
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến cấp tỉnh.
Nhóm chúng tôi gồm:
TT
Họ và tên
Ngày tháng
năm sinh
Nơi công
tác
Chức vụ
Trình độ
chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc
tạo ra sáng kiến
1
Nguyễn Anh Hưng
28/12/1981
THPT Gia
Viễn B
Tổ trưởng
chuyên môn
Đại học
22%
2
Trần Thị Dự
30/11/1986
THPT Gia
Viễn B
Giáo viên
Đại học
20%
3
Mai Châu Bình
17/9/1990
THPT Gia
Viễn B
Giáo viên
Thạc sỹ
22%
4
Nguyễn Thị Thanh Hòa
10/12/1987
THPT Gia
Viễn B
Giáo viên
Đại học
17%
5
Đinh Thị Hồng Nhung
28/10/1992
THPT Gia
Viễn B
Giáo viên
Thạc sỹ
19%
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
Giải pháp nâng cao ý thức, kỹ năng phòng tránh tai nạn do hóa chất gây ra trong
đời sống thông qua dạy học Hóa học ở trường phổ thông.
Lĩnh vực áp dụng: Vận dụng kiến thức hóa học phổ thông để phòng tránh tai nạn do hóa chất
gây ra trong cuộc sống hàng ngày.
II. Nội dung sáng kiến
1. Giải pháp cũ thường làm
- Về nội dung:
Trong quá trình dạy học môn Hóa học ở trường phổ thông, giáo viên thường dạy lần
lượt qua các mục: Cấu tạo, tính chất vật lí, tính chất hóa học, trạng thái tự nhiên, ứng dụng và
điều chế. Giáo viên ít nói hoặc nói ngắn gọn, không có dẫn chứng về những tính chất đó có
thể gây ra nguy hiểm gì cho con người và các loài sinh vật trên Trái Đất khi sử dụng hoặc
không may bị nhiễm phải. Dẫn đến người học không có khả năng phòng tránh những tai nạn
do hóa chất gây ra và thực tế cuộc sống đã có nhiều vụ tai nạn thương tâm xảy ra do con
người thiếu hiểu biết về hóa chất.

Ví dụ như vụ ngạt khí CO ở Hải Hà, Quảng Ninh ngày 8 tháng 9 năm 2014 làm 10
người chết, vụ ngạt khí than ở Nông Cống Thanh Hóa ngày 1 tháng 1 năm 2015 làm 9 người
tử vong.
- Về hình thức:
Giáo viên truyền thụ kiến thức cho học sinh chủ yếu theo cách diễn giảng, thuyết trình
làm cho bài giảng buồn tẻ, nặng nề. Học sinh không có hứng thú tiếp thu kiến thức, không
chủ động tích cực tham gia vào bài giảng và không có kỹ năng vận dụng kiến thức đó vào đời
sống để phòng tránh những tai nạn thương tích do hóa chất gây ra.
* Ưu điểm:
+ Cho phép trình bày những nội dung lí thuyết khó, phức tạp, hàn lâm, chứa đựng thông
tin học sinh không tự tìm hiểu được.
+ Phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng chủ yếu: Thuyết trình, đàm thoại, vấn
đáp. Do đó, giáo viên có nhiều thời gian để giảng những kiến thức hàn lâm một cách hệ
thống.
+ Cho phép trình bày mô hình mẫu của tư duy logic, của cách trình bày và lí giải vấn đề
một cách khoa học.
* Nhược điểm:
+ Không thu hút được tất cả các đối tượng học sinh tham gia và hoạt động học, đặc biệt
là học sinh thuộc các lớp khoa học xã hội. Do đó tiết học với các em sẽ trở nên nặng nề căng
thẳng, không có hứng thú tiếp thu kiến thức và không cảm thấy có sự liên quan giữa kiến
thức đang học với thực tế cuộc sống. Từ đó, làm cho học sinh cảm thấy chán nản, thậm chí là
sợ môn Hóa học.
+ Những kiến thức về trạng thái tự nhiên, ứng dụng các chất thì giáo viên ít hoặc không
cung cấp đầy đủ thông tin, dẫn chứng cụ thể dẫn đến người học không hiểu rõ ảnh hưởng của
các chất hóa học thường gặp trong đời sống với con người và các loài sinh vật như thế nào.
+ Tiết học không đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục đó là hình thành những
năng lực và phẩm chất cho người học.
2. Giải pháp mới cải tiến
- Bản chất của giải pháp mới.
Thay đổi phương pháp tiếp cận kiến thức của người học và phương pháp dạy học của
người dạy bằng cách tạo ra các sân chơi nhỏ trong phạm vi lớp học.
* Người học:

Chuyển từ quá trình học tập thụ động, căng thẳng thành quá trình vui chơi hào hứng
qua đó lĩnh hội kiến thức một cách chủ động tích cực.
Nội dung kiến thức không chỉ sử dụng trong các bài kiểm tra, các kì thi mà quan trọng
hơn là học sinh còn có thêm hiểu biết những kiến thức thực tiễn để vận dụng vào giải quyết
các vấn đề trong cuộc sống. Từ đó, phòng tránh được những tai nạn thương tâm cho mình,
cho người thân và trở thành người có trách nhiệm với chính bản thân mình và với cộng đồng.
* Người dạy :
Vừa đóng vai trò là người thầy dạy kiến thức theo cách truyền thống vừa là đạo diễn
đồng thời cũng là MC dẫn dắt chương trình. Làm trọng tài trong các tình huống tranh luận về
kiến thức và dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức đó.
Người dạy trở nên gần gũi và là người bạn đồng hành trên con đường lĩnh hội kiến thức
của học sinh.
- Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp:
Xuất phát từ thực tế:
- Do áp lực học tập và thi cử, nhiều học sinh bị căng thẳng, stress thậm chí là trầm cảm.
Nên giáo viên cần thiết phải thay đổi hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá để học
sinh hào hứng, vui vẻ, chủ động trong học tập qua đó lĩnh hội kiến thức quan trọng, cần thiết
một cách nhẹ nhàng.
- Do nhiều người chưa đủ kiến thức, kĩ năng phòng tránh những tai nạn thương tích do
hóa chất gây ra nên ngày càng nhiều vụ tai nạn thương tâm liên quan đến hóa chất xảy ra gây
hậu quả nghiêm trọng.
Để giải quyết hai vấn đề trên chúng tôi đã thay đổi hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra
đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, và phát triển các năng lực cốt lõi
của học sinh làm cho học sinh ngày càng yêu thích, hứng thú với môn học. Học không chỉ lấy
kiến thức thi cử mà còn vận dụng kiến thức đó để phòng tránh những tai nạn, những hiểm họa
trong đời sống do hóa chất gây ra. Bằng các giải pháp cụ thể:
+ Một là về hình thức tổ chức:
Giáo viên tổ chức các trò chơi vui nhộn đang được yêu thích trên truyền hình như: Đuổi
hình bắt chữ, rung chuông vàng, trò chơi ô chữ, hỏi xoáy đáp xoay… biến quá trình học tập
thụ động, căng thẳng thành quá trình vui chơi hào hứng. Trong quá trình tổ chức trò chơi,
giáo viên hài hước, nhẹ nhàng dẫn dắt học sinh học tập lĩnh hội kiến thức để đối với mỗi học
sinh có thế tự ý thức được trách nhiệm của bản thân mình với những người xung quanh và

với toàn thể cộng đồng khi mà các vấn nạn về ô nhiễm môi trường, hiểm họa do hóa chất gây
ra ngày càng trở nên báo động.
+ Hai là về cách tiếp cận nội dung:
Nội dung kiến thức đa dạng phong phú không bó buộc trong sách giáo khoa nhưng
không vì thế mà trở nên nặng nề hơn.
Tích hợp được nhiều kiến thức của môn học khác đặc biệt là môn xã hội làm cho kiến
thức hóa học thêm mềm mại và tạo sự bất ngờ vui vẻ cho học sinh
Giáo viên dẫn chứng những vụ tai nạn do sử dụng hóa chất không đúng trong đời sống
gây ra và hậu quả thảm khốc của nó thông qua hình ảnh hoặc xem video khiến học sinh sợ
hãi, lay động lòng trắc ẩn từ đó sẽ có động lực tìm hiểu kiến thức có liên quan để giải thích và
đưa ra những giải pháp phòng chống tai nạn cho mình và người thân.
Ngoài ra nội dung kiến thức đưa ra còn được dẫn dắt từ những gì gần gũi nhất với học
sinh như từ các trang mạng xã hội hay những bài hát yêu thích, những bài bão, bài thơ quen
thuộc…
+ Ba là về quy mô tổ chức lớp học: Có thể thay đổi không gian lớp học từ không gian
khép kín sang không gian mở ở đó học sinh không bị gò bó mà được tự do thỏa mái trong học
tập.
+ Bốn là kiểm tra đánh giá: Qua hoạt động vui chơi lĩnh hội kiến thức, giáo viên có thể
đánh giá năng lực của học sinh và cho điểm phù hợp chứ không nhất thiết chỉ dùng cách kiểm
tra đánh giá truyền thống.
Nhóm chúng tôi đã xây dựng được 12 vấn đề hóa học hiện nay liên quan đến những vụ
tai nạn thương tâm hay xảy ra trong đời sống với những cách thể hiện sinh động khác nhau
nhằm tạo sự hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động khơi dậy niềm say mê, yêu thích
môn hóa với mỗi học sinh.
Vấn đề 1: Phòng tránh tai nạn bị điện giật do dung dịch chất điện li gây ra
Vấn đề 2: phòng tránh tai nạn do ngạt khí cacbonmono oxit
Vấn đề 3: phòng tránh tan nạn gây ra do thủy ngân trong nhiệt kế
Vấn đề 4. Ô nhiễm nguồn nước
Vấn đề 5. Ngộ độc rượu, cách phòng tránh
Vấn đề 6: Mối nguy hiểm từ việc sử dụng bóng cười ở giới trẻ
Vấn đề 7: Phòng tránh ngộ độc formol
Vấn đề 8: Phòng tránh cháy nổ khí amoniac

Vấn đề 9: Đề phòng cháy nổ chất khí có trong bóng bay đồ chơi
Vấn đề 10: Ứng dụng và cảnh báo khi sử dụng axit sunfuric
Vấn đề 11: Phòng tránh cháy nổ khí gas
Vấn đề 12: Phòng tránh tác hại của thuốc lá
- Ở mỗi vấn đề trên chúng tôi đã xây dựng
1. Hình thức tiếp cận kiến thức:
Thiết kế loại trò chơi gì được áp dụng để chuyển tải nội dung về những vụ tai nạn do
hóa chất gây ra trong đời sống
2. Phạm vi sử dung: Với vấn đề được đưa ra chúng ta có thể dùng trong những tiết học
nào, phần nào trong mỗi bài lên lớp hàng ngày.
3. Nội dung.
Nội dung câu hỏi từ đó dẫn dắt vào những vụ tai nạn kinh hoàng do hóa chất gây ra gây
ra làm học sinh sợ hãi từ đó tìm hiểu cách phòng tránh tai nạn đó và những sơ cứu ban đầu.
III. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được
1. Hiệu quả kinh tế:
Nếu không có kỹ năng phòng tránh tai nạn do sử dụng các hóa chất trong cuộc sống
hàng ngày thì hậu quả xảy ra là vô cùng thảm khốc. Nạn nhân mất rất nhiều tiền để điều trị
bệnh hoặc nặng nhất có thể dẫn đến tử vong.
Học sinh có khả năng phòng tránh những tai nạn, những mối hiểm họa xảy ra trong
đời sống góp phần bảo vệ sức khỏe đặc biệt là tính mạng cho mình và người thân.
Học sinh có động lực học tập và tiếp thu kiến thức một cách chủ động tích cực nên sẽ
nhớ kĩ và hiểu sâu hơn thuận lợi cho việc tổng hợp kiến thức nhất là phần lí thuyết trong các
câu hỏi trắc nghiệm tổng hợp theo mẫu đề thi THPT QG hiện nay. Do vậy khả năng đỗ vào
các trường đại học cao đẳng của năm thi đầu tiên sẽ cao hơn, tiết kiệm được thời gian và chi
phí so với những học sinh phải thi nhiều lần.
Sáng kiến của chúng tôi là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên trong quá trình
giảng dạy môn hóa THPT, tiết kiệm thời gian để tra cứu các nguồn thông tin trên internet,
báo đài…
2. Hiệu quả xã hội:
Những kiến thức phòng chống tai nạn khi sử dụng hóa chất hàng ngày sẽ hạn chế
những vụ tai nạn thương tâm xảy ra, giúp xã hội bớt đi những mảnh đời bất hạnh, bớt đi
những đứa trẻ mô côi, những người mẹ già không nơi nương tựa.

