sẽ hi bạn: “Cậu mua xe máy gì?” Ở Nhật, Honda
được khách hàng biết đến như một nhà sản xuất xe máy, và có vẻ như không
ai muốn mua xe hơi do một hãng chuyên về xe máy sản xuất.
Tiếp theo, bạn hãy xem xét tình hung ngược lại: Theo bạn, liu Harley-
Davidson có thành công không nếu họ sản xuất xe hơi hiệu Harley-
Davidson?thể bạn sẽ cho rng điều đó tùy thuộc vào sn phẩm mà h
cung cấp – vào chất lượng, kiu dáng, công suất, giá cả. Thm chí có khi bạn
còn tin rng uy tín ca Harley-Davidson s là một thứ giá trị giang. Nhưng
chúng tôi không nghĩ vậy. Nhận thức của khách hàng về Harley-Davidson –
đâymột công ty chuyên sản xuất mô tô” – s dìm chết chiếc xe hơi hiệu
Harley-Davidson, bất kể chiếc xe hơi đó tốt đến mức nào.
Tại sao xà phòng của Campbell là sản phẩm hàng đầu ở thị trường M mà
chẳng được chú ýAnh? Tại sao xúp Heinz thànhng ở Anh nhưng li
thất bại thm hại ở Mỹ? Vì marketing chính là nghệ thuật xử lý nhận thức
của khách hàng.
Trong lĩnh vực giải khát, nhiều người cho rằng marketing là cuộc chiến v
hương vị. Vậy thì, New Coke có vngon nhất (hãng Coca-Cola đã tiến hành
200.000 cuộc thử nghiệm và chứng minh được rằng New Coke uống ngon
hơn Pepsi-Cola, và Pepsi ngon hơn Coca-Cola Classic – công thức đầu tiên
của Coca-Cola, ngày nay được gi là Coca-Cola cổ đin). Nhưng ai đã chiến
thắng trong cuộc chiến marketing này? Thức uống mà các kết qunghiên
cứu đã chứng minh là ngon nhất New Coke – ch đứngvị trí thứ ba.
Trong khi đó, thức unghương vị kém nhất tức Coca-Cola Classic – li
dẫn đầu.
Bạn sẽ tin điều gì bn muốn tin. Bạn sẽ uống thứ gì bn muốn ung.
Marketing sản phẩm thức ung cũng là cuc chiến về quan niệm chứ không
phải cuộc đọ sức vhương vị, chất lượng. Điu khiến cho cuộc chiến trở nên
gian nan là khách hàng li thường đưa ra các quyết định mua hàng dựa theo
nhận thức của người khác về thực tế. Đây gọi là nguyên tắctất cả mi
người đều bảo như thế”.
Ai cũng bảo rằng xe hơi Nhật tốt hơn xe hơi Mỹ. Thế là người ta quyết định
mua dựa trên “thực tế” là ai cũng biết rằng Nhật Bản sản xuất xe hơi chất
lượng tốt hơn. Hầu hết khách hàng không có kinh nghiệm nhiu về sản
phm, thậm c kinh nghiệm của họ thường xuyên bị thay đổi cho phù hợp
với nhận thức của họ. Nếu bạn mua phải một chiếc xe hơi Nhật kém chất
lượng thì đấy là vì bnm may mn, bởi vì ai cũng bảo là xe Nhật tốt.
Ngược li, nếu bạn mua một chiếc xe hơi tốt của Mỹ thì: “Bn may mn
đấy!”, vì ai cũng bảo là xe Mỹ chất ng không bằng.
Mọi người đều đã biết câu chuyện xảy ra với xe hơi Audi. Ngày 23 tháng 11
năm 1986, kênh truyền hình CBS phát một chương trình dài 60 phút mang
tên “Ngi tm kiểm soát”. Chương trình này khuyến cáo mọi người lưu ý
một loạt khiếu ni vchuyn Audi “tăng tốc ngoài ý muốn”. Ngay sau đó,
lượng xe Audi tiêu thụ ở Mỹ sụt gim theo đà rơi tự do – từ 60.000 chiếc
năm 1986 xuống còn 12.000 chiếc năm 1991. Nhưng tht ra cá nhân bạn đã
bao gigặp trục trặc “tăng tốc ngoài ý mun” khi đi xe Audi chưa? Chưa
chắc! Và tất cả các chuyên gia thử xe này đều đã không tán đồng với khiếu
nại đó. Thế nhưngi quan niệm kia thì vn tồn tại dai dẳng như mt li
thách thức khó chịu cho các nhà lãnh đạo của hãng Audi. Sau đó, Audi đã
chạy qung cáo so sánh sản phm xe i của họ với các dòng xe tương tự