ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ
TRƯỜNG MẦM NON A XÃ NGỌC HỒI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM GIÚP TRẺ MẪU GIÁO NHỠ 4 – 5 TUỔI
TRONG TRƯỜNG MẦM NON NHẬN BIẾT
VÀ PHÒNG TRÁNH CÁC NGUY KHÔNG AN TOÀN
Lĩnh vực : Giáo dục mẫu giáo
Cấp học : Mầm non
Tên tác giả : Nguyễn Thị Thanh Huyền
Đơn vị công tác : Trường MN A xã Ngọc Hồi
Quỳnh Chức vụ: Giáo viên
NĂM HỌC: 2020 – 2021
ĐẶT VẤN ĐỀ
“Trẻ em hạnh phúc của mỗi gia đình, tương lai của đất nước, lớp
người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Chăm sóc trẻ em hôm nay chính tạo nguồn nhân lực “Chất lượng cao- Nhân
tố” tạo nên sự phát triển bền vững ngày mai. Vì vậy, trẻ em phải được chăm sóc
trong điều kiện tốt nhất, đó không phải nhiệm vụ của riêng c cấp hay các
ngành nào,chính là nhiệm vụ của toànhội. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ
được xem một trong những chính ch ưu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nước
địa phương trong việc đảm bảo an sinh hội, mục tiêu phát triển ổn định
lâu i của đất nước. Trong những năm qua, mặc công tác bảo vệ, chăm
sóc giáo dục trẻ em đã đạt được nhiều thành quả nhưng công tác này gặp
nhiều khó khăn thách thức. Trong thực tế hiện nay tình trạng trẻ lứa tuổi mẫu
giáo luôn thụ động, không biết ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp, không
biết cách bảo vệ bản thân trước các tình huống nguy hiểm, tìm kiếm sự giúp
đỡ... để lại những hậu quả thật thương tâm đáng tiếc ngày càng nhiều trong
hội. Thống gần đây nhất trong bản báo cáo tổng hợp về phòng chống tai
nạn thương tích trẻ em Việt Nam của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)
cho thấy bỏng, ngã, ngộ độc, động vật cắn, tai nạn giao thông, ngạt, đuối nước,
điện giật..là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ. Những nguy
không an toàn cho trẻ không những thể xảy ra nhà, hay bên ngoài còn
xảy ra trong trường mầm non, điểm trông giữ trẻ. Những trường hợp khiến các
cháu tử vong như điện giật, ntrong nvệ sinh hay bị tủ đựng đồ đè… hồi
chuông cảnh báo sự an toàn của trẻ lứa tuổi mầm non đang tình trạng báo
động. Các tai nạn xảy ra những thời điểm khác nhau trong ngày như giờ ăn,
giờ ngủ,đi vệ sinh, giờ trả trẻ…cho thấy mức độ phức tạp khó khăn trước
thực tế đang xảy ra khiến giáo viên mầm non không thể lường trước được.
Trẻ em lứa tuổi mầm non lứa tui hiếu động, nghịch ngợm, thích m
tòi, khám phá nhưng còn rất non nớt, yếu đuối, chưa kinh nghiệm sống chính
thế nên rất dễ gặp nguy hiểm. Tôi nhận thấy lứa tuổi 5-6 tuổi trẻ rất hiếu
động thích khám phá, trẻ bắt đầu ý thức về những khả năng của chính mình
nảy sinh nguyện vọng được độc lập. Nhu cầu này rất lớn, trẻ muốn tách ra khỏi
người khác, muốn tự mình làm nhiều thứ để chứng tỏ làm mình đúng làm
được. Đây động lực thúc đẩy trẻ phát triển trưởng thành. Mặt khác, trẻ 5
tuổi năng nhận biết phòng tránh các nguy không an toàn còn kém nên
khả năng gặp phải những nguy cơ không an toàn là rất cao.
một giáo viên trẻ tuy đã vào nghề được 5 năm nhưng tôi nhận thấy
kiến thức của mình về việc giáo dục trẻ nhận biết các nguy không an toàn
chưa nhiều. Trẻ lớp tôi đa số được bố mẹ nuông chiều nên những kỹ năng về
nhận biết những nguy không an toàn còn hạn chế. Chính thế năm học
2020-2021i đã lựa chọn đề tài: “Kinh nghiệm giáo dục trẻ mẫu giáo lớn 4-5
tuổi trong trường mầm non nhận biết phòng tránh các nguy không an
toàn” làm sáng kiến của mình và đã triển khai đạt hiệu quả cao.
*Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2020 đến tháng 5/2021
*Đối tượng nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi tại trường mầm non
nơi tôi công tác.
* Phạm vi nghiên cứu: Đưa ra một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo
lớn 4-5 tuổi nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn đạt hiệu quả tại
trường mầm non nơi tôi công tác.
* Phạm vi ứng dụng: Với đề tài này thể áp dụng cho trẻ 4-5 tuổi tất
cả các trường mầm non trên toàn thành phố Hà Nội
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Các nguy không an toàn những yếu tố tiềm ẩn không phải trẻ
nhỏ nào cũng thể nhận ra biết hết về chúng. Chỉ thông qua các hoạt động
giáo dục, trẻ mới được nh thành khả năng nhận biết phòng tránh. Tuy
nhiên, việc giáo dục trẻ nhận biết phòng tránh các nguy này những
quan điểm khác nhau. Đa số bố mẹ trẻ đều chung một quan điểm đó yêu
cầu hay cấm trẻ không lại gần sử dụng các đồ vật thể gây nguy hiểm. Từ
quan điểm y, tôi thấy rất nhiều gia đình đưa ra những quy định ngăn cấm trẻ,
ví dụ như: không cho phép con em mình lại gần bếp, không cầm và sử dụng dao,
kéo hay tự ý rót nước để uống, không được vào nhà vệ sinh một mình…vậy
tôi nhận thấy cần phải đưa ra một số nội dung giáo dục trẻ nhận biết phòng
tránh một số nguy cơ không an toàn. Thay vì cấm đoán trẻ ta nên dạy trẻ cách sử
dụng như thế nào để đảm bảo an toàn nhất cho trẻ.
Thực tế cho thấy rằng trẻ em nhận thức thế giới không chỉ bằng việc nghe
những lời giảng giải mà trẻ học thông qua quá trình chúng hoạt động. Thông qua
hoạt động, trẻ tìm hiểu về thế giới xung quanh, với mỗi kinh nghiệm mới, nhận
thức của trẻ mở mang thêm và chúng hiểu thêm về thế giới quanh mình từ đó
cách hoạt động phù hợp. Hoạt động luôn mục đích cụ thể và gắn với đối
tượng, phương tiện nào đó. Vấn đề giáo dục trẻ nhận biết phòng tránh nguy
không an toàn cho trẻ một vấn đđang được ngành Giáo dục mầm non rất
quan tâm. Với cương vị của một người giáo viên mầm non, tôi nhận thấy việc
trang bị cho trẻ những kiến thức cơ bản về cách nhận biết và phòng tránh một số
nguy không an toàn cho trẻ một điều rất cần thiết. Từ đó trẻ sẽ thái độ
và cách ứng xử đúng đắn khi gặp các nguy cơ không an toàn với bản thân.
Giáo dục nhận biết phòng tránh nguy không an toàn cho tr nên mọi
lúc, mọi nơi, không những trường cả nhà. Tôi đã tiến hành giáo dục trẻ
tham khảo rất nhiều ý kiến, chia sẻ của bạn đồng nghiệp từ đó tôi đã đưa
ra một số biện pháp để áp dụng vào thực hiện đề tài. Với những biện pháp đó tôi
nhận thấy học sinh của tôi đã kiến thức bản ban đầu về cách nhận biết
phòng tránh nguy cơ không an toàn.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Đặc điểm chung
Trường 1 điểm trường nằm tại thôn Ngọc Hồi, sở vật chất khang
trang sạch sẽ, nhà trường được công nhận trường chuẩn quốc gia mức độ I.
- Trong năm học 2020-2021 tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo lớn
B2.
Lớp tôi có 41 học sinh trong đó 22 trẻ nam và 19 trẻ nữ
- Lớp có 3 cô phụ trách các cô đều có trình độ trên chuẩn.
- 80% phụ huynh làm nông nghiệp, buôn bán; 20% phụ huynh làm công
nhân viên chức.
Từ thực tế, tôi nhận thấy rằng sẽ phải gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
2. Thuận lợi:
- Nhà trường sở vật chất khang trang, đầy đủ đồ dùng đồ chơi
các phương tiện hiện đại đáp ứng yêu cầu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện
nay.
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm động viên tạo điều kiện cho giáo
viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ tạo mọi điều kiện về sở vật
chất. Tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia bồi tập huấn chuyên môn,
nghiệp vụ, cung cấp cho giáo viên đầy đủ các tài liệu tham khảo để giúp giáo
viên nâng cao hiểu biết và nghiệp vụ tay nghề.
- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên kiểm tra đánh giái trường
an toàn cho trẻ dựa trên những tiêu chí cụ thể trong bảng kiểm tra an toàn cho
trẻ trong trường mầm non. Đầum học, ban giám hiệu kết hợp cùng nhân viên
y tế tổ chức cho giáo viên tập huấn về công tác đảm bảo an toàn, phòng tránh tai
nạn thương tích cho trẻ.
- Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình trong công tác,
có sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi.
- Đa số phụ huynh quan tâm đến các hoạt động của cô và trẻ, thường xuyên
trao đổi với giáo viên về tình hình của các con tại gia đình, nhiệt tình tham gia
ủng hộ lớp và trường trong các đợt vận động tuyên truyền.
- Cơ sở vật chất của lớp có đồ dùng cho trẻ tham gia hoạt động.
- Lớp được nhà trường giao làm điểm về chuyên đlồng ghép giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ .
3. Khó khăn
- Một số học sinh yếu hay nghỉ học nên nhiều khó khăn trong việc
cung cấp kiến thức kịp thời cho trẻ.
- Đa số phụ huynh làm nông nghiệp, đi chợ bán hàng bị ảnh hưởng nếp
sống nông thôn còn để trẻ tự do, phụ huynh chủ yếu quan tâm đến chế độ dinh
dưỡng cho trẻ chưa quan tâm rèn kỹ năng sống cho trẻ, chưa chú trọng phối
kết hợp với giáo viên trong việc giáo dục trẻ nhận biết phòng tránh các nguy
cơ không an toàn” .
Qua khảo sát trẻ trong lớp đầu năm (Phụ lục 1) cho thấy:
- 48% trẻ chưa có kỹ năng sử dụng những đồ dùng an toàn.
- 36% trẻ hiểu biết về phòng tránh nguy cơ không an toàn.
- 32% trẻ nhận biết và sử lý các tình huống nguy cơ không an toàn.