Đề tài: Một số kinh nghệm về việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm .
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Là Giáo viên THCS tất cả chúng ta ai cũng nắm mục tiêu giáo dục THCS hiện nay. Cụ
thể đối với môn Vật Lý, Hóa học …là bộ môn khoa học tự nhiên.Yêu cầu giáo dục mới
là:
HS phải có kiến thức phổ thông cơ bản, tinh giản, thiết thực, cập nhật, làm nền tản để
từ đó có thể chiếm lĩnh những nội dung khác của khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa
học xã hội và nhân văn. Bước đầu hình thành và phát triển được những kĩ năng, phương
pháp học tập bộ môn.
HS phải biết quan sát, thu thập, sử lí thông tin thông qua nội dung học tập. Biết vận
dụng sáng tạo những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề trong học tập và trong
cuộc sống.
Trên nền tảng kiến thức và kĩ năng đó để hình thành và phát triển các năng lực chủ
yếu đáp ứng yêu cầu phát triển con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Đặc biệt các kiến thức, kĩ năng của các bộ môn khoa học tự nhiên như Lý, Hóa…
được hình thành trên cơ sở việc học tập qua “làm”. Chắc hẳn các giáo viên dạy bộ môn
này đều biết.
Chính vì vậy Tôi lựa chon đề tài này nhằm phát huy tính tích cực học tập của Học
sinh và lòng nhiệt tình của Giáo viên .
Bộ môn Vật Lý là bộ môn thực nghiệm. Tư tưởng chủ đạo của các sách giáo khoa Vật
Lý phổ thông là nội dung kiến thức mới được hình thành phần lớn thông qua các thí
nghiệm và thực hành. Điều đó không chỉ tích cực hóa về học tập của học sinh mà còn rèn
kĩ năng sử dụng thiết bị, đồ dùng trong cuộc sống, rèn luyện thái độ, đức tính kiên trì, tác
phong làm việc của những người làm khoa học trong thời đại công nghệ.
Việc làm và sử dụng sử dụng thí nghiệm Vật Lý trong xu thế đổi mới giảng dạy, với
cách trình bày mới của sách giáo khoa, người giữ trọng trách nhất vẫn là các giáo viên
trực tiếp lên lớp.Vì vậy người giáo viên cần tích lũy kinh nghiệm và hình thành ý tưởng
để vận dụng trong những trường hợp cụ thể.
Một lí do quan trọng nữa mà Tôi chọn đề tài : “MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC
LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TỰ LÀM CẤP THCS” qua cuộc thi sử dụng
đồ dùng dạy học tự làm cấp tỉnh năm 2013 – 2014 đã để lại cho Tôi nhiều kinh nghiệm
có thể chia sẽ cùng đồng nghiệp.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Trao đổi kinh nghiệm về việc tự làm và sử dụng dụng cụ dạy học sẳn có.
Nêu lên được thực trạng về vấn đ một số dụng cụ sử dụng chưa hiệu quả hiện nay.
Nguyên nhân dẫn đến những thực trạng đó. Biện pháp khắc phục.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên dạy Vật Lý Trường THCS Nguyễn Trãi, trường Buôn Trấp và Tôi.
Học sinh lớp 7A2,3; lớp 9A5,6 trường THCS Nguyễn Trãi.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Các dụng cụ có sẳn trong phòng thí nghiệm.
1
Đề tài: Một số kinh nghệm về việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm .
Bộ thí nghiệm điện học 7 – 9, điện từ học 9. Bộ thí nghiệm máy phát điện đơn giản 9.
Giáo viên, học sinh trong trường Nguyễn Trãi, trường Buôn Trấp, trường Durkmăn.
Phụ huynh trên địa bàn.
5.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp vấn đáp
Phương pháp thí nghiệm
Phương pháp nghiên cứu qua kết quả bài kiểm tra
Trao đổi, giao lưu với giáo viên, học sinh trường bạn
Vận dụng những kiến thức đã học trong nhà trường sư phạm, những kiến thức tích lũy
từ quá trình giảng dạy trực tiếp trên lớp và các kiến thức qua nghiên cứu các tài liệu liên
quan nghiên cứu các tài liệu liên quan.
Dựa vào kiến thức các giờ dạy, giờ thao giảng, chuyên đề, của các đồng nghiệp. Kiến
thức qua các buổi thảo luận trao đổi trong tổ chuyên môn.
II. PHẦN NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận để thực hiện đề tài:
Đề tài này dựa trên sở luận: Quan điểm tưởng của Đảng về giáo dục, Tâm
giáo dục học sinh THCS, tưởng Hồ Chí Minh về nghề dạy học. Dựa vào việc đổi mới
phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp làm và sử dụng dụng cụ thí nghiệm.
2. Thực trạng:
a. Thuận lợi, khó khăn:
Trường được sự quan tâm của Đảng ủy – HĐND – UBND – địa phương, sự chỉ đạo
sát sao của Phòng GD&ĐT huyện Krông Ana, của Ban giám hiêụ nhà trường và sự hỗ trợ
tích cực của các cơ quan ban ngành đoàn thể và toàn xã hội.
Được sự kết hợp của công an giao thông, công an snhiệt tình của đội ngũ
cán bộ trường. Trường THCS Nguyễn Trãi không ngừng phấn đấu thực hiện nhiệm vụ
những chỉ tiêu đề ra.
Các lớp Tôi tiến hành nghiên cứu được sự quan tâm cuả phụ huynh, nhà trường
liên đội, các giáo viên bộ môn, đa số học sinh trong lớp ý thức đạo đức tốt, ý chí
vươn lên trong học tập rèn luyện đạo đức, ý thức xây dựng tập thể, tham gia tốt
phong trào do đội – trường phát động
Trường THCS Nguyễn Trãi nằm trên địa bàn Eana, diện tích tương đối
rộng. Nên số học sinh nằm rải rác khắp nơi, nhà xa khó khăn cho học sinh trong việc tới
trường. Dân đây sống chủ yếu bằng nghề nông, một số buôn đồng bào dân tộc thiểu s
điều kiện kinh tế khó khăn nên phụ huynh chỉ biết mải kiếm sống không chăm
lo đến việc học tập của các em. Một số học sinh học yếu, ham chơi, hay vi phạm nề nếp
đạo đức…
Còn về dụng cụ dạy học hiện nay đa s nhiều dụng cụ đã hỏng, sử dụng
không đạt hiệu quả một số dụng cụ còn thiếu. Đặc biệt bộ dụng cụ không sử dụng
được nhiều thí nghiệm không dạy được nhiều bài. dụ như bộ dụng cụ điện từ
học của lớp 7,9; bộ dụng cụ quang học 9; bộ dụng cụ máy phát điện lớp 9. Kinh phí để
làm ra một đồ dùng dạy học hiệu quả cao, dạy được nhiều bài nhiều chương khá
lớn và mất nhiều thời gian.
b. Thành công, hạn chế:
2
Đề tài: Một số kinh nghệm về việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm .
Khi sử dụng các dụng cụ tự làm và sẳn có một cách hiệu quả Tôi thấy sự hứng thú
học tập của học sinh nâng cao rỏ rệt và hiệu quả học tập cao. Nhưng để đạt được kết quả
cao đòi hỏi giáo viên phải hết sức nhiệt tình trong công tác tự làm sử dụng dụng cụ
sẳn, phải chịu khó tìm tòi, nghiên cứu để làm ra một bộ dụng cụ chất lượng, sử dụng
được nhiều thí nghiệm và dạy được nhiều bài.
c. Mặt mạnh, mặt yếu:
Trường tổ chức triển khai kế hoạch thực hiện các cuộc vận động phong trào thi
đua do ngành phát động tới từng giáo viên học sinh ngay từ đầu năm. Tiến hành tổng
kết việc thực hiện các cuộc vận động phong trào thi đua cuối tháng, cuối cuối
năm.
Đưa chỉ tiêu thực hiện các cuộc vận động phong trào thi đua vào tiêu chí xếp
loại đối với cán bộ viên chức và học sinh.
Tập thể cán bộ viên chức đoàn kết nhất trí cao hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm
học đề ra.
Trường đã tổ chức cho học sinh hoạt động NGLL, an toàn giao thông phòng
chống các tệ nạn xã hội.
Tổ chức cho học sinh các trò chơi dân gian, các lễ hội để lôi kéo học sinh tham gia
vào các trò chơi lành mạnh.
Tổ chức cho cán bộ giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm.
Khuyến khích giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để đổi mới
phương pháp dạy học.
Xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng dạy học bằng nhiều phương pháp. Lên kế
hoạch cho học sinh phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi.
Với sự nhiệt tình quan tâm học sinh của giáo viên trong công tác tự làm
sử dụng dụng cụ sẳn, phải chịu khó tìm tòi, nghiên cứu để làm ra một bộ dụng cụ
có chất lượng, sử dụng được nhiều thí nghiệm và dạy được nhiều bài.
Giáo viên Vật đã phối hợp với giáo viên bộ môn khác, làm ra một số bộ dụng
cụ dạy học hiệu quả. Nâng cao chất lượng dạy và học.
Đặc biệt giáo viên dạy môn Vật Lí đã phát động các em học sinh làm ra một số
đồ dùng đơn giản như: bình chia độ cho bài đo thể tích lớp 6 , làm đàn tam thập lục
cho bài nguồn âm của lớp 7, làm con ve ve bài độ to -cao của âm lớp 7, làm hộp to
bằng bìa cứng cho bài thực hành nhận biết ánh sáng đơn sắt lớp 9….
Tuy nhiên việc làm ra bộ dụng cụ dạy học chất lượng còn gặp nhiều khó khăn,
cần nhiều thời gian tiền bạc. đòi hỏi các cấp các nghành cần vào cuộc, chung
tay vì tương lai con em chúng ta.giáo viên đóng vai trò nồng cốt, cần phải nhiệt
huyết mới tìm ra ý tưởng tốt nhất, phù hợp nhất.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Một số ít giáo viên bộ môn chưa thực s quan tâm đến việc làm s dụng dụng
cụ thí nghiệm. Nên hiệu quả dạy và học học chưa cao. Thậm chí dụng cụ có sẳn cũng ít sử
dụng, không gây hứng thú và tính tò mò cho học sinh.
Sự liên hệ giữa nhà trường gia đình chưa thật tốt. Một số gia đình chưa quan
tâm lắm đến việc học tập của các em, họ nhận thức về học tập của con cái mình chưa cao,
đi học về không cần kiểm tra sách vở của con, thậm chí họ không biết hôm nay con mình
đến lớp không, dẫn đến các em học yếu không chú tâm vào bài học cũng như các thí
nghiệm mà thầy cô làm.
3
Đề tài: Một số kinh nghệm về việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm .
Các cấp chưa làm tốt công tác hội hóa giáo dục, cung cấp dụng cụ hiệu quả
sử dụng còn hạn chế, còn sai sót, dẫn đến kết quả thí nghiệm có độ chính xác chưa cao.
Một số ít học sinh chưa ý thức được việc tự làm ra đồ dùng cho bản thân mình tự
học.
Chương trình thay sách giáo khoa, đổi mới phương pháp làm sử dụng thí
nghiệm một số nội dung còn quá tải, tạo áp lực học tập cho học sinh, các em học yếu lại
càng yếu nên chán học.
Do một số giáo viên còn hạn chế về năng lực phương pháp giảng dạy, học sinh
chưa hiểu. Hay một số không nhỏ giáo viên có đời sống kinh tế khó khăn, phải bươn chải
với những công việc làm thêm để nuôi gia đình nên không thời gian nhiều đầu cho
bài dạy,làm ra những sản phẩm dạy học đơn giản mà hiệu quả, nên học sinh không
hiểu bài.
Các nguyên nhân trên ít nhiều ảnh hưởng đến việc dạy học của giáo viên học
sinh.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
Công tác giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ quan trọng được Đảng và nhà nước quan
tâm và xem là quốc sách hàng đầu.
Nhưng càng ngày các dụng cụ càng hỏng s dụng không hiệu quả. Gây ảnh
hưởng đến việc dạy học của nhà trường cũng như chất lượng của học sinh. một tiết
học thành công hay không, học sinh hiểu bài hay không nhờ việc gây hứng thú
học tập ở học sinh.
Krông Ana là một huyện có điều kiện kinh tế tương đối khó khăn, đa số nhân dân ở
đây làm nghề nông chính. Dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ lại nhiều. Giáo viên vẫn còn
nhiều gia đình khó khăn, chưa có thời gian nhiều để đầu tư làm ra bộ dụng cụ tốt.
Để làm ra một bộ đồ dùng dạy học cần phải tốn nhiều tiền, mất nhiều thời gian
công sức. kinh phí của nhà trường thì hạn chế. Nên giáo viên chỉ làm bộ đồ dùng khi
có các cuộc thi là chính.
Những yếu tố trên đều ảnh hưởng nhiều đến công tác dạy học các trường
THCS.
3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp,biện pháp:
Để khắc phục tình trạng dạy chay, hoặc sử dụng dụng cụ không mang lại kết quả,
không có tính khoa học.
Giúp cho huyện nhà nâng cao chất lượng dạy học nói chung nâng cao chất
lượng mũi nhọn cũng như các cuộc thi sáng tạo khoa học, hoàn thành chỉ tiêu giáo dục
THCS.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
*Đối với Giáo Viên
Giáo viên cần hiểu các đặc tính kỷ thuật của các thiết bị thí nghiệm:
Mỗi dụng cụ có những đặc tính kỹ thuật khác nhau, nên người sử dụng cần hiểu để sử
lý và sử dụng tốt hơn . Trước khi tiến hành một nội dung thí nghiệm, ngoài phương pháp
chung thì khâu quang trọng nhất là cần hiểu đặc điểm cấu tạo của dụng cụ.
Khi tiến hành thí nghiệm, tức là đang xét trong điều kiện thực. Làm thực hành là để
hiểu lý thuyết sâu sắc hơn, chứ không đối chọi với lý thuyết. Vì vậy trong nhà trường
hàng năm có thể phát động thi đua làm đồ dùng dạy học cho các bộ môn . Làm đồ dùng
4
Đề tài: Một số kinh nghệm về việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm .
cần phù hợp với nguyên lý khoa học và lý luận dạy học giúp học sinh tiếp thu kiến thức
sâu sắc, bền vững và chính xác. Phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học mới, kích
thích hứng thú học tập của học sinh. Đảm bảo nguyên tắc, bền chắc … Hình dáng, kết
cấu, màu sắc phù hợp, dễ sản xuất, rẽ tiền…
Phải tích cực hóa thí nghiệm trong dạy học Vật Lý:
Thực hành là tích cực hóa việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Nên phải gây được
hứng thú cho học sinh trong từng bước tiến hành thí nghiệm. Mở rộng bài thí nghiệm với
các ứng dụng trong đời sống. Giáo viên phải hiểu dạy Vật Lý có thí nghiệm thì mới làm
sáng tỏ kiến thức một cách đúng đắn, mới làm cho học sinh hiểu được mối quan hệ giữa
Vật Lý và Kỹ Thuật, dễ hấp dẫn hơn dạy chay. Và nhờ đó phát huy được hoạt động tích
cực của học sinh .
Giáo viên cần nắm được các thủ thuật khi thí nghiệm Vật Lý:
Giáo viên cần phải chú ý đến đặc tính kỹ thuật, phải thử nghiệm thí nghiệm trước. Và
đặc biệt để ý về bố cục của ánh sáng.Cần kiểm tra dụng cụ trước khi làm thí nghiệm. Và
đôi khi thầy giáo phải cần lợi dụng ưu thế của sân khấu để che đi những lỗi của mình (đó
là những sơ suất không lớn lắm)
Làm được một số thí nghiệm đơn giản, phù hợp với điều kiện hiện có:
Trong chương trình Vật Lý THCS, ngoài các bài thí nghiệm được chỉ định tối thiểu và
đã có các thiết bị đi kèm, thì rất nhiều nội dung chưa có dụng cụ. Điều đó đòi hỏi sự sáng
tạo, tích cực của cả giáo viên và học sinh dể tạo ra những dụng cụ phục vụ nội dung bài
học. Nên hàng năm trường học phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học, đây là hoạt
động rất có ý nghĩa đối với giáo viên Vật Lý. Làm đồ dùng cần phải chắc chắn, thẩm mỹ
và có độ tin cậy, sử dụng được nhiều nội dung mang tính sáng tạo cao .
Chúng ta có thể tự làm một số đồ dùng dạy học, khá đơn giản nhưng hiệu quả giảng
dạy tương đối tốt. Và nếu sản phẩm tự làm tuy không so sánh được thiết bị mua, nhưng
chúng ta sẽ cảm thấy vui, vì đó chính là sự đầu tư suy nghĩ và công sức bỏ ra.
*Đối với học sinh:
-Ví dụ như bài thí nghiệm trên máng nghiêng (lớp 8): Giáo viên phải làm cho Học
sinh hiểu được với độ dốc của máng nghiêng không lớn lắm, có khi thả bánh xa Mắc xoen
nó không lăn xuống mà lăn ngược lên dốc. Vì bên trong của bánh xe khi đúc đã có một
bọt khí lớn làm cho khối lược của một phía nhẹ hơn phía kia tạo nên một mômen quay.
Nếu phần tạo nên mômen quay nằm sau và có độ lớn đáng kể thì làm cho bánh không lăn
xuống dốc. Nếu Giáo viên không để ý thì khi tiến hành thí nghiệm sẽ rất lúng túng .
- Ví dụ xét thí nghiệm của bài Vật Lý 9: Ứng dụng của nam châm. Mục I: Loa điện.
Giáo viên phải làm cho Học sinh nắm được phương pháp tiến hành bài thực nghiệm . Bài
này thực hiện dưới dạng biểu diễn của thầy với sự tham gia tích cực của Học sinh . Theo
các bước: Giới thiệu dụng cụ thí nghiêm, mắc mạch điện, đặt tình huống cho Học sinh để
chuyển quan sát sang nghe, vì loa điện dùng để nghe. Như vậy trong quá trình thí nghiệm,
Giáo viên luôn đặt trong các tình huống tích cực, sẽ phát huy tốt bài giảng mà lượng
thông tin mà học sinh thu nhận được nhiều, nhưng tiết học lại rất thú vị
- Ví dụ khảo sát đường dặc trưng Vôn- Ampe của điện trở. Học sinh cần lưu ý một số
kỹ thuật:
+ Kỹ thuật bố trí dụng cụ trong bài thí nghiệm theo quy tắc: Vào trái ra phải
+ Thủ thuật tiến hành thí nghiệm giả sai số: Nếu lựa chọn R hợp lý và cách thức đóng
ngắt mạch điện đúng sẽ giảm sai số của phép đo.
5