SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN Trường THPT Đô Lương 1 Tên đề tài: PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NĂNG LỰC ĐẶC THÙ TOÁN HỌC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP VỚI CHỦ ĐỀ “THỐNG KÊ”

Toán Môn: Kiều Linh Chi Tác giả: Toán – Tin Tổ: Năm học: 2021 – 2022 Số điện thoại liên hệ: 0329279873

Năm học 2021 - 2022

MỤC LỤC

Trang

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………. 2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………… 3. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………….. 4. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………. 5. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………… 6. Tính mới của đề tài …………………………………………………….. 7. Bố cục sáng kiến kinh nghiệm ………………………………………… PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học …………………………………………………………. 1.1. Cơ sở lý luận …………………………………………………………... 1.1.1. Các năng lực đặc thù trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nói chung và chương trình môn Toán nói riêng năm 2018 …………………. 1.1.2. Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ………………………………. 1.1.3. Bài toán kiểm định giả thuyết thống kê ……………………………… 1.1.4. Giới thiệu về phần mềm R …………………………………………… 1.2. Cơ sở thực tiễn và thực trạng triển khai hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông …………………………………….. 1.2.1. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………………. 1.2.2. Thực trạng triển khai hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông ………………………………………………………... 2. Giải pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề “Thống kê – Những con số biết nói” …………………………………….. 2.1. Nguyên tắc thiết kế và tổ chức hoạt động ……………………………. 2.2. Xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ………….. 2.3. Tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề “Thống kê – Những con số biết nói” …………... 2.3.1. Hướng dẫn học sinh xác định mục đích và xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp …………………………………………… 2.3.2. Hướng dẫn học sinh thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ……………………………………………………………………... 2.3.3. Hướng dẫn học sinh báo cáo sản phẩm của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ……………………………………………………………… 2.4. Đánh giá hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ……………………. 2.5. Kế hoạch hoạt động giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề “Thống kê – Những con số biết nói” …………………………………….. 2.6. Thực nghiệm hoạt động giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề Thống kê tại trường THPT Đô Lương 1 ……………………………….. 3. Kết quả thực hiện ………………………………………………………. PHẦN III. KẾT LUẬN …………………………………………………… TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………….. PHỤ LỤC ………………………………………………………………….

1 1 1 2 2 2 2 3 3 3 4 8 8 9 9 10 13 13 13 19 19 21 28 28 32 37 48 50 51 52

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã chỉ rõ hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là một trong những hoạt động giáo dục bắt buộc đối với học sinh phổ thông với mục đích “tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học” để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc những vấn đề của thực tiễn phù hợp với lứa tuổi. Trên cơ sở đó, các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp rất cần được đầu tư về chất lượng, mở rộng quy mô triển khai để giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết để nâng cao khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện của bản thân để lựa chọn tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động và cải thiện khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trong thời đại công nghiệp mới.

Trong bối cảnh đời sống xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực, dữ liệu là một cơ sở quan trọng hàng đầu để các công ty, tổ chức đưa ra những quyết định quan trọng về chiến lược, chính sách và nhân viên thống kê chính là người làm việc với dữ liệu, tổng hợp, xử lý và phân tích chúng. Do đó, nhân viên thống kê có nhiều cơ hội việc làm trong nhiều lĩnh vực, từ y tế, kinh tế đến giáo dục, xã hội học, ... Việc phân tích và dùng dữ liệu lại dựa vào ba nguồn tri thức: Toán học (thống kê toán học), công nghệ thông tin (máy học) và tri thức của lĩnh vực ứng dụng cụ thể. Chính vì vậy, không gì thích hợp khi lồng ghép nội dung trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề Thống kê vào trong hoạt động giáo dục bộ môn Toán. Tuy nhiên, thực trạng chung lâu nay vẫn là dạy học theo định hướng phục vụ chủ yếu cho các kì thi phổ thông nên giáo viên đa số đối với nội dung “Thống kê” không thực sự chú trọng. Nhận thấy điều đó, bản thân tôi đã không ngừng trau dồi, nâng cao kiến thức chuyên môn để đưa ra một số giải pháp trong tổ chức hình thức dạy học với đề tài “Phát triển một số năng lực đặc thù Toán học cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề Thống kê”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc triển khai hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cùng những yêu cầu cần đạt về nội dung thống kê ở trường trung học phổ thông để đề xuất một phương án tổ chức hình thức giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

3. Đối tượng nghiên cứu

1

Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu và đề xuất giải pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề thống kê trong chương trình Đại số 10 thông qua việc đặt ra các vấn đề thực tiễn và ứng dụng bài toán kiểm định giả thuyết thống kê để giải quyết.

4. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ giới hạn một phần kiến thức toán học sơ cấp về lý thuyết thống kê và sử dụng các kết quả, các bước tiến hành bài toán kiểm định giả thuyết để giải quyết vấn đề mà không đi sâu vào việc xây dựng cơ sở lí thuyết của bài toán.

5. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài.

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.

- Phương pháp phân tích.

- Phương pháp khảo sát thực tiễn.

6. Tính mới của đề tài

Đề tài đã đưa ra được một chủ đề cùng giải pháp mang tính mới mẻ để tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu “kép” đó là vừa giúp học sinh thấy được ứng dụng của toán học trong thực tiễn, vừa góp phần triển khai tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh lớp 10. Đề tài tạo cơ hội cho học sinh được vận dụng trực tiếp ứng dụng của toán học vào giải quyết các vấn đề thiết thực trong thực tế. Học sinh được làm quen với bài toán “kiểm định giả thuyết thống kê”, một bài toán mới chưa từng được đề cập đến trong chương trình phổ thông nhưng lại có nhiều ý nghĩa trong lĩnh vực đời sống xã hội, đồng thời các em được trải nghiệm tương đối đầy đủ công việc của một thống kê viên, thấy được tầm quan trọng của nhóm ngành nghề đầy tiềm năng này. Qua đó học sinh không chỉ được rèn luyện phát triển các năng lực đặc thù của Toán học, đáp ứng được yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục tổng thể, mà còn ý thức được bản thân cần chuẩn bị, trau dồi các phẩm chất gì cần thiết cho nghề nghiệp trong tương lai.

7. Bố cục của sáng kiến kinh nghiệm

Phần I. Đặt vấn đề

Phần II. Nội dung nghiên cứu

2

Phần III. Kết luận

PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. CƠ SỞ KHOA HỌC

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Các năng lực đặc thù trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

nói chung và chương trình môn Toán nói riêng năm 2018

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể dựa vào kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã xác định rõ ràng và nhất quán mục tiêu đó là giúp học sinh phát triển một cách toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và những kỹ năng cơ bản, phát triển các năng lực của bản thân bao gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Từ khái niệm năng lực được đưa ra trong chương trình, có thể rút ra những đặc điểm chính của năng lực là:

- Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện

của người học.

- Năng lực là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc

tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí...

- Năng lực được hình thành, phát triển thông qua thực hiện hoạt động và thể

hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn.

Riêng đối với chương trình Toán, các năng lực đặc thù được đề cập cùng với

các biểu hiện cụ thể ở cấp trung học phổ thông như sau

- Năng lực tư duy và lập luận toán học thể hiện qua việc thực hiện được tương đối thành thạo các thao tác tư duy, đặc biệt phát hiện được sự tương đồng và khác biệt trong những tình huống tương đối phức tạp và lí giải được kết quả của việc quan sát; sử dụng được các phương pháp lập luận, quy nạp và suy diễn để nhìn ra những cách thức khác nhau trong việc giải quyết vấn đề; nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đồng thời giải thích, chứng minh, điều chỉnh được giải pháp thực hiện về phương diện toán học.

- Năng lực mô hình hoá toán học thể hiện qua việc xác định được mô hình toán học gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị, .... để mô tả tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn, từ đó giải quyết được những vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập; lí giải được tính đúng đắn của lời giải (những kết luận thu được từ các tính toán là có ý nghĩa, phù hợp với thực tiễn hay không), đặc biệt, nhận biết được cách đơn giản hoá, cách điều chỉnh những yêu cầu thực tiễn (xấp xỉ, bổ sung thêm giả thiết, tổng quát hoá,...) để đưa đến những bài toán giải được..

3

- Năng lực giải quyết vấn đề toán học thể hiện qua việc xác định được tình huống có vấn đề; thu thập, sắp xếp, giải thích và đánh giá được độ tin cậy của thông tin; chia sẻ sự am hiểu vấn đề với người khác; từ đó lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp bằng cách sử dụng các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích bao gồm các công cụ và thuật toán để giải quyết vấn đề đặt ra, đồng thời đánh giá được

giải pháp đưa ra và khái quát được cho vấn đề tương tự.

- Năng lực giao tiếp toán học thể hiện qua việc nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được tương đối thành thạo các thông tin toán học cơ bản, trọng tâm trong văn bản nói hoặc viết. Từ đó phân tích, lựa chọn, trích xuất được các thông tin toán học cần thiết từ văn bản nói hoặc viết, trình bày, diễn đạt được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác, sử dụng có hiệu quả ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể đồng thời thể hiện được sự tự tin khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác với đối tượng khác các vấn đề, nội dung liên quan đến toán học.

- Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán thể hiện chủ yếu qua việc nhận biết được tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các công cụ, phương tiện học toán; sử dụng được máy tính cầm tay, phần mềm, phương tiện công nghệ, nguồn tài nguyên trên mạng Internet để giải quyết một số vấn đề toán học phù hợp với đặc điểm nhận thức lứa tuổi; đánh giá được cách thức sử dụng các công cụ, phương tiện học toán trong tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học.

1.1.2. Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

1.1.2.1. Chức năng của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong Chương trình giáo dục phổ thông

Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã xác định hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục bắt buộc, “do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai”.

Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của học sinh trong các mối quan hệ với bản thân, xã hội, môi trường tự nhiên và nghề nghiệp; được triển khai qua bốn mạch nội dung hoạt động chính: Hoạt động hướng vào bản thân, Hoạt động hướng đến xã hội, Hoạt động hướng đến tự nhiên và Hoạt động hướng nghiệp. Trong đó, thông qua các hoạt động hướng nghiệp, học sinh được đánh giá và tự đánh giá về năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp, làm cơ sở để tự chọn cho mình ngành nghề phù hợp và rèn luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng với nghề nghiệp tương lai.

Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp giúp hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo được biểu hiện qua một số năng lực đặc thù sau:

4

+ Năng lực thích ứng với cuộc sống;

+ Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động;

+ Năng lực định hướng nghề nghiệp.

1.1.2.2. Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của học sinh, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Đây là những hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng tạo. Điều đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp phải đa dạng, linh hoạt, học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Có 4 phương pháp chính, đó là:

a. Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ)

GQVĐ là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, giải quyết vấn đề của học sinh. Các em được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc GQVĐ giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp. Trong tổ chức hoạt động trải nghiệm, phương pháp GQVĐ thường được vận dụng khi học sinh phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động.

Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày. Để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích thích học sinh tích cực tìm tòi cách giải quyết. Đối với tập thể lớp, khi GQVĐ giải quyết phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo dục học sinh.

Phương pháp trên được tiến hành theo các bước cụ thể như sau:

Bước 1: Nhận biết vấn đề

Trong bước này giáo viên cần phân tích tình huống đặt ra giúp học sinh nhận biết được vấn đề để đạt yêu cầu, mục đích đặt ra. Do đó, vấn đề ở đây cần được trình bày rõ ràng, dễ hiểu đối với học sinh.

Bước 2: Tìm phương án giải quyết

Để tìm ra các phương án GQVĐ, học sinh cần so sánh, liên hệ với cách GQVĐ tương tự hay kinh nghiệm đã có cũng như tìm phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lí ở giai đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết thì cần quay trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại và hiểu vấn đề.

Bước 3: Quyết định phương án giải quyết

5

Giáo viên cần quyết định phương án giải quyết vấn đề, khi tìm được phải phân tích, so sánh, đánh giá xem có thực hiện được việc giải quyết vấn đề hay không. Nếu

có nhiều phương án giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu. Nếu các phương án đã đề xuất mà không giải quyết được vấn đề thì tìm kiếm phương án giải quyết khác. Khi quyết định được phương án thích hợp là đã kết thúc việc giải quyết vấn đề.

b. Phương pháp sắm vai

Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp học sinh thực hành cách ứng xử, bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em. Sắm vai thường không có kịch bản cho trước mà học sinh tự xây dựng trong quá trình hoạt động. Đây là phương pháp giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào cách ứng xử cụ thể mà các em quan sát được. Việc "diễn" không phải là phần quan trọng nhất của phương pháp này mà là xử lí tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn đó.

Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Thông qua sắm vai, học sinh được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó.

c. Phương pháp trò chơi

Trò chơi là tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, việc làm hoặc hình thành thái độ thông qua một trò chơi nào đó. Trò chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, giúp các em nâng cao hiểu biết về thế giới hiện thực xung quanh, kích thích trí thông minh, lòng ham hiểu biết, học cách giải quyết nhiệm vụ.

Ngoài ra, trò chơi là phương tiện giáo dục phẩm chất nhân cách cho học sinh. Các phẩm chất nhân cách được hình thành thông qua chơi như tính hợp tác, tính đồng đội, tính tập thể, tính kỷ luật, tự chủ, tích cực, độc lập, sáng tạo, sự quan tâm lo lắng đến người khác, thật thà, dũng cảm, kiên nhẫn, … Trò chơi còn là phương tiện giáo dục thể lực cho học sinh, giáo dục thẩm mỹ, hình thành các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xã hội, ...

d. Phương pháp làm việc nhóm

Làm việc theo nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học - giáo dục, trong đó, giáo viên sắp xếp học sinh thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó học sinh trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm.

Làm việc theo nhóm có tác dụng đáng kể trong việc:

6

- Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của học sinh, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự khẳng định khả năng, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.

- Giúp học sinh hình thành các kĩ năng xã hội và phẩm chất nhân cách cần thiết như: kĩ năng tổ chức, quản lí, GQVĐ, hợp tác, có trách nhiệm cao, tinh thần đồng đội, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, sự ủng hộ cá nhân và khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, xác định giá trị của sự đa dạng và tính gắn kết.

- Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: tạo cơ hội bình đẳng

cho mỗi cá nhân người học được khẳng định và phát triển.

Để phương pháp làm việc nhóm thực sự phát huy hiệu quả, giáo viên cần lưu

ý một số vấn đề sau:

- Thiết kế các nhiệm vụ đòi hỏi sự phụ thuộc lẫn nhau.

- Tạo ra những nhiệm vụ phù hợp với kĩ năng và khả năng làm việc nhóm của học sinh, cụ thể: Đưa ra nhiệm vụ phù hợp với khả năng và đảm bảo thời gian cho học sinh tham gia đầy đủ nhưng không bắt chúng chờ đợi quá lâu để được khuyến khích hay nhiệm vụ quá nặng nhọc; điều tiết sự đi lại của học sinh xung quanh lớp học.

- Phân công nhiệm vụ công bằng giữa các nhóm và các thành viên.

- Đảm bảo cá nhân có trách nhiệm với công việc của mình. Để làm được điều đó, giáo viên cần giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên trong nhóm; thường xuyên thay đổi nhóm trưởng cũng như người đại diện nhóm báo cáo; sử dụng quy mô nhóm nhỏ; phân công học sinh trong nhóm đảm nhận các vai trò khác nhau và đánh giá mức độ tham gia của cá nhân đối với kết quả công việc của nhóm hoặc yêu cầu mỗi học sinh hoàn thành công việc trước khi làm việc nhóm.

- Sử dụng nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc khác nhau ví dụ như hình thành nhóm theo nhiệm vụ, theo quy tắc ngẫu nhiên (đếm theo số thứ tự tương đương với số nhóm muốn hình thành); phân chia nhóm theo bàn hay một số bàn học gần nhau, hoặc dùng đơn vị tổ của học sinh để làm một hay một số nhóm, theo giới, mức độ, thói quen làm việc, khả năng của học sinh; …

- Hướng dẫn học sinh phương pháp, kĩ năng làm việc nhóm

Kĩ năng làm việc nhóm là yếu tố quyết định thành công của học theo nhóm. Vì vậy, giáo viên cần chú trọng học sinh vào một số kĩ năng làm việc nhóm cần thiết cho hoạt động. Khi đánh giá hoạt động, giáo viên có thể điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở đánh giá đúng sự cố gắng của từng nhóm, chú trọng phân tích những kĩ năng làm việc nhóm mà học sinh đã thể hiện. Từ đó, đưa ra kết luận gồm kết quả hoạt động và mức độ thể hiện các kĩ năng làm việc nhóm.

7

Tùy theo tính chất và mục đích của từng hoạt động cụ thể cũng như điều kiện, khả năng của các em mà giáo viên có thể lựa chọn một hay nhiều phương pháp phù hợp. Điều quan trọng là phương pháp được lựa chọn cần phát huy cao độ vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và khai thác tối đa kinh nghiệm các em đã có.

1.1.3. Bài toán kiểm định giả thuyết thống kê

1.1.3.1. Khái niệm tổng thể và mẫu trong thống kê

Tổng thể là tập tất cả các đối tượng đồng nhất theo một dấu hiệu nghiên cứu X nào đó (định tính hoặc định lượng). Số lượng của tổng thể được ký hiệu là N (N thường rất lớn). Mẫu là một tập con lấy ra từ tổng thể. Số phần tử của mẫu gọi là cỡ mẫu (hay kích thước mẫu), thường ký hiệu là n. Tập gồm tất cả các mẫu cùng cỡ gọi là không gian mẫu. Mỗi mẫu gọi là một phần tử của không gian mẫu.

Để dễ dàng hiểu được khái niệm tổng thể và mẫu, ta xét ví dụ sau. Một giáo viên thể dục muốn khảo sát chiều cao của học sinh đang học tại trường THPT A. Khi đó toàn bộ học sinh của trường là một tổng thể. Mỗi học sinh là một đối tượng theo dấu hiệu điều tra là chiều cao. Do lượng học sinh trong một trường phổ thông thường rất lớn nên khó có điều kiện đo được hết chiều cao của tất cả các học sinh mà chỉ chọn ra một số học sinh ngẫu nhiên nào đó để đo, chẳng hạn chọn 50 học sinh. Khi đó, tập hợp con gồm 50 học sinh đã chọn đó được gọi là một mẫu và số 50 được gọi là cỡ mẫu. Ta có thể lấy ra nhiều nhóm gồm 50 học sinh khác nhau để đo. Tập tất cả các nhóm cùng cỡ đó gọi là không gian mẫu.

1.1.3.2. Bài toán kiểm định giả thuyết thống kê là gì?

Trong thực tiễn có rất nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống. Chẳng hạn, khi nghiên cứu một loại thuốc mới thì một câu hỏi thường gặp sẽ là hiệu quả chữa bệnh của nó có tốt hơn so với loại thuốc trước đó hay không; người ta nghi ngờ khối lượng của một loại sản phẩm không đúng với yêu cầu đặt ra hay cơ cấu học sinh theo học khối A, B, C, D tại một trường phổ thông có thay đổi trong vòng 5 năm qua hay không, ... Những câu hỏi này có thể được giải quyết nhờ vào bài toán kiểm định giả thuyết thống kê. Đây là quá trình đưa ra các kết luận liên quan đến một tổng thể trên cơ sở nghiên cứu một mẫu ngẫu nhiên nào đó. Trong quá trình nghiên cứu vấn đề của tổng thể theo một dấu hiệu 𝑋, việc tiến hành nghiên cứu trên toàn bộ tổng thể đôi khi không thực hiện được vì một số khó khăn nào đó. Chẳng hạn, tập đó có quá nhiều phần tử (ví dụ, kiểm tra chiều dài của các hạt của một giống lúa), hoặc việc đưa ra kiểm tra sẽ làm hư hại và dẫn đến kiểm tra xong lại vô nghĩa (ví dụ, kiểm tra chất lượng của các lọ thuốc thì ta không thể mở tất cả ra để kiểm tra). Bên cạnh đó thì thời gian, kinh phí, nhân lực,... cũng là những vấn đề gặp trở ngại. Chính vì vậy, việc điều tra, nghiên cứu trên mẫu là cần thiết. Trong bài toán kiểm định giả thuyết, ta cần xác định tổng thể, từ tổng thể lấy ra mẫu ngẫu nhiên, sau đó thu thập dữ liệu và tiến hành một số tính toán cần thiết để đi đến kết luận.

1.1.4. Giới thiệu về phần mềm R

8

Phần mềm R hay còn gọi là ngôn ngữ lập trình R là một trong những công cụ phân tích thống kê cũng như phân tích dữ liệu nói chung, được xây dựng bởi Ross Ihaka và Robert Gentleman tại Trường đại học Auckland, New Zealand và tiếp tục được phát triển bởi nhóm R Development Core Team. Phần mềm này nhận được nhiều đánh giá cao từ những tạp chí uy tín trên thế giới như New York Times, Forbes,

Intelligent, ... ; bên cạnh đó, R cũng như được tích hợp phát triển bởi các tập đoàn công nghệ hàng đầu như Microsoft, Google, IBM, … Những năm gần đây, tại Việt Nam, R bắt đầu được sử dụng và ngày càng phổ biến rộng rãi trong các trường học và giới nghiên cứu.

R là một phần mềm hoàn toàn miễn phí, tuy nhiên chức năng của R không thua kém các phần mềm thương mại khác. Một nhược điểm của phần mềm R là được sử dụng bằng lệnh Matlab chứ không phải Excel, nên nhiều người mới sử dụng cảm thấy khá bất tiện. Do vậy, người ta phát triển Phần mềm RStudio (là nguồn mở của R) là một công cụ hỗ trợ (IDE) rất được mọi người ưa thích, nhất là trong mảng giáo dục, do Rstudio có thiết kế giao diện đẹp, dễ sử dụng hơn R.

1.2. Cơ sở thực tiễn và thực trạng triển khai hoạt động trải nghiệm, hướng

nghiệp ở trường trung học phổ thông

1.2.1. Cơ sở thực tiễn

Trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, lần đầu tiên Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được thiết kế thành chương trình, được dành thời lượng riêng trong giờ lên lớp tương đương một môn học; kết quả học tập của học sinh cũng được đánh giá và sử dụng như các môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông. Trước đó, đã có rất nhiều các phong trào, cuộc thi mang ý nghĩa “trải nghiệm”, “hướng nghiệp” dành cho học sinh điển hình như: Cuộc thi khoa học kĩ thuật dành cho học sinh trung học, ngày hội tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp… Các phong trào, cuộc thi này đã góp phần lan toả những thông điệp tích cực, thiết thực, có tác động không nhỏ trong hoạt động giáo dục tại nhà trường phổ thông. Từ đó, học sinh ngày càng thấy được sự gần gũi, gắn bó giữa những kiến thức được trang bị và đời sống hàng ngày. Các em càng có thêm hứng thú đồng thời thúc đẩy được niềm đam mê học hỏi hơn ở các em.

9

Toán học nói chung và Thống kê nói riêng là công cụ cho các ngành khoa học và các lĩnh vực nghề nghiệp. Do đó, việc tích hợp liên môn Toán (chủ đề Thống kê) vào hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp sẽ đạt được mục tiêu “kép”, vừa giúp học sinh thấy được ứng dụng của toán học trong thực tiễn (tạo hứng thú học tập Thống kê), vừa góp phần thực hiện tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh lớp 10. Trong bối cảnh đời sống xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực, ngành Thống kê được đánh giá là ngành học có tiềm năng việc làm lớn: làm

việc đúng nghiệp vụ thống kê trong 708 đơn vị Thống kê nhà nước ở Việt Nam; làm công tác tổng hợp báo cáo dữ liệu, phân tích thống kê về các chỉ tiêu kinh tế – xã hội ở các sở ban ngành kinh tế ở các cấp chính quyền từ trung ương đến cấp quận huyện ở địa phương; làm việc tại các công ty chuyên về điều tra thu thập dữ liệu, phân tích nghiên cứu thị trường, chuyên viên phân tích dữ liệu, nghiên cứu viên chuyên nghiệp tại các viện nghiên cứu về Kinh tế – xã hội; làm công tác giảng dạy các học phần toán học và thống kê tại các đơn vị giáo dục cấp đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam. Ngoài ra, với các chuyên môn về thu thập, phân tích, báo cáo dữ liệu thống kê được học theo chương trình đào tạo bậc đại học cho phép người tốt nghiệp chuyên ngành thống kê có tính linh hoạt trong việc thích ứng làm các công việc khác trong nhiều lĩnh vực về kinh tế – xã hội. Đặc biệt là cơ hội làm việc trong các doanh nghiệp, tập đoàn công nghệ theo xu hướng cách mạng công nghiệp 4.0.

Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông có vai trò quan trọng, là một hoạt động không thể thiếu được ở các trường nhằm giúp học sinh nâng cao sự hiểu biết về nghề nghiệp và chính bản thân học sinh để có thể định hướng đúng đắn và đưa ra quyết định chọn ngành, chọn nghề nghiệp phù hợp. Trong những năm gần đây, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông đã được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp quản lý giáo dục; bước đầu đã có sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người học, gia đình và xã hội đối với việc chọn nghề, chọn ngành.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh trong trường phổ thông trong thời gian qua còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế như: tần suất triển khai hoạt động còn ít; trình độ, năng lực của đa số giáo viên còn chưa đáp ứng với yêu cầu, nhiều giáo viên còn có xu hướng dạy và học để ứng phó với kì thi, chạy theo thành tích, ngại học hỏi, sáng tạo, đổi mới để hướng tới mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Bên cạnh đó, việc chưa sử dụng đúng mức kết quả đánh giá của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong đánh giá học sinh cũng dẫn tới việc hoạt động này chưa thật sự được đầu tư ở nhiều địa bàn.

Tóm lại, thực tế triển khai hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường phổ thông bước đầu đã ghi nhận những kết quả khả quan. Đây là cơ sở để thúc đẩy tôi tiếp tục nghiên cứu, đề xuất những giải pháp để triển khai chương trình giáo dục mới phổ mới có hiệu quả, góp phần đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

1.2.2. Thực trạng triển khai hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường

trung học phổ thông

 Đối tượng khảo sát: 46 giáo viên và 300 học sinh tại các trường THPT trên địa

bàn huyện Đô Lương.

10

 Thời gian khảo sát: Tháng 9/2021 – tháng 10/2021.  Phiếu khảo sát dành cho học sinh và giáo viên (Xem phụ lục I)

 Kết quả khảo sát:

- Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh THPT

Mức độ Số lượng Tỉ lệ (%)

Rất quan trọng 18 39,13

Quan trọng 27 58,7

Bình thường 1 2,17

Ít quan trọng 0 0

Không quan trọng 0 0

Đại đa số giáo viên phổ thông đã có nhận thức khá cao về tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh. Đây là điều kiện thuận lợi để tạo động lực thúc đẩy giáo viên nâng cao năng lực trong việc tổ chức, thiết kế hoạt động.

- Thực trạng quan tâm của học sinh đối với các nội dung liên quan đến hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường THPT

Nội dung Câu trả lời

Có/Rồi Không/Chưa

95,6% 4,4%

Em đã bao giờ suy nghĩ về nghề nghiệp tương lai của mình chưa?

Em đã bao giờ tìm hiểu ngành nghề nào đó chưa? 59,6% 40,4%

97,3% 2,7%

Em có thấy rằng Thống kê có nhiều ứng dụng trong đời sống không?

5% 95%

Em đã bao giờ thực hiện tìm hiểu về một vấn đề nào đó bằng phương pháp thống kê chưa?

25,3% 74,7%

Em đã từng tham gia hoạt động trải nghiệm nào chưa?

92,6% 7,4%

Em có muốn tham gia vào hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề Thống kê không?

11

Đa số các em học sinh đã bắt đầu có suy nghĩ về định hướng nghề nghiệp trong tương lai của mình và nhóm ngành nghề thống kê còn đang lạ đối với các em. Do vậy, tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề Thống kê sẽ thu hút, hấp dẫn các em về tính thiết thực và cả sự mới mẻ.

- Thực trạng tần suất giáo viên tổ chức hoạt động trải nghiệm hoặc hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường THPT

Mức độ Số lượng Tỉ lệ (%)

Rất thường xuyên 0 0

Thường xuyên 4 8,7%

Thỉnh thoảng 42 91,3%

Chưa bao giờ 0 0

Mặc dù đã có nhận thức khá cao về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và bước đầu đã có sự triển khai ở các nhà trường phổ thông nhưng với mức độ còn khá ít. Điều này cần được cải thiện để góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra.

- Thực trạng mức độ khó khăn của giáo viên khi tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường THPT

Mức độ khó khăn (Tỉ lệ %)

Khó khăn

Khó khăn

Rất khó khăn

Bình thường

Ít khó khăn

Không khó khăn

Lựa chọn chủ đề

8,7%

45,6%

39,2%

6,5%

0

17,4%

60,9%

21,7%

0

0

Thiết kế hoạt động đảm bảo yêu cầu

17,4%

52,2%

23,9%

6,5%

0

Phương pháp, kĩ thuật áp dụng trong tổ chức hoạt động

17,4%

58,7%

23,9%

0

0

Hình thức tổ chức luôn cần đa dạng và sáng tạo

21,7%

54,3%

19,7%

4,3%

0

Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường

26,1%

56,5%

17,4%

0

0

Trình độ hiểu biết, thiết kế và tổ chức hoạt động của giáo viên

12

Kết quả khảo sát cho thấy những tín hiệu khả quan về nhận thức tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh cũng như mức độ hứng thú của học sinh với vấn đề này. Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn ít và nguyên nhân chủ yếu là những khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá trình tổ

chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng nói trên, tôi đã nghiên cứu, xây dựng giải pháp thực hiện phù hợp với tình hình địa phương và nhu cầu xã hội được trình bày ngay sau đây.

2. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG

NGHIỆP VỚI CHỦ ĐỀ “THỐNG KÊ – NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI”

2.1. Nguyên tắc thiết kế và tổ chức hoạt động

Khi thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, cần tuân theo các

nguyên tắc sau để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động.

Một là, các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được thiết kế và tổ chức phải đáp ứng mục tiêu về năng lực và phẩm chất như đã đưa ra. Nội dung hoạt động cần gần gũi, thiết thực với học sinh mà vẫn phản ánh hơi thở hiện đại, phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi học sinh.

Hai là, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được thiết kế và tổ chức phụ thuộc vào không gian trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học; phụ thuộc quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường và các hoạt động được tổ chức với các phương pháp giáo dục hiệu quả, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

Ba là, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được thiết kế phù hợp với các loại

hình tổ chức (sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ, câu lạc bộ, cuộc thi, …)

Bốn là, đa dạng hoá hình thức tổ chức hoạt động. Học sinh cần được tham gia vào các hoạt động khác nhau để được trải nghiệm sự đa dạng và phong phú của thực tiễn đời sống xã hội. Các hoạt động có tính khám phá như tham quan, cắm trại…; hoạt động có tính thể nghiệm tương tác như diễn đàn, đóng kịch, hội thi…; hoạt động có tính cống hiến như hoạt động tình nguyện nhân đạo, lao động công ích, tuyên truyền…; các hoạt động có tính nghiên cứu như hoạt động điều tra, khảo sát, làm dự án nghiên cứu, sáng tạo công nghệ…

Năm là, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Đối với việc đánh giá kết quả hoạt động, cần có sự phối hợp, tham gia của tất cả các bên liên quan tham gia hoạt động.

2.2. Xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Khi tiến hành bất kỳ công việc nào, nếu kế hoạch hoàn thiện, cụ thể, chi tiết sẽ dễ dàng thực hiện và khả năng thành công như mong đợi sẽ rất lớn. Trên cơ sở bám sát mục tiêu giáo dục, nguyên tắc thiết kế, tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cũng như liên hệ với tình hình thực tế học sinh, nhà trường, tôi thiết kế các bước tiến hành như sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu giáo dục và yêu cầu cần đạt về các phẩm chất chủ

13

yếu và năng lực đặc thù môn Toán.

Ngay từ trong tên gọi của hoạt động đã thể hiện được mục tiêu mà hoạt động này hướng tới mỗi học sinh. “Trải nghiệm” là một phương thức giáo dục mà qua đó mỗi học sinh được tự mình tương tác với môi trường xung quanh, tự mình thu thập được những kiến thức, kĩ năng từ những trải nghiệm để phát triển bản thân, bên cạnh đó giúp các em có thể tự nhìn nhận được năng lực, sở trường của bản thân, ra quyết định lựa chọn được nghề nghiệp tương lai, đồng thời xây dựng được kế hoạch rèn luyện đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và trở thành người công dân có ích; đó chính là “hướng nghiệp”.

Với mục tiêu nói trên và chủ đề cụ thể này, tôi xác định những yêu cầu cần đạt

cụ thể như sau.

Về phẩm chất chủ yếu Về năng lực đặc thù

- Năng lực tư duy và lập luận toán học: Thực hiện được tương đối thành thạo các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, tương tự, …;

- Chăm chỉ: Hoàn thành được mọi nhiệm vụ được giao, cố gắng vượt khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; Thể hiện được hiểu biết phong phú thông qua tự tìm kiếm và đọc sách, báo, tư liệu từ các nguồn khác nhau; Tích cực học tập, rèn luyện để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai.

- Năng lực mô hình hoá toán học: Xác định được mô hình toán học (bảng biểu) cho tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn và giải quyết được vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập.

- Năng lực giải quyết vấn đề toán học: Phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học và sử dụng các kiến thức, kỹ năng toán học tương thích về chủ đề Thống kê để giải quyết vấn đề đặt ra.

- Trách nhiệm: Thể hiện được trách nhiệm trong học tập và rèn luyện để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai; Đánh giá được hành vi chấp hành kỉ luật của bản thân và người khác; đấu tranh phê bình các hành vi vô kỉ luật, vi phạm pháp luật; Chủ động, tích cực tham gia và vận động được người khác tham gia lao động, tham gia các hoạt động giáo dục các vấn đề xã hội khác.

- Năng lực giao tiếp toán học: Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường khi trình bày, giải thích các ý tưởng toán học đồng thời thể hiện được sự tự tin trong sự tương tác với người khác.

- Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán: Sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán (máy tính, phần mềm R, …) để giải quyết vấn đề toán học. - Tự tin: Thể hiện sự tự tin khi trình bày, chia sẻ quan điểm cá nhân trước mọi người trong quá trình hoạt động và cuộc sống; Thể hiện sự thành thật với bản thân, nhận thức và hành động theo lẽ phải; Thể hiện được sự thẳng thắn trong các mối quan hệ bạn bè, gia đình và giáo viên.

Bước 2: Đặt tên cho hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

14

“THỐNG KÊ – NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI”

Bước 3: Xác định nội dung, sản phẩm học tập trải nghiệm sáng tạo và hình thức

của hoạt động

- Hình thức: Hình thức trung tâm là “Cuộc thi” với ba đội chơi và các hình thức

phụ trợ là giao lưu, văn nghệ.

- Nội dung:

+ Nội dung 1: Phần thi Màn chào hỏi.

+ Nội dung 2: Trả lời nhanh gói câu hỏi về chủ đề thống kê nói riêng và Toán

học nói chung.

+ Nội dung 3: Trò chơi “Mảnh ghép bí ẩn” để tìm ra bức ảnh chủ đề.

+ Nội dung 4: Giới thiệu “Bài toán kiểm định giả thuyết thống kê” và ứng dụng

của nó trong đời sống thực tế.

+ Nội dung 5: Trình bày quá trình tiến hành bài toán kiểm định thống kê với nội dung “Kiểm định sự độc lập giữa giới tính và sở thích thể thao của học sinh trường THPT Đô Lương 1”;

+ Nội dung 6: Trình bày quá trình tiến hành bài toán kiểm định thống kê với nội dung “Kiểm định tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 có giống nhau không?”;

+ Nội dung 7: Trình bày quá trình tiến hành bài toán kiểm định thống kê với nội dung “Kiểm định phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước có phù hợp với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1 hay không?”

Bước 4: Lập kế hoạch

Trường THPT Đô Lương 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tổ: TOÁN – TIN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Đô Lương, ngày 21 tháng 02 năm 2022

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP

“THỐNG KÊ – NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI”

Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2021 - 2022 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An;

Căn cứ vào kế hoạch năm học 2021 - 2022 và yêu cầu phát triển, thực tiễn của

bộ môn Toán;

Tôi là …………, giáo viên tổ Toán – Tin, trường THPT Đô Lương 1, xây dựng

Kế hoạch Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề “Thống kê” như sau:

1. Mục đích, yêu cầu:

15

- Khắc sâu, mở rộng và nâng cao hiểu biết của học sinh về chủ đề Thống kê

trong trường THPT, giúp các em thấy được tính thiết thực của thống kê trong thực tiễn đời sống hàng ngày.

- Khơi dậy niềm yêu thích và định hướng được một nhóm ngành nghề đầy tiềm năng, giúp học sinh hình thành và rèn luyện được các phẩm chất, kỹ năng cần thiết nhằm chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai.

2. Thành phần, thời gian, địa điểm:

- Thành phần gồm:

+ Phụ trách chung: ……………….. (Giáo viên môn Toán)

+ Học sinh lớp 10D3, lớp 10T5 gồm 15 học sinh tham gia cuộc thi (có danh

sách kèm theo) và một số học sinh đóng vai trò cộng tác viên.

+ Cá nhân, tổ chức phối hợp: Giáo viên nhóm Toán, phụ huynh, học sinh trường

THPT Đô Lương 1.

- Thời gian dự kiến: từ ngày 21/2/2022 đến ngày 14/03/2022.

- Địa điểm: Hội trường tầng 3, trường THPT Đô Lương 1.

3. Hình thức tổ chức và nội dung chương trình cụ thể: Cuộc thi “Thống kê – Những con số biết nói”.

4. Phân công nhiệm vụ:

- Giáo viên: phụ trách chung, chuyển giao nhiệm vụ và hướng dẫn, giám sát học sinh thực hiện nhiệm vụ, đánh giá nhận xét quá trình hoạt động và sản phẩm học tập.

- Đội trưởng các đội thi: phụ trách nội dung hoạt động của đội mình, phân

công nhiệm vụ cho các thành viên.

- Các thành viên trong đội thi: phối hợp với nhau thực hiện nhiệm vụ được

phân công.

- Đội cộng tác viên: hỗ trợ giáo viên và các đội thi chuẩn bị các sản phẩm học

tập.

Tôi xin cam kết thực hiện đúng kế hoạch, đảm bảo an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, có tính giáo dục cao.

Tôi xin trân trọng báo cáo và đề nghị Ban giám hiệu nhà trường phê duyệt và

tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện kế hoạch này.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tổ trưởng chuyên môn Người lập kế hoạch

16

(Kí, ghi rõ họ tên) (Kí, ghi rõ họ tên)

Bước 5: Thiết kế chi tiết hoạt động

Nội dung, tiến trình Thời gian Địa điểm, hình thức Yêu cầu cần đạt hoặc sản phẩm Nhiệm vụ của học sinh Hỗ trợ của giáo viên Thành phần tham gia

- Lập được kế hoạch chi tiết hoạt động

- Trình duyệt được tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn - Hướng dẫn học sinh xác định ý nghĩa và mục tiêu của hoạt động

- Giáo viên nhóm Toán, - Tiếp nhận thông tin về cuộc thi, tổ - Văn bản phát động cuộc thi đến học sinh 3 ngày Phòng Toán - Tin Hoạt động 1: Khởi động cuộc thi - Lập được các đội thi, đội cộng tác viên - Học sinh lớp 10T5, 10D3. - Chuyển giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh thành lập đội thi, đội cộng tác viên - Tiếp nhận nhiệm vụ mà viên giáo chuyển giao.

- Cung cấp cho học sinh nguồn tài liệu tham khảo - Hướng dẫn được học sinh xác định mục đích, nội dung, nhiệm vụ và cách lập kế hoạch nhóm.

- GV xây dựng được kịch bản chi tiết cuộc thi - Giáo viên nhóm Toán,

- Lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ cuộc thi - Hỗ trợ giải đáp thắc mắc, khó khăn của học sinh trong quá trình thực hiện 18 ngày Hoạt động 2: khai Triển thực hiện

17

- Học sinh lớp 10T5, 10D3. - Học sinh lập được kế hoạch thực hiện; điều tra thu thập và xử lý sơ bộ dữ liệu, xây dựng và hoàn thiện được các sản - Tiến hành thực hiện kế - Kiểm tra sản phẩm tổng bị, chuẩn Tại trường, ở nhà và các địa điểm khác để học sinh điều tra, thu thập và xử lý số

thử

hoạch đã xây dựng duyệt, chạy chương trình

liệu; ôn luyện chuẩn bị cho cuộc thi

phẩm dự thi theo kế hoạch: màn chào hỏi đồng thời là tình huống đặt vấn đề, ôn luyện kiến thức kĩ năng cho phần thi hiểu biết, …

- Chuẩn bị các tiết mục văn nghệ, công tác hậu cần

- Học sinh thực hiện tốt các phần thi - Đại diện BGH, Đoàn trường, - Học sinh tham gia các phần thi của đội mình, trò chơi danh cho khán giả

Hội trường 1 buổi (2 tiết) - Giáo viên nhóm Toán, - Bản đánh giá, tổng kết, trao giải Hoạt động 3: Tổ chức cuộc thi

- Học sinh tham gia các tiết mục văn nghệ - Bản rút kinh nghiệm sau hoạt động

- Học sinh lớp 10T5, 10D3. Giáo viên hỗ trợ hướng dẫn học sinh thực hiện các phần thi, trò chơi dành cho khán giả, đánh giá kết quả các phần thi, tổng kết, trao kinh rút giải, nghiệm

18

- Đánh giá, rút kinh nghiệm sau hoạt động

2.3. Tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện hoạt động trải nghiệm, hướng

nghiệp với chủ đề “Thống kê – Những con số biết nói”

2.3.1. Hướng dẫn học sinh xác định mục đích và xây dựng kế hoạch hoạt

động trải nghiệm, hướng nghiệm

Để mở đầu hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với hình thức cuộc thi, giáo viên cho học sinh xem một đoạn video về phiên bản khác của một trích đoạn trong câu chuyện cổ tích Tấm Cám, có lồng ghép nội dung thống kê nhằm khơi gợi hứng thú học sinh về chủ đề Thống kê. Từ đó, giáo viên giới thiệu mục đích khi tham gia hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp Thống kê – Những con số biết nói:

- Khắc sâu, mở rộng và nâng cao hiểu biết của học sinh về chủ đề Thống kê

trong trường THPT.

- Thấy được tính thiết thực của Thống kê trong thực tiễn đời sống hàng ngày, xây

dựng niềm yêu thích và định hướng được một ngành nghề triển vọng trong tương lai.

Tiếp theo đó, giáo viên dựa trên thiết kế các hoạt động để hướng dẫn học sinh

xác định các nhiệm vụ cần thực hiện:

 Đối với ba đội thi: Mỗi đội thi gồm có 05 thành viên, tham gia vào các nội

dung trong cuộc thi gồm:

- Màn chào hỏi (giới thiệu được các thành viên và tên đội);

- Phần thi hiểu biết và trò chơi lật mảnh ghép;

- Bài toán kiểm định giả thuyết thống kê:

+ Kiểm định sự độc lập giữa giới tính và sở thích thể thao của học sinh trường

THPT Đô Lương 1;

+ Kiểm định tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1,

2, 3 có giống nhau không?

+ Kiểm định phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước có phù hợp với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1 hay không?

 Đối với đội cộng tác viên: Mỗi đội thi có một đội cộng tác viên gồm 03 thành

viên để hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị các nhiệm vụ cho cuộc thi.

 Các học sinh còn lại: Tham gia với vai trò khán giả, giao lưu và trả lời câu hỏi

trong phần trò chơi dành cho khán giả.

19

Trên cơ sở các nhiệm vụ được giao, mỗi đội thi tiến hành họp bàn bầu ra nhóm trưởng và dưới sự hướng dẫn của giáo viên để lập kế hoạch thực hiện, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong đội thi và đội cộng tác viên. Trong kế hoạch, cần chỉ ra được: mục tiêu, nội dung công việc, thời gian dự kiến, sản phẩm dự kiến, phương tiện hỗ trợ và người phụ trách. Khi thực hiện hoạt động nhóm, nhóm trưởng là người phụ trách chung, nhưng đồng thời phải giao trách nhiệm rõ

ràng, cụ thể cho từng thành viên và có biện pháp tăng cường tương tác, trao đổi trong nhóm. Giáo viên cần theo dõi và có những can thiệp, điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết để hoạt động nhóm có thể đạt hiệu quả cao nhất.

 Mục tiêu chung: Củng cố, mở rộng và nâng cao hiểu biết về khoa học Thống kê nói riêng và Toán học nói chung, thấy được ứng dụng thực tế của thống kê trong các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là giáo dục. Bên cạnh đó, tìm hiểu được thêm một lĩnh vực ngành nghề đầy tiềm năng và hình thành được các phẩm chất, năng lực cần thiết cho nghề nghiệp trong tương lai.

 Nội dung công việc:

* Phần chung:

- Ba đội thi chuẩn bị kịch bản màn chào hỏi, trong đó giới thiệu được các thành viên và ý nghĩa của tên đội đồng thời lồng ghép được nội dung bài toán kiểm định đã chọn;

- Tất cả các thành viên ba đội thi chuẩn bị kiến thức cơ bản, nền tảng về chủ đề Thống kê để tham gia trả lời phần thi hiểu biết;

* Phần riêng:

- Đối với đội thi với bài toán kiểm định “Kiểm định sự độc lập giữa giới tính

và sở thích thể thao của học sinh trường THPT Đô Lương 1”, nội dung gồm:

+ Tìm hiểu bài toán kiểm định giả thuyết về sự độc lập giữa hai dấu hiệu

nghiên cứu.

+ Chọn mẫu ngẫu nhiên và phát phiếu điều tra về sở thích thể thao cho các đối

tượng trong mẫu này.

+ Thu thập và xử lý số liệu, thực hiện các bước trong bài toán kiểm định sự độc lập giữa hai dấu hiệu nghiên cứu và kiểm tra bằng phần mềm R để đi đến kết luận của vấn đề.

- Đối với đội thi với bài toán kiểm định “Kiểm định tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 có giống nhau không?”, nội dung gồm:

+ Tìm hiểu bài toán kiểm định giả thuyết sự đồng nhất của các tổng thể theo

một dấu hiệu nghiên cứu.

+ Chọn mẫu ngẫu nhiên các học sinh ở ba trường và phát phiếu điều tra về lớp

đang theo học thuộc ban tự nhiên hay ban xã hội.

+ Thu thập và xử lý số liệu, thực hiện các bước trong bài toán kiểm định sự đồng nhất của các tổng thể theo dấu hiệu nghiên cứu và kiểm tra bằng phần mềm R để đi đến kết luận của vấn đề.

20

- Đối với đội thi với bài toán kiểm định “Kiểm định phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước có phù hợp với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1 hay không”, nội dung gồm:

+ Tìm hiểu bài toán kiểm định sự phù hợp của tỉ lệ cho trước về dấu hiệu nghiên

cứu đối với một tổng thể.

+ Thu thập kết quả điểm thi tốt nghiệp THPT môn toán của học sinh cả nước (Theo công bố chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo) và của học sinh trường THPT Đô Lương 1 năm 2021 (Báo cáo của Ban giám hiệu nhà trường).

+ Xử lý số liệu, thực hiện các bước trong bài toán kiểm định sự phù hợp của tỉ lệ cho trước về dấu hiệu nghiên cứu đối với một tổng thể và kiểm tra bằng phần mềm R để đi đến kết luận của vấn đề.

 Thời gian thực hiện dự kiến: Trong vòng 3 tuần kể từ khi nhận nhiệm vụ đến

khi kết thúc cuộc thi.

 Sản phẩm dự kiến: Ba đội thi trình bày được các sản phẩm sau

- Màn chào hỏi, giới thiệu đội thi;

- Bài thuyết trình về bài toán “Kiểm định sự độc lập giữa giới tính và sở thích thể

thao của học sinh trường THPT Đô Lương 1”;

- Bài thuyết trình về bài toán “Kiểm định tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba

trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 có giống nhau không?”;

- Bài thuyết trình về bài toán “Kiểm định phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước có phù hợp với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1 hay không”;

 Phương tiện hỗ trợ:

- Máy tính xách tay, phần mềm R, phần mềm Microsoft Powerpoint;

- Sách giáo khoa Đại số 10 (Cơ bản và Nâng cao), tài liệu do giáo viên giới thiệu và trên internet;

- Phục trang và các vật dụng hỗ trợ khác…

 Người phụ trách: Mỗi đội thi dưới sự điều hành của đội trưởng, căn cứ vào nội dung công việc để lập ra một bảng phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân, từng nhóm.

2.3.2. Hướng dẫn học sinh thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm,

hướng nghiệp

Khi học sinh đã xây dựng được kế hoạch thực hiện hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh trong việc tìm hiểu bài toán kiểm định giả thuyết và vận dụng vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn; rèn luyện cho các em một số kĩ năng trải nghiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hướng tới mục tiêu đặt ra ban đầu.

a. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về bài toán kiểm định giả thuyết

21

Bài toán “kiểm định giả thuyết” hiểu nôm na là sử dụng một “tiêu chuẩn kiểm định” đã có để kiểm tra một giả thuyết đặt ra được chấp nhận hay bác bỏ. Ở đây,

giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng tiêu chuẩn kiểm định 𝑋2 (tiêu chuẩn Chi bình phương) của nhà toán học Karl Pearson đưa ra vào năm 1900, đây là một tiêu chuẩn thường được sử dụng trong các bài toán kiểm định thống kê. Tiêu chuẩn kiểm định này được xây dựng trên cơ sở tính toán đo “độ lệch” giữa các đại lượng “thực tế” theo điều tra và đại lượng “lý thuyết” theo giả thuyết đặt ra. Nếu “độ lệch” càng bé thì giả thuyết được chấp nhận, ngược lại thì bị bác bỏ.

Khi tiến hành kiểm định một giả thuyết thì vẫn có khả năng gặp mắc phải sai lầm bác bỏ giả thuyết trong khi giả thuyết đó lại đúng (trong thống kê gọi là Sai lầm loại I), người ta gán một số 𝛼 thuộc khoảng (0;1) để chỉ xác suất mắc phải sai lầm này khi thực hiện kiểm định. 𝛼 gọi là “mức ý nghĩa” được cho trước của bài toán kiểm định và giá trị thường lấy là 0,05 hoặc 0,1.

Bên cạnh 𝛼 thì ta cần quan tâm đến một giá trị khác là “trị số P” (p-value). Khác với 𝛼 đã được cho trước trong mỗi bài toán thì trị số P được tính toán từ số liệu điều tra thực tế của mẫu ngẫu nhiên chọn ra. Việc so sánh trị số P và 𝛼 giúp ta kết luận chấp nhận hoặc bác bỏ giả thuyết, cụ thể:

- Nếu trị số P > 𝛼 thì chấp nhận giả thuyết;

- Nếu trị số 𝑃 < 𝛼 thì bác bỏ giả thuyết.

Do năng lực hiểu biết và tiếp nhận của học sinh THPT còn hạn chế, nhất là các khái niệm khoa học về lý thuyết xác suất, thống kê, nên trong phạm vi của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp này, giáo viên sử dụng cách diễn đạt gần gũi, không quá phức tạp để giúp các em bước đầu tiếp cận nhẹ nhàng với bài toán kiểm định giả thuyết nói riêng và khoa học thống kê nói chung.

Sau khi giới thiệu qua về bài toán kiểm định giả thuyết thống kê, giáo viên hướng dẫn học sinh quy trình thực hiện việc kiểm định ba nội dung đã được giao trước đó. Các bước thực hiện gồm:

Bước 1. Tiếp nhận vấn đề.

Nắm được nội dung giả thuyết cần kiểm định.

Bước 2. Điều tra và thu thập số liệu.

- Xác định tổng thể điều tra và chọn mẫu ngẫu nhiên;

- Thu thập số liệu theo dấu hiệu điều tra.

Bước 3. Xử lý số liệu.

- Tổng hợp số liệu trong bảng thống kê;

- Sử dụng tiêu chuẩn Chi bình phương được tích hợp phần mềm R để kiểm định

giả thuyết.

Cụ thể triển khai các bước trên đối với từng bài toán như sau:

 Bài toán “Kiểm định sự độc lập giữa giới tính và sở thích thể thao của học

22

sinh trường THPT Đô Lương 1”

Bước 1. Học sinh tiếp nhận vấn đề: Trong bối cảnh đổi mới phương pháp giáo dục nhằm mục tiêu phát triển năng lực toàn diện cho học sinh, phát triển hài hoà giữa các yếu tố “Đức – Trí – Thể - Mĩ” thì ta cần đặc biệt quan tâm đến sở thích thể thao của học sinh để tăng thêm hứng thú, khơi dậy tinh thần tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên, liên tục cho các em. Để thêm một kênh thông tin giúp đánh giá phát triển thể lực cho học sinh, ta có thể đặt ra giả thuyết “Sở thích thể thao của mỗi học sinh độc lập với giới tính của họ” với mức ý nghĩa 0,05.

Bước 2. Điều tra và thu thập số liệu.

Xác định tổng thể điều tra là học sinh trường THPT Đô Lương 1. Chọn mẫu ngẫu nhiên 80 người (cả nam và nữ) và phát phiếu điều tra xem môn thể thao yêu thích nhất của họ trong ba môn thể thao: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông là gì.

Bước 3.

- Tổng hợp kết quả trong bảng sau:

Môn thể thao

Bóng đá

Bóng chuyền

Cầu lông

Tổng

Giới tính

Nam

𝑥1

𝑥2

𝑥3

Nữ

𝑦1

𝑦2

𝑦3

Tổng

80

- Câu lệnh trong phần mềm R sử dụng tiêu chuẩn Chi bình phương kiểm định sự độc lập giữa hai dấu hiệu nghiên cứu là giới tính (nam, nữ) và môn thể thao yêu thích (bóng đá, bóng chuyền và cầu lông) như sau

Nam=c(𝑥1,𝑥2,𝑥3) Nu=c(𝑦1,𝑦2,𝑦3) A=matrix(c(Nam,Nu), nrow=2)

23

chisq.test(A)

Trong đó, lệnh chisq.test(A) chính là viết tắt của tiêu chuẩn kiểm định

Chi bình phương (Chi-squared test) đối với ma trận dữ liệu A.

Học sinh nhập lệnh theo mẫu và số liệu điều tra thu được thì kết quả nhận được

có dạng

Pearson's Chi-squared test

data: A

X-squared = xxxx, df = 2, p-value = xxxx

Ở đây, khi đọc kết quả, ta chỉ cần quan tâm trị số P bằng bao nhiêu. Nếu trị số P lớn hơn 𝛼 thì ta chấp nhận giả thuyết, ngược lại, nếu trị số P bé hơn 𝛼 thì bác bỏ giả thuyết.

 Bài toán “Kiểm định tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô

Lương 1, 2, 3 có giống nhau không?”

Bước 1. Học sinh tiếp nhận vấn đề: Có thể nói, niềm yêu thích đối với một môn học của học sinh phụ thuộc khá nhiều vào nội dung chương trình dạy học và năng lực giáo dục của giáo viên. Đây cũng là một kênh thông tin để giúp các nhà giáo dục đánh giá nội dung chương trình hiện hành và năng lực giáo dục của các giáo viên, từ đó có thể đưa ra một số biện pháp đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Với mục tiêu đó, ta có thể đặt ra một giả thuyết là “Tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 là giống nhau” và sử dụng tiêu chuẩn Chi bình phương để kiểm định với mức ý nghĩa 0,1.

Bước 2. Điều tra và thu thập số liệu.

Xác định tổng thể điều tra là học sinh các trường THPT Đô Lương 1, 2, 3. Chọn mẫu ngẫu nhiên 150 người (cả ba trường) và phát phiếu điều tra xem họ theo học lớp ban tự nhiên hay ban xã hội. Học sinh có thể kết hợp phát phiếu điều tra trực tiếp và sử dụng khảo sát trực tuyến bằng công cụ Google form để thu thập thông tin.

24

Phiếu khảo sát trực tiếp tại trường THPT Đô Lương 1

Khảo sát trực tuyến đối với học sinh THPT Đô Lương 2, 3

Bước 3. Tổng hợp kết quả trong bảng sau:

Trường Tổng

THPT Đô Lương 1 THPT Đô Lương 2 THPT Đô Lương 3

Ban xã hội 𝑥1 𝑥2 𝑥3

Ban tự nhiên 𝑦1 𝑦2 𝑦3

Tổng 50 50 50 150

- Câu lệnh trong phần mềm R sử dụng tiêu chuẩn Chi bình phương để kiểm

định sự đồng nhất giữa tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở cả ba trường như sau

BXH=c(𝑥1,𝑥2,𝑥3) BTN=c(𝑦,𝑦2,𝑦3) A=matrix(c(BXH,BTN),nrow=2)

chisq.test(A)

Học sinh nhập lệnh theo mẫu và số liệu điều tra thu được thì kết quả nhận được

có dạng như sau

Pearson's Chi-squared test

data: A

X-squared = xxxx, df = 2, p-value = xxxx

25

Khi đọc kết quả, ta so sánh trị số P và 𝛼 để kết luận.

 Bài toán “Kiểm định phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước có phù hợp với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1 hay không”

Bước 1. Tiếp nhận vấn đề: Nhằm có cơ sở thực tiễn để đánh giá chất lượng giáo dục nhà trường hằng năm, một giả thuyết được đặt ra là “Phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước phù hợp với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1”, tức là tỉ lệ các mức điểm thi môn toán của học sinh cả nước tương đương với tỉ lệ các mức điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1. Ta sẽ kiểm định giả thuyết này bằng tiêu chuẩn kiểm định Chi-bình phương với mức ý nghĩa 0,05.

Bước 2. Điều tra và thu thập số liệu.

- Cập nhật phổ điểm thi của học sinh cả nước theo công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguồn: https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=7451. Theo đó, xác định được có bao nhiêu phần trăm học sinh có điểm số ở mức từ 0 đến dưới 3 điểm, từ 3 đến dưới 5 điểm, từ 5 đến dưới 7 điểm, từ 7 đến dưới 8,5 điểm và từ 8,5 điểm trở lên.

- Xác định tổng thể là học sinh khối 12 trường THPT Đô Lương 1 năm học 2020-2021. Chọn mẫu ngẫu nhiên gồm điểm thi môn toán của 80 học sinh (số liệu lấy từ tổng hợp của Sở GD&ĐT).

Bước 3.

- Tổng hợp số liệu vào trong bảng sau

Lớp điểm

[0;3)

[3;5)

[5;7)

[7;8,5)

[8,5;10] Tổng

Tỉ lệ của HS cả nước (%)

100%

𝑎1

𝑎2

𝑎3

𝑎4

𝑎5

80

Số lượng

𝑥1

𝑥2

𝑥3

𝑥4

𝑥5

26

- Câu lệnh trong phần mềm R:

p0=c(𝑎1, 𝑎2, 𝑎3, 𝑎4, 𝑎5) O=c(𝑥1, 𝑥2, 𝑥3, 𝑥4, 𝑥5) chisq.test(O,p=p0)

Học sinh nhập lệnh theo mẫu và số liệu điều tra thu được thì kết quả nhận được

có dạng như sau

Chi-squared test for given probabilities

data: O

X-squared = xxxx, df = 4, p-value = xxxx

Khi đọc kết quả, ta so sánh trị số P và 𝛼 để kết luận.

b. Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng trải nghiệm, phát triển các năng

lực đặc thù Toán học và các phẩm chất đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp

Để bắt tay vào thực hiện có hiệu quả theo kế hoạch đã xây dựng, học sinh cần được trang bị và trong quá trình thực hiện cũng tiếp tục được rèn luyện một số kĩ năng gắn với phát triển năng lực đặc thù toán học như sau:

- Kĩ năng làm việc nhóm (Năng lực giao tiếp toán học): Biết lắng nghe người khác; biết tổ chức, phân công công việc đồng đều giữa các thành viên trong nhóm; tôn trọng và giúp đỡ các thành viên trong nhóm; có trách nhiệm với công việc được giao; có năng lực trình bày và thuyết phục để bảo vệ ý kiến của mình hoặc phản biện ý kiến của người khác trên tinh thần khách quan, đảm bảo tính đoàn kết.

- Kĩ năng điều tra và thu thập thông tin: Năng lực tư duy, lập luận và giải quyết vấn đề toán học thể hiện qua việc nhận biết tình huống có vấn đề, từ đó xác định rõ tổng thể điều tra và dấu hiệu điều tra. Khi chọn mẫu thì cần chọn mẫu ngẫu nhiên để đảm bảo tính khách quan, trung thực. Thu thập thông tin (cụ thể là số liệu điều tra) là quá trình xác định nhu cầu thông tin, nguồn thông tin, thực hiện tập hợp thông tin theo yêu cầu nhằm đáp ứng mục tiêu được định trước. Thu thập số liệu có thể từ tài liệu tham khảo (sách, báo, truyền hình, interner, …) đã có hoặc từ thực tiễn điều tra (phiếu điều tra, phỏng vấn, thảo luận, …).

- Kĩ năng xử lý số liệu trong thống kê: Xử lý số liệu là hoạt động phân tích, tính toán theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định, cần đảm bảo sự chính xác, khoa học và khách quan. Trên cơ sở đó đưa ra các kết luận cho mục tiêu ban đầu, đồng thời khái quát hoá được cho vấn đề tương tự. Để thực hiện công việc này, học sinh cần sử dụng bảng biểu để sắp xếp số liệu (năng lực mô hình hoá toán học) và sử dụng thành thạo máy tính cầm tay, phần mềm thống kê R… cùng các tài nguyên toán học khác (năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán).

27

- Kỹ năng thuyết trình, báo cáo sản phẩm: Kỹ năng thuyết trình đóng vai trò quan trọng trong phỏng vấn, công việc cũng như học tập, thuyết trình tốt sẽ làm

tăng sức thuyết phục, nhấn mạnh được ý nghĩa, giá trị của sản phẩm. Để thực hiện tốt phần thuyết trình, yếu tố quan trọng nhất chính là sự tự tin. Nếu tự tin, học sinh sẽ có thể truyền tải thông tin một cách rõ ràng và chính xác nhất. Bên cạnh đó, trước khi thuyết trình cần chuẩn bị bài thuyết trình theo kết cấu logic chặt chẽ, có sử dụng hình ảnh, biểu đồ để trực quan hoá bài thuyết trình, và tất nhiên là phải có thực hành, tập luyện để kịp thời phát hiện sửa chữa sai sót. Khi thuyết trình, giáo viên khuyến khích học sinh kết hợp ngôn ngữ hình thể để tạo nên sự uyển chuyển, thu hút người theo dõi. Năng lực giao tiếp toán học một lần nữa được thể hiện rõ qua nhiệm vụ này.

Bên cạnh đó, học sinh cũng cần trang bị một số phẩm chất như trung thực, năng động, ham học hỏi; có khả năng tính toán chính xác cao, có sự cẩn thận, tỉ mỉ trong phân tích, xử lý số liệu và khả năng công nghệ thông tin, …

2.3.3. Hướng dẫn học sinh báo cáo sản phẩm của hoạt động trải nghiệm,

hướng nghiệp

Sau quá trình chuẩn bị và thực hiện theo kế hoạch hoạt động, cuộc thi chính là thời điểm để học sinh báo cáo về quá trình thực hiện và sản phẩm hoạt động trải nghiệm của mình. Đây có thể coi là thời điểm then chốt, quyết định hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp có thành công hay không. Học sinh cũng sẽ rất mong chờ để thể hiện bản thân, khẳng định mình. Do đó, giáo viên hướng dẫn các đội thi báo cáo sản phẩm hoạt động theo cấu trúc sau.

- Màn chào hỏi: Các đội thi giới thiệu về đội thi.

+ Hình thức: Khuyến khích dựng tiểu phẩm, đọc thơ, vè, …

+ Nội dung: Ý nghĩa tên đội thi, các thành viên, mục tiêu tham gia cuộc thi và

có lồng ghép nội dung bài toán kiểm định.

- Phần thi Hiểu biết và Mảnh ghép bí ẩn: Các đội thi thể hiện hiểu biết của mình qua việc trả lời các câu hỏi liên quan đến Toán học nói chung và chủ đề Thống kê nói riêng.

- Phần thi Tập làm thống kê viên: Các đội thi trình bày các bước tiến hành bài toán kiểm định và rút ra kết luận. Bài báo cáo cần được chuẩn bị trên phần mềm trình chiếu Microsoft Powerpoint.

2.4. Đánh giá hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

28

Để đánh giá toàn diện hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thì cần kết hợp sự đánh giá từ nhiều nguồn: Đánh giá của giáo viên phụ trách hướng dẫn, tổ chức; tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh và đánh giá của giáo viên tham dự với tư cách khách mời. Trong đánh giá phẩm chất và năng lực của học sinh, sự kết hợp đó là cực kì cần thiết để đảm bảo tính khách quan, toàn diện để đưa ra nhận định về học sinh. Việc học sinh được tự đưa ra đánh giá cũng góp phần giúp học sinh tự tin hơn trong việc đánh giá.

Công cụ đánh giá được sử dụng cần phải đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, mục đích đánh giá. Đối với giáo viên hướng dẫn là đánh giá kết quả và kĩ năng làm việc nhóm được biểu hiện ra trong môi trường học đường cũng như trong quá trình trải nghiệm; đối với ban giám khảo (hoặc giáo viên khách mời) là đánh giá bằng rubric với các tiêu chí, cấp độ cụ thể để đánh giá sản phẩm hoạt động của học sinh; còn đối với học sinh là phiếu điều tra, khảo sát tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.

Các mẫu phiếu đánh giá được người viết sử dụng để đánh giá hoạt động trải

nghiệm, hướng nghiệp:

 Mẫu đánh giá làm việc nhóm dành cho giáo viên hướng dẫn

PHIẾU ĐÁNH GIÁ LÀM VIỆC NHÓM ………………………………….

Mức độ

(1 là thấp nhất, 5 là cao nhất) STT Kết quả và kĩ năng làm việc nhóm

1 2 3 4 5

1 Mức độ hoàn thành các

nhiệm vụ và mục tiêu của nhóm

2 Sự ăn ý giữa các thành viên

3

Sự phục tùng ý kiến số đông

4 Khả năng giải quyết vấn đề

của trưởng nhóm

5 Thành viên biết chia sẻ,

quan tâm và giúp đỡ nhau

6 Đảm bảo công việc đúng

tiến độ

7 Có trách nhiệm với công

việc chung

8

29

Phân công nhiệm vụ rõ ràng và hợp lí

 Mẫu phiếu đánh giá từng cá nhân dành cho học sinh và giáo viên

PHIẾU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOẠT ĐỘNG CỦA THÀNH VIÊN

ĐỘI: ……………………………………..

Điểm

Nhiệm vụ và mức độ

TT

Họ và tên

hoàn thành

Tự đánh

Đội

Giáo

(Tốt/ khá/ trung bình)

giá

trưởng

viên

1

2

3

4

5

 Mẫu phiếu đánh giá sản phẩm trải nghiệm của ban giám khảo

PHIẾU CHO ĐIỂM MÀN CHÀO HỎI (Tối đa 50 điểm)

Đội …………………………

Đội …………………………

Đội …………………………

PHIẾU ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM TRẢI NGHIỆM

“BÀI TOÁN KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT THỐNG KÊ”

Mô tả mức chất lượng

Mức chất lượng

Thang điểm

Điểm Đội … Đội … Đội …

Giỏi

85-100

- Số liệu chính xác, trình bày khoa học, rõ ràng - Thuyết trình rõ ràng, tự tin, thuyết phục, giao lưu người nghe - Nội dung báo cáo rõ ràng, thuyết phục - 100% thành viên tham gia thực hiện

70-84 Đáp ứng 70 – 80% mức Giỏi

50-69 Đáp ứng 50 – 60% mức Giỏi

Khá Trung bình Yếu

0-49

Đáp ứng dưới 50% mức Giỏi

30

 Mẫu phiếu đánh giá dành cho khách mời (giáo viên nhóm Toán, đại biểu…)

PHIẾU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP

Mức đánh giá

(1 là thấp nhất, 5 là cao nhất) STT Nội dung đánh giá

1 2 3 4 5

1 Mức độ hợp lý, thiết thực của nội dung HĐTN, HN

2

Mức độ sinh động, hấp dẫn học sinh của hình thức tổ chức HĐTN, HN

3

Mức độ tích cực, chủ động, hợp tác của học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ

4 Mức độ chính xác, phù hợp của các kết quả nhiệm vụ của học sinh

5 Mức độ tập trung của khán giả theo dõi HĐTN, HN

6

Mức độ phù hợp của các thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng trong HĐTN, HN

7

Mức độ hiệu quả và tác động tích cực của HĐTN, HN đối với học sinh

……………………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………………

Nhận xét chung:

31

Người đánh giá

2.5. Kế hoạch hoạt động giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ đề

“Thống kê – Những con số biết nói”

I. Mục tiêu

1. Kiến thức:

- Khắc sâu, mở rộng được kiến thức của học sinh về chủ đề Thống kê

- Học sinh nhận diện được bài toán kiểm định thống kê và sử dụng được tiêu

chuẩn Chi bình phương để giải quyết bài toán.

2. Năng lực: Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp gắn với môn Toán giúp hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực chung được biểu hiện qua các năng lực đặc thù. Cụ thể,

- Năng lực đặc thù của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp:

+ Thể hiện được tư duy độc lập, đánh giá được điểm mạnh, yếu và khả năng thay

đổi của bản thân;

+ Thể hiện được khả năng tự học, thực hiện được các nhiệm vụ trong hoàn cảnh

mới; giải quyết được một số vấn đề xã hội phù hợp với khả năng của mình;

+ Thể hiện được khả năng khả năng xây dựng và thực hiện kế hoạch, đánh giá

được kết quả hoạt động và rút ra được bài học kinh nghiệm;

+ Xác định được những phẩm chất và năng lực của bản thân phù hợp hoặc chưa

phù hợp với yêu cầu của nhóm nghề liên quan đến Thống kê.

- Năng lực đặc thù Toán học:

+ Năng lực tư duy và lập luận toán học: Thực hiện được tương đối thành thạo

các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, tương tự, …;

+ Năng lực mô hình hoá toán học: Xác định được mô hình toán học (bảng biểu) cho tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn và giải quyết được vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập.

+ Năng lực giải quyết vấn đề toán học: Phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học và sử dụng các kiến thức, kỹ năng toán học tương thích về chủ đề Thống kê để giải quyết vấn đề đặt ra.

+ Năng lực giao tiếp toán học: Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường khi trình bày, giải thích các ý tưởng toán học đồng thời thể hiện được sự tự tin trong sự tương tác với người khác.

+ Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán: Sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán (máy tính, phần mềm R, …) để giải quyết vấn đề toán học.

3. Phẩm chất

32

- Chăm chỉ: Hoàn thành được mọi nhiệm vụ được giao, cố gắng vượt khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; Thể hiện được hiểu biết phong phú thông qua tự tìm kiếm

và đọc sách, báo, tư liệu từ các nguồn khác nhau; Tích cực học tập, rèn luyện để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai.

- Trách nhiệm: Thể hiện được trách nhiệm trong học tập và rèn luyện để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai; Đánh giá được hành vi chấp hành kỉ luật của bản thân và người khác; đấu tranh phê bình các hành vi vô kỉ luật, vi phạm pháp luật; Chủ động, tích cực tham gia và vận động được người khác tham gia lao động, tham gia các hoạt động giáo dục các vấn đề xã hội khác.

- Tự tin: Thể hiện sự tự tin khi trình bày, chia sẻ quan điểm cá nhân trước mọi người trong quá trình hoạt động và cuộc sống; Thể hiện sự thành thật với bản thân, nhận thức và hành động theo lẽ phải; Thể hiện được sự thẳng thắn trong các mối quan hệ bạn bè, gia đình và giáo viên.

II. Thời gian thực hiện: 3 tuần

III. Thiết bị dạy học và học liệu

- Máy tính xách tay, máy tính bỏ túi, máy chiếu;

- Phần mềm Microsoft Powerpoint, phần mềm R;

- Phiếu điều tra, khảo sát, phiếu đánh giá;

- Tài liệu : sách giáo khoa Đại số 10 cơ bản và nâng cao;

Internet: https://www.google.com/, https://www.youtube.com/, https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=7452, …

- Hội trường: bàn ghế, maket, quà tặng, loa máy, …

- Giấy mời đại biểu.

IV. Tiến trình hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Hoạt động 1. Khởi động cuộc thi

a. Mục tiêu

Giáo viên xây dựng được kế hoạch chi tiết hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

và triển khai được nội dung cuộc thi đến học sinh.

b. Nội dung

- Giáo viên lập kế hoạch hoạt động để trình duyệt trước tổ chuyên môn cùng

Ban giám hiệu nhà trường .

- Giáo viên phát động cuộc thi đến học sinh bằng văn bản và mạng xã hội.

- Tiến hành lập đội thi và đội cộng tác viên hỗ trợ cho các đội thi.

- Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định mục đích, nội dung, nhiệm vụ và cách

lập kế hoạch hoạt động, hồ sơ học tập cho từng đội thi.

c. Sản phẩm dự kiến

33

- Danh sách học sinh tham gia các đội thi, cử được đội trưởng;

- Cấu trúc kế hoạch hoạt động chi tiết của các đội thi, bảng phân công nhiệm

vụ cho các thành viên trong đội.

d. Tổ chức thực hiện

- Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên chuyển giao văn bản, học sinh tiếp nhận và

thực hiện theo hướng dẫn.

- Thực hiện: Giáo viên điều hành, hướng dẫn. Học sinh thảo luận, trao đổi để

thống nhất đưa ra sản phẩm cuối cùng.

- Báo cáo, thảo luận: Các đội thi trình bày báo cáo bảng phân công nhiệm vụ,

cấu trúc kế hoạch hoạt động cho giáo viên.

- Đánh giá, nhận xét: Giáo viên nhận xét, góp ý và đưa ra một số điều chỉnh

thích hợp cho sản phẩm của học sinh.

Hoạt động 2. Triển khai thực hiện

a. Mục tiêu

- Học sinh xây dựng được kế hoạch hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp của

đội mình; thực hiện được kế hoạch để tạo ra sản phẩm đúng thời gian dự kiến.

- Rèn luyện và phát triển các phẩm chất, kỹ năng như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng điều tra, thu thập và xử lý số liệu, kỹ năng cùng các năng lực đặc thù đã nêu trong phần mục tiêu chung.

b. Nội dung

- Giáo viên biên soạn kịch bản, thể lệ cuộc thi;

- Học sinh thực hiện theo kế hoạch và nhiệm vụ được phân công để hoàn thiện

các sản phẩm trải nghiệm.

c. Sản phẩm dự kiến

- Màn chào hỏi giới thiệu đội thi

- Bài báo cáo về quá trình thực hiện bài toán kiểm định giả thuyết thống kê

được giao:

+ Kiểm định sự độc lập giữa giới tính và sở thích thể thao của học sinh trường

THPT Đô Lương 1;

+ Kiểm định tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1,

2, 3 có giống nhau không?

+ Kiểm định phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước có phù hợp với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1 hay không?

34

- Hồ sơ học tập của đội thi.

d. Tổ chức thực hiện

- Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên thông qua kịch bản và thể lệ cuộc thi, giao

kế hoạch chi tiết của hoạt động trải nghiệm cho học sinh.

- Thực hiện:

+ Giáo viên quan sát, hỗ trợ giúp đỡ học sinh trong quá trình thực hiện hoạt

động.

+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về bài toán kiểm định giả thuyết và các bước

tiến hành một cách cụ thể.

+ Học sinh thiết kế phiếu điều tra, khảo sát để thu thập số liệu thống kê.

+ Nắm được quy trình và tiêu chuẩn kiểm định giả thuyết và áp dụng được vào

bài toán của mình.

+ Viết kịch bản của màn chào hỏi và tình huống dẫn đến bài toán kiểm định

của đội mình.

+ Luyện tập diễn kịch và làm bài báo cáo bằng phần mềm Powerpoint.

- Báo cáo, thảo luận: Các đội thi thông qua kịch bản với giáo viên, có sự tư vấn,

hỗ trợ của các học sinh trong đội cộng tác viên và giáo viên khác.

- Đánh giá, nhận xét: Giáo viên đánh giá, nhận xét và có sự góp ý, điều chỉnh cần thiết về nội dung, hình thức của các sản phẩm học tập của học sinh trước khi cuộc thi chính thức diễn ra.

Hoạt động 3. Tổ chức cuộc thi và đánh giá

a. Mục tiêu

- Giáo viên tạo điều kiện tốt về nội dung, thể lệ để cuộc thi diễn ra thành công, tốt đẹp, tạo sân chơi bổ ích để không chỉ các học sinh trong đội thi được tham gia mà các học sinh ở vai trò khán giả cũng có được những trải nghiệm cho riêng mình.

- Các đội thi thể hiện tốt các phần thi của mình, rèn luyện các kĩ năng thuyết trình, lắng nghe, thảo luận đồng thời biết tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau một cách khách quan, trung thực.

- Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu với Toán học, giúp các em thấy được ứng dụng của Toán học trong thực tế, đồng thời khơi gợi được sự quan tâm của học sinh đến một lĩnh vực ngành nghề đầy triển vọng.

b. Nội dung

- Phần thi Màn Chào hỏi

- Phần thi Hiểu biết và Mảnh ghép bí ẩn: Các đội thi thể hiện hiểu biết của mình qua việc trả lời các câu hỏi liên quan đến Toán học nói chung và chủ đề Thống kê nói riêng.

35

- Phần thi Tập làm thống kê viên: Các đội thi trình bày các bước tiến hành bài

toán kiểm định và rút ra kết luận. Bài báo cáo cần được chuẩn bị trên phần mềm trình chiếu Microsoft Powerpoint.

- Các tiết mục văn nghệ, giao lưu khán giả xen kẽ.

c. Sản phẩm dự kiến

- Các phần thi ở màn chào hỏi

- Bài thuyết trình của ba đội thi về nội dung kiểm định đã bốc thăm

- Hồ sơ học tập.

- Phiếu đánh giá, khảo sát của giáo viên và học sinh

d. Tổ chức thực hiện

1. Khai mạc cuộc thi

- Văn nghệ: 2 tiết mục.

- Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu, ban giám khảo và thông qua nội dung

chương trình.

2. Các phần thi

- Màn Chào hỏi: Mỗi đội có thời gian từ 5-7 phút để giới thiệu tên đội và các

thành viên tham gia.

- Phần thi Hiểu biết: Các đội thi cùng trả lời 10 câu hỏi trên hệ thống

https://quizizz.com/. Điểm sẽ được tính tự động và công bố trên hệ thống ngay khi phần thi kết thúc.

- Phần thi Mảnh ghép bí ẩn: Có một bức ảnh được ẩn giấu sau 6 mảnh ghép. Ba đội sẽ lần lượt chọn các mảnh ghép để trả lời câu hỏi tương ứng với mỗi mảnh ghép. Nếu trả lời đúng thì sẽ được lật mở mảnh ghép đó. Mỗi câu trả lời đúng được tính 30 điểm, nếu đội chọn mảnh ghép trả lời sai thì hai đội còn lại có duy nhất 1 cơ hội để trả lời và nhận được 15 điểm cho câu trả lời đúng. Đội nào tìm ra chủ đề chính xác của bức ảnh ẩn giấu nhanh nhất thì được 80 điểm. Nếu trả lời sai thì sẽ mất quyền tham gia phần thi.

- Phần thi dành cho khán giả: Ban tổ chức chuẩn bị 4 câu hỏi để mời khán giả

trả lời. Nếu trả lời đúng sẽ được chọn ngẫu nhiên một phần quà từ ban tổ chức.

- Phần thi Tập làm thống kê viên: Mỗi đội thi đã bắt thăm nội dung bài toán kiểm định của đội mình và tiến hành các bước thực hiện. Sau đó đại diện mỗi đội lên trình bày quá trình thực hiện các bước kiểm định, thực hành thao tác trên phần mềm R để đi đến kết luận chấp nhận hoặc bác bỏ giả thuyết. Điểm tối đa cho phần thi này là 100 điểm.

3. Tổng kết và trao giải

- Văn nghệ: 1 tiết mục

36

- Ban giám khảo nhận xét và thông báo điểm cho từng đội, công bố kết quả

chung cuộc và trao giải.

- Tổng hợp phiếu đánh giá và rút kinh nghiệm từ hoạt động (tiến hành sau

buổi thi).

2.6. Thực nghiệm hoạt động giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp với chủ

đề “Thống kê” tại trường THPT Đô Lương 1

2.6.1. Danh sách đội thi

Đội 1

Đội 3 Nguyễn Văn Ý (Đội trưởng)

Đội 2 Phan Thị Thanh Nhàn Nguyễn Thị Mai Linh (Đội trưởng) (Đội trưởng) Nguyễn Cảnh Tiến Bảo Nguyễn Thị Vân Anh Đinh Hồng Hạnh Nguyễn Nguyên Đức Nguyễn Thị Hoài Bùi Thị Thục Hiền Nguyễn Thị Quỳnh Như Hoàng Trọng Hồng Quyền Đặng Quang Hưng Phạm Đình Nguyên Thái Thị Hậu Trần Đình Phúc

37

2.6.2. Một số hình ảnh quá trình trải nghiệm của học sinh

38

39

40

41

42

43

44

45

46

47

3. KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Để hình thành và phát triển các kĩ năng, năng lực một cách toàn diện cho học sinh thì có nhiều hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục khác nhau. Trong đó, tôi đã lựa chọn hoạt động trải nghiệm, sáng tạo là một loại hình hoạt động hiệu quả, thiết thực với sự đa dạng về nội dung và hình thức, thu hút được sự quan tâm, hưởng ứng tích cực từ học sinh. Từ khi bắt đầu lên ý tưởng triển khai đến trong quá trình thực hiện, các em học sinh rất hào hứng, thích thú và tham gia một cách tích cực, nhiệt tình. Để có căn cứ đánh giá khách quan về hiệu quả của giải pháp đưa ra, tôi đã tiến hành khảo sát 60 học sinh và 16 giáo viên tham dự hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Kết quả thu được như sau:

 Đối với học sinh

Câu hỏi Câu trả lời Số lượng Tỷ lệ %

Rất hứng thú 39 65%

Hứng thú 19 31,6%

Ít hứng thú 2 3,4% Câu 1. Em có hứng thú khi được tham gia hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp gắn với chủ đề Thống kê không? Không hứng thú 0 0

Rất bổ ích 31 51,6%

Bổ ích 26 43%

Ít bổ ích 3 5,4% Câu 2. Em có thấy hoạt động này bổ ích với bản thân mình không?

Không bổ ích 0 0

Có 35 58,3%

Không 25 41,7%

Câu 3. Em có dự định tìm hiểu về nhóm ngành nghề thống kê sau hoạt động này trong thời gian tới không?

 Đối với giáo viên

Mức đánh giá (1 là thấp nhất, 5 là cao nhất) STT

1 2 3

0 0 1 0 4 2 (12,5%) 5 14 (87,5%)

0 0 2 0 5 (31,3%) 11 (68,7%)

48

0 0 3 0 4 (25%) 12 (75%) Nội dung đánh giá về hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (HĐTN, HN) Mức độ hợp lý, thiết thực của nội dung HĐTN, HN Mức độ sinh động, hấp dẫn học sinh của hình thức tổ chức HĐTN, HN Mức độ tích cực, chủ động, hợp tác của học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ

4 0 0 1 (6,2%) 7 (43,8%) 8 (50%)

5 0 0 3 (18,8%) 10 (62,4%) 3 (18,8%)

6 0 0 0 4 (25%) 12 (75%)

49

7 0 0 0 2 (12,5%) 14 (87,5%) Mức độ chính xác, phù hợp của các kết quả nhiệm vụ của học sinh Mức độ tập trung của khán giả theo dõi HĐTN, HN Mức độ phù hợp của các thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng trong HĐTN, HN Mức độ hiệu quả và tác động tích cực của HĐTN, HN đối với học sinh

PHẦN III. KẾT LUẬN

1. Tính khoa học và ý nghĩa của đề tài

Cơ sở khoa học của đề tài là kết quả của quá trình nghiên cứu các tài liệu tham khảo với tính pháp lí và độ tin cậy cao, từ đó trình bày được cơ sở lý luận rõ ràng, vững chắc, là nền tảng để triển khai các nội dung phía sau một cách liền mạch, có hệ thống. Các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng nghiên cứu và tình hình thực tế địa phương, cấu trúc đề tài được trình bày một cách logic, mạch lạc, rõ ràng. Do đó, việc triển khai hay phát triển nội dung đề tài vào thực tiễn sẽ mang lại hiệu quả đáng kể.

Đề tài này đã được tác giả áp dụng trong các đơn vị lớp mình giảng dạy và nhận được phản hồi tích cực đến từ học sinh cùng các đồng nghiệp tham dự. Về phía học sinh: các em được mở mang kiến thức, mở rộng môi trường học tập, giao tiếp, rèn luyện kỹ năng sống một cách hiệu quả. Các em được bộc lộ sở trường của bản thân, được thể hiện mình và nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển bản thân một cách toàn diện để chuẩn bị tốt cho công việc và cuộc sống trong tương lai. Về phía giáo viên: tổ chức, thiết kế hay tham dự một hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp đúng nghĩa đã giúp giáo viên cảm thấy yêu hơn, say mê hơn với công việc, tạo động lực để giáo viên không ngừng học tập, đổi mới, đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới đối với nghề giáo.

2. Những kiến nghị đề xuất

Từ năm học 2022-2023, Chương trình giáo dục phổ thông cùng bộ sách giáo khoa mới sẽ chính thức được đưa vào áp dụng vào cấp trung học phổ thông bắt đầu từ lớp 10. Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cũng chính thức được dành thời lượng tương đương như một môn học và kết quả học tập của học sinh cũng được đánh giá và sử dụng như các môn học khác. Tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực và định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh hiện đại. Chính vì vậy, cần quan tâm hơn đến việc nâng cao nhận thức của giáo viên và học sinh; năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp của giáo viên; đầu tư xây dựng kế hoạch và phát triển các nội dung, hình thức và trang thiết bị vật chất hiện đại để phục vụ các hoạt động giáo dục cho học sinh.

Trên đây là nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tác giả. Những gì tôi trình bày ở đây là kết quả của quá trình tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng, được vận dụng vào thực tiễn trong thời gian qua và thực sự đã mang lại những hiệu quả thiết thực, góp phần triển khai có đồng bộ một số nội dung của Chương trình giáo dục phổ thông mới. Tôi hi vọng đề tài này có thể được sử dụng để tiếp tục thử nghiệm, rút kinh nghiệm ở các đơn vị khác nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, chia sẻ từ các anh chị đồng nghiệp và các em học sinh để tôi có thể hoàn thiện đề tài này hơn.

50

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể; Chương trình môn Toán; Chương trình Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp) ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

[2] Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Ngọc Diệp, Lê Thái Hưng, Vũ Phương Liên, Dương Thị Thuý Nga, Lê Thế Tình, Hướng dẫn tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trung học phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông mới, NXB Đại học sư phạm, 2020.

51

[3] Nguyễn Thị Thế, Dương Xuân Giáp, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Toán thống kê trong thể dục thể thao, NXB Đại học Vinh, 2019.

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC I:

52

1. Phiếu điều tra dành cho học sinh:

2. Phiếu điều tra dành cho giáo viên:

PHIẾU KHẢO SÁT

Quý thầy cô vui lòng cho biết: Họ và tên: ………………………………………………………………………… Đơn vị công tác: …………………………………………………………………..

Thầy/cô hãy trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu X vào ô trống trong bảng có câu trả lời phù hợp với bản thân thầy/cô.

1. Thầy/cô đánh giá như thế nào về mức độ quan trọng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh THPT?

☐ Rất quan trọng

☐ Quan trọng

☐ Bình thường

☐ Ít quan trọng

☐ Không quan trọng

2. Thầy/cô vui lòng cho biết tần suất mà thầy/cô tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh ở trường phổ thông?

☐ Rất thường xuyên

☐ Thường xuyên

☐ Thỉnh thoảng

☐ Chưa bao giờ

3. Thầy/cô tự đánh giá như thế nào về mức độ khó khăn mà bản thân gặp phải khi tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường mình?

Mức độ khó khăn

Khó khăn

Khó khăn

Bình thường

Ít khó khăn

Rất khó khăn

Không khó khăn

Lựa chọn chủ đề

Thiết kế hoạt động đảm bảo yêu cầu

Phương pháp, kĩ thuật áp dụng trong tổ chức hoạt động

Hình thức tổ chức luôn cần đa dạng và sáng tạo

Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường

Trình độ hiểu biết, thiết kế và tổ chức hoạt động của giáo viên

53

PHỤ LỤC II: KỊCH BẢN CUỘC THI “THỐNG KÊ – NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI”

Kịch bản dẫn chương trình trải nghiệm, hướng nghiệp

Cuộc thi: “Thống kê – Những con số biết nói”

Dẫn chương trình:

Nguyễn Thị Khánh Huyền – HS lớp 10D3

Hoàng Bảo Ngọc – HS lớp 10T5

1. Tiết mục văn nghệ:

Huyền: Mở đầu chương trình ngoại khóa hôm nay, chúng ta cùng thưởng thức một số tiết mục văn nghệ do các bạn đoàn viên thuộc hai chi đoàn 10D3 và 10T5 trình bày. Tiết mục đầu tiên: Bài hát “……………………….” do bạn ……………….. trình bày. Tiếp theo chúng ta cùng lắng nghe bài hát “………………………..” do bạn …………………….. trình bày. Xin mời quý vị đại biểu và các bạn cùng lắng nghe.

2. Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu, nội dung chương trình:

Huyền: Xin chào quý vị và các bạn, mình là Khánh Huyền, bên cạnh mình đây là bạn Bảo Ngọc, chúng mình rất hân hạnh được đồng hành cùng các bạn trong chương trình ngày hôm nay.

Ngọc: Kính thưa quý vị đại biểu, thưa các thầy cô giáo cùng các bạn học sinh

thân mến.

Đến dự buổi ngoại khóa hôm nay, xin trân trọng giới thiệu các thầy cô giáo trong tổ Toán Tin và các bạn học sinh của hai chi đoàn 10D3, 10T5 có mặt trong hội trường. (Vỗ tay)

Huyền: Vậy là sau bao lần trễ hẹn, hôm nay, cuộc thi “Thống kê – Những con số biết nói” đã chính thức được tổ chức, nhằm mục đích tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích cho các bạn học sinh giao lưu học hỏi, trao đổi kiến thức bộ môn toán, giúp các bạn say mê hứng thú học tập và tìm hiểu kiến thức toán học, góp phần định hướng nghề nghiệp và phát triển các năng lực cần thiết đối với nghề nghiệp trong tương lai.

54

Ngọc: Vâng. Đúng như bạn Huyền vừa nói. Trong bối cảnh đời sống xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực, dữ liệu là một cơ sở quan trọng hàng đầu để các công ty, tổ chức đưa ra những quyết định quan trọng về chiến lược, chính sách và nhân viên thống kê chính là người làm việc với dữ liệu, tổng hợp, xử lý và phân tích chúng. Do đó, nhân viên thống kê có nhiều cơ hội việc làm trong nhiều lĩnh vực, từ y tế, kinh tế đến giáo dục, xã hội học, ... Việc phân tích và dùng dữ liệu lại dựa vào ba nguồn tri thức: toán học (thống kê toán học), công nghệ thông tin (máy học) và tri thức của lĩnh vực ứng dụng cụ thể. Chính vì vậy, không gì thích hợp hơn khi lồng ghép nội dung trải nghiệm hướng nghiệp với chủ

đề thống kê vào trong hoạt động giáo dục môn Toán.

Huyền: Tiếp theo, em xin được giới thiệu chương trình ngoại khoá hôm nay

gồm có 5 phần:

Phần 1: Màn chào hỏi, giới thiệu đội chơi

Phần 2: Phần thi hiểu biết

Phần 3: Mảnh ghép bí ẩn

Phần 4: Giao lưu cùng khán giả

Phần 5: Tập làm thống kê viên

Và cuối cùng là phần Tổng kết và trao giải.

Giới thiệu Ban giám khảo

Ngọc: Để tạo sự công bằng cho các đội chơi không thể thiếu đươc những vị giám khảo công minh, những người cầm cân nảy mực. Xin trân trọng giới thiệu thành viên BGK:

+ Thầy Nguyễn Phùng Tú – Trưởng Ban giám khảo.

+ Cô Hoàng Thị Phương Lan – Ban viên

+ Cô Đặng Thị Lệ - Ban viên

Xin kính mời BGK bắt đầu nhiệm vụ.

3. Màn chào hỏi

Ngọc: Ngay bây giờ chúng ta sẽ bước vào phần thi đầu tiên - Màn chào hỏi. Mỗi đội sẽ có thời gian từ 4-5 phút để gửi lời chào đến khán giả và giới thiệu các thành viên của đội. Điểm tối đa cho phần thi này là 50 điểm.

Huyền: Đến với buổi ngoại khóa có sự tranh tài đua sức của 3 đội chơi

Đội 1 mang tên Đội F5

Đội 2 mang tên Đội Đặc nhiệm khảo sát điều tra

Đội 3 mang tên Đội Người già neo đơn

Ngọc: Sau đây là phần giới thiệu đến từ các đội chơi. Xin mời phần giới thiệu

đội F5.

………………………..

Xin cảm ơn đội F5. Các bạn có thể giải thích ý nghĩa tên đội chơi của mình không?

Huyền: Tiếp theo sẽ là phần giới thiệu của đội Đội đặc nhiệm khảo sát điều tra.

………………………….

55

Ngọc: Vâng, cảm ơn phần giới thiệu của Đội Đặc nhiệm khảo sát điều tra và cuối

cùng là đội chơi đang rất được chờ đón, Đội Người già neo đơn.

…………………………

Ngọc: Vừa rồi chính là những màn giới thiệu rất ngắn gọn và đầy đủ đến từ cả 3 đội chơi. Xin mời các đội chơi vào vị trí. Mọi người đã sẵn sàng đến với những phần thi thú vị hấp dẫn tiếp theo chưa ạ?

4. Phần thi: Hiểu biết

Huyền: Và bây giờ chúng ta bước vào phần thi HIỂU BIẾT.

Luật chơi của phần này như sau: Các đội chơi cùng dùng điện thoại thông minh truy cập vào đường link: http://wwwjoinmyquiz.com và nhập mã của trò chơi để tham gia trả lời 8 câu hỏi đã cho trước. Đội nào trả lời càng chính xác, càng nhanh thì càng có nhiều điểm. Thứ hạng của mỗi đội sẽ được công bố ngay khi phần thi kết thúc. Điểm số của phần thi này sẽ lấy điểm thi trên hệ thống chia cho 100.

Ngọc: Các đội chơi đã nắm vững luật chơi chưa ạ?

Vậy thì bây giờ, Chúng ta cùng bắt đầu JOIN MY QUIZ.

(Các đội chơi trả lời câu hỏi)

(Bình luận diễn biến trận đấu: Tạm thời đội ……… đang dẫn đầu, ngay sau đó đội ……….. đã vượt lên….)

(Công bố kết quả: Đội xếp thứ nhất với số điểm là …., đội xếp thứ 2, thứ 3, …)

(Xem lại các câu hỏi: Giải thích, mời một đội trình bày cách tìm ra câu trả lời…)

Huyền: Vậy là các đội chơi đã hoàn thành phần thi hiểu biết. Xin cảm ơn các đội chơi. Mọi người thấy 3 đội chơi ngày hôm nay trả lời thế nào ạ, rất nhanh và chính xác đúng ko ạ?

Ngọc: Trên đây là số điểm các đội chơi đạt đuợc ở phần thi hiểu biết.

Đội F5 Đội Đặc nhiệm Đội người già neo đơn

khảo sát điều tra

5. Phần thi: Mảnh ghép bí ẩn

Huyền: Quý vị và các bạn thân mến, tiếp theo đây là phần thi rất thú vị. Phần

thi mang tên: Mảnh ghép bí ẩn.

56

Ở phần thi Mảnh ghép bí ẩn, có một bức ảnh được ẩn giấu sau 6 mảnh ghép. Ba đội sẽ lần lượt chọn các mảnh ghép để trả lời câu hỏi tương ứng với mỗi mảnh ghép. Nếu trả lời đúng thì sẽ được lật mở mảnh ghép đó. Mỗi câu trả lời đúng được tính 30 điểm, nếu đội chọn mảnh ghép trả lời sai thì hai đội còn lại có duy nhất 1 cơ hội để trả lời và nhận được 15 điểm cho câu trả lời đúng. Đội nào tìm ra chủ đề chính

xác của bức ảnh ẩn giấu nhanh nhất thì được 80 điểm. Nếu trả lời sai thì sẽ mất quyền tham gia phần thi.

Ngọc: Chúng ta cùng bắt đầu đi lật tìm mảnh ghép. Mời đội F5 lựa chọn mảnh

ghép của mình. ……

Đây là nội dung câu hỏi của mảnh ghép số …..

(Đọc các câu hỏi – Diễn giải)

Huyền: Vâng, vậy là đội …… đã tìm ra chính xác chủ đề của bức ảnh ẩn giấu sau 6 mảnh ghép. Đó chính là Ngày Trái Đất. Mục đích của Ngày Trái đất là nâng cao nhận thức về giá trị của môi trường tự nhiên nơi chúng ta đang sinh sống, từ đó có những hành động tích cực để giữ gìn môi trường sống luôn trong lành.

Ngọc: (Giao lưu với khán giả): Mình xin phép được xuống phía dưới để gần

hơn với các bạn khán giả.

Hỏi bạn nam: Chào bạn, bạn đến từ lớp nào? Trong các đội chơi, bạn ủng hộ cho đội chơi nào,…

Theo bạn, để bảo vệ môi trường thì học sinh chúng ta nên có những hành động cụ thể nào?...

Hỏi bạn nữ: Bạn thấy ấn tượng với bạn nào nhất trong 3 đội chơi ngày hôm nay?......

Bạn có biết ngày Trái Đất là ngày nào không? Bạn có biết bài hát nào có từ “Trái đất” trong lời bài hát không?.........

Bạn có thể hát được một câu nào đó hay không?... (Trái đất này là của chúng mình….)

Huyền: Tiếp theo đây sẽ là một nội dung hết sức mới mẻ nhưng cũng đầy thu vị, có nhiều ứng dụng trong đời sống quanh ta. Ba màn chào hỏi đến từ ba đội chơi không chỉ hấp dẫn mà còn lồng ghép nội dung của một số vấn đề mà các bạn đang băn khoăn. Để giải quyết được điều đó, chúng ta sẽ sử dụng bài toán kiểm định giả thuyết thống kê.

57

Ngọc: Kính thưa các thầy cô giáo, các bạn học sinh. Trong thực tiễn có rất nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống. Chẳng hạn, khi nghiên cứu một loại thuốc mới thì một câu hỏi thường gặp sẽ là hiệu quả chữa bệnh của nó có tốt hơn so với loại thuốc trước đó hay không; người ta nghi ngờ khối lượng của một loại sản phẩm không đúng với yêu cầu đặt ra hay cơ cấu học sinh theo học khối A, B, C, D tại một trường phổ thông có thay đổi trong vòng 5 năm qua hay không, ... Những câu hỏi này có thể được giải quyết nhờ vào bài toán kiểm định giả thuyết thống kê. Trong quá trình nghiên cứu vấn đề của tổng thể theo một dấu hiệu nào đó, việc tiến hành nghiên cứu trên toàn bộ tổng thể đôi khi không thực hiện được vì một số khó khăn nào đó. Chẳng hạn, tập đó có quá nhiều phần tử (ví dụ, kiểm tra chiều dài của các hạt của một giống lúa), hoặc việc đưa ra kiểm tra sẽ làm

hư hại và dẫn đến kiểm tra xong lại vô nghĩa (ví dụ, kiểm tra chất lượng của các lọ thuốc thì ta không thể mở tất cả ra để kiểm tra). Bên cạnh đó thì thời gian, kinh phí, nhân lực,... cũng là những vấn đề gặp trở ngại. Chính vì vậy, việc điều tra, nghiên cứu trên mẫu là cần thiết.

Huyền: Bài toán “kiểm định giả thuyết” hiểu nôm na là sử dụng một “tiêu chuẩn kiểm định” đã có để kiểm tra một giả thuyết đặt ra được chấp nhận hay bác bỏ. Ở đây, các bạn học sinh sử dụng tiêu chuẩn kiểm định Chi bình phương của nhà Toán học Karl Pearson đưa ra vào năm 1900, đây là một tiêu chuẩn thường được sử dụng trong các bài toán kiểm định thống kê. Tiêu chuẩn kiểm định này được xây dựng trên cơ sở tính toán đo “độ lệch” giữa các đại lượng “thực tế” theo điều tra và đại lượng “lý thuyết” theo giả thuyết đặt ra. Nếu “độ lệch” càng bé thì giả thuyết được chấp nhận, ngược lại thì bị bác bỏ.

Ngọc: Khi tiến hành kiểm định một giả thuyết thì vẫn có khả năng gặp mắc phải sai lầm bác bỏ giả thuyết trong khi giả thuyết đó lại đúng, người ta gán một số 𝛼 thuộc khoảng (0;1) để chỉ khả năng mắc phải sai lầm này. 𝛼 gọi là “mức ý nghĩa” được cho trước của bài toán kiểm định.

Với số liệu điều tra thực tế thu được từ mẫu ngẫu nhiên, ta tính toán được một giá trị khác là “trị số P” (p-value). Việc so sánh trị số P và 𝛼 giúp ta kết luận chấp nhận hoặc bác bỏ giả thuyết, cụ thể:

- Nếu trị số P > 𝛼 thì chấp nhận giả thuyết;

- Nếu trị số 𝑃 < 𝛼 thì bác bỏ giả thuyết.

Huyền: Tóm lại, sơ đồ các bước tiến hành một bài toán kiểm định giả thuyết

thống kê như sau:

Ngọc: Ba đội chơi đã bốc thăm chọn được nội dung bài toán kiểm định và thu thập số liệu điều tra từ trước. Ba đội chơi sẽ tiến hành xử lý số liệu để đi đến kết luận của bài toán đặt ra. Mỗi đội sẽ có tối đa 5 phút để trình bày bài thuyết trình về bài toán kiểm định của đội mình. Điểm tối đa cho phần thi này là 100 điểm.

58

Huyền: Xin mời đại diện 3 đội chơi đến nhận số liệu đã thu thập trước đó từ ban tổ chức để tiến hành xử lý. Trong lúc chờ 3 đội thi xử lý số liệu và hoàn thiện bài thuyết trình, chúng ta sẽ bước vào một phần thi rất thú vị dành cho những khán giả nhiệt tình của chúng ta ngày hôm nay.

6. Giao lưu cùng khán giả

Ngọc: Có 4 câu hỏi dành cho khán giả. Các bạn giơ tay để giành lấy cơ hội trả lời. Khán giả giơ tay nhanh nhất và trả lời đúng sẽ được nhận những phần quà đặc biệt từ ban tổ chức. Chúc các bạn may mắn!

Ngọc: Câu hỏi thứ nhất...,

xin mời bạn ở….

Huyền: Bạn có thể giải thích vì sao lại có đáp án như vậy không?

TL: …

Xin chúc mừng bạn đã nhận được món quà từ chương trình.

Ngọc: Câu hỏi thứ hai...,

xin mời bạn ở….

Huyền: Bạn có thể giải thích vì sao lại có đáp án như vậy không?

TL: …

Xin chúc mừng bạn đã nhận được món quà từ chương trình.

Ngọc: Câu hỏi thứ ba...,

xin mời bạn ở….

Huyền: Bạn có thể giải thích vì sao lại có đáp án như vậy không?

TL: …

59

Xin chúc mừng bạn đã nhận được món quà từ chương trình.

Ngọc: Câu hỏi thứ tư...,

xin mời bạn ở….

Huyền: Bạn có thể giải thích vì sao lại có đáp án như vậy không?

TL: …

Xin chúc mừng bạn đã nhận được món quà từ chương trình.

Huyền: Chắc hẳn các bạn đang rất hào hứng phải không ạ? Rất tiếc vì thời gian không cho phép nên chúng ta phải tạm dừng trò chơi. Bây giờ chúng ta hãy đến với phần thi thuyết trình, thành quả làm việc của các đội thi dày công chuẩn bị trong suốt thời gian qua.

7. Phần thi: Tập làm thống kê viên (phần thuyết trình)

Ngọc: Ở phần này, các đội chơi đã bắt thăm và chuẩn bị các bài toán kiểm

định cho đội mình.

+ Đội F5: Kiểm định về sự độc lập giữa giới tính và sở thích thể thao của học

sinh trường THPT Đô Lương 1;

+ Đội Đặc nhiệm khảo sát điều tra: Kiểm định tỉ lệ học sinh theo học ban xã

hội ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 có giống nhau không?

+ Đội Người già neo đơn: Kiểm định phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn Toán của học sinh khối 12 cả nước có tương đương với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1 hay không?

Huyền: Mời quý thầy cô cùng các bạn hsinh lắng nghe phần trình bày của đội

F5.

……………………………….

Ngọc: Cảm ơn phần trình bày của đội F5, tiếp sau đây sẽ là phần trình bày của

đội Đặc nhiệm điều tra. (vỗ tay)

………………………………………….

Huyền: Cảm ơn phần trình bày của đội Đặc nhiệm điều tra, tiếp sau đây sẽ là

phần trình bày của đội Những người già neo đơn. (vỗ tay)

……………………………..

60

Ngọc: Xin cảm ơn đội Những người già neo đơn. Vừa rồi chính là phần thi cuối cùng của chương trình ngày hôm nay. Chúng ta hãy cùng chờ đợi kết quả từ

những vị giám khảo công tâm và chính xác. Xin kính mời ban giám khảo hội ý.

Huyền: Trong thời gian BGK làm việc, xin mới quý thầy cô và các bạn lắng

nghe một tiết mục văn nghệ đến từ bạn ………………………..

8. Tổng kết, trao giải

Ngọc: Sau quãng thời gian làm việc khó khăn đầy băn khoăn, các vị bgk của chúng ta đã có kết quả cuối cùng. Và đây là phần hồi hộp nhất của chương trình ngày hôm nay.

Huyền: Đầu tiên là đội đạt giải 3 trong ngày hôm nay, Xin chúc mừng đội.....

với tổng số điểm là ……………

Ngọc: Tiếp theo là quán quân và á quân của cuộc thi hôm nay.

Với số điểm …………………, xin chúc mừng đội……………….... đã giành

giải nhất.

Huyền: Và cũng xin chúc mừng Đội giải nhì của ngày hôm nay,

đội………….. với số điểm ............

Xin một tràng pháo tay nhiệt liệt cho ba đội chơi hết sức xuất sắc của ngày

hôm nay ạ.

Ngọc: Và bây giờ kính mời thầy giáo Nguyễn Phùng Tú, trưởng ban giám

khảo lên trao giải cho cả 3 đội. Xin kính mời thầy.

Huyền ( Phỏng vấn đội về nhất): Cảm xúc của bạn như thế nào khi là nguời chiến thắng trong cuộc chơi ngày hôm nay?

61

Ngọc: Vậy là chúng ta đã đi hết 60 phút của chương trình ngày hôm nay. Một lần nữa em xin cảm ơn các thầy cô, các bạn học sinh đã cổ vũ hết mình. Xin gặp lại mọi người ở những buổi ngoại khóa lần sau. Xin chào và hẹn gặp lại.

62

PHỤ LỤC III: SLIDE CUỘC THI

63

64

65

66

67

68

69

70

71

72

73

PHỤ LỤC IV: PHẦN THUYẾT TRÌNH CỦA CÁC ĐỘI THI

 ĐỘI F5: Với bài toán kiểm định giả thuyết “Giới tính và sở thích thể thao của

học sinh là độc lập với nhau”

- Bài thuyết trình

Lời đầu tiên em kính chúc thầy cô thật nhiều sức khỏe, luôn luôn trong trạng thái vui tươi, phấn khởi để truyền tải cho học trò chúng em nhiều bài học thú vị và bổ ích.

Em tên là Phan Thị Thanh Nhàn học sinh lớp 10T5, rất vinh dự được đại diện cho đội thi F5 trình bày bài toán kiểm định về sự độc lập giữa giới tính và sở thích thể thao của học sinh trường THPT Đô Lương 1 chúng ta. Trong bối cảnh đổi mới phương pháp giáo dục nhằm mục tiêu phát triển năng lực toàn diện cho học sinh, phát triển hài hoà giữa các yếu tố “Đức – Trí – Thể - Mĩ” thì ta cần đặc biệt quan tâm đến sở thích thể thao của học sinh để tăng thêm hứng thú, khơi dậy tinh thần tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên, liên tục cho học sinh. Để thêm một kênh thông tin giúp xây dựng nội dung phát triển thể lực hiệu quả cho học sinh, ta có thể đặt ra giả thuyết “Sở thích thể thao của mỗi học sinh độc lập với giới tính của họ” với mức ý nghĩa 0,05.

Dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, chi tiết của cô giáo Kiều Linh Chi về các khái niệm thống kê cơ bản cùng cách thức tiến hành bài toán kiểm định giả thuyết thống kê, đội thi của chúng em sẽ được trải nghiệm thế nào là những thống kê viên đi điều tra, thu nhập – xử lí số liệu hợp lí rồi đưa ra kết luận nhằm chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết ban đầu. Sau đây em xin được báo cáo kết quả cùng quá trình hoàn thành của đội em

Bóng đá Bóng chuyền Cầu lông Tổng

Đầu tiên chúng em cùng thiết kế một bảng khảo sát (slide). Sau đó cùng nhau đi điều tra, chọn ngẫu nhiên 80 học sinh trong trường và hỏi xem trong ba môn bóng đá, bóng chuyền, cầu lông thì đâu là môn thể thao yêu thích của họ. Sau khi đã điều tra thì vừa rồi đội em đã cùng nhau tổng hợp, xử lý số liệu. Và đây là bảng số liệu mà chúng em đã tổng hợp được Môn thể thao Giới tính Nam Nữ Tổng 33 47 80 8 18 26 20 7 27 5 22 27

Sau đây em xin mời bạn Đình Phúc lên thực hiện việc xử lý dữ liệu trên phần

mềm R bằng câu lệnh theo mẫu sau:

Nam=c(20,8,5) Nu=c(7,18,22) A=matrix(c(Nam,Nu), nrow=2) chisq.test(A)

74

Từ kết quả mà chúng ta thu được , ta có thể thấy trị số ≈ 0,06, lớn hơn mức ý nghĩa 𝛼 = 0,05 do đó ta có cơ sở để chấp nhận giả thuyết trên. Có thể thấy, mỗi

người đều có quyền lựa chọn môn thể thao yêu thích mà không phải phụ thuộc vào giới tính của mình. Cho dù bạn yêu thích môn thể thao nào thì cũng là điều đáng được khuyến khích, vì thể thao không chỉ giúp chúng ta thư giãn đầu óc mà còn là cơ hội để chúng ta rèn luyện sức khoẻ, cải thiện vóc dáng. Trong giai đoạn dịch bệnh hiện nay thì sức khoẻ bản thân lại càng được đề cao hơn mọi điều khác.

Quả thực sau khi được trải nghiệm tiến hành một dự án đầy ý nghĩa và thú vị này giờ nghĩ lại trước kia em và các bạn lần đầu đi làm khảo sát, mỗi lần thế chúng em lại rất ngại ngùng, mắc cỡ nhưng dần dần chúng em đã rất quen xem như công việc thường nhật, không chỉ lấy số liệu trên phiếu điều tra mà còn phỏng vấn các bạn (mở video).

75

Một chia sẻ nhỏ cũng là phần cuối trong bài thuyết trình của đội chúng em. Xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe. Chúc thầy cô và các bạn luôn vui vẻ và hạnh phúc. - File trình chiếu

76

77

78

79

 ĐỘI ĐẶC NHIỆM KHẢO SÁT ĐIỀU TRA: Với bài toán kiểm định giả thuyết “Tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội và ban tự nhiên ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 là tương đương nhau.”

- Bài thuyết trình

Kính thưa các thầy cô giáo, cùng toàn thể các bạn học sinh. Lời đầu tiên, em xin tự giới thiệu, em là Nguyễn Thị Mai Linh, học sinh lớp 10D3, trường THPT Đô Lương 1, em xin phép được đại diện cho đội thi “Đội đặc nhiệm khảo sát điều tra” trình bày bài toán kiểm định giả thuyết. Có thể nói, niềm yêu thích đối với một môn học của học sinh phụ thuộc khá nhiều vào nội dung chương trình dạy học và năng lực giáo dục của giáo viên. Đây cũng là một kênh thông tin để giúp các nhà giáo dục đánh giá nội dung chương trình hiện hành và năng lực giáo dục của các giáo viên, từ đó có thể đưa ra một số biện pháp đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thu hút học sinh. Với mục tiêu đó, chúng em đặt ra giả thuyết “Tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 là tương đương nhau” và sử dụng tiêu chuẩn Chi bình phương để kiểm định với mức ý nghĩa 0,1. Dưới sự dẫn dắt của cô giáo Kiều Linh Chi, về các khái niệm thống kê cơ bản cùng cách thức tiến hành bài toán kiểm định thống kê, đội thi chúng em đã có cơ hội được trải nghiệm trở thành những điều tra viên đi khảo sát, thu thập số liệu xử lí, tính toán nhằm đưa ra kết luận chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết đặt ra ban đầu. Sau đây em xin được báo cáo về quá trình cũng như kết quả điều tra của đội chúng em.

Đầu tiên, chúng em đã phát phiếu khảo sát điều tra cho 50 bạn học sinh trường Đô Lương 1, đến từ các khối, các lớp khác nhau để có số liệu một cách khách quan, thuyết phục hơn. Sau đây là một số hình ảnh. (Quay người chỉ về phía hình ảnh)

Tiếp theo, vì tình hình dịch bệnh căng thẳng, cùng khoảng cách địa lý, chúng em không thể tới trường THPT Đô Lương 2 hay THPT Đô Lương 3 để thu thập số liệu như ở Đô Lương 1, song, chúng em đã tạo đường link khảo sát trên Google Form, gửi cho 100 bạn ở hai trường, rất vui vì các bạn ấy cũng đã rất nhiệt tình giúp đỡ. Vừa rồi, chúng em đã xử lý số liệu thu được tại trường THPT Đô Lương 1, kết hợp với kết quả đã có từ trường Đô Lương 2 và Đô Lương 3 thì có được bảng số liệu sau đây

Đô Tổng

THPT Đô Lương 1 22 28 50 Trường Môn khối Ban xã hội Ban tự nhiên Tổng THPT Đô Lương 3 23 27 50 64 86 150

THPT Lương 2 19 31 50 Để có cơ sở bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết được đưa ra “Tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 là giống nhau”, chúng em đã thực hiện tính toán, xử lí số liệu trên mẫu điều tra và thực hiện kiểm định bằng tiêu chuẩn Chi bình phương được tích hợp trong phần mềm R, với câu lệnh như sau:

80

BXH=c(22,19,23) BTN=c(28,31,27) A=matrix(c(BXH,BTN),nrow=2)

chisq.test(A) Mời bạn Hồng Hạnh sẽ nhập số liệu trên R. (Hạnh thực hành) Từ kết quả thu được, ta có thể thấy trị số P lớn hơn mức ý nghĩa 0,1. Do đó ta có cơ sở để chấp nhận giả thuyết ban đầu, hay tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội ở ba trường THPT Đô Lương 1,2,3 tương đương nhau.

81

Bài toán kiểm định của đội F5 vừa rồi và của đội chúng em đều có cách thức triển khai khá giống nhau về cấu trúc bảng số liệu và câu lệnh trong R, nhưng lại giải quyết các bài toán khác nhau trong thực tế. Một bên là kiểm định sự độc lập của 2 dấu hiệu nghiên cứu “kiểm định sự độc lập giới tính và sở thích thể thao của học sinh trường THPT Đô Lương 1”, một bên là kiểm định sự đồng nhất của các tổng thể theo dấu hiệu nghiên cứu “tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội và ban tự nhiên ở 3 tổng thể là trường THPT Đô Lương 1, 2, 3”. Mỗi bài toán đều đưa đến cho ta những cái nhìn khách quan hơn dựa trên những con số. Từ bài toán kiểm định trên, chúng ta có thể thấy rằng việc chọn trường có nền giáo dục tốt, chọn khối phù hợp với bản thân của mình sẽ giúp bản thân hiểu rõ hơn về năng lực của mình và đưa ra định hướng phù hợp trong tương lai. Ngay từ khi lên lớp 10, chúng ta nên bắt đầu có định hướng riêng cho bản thân dựa trên khả năng và sở thích của mình, sau đó hãy bắt đầu tập trung nỗ lực học tập tốt. Cuối cùng, qua dự án lần này, không chỉ bản thân em mà còn các bạn trong tham gia, hẳn là ai cũng cảm thấy hứng thú với thống kê, biến những con số từ vô tri trở thành những con số chứa đầy ý nghĩa. Cảm ơn cô giáo Kiều Linh Chi đã đưa chúng em tới với một dự án vô cùng bổ ích và thú vị, nơi chúng em có thể tự do trải nghiệm cũng như thể hiện bản thân. Cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe. - File trình chiếu

82

83

84

85

 ĐỘI NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN: Với bài toán kiểm định giả thuyết “Tỉ lệ học sinh theo học ban xã hội và ban tự nhiên ở ba trường THPT Đô Lương 1, 2, 3 là tương đương nhau.”

- Bài thuyết trình

Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn học sinh. Em là Nguyễn Văn Ý, học sinh lớp 10T5, xin phép được đại diện cho đội thi trình bày bài toán kiểm định thống kê với giả thuyết đặt ra là “phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021 môn toán của học sinh khối 12 cả nước tương đương với phổ điểm thi của học sinh trường THPT Đô Lương 1” với mức ý nghĩa 0,05. Mục đích của bài toán này nhằm cung cấp một nguồn thông tin kham khảo tin cậy cho những ai quan tâm về chất lượng giáo dục hàng năm, để từ đó có những nhận xét khách quan, chính xác và đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học.

Dưới sự hướng dẫn của cô giáo Kiều Linh Chi về các khái niệm thống kê cơ bản cùng cách thức tiến hành bài toán kiểm định giả thuyết thống kê, đội thi chúng em đã được trải nghiệm đóng vai là những thống kê viên đi điều tra, thu thập số liệu để xử lý, tính toán nhằm đi đến kết luận chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết ban đầu. Sau đây em xin được báo cáo về quá trình cùng thành quả làm việc của đội

chúng em.

Đầu tiên, chúng em đã tra cứu trên internet phổ điểm môn Toán của học sinh khối 12 cả nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố chính thức (https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=7451) và tính toán tỉ lệ học sinh đạt điểm trong các mức điểm như sau:

Mức điểm [0;3) Tỉ lệ học sinh cả nước 2,7% [3;5) 14,7% [5;7) [7;8,5) 31,5% 40,3% 10,8% [8,5;10] Tổng 100%

(Đọc bảng số liệu: Cụ thể có 2,7% học sinh cả nước đạt mức dưới 3 điểm, 14,7% học sinh đạt mức từ 3 đến dưới 5 điểm, 31,5% học sinh đạt mức từ 5 đến dưới 7 điểm, 40,3% học sinh đạt mức từ 7 đến dưới 8,5 điểm và 10,8% học sinh đạt từ 8,5 điểm trở lên)

[8,5;10] [7;8,5) [5;7) [3;5) [0;3)

80 15 42 15 0 8

Tiếp theo chúng em xác định được tổng thể điều tra là toàn bộ học sinh khối 12 trường THPT Đô Lương 1 năm học 2020-2021. Do các anh chị đã ra trường nên chúng em đã tìm gặp giáo viên phụ trách để xin số liệu về điểm thi môn Toán của các anh chị trong năm học vừa qua và chọn ra một mẫu ngẫu nhiên gồm 80 kết quả điểm thi môn Toán. Bảng số liệu sau đây chính là bảng tần số của các mức điểm thu được: Mức điểm Tổng Số lượng HS trường THPT Đô Lương 1

(Đọc bảng số liệu: Cụ thể trong mẫu ngẫu nhiên gồm 80 học sinh được chọn không có học sinh đạt mức dưới 3 điểm, có 8 học sinh đạt mức từ 3 đến dưới 5 điểm, 15 học sinh đạt mức từ 5 đến dưới 7 điểm, 42 học sinh đạt mức từ 7 đến dưới 8,5 điểm và 15 học sinh đạt từ 8,5 điểm trở lên)

86

Mức ý nghĩa cho bài toán này chúng em đặt ra là 𝛼=0.05. Các tính toán trên

mẫu điều tra chúng em thực hiện trên phần mềm R theo mẫu câu lệnh sau:

p0=c(0.027,0.147,0.315,0.403,0.108) O=c(0,8,15,42,15) chisq.test(O,p=p0) (Mời bạn Đức lên thực hiện trên R) Từ kết quả thu được, ta có thể thấy trị số P bé hơn mức ý nghĩa 𝛼=0.05. Do đó, ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết ban đầu, hay phổ điểm thi môn toán của học sinh khối 12 cả nước không phù hợp với phổ điểm thi môn toán của học sinh THPT Đô Lương 1. Để bổ sung cho kết luận này, chúng em đã tiến hành so sánh một số chỉ số thống kê giữa điểm thi của học sinh cả nước và mẫu điều tra được chọn từ trường THPT Đô Lương 1:

Cả nước Chỉ số 6,61 Điểm trung bình 7,0 Điểm trung vị 2,7% Tỉ lệ học sinh đạt dưới điểm 3 27,4% Số học sinh đạt dưới điểm 5 Số học sinh đạt từ 8,5 điểm trở lên 10,8% Mẫu điều tra 7,29 7,8 0% 10% 18,75%

(Đọc bảng chỉ số)

87

Từ các chỉ số này, ta thấy rằng điểm thi tốt nghiệp môn Toán của học sinh THPT Đô Lương 1 năm vừa qua được đánh giá cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của học sinh cả nước. Điều này cho thấy trường THPT Đô Lương 1 là một địa chỉ tin cậy để các bậc phụ huynh gửi gắm con em mình. Bản thân chúng em, những học sinh sẽ bước vào kì thi này trong 2 năm tới xin hứa sẽ không ngừng cố gắng học tập để phát huy truyền thống hiếu học của nhà trường. Trên đây là phần thuyết trình của đội chúng em. Em xin cảm ơn quý thầy cô và các bạn đã lắng nghe! - File trình chiếu

88

89

90

91

92

PHỤ LỤC VI: HỒ SƠ HỌC TẬP

93

Hồ sơ học tập: Đội Đặc nhiệm khảo sát điều tra

94

95

96

97

98

99