SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT THIẾU TRONG SÁNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY LĨNH VỰC: MÔN NGỮ VĂN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG THPT YÊN THÀNH 2

_____________________________________________________________

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

GÓP PHẦN KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT THIẾU TRONG SÁNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY LĨNH VỰC: MÔN NGỮ VĂN

Họ và tên tác giả: Tổ bộ môn: Năm thực hiện: Số điện thoại: Trần Đăng Lộc Văn - Ngoại ngữ 2021 0946919669

Yên Thành - 2021

MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................... 1 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .................................................................................. 1 II. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .......................... 2 1. Phạm vi ...................................................................................................... 2 2. Đối tượng ................................................................................................... 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 2 III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................. 3 1. Nghiên cứu lý luận ..................................................................................... 3 2. Khảo sát thực tế .......................................................................................... 3 3. Phân tích, tổng hợp, đánh giá kết quả ......................................................... 3 4. Nhận xét, sửa lỗi ......................................................................................... 3 IV. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................... 3 V. CẤU TRÚC CỦA SÁNG KIẾN .................................................................... 3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ........................................................................................ 5 I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI ...................................................................................... 5 1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 5 2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................... 6 2.1. Những thuận lợi và khó khăn ............................................................... 6 2.1.1. Những thuận lợi ............................................................................ 6 2.1.2. Những khó khăn ............................................................................ 6

2.2. Thực tiễn sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng ở học sinh trung học phổ thông hiện nay ............................................................................... 7 2.2.1. Sự trong sáng của tiếng Việt ......................................................... 7 2.2.2. Thực tiễn sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng ở học sinh trung học phổ thông hiện nay .................................................................. 8 2.2.3. Thực tiễn sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng ở học sinh Trường trung học phổ thông Yên Thành 2 .............................................. 9

3. Nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh trung học phổ thông hiện nay ................................................................ 19 3.1. Nguyên nhân khách quan ................................................................... 19 3.2. Nguyên nhân chủ quan....................................................................... 20

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT THIẾU TRONG SÁNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY ...................................................................... 21 1. Mục tiêu của các giải pháp ....................................................................... 21 2. Những giải pháp cụ thể ............................................................................. 21 2.1. Trong dạy học ngữ văn ...................................................................... 21

2.2. Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp .......................................... 26 2.2.1. Xây dựng trong nhà trường phong trào giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ........................................................................................ 26 2.2.2. Giáo dục lồng ghép các chương trình dạy học với các hoạt động ngoài giờ lên lớp .......................................................................... 26 2.2.3. Thầy cô phải sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực trong bài giảng, trong đời sống ....................................................................................... 26 2.2.4. Thường xuyên thiết lập các kênh đối thoại để nhắc nhở, chấn chỉnh ..................................................................................................... 26 III. GIÁO ÁN VÀ ĐỀ VĂN MINH HỌA ........................................................ 27 1. Giáo án minh họa ..................................................................................... 27 2. Một số đề văn minh họa............................................................................ 44 IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI.......................................................................... 46 1. Đối tượng áp dụng .................................................................................... 46 2. Phạm vi .................................................................................................... 46 3. Hiệu quả thu được .................................................................................... 46 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 48 1. Đóng góp của đề tài ...................................................................................... 48 1.1. Tính mới ................................................................................................ 48 1.2. Tính khoa học ........................................................................................ 48 1.3. Tính hiệu quả ......................................................................................... 48 2. Một số đề xuất .............................................................................................. 48 2.1. Với các cấp quản lí ................................................................................ 48 2.2. Đối với tổ chuyên môn .......................................................................... 49 2.3. Đối với giáo viên ................................................................................... 49 2.4. Đối với học sinh .................................................................................... 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 50 PHỤ LỤC

Phụ lục 1. MỘT SỐ ĐỀ ĐỌC HIỂU, NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Phụ lục 2. TIẾNG VIỆT (LƯU QUANG VŨ)

ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, không bất biến mà phát triển liên tục. Quá trình giao thoa, va đập của ngôn ngữ bao hàm cả sự dung nạp, thải loại những gì không phù hợp. Trong quá trình ấy, bất cứ ngôn ngữ nào, điều cần nhất là nâng cao khả năng tự điều chỉnh dựa trên nền tảng có tính chuẩn mực được vun đắp qua bao thế hệ để ngôn ngữ ngày càng phát triển, văn minh hơn.

Nói đến vẻ đẹp của ngôn ngữ - một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc, ca dao từng có câu: "Người thanh tiếng nói cũng thanh". Bác Hồ cũng đã viết rằng: "Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phát triển ngày một rộng khắp".

Tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của đại đa số người Việt Nam, đồng thời cũng là tiếng phổ thông của tất cả các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam,là công cụ giao tiếp quan trọng bậc nhất trong một cộng đồng dân cư rộng lớn. Tiếng Việt có lịch sử hình thành và phát triển rất đáng tự hào, trong đó đáng kể nhất là khả năng tiếp nhận vốn từ vựng từ bên ngoài, tự điều chỉnh chúng một cách chủ động, biến thành cái riêng, cái đặc biệt của người Việt, thực sự đã là tài sản quốc gia quý giá. Để truyền thống ấy được phát huy trong giai đoạn hiện nay, giúp tiếng Việt phát triển mà vẫn giữ được bản sắc thì không thể thiếu giải pháp phù hợp, đặc biệt là về định chuẩn, nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường, tính tiền phong gương mẫu trong giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt từ phía các phương tiện truyền thông.

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta từng căn dặn: “Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó làm cho nó phát triển ngày càng rộng khắp”. Nhà nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai thì cho rằng: “Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc”. Còn cốThủ tướng Phạm Văn Đồng thì đã từng khẳng định: “tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp ấy là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu,hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là ngôn ngữ của văn học mà những nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... và những nhà văn, nhà thơ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên đến trình độ rất cao về nghệ thuật”.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tiếng Việt đã vươn lên làm trọn chức năng giao tiếp xã hội của một quốc gia độc lập và ngày càng vượt qua mọi thử thách để phát triển như ngày nay. Tiếng Việt đã trở thành vũ khí quan trọng để dân tộc Việt Nam thoát khỏi mọi vòng xiềng xích nô lệ và trở thành một quốc gia độc lập như ngày hôm nay. Không những thế, nó còn làm nên bản sắc Việt Nam, mà chúng ta hay nói đến một cách tự hào với cụm từ “niềm kiêu hãnh dân tộc”...

1

Thế nhưng cách đây mấy năm, PGS.TS Bùi Hiền đã công bố phần 2 công trình nghiên cứu cải tiến tiếng Việt sau 40 năm nghiên cứu, ông có đề xuất cách viết và phát âm khác so với thông thường. Sự công bố và đề xuất này đã khiến dư luận “dậy sóng” khi cách thức sử dụng tiếng Việt hoàn toàn khác biệt so với phổ thông. Mới đây nhất, bộ “Chữ Việt Nam song song 4.0” kết hợp từ hai công trình “Chữ Việt nhanh" và "Ký hiệu dấu” của 2 tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình vừa chính thức nhận được giấy chứng nhận bản quyền từ Cục Bản quyền tác giả. Trước thông tin này, trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều ý kiến phản hồi, trái chiều, và không ít những băn khoăn, trăn trở về việc sử dụng tiếng Việt hiện nay.

Hiện nay việc sử dụng Tiếng Việt thiếu trong sáng trong giao tiếp và ứng xử của một bộ phận học sinh phổ thông, các em ngày càng lạm dụng kiểu viết, kiểu dùng từ không đúng chuẩn mực đang khiến nhiều người thực sự cảm thấy bức xúc và lo ngại và đặc biệt với những giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Vậy nguyên nhân của thực tế này do đâu? Cần có những giải pháp nào để khắc phục được “căn bệnh” này cho các em? Đây là những trăn trở, những vấn đề mà tôi muốn đề cấp trong sáng kiến kinh nghiệm với đề tài “Một số giải pháp góp phần khắc phục tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh trung học phổ thông hiện nay”.

II. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1. Phạm vi

Trong sáng kiến này, tôi chỉ nghiên cứu cách dùng ngôn ngữ thiếu trong

sáng của học sinhtại một số lớp ở trường THPT Yên Thành 2.

2. Đối tượng

Tìm hiểu thực trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của một bộ phậnhọc sinh trong trường ở tất cả các khối 10, 11, 12, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục hiện tượng sử dụng ngôn ngữ thiếu trong sáng và chuẩn mực ở học sinh.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định vai trò và tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu

Tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về lí luận cũng như thực tiễn đề tài

Đánh giá thực trạng sử dụngtiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh trung

học phổ thông hiện nay.

Vận dụng các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu

trong sáng của học sinh trung học phổ thông hiện nay.

Nhận định kết quả thông qua việc đối chiếu đánh giá trước và sau khi áp

dụng đề tài trong thực tế quá trình giảng dạy của bản thân.

2

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Nghiên cứu lý luận

Xác định tầm quan trọngcủa vấn đề khắc phục tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh trung học phổ thông hiện nay, nên tôi đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan, tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về lí luận cũng như thực tiễn đề tài. Xác định vai trò và tầm quan trọng của đề tài mà mình nghiên cứu.

2. Khảo sát thực tế

Từ việc khảo sát thực tế tại trường mình giảng dạy, trực tiếptiếp xúc với hiện tượng học sinh hàng ngày sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng như tin nhắn điện thoại, bài kiểm tra và cách trình bày bảng, từ đó đánh giá thực trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh trung học phổ thông hiện nay nói chung và ở trường THPT Yên Thành 2 nói riêng.

3. Phân tích, tổng hợp, đánh giá kết quả

Qua kết quả nghiên cứu lý luận và thực khảo sát thực tế, tôi tiến hành phân tích, tổng hợp, đánh giá và đưa ra nhận định kết quả thông qua việc đối chiếu, đánh giá trước và sau khi áp dụng đề tài trong thực tế quá trình giảng dạy của bản thân.

4. Nhận xét, sửa lỗi

Khi đã có kết quả từ việc khảo sát và đánh giá thực tế, tôi đã vận dụng các giải pháp nhằm sửa lỗi, khắc phục tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh mình như chỉ cho học sinh thấy những lỗi mà mình vi phạm, chỉ ra nguyên nhân vì sao các em lại thường xuyên mắc phải những lỗi rất cơ bản như vậy, đồng thời đưa ra những cách sửa lỗi cho từng trường hợp cụ thể.

IV. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Từ thực trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh trung học phổ thông, trong sáng kiến này tôi đã đưa ra một số giải pháp giúp các em sử dụng đúng và hay khi giao tiếp đối với học sinh nói chung và đối với môn Ngữ văn nói riêng, góp phần mang lại những hiệu quả nhất định trong quá trình giảng dạy, giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt nói riêng, phát huy vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất, truyền thống của con người Việt Nam nói chung.

V. CẤU TRÚC CỦA SÁNG KIẾN

Ngoài phần Đặt vấn đề và Kết luận, sáng kiến được trình bày có các phần

như sau:

I. Cơ sở của đề tài

1. Cơ sở lý luận

2. Cơ sở thực tiễn

3. Nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học

sinh trung học phổ thông hiện nay

3

II. Một số giải pháp góp phần khắc phục tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu

trong sángcủa học sinh trung học phổ thông hiện nay.

1. Mục tiêu của giải pháp

2. Những giải pháp cụ thể

III. Giáo án, đề văn minh họa

IV. Hiệu quả của đề tài.

4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI

1. Cơ sở lí luận

Như chúng ta đã biết trong quá trình phát triển, tiếng Việt đã tiếp nhận và cải tiến nhiều yếu tố từ ngôn ngữ bên ngoài nhằmViệt hóa để phù hợp với dân tộc mình. Chính nhờ vậy mà tiếng Việt ngày càng trở nên phong phú, uyển chuyển, tinh tế, chuẩn xác.

Thời Pháp thuộc, tiếng Pháp được dạy từ lớp 1. Các em học sinh được học các bài học (trừ giờ Việt văn) toàn bằng tiếng Pháp nên giới học sinh, sinh viên, công chức sử dụng tiếng Pháp là chuyện thường tình. Nhưng sách, báo tiếng Việt thời đó vẫn rất nghiêm túc, không lai căng tiếng Pháp một cách hổ lốn.

Từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến ngày thống nhất đất nước, Bác Hồ, cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến các nhà lãnh đạo giáo dục, văn hóa, văn nghệ, báo chí… đều rất quan tâm đến việc bảo vệ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Và vì thế, tiếng Việt được coi trọng, không pha tạp, ngay các giáo trình chuyên khoa ở các trường đại học cũng chỉ sử dụng tiếng Việt.

Để bảo vệ sự trong sáng, tính giàu đẹp của tiếng Việt đã có rất nhiều các cuốn sách, bài nói chuyện, hội thảo chuyên đề về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong cuộc sống hiện nay.

Trên báo điện tử Đại biểu Nhân dân ra ngày 13 tháng 12 năm 2010 có bài “Lại nói về sự trong sáng của tiếng Việt” của tác giả Mai Thúc Lân viết: Phải chú trọng hơn nữa việc dạy tiếng Việt (cả chính tả và văn phạm) cho học sinh từ bậc tiểu học; yêu cầu biên tập viên các báo, nhà xuất bản phải hết sức chú ý sửa chữa các sai phạm về chính tả trong sách, báo trước khi đưa in (…). Và nên chăng Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần ra một Luật hay Pháp lệnh quy định chặt chẽ về vấn đề giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt vì nó cũng quan trọng không kém việc bảo vệ môi trường.

Ngày 24 tháng 12 năm 2012, giới khoa học trong cả nước tổ chức hội thảo về tiếng Việt và đã chỉ ra nhữngyếu tố dẫn đến sự thiếu trong sáng trong sử dụng tiếng Việt như: Định chuẩn chưa rõ ràng, thiếu văn bản mang tính pháp lý liên quan; xu hướng tuyệt đối hóa vai trò ngoại ngữ của một bộ phận dân chúng trong quá trình giao lưu hội nhập ngày càng rộng mở; hạn chế trong công tác dạy - học tiếng Việt; ảnh hưởng từ các phương tiện truyền thông - đặc biệt là truyền thông qua mạng internet… Những nguyên nhân nói trên dẫn đến vô số "bệnh" về tiếng Việt, từ nói - viết sai, sính dùng từ ngoại đến các "bệnh" về chính tả, viết hoa, viết tắt, phiên âm... Từ đó khẳng định nhà nước nên có quy định chặt chẽ và Viện Ngôn ngữ học phải có trách nhiệm đề xuất, xây dựng quy định chuẩn về việc dùng từ tiếng nước ngoài trong các văn bản, nhất là văn bản chính thức của Nhà nước. Các trường học cũng phải chú trọng, đẩy mạnh giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng

5

của tiếng Việt. Loại trừ sự lố bịch trong việc dùng tiếng lai cũng là một khía cạnh thể hiện niềm tự hào và tôn trọng ý thức dân tộc trong ngôn ngữ, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Vỉệt.

Tiêu biểu nhất là ngày 05 tháng 11 năm 2016, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát động phong trào "Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt" (1966 - 2016), Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) chủ trì, phối hợp với Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và một số cơ quan Trung ương tổ chức Hội thảo Khoa học với chủ đề "Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng". Mục đích của Hội thảo là khẳng định, đề cao vai trò, vị thế của tiếng Việt - ngôn ngữ chính thức của nước Việt Nam thống nhất, trên các phương tiện thông tin đại chúng; góp phần định hướng cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc qua ngôn ngữ, nhất là trong bối cảnh và trách nhiệm truyền thông hiện đại.

Nước ta hiện nay, về mặt Nhà nước có Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu Niên và Nhi đồng của Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa - Thông tin và Du lịch, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học...; về phía xã hội có Hội Nhà văn, Hội Nhà báo... đều là những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, điều quan trọng đó là chúng ta cần phải hiểu đúng, dùng đúng từ ngữ Việt; chống thái độ tùy tiện trong việc nói và viết tiếng Việt, chống lạm dụng từ nước ngoài để làm sao mỗi một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường phải thật sự có ý thức trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Những thuận lợi và khó khăn

2.1.1. Những thuận lợi

Trong quá trình giảng dạy tại đơn vị cũng như thực hiện đề tài nghiên cứu, bản thân tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường, các thành viên trong tổ Văn - Ngoại ngữ, các đồng nghiệp trong trường và sự phối hợp của các bậc phụ huynh. Đặc biệt là trong quá trình thu thập và xử lý thông tin, tôi luôn nhận được sự hỗ trợ tận tình ngay từ khâu chuẩn bị cho đến khi hoàn thành đề tài. Điều này tạo nên những thuận lợi và là niềm động viên, khích lệ tôi hứng thú hơn trong quá trình thực hiện đề tài.

Về phía học sinh, đa số các em có sự đồng đều về năng lực học tập và ý thức trong giao tiếp, các em sẵn sàng và tình nguyện hỗ trợ tôi trong rất nhiều công việc như phát phiếu điểu tra, thực hiện bài kiểm tra, hay là quá trình thực giảng trên lớp…

2.1.2. Những khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi thì tôi cũng gặp không ít những khó khăn nhất

định như:

6

+ Thực tế xã hội ta hiện nay vẫn chưa làm tốt chức năng giáo dục trongviệc

này, nhất là ở trách nhiệm gia đình, nhà trường và đoàn thể.

+ Bản thân chưa có điều kiện đểtiếp cận nhiều với những chuyên đề, giải pháp hiệu quả một cách trực tiếp trong việc giáo dục học sinh trung học phổ thông giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

+ Do cách dạy học hiện nay nặng về tính truyền thụ, thực dụng về kiến thức

thi cử nên khả năng diễn đạt hạn chế rất nhiều.

+ Một số phụ huynh còn xem nhẹ cách giao tiếp lời ăn tiếng nói hàng ngày của con em mình, điều này dẫn tới lối nói tùy tiện mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng Việt.

+ Về phía học sinh, một bộ phận không nhỏ thiếu ý thức trong giao tiếp và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, điều này ảnh hưởng xấu đến văn hóa học đường.

+ Yếu tố thời đại, xã hội cũng là một trong những khó khăn tác động rất lớn đến ý thức, trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt của học sinh nói riêng, xã hội nói chung.

2.2. Thực tiễn sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng ở học sinh trung học phổ thông hiện nay

2.2.1. Sự trong sáng của tiếng Việt

Chúng ta nên hiểu như thế nào là "trong sáng"? Trong sáng chính là sự trong trẻo, sáng rõ, không một chút vẩn đục, trong sáng có nghĩa là ở trạng thái giữ được bản sắc tốt đẹp, không có hiện tượng pha tạp, tạp nham, hoàn toàn lành mạnh. Sự trong sáng trong tiếng Việt là một vấn đề rất rộng mở, bao hàm tất cả những gì liên quan đến việc sử dụng và có ảnh hưởng đến tiếng Việt. Bản chất vốn có của tiếng Việt như thế nào và việc sử dụng đúng bản chất đó ra sao thì đó chính là sự trong sáng của tiếng Việt. Con người chúng ta sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp hàng đầu giữa mọi người với nhau, đối với người Việt ta, sử dụng tiếng Việt là phương tiện quan trọng nhất, đảm bảo được sự hiệu quả trong giao tiếp và truyền đạt.

Một trong những nét trong sáng đầu tiên của tiếng Việt chính ở hệ thống chuẩn mực và quy định về việc sử dụng tiếng Việt, từ việc sử dụng chữ viết, phát âm, từ ngữ, ngữ pháp, cho đến phong cách ngôn ngữ đều có những quy tắc chung. Mỗi chữ viết có cách viết và cách phát âm khác nhau, có thể ghép với nhau theo quy tắc để tạo nên những từ mới. Mỗi câu đều có cấu trúc ngữ pháp nhất định và mang phong cách ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh sử dụng, tất cả điều đó cấu thành sự trong sáng của tiếng Việt.

Thứ hai, tiếng Việt là ngôn ngữ của chúng ta, do ông cha ta là người sáng lập nên, gắn liền với bản sắc văn hóa của dân tộc, sự trong sáng trong tiếng Việt chính là không có sự pha tạp, việc sử dụng hay mượn từ của nước ngoài phải có

7

chọn lọc, phải phù hợp và có chừng mực, không lạm dụng các từ nước ngoài, tuy nhiên ở trong mỗi hoàn cảnh phải biết dung nạp những yếu tố tích cực để làm giàu, đa dạng hơn vốn tiếng Việt.

Thứ ba, việc sử dụng ngôn ngữ chính là đang sáng tạo ngôn ngữ, tiếng Việt trong quá trình sử dụng được con người sáng tạo với muôn màu muôn vẻ khác nhau, tuy nhiên sự sáng tạo đó phải nằm trong quy củ, phải tuân theo những quy tắc chung, đảm bảo tính chuẩn mực và hệ thống của tiếng Việt. Không thể sáng tạo một cách nhố nhăng, vô tổ chức, cái sáng tạo phải hướng đến đóng góp cho sự bền vững và phát triển của tiếng Việt. Ngôn ngữ nào cũng vì một mục đích chung đó là giao tiếp trong xã hội loài người, chính vì vậy, nó phải đảm bảo những chuẩn mực đạo đức chung của con người. Đối với tiếng Việt, tính lịch sự, văn minh chính là một trong những nét trong sáng của thứ ngôn ngữ này.

Thứ tư, trong xã hội có bao nhiêu lứa tuổi, bao nhiêu thành phần, tầng lớp và phân chia vai vế thì ứng với đó là có bấy nhiêu cách xưng hô phù hợp. Sự phù hợp trong cách xưng hô không chỉ để nhận dạng mà còn đảm bảo tính nhân văn, tình cảm giữa con người. Không chỉ riêng trong cách xưng hô mà toàn bộ việc sử dụng tiếng Việt cũng phải đảm bảo lịch sự, có văn hóa, thể hiện ở cách điều chế cảm xúc, biết khiêm nhường, lễ độ và nói năng từ tốn, đặc biệt là biết nói lời xin lỗi, cảm ơn.

2.2.2. Thực tiễn sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng ở học sinh trung học phổ thông hiện nay

Trong thời gian gần đây, tiếng Việt đang bị sử dụng một cách bừa bãi, sự trong sáng của tiếng Việt đang bị giảm sút nghiêm trọng. Và một sự thật đáng buồn là học sinh trung học phổ thông - những người đã và đang được học văn hóa, được tiếp thu những thành tựu khoa học - lại là những người sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng nhất. Cách nói năng của một bộ phận học sinh hiện nay chưa thật sự chuẩn mực và trong sáng (tuy là phổ biến nhưng không phải số đông, chưa phải là tất cả học sinh).

Đúng là không khó để nhận ra việc tiếng Việt đang bị một bộ phận không nhỏ sử dụng một cách vô trách nhiệm, thậm chí bị bóp méo và xâm phạm đến đáng sợ, dẫn đến cách hiểu thứ ngôn ngữ chúng ta đang dùng hằng ngày “tựa như một mớ hổ lốn”. Bất cứ lúc nào họ cũng có thể chen từ nước ngoài vào, khiến cho ngôn ngữ Việt không ra Việt, Tây không ra Tây. Tôi đã làm một cuộc khảo sát bằng cách nhắn tin với học sinh của mình và giật mình “tá hỏa” bởi một loại ngôn ngữ mới mà các em sử dụng chưa hề thấy trong từ điển. Chữ nghĩa được giản lược đến mức tối đa theo cách phát âm, viết tắt. Đơn cử như: “quá”, “quyển” được viết thành “wá, wyển”; “quen” thành “wen”; “quên” được viết thành “wên”; “yêu” giản lược thành “iu”;“luôn” thành “lun”; “buồn” thành “bùn”; “biết không”? thành “bitk?”; “biết rồi” thành “bít rùi” (biết rồi); “biết chết liên” thành “Bít chít lìn”; “mấy” thành “mí”… Hay những ký tự như: “ko, k” (không); “u” (bạn, mày), “ni” (nay), “en” (em), “m” (mày), “ex” (người yêu cũ), “t” (tao), “hem” (không),…

8

Không chỉ lệch chuẩn về mặt từ ngữ, tiếng Việt còn bị dùng sai ngữ pháp một cách phổ biến. Theo các nhà ngôn ngữ, đặc điểm lớn nhất của ngữ pháp tiếng Việt là trật tự từ. Đáng nói nữa là trong giới trẻ đang nổi lên như một cách giao tiếp thời thượng, được đông đảo bạn trẻ cổ xúy mà chúng ta có thể bắt gặp hằng ngày từ nhà ra ngõ, từ công sở đến trường học với những từ rất phản cảm như: “Đi gì mà đầu lâu thế?”; “Bắc Cạn đi, các ông ơi!”; “Cả lớp ơi, “lệ quyên vào đi chơi thôi!”; “hết bao nhiêu đấy, để còn Campuchia?” v.v... Đó là chưa kể đến một bộ phận không nhỏ thường viết sai chính tả từ “l-n”, “s-x”, “tr-ch”….

2.2.3. Thực tiễn sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng ở học sinh Trường trung học phổ thông Yên Thành 2

Trong quá trình thực hiện sáng kiến này, tôi đã khảo sát việc sử dụng tiếng Việt của học sinh tại Trường THPT Yên Thành 2 (nơi tôi đang công tác) ở bài kiểm tra viết, tin nhắn trên điện thoại và viết bài tập lên bảng. Sau đây là một số hình ảnh cho thấy hàng loạt những lỗi mắc phải của học sinh:

9

10

11

12

13

14

Từ những hình ảnh khảo sát được, chúng ta có thể thấy trong một bài kiểm tra nhỏ hoặc một tin nhắn ngắn đã có hàng loạt những lỗi mắc phải. Những quy ước ngầm định trong tin nhắn giữa các học sinh có thể chấp nhận được, nhưng trong các bài kiểm tra thì điều đó là lỗi không thể chấp nhận được, nó đã làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

Căn cứ vào những khảo sát trên, tôi tạm chia ra các lỗi như sau:

2.2.3.1. Xu hướng đơn giản hóa

Đây là khuynh hướng phổ biến nhất mà bất kỳ một học sinh nào cũng mắc

phải. Một số kí tự học sinh thường dùng phổ biến qua tin nhắn điện thoại:

Ngôn ngữ (gốc)

(cười) haha (cười) hihi À anh Ăn cơm Ba (cha) Bà xã chà Ngôn ngữ (sáng tạo) Kaka Hjhj Àh A ăn kum Papa Vx Ckàz

15

chảnh chó chào chắc chết chia tay chim chịu cho chó chồng chúc ngủ ngon chuyện chửi Dạ đang đánh lộn đánh nhau đâu đẹp trước uống nước Ừ vẫn vậy Vô duyên Vở Vợ với vui xin chào xin lỗi xinh xoắn xuống Ý Yêu…… c2 bye bye Chắt Chjt Ct Chym Ckju Choa Tró Ck g9, chux ngủ ngon chiện, chyn Ekuj Dzạ Dag Wuynh lộn Pk Âu Chẹp trướk, trc un nc uk, ừa Zẫn zậy, z, vz zô zuyên Zở Vk zới, vs, zs Zui 22… sr, xl Xin Xoak Xún Yk ju, iu…….

2.2.3.2. Xu hướng phức tạp hóa

- Xu hướng này tuy không phát triển mạnh mẽ như xu hướng thứ nhất nhưng nó vẫn tồn tại như một cách để thể hiện sự khác biệt “sành điệu” của giới trẻ.

16

Trong xu hướng phức tạp hóa, một trong những nét đặc trưng cần phải nhấn mạnh đó là cách thể hiện, trình bày nội dung văn bản. Với mong muốn được thể hiện, khẳng định bản thân (do tâm lý lứa tuổi), tạo sự khác biệt, xu hướng này vì thế, càng được phát huy mạnh mẽ.

- Sự phức tạp trước hết được thể hiện thông qua hàng loạt các biểu đạt tình

cảm đi kèm. Ví dụ:

:((buồn :) cười :)))))rất buồn cười.

- Sự phức tạp còn được thể hiện trong cách trình bày cầu kỳ. Ví dụ:

“Thiếu zắng a e humz thể shống thêm 1 fút jây nào nữa” (Thiếu vắng anh, em không thể sống thêm một phút giây nào nữa).

2.2.3.3. Xu hướng tạo ra những lời nói cố định Những câu giới trẻ hay sử dụng là:

Chảnh như con chó cảnh Chán như con gián Chuyện nhỏ như con thỏ Biết chết liền Đã xấu còn xa, đã si đa còn xông pha hiến máu Bó tay chấm cơm Buồn như con chuồn chuồn Đẹp trai có gì là sai Dở hơi tập bơi Ngu như con bò thích hát hò Xấu như con gấu Ngất trên cành quất

- Khi những ngôn ngữ kia được chuyển thành văn bản với từng bước phát

triển và sáng tạo thì chúng sẽ có hình dạng như sau:

Ngoi` pun` hok bjk lem` je^`, vo^ tinh` nghj~ den' anh, hok bjk jo` nay` anh dang lam` j` ta? (Tạm dịch là: Ngồi buồn không biết làm gì, vô tình nghĩ đến anh, không biết giờ này anh đang làm gì ta?

Nếu xét về nội dung ta thấy có một số câu phù hợp với cách lí giải của tuổi teen là nói cho vui, Xấu như con gấu; Đói như con sói; Chuyện nhỏ như con thỏ chạy trên đồng cỏ; Chán như con gián; Chảnh như con chó cảnh. Nhưng ta còn nhận thấy bên cạnh những câu nói có thể chấp nhận được còn là những câu nói dựa

17

vào thành ngữ gốc mà biến đổi, làm mất hết ý nghĩa của thành ngữ và nó mang lại một thông tin sai lệch hoàn toàn với thành ngữ ban đầu mà người Việt sử dụng: Không mày đố thầy dạy ai; Một con ngựa đau cả tàu được ăn thêm cỏ; Một điều nhịn là chín điều nhục; Ăn trông nồi ngồi trông xó… Và khi những câu nói quen thuộc này được giới tuổi teen sử dụng để giao tiếp với người lớn. Giáo viên chúng ta cũng từng là nạn nhân của những câu nói trên khi đôi lần hỏi bài học sinh trả lời trống không “biết chết liền” đây là những tình huống nằm ngoài ý muốn của người đứng lớp.

- Những lời nói cố định như vậy được sử dụng rất rộng rãi:

2.2.3.4. Hiện tượng nói tục

Học đường được coi là môi trường trong lành cho sự phát triển mọi mặt của học sinh, trong đó có hiện tượng học sinh nói tục. Nói tục là một hiện tượng xấu và rất đáng phê phán. Những lời nói thô tục, thiếu văn hóa, thiếu tính tôn trọng đang ngày càng được học sinh sử dụng rộng rãi như tiếng nói hằng ngày bắt buộc phải có. Họ nói chuyện bằng những lời lẽ thô tục với bạn bè xung quanh, hay khi tức giận một ai đó, họ cũng buông ra một câu nói thiếu văn hóa ngay cả khi họ đang đứng trong một nơi trang nghiêm, hay nơi công cộng đông người… Nói tục đang ngày càng được phổ biến rộng rãi ở nhiều nơi, nhiều lứa tuổi. Ta có thể bắt gặp một học sinh nào đó đang ngồi trong lớp học cũng buông một vài lời nói thô thiển,… Tất cả đang dần làm mất đi sự trong sạch của môi trường học đường hiện nay, vậy nguyên nhân là do đâu? Nguyên nhân chủ yếu đầu tiên chính là do ý thức

18

của mỗi người, mỗi học sinh còn kém, thiếu văn hóa giao tiếp, đua đòi bắt chước người khác, ra vẻ ta đây để ra oai với mọi người… Nguyên nhân thứ hai là do tác động của bên ngoài, do bị ảnh hưởng của người lớn, của gia đình và những người xung quanh. Không những thế, người hay nói tục sẽ làm mất đi nét đẹp văn hóa học đường, làm xấu và làm mất đi vẻ đẹp, sự trong sáng của Tiếng Việt.

Các từ thường trực ở cửa miệng của nhiều học trò mà ta thường xuyên thấy qua các tin nhắn trên Facebook: “Đ.M”, “vl”, đcm,… Điều này làm xấu đi hình ảnh tiếng Việt vốn rất giàu và đẹp.

2.2.3.5. Hiện tượng sử dụng ngoại ngữ một cách tùy tiện

Tiếng Việt, ngôn ngữ của dân tộc, không chỉ là biểu hiện của vẻ đẹp truyền thống cũng như sự hiện đại hóa về tư duy của con người, của đất nước, mà còn khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Vậy mà việc sử dụng thứ ngôn ngữ được coi là tiếng Việt, nhưng không có trong từ điển tiếng Việt, của các bạn trẻ hiện nay đang là trào lưu nở rộ. Đó là cách các bạn trẻ thể hiện phong cách? Có lẽ đúng hơn là một sự lai căng, biến tướng tiếng mẹ đẻ, và đó là vấn đề đáng lên án và cần phải loại trừ. Việc xen kẽ những từ ngữ nước ngoài không còn quá xa lạ trong những mẩu đối thoại hằng ngày của giới trẻ. Tuy chưa có một điều tra xã hội học hay thống kê đầy đủ nhưng các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng hiện tượng này rất phổ biến.

Ví dụ:

- “Con đang ở trường mà, đang làm nốt assignment, con send xong rồi về. Đợi con chút, con check lại xong rồi fone lại cho ba ngay”… Ở đầu dây bên kia, vị phụ huynh đang toát mồ hôi hột không kịp hiểu con gái cưng nói gì. Đệm tiếng Anh như một phần tất yếu trong giao tiếp của các bạn trẻ cho dù đôi lúc nó gây sự hiểu lầm, khó chịu của người nghe.

- “Mày ok hay không ok cũng phải call lại cho nó chứ. Chẳng pro chút nào cả”

- “Can” (có thể) chiều nay học xong tớ sẽ đi bơi. Cậu tham gia không?/Tớ

“no” (không) biết.

Đó là những đoạn đối thoại tiêu biểu của giới trẻ, chỉ với câu nói ngắn gọn đó mà có đủ cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Môi trường học tập, sinh hoạt ảnh hưởng không nhỏ đến sự lẫn lộn ngôn ngữ của các bạn trẻ. Nhiều bạn lạm dụng đệm tiếng Anh vào câu nói của mình, chửi thề cùng đệm đế để chứng tỏ ta đây của sự hiểu biết “rởm”, sính ngoại ngữ.

3. Nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của học sinh trung học phổ thông hiện nay

3.1. Nguyên nhân khách quan

- Xã hội ngày càng phát triển, lối sống phương Tây ồ ạt tràn vào Việt Nam. Giới trẻ là những người nhạy bén nhất. Họ học tập, sáng tạo, áp dụng và làm ra cái

19

mới để thể hiện mình. Tuy nhiên, vì còn trẻ nên các em chưa khẳng định được việc thể hiện mình như vậy là đúng hay sai, các em muốn thay đổi nhưng chưa biết cách thay đổi như thế nào cho phù hợp.

- Việc du nhập ngôn ngữ nước ngoại tạo ra nhiều kênh giao tiếp. Tuy nhiên, cần có một cái nhìn biện chứng trong vấn đề này. Xu hướng gia tăng vốn từ vựng là một xu thế, yêu cầu tất yếu, và cuộc sống phát triển càng năng động thì tốc độ của sự gia tăng này càng cao. Cuộc sống không thể chờ các nhà chuyên môn, các nhà ngôn ngữ học phân tích xem từ nào, cách diễn đạt nào là đúng, là hay, chờ “cấp phép” rồi mới dùng mà cứ “hồn nhiên tự nhiên” vay mượn, vận dụng, sáng tạo… để sử dụng. Rồi sau đó, theo thời gian, cái gì đúng đắn, được cộng đồng chấp nhận thì sẽ tồn tại, gia nhập vào vốn ngôn ngữ, được đưa vào từ điển, cái gì không phù hợp thì sẽ bị đào thải, sẽ bị lãng quên, một số từ ngữ cổ không phù hợp cũng không được sử dụng nữa. Trong thực tế có những từ ngữ, cách diễn đạt mới được dùng bị phản đối nhưng rồi sau đó vẫn được chấp nhận (ví dụ: tuổi teen…).

- Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế đó là trong chính tả của tiếng Việt vẫn còn tồn tại sự bất hợp lý khi sử dụng nhiều ký hiệu để biểu thị cùng một âm vị: K, Q, C cùng để biểu thị âm vị / K/; hay Z, d, gi cùng để biểu thị âm /z/ v.v..

3.2. Nguyên nhân chủ quan

- Thứ nhất: do sự giảm sút tình yêu tiếng Việt, ý thức giữ gìn và bảo vệ sự

trong sáng của tiếng Việt không được coi trọng.

- Thứ hai: do xu hướng lai căng, sính ngoại, thích “hiện đại”, thích được thể hiện cá tính của giới trẻ. Tâm lý “thích sành điệu, thích được xem là dân chơi, là đẳng cấp”, một số người thường thích thể hiện sự “uyên bác” bằng cách diễn đạt pha trộn nhiều tiếng nước ngoài, hay diễn đạt khó hiểu, dùng các từ nước ngoài một cách không cần thiết…

- Thứ ba: do sự thiếu hụt những tri thức cơ bản về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng. Đời sống hiện đại khiến cho những người không biết nghĩa của các từ tố Hán Việt ngày càng nhiều, dẫn đến việc dùng sai tiếng Việt. Ví dụ: từ “cứu cánh” nghĩa là mục đích (hay mục đích cuối cùng), song hiện nay rất nhiều người hiểu là “cứu giúp” hay “giải thoát”, “giải pháp”.

- Thứ tư: do cách giao tiếp, ứng xử thiếu văn hóa của một bộ phận không nhỏ học sinh như: nói tục, chửi bậy, dùng từ, đặt câu không đúng nghĩa, không phù hợp với hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp...

- Thứ năm: do việc tiếp xúc thường xuyên với cách sử dụng ngôn ngữ một cách tùy tiện của những bài viết không chuẩn mực trên mạng, sự dễ dãi, vô nguyên tắc trong sử dụng ngôn ngữ, sự lạm dụng các yếu tố ngoại ngữ, khẩu ngữ, cách diễn đạt để gây “ấn tượng”, “giật gân”…

20

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT THIẾU TRONG SÁNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

1. Mục tiêu của các giải pháp

- Giúp người sử dụng tiếng Việt hạn chế về các lỗi trong diễn đạt, đạt hiệu

quả cao trong quá trình giao tiếp.

- Khắc phục tình trạng sử dụng từ ngữ bừa bãi, rèn luyện kỹ năng nói và viết

thường xuyên, tránh nói sai, viết sai làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

- Xây dựng cho học sinh ý thức được sự quan trọng của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, biết tôn trọng tiếng Việt, rèn luyện thói quen tư duy mạch lạc, rõ ràng, từ đó mà học tiếng Việt, sử dụng tiếng Việt có hiệu quả cao hơn.

2. Những giải pháp cụ thể

Từ những thực trạng và nguyên nhân sử dụng tiếng Việt như trên, là giáo viên giảng dạy Ngữ văn, tôi xin được đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay như sau:

2.1. Trong dạy học ngữ văn

- Xây dựng những giáo án giảng dạy phải có sự lồng ghép việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đặc biệt với bài dạy Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt (Lớp 10, tập 2), và Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (Lớp 12, tập 1), giáo viên phải thực sự chỉ rõ vẻ đẹp của tiếng Việt, giúp học sinh nắm được những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt ở các phương diện ngữ âm, chữ viết, dùng từ, đặt câu, cấu tạo văn bản, phong cách ngôn ngữ, đồng thời giúp các em vận dụng được những yêu cầu trên vào việc sử dụng tiếng Việt, phân tích và sửa chữa lỗi về tiếng Việt.

- Giáo viên có thể xây dựng thành những đề đọc hiểu, đề văn nghị luận xã hội về hiện tượng sử dụng ngôn ngữ của chính giới trẻ hiện nay. Từ đó các em nhận thức được rõ hơn hiện trạng sử dụng tiếng Việt của chính bản thân mình, nhận thức được giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là vấn đề của mình mà đó còn là điều cả cộng đồng đang hướng tới.

- Trong các tiết trả bài kiểm tra các thầy giáo, cô giáo không chỉ hướng dẫn học sinh xác định đúng thể loại, kiểu bài, cách làm bài và trình bày bài văn… mà còn hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh cách dùng từ khi viết văn, chữa lỗi dùng từ, chữa cách diễn đạt… sao cho trong sáng. Ta thường bắt gặp các lời phê của thầy cô giáo trong bài làm của học sinh như: Dùng từ chưa chính xác, dùng từ chưa hay, dùng từ trùng lặp, dùng từ sai nghĩa…

Trong quá trình chấm bài kiểm tra, bản thân tôi phát hiện ra những lỗi mà

học sinh thường mắc phải như:

1. Lỗi dùng từ

a. Dùng từ chưa đúng âm: Để dùng từ đúng âm phải hướng dẫn học sinh

21

cách phát âm chuẩn. Nhưng để nói chuẩn tất cả Tiếng Việt là một yêu cầu rất khó đối với học sinh trên cả ba miền của đất nước ta, chưa kể mỗi miền lại có những phương ngữ khác biệt…

Biện pháp tốt nhất để giúp học sinh dùng từ đúng âm đó là rèn viết chính tả, viết đúng chính tả. Muốn đạt được yêu cầu này, giáo viên cần cho học sinh nhìn cách viết đúng, nghe cách nói đúng để rồi bản thân các em sẽ viết đúng và nói đúng.

Ví dụ:

Đúng âm Không đúng âm

Phiêu bạt Phiêu bạc

Trong trắng Chong chắng

Cần mẫn Cầng mẫng

Sự thống nhất về chữ viết được thể hiện trong chữ Quốc ngữ; nói như vậy có ý nghĩa đáng lưu ý bởi vì tiếng Kinh là “Quốc ngữ” của tất cả các dân tộc trên đất nước ta. Đó là một thứ chữ ghi âm vị, dựa trên cơ sở chữ cái La Tinh, có dấu ghi thanh điệu và từng âm tiết tách rời.

b. Dùng từ chưa đúng nghĩa: Đây là hiện tượng mà học sinh chưa hiểu hết hoặc chưa hiểu đúng nghĩa của từ ngữ mà chỉ suy luận, đoán mò, hiểu từ lờ mờ nghĩa của từ, cũng có thể là để cho câu thêm vần vè, dễ đọc nên các em đã sử dụng từ bừa bãi. Đặc biệt với những từ vay mượn tiếng nước ngoài.

Nghĩa của từ được nêu rõ trong từ điển, phải dùng từ một cách chính xác, hiểu đúng nghĩa gốc của nó. Phải tra cứu để hiểu tường tận nghĩa của từ mà dùng từ đúng khi nói và viết. Giáo viên cần chú ý lớp từ đa nghĩa, từ có nghĩa đen và nghĩa bóng…

Phần lớn trường hợp dùng từ không đúng nghĩa thường xảy ra ở các từ Hán Việt. Từ Hán Việt là từ có gốc Hán, do người Việt mô phỏng âm Hán cổ mà đọc chệch ra thành âm Hán Việt.

c. Lỗi dùng từ trùng lặp: đâylà lỗi thường gặp nhất, nhiều lúc chỉ một đoạn văn ngắn mà dùng đi dùng lại nhiều lần, điều này làm cho câu văn trở nên rườm rà sáo rỗng và nặng nề.

Ví dụ: Chị ấy đứng tần ngần hồi lâu rồi chị bỏ đi.

Lặp lại hai lần từ “chị” có thể bỏ đi một từ “chị” ở sau. Tuy vậy, cũng cần chú ý có những từ ngữ được lặp lại nhiều lần có giá trị biểu đạt cao, đó là nghệ thuật điệp từ, điệp ngữ thường được sử dụng trong văn chương.

d. Lỗi dùng từ phương ngữ không sáng nghĩa: Lỗi này thường xuất phát từ thói quen thổ ngữ, cách phát âm lệch chuẩn, các thanh lẫn lộn, đặc biệt là sự lẫn lộn giữa thanh hỏi (dấu hỏi), thanh ngã (dấu ngã) và thanh nặng (dấu nặng) nên

22

dẫn tới viết sai, dùng từ không rõ nghĩa.

Để sửa lỗi dùng từ này trước hết giáo viên phải phát âm chuẩn và viết đúng chính tả. Hướng dẫn học sinh sửa lỗi bằng các phương pháp trực quan, đặt câu, tìm từ trí nghĩa để so sánh…

Sau khi chỉ ra những lỗi về dùng từ và cách khắc phục cho những lỗi cụ thể thì giáo viên đồng thời cũng hướng dẫn các em đến cách dùng từ hay, dùng từ sáng tạo, độc đáo. Điều này tạo nên sự hấp dẫn, độc đáo của tiếng Việt mà nhiều lúc các em không nhận ra.

Để sử dụng từ ngữ hay, sáng nghĩa thì học sinh cần:

- Dùng từ chính xác: Là cách dùng từ không những đúng âm, đúng nghĩa mà

còn đạt được yêu cầu không thể thay thế bằng bất kỳ từ nào khác.

Ví dụ: “Cậy em, em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

(Nguyễn Du)

Nếu ta thử thay thế từ “cậy” bằng từ “nhờ”, từ “chịu” bằng từ “nhận” thì ý nghĩa, thần thái câu thơ sẽ thay đổi như thế nào? Từ “cậy” và “chịu” tạo ra âm thanh bế tắc, đột ngột hơn, nó diễn tả được việc mà Thúy Kiều sắp nói ra là vô cùng hệ trọng, nó chứa đựng cả nỗi lòng của Kiều…

Tóm lại, dùng từ chính xác là cách dùng từ có chọn lựa, để tìm ra từ đúng

nhất, có giá trị nghệ thuật nhất phù hợp với từ cần diễn đạt.

- Dùng từ hình tượng: Là cách dùng từ có thể vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh của cuộc sống, tạo cho người đọc có cảm giác như được nhìn thấy tận mắt, sờ tận tay sự vật được miêu tả. Với đặc tính này, ngoài chức năng thông báo, từ hình tượng còn tạo cho người đọc nhiều rung cảm thẩm mĩ. Vì vậy, từ hình tượng rất phù hợp trong viết văn. Trong các loại từ (từ đơn, từ ghép, từ láy) thì từ láy có khả năng tạo ra được hình ảnh khêu gợi, có giá trị gợi hình, gợi cảm nhất. Nếu giáo viên hướng dẫn học sinh dùng từ láy đúng chỗ thì chúng miêu tả sự vật, hiện tượng một cách sinh động mà các từ khác không có được.

Ví dụ: nhỏ: nho nhỏ, nhỏ nhắn, nhỏ nhặt, nhỏ nhoi…

Ngoài từ láy ra, cách dùng từ tạo được hình ảnh, cảm xúc phổ biến nhất đó là các biện pháp tu từ như: Nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ… là cách làm cho văn bản có hình ảnh gợi cảm, ý nghĩa sâu xa; nhờ vậy mà nội dung diễn đạt có thêm những nét bổ sung “đắt giá” so với cách nói thông thường.

Vì thế, khi viết văn giáo viên cần khuyến khích, hướng dẫn học sinh dùng từ láy, từ hình tượng, động từ, tính từ thích hợp… để bài viết của các em “có giá trị nghệ thuật” hơn.

- Dùng từ đúng phong cách: Các từ trong tiếng Việt cũng như trong ngôn

23

ngữ khác, không chỉ khác nhau về ngữ nghĩa mà còn khác nhau về phong cách, chức năng.

Như vậy, từ một tổ hợp kích thích: nghe, nhìn, vận động, cấu âm; một quy luật tâm lý là càng nhiều cơ quan cảm giác, tham gia vào tiếp nhận đối tượng thì các em càng ghi nhớ chắc chắn đối tượng (từ) đó. Vì vậy, khi dạy sử dụng từ, chữa lỗi dùng từ cho học sinh, trong phạm vi có thể cần sử dụng các phương tiện tác động lên tất cả các giác quan: học sinh không chỉ nhìn thấy vật thật đại diện cho nghĩa từ mà còn nghe thấy, phát âm và viết từ mới.

Làm sao mỗi câu văn, đoạn văn, bài văn các em viết ra chứa đựng được nhiều nội dung chừng nào hay chừng ấy; với cách dùng từ chắc, súc tích, giàu hình ảnh, văn phong trong sáng, sinh động, tự nhiên, đúng trọng tâm đề bài… là những yêu cầu cần thiết nhất.

2. Lỗi về câu

a. Lỗi viết câu:

- Lỗi về cấu tạo:

Trong quá trình sử dụng câu, đây là lỗi mà học sinh thường gặp nhất, bởi nhiều khi các em chưa nắm vững cấu trúc chung về ngữ pháp của câu. Đặc biệt là sử dụng câu thiếu thành phần chủ ngữ, thiếu thành phần vị ngữ, thiếu cả hai hoặc thừa các thành phần đó. Nguyên nhân của việc viết câu sai thì có nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân chính là do các em chưa chịu khó ôn luyện ở nhà, thói quen dùng câu theo kiểu “chát” tin nhắn trên điện thoại, đến lớp làm bài còn ẩu, thiếu suy nghĩ… Những lỗi mà khi chấm bài kiểm tra của học sinh tôi vẫn thường xuyên gặp phải như: Sử dụng câu thiếu chủ ngữ (là lỗi khi trình bày câu mà không có thành phần chính thứ nhất); Sử dụng câu thiếu vị ngữ (đây cũng là một trong những trường hợp sử dụng câu thiếu thành phần chính thứ hai); Sử dụng câu thiếu cả hai thành phần chính (đây là những lỗi xảy ra trong trình bày câu hoặc đoạn văn. Trường hợp này học sinh dễ nhầm lẫn giữa thành phần trạng ngữ với các thành phần chính của câu dẫn đến khi trình bày câu lại thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ); Sử dụng thừa các thành phần chính hoặc thành phần phụ của câu (đây là những trường hợp mắc lỗi khi học sinh không nắm vững cấu trúc ngữ pháp của câu, dẫn đến diễn đạt rườm rà, thừa chủ ngữ, thừa vị ngữ hoặc thừa trạng ngữ).

Như vậy ở câu trên, chủ ngữ của câu là những chú chim đã có số lượng nhưng vì học sinh không nắm được kết cấu chủ-vị nên đã dùng thừa từ những ở phần vị ngữ.

- Lỗi về dấu câu:

Đối với việc dùng dấu câu trong các bài viết, nhất là bài văn, việc dùng dấu câu không chính xác là một trong những trường hợp mắc lỗi nhiều nhất của học sinh. Đặc biệt là nhầm lẫn giữa dấu chấm (.) với dấu phẩy (,) hoặc sử dụng dấu câu không đúng ngữ pháp, dùng dấu câu tuỳ tiện,… ở đây có rất nhiều nguyên nhân

24

mắc lỗi của học sinh, nhưng nguyên nhân chính là do học sinh viết ẩu, thiếu suy nghĩ, chưa nắm vững quy tắc dùng dấu câu.

Những lỗi về dấu câu mà tôi vẫn thường gặp phải trong quá trình chấm bài kiểm tra học sinh như: Lỗi không dùng dấu câu (nhiều khi do không nắm vững cấu trúc ngữ pháp của câu hoặc do viết ẩu nên một số học sinh khi trình bày nội dung nào đó mà không sử dụng đến dấu câu); Dùng dấu câu tuỳ tiện (là một trong những lỗi mà học sinh mắc phải khá nhiều, bởi nhiều em chưa nắm vững quy tắc dùng dâu câu trong diễn đạt.

- Lỗi phong cách: khi diễn đạt một ý nào đó, học sinh thường sử dụng các kiểu miêu tả có phong cách khác nhau mà dùng chung trong một ý. Các em thường lấy phong cách này để diễn đạt cho phong cách ngôn ngữ khác. Đây là một trong những trường hợp mà học sinh phạm lỗi khá nhiều. Vì không nắm vững phong cách ngôn ngữ, hoặc do thói quen sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt.

b. Một số biện pháp khắc phục lỗi về viết câu

Qua kết quả khảo sát thống kê lỗiviết câu của học, bản thân tôi đã nắm bắt được một số lỗi sai trong khi làm bài của học sinh. Trên cơ sở đó, dựa vào nhiệm vụ, yêu cầu nội dung và phương pháp dạy, để góp phần làm giảm lỗi trong làm bài cho học sinh, tôi thường sử dụngmột số biện pháp như sau:

- Xây dựng cho học sinh một động cơ học tập tốt. Nghiên cứu kỹ nội dung bài học trước khi lên lớp. Hướng dẫn cho các em cụ thể hơn trong các tiết học, đặc biệt là trong những tiết trả bài kiểm tra. Bởi vì tiết trả bài kiểm tra rất quan trọng, nếu giáo viên cho học sinh làm nhiều, đọc ra trước lớp về bài làm của mình nhiều thì giáo viên có thể nhận biết được số lượng em mắc lỗi và những lỗi nào để có biện pháp khắc phục.

- Trong quá trình kiểm tra miệng, giáo viên dễ dàng phát hiện những lỗi về phát âm, đặc biệt trong việc học sinh sử dụng sai dấu câu dẫn đến việc phát âm thiếu chuẩn, như vậy sẽ tạo cho học sinh có ý thức trong nói, trong học tập.

- Đối với tiết kiểm tra viết, trước khi học sinh làm bài, giáo viên nên hướng dẫn lại dàn bài chi tiết nhiều lần để các em khỏi quên, cần cho học sinh rèn luyện ở nhà nhiều hơn.

Giáo viên cần đầu tư chú trọng nhiều hơn nữa đến phân môn Làm văn. Vì đây là một nội dung rất khó. Dạy cho các em những nội dung chính của mục tiêu thì dễ, nhưng hướng cho các em làm bài theo trí tưởng tượng thì khó, nhiều đoạn văn phải hướng tới hư cấu của nội dung, dùng các biện pháp tu từ hợp lý sẽ giúp các em có bài văn hay hơn, súc tích hơn.

Ngoài việc ở lớp giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh luyện viết ở nhà. Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh để có biện pháp giúp đỡ các em rèn luyện ở nhà.

25

2.2. Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

2.2.1. Xây dựng trong nhà trường phong trào giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Trước tiên, chúng ta phải giáo dục để các em hiểu rõ đâu là chuẩn mực ngôn ngữ, chứ không nên nhầm lẫn khi biến phương tiện làm việc thành phương tiện giao tiếp. Lời nói lệch chuẩn có thể dẫn đến tư duy, hành vi lệch lạc. Thường xuyên chú ý đến việc viết đúng chuẩn tiếng Việt trong đó có viết đúng chính tả.

Cần xây dựng trong nhà trường phong trào giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt để học sinh tìm hiểu, trau dồi và làm theo những quy chuẩn của tiếng Việt. Việc giáo dục cần bắt nguồn từ thực tế, từ những câu chuyện, những tình huống thật xảy ra trong cuộc sống. Thậm chí, những tình huống đó xẩy ra thường xuyên nhưng mọi người lại mặc định cho đó là sự việc bình thường. Ví dụ như việc cô Nguyễn Kim Tuyến - người dạy ở trung tâm MST English (Hà Nội) có hành vi xúc phạm, so sánh học viên với con lợn và bị quay clip đưa lên mạng xã hội đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận.

2.2.2. Giáo dục lồng ghép các chương trình dạy học với các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Xã hội ngày càng phát triển, với xu thế hội nhập toàn cầu, việc phát âm chuẩn ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng. Chúng ta có thể xây dựng phong trào như “Khắc phục tình trạng phát âm lệch chuẩn”, “Vẽ tranh cổ động”… Điều này chắc chắn tạo ra những làn sóng mạnh để các em chú ý hơn đến việc phát âm, dùng từ, trình bày… các vấn đề trong cuộc sống.

2.2.3. Thầy cô phải sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực trong bài giảng, trong đời sống

Thầy cô - những người có ảnh hưởng trực tiếp đến các bạn trẻ, những người định hướng, giúp các em hoàn thiện vốn ngôn ngữ của mình cần phải là những tấm gương về sử dụng ngôn ngữ, kiến thức ngôn ngữ. Đặc biệt, sự chuẩn mực ngôn ngữ của thầy - cô không chỉ được thể hiện trên lớp, trong bài giảng, mà còn cần được lưu ý ngay cả khi giao tiếp giữa giáo viên - giáo viên, giáo viên - học sinh trong sinh hoạt thường ngày ngoài môi trường học đường.

2.2.4. Thường xuyên thiết lập các kênh đối thoại để nhắc nhở, chấn chỉnh

- Thường xuyên thiết lập các kênh đối thoại để từ đó khích lệ, nhắc nhở hay chấn chỉnh hoạt động ngôn ngôn ngữ của học sinh. Vì tương lai của mỗi học sinh, mỗi thầy, cô giáo hãy tự rèn luyện phát âm chuẩn, dùng từ, đặt câu chuẩn tiếng Việt, là tấm gương sáng, hướng dẫn, giúp đỡ các em học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

- Cần phối hợp với gia đình trong việc giáo dục và kiểm soát để kịp thời uốn nắn học sinh trong từng lời ăn tiếng nói hàng ngày. Các em cần phải thấy, sống trên đất nước mình, mọi người phải cảm thấy hổ thẹn khi lỡ miệng nói ra một thứ ngôn ngữ pha tạp, kì quái không còn là thứ tiếng Việt mà ông cha ta để lại. Bản thân gia đình cũng phải có ý thức rèn con cái từ lời nói đến hành vi. Bố mẹ cũng

26

phải nêu gương cho con cái.

III. GIÁO ÁN VÀ ĐỀ VĂN MINH HỌA

1. Giáo án minh họa

Giáo án 1:

Ngày soạn: tháng năm

Ngày thực hiện: tháng năm

Tiết:

GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT

A. KẾT QUẢ CẦN ĐẠT/ MỤC TIÊU

I. Về kiến thức

- Nhận thức được sự trong sáng của tiếng Việt biểu hiện ở một phương diện

cơ bản và là một yêu cầu đối với việc sử dụng tiếng Việt.

- Phân biệt hiện tượng trong sáng và không trong sáng trong cách sử dụng

tiếng Việt.

II. Định hướng góp phần hình thành năng lực

- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

- Năng lực hợp tác để cùng thực hiện nhiệm vụ học tập.

- Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong giao tiếp tiếng Việt

đúng quy tắc, đúng chuẩn mực.

III. Bồi dương phẩm chất

Có ý thức, thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi sử dụng; luôn

nâng cao hiểu biết về tiếng Việt và rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Việt.

B. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

I. Chuẩn bị của giáo viên

- Giáo án

- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi

- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp

- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà.

II. Chuẩn bị của học sinh

- Đọc trước ngữ liệu trong sách giáo khoa để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (giáo viên giao từ tiết trước)

- Đồ dùng học tập.

27

C. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

Hoạt động của giáo viên - học sinh Kiến thức cần đạt

- Giáo viên (GV) nhận xét và dẫn vào bài mới: Đã là người Việt Nam thì bất cứ ai trong chúng ta cũng biết sử dung tiếng Việt trong công việc giao tiếp hàng ngày, nhưng sử dụng tiếng Việt như thế nào để đảm bảo sự trong sáng và đạt hiệu quả cao? Đó là điều chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài học hôm nay.

Hoạt động 1: Khởi động - Mục tiêu: Kiểm tra bài cũ và phát sinh tình huống học tập. - Nhiệm vụ: Học sinh vận dụng kiến thức đã học để trả lời câu hỏi. - Phương thức: hoạt động cá nhân hoặc cặp đôi - Sản phẩm: học sinh trả lời đúng vấn đề đã đặt ra - Tiến trình thực hiện: - GV giao nhiệm vụ: GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu về bài học bằng cách đưa ra các ví dụ sau để học sinh xác định cách dùng từ trong câu nào đúng? 1/ Tổng thống và phu nhân. 2/ Chị là phu nhân chiều chồng, chăm con. 3/ Báo Thiếu niên nhi đồng. 4/ Thiếu niên nhi đồng lang thang cơ nhỡ. 5/ Tổng thống và vợ. 6/ Chị là một người vợ chiều chồng, chăm con. 7/ Báo Trẻ em. 8/ Trẻ em lang thang cơ nhỡ. - Học sinh (HS) thực hiện nhiệm vụ: - HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ và gợi ý trả lời

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức 1. Hướng dẫn HS tìm hiểu Sự trong sáng của tiếng Việt - Mục tiêu: Giải quyết vấn đề, hình thành kiến thức. - Nhiệm vụ: HS đọc ngữ liệu SGK, nêu những nội dung chính. - Phương thức: trả lời cá nhân. - Sản phẩm: HS phát biểu, thể hiện năng lực giao tiếp ngôn ngữ. I. Sự trong sáng của tiếng Việt: 1. Tìm hiểu ngữ liệu: “Trong”: có nghĩa là trong trẻo, không có chất tạp, không đục. “Sáng”: là sáng tỏ, sáng chiếu, sáng chói, nó phát huy cái trong, nhờ đó phản ánh được tư tưởng

28

- Tiến trình thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV yêu cầu HS đọc SGK, trả lời các câu hỏi sau bằng cách ghi vào giấy A4: - Đọc và so sánh ba câu văn trong SGK, xác định câu nào trong sáng, câu nào không trong sáng? Vì sao? - Qua đó theo em biểu hiện thứ nhất của trong sáng tiếng Việt là gì? - Có trường hợp tiếng Việt được sử dụng linh hoạt, sáng tạo, có sự biến đổi, lúc đó tiếng Việt có đảm bảo được sự trong sáng hay không? Hãy phân tích câu thơ của Nguyễn Duy và câu văn của chủ tịch Hồ Chí Minh để trả lời câu hỏi trên. - Các từ ngữ dùng sáng tạo trong câu thơ của Nguyễn Duy là những từ nào? Chúng có nét nghĩa mới nào? Chúng được dùng theo biện pháp tu từ nào? - Trong câu văn của Bác, từ “tắm” được dùng theo nghĩa mới là gì? Có phù hợp với quy tắc tiếng Việt hay không? Nhận xét về các từ ngữ nước ngoài được sử dụng trong câu văn của SGK? - Sự trong sáng của tiếng Việt có cho phép ta nói năng thô tục, bất lịch sự không? Phải nói năng, giao tiếp như thế nào? - Phân tích tính lịch sự, có văn hoá trong lời nói của các nhân vật trong đoạn hội thoại? - Trong sáng thì không cho phép pha tạp, vẩn đục. Vậy sự trong sáng của tiếng Việt có cho phép pha tạp của yếu tố ngôn ngữ khác không? Qua ví dụ trên, em rút ra biểu hiện thứ hai của sự trong sáng của tiếng Việt là gì? - Vậy theo em, sự trong sáng của tiếng Việt còn thể hiện ở phương diện nào? Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS làm việc cá nhân, cặp đôi Bước 3: Báo cáo kết quả: HS trình bày kiến và tình cảm của người Việt Nam ta, diễn tả trung thành và sáng tỏ những điều chúng ta muốn nói

29

thức Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chốt kiến thức: GV trực tiếp phân tích, nhận xét, đánh giá - Học sinh trình bày suy nghĩ qua một số dẫn chứng cụ thể (Giải thích nên hay không nên sử dụng các yếu tố nước ngoài, vì sao?) - Có vay mượn - Không lạm dụng HS đọc ví dụ và trả lờicá nhân. - Câu đầu: không trong sáng vì cấu tạo câu không đúng quy tắc (chuẩn mực) ngữ pháp tiếng Việt. - Hai câu sau: đạt được sự trong sáng vì cấu tạo câu theo chuẩn mực ngữ pháp của tiếng Việt. HS: Trong câu thơ của Nguyễn Duy, các từ “lưng, áo, con” được dùng theo nghĩa mới nhưng vẫn theo quy tắc ẩn dụ. HS: Trong câu văn của Bác, từ “tắm” được dùng theo nghĩa mới và đặc điểm ngữ pháp mới. Nhưng đó vẫn là sự chuyển nghĩa nghĩa và đặc điểm ngữ pháp theo quy tắc của tiếng Việt. Trong cả hai trường hợp, việc sử dụng linh họat, sáng tạo vẫn đảm bảo sự trong sáng của tiếng Việt vì vẫn tuân theo quy tắc (chuyển nghĩa, chuyển tiểu loại) của tiếng Việt. Câu văn có những từ ngữ nước ngoài được sử dụng không cần thiết vì tiếng Việt vẫn có những từ ngữ thay thế tương xứng.  Hiện tượng lạm dụng tiếng nước ngoài chỉ làm vẩn đục tiếng Việt. HS: Tính lịch sự, có văn hoá trong lời nói thể hiện ở cách xưng hô, thưa gửi, cách sử dụng từ ngữ: o Cách xưng hô: 2. Biểu hiện của sự trong sáng của Tiếng Việt: - Thể hiện ở chuẩn mực và việc tuân thủ đúng chuẩn mực của tiếng Việt + Phát âm theo chuẩn của một phương ngữ nhất định, chú ý cách phát âm ở phụ âm đầu, phụ âm cuối, thanh điệu. + Tuân theo quy tắc chính tả, viết đúng phụ âm đầu, cuối, thanh điệu các từ khó. + Khi nói viết phải dùng từ đúng nghĩa và đầy đủ các thành phần câu + Những sự chuyển đổi, sáng tạo vẫn đảm bảo sự trong sáng khi tuân thủ theo những quy tắc chung của tiếng Việt. - Tiếng Việt không cho phép pha tạp, lai căng, sử dụng tuỳ tiện,

30

không cần thiết những yếu tố của ngôn ngữ khác. - Tính văn hóa, lịch sự của lời nói

Ông giáo: Cụ với tôi, ông với con  thể hiện sự kính trọng, thân thiết gần gũi. Lão Hạc: Ông giáo, chúng mình, tôi với ông  thể hiện sự tôn trọng của Lão Hạc đối với ông giáo o Cách thưa gửi của Lão Hạc với ông giáo: “Vâng! Ông giáo dạy phải”  Sự trân trọng, tin tưởng và có phần ngưỡng mộ của lão Hạc với ông giáo o Các từ ngữ: trong sáng, rõ ràng, nhã nhặn, lịch sự HS: Nêu thêm ví dụ: o Trong các trường hợp khác nhau, dùng từ chết có thể thay thế bằng: khuất núi, quy tiên, từ trần, về cõi vĩnh hằng... o Hoặc dùng các nói giảm: - Có lẽ chị không còn trẻ lắm. - Tôi hỏi thật không phải, chị đã có gia đình chưa? - Bạn đừng giận thì mình mới nói. - Mình hỏi câu này bạn đừng giận mình đấy... + GV: Mở rộng vấn đề: Bên cạnh những lời văn mang tính lịch sự, có văn hoá, ta vẫn bắt gặp trong văn chương những lời nói không đảm bảo tính lịch sự, trong sáng của tiếng Việt. Ví dụ: “Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này?” (Chí Phèo - Nam Cao) Tại sao lại có điều đó? Bởi tác giả muốn nhân vật trực tiếp bộc lộ tính cách đối với người đọc qua chính những ngôn ngữ của mình. Lời nói của Chí Phèo trong trích đoạn trên là lời nói của Chí khi đã bị tha hoá trở thành một tên côn đồ, bặm trợn, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

31

II. Trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt: 1. Về thái độ, tình cảm: 2. Về nhận thức: 3. Về hành động:

2. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. - Mục tiêu: Nắm vững kiến thức về Trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - Nhiệm vụ: HS tích hợp kiến thức nội môn, liên môn để tìm hiểu văn bản - Phương thức: hoạt động nhóm. - Sản phẩm: HS đưa ra kết quả. - Tiến trình thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV chia lớp thành 3 nhóm thảo luận, phát phiếu học tập có ghi câu hỏi hướng dẫn phân tích Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS thực hiện nhiệm vụ bằng cách đọc, ghi lại từ ngữ quan trọng, trao đổi, thảo luận, ghi chép câu trả lời. Bước 3: Báo cáo kết quả: HS đại diện 1 nhóm trả lời. Nhóm HS khác lắng nghe, đối chiếu, bổ sung Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chốt kiến thức: Nhóm HS tự đánh giá, các nhóm đánh giá lẫn nhau. Nhóm 1: Muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, chúng ta phải có thái độ và tình cảm như thế nào đối với tiếng Việt? Nhóm 2: Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mỗi người cần có hiểu biết về tiếng Việt hay không? Và là thế nào để có những hiểu biết về tiếng Việt? Nhóm 3: Về mặt hành động, để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mọi người cần sử dụng tiếng Việt như thế nào? Học sinh thảo luận và nói lên ý kiến của mình - Cần có ý thức tôn trọng và yêu quý tiếng Việt, xem đó là“thứ của cải vô cùng lâu đời và quí báu của dân tộc” - Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,

32

mỗi người cần có những hiểu biết về tiếng Việt (Cần có những hiểu biết cần thiết về các chuẩn mực của tiếng Việt: ngữ âm, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp) - Hiểu biết đó không chỉ qua học tập ở trường, mà còn bằng tự học hỏi. - Sử dụng tiếng Việt theo chuẩn mực và quy tắc, trong đó có các quy tắc chuyển hoá, biến đổi. - Không lạm dụng tiếng nước ngoài làm vẩn đục tiếng Việt. - Tránh những lối nói thô tục, thiếu văn hoá.

3. Hướng dẫn học sinh luyện tập - Mục tiêu: Nắm vững kiến thức để làm bài luyện tập - Nhiệm vụ: HS trao đổi nhau để giải bài tập - Phương thức: hoạt động nhóm. - Sản phẩm: HS đưa ra kết quả. - Tiến trình thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV chia lớp thành 4 nhóm thảo luận, phát phiếu học tập có ghi câu hỏi hướng dẫn phân tích Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS thực hiện nhiệm vụ bằng cách đọc, ghi lại từ ngữ quan trọng, trao đổi, thảo luận, ghi chép câu trả lời. Bước 3: Báo cáo kết quả: HS đại diện 1 nhóm trả lời. Nhóm HS khác lắng nghe, đối chiếu, bổ sung Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chốt kiến thức: Nhóm HS tự đánh giá, các nhóm đánh giá lẫn nhau. Nhóm 1: Bài tập 1 - trang 33 - Yêu cầu HS tìm những từ ngữ tiêu biểu mà tác giả dùng để miêu tả diện mạo hoặc tính cách nhân vật trong Truyện Kiều? Nhóm 2: Bài tập 2 - trang 34 Yêu cầu học sinh điền vào đoạn văn các dấu III. Luyện tập Bài tập 1 - trang 33 Bài tập 2. trang 34

33

câu thích hợp để đoạn văn được trong sáng. Nhóm 3: Bài tập 1. trang 44 - Yêu cầu học sinh phân tích từng câu văn để tìm ra những câu văn “trong sáng” và những câu “không trong sáng”? HS: Lần lượt phân tích các câu văn Nhóm 4: Bài tập 2. trang 45 - Yêu cầu học sinh phân tích để tìm ra những từ nước ngoài nào không nên sử dụng và thay thế bằng từ khác để đảm bảo sự trong sáng của tiếng Việt. HS thảo luận, đại diện nhóm trả lời, các nhóm khác theo dõi, góp ý. * Nhóm 1 Các từ ngữ Nguyễn Du và Hoài Thanh nói về các nhân vật rất chuẩn xác vì miêu tả đúng diện mạo hoặc lột tả được tính cách nhân vật. - Kim Trọng: rất mực chung tình - Thuý Vân: cô em gái ngoan - Hoạn Thư: người đàn bà bản lĩnh khác thường, biết điều mà cay nghiệt - Thúc Sinh: sợ vợ - Từ Hải: chợt hiện ra, chợt biến đi như một vì sao lạ - Tú Bà: màu da “nhờn nhợt” - Mã Giám Sinh: “mày râu nhẵn nhụi” - Sở Khanh: chải chuốt dịu dàng - Bạc Bà, Bạc Hạnh: miệng thề “xoen xoét” * Nhóm 2: Bài tập 2 - trang 34 “Tôi có lấy ví dụ về một dòng sông. Dòng sông vừa trôi chảy, vừa phải tiếp nhận - dọc đường đi của mình - những dòng nước khác. Dòng ngôn ngữ cũng vậy: một mặt nó phải giữ bản sắc cố hữu của dân tộc, nhưng nó không được phép gạt bỏ, từ chối những gì thời đại đem lại.” (Chế Lan Viên)

34

Bài tập 1. trang 44

Bài tập 2. trang 45

* Nhóm 3: Bài tập 1. trang 44 - Câu a không trong sáng (có sự lẫn lộn giữa trạng ngữ muốn xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn và chủ ngữ) vì dùng thừa từ đòi hỏi. - Các câu b, c, d viết đúng chuẩn ngữ pháp nên là những câu trong sáng. * Nhóm 4: Bài tập 2. trang 45 - Dùng từ Tình nhân thì thiên về việc nói đến con người hơn là ngày lễ - Dùng từ Valentine là từ vay mượn nên không cần thiết.  Dùng từ (ngày) Tình yêu là đủ diễn đạt nội dung và sắc thái tình cảm. Không nhất thiết dùng từ nước ngoài.

GV hướng dẫn HS tổng kết

Nhận thức được sự trong sáng của tiếng Việt biểu hiện ở một phương diện cơ bản và là một yêu cầu đối với việc sử dụng tiếng Việt.

Nêu được trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Hoạt động 3: Thực hành - Mục tiêu: làm được bài tập - Nhiệm vụ: Củng cố kiến thức đã học - Phương thức: hoạt động nhóm. - Sản phẩm: bài làm tự luận - Tiến trình thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV giao nhiệm vụ: Trình bày trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh đọc. Bước 3: Báo cáo kết quả Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: GV nhận xét, đánh giá bằng điểm số

Xoá đói giảm nghèo là nhiêm vụ bức thiết của huyện ta!. - Gớm, lâu quá, hôm nay bác mới quá bộ đến nhà em! - Hắn vốn có một nhân thân tốt, - GV giao nhiệm vụ: Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành các bài tập sau tại lớp: Chỉ ra chỗ sai và cách sửa trong việc dùng từ ở các câu văn sau:

35

thế mà không hiểu tại sao lại bị vướng vào vòng lao lí

-Xoá đói giảm nghèo là nhiêm vụ bức tử của huyện ta!. - Gớm, lâu quá, hôm nay bác mới quá độ đến nhà em! - Hắn vốn có một thân nhân tốt, thế mà không hiểu tại sao lại bị vướng vào vòng lao lí.

- Trước khi viết bài, HS phải lập dàn ý có đầu đủ mở-thân-kết - Vấn đề cần nghị luận: văn hoá ứng xử trong giao thông. - Chỉ ra các trường hợp không sử dụng đúng chuẩn mực của tiếng Việt... và nêu cách sửa chữa của bản thân.

Hoạt động IV: Vận dụng và mở rộng (thực hiện ở nhà) - Mục tiêu: HS vận dụng sáng tạo. - Nhiệm vụ: GV giao bài tập cho học sinh về nhà - Phương thức thực hiện: HS làm việc cá nhân - Sản phẩm: Bài viết trên giấy A4 - Tiến trình thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV giao nhiệm vụ: 1. Viết bài văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về văn hoá ứng xử trong giao thông. 2. Từ thực tế, từ những câu chuyện, những tình huống thật xảy ra trong cuộc sống em hãy chỉ ra các trường hợp không sử dụng đúng chuẩn mực của tiếng Việt... và nêu cách sửa chữa của bản thân. Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS đánh giá. Bước 3: Báo cáo kết quả: Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: GV nhận xét tuyên dương một vài bài tiêu biểu (Tiết học sau).

D. GIAO BÀI VÀ HƯỚNG DẪN HỌC BÀI, CHUẨN BỊ BÀI Ở NHÀ

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC - DẶN DÒ - Sự trong sáng của tiếng Việt - Phương diện biểu lộ sự trong sáng của Tiếng Việt - Sưu tầm những thành ngữ, tục ngữ, ca dao về lời ăn tiếng nói về sự học hỏi trong cách nói năng hàng ngày. - Xem lại bài văn của chính mình và chữa những lỗi diễn đạt chưa trong sáng.

36

Giáo án 2:

Ngày soạn: tháng năm

Ngày thực hiện: tháng năm

Tiết:

NHỮNG YÊU CẦU VỀ SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1. Kiến thức

- Nắm được những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt ở các phương diện: phát

âm, chữ viết, dùng từ, ngữ pháp và phong cách ngôn ngữ.

- Củng cố vững chắc kĩ năng viết đoạn văn, đồng thời thấy được mối quan

hệ chặt chẽ giữa các kĩ năng đó với kĩ năng lập dàn ý.

2. Năng lực

- Năng lực tự học, hợp tác: Hình thành năng lực tái hiện và vận dụng kiến thức,

năng lực vận dụng kiến thức tiếng Việt vào đọc hiểu các văn bản văn học khác.

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày

- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn học

- Năng lực vận dụng kiến thức văn học vào cuộc sống…

3. Phẩm chất, thái độ

a. Thái độ: Có thái độ cầu tiến, có ý thức vươn tới cái đúng trong khi nói và

viết, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

b. Phẩm chất

+ Sống yêu thương:

+ Sống tự chủ.

+ Sống trách nhiệm.

II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU

1. Giáo viên:

- Phương tiện, thiết bị:

+ Sách giáo khoa, Sách giáo viên, Tư liệu Ngữ Văn 10, thiết kế bài học.

+ Máy tính, máy chiếu, loa... (nếu sử dụng máy chiếu)

- Phương pháp dạy học: Phát vấn, thuyết trình, nêu vấn đề, thảo luận nhóm,

trò chơi.

2. Học sinh:

+ Sách giáo khoa, bài soạn.

37

+ Đọc trước bài; Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu cuối bài. Các sản phẩm chuẩn bị được giao (diễn kịch, thực hiện hoạt động nhóm trong dạy học dự án…).

III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt

- Nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học. - Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ. - Có thái độ tích cực, hứng thú.

Hoạt động 1: Mở đầu/Giao nhiệm vụ GV chiếu những hình ảnh, thông tin, nhận định về việc sử dụng tiếng Việt của giới trẻ hiện nay. Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ Nhận xét về cách dùng từ... Bước 2: Học sinh thực hiện nhiệm vụ Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả Bước 4: GVnhận xét và dẫn dắt vào bài mới: * Giới thiệu bài mới: Chúng ta đã có nhiều tiết chuyên đề tìm hiểu về các lỗi trong sử dụng tiếng Việt và tìm cách sửa chữa. Song thực tế ở các bài làm văn của các em vẫn tồn tại rất nhiều lỗi. Hôm nay, chúng ta lại tiếp tục trở lại những vấn đề trên.

I. Tìm hiểu chung về sử dụng theo các chuẩn mực của tiếng Việt 1. Về ngữ âm và chữ viết - Khi sân trường khô dáo, chúng em chơi đá cầu hoặc đánh bi. - Tôi không có tiền lẽ, anh làm ơn đỗi cho tôi. Nhẩn nha  thong thả Dưng mờ  nhưng mà Giời  trời Bẩu  bảo Bên trái là từ phát âm theo tiếng nói địa phương. Bên phải tương ứng với bên trái là ngôn ngữ toàn dân. Sự phát âm khác biệt này do thói quen của địa phương trong ngôn ngữ sinh hoạt. Hoạt động 2: Hình thành kiến thức Thao tác 1: Tìm hiểu chung về sử dụng theo các chuẩn mực của tiếng Việt - Mục tiêu: Giúp học sinh nhận thức được yêu cầu chuẩn mực của tiếng Việt. - Phương tiện: máy chiếu - Kĩ thuật dạy học: Công não, phòng tranh, thông tin - phản hồi. - Hình thức tổ chức: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm. - Các bước thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập HS đọc SGK và làm các bài tập nêu ở bên dưới, từ đó, rút ra nhận xét khái quát. - Nhóm 1: Bài tập về ngữ âm và chữ viết. - Nhóm 2: Bài tập về từ ngữ. - Nhóm 3: Bài tập về ngữ pháp. - Nhóm 4: Bài tập về phong cách ngôn

38

ngữ. Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ * Hoạt động cá nhân: HS đọc SGK, tìm hiểu yêu cầu của từng câu hỏi. * Hoạt động cặp đôi: Học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi. * Hoạt động nhóm: Học sinh thảo luận, thống nhất đáp án Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận

- HS trả lời câu hỏi. - GV quan sát, hỗ trợ, tư vấn -

Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ GV: nhận xét đánh giá kết quả của các cá nhân, chuẩn hóa kiến thức

2. Về từ ngữ - “Chót lọt” dùng không chuẩn xác. Sửa là “chót”. - “Truyền tụng” dùng không chuẩn xác. Sửa là truyền thụ. - Sai về kết hợp từ chỉ có thể nói là “mắc các bệnh truyền nhiễm” chứ không nói “chết các bệnh truyền nhiễm”. Sửa là: Số người mắc các bệnh truyền nhiễm và chết giảm dần. - Sai về kết hợp từ. Có thể nói “Những bệnh nhân được điều trị” chứ không nói “Những bệnh nhân được pha chế”. Sửa những bệnh nhân không cần phải mổ mắt, được điều trị bằng thuốc tra mắt do khoa được pha chế. Các câu 2, 3, 4 viết đúng. Câu 1, 5 sai Sửa câu 1: Anh ấy có một điểm yếu: không quyết đoán trong công việc Sửa câu 5: Tiếng Việt rất giàu âm thanh và hình ảnh, cho nên có thể nói đó là thứ tiếng rất sinh động và phong phú. 3. Về ngữ pháp - Qua tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố đã cho ta thấy hình ảnh người phụ nữ nông thôn dưới chế độ cũ. + Câu này thiếu C. Sửa có nhiều cách * Bỏ từ của để biến Ngô Tất Tố thành  C * Thêm từ tác giả sau Ngô Tất Tố. - Lòng tin tưởng sâu sắc của thế hệ cha anh vào lực lượng măng non và xung kích sẽ tiếp bước mình. + Câu thiếu C. Thêm từ đó là trước từ lòng, thay mình bằng họ thêm những lớp người. “Đó là lòng tin

39

tưởng sâu sắc của cha anh vào thế hệ măng non và xung kích những lớp người sẽ tiếp bước họ. Câu 1 giới thiệu chị em Thuý Kiều, Thúy Vân. Câu hai đột ngột nói về Kiều. Câu 3 nói về hai chị em. Câu 4 và 5 cũng vậy nói về sắc đẹp. Nhìn chung câu không sai. Nhưng sai ở sự gắn kết giữa các câu. Đó là sự lộn xộn và thiếu lôgíc. Sửa lại: Thúy Kiều và Thuý Vân là hai người con của ông bà Vương Viên Ngoại. Họ sống êm đềm dưới mái nhà, hạnh phúc cùng cha mẹ. Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn. Vẻ đẹp của nàng khiến cho hoa ghen, liễu hờn. Thúy Vân có vể đẹp đoan trang, thùy mị. Về tài, Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân. Nhưng nàng đâu có được hưởng hạnh phúc. 4. Về phong cách ngôn ngữ - Sửa là: 17h30 ngày 25/10 tại km 19 quốc lộ 1A đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông. (bỏ từ Hoàng hôn chỉ đúng với phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Đây là văn bản nghị luận nên sửa là: rất, vô cùng). Truyện Kiều của Nguyễn Du đã nêu cao tư tưởng nhân đạo vô cùng cao đẹp. Trong lời nói của Chí Phèo có nhiều ngôn ngữ nói trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. + Các từ xưng hô: Bẩm, cụ, con + Thành ngữ: trời tru đất diệt, một thước cắm dùi + Các từ mang sắc thái khẩu ngữ: Có giám nói gian, quả về làng về nước, chẳng làm gì nên ăn. - Không thể dùng lời lẽ của Chí Phèo trên đây vào đơn đề nghị. Bởi đơn đề nghị là phong cách ngôn ngữ

40

Thao tác 2: Tìm hiểu phần II.Sử dụng hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao - Mục tiêu: Giúp học sinh nhận thức được yêu cầu sử dụng hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao của tiếng Việt. - Phương tiện: máy chiếu - Kĩ thuật dạy học: Công não, phòng tranh, thông tin - phản hồi. - Hình thức tổ chức: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm. - Các bước thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập HS đọc SGK và làm các bài tập nêu ở bên dưới, từ đó, rút ra nhận xét khái quát. - Nhóm 1:Bài tập 1 - Nhóm 2: Bài tập 2 - Nhóm 3- Nhóm 4:Bài tập 3 Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ * Hoạt động cá nhân: HS đọc SGK, tìm hiểu yêu cầu của từng câu hỏi. * Hoạt động cặp đôi: Học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi. * Hoạt động nhóm: Học sinh thảo luận, thống nhất đáp án Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận

- HS trả lời câu hỏi. - GV quan sát, hỗ trợ, tư vấn

Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ GV: nhận xét đánh giá kết quả của các cá nhân, chuẩn hóa kiến thức hành chính. Tiểu dẫn SGK II. Sử dụng hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao 1/Bài tập 1: Câu tục ngữ “chết đứng còn hơn sống quỳ”, các từ đứng và quỳ được dùng theo nghĩa chuyển. Đây không phải là tư thế, động tác của con người. Đó là hai ẩn dụ. “Chết đứng là chết hiên ngang, thể hiện khí phách cao đẹp. Còn “sống quỳ” là quỵ lụy, hèn nhát. Cách sử dụng ẩn dụ này làm cho câu văn có hình tượng, mang lại cảm nhận sâu sắc cho con người. Nếu nói “Sống vinh còn hơn chết nhục” thì câu tục ngữ mất đi tính hình tượng. 2. Bài tập 2: - “Chiếc nôi xanh” và “máy điều hòa” là cách nói ẩn dụ. Hai vật thể này đều mang lại lợi ích cho con người. Tác giả đã hình tượng hóa sự biểu đạt để khẳng định môi trường cây cối đã mang lại lợi ích cho con người, góp phần bảo vệ sự sống. Diễn đạt như vậy thực sự đã tạo ra xúc cảm thẩm mĩ. 3. Bài tập 3: - Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác: “Ai… cứu nước” + Bác đã sử dụng phép đối Có/ không có + Phép điệp: “Ai có, súng, gươm, dùng gươm”. + Nhịp điệu: Súng dùng súng

Gươm dùng gươm

Tất cả những biện pháp nghệ thuật này tạo ra hiệu quả vừa nhấn mạnh đánh địch bằng mọi vũ khí có trong tay của cuộc chiến tranh nhân dân, vừa biểu hiện sự mạnh mẽ, khỏe

41

Hoạt động 3: Luyện tập - Mục tiêu: Giúp học sinh nhận thức được yêu cầu sử dụng tiếng Việt, rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày. - Phương tiện: máy chiếu - Kĩ thuật dạy học: Công não, phòng tranh, thông tin - phản hồi. - Hình thức tổ chức: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm. - Các bước thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập HS đọc SGK và làm các bài tập nêu ở bên dưới, từ đó, rút ra nhận xét khái quát. - Nhóm 1: Bài tập 1 - Nhóm 2: Bài tập 2 - Nhóm 3: Bài tâp 3 - Nhóm 4: Bài tập 4 Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ * Hoạt động cá nhân: HS đọc SGK, tìm hiểu yêu cầu của từng câu hỏi. * Hoạt động cặp đôi: Học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi. * Hoạt động nhóm: Học sinh thảo luận, thống nhất đáp án Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận - HS trả lời câu hỏi. - GV quan sát, hỗ trợ, tư vấn Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ GV: nhận xét đánh giá kết quả của các cá nhân, chuẩn hóa kiến thức

khoắn trong giọng văn hùng hồn vang dội, tác động tới người đọc người nghe. Phần ghi nhớ SGK 1. Bài tập 1: - Từ ngữ viết đúng là: Bàng hoàng, chất phác, bàng quan, lãng mạn, hữu trí, uống rượu, trau chuốt, nồng nàn, đẹp đẽ, chặt chẽ. 2. Bài tập 2: - Dùng từ “hạng người”  mang nét nghĩa xấu, Bác đã thay vào đó bằng từ “lớp người” để phân theo tuổi tác không có nét nghĩa xấu. - Dùng từ “sẽ” đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác” vừa nhẹ nhàng, vinh hạnh và hóm hỉnh hơn khi dùng từ “Phải đi gặp…” mang nét nghĩa bắt buộc nặng nề. 3. Bài tập 3: Đoạn văn nghị luận bàn về một nét trong nội dung của ca dao: Đoạn văn đúng vì đề cập tới tình cảm của con người trong ca dao. Song các câu trong đoạn văn không liên kết, liền mạch, không thể hiện sự nhất quán. + Giữa câu đầu và các câu sau Câu đầu đặt ra vấn đề tình yêu nam nữ, các câu sau lại bàn về lĩnh vực tình cảm khác. + Từ thay thế không rõ đối tượng  không cụ thể. Sửa là: Trong ca dao Việt Nam những bài nói về tình yêu nam nữ chiếm một số lượng khá lớn. Song còn có nhiều bài thể hiện tình cảm khác. Đó là tình cảm gia đình, đầm ấm gắn bó cùng nhau trong tổ ấm. Đó là tình làng, nghĩa xóm. Tình yêu đó nồng nhiệt, đằm thắm và sâu sắc. 4. Bài tập 4:

42

Hoạt động 4: Vận dụng GV giao nhiệm vụ: Từ nhân vật Ngô Tử Văn trong Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ, viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về đức tính cương trực của tuổi trẻ hôm nay. Chỉ ra những từ ngữ, câu văn tiêu biểu được sử dụng đúng theo yêu cầu sử dụng tiếng Việt. - HS thực hiện nhiệm vụ: - HS báocáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:

- Câu văn được cấu trúc đầy đủ về ngữ pháp có C, V và bổ ngữ, thành phần phụ chủ. Song ta thấy nó vừa giàu biểu cảm và hình tượng. Thử làm việc so sánh. Nếu nhà văn Anh Đức (Bùi Đức ái) viết: “chị Sứ rất yêu cái chốn này, nơi chị đã sinh ra, nơi chị đã lớn lên”. Không sai nhưng thiếu hình tượng cụ thể và biểu cảm. Đây là cách viết hay: “Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị đã oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt, trái sai đã thắm hồng da dẻ chị”. Câu văn hay bởi dùng quán ngữ tình thái  biết bao nhiêu Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu: - Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành. - Nội dung: Từ đức tính cương trực của nhân vật Ngô Tử Văn, thí sinh liên hệ đến đức tính cương trực trong cuộc sống. Cụ thể: + Giải thích: Cương trực là cứng cỏi và ngay thẳng. Người cương trực là người giữ mình trong sạch, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi. + Ý nghĩa của đức tính: cương trực thể hiện một con người mạnh mẽ, không run sợ trước cái ác, cái xấu. Vì thế, họ luôn có niềm tin làm nên chiến thắng, vượt qua mọi thử thách của hoàn cảnh, biết đấu tranh đến cùng trước những thế lực xấu xa. + Phê phán lối sống giả tạo, nhụt chí, yếu hèn + Bài học nhận thức và hành động cho bản thân: hiểu được ý nghĩa của đức tính cương trực, biết đấu tranh phê bình và tự phê bình, tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.

43

2. Một số đề văn minh họa

ĐỀ 1:

Phần 1: Đọc - hiểu

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu sau:

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ

Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh

(Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 2. Văn bản trên thuộc thể thơ nào?

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của những biện pháp tu từ được sử dụng

chủ yếu trong văn bản.

Câu 4. Văn bản thể hiện thái độ, tình cảm gì của tác giả đối với tiếng Việt.

Phần 2: Làm văn

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về

trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đối với giới trẻ ngày nay.

ĐỀ 2:

Phần 1: Đọc - hiểu

Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu sau:

“Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt. Tiếng Việt, họ nghĩ, là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng”.

(trích Một thời đại trong thi ca - Hoài Thanh)

Câu 1. Đoạn trích được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Xác định các

phương thức biểu đạt được sử dụng.

44

Câu 2. Khi nói đến tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ mới, tác giả đã dùng

những từ, những hình ảnh thấm đượm tình cảm nào?

Câu 3. Cách diễn đạt “là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua” có

nghĩa là gì?

Câu 4. Viết lại một câu thơ ở một trong các bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu), “Tràng giang” (Huy Cận), “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử), “Tương tư” (Nguyễn Bính)… đã học, đọc để minh chứng cho tình yêu quê hương đất nước qua tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ mới.

+ Ngay khi dạy các tác phẩm văn chương, giáo viên có thể lồng ghép giáo dục tình yêu tiếng Việt cho học sinh qua việc khai thác cách sử dụng những từ ngữ đặc sắc của tác giả. Điều này sẽ hướng các em cảm nhận sâu sắc hơn khía cạnh khác của việc sử dụng tiếng Việt là không chỉ đúng mà còn cần dùng hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao. Ví dụ: Khi dạy đoạn trích “Trao duyên” (Truyện Kiều) của Nguyễn Du, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cảm nhận cách sử dụng từ ngữ tài tình của Thúy Kiều qua các từ “cậy”, “nhờ”.

+ Phát hiện lỗi sử dụng trong giao tiếp, trong bài kiểm tra của học sinh, khoanh tròn sửa lỗi đặc biệt những lỗi sai do cố tình sử dụng sai cách dùng từ như hiện nay. Trừ điểm thành phần bài kiểm tra đối với trường hợp sai nhiều lần. Giáo viên giảng dạy nên có bảng thống kê bài kiểm tra các lỗi sai kể cả lỗi sai chính tả nhằm kiểm tra mức độ thay đổi qua từng bài viết, ví dụ:

Số lỗi chính tả, cách dùng từ… (các lỗi khác)

Họ và tên

Bài kiểm tra lần 1 Bài kiểm tra lần 2 Bài kiểm tra lần 3 Bài kiểm tra lần 4

Nguyễn Văn A

Nguyễn Văn B

+ Giáo viên cũng có thể cho học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt

qua một số biện pháp sau:

* Giáo viên đưa ra bài tập yêu cầu học sinh phát hiện, mô tả lỗi và sửa lỗi

trong một số văn bản chưa chuẩn mực.

* Giáo viên có thể rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt chuẩn, hay cho học sinh ngay trong cách trả lời câu hỏi trong hoạt động tìm hiểu bài trên lớp: Xuất phát từ thực tế trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy khi trả lời câu hỏi phát vấn của giáo viên, một số học sinh còn lúng túng, diễn đạt lủng củng, hay không biết diễn đạt rõ ý của mình. Đặc biêt, ở một số học sinh còn trả lời “trống không”, câu trả lời thiếu chủ ngữ. Đây dù là điều rất nhỏ nhưng nếu giáo viên giành chút thời gian “chỉnh” cho các em phép lịch sự trong giao tiếp và kĩ năng diễn đạt ý hiểu của mình một cách ngắn gọn, rõ ràng, chính xác cũng là một yếu tố quan trọng giúp các em sử

45

dụng tiếng Việt chuẩn mực.

Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong xã hội. Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết. Và khi chấm chữa bài thi, bài kiểm tra, đặc biệt phần nghị luận xã hội, tôi thấy nhiều học sinh diễn đạt lủng củng, tối nghĩa, không đúng phong cách ngôn ngữ. Chính vì thế, trong việc sử dụng tiếng Việt ở dạng viết, giáo viên nên thường xuyên giao bài tập để học sinh luyện viết vì chỉ khi đặt bút, các em mới thật sự diễn đạt ý tưởng của mình thành hiện thực. Bản thân tôi, mỗi tuần tôi gợi ý một chủ đề nghị luận xã hội, yêu cầu học sinh về nhà tự viết một đoạn văn. Điều này vừa rèn kĩ năng viết văn nghị luận xã hội, vừa diễn đạt tiếng Việt một cách chuẩn xác nhất.

* Một biện pháp tôi nhận thấy cũng rất hiệu quả trong việc khắc phục tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của một bộ phận học sinh hiện nay là hướng các em tham dự nhiều hơn những hoạt động thực tiễn như SÂN KHẤU HÓA MÔN HỌC. Khi tham gia sân khấu hóa môn học, các em sẽ tự mình thực hiện tất cả từ viết kịch bản, đạo diễn, diễn viên... Trong quá trình đó, học sinh thể hiện được sự sáng tạo của mình, hiểu tác phẩm văn chương sâu sắc hơn, tạo hứng thú trong học môn Văn. Đặc biêt, quá trình đó đòi hỏi các em tư duy trong mỗi nhân vật lời thoại sẽ như thế nào, phù hợp với nhân vật, hoàn cảnh, văn hóa vùng miền... Như thế, điều mang lại cho các em chính là ý thức sử dụng ngôn từ tiếng Việt chuẩn và hay.

Một quốc gia hoàn toàn tự do độc lập, thì ngôn ngữ của quốc gia ấy cũng phải độc lập, không được pha trộn, lai tạp với những thứ ngôn ngữ khác. Vì thế, ngay từ bây giờ cần có ngay những biện pháp để giữ những phẩm chất đẹp của tiếng Việt. Các bạn trẻ cần phải tự nhận thức được niềm tự hào và ý thức dân tộc trong việc sử dụng tiếng Việt để tiếng Việt vẫn mãi đẹp, vẫn mãi phong phú, tinh tế, trong sáng như bản sắc vốn có từ lâu.

IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

1. Đối tượng áp dụng

Tìm hiểu thực trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của một bộ phậnhọc sinh trong trường ở tất cả các khối 10, 11, 12, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục hiện tượng sử dụng ngôn ngữ thiếu trong sáng và chuẩn mực ở học sinh.

2. Phạm vi

Trong sáng kiến này, tôi chỉ nghiên cứu cách dùng ngôn ngữ thiếu trong

sáng của học sinh tại một số lớp ở trường THPT Yên Thành 2.

3. Hiệu quả thu được

- Các đồng nghiệp trong tổ bộ môn khi đưa sáng kiến trên áp dụng vào thực tiễn giảng dạy đều thấy việc sử dụng tiếng Việt của học sinh có những chuyển biến tích cực hơn, trong bài làm văn, các lỗi dùng từ tiếng Việt giảm đi đáng kể, kết quả

46

học tập môn Ngữ văn được nâng lên.

- Hình thành ở học sinh thói quen, phong cách, năng lực sử dụng tiếng Việt

trong sáng, có văn hóa.

- Học sinh phát huy được những năng lực sử dụng ngôn ngữ, giao tiếp, sử dụng tiếng Việt trong sáng hơn, nhận ra được những khuyết điểm, hạn chế, sai lầm của bản thân khi chưa có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - tâm hồn Việt. Khi phỏng vấn một số học sinh tôi nhận được ý kiến phản hồi của các em là: Khi được tham gia vào các hoạt động ngoại khóa về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt như thi sáng tác văn chương, sân khấu hóa môn học, chúng em nhận thấy tiếng Việt của chúng ta rất trong sáng, giàu đẹp và chúng em thấy mình cần có ý thức hơn nữa, hành động cụ thể hơn nữa để gìn giữ, phát huy vẻđẹp của tiếng Việt.

Mặc dù vấn đề tôi đưa ra trong sáng kiến không mới và đã có rất nhiều bài báo, các cuộc hội nghị bàn về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt nhưng với sự trăn trở khi quanh mình vẫn còn những học sinh sử dụng ngôn ngữ chưa chuẩn mực trong giao tiếp; đặc biệt với tình yêu, niềm tự hào về tiếng Việt trong chính trái tim mình, tôi đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào các tiết dạy và đạt được kết quả khả quan. Trước hết, bản thân tôi đã nhận thấy những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới (Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt...) và với những tiết dạy theo hướng đổi mới. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết về sự giàu đẹp của tiếng nước mình đồng thời cũng rất linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng giao tiếp. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt yêu thích môn Văn hơn, giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt.

Qua kết quả thống kê, tôi nhận thấy hầu hết số học sinh được khảo sát đánh giá cao tác dụng việc sử dụng những biện pháp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đặc biệt các em có ý thức tốt hơn khi phát ngôn, khi viết văn, số lỗi vi phạm trong các bài kiểm tra đều giảm.

Số lỗi vi phạm

Lớp Sĩ số

Bài viết giữa kỳ Bài viết cuối kỳ Bài kiểm tra thường xuyên lần 1 Bài kiểm tra thường xuyên lần2

12A6 40 25 7 2 16

10A6 41 22 8 2 15

47

KẾT LUẬN

1. Đóng góp của đề tài

1.1. Tính mới

Với quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, hướng tới việc đào tạo nguồn nhân lực có sự phát triển toàn diện là một trong những mục tiêu của nền giáo dục nước ta trong thế kỉ XXI. Bám sát mục tiêu ấy, đề tài thể hiện ở các mặt sau:

- Xác định việc trang bị kiến thức để học sinh có thể sử dụng tiếng Việt trong sáng, lịch sự, văn minh, từ đó hướng tới việc hình thành ý thức, quan điểm cũng như kĩ năng sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn những yêu cầu về phát âm, chữ viết.

- Cung cấp phương pháp học tích hợp để phát huy khả năng sáng tạo và hình

thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và cách làm việc khoa học.

1.2. Tính khoa học

Đề tài được trình bày đảm bảo tính khoa học của một công trình nghiên cứu. Hệ thống các luận điểm, luận cứ mạch lạc, hệ thống, lôgic. Đề tài dựa trên tính lí thuyết và được vận dụng vào thực tiễn một cách đúng đắn, có sức thuyết phục. Các số liệu lấy từ thực tế tại các lớp học tại trường THPT Yên Thành 2

1.3. Tính hiệu quả

Qua hơn một năm áp dụng các giải pháp sử dụng tiêng Việt cho học sinh, ở những lớp tôi dạy có sự tiến bộ rõ rệt. Tôi thấy rằng để làm được việc này cũng không khó thực hiện, điều cơ bản là mỗi người cần có ý thức giữ gìn và phát huy tiếng nói của dân tộc mình. Và tôi cũng mạnh dạn thuyết phục các giáo viên thuộc các bộ môn khác cùng thực hiện theo để góp phần vào việc giữ gìn và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, đặc biệt là giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn.

Có thể khẳng định rằng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là giữ gìn lịch sử, văn hóa của dân tộc ngàn đời mà đó cũng là sự biết ơn các bậc tiền nhân. Xin kết thúc vấn đề bằng những câu thơ của nhà thơ Lưu Quang Vũ:

“Ai lỡ đường quên giống nòi nguồn gốc,

Trong tiếng Việt hãy quay về cùng tôi...”.

2. Một số đề xuất

2.1. Với các cấp quản lí

Đề thực hiện đúng tinh thần của ngành đối với việc giáo dục học sinh kĩ năng tự học, các cấp quản lí cần thực sự quan tâm. Cấp sở tăng cường tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên trên cơ sở nắm được thực tế việc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày của học sinh cũng như việc vận dụng phương pháp Ngữ Văn ở cơ sở. Quản lí cấp trường cần khích lệ động viên thầy cô giáo, học sinh, mở các đợt trao đổi việc sử dụng tiếng Việt, vẽ tranh cổ động, phương pháp dạy học tích hợp việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong tất cả các môn học cũng

48

như trong đời sống hằng ngày. Với Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc thay sách giáo khoa sắp tới cần một lần nữa chú trọng hơn trong việc đổi mới tư duy và phương pháp dạy - học tích hợp môn Ngữ văn vào trong các môn học khác.

2.2. Đối với tổ chuyên môn

Tổ chuyên môn phối hợp với nhà trường nên tổ chức các buổi ngoại khoá,

chuyên đề nói về ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong toàn trường.

Nếu có điều kiện có thể mời các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu ngôn ngữnói chuyện văn học, nói chuyện về việc sử dung ngôn ngữ tiếng Việt để giúp cho học sinh thêm yêu tiếng mẹ đẻ đồng thời làm phong phú ngôn ngữ của dân tộc mình.

2.3. Đối với giáo viên

Dạy học Ngữ văn, đặc biệt là dạy tác phẩm văn chương đòi hỏi người giáo viên phải biến giờ “giảng văn” thành giờ dạy kỹ năng đọc hiểu văn bản, luyện nghe, đọc, nói, viết thật nhiều, mục đích làm sao để các em thấy tiếng Việt thật giàu và đẹp, để từ đó các em có kỹ năng đọc hiểu những tác phẩm văn chương khác. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết, đồng thời cần có kỹ năng tổ chức tổ chức lớp học theo hướng đàm thoại, thảo luận thì tiết học mới có hiệu quả.

Nội dung dạy học của giáo án cần phải làm rõ những tri thức, kỹ năng cần hình thành. Phải chú trọng thiết kế các tình huống sử dụng tiếng Việt trong thực tế đời sống và tương ứng là các hoạt động phức hợp để học sinh vận dụng phối hợp tri thức, kỹ năng của các môn vào xử lý các tình huống đặt ra.

2.4. Đối với học sinh

Mỗi học sinh đều phải xây dựng, xác định và hình thành cho mình thói quen sử dụng tiếng Việt trong sáng, lành mạnh, xây dựng phương pháp học tập đúng đắn theo hướng ngày càng chủ động liên hệ, vận dụng, tích hợp kiến thức của nhiều môn, nhiều bài để giải quyết nhiệm vụ học tập. Từ đó, học sinh có khả năng để hình thành những kĩ năng sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn phong cách.

Trên đây là một số kinh nghiệm trong dạy học tôi, đặc biệt là trong việc áp dụng một số giải pháp nhằm góp phần khắc phục tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng của một bộ không nhỏ học sinh hiện nay. Mặc dù kinh nghiệm còn ít ỏi, nhưng trong quá trình thực hiện sáng kiến này tôi cũng có nhiều trăn trở với sự nghiệp trồng người. Bằng tâm huyết, với khả năng vốn có của mình, người viết muốn đưa đến cho giáo viên, những đồng nghiệp một vài suy nghĩ và đóng góp để tham khảo, giúp chúng ta thành công hơn trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và xây dựng đất nước. Thay lời kết, tôi muốn nhắc một câu tôi còn nhớ ở đâu đó: lớp học như một dàn nhạc mà ở đó người thầy giáo được xem như một nhạc trưởng còn các học sinh là nhạc công. Người nhạc trưởng chỉ huy cả dàn nhạc chứ không chơi nhạc mà người trực tiếp tạo ra tiếng nhạc là nhạc công.

Xin trân trọng cảm ơn!

49

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Văn Đồng, “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, Tạp chí Học tập

(nay là Tạp chí Cộng sản) số 4 năm 1966.

2. Phạm Văn Đồng, Về vấn đề giáo dục- đào tạo, NXB Chính trị Quốc gia,

1999.

3. Cuộc thi “Tôi yêu tiếng nước tôi” do I love my voice tổ chức

(https://www.facebook.com)

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.341, 345, 33.

5. Nhiều tác giả, Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, 2006.

6. Bùi Khánh Thế, Học tập di sản ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

7. Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

8. Minh Tư, “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - Việc không của riêng ai”,

Báo Giáo dục và Thời đại, 17/9/2017.

50

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: MỘT SỐ ĐỀ ĐỌC HIỂU, NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Đề số 1:

Phần 1. Đọc - hiểu

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu sau:

Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cần phải huy động sự tham gia tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội. Trước hết, trong mỗi gia đình, bố mẹ phải có ý thức uốn nắn lời ăn tiếng nói hàng ngày của con cái. Nếu bố mẹ nói năng không chuẩn mực, thiếu văn hóa thì con cái sẽ bắt chước. Đặc biệt, trong nhà trường, việc rèn giũa tính chuẩn mực trong sử dụng tiếng Việt cho học sinh phải được xem là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên... Ngoài ra, các phương tiện thông tin đại chúng cũng phải tuyên truyền và nêu gương trong việc sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực, đồng thời tích cực lên án các biểu hiện làm méo mó tiếng Việt.

Câu 1. Đoạn văn trên đề cập đến vấn đề gì?

Câu 2. Nêu phương thức biểu đạt chính của đoạn văn?

Câu 3. Tại sao trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, phải huy

động sự tham gia tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội?

Câu 4. Theo anh/chị, chuẩn mực tiếng Việt được thể hiện ở những mặt nào?

Phần 2: Làm văn

Câu 1: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của

anh/chị về trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở giới trẻ ngày nay.

Đề số 2: Làm văn (Nghị luận xã hội)

Trong quyển lưu bút cuối năm học, học sinh viết:“Nhưng mìn hứa sẽ mãi lè bẹn thân đeng wên teo dzà mái trừng iu zấu nì nha”. Xin tạm dịch: “Nhưng mình hứa sẽ mãi là bạn thân, đừng quên tao và mái trường yêu dấu này nha”.Và đây nữa:“Gửi mail nhớ thim cái đuôi @ da heo chấm cơm nha, mi u bit ko, năm nay lại ko được học chung dzới nhau gùi”. Tạm dịch là: “Gửi mail nhớ thêm cái đuôi @ da heo chấm cơm nha, mấy bạn biết không, năm nay lại không được học chung với nhau rồi.

Phần chữ in đậm trong đoạn văn trên là những câu trích trong cuốn lưu bút

của học sinh lớp 8 một trường chuyên Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh”.

(Trích Ngôn ngữ chat, Ngọc Mai, Việt Báo, 18/5/2006)

Hiện nay, trong sinh hoạt và học tập, một bộ phận lớp trẻ có thói quen sử dụng tiếng lóng trên mạng, còn gọi là “ngôn ngữ chat”, “ngôn ngữ SMS”, “ngôn ngữ @”,… như trong đoạn trích trên. Anh/chị hãy viết bài văn ngắn khoảng 400 từ bày tỏ ý kiến của mình về việc này.

Phụ lục 2

1. Bài thơ: Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ)

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre. Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê. Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa Khi hun thuyền gieo mạ lúc đưa nôi Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời... “Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt...” Đi mòn đàng dứt cỏ đợi người thương Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót Ta như chim trong tiếng Việt như rừng. Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ. Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh Như gió nước không thể nào nắm bắt Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh. Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy Một tiếng “vườn” rợp bóng lá cành vươn Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng "suối" Tiếng “heo may” gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng Vẫn tiếng “làng”, tiếng “nước” của riêng ta Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất Nàng Mị Châu qùy gối lạy cha già. Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời. Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng Cao quí thâm trầm rực rỡ vui tươi Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ. Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt. Mỗi sớm dậy nghe bốn bể thân thiết Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi Như vị muối chung lòng biển mặn Như dòng sông thương mến chảy muôn đời. Ai thuở trước nói những lờithứ nhất Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu Điều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt Ai người sau nói tiếp những lời yêu? Ai phiêu bạt nơi chân trời góc bể Có gọi thầm tiếng Việt giữa đêm khuya? Ai ở phía bên kia cầm súng khác Cùng tôi trong tiếng Việt quay về. Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình...

(Lưu Quang Vũ - Thơ và Đời. NXB Văn hoá - Thông tin. H.1999.tr.322-325)

2. Một số hình ảnh khác

Hồ Chí Minh - Người là tấm gương mẫu mực trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Ngày 5/11 tại Trung tâm phát thanh Quốc gia 58 Quán sứ, Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp với Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học quốc gia “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng”

Một số bìa sách

Học sinh vẽ tranh tuyên truyền về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt