
1
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Để đáp ứng xu thế phát triển và hội nhập của thế kỷ XXI , nhiều nƣớc trên thế
giới đã và đang quan tâm đến vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục đại học. Ở
nƣớc ta trong những năm qua, công cuộc đổi mới giáo dục đã đƣợc Đảng, nhà nƣớc và
toàn xã hội quan tâm. Hiện nay, ngành giáo dục đang tích cực triển khai đổi mới một
cách mạnh mẽ, đồng bộ, toàn diện về cả mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, phƣơng tiện
dạy học, cũng nhƣ phƣơng pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh (HS) để
tạo ra đƣợc những lớp ngƣời lao động mới mà xã hội đang cần. Đó là con ngƣời có khả
năng đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc.
Trong chƣơng trình giáo dục phổ thông, Hoá học là môn học thuộc nhóm môn
khoa học tự nhiên, đƣợc học sinh lựa chọn theo định hƣớng nghề nghiệp, sở thích và
năng lực của bản thân. Cùng với Toán học, Vật lí, Sinh học, Tin học và Công nghệ,
môn Hoá học góp phần thúc đẩy giáo dục STEM, một trong những xu hƣớng giáo dục
đang đƣợc coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Giáo dục STEM sẽ phá đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo ra những
con ngƣời có năng lực làm việc “tức thì” trong môi trƣờng làm việc có tính sáng tạo cao
với những công việc đòi hỏi trí óc của thế kỷ 21. Chính vì vậy, Giáo dục STEM đòi hỏi
ngƣời GV dạy học thông qua việc giao các nhiệm vụ cho HS. Khi đó HS đƣợc tiến
hành thí nghiệm, đƣợc vận dụng kiến thức, kĩ năng hóa để giải thích các hiện tƣợng có
trong đời sống, nghiên cứu bản chất hóa học của các quá trình sản xuất. Khi triển khai
các dự án học tập STEM, học sinh hợp tác với nhau, chủ động và tự lực thực hiện các
nhiệm vụ học; đƣợc làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứu khoa học qua đó HS
phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành, phát triển phẩm chất
của ngƣời lao động mới năng động, sáng tạo. Điều này phù hợp với cách tiếp cận tích

2
hợp trong Chƣơng trình GDPT mới. Vì thế, tƣ tƣởng này của giáo dục STEM cần đƣợc
khai thác và đƣa vào mạnh mẽ trong Chƣơng trình GDPT mới.
Qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy, tôi thấy kiến thức phần phi kim Hóa học
11 có rất nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất. Giáo viên có thể tổ chức cho các
nhóm học sinh nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân, tác hại của phân bón hóa học và
hiệu ứng nhà kính. Học sinh tự tay làm ra những sản phẩm, đồ dùng, vật dụng từ những
nguyên liệu bỏ đi, biết bảo vệ môi trƣờng sống, đồng thời đƣợc rèn kỹ năng thực hành
thí nghiệm. Từ đó học sinh biết ứng dụng kiến thức vào trong thực tế đời sống.
Chính vì những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng dạy học
STEM phần hóa học phi kim lớp 11 nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho
học sinh” với mong muốn góp phần vào việc đổi mới nâng cao chất lƣợng và hiệu quả
dạy học môn Hóa học.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Qua công tác giảng dạy ở trƣờng THPT nói chung và THPT C Nghĩa Hƣng nói
riêng, tôi thấy còn tồn tại một số thực trạng nhƣ sau:
* Đối với giáo viên :
- Phần lớn một số giáo viên chỉ chú trọng đến dạy học truyền thụ kiến thức vì áp
lực thi cử mà chƣa quan tâm nhiều đến việc dạy học phát triển năng lực, phẩm chất cho
học sinh. Dạy học chƣa định hƣớng đƣợc nghề nghiệp cho học sinh.
- Có nhiều giáo viên đã tiếp cận với các phƣơng pháp dạy và kỹ thuật dạy học
tích cực để giảng dạy trên lớp nhằm phát huy các năng lực của học sinh, tuy nhiên thời
lƣợng có hạn nên các phƣơng pháp chỉ là hình thức mà chƣa đi sâu cụ thể để giải quyết
một vấn đề cụ thể đặc biệt là vấn đề liên quan đến thực tế, đời sống.
- Bản thân tôi là một giáo viên hóa học, mặc dù trong các tiết dạy tôi đã sử dụng
nhiều phƣơng pháp và kỹ thuật dạy học tích cực nhƣ hoạt động nhóm, chuyên gia, nêu
vấn đề, phát vấn học sinh nhƣng hiệu quả chƣa đƣợc cao do thời gian trên lớp hạn chế.

3
* Đối với học sinh:
- Phần lớn HS chƣa có định hƣớng nghề nghiệp cho tƣơng lai nên ý thức học tập
bộ môn chƣa cao, HS chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao.
- Đa số HS còn học thụ động, chƣa hứng thú tham gia xây dựng bài.
- Nhiều HS tỏ ra lúng túng, không tìm ra cách xử lí, ngay cả những vấn đề tƣởng
chừng hết sức cơ bản trong cuộc sống hàng ngày. Vì thế, làm sao để HS có thể yêu
thích học bộ môn?
- Trong quá trình học tập, HS ít đƣợc hoạt động, nặng về nghe giảng, ghi chép rồi
học thuộc, ít đƣợc suy luận, động não. Thời gian dành cho HS hoạt động trong một tiết
học là quá ít, kể cả hoạt động tay chân và hoạt động tƣ duy. HS chƣa đƣợc trở thành
chủ thể hoạt động.
- Hình thức hoạt động của HS cũng đơn điệu, chủ yếu là nghe thầy đọc và chép
vào vở, HS ít đƣợc động não và thƣờng ít đƣợc chủ động tích cực. Do vậy, phƣơng
pháp học của HS là thụ động, ít tƣ duy, sáng tạo và thƣờng gặp khó khăn khi giải quyết
những bài tập liên quan đến thực tế. Các hình thức hoạt động của thầy cô và các
phƣơng pháp dạy chƣa chú trọng vào việc hình thành phƣơng pháp tƣ duy, rèn luyện
cho HS năng lực sáng tạo. Các hiện tƣợng đƣợc giải thích chƣa đúng nhận thức khoa
học bộ môn. Đối với hoá học, phƣơng pháp nhận thức khoa học là GV phải rèn luyện
cho HS biết giải quyết vấn đề từ đơn giản đến phức tạp trong học tập chính là chuẩn bị
cho các em có khả năng sáng tạo, giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.
II.1.2. Tính cấp thiết của đề tài.
Qua các phiếu điều tra khảo sát cho thấy số lƣợng HS yêu thích và thích môn hóa
học rất thấp chỉ chiếm 23,1%; HS thích học vì môn hóa học là do môn hóa học là một
trong những môn thi tốt nghiệp THPT chiếm 41,7% và kiến thức gắn với thực tiễn
31,7%. HS cũng rất chú trọng các nội dung dạy học gắn với các kì thi chiếm 41,7%.
Qua phân tích thì các em vẫn chủ yếu học theo lối truyền thống nặng về thi cử
đối phó, do vậy mà các em ít có yếu tố đam mê nghiên cứu và thực sự yêu thích là rất ít,

4
kĩ năng thực hành rất hạn chế và là nguyên nhân năng lực làm việc hạn chế sau khi tốt
nghiệp, đặc biệt là trong thời đại 4.0 với kỉ nguyên của thế giới phẳng thì khả năng đáp
ứng đầu ra sau khi ra trƣờng lại càng rất khó khăn.
Nhƣ vậy với phƣơng pháp dạy học truyền thống, học sinh khó có thể rèn luyện,
phát triển đƣợc các năng lực của bản thân.Việc đƣa phƣơng pháp giáo dục STEM vào
giảng dạy là góp phần tích cực vào hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho
học sinh.
II.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng sáng kiến
II.2.1. Cơ sở lý luận
II.2.1.1. Một số vấn đề về STEM và phát triển năng lực
II.2.1.1.1. Khái niệm STEM[6]
STEM là thuật ngữ xuất phát từ phƣơng pháp giảng dạy và học tập tích hợp nội
dung và các kỹ năng khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.
Giáo dục STEM là phƣơng thức giáo dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn
(interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy bốn môn học nhƣ các
đối tƣợng tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết
dựa trên các ứng dụng thực tế. Qua đó, học sinh vừa học đƣợc kiến thức khoa học, vừa
học đƣợc cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.
Thuật ngữ STEM đƣợc hiểu nhƣ một “tổ hợp đa lĩnh vực” bao gồm: Khoa học
(Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering) và Toán học
(Mathconatics). Bốn lĩnh vực này đƣợc mô tả nhƣ sau:
Khoa học, là việc nghiên cứu thế giới tự nhiên, bao gồm các quy luật tự nhiên
của Vật lý, Hoá học, Sinh học và giải quyết hoặc ứng dụng các hiện tƣợng, nguyên lý,
quan niệm hoặc quy tắc của các môn này. Khoa học vừa là một chỉnh thể kiến thức
đƣợc tích luỹ qua thời gian, vừa là một tiến trình - mang tính khoa học - tạo ra kiến thức
mới. Kiến thức từ khoa học sẽ cung cấp thông tin cho tiến trình thiết kế kỹ thuật.

5
Công nghệ, mặc dù không phải là một lĩnh vực, theo nghĩa chặt chẽ nhất, bao
gồm toàn bộ hệ thống con ngƣời và tổ thức, kiến thức, tiến trình, và thiết bị dùng để tạo
ra và thao tác các đồ vật (tạo tác) công nghệ, cũng nhƣ chính các đồ vật đó.
Kỹ thuật, vừa là một chỉnh thể kiến thức - về thiết kế và chế tạo các sản phẩm
nhân tạo - vừa là một quá trình giải quyết vấn đề. Quá trình này chịu ảnh hƣởng của các
ràng buộc. Một trong số đó là các quy luật tự nhiên, hoặc khoa học. Kỹ thuật sử dụng
các khái niệm khoa học và toán học nhƣ những công cụ công nghệ.
Toán học, là việc nghiên cứu các mô hình và mối quan hệ giữa số lƣợng và
không gian. Các loại khái niệm toán đặc thù của 12 năm học phổ thông bao gồm số và
số học, đại số, hàm số, hình học, xác suất, thống kê. Toán học đƣợc dùng trong khoa
học, kỹ thuật và công nghệ.
Hình 1: Khái niệm STEM
Không chỉ đơn thuần mô tả bốn lĩnh vực STEM, đoạn trích nói trên còn cho thấy
bốn lĩnh vực này không phải hiện diện một cách riêng lẻ mà cần phải đƣợc tích hợp,
liên kết chặt chẽ với nhau.

