MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
ầ ủ ờ ố ơ ả ế ầ ườ Giao ti p là nhu c u c b n trong đ i s ng tinh th n c a con ng i. Nh ờ
ế ỗ ườ ệ ậ ố ộ ổ giao ti p, m i ng i gia nh p vào các m i quan h xã h i , t ng hoà các
ộ ạ ệ ả ấ ườ ộ ề quan h xã h i t o thành b n ch t con ng ộ i, lĩnh h i n n văn hoá xã h i
ứ ộ ọ ạ t o thành tâm lí, ý th c, nhân cách. Dân gian có câu: Đi m t ngày đàng, h c
ự ệ ộ ố ộ m t sàng khôn. Càng tích c c tham gia vào các m i quan h xã h i, quan h ệ
ế ườ ượ ữ giao ti p phong phú bao nhiêu con ng ế i càng ti p thu đ c nh ng giá tr ị
ấ ầ ấ ớ ậ v t ch t, tinh th n to l n b y nhiêu.
Đối với trẻ em, giao tiếp có vai trò quan trọng giúp trẻ có thêm
những kiến thức về thế giới xung quanh, phong tục, tập quán, văn
hoá của dân tộc. Từ đó trẻ sẽ áp dụng vào cuộc sống một cách có
hiệu quả, phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Có rất nhiều con đường
rèn luyện, hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhưng
con đường gần nhất đó là thông qua hoạt động vui chơi. Có thể nói trò
chơi và tuổi thơ chính là hai người bạn thân thiết không thể tách rời
nhau được. Chơi là hoạt động tự nhiên trong cuộc sống của mỗi
người, nó là một thiên tính của tuổi thơ nên nó đặc biệt quan trọng đối
với sự phát triển của trẻ em. Không chơi trẻ chỉ tồn tại chứ không phải
là đang sống, không chơi trẻ không thể phát triển.. Nhà văn hào lỗi lạc
người Nga Maxim Gorki đã từng nói: “Trò chơi là con đường dẫn trẻ
em đến chỗ nhận thức được cái thế giới mà ở trong đó các em đang
sống, cái thế giới mà các em có sứ mệnh phải cải tạo”.
Trò chơi giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp, hình thành nhân cách,
trí lực để trẻ hòa nhập vào cuộc sống với mọi người xung
quanh.Thông qua trò chơi giúp trẻ phát triển các giác quan, hoàn thiện
chức năng tâm sinh lý hình thành nhân cách.
1
2
Thực tiễn hiện nay, việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 -
6 tuổi vẫn còn nhiều hạn chế; giáo viên chưa có nhiều biện pháp giáo
dục phù hợp, các hình thức tổ chức chưa thực sự phong phú. Mặt
khác, hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc về việc
hình thành kỹ năng giao tiếp thông qua hoạt động vui chơi của trẻ, đặc
biệt là trẻ 5 – 6 tuổi.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thực
trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
hoạt động vui chơi ở Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố Đồng
Hới, tỉnh Quảng Bình”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường Mầm
non Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, từ đó đề xuất
một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi ở
Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
thông qua hoạt động vui chơi.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Giáo viên Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới,
tỉnh Quảng Bình.
- Trẻ 5 – 6 tuổi Trường Mầm Non Đồng Sơn, thành phố Đồng
Hới, tỉnh Quảng Bình.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức các hoạt động vui chơi phù hợp với đặc điểm của
trẻ 5 - 6 tuổi thì sẽ giúp trẻ có cơ hội để hình thành và rèn luyện các kỹ
2
năng giao tiếp, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nhiệm vụ chính:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến việc hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi ở Trường Mầm non Đồng Sơn, thành
phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
- Đề xuất một số biện pháp tác động góp phần hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài, bao
gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa và khái
quát hóa vấn đề lý luận về việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5
– 6 tuổi.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Khảo sát, đánh giá nhận thức của giáo viên về thực trạng hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động vui chơi ở
trường mầm non. Những yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp mà giáo
viên đã sử dụng để hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi.
6.2.2. Phương pháp quan sát
Trực tiếp quan sát các hoạt động của trẻ và giáo viên tại địa bàn
khảo sát. Sử dụng phiếu quan sát để thu thập những thông tin phục vụ
mục đích nghiên cứu của đề tài.
6.2.3. Phương pháp đàm thoại
3
4
Trực tiếp trao đổi với giáo viên và trẻ nhằm chính xác hóa những
thông tin thu được từ các phương pháp nghiên cứu khác.
6.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Nhằm thu thập ý kiến đóng góp của các nhà chuyên môn có kinh
nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu.
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Thông qua các số liệu, thông tin thu thập được, tiến hành xử lý
số liệu qua đó rút ra những kết luận để đánh giá các giả thuyết, nhận
định về việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi và nhằm
khẳng định độ tin cậy, tính thuyết phục của đề tài.
7. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu: Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố
Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
+ Giáo viên: 25 giáo viên.
+ Nhóm trẻ 5 - 6 tuổi: 40 trẻ
* Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu nghiên cứu từ tháng 12/2015
đến tháng 4/2016.
8. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và làm rõ thực trạng
hình thành kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui
chơi, xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
9. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm có 3 chương không kể mở đầu, kiến nghị và kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu
giáo thông qua hoạt động vui chơi.
Chương 2: Thực trạng việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi ở Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
4
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
5
6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CỦA TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở nước ngoài
ừ ề ế ượ ế ọ c các nhà tri ộ ọ ọ t h c, tâm lý h c, xã h i h c
ấ T lâu, v n đ giao ti p đ quan tâm.
Giữa thế kỉ XIX, trong bản thảo Kinh tế - Triết học 1884, Các
Mác (1818 - 1883) khi bàn về nhu cầu xã hội giữa người với người
trong hoạt động xã hội và tiêu dùng, xã hội loài người phải giao tiếp
thực sự với nhau. Các Mác viết: "Cảm giác và sự hưởng thụ của
những người khác cũng trở thành sở hữu của bản thân tôi. Cho nên
ngoài vũ khí quan trực tiếp ấy hình thành những khí quan xã hội, dưới
hình thức xã hội. Chẳng hạn như giao tiếp với người khác đã trở thành
khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong những phương thức
chiếm hữu sinh hoạt của con người. Hơn thế nữa thông qua giao tiếp
với người khác mà có thái độ với chính bản thân mình, mỗi người tự
soi mình". Mác chỉ ra rằng, trong sản xuất vật chất và tái xuất con
người, buộc con người phải giao tiếp trực tiếp với nhau. Con người
chỉ trở thành người khi có những quan hệ hiện thực với những người
khác, và giao tiếp trực tiếp với những người khác.
Đến thế kỉ XX, Gmít (1863-1931) đã đưa ra thuyết qua lại tượng
trưng, ông khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con
người, hay như ta thường nói, con người chỉ tồn tại trong xã hội là
người trong cộng đồng người.
Những công trình nghiên cứu về giao tiếp của trẻ như: M.I. Lixina
với “Nguồn gốc của những hình thức giao tiếp của trẻ em”, A.V.
Daparogiet và M.I. Lixina nghiên cứu “Sự phát triển giao tiếp của trẻ
6
mẫu giáo”, A.Ruskaia với “Phát triển giao tiếp của trẻ với người lớn và
bạn cùng tuổi”….
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối
những năm 1970 đến những năm 1980. Phạm Minh Hạc định nghĩa:
“Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa
người ta với nhau”
Nhóm các công trình nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm có
thể kể tới là: Hoàng Anh “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”,
Nguyễn Thạc - Hoàng Anh với cuốn “Luyện giao tiếp sư phạm” - Đại
học Sư phạm - 1998, Ngô Công Hoàn - Hoàng Anh “Giao tiếp sư
phạm”, Trần Duy Hưng đã bàn tới kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh
viên, Ứng xử sư phạm (Trịnh Trúc Lâm).
Một số công trình nghiên cứu về giao tiếp cho trẻ mầm non cụ
thể như: TS Hoàng Thị Phương “Nghiên cứu về hành vi giao tiếp của trẻ
5 – 6 tuổi”, Trần Trọng Thủy “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của
trẻ”, Ngô Công Hoan “Giao tiếp và ứng xử giữa cô giáo với trẻ”, Nguyễn
Văn Lũy – Trần Thị Tuyết Hoa với “Giao tiếp với trẻ em”,Vũ Thị Ngân –
Lê Xuân Hồng (biên dịch) “Những vấn đề giao tiếp của trẻ ở trường
mầm non” …..
Như vậy qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong
và ngoài nước, chúng ta có thể khẳng định được sự cần thiết của việc hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non thông qua
hoạt động vui chơi.
1.2. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu
giáo
1.2.1. Khái niệm giao tiếp
Có rất nhiều những khái niệm về giao tiếp .
7
8
Giao tiếp là một quá trình tác động qua lại giữa các nhân cách
cụ thể. Giao tiếp chỉ được thực hiện trong môi trường xã hội. Trong
giao tiếp con người bộc lộ thái độ với người khác và chính mình. Nhờ
đó các nhà trị liệu tâm lý mới chuẩn đoán được các bệnh nhân một
cách khác nhau rồi kết hợp với các phương pháp khác để trị liệu. (V.N.
Miaxixev, 1960).
Giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành quan hệ giữa người với
người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người với nhau (TS.
Phạm Minh Hạc, 1998).
Theo từ điển tiếng việt, giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp.
Nhưng chúng tôi đồng tình với quan điểm theo Tâm lý học : giao
tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người, thông qua đó con người
trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau và ảnh
hưởng tác động qua lại lẫn nhau. Hay nói khác đi giao tiếp là sự xác
lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan
hệ xã hội giữa chủ thể này và chủ thể khác.
1.2.2. Vai trò giao tiếp đối với quá trình phát triển tâm lý của
trẻ
Nhờ có giao tiếp mà trẻ tham gia vào các mối quan hệ xã hội,
tiếp thu những kinh nghiệm xã hội – lịch sử chuyển thành những kinh
ngiệm của bản thân.
Thông qua giao tiếp trẻ đối chiếu, so sánh hành vi, thái độ của
mình, từ đó có phương pháp điều chỉnh phù hợp.
1.2.3. Kỹ năng giao tiếp
1.2.3.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Có nhiều trường phái định nghĩa khác nhau về kỹ năng giao tiếp,
trong đó Tâm lý học định nghĩa: Kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận
thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm
8
lý bên trong của đối tượng và bản thân của chủ thể giao tiếp, là khả
năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết
cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao
tiếp.
Kỹ năng giao tiếp của cá nhân với đối tượng giao tiếp là sự thể
hiện các thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi, thông qua ngôn ngữ hoặc
phi ngôn ngữ.
1.2.3.2. Các nhóm kỹ năng giao tiếp
Bao gồm có 3 nhóm:
Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp: Được biểu hiện ở khả năng
dựa vào sự biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ,
động tác, thời điểm và không gian giao tiếp để phán đoán chính xác
về nhân cách cũng như mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng giao
tiếp.
Nhóm kỹ năng này còn được phân chia nhỏ hơn thành những kỹ
năng sau: Đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói; kỹ năng
chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của
nhân cách và kỹ năng định hướng (gồm định hướng trước khi tiếp xúc
và định hướng trong quá trình tiếp xúc với đối tượng giao tiếp).
Kỹ năng định vị: Thực chất đó là khả năng xây dựng mô hình
tâm lý, phác thảo chân dung nhân cách đối tượng giao tiếp đạt mức
độ chính xác và tương đối ổn định dựa trên hoạt động nhận thức tích
cực.
Kỹ năng định vị là khả năng biết xác định vị trí trong giao tiếp,
biết đặt vị trí của mình vào vị trí của đối tượng để có thể vui, buồn với
niềm vui, nỗi buồn của họ và biết tạo ra điều kiện để đối tượng chủ
động giao tiếp với mình.
Nhóm kỹ năng điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp: Việc
điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp diễn ra rất phức tạp, sinh
9
10 động, bởi lẽ có rất nhiều thành phần tâm lý tham gia, trước hết là hoạt
động nhận thức, tiếp theo là thái độ rồi đến hành vi ứng xử. Sự phối
hợp hoạt động của ba thành phần này cần phải nhịp nhàng, hợp lý.
Để điều khiển, điều chỉnh mình và đối tượng giao tiếp, trước hết phải
có khả năng tìm ra đề tài giao tiếp, duy trì nó, xác định được nguyện
vọng, hứng thú của đối tượng, chủ thể giao tiếp có khả năng làm chủ
trạng thái cảm xúc của bản thân, biết sử dụng toàn bộ các phương
tiện giao tiếp.
1.2.3.3. Kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo
* Khái niệm kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo
Kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo là khả năng trẻ sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (ánh mắt, nụ cười...) là sự thể
hiện các thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi, thông qua ngôn ngữ hoặc
phi ngôn ngữ.
* Con đường hình thành kỹ năng giao tiếp
Theo tâm lý học hoạt động, tâm lý người có bản chất là hoạt
động. Nói cách khác, tâm lý, ý thức (trong đó có kỹ năng) được nảy
sinh, hình thành và phát triển trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt
động. Vì vậy, quan niệm về kỹ năng giao tiếp phải coi chúng như là
“các đặc điểm của hành động” và có quan hệ với hành động, hoạt
động của con người.
Khi xem xét giao tiếp dưới dạng hoạt động giao tiếp thì việc hình
thành kỹ năng giao tiếp sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: đặc
điểm khí chất với chức năng của hệ thần kinh não bộ; sự hoạt động
tích cực của cá nhân và môi trường, trong đó môi trường nhà trường
có vai trò kích thích sự hứng thú sinh viên tích cực tham gia các hình
thức hoạt động khác nhau nhằm phát huy và hình thành kỹ năng giao
tiếp. Những yếu tố này tác động qua lại đến việc hình thành kỹ năng
giao tiếp tốt hơn.
10
Để có kỹ năng giao tiếp thì chủ thể phải có những hành động
giao tiếp. Trong quá trình hành động, chủ thể tham gia các quá trình giao
tiếp, các mối quan hệ, thực hiện những hành động nhằm giải quyết các
vấn đề của mình.
1.2.4. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi
1.2.4.1. Hoạt động nhận thức
Do sự tăng trưởng đáng kể về thể chất, sự phong phú về đời
sống xã hội cũng như hoạt động, trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) đã đạt
được mức độ phát triển phong phú về nhiều mặt của các chức năng tâm
lý như: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ,
ý chí, xúc cảm, tình cảm…
* Cảm giác, tri giác
Những thuộc tính và quan hệ bên ngoài của sự vật hiện tượng
được trẻ tiếp nhận chính xác hơn, giúp cho việc định hướng vào thế
giới xung quanh thuận lợi hơn. Đối với trẻ mẫu giáo lớn, trẻ có thể
phân phối chú ý vào 2 – 3 đối tượng cùng một lúc. Tuy nhiên, thời gian
phân phối chú ý chưa bền vững.
Sự phân tán chú ý của trẻ trong giai đoạn này còn thể hiện mạnh
mẽ. Nhiều khi trẻ không tự chủ được. Do đó giáo viên cần thay đổi đồ
chơi, trò chơi hấp dẫn hơn. Cần tập luyện các phẩm chất chú ý cho trẻ
em qua các trò chơi và các tiết học.
* Tư duy
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ
mẫu giáo lớn cho nên bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan hình
tượng mới đó là tư duy trực quan – sơ đồ. Tư duy trực quan – sơ đồ
là yếu tố đầu tiên làm bước đệm để phát triển tư duy cao hơn.
* Tưởng tượng
11
12
Các hoạt động tưởng tượng đã dần dần tách khỏi đồ vật hiện
có, nội dung tưởng tượng nhiều hơn so với trẻ mẫu giáo nhỡ vì trẻ đã có
sự tiếp xúc nhiều hơn với thế giới bên ngoài.
Cuối tuổi mẫu giáo trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ được phát
triển khá mạnh với sự hỗ trợ đắc lực của tri giác. Nếu trẻ có khả năng
quan sát tốt sự vật và hiện tượng xung quanh thì quá trình tưởng
tượng nhất là tưởng tượng sáng tạo như: vẽ, nặn, chơi xây dựng... sẽ
phát triển thuận lợi, bởi tri giác là nguồn cung cấp chất liệu cho hoạt
động của trí tưởng tượng sáng tạo.
* Chú ý
Chú ý không chủ định chiếm ưu thế. Chú ý có chủ định đang
được phát triển do trẻ đã xác định đối tượng cần chú ý, biết đặt ra
mục đích cho sự chú ý của mình, biết hướng ý thức của mình vào đối
tượng để phục vụ cho mục đích của hoạt động. Khả năng phân phối,
sức tập trung, sự di chuyển… của chú ý đều tăng lên đặc biệt là đối
với những đối tượng hấp dẫn, sinh động.
* Trí nhớ
Đặc trưng trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan, máy móc
và không chủ định. Tuy nhiên, vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ
có một bước biến đổi về chất đó là trí nhớ có chủ định xuất hiện và phát
triển. Ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển trí
nhớ chủ định của trẻ 5 – 6 tuổi, nhờ đó mà trẻ nắm được tên và hiểu
được ý nghĩa của sự vật, hiện tượng cần nhớ, mục đích và tìm phương
tiện giúp ghi nhớ và nhớ lại những điều cần nhớ.
* Ngôn ngữ
Ở giai đoạn lứa tuổi này sự phát triển ngôn ngữ diễn ra với tốc
độ nhanh cả về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ điệu, vốn từ, cấu trúc ngữ
pháp… Hầu hết, trẻ đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh
hoạt hằng ngày để giao tiếp. Khả năng ngôn ngữ của trẻ liên quan
12
chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ và những trải nghiệm của trẻ. Vốn từ
của trẻ phong phú, ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện làm cho tư duy
của trẻ phát triển lên một bước mới, đó là sự nảy sinh các yếu tố của
tư duy lôgic, nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển tâm lý nói chung và tư
duy của trẻ nói riêng được nâng lên một trình độ mới cao hơn.
Tuy nhiên, khả năng ngôn ngữ của từng cá nhân ở độ tuổi này
vẫn còn có sự khác biệt lớn về mức độ phong phú của từ, về cách
diễn đạt lệch lạc, nói đúng ngữ pháp và thể hiện lời nói đúng với hoàn
cảnh giao tiếp. Vì vậy cô giáo cần chú ý cung cấp vốn từ và tích cực
hóa vốn từ cho trẻ.
* Ý chí
Do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi và được người lớn
giao cho nhiều việc nhỏ, vì vậy mà trẻ đã xác định được mục đích của
hành động, dần dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự cố gắng
hoàn thành nhiệm vụ. Khả năng kiểm soát, điều khiển, điều chỉnh
hành vi của trẻ tốt hơn so với lứa tuổi trước. Tính kế hoạch cũng bắt
đầu xuất hiện, tinh thần trách nhiệm, bổn phận… được hình thành và
trẻ được ý thức từng bước một.
* Xúc cảm, tình cảm
Đối với trẻ 5 - 6 tuổi thì xúc cảm, tình cảm khá đa dạng, phong
phú, ổn định và sâu sắc hơn: Các sắc thái tình cảm được biểu hiện đa
dạng hơn với nhiều đối tượng khác nhau theo mức độ phong phú,
phức tạp tăng dần của các mối quan hệ giao tiếp (với người thân,
người lạ, cô giáo…). Tuy, tình cảm có ổn định hơn so với trẻ 4 – 5 tuổi
nhưng đặc tính chung vẫn là dễ hình thành, dễ thay đổi, dễ giao động
và mang tính tình huống. Các loại tình cảm cấp cao (tình cảm trí tuệ,
tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ…) đều phát triển.
1.2.5. Đặc điểm giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi
13
14
Đối với trẻ từ 5 - 6 tuổi, trẻ đã biểu hiện rõ tính độc lập tự chủ
các hoạt động vui chơi và giao tiếp với mọi người. Do vậy, trong giao
tiếp với bạn bè, nhất là với trẻ nhỏ hơn mình, trẻ đã biết giúp đỡ,
nhường nhịn thậm chí còn chăm sóc em bé khi người lớn giao việc.
Trẻ có thể vận dụng ngôn ngữ để biểu lộ tình cảm, thái độ, mong
muốn hoặc diễn đạt cách nghĩ của mình.
Trẻ thích giao tiếp với các bạn khác, và tham gia các hoạt động tập
thể. Trong quá trình giao tiếp, chúng thường biểu lộ nhu cầu tự khẳng
định và có năng lực ảnh hưởng đến bạn. Ví dụ như: có thể chủ động
phân vai cho bạn, có thể giải thích rõ ràng luật chơi…
Trẻ biết lắng nghe người khác nói chuyện, có khả năng hiểu
được nội dung giao tiếp.
Trẻ dễ dàng thiết lập quan hệ giao tiếp với mọi người không
phân biệt tuổi tác, địa vị xã hội, kinh tế (thiết lập quan hệ giao tiếp rất
hồn nhiên, vô tư không để ý đến xuất thân của đối tượng giao tiếp)
Trẻ chủ động trong giao tiếp, chủ động gợi chuyện, đặt ra các
câu hỏi, tích cực tham gia vào đàm thoại.
Trẻ có mong muốn hiểu biết về người lớn, muốn chia sẻ cảm
thông với người lớn (đặt ra các câu hỏi về hoạt động và mối quan hệ
của người lớn, thay đổi ý kiến để mong nhận được sự hài lòng của
người lớn) sẵn sàng giúp đỡ người lớn và bạn khi được đề nghị hoặc
chủ động đề nghị để được giúp đỡ.
Trẻ cố gắng cư xử tốt với người, biết nhường nhịn lẫn nhau (cố
gắng không tranh giành đồ chơi, nhường nhịn khi tranh luận), có
lòng vị tha, độ lượng với bạn (sẵn sàng tha thứ cho bạn khi bạn đã
biết nhận lỗi)…
Khi có lỗi, trẻ biết thật thà nhận lỗi; không nói dối, biết giữ lời
hứa với người lớn và bạn.
14
Mặc dù có những hạn chế của độ tuổi nhưng các kỹ năng giao
tiếp đã được hình thành ở trẻ. Điều này thể hiện như sau:
- Kỹ năng cư xử lịch sự trong giao tiếp được thể hiện qua cách
sử dụng các phương tiện giao tiếp ở trẻ: Biết nói câu đầy đủ, nói theo
mô hình câu thông dụng kiểu “Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ”; biết sử
dụng một số danh từ chỉ quan hệ theo tuổi tác để xưng hô: Mẹ - con,
bà – cháu, anh – em, cô – cháu, tôi – bạn; biết sử dụng một số từ lễ
độ trong giao tiếp: “cảm ơn”, “xin lỗi”, “xin phép”, “thưa”, “vâng”, “ạ”…;
biết phát âm đúng, rõ ràng nhưng cách phát âm chưa thật ổn định và
chính xác, nhất là khi sử dụng các nguyên âm đôi, các thành điệu
“ngã”, “sắc”; bước đầu biết sử dụng các kiểu ngữ điệu (tường thuật,
nghi vấn, cảm thán) để diễn đạt mục đích giao tiếp; để sử dụng các cử
chỉ điệu bộ và tư thế để thể hiện, mục đích, nội dung giao tiếp.
- Kỹ năng cư xử khéo léo: Để ý đến các quy tắc giao tiếp xã hội:
biết khởi đầu, đón nhận, kết thúc giao tiếp, biết tính chất lần lượt trong
giao tiếp; Chú ý đến mức độ quan hệ trong giao tiếp: quan hệ theo tuổi
tác, quan hệ theo họ hàng.
- Kỹ năng nhận biết: Bước đầu có khả năng nhận biết tình cảm,
thái độ của đối tượng giao tiếp qua các phương tiện biểu cảm như
giọng điệu, ánh mắt, nét mặt, cử động của tay… để thể hiện thái độ
tình cảm của bản thân.
1.3. Lí luận về hoạt động vui chơi của trẻ 5 – 6 tuổi
1.3.1. Khái niệm về hoạt động vui chơi
Vui chơi là một thiên tính, một bản năng, một nhu cầu tự nhiên
của con người như hít thở không khí, ăn cơm, uống nước...
Hoạt động vui chơi là một hoạt động trong các loại hình hoạt
động cơ bản của trẻ ở trường mầm non - là hoạt động mà động cơ của
nó nằm trong quá trình chơi chứ không nằm trong kết quả của hoạt
động. Khi chơi đứa trẻ không chủ tâm vào một lợi ích thiết thực nào
15
16 cả. Trong trò chơi các loại mối quan hệ giữa con người tự nhiên và xã
hội được mô phỏng lại, chơi mang lại cho trẻ một trạng thái tinh thần
vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu.Chơi được người lớn tổ chức hướng dẫn
nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời
giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ lứa tuổi nào.
1.3.2. Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ 5 – 6 tuổi
Hoạt động vui chơi của trẻ mang tính vô tư, trẻ chơi không chủ
tâm nhằm vào một lợi ích thiết thực, mang tính thực dụng nào cả mà
nguyên cớ thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi chính là sự hấp dẫn của
bản thân quá trình chơi. Động cơ chơi nằm trong quá trình chơi chứ
không nằm trong kết quả của hoạt động chơi. Trẻ chơi chỉ cốt cho vui
và đã chơi là phải vui.
Hoạt động vui chơi của trẻ là sự mô phỏng hoạt động của người
lớn; những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con
người với xã hội. Do đó, hoạt động này mang tính tượng trưng, khi
chơi trẻ có thể dùng các vật thay thế để tượng trưng cho người thật,
việc thật.
Hoạt động vui chơi của trẻ mang tính tự do. Tính tự do trong
hoạt động vui chơi của trẻ em thể hiện ở tính tự nguyện khi tham gia
vào trò chơi, hành động chơi của trẻ hoàn toàn xuất phát từ hứng thú
cá nhân, chứ không do một sự áp đặt nào từ phía bên ngoài.
Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động độc lập và tự
điều khiển. Chơi là một hoạt động độc lập và tự chủ đầu tiên của trẻ
em. Trong khi chơi, trẻ cố làm lấy mọi việc (tự chọn đồ chơi, đồ chơi,
bạn chơi), cố gắng suy nghĩ để khắc phục trở ngại xuất hiện trong quá
trình chơi.
Hoạt động vui chơi của trẻ mang màu sắc xúc cảm chân thực
mạnh mẽ. Trò chơi tác động mạnh mẽ và toàn diện đến trẻ em chính
là vì nó thâm nhập một cách dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm, mà
16
tình cảm đối với trẻ em lại là động cơ thúc đẩy hành động mạnh mẽ
nhất.
1.3.3. Các loại trò chơi của trẻ mẫu giáo
Ở nước ta, trong những năm 60, trò chơi của trẻ mẫu giáo được
phân thành hai nhóm:
+ Nhóm 1: Trò chơi phản ánh sinh hoạt.
+ Nhóm 2: Trò chơi vận động
Trong những năm 70, sự phân loại trò chơi của trẻ mẫu giáo
chưa được thống nhất. Các nhà giáo dục được học và tiếp cận với
qua điểm phân loại của nước nào thì đứng về quan điểm phân loại
của nước đó.
Từ những năm 80 trở lại đây, trong các trường mầm non ở nước
ta vận dụng cách phân loại trò chơi theo quan điểm Liên Xô (cũ). Theo
quan điểm này, trò chơi của trẻ mẫu giáo được phân thành hai nhóm
chính:
+ Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo bao gồm:
Trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi lắp ghép – xây dựng
Trò chơi đóng kịch
+ Nhóm trò chơi có luật bao gồm:
Trò chơi học tập
Trò chơi lao động
Với đề tài nghiên cứu thì chúng tôi đi sâu tìm hiểu bốn loại trò
chơi sau:
* Trò chơi theo chủ đề.
Trò chơi theo chủ đề bao gồm:
- Trò chơi sắm vai: Trẻ em bắt chước người lớn, lặp lại trong trò
chơi những hành động của người lớn. Hoặc bắt chước động vật và
lặp lại những hành động của động vật đã được nhân cách hóa. Trong
17
18 khi chơi trẻ em có thể sử dụng hoặc không sử dụng đồ chơi. Nhờ có
trò chơi sắm vai, trẻ em được nhập vai các nhân vật khác nhau với
các mối quan hệ khác nhau. Nhờ vậy các em có thể:
+ Dần dần làm quen với những sinh hoạt, những hoạt động lao
động của
người lớn mà sau này các em sẽ tham gia khi trưởng thành.
+ Bồi dưỡng được nhiều phẩm chất, phản ánh quan hệ ứng xữ
đúng đắn với những người xung quanh (ứng xữ của cha mẹ với con
cái, ứng xữ của bác sĩ với bệnh nhân…).
+ Bồi dưỡng được hứng thú và có thể hình thành những ước
mơ muốn trở thành những người làm nghề gì đó trong tương lai…
- Trò chơi đạo diễn: Trẻ em không sắm vai nhưng tiến hành chơi với
những trò chơi theo chủ đề nhất định trong đó, các em đóng vai trò
“đạo diễn” chỉ đạo, điều khiển các trò chơi với tư cách là các “nhân
vật”. Trò chơi “đạo diễn” được tổ chức thường thường theo nhóm. Mỗi
trẻ em điều khiển những đồ chơi nào đó nhưng cùng thống nhất theo
chủ đề chung.
Trò chơi này có tác dụng giúp trẻ phát triển óc tưởng tượng.
* Trò chơi đóng kịch: Trẻ em đóng kịch dựa trên một tác phẩm
văn học nào đó.
Qua đóng kịch các em sẽ có cơ hội:
+ Phát triển ngôn ngữ hình tượng.
+ Phát triển óc thẩm mĩ.
+ Thể nghiệm được những thái độ, hành vi đẹp một cách sâu sắc
qua nhập vai thành công.
* Trò chơi vận động:
Trò chơi vận động đôi khi còn được gọi là trò chơi thể thao vận
động. Trong trò chơi vận động, trẻ em bắt chước sự vận động của
người lớn, của tàu, xe… tiến hành chạy, nhảy…
18
Trò chơi vận động nếu được tổ chức một cách khoa học thì giúp
cho các em:
+ Phát triển thể lực.
+ Rèn luyện ý chí, tính kiên trì, nhẫn nại, tính quả quyết.
+ Tinh thần đồng đội.
* Trò chơi học tập. Trò chơi học tập là một trong những phương
tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ em. Nó giúp cho trẻ:
+ Phát triển những kĩ năng về thị giác, thính giác, xúc giác…
+ Chính xác hóa những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng xung
quanh.
+ Phát triển trí thông minh, sự nhanh trí, ngôn ngữ…
1.3.4. Ý nghĩa hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của
trẻ
1.3.4.1. Chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em
* Chơi là phương tiện giáo dục phát triển trí tuệ cho trẻ em
Chơi là phương tiện mở rộng, củng cố chính xác hóa những
biểu tượng, phản ánh của trẻ về cuộc sống xung quanh. Tất cả
những điều trẻ lĩnh hội được trước lúc chơi dưới nhiều hình thức hoạt
động khác nhau sẽ được chính xác hơn, phong phú hơn. Ví dụ: Trẻ có
biểu tượng chính xác hơn về chức năng sử dụng một số đồ dùng sinh
hoạt quen thuộc: cái thìa để xúc cơm; cái cốc để uống nước; bế em
phải bế như thế nào...
Chơi là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội tri thức mới. Khi tham gia
chơi, dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ khám phá ra nhiều điều
mới lạ, thú vị ở thế giới xung quanh. Trong quá trình thực hiện các hành
động chơi, thao tác chơi, trẻ nhận ra được một vài thuộc tính, mối quan hệ
nào đó của sự vật hiện tượng.
Trò chơi là phương tiện phát triển các quá trình tâm lý nhận thức
của trẻ. Chơi không chỉ là phương tiện củng cố, mở rộng, chính xác
19
20 hóa các biểu tượng đã có, cung cấp tri thức mới cho trẻ mà còn là
phương tiện phát triển các quá trình tâm lý, nhận thức cho trẻ như:
cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ.
Khi tham gia vào trò chơi, trí tưởng tượng của trẻ được phát
triển mạnh mẽ. Trong quá trình chơi, trẻ học thay thế đồ vật này bằng
đồ vật khác; nhận đóng vai này vai kia; nảy sinh hoàn cảnh tưởng
tượng;… để thực hiện hành động chơi, nội dung chơi. Đó là cơ sở
quan trọng để nảy sinh và phát triển trí tưởng tượng của trẻ.
Vui chơi còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trước
hết khi tham gia vào trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với
bạn, trao đổi ý kiến với nhau để đi đến thỏa thuận trong khi chơi; sử
dụng ngôn ngữ để suy nghĩ về thao tác, hành động chơi, thực hiện
hành động chơi, giao lưu với nhau, đánh giá lẫn nhau… Qua đó ngôn
ngữ của trẻ phát triển vốn từ phong phú, kỹ năng giao tiếp được phát
triển...
* Chơi là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ em
Trò chơi đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề ảnh hưởng
mạnh mẽ đến nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức của trẻ. Khi tham
gia vào trò chơi, đứa trẻ trải nghiệm được những thái độ, tình cảm đạo
đức và tập được hành vi ứng xử với người xung quanh bằng cách nhập
vai của mình, qua đó trẻ học làm người.
Cũng trong hoạt động vui chơi, đặc biệt là thông qua trò chơi
đóng vai theo chủ đề, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, một số phẩm
chất cao quý được hình thành ở trẻ như sự thật thà, dũng cảm, tính
chủ động, tính kiên trì, lịch sự với người lớn, quan tâm chăm sóc
người thân, nghe lời cô.
Có thể nói rằng, chơi như là một mắt xích nối liền giữa trẻ với
các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, nó giúp cho quá trình hình
20
thành các phẩm chất đạo đức diễn ra tự nhiên, hiệu quả mặc dù chơi
chỉ là giả vờ nhưng hiệu quả giáo dục lại thật và lớn lao.
* Chơi là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ em
Chơi mang lại niềm vui cho trẻ, làm cho tinh thần của trẻ được
sảng khoái – một yếu tố quan trọng để phát triển thể chất cho trẻ, vì
tinh thần sảng khoái, thỏa mãn sẽ làm cho thể lực trẻ được phát triển
tốt hơn.
Khi tham gia vào trò chơi, các cơ quan trong cơ thể được vận
động một cách tích cực, thúc đẩy sự trao đổi chất, tăng cường hô hấp
và tuần hoàn máu… góp phần tăng cường sức khỏe cho trẻ.
* Chơi là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
Chơi là hoạt động phản ánh cuộc sống của xã hội. Khi tham gia
trò chơi, trẻ cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về màu
sắc, hình dạng, kích thước, âm thanh của đồ vật, đồ chơi.
Trò chơi không những giúp trẻ cảm nhận được cái đẹp của đồ
dùng, đồ chơi, của hành động chơi, của các hành vi giao tiếp giữa
người với người, giữa con người với hiện thực; mà còn hình thành ở
trẻ nhu cầu sống theo cái đẹp, bảo vệ cái đẹp và làm ra cái đẹp.
* Chơi là phương tiện giáo dục lao động cho trẻ em
Khi tham gia trò chơi, trẻ tái tạo lại những hành động lao động
và những mối quan hệ giữa những người lớn với nhau; qua đó, thu
nhận được những biểu tượng về lao động, ý nghĩa xã hội và tính hợp
tác của nó. Đồng thời, không những tái tạo những hành động lao động
của người lớn trong trò chơi mà góp phần hình thành ở trẻ một số kỹ
năng lao động đơn giản như kỹ năng lao động tự phục vụ, kỹ năng lao
động trực nhật...
Cũng trong quá trình chơi, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ
được giáo dục một số phẩm chất đạo đức cần thiết cho người lao
21
22 động tương lai: tính mục đích, tính sáng tạo, lòng yêu lao động và
thích lao động…
Như vậy có thể nói, chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho
trẻ. Đối với trẻ thơ, chơi là cuộc sống của trẻ. Tổ chức cho trẻ chơi là
mang lại hạnh phúc cho tuổi thơ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một
cách tự nhiên nhất.
1.3.4.2. Chơi là hình thức tổ chức đời sống của trẻ ở trường
mầm non
Chơi chính là cuộc sống của trẻ thơ, tổ chức cho trẻ chơi chính
là tổ chức cuộc sống của trẻ, bởi vì:
Chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ và có mặt trong các hoạt
động khác của trẻ như hoạt động học tập, hoạt động lao động, trong giao
tiếp và sinh hoạt hằng ngày của trẻ, nó có mặt trong các hoạt động khác
của trẻ. Do vậy, việc tổ chức cho trẻ chơi vừa là nhiệm vụ, vừa là con
đường giáo dục có hiệu quả cho trẻ em.
Chơi là phương thức thỏa mãn nhu cầu được sống và được làm
việc như người lớn. Trong một giờ chơi, mỗi trò chơi phản ánh một
mảng của hiện thực đời sống xã hội: bệnh viện, trường học, cửa
hàng, công viên… mỗi trẻ có vị trí nhất định trong nhóm chơi. Trong
giờ chơi, trẻ không chỉ phối hợp với nhau trong nhóm chơi mà còn
phối hợp giữa các nhóm chơi, chính sự phối hợp giữa trẻ như vậy đã
hình thành một “xã hội trẻ em”. Trong xã hội ấy, trẻ thỏa sức hành
động, được sống trong xã hội của người lớn thu nhỏ, được làm việc,
được nó năng như người lớn…vì thế trẻ luôn là chủ thể tích cực. Ở
đây, trẻ không những tìm thấy vị trí của mình trong nhóm bạn bè mà
còn làm cho trẻ cảm thấy mình được tự do thoải mái và tự tin vào bản
thân mình hơn, chính vì vậy có thể nói “xã hội trẻ em” là hình thức đầu
tiên giúp trẻ được sống và làm việc cùng nhau, được sống cuộc sống
của người lớn.
22
1.3.5. Vai trò của hoạt động vui chơi trong việc hình thành
kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo
Trong hầu hết các trò chơi, trẻ đều cần có bạn chơi, có thể là
một, hai hay nhiều trẻ cùng chơi đùa với nhau. Điều này sẽ giúp trẻ
phát huy được tính tương tác xã hội, đồng thời cũng giúp cho bé trở
nên độc lập hơn, trẻ sẽ có khả năng giải quyết vấn đề, phát huy tính
tập trung và trí tưởng tượng. Trò chơi còn giúp cho trẻ phát triển các
kỹ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống và cho quá trình học tập ở nhà
trường.
Trò chơi là nguyên cớ thúc đẩy trẻ tìm đến nhau tập hợp lại
thành những nhóm chơi, tuy còn lỏng lẻo, lúc hợp lúc tan, phức tạp.
Chính vì vậy, dưới sự quan tâm hướng của người lớn cho trẻ biết tổ
chức nhóm chơi của mình một cách ổn thỏa, đảm bảo bầu không khí
vui vẻ, để trò chơi phát triển thuận lợi, từ đó hình thành “xã hội trẻ em”
tác động đến hình thành nhân cách của trẻ
Khi chơi trẻ sẽ dần dần ý thức được giá trị bản thân, đây là yếu
tố cực kỳ quan trọng để giúp trẻ hình thành nhân cách.
Khi trẻ chơi đùa sẽ có sự thay đổi của sóng thần kinh trong não,
các cơ quan thần kinh của trẻ sẽ được kích thích để tiếp nhận, xử lí và
gửi đi các tín hiệu. Các hoạt động này sẽ giúp cho hình thành và cố
định nhiều hơn các kết nối thần kinh, giúp gia tăng việc dẫn truyền các
tín hiệu thần kinh. Do đó, khi trẻ chơi các đồ chơi thì đó không đơn
thuần chỉ là sự giải trí mà còn giúp cho việc gia tăng trí thông minh và
sức khỏe cho trẻ, trẻ sẽ có khả năng học hỏi từ những tác động của
môi trường xung quanh.
Khi tham gia vào hoạt động vui chơi tức là bản thân trẻ đang
hoạt động, tham gia vào quá trình giao tiếp. Qua đó, giáo viên rèn
luyện các kỹ năng giao tiếp cho trẻ như: Rèn luyện năng lực tự chủ
các hành vi và cảm xúc; rèn luyện năng lực mạnh dạn, chủ động trong
23
24 các tình huống giao tiếp; rèn luyện khả năng lắng nghe và hiểu nội
dung giao tiếp; rèn luyện khả năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu; rèn luyện
kỹ năng nói và phát âm cho trẻ; khắc phục tính rụt rè trong giao tiếp và
rèn luyện kỹ năng lựa chọn từ ngữ trong giao tiếp.
Chuyên gia tâm lý tâm lý trường Đại học Yale – Tiến sĩ Dorothy
G.Singer cho rằng các yếu tố môi trường có những tác động nhất định
lên trẻ. Việc trẻ tương tác với người lớn tác động qua các trò chơi,
cũng như việc chơi với các bạn cùng trang lứa thông qua các trò chơi
là rất quan trọng trong việc phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
24
Chương 2 THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ
5 – 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON
ĐỒNG SƠN, THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Khái quát quá trình nghiên cứu
2.1.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Trường Mầm non Đồng Sơn được thành lập và nhận được sự
chỉ đạo trực tiếp của phòng GD & ĐT Đồng Hới; sự lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, Hội đồng giáo dục xã, sự quan tâm
tạo điều kiện của Uỷ ban Nhân dân, sự phối hợp các tổ chức đoàn thể
địa phương, sự đồng thuận của lực lượng phụ huynh.
Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường đoàn kết, có
tinh thần trách nhiệm cao với công việc được giao, có ý thức học tập,
bồi dưỡng năng lực sư phạm; biết khắc phục khó khăn về cơ sở vật
chất trường lớp.
ườ
ự ượ ư ư ấ ộ ự ng tích c c tham ố t công ng xã h i cũng nh làm t
ớ ộ ụ Trường tập trung tại 01 điểm trường, Nhà tr m u v i các c p, các ngành và các l c l tác xã h i hóa Giáo d c.
+ Lực lượng phụ huynh có con gửi ở trường đa số làm nghề
nông, đời sống gặp khó khăn, kinh tế phụ thuộc vào mùa vụ.
- Chất lượng
+ Nhà trường thực hiện tốt chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục trẻ. Không có tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra tại trường.
ệ ố ả ả ườ + 100% tr ẻ ượ đ c đ m b o an toàn tuy t đ i, không có tr ợ ng h p
ẻ ị ạ ươ ư ộ ộ ự ẩ ả tr b tai n n th ng tích cũng nh ng đ c th c ph m x y ra trong tr ườ ng
ầ m m non.
ứ ủ ẻ ạ ớ ỷ ệ ẻ tr ăn bán trú đ t: 100% v i m c ăn c a tr 13.000đ và 1 ly
+T l ữ s a 4.000/cháu/ngày.
25
ể ể ồ ứ ằ c theo dõi s c kh e b ng bi u đ phát tri n, T l ỷ ệ
ưỡ ẻ ướ ỏ ớ ầ i 8% so v i đ u năm.
26 ẻ ượ +100% tr đ ả tr suy dinh d ng gi m d - Các điều kiện
ổ ố ộ + Đội ngũ: T ng s cán b , giáo viên, nhân viên: 38đ/c (Biên ch : ế
ể ả ấ ượ ấ ộ 29; HĐ: 9đ/c k c nhân viên n u ăn). Ch t l ộ ạ ng đ i ngũ: Trình đ đ t
ẩ chu n: 38/38,
ạ ẩ ượ Đ t: 100% trên chu n. 38/38 CBGVNV đ ấ ạ c đào t o và c p
ứ ỉ ̣ ch ng ch tin h c, ngoai ng ;̃ ư ọ
ầ ủ
ề ụ ụ
ế ế ợ c thi ụ ườ ườ ủ ườ ườ ứ ọ ng có đ y đ phòng h c và các phòng ch c ụ ế ị t b ph c v cho công tác chăm sóc, giáo d c ệ ố ạ ượ t k h p lý, t o n đ ẹ ng “Giáo d c an toàn” thân
ạ ộ + Cơ sở vật chất: : Tr ệ năng, đi u ki n và trang thi ị ầ đ y đ theo đúng quy đ nh, h th ng sân, v ạ môi tr ng “Xanh S ch Đ p” , môi tr ẻ ệ thi n cho tr ho t đ ng.
- Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường: Có đầy đủ các tổ chức,
đoàn thể trong nhà trường.
ộ ả ớ ổ ả ố + Chi b Đ ng v i t ng s 16 Đ ng viên.
ổ ộ ố + Công Đoàn có t ng s 38 đoàn viên lao đ ng.
ồ + Chi đoàn TNCS H Chí Minh 23 đoàn viên.
ữ ậ ộ ỏ ộ + Chi h i ch th p đ có 38 h i viên.
ế ộ ọ ộ + Chi h i khuy n h c có 38 h i viên.
+ Có các ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp, của trường.
- Quy mô trường lớp: Trường thực hiện đa dạng hóa các loại hình
ườ ớ trường, lớp: Tr ng có 10 nhóm l p.
Trong đó, lớp Mẫu giáo Lớn: 02 l ớp, Nhỡ: 03
lớp, Bé: 03 lớp, nhà trẻ 02 lớp.
- Phong trào thi đua
ộ ọ ậ ươ ấ ồ
ậ ộ + Cu c v n đ ng “ H c t p và theo t m g ộ ạ ậ
ộ ấ ươ ầ
ườ ệ ọ ọ
ộ ớ ạ ứ ự ọ ng đ o đ c t ự ế + Phong trào thi đua “ Xây d ng tr ổ ự ớ tích c c” phong trào ộ ứ ng đ o đ c H Chí ỗ ộ ộ ậ Minh”, cu c v n đ ng “ Hai không” v i 4 n i dung, cu c v n đ ng “ M i ạ h c và sáng t o”. th y giáo, cô giáo là m t t m g ng h c thân thi n, h c sinh ớ “ Nghìn sáng ki n đ i m i”; V i 2 phong trào này
26
ế ố ọ ượ ơ ế c s k t,
ưở ừ ạ ng cho t ng cá nhân đ t thành tích trong phong trào.
ề 100% CB, GV, NV đăng ký đ tài sáng ki n, cu i năm h c đ đánh giá, khen th + Tham gia đầy đủ các phong trào thi đua của ngành, địa
phương, các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
2.1.2. Nội dung khảo sát
- Khảo sát thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở Trường Mầm non Đồng Sơn,
thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Bằng các phương pháp quan sát, trò chuyện tiếp xúc với trẻ.
- Bằng cách quan sát hoạt động của giáo viên và trẻ tại lớp để
nắm được cách giao tiếp của trẻ với nhau, của trẻ với cô giáo.
- Quan sát, tổ chức các hoạt động vui chơi để biết được việc
hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua các trò chơi.
2.1.3. Đối tượng khảo sát
* Nhóm trẻ 5 – 6 tuổi
Để đánh giá được thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho
trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi, chúng tôi đã tiến hành
quan sát nghiên cứu trên 40 trẻ lớp mẫu giáo lớn B của Trường Mầm
non Đồng Sơn– Đồng Hới.
* Giáo viên
Chúng tôi tiến hành điều tra 20 giáo viên, tất cả các giáo viên
đều đạt chuẩn giáo viên Mầm non.
2.1.4. Phương pháp và công cụ khảo sát
2.1.4.1. Phương pháp khảo sát
Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài:
Nhằm tìm hiểu thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
Phương pháp quan sát: Chúng tôi trực tiếp quan sát (hoặc gián
tiếp qua giáo viên) vào cách giáo viên tổ chức, hướng dẫn trẻ tham
27
28 gia vào các hoạt động vui chơi; các hoạt động của trẻ khi tham gia
chơi... nhằm quan sát, thu thập để bổ sung và chính xác hóa các
thông tin điều tra khác.
Phương pháp đàm thoại: Chúng tôi đã tiến hành trao đổi với
giáo viên về nội dung cần khảo sát. Nội dung trò chuyện được chuẩn
bị từ trước phù hợp với mục tiêu đã đề ra.
2.1.4.2. Công cụ khảo sát
Công cụ điều tra thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ
5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
Phiếu điều tra gồm 12 câu hỏi dành cho giáo viên. Câu hỏi được
trình bày dưới dạng “đóng” và “mở” nhằm giúp giáo viên trả lời một
cách dễ dàng, không mất nhiều thời gian và các câu hỏi được tập
trung để dễ xử lý. Nội dung tìm hiểu mục tiêu, nội dung, hình thức tổ
chức các hoạt động vui chơi để hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5
– 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi tại Trường Mầm non Đồng Sơn.
2.1.5.Tiêu chí đánh giá về chuẩn kỹ năng giao tiếp của trẻ
Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng hình thành kỹ năng giao
tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm
non, chúng tôi đánh giá việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ
thông qua hoạt động vui chơi qua các tiêu chí sau:
Tiêu chí đánh giá:
Tiêu chí 1: Trẻ nghe hiểu lời nói
Tiêu chí 2: Trẻ biết sử dụng lời nói để giao tếp
Tiêu chí 3: Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường trong giao
tiếp
Tiêu chí 1 : Trẻ nghe hiểu lời nói
- Nhận ra sắc thái biểu cảm của lời nói khi vui buồn, tức, giận,
ngạc nhiên, sợ hãi.
28
- Hiểu nghĩa một số từ khái quát chỉ sự vật, hiện tượng đơn giản,
gẫn gũi.
- Nghe hiểu nội dung câu chuyện.
Tiêu chí 2: Trẻ biết sử dụng lời nói để giao tiếp
- Nói rõ ràng.
- Sử dụng các từ chỉ tên gọi, hành động, tính chất và từ biểu cảm
trong sinh hoạt hằng ngày.
- Sử dụng lời nói để trao đổi và chỉ dẫn bạn bè trong hoạt động
Tiêu chí 3: Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường trong
giao tiếp
- Chăm chú lắng nghe người khác và đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt,
ánh mắt phù hợp.
- Không nói leo, không ngắt lời người khác khi trò chuyện. Không
nói tục chửi bậy.
- Sử dụng một số từ chào hỏi và từ lễ phép phù hợp với tình
huống.
Thang đánh giá:
Tiêu chí 1: Trẻ nghe hiểu lời nói
Mức độ 1: Trẻ nghe hiểu lời nói của giáo viên và bạn bè
Mức độ 2: Trẻ vẫn có nghe hiểu nhưng ít tập trung.
Mức độ 3: Trẻ không chú ý, không hiểu lời nói của cô và các bạn.
Tiêu chí 2: Trẻ biết sử dụng lời nói để giao tiếp
Mức độ 1: Trẻ nói rõ ràng, sử dụng các từ và lời nói để trao đổi
trong giao tiếp.
Mức độ 2: Trẻ nói rõ ràng, sử dụng được một số từ và lời nói đơn
giản để trao đổi trong giao tiếp.
Mức độ 3: Trẻ nói chưa rõ ràng, chưa sử dụng được từ và lời nói
để trao đổi trong giao tiếp.
Tiêu chí 3: Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường trong
giao tiếp
29
30
Mức độ 1: Trẻ biết thực hiện tốt một số quy tắc thông thường
trong giao tiếp.
Mức độ 2: Trẻ biết thực hiện một vài quy tắc thông thường
trong giao tiếp.
Mức độ 3: Trẻ chưa chủ động, phải có cô gáo hướng dẫn và nhắc
nhở.
Với tiêu chí và thang đánh giá trên chúng tôi đưa ra mức điểm cụ
thể để đánh giá biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ như sau:
Mức độ 1: Tốt
Mức độ 2: Khá
Mức độ 3: Trung bình
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng
2.2.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò của hoạt động vui
chơi trong việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi
Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về vai trò của hoạt động vui
chơi trong việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi ở
Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình,
chúng tôi tiến hành khảo sát và thu được kết quả sau:
Bảng 2.1: Đánh giá của giáo viên về vai trò của việc hình thành
và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi
Mức độ
Quan trọng Bình thường Không quan trọng Số lượng 24 1 0 Tỷ lệ 96 4 0
Kết quả điều tra ở bảng trên cho thấy: Hầu hết các giáo viên đều
đánh giá cao vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. 96% giáo
viên cho rằng công tác này là “quan trọng”, chỉ có 4% giáo viên cho là
“bình thường” và không có ý kiến nào cho rằng “không quan trọng”.
Qua trao đổi, các giáo viên đã đề ra rất nhiều các biện pháp nhằm hình
thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi như: Phương
30
pháp luyện tập, tạo cho trẻ các tình huống quen thuộc với cuộc sống
hàng ngày để kích thích trẻ giao tiếp… Nhưng một phương pháp mà
tất cả các giáo viên đều lựa chọn đó là phương pháp trò chơi.
Bảng 2.2: Đánh giá của giáo viên về vai trò của hoạt động vui
chơi trong việc hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi
Mức độ
Quan trọng Bình thường Không quan trọng Số lượng 23 2 0 Tỷ lệ (%) 92 8 0
Qua bảng 2.2 chúng tôi thấy: Có 92% giáo viên cho rằng hoạt
động vui chơi đóng vai trò “quan trọng” trong việc hình thành và phát
triển kỹ năng giao tiếp của trẻ, chỉ có 8% giáo viên cho là “bình
thường” và không có ý kiến nào cho rằng “không quan trọng”. Kết quả
trên cho thấy mặc dù có sự chênh lệch giữa các phương án lựa chọn
nhưng các giáo viên đều cho rằng vai trò của hoạt động vui chơi trong
việc hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp ở mức độ “cao”.
2.2.2. Thực trạng việc tổ chức các hoạt động vui chơi nhằm
hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi
2.2.2.1. Nội dung rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi
Bảng 2.3: Nội dung rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi
Mức độ thực hiện
Nội Thườn Thỉnh Không bao giờ
dung STT g thoảng
xuyên
SL % SL % SL %
Rèn luyện năng lực tự chủ các 8 32 17 68 0 0 1
hành vi và cảm xúc Rèn luyện năng lực mạnh dạn,
0 chủ động trong các tình huống 25 100 0 0 0 2
giao tiếp
31
32
Rèn luyện khả năng lắng nghe và 3 25 100 0 0 0 0
hiểu nội dung giao tiếp Rèn luyện khả năng diễn đạt cụ thể, dễ 4 25 100 0 0 0 0
hiểu Rèn luyện kỹ năng nói và phát âm 5 25 100 0 0 0 0
cho trẻ Rèn luyện kỹ năng lựa chọn từ 6 10 40 15 60 0 0
7 ngữ trong quá trình giao tiếp Khắc phục tính rụt rè của trẻ 25 100 0 0 0 0
Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ rất quan trọng, đặc biệt là nội
dung tổ chức các hoạt động vui chơi nhằm hình thành kỹ năng giao tiếp cho
trẻ 5 – 6 tuổi. Qua tìm hiểu, chúng tôi thu được kết quả về nội dung tổ chức
các hoạt động vui chơi nhằm hình thành kỹ năng giao tiếp kỹ năng giao tiếp
cho trẻ 5 – 6 tuổi. Có 100% giáo viên thường xuyên sử dụng các nội
dung giáo dục (rèn luyện năng lực mạnh dạn, chủ động trong các tình
huống giao tiếp; rèn luyện khả năng lắng nghe và hiểu nội dung giao
tiếp; rèn luyện khả năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu; khắc phục tính rụt rè
của trẻ).
“Rèn luyện năng lực tự chủ các hành vi và cảm xúc” có 32%
giáo viên thường xuyên rèn luyện trẻ, có 68% ý kiến thỉnh thoảng có
giáo dục trẻ và không ý kiến nào là chưa bao giờ
Ở nội dung “rèn luyện kỹ năng lựa chọn từ ngữ trong quá trình
giao tiếp” có 40% ý kiến thường xuyên giáo dục trẻ, 60% thỉnh thoảng
giáo dục trẻ và không ý kiến nào là chưa bao giờ
Từ kết quả khảo sát thì nhìn chung các giáo viên đã xác định được
các nội dung rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi.
2.2.2.2. Sử dụng các loại trò chơi nhằm hình thành kỹ năng giao tiếp
cho trẻ 5 – 6 tuổi
Bảng 2.4: Đánh giá về mức độ sử dụng các loại trò chơi trong
việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi
32
Mức độ sử dụng
Thườ Thỉnh Trò STT ng thoản Không bao giờ chơi xuyên g
SL % SL % SL %
Trò chơi đóng vai theo chủ đề 1 11 44 14 56 0 0
Trò chơi lắp ghép - xây dựng 2 11 44 13 52 1 4
3 Trò chơi đóng kịch 8 15 60 2 8
32 10 4 Trò chơi học tập 25 0 0 0 0 0
5 Trò chơi vận động 20 80 20 5 0 0
6 Trò chơi dân gian 10 40 14 56 1 4
7 Trò chơi điện tử 2 8 6 24 17 68
8 Trò chơi sáng tạo 10 40 14 56 1 4
Qua khảo sát, tất cả các giáo viên đều nhận xét: Đa số trẻ rất
hứng thú khi được giáo viên tổ chức các trò chơi.
Từ bảng trên chúng tôi thấy, giáo viên sử dụng trò chơi học tập
ở mức độ thường xuyên nhất (chiếm 100%).
Trò chơi vận động cũng được giáo viên sử dụng thường xuyên
nhằm hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ tuổi mẫu giáo lớn (80%).
Cũng từ bảng trên chứng tôi thấy, giáo viên sử dụng trò chơi ở
mức độ thấp nhất đó là trò chơi điện tử. Chỉ có 8% giáo viên thường
xuyên sử dụng. có 24% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng và 68% giáo
viên không bao giờ sử dụng. 2.2.2.3. Hình thức tổ chức các hoạt động
vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi
Bảng 2.5: Hình thức tổ chức các trò chơi cho trẻ 5 – 6 tuổi
STT Mức độ
Thườ Thỉnh Không bao giờ Hình
ng thoản
33
34
xuyê g n thức SL % SL % SL %
1 Cá nhân 3 12 20 80 2 8
2 Nhóm 25 100 0 0 0 0
3 Cả lớp 22 88 3 12 0 0
Kết quả khảo sát cho thấy các giáo viên đã sử dụng các hình
thức tổ chức cơ bản để hình thành các kỹ năng giao tiếp cho trẻ, trong
đó:
Hình thức “nhóm” được giáo viên sử dụng thường xuyên nhất
(chiếm 100%), tiếp theo là hình thức “cá nhân” (chiếm 80%).
Hình thức cá nhân có 12% giáo viên thường xuyên sử dụng,
80% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng và 8% giáo viên chưa bao giờ sử
dụng.
Quan sát trẻ chơi ở hình thức nhóm chúng tôi cũng thấy trẻ tích
cực hoạt động hơn, biết thảo luận với bạn nên làm như thế nào, trao
đổi với nhau để cùng đưa ra cách giải quyết nhiệm vụ đề ra ở trò chơi.
Từ đây giúp ngôn ngữ của trẻ phát triển, các kỹ năng giao tiếp cũng
được hình thành.
- Thời gian tổ chức các hoạt động vui chơi nhằm hình thành và
phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi
Bảng 2.6: Thời gian tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ 5 –
6 tuổi
Thời gian SL % STT
Trong hoạt động có chủ đích 25 100 1
Trong các hoạt động góc 25 100 2
Các buổi tham quan, ngoại khóa 15 60 3
Hoạt động ngoài trời 25 100 4
Vui chơi tự do ở đón và trả trẻ 15 60 5
34
Hoạt động chiều 6 24 96
7 Kết hợp nhiều thời gian khác nhau 15 60
Từ bảng trên, có 100% giáo viên tổ chức các hoạt động vui chơi
nhằm hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi
được tập trung nhiều nhất vào hoạt động có chủ đích, trong hoạt
động góc, hoạt động ngoài trời và hoạt động chiều. Tuy nhiên, việc
tổ chức chưa đem lại kết quả cao. Các buổi tham quan hay ngoại
khóa chỉ có 60% giáo viên tổ chức các hoạt động vui chơi nhằm hình
thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi. Việc kết hợp
nhiều thời gian khác nhau được 60% giáo viên cho là cần thiết.
Qua quan sát chúng tôi nhận thấy: Việc tổ chức hoạt động vui chơi
cho trẻ cò, hình thức thì có song vật dụng để cho trẻ chơi còn ít, sơ sài…
2.2.2.4. Thực trạng sử dụng các biện pháp hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
Bảng 2.7: Đánh giá mức độ sử dụng các biện pháp hình thành
kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi thong qua hoạt động vui chơi
Mức độ sử dụng
Thườ Thỉnh Biện STT ng thoản Không bao giờ pháp xuyên g
SL % SL % SL %
Phân nhỏ nhiệm vụ để trẻ làm 1 20 5 20 0 0
từng phần Làm mẫu và yêu cầu trẻ làm 80 10 2 25 0 0 0 0 0
Luyện tập hằng ngày 3 20 5 20 0 0
Nhắc nhở trẻ thực hiện thường 80 10 4 xuyên 25 0 0 0 0 0
35
36
Kết quả khảo sát cho thấy : Nhìn chung các giáo viên thường
xuyên làm mẫu và yêu cầu trẻ làm theo; luyện tập hằng ngày và nhắc
nhở để trẻ thực hiện thường xuyên. 80% giáo viên thỉnh thoảng sử
dụng biện pháp phân nhỏ nhiệm vụ để trẻ làm từng phần và luyện tập
hằng ngày. Tuy nhiên các biện pháp mà giáo viên sử dụng chưa đem
lại kết quả cao cho việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Đa số
giáo viên cho biết là đang tìm một số biện pháp khác để nhằm hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui
chơi.
2.2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp của trẻ 5 – 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp của trẻ 5 – 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi, cụ thể chia làm hai nhóm: Yếu tố
chủ quan và yếu tố khách quan.
* Yếu tố chủ quan:
Bảng 2.8: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan
đến quá trình hình thành kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi
Mức độ ảnh hưởng
Không ảnh hưởng STT Ảnh hưởn g ít Ảnh hưởn g nhiều Yếu tố chủ quan
SL % SL % SL %
0 Trẻ còn e dè, sợ sệt 25 100 0 0 0 1
25 100 0 0 0 0 2 Không muốn tham gia vào các trò chơi
Thích chơi một mình 12 48 13 52 0 0 3
36
4 24 96 1 4 0 0 Không biết hợp tác với cô giáo và bạn bè
0 5 Trẻ không chú ý, quan sát 23 92 2 8 0
16 6 Trẻ mạnh dạn, tự tin 20 80 1 4 4
7 20 80 1 4 4 16 Tính tự nguyện, tự lực, và sáng tạo của trẻ
8 Cơ quan phát âm của trẻ 25 100 0 0 0 0
9 Bệnh tật 25 100 0 0 0 0
Qua bảng số liệu cho thấy: Có nhiều yếu tố chủ quan ảnh hưởng
đến quá trình hình thành kỹ năng giao tiếp, trong đó có bảy yếu tố cơ
bản với mức độ ảnh hưởng tương đối đều nhau. Đó là những yếu tố:
Trẻ còn e dè, sợ sệt (100% ý kiến); Không muốn tham gia vào trò chơi
(100% ý kiến); Cơ quan phát âm của trẻ (100% ý kiến); Bệnh tật
(100% ý kiến); không biết hợp tác với cô giáo và bạn bè (96% ý kiến);
trẻ không chú ý quan sát (92% ý kiến)… Đây là những yếu tố mà các
giáo viên cho rằng ảnh hưởng rất nhiều.
Trẻ thích chơi một mình được 52% giáo viên cho rằng ảnh
hưởng ít: Vì dù trẻ chơi một mình nhưng không có nghĩa trẻ không
tham gia hoạt động, đối với trẻ thích chơi một mình thì giáo viên luôn
hướng dẫn, quan sát cách trẻ tham gia chơi, hướng cho trẻ tới những
kỹ năng giao tiếp cần thiết qua trò chơi trẻ đang chơi. Tuy khi chơi trẻ
độc thoại nhưng sức tưởng tượng của trẻ phong phú, trẻ vẫn hiểu
được nội dung và mục đích chơi.
Nhìn chung, giáo viên đã nắm được những yếu tố ảnh hưởng
nhiều, ít và không ảnh hưởng để từ đó có biện pháp khác phục nhằm
hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi.
* Yếu tố khách quan:
37
38
Bên cạnh yếu tố chủ quan thì các yếu tố khách quan cũng ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình giao tiếp của trẻ. Kết quả thể hiện ở bảng
sau:
Bảng 2.9: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan
đến quá trình giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi
Mức độ ảnh hưởng
Ảnh Ảnh Yếu tố hưởn hưởn Không ảnh hưởng STT khách g g ít quan nhiều
SL % SL % SL %
Môi trường giao tiếp ở trường 1 25 100 0 0 0 0 mầm non
2 Sự hướng dẫn của cô giáo 25 100 0 0 0 0
Sự chăm sóc và giáo dục của gia 3 25 100 0 0 0 0 đình
4 Bạn bè 13 52 12 48 0 0
5 Môi trường sống 24 96 1 4 0 0
Nhìn chung những yếu tố khách quan, ảnh hưởng nhiều đến
quá trình giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
Yếu tố “môi trường giao tiếp ở trường mầm non” là một trong
những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành kỹ năng giao tiếp
của trẻ.
“Sự hướng dẫn của cô giáo” cũng là yếu tố ảnh hưởng nhiều
(chiếm 100%). Sự hướng dẫn của cô giáo là yếu tố quan trọng trong
việc kích thích sự phát triển hoạt động nhận thức như năng lực quan
38
sát, sức tập trung chú ý, đặc biệt là các chức năng tâm lý bậc cao như
tình cảm, ý chí, ý thức, tư duy, trí tuệ, ngôn ngữ của trẻ. Quá trình phối
hợp, giao tiếp giữa cô và trẻ giúp trẻ tự tin, mạnh dạn hơn, hình thành
nhiều kỹ năng giao tiếp.
Yếu tố “sự chăm sóc giáo dục của gia đình” ảnh hưởng lớn đến
quá trình giao tiếp của trẻ, đặc biệt là cha mẹ của trẻ. Gia đình luôn là
người gần gũi trẻ, uốn nắn thường xuyên, giáo dục trẻ bằng chính
những lời hay, ý đẹp, sự mẫu mực trong hành vi và ngôn ngữ giao tiếp
hằng ngày sẽ là phương tiện giáo dục trẻ hữu hiệu nhất.
Ngoài yếu tố gia đình, môi trường giao tiếp ở trường mầm non,
cô giáo thì bạn bè cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giao
tiếp của trẻ. Kinh nghiệm giao tiếp với người lớn tạo tiền đề cho trẻ phát
huy hiệu quả giao tiếp và hình thành mối quan hệ giao tiếp, giao tiếp
giữa trẻ với nhau. Hình thức giao tiếp này tạo điều kiện thuận lợi việc
phát triển ý thức trách nhiệm và hành động có ý chí; tạo tiền đề quan
trọng đối với hoạt động học và lao động sau này.
Ngoài ra, môi trường sống ảnh hưởng nhiều đến quá trình giao
tiếp của trẻ. Vì thông qua môi trường sống, mới có thể nâng cao hiệu
quả giáo dục và hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt
động vui chơi.
2.2.2.6. Biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi
Trong hoạt động vui chơi, trẻ thường thể hiện kỹ năng giao tiếp
không chỉ ở các hình thức khác nhau mà cách biểu hiện cũng khác
nhau. Qua dự giờ, quan sát, điều tra, chúng tôi thu được kết quả
những biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ qua hoạt động vui chơi ở
bảng sau:
Bảng 2.10: Biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ qua hoạt động vui
chơi
Số Tỉ lệ Biểu hiện lượng (%)
39
40
Trẻ nghe hiểu lời nói 14/40 35
Trẻ biết sử dụng lời nói để giao tiếp 11/40 27.5
Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường 12/40 30
trong giao tiếp.
Hoạt động vui chơi là hoạt động tạo cho trẻ rất nhiều cơ hội để
hình thành kỹ năng giao tiếp, bởi vì trong khi chơi trẻ luôn giao tiếp với
nhau trong khi chơi. Có 35% trẻ nghe hiểu lời nói trong khi chơi, có
27.5% trẻ biết sử dụng lời nói để giao tiếp trong khi chơi, 30% trẻ thực
hiện một số quy tắc thông thường trong giao tiếp trong khi chơi. Như
vậy qua hoạt động vui chơi trẻ đã biểu hiện các kỹ năng giao tiếp để
cùng thỏa thuận nhiệm vụ, vai chơi, phối hợp hành động trong quá
trình chơi, chia sẻ đồ chơi, cùng nhau giải quyết các vấn đề nảy sinh
trong quá trình chơi, động viên, khích lệ nhau trong khi chơi, cùng
nhau thu dọn đồ chơi.. Tuy nhiên biểu hiện đó trẻ biểu hiện chưa cao,
từ đó giáo vên cần hình thành các kỹ năng giao tiếp cho trẻ để nâng
cao hiệu quả giáo dục hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ hơn.
2.2.2.7. Một số kinh nghiệm của giáo viên áp dụng vào quá trình hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi
Để hiểu thêm về một số kinh nghiệm mà các giáo viên áp dụng
vào quá trình hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi, chúng tôi
tến hành trưng cầu ý kiến và thu được kinh nghiệm như sau:
- Thường xuyên tạo điệu kiện cho trẻ giao tiếp.
- Nắm rõ đặc điểm của từng trẻ để đưa ra biện pháp hình thức
giáo dục hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ
- Tổ chức các trò chơi dưới nhiều hình thức khác nhau, nhất là
hình thức nhóm và cả lớp.
40
- Quan sát, gần gũi, kịp thời uốn nắn hình vi giao tiếp cho trẻ
- Trò chuyện nhiều với trẻ, trao đổi với gia đình để hiểu trẻ hơn.
- Cô giáo cần linh hoạt sử dụng những thủ thuật kinh nghiệm
khác nhau của mình trong các buổi tổ chức cho trẻ chơi và học.
- Trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ giáo viên
phải quan tâm, kiểm tra đánh giá kết quả của trẻ chơi, tạo nhiều cơ hội
cho trẻ liên kết với nhau. Cộng tác với nhau, biết giúp đỡ, hợp tác để
cùng nhau giải quyết nhiệm vụ chơi.
- Xây dựng môi trường giao tiếp cho trẻ.
2.2.2.8. Một số đề xuất của giáo viên để nâng cao hiệu quả quá
trình hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua
hoạt động vui chơi
Để hiểu rõ hơn tâm tư nguyện vọng và mong muốn của giáo
viên về việc sử dụng có hiệu quả các biện pháp tổ chức nhằm nâng
cao hiệu quả quá trình hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi,
chúng tôi cũng đã tiến hành trao đổi và thu được đề xuất sau:
- Cần thêm nhiều đồ dùng, đồ chơi phù hợp để giúp giáo viên sử
dụng trong các trò chơi sáng tạo hoặc để kích thích hứng thú chơi
cũng như ngôn ngữ giao tiếp của trẻ.
- Nên tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn ngắn hạn hàng năm
về việc bồi dưỡng và hướng dẫn trò chơi, hướng dẫn làm đồ dùng đồ
chơi tự tạo.
- Cần có không gian rộng rãi và thời gian hợp lý để tất cả các trẻ
đều được tham gia.
- Bổ sung nhiều sách, tài liệu về hoạt động vui chơi và tổ chức
giáo dục hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ cho giáo viên nhằm
nâng cao trình độ giúp cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ được thuận
lợi.
41
42
Đây chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
triển giao tiếp cho trẻ, đòi hỏi cần được sự quan tâm, cải thiện khắc
phục trong khi tổ chức giáo dục hướng dẫn trẻ.
42
Chương 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HÌNH
THÀNH KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG
QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI
3.1. Tăng cường vai trò hướng dẫn của giáo viên khi tổ
chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo lớn
* Mục đích
Tăng cường vai trò hướng dẫn của giáo viên khi tổ chức hoạt
động vui chơi cho trẻ nhằm tổ chức hoạt động vui chơi ngày càng hiệu
quả hơn và hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ tốt hơn.
* Cách thực hiện:
Giáo viên tự khởi xướng trò chơi, chủ động đưa ra chủ đề và nội
dung chơi mới để dạy trẻ.
Giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong việc điều khiển tiến trình
phát triển trò chơi.
Giáo viên hướng dẫn trẻ các thao tác mới và hành vi chơi mới.
(Việc hướng dẫn trẻ chơi có thể tiến hành một cách gián tiếp hoặc trực
tiếp)
- Hướng dẫn gián tiếp (hướng dẫn từ bên ngoài trò chơi).
Khi gián tiếp hướng dẫn trẻ chơi, giáo viên không trực tiếp tham gia
vào các trò chơi của trẻ (đóng vai) mà thường đưa ra những lời gợi ý,
nhận xét, hướng dẫn nhằm khuyến khích trẻ tham gia vào trò chơi mới
hoặc thực hiện một kỹ năng chơi mới.
- Hướng dẫn trực tiếp (hướng dẫn từ bên trong trò chơi).
Khi trực tiếp hướng dẫn trẻ các thao tác và kỹ năng chơi mới, đòi
hỏi giáo viên phải thực sự tham gia vào trò chơi của trẻ, giáo viên làm
mẫu các thao tác và kỹ năng chơi mới cho trẻ xem và học theo.
Trong quá trình chơi của trẻ, giáo viên tạo nhiều cơ hội cho trẻ
biết liên kết với nhau, cộng tác với nhau trong quá trình chơi, trẻ biết 43
44 giúp đỡ, hợp tác để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ chơi của trò chơi
đặt ra cũng như các vấn đề nảy sinh khi trẻ thực hiện vai chơi của
mình.Giáo viên cần linh hoạt sử dụng những thủ thuật và kinh ngiệm
khác nhau của mình, chẳng hạn như: tạo tình huống bất ngờ hoặc có
thể đưa vào trò chơi yêu cầu cao hơn… Các tình huống chơi này đòi
hỏi phải có vấn đề bằng cách phức tạp hóa dần các nhiệm vụ chơi,
luật chơi, hành động chơi. Khi giáo viên đưa trò chơi vào một tình
huống hay một yêu cầu mới thì bắt buộc trẻ phải giải quyết nhiệm vụ
chơi đó, để làm được điều này thì trẻ phải cố gắng trao đổi với nhau
để tìm ra cách giải quyết, từ đó ngôn ngữ giao tiếp tăng lên và có cơ
hội thực hiện. Tuy nhiên, muốn đưa các tình huống mới, yêu cầu và
nhiệm vụ mới vào các trò chơi thì giáo viên phải thật sự khéo léo, linh
hoạt và chủ động lựa chọn thời gian nào đưa vào cho hợp lý nhất,
đồng thời các tình huống chơi đó phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ, phù hợp với không khí buổi chơi sao cho yêu cầu của giáo
viên khi đưa vào, trẻ có thể giải quyết được. Chính điều này, sẽ gợi sự
hứng thú của trẻ khi tham gia giải quyết nhiệm vụ chơi của trẻ, đồng
thời mong muốn chờ đợi các buổi chơi tiếp theo.
Giáo viên nên thường xuyên động viên và hướng dẫn tận tình
để một số trẻ này kịp thời thích ứng với yêu cầu và nhiệm vụ của trò
chơi mà cả lớp đang tham gia. Giáo viên có thể hướng dẫn trẻ chơi
bằng cách nhập vai vào để giúp trẻ giải quyết nhiệm vụ chơi nào đó.
Giáo viên cần tạo cảm giác thoải mái nhẹ nhàng, tránh áp đặt thô bạo
để trẻ thoải mái tham gia trò chơi. Giáo viên nên khơi gợi sự hứng thú,
tạo điều kiện cho trẻ độc lập, chủ động trao đổi đưa ra các cách thức,
ý kiến riêng của trẻ sau khi giáo viên đã hướng dẫn và làm mẫu cách
chơi trò chơi.
Khi kết thúc trò chơi, giáo viên nên cho trẻ nhận xét, đánh giá
kết quả chơi của đội bạn cũng như nhận xét kết quả chơi của độ
44
mình. Sau đó giáo viên củng cố và khẳng định lại lời đánh giá của trẻ.
Tuy nhiên khi đánh giá giáo viên phải thật sự công bằng, khách quan
tạo cho tất cả cảm thấy vui vẻ thoải mái và sẽ cố gắng tích cực hơn
nữa ở các buổi chơi tiếp theo. Qua đó giáo viên điều chỉnh việc tổ
chức trò chơi cho những lần chơi tiếp theo phù hợp hơn nhằm đạt yêu
cầu và mục đích đề ra.
3.2. Sử dụng phong phú các loại trò chơi trong việc hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ
* Mục đích:
Việc tổ chức hoạt động vui chơi nhằm hình thành kỹ năng giao
tiếp cho trẻ mẫu giáo không những chỉ tổ chức một hay hai trò chơi
mà cần sử dụng phong phú các loại trò chơi trên các “hoạt động” và tổ
chức ở mọi lúc mọi nơi. Ở mỗi loại trò chơi có nội dung chơi, hoạt động
chơi, luật chơi khác nhau phản ánh đầy đủ hơn cuộc sống xã hội, mang
lại hiệu quả và ý nghĩa khác nhau,từ đó mang lại cho trẻ vốn hiểu biết vô
cùng phong phú, phát triển toàn diện nhân cách.
Sử dụng phong phú các loại trò chơi, mọi lúc mọi nơi đúng cách
mang lại hiệu quả cao cho sự phát triển mọi mặt cho trẻ, đặc biệt qua
đó giáo viên hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
* Cách thực hiện:
Để sử dụng phong phú các loại trò chơi, tổ chức mọi lúc mọi nơi
cho trẻ thì giáo viên phải là người nắm vững cách hướng dẫn trẻ chơi
ở các loại trò chơi, không những thế mà còn phải nắm vững nội dung,
hành động chơi và luật chơi của từng loại trò chơi.
Trước khi tổ chức cho trẻ chơi, giáo viên xác định sẽ tổ chức trò
chơi gì. Lập kế hoạch tổ chức trò chơi cho trẻ, kế hoạch tổ chức trò
chơi cho trẻ phải phù hợp với mục tiêu, nội dung chủ đề giáo dục, phù
hợp với thời gian, thời điểm tổ chức và phải phù hợp với điều kiện cơ
sở vật chất.
45
46
Khi tổ chức cho trẻ chơi các loại trò chơi, giáo viên cần:
- Tạo môi trường chơi phù hợp với chủ đề giáo dục, nội dung
chơi nhằm kích thích trẻ chơi một cách tích cực, chủ động và sáng
tạo.
- Giáo viên hướng dẫn trẻ tham gia chơi, hướng dẫn trẻ tới nội
dung, cách chơi và luật chơi. Có thể giáo viên hướng dẫn trẻ gián tiếp
hay trực tiếp.
- Theo dõi quá trình chơi của trẻ, cổ vũ trẻ chơi tích cực và sáng
tạo.
- Ở các trò chơi giáo viên phải tạo ra tình huống để trẻ hợp tác
trong các nhóm chơi với nhau.
- Qua trò chơi, giáo viên hình thành một số kỹ năng giao tiếp cho
trẻ.
Nhận xét đánh giá trẻ chơi. Phương châm của nhận xét đánh
giá là động viên, khích lệ trẻ chơi hết mình, chơi tích cực, chơi sáng
tạo.
Với các trò chơi được chơi ngoài tiết học chính, giáo viên có thể
đưa ra một số trò chơi vào để cũng cố kiến thức mà cô đã cung cấp
vào buổi sáng cũng như việc tạo cho những trẻ rụt rè, nhút nhát không
được chơi ở trên “hoạt động” có cơ hội chơi ở trong các hoạt động
ngoài giờ.
Thường xuyên tổ chức các cuộc thi kể chuyện, đóng kịch về
những chủ đề gần gũi với cuộc sống hằng ngày của trẻ, tạo cơ hội
cho mọi trẻ đều được tham gia chứ không nên chú tâm đến những trẻ
kể hay, đóng giỏi là cứ diễn đi diễn lại. Tổ chức tốt hơn nữa các hoạt
động ngoại khóa, tham quan, dạo chơi ở doanh trại bộ đội, các trường
tiểu học… Bên cạnh đó còn góp phần làm giàu vốn kinh nghiệm, vốn
hiểu biết của trẻ, phát triển năng lực quan sát, năng lực tư duy trực
quan cho trẻ để trẻ có một nhân cách toàn diện.
46
Các giờ hoạt động hằng ngày trên lớp của trẻ nên dành nhiều
thời gian hơn để trò chuyện cùng trẻ, nói về những chuyện xảy ra
trong cuộc sống, giải đáp những thắc mắc mà trẻ không hiểu, giúp trẻ
có điều kiện tháo gỡ những thắc mắc mà trẻ chưa hiểu về những công
việc cũng như các mối quan hệ của những con người trong xã hội. Trẻ
hiểu rõ ràng hơn những mối quan hệ qua lại của con người trong xã
hội. Dạy cho trẻ kỹ năng giao tiếp, những hành vi cũng như thói quen
giao tiếp có văn hóa để trẻ định vị được bản thân.
Thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức các loại trò chơi ở mọi lúc
mọi nơi vừa mang tính khoa học vừa mang tính hiện đại, tránh cho việc
tiếp thu, lĩnh hội những tri thức cũ, lạc hậu không phù hợp với xu thế phát
triển chung của xã hội.
3.3. Khơi dậy tính tích cực của trẻ trong hoạt động vui chơi
* Mục đích:
Khơi dậy tính tích cực của trẻ giúp trẻ tự tin, mạnh dạn, chủ
động trong hoạt động vui chơi, trở thành chủ thể của hoạt động vui
chơi. Chính sự tích cực hóa của trẻ, lấy trẻ làm trung tâm trong khi đó
người giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia hoạt động
vui chơi, tích cực trong hoạt động vui chơi là điều kiện để trẻ phát triển
toàn diện trong đó có kỹ năng giao tiếp.
Để thói quen giao tiếp ở trẻ được bền vững cần giúp trẻ thực
hiện các hành vi một cách có ý thức. Trên cơ sở hình thành kỹ năng
giao tiếp phải hình thành được ý thức trẻ mới làm chủ được hành
động, hành vi của mình khi giao tiếp với mọi người xung quanh và sẽ
tích cực tham gia vào các hoạt động khác. Khơi dậy được tính tích
cực của trẻ trong hoạt động sẽ giúp trẻ tham gia vào nhiều hoạt động
chơi, khi đã tích cực thì đồng nghĩa với việc trẻ chú ý đến hành động,
nội dung trẻ chơi và sẽ tạo ra sản phẩm chơi đạt kết quả cao. Đây sẽ
là yếu tố quan trọng để hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ qua hoạt
47
48 động vui chơi. Qua việc đánh giá hành động của trẻ, những hành
động tốt sẽ được biểu dương, những hành động tốt này sẽ tạo được
những cảm xúc tốt ở trẻ, hình thành những kỹ năng giao tiếp, những ý
thức về thói quen giao tiếp có văn hóa và chuẩn bị cho trẻ những thói
quen tốt sau này. Việc khơi dậy tính tích cực trong hoạt động vui chơi
có ý nghĩa lớn trong việc hình thành ý thức về kỹ năng giao tiếp cho
trẻ.
* Cách thực hiện:
Để khơi dậy tính tích cực ở trẻ thì trước tiên giáo viên phải tổ
chức tốt môi trường giáo dục trong hoạt động vui chơi.
Dùng thủ thuật, gợi ý giúp trẻ hứng thú và tham gia vào trò
chơi.Trò chơi đó phải thật sự mới lạ, hấp dẫn trẻ để khi chơi trẻ tìm
thấy niềm vui và thích thú.
Người giáo viên tạo mọi tình huống, điều kiện thuận lợi để trẻ
giao tiếp với nhau và giao tiếp với người lớn. Chính trong các tình
huống giao tiếp đó các hành vi phù hợp với các chuẩn mực được bộc lộ
và củng cố. Trẻ sẽ có ý thức làm chủ hành vi của mình khi giao tiếp phù
hợp đúng với các chuẩn mực.
Cô giáo phải kịp thời nắm bắt, tận dụng và khai thác những tình
huống xảy ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống tập thể của lớp học
để hình thành ý thức cho trẻ.
Trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ giáo viên phải
quan tâm, kiểm tra đánh giá kết quả của trẻ chơi, tạo nhiều cơ hội cho trẻ
liên kết với nhau. Cộng tác với nhau, biết giúp đỡ, hợp tác để cùng nhau
giải quyết nhiệm vụ chơi.
3.4. Lựa chọn nội dung và chủ đề trò chơi phù hợp cho trẻ
* Mục đích:
Lựa chọn nội dung và chủ đề trò chơi phù hợp cho trẻ đồng nghĩa
với việc mở rộng thêm nội dung và chủ đề chơi. Qua đó, giúp trẻ tiếp cận
48
với nhều chủ đề và nội dung mới hơn, tránh được sự nhàm chán, gây sự
hào hứng đối với trò chơi, duy trì hứng thú chơi và kích thích trí tưởng của
trẻ. Một khi trẻ đã hứng thú tham gia vào trò chơi thì từ đó trẻ giao tiếp
nhiều với bạn bè, ngôn ngữ giao tiếp phát triển, từ đó giáo viên có thể
hình thành các kỹ năng giao tiếp cho trẻ
49
50
* Cách thực hiện:
+ Trong mỗi chủ đề cần xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ
cần cung cấp cho trẻ. Bởi vì mỗi chủ đề đã thể hiện một vấn đề của
cuộc sống gần gũi xung quanh trẻ, do đó tùy vào từng nội dung của
chủ đề mà giáo viên xác định các nội dung cho trẻ một cách phù hợp
để qua đó hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
+ Cần phát huy sáng kiến của trẻ trong khi chơi, khuyến khích trẻ
tạo ra những ý đồ chơi mới, bằng cách cung cấp vốn sống cho trẻ,
trên cơ sở đó giúp trẻ hiểu được cuộc sống sâu rộng hơn và làm cho
trí tưởng tượng sáng tạo dễ nảy nở, từ đó trẻ có ý đồ chơi, trẻ thảo
luận với bạn để nói về ý đồ chơi của mình.
+ Giáo viên phải tích cực nghiên cứu tài liệu để trang bị cho mình
những kiến thức, phải có sự am hiểu sâu sắc về việc hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ.
+ Cần phải dựa vào vị trí địa lí, điều kiện cơ sở vật chất của địa
phương, của trường, lớp để lựa chọn nội dung, chủ đề chơi phù hợp
và có hiệu quả nhằm hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
3.5. Tăng cường sự phối kết hợp giữa gia đình – nhà trường
và xã hội
* Mục đích:
Hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ không chỉ là nhiệm vụ riêng
của một cá nhân hay tập thể nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội.
Sự liên kết của gia đình - nhà trường và xã hội là điều kiện không thể
thiếu trong quá trình giáo dục và chăm sóc trẻ. Để hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ được phát triển tự nhiên, hoàn thiện thì không chỉ có
giáo viên dạy trẻ mà khi về nhà có sự dìu dắt, chỉ dẫn và mở rộng vốn
kiến thức cho trẻ về thế giới xung quanh mà trẻ đang sống. Sự giúp
đỡ liên kết của các tổ chức này sẽ giúp trẻ dễ dàng trong quá trình
tiếp thu kiến thức và hoàn thiện nhân cách. Khi có sự liên kết giữa gia
50
đình – nhà trường – xã hội sẽ tạo cho trẻ chỗ dựa vững chắc. Do đó
sự nỗ lực phối hợp giữa gia đình và nhà trường, để giáo viên và cha
mẹ có thể chia sẻ những trách nhiệm, trao đổi về trẻ nhằm tạo ra một
mối liên hệ thường xuyên sẽ tốt hơn cho trẻ rất nhiều.
* Cách thực hiện:
Ban Giám hiệu nhà trường tổ chức nhiều buổi họp phụ huynh
như họp toàn trường và họp theo lớp, để họp và bàn về hoạt động của
trẻ ở trường. Thống nhất với phụ huynh về mọi điều khoản, cùng nhà
trường tạo ra môi trường sống, học tập vui chơi lành mạnh.
Tổ chức tuyên truyền, vận động phụ huynh và các tổ chức quan
tâm hơn nữa đến quá trình học tập và vui chơi của trẻ. Vì trẻ 5 – 6 tuổi
không những việc học là chính mà trẻ còn phải tham gia vào mọi hoạt
động khác, qua đó trẻ mới thực sự phát triển mọi mặt, từ đó, vận động
phụ huynh cho trẻ tham gia các buổi ngoại khóa, không được kìm hãm
quá trình trẻ chơi của trẻ nửa chừng.
Nhà trường phối hợp với các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn
như: Cấp uỷ Đảng, chính quyền, Hội Khuyến học, Hội phụ huynh,
Đoàn Thanh niên..., tạo nên sự đồng nhất trong hành động, có sự
quan tâm, giúp đỡ các gia đình khó khăn, các trẻ có hoàn cảnh, từ đó
giúp các trẻ có điều kiện được đến trường tiếp thu kiến thức, được vui
chơi và được định hướng trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách.
Giáo viên thường xuyên trao đổi với phụ huynh về trẻ khi ở lớp,
đồng thời trao đổi với phụ huynh việc trẻ học và chơi ở nhà để cùng
phụ huynh hình thành và phát triển những mặt mạnh, khắc phục cái
không nên có ở trẻ.
Tổ chức các buổi tham quan, vui chơi ngoại khóa để trẻ và gia
đình cùng tham gia.
51
52
Gia đình – nhà trường – xã hội phải là cầu nối vững chắc để tạo
chỗ dựa vũng chắc, tạo môi trường học tập vui chơi khoa học nhằm
hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ.
Đề xuất thêm cơ sở vật chất cho nhà trường thông qua phố kết
hợp với các tổ chức xã hội, gia đình.
52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Giao tiếp giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi con
người. Đặc biệt giao tiếp có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển
toàn diện của trẻ lứa tuổi mầm non.
Qua khảo sát thực tế cho thấy kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 – 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Đa số giáo viên đều nhận thức đúng vai trò của hoạt động vui
chơi trong việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
- Các hình thức mà giáo viên sử dụng nhiều nhất để tổ chức các
hoạt động vui chơi cho trẻ đó là hình thức nhóm và hình thức cả lớp.
- Giáo viên đã tổ chức được các nội dung hoạt động để hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ như: Rèn luyện năng lực mạnh dạn,
chủ động trong các tình huống giao tiếp; rèn luyện khả năng lắng nghe
và hiểu nội dung giao tiếp; rèn luyện khả năng diễn đạt cụ thể, dễ
hiểu; rèn luyện kỹ năng nói và phát âm cho trẻ; khắc phục tính rụt rè
cho trẻ. Bên cạnh đó, rèn luyện năng lực tự chủ các hành vi và cảm
xúc; rèn luyện kỹ năng lựa chọn từ ngữ trong quá trình giao tiếp là nội
dung có ảnh hưởng đến quá trình hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ
nhưng chưa được giáo viên chú trọng sử dụng để rèn luyện kỹ năng
giao tiếp cho trẻ.
- Giáo viên sử dụng thường xuyên một số trò chơi trong quá
trình hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ như trò chơi học tập, trò
chơi vận động. Tuy nhiên, một số trò chơi giáo viên vẫn ít sử dụng
như trò chơi dân gian, trò chơi đóng kịch, trò chơi điện tử…
- Có rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến
quá trình gao tiếp của trẻ. Cụ thể như: Trẻ còn e dè, sợ sệt; không
muốn tham gia vào trò chơi; không biết hợp tác với cô giáo và bạn bè;
53
54 trẻ không chú ý, quan sát; môi trường giao tiếp ở trường mầm non; sự
hướng dẫn của cô giáo; sự chăm sóc và giáo dục của gia đình và môi
trường sống.
2. Kiến nghị
Để hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi có hiệu quả,
tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau:
2.1. Đối với trường mầm non
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để xây dựng môi trường
học tập, giáo dục thân thiện và thú hút trẻ học tập.
- Xây dựng bầu không khí đầm ấm, vui tươi, gần gũi, thân thiện
giữa giáo viên và trẻ, giữa cán bộ quản lý và giáo viên trong nhà
trường, tạo tâm lý thoải mái trong làm việc và trong quá trình giáo dục.
- Tổ chức cho trẻ hoạt động tích cực trên lớp, hỗ trợ lẫn nhau
trong học tập và vui chơi, tạo điều kiện cho trẻ chủ động giao tiếp và
phát triển năng lực sáng tạo của trẻ phù hợp với việc đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay.
- Tổ chức học tập nâng cao, bồi dưỡng kiến thức, chuẩn hoá
trình độ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo. Nâng
cao ý thức, đạo đức nhà giáo và phát huy hiệu quả vai trò của giáo
viên trong việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động vui chơi cho trẻ,
góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục nói chung và hiệu quả việc hình
thành, phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ nói riêng.
- Phối hợp với phụ huynh và các lực lượng, đơn vị, tổ chức
trong xã hội có liên quan để thống nhất về nội dung, mục đích và
phương pháp giáo dục trẻ, từ đó tổ chức các loại hình trò chơi phù
hợp với nội dung, đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của trẻ.
- Tổ chức toạ đàm, hội nghị hội thảo khoa học, trao đổi kinh
nghiệm giữa các cán bộ, giáo viên, giữa các đơn vị trường học về
phương pháp giảng dạy, giáo dục, công tác quản lý... Sơ kết, tổng kết
54
định kỳ để rút kinh nghiệm, có hướng giải quyết các khó khăn, vướng
mắc còn tồn tại, thiếu sót.. Từ đó có định hướng chỉ đạo và triển khai
thực hiện hiệu quả, khoa học.
- Tổ chức các hội thi, phong trào thi đua... để tạo không khí thi
đua, tích cực trong giảng dạy. Như hội thi ‘Bé khỏe bé ngoan”, “Hội thi
kể chuyện”,...
2.2. Đối với giáo viên
- Trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ, giáo viên
phải có sự quan sát, kiểm tra, đánh giá kết quả chơi của trẻ, để thấy
được những biểu hiện sai lầm của trẻ trong khi chơi, từ đó có sự uốn
nắn, điều chỉnh kịp thời để có định hướng trong việc phát triển nhân
cách cho trẻ.
- Thương yêu, quan tâm và chăm sóc dạy dỗ trẻ, luôn tạo không
khí đầm ấm, thân thiện, xưng hô thân mật. Đối xử với trẻ phải công
bằng, vô tư, không đánh mắng, quát nạt, doạ trẻ.. để không gây tâm lý
lo sợ, e dè, rụt rè trong hoạt động. Tôn trọng trẻ, không nói lấn át hoặc
cắt ngang lời trẻ.
- Cô cần khéo léo xử lý các tình huống sư phạm để tạo ra cho
trẻ lòng tin, sự mạnh dạn, hồn nhiên, thật thà và không ngại nhận lỗi
và xin lỗi.
- Trong cách cư xử giao tiếp của giáo viên với người khác, bạn
bè, đồng nghiệp... cần thể hiện sự văn minh, lịch sự, biết kính trên
nhường dưới, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, nói nhỏ nhẹ, cởi mở, thân
thiện, khiêm tốn học hỏi, trung thực thật thà.. để trẻ nhìn vào và noi
gương học theo.
- Tổ chức tốt các trò chơi cho trẻ 5 – 6 tuổi, khi chơi nên khuyến
khích, tạo điều kiện, tâm lý thoải mái để kích thích, lôi cuốn trẻ tham
gia tích cực vào trò chơi. Cần củng cố trò chơi nhiểu lần đề hình thành
và phát triển các kỹ năng cho trẻ.
55
56
2.3. Đối với gia đình
- Cần dành nhiều thời gian quan tâm, chăm sóc trẻ.
- Cần phối hợp, trao đổi thường xuyên, nhịp nhàng giữa gia đình
với nhà trường, giáo viên trong việc giáo dục, chăm sóc trẻ. Cùng nhà
trường, giáo viên để hình thành các kỹ năng giao tiếp cho trẻ, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc học tập, giáo dục và hình thành, phát triển
nhân cách của trẻ.
- Nghiêm khắc đúng lúc, đúng mức với những thói hư, tật xấu
của trẻ. Không buông lỏng, nuông chiều quá mức, không cho trẻ chơi
với những đồ chơi nguy hại, phim ảnh kích động, bạo lực... Bên cạnh
đó có có sự khen ngợi và khuyến khích với những việc làm, hành
động đẹp của trẻ.
- Trong cuộc sống gia đình luôn tôn trọng, yêu thương, quan tâm
và chăm sóc lẫn nhau. Tạo môi trường sống đầm ầm, hoà thuận, là
gia đình có văn hoá. Ông bà, bố mẹ phải là tấm gương về mọi mặt để
con cái noi theo.
- Sống hoà thuận và hoà đồng với mọi người xung quanh. Tôn
trọng và quan tâm, giúp đỡ mọi người. Thực hiện nếp sống văn minh,
văn hoá ở khu dân cư.
56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BGD & ĐT (2006), Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo
dục Mầm non, NXB GD.
2. BGD & ĐT (2009), Chương trình giáo dục Mầm non, NXB GD.
3. BGD & ĐT (2010), Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, NXB GD.
4. Hoàng Anh (1995), Giao tiếp sư phạm, NXB Đại học Sư phạm,
Hà Nội.
5. Hoàng Anh (2004), Tâm lý học giao tiếp, NXB Đại học Sư phạm,
Hà Nội.
6. Đào Thanh Ân (chủ biên), (2008), Giáo dục học Mầm non,
NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
7. Phan Thị Châu – Nguyễn Thị Oanh – Trần Thị Sinh (2008),
Giáo dục Mầm non, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
8. Chu văn Đức (2005), Kỹ năng giao tiếp, NXB Hà Nội
9. Ngô Công Hoàn (1995), Giao tiếp và trò chơi của cô giáo và
trẻ em, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
10. Nguyễn Ánh Tuyết (1998), Tâm lý học trẻ em, NXB GD, Hà
Nội.
11. Nguyễn Ánh Tuyết (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa
học giáo dục Mầm non, NXB GD.
12. Nguyễn Ánh Tuyết (2007), Giáo dục mầm non – những vấn
đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học sư phạm
13. Nguyễn Ánh Tuyết (2007), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm
non, NXB ĐH Sư phạm.
14. Nguyễn Quang Uẩn (2008), Tâm lý học đại cương, NXB Đại
học Quốc gia, Hà Nội.
15. Đinh Văn Vang (2009), Giáo dục học Mầm non, NXB GD.
16. Đinh Văn Vang (2009), Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
mầm non, NXB Giáo dục Việt nam.
57
58
17. Các trang web
- www.vuontre.com.vn
- www.google.com.vn
58

