1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Tên đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Văn thư-
Lưu trữ trong trường học”.
II. Lý do chọn đề tài
Công việc của người làm công tác Văn thư- lưu trữ trông bên ngoài tưởng
chừng như đơn giản “Đánh máy” bảo quản hồ sơ, nhưng những yêu
cầu thật sự quan trọng mà chỉ có ai làm công tác Văn thư- lưu trữ mới cảm nhận
hết được. Điều đó, khiến cho tôi làm công tác Văn thư- lưu trữ rất tự hào về vai
trò, vị trí công việc mình làm đã và đang đảm nhiệm;
Trong hoạt động của các quan thì công tác Văn thư- lưu trữ không thể
thiếu được, một trong những công tác quan trọng của tất cả các quan, tổ
chức, chính trị - xã hội dù lớn hay nhỏ, muốn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
mình đều phải sử dụng văn bản, tài liệu để phổ biến các chủ trương, chính sách,
phản ánh tình hình lên cấp trên, trao đổi, liên hệ, phối hợp công tác, ghi lại
những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong hoạt động hàng ngày;
Làm tốt công tác Văn thư- lưu trữ bảo đảm thao tác soạn thảo văn bản,
cung cấp đầy đủ thông tin, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng công tác
của các cơ quan. Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời thì hoạt động của
các quan càng đạt hiệu quả cao, bởi lẽ thông tin phục vụ quản được cung
cấp từ nhiều nguồn khác nhau. Trong đó nguồn thông tin chủ yếu nhất, chính
xác nhất là thông tin từ văn bản vì văn bản là phương tiện chứa đựng, truyền đạt,
phổ biến thông tin mang tính pháp lý;
Nếu tài liệu, văn bản gửi tới cơ quan, đơn vị được đưa đến các bộ phận giải
quyết công việc kịp thời nhanh chóng thì hoạt động của nhà trường càng đạt
hiệu quả cao, tiến đhoàn thành công việc không bị chậm trễ. Nhận thức được
tầm quan trọng của công tác Văn thư- lưu trữ nêni đã chọn nội dung “Một số
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Văn thư- Lưu trữ trong trường
học” làm đề tài. Trong đề tài này tôi sẽ tập trung sâu vào lĩnh vực văn thư- lưu
trữ trong nhà trường. Mong rằng một số ít kinh nghiệm này sẽ được phát huy
bổ sung thêm trong công c văn thư hiện nay đang được Nhà nước các
quan quan tâm và chú trọng nhất.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
một đơn vị hành chính sự nghiệp,ở lĩnh vực nào thì cũng phải cần
một bộ phận văn thư lưu trữ. Thực tế công tác văn thư - lưu trữ nhiều đơn vị
chưa được quan tâm đúng mức chỉ coi đây công việc đơn thuần. Người ta
2
chưa thấy được vị trí, ý nghĩa tầm quan trọng của công tác văn thư-lưu trữ
trong văn phòng các quan đơn vị. Cán bộ viên chức văn phòng chưa được
đào tạo đến nơi đến chốn do đó kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng
được yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới công tác văn thư - lưu trữ.
Thông qua đề tài góp phần giúp nhân viên văn phòng nói chung, nhân viên
văn thư trong tất cả các trường học hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Với tính chất đặc thù ngành giáo dục đào tạo, việc tiếp nhận các loại
văn bản, công văn…là rất nhiều nên đòi hỏi người làm công tác văn thư, văn
phòng trong nhà trường phải biết sắp xếp, xử lý các thông tin một cách khoa học
mới để hướng giải quyết công việc một cách tốt nhất nhằm giúp đơn vị hoàn
thành nhiệm vụ.
IV. Mục đích nghiên cứu:
ng tác văn thư u trữ là một hoạt động nghiệp vụ phc v cho công tác
quản lý nhà nước trongnh vc giáo dục và đào tạo. Nhằm cụ thể hóa các quy đnh
của nhà nước vng tác văn thư vàu trữ cho phù hợp vớinhnh thc tế của
từng cơ s giáo dục; Giúp c sở go dục thực hin thống nhất các hoạt động
trong công tác n tu trữ; Làm cơ sở kim tra thực hiện pháp luật trong việc
ban hành, quản lý và xử lý văn bản; Gi gìn tài liệu lưu trữ để sử dụng lâu dài, góp
phần quan trọng đảm bảo tng tin cho hoạt động; Cung cấp nhng tài liệu, tư liu,
s liệu đáng tin cậy phục vc mục đích chính tr, kinh tế, văna, xã hội, đồng
thời cung cấp những thông tin qkhứ, nhng căn c, những bằng chứng phc v
cho hoạt động quản ca nhà tờng.
Hiện nay, hầu hết các trường học đều bố trí một nhân viên làm công tác
văn thư lưu trữ, nhưng vẫn còn một số nơi chưa thật sự quan tâm đến vấn đề
này. Người phụ trách trực tiếp công việc còn thờ ơ, không nắm hết được các kỹ
năng để giải quyết công việc nên dẫn đến tính chính xác không cao không
hiệu quả tối ưu nhất.
ng tác văn thư u trữ là một hoạt động nghiệp vụ phc v cho công tác
quản lý nhà nước trongnh vc giáo dục và đào tạo. Nhằm cụ thể hóa các quy đnh
của nhà nước vng tác văn thư vàu trữ cho phù hợp vớinhnh thc tế của
từng cơ s giáo dục; Giúp c sở go dục thực hin thống nhất các hoạt động
trong công tác n tu trữ; Làm cơ sở kim tra thực hiện pháp luật trong việc
ban hành, quản lý và xử lý văn bản; Gi gìn tài liệu lưu trữ để sử dụng lâu dài, góp
phần quan trọng đảm bảo tng tin cho hoạt động; Cung cấp nhng tài liệu, tư liu,
s liệu đáng tin cậy phục vc mục đích chính tr, kinh tế, văna, xã hội, đồng
thời cung cấp những thông tin qkhứ, nhng căn c, những bằng chứng phc v
cho hoạt động quản ca nhà tờng.
3
Để một văn bản mang tính chính xác cao, đòi hỏi người phụ trách công
tác văn thư cần phải những kỹ năng về xây dựng văn bản, cần nắm được các
phương pháp soạn thảo văn bản vừa đầy đủ nội dung vừa đúng thể thức của mỗi
loại văn bản cụ thể do Nhà nước quy định.
Để phục v tốt công tác nghiên cứu, quản lý, giảng dạy học tập thì việc
tìm kiếm văn bản đã lưu trữ đòi hỏi cần phải nhanh chóng, chính xác. Mục đích
của đề tài nhằm giúp nhân viên văn thư tháo gỡ những khó khăn vướng nêu trên,
mặt khác còn giúp cho tất cả nhân viên văn phòng nhận thức sâu sắc tầm quan
trọng của công tác văn thư lưu trữ trong hoạt động của nhà trường.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
Công tác văn thư: hoạt động đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ
cho việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành công việc của quan đơn vị.
Công tác văn thư bao gồm những nội dung: Soạn thảo ban hành văn bản,
quản lý văn bảncác tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của cơ
quan, đơn vị, quản sử dụng con dấu. Trong quá trình thực hiện các nội
dung công việc công tác văn thư c quan phải đảm bảo các yêu cầu:
Nhanh chóng, chính xác, bí mật, hiện đại.
Công tác lưu trữ: q trình hoạt động nghiệp vụ nhằm thu thập, bảo
quản an toàn sdụng hiệu quả tài liệu lưu trữ. Công tác lưu trữ bao gồm
những nội dung: Phân loại tài liệu lưu trữ, đánh giá tài liệu lưu trữ, chỉnh i
liệu lưu trữ, thu thập bổ sung tài liệu lưu trữ, bảo quản bảo vệ tài liệu lưu trữ, tổ
chức sử dụng tài liệu lưu trữ. Trong quá trình thực hiện các nội dung công việc
công tác lưu trữ ở các cơ quan phải đảm bảo: Tính khoa học, tính cơ mật.
Để một văn bản mang tính chính xác cao, đòi hỏi người phụ trách công
tác văn thư phải những kỷ ng về xây dựng văn bản, cần nắm được các
phương pháp soạn thảo văn bản vừa đầy đủ nội dung, vừa đúng thể thức của mỗi
loại văn bản cụ thể do Nhà nước quy định.
Để phục vụ tốt công tác nghiên cứu, quản lý, giảng dạy và học tập thì việc
tìm kiếm văn bản đã lưu trữ đòi hỏi cần phải nhanh chóng, chính xác.
Mục đích của đềi nhằm giúp nhân viên văn thư tháo gỡ những khó khăn
vướng mắc nêut rên.
Qua nhiều năm làm công tác văn thư- lưu trữ tôi mạnh dạn viết ng kiến
kinh nghiệmMột số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Văn thư- lưu trữ
4
trong trường học”. Nhằm trao đổi với đồng nghiệp làm công tác Văn thư- lưu
trữ ở các trường học về những kinh nghiệm mà tôi đã tích luỹ được qua thực tiễn
nhiều năm làm công tác Văn thư- lưu trữ.
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện nay, trên mọi lĩnh vực,
hầu hết các công việc từ chỉ đạo, điều hành, quyết đnh, thi hành đều gắn liền
với văn bản, cũng nghĩa gắn liền việc soạn thảo, ban hành tổ chức sử
dụng văn bản nói riêng, với công tác Văn thư- lưu trữ nói chung. Do đó, vai trò
của công tác văn thư lưu trữ đối với hoạt động quản hành chính nhà nước
cũng như hoạt động quản lý trong nhà trường là rất quan trọng.
Công tác Văn thư- lưu trữ là một hoạt động nghiệp vụ phục vụ cho công tác
quản lý nhà nước trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo. Nhằm cụ thể hóa các quy
định của nhà nước về công tác văn thư- lưu trữ cho phù hợp với tình hình thực
tế của từng sở giáo dục; giúp các sở giáo dục thực hiện thống nhất các
hoạt động trong công tác văn thư- lưu trữ; làm sở kiểm tra thực hiện pháp
luật trong việc ban hành, quản xử văn bản; giữ gìn tài liệu lưu trữ để sử
dụng lâu dài. Góp phần quan trọng đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý;
cung cấp những tài liệu, tư liệu, số liệu đáng tin cậy phục vụ các mục đích chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
A. Giải pháp 1
một nhân viên làm công tác văn thư chỉ kiêm nhiệm trong
nhà trường, làm việc theo sự phân công chỉ đạo của hiệu trưởng nhưngi cũng
tự ý thức được công việc của mình. Tôi luôn tự học hỏi, tìm tòi tài liệu tham
khảo đ không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân
nhưng lúc ban đầu tôi vẫn gặp phải khó khăn trong công tác. Từ đó tôi đã nghiên
cứu qua sách báo, tài liệu, qua các bạn đồng nghiệp học tập rút kinh nghiệm
những đơn vị trường bạn đã làm tốt rồi về áp dụng trong công việc.
Qua thời gian tìm hiểu, tôi đã lên kế hoạch phân tích các vấn đề còn tồn
đọng để từ đó có hướng giải quyết cụ thể như sau:
1. Công văn đến
1.1. Trình tự theo dõi
a. Khi tiếp nhận văn bản do bưu điện hoặc cán bộ trong đơn vị trực tiếp
chuyển đến, cán bộ văn thư hoặc người được giao nhiệm vụ làm thay
(kể cả trường hợp được chuyển đến ngoài giờ làm việc hoặc vào ngày nghỉ)
phải kiểm tra về số lượng, tình trạng bì, i nhận, dấu niêm phong (nếu có)
5
trước khi ký nhận; trong đó, đặc biệt lưu ý đối với những văn bản có độ Hoả tốc,
Khẩn, Mật.
b. Nếu văn bản đến bị thiếu, bị rách, bị bóc, bị mất phong bì, văn bản bên
trong không đúng với ngoài bì v số, nơi nhận hoặc văn bản được chuyển đến
muộn hơn thời gian ghi trên bì (đối với văn bản đóng dấu Hỏa tốc hẹn giờ), thì
văn thư phải báo cáo ngay với người phụ trách trực tiếp xử lý; trường hợp cần
thiết phải lập biên bản có chữ ký của người đưa văn bản đến.
c. Đối với văn bản đến được gửi qua fax hoặc qua mạng, cán bộ văn thư
phải kiểm tra về số lượng, số trang, nơi gửi, nơi nhận. Nếu phát hiện sai sót phải
kịp thời thông báo cho nơi gửi hoặc báo cáo người có trách nhiệm giải quyết.
1.2. Phân loại văn bản đến
a. Loại không bóc bì: Văn thư không được bóc những loại phong bì sau:
- Bì văn bản đến có đóng dấu ký hiệu các độ Mật, nếu văn thư không được
giao nhiệm vụ bóc bì văn bản Mật.
- Bì văn bản gửi cho các tổ chức Đảng, đoàn thể và gửi đích danh cho đơn
vị, cá nhân hoặc có đóng dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì", văn thư đăng
ký vào Sổ giao nhận số và ký hiệu ngoài bì, sau đó chuyển nguyên bì đến đơn vị
nhân tên. Đối với văn bản gửi cho nhân nhưng nếu liên quan đến
công việc chung thì nhân nhận văn bản phải trách nhiệm chuyển đến văn
thư để đăng ký.
b. Loại bóc bì: Văn thư được bóc bì và đăng ký các loại văn bản đến khi
ngoài bì gửi chung tên đơn vị hoặc ghi chức danh của người đứng đầu (kể cả các
bì có ký hiệu Mật và Tối mật), nếu được thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ.
1.3. Bóc bì văn bản
a. Những đóng dấu độ Hoả tốc, Khẩn cần được bóc ngay để giải
quyết kịp thời.
b. Tránh làm hư hại văn bản trong bì; không làm mất số, ký hiệu văn bản,
tên cơ quan gửi; kiểm tra lại bì để tránh sót văn bản.
c. Đối chiếu số, ký hiệu ghi ngoài bì với số, ký hiệu của văn bản trong bì.
Nếu phát hiện sai sót cần thông báo cho nơi gửi biết để giải quyết.
d. Trường hợp văn bản đến có kèm phiếu gửi, văn thư phải đối chiếu văn
bản trong bì với phiếu gửi, ký xác nhận và gửi trả lại cho nơi gửi.
e. Đối với đơn, thư khiếu nại, tố cáo, văn bản cần được kiểm tra, xác minh
hoặc văn bản ngày nhận cách quá xa ngày tháng ghi trên văn bản thì giữ lại
phong bì và đính kèm cùng với văn bản để làm bằng chứng.