
1
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………….......2
PHẦN II: NỘI DUNG ………………………………………………………3
1. Vai trò và mục tiêu của tư vấn tâm lí trong nhà trường phổ thông…….3
1.1. Khái niệm Tư vấn tâm lí.............................................................................3
1.2. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những khó khăn tâm lí của học sinh THPT….3
1.3. Vai trò và mục tiêu của tư vấn tâm lí trong trường THPT………………...6
2. Một số giải pháp triển khai có hiệu quả công tác tư vấn tâm lí ở trường
THPT Nam Yên Thành……………………………………………………….7
2.1. Đặc điểm tình hình nhà trường ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tư vấn tâm lí
cho học sinh…………………………………………………………………….7
2.1.1. Những thuận lợi cho việc triển khai công tác tư vấn tâm lí ở đơn vị…….7
2.1.2. Những khó khăn ảnh hưởng đến việc triển khai công tác tư vấn tâm lí ở đơn
vị…………………………………………………………………………………8
2.2. Những giải pháp cụ thể triển khai có hiệu quả công tác tư vấn tâm lí cho học
sinh ở đơn vị……………………………………………………………………..9
2.2.1. Hình thành mạng lưới thu thạp thông tin, nâng cao năng lực hoạt động của
Tổ tư vấn tâm lí trong nhà trường………………………………………………..9
2.2.2. Xây dựng lòng tin, khảo sát và lập hồ sơ các đối tượng cần tư vấn tâm
lí………………………………………………………………………………….10
2.2.3. Vận dụng sáng tạo, đa dạng hóa các kỹ năng và hình thức tư vấn tâm
lí………………………………………………………………………………….20
2.2.4. Huy động sự hôc trợ của Ban đại diện cha mẹ học sinh và các chức sắc tôn
giáo trong công tác tư vấn tâm lí…………………………………........................27
3. Kết quả đạt được về xếp loại đạo đức học sinh do có sự đóng góp của công
tác tư vấn tâm lí…………………………………………………………………28
PHẦN III: KẾT LUẬN......................................................................................................29
1. Việc ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm: ,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,.............29
2. Kết luận sau quá trình nghiên cứu, triển khai áp dụng đề tài:.........................................29
3. Một số kiến nghị, đề xuất:.................................................................................................30
PHỤ LỤC : ...........................................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………40

2
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ trải nghiệm của một nhà giáo có 23 năm công tác trong đó có 10 năm
làm quản lí giáo dục ở trường THPT, tôi nhận thấy nhu cầu được tư vấn tâm lí của
học sinh nói chung và học sinh THPT là một nhu cầu thường trực và khá cấp thiết.
Sự phát triển của thể chất và tâm lí tuổi mới lớn, môi trường gia đình và xã hội thời
kinh tế thị trường, những tác động của Internet và mạng xã hội, những áp lực của
việc học tập…vô hình chung đã tạo ra những “ đứt gãy” nhất định trong tâm lí một
bộ phận học sinh. Nếu không được hỗ trợ, giải quyết kịp thời, nó có thể gây ra
những hậu quả đáng tiếc thậm chí đau xót mà chúng ta thấy xuất hiện không hiếm
trên các phương tiện thông tin truyền thông. Thực tế trong các nhà trường lâu nay
vẫn tổ chức tư vấn cho một số học sinh nhưng hầu hết đó là cách làm mang tính
kinh nghiệm, xuất phát từ tình thương và trách nhiệm với học sinh mà không được
tổ chức bài bản. Đáp ứng yêu cầu đó, Bộ GD&ĐT đã có Thông tư số 31/2017/TT-
BGDĐT ngày 18 tháng 12 năm 2017 về Hướng dẫn thực hiện công tác Tư vấn tâm
lí cho học sinh trong trường phổ thông. Sở GD&ĐT Nghệ An cũng có công văn số
1568/SGDĐT-CTTT ngày 17 tháng 8 năm 2018 về việc triển khai công tác tư vấn
tâm lí trong trường phổ thông. Dù công tác tư vấn tâm lí trong trường phổ thông đã
tiến hành được 03 năm nhưng qua tìm hiểu ở các trường học trên địa bàn Nghệ An,
chúng tôi nhận thấy đây vẫn là một nhiệm vụ khá mới mẻ, nhiều đơn vị vẫn còn
lúng túng trong triển khai và chưa đạt hiệu quả mong muốn. Mặt khác, ở phương
diện quản lí, cũng chưa có nhiều sự tổng kết, đánh giá chung hay khảo sát một mô
hình, một giải pháp cụ thể trong triển khai thực hiện công tác Tư vấn tâm lí ở
trường phổ thông để từ đó có được những nhìn nhận và định hướng chỉ đạo tốt hơn
trong toàn ngành.
Xuất phát từ thực tiễn đó, dựa trên sự đúc rút kinh nghiệm của một cán bộ quản lí
giáo dục và là người trực tiếp phụ trách công tác Tư vấn tâm lí ở một trường
THPT,chúng tôi lựa chọn đề tài “ Một số giải pháp triển khai có hiệu quả công
tác Tư vấn tâm lí cho học sinh ở trường THPT Nam Yên Thành”. Phương
pháp của chúng tôi dựa trên nguyên lí khoa học và cụ thể, đi từ lí luận đến thực
tiễn, sử dụng khảo sát thống kê, đánh giá từ đó rút ra kết luận. Điểm mới mẻ trong
đề tài mà chúng tôi hướng đến là sự đề cập đến một vấn đề mới bắt đầu triển khai
một thời gian ngắn trong các nhà trường. Bên cạnh đó là sự đề xuất một số giải
pháp triển khai hiệu quả công tác tư vấn tâm lí trên cơ sở thực tiễn của một nhà
trường vừa mang đặc thù riêng của huyện Yên Thành vừa mang nhiều điểm tương
đồng với các trường học trên địa bàn Nghệ An. Điều đó tạo thuận lợi cho việc phổ
biến, vận dụng sáng kiến trong thực tiễn vào thời gian tới.

3
PHẦN II: NỘI DUNG
1. Vai trò và mục tiêu của Tư vấn tâm lí trong nhà trường phổ thông
1.1. Khái niệm Tư vấn tâm lí
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Tư vấn được xem là quá trinh mà một
cá nhân dựa trên sự hiểu biết của mình vầ một lĩnh vực nào đó đưa ra những hướng
dẫn, lời khuyên”. Còn theo Hiệp hội Tâm lí nước Mỹ, khái niệm Tư vấn tâm lí (
counseling) là một khái niệm hợp nhất 3 chức năng: Tư vấn hướng nghiệp; Tư vấn
trắc nghiệm, chẩn đoán tâm lí; Tư vấn phát triển nhân cách. Trong khuôn khổ hoạt
động Tư vấn của trường học, Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017
Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông
đưa ra một định nghĩa ngắn gọn: “Tư vấn tâm lý cho học sinh là sự hỗ trợ tâm lý,
giúp học sinh nâng cao hiểu biết về bản thân, hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ xã
hội, từ đó tăng cảm xúc tích cực, tự đưa ra quyết định trong tình huống khó khăn
học sinh gặp phải khi đang học tại nhà trường”. Có thể thấy đây là một tiến trình
giúp đỡ đối tượng tự tìm hiểu mình, biết được những đặc điểm tính cách, những
năng lực tiềm ẩn và những hành vi của họ đã ảnh hưởng đến những người khác
như thế nào. Đồng thời giúp họ chọn cách giải quyết vấn đề tối ưu trong các mối
quan hệ và trong cuộc sống, từ đó góp phần làm tốt hoạt động giáo dục học sinh và
mối quan hệ giữa ba môi trường giáo dục: Gia đình- Học đường- Xã hội. Mặt khác,
Tư vấn tâm lí trong trường học đòi hỏi nhà trường phải có người thầy giỏi về tâm lí
giáo dục, luôn sẵn sàng và giỏi kĩ năng lắng nghe, chia sẻ làm cho nhà trường trở
thành một không gian thân thiện, trở thành nơi học sinh cảm thấy hứng thú, tiến bộ
trong học tập, nghiên cứu khoa học, trong các hoạt động tập thể và trong các mối
quan hệ.
1.2. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những khó khăn tâm lí của học sinh THPT
Học sinh THPT có độ tuổi từ 15- 18, thuộc giai đoạn đầu của tuổi thanh
niên. Đây là thời kì về thể chất các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng
thành. Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển ở mức cao. Khả năng hưng
phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt, có thể hình thành mối liên hệ thần kinh
tạm thời phức tạp hơn. Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện
phát triển mạnh. Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như
người lớn, cha mẹ cũng bắt đầu trao đổi với các em một số vấn đề quan trọng , các
em bắt đầu quan tâm đến nền nếp, lối sống, sinh hoạt và điều kiện kinh tế, chính trị
của gia đình cũng như ý thức được quyền hạnh, trách nhiệm của bản thân đối với
gia đình. Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức
độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với lứa tuổi thiếu niên, đòi hỏi ở các em sự tự
giác, tích cực và chủ động nhiều hơn. Ngoài xã hội, các em cũng bắt đầu được trao
nhiều quyền hơn, các quan hệ xã hội được mở rộng giúp cho sự tích lũy vốn sống
nhưng đồng thời cũng tạo ra những va đập với sự phức tạp, đa dạng của xã hội.

4
Đặc điểm tâm lí nổi bật của học sinh THPT là sự phát triển của tự ý thức. Biểu
hiện của tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lí của
mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc
sống…Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, những phẩm
chất nhân cách và năng lực riêng. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại
mà còn nhận thức về vị trí xã hội của mình trong tương lai. Các em có khuynh
hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập. Ý thức người lớn
khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính mình một cách
độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…Bên cạch đó, đây cũng là
giai đoạn các em hình thành thế giới quan. Các em có nhu cầu tìm hiểu, khám phá
để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những
định hướng về giá trị con người. Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen
đạo đức, cái xấu- cái đẹp, cái thiện – cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa
cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi với nghĩa vụ…Tuy nhiên, vẫn có những
em nhận thức chưa đầy đủ nên chịu ảnh hưởng của tư tưởng cổ hủ lạc hậu, ý thức
tổ chức kỉ luật kém, thích cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động, tự
ti…Một mặt nữa trong đặc thù tâm lí lứa tuổi học sinh THPT là sự hình thành xu
hướng nghề nghiệp. Trong các em đã hình thành nhu cầu lựa chọn vị trí xã hôi
tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới địa vị xã hội ấy. Xu hướng nghề
nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các
em. Càng về cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ nét và
mang tính ổn định hơn, nhiều em đã biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất,
tâm lí và khả năng của mình với yêu cầu nghề nghiệp. Tuy nhiên sự nhận thức về
nghề nghiệp của các em vẫn còn phiến diện, cần sự hỗ trợ.
Lứa tuổi học sinh THPT có đặc điểm giao tiếp và quan hệ xã hội rõ nét sau:
- Các em khao khát muốn có những qua hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu
cầu sống tự lập. Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: Tự lập về hành vi, tự lập
về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị.
- Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh. Trong
tập thể, học sinh THPT thấy được vị trí trách nhiệm của minh và các em cũng cảm
thấy mình cần cho tập thể. Khi giao tiếp trong nhóm, sẽ xảy ra hiện tương phân
cực- có những người được nhiều người yêu mến và có những người ít được bạn bè
yêu mến. Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm
cách điều chỉnh.
- Tình bạn đối với các em tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, Tình bạn
thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiệm, ước
mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá mình. Nhưng tình
bạn ở các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường có biểu hiện lí tưởng
hóa tình bạn.
- Ở tuổi này cũng đã xuất hiện một loại tình cảm đặc biệt- tình yêu nam nữ. Nó tạo
ra nhiều cảm xúc đối nghịch: căng thẳng vì thiếu kinh nghiệm, lo sợ bị từ chối,

5
sung sướng khi được đáp lại, hãnh diện vì chứng tỏ mình trưởng thành, đau khổ,
tuyệt vọng khi tan vỡ hoặc bị lừa dối….
Vấn đề mấu chốt của hoạt động Tư vấn tâm lí trong nhà trường THPT là
việc xác định rõ học sinh ở lứa lứa tuổi này thường gặp những khó khăn tâm lí gì.
Có thể thấy những khó khăn cơ bản:
Trong lĩnh vực học tập, do nội dung và tính chất học tập ở THPT khác nhiều so với
THCS. Sự khác nhau không chỉ ở nội dung học tập nhiều, phức tạp hơn, vừa có
tính lí luận, trừu tượng, vừa phân hóa mạnh mà còn ở chỗ hoạt động học tập đòi
hỏi tính năng động, sáng tạo, nỗ lực trí tuệ và ý chí cao, nhất là năm cuối cấp. Nó
tạo ra một áp lực tâm lí không hề nhỏ cho đối tượng. Mặt khác, sự phân hóa nội
dung theo hướng hường nghiệp đã đặt người học vào tình huống phân hóa về hứng
thú và xác định động cơ học tập. Với những em không có sự chuẩn bị tốt từ THCS
thì việc lựa chọn môn học và học như thế nào là thực sự khó khăn. Trong định
hướng nghề và chọn nghề, học sinh THPT cũng gặp những khó khăn tâm lí sau:
Nhiều học sinh chưa có tâm thế, chưa có nhận thức, ý thức về tầm quan trọng của
việc chọn nghề, chọn trường học nghề sau khi tốt nghiệp THPT và lựa chọn những
môn học phù hợp với việc chọn nghề. Nhiều em chưa có ý thức rõ ràng về tương
lai của mình sau khi tốt nghiệp phổ thông,còn lúng túng loay hoay trong việc chọn
nghề, chọn trường học nghề, không có ý thức và tâm thế gắn việc học với việc định
hướng nghề nghiệp. Sự hiểu biết về nghề và hệ thống nghề của nước ta trong học
sinh còn mơ hồ trong khi đó, với sự phát triển nhanh chóng của sản xuất dựa trên
sự phát triển của khoa học công nghệ thì khái niệm nghề trở nên linh hoạt hơn
nhiều so với trước. Mặt khác, nhiều học sinh thiếu hiểu biết và kĩ năng đánh giá xu
hướng, năng lực, tính cách của bản thân liên quan đến hoạt động nghề trong tương
lai. Học sinh THPT cũng gặp nhiều khó khăn trong hình thành hình ảnh bản thân,
lí tưởng sống và xây dựng kế hoạch đường đời. Ở lứa tuổi này, hình ảnh bản thân
trong mắt người khác thực sự trở thành đặc trưng lứa tuổi và được các em xây
dựng không chỉ bằng cảm xúc mà bằng cả ý chí rõ ràng, không chỉ bằng hình ảnh
bản thân bên ngoài mà còn bằng cả những hành vi chứng tỏ tâm lí hướng tới nhiều
đối tượng. Các em dành nhiều thời gian suy nghĩ về bản thân, có thể xuất hiện suy
nghĩ và các hành động cực đoan hay thất vọng…Ngay từ cuối THCS học sinh đã
luôn trăn trở với câu hỏi thường trực “ ta là ai? ta sẽ là ai?”. Câu hỏi ấy sẽ dần sáng
tỏ khi các em kết thúc bậc THPT. Nhưng để đạt được điều đó, các em phải trải qua
một quá trình trăn trở với muôn vàn tự vấn, nỗ lực và gian nan. Trong hành trình
đó có thể xảy ra sự vỡ mộng, thất vọng,hẫng hụt khi có sự va đập giữa những kì
vọng và hiện thực tạo ra hiệu ứng tiêu cực. Một khó khăn tâm lí nữa của học sinh
THPT là khó khăn trong quan hệ xã hội, quan hệ với bạn khác giới và vấn đề tình
yêu, tình dục. Ở các em luôn có nhu cầu và có sự kết giao xã hội với nhiều cá nhân
và nhiều lứa tuổi khác nhau. Nó có thể xảy ra hiện tượng ngộ nhận, sự bị ám thị, sự
a dua… do thiếu kinh nghiệm sống và sự trải nghiệm. Với sự phát triển của thể
chất, ở hầu hết các em đều có trải nghiệm “ rung động đầu đời” ở những mức độ
khác nhau. Trong đa số trường hợp, nó sẽ là một hiện tượng tâm lí bình thường và

