1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến huyện Nho Quan.
i:
Họ tên
Ngày
tháng năm
sinh
Nơi công
tác
Chức
danh
Trình
độ
chuyên
n
Tỉ lệ %
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến
Nguyễn Thị Bích Thảo 13.02.1984
THCS
Gia
Tường
Giáo
viên
Đại học
sư phạm
100
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
“Đổi mới hình thức t chức hoạt động học môn giáo dục công dân
trường THCS”.
I. CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG KIẾN: Nguyễn Thị Bích Thảo
II. THỜI GIAN ÁP DỤNG: Từ năm hc 2016 – 2017; 2017 - 2018
III. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Phương pháp dạy học
IV. TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
1. Nội dung sáng kiến
Đổi mới hình thức tổ chức hoạt đng học nói chung, đi mới hình thức tổ
chức hoạt động học môn Giáo dục công dân nói riêng ý nghĩa rất quan trọng
cần thiết. Bởi, n Go dục ng dân một môn học đặc biệt, một b
phận của quá trình giáo dục các giá trị nhân cách (đạo đức, pháp luật, li
sng…) mục tiêu của môn học chính thực hiện mục tiêu của qtrình giáo
dục tưởng chính trị, đạo đc, lối sống cho học sinh. Đó vị trí đặc biệt của
n Giáo dục công dân so với các môn học khác trường THCS. Đặc biệt hiện
nay, học sinh chưa thực sự quan tâm coi trọng n học này, vẫn coi đây
n học phụ. Mặt khác, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường, vấn đề đạo đức,
lối sống trong hc sinh, tình trạng bạo lực hoc đường và tỷ lệ tội phạm ở lứa tuổi
2
vị thành niên có xu hướng gia tăng. Do đó, việc đổi mới hình thức tổ chức hoạt
động học n Giáo dục công dân một trong những nội dung nhằm góp phần
đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng học bộn cho học sinh.
Đồng thời, giúp giáo viên có nhận thức hướng đi tích cực khi tổ chức hoạt
động học nhằm đa dạng hóa c hình thức dạy học. Qua đó, n luyện tính tích
cực, ch động phát huy khả năngng tạo trong học tập của các em.
Đó do tôi thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới hình thức
tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công dân trường THCS”. Với mục
đích từng bước đáp ứng u cầu của chương trình đổi mới giáo dục lấy hoạt
động học làm trung tâm, nhằm tiếp cận dần với hình trường học mi và thực
hiện hiệu quchủ trương của Bộ GD&ĐT về đổi mới phương pháp hình
thức dạy học trong các nhà trường.
1.1. Giải pháp cũ thường làm
1.1.1. Nội dung giải pháp
Trong những năm gần đây, mặc dù đã tích cực tiến nh đổi mới phương
pháp dạy học tuy nhiên đ học sinh hứng thú, yêu thích và say mê học môn Go
dục ng dân thì còn mt vấn đnhiều giáo viên các trường THCS vẫn
còn đang lúng túng trong việc tìm rac giải pháp sao cho phù hợp.
Hình thức dạy hc Giáo dục ng dân hiện nay chủ yếu vẫn kế thừa theo
hình thức dạy học truyền thống. Xét về bản chất, đây phương pháp dạy học
trên lớp, những ch thức dy học quen thuộc được truyền từ lâu đời được
bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Thực hiện lối dạy này, giáo viên từ chỗ
người thuyết trình, diễn giảng “thầy giảng trò nghe”, thì thầy đặt câu hỏi để
thu hút nhiều học sinh trả lời sau đó thầy phân tích, giải thích lại để học sinh
nghe, nhớ, ghi chép suy nghĩ theo với mục tiêu chuyển từ dạy học lấy go
viên làm trung tâm sang lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên học sinh phải ghi
chép nhiều, các em chưa được quan sát thực tế, chưa cơ hội thảo luận để phát
huy tính tích cực trong học tập.
1.1.2. Ưu điểm của giải pháp cũ
Về không gian và thời gian:
Không gian giới hạn trong một phòng học chỉ với không quá 45 học sinh
theo sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT cho nên giáo viên dquan sát, dễ điều nh.
Giúp giáo viên có thể truyền đạt một khối lượng kiến thức lớn trong mt khoảng
3
thời gian ngắn; Giáo viên hoàn toàn chủ động trong giờ giảng của mình, không
gặp khó khăn trở ngại đối với những vấn đ thể nảy sinh trên lớp; học sinh
tiếp thu được nhiều kiến thức khi h nhận được càng nhiều thông tin từ giáo
viên.
Giáo viên người hoàn toàn chủ động về thời gian nội dung giảng
dạy; Giảm bớt những khó khăn, thời gian cho giáo viên trong việc chuẩn bị, chỉ
cần chuẩn bị bài giảng thuyết trình mt lần người giáo viên thể sử dụng đ
giảng dạy trong nhiều lần. n c nhà trường cũng chủ đng trong việc xây
dựng kế hoạch dạy học.
Phương tiện, thiết b đdùng dy học: Giáo viên đã ng ờng sử
dụng tranh nh, ợc đồ, phương tiện nghe nhìn ny chiếu, Tivi, đài
kênh hình vào trong giảng dạy. Hiện nay công nghệ thông tin phát triển giáo
viên và học sinh có thể tiếp cận với tranh ảnh, tư liệu, tài liệu từ mạng Internet…
để làm phong phú hơn cho bài giảng của mình.
Đối ợng: Số lượng học sinh không q45 em trong một lớp, chính
vậy giáo viên có thể quản lí một cách dễ dàng không vất vả, đồng thời hoàn toàn
chủ động trong giờ giảng của mình, không gặp kkhăn trở ngại đối với những
vấn đề có thể nảy sinh trên lớp; học sinh tiếp thu được nhiều kiến thức khi các
em nhận được càng nhiều thông tin từ giáo viên.
Mặc hiện nay việc sử dụng phương tiện, thiết bị ứng dụng ng
nghệ thông tin trong c nhà trường được đẩy mạnh song con đường của đến
với học sinh chủ yếu là phương pháp truyền thống, do vậy kết quả đạt được chưa
cao.
1.1.3. Hạn chế của giải pháp cũ
Không gian thời gian có giới hạn thời gian chỉ có 45 phút cho một tiết
học không gian bó hẹp, khép kín trong mt phòng học cho nên học sinh
không cơ hội thời gian đquan sát, tìm hiểu, thu thập những liệu, tài
liệu từ thực tế để làm phong phú thêm cho bài học.
Đối tượng học là học sinh của một lớp với số lượng không quá 45 em theo
s chỉ đo của Bộ Giáo dục - Đào tạo. Với số học sinh tham gia giới hạn do
đó các em ít được trao đổi, thảo luận, tương tác, khả năng hòa nhập cộng đồng
chưa . V phía giáo viên khi muốn truyền tải một nội dung kiến thức hay một
chủ đề nào đó cho học sinh trong ng một khối lớp hoặc các khối lớp khác
4
nhau lại phải thực hiện nhiều lần, khiến cho giáo viên vất vả, hoạt động thì lặp đi
lặp lại nhưng hiệu quả thu được không cao.
liệu thiết bị dạy học ngoài sách giáo khoa, sách giáo viên tranh ảnh,
lược đ, máy chiếu, loa đài, băng đĩa giáo viên học sinh n thể thu
thập liệu, tài liệu, tranh nh... trên mạng Internet nhưng việc sử dụng các
nguồn tư liệu, thiết bvà phương tiện dạy học còn mang tính hình thức chỉ nhằm
mục đích minh họa làm phong phú, sinh động hơn cho nội dung bài giảng của
thầy, học sinh phải hc thuộc lòng c kiến thức trong sách giáo khoa, các em
chưa đưc quan sát thực tế, chưa có hội thảo luận, hợp tác, phát huy tính tích
cực, không được hòa nhập vào cộng đồng, trải nghiệm thực tế, không chủ đng
trong việc lĩnh hội kiến thức từ thực tế…
Do không khơi dậy được tình yêu, niềm say mê với môn học cho hc sinh
vẫn coi đây là môn học phụ, chưa hứng thú học tập. Việc lồng ghép, tích hợp
kiến thức của nhiều n học với nội dung phợp cũng gặp nhiều khó khăn
dẫn đến các tiết hc trở n tẻ nhạt, học sinh thu đng tiếp nhận kiến thức một
chiều từ phía giáo viên.
1.2. Giải pháp mới cải tiến
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (1993), Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII (1996)
được thể chế a trong luật giáo dục sửa đổi ban hành năm 2005 đã ghi
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, duy
sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Phát huy tính tích cực, chủ đng sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay
đổi cách dạy cách học. Chuyển từ hình thức dạy học lấy giáo viên làm trung
tâm hình thức lấy học sinh chủ thể hoạt động sang hình thức lấy hoạt đng
học làm trung tâm, giáo viên người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn tạo nên sự
tương tác ch cực giữa người dạy người học. Do đó, tôi đã tiến nh một số
hình thức tổ chức hoạt động học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là:
1.2.1. Sử dụng chuyện kể để dạy học:
. Trong quá trình giảng dạy giáo viên th sử dụng các câu chuyện
vào nhiều dạng khác nhau nhằm những mục đích khác nhau. Nhưng nhìn chung
có ba dạng cơ bản thường được các giáo viên sử dụng một cách có hiệu quả.
5
* Sử dụng câu chuyện để dẫn dắt vào nội dung bài học.
Hoạt động khởi động, giáo viên thường đưa ra những tình huống hay
những u chuyện kể đdẫn dắt học sinh vào bài học hoặc vào một phần nào đó
của cấu trúc bài học. Sử dụng các câu chuyện giáo viên thể dẫn dắt học sinh
vào bài học một cách trực tiếp to sự chú ý và gây hứng thú cho hc sinh. Có hai
hình thức đ dẫn học sinh vào bài học:
- Sử dụng chuyện kể để vào bài mới.
Đây hình thức giáo viên dùng một u chuyện nội dung phợp với
chủ đề i học để đưa học sinh vào i thay cho phần thuyết trình vào bài. Từ
nội dung của câu chuyện giáo viên làm chủ đề của bài học và bằng những câu
hỏi tính liên kết để dn học sinh vào bài mới, học sinh sẽ thấy cảm giác hứng
thú đê bước vào bài. Chẳng hạn để dẫn hc sinh vào bài 2 Siêng năng kiên trì”
lớp 6. Giáo viên thể bắt đầu giảng bng câu chuyện về thầy giáo Nguyễn
ngọc , qua đó t ra những kết luận về sự siêng năng, kiên trì ợt khó của
thầy, tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Vậy đhiểu hơn về đức tính
siêng năng, kiên trì chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay.
- Sử dụng chuyện k đ dẫn học sinh o từng phần kiến thức của bài
học.
Cũng giống như s dụng câu chuyện để vào bài mới, chỉ điều khác
ở đây giáo viên sử dụng câu chuyện để vào một phần nào đó, một đơn v
kiến thức nào đó của bài học.
dụ: Đdẫn học sinh vào phần kiến thức thứ hai của bài ng đng,
sáng tạo” lớp 9. Giáo viên thể bt đầu bằng câu chuyện Sự thành ng của
giáo NBảo Châu. Để giúp cho học sinh thấy năng đng, ng tạo giúp
chúng ta thành công trong cuộc sống và làm nên những k tích vẻ vang.
* Sử dụng chuyện kể để làm rõ tri thức.
hình thức giáo viên dùng câu chuyện đ m sáng tỏ tri thức của
bài học, qua nội dung u chuyện hc sinh sẽ nắm được tri thức bài học hay
nói cách khác thay cho việc dùng luận đphân tích, giải tri thức bài
học cho học sinh. Đây hình thức củng cố một ng kiến thức của một phần
nội dung bài học.
dụ: Trong phần đơn vị kiến thức quyền nghĩa vcủa con cháu đối
với ông , cha mẹ trong bài Quyền nghĩa vụ của ng dân trong gia đình”