
1
MỤC LỤC
I. Sơ lược lý lịch tác giả ............................................................................................. 2
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: (Nêu tóm tắt tình hình đơn vị, những thuận
lợi, khó khăn của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ). ......................................... 2
1.Thuận lợi ............................................................................................................. 2
2. Khó khăn ............................................................................................................ 3
3. Tên sáng kiến/đề tài giải pháp ........................................................................... 3
4. Lĩnh vực: Bộ môn lịch sử ................................................................................. 3
III. Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến .............................................................. 3
1.Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến ............................................... 3
2.Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến ................................................................... 5
3.Nội dung sáng kiến ............................................................................................. 6
3.1 .Thời gian, địa điểm, đối tượng áp dụng, thời gian kiểm chứng ................. 6
3.2 Cách thức tiến hành: .................................................................................... 6
3.3 Những đơn vị, cá nhân tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu ....................... 9
3.4. Mức độ khả thi ............................................................................................ 9
IV. Hiệu quả đạt được .............................................................................................. 10
1.Hiệu quả ............................................................................................................ 10
2.Minh chứng ....................................................................................................... 10
V. Mức độ ảnh hưởng .............................................................................................. 12
VI. Kết luận .............................................................................................................. 12
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 13
Phụ lục 1: Hệ thống hóa kiến thức cơ bản bằng phân kỳ lịch sử. ....................... 13
Phụ lục 2. Bài tập ................................................................................................. 27
Phụ lục 3: Rèn luyện kỹ năng tư duy, sáng tạo, vận dụng cho học sinh. ............ 31
Phụ lục 4: Đề thi thử cho học sinh tổng hợp kiến thức: ..................................... 41

2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AN GIANG
TRƯỜNG THPT HUỲNH THỊ HƯỞNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hội An, ngày 06 tháng 02 năm 2019
BÁO CÁO
Kết quả thực cải tiến năm học 2019-2020
I. Sơ lược lý lịch tác giả
- Họ và tên: Phạm Hữu Lánh Nam, nữ: nam
- Ngày tháng năm sinh: 28/06/1981
- Nơi thường trú: Ấp Mỹ Phú, Xã Mỹ An. Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang.
- Đơn vị công tác: Trường THPT Huỳnh Thị Hưởng
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Cử Nhân Sư phạm Lịch Sử.
- Lĩnh vực công tác: giảng dạy môn lịch sử và chủ nhiệm lớp
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: (Nêu tóm tắt tình hình đơn vị, những thuận
lợi, khó khăn của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ).
1.Thuận lợi
-Được sự quan tâm của Chi ủy, chi bộ, Ban lãnh đạo nhà trường về công tác chuyên môn
đặc biệt là công tác tuyển chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi.
- Sự đoàn kết chặt chẽ giữa các thành viên tổ bộ môn lịch sử.
- Sự phối hợp và hỗ trợ đặc biệt của giáo viên chủ nhiệm với giáo viên bộ môn, nhất là các
giáo viên chủ nhiệm khối 10, 11.
- Sự quan tâm của cha mẹ học sinh đối với công tác Bồi dưỡng học sinh giỏi của Trường.
- Trường THPT Huỳnh Thị Hưởng và trường THCS Lê Hưng Nhượng liền kề nhau nên rất
thuận lợi cho việc tìm hiểu các thông tin về quá trình học tập, thành tích bộ môn lịch sử
khi các em còn ở cấp 2.
- Bộ môn lịch sử nhiều năm liền có tỉ lệ tốt nghiệp cao so với mặt bằng của tỉnh, huyện. Là
môn trong những bộ môn có nhiều học sinh lựa chọn để thi tốt nghiệp THPT quốc gia,
nhiều năm liền là môn cứu cánh cho tỉ lệ chung của nhà trường trong kỳ thi tốt nghiệp
THPT quốc gia, tạo niềm tin bộ môn trong nhà trường,và cả cha mẹ học sinh, nhất là đã

3
khơi gợi sự niềm đam mê và yêu thích bộ môn lịch sử trong toàn thể học sinh của nhà
trường.
2. Khó khăn
- Xu hướng chọn ngành, nghề của các em học sinh hiện nay, khối A, A1, B, D…luôn là lựa
chọn hàng đầu đối với các em, vị trí của môn lịch sử trong các tổ hợp xét đại học lại rất ít
nên việc đầu tư cho môn lịch sử ít được các em học sinh và phụ huynh quan tâm.
- Bước vào ngôi trường THPT, đa số các em học sinh giỏi thường giỏi đều ở các môn học
tuy nhiên để lựa chọn ôn luyện bồi dưỡng học sinh giỏi các em thường ưu tiên lựa chọn các
môn tự nhiên hơn là các môn xã hội.
Vì vậy, việc thuyết phục các em học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi rất khó, ngay cả các
em có đam mê và có thành tích là học sinh giỏi cấp huyện khi còn là học sinh THCS.
3. Tên sáng kiến/đề tài giải pháp
Một số giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử đạt hiệu quả tại trường
THPT Huỳnh Thị Hưởng.
4. Lĩnh vực: Bộ môn lịch sử
III. Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến
1.Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
- Thực trạng bộ môn lịch sử
Trong những năm gần đây do sự thay đổi trong kỳ thi tốt nghiệp, xét tuyển đại học, cao
đẳng, cùng với sự lựa chọn môn thi đã tác động rất lớn tâm lý học sinh trong sự chọn môn
thi nên ảnh hưởng lớn quá trình dạy và học của giáo viên nói chung và môn lịch sử nói
riêng. Bên cạnh đó do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời
sống xã hội. Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó
là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, không cần học thêm phí công
vô ích. Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm được những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai,
nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường.
Mới đây, chương trình Chuyển động 24h đã thực hiện một phóng sự dành cho các
em học sinh trên hai tuyến phố Tây Sơn và Đặng Tiến Đông của thủ đô Hà Nội với câu hỏi
cực kỳ đơn giản về vị vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
Mặc dù "Gò Đống Đa là một di tích lịch sử gắn liền với trận đại phá và chiến thắng
quân Thanh của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào thế kỷ thứ 18. Kiến thức
quan trọng này đã được nhắc đến rất là nhiều lần trong cuốn sách giáo khoa Lịch sử từ cấp

4
1 đến cấp 3", thế nhưng, câu trả lời nhận được từ các em học sinh lại khiến rất nhiều người
bất ngờ.
Tuy sống ở ngay trên tuyến phố có Gò Đống Đa, thế nhưng dường như không phải
ai cũng biết đó là một di tích lịch sử. Điều khiến cư dân mạng chú ý nhất chính là sau khi
chương trình đặt ra câu đố mẹo: Bạn có biết hai ông Quang Trung và Nguyễn Huệ có quan
hệ gì với nhau?, các em học sinh đã có những câu trả lời "không ai nghĩ đến". "Họ là anh
em ạ", "Bố con", "Anh em cũng một nhà", "Bạn thân chiến đấu cùng nhau"... Thậm chí có
một bạn còn khẳng định chắc nịch: "Trường con chính là trường của ông Quang Trung -
trường Nguyễn Du"! Trích theo
http://kenh14.vn/doi-song/giat-minh-vi-cau-tra-loi-ba-dao-cua-hoc-sinh-ve-vua-quang-
trung-nguyen-hue-20150712104757460.chn.
Do ảnh hưởng của thời kỳ hội nhập, của phim truyện nước ngoài, của mạng Internet,
của các trò chơi điện tử… Đã ảnh hưởng không nhỏ đến những học sinh thiếu động cơ thái
độ học tập, sao nhãng việc học hành dẫn đến chất lượng cuối năm học yếu, các em phải thi
lại trong đó cũng có môn Lịch sử. Đồng thời khi các em tham gia thi học sinh giỏi cấp tỉnh
chưa đạt hiệu quả nhưng mong muốn, có năm đậu cấp tỉnh, có năm không đạt yêu cầu:
Chưa loại bỏ được cách giáo dục - học tập mang tính thực dụng. Xem nặng môn
này, coi nhẹ môn kia hoặc “thi gì học nấy” làm cho học vấn của học sinh bị “què quặt”
thiếu toàn diện. Tình trạng “mù lịch sử” hiện nay ở không ít học sinh phổ thông là tai hại
của việc học lệch, không toàn diện.
Bộ môn lịch sử bị xem thường, không được coi trọng như các môn học thuộc khoa
học tự nhiên, ngoại ngữ,… Giáo viên dạy lịch sử cũng rất nghèo về kinh tế. Mức thu nhập
chủ yếu chỉ dựa vào đồng lương chính đáng ngoài ra hiếm có cơ hội của những nguồn thu
khác. Những vấn đề trên đã đặt cho nhà quản lý giáo dục, giáo viên giảng dạy môn lịch sử
nói riêng phải có một phần trách nhiệm trong sản phẩm do mình tạo ra.
- Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
Khi nói về Bồi dưỡng học sinh giỏi Giáo sư tiến sĩ Hà Huy Khoái có nói “Chắc
không ai “nói không” với bồi dưỡng học sinh giỏi. Đơn giản vì “phát hiện và bồi dưỡng
nhân tài” là một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục. Nhưng, bồi dưỡng như thế
nào, đầu tư vào việc đó như thế nào xét trong khung cảnh đầu tư cho giáo dục “đại trà”, lại
là một câu hỏi lớn”.
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những hoạt động vất vả, khó khăn và thử thách
đối với những người làm nghề dạy học.
Bên cạnh đó, bồi dưỡng học sinh giỏi cũng là công tác cực kì quan trọng giúp cho
ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những hạt giống tương lai cho đất nước trong
sự nghiệp trồng người. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện được ước mơ là con ngoan,
trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của mình trong tương lai.

5
Thực tế trong những năm qua, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được trường, sở
giáo dục chú trọng, quan tâm. Song chất lượng bồi dưỡng của trường đạt hiệu quả chưa
cao, khi tăng khi giảm. Chưa có tính bền vững (trong đó có là bộ môn lịch sử.)
Trường THPT Huỳnh Thị Hưởng là một trong những trường THPT có đầu vào tương
đối thấp, điểm đầu vào từ năm 2015 đến 2019 các kỳ tuyển sinh 10 là từ 10 đến 12,5 điểm,
dạy và học tổ chức theo chương trình cơ bản. Với đầu vào như vậy việc tìm học sinh giỏi
vào đội tuyển học sinh giỏi của trường nói chung và của bộ môn lịch sử nói riêng là đi “
đãi cát tìm vàng”.
Những năm gần đây, việc tuyển học sinh giỏi môn lịch sử chủ yếu dựa vào đăng ký
tự nguyện của các em học sinh.
Việc lựa chọn này còn nhiều hạn chế:
Thứ nhất, chỉ tập trung vào một số em có điểm bộ môn cao và mạnh dạng đăng ký,
chưa kích thích được niềm đam mê của nhiều học sinh khác, chưa chủ động phát hiện các
em học sinh giỏi thật sự.
Thứ hai, luôn bị động về số lượng lẫn chất lượng, phải mất thêm môt thời gian nữa
trong quá trình ôn tập mới biết được các em có giỏi thực sự hay không, có đam mê thực sự
hay không.
Thứ ba, học sinh thường dễ bỏ cuộc trong quá trình ôn tập.
Bản thân tôi là một giáo viên công tác tại trường THPT Huỳnh Thị Hưởng, thâm
niên công tác trong ngành 15 năm và thâm niên công tác tại trường THPT Huỳnh Thị
Hưởng trên 10 năm, được phân công nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi từ năm 2010,
ban đầu công tác bồi dưỡng gặp rất nhiều khó khăn về nguồn học sinh, và việc là chọn
còn rất thụ động chủ yếu do các em đăng ký vì vậy gặp nhiều khó khăn trong công tác
ôn tập và thành tích đạt được hàng năm không đều và không bền vững. Qua nhiều năm
thực hiện công tác bồi dưỡng trên cơ sở khắc phục những khó khăn, nghiên cứu và khai
thác các yếu tố thuận lợi của đơn vị, các yếu tố thuận lợi từ bên ngoài, việc tổ chức bồi
dưỡng học sinh giỏi do bản thân phụ trách đạt kết quả đáng khích lệ, nhiều năm liền có
học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh, và có năm có học sinh giỏi lọt vào vòng thi học
sinh giỏi quốc gia.
2.Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
- Mục đích:
Nhằm phát hiện học sinh có năng khiếu, khơi dậy niềm đam mê, sự yêu thích bộ
môn, từng bước phát huy tiềm năng của các em giỏi về bộ môn để định hướng và tạo điều
kiện để các em phát triển.

