SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: "GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
HỌC SINH BỎ HỌC Ở TRƢỜNG THPT KỲ SƠN"
.
LĨNH VỰC: CHỦ NHIỆM
Nhóm tác giả: Thái Tài Thủy - 0848245169
Cao Thị Hải Yến - 0858608559
Năm thực hiện: 2021 - 2022
Kỳ Sơn, tháng 3 năm 2022
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................ 1
I. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
II. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 3
III. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................ 3
IV. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
V. Phạm vi đề tài ..................................................................................................... 3
PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI............................................................................. 4
1. Cơ sở lý luận. ....................................................................................................... 4
II. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................... 5
III. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BỎ HỌC VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
............................................................................................................................... 10
1. Xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học ............................................ 10
1.1.Nguyên nhân khách quan ................................................................................ 10
1.2. Nguyên nhân chủ quan ................................................................................... 11
2. Xây dựng kế hoạch giáo dục nhằm hạn chế tình trạng bỏ học ......................... 11
2.1. Giải pháp ngắn hạn ........................................................................................ 11
2.1.1. Mục tiêu của giải pháp ................................................................................ 11
2.1.2. Cách thức thực hiện giải pháp .................................................................... 12
2.1.2.1. Trong công tác giáo viên chủ nhiệm: ....................................................... 17
2.1.2.2. Trong công tác giáo viên bộ môn. ............................................................ 22
2.1.2.3 Tạo môi trường giáo dục sôi động, thoải mái và tôn trọng các em học sinh
trong học tập dưới sự hỗ trợ của tổ chức Đoàn thanh niên. ................................. 25
2.1.2.4. Hoạt động tổ tư vấn lứa tuổi học đường của nhà trường ........................ 30
2.1.2.5. Phối hợp với các tổ chức chính trị ngoài nhà trường trong giáo dục pháp
luật, tảo hôn, tình yêu và hôn nhân. ...................................................................... 30
2.1.2.6. Xây dựng kế hoạch giáo dục để “ Không một ai bị bỏ lại phía sau” ..... 31
2.2. Giải pháp chiến lược dài hạn .......................................................................... 32
2.2.1. Xây dựng và phát triển cơ sở vật chất nhà trường bền vững. ..................... 32
2.2.2 Tiếp tục tham mưu cho chính quyền địa phương về chiến lược phát triển
giáo dục trong giai đoạn mới.................. .............................................................. 34
2.2.3. Tăng cường kêu gọi vận động tài trơ về vật chất cũng như tinh thần của
các tổ chức trong và ngoài nhà trường ................................................................ 39
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN ...................................................................... 39
1. Thống kê số lượng học sinh bỏ học trước khi áp dụng ..................................... 39
2. Đánh giá kết quả sau khi áp dụng ..................................................................... 40
PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ............................................................... 40
I. Kết luận .............................................................................................................. 40
2. Khuyến nghị ...................................................................................................... 41
1. Đối với chính quyền các cấp ............................................................................. 42
2. Đối với nhà trường ............................................................................................ 42
3. Đối với giaó viên bộ môn .................................................................................. 43
4.Đối với tổ chức Đoàn thanh niên.......................................................................43 5. Đối với tổ tư vấn lứa tuổi học đường................................................................43 6. Đối với giáo viên chủ nhiệm.............................................................................43 7. Đối với gia đình học sinh..................................................................................44 TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................45
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Kỳ Sơn, mảnh đất tây xứ Nghệ với tọa độ 19006'- 19043' vĩ độ Bắc , 103052' -104047' Kinh đông. Diện tích tự nhiên 2.094,84 km2 (đứng thứ 2 trong toàn tỉnh).
Phía Bắc, Tây, Nam giáp 5 huyện thuộc 3 tỉnh (Hùa Phăn, Xiêng Khoảng,
Bôlykhămxay) của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với 192 km đường
biên, phía đông giáp với huyện Tương Dương. Là huyện có vị trí chiến lược quan
trọng, phía nam có đỉnh Phuxailaileng cao 2.711m so với mực nước biển, với 02
cựa khẩu (Cửa khẩu Nậm Cắn- Cửa khẩu chính, Cửa khẩu phụ Ta Đo - Mường
Típ).. Đồng bào sinh sống nơi đây đa số là người dân tộc thiểu số Thái(26,1%),
Hơ Mông(33,4%), Khơ Mú(36,3%). Điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, giao
thông đi lại hiểm trở, sự kết nối thông tin, giao lưu giữa các bản làng còn rất
nhiều hạn chế. Nguồn thu nhập kinh tế cơ bản bám vào nương rẫy, dẫn đến nền
Giáo dục chưa được phát triển đồng bộ.
Trường THPT Kỳ Sơn được thành lập vào năm 1967, trải qua hơn 54 năm
xây dựng trưởng thành và phát triển, quy mô trường lớp ngày càng được nâng
lên. Năm học 2021-2022, trường có 38 lớp với 1.330 em học sinh. Là ngôi trường
THPT duy nhất trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, khi thực hiện kế hoach nhà trường
gặp khá nhiều khó khăn trong công tác bảo toàn và duy trì sỉ số học sinh. Mặc dù
nhà trường đã làm nhiều cách, nhưng sỉ số học sinh đầu năm và cuối năm vẫn
giảm đi một lượng đáng kể.
Là giáo viên đã từng công tác nhiều năm tại trường THPT Kỳ Sơn. Đã
từng trải qua công tác chủ nhiệm nhiều lớp khác nhau như lớp chọn nội trú, lớp
chọn A1, lớp đại trà, tiếp xúc và dạy dỗ nhiều học sinh là người dân tộc thiểu số
như Thái, H’mông, Khơ mú, Hoa,... đến từ các xã xa hàng chục cây số, với điều
kiện giao thông đi lại rất khó khăn. Mặc dù thời gian lớn tôi thường được cắt cử
làm công tác chủ nhiệm lớp nguồn của nhà trường. Nhưng đặc biệt tôi thường,
đầu tư, chú ý đến các em học sinh lớp thường nhiều hơn, bởi các em ở những lớp
này có những điều kiện kinh tế, gia đình thua thiệt hơn so với lớp chọn. Mặt khác
2
học sinh lớp này có đặc điểm riêng trong cách giao tiếp, trong ý thức học tập, rèn
luyện cũng như trong việc tham gia các hoạt động tập thể của nhà trường.
Trong bối cảnh đất nước hiện nay chú trọng đến sự phát triển toàn diện, phổ biến sâu, rộng và để "không một ai bị bỏ lại phía sau" thì sự giáo dục đại trà,
phổ cập THPT ngày càng được quan tâm. Với một mong muốn xã hội có gắn bó
mật thiết với phát triển con người và được coi là tiền đề thiết yếu cho sự phát
triển con người. Để có được sự phát triển toàn diện của nhà trường đòi hỏi phải
bảo toàn và duy trì sỉ số, ổn định tư tưởng cho các em, gỡ bỏ những rào cản gây
ra sự tách biệt và tạo môi trường thuận lợi cho các em học sinh, để các em có khả
năng tham gia vào nhiều phương diện của đời sống xã hội.
Trong suốt thời gian làm công tác chủ nhiệm lớp và giáo viên bộ môn trực
tiếp giảng dạy các em, chứng kiến sự tụt giảm sỉ số lớp là một vấn đề nhức nhối
trong công tác làm giáo viên chủ nhiệm, cũng như công tác quản lý giáo dục của
nhà trường. Tất cả những điều đó nói lên tình trạng các em học sinh chây lười
học, chưa ham học, chưa yêu trường yêu lớp như các bạn ở miền xuôi. Chính
điều này đã làm cho các em đang tự lùi mình về phía sau và vô hình chung mọi
người đã làm cho các em mất đi cơ hội để tham gia, thể hiện khả năng và sự sáng
tạo của tuổi trẻ.
Nhận thức được vấn đề nhức nhối này với vai trò, trách nhiệm của người
giáo viên chủ nhiệm lớp, người đồng hành, dẫn dắt các em trong suốt 3 năm
THPT. Cần phải có giải pháp nhằm khắc phục và hạn chế tình trạng bỏ học của
học sinh trong lớp. Để giúp các em yêu trường, yêu lớp, tôn trọng và quỹ mến
thầy cô thì điều đầu tiên phải giúp các em thấy được niềm vui trong học tập, thấy
được ỹ nghĩa của việc học, thích ứng và hòa nhập với bạn bè, tự tin gần gũi với
thầy cô.
Vấn đề này dù đã ít nhiều đã được bàn luận nhưng thực sự chưa có nhiều
tài liệu nghiên cứu hay các sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp khai thác.
Với những lí do đó, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và chọn đề tài: “Giải pháp hạn
chế tình trạng học sinh bỏ học ở trường trung học phổ thông Kỳ Sơn”.
3
II. Mục đích nghiên cứu
Thực tiễn ở huyện miền núi Kỳ Sơn cho thấy một phần không nhỏ các em
học sinh nơi đây chưa yêu thích học tập, chưa xác định rõ được ỹ nghĩa của việc
học và rèn luyện trí và lực để mai sau trở thành người có ích cho xã hội. Chính vì
vậy tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp hạn chế tình trạng học sinh bỏ học ở
trường, đồng thời tôi muốn chia sẻ, trao đổi cùng đồng nghiệp để nâng cao vai trò
quản lý, duy trì sỉ số trong công tác làm giáo viên chủ nhiệm lớp.
III. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình trạng học sinh bỏ học ở Trường
THPT Kỳ Sơn.
IV. Phƣơng pháp nghiên cứu
Một số phương pháp chính được sử dụng trong SKKN này là:
- Phương pháp trao đổi, tìm hiểu trực tiếp những vấn đề khó khăn các em
gặp phải trong cuộc sống, trong học tập. Trong quá trình theo dõi, bám sát các đối
tượng thường xuyên nghỉ học, bỏ học vô lý do. Tôi gặp trực tiếp các em và trao
đổi về lý do không thích học như sau:
+ 60% các em học sinh đưa ra lý do điều kiện kinh tế gia đình, điều kiện
sinh hoạt và học tập gặp nhiều khó khăn.
+ 20 % Chưa xác định mục tiêu của học tập, đua đòi theo bạn bè ăn chơi.
+ 20% Số em học sinh bỏ học để lập gia đình, đi lào, đi công ty làm việc.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin;
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, so sánh đối chiếu.
V. Phạm vi đề tài
Tình trạng học sinh chưa thích học, bỏ học không chỉ diễn ra ở trường
miền núi mà ngay cả một số trường ở địa phương miền xuôi. Nhưng với vai trò là
giáo viên công tác ở miền núi tôi chỉ nghiên cứu, trình bày một số giải pháp trong
4
phạm vi ở trường THPT Kỳ Sơn và các trường miền núi lân cận.
PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận.
Trong văn kiện đại hội Đảng đã khẳng định về vai trò của giáo dục đã nói:
Tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo cùng với
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực “then chốt” để phát triển
đất nước. Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu xác định rõ mục tiêu của giáo dục và
đào tạo trong giai đoạn tới, nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân,
gia đình, xã hội và Tổ quốc. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng
sống với giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất,
nâng cao tầm vóc con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Đại hội nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo thích ứng với cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, do vậy phải đẩy mạnh phát triển
nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Phát triển đội ngũ chuyên gia,
nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân
lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý
xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người. Trước đây chỉ đề cập: Chú
trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển
kinh tế tri thức, điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: Đổi mới chế
độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước,
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú ý phát hiện, bồi dưỡng,
đãi ngộ, thu hút nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đổi mới và
nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm
thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Tập
trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động,
nhất là ở nông thôn; giảm tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức. Hình thành đội
5
ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết
chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động.
Đại hội còn nhấn mạnh: cụ thể hóa yêu cầu hoàn thiện hệ thống giáo dục
quốc dân, sắp xếp lại hệ thống trường học giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng
đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hai đảo và các đối
tượng chính sách. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo.
Đối với trường miền núi THPT Kỳ Sơn luôn xác định tầm chiến lược cụ
thể trong thời gian này đó là công tác giáo dục đại trà, dần dần nâng cao chất
lượng dạy và học. Như chúng ta đã biết học sinh dân tộc thiểu số thì sự phát triển
tâm lí của các em sống ở miền núi cao, hoàn cảnh kinh tế - xã hội,văn hóa còn
gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Năng lực tiếp cận và tiếp thu nền giáo dục khác
với các em học sinh các dân tộc khác sống ở đồng bằng và thành phố nên sự phát
triển tâm lí, nhận thức về ỹ nghĩa của việc học của các em cũng có một số đặc
điểm riêng. Các em sinh ra và lớn lên giữa rừng núi sâu xa, từ nhỏ đã quen với sự
yên tĩnh của núi rừng, với tiếng chim muông, thú rừng và quen với việc vào rừng
săn bắn, tìm cây, hái rau rừng, qen với ý thức hệ tự do. Dẫn đến khi gia nhập vào
môi trường giáo dục mới, môi trường mới thì đa số các em bị bỡ ngỡ, cảm giác bị
ràng buộc, giáo điều. Vậy nên tình trạng không thích ứng với sự thay đổi môi
trường tập trung học tập và sinh hoạt nơi cộng dồng đông đúc. Mặt khác sự khó
khăn về kinh tế cũng là một trong những yếu tố rất lớn để cho các em có những
nhận thức sai lệch về giáo dục, đây cũng là một trong nguyên nhân cơ bản dẫn
đến tình trạng chây lười học, bỏ học của các em học sinh.
II. Cơ sở thực tiễn
Trường THPT Kỳ Sơn nằm trên địa bàn huyện miền núi rẻo cao với hơn
1.380 em học sinh gồm các dân tộc như Khơ mú, H’ mông, Thái, Kinh và dân tộc
Hoa. Trong đó học sinh người dân tộc chiếm số đông trên địa bàn, hơn 95 % là
học sinh người dân tộc thiểu số theo học tại trường. Nhận thức và phong trào học
tập của các em học sinh chưa cao, khả năng tiếp thu kiến thức khoa học, khả năng
hòa nhập và tiếp cận các hoạt động xã hội rất hạn chế, thiếu tự tin, chưa mạnh
6
dạn thể hiện và biểu đạt những ý kiến cũng như tâm tư nguyện vọng cá nhân, kết
quả học tập và rèn luyện chiếm tỉ lệ khá, giỏi rất thấp. Hàng năm tỉ lệ học sinh thi
lại, ở lại chiểm tỉ lệ khá nhiều. Đặc biệt hơn nữa là tình trạng bỏ học vẫn diễn ra
phổ biến với rất nhiều lý do khác nhau như: Do điều kiện kinh tế, tảo hôn, di cư
sang Lào sinh sống, theo Bố mẹ đi làm công ty, tình trạng đua đòi của các em với
những thanh thiếu niên khi đi làm ăn về có một ít tiền tiêu xài không tính toán.
Đặc biệt hơn nữa là sự nhận thức của gia đình về giáo dục chưa cao, sự thay đổi
của giáo dục trong cuộc cách mạng 4.0 cũng làm cho các em nắm bắt không kịp.
Đại dịch Covid- 19 cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng sau
khi nghỉ dịch các em cũng không ra nhập học.
Dẫu muôn vàn những khó khăn đã và đang diễn ra, chính quyền địa
phương và các tổ chức và nhà trường đang nỗ lực và dành thời gian tốt nhất để
giáo dục, đào tạo các em. Có thể nói Trường THPT Kỳ Sơn là nơi đào tạo cán bộ
nguồn cho huyện nhà. Mái trường này đã đào tạo ra được rất nhiều thế hệ làm
lãnh đạo chủ chốt và thành đạt trên địa bàn huyện và trong và ngoài tỉnh Nghệ
An. Vì thế lãnh đạo các cấp rất quan tâm chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số, chú trọng công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, sắp
xếp, bố trí đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số hợp lý và hài hòa, tránh tình
trạng cục bộ địa phương, dòng họ, hệ dân tộc. Những việc làm này đã tạo cho
người dân một sự nhìn nhận đúng đắn và khách quan về đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng và nhà nước ta, đó cũng là một trong những động lực để phụ
huynh cho con em tới trường.
Xuất phát từ các em học sinh nơi đây quen sống với nhà lá, nhà gỗ đơn sơ,
quen với cảnh bản làng heo hút, tĩnh mịch nằm rải rác trên những sườn đồi, dọc
theo hai bờ sông, suối, quen với cảnh một buổi đi học, một buổi vào rừng làm
nương rấy, hái măng, đốn củi để sinh sống. Những điều này đã tạo nên bản tính
thật thà, chất phác, đơn sơ, mộc mạc, thích cuộc sống tự do, tự tại và không chị
sự ràng buộc nên chưa thích ứng với cuộc sống thành thị.
Những điều này là trở ngại lớn để các em khi ra môi trường mới, tính năng
7
động, nhộn nhịp của thị trấn. Các hoạt động trong cuộc sống phải chịu chi phối
nhiều yếu tố về mặt của pháp luật, nơi các em phải chịu sự quản lí, giám sát chặt
chẽ của thầy cô giáo và các tổ chức trong và ngoài nhà trường với rất nhiều
những nội quy nề nếp trường lớp, quy định của khối xóm, Thị trấn. Với cuộc
sống ở nơi đây cần có một số kinh tế nhất định để ăn ở, thuê phòng trọ và một số
chi phí khác, điều này cũng là một trở ngại lớn trong sinh hoạt của các em. Tính
năng động, chủ động trong cuộc sống của các em chưa cao. Đặc biệt hơn trong
các hoạt động giáo dục, trong giờ học còn thụ động, chưa chủ động tích cực trong
việc tìm tòi và vận dụng kiến thức mới, còn e ngại, rụt rè khi đưa ra ý kiến của
mình, không ít học sinh ý thức chưa cao trong học tập và rèn luyện. Ý thức, động
cơ, thái độ học tập của học sinh còn thấp, ham chơi, không thích học tập, đua đòi
những thói hư, tật xấu, các em dễ bị cám giỗ bởi các tệ nạn xã hội. Đa số các em
chỉ xác định đến trường như một nghĩa vụ bắt buộc, do cha mẹ quy định, xã hội
quy định, chưa có mục tiêu rõ ràng, chưa yêu thích trường lớp. Một số em do học
yếu, mất căn bản, xấu hổ, mặc cảm, không có ý chí phấn đấu. Sự kỳ thị về dân
tộc, tự ti, sống khép mình nên thiếu sự chia sẻ từ bạn bè không cùng hệ dân tộc.
Từ nhận thức chưa cao nên đa số các em có tư tưởng không thích học, hay nghỉ
học, bỏ học để đi làm ăn xa theo bố mẹ hoặc xu hướng lập gia đình từ rất sớm, và
đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các em học sinh ở trường miền
núi hay nghỉ học,bỏ học giữa chừng.
Do vậy, để rút ngắn khoảng cách giữa dân tộc này với dân tộc khác, để tất
cả các em học sinh người dân tộc thấy rằng mình cũng có cơ hội, có đủ năng lực
và tự tin tham gia các hoạt động học tập cũng như hoạt động tập thể, chủ động
hòa nhập cùng bạn bè, thầy cô, giúp các em có niềm tin, có thêm nhiều kiến thức
xã hội, kỹ năng sống và bắt kịp với bè bạn cùng trang lứa ở miền xuôi. Trong
suốt những năm qua lãnh đạo nhà trường đã có sự chỉ đao, phối hợp với các tổ
chức đoàn thể trong nhà trường, các giáo viên chủ nhiệm cũng như giáo viên bộ
môn tổ chức các hoạt động nhằm hướng các em học sinh hòa nhập cùng bạn bè
và thầy cô, yêu thích trường lớp. Các em có một tâm thế thoải mái và có một cảm
8
nhận" Mỗi ngày đến trường là một ngày vui". Giáo viên chủ nhiệm cũng như
giáo viên bộ môn đã luôn quan tâm, gần gũi sát sao với các em. Cùng phối hợp
với Đoàn thanh niên để các em từng bước khắc phục những hạn chế, khó khăn
trong học tập cũng như trong cuộc sống, để cho các em chủ động hòa nhập tránh
phát sinh những hệ lụy như mâu thuẫn mất đoàn kết nội bộ, hiểu nhầm, thiếu ý
thức tự giác trong chấp hành nội quy nề nếp, học tập không tiến bộ, tâm lí ỷ lại
quen bao cấp và cuối cùng là bỏ học.
Tuy nhiên, tình trạng một số em học sinh chưa xác định rõ được mục đích
và ỹ nghĩa của việc học đẫn đến chây lười học, thường xuyên bỏ tiết, bỏ học, nghỉ
học vẫn đang là đề tài rất hạn chế trong các bài viết của các nhà nghiên cứu cũng
như các bài viết sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp. Việc nghiên cứu để áp
dụng biện pháp này vào việc giúp các em chủ động hòa nhập, học tập với môi
trường bạn bè, xã hội để từ đó giảm thiểu tình trạng học sinh chây lười học, nghỉ
học vô lý do và đặc biệt là tình trạng bỏ học gặp khá nhiều khó khăn trong quá
trình thực hiện đề tài. Vấn đề giáo dục ý thức học tập, giáo dục tâm sinh lý, giáo
dục hòa nhập với đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số nói chung địa bàn huyện
Kỳ Sơn mặc dù đã triển khai rộng rãi ở các cấp học. Nhưng hiệu quả mang lại
vẫn chưa cao, vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học ở các cấp học trong địa bàn
huyện. Sở dĩ như vậy có thể do một số nguyên nhân khách quan: điều kiện sống
đặc biệt khó khăn, nguyên nhân chủ quan do chưa có sự phối hợp giáo dục xuyên
suốt, đồng bộ giữa các tổ chức trong và ngoài ngành giáo dục và các tổ chức
chính quyền địa phương.
Trường THPT Kỳ Sơn nằm trên địa bàn huyện miền núi với rất nhiều đặc
thù riêng biệt và rất khác biệt với các trường THPT trên toàn tỉnh Nghệ An. Cuộc
sống của các em người đồng bào dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn. Tỉ lệ hộ
nghèo của học sinh trong toàn trường trong các năm 2019-2020(61%); 2020-
2021(60,8%); 2021-2022(58%). Vấn đề này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình ăn
học của các em. Đa số các em phải thuê trọ với điều kiện phòng ốc chật chội,
thiếu nguồn nước sinh hoạt, thiếu ánh sáng để phục vụ học tập và sinh hoạt. Chất
9
lượng cuộc sống hàng ngày chưa đảm bảo, các em thường nấu ăn qua bữa, qua
ngày. Sự khó khăn này đã làm giảm sút ý chí của các em. Các em thường mong
muốn được nghỉ hoc để về với gia đình và người thân. Để được quan tâm chăm
sóc, gần gũi, tuy rằng điều kiện gia đình ở bản làng cũng không tốt hơn là bao
nhiêu.
Điều kiện giao thông đi lại hiểm trở, khoảng cách giữa các bản, các làng,
xã rất cách biệt và đặc biệt là sự tiếp cận với Thị Trấn Mường Xén. Nơi mà văn
hóa xã hội có sự phát triển đáng kể so với mặt bằng chung của huyện. Sự giao
thương hàng hóa để phục vụ những nhu cầu thiết yếu vẫn chưa đầy đủ và kịp
thời, chủ yếu tập trung ở trung tâm xã. Khoảng cách từ các bản tới Trung tâm xã
rất xa. Thôn bản ngăn cách nhau bởi đồi núi hiểm trở, sông suối, giao thông đi lại
khó khăn thêm khi trời mưa gió. Đây cũng là trở ngại không nhỏ ảnh hưởng tới
quá trình học tập của các em. Cha mẹ và người thân rất ít có thời gian, điều kiện
kinh tế, phương tiện đi lại để ra phòng trọ thăm hỏi quan tâm, trao đổi và dặn dò
các em. Đa số các bậc phụ huynh giao phó con em cho thầy cô và nhà trường.
Mặc dù sống trong thời đại 4.0 nhưng vấn đề tiếp cận công nghệ thông tin của
người dân ở các bản làng vẫn còn hạn chế. Ở Kỳ Sơn còn rất nhiều xã chưa có
điện, chưa phủ sóng hết khắp các bản làng nên việc liên lạc với con em đang học
tập ở mái trường cũng gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là sự kết nối giữa Nhà
trường và gia đình. Khi có những vấn đề về giáo dục ý thức đạo đức, nề nếp của
các em mà nhà trường muốn trao đổi thì liên hệ này bị gián đoạn.
Vốn ngôn ngữ tiếng Việt của người dân còn rất nhiều hạn chế. Trong quá
trình giao tiếp trao đổi thông tin, hàng hóa người dân nơi đây vẫn có quán tính sử
dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Mặc dù sự am hiểu tiếng bản địa của
nhau cũng nhiều, song không ít nhiều đã ảnh hưởng tới sự phát triển chung của
huyện nhà. Đặc biệt là ở trong bản làng việc sử dụng tiếng phổ thông rất ít. Mặt
khác ở độ tuổi từ 50 trở đi đa số người dân không biết hoặc biết rất ít tiếng phổ
thông. Nên mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và nhà nước ít nhiều
được hiểu không xuyên suốt. Dẫn đến công tác tuyên truyền phổ biến về giáo dục
10
gặp rất nhiều khó khăn. Xuất thân từ bản làng với những hệ lụy như thế đẫn đến
nhận thức về mục đích và ỹ nghĩa của việc học còn rất nhiều hạn chế, đa số các
em chỉ chấp nhận đến trường, lớp như một nghĩa vụ phải thực hiện.
Vẫn còn tàn dư rất nhiều hủ tục lạc hậu đã làm ảnh hưởng tới nhận thức về
việc học tập của các em học sinh. Cụ thể như: Khi gia đình có một vấn đề xảy ra
trong cuộc sống thì gia đi nhf tổ chức làm vía. Việc làm vía có thể kéo dài từ một
đến vài ngày. Các em mượn cớ về làm vía đã xin nghỉ học, tình trạng này kéo dài
sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nảy sinh ảnh hưởng tới việc học tập của các em. Mặt
bằng giáo dục các cấp rất thấp đã gây ra các hiệu ứng giáo dục chậm phát triển so
với xu thế thời đại.
III. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BỎ HỌC VÀ KẾT QUẢ ĐẠT
ĐƢỢC.
1. Xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học
1.1.Nguyên nhân khách quan
- Điều kiện giao thông đi lại khó khăn, các con đường quanh co, uốn lượn
ôm đồi núi dốc hiểm trở, các tuyến đường thôn bản chưa được làm kiên cố,
thường xuyên sạt lở vào mùa mưa. Khi vào mùa mưa lũ, có những tuyến đường
qua khe, suối bị ngăn cách. Khoảng cách từ các bản tới Trung tâm xã rất xa. Thôn
bản ngăn cách nhau bởi đồi núi hiểm trở, sông suối, giao thông đi lại khó khăn
thêm khi trời mưa gió. Đây cũng là trở ngại không nhỏ ảnh hưởng tới quá trình
học tập của các em.
- Môi trường sinh sống khắc nhiệt, chất lượng cuộc sống phụ thuộc cơ bản
vào yếu tố tự nhiên.
Với địa hình đồi núi dốc, người dân bản xứ quen sống dọc hai bờ sông, khe
suối, sống ở lưng chừng núi. Cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào thiên nhiên, săn
bắn, hái măng. Nương rẫy mỗi năm chỉ làm một vụ và kết quả tùy thuộc vào điều
kiện tự nhiên. Khi thời thuận hòa thì đủ ăn, nếu không thì mất trắng, canh tác hoa
màu chưa định canh vì đất không có màu mỡ. Thời gian còn lại trong năm người
dân không biết làm gì để có thu nhập thêm. Khoảng cách giữa các bản, các làng,
11
xã rất cách biệt và đặc biệt là sự tiếp cận với Thị Trấn Mường Xén. Nơi mà văn
hóa xã hội có sự phát triển đáng kể so với mặt bằng chung của huyện. Sự giao
thương hàng hóa để phục vụ những nhu cầu thiết yếu vẫn chưa đầy đủ và kịp
thời, chủ yếu tập trung ở trung tâm xã.
1.2. Nguyên nhân chủ quan
- Điều kiện kinh tế của các em rất khó khăn đã làm ảnh hưởng rất lớn về ý
chí, nghị lực học tập của các em;
- Nhận thức của gia đình chưa cao về tầm quan trọng và ỹ nghĩa giáo dục.
- Chất lượng giáo dục ở các cấp dưới chưa thật sự đồng bộ nên đã tác động
không nhỏ tới việc tiếp thu kiến thức ở bậc học cao hơn.
- Bất đồng ngôn ngữ giữa các thành phần dân tộc làm ảnh hưởng tới không
gian học tập và lao động;
-Trình độ văn hóa xã hội nhìn chung vẫn còn thấp so với miền xuôi. Vẫn
còn tàn dư những hủ tục lạc hậu, tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống
vẫn còn tồn tại đã làm ảnh hưởng tới nhận thức học tập.
- Trật tự an ninh, các tệ nạn xã hội vẫn còn rình rập và diễn biến phức tạp
nhất là ở các xã vùng biên giới.
2. Xây dựng kế hoạch giáo dục nhằm hạn chế tình trạng bỏ học
Trên cơ sở nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng học
sinh Trường THPT Kỳ Sơn vẫn chưa yêu thích, hứng thú học tập. Tình trạng bỏ
học vẫn diễn ra thường xuyên và đến mức báo động. Tôi mạnh dạn đưa ra một số
giải pháp để hạn chế tình trạng học sinh bỏ học ở trường THPT Kỳ Sơn.
2.1. Giải pháp ngắn hạn
2.1.1 Mục tiêu của giải pháp
- Giáo dục phẩm chất, ý thức đạo đức, lối sống, giáo dục tình yêu thương
giữa con người với nhau, tình yêu quê hương đất nước;
- Giáo dục kỹ năng sống cho các em học sinh để các em mạnh dạn, tự tin
và chủ động hòa nhập học tập với bạn bè. Từ đó các em sẽ yêu trường, lớp và
hứng thú học tập;
12
` - Giáo dục kiến thức khoa học, kỹ thuật theo phẩm chất và năng lực, sở
thích, nguyện vọng của các em;
- Tư vấn và định hướng nghề nghiệp phù hợp với đối tượng học sinh.
2.1.2 Cách thức thực hiện giải pháp
Bƣớc 1. Xác định đối tƣợng học sinh có nguy cơ bỏ học.
Bước vào đầu năm học, giáo viên làm công tác chủ nhiệm cần xác định đối
tượng là học sinh có năng lực học tập, ý thức đạo đức như thế nào? Gia đình đang
sinh sống ở đâu? Hoàn cảnh gia đình như thế nào? Đang ở trọ nhà ai? Môi nơi ở
trọ có đảm bảo cho quá trình học tập không? Dự báo được nguy cơ bỏ học đến
mức độ nào?
Họ
Họ và Dân Hộ khẩu tên
tên tộc Bố( thýờng trú
TT Lớp Mẹ) Ðặc ðiểm Ghi chú
Và Bá Bố mẹ
Tu Ít nói, ít già, ðông
Huồi Khun, giao tiếp anh em Và Bá Mýờng Lống, bạn bè, ði học, Tểnh H.mông Kỳ Sõn học tập gia ðình
yếu, hay rất khó
11C9 1 vắng học. khãn
Kha 11C9 Ý thức, Bố mẹ
Vãn tổ chức ly hôn,
Kèo Kha kỷ luật Bố sang Na Loi, Kỳ Vãn Thái kém, hay Lào lập Sõn Kiều gây gổ gia ðình,
ðánh ở ông bà
2 nhau, hút già yếu
13
thuốc lá
11C9 Lữ Ý thức
Vãn kém,
May nhuộm
Xằng Trên - tóc, hay Lữ Vãn Mỹ Lý, Kỳ hút thuốc, Bố làm Duy Sõn uống riệu, cán bộ
thýờng xã, kinh
xuyên tế không
3 Thái vắng học khó khãn
11C9 Bố mẹ Xên
đi làm ăn Xáo
xa, tự Tha
Ý thức, tổ sống một
chức kỷ mình,
Xên Khe Nằn- - luật kém, Gia đình
Vãn Chiêu Lýu, ngôn ngữ ít quan
Nhất Kỳ Sõn phổ thông tâm liên
hạn chế lạc với
,hay ngủ con và
gật trong giáo viên
lớp, hút chủ
thuốc lá nhiệm 4 Thái
Ngoan Bố mẹ 11C9 Và
ngoãn, thuần Chìa
hiền lành, nông, nói Lầu
Phà Nọi- học tập tiếng
Và Bá Mýờng Típ, trung kinh
5 Xà H.mông Kỳ Sõn bình. Ðã chýa thạo
14
lập gia
ðình
11C9 Lầu Ngoan
Bá Xo ngoãn,
hiền lành, Bố làm
học tập cán bộ
khá. Ðã xã, kinh
Nậm Khiên, cýới nhỏ, tế gia
Lầu Y Nậm Càn, Kỳ hay xin ðình khá
6 Xê H.mông Sõn về nhà giả
11C9 Lầu Ngoan
Nềnh ngoãn,
Lầu hiền lành, Phà Nọi, Lầu Y học tập Bố mẹ Ðoọc Mạy, Dài H.mông khá. Ðã già nua, Kỳ Sõn cýới nhỏ, kinh tế
hay xin gia ðình
7 về nhà khó khãn
11C9 Ốc Bố mẹ
Phò Ý thức, tổ đi làm ăn
Thông chức kỷ ở Bình
luật kém, Dương,
Xao Va, Bảo ngôn ngữ sống Ốc Vãn Thắng, Kỳ phổ thông Bác, gia Phong Sõn hạn chế đình ít
,hay ngủ quan tâm
gật trong liên lạc
lớp, hút với con
thuốc lá và giáo 8 Kmú
15
viên chủ
nhiệm
Lâù Bá 11C9 Lầu Nậm Khiêm- Ngoan
Xểnh H.mông Bá Nậm Càn, Kỳ ngoãn,
Tếnh Sõn hiền lành, Bố mẹ
học tập thuần
trung nông, nói
bình. Ðã tiếng
lập gia kinh
9 ðình chýa thạo
11C9 Ven Bố
Vãn nghiện,
Hợi mẹ bỏ đi
lấy
chồng
khác, tự
Ý thức, tổ sống một
chức kỷ mình,
luật kém, Gia đình
ngôn ngữ ít quan
phổ thông tâm liên
hạn chế lạc với
,hay ngủ con và
Ven Huồi Lau, gật trong giáo viên
Vãn Bảo Nam, Kỳ lớp, hút chủ
10 Kỳ Khõ mú Sõn thuốc lá nhiệm
Và 11C9 Long Kèo, Ngoan Bố mẹ Và
Xuân Mýờng Lống, ngoãn, sang lào Xừ H.mông 11 Cảnh Lồng Kỳ Sõn hiền lành, làm ãn, ở
16
học tập với cậu
trung ruột
bình. Ðã
lập gia
ðình
Bố 11C9 Và
ít nói, học nghiện, Nênh
tập trung mẹ bệnh Thái Liên Sõn, bình. Hay nặng, ở Và Bá Nậm Càn, Kỳ theo ðòi với Ông Thắng H.mông Sõn bạn bè, bà ngoại,
hay vắng kinh tế
12 học khó khăn
Bƣớc 2. Xây dựng kế hoạch thực hiện giáo dục học sinh.
Để thực hiện tốt giải pháp đã nêu trên thì cần phối hợp tốt, khăng khít giữa
các tổ chức trong và ngoài nhà trường nhằm tạo cho các em nghị lực, động lực
vượt khó đi lên. Từ đó tôi xây dựng kế hoach giáo dục những em học sinh có
nguy cơ bỏ học.
- Xây dựng kế hoạch giáo dục: Xác định những khó khăn, tồn tại và những
vướng mắc của các em trong cuộc sống và trong học tập, giáo viên cần xác định
được nhu cầu cần thiết của học sinh và xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt
động giáo duc đạo đức, học tập, rèn luyện cũng như các hoạt động trải nghiệm,
tạo điều kiện và môi trường thuận lợi nhất cho các em tham gia đạt kết quả.Muốn
đạt kết quả tốt giáo viên phải chú ý đến các vấn đề sau:
+ Tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm tâm sinh lý học sinh cấp THPT;
+ Lập kế hoạch giáo dục học sinh có nguy cơ bỏ học báo cáo và xin ý kiến
chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường;
+ Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong nhà trường để đưa ra kế hoạch
17
giúp đỡ các em;
+ Phối hợp chặt chẽ giữa Giáo viên và phụ huynh học sinh trong quá trình
giáo dục;
+ Kết hợp với chính quyền cấp xã, Bản để hỗ trợ giáo dục các em;
- Kế hoạch phải xây dựng các mục tiêu, xác định hiệu quả của các hoạt
động.Trong giáo dục hòa nhập xác định mục tiêu duy trì và thu hút học sinh tham
gia vào các hoạt động được coi là một trong những mục tiêu mang tính bền vững
và lâu dài. Trong kế hoạch hoạt động, giáo viên cần chú ý tới một số nội dung
hoạt động cơ bản sau:
+ Giúp các em tháo gỡ những khó khăn trong cuộc sống để các em tiếp tục
học tập;
+ Hỗ trợ cho các em những kiens thức kỹ năng cơ bản còn yếu kém;
+ Chủ động cho các em tham gia hòa nhập các hoạt động tập thể: nhóm
bạn cùng tiến, vòng tay bè bạn, tham gia các hoạt động do Đoàn trường và nhà
trường tổ chức. Từ đó các em sẽ cảm thấy thích thú và yêu thích học tập hơn.
Bước 3. Thực hiện kế hoạch
2.1.2.1. Trong công tác giáo viên chủ nhiệm: Tôi thực hiện việc làm sau
* Một là:
Giáo dục đạo đức là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho
các em những phẩm chất, tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em tình cảm
đạo đức, những quy tắc hành vi thể hiện trong thái độ với bạn bè, gia đình, người
khác và đối với Nhà nước, Tổ quốc. Đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa
không chỉ là thành phần quan trọng về cơ bản của giáo dục, mà còn là mục đích
của toàn bộ công tác giáo dục thế hệ trẻ. Trong quá trình giáo dục các em, giáo
dục không chỉ có kiến thức mà phải có đạo đức, vì vậy công tác giáo dục trước
tiên phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho người học, coi đó là cái căn bản, cái gốc
cho sự phát triển nhân cách. Giáo dục đạo đức phải gắn chặt với giáo dục pháp
luật của nhà nước Việt Nam để củng cố phương thức luận cứ các chuẩn mực đạo
18
đức và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức kỷ năng và thói quen đạo
đức.Giáo dục đạo đức cho học sinh là làm cho nhân cách của các em phát triển
đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở để cho các em có hành vi ứng xử đúng đắn trong
các mối quan hệ.
+ Giáo dục hành vi, thái độ của cá nhân với bản thân: lòng tự trọng, tính
trung thực, kỉ luật, khiêm tốn, giản dị, tinh thần đoàn kết, dũng cảm.
+ Giáo dục hành vi, thái độ đối với người thân trong gia đình: hiếu thảo, lễ
phép với thầy cô giáo và người lớn.
+ Giáo dục hành vi, thái độ đối với bạn bè: thân ái, đoàn kết, giúp đỡ nhau
cùng tiễn bộ;
+ Giáo dục quan hệ cá nhân đối với lao động: yêu lao động, chăm chỉ học
tập, biết quý trọng người lao động và thành quả lao động;
+ Giáo dục mục tiêu lí tưởng cách mạng, niềm tin về Đảng, chế độ XHCN
mà Đảng và nhà nước ta đang hướng tới;
+ Giáo dục lòng yêu đất nước, yêu nhân dân, yêu nhân loại, yêu hoà bình,
yêu quý và tự hào lịch sử vẻ vang của dân tộc, truyền thống văn hoá có giá trị dân
tộc.
+ Giáo dục tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản xã hội
chủ nghĩa.
+ Giáo dục các em sao cho học sinh thể hiện được trong cả nhận thức lẫn
hành động. Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được các phẩm
chất tốt đẹp và bền vững, có được bản lĩnh đạo đức để ứng xử đúng trong các mối
quan hệ.
* Hai là
Giáo dục kỹ năng sống cho các em học sinh để các em mạnh dạn, tự tin và
chủ động hòa nhập học tập với bạn bè. Tạo sự gần gũi, thiện cảm và công bằng
giữa các em học sinh các dân tộc khác nhau.
19
Trong những năm ngồi trên ghế nhà trường, học sinh không chỉ được học
những kiến thức khoa học cơ bản, dạy về đạo đức mà còn giáo dục cho các em
những kỹ năng sống cần thiết cho cuộc sống hiện tại và khi các em rời ghế nhà
trường. Đối với học sinh cấp THPT sẽ được rèn luyện về hành vi ứng xử, lối
sống, giáo dục lý tưởng cách mạng, làm bộc lộ năng lực của bản thân, trách
nhiệm của lời nói với việc làm; thật thà, trung thực, những suy nghĩ, tình cảm đối
với những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống. Nhà trường luôn có sự quan tâm
giáo dục đạo đức để các em định hình nhân cách, trưởng thành và là người có ích
cho xã hội. Nhiều chương trình giáo dục kỹ năng sống lồng ghép trong chương
trình học chính thống; các hoạt động ngoại khóa ngoài giờ trải nghiệm sáng tạo
và các hoạt động xã hội khác, hoạt đông giúp các em tiếp xúc với xã hội và hình
thành những suy nghĩ tích cực đối với những vấn đề đó. Phần lớn các em học
sinh đã nhận thức được những điều hay, lẽ phải, hành vi tích cực. Song cũng có
điều dễ nhận thấy, cùng với sự phát triển của xã hội, sự du nhập của nhiều yếu tố
văn hóa tiêu cực đã ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức, lối sống, phẩm chất các
em. Thêm vào đó, việc nhồi nhét kiến thức trở thành nhiệm vụ trọng tâm mà vô
tình quên đi việc giáo dục nhân cách đạo đức như lòng vị tha, bao dung, chân
thật, trung thực hành trang của cuộc sống.
+ Luôn quan tâm tới học sinh một cách cởi mở, chủ động, gần gũi qua các
tiết sinh hoạt 15 phút, sinh hoạt lớp;
+ Dành một số thời gian ngoài giờ học tâm sự, thăm hỏi về gia đình học
sinh các em;
+ Thỉnh thoảng nhắn tin, gọi điện thoại trao đổi về tình hình học tập của
học sinh;
+ Phân công nhiệm vụ trong bộ máy tự quản theo thành phần dân tộc để
các em thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong lớp, các em thấy được sự
công bằng giữa các bạn thuộc dân tộc khác nhau.
* Ba là:
Chủ động tìm hiểu những khó khăn trong cuộc sống, từ đó đưa ra cách
giải quyết, tháo gỡ những khó khăn đó.
20
Như chúng ta đã biết Kỳ Sơn là một trong những huyện nghèo nhất cả
nước. Đây là một trong những lý do cơ bản đẫn đến chất lượng giáo dục chưa đáp
ứng với sự phát triển của xã hội. Theo thống kê về tỉ lệ hộ nghèo của học sinh
trong trường THPT Kỳ Sơn ình quân trong 3 năm trở lại đây không thay đổi là
bao. Tuy rằng nhà nước đã có những chế độ chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt
như chế độ 30 A về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chế độ 116 của Thủ tướng
chính phủ về hỗ trợ tiền ăn, tiền ở, gạo cho các em học sinh vùng Dân tộc thiểu
số, Chế độ 86 về miễn giảm, hỗ trợ chi phí học tâp( nay là Chế độ 81) cho các em
học sinh thuộc thôn bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo, khuyết tật. Trong quá trình
học những em có điều kiện kinh tế khó khăn biết vươn lên trong học tập cũng
được các tổ chức trong và ngoài địa bàn trao tặng học bổng. Những chế độ đã
góp một phần không nhỏ để giảm bớt khó khăn cho gia đình và cho các em trong
thời gian học tập. Điều này đã hạn chế tối đa tình trạng bỏ học của các em học
sinh. Trong thực tế tình trạng học sinh bỏ học vẫn còn tồn tại, bởi rất nhiều yếu tố
khác vì vậy trong công tác làm giáo viên chủ nhiệm cũng như giáo viên bộ môn
chúng ta phải cố gắng thay đổi bản thân mình để tạo niềm tin, ý chí, nghị lực cho
các em trong cuộc sống. Bằng những đóng góp về mặt tinh thần để tháo gỡ những
khó khăn của các em.
+ Thỉnh thoảng vào ngày chủ nhật tôi đi đến phòng trọ của học sinh để tìm
hiểu tình hình về cuộc sống ở trọ, cũng như học tập của các em;
+ Thăm hỏi động viên khi các em ốm đau, hay gia đình các em có chuyện
không vui;
+ Dành thời gian đi vào bản làng nơi các em sinh sống, gặp gỡ gia đình các
em để trao đổi, động viên học sinh và gia đình;
+ Phát động phong trào “Chia sẻ yêu thương, lá lành đùm lá rách” giữa các
bạn trong lớp và trong nhà trường;
+ Đề xuất những phần học bổng dành cho học sinh có ý thức cao để động
viên khích lệ các em;
+ Bằng những mỗi quan hệ xã hội kêu gọi sự ủng hộ về vật chất cũng như
tinh thần cho các em học sinh có điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn.
21
* Bốn là:
Rút ngắn khoảng cách giữa học sinh người đồng bào với các bạn học sinh
khác thông qua các hoạt động dạy học cũng như hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt
động trải nghiệm.
+Trong các tiết sinh hoạt 15 phút hay sinh hoạt cuối tuần tôi dành nhiều
thời gian cho hoạt động văn nghệ, hoạt động kể chuyện hoặc cho các em xem
thông tin, thời sự, những mẫu chuyện về người tốt việc tốt qua hình thức xem Ti
vi hoặc truyện tranh;
+ Theo dõi, bám sát học sinh, hưỡng dẫn các em những vấn đề nảy sinh khi
tham gia hoạt động trải nghiệm, hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động xã
hội khác để các em tích lũy thêm các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong học tập
cũng như trong cuộc sống;
+ Có những lời ngợi khen, động viên, khích lệ học sinh khi các em tích cực
hoạt động học tập, thể dục thể thao, hoạt động trải nghiệm trải nghiệm;
+ Phân công nhiệm vụ, sắp xếp ban cán sự lớp, ban cán sự Đoàn phù hợp
để các em tự khẳng định và có những lời động viên để các em mạnh mẽ, tự tin
hơn. Trong cơ cấu tổ chức lớp tôi chủ động gợi ý, định hướng cho các em trong
quá trình tổ chức Đại hội chi đoàn. Đưa ra các hình thức giáo dục trải nghiệm để
cho các em hứng thú, tự tin vào bản thân mình. Như các hoạt động thể dục thể
thao, các chương trình văn nghệ để cho các em được hòa nhập và khẳng định
mình.
* Năm là:
Đánh giá công tác nề nếp học sinh theo xu hướng tích cực nhằm động viên
khích lệ các em, để các em sửa đổi và hoàn thiện bản thân. Tránh tình trạng đánh
giá hà khắc, nhỏ nhặt, đánh giá hep chưa đánh giá theo thì gian về hoạt động của
học sinh.
* Sáu là: Kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường để giáo dục
giới tính, giáo dục hôn nhân- gia đình. Giáo dục nhận thức về những tàn dư thủ
tục lạc hậu, giáo dục pháp luật về: tham gia trật tự giao thông, phòng chống cháy
nổ, buôn bán sử dụng chất ma túy
22
* Kết quả đạt được: So với đầu năm khi thống kê số lượng học sinh các
lớp thì thấy tỉ lệ học sinh bỏ học giảm đi đáng kể, điều đó minh chứng ý thức đạo
đức, ý thức học tập của các em đã có nhiều chuyển biến tích cực, các em đi học
đều đặn hơn, cách ăn nói, ứng xử đẫ chuẩn mực hơn. Theo thời gian đa số các em
mạnh dạn, tự tin và chủ động hòa nhập học tập với bạn bè, các em đã tích cực
tham gia vào các hoạt động của lớp như: tích cực trong lao động vệ sinh trường
lớp, tích cực tham gia văn nghệ, thể dục thể thao. Trong học tập các em mạnh
dạn, hăng say phát biểu, các em chủ đông gặp gỡ thầy cô trao đổi, tâm sự về gia
đình, về cuộc sống.
2.1.2.2. Trong công tác giáo viên bộ môn.
Với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự thay đổi
chương trình giáo dục 2018 đòi hỏi học sinh phải có những phẩm chất, kỹ năng
cơ bản để tiếp nhận kiến thức. Chương trinh đòi hỏi đối tượng chủ đạo trong giáo
dục phải chủ động, tích cực tìm kiếm, xây dựng kiến thức. Nên đòi hỏi giáo viên
bộ môn phải tự chuyển biến và thay đổi chính mình để thích ứng với sự thay đổi
chương trình giáo dục, phải vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, phù
hợp, sát thực đối tượng vào trong giảng dạy hình thành kiến thức. Tránh tình
trạng tiết dạy khô khan, hàn lâm và tẻ nhạt làm cho các em không hứng thú trong
tiết học, môn học. Điều này kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng các em thờ ơ, chán học,
không chủ động nắm bắt kiến thức từ đó bỏ tiết, bỏ học. Đặc biệt trong tình hình
đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, hình thức học tập thay đổi từ trực tiếp
sang trực tuyến hoặc sự kết hợp cả hai hình thức đã làm xáo trộn các cách thức
giáo dục. Mặt khác rất nhiều em kinh tế khó khăn không có phương tiện, thiết bị
hỗ trợ học tập. Đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt các phương pháp để cho
các em không bị bỏ rơi, hụt hẫng, tồn tại các lỗ hổng khi tiếp cận kiến thức. Các
hình thức và phương pháp dạy học tôi thực hiện cơ bản như sau:
- Cách thức dạy học: Dạy học trực tiếp, dạy học trực tuyến qua Lms.edu,
hoặc đăng nhập trực tiếp qua Zoom khi các em có mật khẩu đăng nhập.
- Các phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học giải quyết vấn đê, hoạt
động nhóm, Dạy học bằng trò chơi, Dạy học theo kiểu dự án
23
- Khi vận dụng các hình thức dạy học, các phương pháp dạy học tôi xác
định các tiêu chí đạt được:
* Một là:
- Trong quá trình dạy học cần xây dựng hệ thống câu hỏi rõ ràng, gợi mở
để các em dễ tiếp cận;
- Chú ý quan sát tới các em, cho các em chủ động phát biểu, ân cần nhận
xét hoạt động, định hướng cho các em tiếp cận kiến thức;
- Gọi học sinh đứng lên trình bày nội dung kiến thức bài học. Khi các em
gặp khó khăn trong trả lời giáo viên cần ôn tồn, nhẹ nhàng. Đưa ra các câu hỏi
phụ để các em trả lời.
- Xây dựng hoạt động nhóm: chia nhóm học sinh trong đó có nhiều học
sinh dân tộc khác nhau. Hoạt động này sẽ xây dựng tinh thần hợp tác đoàn kết
cùng tiến bộ;
Hình ảnh: Hoạt động nhóm trong tiết Ngữ Văn lớp 10 ở Trường THPT Kỳ Sơn.
* Hai là:
24
- Đưa ra phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh theo từng thời điểm,
nhiều giai đoạn khác nhau. Đánh giá theo đinh hướng mở, nhằm tạo cho các em
thêm động lực học tập. Khi hỏi bài cũ với các em thì câu hỏi phải dễ hiểu và kích
thích các em phát biểu. Nội dung câu hỏi không quá hàn lâm. Quá trình nhận xét
đánh giá và cho điểm cần phải khuyến khích động viên. Đánh giá các em học
sinh cần thực hiện theo thời gian dài, theo dõi chiều hướng phát triển. Các cách
kiểm tra đánh giá mà tôi đã thực hiện khi dạy học đối tượng học sinh:
+ Đánh giá thông qua các bài kiểm tra thường xuyên, giữa kỳ, cuối kỳ. Khi
các em không trực tiếp tham gia đánh giá bởi một lý do bất khả kháng như: Bị
cách ly khi đại dịch Covid-19 xảy ra, khi các em vắng có lý do đặc biệt
+ Đánh giá thông qua các nhiệm học tập; qua các sản phẩm mà các em đã
thực hiện ở lớp và ở nhà.
Hình ảnh: Hoạt động đánh giá sản phẩm trong tiết dạy Hóa Học lớp 12 A1
trường THPT Kỳ Sơn
25
- Giao nhiệm vụ học tập cho các em với hệ thống câu hỏi phù hợp để các
em hứng thú tự tin làm bài. Đặc biệt quan tâm hơn những em khả năng tiếp thu
chậm, kiến thức còn yếu kém. Kèm cặp, phụ đạo cho các em vào những thời gian
rảnh, vào ban đêm
Hình ảnh: Hoạt động hỗ trợ học tập cho các em học sinh vào buổi tối
2.1.2.3 Tạo môi trường giáo dục sôi động, thoải mái và tôn trọng các em
học sinh trong học tập dưới sự hỗ trợ của tổ chức Đoàn thanh niên.
Nhằm thu hút sự chú ý và kích thích tính tò mò muốn khám phá những
kiến thức trong cuộc sống. Các hoạt động giáo dục ngoài giờ, hoạt động trải
nghiệm thực tê có một vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học
sinh. Đây là một sân chơi đầy ỹ nghĩa, nhằm tạo ra sự hưng phấn, hứng thú.
Ttrong hoạt động Đoàn các em rất hứng thú, yêu thích và thể hiện mình trước bạn
bè và người lớn. Thông qua các hoạt động ngoại khóa hay các hoạt động kỷ niệm
26
ngày lễ, học sinh có thể tự nhìn nhận và định hình cho mình những hành vi ứng
xử phù hợp.
Hình ảnh: Cuộc thi ảnh " Nét đẹp truyền thống vùng miền núi Kỳ Sơn" do Đoàn
trường tổ chức.
Nhiều phong trào được tổ chức nhằm tăng cường lồng ghép giáo dục đạo
đức cho học sinh. Học sinh nhà trường hoạt động có chủ đích, có mục tiêu theo
yêu cầu đề ra. Tích cực tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao để nhằm tăng
thêm sự tự tin, mạnh dạn, nhiệt huyết của bản thân, đồng thời thể hiện được tinh
thần hưởng ứng, các ngày lễ có ý nghĩa của đất nước. Từ đó, hình thành nơi các
em những tình cảm tri ân, lòng biết ơn tới những thế hệ đi trước. Cụ thể là các
phong trào như: biểu diễn văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11,
làm báo tường chào mừng ngày; kỷ niệm ngày sinh nhật Bác 19/5; Tổ chức
“Đêm hội trăng rằm” với chủ đề “Trung thu – Nhớ Bác” với các câu hỏi có
nội dung tìm hiểu về bác Hồ kính yêu, Các cuộc thi ảnh, cuộc thi “Thầy cô
trong mắt em”, Cuộc thi “Giải đi bộ”,cuộc thi Ảnh nét đẹp tuổi học trò, các
hoạt động đền ơn đáp nghĩa ( Chăm sóc vệ sinh đề Pu Nhạ Thầu), phong
trào hiến máu tình nguyện, hoạt động đội hoa phượng đỏ phục vụ cho Kỳ thi
27
tuyển sinh vào lớp 10, Thi TNTHPT, các hoạt động thể dục thể thao chào
đón mừng Đảng, mừng xuân.
Hàng năm nhà trường còn tham gia biểu diễn văn nghệ, thể dục thể
thao cho các tổ chức chính trị xã hội trong toàn huyện (Các ngày thành lập
Bộ đội, biên phòng, công an nhân dân, ngày bác sĩ....Tất cả các hoạt động trải
nghiệm trên đã giáo dục và rèn luyện thêm cho các em tình yêu quê hương đất
nước, tình đoàn kết gắn bó, thương yêu, đùm bọc và chia sẻ lẫn nhau, cùng nhau
vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Qua đó các em sẽ được trang bị
những phẩm chất, năng lực, những ước mơ hoài bào về một cuộc sống tươi đẹp.
Qua hoạt động Đoàn học sinh trường THPT Kỳ Sơn đã biết chia sẽ, cảm
thông giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như trong học tập. Các em đều nhận
thức được mình đang sống trong ngôi nhà chung, giữa tình yêu thương của mọi
người. Cùng với sự phát động của nhà trường, các em cùng nhau tham gia các
phong trào: “Giúp bạn cùng tiến bộ”, “Đôi bạn cùng tiến”, “Nhóm bạn học tốt”.
Các nhóm bạn không những giúp đỡ trong học tập, các em còn quan tâm động
viên cùng nhau vượt qua hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.
28
Hình ảnh: Hoạt động ngoại khóa của tổ Toán Tin
29
Hình ảnh: Hoạt động tiếp sức mùa thi của Cán bộ, giáo viên và học sinh năm
2021-2022
30
2.1.2.4 Hoạt động tổ tư vấn lứa tuổi học đường của nhà trường
Trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là các em học sinh từ muôn làng xa
xôi đến thuê trọ để học tập. Các em thiếu thốn về nhiều mặt kể cả vật chất cũng
như tinh thần. Các em thiếu sự quan tâm trực tiếp về chuyện ăn ở học hành, tư lo
về nhiều thứ. Tuy rằng điều này đã tạo cho các em một cuộc sống tự lập sớm, các
em có thể tự tin về bản thân trong môi trường mới. Song không ít các em học
sinh chưa đủ chín chắn, suy nghĩ còn bồng bột và không làm chủ được bản thân
mình sẽ đẫn đến nhiều tình huống tiêu cực, chán nản, ăn chơi dua đòi theo bạn
bè. Những điều này sẽ đẫn đến tình trạng các em có những suy nghĩ tiêu cực,
không muốn học và hiện tượng bỏ học sẽ xảy ra. Vì thế ngoài vai trò của giáo
viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên thì công tác tư vấn tâm sinh
lý cho các em cũng rất quan trọng. Công tác này sẽ phần nào tháo gỡ cho các em
những khó khăn trong cuộc sống như: Tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc
trong cuộc sống. Đưa ra phương pháp tư vấn tích cực, bám sát đối tượng học sinh
cần tư vấn để cho các em được giải bày, cởi bỏ những nút thắt ấy
2.1.2.5. Phối hợp với các tổ chức chính trị ngoài nhà trường trong giáo
dục pháp luật, tảo hôn, tình yêu và hôn nhân.
Bên cạnh những nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, những ứng xử trong
tất cả các mối quan hệ: gia đình, nhà trường và xã hội. Học sinh của nhà trường
đa số các em có đức tính thật thà, hiền lành. Song nhận thức tổng quan về cuộc
sống vẫn còn nhiều hạn chế bất cập. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân
khách quan, chủ quan đã trình bày ở trên. Mặt khác các em đang trong độ tuổi
chưa có đầy đủ các phẩm chất năng lực cần thiết. Sự phát triển về sinh lý, tâm lý
bắt đầu đầy đủ, các em muốn theo đòi, học hỏi và muốn khẳng định mình trong
xã hội. Nhận thức về giáo dục pháp luật còn hạn chế. Hàng năm nhà trường đã
phối kết hợp với công an huyện Kỳ Sơn, công an Thị trấn Mường Xén, Ban dân
số, Phòng dân tộc, Trung tâm y tế huyện Kỳ Sơn, tuyên truyền và phổ biến các
nội dung.
* Cách thức thực hiện
- Tuyên truyền phổ biến luật an toàn giao thông, luật hôn nhân và gia đình;
31
- Tuyên truyền phổ biến giáo dục công tác phòng cháy, chữa cháy, công
tác phòng chống đuối nước;
- Tuyên truyền và giáo dục về luật giới tính, hôn nhân- gia đình;
- Tuyên truyền và giáo dục để hạn chế tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận
huyết thống;
* Kết quả đạt được:
Qua các chương trình ngoại khóa trên các em đã được học tập và trải
nghiệm thêm những kiến thức bổ ích, góp phần hoàn thiện đạo đức, tư cách của
mình. Các em thấy rõ được tác hại của việc vi phạm pháp luật. Trong những năm
trở lại đây tình trạng học sinh vi phạm pháp luật an toàn giao thông, an toàn về
phòng chống đuối nước đã giảm thiểu đáng kể. Đặc biệt là tình trạng gây mất trật
tự, gây gổ đánh nhau đã giảm rất đáng kể. Một vẫn đề nhức nhối trong nhận thức
của người đồng bào miền núi nói chung và học sinh THPT Kỳ Sơn nói riêng,
ngày càng được khắc phục đó là tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống.
Tình trạng này trước kia xảy ra rất phổ biến nên đã ảnh hưởng rất nhiều đến kết
quả giáo dục của nhà trường. Trướng khi nghỉ hè, nghỉ lễ tết nahf trường đã phổ
biến rất kỹ về vấn đề này, ngoài ra nhà trường còn có công văn gửi đến chính
quyền Xã nhằm hạn chế những tình trạng trên. Kết quả tỉ lệ học sinh ra nhập học
tăng lên cao hơn so với năm trước.
2.1.2.6. Xây dựng kế hoạch giáo dục để “ Không một ai bị bỏ lại phía
sau”
Với hình thức giáo dục thời xưa, người thầy phần lớn thường chú ý tới
những em học sinh học giỏi, ngoan ngoãn, siêng năng chăm chỉ. Có những nhận
xét tích cực về các em học sinh này. Với các em học sinh lêu lổng, chưa tích cực
trong việc rèn luyện ý thức đạo đức cũng như kiến thức khoa học. Chúng ta
thường đánh giá một chiều và chưa nhìn nhận những yếu tố khác sẽ đẫn đến tạo
cho các em một sự tự ti, chán nản. Trong xá hội hiện nay,với sự phát triển toàn
diện đồi hỏi con người cũng cần có tri thức để đáp ứng yêu cầu đó. Quan điểm
giáo dục là phát triển toàn diện về nghĩa rộng và “ Không một ai bị bỏ lại phía
32
sau”. Muốn làm được điều này cần có sự chung sức của tất cả các ban ngành.
Nhưng then chốt cơ bản vấn là tập thể thầy cô giáo và các em học sinh phải ra
tay, chung sức, đồng lòng mói mong đạt được kết quả tốt. Chính vì lý do đó đòi
hỏi nhà trường, thầy cô làm công tác giáo dục phải cố gắng dìu dắt, giúp đỡ
những đối tượng học sinh khó khăn, những em có kiến thức chưa đạt yêu cầu.
Muốn làm được điều này đòi hỏi chúng ta phải tạo ra cho các em một không gian
thoải mãi, cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang để các em được cảm nhận những
điều tốt đẹp trong học tập, thấy được " Mỗi ngày đến trường là một ngày vui".
Các em sẽ yêu thích trường, lớp, yêu quý thầy cô và bè bạn. Từ đó sẽ nung nấu
trong các em những khát khao hoài bão, tốt đẹp về tương lai.
2.2. Giải pháp chiến lƣợc dài hạn
Song song với giải pháp mang tính cấp thiết, ngắn hạn trong 3 năm giáo
dục học sinh ở trong nhà trường. Ban giám hiệu và các tổ chức, cá nhân trong nhà
trường cần có một lộ trình( Kế hoạch) dài hạn, mang tính chiến lược để giảm tối
thiểu tình trạng học sinh bỏ học ở trường THPT Kỳ Sơn. Trên cơ sở đó tôi mạnh
dạn đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược dài hạn như sau:
2.2.1. Xây dựng và phát triển cơ sở vật chất nhà trường bền vững.
Như chúng ta đã biết năm học tới cả nước nói chung và Trường THPT nói
riêng đều thực hiện chương trình giáo dục 2018. Muốn thực hiện tốt chương
trình đổi mới một cách có hiệu quả ngoài việc nần cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường cần hoàn thiện, bổ
sung cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, dụng cụ thí nghiệm. Khi làm được
điều này sẽ đáp ứng tốt cho công tác dạy học của nhà trường.
* Cách thức thực hiện:
- Nhà trường càn xây dựng chiến lược dài hạn trong thời gian 3 năm, 5
năm về xây dựng cơ sở vật chất nhà trường;
- Cần bám sát chương trình,kế hoạch giáo dục của bộ, của sở về giáo dục
để từ đó lập kế hoạch thực hiện;
33
- Xây dựng đề án phát triển trường chuần quốc gia theo từng giai đoạn;
- Tham mưu cho chính quyền các cấp, Sở GD&ĐT Nghệ An về tu sửa, bổ
sung kinh phí xây dựng;
- Lập tờ trình kêu gọi các tập đoàn, các tổ chức để được hỗ trợ đầu tơ xây
dựng cơ sở vật chất.
* Kết quả đạt được: Trong công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học
trong năm 2020--2021; năm 2021-2022
- Hoàn thành việc xây dựng sân trường, lát gạch sân khấu, đổ bê tông phần
nhà xe sau nhà A3; mua bộ loa máy mới khoảng 65 triệu đồng phục vụ các hoạt
động ngoại khóa, NGLL, kỷ niêm các ngày lễ lớn;
- Xây dựng nhà vệ sinh mới cho học sinh, hoàn thành việc cấp bìa đất nhà
trường, hoàn thành các loại hồ sơ, thủ tục chạy thầu được dự án 11 tỷ đồng để
xây dựng nhà học 3 tầng mới đầu năm 2022.
- Hoàn thành việc quy hoạch mặt bằng tổng thể nhà trường để có cơ sở xây
dựng mới; tranh thủ sự ủng hộ của cấp trên với sự vào cuộc quyết liệt của BGH
hiện nay dự án bán trú cơ bản hoàn thành với tổng mức đầu tư theo hồ sơ thiết kế
cơ sở và khái toán là hơn 200 tỷ đồng bắt đầu xây dựng đầu năm 2021 dự kiến
thực hiện trong 1 năm hệ thống CSVC được đầu tư khang trang sạch đẹp đáp ứng
việc thực hiện CTGDPT 2018 và xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1 vào
năm 2025. Hệ thống phòng thực hành thí nghiệm được bổ sung, cấp mới và vận
hành sử dụng có hiệu quả, xin cấp mới phòng Tin học, phòng học NN, phòng TN
Hóa, Sinh; kêu gọi vận động hỗ trợ thêm 10 tivi 55 in và khoảng 845 bộ SGK cho
học sinh cả 3 khối. Đặc biệt hơn nữa trong năm học 2021-2022 nhà trường đã vận
động tài trợ và được Tập đoàn Trung Nam hỗ trợ xây dựng 100% vốn để xây
dựng 01 nhà học 5 tầng, 02 nhà nội trú học sinh( 3 ttangf), 01 nhà nội trú giáo
viên( 4 tầng). Cải tạo và bổ sung mới trang thiết bị các nhà Đa nằn, nhà nội trú
giáo viên và học sinh, 01 nhà đa năng với đầy đủ tiện nghi. Tổng vốn đầu tư của
dự án hơn 200 tỉ đồng.
34
Hình ảnh: Cơ sở hạ tầng trường THPT Kỳ Sơn năm 2022-2023
Hình ảnh : Mặt bằng tổng thể Trường THPT Kỳ Sơn, hoàn thành vào tháng 8
năm 2022
35
36
37
2.2.2. Tiếp tục tham mƣu cho chính quyền địa phƣơng về chiến lƣợc
phát triển giáo dục trong giai đoạn mới
Để thành công trong sự nghiệp giáo dục của huyện nhà thì vai trò của
chính quyền địa phương rất quan trọng. Chính quyền địa phương là cơ quan chủ
38
quản các mặt hoạt động của người dân, luôn đi sâu, đi sát và hiểu rõ về người dân
nhất. Là cơ quan thực hiện những mong muốn của người dân lên các cấp cao
hơn, hiểu rõ được những ưu nhược điểm của người dân trên địa bàn đó. Vì vậy để
thay đổi nhận thức của người dân thì giáo dục phải tác động trực tiếp tới mọi tầng
lớp trong nhân dân. Đặc biệt với mong muốn thay đổi nhận thức, một cái nhìn
khách quan, tổng quát về cuộc sống xã hội từ đó phụ huynh mới nhận thức đúng
đắn về giáo dục. Đây là một chiến lược then chốt, dài hạn cho sự phát triển giáo
dục. Phụ huynh học sinh phải nhìn được sâu xa về giáo dục từ đó định hướng, tư
vấn cho con cái trong việc phát triển, đạo đức, hành vi, những lựa chọn tương lai
cho con cái sau này. Vì vậy chính quyền địa phương là cầu nối quan trọng để đưa
giáo dục đến người dân. Mặt khác muốn thực hiện tốt chiến lược giáo dục thì
chính quyền địa phương phải làm những tiền đề cơ bản cho giáo dục phát triển
,bởi lẽ sự vào cuộc của chính quyền dịa phương nó thúc đẩy nhiều mặt hỗ trợ
giáo dục như: Phát triển cơ sở hạ tầng điện, đường, trạm và đặc biệt là hệ thông
cơ sở vật chất trường học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới trong chương trình giáo
dục 2018;
* Cách thức thực hiện:
- Tạo dựng mỗi quan hệ mật thiết chặt chẽ, bền vững với chính quyền địa
phương, thông qua các chương trình tọa đàm, giao lưu, qua các ngày lễ của cả hai
cơ quan;
- Thu thập các thông tin cần thiết về chính quyền địa phương để đáp ứng
yêu cầu giáo dục;
- Gửi các công văn, báo cáo về tình hình giáo duc, chất lượng giáo dục cho
đia phương quản lý học sinh;
- Gửi các báo cáo về tình hình học sinh như: chất lượng mũi nhọn, đại trà,
đặc biệt là những đối tượng học sinh cóa ý thức kém, đối tượng học sinh có nguy
cơ bỏ học vì các lý do khác nhau;
- Yêu cầu hỗ trợ nhà trường về nắm bắt thông tin của gia đình, của học
39
sinh nơi cư trú. Cùng nhà trường quản lý giáo dục học sinh khi các em về địa
phương nghỉ lễ;
- Có những thông báo cho chính quyền địa phương kịp thời về các đối
tượng học sinh chậm phát triển.
* Kết qủa thu được: Sau một thời gian kết hợp với chính quyền địa
phương ở các xã thì thấy rằng chất lượng giáo dục học sinh đã tăng lên rất đáng
kể. Đặc biệt tỉ lệ những em học sinh có ý tức kém, những em có nguy cơ bỏ học
giảm đi rất đáng kể. Trong công tác tuyeenr sinh hàng năm vào đầu tháng tư cho
thấy đa số phụ huynh và học sinh rất hài lòng về nhà trường và mong muốn gửi
gắm con cho nhà trường, để các cháu được ăn học đến nơi đến chốn.
Hình ảnh: Công tác tư vấn tuyển sinh vào lớp 10 THPT Kỳ Sơn năm 2021-2022
tại địa bàn xã Keng Đu
2.2.3. Tăng cƣờng kêu gọi vận động tài trợ về vật chất cũng nhƣ tinh thần
của các tổ chức trong và ngoài nhà trƣờng dành cho các em học sinh.
để ủng hộ vật chất cũng như tinh thần cho các em học sinh có điều kiện hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
1. Thống kê số lƣợng học sinh bỏ học trƣớc khi áp dụng
40
Qua báo cáo thống kê số lượng học sinh bỏ học cho thấy tình trạng học
sinh chưa yêu trường yêu lớp, chưa chăm chỉ học nhành vẫn còn nhiều qua các
năm gần đây.
Số lƣợng học Số lƣợng học Số em bỏ Tỉ lệ bỏ Năm học sinh sinh cuối năm học học đầu năm
2019-2020 1460 em 1227 233 15,96 %
2020-2021 1395 em 1248 147 10,53%
2. Đánh giá kết quả sau khi áp dụng
Sau khi áp dụng giải pháp này và điều tra khảo sát đối chiếu lại tôi nhận
thấy rằng các em yêu trường, yêu lớp hơn. Số lượng các em nhận thức được ỹ
nghĩa của việc học đã tăng lên rất nhiều, số lượng học sinh bỏ học ở cả 3 khối đã
giảm đi đáng kể. Điều này đã chứng minh rằng giải pháp “Giải pháp hạn chế
tình trạng học sinh bỏ học ở trường trung học phổ thông Kỳ Sơn” đã đạt được
một số hiệu quả nhất định.
Số lƣợng học Số lƣợng học sinh cuối Số em bỏ Tỉ lệ bỏ Năm học sinh năm(tính đến học học đầu năm tháng 4 )
2021-2022 1458 em 1369 89 6,1%
PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Trong thực tế tình trạng học sinh miền xuôi hay miền ngược bỏ học vì
nhiều lý do khác nhauvẫn diễn ra. Nhưng điều này lại càng xảy ra nhiều hơn, phổ
biến hơn ở các trường miền núi. Đặc biệt nó diễn ra ở hai cấp học THCS và
THPT, những điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục miền núi nói
41
chung, Trường THPT nói riêng. Chương trình giáo dục đổi mới năm 2018 nhằm
giúp học sinh đạt được các kiến thức, kỹ năng, phát triển năng lực của các em
trên cơ sở tư vấn, đinh hướng, giáo dục phù hợp. Giáo dục mang tính mở, học
sinh là trung tâm của mọi hoạt động, giáo viên chỉ đóng vai trò định hướng, dẫn
dắt. Sự thay đổi chương trình giáo dục nhằm phát triển toàn diện cho các em học
sinh. Những năm qua giáo dục đã và đang tạo cơ hội cho thầy và trò thay đổi
mình để tiếp cận chương trình mới. Nhiều em học sinh đã thích ứng và chủ động
tìm hiểu về chương trình này, nhưng vẫn còn rất nhiều học sinh chưa thích ứng
và chủ động những thay đổi đó. Tỉ lệ bỏ học, bỏ tiết vẫn diễn ra, đặc biệt là tình
trạng bỏ học giữa chừng. Quá trình thực hiện giải pháp tôi đã vận dụng linh hoạt
và triệt để, kết quả thu được ban đầu cho thấy tính khả thi của giải pháp. Tuy
nhiên trong quá trình áp dụng giải pháp này còn có nhiều bất cập về thời gian, đối
tượng áp dụng nên tính triệt để tình trạng học sinh bỏ học khong được khả quan.
Bởi có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan chưa được khắc phục, nó
đòi hỏi sự vào cuộc tổng thể của các tổ chức chính trị, thời gian áp dụng còn ít.
Trong quá trình áp dụng gặp những vấn đề xảy ra bất khả kháng cu thể là đại dịch
Covid-19. Khi xảy ra đại dich nảy sinh nhiều vấn đề hơn nữa, nhiều em được về
cachs ly không ra học nữa. Qua đó đã giúp tôi nghiên cứu và bổ sung thêm giải
pháp trong tình hình nay. Do giải pháp mang tính chủ quan của các nhân tôi nên
khi áp dụng có thể chưa có kết quả như mong muốn. Rất mong các thính giả, Ban
giám khảo quan tâm, chỉ ra những hạn chế của giải pháp để tôi sửa đổi, bổ sung
hoàn thành và đưa vào áp dụng một cách có hiệu quả hơn.
2. Khuyến nghị
Để tiếp tục phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số ít người, Đảng và nhà
nước cần ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người dân tộc thiểu số trong nhóm
dân tộc có nguồn thu nhập thấp như: dân tộc Thái, H’mông, Khơ Mú. Hỗ trợ chi
phí học cao học, nghiên cứu sinh và được ưu tiên trong tuyển dụng cán bộ công
chức, viên chức. Ở địa phương có người dân tộc thiểu số cần tăng cường công tác
truyền thông nâng cao nhận thức về phát triển giáo dục đối; quan tâm việc đầu tư
42
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phù hợp với tình hình thực tế của địa phương;
thường xuyên giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với trẻ em, học
sinh vùng dân tộc thiểu số làm tốt công tác quy hoạch nguồn nhân lực vùng dân
tộc thiểu số, có chính sách ưu tiên xét tuyển học cử tuyển và đảm bảo bố trí việc
làm cho người học cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Có những nguồn kinh phí hỗ trợ
kịp thời cho những em học sinh có thành tích học tập tốt mà điều kiện kinh tế gia
đình rất khó khăn, để từ đó động viên, gips đỡ cho các em hoàn thành ước mơ,
khát khao của mình trong tương lai.
2.1. Đối với chính quyền các cấp
- Chính quyền các cấp đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác đảm
bảo chất lượng giáo dục của Địa phương. Chính vì vậy các cấp chính quyền địa
phương phải:
+ Nắm rõ được số lượng học sinh đang theo học và có được dự đoán về
tình hình học tập của các em;
+ Theo dõi bám sát động viên gia đình và các em về việc thực hiện công
tác giáo dục;
+ Có những chế độ chính sách hỗ trợ những học sinh có hoàn cảnh gia đính
đặc biệt khó khăn, những học sinh sống xa cha mẹ;
+ Đề xuất những khó khăn của địa phương lên các cấp cao hợn những khó
khăn của nhân dân để các cấp có thẩm quyền đưa ra những chính sách, duy trì các
chính sách hỗ trợ đặc biệt cho giáo dục miền núi như chế độ 116, chế độ 81 ..
2.2. Đối với nhà trƣờng
- Cần xây dựng chiến lược giáo dục đặc thù cho học sinh miền núi;
- Tiếp tục là cơ quan tham mưu trực tiếp đến các cấp cao hơn về những
khó khăn của giáo dục miền núi, để có được nhiều hỗ trợ hơn nữa về cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học, các nguồn quỹ khuyến học của các tổ chức cho các
em học sinh miền núi;
- Phát huy được sức mạnh tập thể, các tổ chức trong nhà trường đoàn kết,
đồng lòng, thương yêu giúp đỡ các em.
43
2.3.Giáo viên bộ môn.
Vận dụng tối đa các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy kiến
thức bộ môn, bám sát và phù hợp với đối tượng học sinh, quan tâm nhiều hơn đối
với các em dân tộc thiểu số, đặc biệt là những em có điều kiện kinh tế, hoàn cảnh
gia đình hkos khăn. Những em học sinh chậm tiến bộ trong rèn luyện ý thức đạo
đức. Khi đánh giá học sinh cần nhìn nhận một chách khách quan, tích cực theo
chiều hướng phát triển, động viên khích lệ các em trong quá trình học tập.
2.4. Đối với tổ chức Đoàn Thanh niên
Thông qua các chương trình tổ chức các phong trào, hoạt động trong năm,
Đoàn thanh niên khuyến khích các em tham gia vào các công việc phù hợp. Xây
dựng các chương trình giáo dục đa dạng, phong phú, tạo ra các sân chơi lành
mạnh, các hoạt động tập thể để các em tự khẳng định mình.
2.5. Đối với Tổ tƣ vấn lứa tuổi học đƣờng của nhà trƣờng
Phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm, bộ môn để tìm hiểu những khó
khăn, vướng mắc trong cuộc sống cũng như trong học tập của các em thường
xuyên nghỉ học, bỏ học vô lý do, để tư vấn, động viên các em thực hiện nghiêm
túc nhiệm vụ của người học sinh. Tư vấn phản hồi ngược cho GVCN, GVBM,
Ban giám hiệu nhà trường về tâm sinh lý, hoàn cảnh, những khó khăn của các em
trong cuộc sống cũng như trong học tập. Từ đó đưa ra phương án tối ưu cho các
em học sinh này;
- Liên hệ mật thiết với chính quyền xã bản để nắm bắt thông tin hàng ngày
về gia đình học sinh, thông báo kịp thời cho chính quyền các cấp ở xã về tình
trạng những học sinh thường xuyên bỏ học vô lý do. Để họ có sự kết nối với gia
đinh học sinh.
2.6. Đối với công tác chủ nhiệm lớp
- Cần xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh một cách chi tiết,
phân loại hành vi ý thức của các em. Đưa ra giải pháp giáo dục phù hợp cho
những em có hành vi đạo đức lệch chuẩn.
44
- Tạo sự gần gũi, thiện cảm và công bằng giữa các em học sinh trong lớp.
- Dành nhiều thời gian thăm hỏi động viên học sinh. Chủ động tìm thời
gian cùng các em về nơi bản làng để tìm hiểu những khó khăn, gặp gỡ trao đổi,
động viên gia đình học sinh;
- Giáo dục cho các em thấy được ý nghĩa của việc học tập mới đem lại
cuộc sống tốt đẹp cho các em;
- Tạo ra nhiều sân chơi lành mạnh, nhiều hoạt động thực tiễn. Không đè
nặng đánh giá mặt tiêu cực, những hạn chế của các em;
- Kết hợp chặt chẽ với các tổ chức trong và ngoài nhà trường để hỗ trợ,
giáo dục các em.
2.7. Đối với gia đình học sinh
- Cần nhận thức sâu sắc về ỹ nghĩa của giáo dục cho các em, giáo dục
không chỉ là giảng dạy những kiến thức khoa học dẻ các em thi vào các trường
Đại học, cao đẳng mà các em muốn. Mag giáo dục ở đây còn là nhân cách, hành
vi ứng xử, lối sống, giáo dục cái chân, thiện, mỹ.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các em như: quan tâm đến thời gian
ăn, học, nghỉ ngơi.
- Tư vấn, động viên định hước cho các con về tầm quan trọng của việc học,
tư vấn định hướng cho các em về con đường sự nghiệp mà các em ước mơ.
- Nắm bắt được sự thay đổi hành vi, học tập để cùng giáo viên chủ nhiệm,
cùng nhà trường hỗ trợ cho các em.
Kỳ Sơn, ngày 5 tháng 1 năm 2022
45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí Báo Nghệ An về phát triển kinh tế miền tây xứ nghệ năm 2022;
2. Diễn đàn về các vùng miền dân tộc thiểu số:
- Quyết định 1379/QĐ-TTg năm 2013 về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề
các tỉnh vùng trung du, miền núi phía Bắc và các huyện phía Tây tỉnh Thanh
Hóa, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 - 2020.
- Nghị quyết 12/NQ-CP 2020 thực hiện Đề án phát triển kinh tế - xã hội dân tộc
thiểu số, miền núi.
- Nghị quyết Triển khai thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18 tháng 11
năm 2019 của Quốc hội về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.
- Tăng cường công tác phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số - cơ sở quan
trọng để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc (Hà Thị Khiết - Nguyên Bí thư
Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về dân tộc, Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), Nguồn tin Tạp chí Cộng sản.
- Diễn đàn: “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc,
miền núi đến năm 2020”, Tác giả Phương Linh.
3. Sách văn hóa các dân tộc vùng miền dân tộc thiểu số: Sách văn hóa các đồng
bào dân tộc thiểu số Kỳ Sơn (Nhà xuất bản Nghệ An).
4. Ngôn ngữ và văn hóa một số dân tộc thiểu số ở nước ta: tác giả PGS.TS Lê
Ngọc Thắng (Nhà xuất bản dân trí năm 2014).
5. Lễ tục hôn nhân các dân tộc ở xứ Nghệ: Sưu tầm, biên khảo Lê Tài Hòe (Nhà
xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 2018).
6. Tạp chí, chuyên đề về văn hóa các dân tộc vùng miền núi dân tộc thiểu số:
Chuyên đềdân tộc thiểu số và Miền núi (Báo Nhi đồng). Chuyên đềDân tộc thiểu
số và Miền núi (Báo Thiếu niên tiền phong). Chuyên đề Dân tộc thiểu số và Miền
46
núi (Báo Nông nghiệp Việt Nam). Tạp chí Văn hóa các Dân tộc (Hội Văn học
nghệ thuật, các dân tộc thiểu sốViệt Nam). Tạp chí Dân tộc và Miền núi (Ủy ban
dân tộc miền núi). Tạp chí Dân tộc và Thời đại (Hội dân tộc học Việt Nam).
7. Sách Bộ Văn hóa - Thông tin: Tiếp tục đẩy mạnh công tác Văn hóa - Thông tin
ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Hà Nội năm 2004)
8. Các tài liệu liên quan đến giáo dục hòa nhập: Module Tiểu học Giáo dục hòa
nhập cho học sinh khiếm thị, học sinh có hoàn cảnh khó khăn về học tập, học
sinh khuyết tật về ngôn ngữ.
9. Tài liệu về giáo dục kỹ năng sống: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung
học phổ thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Tác giả Phan Thanh
Vân; Trường Đại học Thái Nguyên).
10. Những giá trị sống cho tuổi trẻ của tác giả Diane Tillman, (Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh; Biên dịch: Đỗ Ngọc Khánh Ph.D).
11. Các tài liệu liên quan đến giáo dục hòa nhập;
12. Các tài liệu về Chương trình giáo dục 20218;
13. Các thông tư, nghị định 116, nghị định 81(86 cu) về chính sách, hỗ trợ chi
phí học tập, tiền ăn tiền ở cho học sinh vùng dân tộc thiểu số.

