SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI TRƢỜNG THPT XUÂN THỌ TRƢỜNG THPT XUÂN THỌ

Mã số: ................................ Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM KHẢO SÁT NHU CẦU XÂY DỰNG PHÕNG TƢ VẤN TÂM LÝ KHẢO SÁT NHU CẦU XÂY DỰNG PHÕNG TƢ VẤN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH TRONG TRƢỜNG THPT CỦA HỌC SINH TRONG TRƢỜNG THPT

Người thực hiện: TRẦN THỊ BÍCH NHUNG

Người thực hiện: TRẦN THỊ BÍCH NHUNG

Lĩnh vực nghiên cứu:

Lĩnh vực nghiên cứu:

- Quản lý giáo dục:…………………….……. 

- Quản lý giáo dục:…………………….……. 

- Phương pháp dạy học bộ môn: .................... 

- Phương pháp dạy học bộ môn: ....................  - Lĩnh vực : Tâm lý giáo dục 

- Lĩnh vực : Tâm lý giáo dục 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN

 Mô hình  Phần mềm  Mô hình  Phần mềm

 Phim ảnh  Hiện vật khác  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2011-2012 Năm học: 2011-2012

BM02-LLKHSKKN

SƠ LƢỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1. Họ và tên: TRẦN THỊ BÍCH NHUNG

2. Ngày tháng năm sinh: 11 – 09 - 1986

3. Giới tính: Nữ

4. Địa chỉ: Tổ 3 – Thọ Tân – Xuân Thọ - Xuân Lộc – Đồng Nai

5. Điện thoại: 0908060249 Email: hoainiem1109@yahoo.com

6. Chức vụ: Giáo viên

7. Đơn vị công tác: Trường THPT Xuân Thọ

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân

- Năm nhận bằng: 2009

- Chuyên ngành đào tạo: Kỹ Thuật Nông Nghiệp

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Sinh - KTNN

Số năm có kinh nghiệm: 3

i

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

TÓM TẮT

Ngày nay với sự phát triển của xã hội, nhu cầu tư vấn tâm lý đã trở thành nhu cầu

cấp thiết trong đời sống tinh thần của mỗi người, nhưng nhu cầu này ở học sinh THPT

chưa được nhà trường quan tâm và đáp ứng thoả đáng. Vì vậy, người nghiên cứu đã

tiến hành đề tài “Khảo sát nhu cầu xây dựng phòng tư vấn tâm lý của học sinh trong

trường THPT” nơi tôi đang công tác, với mục đích thành lập phòng tư vấn tâm lý học

đường cho học sinh trường THPT Xuân Thọ nói riêng và học sinh THPT trên địa bàn

nói chung, nhằm hỗ trợ các em giải quyết những khó khăn về tâm lý, học tập tốt hơn.

Thời gian: tháng 10/2011 - 03/2012

Phương pháp: nghiên cứu tài liệu, phát phiếu điều tra, phỏng vấn, thống kê, xử lý

số liệu.

Kết quả thu được:

- Hầu hết học sinh trường THPT Xuân Thọ được khảo sát đều có trạng thái tâm lý lo

lắng với các mức độ khác nhau.

- Những khó khăn ảnh hưởng tới tâm lý các em như: khó khăn về vấn đề học tập, về

các mối quan hệ, sức khỏe giới tính…

- Học sinh trường THPT Xuân Thọ quan tâm nhiều tới các chuyên mục, chương

trình tư vấn trên các phương tiện thông tin nhưng thực tế tham gia dịch vụ tư vấn

rất ít.

- Khi gặp vấn đề khó khăn đa số các em tự giải quyết theo cách riêng, âm thầm chịu

đựng hoặc tâm sự với bạn bè. Rất ít học sinh tâm sự, chia sẻ với cha mẹ và thầy cô

cũng như đến với dịch vụ tư vấn tâm lý.

- Thực tiễn công tác tư vấn tâm lý cho học sinh của trường còn yếu, về phía học sinh

các em có nhu cầu tư vấn đều mong muốn mở phòng tư vấn tâm lý tại trường.

- Trong trường THPT Xuân Thọ nên xây dựng kế hoạch và thành lập tổ tư vấn tâm

lý nhằm phát triển mạng lưới phòng tư vấn để trợ giúp học sinh, thỏa mãn nhu cầu

ii

được tư vấn.

MỤC LỤC

Đề mục Trang

Trang tựa ........................................................................................................... i

Tóm tắt .............................................................................................................. ii

Mục lục ............................................................................................................. iii

Danh sách các chữ viết tắt .................................................................................. v

Danh sách các bảng ........................................................................................... vi

A. PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1

1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 1

2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 1

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .......................................................... 1

4. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 2

5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 2

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .................................................................... 2

B. NỘI DUNG .................................................................................................. 3

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ......................................................................... 3

1.1.Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................ 3

1.2.Vai trò của tư vấn tâm lý .............................................................................. 3

1.3. Đặc điểm tâm lý HS THPT ......................................................................... 4

1.3.1.Đặc điểm chung lứa tuổi ....................................................................... 4

1.3.2. Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ HS ....................................... 6

1.3.3. Sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi ........................................................ 7

1.3.4. Nhu cầu giao tiếp và đời sống tình cảm của HS THPT ......................... 8

1.3.5.Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp.................................... 9

1.4. Khó khăn tâm lý của HS THPT ................................................................... 10

1.4.1.Stress ở tuổi thanh thiếu niên................................................................. 10

1.4.2. Những áp lực ở HS THPT .................................................................... 11

Chƣơng 2: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ THẢO LUẬN .................................. 15

2.1. Khó khăn tâm lý của học sinh trường THPT Xuân Thọ .............................. 15

iii

2.1.1. Tâm lý hiện tại ở HS trường THPT Xuân Thọ ...................................... 15

2.1.2. Các khía cạch thể hiện khó khăn tâm lý của HS trường THPT

Xuân Thọ ..................................................................................................... 15

2.1.3. Quan điểm của HS trường THPT Xuân Thọ khi chọn nghề nghiệp

cho tương lai ................................................................................................ 17

2.1.4. Ảnh hưởng của khó khăn tâm lý tới đời sống của HS trường THPT

Xuân Thọ ..................................................................................................... 18

2.1.5. Cách thức giải quyết những khó khăn tâm lý của HS trường THPT

Xuân Thọ ..................................................................................................... 18

2.2. Mức độ tiếp cận của HS trường THPT Xuân Thọ với dịch vụ tư vấn tâm

lý trong xã hội ............................................................................................... 20

2.2.1. Sự hiểu biết của HS trường THPT Xuân Thọ về các chuyên mục

tư vấn tâm lý ................................................................................................ 20

2.2.2. Mức độ tham gia tư vấn của HS trường THPT Xuân Thọ .................... 21

2.3. Ảnh hưởng của tư vấn tâm lý đối với HS trường THPT Xuân Thọ ............ 22

2.3.1. Mức độ tác động của tư vấn tâm lý đến HS trường THPT Xuân Thọ ... 22

2.3.2. Nhận thức của HS trường THPT Xuân Thọ về tầm quan trọng của

hoạt động tư vấn ............................................................................................... 24

2.4 Nhu cầu của HS trường THPT Xuân Thọ về việc mở phòng tư vấn tâm lý

tại trường .......................................................................................................... 25

2.4.1. Nhu cầu của HS trường THPT Xuân Thọ về việc mở phòng tư vấn

tâm lý tại trường ............................................................................................... 25

2.4.2. Nhu cầu của HS trường THPT Xuân Thọ về hình thức tổ chức tư vấn

và cán bộ phụ trách của phòng tư vấn ............................................................... 26

C. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ ......................................................................... 28

3.1. Kết luận ..................................................................................................... 28

3.2. Kiến nghị ................................................................................................... 29

3.3. Hướng mới cho nghiên cứu tiếp tục ........................................................... 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 32

Phụ lục 1 ............................................................................................................ 33

iv

Phụ lục 2 ............................................................................................................ 34

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HS: Học sinh

NXB: Nhà xuất bản

THCS: Trung học cơ sở

THPT: Trung học phổ thông

TL: Tâm lý

Tp. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

v

WHO: (world heath organize) Tổ chức y tế thế giới

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng Trang

Bảng 2.1 Tâm lý hiện tại của HS trường THPT Xuân Thọ .......................................... 15

Bảng 2.2 Các khía cạch thể hiện khó khăn TL của HS trường THPT Xuân Thọ .......... 16

Bảng 2.3 Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS trường THPT Xuân Thọ................ 17

Bảng 2.4 Ảnh hưởng của khó khăn TL đến đời sống và học tập HS trường

THPT Xuân Thọ ........................................................................................................ 18

Bảng 2.5 Cách thức giải quyết khó khăn của HS trường THPT Xuân Thọ .................. 19

Bảng 2.6 Sự hiểu biết của HS trườngTHPT Xuân Thọ ................................................ 20

Bảng 2.7 Mức độ tham gia tư vấn của HS trường THPT Xuân Thọ ............................ 21

Bảng 2.8 Lý do HS trường THPT Xuân Thọ không tham gia dịch vụ tư vấn .............. 22

Bảng 2.9 Tác động của tư vấn tâm lý đến HS trường THPT Xuân Thọ ....................... 23

Bảng 2.10 Nhận thức của HS trường THPT Xuân Thọ về tầm quan trọng của

hoạt động tư vấn trong nhà trường .............................................................................. 24

Bảng 2.11 Hiệu quả cụ thể của hoạt động tư vấn ........................................................ 24

Bảng 2.12 Nhu cầu của HS trường THPT Xuân Thọ về việc mở phòng tư vấn ........... 25

Bảng 2.13 Nhu cầu của HS trường THPT Xuân Thọ về hình thức tổ chức tư vấn .. …26

Bảng 2.14 Nhu cầu của HS trường THPT Xuân Thọ về cán bộ phụ trách ở phòng

vi

tư vấn.......................................................................................................................... 27

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của xã hội, cuộc sống ngày càng trở nên bận rộn và phức

tạp, làm nhiều vấn đề tâm lý nảy sinh, không phải ai cũng có thể giải quyết được, nhất là

học sinh tình trạng rối nhiễu tâm trí đã trở nên phổ biến. Và nhu cầu tư vấn tâm lý trở

thành một nhu cầu cần thiết mang tính xã hội rất lớn, nó trở thành nhu cầu không thể

thiếu đối với mọi lứa tuổi.

Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thống kê rối nhiễu tâm trí đứng thứ 5 trong số 10

nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật cho con người. Ở lứa tuổi học đường, rối nhiễu tâm

trí là nguyên nhân chính làm giảm sút chất lượng đào tạo, tăng tỉ lệ bỏ lớp và là nguyên

nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng tự tử trong học sinh (Hồng Lân, 2008).

Mặt khác, trước những kết quả học tập không được như mong đợi ở các học sinh,

các bậc cha mẹ và thầy cô chỉ quan tâm đến việc cố gắng làm sao để con em mình dành

nhiều thời gian hơn cho học tập, buộc các em lên lớp phải tập trung nghe giảng, tìm gia

sư kèm tại nhà…Bằng mọi cách mà không biết rằng những cố gắng đó có khi lại phản tác

dụng tạo áp lực học tập quá lớn, đẩy các em vào trạng thái lo âu, căng thẳng.

Theo Phạm Mạnh Hà: “Đáng lo ngại nhất là số học sinh mắc các triệu chứng trầm

cảm nặng ở tại một số trường chiếm tới 3%, trong khi trên thế giới tỉ lệ 0,3-0,5% đã là

quá nhiều. Những năm gần đây tình trạng này càng ngày càng tăng. Đã đến lúc chúng ta

cần quan tâm đến vấn đề tư vấn học đường, nếu không hậu quả sẽ khó lường”. (Trích dẫn

bởi Đoan Trúc, 2007).

Đứng trước những lý do khách quan đó, cũng như những thắc mắc, khó khăn tâm

lý của tôi đã trải qua trong thời học sinh. Bên cạnh đó, bản thân là một cán bộ Đoàn luôn

gần gũi với học sinh và đã được tập huấn về công tác tuyên truyền về “Sức khỏe sinh sản

vị thành niên trong năm 2010”. Cho nên, người nghiên cứu quyết định chọn đề tài:

“Khảo sát nhu cầu xây dựng phòng tƣ vấn tâm lý của học sinh trong trƣờng

THPT”.

2. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu nhu cầu về phòng tư vấn tâm lý học đường của học sinh

trường THPT Xuân Thọ - Xuân Lộc – Đồng Nai, căn cứ để có cơ sở xây dựng phòng tư

vấn tâm lý cho học sinh của trường Xuân Thọ, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

của trường, đồng thời hỗ trợ về mặt tinh thần cho học sinh, giúp các em giải tỏa các vấn

đề tâm lý gặp phải trong cuộc sống, trong học tập.

1

3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Học sinh các khối 10-11-12 của trường THPT Xuân Thọ -

Xuân Lộc – Đồng Nai.

- Đối tượng nghiên cứu: nhu cầu về xây dựng phòng tư vấn tâm lý của học sinh

trường THPT Xuân Thọ - Xuân Lộc – Đồng Nai.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận:

● Khái quát một số vấn đề về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT

● Nêu ra những khó khăn về tâm lý của học sinh lứa tuổi này.

● Nêu lên tầm quan trọng của tư vấn tâm lý cho học sinh THPT.

- Nghiên cứu thực trạng:

● Đặc điểm riêng của sự phát triển tâm sinh lý HS trường THPT Xuân Thọ.

● Những khó khăn tâm lý gặp phải của HS trường THPT Xuân Thọ trong học

tập, sinh hoạt.

● Xác định nhu cầu tư vấn tâm lý của học sinh trường THPT Xuân Thọ - Xuân

Lộc – Đồng Nai.

● Xác định nhu cầu xây dựng phòng tư vấn tâm lý của học sinh trong trường

THPT Xuân Thọ - Xuân Lộc – Đồng Nai

5. Phƣơng pháp nghiên cứu.

- Nghiên cứu tài liệu: tìm, chọn và nghiên cứu một số sách, báo, bài viết liên quan

đến tâm lý học sinh và tư vấn tâm lý học sinh.

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:

5 học sinh của 5 lớp: 10B1, 10B7, 11C10, 11C11,12A8.

- Phiếu điều tra ý kiến học sinh: phiếu điều tra được tiến hành qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Trên cơ sở lý luận và những đề tài có liên quan, người nghiên cứu

tiến hành soạn thảo phiếu, với các câu hỏi mở thăm dò (xin xem phần phụ lục 1).

- Giai đoạn 2: Từ kết quả thăm dò, tiếp tục tham khảo các công trình nghiên cứu

trước và các vấn đề lý luận của đề tài, người nghiên cứu xây dựng phiếu điều tra chính

thức với 15 câu hỏi (xin xem phần phụ lục 2).

- Dùng toán thống kê để xử lý số liệu bằng phần mềm microsoft Excel.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: nghiên cứu tại trường THPT Xuân Thọ - Xuân Lộc – Đồng Nai.

- Nội dung nghiên cứu: Chỉ tìm hiểu nhu cầu của học sinh trường THPT Xuân Thọ

về việc xây dựng phòng tư vấn tâm lý trong trường học.

2

- Thời gian: Từ tháng 10/2011 đến 03/2012

B. PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Hiện nay tư vấn tâm lý là một dịch vụ đang được sự quan tâm lớn của dư luận, vì

vậy đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề này.

Sau đây là một số nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Nguyễn Thị Sông Lam, 2006, “Tìm hiểu thực trạng áp lực tâm lý trong hoạt động

học tập của học sinh THPT”, luận văn tốt nghiệp ĐH.

Lê Khắc Mỹ Phượng, 1998, “Khảo sát thực trạng nhận thức và thái độ của HS

THPT về một số vấn đề cơ bản của nội dung giáo dục giới tính tại một số trường THPT

Tp. HCM”, đề tài luận văn tốt nghiệp ĐH - SV khoa tâm lý giáo dục.

Nguyễn Thị Trang, 2007, “Tìm hiểu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong tư vấn

tâm lý học sinh ở một số trường THPT”, đề tài luận văn tốt nghiệp ĐH - SV bộ môn

SPKTNN.

Dương Thiệu Hoa và ctv, 2007, “Khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của học

sinh THPT”, tạp chí tâm lý số 2.

Bùi Thị Xuân Mai, 2005, “Tham vấn - một dịch vụ xã hội cần được phát triển ở

Việt Nam”, tạp chí tâm lý học số 2.

Vũ Kim Thanh, 2001, “Tư vấn tâm lý - một nhu cầu xã hội cần được đáp ứng”, tạp

chí tâm lý học số 2.

Các nghiên cứu trên đã thúc đẩy một phần nào sự ra đời của các trung tâm tư vấn

tâm lý ở một số nơi nhưng hầu như chưa có tác giả nào tìm hiểu thực tế nhu cầu về xây

dựng phòng tư vấn tâm lý của học sinh trong trường THPT. Vì vậy người nghiên cứu

bước đầu tìm hiểu về vấn đề này.

1.2. Vai trò của tƣ vấn tâm lý

Trong bối cảnh hiện nay tư vấn tâm lý có vai trò quan trọng trong đời sống tinh

thần con người.

● Vai trò của tư vấn tâm lý trong xã hội:

- Công tác tư vấn nhằm vào mục tiêu giáo dục mang tính năng phát triển đời sống

lành mạnh, ngăn ngừa tệ nạn và điều trị những rối loạn do thiếu khung tư duy trưởng

thành, nên ngành này đã đóng một vai trò quan trọng tích cực với an toàn và phát triển xã

3

hội.

- Trong thực tiễn triển khai các chính sách, chương trình phát triển xã hội, tư vấn

tâm lý tỏ ra là một trong những kỹ năng quan trọng, giúp các cán bộ xã hội thực thi

nhiệm vụ của mình.

- Tư vấn tâm lý được sử dụng trong những trung tâm có chức năng lâm sàn và

chức năng giáo dục sức khỏe cộng đồng.

Theo Phạm Minh Hạc chủ tịch hội khoa học tâm lý - giáo dục Việt Nam: “Tư vấn

tâm lý - giáo dục ở nước ta có sứ mệnh vẻ vang là động viên mọi người và toàn xã hội,

tạo nên một vốn xã hội- vốn người tốt, cùng nhau đoàn kết, bảo đảm an sinh xã hội, ổn

định xã hội, góp phần tiếp tục đổi mới đất nước, tạo dựng nên một đất nước độc lập, phồn

vinh, mọi người được hưởng các quyền của con người, của mọi công dân” (trích dẫn bởi

Nguyễn Thơ Sinh, 2006).

● Đối với học sinh, người nghiên cứu thấy tư vấn tâm lý có 5 vai trò sau:

- Thứ nhất giúp các em hiểu rõ những quy luật phát triển về tâm lý, sinh lý cơ thể,

đặc biệt là sự phát triển đời sống tình cảm và sự trưởng thành nhân cách trong xã hội.

Trong hành trình trưởng thành của con người, đa số chúng ta ai cũng gặp những khó

khăn, bỡ ngỡ, nếu không được hướng dẫn, tư vấn thì rất dễ gặp những khó khăn lớn,

khiến sự phát triển bị lệch hướng.

- Thứ hai giúp các em giữ thăng bằng trong đời sống tình cảm, sẽ là người bạn để

các em tâm sự khi không dám nói cùng cha mẹ, giúp cho các em hiểu rõ bản thân và biết

cách cư xử trong xã hội.

- Thứ ba giúp cho mối quan hệ giữa thầy và trò, quan hệ gia đình thêm vững chắc,

quan hệ tình bạn - tình yêu trong sáng, sẽ là hành trang kiến thức giúp các em tự tin hơn

để bước ra xã hội.

- Thứ tư là chất “xúc tác” làm tăng khả năng hấp thu, đón nhận kiến thức từ phía

HS trong mối quan hệ dạy và học.

- Thứ năm có tác động tích cực trong hoạt động hướng nghiệp của HS. Hầu hết

các em khi chọn nghề cho tương lai, luôn phân vân giữa nhu cầu xã hội, áp lực gia

đình, triển vọng thăng tiến bản thân, sở thích cá nhân… Vì vậy các em cần có người

hiểu, thông cảm và có khả năng giúp các em lựa chọn ngành nghề phù hợp với những

điều kiện trên.

1.3. Đặc điểm tâm lý học sinh THPT

1.3.1. Đặc điểm chung của lứa tuổi

Trong tâm lý học lứa tuổi đã từng nói tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt

4

đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn. Chính cái định nghĩa mà giới

hạn thứ nhất là giới hạn sinh lý và giới hạn thứ hai là giới hạn xã hội đã chỉ ra tính chất

phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng.

Đây là lứa tuổi có những chuyển biến quan trọng cả về phát triển thể lực lẫn tâm

lý của con người, là giai đoạn định hình nhân cách. Như I.X.Con nói: “Tuổi thanh niên

(từ 14,15 đến 18 tuổi) là “thế giới thứ ba” theo nghĩa đen của từ này, tồn tại giữa tuổi trẻ

em và tuổi người lớn” (Theo Lê Văn Hồng, 1998).

Do gia tốc phát triển của xã hội mà các giới hạn của tuổi thanh niên được hạ thấp,

bắt đầu từ 14 -15. Nhưng nội dung cụ thể của thời kỳ phát triển này được quyết định

không đơn giản chỉ bởi tuổi, mà trước hết là những điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên

trong xã hội, khối lượng tri thức, kỹ năng mà họ nắm bắt được và một loạt những nhân tố

khác phụ thuộc vào những điều kiện xã hội đó). Ngày nay hoạt động lao động và hoạt

động xã hội ngày càng phức tạp. Do đó mà có sự kéo dài của thời kỳ tuổi thanh niên và

tính không xác định của các giới hạn lứa tuổi.

Cũng theo Lê Văn Hồng (1998): “Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ đạt được sự

trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ

thể người lớn. Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý”.

Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ thể của tuổi thanh niên như

sau:

Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại. Các em gái đạt được

sự tăng trưởng trung bình vào khoảng tuổi 16-17, các em trai vào khoảng 17-18.

Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong

của não phức tạp và các chức năng của não phát triển gần như cấu trúc tế bào não của

người lớn. Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng

hợp…của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập. Đa số các em đã vượt qua thời kỳ

phát dục. Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe và đẹp.

Hoạt động của thanh niên ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò xã hội và

hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến

đổi cả về chất lượng. Ở thanh niên ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và họ

thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và có tinh thần trách nhiệm cao (Bùi

Ngọc Oánh và ctv, 1996)

Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm, cha mẹ đã trao đổi

với các em một số vấn đề và các em cũng biết quan tâm đến nhiều mặt sinh hoạt trong

gia đình. 14 tuổi, các em bắt đầu gia nhập đoàn thanh niên cộng sản. Trong tổ chức đoàn

5

các em có thể tham gia công tác tập thể, công tác xã hội một cách độc lập hơn và có trách

nhiệm hơn. 18 tuổi có quyền bầu cử, có chứng minh thư, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ

lao động. Tất cả các em đều có suy nghĩ về việc chọn ngành nghề…

Theo Lê Văn Hồng (1998): thanh niên mới lớn có hình dáng người lớn, có những

nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn. Các em còn chịu sự quyết định về nội

dung và xu hướng chính trong hoạt động của mình bởi người lớn. Ở trường và ngoài xã

hội, thái độ của người lớn thường thể hiện tính chất hai mặt: một mặt nhắc nhở rằng các

em đã là người lớn, đòi hỏi tính độc lập, ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý… mặt

khác lại đòi hỏi họ thích ứng với cha mẹ, giáo viên…

Do đó vị trí của thanh niên có tính chất không xác định (ở mặt này họ được coi là

người lớn, mặt khác lại không), đây là một tất yếu khách quan. Tính chất đó và những

yêu cầu đề ra cho thanh niên được phản ánh một cách độc đáo vào tâm lý thanh niên.

1.3.2. Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ của học sinh.

1.3.2.1. Đặc điểm hoạt động học tập

Hoạt động học tập của thanh niên học sinh đòi hỏi tính năng động và tính độc lập

ở mức độ cao, đồng thời cũng đòi hỏi: muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì

cần phát triển tư duy lý luận ở các em (Nguyễn Quang Uẩn, 2003).

Học sinh càng trưởng thành kinh nghiệm sống càng phong phú, các em càng ý

thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do vậy thái độ có ý thức

của các em đối với học tập ngày càng phát triển.

Thái độ của thanh niên học sinh đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn. Ở

các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp.

Cuối bậc THPT các em đã xác định được hứng thú ổn định đối với một môn học nào đó,

đối với một lĩnh vực tri thức nhất định (Nguyễn Quang Uẩn, 2003).

Thái độ học tập của thanh niên học sinh lúc này được thúc đẩy bởi động cơ thực

tiễn (ý nghĩa thực tiễn của môn học đối với cá nhân, khả năng tiếp thu môn học của các

em), động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa xã hội của môn học, rồi mới đến động cơ cụ

thể khác…

Thái độ học tập ở không ít em có nhược điểm là: một mặt các em rất tích cực học

một số môn được các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, nhưng lại sao

nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để lấy điểm trung bình.

1.3.2.2. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ

Tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức của thanh

niên mới lớn.

6

Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao. Quan sát trở nên có mục đích, có hệ

thống và toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu

thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ. Song quan sát của thanh niên học

sinh cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên.

Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ của các em, đồng

thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một phát triển. Đặc biệt

các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ.

Do sự phát triển của các quá trình nhận thức và ảnh hưởng của hoạt động học tập

mà hoạt động tư duy của thanh niên học sinh có thay đổi quan trọng. Các em có khả năng

tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo. Tư duy của các em chặt chẽ

hơn, có căn cứ và nhất quán hơn. Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển.

Tuy nhiên số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên

hiện nay còn chưa nhiều.

Tóm lại ở tuổi thanh niên mới lớn những đặc điểm chung của con người về mặt trí

tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện (Lê Văn

Hồng, 1998).

1.3.3. Sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi.

1.3.3.1. Sự phát triển của tự ý thức

Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của

thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh

niên (Lê Văn Hồng, 1998).

Sau đây là những đặc điểm cơ bản của quá trình:

● Ở tuổi thanh niên các em vẫn tiếp tục chú ý đến hình dạng bên ngoài của mình

như (hay soi gương, chú ý sửa tư thế, quần áo…). Hình ảnh về thân thể là một thành tố

quan trọng của sự tự ý thức ở thanh niên mới lớn.

● Sự hình thành tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu dài, trải qua

những mức độ khác nhau và diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi với tính chất đặc thù riêng. Thanh

niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình, vì vậy các em

quan tâm sâu sắc đến đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản

thân.

● Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là sự tự ý thức của họ

xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động - địa vị mới mẻ trong tập thể, những

quan hệ mới với thế giới xung quanh. Các em hay ghi nhật ký, so sánh mình với nhân vật

được xem “là thần tượng”.

7

● Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp. Các em không chỉ nhận thức về cái

tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương

lai.

Thanh niên biết đánh giá nhân cách mình nói chung trong toàn bộ những thuộc

tính nhân cách. Thanh niên không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá

sâu sắc về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng sống và của

chính mình. Nhưng tự đánh giá khách quan không phải là dễ dàng. Các em thường có xu

hướng cường điệu hóa: đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực, hoặc

là đánh giá quá cao nhân cách của mình - tỏ ra tự cao, coi thường người khác.

1.3.3.2. Sự hình thành thế giới quan khoa học

Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan- hệ

thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử…Sự hình

thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của tuổi thanh niên học sinh

(Theo Lê Văn Hồng, 1998).

Dấu hiệu của sự hình thành thế giới quan ở các em là sự phát triển của hứng thú

nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ. Các em cố gắng

xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội, tư tưởng

chính trị, đạo đức. Chính nội dung các môn học ở phổ thông trung học giúp cho các em

xây dựng được thế giới quan tích cực về mặt tự nhiên, xã hội. Vấn đề ý nghĩa cuộc sống

chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của thanh niên.

Tuy nhiên, một bộ phận thanh niên có lối sống thụ động do chưa được giáo dục

đầy đủ về thế giới quan hoặc ảnh hưởng khá mạnh của tàn dư tiêu cực quá khứ.

1.3.4. Nhu cầu giao tiếp và đời sống tình cảm của học sinh THPT

a. Nhu cầu giao tiếp

Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất đối với các em.

Điều quan trọng là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi, là cảm thấy mình cần cho

nhóm, có uy tính, có vị trí nhất định trong nhóm. Trong các lớp học dần dần xảy ra một

sự “phân cực” nhất định, xuất hiện những người được lòng nhất và những người ít được

lòng nhất. Những em có vị trí thấp (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và suy nghĩ

nhiều về nhân cách của mình (Bùi Văn Huệ, Vũ Dũng, 2003).

Ở giai đoạn này quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hẳn so với các mối quan hệ

với người khác. Điều này do lòng khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi

phối. Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần

dần cũng được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập.

8

Trong giao tiếp, thanh niên hướng vào bạn bè nhiều hơn là hướng vào cha mẹ.

Nhưng khi bàn đến những giá trị sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị

đạo đức thì ảnh hưởng của cha mẹ lại mạnh hơn.

Cũng theo Bùi Văn Huệ và Vũ Dũng (2003), sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự

phức tạp hóa hoạt động riêng của thanh niên học sinh khiến cho lượng nhóm quy chiếu

của các em tăng lên rõ rệt. Việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ dẫn đến những sự khác nhau

nhất định và có thể có xung đột vào vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò

khác nhau ở các nhóm.

b. Đời sống tình cảm

Đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn rất phong phú và nhiều vẻ. Đặc điểm đó

được thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức

đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc và mặn nồng (Nguyễn Quang Uẩn,

2003).

Ở tuổi thanh niên mới lớn nhu cầu về tình bạn được tăng lên rõ rệt và mức độ

cũng sâu sắc hơn. Trong quan hệ với bạn các em cũng nhạy cảm hơn: không chỉ có khả

năng xúc cảm chân tình, mà còn phải có khả năng đáp ứng lại xúc cảm của người khác

(đồng cảm). Tình bạn của thanh niên mới lớn rất bền vững, và tồn tại rất lâu.

Tình bạn được các em coi là mối quan hệ quan trọng nhất của mình. Thanh niên

thường lý tưởng hóa tình bạn. Họ nghĩ về bạn thường giống với điều mình mong muốn ở

bạn hơn là thực tế. Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít nhận thấy

những đặc điểm thực tế ở bạn.

Quan niệm của thanh niên về tình bạn và mức độ thân tình trong tình bạn có sự

khác nhau. Nguyên nhân kết bạn cũng rất phong phú (vì phẩm chất tốt ở bạn, vì tính tình

tương phản, vì có hứng thú sở thích chung…).

Một điều cần chú ý nữa là ở thanh niên mới lớn, quan hệ giữa nam và nữ được tích

cực hóa một cách rõ rệt. Bên cạnh các nhóm thuần nhất, có khá nhiều nhóm pha trộn (cả

nam và cả nữ). Do đó ở một số em đã xuất hiện những sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ,

xuất hiện nhu cầu chân chính về tình yêu và tình cảm sâu sắc. Đó là một trạng thái mới

mẽ, nhưng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn.

1.3.5. Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp

Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành nhân cách thanh

niên mới lớn. Hoạt động lao động được tổ chức đúng đắn sẽ giúp các em hình thành tinh

thần tập thể, lòng yêu lao động, tôn trọng lao động, người lao động và thành quả lao

động, đặc biệt là có được nhu cầu và nguyện vọng lao động (Lê Hồng Minh, 2001).

9

Việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của học sinh

phổ thông, cuối cấp học thì sự lựa chọn càng nổi bật. Dù có vô tâm đến đâu, thì thanh

niên mới lớn cũng phải quan tâm, có suy nghĩ trong chọn nghề. Việc quyết định một

nghề nào đó ở nhiều em đã có căn cứ, biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý, khả

năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp, dù sự hiểu biết của các em về yêu cầu của

nghề nghiệp là chưa đầy đủ.

Hiện tại có không ít học sinh còn định hướng một cách phiến diện vào việc học

tập ở đại học và học ở trường dạy nghề. Đại đa số các em hướng dần vào các trường đại

học hơn là học nghề…Điều đó cũng cho thấy các em chưa chú ý đến nhu cầu xã hội đối

với các ngành nghề khác nhau và mức độ đào tạo của các nghề trong khi quyết định

đường đời.

1.4. Khó khăn tâm lý của học sinh THPT

1.4.1. Stress ở tuổi thanh thiếu niên

Theo Charmaine Sauaders (2004), thì stress có những biểu hiện bất thường về thể

lý, về phản ứng tình cảm và sai sót về tâm lý.

◘Triệu chứng thể lý

Triệu chứng thể lý của stress bao gồm các chứng: nhức đầu, mất ngủ, căng thẳng, tức

ngực, đau nhức những bộ phận khác của cơ thể và mệt mỏi kinh niên. Cảm giác căng

thẳng đưa đến stress có thể tích lũy trong cơ thể và tự nó thường thể hiện qua những cơn

đau nhức khó chịu.

◘ Phản ứng tình cảm

Trong quan hệ giao tiếp, phản ứng tình cảm của người đang bị stress có thể biểu hiện

qua những triệu chứng: thiếu tự chủ, trầm cảm mãn tính, dễ cáu kỉnh, mất niềm vui ở

cuộc sống…

◘ Sai sót về tâm lý

Stress có thể gây ra những vấn đề tâm lý như: thiếu tập trung, khó quyết định, hay

nhầm lẫn và nhạy cảm một cách thái quá.

Sự thay đổi về kích thích tố và những phát triển diển ra khốc liệt ở tuổi thanh thiếu

niên có thể gây ra hầu hết những căng thẳng liên tục.

Cũng theo Charmaine Sauaders (2004) stress của tuổi thanh thiếu niên là do:

Chính bản chất của lứa tuổi thanh thiếu niên.

Đương đầu với những vấn đề thường ngày của gia đình.

Những thay đổi về sinh lý và áp lực xảy ra trong cuộc sống.

Phải hứng chịu những áp lực từ nhà trường, từ công việc và từ chính cá nhân.

10

Tiếng ồn, vấn đề tiền bạc, những yêu cầu của công việc…

Phát sinh những cảm xúc tính dục khi đối diện với người khác phái.

1.4.2. Những áp lực ở học sinh THPT

1.4.2.1. Áp lực từ gia đình

Mái ấm gia đình là nơi bình yên cho mỗi thành viên trong gia đình trở về sau một

ngày làm việc, học tập mệt mỏi. Nhưng đôi khi gia đình lại là nơi tạo áp lực cho các em,

bởi những nguyên nhân sau:

Cha mẹ lao vào kiếm tiền với hy vọng con mình sẽ đầy đủ vật chất, họ không có

thời gian để trò chuyện, quan tâm tới học hành của con cái. Họ lãng quên đi nhu cầu cần

chia sẻ, hướng dẫn từ người lớn của các em (Như Lịch, Thiên Long, 2007).

Có gia đình khó khăn kinh tế phải hạn chế chi tiêu, mẹ khó tính, bố nghiện rượu

hoặc bạo lực, nhà cửa quá chật chội....

Mặt khác lứa tuổi thanh thiếu niên thì luôn có những công việc lặc vặt, những

trách nhiệm trong gia đình, những quy tắc phải tuân theo. Nhưng với nhiều em, nhất là

các bạn trai, công việc trên dường như là điều luôn gây khó chịu, gia đình có thể là một

nơi mà bạn phải chịu đựng nhiều điều, thậm chí gây thù địch, cản trở tự do..

Các em muốn được tự do bày tỏ những quan điểm, ước muốn, dự định riêng, qua

cách sinh hoạt thất thường về giờ giấc, cách ăn mặc và kiểu tóc kinh dị, nghe những loại

nhạc kích động, …(Lê Văn Hồng và ctv, 1998)

Điều này làm cho bậc cha mẹ khó chịu, la mắng hay cằn nhằn. Vì vậy các em

cảm thấy bực bội và phản ứng lại bằng cách: cải lại hoặc ngôi yên bằng thái độ thách

thức.

Theo Kiến Văn, Lý Chủ Hưng (2007) có một số lĩnh vực chính gây xung đột và

căng thẳng trong gia đình là:

◘ Sự khác biệt về tính cách tâm lý giữa những người trong gia đình (tr 26).

◘ Đụng chạm về nhu cầu, cách sinh hoạt của các thành viên trong gia

đình (tr 28).

Sự đụng chạm thường mang tính hình thức là những bực tức nhỏ.

◘ Những mong đợi của cha mẹ (tr 30).

Bậc cha mẹ thường mong muốn rất nhiều điều và hay đặt ra những tiêu chuẩn cao, đầy

kỳ vọng nơi con cái. Họ đòi hỏi con cái phải biết hành động một cách hợp tình, hợp lý, có

trách nhiệm trong khi các em lại muốn sống tự do và được là chính mình. Chính sự kỳ

vọng, quan tâm không đúng mức của cha mẹ làm học sinh có tâm lý lo sợ.

◘ Sức ép trong cuộc sống hiện đại (tr 33).

11

Nói chung, tuổi thanh thiếu niên có thể thay đổi tính cách của mình : vừa là một

người lầm lì, khó chịu khi ở nhà, nhưng ra ngoài vẫn có thể là một người rất đáng yêu,

đáng tính nhiệm. Và tính tình có thể thật thoải mái dễ chịu ở môi trường này, nhưng cũng

có tính khí thất thường ở nơi khác.

◘ Bất mãn trước quyền lực và những quy tắc luật lệ do gia đình đưa ra (tr 32).

Đây là lãnh vực chính gây căng thẳng đối với lứa tuổi thanh thiếu niên. Mặc dù

quá trình trưởng thành khiến các em có những hành vi vô lý hoặc gây khó khăn cho

người khác nhưng nguyên nhân sâu xa của vấn đề là do xuất hiện bất mãn trong tâm lý

các em.

Khi còn nhỏ, cha mẹ xuất hiện như những thần tượng, đáng yêu và là những người

đem đến mọi sự, mặc dù có thể trong thực tế họ không như vậy. Đến khi trở thành một

thanh thiếu niên, các em đánh mất vầng hào quang này và nhìn thấy cha mẹ với tất cả

những bất toàn của họ.

◘ Ly dị (tr 56)

Đây là một vấn đề chưa xảy ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nhưng nếu trong gia

đình có tình trạng này, thì có thể gây ra những ảnh hưởng lâu dài đối với các em làm đảo

lộn nền tảng an toàn của gia đình và khó lường hết những tác hại đau lòng.

1.4.2.2. Áp lực từ nhà trƣờng

Ở trường, hầu hết những stress của các em phát sinh từ 3 lĩnh vực: áp lực từ bạn

bè, những vấn đề về học tập và mâu thuẩn với thầy cô giáo (Charmaine Sauaders, 2004).

◘ Áp lực từ bạn bè

Các bạn trẻ hầu hết có tư tưởng cực đoan thậm chí muốn buông thả, chấp nhận trả

giá cao cho lối sống hoàn toàn tự do, không lệ thuộc vào bất cư điều gì. Có những em

khước từ những người bạn vì lối ăn mặc của họ hoặc học hành quá chăm chỉ hoặc có lối

sống quá tĩnh lặng hoặc tỏ ra quá tôn trọng người khác và đôi khi không vì lý do rõ rệt

nào cả. Các em thường lo lắng về vị trí của mình trong nhóm. Nhiều em có ý định hoặc

nghĩ đến việc tự vẫn, thậm chí còn đưa ra tình trạng bị khước từ và cảm giác cô độc như

là nguyên nhân cho hành động của mình. Các em thường lý tưởng hóa tình bạn, có sự

quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít thấy những đặt điểm thực tế ở bạn

nên rất dễ bị “vỡ mộng”.

Áp lực từ bạn bè là sự ảnh hưởng của những người đồng trang lứa trực tiếp tác

động lên nhau theo thời gian. Bạn bè thường có khuynh hướng hay đưa ra nhận xét về tất

cả những điều mà các em làm và sự tán thành của họ rất quan trọng. Đối với nhiều thanh

thiếu niên, điều nguy hiểm là các em rất nhạy cảm và quá bận tâm đến sự tán thành hay

12

chê bai của bạn bè. Các em liên tục muốn thử sức mình và có thể bị bạn bè xấu khiêu

khích “thử lửa” với những thói xấu hoặc tệ nạn xã hội: hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng

ma túy, đua xe, quan hệ trai gái bừa bãi, hoặc có những hành động mang tính cách phá

hoại với mục đích chỉ để mua vui cho mình.

◘ Những vấn đề về học tập

Những vấn đề trong việc học hành là một nguyên nhân khác có thể gây ra những

cảm giác căng thẳng và áp lực nơi các em.

Các em thường gặp khó khăn về phương pháp học tập, đây là nhân tố ảnh hưởng

đến kết quả học tập và trạng thái tâm lý bên trong học sinh. Trong quá trình tiếp thu bài

học với kiến thức đã nhiều mà phương pháp dạy theo kiểu nhồi nhét, buộc học thuộc, làm

học sinh căng thẳng, lo sợ không giải quyết hết nhiệm vụ học tập.

Nội dung chương trình quá nặng, mang tính hàn lâm mà thiếu tính phổ thông, căn

bản khoa học, sẽ làm cho học sinh quá tải về trí tuệ. Không có thời gian vui chơi giải trí,

tự học tự khám phá, làm giảm khả năng sáng tạo của học sinh.

Hình thức tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, trách phạt, kỷ luật nghiêm

khắc làm các em lo lắng, xấu hổ dẫn đến áp lực cho các em.

Tuổi trẻ có quá nhiều ước mơ đến nổi các em tin rằng mình là người giỏi giang

nhất và cứ thế đeo đuổi suy nghĩ đó nhưng rồi các em phải trải qua các kỳ thi, giải quyết

những bài vở và công việc được giao, phải đương đầu với vấn đề điểm số thứ hạng làm

vỡ mộng. Như vậy bài vở là yếu tố gây căng thẳng nhất đối với các thanh thiếu niên.

Nguyên nhân chính gây áp lực trong lớp học là nổi buồn chán, không có khả năng

trả lời các câu hỏi của giáo viên, xung đột và thái độ xấu của bạn bè. Bạn trẻ thường thấy

chán nản khi không theo dỏi bài học hoặc tâm trí sao lãng.

◘ Mâu thuẫn với thầy cô giáo

Các em cũng có vấn đề đối với các thầy cô giáo, ban giám hiệu và các quy tắc

trong trường. Chính bản chất lứa tuổi thanh thiếu niên khiến bạn trẻ muốn nổi loạn, hay

thắc mắc và bất chấp, trong khi tính cách này khiến người lớn tức điên lên.

Tóm lại, một trong những áp lực lớn nhất mà các em phải đương đầu đó là những

bận tâm về tương lai và sự thành đạt ở đời, bao gồm: những áp lực từ phía cha mẹ và xã

hội, nhu cầu có bằng cấp cao, có công việc ổn định, những hoài bão về công danh sự

nghiệp và có mức sống với những điều kiện kinh tế hiện hành. Nhưng trong thời đại này,

các em còn phải đối diện với thực tế phức tạp hơn nhiều, đó là sự canh tranh gay gắt về

công ăn việc làm, những trở ngại lớn lao, cụ thể là nạn thất nghiệp tràn lan, tất cả những

điều này đòi hỏi các bạn trẻ luôn phải phấn đấu vượt qua.

13

1.4.2.3 Áp lực từ vấn đề sức khỏe giới tính

Lứa tuổi thanh thiếu niên dễ bị stress vì các bạn đang sống trong cảm giác mờ ảo

của những cảm xúc lẫn lộn và đầy ảo giác về sự phát triển tâm sinh lý bản thân: mặc cảm

về hình thức, lo lắng băn khoăn về những biểu hiện của cơ thể, về mối quan hệ với bạn

khác giới. Các em thường rất dễ bị lúng túng, đôi khi là sự bế tắc, sự sai lầm trong cách

giải quyết vấn đề, trong cách xử lý các tình huống “gay cấn”.

Bậc phụ huynh vẫn thường hay nói với các thanh thiếu niên rằng họ không còn là

đứa trẻ thơ nữa và nên hành động một cách có trách nhiệm, nhưng mặt khác, những tiêu

chuẩn về cách cư xử mà người lớn đặt ra cho các em lại có nhiều giới hạn, khiến các bạn

thấy bối rối không ít, đặc biệt nhất trong lĩnh vực tính dục (Lê Văn Hồng và ctv, 1998).

Xong ở các em đã có sự quan tâm nhiều đến những vấn đề tình dục, về sinh sản,

về tình yêu nhưng rất ít hiểu biết. Nên việc tìm đọc, xem tranh ảnh về nội dung giới tính

là một nhu cầu tất yếu. Điều này không có gì sai trái nhưng với luồng thông tin đa dạng

đó, có cả tốt lẫn xấu nếu không có sự hướng dẫn, kiểm soát của bậc phụ huynh thì các em

14

khó mà chọn lọc, biết cái gì nên hay không nên, dễ rơi vào thế bị động và hoang mang.

Chương 2: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ THẢO LUẬN

2.1. Khó khăn tâm lý của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ

2.1.1.Tâm lý hiện tại của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ

Bảng 2.1: Tâm lý hiện tại của học sinh trường THPT Xuân Thọ

% Tổng % Thứ bậc

Mức độ cảm nhận Rất hài lòng và yên tâm Về cơ bản là hài lòng Hài lòng và lo lắng pha trộn Lo lắng nhiều hơn hài lòng Thường xuyên lo lắng Ý kiến khác Khối 10 Khối 11 Khối 12 % % 5 5,5 20 21 37,5 48 26,25 20 6,25 4,5 5 1 7,5 16,25 43,75 27,5 5 0 6 19,2 43,2 24,4 5,2 2 4 3 1 2 5 6

Từ bảng 2.1: có 6% số học sinh được khảo sát là có trạng thái tâm lý “hài lòng và

hoàn toàn yên tâm” với cuộc sống của mình, con số này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.

Số còn lại tới 94% có tâm trạng lo lắng ở các mức độ khác nhau, trong đó 5,2%

“thường xuyên lo lắng”. Những em này có nguy cơ cao dẫn tới sự lo âu và rối nhiễu tâm

lý, cần được sự hỗ trợ kịp thời và đúng lúc từ phía gia đình, nhà trường và 2% “ ý kiến

khác”: “các em chẳng hài lòng mà cũng chẳng lo lắng”. Cũng từ số liệu trên cho thấy

phản ánh sự căng thẳng quá mức của số đông học sinh trường THPT Xuân Thọ.

So sánh sự khác biệt về mức độ lo lắng, không an tâm của học sinh giữa các khối

10,11,12 thì sự sai khác là không đáng kể. Khối nào cũng có những nỗi lo riêng:

Khối 10, có 93,5% HS có tâm trạng lo lắng, vì là khối đầu cấp với môi trường học

xa lạ, chương trình học mới, bạn bè mới…gây cho các em lo âu, căng thẳng. Trong khi,

92,5% HS khối 12 có tâm trạng lo lắng, vì là khối cuối cấp với những áp lực chọn ngành

nghề, thi tốt nghiệp, đại học, tình yêu tuổi mới lớn…và HS khối 11 có tâm trạng lo lắng ít

nhất trong 3 khối vì các em đã qua giai đoạn bỡ ngỡ ở lớp 10, mà cũng chưa bị áp lực

cuối cấp của 12, tuy nhiên các em cũng không thoát khỏi trạng thái tâm lý này 90 %.

Còn về mức độ cảm nhận “hài lòng và hoàn toàn yên tâm” thì học sinh khối 12 có

tỷ lệ chọn là cao nhất trong ba khối (7,5%). Điều này có thể lý giải được vì học sinh khối

12 có sự phát triển hoàn thiện hơn về cơ thể cũng như thái độ nhận thức so với 2 khối còn

lại.

2.1.2 Các khía cạnh thể hiện khó khăn tâm lý của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ

Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội cùng các

15

yêu cầu ngày càng cao của nhà trường, thêm vào đó là sự kỳ vọng quá mức của gia đình

đang tạo ra những áp lực lớn gây căng thẳng cho HS. Hậu quả là ngày càng có nhiều HS

gặp khó khăn trong học tập, xây dựng lý tưởng sống, cách thức ứng xử phù hợp trong các

mối quan hệ xung quanh. Khó khăn tâm lý cụ thể mà học sinh trường THPT Xuân Thọ

gặp phải là rất đa dạng, các số liệu ở bảng sau đã phản ánh điều này.

Khối 10

Khối 11

Khối 12

Tổng

Nội

Mức độ

dung

%

M

%

M

%

M

%

M

Rất khó khăn

Bảng 2.2 Các khía cạnh thể hiện khó khăn lý tâm của HS trường THPT Xuân Thọ

Quan hệ

Hơi khó khăn

30 37,5 12,5 26,8

gia đình

Không khó

53 50 40 48 2,1 2,25 1,65 2

khăn

Rất khó khăn 57,8

17 12,5 47,5 25,2

Quan hệ

Hơi khó khăn

37,5 8,75 35,6

bạn bè

Không khó

20 43,75 22,5 20,4 2,35 1,94 1,4 1,9

khăn

Rất khó khăn 67,8

22,2 23,75 68,75 44

Quan hệ

Hơi khó khăn 17,8

23,75 16,25 37,2

thầy trò

Không khó

31,25 33,75 27,2 2,53 1,78 1,66 2

khăn

Rất khó khăn 61,1

50 14,4 45 35,6

Học tập,

Hơi khó khăn 16,7

21,25 20 44,8

nghề

Không khó

nghiệp

33,75 53,75 34 2,3 2,4 1,9 2,2

khăn

Rất khó khăn 47,8

22,2 15 26,25 21,2

Sức

Hơi khó khăn 33,3

25 2,5 26

khỏe

Không khó

giới tính

30 20 28 2,3 1,8 1,3 1,8

khăn

18,9 45 77,5 46

Nhìn chung HS gặp khó khăn ở rất nhiều lĩnh vực, với các mức độ khác nhau.

78,8% HS gặp khó khăn trong học tập, xây dựng lý tưởng sống, xác định, lựa chọn

nghề nghiệp tương lai với M=2,2. Nội dung này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các khía cạnh

gây khó khăn. Đối với HS, học tập luôn là nhiệm vụ hàng đầu, khó khăn từ nó sẽ là một

áp lực lớn ảnh hưởng tới tâm lý các em. Như lịch học dày đặc, chương trình học quá

nặng, có quá nhiều bài tập, bài kiểm tra, yêu cầu của giáo viên đặt ra cao, giảng bài khó

hiểu… Làm các em “căng ra” không có thời gian giải trí, mà chỉ học và học.

Trong mối quan hệ với gia đình cũng là một khía cạnh gây khó khăn tâm lý cho

16

các em chiếm tỷ lệ 74,8%, M=2. Các em lo lắng vì bố mẹ không hiểu mình, hay áp đặt,

không tin tưởng các em... không khí gia đình căng thẳng. Qua đây phụ huynh nên quan

tâm học tập của các em trước khi đưa ra yêu cầu của mình. Làm được điều này sẽ tránh

được tình trạng các em không đủ sức khỏe và năng lực hoàn thành kỳ vọng của cha mẹ

nhưng vẫn cố sức dẫn đến suy kiệt tinh thần và thể chất.

66% các em gặp khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè: các em cảm thấy xấu hổ

với nhận xét của các bạn về khiếm khuyết trên cơ thể mình, bị khước từ khó hòa nhập

vào tập thể, hoặc vị trí của mình trong nhóm không cao. Đặc biệt trong mối quan hệ này

sự xuất hiện của tình cảm khác giới cũng đang là thắc mắc của các em.

64 % các em gặp khó khăn trong mối quan hệ với thầy cô. Giáo viên không công

bằng hay la mắng, giảng bài khó hiểu, cho bài tập nhiều và khó… là những nguyên nhân

gây khó khăn cho các em.

Khó khăn về sức khỏe giới tính chiếm tỷ lệ ít nhất trong các nội dung trên. Với

46% các em không gặp khó khăn, điều này cũng dễ hiểu vì ngày nay trên các phương tiện

thông tin đại chúng đề cập vấn đề này khá nhiều. Nhưng không gặp khó khăn không hẳn

là các em có kiến thức căn bản về nội dung này, bên cạnh đó có tới 54% các em gặp khó

khăn. Sức khỏe giới tính ở tuổi này là một vấn đề được coi là tế nhị, khó nói, khó chia sẻ.

Vì vậy cần có sự tư vấn để các em hiểu và giữ gìn sức khỏe tốt, tâm hồn trong sáng.

Như vậy, học sinh trường THPT Xuân Thọ đang gặp khá nhiều khó khăn trong

giao tiếp và hoạt động của mình. Gia đình, nhà trường và xã hội nên có phương pháp

giáo dục, giúp đỡ thích hợp giúp các em vượt qua những khó khăn trong này.

2.1.3. Quan điểm của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ khi chọn nghề nghiệp cho

tƣơng lai

Bảng 2.3: Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS trường THPT Xuân Thọ

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng Xu hướng chọn nghề % % % %

Theo ý cha mẹ 3 2,5 2,5 2,8

Nhu cầu xã hội 10 20 10 13,5

Sở thích cá nhân 60 67,5 62,5 63

Theo bạn bè 0 2,5 0 0,7

Ý kiến khác 27 7,5 25 20

Kết quả từ bảng 2.3: Trong đó, 63 % HS chọn nghề theo sở thích cá nhân và 13,5%

chọn nghề theo nhu cầu xã hội, chỉ có 2,8 % HS chọn nghề theo ý cha mẹ còn lại 0,7 %

17

chọn nghề theo bạn bè. 20% ý kiến khác: chọn nghề theo sức khỏe và trình độ bản thân.

Điều này cho thấy các em đã có những suy nghĩ độc lập, không còn chịu sự áp đặt

của cha mẹ nữa. Tuy nhiên việc chọn nghề là một vấn đề rất khó, là yếu tố quyết định sự

thành công sau này, nên việc chọn theo sở thích cá nhân và nhu cầu xã hội là chưa đủ,

cha mẹ và thầy cô nên hướng dẫn, cung cấp những thông tin về ngành nghề để các em có

cơ sở hơn trong lựa chọn của mình.

So sánh giữa 3 khối lớp thì khối 11 có 67,5 % chọn nghề theo sở thích cá nhân cao

hơn khối 10 và 12 (60 % và 62,5%). Vì khối 11 nhận thức đã có sự phát triển hơn khối 10

và không bị áp lực, lo lắng trong chọn lựa nghề nghiệp như khối 12. Các em chưa hiểu

rằng thích và giỏi môn nào đó không có nghĩa là học giỏi ngành nghề đó.

Cũng ở khối 11, tình bạn được lý tưởng hóa nên các em có xu hướng chọn nghề

theo bạn bè tới 2,5 %, trong khi khối 10 và 12 không có ý kiến chọn nghề theo bạn bè, vì

ở khối 10 bạn bè còn xa lạ, khối 12 thì các em đã ý thức được sự trưởng thành của mình,

nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc cạnh, không còn lý tưởng hóa vấn đề như trước nữa.

2.1.4. Ảnh hƣởng của khó khăn tâm lý tới đời sống của học sinh trƣờng THPT

Xuân Thọ

Bảng 2.4: Ảnh hưởng của khó khăn tâm lý đến đời sống và học tập của học sinh

trường THPT Xuân Thọ

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng Khối

Mức độ % % % %

Rất ảnh hưởng 75,2 73,2 52,3 66,9

Ít ảnh hưởng 19,3 22,9 45,9 29,4

Không ảnh hưởng 5,5 3,9 1,8 3,7

Qua bảng 2.4 ta thấy ảnh hưởng của khó khăn tâm lý đến đời sống và học tập của

học sinh trường THPT Xuân Thọ là rất lớn. 96,3% các em cho rằng khó khăn tâm lý ảnh

hưởng đến đời sống của mình, trong đó 66,9% là “ rất ảnh hưởng” chỉ có rất ít các em

cho rằng vấn đề đó “ không ảnh hưởng” (3,7%). Vấn đề trợ giúp các em học sinh giải

thoát những khó khăn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của các em.

So sánh giữa các khối lớp, có sự khác biệt đáng kể về mức độ ảnh hưởng đối với học

sinh khối 12 và hai khối còn lại. 52,3% “rất ảnh hưởng” ở khối 12 và 73,2% (khối 11),

75,2% (khối 10). Vậy tính độc lập và chủ động của HS khối 12 có phần phát triển hơn so

với khối 10 và 11.

2.1.5 Cách thức giải quyết những khó khăn tâm lý của học sinh trƣờng THPT Xuân

18

Thọ

Khối

Khối

Khối

Tổng

Bảng 2.5 Cách thức giải quyết khó khăn của HS

11

12

10

%

%

% Thứ bậc

%

Các cách giải quyết

Âm thầm chịu đựng Tự giải quyết theo cách riêng Tìm hiểu qua các phương tiện thông tin 46,25 25 32,5 47,5 23,75 28,75 47,6 24,4 28,9 1 4 3

Tự an ủi, làm gì đó, viết nhật ký 3,75 5 4,4 7 49 24,5 25,5 4,5

Tâm sự với cha mẹ, ông bà, anh chị em 10 12,5 12,8 5 15,5

Tâm sự với thầy cô 6 18,75 9,6 6 4

Tâm sự với bạn bè 37,5 38 35,2 2 30

Nhờ trung tâm tư vấn 2,5 3,75 4 8 5,5

Để giải quyết những lo lắng và khó khăn tâm lý của mình, các em có nhiều

phương thức giải quyết khác nhau. Trong đó: Chiếm tỷ lệ cao nhất là giải pháp âm thầm

chịu đựng 47,6 %. Các em cho rằng: “có những vấn đề thuộc về bí mật - bất khả xâm

phạm, dù có khó khăn tới đâu cũng không thể nói ra được”. Nếu sự chịu đựng kéo dài sẽ

khiến các em rơi vào căn bệnh trầm cảm, học hành sa sút.

Xếp thứ 2 là các em tâm sự với bạn bè 35,2%. Bạn bè có sự gần gủi, thân thiết nên

HS dễ chia sẻ khó khăn của mình với bạn. Xuất phát từ một lý do nữa đó là ở tuổi này

nhu cầu kết bạn cao và vai trò của bạn rất lớn, ý kiến của bạn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến

đời sống của các em nên các em thường tâm sự với bạn.

Xếp thứ 3 là các em tự tìm hiểu qua các phương tiện thông tin 28,9% và tự giải

quyết theo cách riêng 24,4%.Ngày nay lượng thông tin đa dạng và phong phú nhưng nó

có tác động tích cực hay tiêu cực đến các em thì phụ thuộc vào sự hướng dẫn và dịu dắt

của người lớn. Với kết quả phỏng vấn một số HS phần nào làm rõ của chọn lựa trên (vì

đảm bảo tính bí mật xin giấu tên người được phỏng vấn).

“Không thích người khác biết chuyện của mình và không muốn làm phiền người

khác” (Theo ý kiến của Nguyễn Văn A lớp 10B1)

“Cảm thấy trưởng thành hơn sau khi tự giải quyết vấn đề khó khăn của mình” (Bùi

Hồng N lớp 12A8).

“Không tin tưởng ở người khác” (Trần Xuân V lớp 11C11).

“Chỉ có mình mới biết bệnh của mình” (Trương Hoàng H lớp 11C10).

19

Tuy nhiên với cách giải quyết này là điều đáng ngại ở tuổi các em, vì trong nhiều

trường hợp các em mất bình tĩnh, nông nỗi sẽ dẫn tới những hậu quả đáng tiếc.

Qua kết quả cho thấy các em có xu hướng tự giải quyết vấn đề của mình nhiều

hơn là tâm sự với cha mẹ và thầy cô. Họ luôn là người gắn bó, gần gũi và tiếp xúc với

các em khá nhiều trong cuộc sống hằng ngày, vậy mà khi khó khăn các em lại không tâm

sự, chia sẻ với người lớn. Đây là vấn đề lớn mà bậc phụ huynh và giáo viên nên xem xét

lại. Cuối cùng cách giải quyết chiếm tỷ lệ thấp nhất: nhờ trung tâm tư vấn 4%. Tại sao

cách giải quyết này chiếm tỷ lệ thấp vậy? Phải chăng dịch vụ tư vấn tâm lý trong xã hội

hiện nay chưa phù hợp đặc điểm tâm lý các em, còn nhiều rào cản khiến các em không

đến với dịch vụ này

Với các cách thức giải quyết khó khăn và sự lý giải của các em, càng làm rõ tính

chất của lứa tuổi “tồn tại giữa trẻ em và người lớn”. Do đó sự phối hợp giáo dục giữa gia

đình - nhà trường - xã hội sẽ giúp các em đi đúng hướng, phát triển nhân cách hoàn thiện

hơn.

2.2 Mức độ tiếp cận của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ với dịch vụ tƣ vấn tâm lý

trong xã hội

2.2.1 Sự hiểu biết của HS trƣờng THPT Xuân Thọ về các chuyên mục tƣ vấn tâm lý

Bảng 2.6: Sự hiểu biết của HS trường THPT Xuân Thọ về các chuyên mục tư vấn

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng Nội dung Mức độ % M % M % M % M

Hiểu rõ 22,2 37,5 56,25 38 Tình yêu,

2 2,2 2,5 2,3 hôn nhân, Biết mơ hồ 64,4 48,75 35 50

gia đình Không biết 13,4 13,75 8,75 12

Hiểu rõ 32,2 42,5 50 41,2

Học tập 2,1 2,3 2,5 2,3 Biết mơ hồ 52,2 48,75 45 48,8

Không biết 15,6 8,75 5 10

Hiểu rõ 20 30,75 48,5 33,1 2,1 2,3 2,5 2,3 Biết mơ hồ 60,6 57 42,5 53,4 Sức khỏe giới tính

Không biết 19,4 12,25 9 12,5

20

Hiểu rõ 16,7 2,5 35 25,2 Nội dung 1,9 2,1 2,3 2,1 khác Biết mơ hồ 55,6 58,75 61,25 58,4

Không biết 27,7 16,25 3,75 16,4

Nhìn chung học sinh trường THPT Xuân Thọ có một sự hiểu biết nhất định về

các chương trình, chuyên mục tư vấn hiện nay trên các phương tiện thông tin.

Về nội dung tư vấn tình yêu hôn nhân gia đình, có 88 % HS biết chuyên mục này

với M= 2,3. Như vậy hầu hết các em quan tâm tới mục tình yêu hôn nhân gia đình, trong

đó có 38% các em hiểu biết rất rõ.

So sánh giữa các khối lớp thì sự quan tâm, hiểu biết của các em tăng dần từ khối

10 tới khối 12 (mức độ hiểu rõ: 22,2 % khối 10; 37,5% khối 11 và 56,25% khối 12).

Kết quả phỏng vấn một số em, được biết: các em thường nghe các chương trình tư

vấn trên radio như: mục tình yêu hôn nhân gia đình của đài phát thanh Bình Dương, tiết

mục dành cho phụ nữ của đài Đồng Nai, tư vấn trực tiếp 10 giờ tối thứ 6 của đài Tp.

HCM và đọc các mục tư vấn của báo Mực tím, Hoa học trò, Phụ nữ, Thanh niên…

Mục tư vấn về học tập: 90% HS biết với M=2,3. Như vậy, học tập luôn là nhiệm

vụ hàng đầu đặt ra cho mỗi HS khi đến trường và sự quan tâm của các em về mục này

cũng được ưu tiên nhiều nhất. Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của học tập đòi

hỏi các em phải tu bổ kiến thức về nội dung này.

Tiếp theo là 86,5% HS biết về mục sức khỏe giới tính, 83,6% biết về các nội dung

tư vấn khác như: việc làm, pháp luật, làm đẹp…

Kết quả thu được từ bảng 2.6 cho ta nhận xét khả quan về sự hiểu biết của các em.

Ngoài kiến thức phổ thông được học ở trường các em đã có sự tìm tòi, tham khảo thêm từ

các nguồn khác để nâng cao trình độ của mình.

2.2.2 Mức độ tham gia tƣ vấn của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ

Bảng 2.7 Mức độ tham gia tư vấn của HS trường THPT Xuân Thọ

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng

Mức độ tham gia

% % % %

Thường xuyên 0 5 6,25 3,6

15 17,5 18,75 17,1 Một vài lần

Chưa bao giờ 85 77,5 75 79,3

Tuy sự quan tâm, hiểu biết của học sinh trường THPT Xuân Thọ với các chuyên

21

mục tư vấn trên các phương tiện thông tin là rất lớn. Xong mức độ tham gia tư vấn khi

giải quyết vấn đề của mình là rất ít.

Kết quả từ bảng 2.7: có tới 79,3% HS chưa bao giờ tham gia tư vấn, 20,7% có tham gia

tư vấn nhưng “chỉ một vài lần” (17,1%), chủ yếu bằng hình thức viết thư gửi báo, đài, gọi

điện hoặc trao đổi qua các diễn đàn trên internet.

● Lý do học sinh trường THPT Xuân Thọ không tham gia dịch vụ tư vấn:

Bảng 2.8 : Lý do học sinh trường THPT Xuân Thọ không tham gia dịch vụ tư vấn

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng Nội dung % % % % Thứ bậc

1 E ngại, xấu hổ 25,5 23,75 21,25 23,5

5 Không biết địa chỉ tư vấn 9 7,25 6,5 7,6

Sợ người khác biết về 3 19 12 8,75 13,25 vấn đề của mình

Không có điều kiện trả 4 15 16,25 8 13,1 tiền dịch vụ

2 Ý kiến khác 11 18,75 16,25 15,3

23,5% do “e ngại, xấu hổ”, tiếp theo 13,25% “sợ mọi người biết chuyện của mình”

và một số lý do khác, trong đó “không biết địa chỉ tư vấn” chỉ có 7,6%. Ngoài ra còn có

một số ý kiến khác (15,3%) khiến các em không tham gia tư vấn đó là:

“Không có thời gian rảnh rỗi” (Trương Hoàng H lớp 11C10).

“Ngại đến nơi xa lạ, đông người, ồn ào” (Nguyễn Đình P lớp 10B7).

“Muốn tự vượt lên chính mình” (Trần Xuân V lớp 11C11).

“ Không quan tâm vì bản thân không có nhu cầu” (Nguyễn Văn A lớp 10B1)

Như vậy, lý do không tham gia tư vấn của HS chủ yếu xuất phát từ những khó khăn

bên trong cá nhân, như: do tính rụt rè, nhút nhát, xấu hổ khi nói lên câu chuyện của

mình…Một điều nữa là các em có tâm lý e ngại, lo lắng về dư luận xung quanh. Thế nên

dù muốn được sự tư vấn nhưng các em không bao giờ chủ động nói lên vấn đề. Nắm

được đặc điểm này, bậc phụ huynh và giáo viên cần có cách tiếp cận, gợi mở để các em

có thể nói lên tâm sự thầm kín của mình.

2.3. Ảnh hƣởng của tƣ vấn tâm lý đối với học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ

22

2.3.1. Mức độ tác động của tƣ vấn tâm lý đến nhận thức, hành động học sinh

trƣờng THPT Xuân Thọ

Bảng 2.9: Tác động của tư vấn tâm lý đến nhận thức, hành động HS trường THPT

Khối 10

Khối 11

Khối 12

Tổng

Nội dung Mức độ

%

M

%

M

%

M

%

M

Tình bạn,

Mạnh mẽ

12,2

11,25

17,5

13,65

tình yêu

Hời hợt

11,1

25

50

28

1,2

1,5

1,9

1,5

Không ảnh

76,7

63,75

32,5

57,65

hưởng

Học

tập

Mạnh mẽ

3,3

7,5

16,25

8,8

và hướng

Hời hợt

60

47,5

56,25

46,8

1,5

1,6

1,9

1,7

nghiệp

Không ảnh

36,7

45

27,5

44,4

hưởng

Giao tiếp Mạnh mẽ

8,9

12,5

21,25

14

Hời hợt

54,4

66,25

72,5

64

1,7

1,9

2,2

1,9

Không ảnh

36,7

21,25

6,25

33

hưởng

Sức khỏe

Mạnh mẽ

5,6

8,75

12,5

8,8

giới tính

Hời hợt

45,4

66,25

73,75

64,4

1,7

1,8

2

1,8

Không ảnh

40

25

13,75

26,8

hưởng

Xuân Thọ

Kết quả từ bảng trên ta thấy: Các chương trình, chuyên mục tư vấn trên các phương

tiện thông tin có tác động mạnh mẽ đến nhận thức, hành động của các em.

Ở nội dung giao tiếp có 78% HS chịu ảnh hưởng từ các chuyên mục tư vấn, với M=

1,9. Trong cách cư xử và giao tiếp hằng ngày các em thường ứng dụng những kiến thức

nghe và đọc được trên các tạp chí hay radio, ti vi.

Với nội dung sức khỏe giới tính: 73,2% HS chịu ảnh hưởng từ các chuyên mục tư

vấn, M=1,8. Những kiến thức này được các em coi là “quân sư tin cậy” cho hành vi của

các em.

Học tập, hướng nghiệp: 55,6%, M=1,7. Nội dung này chỉ mang tính chất tham khảo

đối với các em.

Cuối cùng là nội dung tình bạn- tình yêu, chỉ có 38% HS chịu ảnh hưởng từ các

mục tư vấn, M= 1,5. Vì tuổi các em tình bạn cũng như tình yêu nảy sinh ngẩu nhiên và

23

các em hành động theo cảm xúc là chính.

Như vậy, dù tác động của các mục tư vấn có ảnh hưởng tới các em nhưng với trung

bình khảo sát của các nội dung tình bạn- tình yêu (M=1,5), học tập, hướng nghiệp (M=

1,7), giao tiếp (M= 1,9), sức khỏe giới tính (M= 1,8) nhỏ hơn trung bình kỳ vọng (M =2)

nên mức độ ảnh hưởng là chưa sâu sắc lắm.

2.3.2. Nhận thức của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ về tầm quan trọng của hoạt

động tƣ vấn trong nhà trƣờng

Bảng 2.10: Nhận thức của HS về tầm quan trọng của hoạt động tư vấn trong nhà trường

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng Nhận thức của HS % % % % Thứ bậc

Rất cần thiết 55 70,5 72 65,8 1

Cần thiết 21 18,5 18 19,2 2

Có hay không cũng 8 7 10 8,3 3 được

Không cần thiết 16 4 0 6,7 4

Số liệu từ bảng 2.10 cho thấy:

Hầu hết HS (68%) khẳng định hoạt động tư vấn tâm lý trong nhà trường là cần

thiết cho các em, với các mức độ khác nhau.

Trong đó 65,8% HS cho rằng rất cần thiết, chỉ có 6,7% ý kiến nhận định hoạt động

này không cần thiết.

Bảng 2.11: Hiệu quả cụ thể của hoạt động tư vấn

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng Hiệu quả % % % Thứ bậc %

Giải quyết được vấn 20 23,75 28,75 24,2 3 đề khó khăn

Rút kinh nghiệm sống 42 43,5 45 43,5 2

Mở rộng hiểu biết 63,5 67,5 75 68,7 1

Ý kiến khác 5,5 6,25 6,25 6 4

Nhận thức được tính thiết thực của hoạt động tư vấn, các em đã chỉ ra được hiệu

quả cụ thể của tư vấn tâm lý đối với bản thân như sau:

68,7% các em cho rằng: được mở rộng thêm hiểu biết, vì ở những chuyên mục tư

24

vấn có khối lượng thông tin các em cần truy cập rất phong phú.

43,5% HS rút được kinh nghiệm sống, vì thông qua việc giải đáp những câu

chuyện, những tình huống tư vấn, từ đó các em có thể vận dụng vào cách giải quyết vấn

đề của bản thân.

24,2% HS nhờ tư vấn mà giải quyết được khó khăn của mình, vì các em nhận được

lời khuyên, phương hướng giải quyết vấn đề tối ưu nhất từ các chuyên gia.

Và 6% HS có ý kiến khác về hiệu quả của tư vấn tâm lý, đó là:

“Giúp các em xây dựng lý tưởng sống, ý chí trong học tập, công việc” (Nguyễn Đình P

lớp 10B7)

“Nghe tư vấn tâm lý giúp mình cư xử người lớn hơn” (Trần Xuân V lớp 11C10).

“Giúp mình vượt qua những trường hợp “gay cấn” trong quan hệ với bạn khác

giới” (Trương Hoàng H lớp 11C10).

2.4 Nhu cầu của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ về việc mở phòng tƣ vấn tâm lý

tại trƣờng

Thực tế trường THPT Xuân Thọ chưa có mở phòng tư vấn tâm lý cho HS.

Công tác tư vấn tâm lý cho HS của trường Xuân Thọ chưa được quan tâm, đáp ứng

thoả đáng. Trong một vài trường hợp, giáo viên chủ nhiệm là người cố vấn tâm lý cho

HS, tuy nhiên hiệu quả không cao, có thể vì:

Đó không phải là chuyên môn của họ, hơn nữa dạy kiến thức trong sách giáo khoa

đã không đủ thời gian, lấy đâu nói chuyện “tầm phào”.

Ngoài tiết dạy trên lớp giáo viên thường rất bận rộn với chuyện gia đình, chuyện

công tác bồi dưỡng kiến thức, chuyện dạy thêm…nên cũng khó cho cả trò lẫn thầy.

Mặt khác các thầy cô cho rằng: thông qua những tiết học hướng nghiệp đã cung cấp

cho các em những kiến thức cơ bản rồi.

2.4.1 Nhu cầu của học sinh trƣờng THPT Xuân Thọ về việc mở phòng tƣ vấn tâm

lý tại trƣờng

Bảng 2.12 Nhu cầu của học sinh trường THPT Xuân Thọ về việc mở phòng tư vấn

tại trường.

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng Nhu cầu của HS % % % % Thứ bậc

Nên mở 68,8 66,5 83,3 72,9 1

Mở hay không cũng 15,6 17,5 11,7 14,9 2 được

Chưa nên mở 10 12 5 9 3

25

Không cần mở 5,6 4 0 3,2 4

Đa số HS cho rằng nên mở phòng tư vấn tâm lý trong nhà trường (72,9%),vì có

phòng tư vấn trong trường thì sẽ làm giảm được phần nào áp lực cho các em, người

nghiên cứu thống kê được từ phiếu điều tra, giải thích này chiếm 55%. Chỉ có 9% các

em cho rằng chưa nên mở và 3,2% không cần mở, vì dịch vụ tư vấn ngoài xã hội cũng đã

mở rất nhiều rồi (6%).

Như vậy, phần lớn các em nhận thức được hoạt động tư vấn tâm lý là “cần thiết” và

“nên mở” phòng tư vấn tâm lý tại trường phổ thông.

Từ các kết quả khảo sát được: hiện tại có sự không tương xứng giữa nhận thức về

sự cần thiết, nhu cầu tư vấn cao với thực tế tham gia tư vấn thấp của học sinh.

2.4.2. Nhu cầu của HS về hình thức tổ chức và cán bộ phụ trách của phòng tƣ vấn

Khối 10

Khối 11

Khối 12

Tổng

Hình thức tư vấn

%

%

%

%

Thứ bậc

Tư vấn trực tiếp tại nhà

10

6,25

8,75

8,3

5

Tư vấn trực tiếp tại trường

36

36,5

40

37,5

1

Tư vấn qua điện thoại

34

38

36,5

36,2

2

Tư vấn tại khu dân cư

0

0

0

0

6

Tư vấn qua thư từ

28,5

31,25

33,25

31

3

TV qua internet

11,5

22,5

25,5

19,8

4

Bảng 2.13: Nhu cầu của HS về hình thức tổ chức tư vấn.

Kết quả từ bảng 2.13 ta thấy các em có nhu cầu tư vấn theo những hình thức nhất

định, trong đó 2 hình thức được lựa chọn nhiều nhất là: 37,5% tư vấn trực tiếp tại trường

và 36,2% tư vấn qua điện thoại.

Tiếp đến là hình thức tư vấn qua thư từ (31%). Từ phiếu điều tra người nghiên cứu

đã tổng hợp những lý do của HS đưa ra cho những chọn lựa trên của các em như sau:

● Các em thích được tư vấn tại trường vì:

Tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại, không phải chờ lâu mới được trả lời.

Có nhiều bạn cùng cảnh ngộ nên đỡ ngại hơn.

Nhận được lời khuyên chính xác, bổ ích từ các chuyên viên tư vấn.

Rút được kinh nghiệm cho bản thân từ vấn đề của các bạn.

Nhận được sự đồng cảm, chia sẻ từ các bạn.

● Tư vấn qua điện thoại, thư từ vì:

Giải quyết vấn đề nhanh chóng, hiệu quả. Không sợ người khác biết tên, nhớ mặt nên đỡ

26

quê và mạnh dạn hơn.

Dễ nói những chuyện thầm kín.

Nói thật lòng hơn.

● Các hình thức khác ít được lựa chọn hơn, đặc biệt tư vấn qua khu dân cư không

có lựa chọn nào (0%), vì : Tại khu dân cư dễ bị mọi người nhìn với ánh mắt chế nhiễu,

thương hại. Không được tự nhiên, dễ bị nhớ tên, nhớ mặt.

● 19,8% tư vấn qua internet, vì: Hầu hết gia đình các em đều có máy tính nối

mạng internet, nên vào tư vấn rất tiện lợi và dễ sử dụng. Tư vấn qua internet với tên giả

nên rất thoải mái khi nêu vấn đề mà không sợ biết tên thật và có kết quả nhanh.

● 8,3% tư vấn trực tiếp tại nhà, vì: Yên tĩnh, không sợ bị ai dòm ngó và tại nhà

mình nên tự tin hơn khi trình bày vấn đề.

Bảng 2.14 Nhu cầu của HS về cán bộ phụ trách ở phòng tư vấn

Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng

Cán bộ phụ trách % % % % Thứ

bậc

15,5 2 GV chủ nhiệm 11,25 16,5 18,75

69 78,75 70,5 1 Chuyên viên tư vấn 63,75

4 1,25 3 4 GV phụ trách đoàn 3,75

18,5 11,25 14,6 3 Ý kiến khác 14

Cán bộ được HS lựa chọn nhiều nhất đảm nhiệm công việc của phòng là chuyên

viên tư vấn (70,5%), vì: Các em biết rằng những chuyên viên tư vấn được đào tạo chuyên

nghiệp, họ có những kỹ năng và nghiệp vụ cần thiết để giải quyết những khó khăn của

các em một cách khoa học và hiệu quả nhất.

Sau đó là giáo viên chủ nhiệm với 15,5%, vì: Giáo viên chủ nhiệm gần gũi, tiếp

xúc với học trò nhiều, nắm bắt được tính cách cũng như hoàn cảnh của các em thì tư vấn

tốt hơn.

Thầy cô phụ trách đoàn (3%), vì các em cho rằng họ không có thời gian để nghe

tâm sự và chia sẻ với các em.

Một số ý kiến khác (14,6%), đó là: HS của trường đã trải qua những khó khăn, có

nhiều kinh nghiệm; tùy trường hợp mà cán bộ tư vấn có thể thay đổi linh hoạt.

Như vậy, hoạt động của phòng tư vấn có thể tổ chức dưới nhiều hình thức nhưng

cũng nên chú ý tới hình thức và nhu cầu về cán bộ phụ trách được các em lựa chọn nhiều

nhất. Điều này sẽ thúc đẩy các em mạnh dạn đến với phòng tư vấn và có niềm tin hơn ở

27

phòng tư vấn.

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Kết luận

Với đề tài nghiên cứu “Khảo sát nhu cầu xây dựng phòng tư vấn tâm lý của học

sinh trong trường THPT” người nghiên cứu rút ra những kết luận sau:

◘ Hầu hết HS trường THPT Xuân Thọ đều có trạng thái tâm lý lo lắng với các

mức độ khác nhau. Các em lo lắng về các lĩnh vực có liên quan tới học tập, các mối quan

hệ và sự phát triển của bản thân. Trong đó có tới 5,2% các em “thường xuyên lo lắng”.

Thực trạng này rất đáng quan ngại đối với sức khỏe tâm lý học sinh phổ thông, các em là

người chủ tương lai của đất nước mà luôn trong trạng thái căng thẳng, bất an thì không

thể học tập, làm việc, phát triển tốt được. Phải chăng thái độ và đòi hỏi của gia đình, nhà

trường và xã hội quá cao đã gây nên thực trạng này.

◘ Những khó khăn ảnh hưởng tới tâm lý HS, làm các em lo lắng là:

- Về vấn đề học tập, khó khăn là 78,8%, áp lực tạo ra từ nội dung chương trình học quá

nặng, phương pháp giảng dạy của giáo viên, kỳ vọng của gia đình, lựa chọn nghề nghiệp

tương lai…

+ Đa số các em chọn nghề theo sở thích cá nhân (63%), theo nhu cầu xã hội (13,5

%). Rất ít HS chọn nghề theo ý cha mẹ (2,8%), theo bạn bè (0,7%). Trước yêu cầu mới

về lao động của xã hội như hiện nay thì HS cần phải được tư vấn, định hướng nghề

nghiệp phù hợp. Có như thế mới tạo được lực lượng lao động đáp ứng được nhu cầu của

xã hội.

-Về quan hệ với gia đình: khó khăn là 74,8%, nguyên nhân là sự bất đồng giữa hai thế hệ

ngày càng lớn, cha mẹ và con cái không tìm được tiếng nói chung.

- Về tình bạn-tình yêu, trong mối quan hệ này khó khăn là 66%.

- Về sức khỏe giới tính khó khăn là: 54%.

Từ những nỗi lo lắng trên, ta thấy cha mẹ và thầy cô cũng là một trong những nguyên

nhân gây áp lực cho HS, đây là một vấn đề mà bậc phụ huynh và giáo viên nên xem xét

lại.

◘ Điều đáng lo ngại là khi gặp khó khăn, lo lắng rất ít HS tâm sự, chia sẻ với cha

mẹ, ông bà (12,8%), cũng như tâm sự với thầy cô (9,6%). Qua đó cho ta thấy cha mẹ và

thầy cô có những khoảng cách nhất định đối với các em, điều nay chứng tỏ rằng chưa có

sự quan tâm đáp ứng đúng mức từ phía gia đình, nhà trường và xã hội đối với HS. Mà

28

các em tự giải quyết theo cách riêng (24,4%) và âm thầm chịu đựng (47,6%)

hoặc chỉ tâm sự vời bạn bè (35,2%). Lời khuyên của bạn không phải lúc nào cũng đúng,

mức độ hiểu biết của các em là gần như nhau nên không có kết quả tốt. Nếu không có sự

hướng dẫn kịp thời của người lớn, các em thường có suy nghĩ tiêu cực dễ hành động

nông nổi đưa đến những hậu quả đáng tiếc.

◘ Mức độ tiếp cận của HS với dịch vụ tư vấn tâm lý

Nhìn chung các em có sự quan tâm nhiều dành cho các các chuyên mục, chương trình tư

vấn trên các phương tiện thông tin. HS biết về nội dung tư vấn tình yêu hôn nhân gia đình

(88%); học tập ( 90%); sức khỏe giới tính (86,5%); các nội dung khác (83,6%).

Nhưng thực tế tham gia tư vấn của các em rất ít: 20,7%, còn 79,3% chưa bao giờ tham

gia tư vấn khi giải quyết vấn đề khó khăn của mình. Cho thấy tư vấn tâm lý trong xã hội

tuy có được sự quan tâm của HS nhưng dịch vụ này chưa thật sự phù hợp với điều kiện

các em để thu hút HS tham gia vào dịch vụ này.

◘ 85% HS trường THPT Xuân Thọ nhận thức được hoạt động tư vấn là cần thiết

đối với bản thân. Đây là một dấu hiệu đáng mừng vì phần lớn các em đã ý thức được tầm

quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lý trong cuộc sống. Đồng thời nó cũng cho thấy

một nhu cầu rất lớn về tư vấn tâm lý cần được đáp ứng cho HS phổ thông hiện nay.

◘ Thực tiễn công tác tư vấn tâm lý cho học sinh ở trường THPT Xuân Thọ chưa

được quan tâm, đáp ứng thỏa đáng. Hiện tại trường THPT Xuân Thọ chưa có phòng ban

tư vấn để trợ giúp cho học sinh.

◘ Các em có nhu cầu tư vấn thông qua việc mở phòng tư vấn tâm lý tại trường là

khá lớn (72,9%). Đa số các em cho rằng tư vấn tâm lý tại trường sẻ giải quyết được vấn

đề nhanh chóng, hiệu quả, đở ngại hơn đồng thời còn nhận được sự đồng cảm, chia sẻ từ

bạn bè.

◘ Hình thức tư vấn tâm lý mà HS mong muốn nhiều nhất là tư vấn trực tiếp tại

trường và tư vấn qua điện thoại. Tiếp đến là hình thức tư vấn qua thư từ.

Và kết quả khảo sát được người thích hợp nhất tư vấn tâm lý cho các em là chuyên viên

tư vấn.

3.2. Kiến nghị

◘ Về phía Sở Giáo Dục và Đào Tạo:

- Cung cấp kinh phí hỗ trợ để xây dựng, trang bị cho phòng tư vấn tâm lý ở các

trường phổ thông.

- Lồng ghép các kiến thức tâm lý, giới tính và sức khỏe sinh sản vào chương trình

học của học sinh phổ thông.

29

◘ Về phía nhà trường:

- Để giảm bớt áp lực về tâm lý cho HS, nhà trường cần thực hiện tốt công tác hướng

nghiệp cho các em, nhất là vào thời điểm làm hồ sơ thi đại học, cao đẳng.

- Cần tổ chức và phát triển mạng lưới phòng tư vấn để trợ giúp học sinh, thỏa mãn nhu

cầu tư vấn của các em. Hoạt động tư vấn có thể thực hiện theo nhiều hình thức sinh động

tuy nhiên cần chú ý hình thức tư vấn trực tiếp với (nhóm hoặc cá nhân) học sinh và thông

qua điện thoại, thư từ.

- Đồng thời tuyên truyền rộng rãi cho mọi học sinh được biết về vai trò của tư vấn tâm lý

trong cuộc sống của mỗi cá nhân và tránh những định kiến, kỳ thị đối với người tham gia

tư vấn tâm lý.

- Tổ chức bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng tư vấn tâm lý cho giáo viên.

- Cần trang bị tốt về cơ sở vật chất (phòng, bàn ghế, máy vi tính…) giúp cán bộ tư vấn có

điều kiện thực hiện tốt công tác của mình.

- Việc tổ chức các hoạt động tư vấn cần có sự phối hợp giữa các hội tư vấn chuyên

nghiệp với hội đồng giáo dục nhà trường.

- Cán bộ tư vấn chủ yếu phải là các nhà tư vấn chuyên nghiệp, bên cạnh đó cần kết hợp

với đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, các cố vấn đoàn.

◘ Về phía giáo viên:

- Thầy cô cần dành nhiều thời gian bồi dưỡng, nâng cao kiến thức tâm lý của mình để

đáp ứng nhu cầu tư vấn cho học sinh .

- Thầy cô cần quan tâm, gần gũi với HS, nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt,

những HS luôn có trạng thái căng thẳng. Giáo viên nên giúp đỡ các em với sự nhiệt

tình và chân thành.

- Giáo viên nên chọn phương pháp giảng dạy theo hướng đem lại cho HS hứng thú và

thoải mái trong học tập, tránh gây ra những áp lực cho HS.

◘ Về phía gia đình:

- Cha mẹ cần dành nhiều thời gian để chăm sóc, lắng nghe con cái. Chia sẻ những khó

khăn các em gặp phải. Hãy là nền tảng vững chắc để các em có thể tin tưởng dựa vào khi

gặp mệt mỏi, áp lực trong cuộc sống, học tập.

- Bậc phụ huynh nên trang bị thêm kiến thức gia đình và xã hội để có thể giúp đỡ các

em.

◘ Về phía HS:

- Các em nên cởi mở lòng hơn đối với cha mẹ và thầy cô, tạo điều kiện để họ có thể

chia sẻ và thông cảm với khó khăn của các em.

30

- Không nên tự mình giải quyết hết mọi việc, nhất là trong lĩnh vực tình cảm vì các em

có thể gặp những sai lầm đáng tiếc.

3.3. Hƣớng mới cho nghiên cứu tiếp tục của đề tài

Đề tài được tiến hành trong thời gian và điều kiện nghiên cứu có giới hạn nên có

nhiều hạn chế và thiếu sót, người nghiên cứu rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý

thầy cô.

Nếu được nghiên cứu tiếp tục, có thể phát triển đề tài theo các hướng sau:

- Mở rộng phạm vi nghiên cứu của đề tài với một số trường THPT trên địa bàn

ngoài huyện Xuân Lộc. Trên cơ sở so sánh, phân tích nhu cầu tư vấn của HS từng vùng

để đưa ra “mô hình của phòng tư vấn” phù hợp với đặc điểm tâm lý HS từng vùng.

- Đi sâu vào sự khác biệt về giới tính trong nhu cầu tư vấn tâm lý học đường của

HS trung học phổ thông.

- Thiết kế diễn đàn tư vấn tâm lý trong nhà trường dành cho những ai quan tâm tới

31

sức khỏe tâm lý của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đại từ điển tiếng việt. Bộ giáo dục và đào tạo trung tâm ngôn ngữ văn hóa Việt

Nam. NXB văn hóa thông tin. 2006.

2. Khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của học sinh THPT. Dương Thị Diệu

Hoa,Vũ Khánh Linh,Trần Văn Thức. Tạp chí tâm lý học, số 2. 2007

3. Lý luận dạy học. Lê Phước Lộc. Trường ĐH Cần Thơ. 2004

4. Phương pháp nghiên cứu khoa học. Châu Kim Lang. Lưu hành nội bộ. 200

5. Tâm lý học. Bùi Ngọc Oánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quỳnh. Trường ĐH

sư phạm Tp. HCM. 1996.

6. Tham vấn - một dịch vụ xã hội cần được phát triển ở Việt Nam. Bùi Thị Xuân

Mai. Tạp chí tâm lý học, số 2. 2005

7. Tâm lý học xã hội. Bùi Văn Huệ, Vũ Dũng. NXB quốc gia. 2003

8. Thanh thiếu niên và stress. Charmaine Sauaders (Khánh Vân dịch), NXB thanh

niên. 2004.

9. Tư vấn tâm lý học đường. Kiến Văn, Lý Chủ Hưng. NXB phụ nữ. 2007.

10. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm. Lê Văn Hồng và ctv. NXB giáo dục.

1998

11. Tâm lý học đại cương. Nguyễn Quang Uẩn. NXB ĐH quốc gia HCM. 2003.

12. Tìm hiểu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong tư vấn tâm lý học sinh một số

trường THPT. Nguyễn Thị Trang. Luận văn tốt nghiệp cử nhân sư phạm ĐH Nông

Lâm, Tp. HCM, Việt Nam. 2007.

13. Tư vấn tâm lý căn bản. Nguyễn Thơ Sinh. NXB Lao động. 2006.

14. Lời khẩn cầu của học sinh, “Xin đừng gây áp lực cho con”. Như Lịch - Thiên

Long, 2007.

http://wwwhocmai.vn/mod/newshm/view.php?id=954

15. Tuyển tập tâm lý học. Phạm Minh Hạc. NXB giáo dục. 2002.

16. Hoạt động của phòng tư vấn tâm lý - giáo dục - hướng nghiệp ở trường trung

học phổ thông. Trần Thị Thu Mai, 2007. http://honviet.com.vn

17. Tư vấn học đường. Đoan Trúc, 2007. http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/

32

18. Một học sinh tự tử vì áp lực học tập. Hồng Lân, 2008. http:// www.nld.com.vn

PHỤ LỤC

PHIẾU XIN Ý KIẾN

Để thực hiện đề tài “Khảo sát nhu cầu xây dựng phòng tư vấn tâm lý trong trường học”. Xin vui lòng đánh dấu X vào sự lựa chọn của bạn, hoặc ghi ý kiến của bạn. Xin chân thành cảm ơn. Câu 1: Tâm lý của bạn hiện tại là?

Câu 2: Bạn thường lo lắng về vấn đề gì?

Câu 3: Bạn giải tỏa tâm lý lo lắng của mình bằng cách nào?

Câu 4: Bạn biết gì về dịch vụ tư vấn tâm lý hiện nay?

33

Câu 5: Bạn muốn được mở phòng tư vấn tâm lý tại trường của mình không?

PHIẾU XIN Ý KIẾN

Để thực hiện đề tài “Khảo sát nhu cầu xây dựng phòng tư vấn tâm lý trong trường học”. Xin vui lòng đánh dấu X vào sự lựa chọn của bạn, hoặc ghi ý kiến của bạn. Xin chân thành cảm ơn. Khối…………Lớp………………….. 1. Tâm lý của bạn hiện tại là: a. Rất hài lòng và yên tâm b. Về cơ bản là hài lòng c. Hài lòng và lo lắng pha trộn d. Lo lắng nhiều hơn hài lòng

e. Thường xuyên lo lắng f. Ý kiến khác ................................................................................................. 2. Khó khăn mà bạn gặp phải trong cuộc sống là:

Rất khó khăn Hơi khó khăn Không khó khăn

Mức độ Nội dung Quan hệ với gia đình Quan hệ với bạn bè Quan hệ với thầy cô Học tập, lý tưởng, nghề nghiệp tương lai Sức khỏe, giới tính

3. Ảnh hƣởng của khó khăn tâm lý đến đời sống bạn nhƣ thế nào? a. Rất ảnh hưởng b. Ít ảnh hưởng c. Không ảnh hưởng

4. Bạn chọn cách thức nào để giải tỏa những lo lắng của bạn? a. . Âm thầm chịu đựng, vì……………………………….………………………… b. . Tự mình giải quyết theo cách riêng, vì………………………………………… c. Tìm hiểu qua các phương tiện thông tin, vì…………………………………… d. Tự an ủi, làm gì đó, viết nhật ký, vì…………………………………………… e. Tâm sự với cha mẹ, ông bà, anh chị em, vì…………………………………… f. Tâm sự với thầy cô, vì………………………………………………………… g. Tâm sự với bạn bè, vì………………………………………………………… h. Nhờ trung tâm tư vấn, vì……………………………………………………… 5. Khi chọn nghề nghiệp cho tƣơng lai, bạn chọn theo: b. Nhu cầu xã hội a. Ý cha mẹ d. Theo bạn bè c. Sở thích cá nhân 6. Sự hiểu biết của bạn về dịch vụ tƣ vấn tâm lý trong xã hội hiện nay?

Hiểu rõ Biết mơ hồ Không biết

34

Mức độ Nội dung Tình yêu hôn nhân gia đình Học tập Sức khỏe giới tính

Các nội dung khác: làm đẹp, việc làm, pháp luật… 7. Bạn đã bao giờ tham gia dịch vụ tƣ vấn tâm lý chƣa? b. Một vài lần c. Chưa bao giờ

c. Sợ mọi người biết về vấn đề của mình d. Không có điều kiện trả tiền dịch vụ

Hời hợt Mạnh mẽ Không ảnh hưởng

a. Thường xuyên 8. Lý do bạn không tham gia tƣ vấn tâm lý (có thể chọn 1 hoặc nhiều câu). a. E ngại, xấu hổ b. Không biết địa chỉ tư vấn e.Ý kiến khác................................................................................................... 9. Hoạt động tƣ vấn tâm lý ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến nhận thức, hành động của bạn? Mức độ Nội dung Tình bạn và tình yêu Học tập và hướng nghiệp Giao tiếp Sức khỏe giới tính 10. Theo bạn hiệu quả từ việc đƣợc tƣ vấn tâm lý là? (có thể chọn 1 hoặc nhiều câu) a. Giải quyết được vấn đề khó khăn mà bạn đang gặp phải b. Rút ra một số kinh nghiệm sống cho bản thân c. Mở rộng hiểu biết d. Ý kiến khác…………………………………………………………………… 11. Trƣờng của bạn có mở phòng tƣ vấn tâm lý chƣa ? a. Có b. Chưa 12. Theo bạn có nên mở phòng tƣ vấn tâm lý ở trƣờng của bạn không? Vì sao? a. Nên mở, vì ................................................................................................... b. Mở cũng được, không mở cũng được, vì ..................................................... c. Chưa nên mở, vì .......................................................................................... d. Không cần mở, vì ........................................................................................ 13. Bạn thích đƣợc tƣ vấn tâm lý theo hình thức nào? a. Tư vấn trực tiếp tại nhà, vì .................................................................... b. Tư vấn trực tiếp tại trường, vì ............................................................... c. Tư vấn qua điện thoại, vì ...................................................................... d. Tư vấn tại khu dân cư, vì ...................................................................... e. Tư vấn qua thư từ, vì............................................................................. f. Tư vấn qua dịch vụ internet (mail, chat, diễn đàn…), vì ........................ 14. Theo bạn hoạt động tƣ vấn tâm lý trong nhà trƣờng cần thiết đối với học sinh THPT nhƣ thế nào? a. Rất cần thiết b. Cần thiết c. Có hay không cũng được d. Không cần thiết

15. Theo bạn ai là ngƣời thích hợp tƣ vấn tại phòng tƣ vấn tâm lý của trƣờng?

35

a. Giáo viên chủ nhiệm, vì ........................................................................ b. Chuyên viên tư vấn, vì .......................................................................... c. Thầy cô phụ trách đoàn, vì .................................................................... d. Ý kiến khác, vì..........................................................................................